Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 45
Tấu khúc “Quất tụng”, Khuất Bình tỏ bày
Vạch mặt tiên nhân, Sở Vương nhập tung

❊ ❊ ❊

Trên phố lớn ở Sính Đô nước Sở, một gã trung niên ăn bận kỳ quặc ngồi bệt trên đất, đang gân cổ rao ầm ĩ: “Đan dược, đan dược đây! Đan dược kỳ diệu, uống một viên chữa được bệnh nhỏ, uống mười viên trị được bệnh lớn, uống trăm viên, bách bệnh tiêu trừ…”

Gã trung niên lông mày trắng toát, tai dài, mũi diều hâu, tướng mạo vô cùng kỳ dị. Bên cạnh gã trải một tấm lụa, trên đó bày một bình đan dược, bên cạnh bình là một viên thuốc lớn chừng quả táo. Gã trung niên rao hàng luôn miệng, vì trung khí dồi dào, giọng rao sang sảng vui tai, nên chốc sau, đã lôi kéo được một đám người xúm đông xúm đỏ lại xem. Thượng khanh nước Tần Trần Chẩn đang dạo bước trên phố, nghe tiếng ồn ào, cũng rảo bước lại xem.

Gã trung niên thấy người xúm lại đông dần, bắt đầu tự báo danh: “Tại hạ họ Mạc tên Nhĩ, người Kinh Sơn, sinh năm Sở Trang Vương nguyên niên, thuở nhỏ may mắn gặp được dị nhân, theo dị nhân lên núi Nữ Kỷ, học đại pháp luyện tiên, luyện được thuật trường sinh, năm nay đã ba trăm lẻ bảy tuổi. Lần này đến Sính là phụng mệnh gia sư, lựa chọn đệ tử hữu duyên…”

Có một người đau răng chen lên trước đám đông, chỉ vào quai hàm hỏi: “Xin hỏi thượng tiên, có chữa được đau răng không?”

“Đau răng chỉ là bệnh nhỏ, một viên là đủ!”

Người đó vui mừng nói: “Xin hỏi thượng tiên, bao nhiêu tiền một viên?”

“Ba đồng vàng!”

Nghe thấy giá đắt đỏ đến vậy, người này thở hắt ra, quay đầu bước đi luôn. Đám người đang đứng xem đều lắc đầu ngao ngán.

Ở Sính Đô, những dị nhân giống như người này không hề hiếm thấy. Có người cười khúc khích mà nói: “Này thượng tiên, nói dối thì cũng phải nói cho lọt tai chứ! Nhìn ông nhiều nhất cũng chưa quá bốn mươi, mà lại nói mình đã ba trăm lẻ bảy tuổi, thật không biết ngượng mồm!” Mọi người đều bật cười, không ít người quay đầu bỏ đi. Song gã trung niên chẳng hề tỏ ra thất vọng, vẫn ngồi xếp bằng trên đất, lại lớn tiếng rao hàng.

Trần Chẩn quan sát một lúc, thấy người đến xem đã tản đi hết mới tiến lại trước mặt gã, móc ra ba đồng vàng, ném cho gã mà nói: “Mạc thượng tiên, tại hạ mua một viên!”

Gã trung niên liếc nhìn Trấn Chẩn, nhận lấy vàng, rồi đổ từ trong bình ra một viên đan dược đưa cho Trần Chẩn.

Trần Chẩn cười cười, chỉ vào bình đan dược mà hỏi: “Trong bình còn bao nhiêu viên?”

“Tám mươi viên!”

“Xin hỏi thượng tiên, thuốc này có thể đảm bảo chữa được bách bệnh hay không?”

“Ồ…” Gã trung niên hơi sững lại, nhìn Trần Chẩn một lượt từ đầu đến chân, rồi chậm rãi nói. “Phải xem là bệnh gì. Chứng bệnh khác nhau, cách dùng thuốc cũng khác nhau!”

“Ừm!” Trần Chẩn gật đầu nói. “Nói cũng có lý. Tại hạ thân mang bách bệnh, muốn mời thượng tiên tới hàn xá chữa trị, không biết thượng tiên có chịu hạ cố hay không?”

Gã trung niên vòng tay nói: “Xin theo lời quan nhân!”

Trên lầu cổng của cánh cổng to lớn trước phủ họ Chiêu, tấm hoành phi “Chiêu thị” trước đây đã được thay bằng ba chữ “Phủ lệnh doãn”.

Nghe báo Trần Chẩn đến, quản gia Hình Tài đích thân ra đón, sau khi hành lễ xong xuôi, liền hạ giọng dặn dò: “Trần đại nhân! Mấy ngày nay lão phu nhân bệnh càng thêm trầm trọng, e rằng có chuyện bất trắc, chúa công tâm trạng không tốt, tại hạ xin nhắc nhở đại nhân trước, khi gặp chúa công, nói năng phải hết sức thận trọng!”

Trần Chẩn cười nói: “Đa tạ lão quản gia!”

Hình Tài dẫn Trần Chẩn vào trong sảnh ngồi, rồi khom lưng lui ra. Một lát sau, Chiêu Dương bước vào, quả nhiên tâm trạng nặng nề, sắc mặt u uất.

Trần Chẩn đứng dậy, vòng tay nói: “Trần Chẩn xin chào lệnh doãn đại nhân!”

Chiêu Dương xua tay ra hiệu cho ông ta ngồi xuống, còn mình ngồi vào vị trí chủ.

Trần Chẩn vòng tay nói: “Nghe nói lão phu nhân ngọc thể bất an, nên tại hạ đến thăm.”

Chiêu Dương khoé mắt ướt nhoè, giọng nghẹn ngào: “Không giấu thượng khanh, gia mẫu bị kinh động bởi sự việc ngọc Hoà thị bích, bệnh càng thêm nặng, tái đi tái lại nhiều lần, lần này e rằng… khó lòng qua khỏi. Bệ hạ phái ngự y đến chẩn trị, gia mẫu thuốc gì cũng đã uống rồi, nhưng đều vô dụng, ngự y hết cách nên đành phải châm cứu. Gia mẫu người đã gầy như que củi, sớm tối nhìn thấy cơ thể gia mẫu cắm chi chít những kim, tại hạ thật…” Rồi bật khóc thành tiếng, rút khăn lụa từ trong tay áo ra lau nước mắt.

“Lệnh doãn đại nhân!” Trần Chẩn đợi ông ta lau nước mắt xong mới nói. “Lần này tại hạ đến, chính là để chữa bệnh cho lão phu nhân.”

“Ồ?” Chiêu Dương nhổm người về phía trước, mở to mắt nhìn thẳng vào Trần Chẩn.

Trần Chẩn chậm rãi nói: “Lão phu nhân lâm bệnh, tại hạ cũng vô cùng lo lắng. Mấy ngày nay, tại hạ tìm kiếm khắp nơi, cuối cùng cũng tìm được một vị tiên ông. Tại hạ đã kể lại tường tận bệnh tình của lão phu nhân cho tiên ông nghe, tiên ông chẳng nói năng gì, chỉ đưa cho tại hạ một hoàn thuốc!” Rồi móc từ trong tay áo ra chiếc bình nhỏ, đổ viên đan dược ra. “Chính là thuốc này! Đại nhân hãy mời lão phu nhân dùng thử, để xem có tác dụng hay không?” Chiêu Dương nhận lấy đan dược, quan sát kỹ càng, khép mắt suy nghĩ một lúc, rồi gọi hai tỳ nữ đến, bảo họ mang viên thuốc giã nhỏ, trộn với mật ong, sau đó bón cho lão phu nhân. Uống thuốc được gần nửa canh giờ, tỳ nữ vội chạy lại bẩm báo, nói là lão phu nhân sắc mặt hồng hào, đã lật người ngồi dậy được.

Chiêu Dương mừng rỡ, lập tức theo tỳ nữ vào xem. Lại qua nửa canh giờ nữa, thì cười vang trở vào trong sảnh, hỏi Trần Chẩn xem thượng tiên ở đâu.

Trần Chẩn cười nói: “Đại nhân chớ vội! Nếu như thuốc này thực sự hữu dụng, thì bệnh của lão phu nhân, cứ giao cho Trần Chẩn!”

Chiêu Dương vòng tay đa tạ liên hồi, thực lòng cảm tạ: “Hỡi ôi, cứ mỗi lần tại hạ gặp chuyện khó khăn, lại có Trần huynh ra tay giúp đỡ, đại ân của Trần huynh, thực khiến tại hạ… than ôi, thực không biết phải nói sao!”

Trần Chẩn vòng tay đáp lễ, trịnh trọng nói: “Đại nhân không nói gì, mới là đúng. Tại hạ ở Sở mấy năm, may mắn được đại nhân chiếu cố, nên mới được giống như con người. Đại nhân có đại ân với tại hạ, tại hạ lại chưa từng nói ra nửa câu báo đáp, chỉ khắc sâu từng chút một trong tim. Trên đời này, tại hạ ngay từ nhỏ đã không người thân thích, lão phu nhân là mẫu thân của đại nhân, thì cũng là mẫu thân của tại hạ. Nên tại hạ lần này chẳng qua cũng là tận hiếu với mẫu thân mà thôi!”

Trần Chẩn nói ra lời này, khác nào thốt từ gan ruột, Chiêu Dương trong lòng cảm động, lập tức ra lệnh bày bàn thờ, cùng uống máu ăn thề, kết nghĩa huynh đệ với Trần Chẩn. Chiêu Dương lớn tuổi là huynh, Trần Chẩn là đệ.

Kết nghĩa xong, gia nhân liền bày tiệc rượu, hai người uống một trận sảng khoái.

Chiêu Dương đích thân rót rượu, hai tay đưa mời Trần Chẩn: “Nào, nào, hiền đệ, đại ca kính đệ một chén!”

Trần Chẩn nhận lấy rượu rồi đặt xuống, rót đầy một chén cho Chiêu Dương, hai tay nâng lên.

Hai người cùng nâng chén, Chiêu Dương đang định uống thì Trần Chẩn xua tay ngăn lại: “Đại ca hãy khoan, Chẩn đệ có một lời, không nói ra thì cảm thấy khó chịu!” Chiêu Dương đặt chén xuống, chỉnh trang vạt áo rồi nói: “Hiền đệ cứ nói!”

Trần Chẩn cũng đặt chén xuống, thở dài một tiếng, nước mắt ứa ra: “Đại ca! Đệ sống tạm bơ vất vưởng ở Ngụy hơn chục năm trời, chẳng mong gì khác, chỉ một lòng muốn phò tá Ngụy thất, tạo dựng sự nghiệp nhân sinh huy hoàng. Không ngờ chỉ vì một chuyện nhỏ mà đắc tội với Bàng Quyên, cả nhà lớn bé đều bị hắn tàn sát, đệ suýt chút nữa cũng bị hắn lăng trì. Thù này hận này, đệ mỗi lúc sớm chiều nghĩ lại, trong lòng lại đau đớn như dao cắt…”

Chiêu Dương hai mắt trợn trừng, giơ tay đấm xuống bàn đánh “rầm” một tiếng, khiến hai chén rượu nảy bật lên cao, rượu văng tung toé, giận dữ nói: “Tên súc sinh Bàng Quyên, đắc tội với hiền đệ cũng là đắc tội với đại ca, đó là thù nhà! Đánh chiếm Hình Sơn của ta, chém giết hàng vạn tướng sĩ của ta, đó là nợ nước! Thù nhà nợ nước, nếu Chiêu Dương này không báo, thực uổng kiếp làm người!”

Trần Chẩn nhặt hai cái chén dưới đất lên, lại rót đầy rượu, từ tốn hỏi: “Đại ca đã từng nghĩ sẽ báo thù thế nào chưa?”

“Điều này có gì khó!” Chiêu Dương không chút đắn đo. “Đại ca sẽ đi bẩm tấu với bệ hạ, hưng binh phạt Ngụy!”

“Than ôi!” Trần Chẩn lắc đầu thở dài. “Cho dù đại ca muốn phạt, bệ hạ cũng chẳng chịu đâu!”

“Ồ?” Chiêu Dương ngẩn người. “Cớ sao bệ hạ lại không chịu?”

“Vì năm trước Tam Tấn tung thân, năm tiếp theo Tô Tần lại đến nước Tề du thuyết. Nếu không nằm ngoài dự đoán của đệ, Tề chắc chắn sẽ nhập tung. Liệt quốc ở Trung Nguyên đều đã nhập tung, bệ hạ chinh phạt thế nào đây? Hơn nữa, bệ hạ đã thôn tính được Ngô, Việt, mở rộng đất đai nghìn dặm, sự nghiệp đã vượt xa các đời tiên vương. Hiện giờ bệ hạ chỉ muốn bảo toàn thành tựu, đã không còn chí tiến thủ, cho dù đại ca muốn kiến công lập nghiệp, giúp Đại Sở xưng bá thiên hạ, lưu lại tiếng thơm muôn đời, cũng chẳng phải chuyện dễ!”

Nghe Trần Chẩn nói vậy, Chiêu Dương dường như cũng đã trấn tĩnh trở lại, trầm ngâm một hồi, rồi gật đầu nói: “Phải, hiền đệ nói rất đúng! Theo ý của hiền đệ, ta nên làm thế nào?”

Trần Chẩn hạ giọng, rì rầm một thôi một hồi, Chiêu Dương gật đầu lia lịa, rồi nâng chén nói: “Được, cứ làm theo lời hiền đệ! Nào, vì phạt Ngụy thành công, báo thù rửa hận, cạn chén!”

Sáng sớm hôm sau, Chiêu Dương mời tiên ông vào trong phủ, xem bệnh cho Giang Quân phu nhân, lại chế ra vài hoàn thuốc. Lão phu nhân uống xong, tinh thần càng thêm khởi sắc, đã có thể nói cười, thậm chí còn đi được mấy bước. Chiêu Dương đã hoàn toàn tin tưởng vào tiên thuật của tiên ông, sáng sớm hôm sau nữa, liền theo kế của Trần Chẩn, chở tiên ông đến đài Chương Hoa.

Mặc dù Uy Vương tuổi đã cao, nhưng vẫn chìm đắm trong thanh sắc ở đài Chương Hoa, thậm chí có ngày còn lâm hạnh tới mấy nàng, mặc dù đã có ngự y bồi bổ điều dưỡng, nhưng Uy Vương lực bất tòng tâm, long thể ngày càng suy yếu. Mấy ngày hôm nay, Uy Vương cảm thấy tay chân rã rời, tinh thần phiền muộn, đang lúc buồn rầu thì nội thần bẩm báo có Chiêu Dương cầu kiến. Uy Vương tuyên triệu. Hành lễ xong xuôi, Chiêu Dương theo thường lệ bẩm báo lại mọi chuyện trong triều. Uy Vương thấy toàn là chuyện vặt vãnh, liền há miệng ngáp dài.

Chiêu Dương thấy vậy, liền dừng lại không nói nữa, nhổm người về trước quan sát Uy Vương một lúc, rồi tỏ vẻ quan tâm, hạ giọng hỏi: “Nhìn khí sắc của bệ hạ, dường như không được tươi nhuận bằng lần trước!”

Câu này quả nhiên gãi đúng chỗ ngứa, Uy Vương thở dài một tiếng, lắc đầu nói: “Than ôi, già rồi, già rồi, quả nhân già thật rồi!”

Chiêu Dương vội đổi từ ngồi sang quỳ, khấu đầu nói: “Vi thần lỡ lời, xin bệ hạ trách tội!”

“Than ôi!” Uy Vương lại thở dài một tiếng. “Đứng lên đi! Quả nhân già là chuyện của quả nhân, đâu có liên quan gì đến ái khanh, trách tội gì được?”

Chiêu Dương vẫn quỳ dưới đất, hỏi khẽ: “Vi thần to gan, xin hỏi bệ hạ có chỗ nào khó chịu?”

“Không giấu ái khanh,” giống như tất cả những người già khác, Uy Vương bắt đầu kể lể dông dài về bệnh tình của mình, nào là tức ngực, chân tay rã rời, không muốn ăn uống, hai tai lúc nào cũng ù ù như ve kêu, có lúc lại đau lưng nhức vai… rồi than thở. “Than ôi, ái khanh, quả nhân già thật rồi! Mấy năm trước vẫn thấy như không, vậy mà nay khắp người đau bệnh, từ trên xuống dưới chỗ nào cũng thấy khó chịu. À, nói đến chuyện này, quả nhân suýt nữa quên mất, Giang Quân phu nhân ngọc thể thế nào rồi?”

“Đa tạ bệ hạ quan tâm!” Chiêu Dương khấu đầu nói. “Vi thần cũng đang định bẩm báo chuyện này. Mấy ngày trước, gia mẫu bệnh nặng, cứ ngỡ là không qua khỏi, may sao hai ngày trước gặp được một vị thần nhân, nên đã đỡ nhiều. Sáng sớm hôm nay, trước khi đến đây, vi thần lại đến vấn an gia mẫu, thấy người mặt mũi hồng hào sáng sủa, như trẻ ra đến mấy tuổi. Biết vi thần muốn đến đài Chương Hoa yết kiến bệ hạ, gia mẫu đã nhờ vi thần vấn an bệ hạ!”

“Ồ?” Uy Vương mừng rỡ. “Là vị thần nhân nào mà thần thông đến vậy?”

“Một vị tiên ông đến từ núi Thương Ngô, hiệu là Thương Ngô Tử.”

“Thương Ngô Tử?” Uy Vương trầm ngâm suy nghĩ. “Nghe nói núi Thương Ngô nằm ở phía đông Xích Thuỷ, là nơi Đế Thuấn về trời!”

“Đúng vậy!” Chiêu Dương đáp lời. “Theo vi thần khảo chứng, trong cuốn ‘Hải nội nam kinh’ có ghi chép rõ ràng: ‘Núi Thương Ngô, Đế Thuấn táng tại sườn núi phía nam, Đế Đan Chu(1) táng tại sườn núi phía bắc’.”

“Ồ!” Uy Vương gật gù. “Chẳng trách lại thần thông đến vậy! Người này hiện ở đâu?”

“Đang ở ngoài điện!”

“Ồ?” Uy Vương mừng rơn, quay sang nội thần. “Mau, mời Thương Ngô Tử!”

Nội thần đi ra, lát sau đã dẫn theo một gã đàn ông trung niên rảo bước tiến vào.

Do được Trần Chẩn dày công tô điểm và huấn luyện, gã trung niên giờ đây dường như đã biến thành một người khác hẳn so với khi còn trên phố, mũ áo chỉnh tề quả nhiên trông cũng có chút tiên phong đạo cốt, siêu việt phàm trần. Cái tên Thương Ngô Tử cũng là do Trần Chẩn đặt cho.

Thương Ngô Tử ngẩng cao đầu đứng trong sảnh, nhìn thấy Uy Vương nhưng không hành lễ.

Chiêu Dương vội giục: “Tiên ông, hãy mau khấu kiến bệ hạ!”

Thương Ngô Tử khẽ vòng tay cho có, từ trong miệng bật ra một giọng nói sang sảng, dồi dào tinh lực: “Lão hủ Thương Ngô Tử xin chào bệ hạ!”

“Lão hủ?” Uy Vương ngạc nhiên, săm soi Thương Ngô Tử một lượt từ đầu đến chân. “Xin hỏi thượng tiên thọ đã bao nhiêu?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Thương Ngô Tử đáp, “tính đến ngày hôm qua, lão hủ vừa tròn ba trăm lẻ bảy tuổi không hơn không kém, không dám xưng bừa là thọ!”

“Ba trăm lẻ bảy tuổi?” Uy Vương há hốc miệng, lại đưa mắt quan sát một lượt, hít ngược một hơi dài. “Xin hỏi thượng tiên, phải chăng luôn sống trong Thương Ngô cốc?”

Thương Ngô Tử khẽ lắc đầu, chậm rãi đáp lời: “Khởi bẩm bệ hạ, lão hủ vốn là người Kinh Sơn, ra đời vào năm Trang Vương nguyên niên. Vào lúc năm tuổi, phụ mẫu cùng lúc qua đời, lão hủ đau thương thống thiết, khóc liền ba ngày ba đêm, tiếng khóc vang động cả đồng hoang. Tiếng khóc đã làm kinh động đến một dị nhân, đó chính là tiên sư của lão hủ. Tiên sư dẫn lão đi thẳng về tây, đến núi Nữ Kỷ, ở trong núi đó luyện phép tu tiên. Hai thầy trò lão hủ ở trong núi suốt hai vòng Giáp Tý, tròn một trăm hai mươi cái xuân thu, thì tiên sư bay về trời. Lão hủ công lực chưa đủ nên không thể bay lên, đành phải bám theo tiên khí vương trên mặt đất mà tìm kiếm, cứ thế lần đến núi Thương Ngô, thì đột nhiên không thấy khí của tiên sư đâu nữa, bèn dựng lều cỏ ở lại trong núi. Ở trong núi thêm hai vòng Giáp Tý cộng thêm ba mươi năm lẻ nữa, lão hủ đột nhiên nằm mơ, thấy tiên sư hiện về, lệnh cho lão đến Sính Đô thu nhận mấy đệ tử có duyên để cùng tu tiên đạo!”

“Ồ?” Uy Vương kinh ngạc hỏi. “Thượng tiên đã nhận được đệ tử nào hay chưa?”

Thương Ngô Tử lại lắc đầu: “Lão hủ mới đến Sính Đô, vẫn chưa gặp được đệ tử có duyên!”

Uy Vương vội hỏi: “Quả nhân bất tài, không biết liệu có duyên cùng tu tiên luyện đạo với thượng tiên hay không?”

Thương Ngô Tử nhìn Uy Vương một lượt, một lúc sau, bèn lắc đầu mà nói: “Tu tiên luyện đạo, trước tiên phải luyện được thân bất tử. Quan sát long thể của bệ hạ, tương lai may ra có thể được, còn hiện giờ thì chưa được!”

“Thân bất tử?” Uy Vương sung sướng quá đỗi. “Quả nhân phải làm thế nào mới luyện được thân bất tử?”

“Điều này không khó!” Thương Ngô Tử dõng dạc đáp lời. “Lão hủ sẽ luyện đan dược, chỉ cần bệ hạ uống vào, lập tức bất tử!”

Uy Vương sốt sắng hỏi: “Ồ, tiên đan lúc nào mới có thể luyện thành?”

“Bảy bảy là được!”

“Bảy bảy?”

“Tức là bảy bảy bốn mươi chín ngày!”

Uy Vương vội đứng dậy, bước lên một bước, vái mà nói: “Vãn sinh Hùng Thương khẩn cầu tiên ông giúp vãn sinh luyện tiên đan!”

Thương Ngô Tử cũng vái đáp lễ: “Lão hủ có thể luyện! Tuy nhiên, theo tính toán của lão hủ, bệ hạ trần duyên chưa dứt, nếu uống tiên đan, dù được bất tử, nhưng cũng khó thành tiên đạo!”

“Ồ?” Uy Vương rất đỗi kinh ngạc, vội hỏi. “Xin hỏi tiên ông, Hùng Thương còn trần duyên nào chưa dứt?”

“Nếu suy đoán theo thiên đạo, bệ hạ còn có một đại nghiệp chưa hoàn thành, bởi vậy trần duyên chưa dứt.”

“Đại nghiệp?” Uy Vương ngẩn người. “Quả nhân phạt Việt, lẽ nào còn chưa phải là đại nghiệp?”

“Trời phái bệ hạ xuống trần là để lập hai đại nghiệp. Phạt Việt mới chỉ là một đại nghiệp, còn một đại nghiệp nữa bệ hạ vẫn chưa hoàn thành.”

Uy Vương trầm ngâm một hồi, rồi đích thân dắt Thương Ngô Tử ngồi vào vị trí khách, sau đó quay về chỗ ngồi, vòng tay hỏi: “Xin hỏi tiên ông, nghiệp này có thể thành ở nơi nào?”

Thương Ngô Tử vòng tay đáp: “Theo suy đoán của lão hủ, đại nghiệp này của bệ hạ, cần thành ở phía bắc!”

Uy Vương cúi đầu ngẫm ngợi hồi lâu, rồi quay sang nói với nội thần: “Tiên ông từ xa đến, đi đường vất vả, hãy đưa tiên ông đến hậu cung nghỉ ngơi, đợi quả nhân xứ lý xong việc triều chính, sẽ lại bồi tiếp tiên ông tận hứng!”

Thương Ngô Tử đa tạ, rồi đứng dậy cáo lui, cùng nội thần đi ra khỏi cửa.

Uy Vương thấy hai người đã đi xa, bèn quay sang Chiêu Dương: “Chiêu ái khanh, theo ý của khanh, đại nghiệp này có thể lập ở đâu?”

“Có thể phạt Đại Lương!” Chiêu Dương vòng tay nói. “Mối nhục Hình Sơn, vi thần không rửa, chết không nhắm mắt!”

“Đại Lương?” Uy Vương khép mắt trầm tư một hồi. “Nghe nói Tam Tấn đã hợp tung, nếu ta phạt Ngụy, Hàn và Triệu ắt sẽ đến ứng cứu, như vậy phải tính thế nào?”

“Tam Tấn trước nay luôn bất hoà, cho dù có hợp tung, vẫn là bằng mặt không bằng lòng, chưa chắc đã toàn lực ứng cứu, đó là điều thứ nhất. Ta có được dân chúng Ngô, Việt, binh lính tinh nhuệ, lương thực dồi dào, có thể phát động ba mươi vạn đại quân, cho dù Tam Tấn có hợp tung, thì ta vẫn nắm chắc phần thắng, đó là điều thứ hai. Tam Tấn hợp tung, với Tần là điều bất lợi, năm ngoái vi thần đã nghe tin Tần muốn phạt Nghi Dương của Hàn. Nếu ta phạt Ngụy, có thể kết minh với Tần, để Tần xuất binh phạt Nghi Dương. Hàn tự lo cho mình còn chẳng xong, sao có thể cứu viện? Có quân Tần ở sau lưng, Triệu cũng không dám khinh suất xuất binh. Có Tần ở Hà Tây, Ngụy ắt cũng chẳng dám dốc toàn lực ứng phó với ta, đó là điều thứ ba. Có ba cái lợi này, vi thần cho rằng, có thể phạt Ngụy!”

“Ngụy có Bàng Quyên, ái khanh đã có cách đối phó hay chưa?”

“Bệ hạ yên tâm, vi thần đã điều tra biết rõ, lần trước Ngụy phạt Hình Sơn, đều là mưu của Tôn Tẫn. Nay Tôn Tẫn đã thành phế nhân, Bàng Quyên không còn đáng sợ!”

“Bàng Quyên lấy ít thắng nhiều, chỉ trong năm ngày đã đánh bại cả Tề lẫn Triệu, ái khanh tuyệt đối không được coi thường!”

“Nhìn tổng quan trận chiến Hoàng Trì, Điền Kỵ thua do kiêu ngạo, thua do sơ suất, Bàng Quyên thắng nhờ có đội quân bi thương, thắng do may mắn. Trong trận chiến Triều Ca, Phụng Dương Quân không những bất ngờ không kịp đề phòng, mà bản thân ông ta vốn dĩ cũng chẳng phải đối thủ của Bàng Quyên. Nay đã khác xưa, nếu giao chiến với Ngụy, Ngụy sẽ là quân kiêu ngạo, ta sẽ là quân bi thương. Binh pháp có câu, hai bên ngang sức, quân bi thương sẽ thắng!”

Uy Vương lại cúi đầu ngẫm nghĩ, một lúc sau, ngẩng lên hỏi tiếp: “Nếu như phạt Ngụy, ái khanh đã có tính toán gì hay chưa?”

“Có thể đoạt lấy Tương Dương!” Chiêu Dương dường như đã vạch sẵn kế hoạch trong bụng. “Ngụy coi Hình Sơn là nơi cơ yếu, nên đã cử trọng binh trấn thủ, còn Tương Dương lại để trống. Tương Dương nằm giữa Đại Lương và Tuy Dương, trước có Tuy Thuỷ, sau có Tuế Thuỷ, là vùng thắng địa chiến lược. Ta có thể xuất quân từ Khổ huyện, hành quân đường dài tập kích Tương Dương, một trận đánh hạ Tương Dương, cắt đứt liên lạc giữa Ngụy và Tống. Sau đó sẽ xây dựng thành luỹ phòng ngự dọc theo tuyến Tương Lăng, phía tây đối kháng Ngụy, phía đông thu hồi Tống, thôn tính hàng ngàn dặm đất đai màu mỡ vùng lưu vực sông Tứ.”

Nghe Chiêu Dương tâu bày mưu kế, Uy Vương nhắm mắt suy nghĩ hồi lâu, rồi gật đầu nói: “Được, sẽ làm theo kế của ái khanh! Phát hai mươi vạn đại quân phạt Ngụy, ái khanh làm chủ tướng, Khuất ái khanh, Cảnh ái khanh làm phó tướng, Cảnh ái khanh kiêm nhiệm quận thú Nam Dương, dẫn năm vạn quân xuất phát từ Phương Thành, dương công Hình Sơn, chế ngự Bàng Quyên. Còn cụ thể thế nào, ái khanh hãy về soạn thảo chỉ ý!”

“Vi thần tuân chỉ!”

Phạt Ngụy không phải chuyện nhỏ. Chiêu Dương nhận chỉ, lập tức triệu tập chư tướng, điều động ba quân, chuẩn bị lương thảo, quân nhu…, tất bật hơn một tháng trời, cuối cùng mọi việc cũng coi như ổn thoả. Trần Chẩn cũng vội viết thư về xin Tần Công chinh phạt Nghi Dương, khống chế Hàn, Triệu. Thương Ngô Tử ban đêm quan sát thiên văn, đã định được ngày lành xuất binh. Sính Đô và cả năm ngàn dặm đất Sở đều sôi sục, chốc lát, đâu đâu cũng thấy tiếng vó ngựa rầm rập, tiếng đao kiếm loảng xoảng.

Thế nhưng, sự việc cũng thật trùng hợp. Chỉ trước hôm Chiêu Dương tế cờ xuất quân đúng một ngày, Giang Quân phu nhân sau khi đã uống một mạch mấy chục viên tiên đan, sắc mặt vẫn luôn hồng hào tươi nhuận, đột nhiên hét lên mấy tiếng, rồi hộc máu mà chết.

Chiêu Dương kinh hoảng, khóc ngất trên đất, phủ lệnh doãn chìm trong tang thương.

Trần Chẩn hay tin vội chạy đến, khóc lóc còn thảm thiết hơn cả Chiêu Dương. Chiêu Dương đau đớn một hồi, rồi dứt khoát quyết định việc nước trước việc nhà sau, cắn rách đầu ngón tay lấy máu, viết huyết thư tấu trình lên Uy Vương, tuyên bố sẽ đeo tang xuất chinh.

Sáng sớm hôm sau, chủ tướng Chiêu Dương thân mặc tang phục, đánh xe tới trước cổng doanh trại trung quân để tế cờ. Ba quân tướng sĩ nhìn thấy cảnh tượng này, ai nấy đều nhỏ lệ, sĩ khí ngùn ngụt. Đến giờ Mão, Chiêu Dương đang định tế cờ xuất chinh thì thái tử Hoè đánh xe lao như bay tới, tuyên chiếu thư của Uy Vương, ra lệnh tạm hoãn phạt Ngụy, phát tang cho Giang Quân phu nhân trước.

Đúng vào lúc này, sứ đoàn hợp tung cũng rầm rộ tiến về, dừng lại đóng trại cách Sính Đô chừng ba mươi dặm.

Ngày hôm sau, thái tử Hoè lâm triều thay mặt xử lý triều chính, phái Ngận Thượng cùng Lâu Hoãn đi tiền trạm xuất thành nghênh đón, Tô Tần dẫn theo năm vị phó sứ gồm mấy vị công tử, công tôn, Điền Văn cùng những tuỳ tùng thân cận đánh xe vào cổng thành đông của Sính Đô, đi theo con đường lớn bên bờ phải Lệ Thuỷ, tiến vào dịch quán của liệt quốc ngay cạnh vương thành.

Đang đi, trước mặt đột nhiên thấy có đám đông rùng rùng chuyển động, sau đó là tiếng trống dội chuông rền, tiếng nhạc bi thiết, những người hiếu sự đến xem đều theo nhau dạt sang hai bên đường. Ngận Thượng dẫn đầu đoàn người tránh sang bên lề, Tô Tần và mọi người cũng lần lượt dạt sang nhường đường.

Một lát sau, một trăm lẻ tám vệ sĩ thân mặc áo sô đi trước mở đường, tiếp đó là sáu mươi tư nhạc công, kẻ thổi người gõ, tấu một khúc nhạc rền rĩ. Phía sau nữa là hai mươi bốn vu nữ ăn bận kỳ quặc, vây quanh một cỗ xe tứ mã lớn, trên xe là một thầy mo mày trắng tóc đỏ. Phía sau thầy mo là ba mươi hai đồng nam đồng nữ tuổi từ sáu đến mười ba, sắp thành mười sáu cặp theo độ tuổi, đều khoanh chân xếp bằng, mỗi cặp ngồi trên một chiếc bệ được làm từ tang phục, từng cặp được khiêng bởi hai thanh niên trai tráng mình mặc áo tang. Đám đồng nam đồng nữ này không mặc tang phục, mà đứa nào đứa nấy áo quần sặc sỡ, mở to đôi mắt hiếu kỳ ngó nghiêng khắp xung quanh, có đứa trong miệng vẫn nhai đồ ăn nhóp nhép, trông rất vui vẻ. Mấy đứa nhỏ tuổi hơn cả còn chỉ chỉ trỏ trỏ, nói cười khúc khích. Phía sau lũ trẻ lại có thêm hai mươi tư vu nữ.

Nhìn bộ dạng hồn nhiên ngây thơ của lũ trẻ, đám đông đến xem đều không nỡ nhìn, ai nấy đều đưa tay áo lau nước mắt. Một bé gái đứng xem nhìn mà ghen tị, liền giơ tay chỉ vào bé gái đang được khiêng đi, rồi kêu toáng lên với thiếu phụ bên cạnh: “Mẹ, mẹ ơi! Con cũng muốn ngồi trên đó!”

Thiếu phụ vội vàng bế bổng đứa nhỏ lên, sắc mặt kinh hãi tột độ, lập tức quay người chạy thẳng, mặc kệ đứa bé sợ quá khóc thét lên, nhanh như cắt lẩn vào một ngõ nhỏ bên cạnh, cứ như nếu đi chậm một bước thì con gái của chị ta sẽ bị khiêng đi mất.

Ngận Thượng lạnh lùng nhìn theo đoàn người, khuôn mặt không chút cảm xúc.

Tô Tần, công tử Ngang, Lâu Hoãn, công tử Chương, Điền Văn đều hiểu đang diễn ra chuyện gì, ai nấy đều lộ vẻ đau buồn, đầu cúi thấp. Trong đám người, duy chỉ có công tôn Khoái là không hiểu, khẽ hỏi Điền Văn đứng cạnh: “Họ khiêng những đứa trẻ này đi đâu vậy?”

Điền Văn quay mặt đi không trả lời.

Công tôn Khoái ngẩn người, càng thấy tò mò, lại tiếp tục hỏi Lâu Hoãn và công tử Chương, nhưng cả hai người cũng quay mặt đi, không lên tiếng. Công tôn Khoái cũng ngại hỏi tiếp, chỉ nhìn chằm chằm vào những đứa trẻ đang bị khiêng đi.

Lát sau, đoàn người mang tang phục đã đi xa, đám đông cũng tản đi. Công tôn Khoái không nhịn thêm được nữa, liền bước tới bên cạnh Tô Tần, khẽ hỏi: “Tô Tử, đám trẻ nhỏ kia là thế nào vậy?”

Tô Tần khẽ thở dài một tiếng, chỉ vào Ngận Thượng: “Đây là việc của nước Sở, nếu công tôn muốn biết, có thể hỏi thượng đại phu!”

Công tôn Khoái quay sang Ngận Thượng, vòng tay hỏi: “Xin hỏi Ngận đại phu, việc này là như thế nào?”

“Khởi bẩm công tôn,” Ngận Thượng vòng tay đáp lễ. “Giang Quân phu nhân quy tiên, bọn trẻ được đưa theo để hầu hạ phu nhân!”

“Cái gì?” Công tôn Khoái kinh hãi đến trợn trừng hai mắt, một lúc lâu sau mới thốt được nên lời. “Ý của đại phu là, chúng sẽ bị tuẫn táng?”

Ngận Thượng thở dài một tiếng, cúi đầu không nói thêm lời nào nữa.

Công tôn Khoái sững sờ hồi lâu mới định thần lại được, giận dữ nói: “Đã là thời đại nào rồi, sao vẫn còn tục tuẫn táng kia chứ?” Rồi quay sang Trâu Phi Đao. “Trâu Tử, hãy nhìn mà xem, lũ trẻ kia… chúng… chúng cứ vô tư chẳng hề hay biết!”

Trâu Phi Đao quay mặt đi, hai mắt nhìn sững vào đoàn người đã ở tít phía xa, một lúc sau thì quay sang Ngận Thượng, vòng tay nói: “Xin hỏi Ngận đại nhân, phải chăng chúng đang bị mang đi tuẫn táng?”

Ngận Thượng lắc đầu, nói: “Dựa theo tập tục của đất Sở, sau khi đưa tang mới tiến hành tuẫn táng, nhanh nhất cũng phải bảy ngày sau. Thầy mo vừa nãy mới lựa chọn xong đồng nam đồng nữ, hôm nay mới chỉ mang rước thị chúng, trong mấy ngày tiếp theo chúng sẽ phải học lễ nghĩa, sau đó mới đem tuẫn táng.”

Trâu Phi Đao thở hắt ra một hơi, vòng tay đa tạ.

Công tôn Khoái dường như cũng đã hiểu ra dụng ý của Trâu Phi Đao, bèn khẽ giật gấu áo hắn.

Đêm đến, mặc dù có trăng, nhưng trên trời lại mây đen dày đặc, nên mặt đất lúc sáng lúc tối.

Vào giờ Nhân định, trong dịch quán của liệt quốc, một cánh cửa khẽ khàng hé mở. Mấy bóng đen nhẹ nhàng lách qua cửa phòng, đang định lao người đi, đột nhiên có tiếng quát nghiêm khắc vang lên từ sau lưng: “Chư vị dừng bước!”

Mấy bóng đen sững sờ, nhận ra là giọng của Tô Tần đành phải dừng khựng lại.

“Chư vị định đi đâu?” Tô Tần bước vội lên vài bước, hạ thấp giọng hỏi.

Công tôn Khoái lắp bắp: “Không… không đi đâu cả, chỉ… chỉ đi dạo mà thôi!”

Tô Tần đi tới trước mặt Trâu Phi Đao, lục ra được mấy chục mũi phi đao trên khắp người hắn, lại quay sang nhìn mọi người, thấy ai nấy đều mang theo đao kiếm, ám khí đầy mình, liền cười nhạt: “Đi dạo thì mang theo những thứ này làm gì?”

Công tôn Khoái biết không thể giấu được, đành nói: “Hồi bẩm Tô Tử, chúng tôi muốn đến phủ lệnh doãn!”

“Để cướp người?”

Công tôn Khoái gật đầu nói: “Là để cứu người! Bọn trẻ kia… không đáng phải chết!”

“Hừm!” Tô Tần hừ mũi một tiếng, rồi mắng. “Chỉ với sức của mấy vị mà muốn tới phủ Chiêu Dương cứu người, rõ ràng là tự đâm đầu vào chỗ chết! Đường đường là quý tộc nước Yên, tay cầm hung khí, nửa đêm đột nhập vào phủ lệnh doãn nước Sở, việc này nếu truyền ra ngoài, biết phải dàn xếp thế nào? Mặt khác, cho dù mọi người không bị phát hiện, nhưng mọi người sẽ cứu những đứa trẻ ngây thơ vô tri kia như thế nào? Chúng không biết bay, cũng chẳng biết chạy, huống hồ hiện giờ lại đang được ăn ngon mặc đẹp, liệu có chịu đi không?”

Mọi người chưa ai nghĩ đến những điều này, đặc biệt là công tôn Khoái, nên đứng lặng người, ngẩn ngơ hồi lâu mới lắp bắp nói: “Nhưng… Tô Tử, chúng ta sao có thể giương mắt đứng nhìn đám trẻ chết oan uổng được?”

“Được thôi!” Tô Tần nói tiếp. “Cho dù mấy người có thể cứu bọn chúng ra, lẽ nào mọi việc sẽ kết thúc được ư? Chiêu Dương vẫn phải mai táng mẫu thân, thầy mo sẽ lại tiếp tục đi tìm những đứa khác. Các người không muốn để chúng chết oan uổng, thì sẽ có ba mươi hai đồng nam đồng nữ khác bị chôn sống. Khi đó, các người đành phải tiếp tục đi cứu, rồi họ lại tiếp tục đi tìm. Công tôn, hủ tục của nước Sở đã lâu đời, khó lòng thay đổi!”

Tất cả những người có mặt đều sững sờ, rồi theo nhau ngồi thụp cả xuống, không ai nói nổi một lời.

Lâu Hoãn nghe thấy tiếng động, cũng bước ra, đứng ở sau lưng Tô Tần.

Tô Tần thở dài một tiếng, quay sang Lâu Hoãn: “Lâu huynh, sáng sớm mai hãy chuẩn bị hậu lễ, gửi thiếp đến phủ lệnh doãn, nói rằng đặc sứ hợp tung năm nước Tô Tần vào giờ Thân buổi chiều sẽ cùng với phó sứ liệt quốc đến phủ điếu viếng Giang Quân phu nhân!”

“Hạ quan tuân lệnh!”

Giờ Thân hôm sau, Tô Tần và năm vị phó sứ tiến vào phủ lệnh doãn phúng viếng Giang Quân phu nhân. Năm nước đều chuẩn bị hậu lễ, một đoàn người dài dằng dặc khiêng theo các hòm lễ vật nối đuôi nhau đi vào, khiến cho Hình Tài bận túi bụi không lúc ngơi tay.

Đặc sứ năm nước còn chưa lên triều mà đã đến phủ phúng viếng, đồng thời trong số năm vị phó sứ, ngoài Lâu Hoãn ra, bốn người còn lại đều là quý tộc công thất, thực khiến cho Chiêu Dương nở mày nở mặt. Chiêu Dương dẫn theo mười mấy nhân vật có máu mặt trong tộc họ Chiêu đang trông coi linh cữu ra tận cổng phủ nghênh tiếp. Đôi bên hành lễ xong xuôi, bèn dẫn đoàn Tô Tần vào thẳng linh đường của lão phu nhân. Tô Tần cùng các phó sứ hành đại lễ tế bái.

Lễ bái xong, Chiêu Dương dẫn Tô Tần và mọi người đến phòng khách, trên đường băng qua một dãy nhà, thấp thoáng nghe vẳng ra tiếng trẻ nhỏ nói cười. Mọi người đều thấy trong tim thắt lại, Tô Tần sắc mặt thản nhiên như không, đi thẳng tới trước cổng, đưa mắt nhìn vào trong sân, rồi quay sang hỏi Chiêu Dương: “Lệnh doãn đại nhân, bọn trẻ đều là người trong phủ ư?”

“Không! Không phải! Là tại hạ đã mua chúng về!” Chiêu Dương đáp.

“Ồ?” Tô Tần vờ ngạc nhiên. “Đại nhân mua nhiều trẻ nhỏ như vậy để làm gì?”

“Tô Tử có điều không biết,” Chiêu Dương hạ giọng giải thích, “lũ trẻ này sẽ dùng để tuẫn táng, đợi mấy ngày nữa sẽ đi theo hầu hạ tiên mẫu!”

Tô Tần gật đầu nói: “Từ lâu đã nghe nói đại nhân là người chí hiếu, nay mới được thấy tận mắt! Tại hạ có thể vào xem lũ trẻ không?”

Chiêu Dương chìa tay nói: “Mời!”

Tô Tần và mọi người đi vào trong sân, thấy hai vu nữ đang dạy bọn trẻ đủ thứ lễ nghi. Bỗng thấy một đoàn người lạ mặt đi vào, bọn trẻ đều sợ sệt, khép nép nhìn bọn họ. Vu nữ tiến lại vái chào hành lễ, rồi gọi lũ trẻ tới bái kiến các vị đại nhân. Lũ trẻ đều quỳ xuống, khấu đầu hành lễ. Tô Tần cảm thấy trong lòng chua xót, liền quay người bước đi.

Tới phòng khách, mọi người phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Mấy tỳ nữ bưng trà lên, rồi khom người lui ra.

Chiêu Dương bưng chén trà lên, nói: “Chư vị, mời dùng trà!”

Mấy người đều đang mải nghĩ tới bọn trẻ, nên chẳng ai đáp lại.

Tô Tần là người đầu tiên nâng chén trà lên, nhấp lấy mấy ngụm, rồi lại đặt chén xuống, khẽ than thở: “Than ôi, tại hạ thuở nhỏ đã được nghe kể về công lao hiển hách của Chiêu Hề Tuất đại nhân, lại nghe nói Giang Quân phu nhân hiền thục nhân từ, tứ đức toàn vẹn. Chiêu đại nhân sớm quy tiên, lần này đến Sính, tại hạ vốn dĩ mong muốn tận mắt thấy được phong thái của Giang Quân phu nhân, lắng nghe phu nhân dạy bảo, không ngờ phu nhân cũng… buông tay mà đi!” Rồi khẽ sụt sùi, đưa tay áo lau nước mắt.

Chiêu Dương thấy Tô Tần cảm xúc chân thành, không giống như giả bộ, nên vô cùng cảm động, vòng tay nói: “Tại hạ xin thay mặt tiên phụ, tiên mẫu đa tạ Tô Tử! Tiên mẫu ra đi quá đường đột, ngay cả tại hạ cũng chẳng thể ngờ. Hỡi ôi, gia mẫu…” Rồi đưa tay áo che mặt, bật khóc nức nở.

Tô Tần khóc cùng ông ta thêm một lúc, rồi vòng tay vái mà nói: “Dám hỏi đại nhân, lão phu nhân đã thọ bao nhiêu?”

“Bảy mươi mốt!”

Tô Tần khẽ gật đầu: “Nói như vậy, lão phu nhân cũng đã qua cái tuổi xưa nay hiếm, cũng coi là hỷ tang rồi!”

Chiêu Dương lại vòng tay: “Đa tạ lời tốt lành của Tô Tử!”

Tô Tần cũng vái đáp lễ, rồi đổi giọng, ít nhiều có ý thở than: “Từ lâu tại hạ đã nghe nói tập tục Kinh Sở và Trung Nguyên có khác, nay chứng kiến cách đại nhân an táng cho lão phu nhân, bỗng thấy cảm khái vô cùng!”

“Ồ?” Chiêu Dương bỗng thấy chột dạ. “Dám hỏi Tô Tử có điều gì cảm khái?”

“Năm xưa Trọng Ni khởi xướng việc thận trọng trong ma chay thờ cúng, sống thì phụng dưỡng, mất thì mai táng, vì vậy liệt quốc Trung Nguyên vừa coi trọng việc phụng dưỡng lúc sinh thời, vừa coi trọng việc an táng khi khuất núi. Còn người Kinh dường như chỉ coi trọng lúc sinh thời, mà không coi trọng hậu sự.”

Nghe Tô Tần nói vậy, Chiêu Dương thoạt tiên kinh ngạc, một lúc sau mới định thần, mặt xệ xuống, cất giọng lạnh nhạt: “Sao Tô Tử lại nói vậy?”

“Dám hỏi đại nhân, lão phu nhân lúc còn sống là do người nào hầu hạ?”

“Có rất nhiều người hầu, gần kề nhất là tỳ nữ thân tín!”

“Lại hỏi đại nhân, những người hầu này là người lớn hay trẻ nhỏ?”

“Đương nhiên là người lớn, trẻ nhỏ làm sao biết hầu hạ?”

“Vậy thì đúng rồi!” Tô Tần chậm rãi nói. “Lão phu nhân lúc còn sống là do người lớn hầu hạ, nhưng sau khi lão phu nhân qua đời, xung quanh lại chỉ có một bầy trẻ nhỏ. Bọn trẻ này tuổi nhỏ chẳng hiểu chuyện gì, vừa không biết ăn nói khiến lão phu nhân vui lòng, cũng chẳng biết pha trà quét dọn, giặt giũ nấu ăn, chưa nói đến chuyện không thể hầu hạ lão phu nhân chu đáo, ngược lại còn khiến lão phu nhân thêm bực mình. Hơn nữa, lão phu nhân bản tính ưa yên tĩnh, trong khi bọn trẻ lại hiếu động ồn ào, một tĩnh một ồn, lão phu nhân làm sao có thể yên nghỉ được? Chỉ riêng một việc này thôi, tại hạ đã cho rằng, người Kinh chỉ coi trọng lúc sinh thời, mà không coi trọng hậu sự!”

Những người khác đã bắt đầu hiểu ra dụng ý của Tô Tần, liên tiếp gật gù khen đúng. Chiêu Dương mặc dù thấy mất mặt, nhưng lại không nói ra được lý lẽ gì để phản bác, ậm ừ một lúc mới lên tiếng: “Lời của Tô Tử không phải là không có lý. Chỉ là người Kinh quy tiên, theo tục lệ phải tuẫn táng đồng nam đồng nữ, đây là quy chế của tổ tiên, Chiêu Dương không dám làm trái.”

“Quy chế của tổ tiên là phép tắc.” Tô Tần nhân đà nói tiếp. “Phép tắc là do thánh nhân lập nên. Thánh nhân lập ra phép tắc là tuân theo thiên đạo, hợp với tình lý, thuận với thời thế, hợp với thói tục. Phong có phong nhỏ của một vùng, cũng có phong lớn của cả thiên hạ; tục cũng có tục nhỏ của một vùng, cũng có tục lớn của cả thiên hạ. Thánh nhân hợp phong tuỳ tục, không phải hoà hợp với phong của một vùng, cũng không tuỳ thuận với tục của một phương, mà là hoà hợp với đại phong của thiên hạ, tuỳ thuận với đại tục của thiên hạ. Thiên đạo có dịch, phong tục có biến, vì vậy phép tắc của đời thánh nhân, tuyệt đối không rập khuôn cứng nhắc. Thánh hiền thời cổ lấy nhạc làm phép tắc, Hoàng Đế làm ra ‘Vân Môn’, Nghiêu làm ra ‘Hàm Trì’, Thuấn làm ra ‘Đại Thiêu’, Hạ Khải làm ra ‘Đại Hạ’, Thương Thang làm ra ‘Đại Hoạch’, thời đại khác nhau, nhạc vũ khác nhau, phép tắc tự nhiên cũng khác nhau. Nay thời thế đã thay đổi, phong tục thiên hạ cũng đã khác, Trung Nguyên không còn tục tuẫn táng người sống nữa, nhưng Kinh Sở lại vẫn tuẫn táng trẻ nhỏ, vậy nên tại hạ cảm khái trong lòng!”

“Điều này…” Chiêu Dương cứng họng, không nói được lời nào.

“Hơn nữa,” Tô Tần nói tiếp, “quy chế của nước Sở cũng không phải là nhất thành bất biến. Theo tại hạ được biết, quý tộc nước Sở theo chế độ thế tập, cha truyền con nối, một đời được phong quần, ngàn đời được hưởng lộc, khiến cho nước Sở chia năm xẻ bảy, quốc lực tổn thương nghiêm trọng. Điệu Vương đã lệnh cho Ngô Khởi biến pháp, bớt chỗ dư để bù cho chỗ khuyết, nay quý tộc chỉ được thế tập ba đời, sau ba đời nếu không lập được công lao, sẽ thu lại chức tước, đưa ra biên giới, từ đó mà nước Sở được đại trị. Dù Ngô Khởi đã chết, nhưng chế độ này vẫn được truyền đến tận ngày nay. Cho dù là đồ tuỳ táng cũng không phải là không thay đổi. Thời thượng cổ thường tuỳ táng bằng đồ đá, thời trung cổ thường tuỳ táng bằng đồ gốm, thời cận cổ lại thường tuỳ táng bằng đồ đồng, gần đây thì tuỳ táng bằng đồ sắt. Đô tuỳ táng khác nhau, chứng tỏ thế tục có thay đổi; thế tục đã thay đổi, tập tục mai táng đương nhiên cũng nên đổi khác!”

Lời của Tô Tần lý lẽ mạch lạc, căn cứ chắc chắn. Chiêu Dương trầm tư hồi lâu, rồi khẽ gật đầu, hiển nhiên nghe đã lọt tai.

Tô Tần ôm quyền nói tiếp: “Tại hạ nghe nói lão phu nhân sinh thời không những tứ đức vẹn toàn, mà còn ưa hành thiện bố thí, từ bi hiền hậu, chưa từng hạ dao giết đến một con gà, thấy kiến liền tránh, không biết có chuyện này chăng?”

Chiêu Dương liên tiếp gật đầu, khóc sụt sùi: “Tiên mẫu đích thực là người như vậy!”

Tô Tần tiện đà bồi thêm: “Tại hạ cho rằng, người thân quy tiên, trọng ở truy viễn. Truy viễn nghĩa là tưởng nhớ người thân, an táng tận hiếu. Đại hiếu trong thiên hạ, không gì lớn bằng nghĩ được điều người thân nghĩ, làm được điều người thân làm. Nay lão phu nhân đã quy tiên, tại hạ cho rằng, nếu đại nhân muốn tỏ lòng đại hiếu, thì phải nghĩ được điều lão phu nhân nghĩ, làm được điều lão phu nhân làm. Lão phu nhân nhân từ là thế, mà đại nhân lại đi tuẫn táng người sống, lão phu nhân ở dưới cửu tuyền biết được, chắc chắn sẽ không thể vui lòng!”

Tô Tần đã nói đến nước này, lời lời hữu lý, Chiêu Dương chẳng có cách nào phản bác, chỉ biết cúi gằm mặt. Hồi lâu sau, dường như đã suy nghĩ kỹ càng, bèn ngẩng đầu hỏi: “Nếu như không tuẫn táng người sống, tại hạ phải làm thế nào để thể hiện lòng thương tiếc với tiên mẫu?”

“Đại nhân đã nghe nói tới Trâu Tử người Tề hay chưa?”

“Trâu Tử?” Chiêu Dương hỏi lại. “Trâu Tử nào kia?”

“Chính là Trâu Diễn, người đề xuất thuyết vạn vật trong trời đất đều là do ngũ hành kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ sinh khắc biến hoá theo quy luật âm dương?”

Chiêu Dương gật đầu nói: “Có nghe nói đến! Nghe nói người này còn đề ra thuyết hải ngoại cửu châu!”

“Đại nhân nói rất đúng!” Tô Tần khen ngợi. “Người này xứng đáng là bậc đắc đạo đời nay, mặt vuông tai lớn, ánh mắt như lửa, người cao trượng hai, bẩm sinh tướng lạ, có phép thần thông, thông hiểu hai giới âm dương, nhiều lần ngao du đến cõi âm tào, còn cùng Diêm Vương kết nghĩa kim lan, giao tình thân thiết. Tô Tần may mắn được gặp mặt người này một lần, nghe kể tường tận về tình hình dưới địa phủ, đúng là chẳng khác gì so với dương gian. Theo lời của Trâu Tử, nhân sinh tại thế, sống có dương thọ, chết có âm thọ. Người tích dương đức thì có thể tăng dương thọ, người tích âm công sẽ có thể tăng âm thọ. Xe ngựa, nô bộc là những thứ dùng ở dương thế, thịt cúng, hình tượng là những thứ dùng ở âm thế. Cúng bằng người sống, trên tổn dương đức, dưới hại âm công, có trăm hại mà chẳng có lấy một lợi. Cũng chính nhờ Trâu Tử mà tất cả các nước Trung Nguyên đã thay đổi tập tục mai táng, người Tần chôn theo xe ngựa tượng gốm; Tam Tấn, Yên, Tề chôn theo bò dê. Nhìn lại lão phu nhân, có được dương thọ đến tuổi cổ lai hy, chứng tỏ lúc sinh tiền, phu nhân dương đức dày dặn. Nếu nay đại nhân lại đem tuẫn táng đồng tử, tại hạ thiết nghĩ, sẽ gây tổn hại đến âm công của lão phu nhân, làm giảm âm thọ của lão phu nhân!”

Chiêu Dương kinh ngạc hỏi: “Lời này phải chăng là sự thực?”

Tô Tần đáp: “Việc ở âm gian, tại hạ chưa từng trải qua nên không thể khẳng định. Tuy nhiên, theo lý mà suy đoán, tại hạ cho rằng lời của Trâu Tử không phải là không có lý. Thánh nhân từ xưa, từ Phục Hy thị, Hoàng Đế đến Nghiêu, Thuấn, Vũ, chưa có ai từng tế người sống. Đó là lý do khiến người thượng cổ thường sống thọ. Tế người xuất hiện từ thời Hạ, đến thời Thương thì thịnh hành, vì vậy người đời sau thường không sống thọ. Nay người dân Trung Nguyên đều đã tin lời Trâu Tử, từ bỏ tập tục tuẫn táng người sống cả rồi!”

Chiêu Dương hít ngược một hơi khí lạnh, cúi đầu không nói gì.

Tô Tần vòng tay khẩn cầu: “Tại sao đại nhân không thuận theo sự biến đổi của thời thế, thành người dẫn đầu thay đổi tục lệ vùng Kinh Sở?”

Chiêu Dương vẫn đắn đo không quyết.

“Làm như vậy, hẳn sẽ là một mũi tên trúng hai đích!”

“Một mũi tên trúng hai đích?” Chiêu Dương tròn mắt.

“Đại nhân thử nghĩ xem, nếu như trừ bỏ tục lệ tuẫn táng người sống, sẽ giúp lão phu nhân vừa được thanh tĩnh, lại tích âm công; cũng giúp đại nhân vừa biểu lộ được cái đức nhân từ hiếu sinh, lại khởi nguồn cho việc thay đổi phong tục, chắc chắn sẽ được ghi danh vào sử sách Kinh Sở, để đức thiên thu!”

“Ừm!” Chiêu Dương nghe nói động lòng, bèn gật gù. “Tô Tử nói rất đúng! Tuy nhiên, việc này hệ trọng, hãy để tại hạ bàn bạc với người trong tộc đã!”

“Ồ, hoá ra là như vậy!” Tô Tần khẽ gật đầu, đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người, sau đó ôm quyền hướng về phía Chiêu Dương, tỏ ra thấu hiểu. “Xem ra, người Sở các vị coi tộc lớn hơn nước! Theo lý mà nói, đại nhân ở Sở là dưới một người trên vạn người, thế nhưng việc có tuẫn táng người sống hay không, lại là việc nhà, cho dù là Sở Vương bệ hạ cũng là roi dài khó với, không thể can thiệp. Không ngờ chỗ khó khăn lại nằm ngay trong gia tộc!”

Tô Tần rõ ràng đang dùng kế khích tướng. Đám phó tướng nhanh chóng hiểu ý, đều đưa ánh mắt kinh ngạc lạ lùng nhìn sững vào Chiêu Dương.

Chiêu Dương rõ ràng cảm thấy mất mặt, lập tức quay ra ngoài gọi lớn: “Người đâu!”

Hình Tài vội vàng chạy vào, khom lưng chờ lệnh Chiêu Dương.

Chiêu Dương cất giọng rành rọt, ngữ khí chắc nịch như đinh đóng cột: “Đưa đám đồng nam đồng nữ về nhà từng đứa, mỗi nhà thưởng cho một lượng vàng để an ủi!”

Hình Tài sững người, vội đưa mắt nhìn Chiêu Dương, thấy ông ta sắc mặt kiên nghị, không hề có cơ nhân nhượng, đành phải gật đầu vâng lệnh rồi nhanh chóng lui ra. Một lát sau, Tô Tần nghe loáng thoáng phía xa có tiếng Hình Tài sai bảo và tiếng bước chân đám nô bộc chạy bủa đi, song để cho chắc chắn, vẫn ngồi nán thêm một lúc, đoán rằng bọn trẻ đều đã được đưa đi, mới cùng các vị phó sứ cáo từ ra về.

Trên đường trở về, công tôn Khoái vô cùng thán phục, ôm quyền vái mà nói: “Tô Tử đúng là miệng sắt lưỡi đồng, chỉ dăm ba lời, trong chốc lát đã cứu được lũ trẻ ra khỏi miệng cọp!”

“Than ôi!” Tô Tần thở dài một tiếng. “Cứu bọn trẻ thì dễ, nhưng cứu Sở thì khó đấy!”

Mọi người đều ngạc nhiên: “Lời này có nghĩa gì?”

“Tệ lâu khó sửa!”

Sáng sớm hôm sau, trong cung tuyên triệu đặc sứ hợp tung liệt quốc Tô Tần và năm vị phó sứ vào cung yết kiến điện hạ. Do trong phủ lệnh doãn Chiêu Dương đang để tang cho lão phu nhân Giang Quân, nên tộc họ Chiêu không có ai lên triều. Từ sau khi Chiêu Dương nhậm chức lệnh doãn, thuộc hạ các phủ phần lớn dùng người họ Chiêu, vì vậy họ Chiêu không lên triều, khiến triều đường cũng trở nên trống trải.

Tô Tần và mọi người hành lễ khấu bái xong, bèn trình lên quốc thư của năm nước Trung Nguyên và ước thư mời hợp tung. Thái tử Hoè nhận ước thư, đọc xong bèn nói: “Chư vị sứ thần, liệt quốc Trung Nguyên đều đã hợp tung, nước Sở đương nhiên cũng nên nhập tung. Tuy nhiên, bản cung tuổi nhỏ, việc bang giao hệ trọng nhường này, còn phải bàn bạc với quần thần, bẩm báo lên phụ vương, hẹn ba ngày sau, chắc chắn sẽ có hồi đáp. Chư vị từ xa tìm đến, hãy nhân tiện nghỉ ngơi đôi ba ngày, hưởng thụ phong tình đất Kinh Sở!” Rồi quay sang Ngận Thượng. “Ngận ái khanh, Tô Tử và chư vị công tử, công tôn liệt quốc giao cho khanh khoản đãi, không được sơ suất!”

Ngận Thượng khấu đầu đáp: “Vi thần tuân chỉ!”

Tô Tần và chư vị phó sứ tạ ơn xong bèn lui ra, quay trở về dịch quán.

Xử lý xong việc triều chính, thái tử Hoè mang theo ước thư, khởi giá đến đài Chương Hoa, bẩm lại chuyện hợp tung với Uy Vương. Uy Vương nhận lấy ước thư, đọc qua một lượt, chưa đợi thái tử Hoè bẩm báo xong đã bực tức ngắt lời, lớn tiếng trách mắng: “Việc nhỏ nhặt như vậy mà cũng đến bẩm báo!” Rồi ném toẹt ước thư xuống đất, đứng dậy đi thẳng.

Đặc sứ năm nước Trung Nguyên cùng lúc nhập triều, việc này còn bảo là nhỏ, vậy việc gì mới là việc lớn? Thái độ của Uy Vương thực nằm ngoài dự liệu, khiến thái tử Hoè nhất thời chết sững.

Ngẩn ngơ một lúc, thái tử Hoè liếc thấy nội thần vẫn đứng đó, dường như đang đợi để tiễn mình, liền đưa mắt sang nhìn nội thần.

Nội thần liếc nhìn theo bóng Uy Vương, rồi nhặt lấy ước thư từ dưới đất lên, rảo bước tới bên Thái tử Hoè, hạ giọng bẩm báo: “Điện hạ có điều không biết, mấy ngày nữa, đan dược bất tử của Thương Ngô Tử tiên ông sẽ ra lò, hiện giờ bệ hạ chỉ nghĩ tới chuyện này, không quan tâm tới bất cứ việc gì khác. Điện hạ hãy trở về Sính Đô, đợi mấy ngày nữa, tiên đan của bệ hạ luyện xong, hãy tiếp tục đến bẩm báo cũng chưa muộn!” Nói xong, hai tay dâng trả ước thư.

Thái tử Hoè sớm đã nghe chuyện về Thương Ngô Tử, lúc này lại được nội thần tiết lộ, nên cũng không tiện nói gì thêm, chỉ khẽ gật đầu, nhận lấy ước thư, cẩn thận cho vào tay áo, vòng tay từ biệt nội thần rồi vội vã bước đi, rời khỏi đài Chương Hoa.

Trở về cung, thái tử Hoè ngậm miệng không hề nhắc tới chuyện hợp tung. Tô Tần và mọi người ở dịch quán đợi đã quá ba ngày nhưng vẫn không thấy điện hạ triệu kiến, cũng không thấy Ngận Thượng đâu. Mấy vị phó sứ chẳng còn lòng dạ nào mà du ngoạn. Đang lúc sốt ruột, lại thấp thoáng nghe thấy tiếng đàn của Tô Tần, không hẹn mà cùng nhau tìm đến phòng Tô Tần.

Thấy mọi người bước vào, Tô Tần dừng đàn, vòng tay mời: “Ngồi đi! Ngồi đi!”

Công tử Ngang tính cách vẫn nóng như lửa, mở miệng nói liền: “Đặc sứ đại nhân, bây giờ là lúc nào rồi mà đại nhân còn có lòng dạ gảy đàn?”

“Xin hỏi công tử, không cho gảy đàn, vậy công tử bảo tại hạ phải làm gì?” Tô Tần cười hỏi.

“Lên điện tìm họ!” Công tử Ngang tức giận vỗ mạnh xuống đùi. “Chính miệng Hùng Hoè đã hứa, ba ngày sau sẽ có hồi đáp. Nay đã sang ngày thứ tư rồi, không những chẳng có hồi âm, đến thằng cha Ngận Thượng kia cũng mất hút, chẳng phải là cố tình bỡn cợt chúng ta ư?”

Mọi người đều nhìn cả vào Tô Tần.

“Chúng ta đến là để kết thân, không phải đến để kết oán!” Tô Tần nhún vai ra chiều bất lực. “Người ta không triệu kiến, nếu chúng ta mặt dày xông vào trong cung, khiến người Sở tức giận, chẳng may bị họ tống cổ ra ngoài, chẳng phải là mất sạch thể diện ư?”

Mọi người đều bật cười, công tử Ngang cũng phì cười theo, vòng tay nói: “Vậy… Tô Tử còn có đàn mà gảy, còn chúng tôi phải làm gì đây?”

“Nghe đàn!” Tô Tần chỉ tay vào tai.

Mọi người lại cười phá lên.

“Tuy nhiên,” Tô Tần ngẫm nghĩ một chút, rồi chậm rãi đứng dậy, “chư vị đã quen nghe những khúc đàn tao nhã, tại hạ học nghệ không thông, chư vị có lẽ nghe không lọt tai. Thế này vậy, nếu như chư vị rảnh rỗi sinh buồn, tại hạ có thể dẫn chư vị đến một nơi, cùng nhau thưởng thức Sở phong Sở nhạc, chư vị thấy thế nào?”

Mọi người đều tỏ ra hưng phấn, liền gọi xe ngựa tới, cùng Tô Tần đánh xe đến một trạch viện rộng lớn.

Mọi người ngẩng đầu nhìn tấm biển, thì ra là phủ tả tư mã. Tô Tần trình danh thiếp, một lát sau, tả tư mã Khuất Vũ cùng con trai trưởng Khuất Cái đích thân ra nghênh đón. Hành lễ xong xuôi, đôi bên cùng đi vào trong sảnh, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

Tỳ nữ dâng trà, mọi người cùng thưởng trà một lúc. Khuất Vũ đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người, rồi vòng tay nói: “Chư vị đặc sứ đại nhân quang lâm hàn xá, tại hạ vô cùng vinh hạnh. Tại hạ là kẻ vũ phu, kiến thức nông cạn, xin mời chư vị chỉ giáo!”

“Tư mã đại nhân khách khí rồi!” Tô Tần vòng tay đáp lễ. “Tại hạ và chư vị công tử lần đầu đến Sở, mọi việc đều lạ lẫm. Sau khi đến Sính, tại hạ vốn muốn được tìm hiểu phong thái đất Sở, nhưng lại lạ nước lạ cái, không dám đi lại tuỳ tiện, hàng ngày chỉ biết ru rú trong dịch quán, buồn tẻ vô cùng. Tại hạ thích nhạc, nghe nói vũ nhạc đất Sở khác hẳn Trung Nguyên, lại nghe nói tư mã đại nhân am hiểu nhạc Sở, trong lòng nôn nao khấp khởi, nên hôm nay mới mạo muội tìm tới tận cửa, mong được chỉ giáo. Các vị công tử, công tôn nghe được điều này, đều muốn đi cùng. Chúng tại hạ bất ngờ mà đến, quá ư đường đột, có chỗ thất lễ, mong tư mã đại nhân đừng để bụng!”

“Tô Tử cười chê rồi!” Khuất Vũ cười nói. “Tại hạ là người thô lỗ, chỉ biết khua thương múa gậy, đâu có hiểu gì về nhạc? Tuy nhiên, nếu chư vị đại nhân đã đặc biệt tìm đến để thưởng nhạc, tại hạ cũng khó lòng chối từ. Cũng thật trùng hợp, tại hạ có một đứa cháu họ vừa mới từ quê tới, tuổi tuy còn nhỏ, nhưng rất thông minh, am hiểu vũ nhạc, cũng giỏi từ phú, dưới quê cũng được coi là một nhân tài. Chư vị đại nhân đều là nhã sĩ Trung Nguyên, vừa hay có thể chỉ điểm cho nó!” Rồi quay sang Khuất Cái. “Cái Nhi, đi mời Khuất Bình!”

Khuất Cái vâng lời đi ra, chốc sau đã dẫn theo một thiếu niên rảo bước quay lại.

Thiếu niên bước vào trong cửa, cho dù đã có chuẩn bị từ trước, nhưng đột nhiên nhìn thấy người lạ ngồi đầy trong phòng, vẫn giật mình ngạc nhiên, rồi trước tiên vòng tay với Khuất Vũ: “Tiểu điệt bất tài xin chào bá phụ!” Sau đó quay sang đám Tô Tần, lần lượt khom lưng vái chào từng người, cất giọng rất đỗi lịch thiệp, có phần cứng nhắc. “Vãn sinh Khuất Bình xin chào chư vị đại nhân!”

Mọi người đều đưa mắt nhìn vào chàng thiếu niên Khuất Bình.

Khuất Bình diện mạo thanh tú, nhưng nhìn kỹ, vẫn ít nhiều non nớt, đầu chưa đội mũ, cao ngang công tử Chương, nhìn vóc dáng gầy guộc mảnh mai, dường như vẫn chưa cao hết tầm.

Tô Tần và mọi người quan sát Khuất Bình một lượt, sau đó lại quay sang nhìn nhau. Trong mắt người thường, chưa đến tuổi đội mũ thì vẫn là trẻ nít. Một thiếu niên mặt búng ra sữa như vậy mà Khuất Vũ lại ca ngợi là “am hiểu vũ nhạc, cũng giỏi từ phú”, đồng thời lại còn tiến cử công khai với các cao sĩ Trung Nguyên như Tô Tần, quả thực khiến người ta phải kinh ngạc.

Thấy là trẻ con, Tô Tử không đứng dậy, chỉ khẽ vòng tay, mỉm cười, hỏi với giọng điệu của trưởng bối: “Tiểu tử, năm nay bao nhiêu tuổi rồi?”

“Khởi bẩm đại nhân,” Khuất Bình vòng tay đáp, “đợi đến khi hoa quế lại nở, vãn sinh đã trải đủ mười sáu mùa thu!”

Nghe thấy lối đối đáp văn hoa, mọi người đều cười.

“Nói hay lắm, quả là nhân tài!” Tô Tần khẽ gật gù, không dám khinh suất nữa, liền đứng dậy vái đáp lễ. “Tô Tần người Lạc Dương xin chào Khuất Tử!”

“Vãn sinh tuổi nhỏ, không dám nhận là ‘Tử’! Đa tạ đại nhân đã quá khen!” Khuất Bình lại vái, nói tiếp. “Từ lâu vãn sinh đã được nghe danh tiếng của Tô đại nhân, hôm nay được gặp, thật vô cùng vinh hạnh!”

Khuất Vũ cười vang mấy tiếng, rồi tiếp lời, lần lượt giới thiệu từng vị công tử, công tôn cho Khuất Bình hành lễ với từng người.

Hành lễ xong xuôi, Khuất Vũ đi vào chuyện chính: “Tiểu Bình! Tô đại nhân và chư vị công tử, công tôn đều là cao nhân Trung Nguyên, nay đến đây muốn để thưởng thức tục nhạc của Kinh Sở. Bá phụ không hiểu âm luật, nên mới mời hiền diệt đến diễn tấu một khúc, để chư vị đại nhân chỉ điểm!”

Khuất Bình vâng lời, quay sang vòng tay với đám Tô Tần: “Vãn sinh biết tấu nhạc Sở, cũng biết tấu nhạc Ba, xin hỏi chư vị đại nhân muốn nghe nhạc nào?”

Tô Tần đắn đo một lát, rồi nói: “Xin hãy tấu nhạc Sở!”

Khuất Bình gật đầu, sải bước đi ra.

Chốc sau, có mấy nhạc công bước vào, mang theo rất nhiều nhạc cụ, có chuông, trống, khánh, kèn, đàn cầm, đàn sắt, tiêu… Mọi người đều dịch chuyển sang bên cạnh, chừa ra một khoảng trống. Các nhạc công lần lượt ngồi vào chỗ, ánh mắt đều hướng vào Khuất Bình.

Khuất Bình quay về mọi người, khom lưng thật thấp, rồi nói lớn: “Vãn sinh bất tài, xin khoe vụng trước chư vị đại nhân đây một khúc ‘Quất tụng’ do vãn sinh tự viết!” Rồi cất bước ung dung tiến tới trước một giàn khánh, điều hoà hơi thở, đứng tĩnh lặng, tay cầm lấy chiếc dùi đồng chuyên để gõ khánh.

Nghe nói là khúc nhạc là do Khuất Bình đích thân viết ra, lại thấy Khuất Bình đích thân gõ khánh, đám Tô Tần vô cùng kinh ngạc, mắt nhìn không chớp vào cậu thiếu niên.

Khuất Bình bắt đầu vung tay gõ khánh. Sau vài tiếng khánh, đám nhạc công đồng loạt diễn tấu, điệu nhạc không chỉ réo rắt vui tai, mà còn bổng trầm phấn chấn.

Diễn tấu được một lúc, Khuất Bình bỗng cất giọng, nửa hát nửa ngâm:

“Cây đẹp trong trời đất,

Quất hợp đất này a.

Bản tính không thay đổi,

Sinh tại nước nam a.

Rễ sâu khôn dời chuyển,

Bởi vì một lòng a.

Lá xanh chen hoa trắng,

Mơn mởn đáng yêu a.

Cành rậm gai sắc nhọn,

Kết quả tròn trịa a.

Xanh vàng màu xen kẽ,

Sắc thái rực rỡ a.

Vỏ đẹp lòng trong trắng,

Hệt người có đạo a.

Tươi tốt thêm đẹp đẽ,

Hoàn mỹ vô khuyết a.

Than ôi chí thuở nhỏ,

Đã khác với đời a.

Riêng mình không lay chuyển,

Há chẳng mến yêu a.

Kiên cường không biến đổi,

Rộng lòng chẳng mưu cầu a.

Lánh đời đứng cô độc,

Ngang dòng chẳng theo dòng a.

Yên tĩnh thêm cẩn trọng,

Trước sau chẳng lỗi lầm a.

Giữ đức không tư dục,

Sánh ngang đất trời a.

Lúc muôn loài tàn tạ,

Nguyện cùng kết bạn a.

Tươi đẹp không phóng dãng,

Chính trực hiểu lý trời a.

Tuổi tác tuy còn nhỏ,

Xứng đáng làm thầy a.

Phẩm hạnh sánh Bá Di,

Trồng làm gương mẫu a.”

Khuất Bình ngâm liền ba lượt, những câu đặc biệt còn lặp lại nhiều lần, cuối cùng, sau một tiếng khánh ngân vang, bản nhạc liền kết thúc.

Tô Tần đang ngồi ngay ngắn, nhắm mắt ngưng thần, nghe đến si mê. Thấy bản nhạc đã dứt, mọi người xuýt xoa khen ngợi, Tô Tần mới từ từ định thần trở lại, hết lời thán phục: “Hay cho câu ‘lánh đời đứng cô độc, ngang dòng chẳng theo dòng’; ‘giữ đức không tư dục, sánh ngang đất trời’, quả là một bài từ tuyệt diệu!” Rồi đứng dậy, đi tới gần Khuất Bình, lại quan sát kỹ lưỡng một hồi, vô cùng cảm khái, liên tiếp gật đầu. “Than ôi, nghe được nhạc này, từ này, Khuất Bình hoàn toàn đã có thể gọi là ‘Tử’ được rồi! Xin hỏi Khuất Tử, khúc từ này xuất phát từ đâu?”

“Khởi bẩm Tô đại nhân!” Khuất Bình đứng dậy, vòng tay đáp lễ. “Khúc từ này là do vãn sinh làm ra từ ba năm trước, tại vườn quất gần hàn xá tại quê nhà!”

“Ba năm trước, Khuất Tử mới có mười ba tuổi, đã có thể sáng tác được bài từ tuyệt diệu nhường này, lại ví phẩm hạnh với Bá Di, có thể thấy Khuất Tử tuổi nhỏ chí lớn, tương lai chắc chắn sẽ có thành tựu!”

“Đa tạ đại nhân khen ngợi!”

“Nghe tư mã đại nhân nói, Khuất Tử mới từ dưới quê tới. Dám hỏi Khuất Tử, quê nhà ở đâu?”

“Thôn Nhạc Bình, Khuất Ấp, Đan Dương.”

“Đan Dương?” Tô Tần gật gù. “Đan Dương là đất được phong của tổ tiên nước Sở, bài từ của Khuất Tử, chính là phong thái đất Sở đích thực! Đất Sở mở rộng về phía đông, nên phía tây Đan Dương hẳn là đất Ba rồi!”

Thân phụ của Khuất Bình là Khuất Văn, Khuất Văn và Khuất Vũ có cùng chung tổ phụ là Khuất Nghi Cữu, vì vậy nên hai người là anh em họ cách đời. Khuất Nghi Cữu phản đối Ngô Khởi biến pháp, sau khi Ngô Khởi phục bên xác vua mà bị bắn chết, Khuất Nghi Cữu cũng liên luỵ mà bị giết, nhà họ Khuất cũng suy theo. Con của ông ta là Khuất Ly trở về đất tổ Đan Dương, sinh ra con là Khuất Văn. Khuất Văn sinh ra Khuất Bình, sau lấy tên tự là Nguyên. Khuất Bình tuổi còn nhỏ đã mang tráng chí. Năm mười hai tuổi, Khuất Văn lâm bệnh qua đời. Năm mười ba tuổi, viết bài “Quất tụng” để giãi bày tâm chí. Lần này Khuất Bình vì chuyện của nước Ba mà đến Sính, nhờ cậy Khuất Vũ, song cũng không hoàn toàn chỉ vì Ba, Thục, mà là muốn tìm cơ hội để triển khai chí lớn của mình.

Lúc này gặp được Tô Tần, lại thấy Tô Tần nhắc đến nước Ba, Khuất Bình đương nhiên không chịu bỏ qua cơ duyên trước mắt, vội gật đầu nói: “Đại nhân nói rất đúng, lần này vãn sinh đến, chính là vì chuyện của Ba, Thục!”

“Ồ?” Tô Tần ngạc nhiên. “Ba, Thục có chuyện gì?”

“Ba, Thục xảy ra chuyện lớn rồi!” Khuất Bình chau đôi mày thanh tú, dõng dạc giải thích. “Mấy năm nay, nước Thục nội bộ lục đục, nhiều lần giao chiến, Thư Hầu không địch nổi, nên đành phải quay sang liên minh với nước Ba ở phía đông, cấu kết với nước Tần ở phía bắc, muốn tranh hùng với Thục Vương.”

Tô Tần cười lớn, nhìn thẳng vào Khuất Bình: “Khuất Tử, nước nhỏ mong tồn tại, ắt phải hoà hảo với lân bang. Người Thư kết giao với Tần, đó là hành động sáng suốt, cớ sao lại phải lo lắng đến vậy?”

“Đại nhân không biết đấy thôi,” Khuất Bình cũng nhìn thẳng vào Tô Tần, đáp, “người Thư đang dốc hết quốc lực, cùng người Ba phá núi mở đường, muốn nối thông với biên ải nước Tần. Ngoài ra, theo lời của người Ba, người Tần cũng đang bắc sạn đạo dọc theo đường sông trong núi Chung Nam. Từ Tần Xuyên đến đất Thư chừng một nghìn năm trăm dặm, muốn hoà hảo với láng giềng, có nhất thiết phải bắc sạn đạo dài đến vậy không?”

Nghe thấy lời này, mọi người thảy đều chấn động.

Tô Tần hai mắt nhìn chằm chằm vào Khuất Bình không chớp. Tuổi còn nhỏ như vậy, mà ăn nói mạch lạc, lý lẽ rõ ràng, hơn nữa có thể nhìn bề ngoài mà thấu suốt viễn cảnh dài lâu, tuyệt đối không phải hạng tầm thường.

Tuy nhiên, hiện giờ, điều khiến Tô Tần thấy hào hứng hơn cả, rõ ràng không phải là Khuất Bình, mà là Ba, Thục, bèn chau mày hỏi: “Người Thư đã đánh lui quân Thục, giờ lại phá núi mở đường, chắc hẳn phải có nguyên do!”

“Theo lời của người Ba, Tần Công tặng cho người Thư năm con trâu đá, mỗi con nặng cả ngàn cân. Người Thư mở đường, là nhằm vận chuyển trâu đá về nước.”

“Trâu đá?” Công tử Ngang nổi lòng hiếu kỳ, bèn nhổm người về phía trước hỏi. “Người Thư lấy trâu đá để làm gì?”

“Hồi bẩm công tử,” Khuất Bình quay sang công tử Ngang đáp. “Ba, Thục quý vàng, theo lời của người Thư, những con trâu đá này có thể đại tiện ra vàng, mỗi lần cho ra một đống lớn. Thái tử nước Thư là Thông Quốc đi sứ sang Tần kết tình hoà mục, đã được Tần Công tặng cho trâu đá. Người Thư muốn chuyển về để nó đại tiện ra vàng!”

Nghe thấy câu chuyện hoang đường đến vậy, tất cả mọi người đều ngẩn người, đến khi định thần trở lại, thảy đều cười ngặt nghẽo.

Tô Tần trầm ngâm suy nghĩ, linh tính cho Tô Tần biết, câu chuyện mà cậu thiếu niên kia vừa kể chính là điểm mấu chốt của vấn đề. Trâu đá chắc chắn là kế của người Tần hòng thôn tính Ba, Thục, hơn nữa theo phán đoán của Tô Tần, người nghĩ ra kế này, ắt hẳn là Trương Nghi. Lại suy nghĩ kỹ hơn, Tần muốn chiếm Ba, Thục, là tránh thực đánh hư, vừa có thể né được mũi nhọn hợp tung của liệt quốc Sơn Đông, lại có thể tích luỹ thế lực, dành để ngày sau. Trong tình thế hiện tại, quả nhiên là một đối sách thông minh rất khả thi. Đồng thời, nếu nói khách quan, việc này của Trương Nghi, ngược lại cũng đã thành toàn cho đại nghiệp hợp tung của Tô Tần. Tuy nhiên, dùng trâu đá vãi phân vàng để lừa người Thư, đến kế này mà Trương Nghi cũng nghĩ ra được. Vậy mà người Thư vẫn tin răm rắp, lại còn hao tài tốn của phá núi mở đường để rước hổ về nhà, thực là chuyện khó lòng tưởng tượng!

Nghĩ đến đây, Tô Tần trong lòng đã trấn tĩnh trở lại, đột nhiên nhớ tới Khuất Bình, có ý muốn thử tài, nên khẽ mỉm cười, quay sang hỏi: “Khuất Tử có tin vào chuyện này chăng?”

“Vãn sinh không tin!” Khuất Bình lắc đầu quầy quậy. “Vãn sinh cho rằng, người Tần làm vậy là có dụng tâm!”

“Ồ?” Tô Tần nhìn thẳng vào Khuất Bình. “Xin hỏi Khuất Tử, người Tần có dụng tâm gì?”

“Thôn tính Ba, Thục!” Khuất Bình đáp ngay không chút ngần ngừ, giọng nói rành rọt, nhấn mạnh từng chữ, ánh mắt kiên nghị, hoàn toàn không ăn nhập với lứa tuổi chưa đầy mười sáu.

Khuất Bình tuổi nhỏ mà đã có được nhãn quang thời thế mẫn tiệp đến vậy, khiến Tô Tần không khỏi kinh tâm, nhìn sững vào Khuất Bình hồi lâu rồi mới gật gù, quay trở về chỗ ngồi ngay ngắn, rồi quay sang Khuất Vũ, ôm quyền vái mà nói: “Kiến giải của Khuất Tử, tư mã đại nhân cảm thấy thế nào?”

“Cái nhìn của trẻ nít, đã khiến Tô Tử cười chê rồi!” Khuất Vũ khẽ ôm quyền, cười lớn mà nói.

“Không! Không!” Tô Tần lắc đầu, đưa mắt nhìn Khuất Bình đầy tán thưởng, rồi quay sang Khuất Vũ. “Tư mã đại nhân, tại hạ cho rằng, ý kiến của Khuất Tử tuyệt đối không phải nói đùa. Ba, Thục nằm ở thượng nguồn của nước Sở, nếu người Tần muốn thôn tính Sở, chắc chắn sẽ phải chiếm Ba, Thục trước. Nói cách khác, Tần diệt xong Ba, Thục, chắc chắn sẽ thôn tính Sở. Chuyện khác chưa nói tới, tại hạ chỉ xin tư mã đại nhân hãy nghĩ đến một chuyện: Từ Sở vào Ba, Thục, đi thuyền ngược dòng, khó khăn lắm thay. Từ Ba, Thục vào Sở, chỉ xuôi dòng mà xuống, thuyền đi ngàn dặm băng băng!”

Lời vừa nói ra, mọi người thảy đều kinh hãi.

“Đúng thế, đúng thế!” Được Tô Tần khẳng định, Khuất Bình rất đỗi cảm kích, liên tiếp gật đầu. “Đại nhân nói rất đúng, đây chính là điều mà Khuất Bình đang nghĩ!”

Khuất Vũ bất giác rùng mình ớn lạnh, lại suy nghĩ kỹ càng một lượt, càng nghĩ càng thấy khiếp đảm, liền vòng tay hỏi: “Nếu quả là vậy, chúng tôi nên ứng phó thế nào?”

“Hợp tung chống Tần, khiến Tần không thể không nhìn trước ngó sau!”

Khuất Vũ nhắm mắt suy nghĩ một hồi, rồi ngẩng đầu nói: “Việc bang giao, vốn không thuộc quyền quyết định của phủ Tư mã, nhưng hiện giờ họ Chiêu đang có tang, sự việc cấp bách, tại hạ đành phải vượt quyền làm thay vậy. Sáng sớm mai, tại hạ sẽ dẫn chư vị tới yết kiến điện hạ, Bình Nhi cũng đi, trực tiếp phân tích lợi hại với điện hạ!” Dừng lại một chút, lại tiếp lời. “Xin hỏi Tô Tử, sắp xếp như vậy có thoả đáng chăng?”

Tô Tần vòng tay vái tạ: “Đa tạ tư mã đại nhân!”

Ngày hôm sau, tả tư mã Khuất Vũ đúng như ước hẹn, dẫn theo Tô Tần, các vị công tử, công tôn cùng Khuất Bình đến yết kiến điện hạ. Khuất Vũ để mọi người đợi ở bên ngoài, còn mình đi thẳng vào chính điện, tâu bày một lượt về tình thế Ba, Thục.

Thái tử Hoè quả nhiên kinh hãi, lập tức tuyên gặp Khuất Bình.

Thái tử Hoè đã biết qua tình thế Ba, Thục, bèn liên tục hỏi vặn Khuất Bình, thấy Khuất Bình đối đáp ung dung, xuất khẩu thành chương, thì rất đỗi hài lòng. Khuất Vũ nhân cơ hội nói thêm vào, khoe rằng cháu mình giỏi từ chương âm nhạc, tài nghệ song toàn. Thái tử Hoè vô cùng yêu mến, lập tức hỏi Khuất Bình có muốn lưu lại trong cung kề cận bên mình, làm thị tùng văn học trước điện chăng. Khuất Bình vui mừng quá đỗi, liền quay sang nhìn bá phụ. Hiện giờ nhà họ Chiêu đang đắc sủng, nếu Khuất Bình có thể thường xuyên hầu bên thái tử, đợi khi bệ hạ trăm năm khuất núi, thái tử kế vị ngai vàng, Khuất Bình hẳn sẽ có thể thi thố tài năng, có lợi cho cả gia tộc họ Khuất. Lần này Khuất Vũ giới thiệu Khuất Bình với thái tử, cũng là có ý đó, giờ thấy thời cơ đã đến, lập tức cùng Khuất Bình khấu đầu tạ ơn. Thái tử Hoè cả mừng, gọi Ngận Thượng đến, lệnh cho hắn sắp xếp chu đáo việc của Khuất Bình.

Thấy Ngận Thượng đến, Khuất Bình từ từ lui ra. Thái tử Hoè bèn ngoảnh đầu khen ngợi: “Nhà họ Khuất có được anh tài như vậy, thật đáng mừng!”

Khuất Vũ khấu đầu nói: “Tiểu điệt được điện hạ chiếu cố, thực may mắn cho nó!”

“Khuất ái khanh!” Thái tử Hoè chuyển sang chuyện khác. “Sự việc Ba, Thục vô cùng nghiêm trọng. Năm ngoái khi Trương Nghi còn ở đây, đã nhiều lần nói về chuyện Ba, Thục, bản cung sớm đã có ý muốn chiếm lấy, từng tâu lên phụ vương, song phụ vương lại vẻ như không sốt sắng. Nay người Tần đã lộ rõ ý đồ, Ba, Thục nội bộ tranh chấp, tình thế không thể trì hoãn thêm được nữa. Đối phó thế nào, Khuất ái khanh đã có kế sách hay chưa?”

“Khởi bẩm điện hạ!” Khuất Vũ vòng tay đáp. “Đối phó thế nào, điện hạ có thể hỏi Tô Tần!”

“Ồ!” Thái tử Hoè ngẩng đầu nhìn Khuất Vũ. “Nghe lời ái khanh, hình như đã gặp Tô Tử?”

“Điện hạ thánh minh!” Khuất Vũ đáp. “Vi thần đã gặp Tô Tử, và cũng đã dẫn vào cung, hiện đang ở thiên điện chờ chỉ yết kiến!”

Thái tử Hoè khẽ thở dài một tiếng, gật đầu nói: “Nếu như đã đến, vậy hãy mời vào!”

Nội thần tuyên triệu, Tô Tần lập tức bước vào, khấu đầu hô: “Đặc sứ năm nước Tô Tần khấu kiến điện hạ!”

“Tô Tử hãy bình thân, mời ngồi!” Thái tử Hoè nói.

Tô Tần đa tạ xong, rồi đứng dậy, ngồi vào vị trí khách. Không đợi Tô Tần lên tiếng, thái tử Hoè đã mỉm cười, liên tục vòng tay tỏ ý tạ lỗi: “Về việc hợp tung, bản cung vốn hẹn ba ngày sau sẽ hồi đáp Tô Tử. Thế nhưng… hẳn là Tô Tử cũng đã biết, Chiêu ái khanh đang có đại tang, bản cung vẫn chưa thể bàn bạc việc này trước triều đình, vì vậy chưa thể bẩm tấu với bệ hạ, thật vô cùng tạ lỗi!”

“Điện hạ bất tất phải khách khí!” Tô Tần vái đáp lễ. “Tuy nhiên, theo như Tần thấy, cho dù điện hạ có bàn chuyện này, lệnh doãn đại nhân cũng chưa chắc đã đồng ý!”

“Ồ!” Thái tử Hoè ngẩn người. “Cớ sao Tô Tử lại nói vậy?”

“Lệnh doãn đại nhân đã chuẩn bị xong xuôi mọi việc, một lòng muốn phạt Ngụy, báo mối thù Hình Sơn, đương nhiên sẽ không đồng ý hợp tung!”

“Tô Tử nói rất phải!” Thái tử Hoè gật đầu. “Mấy năm trước, người Ngụy chiếm đoạt Hình Sơn của ta, chém hơn sáu vạn tướng sĩ của ta, trong triều ngoài nội ai cũng sôi sục chí phục thù. Chiêu ái khanh tấu xin phạt Ngụy, bệ hạ cũng đã đồng ý, ba quân chỉ đợi ngày xuất chinh, như mũi tên đã trên dây cung, nếu đột ngột thu cung, nhất thời khó lòng xử trí!”

“Điện hạ, mũi tên này nếu bắn đi, hậu quả sẽ rất khó lường!”

“Ồ?” Thái tử Hoè vội hỏi. “Xin hỏi Tô Tử, có hậu quả gì?”

“Điện hạ còn nhớ trận đại chiến Hà Tây chăng? Ngụy Hầu một lòng cậy mạnh, xưng vương phạt nước yếu, đối địch với liệt quốc Sơn Đông. Kết quả thế nào? Đến một nước Vệ yếu ớt cũng không chiếm nổi nửa tấc đất, ngược lại bảy trăm dặm Hà Tây lại bị người Tần đoạt mất. Đó là còn chưa kể tám vạn võ binh Đại Ngụy thiệt mạng, mấy chục vạn người dân Đại Ngụy bỗng chốc trở thành người Tần. Điện hạ, không quên việc trước, làm gương cho việc sau!”

Đã từng đích thân tham gia triều hội Mạnh Tân, toàn bộ quá trình Công Tôn Ưởng mưu đoạt nước Ngụy, thái tử Hoè là người hiểu rõ nhất, mỗi khi nghĩ lại vẫn còn chưa hết ớn lạnh. Vì vậy Tô Tần vừa nhắc đến chuyện này, thái tử Hoè lập tức đồng cảm, gật đầu nói: “Hỡi ôi, liệt quốc Sơn Đông đều đã nhập tung, nước Sở vốn dĩ chẳng còn lựa chọn nào khác. Có điều, than ôi, không giấu Tô Tử, quả thực là bản cung đã bẩm báo chuyện hợp tung với bệ hạ từ lâu, nhưng mấy ngày nay, bệ hạ chỉ một lòng mê đắm với thuốc bất tử, chẳng để tâm đến triều chính nữa.”

“Thuốc bất tử?” Tô Tần, Khuất Vũ đều ngẩn người kinh ngạc.

Thái tử Hoè bèn kể lại một lượt về chuyện Thương Ngô Tử, rồi liên tục thở than.

Tô Tần ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi ôm quyền cười nói: “Nếu bệ hạ vì chuyện bất tử, Tô Tần lại có một phương thuốc có sẵn. Tô Tần có ý muốn yết kiến bệ hạ, khẩn cầu điện hạ dẫn dắt.”

“Hay lắm!” Thái tử Hoè lập tức đứng dậy. “Đi, chúng ta cùng đi yết kiến!”

Nói đoạn, thái tử Hoè dẫn mọi người đi thẳng tới đài Chương Hoa.

Hôm nay cũng đúng là ngày đan dược bất tử luyện thành, nhưng Thương Ngô Tử lại không cho phép bất kỳ ai được nhìn cảnh đan dược ra lò. Sở Vương lòng như lửa đốt, đang đi đi lại lại trong đình Quan Ba, thì nội thần tiến vào bẩm báo, điện hạ dẫn theo đặc sứ năm nước Tô Tần và các vị phó sứ của liệt quốc lên đài yết kiến.

Uy Vương vốn chẳng có lòng dạ nào mà tiếp khách, nhưng nghĩ tới Tô Tần là đặc sứ của năm nước, nay đã tìm đến tận đây, nếu tiếp tục thoái thác, việc này để truyền ra ngoài sẽ không hay. Hơn nữa tiên đan vẫn chưa biết lúc nào mới ra lò, mình cứ ngồi ở đây khắc khoải đợi chờ, cũng thấy khó chịu, chi bằng hãy tìm người nói chuyện cho khuây khoả. Nghĩ đến đây, Uy Vương bèn cho triệu kiến.

Thái tử Hoè và đám Tô Tần rảo bước đi vào, Uy Vương đứng dậy nghênh đón. Hành lễ xong xuôi, Uy Vương và mọi người cùng trở lại đình, phân ngôi quân thần ngồi xuống.

Uy Vương vòng tay nói: “Quả nhân từ lâu đã được nghe đại danh của Tô Tử, khác nào nghe tiếng thánh hiền. Nay Tô Tử đến thăm, hẳn là có chỗ chỉ giáo quả nhân?”

“Bệ hạ khách khí rồi!” Tô Tần vòng tay đáp lễ. “Tô Tần đến Sở đã được mấy ngày, nay muốn trở về Trung Nguyên, nên đến để cáo từ bệ hạ!”

“Ồ?” Uy Vương thoạt tiên thoáng sững sờ, sau đó cười vang mà nói. “Chư vị đặc sứ đường xa đến đây, trải bao vất vả, cớ sao lại không ở lại Kinh Sở thêm vài ngày nữa?”

“Than ôi!” Tô Tần thở dài một tiếng, liên tiếp lắc đầu. “Đa tạ thịnh tình của bệ hạ! Nhưng Tô Tần thực sự không thể ở nổi nữa!”

Uy Vương ngạc nhiên, quay sang nhìn thái tử Hoè, thấy thái tử cũng mặt mày ngơ ngác, lại quay sang Tô Tần hỏi: “Tô Tử cớ sao lại nói vậy?”

Tô Tần cao giọng đáp: “Kinh Sở là thượng quốc quỷ địa, thức ăn giống như châu ngọc, củi gỗ giống như lan quế, đại thần giống như thần long, bệ hạ giống như thiên đế. Bệ hạ thử nghĩ xem, Tô Tần và sứ thần liệt quốc có hơn một vạn người, ngày ngày đều ăn châu ngọc, đốt lan quế, đợi chờ thần long, mong ngóng thiên đế, làm sao có thể ở nổi đây?”

“Ha ha!” Uy Vương cười mấy tiếng gượng gạo, liên tiếp vòng tay tạ lỗi. “Nghe đồn Tô Tử giỏi ăn nói, nay quả nhân đã được lĩnh giáo rồi!” Rồi thở dài một tiếng, liếc nhìn khắp lượt mọi người, nửa như chữa thẹn, nửa như giải thích. “Than ôi, quả nhân già rồi, từ lâu đã trao lại việc nước cho thái tử và quần thần. Lần này chư vị đến là vì quốc sự, quả nhân biết việc nước nặng hơn việc riêng, vì vậy vốn dĩ định đợi chư vị xử lý xong việc nước sẽ đến thỉnh giáo, nên đã không được chu đáo với chư vị!” Rồi quay sang Thái tử Hoè. “Tất cả chi tiêu hàng ngày của chư vị đặc sứ cùng tuỳ tùng, đều do quốc khố cung cấp!”

“Nhi thần tuân chỉ!”

Uy Vương quay sang Tô Tần, vòng tay nói: “Quả nhân khẩn cầu Tô Tử hãy nán lại mấy hôm, một là để thưởng thức phong vật phương nam, hai là để quả nhân có cơ hội được thỉnh giáo!”

“Đa tạ bệ hạ khoản đãi!” Tô Tần vòng tay đáp lễ. “Bệ hạ đã hạ chỉ, Tô Tần chỉ còn cách tuân theo!”

“Tốt! Tốt lắm!” Uy Vương cười vang mấy tiếng, đang định nói tiếp thì nội thần đi vào, ghé sát tai hạ giọng bẩm báo: “Bệ hạ, tiên đan đã ra lò!”

“Ồ!” Uy Vương mừng quýnh, đứng bật ngay dậy, song cảm thấy thất thố, lại ngồi xuống, do dự một lúc, rồi quay sang nội thần giục. “Mau truyền tiên ông, cấp tốc mang tiên đan đến!”

Sau khi nội thần đi khỏi, Uy Vương không kiềm chế nổi niềm hưng phấn trong lòng, quay sang cười vang với đám Tô Tần: “Chư vị đến thật đúng lúc! Đợi lát nữa, quả nhân sẽ mời chư vị cùng xem kỳ bảo trên đời!”

Chưa đến một khắc sau, quả nhiên nội thần đã dẫn Thương Ngô Tử rảo bước đi tới. Thương Ngô Tử ngạo nghễ bước thẳng qua cửa điện, thình lình nhìn thấy trong đình khách khứa đông đảo, thần tình thoáng chút hoảng loạn, nhưng lập tức định thần trở lại, không hề quỳ xuống khấu bái, chỉ vòng tay hờ hững: “Thảo dân Thương Ngô Tử tham kiến bệ hạ!”

Tô Tần nhìn chằm chằm vào Thương Ngô Tử, quan sát kỹ lưỡng từ đầu đến chân, thấy người này ánh mắt láo liên, thần chí bất định, vốn dĩ chẳng giống người đắc đạo. Lại thấy hai dái tai rủ xuống tận vai, hai hàng lông mày trắng vừa dài vừa rậm, rất đỗi lạ lùng, suy nghĩ một lúc, trong lòng đã có sẵn chủ ý.

“Tiên đan đâu?” Uy Vương cũng chẳng đáp lễ, hai mắt nhìn chòng chọc vào Thương Ngô Tử.

Thương Ngô Tử lấy từ trong tay áo ra một bình ngọc: “Khởi bẩm bệ hạ, tiên đan ở trong này!”

Nội thần bước tới, hai tay nhận lấy bình ngọc, trình lên Uy Vương.

Uy Vương đổ tiên đan vào lòng bàn tay ngắm nghía, chặc lưỡi xuýt xoa liền mấy tiếng, rồi quay sang cười vang với đám Tô Tần: “Chư vị hãy nhìn xem, đây chính là kỳ bảo mà quả nhân vừa nhắc tới, tiên đan bất tử!”

“Tiên đan bất tử?” Tô Tần mỉm cười, mắt nhìn Uy Vương. “Trên đời thực sự có vật này, quả là kỳ lạ!”

“Xin bệ hạ hãy phục thuốc!” Thương Ngô Tử sang sảng cất lời.

Nội thần dâng nước trắng lên, Uy Vương đang định uống tiên đan, thì Tô Tần đột nhiên đưa tay cản lại: “Bệ hạ khoan đã!”

Uy Vương ngạc nhiên, nhìn sững vào Tô Tần.

Tô Tần quay đầu lại, ánh mắt sắc sảo nhìn xoáy vào Thương Ngô Tử, một lúc sau, thì chậm rãi đứng dậy, đi tới trước mặt Thương Ngô Tử, rồi thình lình vung tay, nhanh như chớp lột phăng một bên lông mày của ông ta xuống, nghiêm giọng quát lớn: “Tiên ông cái gì? Điêu dân quả nhiên to gan lớn mật, dám vào tận cung đình giở trò dối trá, lừa gạt cả bệ hạ, ngươi coi Đại Sở là chỗ không người ư?”

Thương Ngô Tử không kịp đề phòng, sắc mặt trắng bệch, vội đưa tay ôm lấy đám lông mày bên kia, tay còn lại chỉ vào Tô Tần, lắp bắp không thành tiếng: “Ngươi… ngươi… ngươi là… là ai?”

Tô Tần đâu chịu bỏ qua, tiếp tục vung tay, giật đứt phăng cái dái tai dài thượt bên trái, ném thẳng xuống đất.

Mọi người đều nhìn thấy rõ, đó là chiếc dái tai giả được làm từ một thứ keo.

Thương Ngô Tử quay người định chạy, nhưng công tử Ngang đã phát hiện ra ý đồ, quát lớn một tiếng, phi thân lao tới, túm chặt lấy cánh tay gã, chỉ hơi vận lực, đã ấn gã bẹp gí sát đất. Thương Ngô Tử đau đớn luôn miệng kêu rên, dập đầu sát đất, người run như giẽ.

Biến cố xảy ra quá chóng vánh, cũng quá đột ngột, khiến tất cả những người có mặt đều sững sờ. Uy Vương người ngây như khúc gỗ, hồi lâu mới từ từ định thần lại được, chỉ tay vào Thương Ngô Tử: “Tiên… tiên ông…”

Thương Ngô Tử uy phong mất sạch, khấu đầu như giã tỏi: “Bệ… bệ hạ…”

Uy Vương từ từ quay đầu lại, nhìn vào Tô Tần.

Tô Tần cúi người nhặt lấy tai giả và lông mày giả ở dưới đất, hai tay trình lên. Nội thần nhận lấy rồi trình cho Uy Vương, đặt lên mặt bàn phía trước.

Uy Vương hai mắt chằm chằm nhìn vào dái tai giả và lông mày giả, sắc mặt dần tím tái, toàn thân run lên bần bật, chỉ tay vào Thương Ngô Tử: “Nói! Ngươi là ai? Cớ sao lại lừa quả nhân?”

“Thảo… thảo dân là… là người Tây Lăng, vốn… vốn đi bán thuốc…kiếm… kiếm ăn trên phố, sau đó… sau đó gặp… gặp được một vị đại… đại nhân, dạy… dạy thảo dân cách… cách luyện đan dược… bất tử!”

“Vị đại nhân nào?”

“Thảo … thảo dân không… không… không…”

Uy Vương nhổm người quát lớn: “Có phải là vị đại nhân đã dẫn ngươi đến?”

Thương Ngô Tử gật đầu lia lịa.

Uy Vương thở hắt ra một hơi dài, đập bàn quát lớn: “Nói mau! Hắn là người nào?”

Thương Ngô Tử toàn thần rúm ró, lắp bắp nói: “Là… là Trần… Trần… Trần đại nhân!”

“Có phải là Trần Chẩn?” Thái tử Hoè nghiêm giọng quát hỏi.

“Chính… chính là Trần Chẩn… Trần đại nhân!”

Uy Vương ngây người chết sững, suy nghĩ một lúc, cười nhạt một tiếng, quay ra ngoài quát: “Người đâu!”

Lập tức có hai võ sĩ từ ngoài cửa chạy xộc vào, mỗi người một bên, giữ cứng lấy Thương Ngô Tử.

Uy Vương ném viên thuốc trong tay xuống, gằn mạnh từng tiếng: “Cho hắn uống thuốc này, rồi lôi ra ngoài, chém!”

Võ sĩ nhặt viên thuốc lên, không nói không rằng, lập tức nhét vào miệng Thương Ngô Tử, ép gã nuốt xuống, sau đó lôi xềnh xệch đi.

Thương Ngô Tử kinh hãi đến vỡ mật, ra sức giãy giụa, kêu xin tha mạng.

Uy Vương liếc nhìn gã, cười nhạt một tiếng, nói: “Thương Ngô Tử, ngươi đã là người đắc đạo, lại uống thuốc bất tử, còn sợ chết hay sao? Lôi đi!”

Võ sĩ chém đầu xong, đặt thủ cấp Thương Ngô Tử vào trong mâm, trình lên phục mệnh.

Uy Vương quay mặt đi, xua tay nói: “Mang treo thị chúng. Dán cáo thị, phàm những kẻ khi quân, kết cục đều như kẻ này!”

Võ sĩ bưng lấy mâm, vâng lệnh rời đi.

Uy Vương quay đầu lại, sắc mặt có phần hổ thẹn, liên tiếp ôm quyền mà nói: “Thật hổ thẹn, hổ thẹn! Nếu không phải nhờ Tô Tử, quả nhân đã bị kẻ gian che mắt mất rồi!”

Tô Tần vòng tay đáp: “Kẻ che mắt bệ hạ là người Tần, không phải gã tiên giả kia!”

Uy Vương gật đầu nói: “Phải, Tô Tử nói đúng lắm!” Rồi quay sang thái tử Hoè. “Hoè Nhi, khách khanh nước Tần ở Sính đã được mấy năm, cũng nên để ông ta trở về phục mệnh quân chủ đi thôi!”

“Nhi thần tuân chỉ!”

Uy Vương chậm rãi quay đầu lại, nhìn sang Tô Tần và mấy vị phó sứ: “Chư vị hôm nay đến yết kiến quả nhân, hẳn là vì chuyện hợp tung. Việc này không cần bàn nữa, quả nhân chấp thuận!” Rồi quay sang thái tử Hoè. “Về việc hợp tung, sẽ làm theo thông lệ của liệt quốc tung thân, sự việc cụ thể, giao cho con thực hiện! Chư vị hãy ngồi đi, quả nhân mệt rồi!” Nói đoạn, chậm chạp đứng dậy, dáng vẻ buồn bực, cất bước rời đi.

Nội thần vội chạy tới, thận trọng đỡ lấy tay Uy Vương.

Mọi chuyện diễn ra nhanh đến chóng mặt, lại đơn giản nhường này, thái tử Hoè, Tô Tần và các vị công tử, công tôn đều quay mặt nhìn nhau, ngẩn ngơ mất một lúc mới định thần lại được, khấu đầu tạ ân, đưa mắt nhìn theo Uy Vương và nội thần lảo đảo đi xuống đài Quan Ba.

Ngày hôm sau, thái tử mở đại triều trong cung Sở, tuyên đọc chiếu lệnh của Sở Uy Vương, tấn phong Tô Tần là đặc sứ hợp tung của nước Sở. Công tử Như, em ruột của thái tử Hoè, làm phó sứ hợp tung, cùng nghị sự về chuyện hội thề, cùng năm nước Sơn Đông tung thân đối kháng người Tần.

Đồng thời với lúc này, trong vòng áp giải của một đoàn đông đảo giáp sĩ nước Sở, mười mấy cỗ xe ngựa của Trần Chẩn giương cờ hiệu Tần, lộc cộc chạy ra cổng bắc của Sính Đô, hoảng hốt ruổi thẳng về phía tây bắc.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử