Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 22
Song hỷ giao hòa, Bàng Quyên đắc chí
Tương lai bất trắc, Tôn Tân đổi tên

❊ ❊ ❊

Trong phủ đại tướng quân, Bàng Quyên đang bàn việc phòng thủ tuyến Hào Quan và Tây Hà với phó tướng Trương Mãnh, bỗng nghe ngoài cổng có tiếng ồn ào. Một chốc sau, lính canh cổng chạy vào bẩm báo: “Báo, phía ngoài cổng có hương dân cầu kiến!”

“Hương dân?” Bàng Quyên thoáng ngạc nhiên, vội cùng với Trương Mãnh đi ra cổng chính, quả nhiên có mười mấy người dân đang quỳ dưới đất. Nhìn thấy hai người, cụ già dẫn đầu lạy liền ba lạy, khóc lóc mà nói: “Đại tướng quân, cầu xin tướng quân khai ân, cầu xin tướng quân!” Nói đoạn lại dập đầu bình bịch. Những người dân khác cũng khấu đầu theo.

Bàng Quyên ngơ ngác chẳng hiểu gì, đưa mắt nhìn Trương Mãnh, thấy Trương Mãnh cũng đang đứng ngây người, liền bước lại đỡ cụ già dậy: “Lão trượng hãy đứng dậy. Tại hạ là Bàng Quyên, có điều gì xin cứ nói!”

Cụ già lại định quỳ xuống, nhưng bị Bàng Quyên giữ lại. Cụ già vừa lau nước mắt, vừa kể lể. Thì ra cụ già tuổi đã ngoại lục tuần, chỉ có hai người con trai, người con cả đi đầu quân, người con thứ cày ruộng. Mùa thu năm ngoái, con thứ mắc phải bệnh lạ, không may qua đời, dưới gối chỉ còn lại người con trưởng, tên gọi Thanh Ngưu. Ba ngày trước, Thanh Ngưu lấy trộm quân lương, phạm phải tội chết, đã xử quyết chém đầu vào giờ Ngọ hôm nay, Phạm Tiêu đã báo cho cụ đến nhặt thi thể. Cụ già hay tin, mới vội vàng cùng hàng xóm láng giềng đến chỗ Phạm tướng quân cầu xin, nhưng Phạm tướng quân nói, pháp không dung tình, Thanh Ngưu đã phạm phải quân pháp, theo luật phải chém đầu. Cụ già đang tuyệt vọng, có người bèn mách nước đến cầu xin đại tướng quân, nói chỉ cần đại tướng quân khai ân, may ra Thanh Ngưu có thể miễn tội chết. Cụ già nghe vậy, lập tức cùng bà con chòm xóm chạy đến đây cầu xin.

Bàng Quyên hỏi: “Trong trại quân một ngày đủ ba bữa cơm, tại sao con trai cụ lại phải trộm quân lương?”

Cụ già vội nói: “Đại tướng quân có điều không biết, Thanh Ngưu khoẻ mạnh phàm ăn, sức ăn bằng ba người thường. Một bữa có thể ăn mười cân thịt bò, hai mươi cái màn thầu, nên bình thường ăn không được no bụng.”

Bàng Quyên ngẩng đầu nhìn, thấy giờ Ngọ sắp điểm, không kịp hỏi thêm, vội vàng gọi người chuẩn bị ngựa, cùng Trương Mãnh mỗi người một ngựa phóng đến doanh trại của Phạm Tiêu ở thành bắc. Khi cách doanh trại chừng hai dặm, đã nghe thấy ba hồi trống giục, bèn hối hả ra roi, phóng như bay về phía pháp trường. Từ xa đã nhìn thấy Thanh Ngưu bị trói quặt hai tay, cúi đầu quỳ trên pháp trường, đao phủ tay đao lăm lăm đứng sẵn bên cạnh, thanh đại đao đã giơ lên. Phạm Tiêu ngồi ngay ngắn trên đài, sắc mặt nghiêm trang, ba ngàn tướng sĩ thuộc hạ đứng dàn hàng xem hành quyết.

Thấy lưỡi đao sắp chém xuống, Trương Mãnh còn cách đó khoảng hai tầm tên bắn vội hét lớn: “Không được chém!”

Các tướng sĩ đều giật nảy mình. Đao phủ tay vẫn giơ đao, quay sang nhìn Phạm Tiêu. Phạm Tiêu đang kinh ngạc, thì Bàng Quyên, Trương Mãnh đã phóng vụt đến nơi, nhảy xuống ngựa, nhanh chóng đi lên đài hành hình. Phạm Tiêu vội đứng dậy bái kiến: “Mạt tướng tham kiến đại tướng quân!”

Bàng Quyên không nhìn đến, đi thẳng tới chỗ Thanh Ngưu, quát đao phủ: “Cởi trói!”

Đao phủ vội cởi trói, Bàng Quyên kéo Thanh Ngưu dậy, nhìn kỹ từ đầu đến chân, thấy hắn mặt đỏ như đồng, thân cao tám tấc, cơ thể cường tráng như trâu mộng, thì trong lòng mừng rỡ, vỗ vào vai hắn mà hỏi: “Ngươi chính là Thanh Ngưu?”

Thanh Ngưu vốn cho rằng mình đã chết đến nơi, tuyệt đối không ngờ vẫn còn cơ hội sống, vì vậy nhất thời ngây thộn, chỉ mở to hai con mắt hoang mang nhìn sững vào Bàng Quyên, giống như đang nằm mơ.

Trương Mãnh quát: “Thanh Ngưu, đại tướng quân cứu mạng ngươi, còn không mau tạ ơn?”

Thanh Ngưu giật nảy mình, bấy giờ mới định thần lại, lập tức quỳ xuống lạy: “Thanh Ngưu đa tạ ơn cứu mạng của đại tướng quân!”

Bàng Quyên quay sang Phạm Tiêu: “Phạm tướng quân, Thanh Ngưu sức ăn hơn người, tướng quân có biết không?”

“Mạt… mạt tướng… mạt tướng biết.”

“Đã biết, tại sao không tăng thêm cơm cho hắn?”

Phạm Tiêu vội nói: “Bẩm… bẩm… đại tướng quân, mạt tướng… đã tăng… gấp… gấp đôi…”

“Thanh Ngưu phải ăn gấp ba người thường, gấp đôi sao đủ được?”

“Vốn… vốn là gấp… gấp ba, nhưng… nhưng gần đây… Lý tướng quân… cắt… cắt giảm… lượng quân nhu, mỗi ngày… chỉ… chỉ cấp cho… tám… tám lượng hai tiền, không… không ai được ăn… ăn no, nên mạt… mạt tướng… mới giảm… lượng cơm… của… của… hắn.”

Sắc mặt Bàng Quyên sầm xuống, chuyển ánh mắt sang Trương Mãnh: “Truyền Lý Thông!”

Một lát sau, người phụ trách lương thảo của ba quân là Lý Thông vội vã phóng ngựa đến, khấu đầu nói: “Mạt tướng tham kiến đại tướng quân!”

Bàng Quyên sắc mặt đằng đằng sát khí, lạnh lùng hỏi: “Lý Thông, ngươi đã biết tội chưa?”

Lý Thông đáp: “Bẩm đại tướng quân, mạt tướng không biết!”

Bàng Quyên hừ mũi một tiếng: “Ngươi chết đến nơi, còn nói không biết! Bản tướng hỏi ngươi, tại sao lại ăn bớt quân nhu?”

“Bẩm đại tướng quân, mạt tướng không ăn bớt quân nhu. Năm nay đại hạn, vụ mùa hạ ở Hà Đông mất trắng, lương thực tích trữ trong quốc khố đã bị tư đồ đại nhân mang đi cứu đói, lương thực tích luỹ trong quân chỉ còn lại hơn vạn thạch, mặc dù được Tề, Triệu bồi thường vạn thạch, nhưng ta lại phải nuôi một vạn tám nghìn người Tề, Triệu. Mạt tướng suy nghĩ mãi vẫn không tìm ra cách, nên đành phải cắt bớt lượng lương thực, nếu không hai tháng sau, ba quân sẽ chẳng còn gì để ăn nữa.”

Bàng Quyên trong lòng chấn động, chau tít đôi mày, trầm ngâm một lúc, lại hỏi: “Chuyện lớn như vậy, tại sao không báo cáo?”

“Mạt tướng đã dâng biểu báo, nếu đại tướng quân không tin, có thể hỏi Trương tướng quân!”

“Đúng là có việc này!” Trương Mãnh gật đầu nói. “Mạt tướng cũng từng nhiều lần nói với tư đồ đại nhân về chuyện này, tư đồ đại nhân đích thân dẫn mạt tướng đến quốc khố kiểm tra. Mấy năm nay bệ hạ hưng binh liên tục, thu thuế quá nặng, đúng là quốc khố chẳng còn bao nhiêu lương thực. Mấy ngày nay, mạt tướng thấy đại tướng quân đang bận tâm vì việc lớn, nên chưa kịp thời báo cáo.”

Bàng Quyên lừ mắt nhìn Trương Mãnh, trách mắng: “Thật hồ đồ! Việc lớn là gì? Ba quân không có lương thực, đây mới là việc lớn!” Suy nghĩ một lát, quay sang Lý Thông. “Lý tướng quân, việc này không thể trách tướng quân, là bản tướng đã sai! Bắt đầu từ hôm nay, tướng quân hãy khôi phục khẩu phần ăn như cũ. Năm trăm lượng vàng mà bệ hạ thưởng cho bản tướng, tất cả giao cho tướng quân, hãy nhanh chóng mua quân lương của liệt quốc để giải quyết nỗi lo trước mắt. Còn về lương thực cho mấy tháng sau, bản tướng sẽ tự có cách.”

Bàng Quyên vừa dứt lời, tất cả các tướng sĩ có mặt, gồm cả Trương Mãnh đều quỳ xuống, vừa dập đầu vừa khóc lớn.

Bàng Quyên chau mày, quát lớn: “Tất cả đứng lên cho ta! Nam tử hán đại trượng phu, khóc cái gì mà khóc! Hãy để dành sức mà rèn luyện bản lĩnh, thể hiện nơi sa trường!”

Các tướng sĩ đều sững lại, rồi rào rào đứng dậy, đồng thanh hô lớn: “Tuân lệnh đại tướng quân!”

Bàng Quyên nhìn mọi người một lượt, gật đầu nói lớn: “Tốt lắm!” Rồi quay sang Thanh Ngưu. “Thanh Ngưu, ngươi ăn khoẻ, chắc hẳn sức cũng khoẻ. Có thể phô diễn chút tài năng cho bản tướng xem chăng?”

Thanh Ngưu vâng một tiếng, đảo mắt một vòng, rồi đi tới trước đài hành hình, hai tay nắm chặt góc đài, hét lớn một tiếng: “Lên!” Nguyên một đài hành hình chứa được hơn hai mươi người, nặng đến nghìn cân chớp mắt đã bị hắn lật nhào xuống đất.

Bàng Quyên buột miệng khen: “Đúng là một tráng sĩ hổ báo!” Quay sang Trương Mãnh. “Trương tướng quân, tráng sĩ dũng mãnh nhường này, trong quân còn có ai không?”

Trương Mãnh đáp: “Theo mạt tướng biết, các trại quân đều có!”

“Tốt! Tướng quân mau tập hợp họ lại, tổ chức thành một đội, biên vào trung quân, cung cấp khẩu phần ăn riêng!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Bàng Quyên bỏ ra năm trăm lượng vàng, không những đã mua được lòng quân, lại vô tình có được gợi ý, tập hợp một đội quân hổ bôn cho ba quân. Một khi đội quân này được luyện thành, nếu tiếp tục có chiến sự, chém cờ bắt tướng chỉ là chuyện nhỏ.

Trên đường hồi phủ, Bàng Quyên càng nghĩ càng đắc ý, càng đắc ý càng giục ngựa phi nhanh, thoáng chốc đã về tới trước phủ đại tướng quân. Vó ngựa vừa chậm lại, từ góc tường bên cổng đột nhiên có người lao ra giữa đường chặn trước đầu ngựa. Bàng Quyên thất kinh, đang định quát hỏi thì người canh cổng đã chạy ra bắt lấy kẻ đó.

Bàng Quyên xuống ngựa, đưa dây cương cho một môn nhân khác, chậm rãi bước lên phía trước.

Người gác cửa đang giữ kẻ kia sắc mặt tái mét, vội vàng bẩm báo: “Khởi bẩm đại tướng quân, tên ăn mày này giờ Ngọ đến xin ăn, tiểu nhân đã cho ăn cơm. Không ngờ hắn ăn no uống đủ rồi lại không chịu đi, nói là muốn gặp đại tướng quân. Tiểu nhân biết hắn muốn sinh sự nên đã đuổi đi. Nào ngờ hắn không biết trời cao đất dày, chẳng biết đã lén quay trở lại từ bao giờ, lặng lẽ nấp trong góc tường, đã khiến đại tướng quân sợ hãi!”

Bàng Quyên cười vang mà nói: “Chẳng qua chỉ là một gã ăn mày, sao ngươi phải hốt hoảng đến thế? Thả hắn ra!”

Người canh cửa bèn thả tay. Bàng Quyên nhìn kỹ người này, thấy hắn tuổi chừng đôi mươi, mặt mũi thanh tú, quần áo tuy rách rưới vẫn khó che giấu một thân anh khí, đôi mặt to sáng rực có thần, thì trong lòng thầm mừng, gật đầu hỏi: “Tiểu tử, ngươi là ai? Cớ sao lại chặn đường bản tướng?”

Kẻ này bèn hỏi: “Đại tướng quân có phải Bàng Quyên?”

Bàng Quyên đáp: “Chính phải!”

“Thảo dân Bàng Thông, phụng lệnh gia phụ đến tìm đại tướng quân.”

Bàng Quyên ngạc nhiên: “Ồ, gia phụ của ngươi là ai?”

“Bàng Thanh!”

Bàng Quyên trong lòng sung sướng, nhưng không biểu lộ ra nét mặt: “Bàng Thanh? Ông ấy làm nghề gì?”

“Đóng thùng!”

Bàng Quyên vội hỏi: “Vậy… ông ấy đâu?”

Bàng Thông cúi gằm mặt, một lát, chảy nước mắt mà nói: “Gia phụ đã quy tiên rồi!”

Bàng Quyên kinh ngạc: “Ngươi nói… thúc phụ… đã qua đời rồi?”

Bàng Thông vừa khóc vừa gật đầu.

Bàng Quyên sững sờ một lúc, rồi chậm rãi nói: “Đi, vào trong phủ nói chuyện.”

Bàng Thông đi theo Bàng Quyên vào trong phủ, ngồi trong chính đường, bắt đầu kể lại. Cả nhà Bàng Thanh làm nghề đóng thùng sinh sống thế nào, mười tám năm trước rời khỏi Đại Lương ra sao, rồi ở lại cửa Túc Tư hai năm, rồi mẫu thân tại sao lại qua đời, nhà họ làm thế nào lại chuyển đến Hàm Đan nước Triệu… Không lâu trước đây, Bàng Thanh mắc bệnh nặng, trước lúc liệt giường đã kể rằng, Bàng Thông có một người bác tên gọi Bàng Hành, đã thất lạc từ lâu. Đúng vào lúc này, Phụng Dương Quân rút binh về đến Triều Ca, khắp nơi trong thành Hàm Đan đều truyền tai nhau câu chuyện đại tướng quân Bàng Quyên của nước Ngụy, trong đó có người nói rằng, phụ thân của Bàng tướng quân tên gọi Bàng Hành. Bàng Thông nghe kỹ, về kể lại cho Bàng Thanh, Bàng Thanh ngờ rằng đó là cháu ruột mình nên đã bảo Bàng Thông tiếp tục đi nghe ngóng. Biết được Bàng Hành là thợ may của Đại Chu, thì đoán chắc Bàng Hành chính là anh ruột, Bàng Quyên là cháu ruột mình, lập tức gắng gượng trở dậy, muốn trở về Đại Lương gặp mặt cháu trai để thoả tâm nguyện suốt bao năm nay. Hai cha con lên đường, đi chưa được một ngày thì Bàng Thanh đã không trụ nổi, ngã ngựa chết trên đường. Bàng Thông đau khổ đến chết đi sống lại, đã bán hết tất cả tài sản mang theo để mai táng cho Bàng Thanh, rồi xin ăn dọc đường lần hồi đến Đại Lương.

Nghe Bàng Thông kể xong câu chuyện, Bàng Quyên nhận ra Bàng Thông chính là em họ mình, thì vui buồn lẫn lộn, nắm tay Bàng Thông khóc lớn. Khóc một lúc, Bàng Quyên bảo người hầu mang cho Bàng Thông một bộ quần áo mới, sau đó bày tiệc khoản đãi. Trong bữa ăn, Bàng Quyên cũng kể lại tất cả những chuyện mình đã trải qua, đặc biệt nhắc tới việc Trần Chẩn đã giết hại Bàng Hành thế nào, mình bị hắn ta truy sát ra sao, cùng chuyến đi đến Đại Lương và cửa Túc Tư tìm kiếm Bàng Thanh. Bàng Thông nghe xong, cũng nước mắt ròng ròng.

Sau khi cơm rượu xong xuôi, Bàng Quyên hỏi: “Tiểu đệ có mong muốn gì, cứ nói lại với huynh trưởng!”

Bàng Thông đáp: “Trên đời này, Bàng Thông chỉ có huynh trưởng là người thân thích. Có thể sớm tối được ở cùng huynh trưởng đã là mong muốn lớn nhất của tiểu đệ!”

Bàng Quyên gật đầu, trầm tư một lúc, cho người gọi tất cả gia nô, môn nhân lại, lớn giọng tuyên bố: “Bắt đầu từ hôm nay, tất cả mọi việc lớn nhỏ trong phủ bản tướng, đều do Bàng Thông quyết định, các ngươi phải hầu hạ chu đáo, nghe rõ cả chưa?”

Đám nô bộc đều bái lạy Bàng Thông, vâng vâng dạ dạ nhận lệnh rồi lui ra.

Việc Bàng Thông bất ngờ tìm đến nương nhờ khiến Bàng Quyên vô cùng vui sướng.

Buổi tối hôm đó, Bàng Quyên nằm trên giường, trở người liên tục, mãi vẫn chưa ngủ được. Nhớ lại toàn bộ quá trình sau khi xuống núi, dường như đi đến đâu cũng gặp may mắn, tất cả giống hệt như một giấc mơ, thuận lợi đến nỗi ngay cả bản thân cũng không dám tin là thực. Trước sau không quá mười tháng, bước nào cũng đi nước cờ hiểm, song nước nào cũng may mắn, từ một sĩ tử ngộ nạn bị truy sát khắp nơi trở thành đại tướng quân uy chấn liệt quốc, chỉ huy ba vạn tàn quân, trong vòng năm ngày chiến thắng hai trận, liên tiếp đánh bại hai cường địch xâm phạm đất nước, chặt đầu năm vạn, bắt sống gần hai vạn, chiến tích như vậy, dù là Tôn Vũ, Ngô Khởi cũng chưa từng thấy ghi chép. Và quan trọng hơn nữa là bản thân đã có được lòng quân, trở thành linh hồn của tướng sĩ. Ngô Khởi hút mủ nhưng chưa từng bái lạy vong linh người chết, Bàng Quyên không những làm được cả hai, mà còn đích thân cứu sống kẻ hàm oan, bỏ tiền riêng để mua quân nhu, ba quân làm sao có thể không bái phục sát đất?

Lòng quân đã thu phục, coi như việc ngoài đã xong. Em họ bất ngờ đến nương nhờ, việc nhà coi như đã ổn. Ngoài có ba quân, trong có thân thích, có thể nói Bàng Quyên đã chí toại ý mãn, ván cờ lớn đầu tiên sau khi xuống núi đã thuận lợi đi xong.

Ván cờ đầu tiên đã hoàn thành, theo lý thì phải tiếp tục ván cờ thứ hai. Đúng thế, ván cờ tiếp theo cũng đã bắt đầu.

Thế nhưng… đối thủ là ai? Nên đánh thế gì? Quân cờ đầu tiên nên đặt ở chỗ nào?

Nghĩ đến đây, Bàng Quyên đột nhiên ngồi bật dậy, hai chân khoanh tròn, mắt khép hờ, vận dụng công phu đã từng luyện với tiểu đồng khi còn ở trong Quỷ Cốc, thu tâm định trí, chìm vào suy tưởng.

Suy nghĩ một lúc, cuối cùng Bàng Quyên cũng mở mắt ra, khuôn mặt hé lộ một nụ cười bí hiểm.

***

Phùng Trạch nằm ở phía đông nam Đại Lương, cách cổng thành phía nam chưa đầy trăm dặm. Bên hồ có một ngọn núi, tên gọi Long Sơn, núi cao chừng chục trượng, rộng khoảng chục dặm, nhìn từ xa giống như một gò đất lớn. Núi Long Sơn phượng hót mà ngày trước Trần Chẩn dựng chuyện nên, chính là chốn này.

Bên cạnh Long Sơn có hồ lớn, rừng cây xanh rợp, cảnh sắc tuyệt vời, lại có tin đồn phượng hót mà cho đến nay, Ngụy Huệ Vương vẫn hằng tin, vì vậy sau khi dời đô về Đại Lương, nơi đây nhanh chóng trở thành vùng thánh địa của vương thất, được xây dựng biệt cung, đền đài thờ cúng, và còn sắp đặt cả vệ sĩ canh gác.

Ở sâu bên trong một biệt cung, nơi tiếp giáp với hồ lớn có một khu nhà, tường cao cửa dày, kín mít đến gió thổi không lọt. Trên cánh cổng lủng lẳng hai ổ khoá đồng, trong vòng năm mươi bước xung quanh, hoàn toàn không thấy có dấu chân người.

Phía sau cánh cổng sơn đen là một khu nhà kiểu tứ hợp viện, mặc dù thiết kế đơn giản, nhưng chẳng thiếu thứ gì.

Đây là một toà lãnh cung được xây theo lệnh của Ngụy Vương, chuyên dùng để giam giữ những thành viên vương thất phạm phải tử tội hoặc trọng tội. Bất kể là ai, một khi đã bị đưa vào trong này, coi như phải chịu giam giữ suốt kiếp, muốn trốn ra còn khó hơn lên trời.

Nơi đây có ăn có uống, có giường có ghế, thứ duy nhất không có chính là sinh khí. Trong khu nhà, cỏ dại um tùm, bóng cây rậm rịt, không nhìn thấy bất cứ vật sống nào. Đại tướng quân công tử Ngang đầu bù tóc rối, đang ngồi trước bàn, đôi mắt vô thân đờ đẫn nhìn vào chiếc ấm bằng gốm tử sa đặt trên mặt bàn.

Tĩnh mịch, tĩnh mịch như chết. Ngay cả tiếng sóng nước vỗ bờ ở cách đó không xa cũng bị một lớp tường gạch cao dày chặn đứng, khi truyền đến tai, chỉ còn rất yếu ớt, hầu như không thể nghe thấy.

Công tử Ngang vốn là người nhiệt huyết, có thể nhảy vào nước sôi lửa bỏng, có thể xung phong trận tiền, có thể không ăn không uống, nhưng không thể cô đơn. Mà sự cô đơn nhường này, công tử Ngang đã phải chịu đựng hơn hai tháng ròng, lúc này đúng là đã đến đỉnh điểm, không thể nhẫn nhịn thêm được nữa.

Lại ngồi thêm một lúc, công tử Ngang đột nhiên mở trừng hai mắt, rồi đứng bật dậy, chụp lấy chiếc ấm trên bàn, ném đánh choang vào bức tường gạch dày trước mặt. Sau đó đi thẳng tới cổng chính, hai tay đập rầm rầm vào cánh cổng, dùng hết sức bình sinh la hét: “Người đâu! Người đâu!”

Xung quanh không một tiếng động.

Công tử Ngang đá thật lực mấy cái vào cánh cổng, vẫn không có ai trả lời. Công tử Ngang mắt long sòng sọc, nhìn thấy bên cửa sổ có một khúc gỗ, liền lao vụt đến, vác lên, thẳng tay đập vào cánh cổng. Những tiếng “uỳnh… uỳnh” dội lên hàng tràng điếc nhĩ.

Không biết đã đập bao lâu, nhưng vẫn không thấy một tiếng người đáp lại. Công tử Ngang đã hoàn toàn tuyệt vọng, ném khúc gỗ xuống đất, tựa lưng vào cổng, ngồi rũ xuống đất, miệng lầm bầm nguyền rủa: “Lũ chó chết! Bản công tử mà ra được, sẽ giết hết các ngươi!”

Công tử Ngang ngồi dựa cổng hồi lâu, mới lê từng bước nặng nề trở lại sảnh đường, nhìn vào bài trí thô lậu trong sảnh mà đờ người ngây dại.

Đột nhiên, công tử Ngang trợn trừng hai mắt, cơn giận dữ lại tiếp tục phát tác, điên cuồng quăng ném tất cả mọi thứ có thể vớ được. Khi tất cả mọi thứ đều đã đập hết, lại nhặt các mảnh vỡ từ dưới đất lên, tiếp tục đập phá. Nhưng cho dù công tử Ngang có giận dữ đến đâu, xung quanh vẫn là một bầu tĩnh mịch như tờ, dường như trên thế giới này chẳng còn ai quan tâm đến sự tồn tại của hắn.

Có lẽ do đã quá mệt, có lẽ thân tâm đã đến lúc rã rời, cuối cùng động tác của công tử Ngang cũng chậm dần lại, rồi dừng tay, ngồi bệt xuống nền nhà. Xung quanh lại chìm vào tịch mịch.

Đúng vào lúc công tử Ngang lòng tựa tro tàn, từ xa bỗng có tiếng bước chân vẳng lại, “cộp… cộp… cộp…”.

Tiếng bước chân mỗi lúc một gần, trái tim công tử Ngang cũng càng lúc càng đập dồn dập, cơ thể bất động, nhưng đầu đã ngoái lại, hai mắt nhìn chằm chằm vào cánh cổng lớn màu đen cách đó không xa.

Sau tiếng tra khoá lạch cạch, cánh cổng cọt kẹt mở ra, đi vào là Bàng Quyên uy phong lẫm liệt, một viên quân uý và mấy tên lính tay cầm binh khí theo sau.

Công tử Ngang thoắt cái đã như chết lặng, ngây ra tại chỗ, hai con mắt chằm chằm nhìn vào bộ giáp trụ đại tướng quân mà Bàng Quyên đang mặc. Hai tháng trước, bộ giáp trụ này còn được khoác trên người hắn…

Bàng Quyên từng bước đi vào, rồi dừng chân trước ngưỡng cửa sảnh đường.

Quân uý bước lên một bước, nói lớn: “Khởi bẩm công tử, có đại tướng quân đến thăm!”

Nhưng công tử Ngang không có phản ứng gì, vẫn nhìn chằm chằm vào bộ giáp trụ, hai mắt đờ đẫn.

Bàng Quyên bước lên một bước, thình lình quỳ sụp xuống, lạy liền ba lạy, nói lớn: “Mạt tướng Bàng Quyên khấu kiến An Quốc Quân!”

Công tử Ngang sững người, dường như lúc này mới định thần lại được, liền vừa bò vừa lết tới trước ngưỡng cửa, đưa tay nắm lấy vạt áo Bàng Quyên, bật khóc cầu xin: “Bàng đại tướng quân, mau… mau thả ta ra, ta cầu xin đấy!”

Bàng Quyên liếc hắn một cái rồi từ từ đứng dậy, đưa mắt nhìn khắp xung quanh, chỉ thấy vắng vẻ đìu hiu, đầy nhà mảnh vỡ, bất giác trong lòng thương cảm, bèn quay sang trách mắng viên quân uý: “Ngươi…” rồi lại đưa mắt nhìn đám lính, “còn cả các ngươi nữa, sao lại đối xử với An Quốc Quân như vậy?”

Quân uý và binh lính đều sợ hãi, quỳ mọp cả xuống đất, đưa mắt nhìn nhau, muốn biện bạch nhưng lại không dám.

Bàng Quyên nhìn trừng trừng vào quân uý, quát lớn: “Còn đứng đấy? Không mau gọi người đến dọn dẹp, thay thế toàn bộ vật dụng ở đây, cho hai nô tỳ tới hầu hạ An Quốc Quân?”

Quân uý vội nói: “Việc này… đại tướng quân, bệ hạ…”

Bàng Quyên xua tay, bực bội nói: “Các ngươi hãy cứ làm theo! Còn về phía bệ hạ, bản tướng tự có cách!”

Quân uý vâng lệnh, lập tức dẫn quân lính rời đi.

Thấy quân lính đã đi xa, Bàng Quyên lại quỳ xuống trước mặt công tử Ngang: “Mạt tướng đến chậm, khiến An Quốc Quân phải chịu khổ!”

Công tử Ngang lết lên phía trước, đưa tay nắm chặt tay Bàng Quyên, nước mắt ròng ròng: “Đại tướng quân…”

Buổi trưa hôm đó, dưới đình hóng mát trong hậu hoa viên của vương cung, Ngụy Huệ Vương ngồi ngay ngắn trên chiếu, toàn thần tập trung vào ván cờ trước mặt. Một lúc, ánh mắt rời khỏi bàn cờ, chậm rãi quay sang Bàng Quyên đang ngồi đối diện, trên khuôn mặt thoáng hiện một nụ cười: “Bàng ái khanh, hãy nhìn cho rõ, nếu hối hận, quả nhân sẽ cho phép khanh đi lại một nước!”

Bàng Quyên đáp: “Vi thần đa tạ bệ hạ. Tuy nhiên, vi thần đã hạ cờ, tuyệt đối sẽ không có chuyện hối hận.”

Ngụy Huệ Vương gật đầu, cười nói: “Tốt, Bàng ái khanh đã nói vậy, quả nhân cũng không khách khí nữa!” Lời vừa dứt, lập tức nhấc quân cờ lên, chầm chậm hạ xuống, vây chặt một con rồng lớn của Bàng Quyên.

Nhìn thấy không còn hy vọng cứu vãn, Bàng Quyên bèn vòng tay nói: “Bệ hạ đã đi nước cờ này, vi thần đành phải chịu thua!”

“Ái khanh chơi cờ hay lắm!” Ngụy Huệ Vương cười nói. “Không giấu ái khanh, quả nhân đã chơi cờ vô số, song thắng được ái khanh một trận, thật không phải dễ dàng! Nào, tiếp tục ván nữa!”

Bàng Quyên khấu đầu nói: “Bệ hạ, xin chớ trách vi thần vô lễ, vi thần đã thua liên tiếp ba ván, giờ chẳng còn tâm trạng để chơi nữa!”

“Ừm!” Ngụy Huệ Vương gật đầu nói. “Quả nhân cũng thấy khanh tinh thần hơi khác, không giống thường ngày. Ái khanh có tâm sự gì chăng?”

Bàng Quyên lại khấu lạy: “Bệ hạ thánh minh, vi thần quả thực có tâm sự.”

Ngụy Huệ Vương gạt bàn cờ sang một bên: “Ái khanh có chuyện gì, có thể nói cho quả nhân nghe chăng?”

Bàng Quyên chậm rãi nói: “Sáng sớm hôm qua, vi thần đang định ra khỏi cửa, bỗng nhìn thấy một con chim non rơi xuống sân. Vi thần nổi hứng nên đã bắt nó nhốt vào trong lồng. Buổi tối trở về, vi thần nhớ tới con chim non, liền tới xem, thì thấy hai con chim lớn bay lòng vòng quanh lồng, một con cất tiếng kêu thảm thiết, một con đang cố gắng chĩa mỏ vào trong lồng, mớm mồi cho chim non ăn. Vi thần động lòng trắc ẩn, nên lập tức thả nó ra. Chim non thoát khỏi lồng, một nhà ba khẩu vui vẻ nhảy nhót, lượn ba vòng quanh nhà rồi mới bay đi, cảnh tượng thực khiến người ta cảm động!”

Ngụy Huệ Vương sớm đã biết chuyện Bàng Quyên đến Long Sơn thăm công tử Ngang, nghe thấy lời này, biết Bàng Quyên có ý xin cho công tử Ngang, bèn thở dài một tiếng: “Than ôi, Bàng ái khanh, khanh không cần nói nữa. Chuyện của nghịch tử, có tội thì phải chịu, quả nhân xử như vậy đã là nương tay lắm rồi!”

Bàng Quyên vẫn quỳ dưới đất: “Bệ hạ, lỗi lầm của An Quốc Quân phần lớn là do gian tặc Trần Chẩn che mắt. Nay không còn Trần Chẩn nữa, An Quốc Quân sẽ hiểu rõ thị phi, làm lại từ đầu!”

Giải thích như vậy, quả là hợp tình hợp lý. Ngụy Huệ Vương lại nghĩ, ngay cả bản thân cũng đã từng bị Trần Chẩn mê hoặc, liền gật gù mà nói: “Ái khanh nói rất đúng. Theo ý ái khanh, nên xử lý nghịch tử thế nào?”

Bàng Quyên ôm quyền đáp: “An Quốc Quân võ công cao cường, giỏi chiến trận, cũng hiểu trị quân, dũng mãnh nổi danh liệt quốc, là nhân tài dùng binh hiếm có. Vi thần to gan cầu xin bệ hạ hãy xá tội cho An Quốc Quân, khôi phục chức đại tướng quân. Vi thần nguyện làm phó tướng của An Quốc Quân, cùng An Quốc Quân trị quân, đánh đông dẹp bắc, phò tá bệ hạ thành tựu vương nghiệp.”

Ngụy Huệ Vương vội vã xua tay: “Như vậy sao được?”

Bàng Quyên lại bái lạy: “Khẩn cầu bệ hạ ân chuẩn cho thỉnh cầu của vi thần!”

“Thế này vậy!” Ngụy Huệ Vương quyết đoán. “Bàng ái khanh đã cầu xin, quả nhân có thể xá tội cho nghịch tử. Song về chức vị, hãy để cho nó làm trung quân tham tướng, đi theo ái khanh học cách trị quân, tìm cơ hội lập công chuộc tội.”

Thực ra, kết quả này, Bàng Quyên đã dự đoán được từ trước, nhưng ngoài miệng vẫn nài nỉ: “Bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương kiên quyết: “Ái khanh bất tất phải nhiều lời! Để nó làm tham tướng, là quả nhân đã nể mặt ái khanh lắm rồi!”

Bàng Quyên do dự một lát, lại lạy ba lạy: “Vi thần đa tạ bệ hạ hậu ái! Bệ hạ vạn an, vi thần cáo lui!”

Nhìn Bàng Quyên đi xa dần, Ngụy Huệ Vương hơi ngả người ra phía sau, thở dài một tiếng, xúc động gật gù nói với tỳ nhân: “Người này vừa có thể nghĩ được điều quả nhân nghĩ, lại không có lòng tham, đúng là một bề tôi tốt của ta!”

Tỳ nhân cũng gật đầu tấm tắc khen: “Là bệ hạ có huệ nhãn nhìn người tài!”

Ngụy Huệ Vương cười nói: “Ngươi thực biết ăn nói! Giờ thì, ngươi hãy tới đó một chuyến, dẫn nghịch tử về đây. Quả nhân không muốn gặp nó, nên ngươi hãy dặn dò nó, bảo nó đi theo Bàng ái khanh, cố gắng luyện tập thuật trị quân.”

“Lão nô lĩnh chỉ!”

Tỳ nhân tay cầm kim bài lệnh tiễn của Ngụy Huệ Vương đi đến Long Sơn, giải thoát công tử Ngang khỏi cảnh giam cầm. Công tử Ngang hết lời gặng hỏi, cuối cùng tỳ nhân cũng tiết lộ, người cầu xin giúp công tử Ngang chính là đại tướng quân Bàng Quyên, còn nói Bàng Quyên không những nói giúp trước mặt bệ hạ, mà còn tự nguyện trao lại chức đại tướng quân cho hắn, còn mình chỉ xin làm phó tướng.

Tiết lộ của tỳ nhân khiến công tử Ngang trong lòng cuộn sóng. Trong những ngày này, lúc nào công tử Ngang cũng ghi hận Bàng Quyên, cho rằng Bàng Quyên đã đoạt mất ngôi chủ tướng của mình, lần này cứu mình ra, hẳn cũng có ý đồ gì khác. Nghe tỳ nhân nói vậy, mới biết mình đã suy nghĩ quá nhiều.

Quay trở về phủ, công tử Ngang không kịp chải tóc, cũng chẳng kịp thay y phục, lập tức gọi xe kiệu, chuẩn bị hậu lễ định đến phủ đại tướng quân đa tạ. Không ngờ vừa ra khỏi cổng, đã thấy xe kiệu của Bàng Quyên tiến đến.

Nhìn thấy công tử Ngang, Bàng Quyên vội nhảy xuống xe, quỳ xuống đất bái lạy: “Vi thần khấu kiến công tử!”

Công tử Ngang vội vàng bước lên đỡ Bàng Quyên dậy, vòng tay vái một vái thật sâu, giọng nghẹn ngào: “Đại ân của đại tướng quân, Ngụy Ngang ghi nhớ suốt đời!”

Bàng Quyên đáp lễ rồi nói: “Công tử nói gì vậy? Vi thần hay tin công tử hồi phủ, nên mới vội vàng tới bái kiến công tử!”

“Ngụy Ngang trở về, việc đầu tiên là muốn đến bái tạ tướng quân, không ngờ vừa ra khỏi cổng, tướng quân đã đến trước một bước, như vậy… bảo Ngụy Ngang phải làm thế nào đây?”

Bàng Quyên cười vang mà nói: “Như vậy là công tử và vi thần có cùng suy nghĩ rồi!”

Công tử Ngang cũng bật cười, chìa tay mời: “Đại tướng quân, mời vào trong phủ!”

Bàng Quyên xoay người lại, khẽ vẫy tay, Bàng Thông và một người hầu liền khiêng một chiếc rương từ trên xe xuống, tiến lại gần. Công tử Ngang biết là lễ vật, liền khách sáo nói với Bàng Quyên: “Theo lý thì Ngụy Ngang phải đến đa tạ tướng quân mới phải, cái này là…”

Bàng Quyên lại cười, chỉ vào chiếc rương mà nói: “Chút lễ mọn này là do đích thân vi thần chuẩn bị cho công tử, đợi lát nữa công tử kiểm tra xong, tự nhiên sẽ nhận lấy.”

Công tử Ngang nghe Bàng Quyên nói vậy, nổi tính tò mò, nôn nóng dắt tay Bàng Quyên đi vào phòng khách, Bàng Thông và tỳ nhân cũng khiêng chiếc rương theo sau.

Nhìn thấy chiếc rương đã được đặt trong phòng, Bàng Quyên bước tới, đích thân mở ra, chỉ vào trong rương mà nói: “Công tử hãy xem.”

Công tử Ngang vội vàng bước lại, thò đầu nhìn vào, thấy trong hòm không có vật gì khác, chỉ có một bộ áo giáp dính máu và một thanh bảo kiếm, phảng phất có mùi tanh hôi bốc lên.

Công tử Ngang vội bịt mũi chau mày, Bàng Quyên bèn cười hỏi: “Công tử có biết vật này chăng?”

Công tử Ngang lắc đầu.

“Công tử lẽ nào ngay cả giáp trụ của Điền Kỵ cũng không nhớ?”

Công tử Ngang kinh ngạc: “Đây là vật của Điền Kỵ ư?”

Bàng Quyên cười vang mấy tiếng, gật đầu nói: “Lần trước đại chiến Hoàng Trì, Điền đại tướng quân do bất cẩn đã sảy chân rơi xuống hố do ái tướng Phạm Tiêu của công tử đào sẵn, toàn thân dính đầy phân thối, còn giơ kiếm định tự sát. May sao Phạm tướng quân nhanh tay nhanh mắt, đã đánh rơi thanh kiếm, dùng câu liêm kéo hắn lên khỏi hố, dù gì cũng đã cứu hắn một mạng.”

Từ lâu công tử Ngang đã nghe đồn về cuộc đại chiến Hoàng Trì, nhưng lúc này khi Bàng Quyên kể lại, lại xoay chuyển công bắt sống Điền Kỵ cho công tử Ngang, thực sự khiến hắn bất ngờ, thậm chí có ít nhiều bối rối, bèn gật đầu nói: “Tốt lắm, tốt lắm! Hai đại lễ này của tướng quân, Ngụy Ngang xin nhận hết!” Rồi lại vòng tay nói. “Điền Kỵ quỷ kế đa đoan, đã hại Ngụy Ngang không ít, đa tạ đại tướng quân đã giúp Ngụy Ngang trút được nỗi giận này!”

Bàng Quyên vội xua tay, chân thành nói: “Công này thuộc về Phạm tướng quân, Phạm tướng quân lại là thân tín do đích thân công tử dạy dỗ, vi thần đâu dám nhận công?”

Công tử Ngang nghe Bàng Quyên lời lẽ thành thực, không hề có chút giả tạo, đến lúc này đã thực sự khâm phục, lập tức cho người khiêng rương lễ vật vào, bày bộ đồ trà bằng đồng ra, tự tay rót trà thơm. Đang định mời Bàng Quyên dùng trà, ngoài cổng bỗng nghe tiếng xe ngựa chộn rộn, rồi người canh cổng chạy như bay vào, lớn tiếng thông báo: “Thụy Liên công chúa giá lâm!”

Nghe thấy bốn chữ “Thụy Liên công chúa”, Bàng Quyên giật mình, đang định lên tiếng thì công tử Ngang đã đứng dậy, khẽ mỉm cười tỏ vẻ có lỗi: “Em gái ta đến, Bàng tướng quân xin hãy đợi một chút, chờ Ngụy Ngang tiếp đón một lát.”

Công tử Ngang vừa mới bước ra khỏi cửa, một thiếu nữ dung nhan mỹ miều đã đi vào trong sân, không nói một lời, lập tức chạy lao lại gần khóc oà lên: “Nhị hoàng huynh…”

Công tử Ngang nắm tay công chúa, cũng xúc động mà nghẹn ngào gọi: “Liên muội…”

Hai người cứ thế nhìn nhau khóc.

Chốc sau, công tử Ngang lau nước mắt, kéo tay công chúa đi vào phòng khách, nói với Bàng Quyên vừa vội đứng dậy: “Liên muội, để hoàng huynh giới thiệu, vị này chính là đại tướng quân Bàng Quyên uy chấn liệt quốc.”

Bàng Quyên dập đầu sát đất: “Vi thần Bàng Quyên khấu kiến công chúa!”

Thụy Liên công chúa không ngờ ở đây còn có người khác, nhất thời sắc mặt ửng hồng, nhún mình đáp lễ: “Đại tướng quân miễn lễ!”

Bàng Quyên lại bái lạy, nói: “Vi thần đa tạ công chúa!”

Rồi lại bái tạ xong mới đứng dậy, vừa nhìn công chúa, hai mắt liền đăm đăm không chớp. Thụy Liên công chúa sống trong chốn thâm khuê, ngoài thái tử và các vị công tử khác, rất ít khi tiếp xúc với đàn ông bên ngoài, không thể đương nổi ánh mắt như lửa của Bàng Quyên, hai má đỏ bừng, cúi đầu không nói, mình liễu mong manh hơi nép về sau lưng công tử Ngang, có phần e sợ, bộ dạng thẹn thùng càng tôn thêm vẻ yêu kiều.

Bàng Quyên lúc này mới chột dạ, bèn từ từ thu ánh mắt lại, vòng tay vái mà nói: “Công tử, công chúa, hai vị đã lâu không gặp, hãy từ từ hàn huyên, vi thần cáo từ!”

Công tử Ngang vội nói: “Bàng tướng quân, cũng phải uống chén trà đã chứ!”

“Thời gian còn dài, công tử bất tất phải khách sáo!” Bàng Quyên nói đoạn quay người, cất bước đi ra khỏi cửa.

Công tử Ngang tiễn ra đến sân, Bàng Quyên lại bất chợt ngoái đầu, đưa mắt nhìn Thụy Liên công chúa, thấy công chúa cũng đang lén nhìn mình, thì khẽ mỉm cười, lại vòng tay vái, rồi sải bước rời đi.

Công tử Ngang lại tiễn thêm một đoạn nữa, từ biệt Bàng Quyên ở ngoài cổng lớn, rồi quay vào trong phủ, nói với công chúa: “Người này cũng thật là, nói đi là đi, sao có thể khách sáo đến thế?”

Thụy Liên công chúa lại đỏ bừng mặt, khẽ thì thầm như tự nhủ: “Trong cung đồn rằng Bàng tướng quân thần võ, cứ ngỡ là một hán tử đầu đồng thân sắt, không ngờ trông lại thư sinh thế kia.”

Công tử Ngang cười nói: “Nếu Liên muội đã vừa mắt Bàng tướng quân, hoàng huynh sẽ làm mối cho!”

Thụy Liên công chúa đỏ mặt, giậm chân nói: “Hoàng huynh, tiểu muội thật lòng đến thăm, mà hoàng huynh lại…”

Công tử Ngang vội dỗ dành: “Được rồi, được rồi, coi như ta lắm chuyện, được chưa? Nào, hãy xem nhị hoàng huynh tặng cho Liên muội món bảo bối gì?” Nói đoạn, liền gọi người hầu xách một thùng gỗ lên.

Thụy Liên nhìn vào thùng, mừng rỡ kêu lên: “Cá chép?”

Công tử Ngang đắc ý cười vang: “Nhị hoàng huynh nhìn thấy người ta câu cá dưới đầm, Liên muội là một con mèo, chẳng lẽ ta còn không biết?” Rồi quay sang người hầu. “Giao cho nhà bếp, hấp hai con, số còn lại đem nướng!”

Thụy Liên hớn hở chêm vào một câu: “Nhớ cho nhiêu gừng hành đấy!”

***

Từ sau khi gặp Thụy Liên công chúa, trong lòng Bàng Quyên lại chất thêm một niềm tâm sự. Trở về phủ, Bàng Quyên không tiếp bất cứ ai, khép mắt ngồi lặng đến nửa ngày trời, rồi sai Bàng Thông chuẩn bị xe ngựa, đến phủ tướng quốc.

Huệ Thi nhận được tin báo, liền ra tận cổng đón tiếp.

Nhìn thấy Huệ Thi, Bàng Quyên bước lên mấy bước, vòng tay vái chào: “Vãn sinh Bàng Quyên đã quấy quả tiên sinh!”

Từ sau khi khải hoàn, đây là lần đầu tiên Bàng Quyên đến phủ tướng quốc. Bàng Quyên gặp mặt đã tự gọi mình là vãn sinh, tôn xưng Huệ Thi là tiên sinh, điều này khiến Huệ Thi cũng bất ngờ, bèn vòng tay đáp lễ nói: “Đại tướng quân là khách quý, Huệ Thi muốn mời còn chẳng được, nói gì đến quấy quả?”

Bàng Quyên bái tạ nói: “Hôm đó ở triều đường, nếu không phải nhờ tiên sinh nói đỡ cho, vãn sinh đã trở thành hồn ma dưới lưỡi đao, làm sao còn có được vinh hoa như hôm nay? Đại ơn cứu mạng của tiên sinh, vãn sinh vẫn chưa có gì báo đáp, hôm nay đến đây, là mong tiên sinh nhận của vãn sinh một lạy!”

Bàng Quyên nói xong, lập tức khấu đầu sát đất.

Huệ Thi vội vàng đỡ dậy: “Đại tướng quân, không được làm vậy!” Rồi cầm lấy tay Bàng Quyên. “Đại tướng quân, mời vào trong phủ!”

Bàng Quyên vội nhường: “Mời tiên sinh!”

Hai người dắt tay nhau đi vào phủ, chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Bàng Quyên đưa mắt nhìn quanh, bất ngờ khi thấy trong phủ bài trí giản dị thanh tao, không chút châu quang bảo khí, lập tức sinh lòng kính trọng. Một lát sau, nữ tỳ bưng trà lên, quỳ dưới đất, nâng khay ngang mày.

Huệ Thi rót một chén trà đưa cho Bàng Quyên: “Đại tướng quân, mời dùng trà!”

Bàng Quyên đa tạ, hai tay nhận lấy chén trà, khẽ nhấp một ngụm, thấy hương vị đặc biệt, bèn tấm tắc khen ngợi: “Nhìn nhã thất của tiên sinh, thực giống như thảo đường trong Quỷ Cốc; thưởng trà thơm của tiên sinh, thực giống như thưởng trà ngon của Quỷ Cốc tiên sinh.”

“Đại tướng quân quá lời rồi! Huệ Thi là người trần thô tục, đâu dám so sánh với Quỷ Cốc tiên sinh?”

“Tiên sinh bất tất phải khiêm tốn. Đại danh của tiên sinh, vãn sinh đã ngưỡng mộ từ lâu. Tiên sinh hiểu nhiều biết rộng, vãn sinh kính phục tận đáy lòng. Cái khác không nói, sau khi tiên sinh đến Ngụy, khác nào mưa xuân gió ấm, âm thầm khiến nước Ngụy trở nên yên trị. Ngày nay bệ hạ xa tiểu nhân, gần hiền thần, định đô mới, dùng chính pháp mới, tất cả đều là công của tiên sinh.”

Huệ Thi cười mấy tiếng, khẽ lắc đầu mà nói: “Đại tướng quân càng nói càng quá lời. Nếu luận tới bản lĩnh, Huệ Thi sao có thể sánh được với đại tướng quân? Quay đầu nhìn lại ván cờ đầu tiên sau khi đại tướng quân xuống núi, thực đúng là nước nào cũng tinh diệu!”

“Vãn sinh bất tài, đa tạ tiên sinh khen tặng!”

“Nghe nói mấy hôm trước, đại tướng quân lại hạ một nước cờ hay nữa!”

Bàng Quyên biết Huệ Thi đang ám chỉ chuyện mình cứu công tử Ngang, thì thoáng lúng túng, cười khẽ mà nói: “Vãn sinh kém cỏi, làm gì cũng chẳng thể qua được mắt tiên sinh!”

Huệ Thi khẽ thở dài, gật đầu như thấu hiểu: “Than ôi, ta đã nhận ra, đại tướng quân làm vậy cũng vì bất đắc dĩ. Nước Ngụy không giống nước Tần, muốn thành tựu nghiệp lớn, nếu không có chỗ dựa, chỉ dựa vào bản lĩnh, thực sự không thể.”

Bàng Quyên cũng thở dài, chậm rãi nói: “Từ sau khi ra khỏi Quỷ Cốc, người có thể hiểu được vãn sinh, duy chỉ có tiên sinh!” Ngẫm nghĩ một lát, bèn đi tới trước mặt Huệ Thi, khấu đầu sát đất. “Tiên sinh ở trên, xin hãy nhận của vãn sinh một lạy.”

Lần này Huệ Thi không những không ngăn cản Bàng Quyên, ngược lại còn khép hờ đôi mắt, thản thiên tiếp nhận: “Muốn ta làm gì, đại tướng quân cứ nói!”

Bàng Quyên lạy ba lạy xong mới nói: “Khẩn cầu tiên sinh giúp vãn sinh tác thành một hỷ sự!”

Lời khẩn cầu này rõ ràng đã nằm ngoài dự liệu của Huệ Thi. Sững sờ một lúc, Huệ Thi mới từ từ mở mắt ra nhìn Bàng Quyên, rồi gật gù mà nói: “Phải, đại tướng quân sự nghiệp đã thành, cũng đã đến lúc thành gia lập thất. Đây là chuyện vui trong đời, bản tướng đồng ý giúp đỡ. Xin hỏi, đại tướng quân ưng ý khuê nữ nhà ai?”

Bàng Quyên nói rành rọt: “Thụy Liên công chúa!”

Huệ Thi kinh ngạc, hai mắt tròn xoe, nhìn sững Bàng Quyên hồi lâu, rồi lại từ từ khép mắt, nói: “Ta nghe thấy rồi!”

Bàng Quyên lại lạy tạ: “Vãn sinh đa tạ tiên sinh đã thành toàn!”

Đã chớm đầu thu, gió nhẹ hiu hiu, khẽ lay động đám lá sen trên mặt hồ.

Trong đình hóng mát bên hồ sen, Ngụy Huệ Vương nằm trên ghế đu, hai mắt nhắm hờ. Tỳ nhân hầu bên cạnh cũng đang ngáp dài ngáp ngắn. Hai cung nữ đứng hầu một bên, một người khẽ đưa ghế, một người tay cầm quạt mỏng, vừa quạt mát, vừa xua đuổi những côn trùng dám bén mảng đến gần.

Trong lúc mơ màng, Ngụy Huệ Vương chợt nhìn thấy Bàng Quyên tiến lại.

Ngụy Huệ Vương vội ngồi dậy, vươn mình, cười nói: “Lại đây, hãy ngồi bên cạnh quả nhân!”

Nhưng Bàng Quyên không nói một lời, sắc mặt ủ dột, đi thẳng tới trước mặt Huệ Vương, quỳ sụp xuống đất, mắt chảy hai hàng lệ, nói: “Vi thần khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương kinh ngạc hỏi: “Bàng ái khanh, sao khanh lại khóc?”

Bàng Quyên lạy xong, nức nở mà nói: “Bệ hạ, vi thần… vi thần đến… để từ biệt bệ hạ.”

Ngụy Huệ Vương hốt hoảng, đưa tay nắm lấy vạt áo Bàng Quyên, giọng lạc đi: “Từ biệt? Ái khanh định đi đâu?”

“Nước Tần!”

Ngụy Huệ Vương hoảng hốt: “Sao có thể như vậy được? Bàng ái khanh, quả nhân đối xử với khanh không bạc, cớ sao ái khanh lại thay lòng?”

Bàng Quyên đáp: “Bệ hạ, xin hãy nghe vi thần nói một lời. Thường có câu, phượng hoàng chọn đậu cành cao, giao long quay về đầm lớn. Bệ hạ tuy đối xử với vi thần không bạc, nhưng nước Ngụy đã như tên bay hết tầm, khó thành đại sự. Còn nước Tần như mặt trời mới mọc, tương lai chắc chắn sẽ thành tựu vương nghiệp. Tần Công nhiều lần phái người đến thỉnh cầu vi thần, những gì bệ hạ ban thưởng, Tần Công không những không ban thiếu thứ gì, mà còn hứa hẹn sẽ phong đất cho vi thần. Vi thần cho rằng, phong đất chỉ là chuyện nhỏ, thành tựu vương nghiệp mới chính là ước nguyện cả đời của vi thần.”

Ngụy Huệ Vương vội nói: “Quả nhân cũng muốn thành tựu vương nghiệp, ái khanh không được đi, quả nhân cũng muốn thành tựu vương nghiệp!”

Bàng Quyên lại lắc đầu: “Bệ hạ nghĩ quá xa rồi! Vương nghiệp phải là trên thuận mệnh trời, dưới hợp địa lý, trong hợp ý dân, không phải bệ hạ cứ muốn là được!” Nói đoạn, lại lạy ba lạy, rồi chậm rãi đứng dậy. “Trong những ngày này ân sủng của bệ hạ dành cho vi thần, vi thần đành để kiếp sau báo đáp!” Nói xong, lập tức cất bước rời đi.

Ngụy Huệ Vương hốt hoảng, đưa tay nắm chặt vạt áo bào của Bàng Quyên, hét lớn: “Bàng ái khanh, khanh không được đi! Bàng ái khanh…”

Bàng Quyên thình lình rút bảo kiếm ra, chém đứt vạt áo, hai chân nhún mạnh, cơ thể bỗng bay vút lên không trung, lao thẳng về phía tây. Thấy Bàng Quyên càng bay càng xa, Ngụy Huệ Vương mồ hôi túa khắp người, cất bước đuổi theo, vừa đuổi vừa hét lớn: “Bàng ái khanh, Bàng ái khanh, Bàng ái khanh…”

Ngụy Huệ Vương đuổi mãi không chịu dừng, chẳng may trượt chân, ngã lăn xuống đất. Ngụy Huệ Vương giãy giụa muốn đứng lên, nhưng cố gắng thế nào cũng chẳng thể đứng dậy được. Ngụy Huệ Vương vô vọng nhìn theo Bàng Quyên đã chỉ còn là một chấm đen xa tít tắp, cố dốc hết chút hơi tàn mà gào lên thật lớn: “Bàng ái khanh…”

Ngụy Huệ Vương đang trong cơn tuyệt vọng, đột nhiên nghe thấy có tiếng người gọi: “Bệ hạ, bệ hạ…”

Ngụy Huệ Vương mở choàng mắt ra, thấy trước mặt không có Bàng Quyên, chỉ có tỳ nhân và hai cung nữ đang quỳ dưới đất, bộ dạng vô cùng hốt hoảng. Ngụy Huệ Vương kinh ngạc, đứng phắt dậy, nhìn khắp xung quanh, lúc này mới thở phào một hơi dài.

Tỳ nhân nói khẽ: “Bệ hạ, lúc nãy bệ hạ liên tiếp gọi tên Bàng ái khanh, Bàng ái khanh, có chuyện gì ư?”

Ngụy Huệ Vương lại nằm xuống ghế, đưa tay áo lau mồ hôi trên trán, lại nhắm mắt lại: “Không có gì, lúc nãy quả nhân mơ thấy Bàng Quyên!”

Cung nữ đứng dậy, tiếp tục đung đưa chiếc ghế.

Ngụy Huệ Vương nằm được một lúc, không dám ngủ tiếp nữa, bèn ngẩng lên hỏi: “Sau buổi trưa, có việc lớn gì không?”

Tỳ nhân đáp: “Bệ hạ muốn tới Đông Hồ du thuyền, thần đã sắp xếp xong xuôi.”

Ngụy Huệ Vương lắc đầu: “Không đi nữa! Chuẩn bị kiệu đến phủ tướng quốc.”

“Lão nô lĩnh chỉ!”

Một canh giờ sau, Ngụy Huệ Vương đã xuất cung, binh lính tiền hô hậu ủng, khí thế rầm rộ, tiến thẳng tới phủ tướng quốc. Sớm đã có sứ thần báo tin, Huệ Thi ra tận ngoài cổng phủ nghênh đón, được Ngụy Huệ Vương dắt tay đi vào phòng khách.

Vào phòng, hai người hành lễ quân thần xong xuôi, rồi cùng ngồi xuống chiếu. Ngụy Huệ Vương khẽ nhấp một ngụm trà, sau đó kể lại một lượt giấc mơ ban trưa, cuối cùng thở dài: “Than ôi, Huệ ái khanh, khanh nói xem, tại sao quả nhân lại có giấc mơ này? Bàng ái khanh cũng thật là, nói đi là đi luôn, không niệm đến một chút tình nghĩa quân thần. Quả nhân kéo áo hắn, hắn lại vung kiếm cắt áo đoạn nghĩa.”

Huệ Thi ngồi nghiêm ngắn, hai mắt nhắm hờ, trầm ngâm suy nghĩ một lúc. Ngụy Huệ Vương kể một mạch từ đầu đến cuối, thấy Huệ Thi vẫn không nói một lời, vội giục giã: “Huệ ái khanh, khanh nói gì đi chứ! Quả nhân nghe người ta nói, giấc mơ là điềm báo trước, khanh hãy nói xem, liệu có một ngày, Bàng ái khanh lại học theo Công Tôn Ưởng và Công Tôn Diễn, từ bỏ quả nhân đi theo người Tần hay không?”

Huệ Thi khẽ mỉm cười, lắc đầu.

Ngụy Huệ Vương thở phào một tiếng, nhưng vẫn có ít nhiều bất an, đưa mắt nhìn Huệ Thi: “Tài của Bàng ái khanh có thể sánh với Ngô Khởi. Tiên quân Văn Hầu từ khi có Ngô Khởi đã hùng bá thiên hạ suốt mấy chục năm. Quả nhân khó khăn lắm mới có được Bàng ái khanh, bất kể thế nào cũng không được để hắn sinh hai lòng. Huệ ái khanh, khanh hãy bớt chút thời gian đến thăm Bàng Quyên, thăm dò thử xem. Bất kể Bàng ái khanh có mong cầu gì, cũng phải báo lại cho quả nhân.”

Huệ Thi mở mắt ra, nhìn Ngụy Huệ Vương nói: “Bệ hạ thực lòng muốn giữ Bàng Quyên, khiến hắn không sinh hai lòng?”

Ngụy Huệ Vương vội nói: “Chuyện này còn giả được ư? Không có Huệ ái khanh, quả nhân ăn không ngon; không có Bàng ái khanh, quả nhân ngủ không yên!”

“Nếu đã là vậy, vi thần có một kế, có thể giữ được lòng Bàng Quyên!”

Ngụy Huệ Vương cả mừng: “Ái khanh mau nói đi, là kế sách gì?”

“Nhận hắn làm rể!”

Ngụy Huệ Vương kinh ngạc, đờ người ra không nói được gì.

“Nếu bệ hạ gả công chúa cho hắn, Bàng Quyên sẽ trở thành rể quý của bệ hạ, thân là quốc thích. Cho dù Tần Công có dùng bao nhiêu vàng bạc châu báu, chắc chắn cũng không thể khiến hắn động lòng.”

Ngụy Huệ Vương cũng đã hiểu ra, trầm tư một lúc, rồi gật đầu nói: “Lời của ái khanh, đúng là diệu kế. Có điều, dựa theo lễ chế, công chúa phải gả cho quân hầu, Bàng Quyên tuy có tài, nhưng lại xuất thân hèn kém, việc này…”

Huệ Thi cười nói: “Lễ nhạc Chu thất đã băng hoại từ lâu, bệ hạ bất tất phải nhất nhất tuân theo. Hơn nữa, cho dù muốn giữ lễ chế, cũng chẳng phải là chuyện khó đối vối bệ hạ. Từ xưa đến nay, quân vương thánh minh ai chẳng thưởng công phạt tội. Theo công của Bàng Quyên, nếu vào thời Vũ Vương, đã có thể được phong cương. Bệ hạ sao không…”

Huệ Thi dừng lại nửa vời. Ngụy Huệ Vương lập tức hiểu ngay, bèn nói: “Phải, ái khanh nói rất đúng! Công Tôn Ưởng mới lập được chút công lao mà Tần Công còn phong cho đất Thương, Bàng ái khanh lập công lớn cho đất nước, quả nhân còn tiếc điều gì? Huệ ái khanh, khanh thấy thế này được chăng, ngày mai quả nhân sẽ ban chiếu lệnh, phong Bàng Quyên làm Vũ An Quân, ban cho Hoàng Trì làm thực ấp, gả công chúa cho, chọn ngày lành thành hôn.”

“Bệ hạ thánh minh!”

Ngụy Huệ Vương lại cúi đầu suy nghĩ một lát, càng nghĩ càng thông suốt, bất chợt mỉm cười: “Phải, lên triều là người một nhà, trong trận là quân cha con. Quả nhân có chàng rể quý này ở bên, còn lo gì chuyện binh đao trong thiên hạ?”

Huệ Thi nghe thấy lời này, khẽ chau mày, đang định khuyên can, bỗng thấy Ngụy Huệ Vương sầm mặt xuống, nhìn thẳng vào Huệ Thi, vẻ như vừa sực nhớ ra điều gì: “Huệ ái khanh…”

Huệ Thi ngẩng đầu: “Có vi thần.”

“Việc tốt này, chẳng qua cũng chỉ là ý của một mình quả nhân, không biết Bàng ái khanh có ý này hay không?”

Huệ Thi cười nói: “Việc tốt thế này, Bàng Quyên thân là bề tôi, làm gì có chuyện không phục tùng?”

Nhưng Huệ Vương lắc đầu: “Không thể nói như vậy được! Hôn nhân bình thường, không thể coi là đại sự, nhưng Bàng ái khanh thì khác. Nếu Bàng ái khanh đã có ý trung nhân, chẳng phải quả nhân đã làm khó hắn ư?”

“Bệ hạ đã có ý này, vi thần xin đứng ra làm mối!”

“Tốt! Tốt lắm! Tốt lắm!” Ngụy Huệ Vương nói liền ba lần. “Việc này cứ giao cho ái khanh!” Dừng lại một lát, lại băn khoăn. “Có điều…”

“Bệ hạ còn có điều gì lo nghĩ?”

“Bên cạnh quả nhân có hai công chúa đang tuổi cập kê, một là Thụy Mai, do phu nhân hạ sinh, năm nay vừa tròn đôi tám; hai là Thụy Liên, do trắc thất sinh, tuổi vừa mười lăm. Theo ý ái khanh, quả nhân nên gả người nào thì hợp?”

“Bệ hạ có thể gả công chúa Thụy Liên!”

Ngụy Huệ Vương thoáng ngạc nhiên: “Hai công chúa đều là bảo bối của quả nhân, cớ sao ái khanh không khuyên gả trưởng công chúa?”

“Khởi bẩm bệ hạ, công chúa Thụy Liên là hoa sen, Bàng Quyên trong chữ Quyên có nước. Sen gặp nước thì sống, nước quý nhờ hoa sen. Bàng Quyên với Thụy Liên công chúa đúng là một đôi trời sinh.”

Ngụy Huệ Vương nghe vậy thì cả mừng, gật đầu lia lịa: “Phải rồi! Việc này coi như đã định, phiền ái khanh vất vả một phen!”

“Vi thần lĩnh chỉ!”

***

Trong vòng nửa tháng sau đó, Ngụy Huệ Vương liên tiếp ban hai chiếu lệnh. Bàng Quyên chẳng khác nào nằm mơ, đầu tiên là được phong cương tấn tước, Bàng phủ thay đổi biển hiệu, trở thành quân hầu khác họ đầu tiên của nước Ngụy. Sau đó lại được ban cưới công chúa Thụy Liên, đích thân tướng quốc làm mối.

Vào ngày hôn lễ của Bàng Quyên, không chỉ Đại Lương, mà cả nước Ngụy đều chấn động. Quan thủ lệnh các ấp, quan viên các phủ, danh gia thế tộc, cường hào phú thương, tất cả đều nhận được thiệp mời bằng lụa do đích thân Bàng Quyên viết tên đóng triện, kìn kìn mang lễ vật đến chúc mừng. Trước phủ Vũ An Quân chiêng trống vang trời, ngựa xe nườm nượp, người đến xem, người tặng lễ, người tiếp khách, người giúp việc, cả mấy con phố dài đều chật cứng như nêm.

Thuần Vu Khôn sau khi từ biệt Trần Chẩn, qua sông đến cửa Túc Tư, du ngoạn ở đó mấy ngày, bất ngờ gặp được một người quen nước Vệ, mời đến Đế Khâu chơi hơn một tháng, lúc này mới quay trở lại nước Ngụy, đánh xe tiến vào thành Đại Lương qua cổng thành đông.

Vào trong thành, Thuần Vu Khôn đi tới con phố trước cung, càng đi càng khó di chuyển, cuối cùng không thể tiến thêm được nữa. Thuần Vu Khôn đành phải nhảy xuống xe, chặn một cụ già đi đường hỏi: “Xin hỏi, phía trước có chuyện gì vậy?”

Cụ già nhìn Thuần Vu Khôn một lượt, lắc đầu mà nói: “Chà chà, ngay cả chuyện lớn nhường này mà cũng không biết, xem ra khách quan là người từ xa đến! Nói cho khách quan biết, hôm nay là ngày đại hỷ của Vũ An Quân, toàn bộ thành Đại Lương đến mặt đất cũng phải chấn động, náo nhiệt khó tưởng tượng! Khách quan nếu muốn xem, thì hãy đi tiếp. Còn nếu khách quan muốn lên đường, tốt nhất hãy mau quay đầu đi vòng đường khác là hơn!”

Thuần Vu Khôn giật mình: “Vũ An Quân? Nước Ngụy chẳng phải chỉ có một An Quốc Quân thôi ư?”

Cụ già cười toáng lên mà nói: “Đó là chuyện xưa rồi! Mấy ngày trước bệ hạ đã ban chiếu lệnh, tấn phong đại tướng quân là Vũ An Quân, hôm nay lại ban hôn, phủ Vũ An Quân đúng là song hỷ lâm môn!”

Thuần Vu Khôn ngây ra một lúc mới hỏi: “Xin hỏi cụ, có biết Vũ An Quân lấy con gái nhà nào không?”

“Con gái nhà nào?” Cụ già lại nhìn Thuần Vu Khôn chòng chọc, thở dài liền mấy tiếng. “Con gái nhà nào làm gì có được hồng phúc đó?”

Thuần Vu Khôn cười hỏi: “Lẽ nào tướng quân đã lấy tiên nữ?”

Cụ già cũng cười: “Không phải tiên nữ, nhưng cũng gần như vậy!” Rồi bước lại gần một bước, nói nhỏ. “Không giấu khách quan, tân nương của Vũ An Quân chẳng phải ai khác, mà chính là thiên kim công chúa của bệ hạ!” Rồi xuýt xoa liền mấy tiếng. “Chà chà, già này năm nay đã bảy mươi ba, coi như đã vào tuổi xưa nay hiếm, nhưng lần đầu tiên được thấy cảnh tượng náo nhiệt nhường này!”

Thuần Vu Khôn gật gù, ôm quyền với cụ già mà nói: “Đa tạ lão trượng!”

Từ biệt cụ già, Thuần Vu Khôn thầm nghĩ: “Vũ An Quân có chuyện vui lớn, ta phải đến xin chén rượu mới được”. Nghĩ là vậy, nên lại tiếp tục tiến lên phía trước. Đi được mấy bước, nhìn thấy trước mặt người ken kín không thể đi qua, Thuần Vu Khôn đành phải đánh xe ngựa đến một quán trọ ven đường, bảo tiểu nhị sắp xếp phòng trọ, suy nghĩ một thoáng rồi cởi bỏ trang phục du sĩ, lấy từ trong túi ra một bộ quần áo ăn mày rách rưới mặc vào, để lộ cái đầu bóng loáng như gương, hai tay trống không đi thẳng ra phố.

Thuần Vu Khôn đi theo dòng người đến trước cổng phủ Vũ An Quân, thấy tân nương đã được đón vào trong phủ, người đến xem cũng đã dần tản đi, các lộ khách tới chúc mừng nườm nượp kéo đến, ai nấy đều dừng xe ghìm ngựa trước phủ, tay cầm thiếp mời, khiêng theo lễ vật, người nói kẻ cười, vô cùng rôm rả, nô nức đi vào trong phủ.

Thuần Vu Khôn đứng nhìn một lúc, rồi đi theo sau hai người khách. Hai bên cổng mỗi bên đứng sẵn vài người phụ trách lễ nghi, khi thấy khách đến, lập tức khom lưng cúi chào, tươi cười đón tiếp, đồng thời kiểm tra thiếp mời và lễ vật, lớn tiếng thông báo: “Mã Không đại nhân hai mươi lượng vàng, một cặp ngọc bích trắng. Quan lệnh Hoàng Trì một viên dạ minh châu. Ngự sử đại nhân một chuỗi trân châu, một đôi vòng mã não. Thái sử đại nhân một con kỳ lân ngọc xanh. Quan lệnh Nghiệp Thành năm mươi lượng vàng…”

Phía sau cổng phủ bày hai chiếc bàn sơn đen, sau bàn là hai viên chủ bạ, tai nghe tiếng hô, tay viết liến thoắng lên các thẻ tre. Vì người đến chúc mừng quá nhiều, nên họ ghi chép lia lịa không ngơi tay lấy một chốc, mồ hôi rịn đầy trán cũng không lau kịp.

Thuần Vu Khôn nghênh ngang giơ chân định bước qua, lập tức bị môn nhân đứng ngoài cùng chặn lại.

Môn nhân khẽ cúi chào, cất giọng lịch thiệp: “Lão trượng xin dừng bước!”

Thuần Vu Khôn trợn tròn hai mắt, nhìn đối phương với vẻ bất bình: “Dừng bước? Dừng bước làm sao uống được rượu mừng?”

Môn nhân lại cười, lấy ra một xu tiền đồng từ trong tay áo đưa cho ông ta: “Phía trước có một quán trọ, lão trượng hãy nhận lấy chút tiền này, nếu muốn uống rượu, hãy tới đó uống.”

Thuần Vu Khôn nhận lấy đồng tiền, lật qua lật lại ngắm nghía hồi lâu, rồi cười nhạt mà nói: “Đúng là mắt chó không biết nhìn người, lão hủ đây muốn uống rượu hỷ, ngươi lại lấy cái này để đuổi ta đi, coi ta là ăn mày ư?” Rồi tiện tay ném luôn đồng xu xuống nền gạch cách đó hơn trượng, kêu lên loảng xoảng.

Thuần Vu Khôn điên điên khùng khùng, cứ thế chửi mắng môn nhân sa sả. Một đám đông nhanh chóng xúm xít lại xem. Mấy vị khách đang đi ở trước sau đều dừng bước, hiếu kỳ đứng nhìn.

Vì là ngày đại hỷ, nên môn nhân tuy bị chửi mắng nhưng vẫn không dám nói gì. Đám nô bộc thấy vậy liền xúm cả lại, tròn mắt nhìn Thuần Vu Khôn từ đầu đến chân, cho rằng ông ta là hạng ăn mày đến gây sự, một môn nhân lập tức sầm mặt, cất giọng nhạt nhẽo: “Lão trượng nếu đến uống rượu mừng, xin hỏi có thiếp mời chăng?”

Thuần Vu Khôn lừ mắt nhìn hắn: “Lão hủ từ xa ngàn dặm đến chúc mừng, lấy đâu ra thiếp mời?”

Môn nhân hơi vòng tay: “Vũ An Quân có lệnh, bất kể người nào, nếu không có thiếp mời, không được phép vào trong. Lão trượng đã không có thiếp mời, vậy xin hãy đi cho, để tránh gây chuyện khó xử.”

Thuần Vu Khôn ngửa cổ lên trời cười lớn: “Khó xử? Ta đi khắp nam bắc đông tây, có chuyện quái lạ nào chưa từng gặp? Chỉ có điều vẫn chưa biết thế nào là chuyện khó xử, hôm nay may mắn được mở rộng tầm mắt rồi!”

Nghe ông ta nói vậy, đám nô bộc nhất thời không biết phải làm gì, chỉ đứng sững tại chỗ, tay chân luống cuống. Đã có người nhanh chân báo cho quản gia Bàng Thông. Bàng Thông vội chạy đến, nhìn Thuần Vu Khôn một lượt, thấy ông ta khí trầm tâm định, đoán chắc không phải hạng tầm thường, liền bước lại, vái mà nói: “Vãn sinh Bàng Thông xin chào tiên sinh. Xin hỏi tôn tính đại danh của tiên sinh?”

Thuần Vu Khôn cũng nhìn Bàng Thông một lượt, đôi mày khẽ nhướng lên: “Này tiểu tử, lão hủ là ai không quan trọng. Hôm nay là ngày đại hỷ của Vũ An Quân, ta vốn muốn đến đây để xin chén rượu mừng, nhưng lại bị tên gác cổng chặn lại, mất hết cả hứng thú, thực đáng giận!”

Bàng Thông mỉm cười nói: “Bọn chúng có mắt không tròng, tiên sinh là người đại lượng, xin hãy bỏ quá cho. Có chỗ nào đắc tội, vãn sinh xin được nhận lỗi với tiên sinh, mong tiên sinh đừng chấp đám hạ nhân!”

“Ừm!” Thuần Vu Khôn khẽ gật đầu. “Ngươi tuổi còn trẻ, nhưng cái miệng kể cũng khéo ăn khéo nói. Nể mặt ngươi, ta tạm không tính toán với đám người kia. Còn về rượu mừng, lão hủ cũng chẳng còn hứng thú uống nữa. Tuy nhiên, ta có một câu, ngươi hãy nhắn lại với Vũ An Quân!”

Bàng Thông mỉm cười hỏi: “Tiên sinh có gì chỉ giáo, vãn sinh nhất định sẽ nói lại!”

“Không! Không! Không!” Thuần Vu Khôn liên tiếp xua tay. “Lời này không liên quan gì đến ta. Trước đây không lâu, khi ta đến cửa Túc Tư có gặp kẻ thù của Vũ An Quân, là người này nhờ ta chuyển lời.”

“Kẻ thù? Xin hỏi tiên sinh, đó là người nào?”

“Trần Chẩn!”

“Trần Chẩn?” Bàng Thông chau mày, vội hỏi. “Hắn nói gì?”

Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu trọc: “Người này nói: ‘Sớm tối nếu có hắt hơi, tức Trần Chẩn đang nhớ đến ngươi’!”

Nói xong, Thuần Vu Khôn lập tức quay người, lắc lư cái đầu, sải bước đi ngay. Bàng Thông đứng ngẩn ra một lúc, dường như sực nhớ ra điều gì, liền đuổi theo gọi: “Tiên sinh, xin dừng bước!”

Thuần Vu Khôn lập tức dừng bước, quay người lại hỏi: “Tiểu tử, ngươi còn có chuyện gì?”

Bàng Thông vòng tay nói: “Xin hỏi, phải xưng hô với tiên sinh thế nào?”

Thuần Vu Khôn mỉm cười: “Ngươi hãy nói với Vũ An Quân, lão hủ là bạn của bạn hắn!” Dừng lại một chút, lại đưa tay chỉ vào cái đầu trọc. “Ngươi có thể bảo hắn cái này!”

Đêm đó, sao Trường Canh lơ lửng phía trời tây, mặt trăng nhô lên ở đằng đông, tân khách vãn dần, đã đến thời khắc động phòng hoa chúc. Bàng Quyên đã uống say mèm, được Bạch Hổ, Bàng Thông mỗi người đỡ một bên tay, lảo đảo dìu vào tân phòng.

Bạch Hổ dìu Bàng Quyên ngồi xuống chiếu, vái mà nói: “Ân công ngủ ngon, Bạch Hổ cáo lui!”

Bạch Hổ định đi, Bàng Quyên liền đưa tay níu lấy vạt áo Bạch Hổ: “Bạch… Bạch huynh đệ, đừng… đừng đi.”

“Ân công có gì dặn dò?”

Bàng Quyên xịu mặt, miệng phì ra hơi rượu nồng nặc, quát lớn: “Ân công cái gì? Bàng Quyên ta trên đời này chỉ có hai người thân, một người là Bạch huynh đệ, người còn lại là…” đưa tay chỉ vào Bàng Thông, “… là Bàng đệ!” Dừng lại một lát, lại nói với Bạch Hổ. “Bạch huynh đệ, từ nay trở đi, giữa chúng ta không còn ân công gì nữa, chỉ có huynh đệ. Cậu là tiểu đệ của ta, ta là đại ca của cậu!” Rồi quay sang Bàng Thông. “Còn đây nữa, cả hai đều là tiểu đệ của ta, một người là em họ, một người là em kết nghĩa. Em họ, em kết nghĩa, đều là người thân của Bàng Quyên, phủ Vũ An Quân chính là nhà của hai vị tiểu đệ. Bàng Thông thì không nói làm gì, Bạch Hổ huynh đệ lúc nào muốn đến cứ việc đến, muốn đi cứ việc đi, không cần câu nệ. Đại ca nếu có việc gì khổ tâm, sẽ đến tìm hai người đầu tiên. Đại ca nếu có việc gì vui vẻ, cũng sẽ cùng hưởng với hai người!”

Bạch Hổ, Bàng Thông nghe thấy vậy, vội vàng quỳ xuống, xúc động mà gọi: “Đại ca…”

Bàng Quyên mỗi tay đỡ lấy một người: “Nhìn kìa, đều là nam nhi, sao lại mềm yếu thế? Lại đây, hôm nay đại ca rất vui, sẽ cùng chia sẻ với hai đệ!” Rồi quay sang nữ tỳ. “Mang rượu tới đây, ba huynh đệ chúng ta lại uống một vò!”

Bạch Hổ đưa mắt ra hiệu với Bàng Thông, lại vòng tay vái mà nói: “Đại ca, ngày tháng còn dài, bình rượu ngon này, đợi đến mai hãy uống. Hôm nay là đêm vui của đại ca, trăng thanh gió mát, bọn tiểu đệ không làm phiền nữa!”

Bàng Thông cũng nói: “Đại ca, đêm đã khuya rồi, tẩu tẩu đang đợi đại ca trong động phòng!”

Nghe nhắc đến phu nhân, Bàng Quyên gật đầu nói: “Được, hai đệ đã nói như vậy, rượu này để mai hãy uống!”

Hai người lại vái chào, rồi quay người lui đi. Bàng Quyên đứng dậy, lảo đảo tiễn mấy bước, song lại được Bạch Hổ, Bàng Thông đỡ vào, ấn ngồi trở xuống, rồi mới lui ra. Đúng vào lúc này, dường như Bàng Quyên sực nhớ ra điều gì, bèn ngẩng lên gọi: “Này tiểu đệ, nghe nói lúc trưa có người đến sinh sự, có chuyện này không?”

Đây là thời khắc tốt đẹp, Bàng Thông sao dám nói ra sự thật, bèn ấp a ấp úng: “Ồ, không… không có gì, chẳng qua là một lão già đầu trọc. Đại ca ngủ ngon, tiểu đệ cáo từ.”

Bàng Thông quay người định đi, Bàng Quyên lại gọi giật: “Khoan!” Rồi vò đầu bứt tai một lúc, quay sang Bạch Hổ, nửa như tự nhủ, lại nửa như đang hỏi. “Lão già đầu trọc? Là ai được nhỉ?”

Bạch Hổ quay sang hỏi Bàng Thông: “Người này phải chăng khoảng hơn năm mươi tuổi, dáng người cao lớn, mặt vuông, sống mũi cao?”

Bàng Thông gật đầu: “Đúng thế! Mặc quần áo ăn mày, đến cửa muốn xin rượu mừng.”

Bạch Hổ quay sang Bàng Quyên, cười nói: “Tiểu đệ biết người này, họ Thuần Vu, tên Khôn, là du sĩ hoạt kê nổi tiếng trong liệt quốc, nhiều năm trước từng được mời làm tiên sinh ở Tắc Hạ. Những việc thế này, chỉ có ông ta mới có thể làm ra.”

Bàng Quyên cười nói: “Nếu là người này, đại ca cũng đã từng nghe qua. Mấy năm trước ông ta thay mặt Yên Công cầu hôn công chúa, từng đánh bại gian tặc Trần Chẩn ở Lạc Dương! Đây là cao nhân, đợi mấy ngày nữa Bạch huynh đệ hãy mời ông ta đến phủ, đại ca sẽ mở tiệc chiêu đãi.”

Bạch Hổ vâng lời, cùng với Bàng Thông lại một lần nữa cáo từ. Bàng Quyên cũng trở về phòng. Hai nữ tỳ tiến lại, giúp Bàng Quyên cởi bỏ y phục tân lang, thay bằng áo ngủ mỏng. Có lẽ do hơi rượu, Bàng Quyên cảm thấy trong ngực nóng rần, liền bảo nữ tỳ mở toang cửa sổ ra.

Đêm mùa thu se lạnh, Bàng Quyên chỉ mặc bộ quần áo mỏng, bất đồ bị cơn gió lạnh thổi thốc vào, rùng mình một cái, rồi hắt hơi một tiếng rất vang.

Bàng Thông đã đi được hơn mười bước, nghe thấy tiếng hắt hơi vọng đến, trong lòng bỗng nhiên ớn lạnh.

Ba ngày sau lễ thành hôn, Bàng Quyên gọi Bàng Thông đến, kiểm kê kỹ lưỡng những lễ vật được mừng, tổng cộng một ngàn hai trăm lượng vàng, cùng vô số ngọc ngà châu báu. Bàng Quyên sai Bàng Thông mang toàn bộ số đồ ngọc đi bán, lại thu được hơn nghìn lượng vàng. Bàng Quyên giao hai trăm lượng cho Bàng Thông để chi tiêu hàng ngày, số còn lại giao hết cho Lý Thanh mua quân lương.

Bàng Quyên tranh thủ dịp hôn lễ mà phát thiếp mời rộng rãi, thu nhận lượng lớn lễ vật, nên trong triều ngoài nội sớm đã dị nghị xôn xao. Song đến khi mọi người biết được toàn bộ số tiền mừng đều được dùng để mua quân lương, khắp trong ngoài lại một phen chấn động. Hôm nay, sau khi bãi triều, Ngụy Huệ Vương cố tình giữ Huệ Thi lại, mời ông ta đến hậu hoa viên, ngồi đối diện với ông ta dưới ngôi đình hóng mát mà Huệ Vương thích nhất.

Ngụy Huệ Vương đã vui mừng đến cười không khép nổi miệng, lúc này lại cười ha hả mấy tiếng, rồi cảm thán rằng: “Huệ ái khanh, nghe nói Bàng ái khanh dùng tất cả số lễ vật thu được trong hôn lễ để mua quân nhu, quả nhân cảm thấy rất vui lòng, thực chẳng biết nói gì thêm nữa! Không giấu ái khanh, lần trước quả nhân thưởng cho Bàng ái khanh năm trăm lượng vàng, hắn đã dùng toàn bộ để mua quân nhu, lúc đó quả nhân còn cảm thấy hoài nghi, cho rằng hắn chỉ giả bộ để lấy lòng. Nhưng bây giờ nhìn lại, đúng là Bàng ái khanh thực lòng yêu quân, quả nhân đã hiểu lầm Bàng ái khanh rồi.”

Huệ Thi gật đầu nói: “Vũ An Quân trị quân có phương pháp, một lòng vì nước, đúng là một vị tướng đại tài. Hiện giờ quốc khố trống rỗng, lòng dân chưa định, quân nhu lại là việc hết sức trọng đại, nếu chỉ dựa vào sức của một mình Vũ An Quân, cũng chẳng phải kế lâu dài.”

Ngụy Huệ Vương nghiêm nét mặt, liên tiếp gật đầu: “Ái khanh nói rất đúng. Quả nhân giữ khanh lại, cũng chính là vì chuyện này. Quả nhân hỏi khanh, có kế sách lâu dài hay chăng?”

“Kế sách lâu dài nằm ở nông tang, nhưng phát triển nông tang lại không thể trong một sớm một chiều. Năm nay gặp thiên tai, dân chúng chẳng có dư, quốc khố không tích luỹ, vi thần cho rằng kế sách tạm thời là khích lệ cả nước tiết kiệm, khuyến khích những nhà giàu có học theo Vũ An Quân, có tiền góp tiền, có lương góp lương, cả nước đồng lòng, cùng vượt qua quốc nạn.”

“Kế của ái khanh hay lắm!” Ngụy Huệ Vương gật đầu nói. “Việc tiết kiệm, hãy bắt đầu thực hiện từ quả nhân. Kể từ ngày mai, quả nhân mỗi ngày giảm một bữa ăn, mỗi bữa chỉ ăn một mặn một nhạt. Vương hậu và tất cả các phi tần cũng phải làm theo quả nhân, tiền chi tiêu hàng tháng cắt giảm một nửa.”

Huệ Thi đứng dậy khấu đầu nói: “Bệ hạ làm gương, thần dân ắt sẽ noi theo, chắc chắn sẽ vượt qua hoạn nạn!”

“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài một tiếng. “Nhớ lại những ngày tháng trước đây, quả nhân giống như đang nằm mơ vậy. Từ khi có được ái khanh, quả nhân cũng được sáng mắt ra nhiều, không còn hồ đồ nữa. Ái khanh có phép trị quốc, nhưng không thể trị quân, quả nhân vì chuyện này mà ngày đêm ăn ngủ không yên. Quả là trời đã giúp quả nhân, đúng vào lúc đó thì Bàng ái khanh gỡ bảng đầu quân, giúp quả nhân được như ý nguyện, có được các hiền thần trong thiên hạ. Quả nhân tuy đã có được Bàng ái khanh, nhưng trong lòng vẫn thấy bất an, lần này Huệ ái khanh làm mối thành công, cuối cùng quả nhân cũng đã trút bỏ được lo lắng, kê cao gối ngủ ngon rồi!”

Huệ Thi đang định lên tiếng, thì tỳ nhân đã đi vào, khấu đầu nói: “Khởi bẩm bệ hạ, du sĩ Thuần Vu Khôn đang ở ngoài cung cầu kiến!”

Ngụy Huệ Vương ngạc nhiên, ngẩng lên hỏi: “Thuần Vu Khôn? Chẳng phải lão già xảo quyệt này đang ở bên cạnh Yên Công hay sao? Chuyển lời cho ông ta, nói quả nhân đang bận việc, ngày mai yết kiến.”

“Lão nô tuân chỉ!”

Huệ Thi giơ tay ngăn lại, rồi đưa mắt nhìn Huệ Vương: “Bệ hạ, theo vi thần được biết, Thuần Vu Tử năm ngoái đã rời khỏi nước Yên, chu du tới Hàm Đan. Lần này đến đây, chắc hẳn là được Triệu Hầu nhờ vả, đến để giảng hòa.”

Ngụy Huệ Vương biến ngay sắc mặt, giận dữ nói: “Hừm, tên Triệu Ngữ kia, quả nhân thường ngày đối với hắn không bạc, nhưng hắn lại không biết điều, ngoài mặt thì vâng vâng dạ dạ, đến thời khắc hệ trọng lại giở trò hiểm độc. Quả nhân đánh Vệ, hắn liên kết với Tề, Hàn, cùng đối địch với quả nhân. Tần, Tề đến tấn công, hắn lại mượn gió bẻ măng, đánh vào Triều Ca. Giờ đã bại trận, còn muốn đến cầu hoà. Trên đời làm gì có chuyện dễ dàng như thế?”

“Bệ hạ bớt giận, xin hãy nghe vi thần nói một câu!”

“Ái khanh cứ nói!”

“Bệ hạ, những việc trên đều không thể trách Triệu Hầu. Theo vi thần được biết, quyền lực ở nước Triệu hoàn toàn nằm trong tay Phụng Dương Quân Triệu Thành, Triệu Thành và người Tần liên minh khăng khít, lần này xâm phạm Triều Ca, chắc chắn là chủ ý của một mình Phụng Dương Quân! Vi thần khẩn cầu bệ hạ minh xét.”

Ngụy Huệ Vương ngẫm nghĩ một lúc, rồi quay sang tỳ nhân: “Truyền Thuần Vu Khôn vào thư phòng yết kiến!”

Huệ Thi khấu đầu: “Vi thần cáo lui!”

Tiễn Huệ Thi xong, Ngụy Huệ Vương đi tới thư phòng cách đó không xa, vừa ngồi xuống, bất chợt nghĩ lại, cảm thấy có điều không ổn, liền đứng dậy đi tới trước gương đồng, chỉnh trang mũ áo, lại đi ra khỏi cửa, đứng trên bậc thềm, ngẩng đầu nhìn về lối đi phía trước. Một lúc sau, thấy tỳ nhân dẫn Thuần Vu Khôn băng qua một vạt cây rậm rạp, tiến thẳng đến.

Nhìn thấy cái đầu trọc lóc của Thuần Vu Khôn, Ngụy Huệ Vương bỗng thấy vui vẻ, bật cười ha hả rồi bước xuống bậc thềm. Thuần Vu Khôn thấy Huệ Vương xuống thềm nghênh đón, vội vàng dừng bước, quỳ xuống bái lạy: “Thảo dân Thuần Vu Khôn khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương vội bước lên trước, đỡ ông ta dậy: “Thuần Vu Tử hãy bình thân!”

Thuần Vu Khôn vòng tay vái tạ: “Thảo dân thấp hèn, bệ hạ cớ sao phải ra ngoài nghênh đón?”

Ngụy Huệ Vương vòng tay đáp lễ: “Từ lâu quả nhân đã được nghe đại danh của Thuần Vu Tử. Nay Thuần Vu Tử đến thăm, quả nhân hay tin chậm trễ, do vội vã nên không thể đón tiếp từ xa, mong Thuần Vu Tử đừng để bụng! Thuần Vu Tử, mời!”

“Bệ hạ, mời!”

Ngụy Huệ Vương không chút đắn đo, lập tức bước tới dắt tay Thuần Vu Khôn, hai người cùng nhau bước lên bậc thềm, đi vào thư phòng, chia ngôi quân thần ngồi xuống. Tỳ nhân rót trà xong liền lui ra.

Ngụy Huệ Vương chìa tay nói: “Thuần Vu pTử, mời dùng trà!”

Thuần Vu Khôn bưng chén trà lên nhấp một ngụm, kinh ngạc thốt lên: “Xin hỏi bệ hạ, đây là trà gì?”

Ngụy Huệ Vương cũng nhấp một ngụm, rồi chậm rãi nói: “Trà này được trồng ở vách Đoạn Trường trên núi Vương Ốc, hàng năm cứ đến ngày Thanh minh, quả nhân lại phái trăm ngọc nữ đến hái trà, hé môi son ngậm lấy, gọi là trà Ngọc Nữ.”

Thuần Vu Khôn liền ghé sát mũi vào miệng chén trà, hít hà liền mấy cái, xuýt xoa khen ngợi: “Trà thơm tho đẹp đẽ đến vậy, mà thảo dân uống ừng ực như trâu, thực là lãng phí của trời!”

Ngụy Huệ Vương phá lên cười: “Tuấn mã sánh với yên vàng, danh sĩ phải uống trà thơm. Thuần Vu Tử là danh sĩ nổi tiếng thiên hạ, không phải trà này, thật không tương xứng!”

“Bệ hạ khiến thảo dân hổ thẹn rồi!”

Ngụy Huệ Vương đi thẳng vào chuyện: “Nghe nói Thuần Vu Tử học vấn uyên thâm, kiến thức hơn người, mấy năm nay chu du khắp liệt quốc, cứu khổ cứu nạn, tiếng thơm lẫy lừng thiên hạ. Lần này Thuần Vu Tử không ngại gian khổ để đến nước Ngụy, hẳn là đã được ai đó nhờ vả, để giải nạn cho người?”

Thuần Vu Khôn chậm rãi nói: “Đôi chân hèn mọn này của thảo dân, một ngày không đi đường là thấy ngứa ngáy, bởi vậy thảo dân buộc phải không ngừng chu du. Cái miệng ngu đần này của thảo dân, một ngày không nói năng là lưỡi cứng nhắc, bởi vậy thảo dân buộc phải thao thao bất tuyệt. Còn về việc có người đồn đại thảo dân cứu khổ cứu nạn, chẳng qua chỉ là lời tô vẽ, song thảo dân vì muốn nhờ đó kiếm miếng cơm ăn, nên cũng đành kệ họ nói xằng.”

Nghe Thuần Vu Khôn nói vậy, Ngụy Huệ Vương cười lớn: “Hay, hay, hay, nói hay lắm! Từ lâu đã nghe tiếng Thuần Vu Tử hài hước, là du sĩ hoạt kê, đúng là danh bất hư truyền!”

Thuần Vu Tử lại nhấp một ngụm trà, rồi ngẩng lên nói: “Là thảo dân ăn nói tùy tiện, đã khiến bệ hạ cười chê!”

Ngụy Huệ Vương cười nói: “Ăn nói tuỳ tiện cũng tốt! Bên tai quả nhân không thiếu những lời vâng dạ, thứ còn thiếu chính là cách ăn nói tuỳ tiện của tiên sinh. Thuần Vu Tử, tiên sinh vẫn chưa trả lời câu hỏi của quả nhân. Lần này đến Ngụy, chắc hẳn đã được người ta nhờ vả, để giải nạn cho người?”

Thuần Vu Khôn lắc đầu quầy quậy: “Thiên hạ hiện nay không có chiến sự, triều đình các nước đều yến múa oanh ca, làm gì có ai gặp nạn? Có điều, lần này thảo dân đến đây, quả thực là do người khác nhờ vả.”

“Ồ, là người nào đã nhờ vả Thuần Vu Tử?”

“Triệu Hầu!”

“Quả nhân đã sớm đoán ra điều này!” Ngụy Huệ Vương đắc ý, sắc mặt rạng rỡ hẳn lên. “Nói đi, đã không phải đến để cầu xin, thì Triệu Ngữ có chuyện gì muốn nhờ Thuần Vu Tử?”

“Triệu Hầu cảm kích đại ân của bệ hạ, nên nhờ thảo dân đến đa tạ!”

“Đa tạ?” Ngụy Huệ Vương kinh ngạc. “Quả nhân đánh bại ông ta ở Triều Ca, chém gần vạn quân, bắt sống hàng ngàn tướng sĩ, ông ta không báo thù thì thôi, có sao lại còn đa tạ?”

“Đúng! Đúng! Đúng!” Thuần Vu Khôn gật đầu lia lịa. “Triệu Hầu chính vì việc này mà cảm tạ. Than ôi, bệ hạ có điều không biết, lúc đầu Phụng Dương Quân xin ý chỉ xuất binh, Triệu Hầu vốn không đồng ý, nhưng Phụng Dương Quân khăng khăng cố chấp, thao túng triều đình, Triệu Hầu không biết làm sao, nên mới miễn cưỡng đồng ý. Bệ hạ đánh bại Phụng Dương Quân ở Triều Ca, suýt chút nữa thì bắt sống hắn. Phụng Dương Quân mặt mày lem luốc, chạy bán sống bán chết về đến Hàm Đan, suốt mấy ngày trời không dám ló mặt lên triều, Triệu Hầu trong lòng vô cùng hỉ hả, nhưng không dám lộ ra, nên đành phải nhờ thảo dân đến đa tạ bệ hạ.”

Ngụy Huệ Vương nghe nói vậy thì cười lớn: “Tốt lắm, là quả nhân đã hiểu lầm Triệu Ngữ rồi. Khi nào Thuần Vu Tử trở về hãy nói lại với Triệu Hầu, rằng quả nhân đồng ý xoá bỏ nợ cũ, mấy nghìn tàn binh bại tướng của ông ta, cũng phiền Thuần Vu Tử dẫn về luôn thể!”

Thuần Vu Tử lập tức đứng dậy, hành đại lễ ba lạy: “Thảo dân thay mặt cho vợ con của đám tù binh người Triệu, đa tạ đại ơn của bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương chỉnh trang áo mũ: “Được rồi, quả nhân xin nhận lễ này. Thuần Vu Tử mau đứng dậy, quả nhân còn có chuyện lớn muốn được thỉnh giáo.”

Thuần Vu Khôn bái xong đứng dậy, trở lại chỗ ngồi, vòng tay nói: “Bệ hạ có việc lớn gì, xin cứ nói với thảo dân, thảo dân nếu biết sẽ không dám giấu.”

Ngụy Huệ Vương vòng tay đáp lễ, chỉnh áo ngồi nghiêm, chậm rãi nói: “Nước Ngụy nằm ở Trung Nguyên, tây có Tần lớn mạnh, đông có Tề giàu có, bắc có Triệu hung hãn, nam có Sở man rợ, lại có Hàn, Yên, Trung Sơn, Vệ, Tống vây quanh, tình thế rất nguy nan. Từ khi quả nhân kế vị đến nay, chưa lúc nào được ăn ngon ngủ yên, lúc nào cũng e dè run sợ như giẫm trên băng mỏng, chỉ lo có điều sơ suất, làm nhục đến liệt tổ liệt tông. Thuần Vu Tử là bậc đại hiền, hẳn có kế hay giúp Đại Ngụy ta hưng thịnh, quả nhân khẩn cầu Thuần Vu Tử chỉ giáo!”

“Chỉ giáo thì không dám. Thảo dân cho rằng, điều lo lắng của bệ hạ chẳng qua chỉ là hai chữ.”

Ngụy Huệ Vương chúi người về phía trước: “Là hai chữ gì?”

“Hiền tài!”

Ngụy Huệ Vương khẽ gật đầu: “Xin Thuần Vu Tử hãy nói rõ hơn!”

“Từ cổ chí kim, kẻ có được hiền tài sẽ có được thiên hạ. Trị nước an bang, tất cả đều dựa vào hiền tài. Ngày trước vào thời Văn Hầu, văn dùng Địch Hoàng, Ngụy Thành Tử, võ dùng Ngô Khởi, Nhạc Dương, lại bái Bốc Tử Hạ, Đoàn Can Mộc, Điền Tử Phương làm quốc sư, trên triều đường danh sĩ nườm nượp, chỉ vài năm đã đại trị, độc bá thiên hạ suốt mấy chục năm, liệt quốc không dám tranh giành.”

Nghe Thuần Vu Khôn nói những lời này, Ngụy Huệ Vương liên tiếp gật đầu: “Đúng, đúng, đúng, tiên sinh nói rất đúng! Không giấu tiên sinh, trong buổi hội vương ở Từ Châu, Điền Nhân Tề đã sỉ nhục quả nhân không có người tài, sau đó lại dẫn binh xâm phạm, cũng là vì khinh thường trong triều của quả nhân không có hiền tài. Không ngờ bên cạnh quả nhân cũng có hai người, một là Huệ Tử, một là Bàng Tử, đã khiến Điền Nhân Tề châm lửa đốt mình, tự chuốc nhục nhã. Tiên sinh chu du khắp liệt quốc, kiến văn rộng rãi, không biết hai vị ái khanh ở bên cạnh quả nhân đã được coi là hiền tài hay chưa?”

Thuần Vu Khôn cười lớn.

“Ồ?” Ngụy Huệ Vương vô cùng kinh ngạc. “Thuần Vu Tử cớ sao lại cười?”

“Thảo dân không cười hai người họ, mà là cười bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương trong lòng bực dọc, nhưng ngoài mặt vẫn mỉm cười, chỉ hơi ngả người về phía sau: “Quả nhân có chỗ nào đáng cười?”

“Bệ hạ ở lâu trong thâm cung, không biết đến sự biến đổi bên ngoài. Nếu hai người này cũng được coi là hiền tài, thì thiên hạ chẳng phải là hiền tài dư dật hay sao?”

Rõ ràng là Thuần Vu Tử có ý khinh thường hai vị đại hiền tài của Huệ Vương, Ngụy Huệ Vương lập tức thu nụ cười lại, khẽ đặng hắng một tiếng, rồi nghiêm giọng nói: “Nghe nói Thuần Vu Tử là danh sĩ nức tiếng thiên hạ, nên quả nhân mới rửa tai lắng nghe. Không ngờ Thuần Vu Tử lại chẳng có phong thái của danh sĩ, nói năng hồ đồ, làm nhục hiền thần trong triều của quả nhân, thực đáng buồn! Xin hỏi Thuần Vu Tử, trong thiên hạ có mấy người học vấn vượt qua Huệ Tử?”

Thuần Vu Khôn dõng dạc đáp: “Hồi bẩm bệ hạ, theo thảo dân được biết, trong thiên hạ, những sĩ tử hiền tài hơn Huệ Thi nhiều vô số kể. Huệ Thi nổi danh bởi cái luận danh thực, nhưng khi ông ta đến Tắc Hạ đã bị một kẻ hậu sinh tên gọi Công Tôn Long phản bác đến cứng họng. Trong học cung Tắc Hạ, có tới hàng trăm người học vấn như Công Tôn Long. Thế nhưng nhìn khắp thiên hạ, những bậc đại hiền tài lại không có mặt ở Tắc Hạ, mà ở nơi thôn dã hoang vu. Tống có Trang Chu, Trâu có Mạnh Kha, Tề có Tùy Sào Tử, ba vị này đều đầy bụng kinh luân, mỗi người đều tự lập thuyết riêng, có thể gọi là đại hiền trong thiên hạ. Ở nơi rừng sâu núi thẳm lại có ẩn sĩ, cao nhân nhiều không kể xiết. Chưa cần nói tới những người khác, chỉ tính Hàn Tuyền Tử ở núi Chung Nam, Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng, đã là những tài năng có thể xoay chuyển càn khôn, so với Huệ Thi, không biết cao hơn bao nhiêu bậc!”

Nghe Thuần Vu Khôn nói vậy, Ngụy Huệ Vương cười nhạt, thầm nghĩ: “Hừm, kẻ hiền tài trong thiên hạ, nếu luận về học vấn, đương nhiên có rất nhiều người giỏi hơn Huệ Thi. Nhưng lão hoạt kê này có điều không biết, hạng Công Tôn Long chỉ biết thao thao nói miệng, Mạnh Kha, Tùy Sào Tử mặc dù học vấn uyên thâm, chí hướng cao viễn, nhưng chỉ biết bàn luận những thứ trống rỗng, với quả nhân chẳng có gì hữu dụng. Trang Tử tiêu diêu phiêu dật, mơ mộng viển vông, nếu để dưỡng sinh còn có thể dùng, nhưng không thể trị quốc. Còn về cao nhân, ẩn sĩ, ai cũng lấy luyện tiên tu đạo làm chí hướng một đời, cho dù có tài, cũng chỉ muốn ẩn cư nơi rừng núi, không chịu giúp ta. Hiện giờ chỉ có Huệ Tử là vừa có thể giảng học vấn, lại biết nhìn nhận thời thế, khá hợp lòng ta. Thôi kệ, ta cũng chẳng nói toạc ra làm gì, xem lão trọc đầu còn có lời gì khác không?” Nghĩ đến đây, lại ngẩng đầu hỏi tiếp: “Trong thiên hạ, kẻ thiện chiến hơn Bàng Quyên có những ai?”

Thuần Vu Khôn lại phá lên cười một tràng dài, rồi hơi ngả người về phía trước: “Thảo dân xin hỏi bệ hạ, Bàng Quyên theo học thầy nào?”

“Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng!”

“Bệ hạ có biết bên cạnh Quỷ Cốc Tử có bao nhiêu đệ tử không?”

Đây là điều mà Ngụy Huệ Vương chưa từng nghĩ đến, liền lắc đầu: “Quả nhân không biết!”

“Vậy thì đúng rồi!” Thuần Vu Khôn cười nói. “Kẻ khác không nói, chỉ tính riêng người tu học binh pháp, đã không chỉ có Bàng Quyên. Theo thảo dân được biết, Bàng Quyên theo học Quỷ Cốc Tử chỉ có ba năm, những điều học được chẳng qua chỉ là một chút lông da mà thôi!”

Ngụy Huệ Vương hít ngược một hơi dài: “Nghe Thuần Vu Tử nói vậy, lẽ nào trong núi Vân Mộng còn có người hơn được Bàng Quyên?”

“Đương nhiên! Kẻ khác không nói, hiện giờ cháu sáu đời của thiên hạ binh thánh Tôn Vũ Tử là Tôn Tân cũng đang ở trong núi, cùng tu học binh pháp với Bàng Quyên. Theo thảo dân được biết, chỉ có Tôn Tân là được Quỷ Cốc Tử truyền cho tuyệt học, mới là nhân tài có thể đánh bại nghìn quân.”

Ngụy Huệ Vương vòng tay vái Thuần Vu Khôn: “Nghe tiên sinh nói vậy, Ngụy Anh như được đại khai nhãn giới. Ngụy Anh tầm nhìn hạn hẹp, lúc nãy đã có chỗ mạo phạm, mong tiên sinh bỏ quá cho!”

Thuần Vu Khôn vòng tay đáp lễ: “Là thảo dân đã nặng lời phạm thượng, bệ hạ không trách tội, thảo dân đã cảm kích lắm rồi!”

“Tiên sinh là bậc đại hiền. Nếu tiên sinh không chê, Ngụy Anh sẽ bái tiên sinh làm quốc sư, sớm tối nghe tiên sinh chỉ giáo!”

“Thảo dân thân ti tiện, chỉ thích rong chơi, không quen làm quan, mong bệ hạ thành toàn!”

Ngụy Huệ Vương ngẫm nghĩ một lát, rồi cao giọng gọi: “Người đâu!”

Tỳ nhân đi vào: “Có lão nô!”

“Thưởng cho Thuần Vu Tử một trăm lượng vàng, hai mươi súc gấm, một cỗ xe ngựa.”

Thuần Vu Khôn đứng dậy bái lạy: “Thảo dân đa tạ bệ hạ ban thưởng!”

Từ khi Thuần Vu Khôn đến, Ngụy Huệ Vương tựa như trở thành một người khác, suốt mấy ngày liền không ăn không uống, cũng chẳng thèm lên triều.

Trong ngự thiện phòng, trên bàn ăn chỉ bày hai món một mặn một chay, là hai món tỳ nhân sau khi truyền chỉ tiết kiệm đã đặc biệt căn dặn đầu bếp chế biến. Một mặn là chân gấu, tim báo, làm thành một đĩa; một chay là các loại nấm rừng quý hiếm, cũng làm thành một đĩa.

Ngụy Huệ Vương ngồi ngay ngắn trước bàn, tay cầm đũa, gắp một miếng chân gấu đưa vào miệng, nhai mấy miếng, lập tức nhả ra. Lại gắp một miếng tim báo, đặt bên môi, nhưng không ăn, cũng không bỏ đi, mà cứ ngồi thần ra, trong đầu vẫn như văng vẳng lời nói của Thuần Vu Khôn: “Theo thảo dân được biết, chỉ có Tôn Tân là được Quỷ Cốc Tử truyền cho tuyệt học, mới là nhân tài có thể đánh bại nghìn quân.”

Ngụy Huệ Vương lẩm bẩm: “Thuần Vu Tử nổi danh liệt quốc, lời nói ra hẳn không phải giả, chắc chắn Tôn Tân có tài hơn Bàng Quyên. Ta có Bàng Quyên đã là thiên hạ vô địch, nếu lại có được Tôn Tân…”

Nghĩ đến đây, Ngụy Huệ Vương ném luôn đôi đũa xuống đất, khiến mấy cung nhân đứng hầu bên cạnh giật mình kinh sợ, vội quỳ mọp cả xuống, mặt hoa biến sắc, tay chân run rẩy.

Tỳ nhân cũng đoán được nguồn cơn, liền bước lại gần, khẽ hỏi: “Bệ hạ có gì sai bảo?”

“Triệu Vũ An Quân!”

“Lão nô lĩnh chỉ!”

Trương Mãnh chọn từ trong ba quân được ba nghìn lính hổ bôn, trình danh sách lên cho Bàng Quyên. Bàng Quyên đang đọc, bỗng có người do tỳ nhân phái đến triệu vào cung. Bàng Quyên thấy cung nhân giục giã rất gấp, không biết đã xảy ra chuyện gì, cũng vội vàng đi ngay. Tỳ nhân đang đứng đợi ngoài cửa, thấy Bàng Quyên đến, vội chạy ra đón, vòng tay vái: “Tại hạ xin chào Vũ An Quân!”

Bàng Quyên hạ giọng: “Xin hỏi nội tể, muộn thế này rồi bệ hạ còn triệu kiến tại hạ, không biết là có chuyện gì?”

“Tại hạ không biết. Mời Vũ An Quân, bệ hạ đang đợi ở thư phòng!”

Bàng Quyên vội rảo bước theo tỳ nhân vào ngự thư phòng, dập đầu nói: “Nhi thần Bàng Quyên khấu kiến phụ vương!”

“Hiền tế bình thân!”

“Tạ ơn phụ vương!”

Thấy Ngụy Huệ Vương thái độ hiền hoà, lời nói thân mật, Bàng Quyên cũng cảm thấy yên tâm phần nào, liền đứng dậy ngồi xuống chiếu, ngẩng đầu hỏi: “Phụ vương triệu nhi thần đến gấp, không biết có việc gì?”

“Nghe nói hậu duệ của Tôn Vũ Tử là Tôn Tân cùng theo học Quỷ Cốc Tử với ái khanh, có việc này chăng?”

Bàng Quyên hoàn toàn không thể ngờ Ngụy Huệ Vương lại hỏi về việc này, sững sờ mất một thoáng, mới gật đầu nói: “Khởi bẩm phụ vương. Tôn Tân và nhi thần vào cốc một ngày, cùng theo Quỷ Cốc Tử tiên sinh tu học binh pháp.”

Im lặng một lúc, Ngụy Huệ Vương lại hỏi: “Ái khanh xuống núi, tại sao Tôn Tân vẫn còn ở trong cốc?”

Bàng Quyên trong lòng lại giật thột, đảo mắt một vòng, rồi đáp: “Tôn Tân lớn tuổi hơn nhi thần, mặc dù chịu khó, nhưng trí nhớ không tốt, về nghiệp học có kém hơn nhi thần một bậc. Cùng là một cuốn sách, nhi thần chỉ cần đọc ba lần là nhớ, nhưng Tôn Tân lại phải đọc tới mười lần. Bởi vậy, tiên sinh cho phép nhi thần xuống núi, còn giữ lại Tôn Tân trong cốc.”

Lời của Bàng Quyên khác hẳn với Thuần Vu Khôn. Ngụy Huệ Vương khẽ chau mày, im lặng một lúc, rồi hỏi thẳng: “Nhưng quả nhân lại nghe nói, Tôn Tân đã có được tuyệt học của Quỷ Cốc Tử, là nhân tài có thể đánh bại nghìn quân!”

Bàng Quyên tim gan thắt lại, nhưng chớp mắt một cái, đã điềm tĩnh trả lời: “Kẻ sĩ từ biệt ba ngày, đã phải nhìn bằng con mắt khác. Nhi thần xuống núi đã tròn một năm, Tôn Tân có tiến bộ thần tốc hay không, nhi thần thực tình không biết.”

Ngụy Huệ Vương sắc mặt cũng hơi giãn ra, gật đầu nói: “Phải, ái khanh nói rất đúng!” Dừng lại một lúc, lại ngẩng nhìn Bàng Quyên. “Quả nhân muốn có được Tôn Tân, ý ái khanh thế nào?”

“Nhi thần và Tôn Tân đã kết nghĩa kim lan, tình như thủ túc. Khi nhi thần xuống núi, đã từng hẹn ước với Tôn Tân, nếu nhi thần thành công, nhất định sẽ đến mời Tôn Tân xuống núi, cùng phò tá bệ hạ.”

Ngụy Huệ Vương mặt mày hớn hở, vội hỏi: “Đã nói như vậy, tại sao ái khanh không bẩm tấu?”

Bàng Quyên chậm rãi nói: “Nhi thần đến nay vẫn chưa bẩm tấu là có hai nguyên nhân. Một là nhi thần vừa mới nhiệm chức, nếu đã vội vàng tiến cử, e rằng sẽ bị người ta dị nghị nhi thần cấu kết bè đảng. Hai là Tôn Tân vốn là người Tề, gia miếu vẫn ở đất Tề. Khi vào Quỷ Cốc, Tôn Tân từng nhiều lần nói với nhi thần, khi nào học nghệ thành tài sẽ trở về nước Tề. Ngày nay Tề, Ngụy đối địch, nhi thần lo lắng Tôn Tân thân ở nước Ngụy, nhưng lòng lại nhớ về Tề, không có lợi cho đất nước…” Vốn dĩ định nói nhà họ Tôn và nước Ngụy có mối huyết thù, nhưng lời vừa ra đến miệng lại vội vàng nuốt xuống. “Vì vậy, nhi thần chưa dám bẩm tấu.”

“Ừm!” Ngụy Huệ Vương gật đầu. “Ái khanh lo lắng rất phải. Có điều… nước đang lúc phải dùng đến hiền tài, nếu như Tôn Tân có thể giúp ái khanh một tay, đó chính là điều may mắn cho đất nước. Còn về việc Tôn Tân lòng nhớ nước Tề, đó cũng là chuyện thường tình. Kẻ sĩ chết vì người tri kỷ, con gái làm dáng vì kẻ yêu mình. Nếu như Tôn Tân đến, quả nhân sẽ thành tâm đối đãi, chắc chắn hắn sẽ không phụ lòng quả nhân.”

“Tấm lòng khoan dung chiêu hiền của phụ vương, nhi thần kính phục vô cùng. Ngày mai nhi thần sẽ rời Đại Lương, đến Quỷ Cốc mời Tôn Tân cùng mưu đại nghiệp!”

Huệ Vương trầm ngâm một lúc, rồi lắc đầu nói: “Hiện giờ quốc sự bận rộn, trong triều không thể một ngày không có ái khanh. Hơn nữa, ái khanh và Liên Nhi mới thành hôn, còn rất nhiều lễ tục không thể vắng mặt, trước mắt không nên đi xa. Thế này vậy, ái khanh hãy viết một bức thư, quả nhân sẽ phái Thân Nhi đến Quỷ Cốc, một là mời Tôn Tân, hai là thay mặt quả nhân đa tạ Quỷ Cốc tiên sinh! Tiên sinh đã giúp quả nhân dạy dỗ hai vị hiền tài, quả nhân sẽ dùng lễ quốc sư đối đãi.”

Bàng Quyên đứng dậy bái lạy: “Nhi thần thay mặt ân sư Quỷ Cốc tiên sinh và sư huynh Tôn Tân khấu tạ ân điển của phụ vương!”

Ngụy Vương xua tay, cười lớn mà nói: “Đi đi! Nếu có rảnh, hãy bảo Liên Nhi trở về cung thăm quả nhân. Mấy ngày không gặp, quả nhân thấy rất nhớ nó!”

Bàng Quyên lại bái lạy: “Nhi thần thay mặt nội tử khấu tạ phụ vương!”

Bàng Quyên cáo từ Huệ Vương, trở về trong phủ, cũng không ăn không uống như Ngụy Vương, chỉ ngồi một mình trong thư phòng suy nghĩ rất lung, càng nghĩ càng cảm thấy buồn bực, liền đứng dậy đi đi lại lại trong phòng, lẩm bẩm một mình: “Đúng là có khuất tất gì đây! Việc Quỷ Cốc Tử chọn đệ tử truyền nghề, trong thiên hạ rất ít người biết đến. Mặc dù ta có nói theo học Quỷ Cốc Tử, nhưng chưa từng nhắc đến ba người còn lại, bệ hạ sao lại biết về Tôn Tân? Chưa hết, bệ hạ không những biết, mà còn khẳng định Tôn Tân đã được Quỷ Cốc Tử truyền cho tuyệt học, là nhân tài có thể đánh bại nghìn quân. Nghe ý của bệ hạ, hẳn bệ hạ tin chắc Tôn Tân tài giỏi hơn ta. Thật quái lạ, những thứ Tôn Tân học được còn kém xa so với Bàng Quyên ta, hắn có học thêm ba năm nữa cũng chưa chắc bằng được ta. Lẽ nào tiên sinh còn có tuyệt học, sau khi ta đi đã độc truyền cho Tôn Tân …”

Bàng Quyên chìm trong suy nghĩ mải miết, hoàn toàn không nhận thấy công chúa Thụy Liên đang lặng lẽ đến gần. Công chúa đương lúc vui duyên tân hôn, quyến luyến không muốn rời phu quân nửa bước. Lúc nãy thấy Bàng Quyên bị triệu gấp, bây giờ lại thấy hắn u uất rầu rĩ, mặt ủ mày chau, cho rằng đã xảy ra chuyện lớn, bèn vội bước lại, ân cần đưa mắt nhìn Bàng Quyên, gọi: “Phu quân!”

Bàng Quyên giật nảy mình: “Phu nhân!”

Công chúa Thụy Liên đưa đôi tay ngọc khẽ đặt lên người Bàng Quyên, dịu dàng hỏi: “Phu quân cứ đi đi lại lại, lẩm bẩm một mình, có tâm sự gì, có thể nói cho thiếp biết được chăng?”

Bàng Quyên khẽ mỉm cười: “Quyên đa tạ phu nhân đã quan tâm. Thực ra cũng không có chuyện gì lớn. Lúc nãy phụ vương triệu ta vào cung, có hỏi về việc trong Quỷ Cốc, ta đã tiến cử sư huynh Tôn Tân với phụ vương. Phụ vương có lòng mến tài, muốn ta dùng lễ mời Tôn Tân xuống núi, cùng gây dựng sự nghiệp. Đây cũng là tâm nguyện của ta, trong lòng ta vô cùng cảm kích, nên mới bồi hồi như vậy.”

Nghe thấy nói vậy, Thụy Liên mới thấy yên tâm, bèn nói: “Việc vui như vậy, thật đáng chúc mừng!”

Bàng Quyên tâm trí để tận đẩu đâu, chỉ gật đầu mấy cái rồi nói hờ hững: “Đúng thế, đúng thế, là việc đáng chúc mừng, đáng chúc mừng!”

Thụy Liên cảm thấy tò mò, cứ bám riết lấy chuyện này: “Các sư huynh đệ của phu quân, chắc hẳn cũng đến một năm chưa gặp nhau rồi?”

Bàng Quyên thuận miệng đáp bừa: “Đúng thế đúng thế, đã một năm rồi!” Lời vừa ra khỏi miệng, mới sực nhớ ra người trước mặt mình là công chúa Đại Ngụy, liền khẽ thở dài một tiếng. “Than ôi, không giấu gì phu nhân, sau khi Quyên rời Quỷ Cốc, chẳng khác nào một đứa trẻ lạc đường. May mắn gặp được phụ vương và phu nhân, mới được như ngày hôm nay.”

Thụy Liên nghe thấy vậy, trong lòng cảm động, liền ngả đầu vào lòng Bàng Quyên: “Phu quân…”

Bàng Quyên lại thở dài một tiếng: “Nếu có Tôn huynh ở đây, thì Quyên đã có đủ huynh đệ thủ túc. Không giấu phu nhân, nhận được tin vui này, Bàng Quyên thực là mừng không kể xiết!”

Thụy Liên ngẩng đầu lên, bật cười nói: “Phu quân thực không giống với những người khác!”

Bàng Quyên ngạc nhiên: “Ồ, có gì không giống?”

Thụy Liên cười nói: “Người khác gặp được chuyện vui đều tươi cười rạng rỡ; phu quân gặp được chuyện vui lại mặt ủ mày chau, thở dài thườn thượt, cứ như trong lòng chứa đầy tâm sự.”

Bàng Quyên cũng bật cười: “Phu nhân thật biết nói đùa. Thường có câu, vật cực tất phản, Quyên cũng vui quá nên mới thành ra than thở.”

Hai người lại cười nói một hồi, rồi Thụy Liên chuyển sang chuyện khác: “Lúc nãy phu quân khấu kiến phụ vương, phụ vương không nói chuyện khác ư?”

“Phụ vương nói, phụ vương và mẫu hậu rất nhớ phu nhân, nếu phu nhân có thời gian hãy trở về cung thăm hỏi.”

Thụy Liên liền chảy nước mắt: “Mấy ngày không gặp phụ vương và mẫu hậu, thần thiếp cũng rất nhớ. Ngày mai thần thiếp sẽ hồi cung, ý phu quân thế nào?”

“Tốt lắm! Quyên sẽ cùng đi với phu nhân. Từ lâu ta đã muốn đến hậu cung thăm mẫu hậu, khấu tạ đại ơn đại đức của mẫu hậu!”

Thụy Liên không giấu được ngạc nhiên: “Ồ, mẫu hậu có đại ơn đại đức gì với phu quân?”

Bàng Quyên nhìn Thụy Liên, mỉm cười nói: “Mẫu hậu đã sinh cho Quyên một phu nhân xinh đẹp, hiền thục như vậy, ơn đức còn lớn hơn trời, sâu hơn biển!”

Thụy Liên lại ngả đầu vào ngực Bàng Quyên, giọng thẹn thùng: “Phu quân…”

Bàng Quyên nhẹ nhàng ôm lấy công chúa.

Hai người đang lúc quấn quýt, Bàng Quyên đột nhiên nhớ ra một chuyện, liền đẩy Thụy Liên ra: “Phu nhân, có chút việc vặt, ta đi một lát sẽ về ngay.”

Thụy Liên gật đầu, từ từ rời khỏi người Bàng Quyên, ngước cặp mắt long lanh nhìn hắn: “Phu quân cứ đi, thiếp sẽ đợi phu quân quay lại.”

Bàng Quyên ra khỏi thư phòng, vội vàng bước tới phòng khách, gọi Bàng Thông đến, hỏi nhỏ: “Thông đệ, lúc nãy sực nhớ ra một chuyện, trong ngày hôn lễ, nghe nói có người đến gây chuyện, Bạch Hổ nói kẻ đó là Thuần Vu Khôn. Hôm đó ta uống nhiều quá, không kịp hỏi kỹ, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?”

Bàng Thông đáp: “Chuyện này tiểu đệ sớm đã muốn nói lại với đại ca, nhưng mãi vẫn chưa tìm được cơ hội thích hợp. Là thế này, buổi trưa hôm đó, có môn nhân đến báo với tiểu đệ, nói rằng có người gây chuyện trước cổng. Tiểu đệ vội vàng đi ra, quả nhiên gặp một lão đầu trọc, sau đó mới biết người đó là Thuần Vu Tử. Tiểu đệ quan sát tướng mạo, biết ông ta không phải hạng nhân sĩ tầm thường, nên đã mời ông ta vào uống rượu, nhưng ông ta từ chối, chỉ nói có người nhờ ông ta nhắn với đại ca một câu. Hôm đó là ngày đại hỷ của đại ca, tiểu đệ không thể làm mất hứng, nên chưa nói lại.”

Bàng Quyên chột dạ: “Là kẻ nào nhắn tin? Nhắn thế nào?”

“Là kẻ thù của chúng ta, Trần Chẩn. Hắn nhắn, ‘sớm tối nếu có hắt hơi, tức Trần Chẩn đang nhớ đến ngươi’!”

Bàng Quyên nghiến răng kèn kẹt, siết chặt tay quyền, sau đó lại từ từ thả lỏng, đột nhiên cười nhạt một tiếng: “Hừm, một tên gian tặc mà dám nói lời này, coi như cũng đáng là mặt nam nhi!”

“Đại ca, để tên gian tặc này chạy thoát là đại hoạ, chúng ta phải đề phòng cẩn thận!”

Bàng Quyên hừ mũi một tiếng: “Để hắn chạy thoát cũng tốt. Người ta sống ở trên đời, nếu không có đối thủ cũng thật vô vị. Chỉ có điều đấu với hắn, làm nhơ bẩn nắm đấm của ta, cũng thực đáng tiếc!” Dừng lại một chút, rồi đổi giọng. “Sau đó lão trọc đi đâu?”

“Mấy ngày nay, tiểu đệ đã phái người theo sát, được biết ông ta đã đến yết kiến bệ hạ. Nghe nói bệ hạ còn thưởng cho ông ta một trăm lượng vàng, rất nhiều gấm vóc, và cả một cỗ xe tứ mã.”

Bàng Quyên lập tức hiểu ra nguyên do, vung tay đấm mạnh xuống bàn: “Vậy thì đúng rồi!”

Bàng Thông ngơ ngác hỏi: “Đúng rồi cái gì?”

Bàng Quyên cười nhạt một tiếng: “Trần Chẩn đã khiến đại ca phải hắt hơi!”

Ngày hôm sau, trong buổi triều sớm của cung Ngụy, quần thần lên điện, đứng hầu ở hai bên triều đường. Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn Bàng Quyên: “Bàng ái khanh, thư mời Tôn Tân, khanh đã viết xong chưa?”

Bàng Quyên bước lên một bước: “Khởi bẩm bệ hạ, vi thần đã viết xong, xin bệ hạ ngự lãm!” Rồi rút từ trong tay áo ra một cuốn thẻ tre, trình lên Huệ Vương.

Huệ Vương đọc kỹ một lượt, cảm thấy hài lòng, bèn quay sang thái tử Thân: “Thân Nhi!”

Thái tử Thân bước ra khỏi hàng đáp: “Có nhi thần!”

“Quỷ Cốc tiên sinh mặc dù sống nơi núi rừng hoang dã, nhưng đã giúp quả nhân dạy dỗ được hai bậc đại tài là Bàng ái khanh và Tôn ái khanh, quả thực hiếm có. Quả nhân vốn muốn đích thân đến tạ ơn, nhưng do quốc sự bận rộn, không thể đi được. Hôm nay quả nhân ban cho Quỷ Cốc tiên sinh năm trăm lượng vàng, dùng lễ mời Tôn Tân, tạ ơn dạy dỗ của Quỷ Cốc tiên sinh.”

Thái tử Thân ngẩn ra một thoáng, rồi bái lạy mà nói: “Nhi thần lĩnh chỉ!”

Sau khi bãi triều, thái tử Thân gọi Huệ Thi lại: “Tiên sinh xin dừng bước!”

Huệ Thi dừng lại, vòng tay hành lễ: “Vi thần xin chào điện hạ!”

“Ngụy Thân cảm thấy chuyện này rất kỳ lạ, xin tiên sinh chỉ giáo.”

Huệ Thi hỏi: “Có điều gì kỳ lạ?”

“Phụ vương dùng người tài, trước giờ chưa từng chủ động, tại sao lại trân trọng Tôn Tân làm vậy?”

“Bệ hạ tự so mình với Văn Hầu, ý nguyện cả đời là xưng bá liệt quốc, quay mặt về nam xưng vương. Trận chiến Hà Tây đã khiến giấc mộng của bệ hạ tan thành mây khói, nay có được Bàng Quyên, bệ hạ hùng tâm trỗi dậy, nghe nói tài của Tôn Tân còn vượt xa Bàng Quyên, nên tự nhiên muốn có thêm Tôn Tân.”

“Điều này cũng đúng!” Thái tử Thân gật gù, rồi nói. “Ngụy Thân vẫn còn một chuyện không hiểu. Tôn Tân là sư huynh của Bàng Quyên, việc mời Tôn Tân, đúng ra phải do Bàng Quyên đi mới đúng, cớ sao phụ vương không phái Bàng Quyên đi, mà lại phái Ngụy Thân đi mời?”

“Đây chính là chỗ cao minh của bệ hạ!”

Thái tử Thân ngẩn người: “Cao minh?”

“Bàng Quyên đánh một trận thành danh, phong hầu phong tướng, quyền nghiêng triều đình, trở thành quốc thích, lại về một phe với công tử Ngang, đã hình thành thế lực trong triều, chắc chắn sẽ gây bất lợi cho điện hạ. Mà người kế thừa vương vị trong tương lai lại là điện hạ. Bệ hạ không giỏi nhận hiền tài, nhưng lại giỏi quyền mưu, nên đây chính là cơ hội cho điện hạ. Giả sử Tôn Tân thực sự có tài hơn Bàng Quyên, bệ hạ tự nhiên sẽ trọng dụng. Tôn Tân lại là do điện hạ mời về, tự nhiên điện hạ sẽ có ơn tri ngộ với người này. Lợi hại trong đó, không nói ra, hẳn điện hạ cũng đã biết!”

Thái tử Thân lại vòng tay: “Tiên sinh một lời sáng tỏ huyền cơ, Ngụy Thân đã ngộ ra rồi!”

Thái tử Thân dẫn theo một đoàn xe ngựa đông đến hơn trăm, khí thế rầm rộ, tiến thẳng tới núi Vân Mộng. Suốt dọc đường cứ ngày đi đêm nghỉ, ba ngày sau đã đến được cửa Túc Tư, có quan địa phương sắp xếp chỗ nghỉ chu đáo. Nghỉ ngơi một ngày, thái tử Thân dẫn theo vài người thân tín, bỏ xe lấy ngựa, vượt qua Hà Thủy, nhằm Quỷ Cốc thẳng tiến.

Vì có người dẫn đường, nên chẳng mấy chốc, đoàn người ngựa của thái tử Thân đã đến được Quỷ Cốc. Đi tới cửa cốc, thái tử Thân bảo mọi người dừng lại, để họ canh chừng phía ngoài, chỉ mang theo bốn người khiêng lễ vật, cung kính tiến vào trong cốc.

Nhưng đoàn người rầm rộ này đã sớm bị tiểu đồng phát hiện. Nhìn thấy đám thái tử Thân tiến lại phía thảo đường, tiểu đồng liền chạy thẳng tới, chặn ngang giữa đường. Thái tử Thân liền dừng bước, vòng tay vái chào: “Xin hỏi tiên đồng, Quỷ Cốc tiên sinh có nhà hay chăng?”

Tiểu đồng quan sát thái tử Thân từ đầu đến chân, rồi mới vòng tay đáp lễ: “Xin hỏi khách quan, muốn gặp gia sư có chuyện gì?”

“Phiền tiên đồng nhắn lại với Quỷ Cốc tiên sinh, nói có thái tử Ngụy Thân cầu kiến.”

“Xin thái tử hãy đợi một lát!” Tiểu đồng quay vào thảo đường, nói lại tình hình cho Ngọc Thiền nghe.

Ngọc Thiền nghe nói có thái tử nước Ngụy cầu kiến, do dự một lát, sau đó đi vào trong động, quỳ xuống bên cạnh Quỷ Cốc Tử: “Tiên sinh!”

“Thiền Nhi, có chuyện gì ư?”

“Thái tử nước Ngụy đến, mang theo lễ vật, nói là muốn cầu kiến tiên sinh.”

“Người này đến đây không phải để gặp ta, mà là để gặp Tôn Tân!”

“Ý tiên sinh thế nào?”

“Đây là việc của Tôn Tân, hãy để hắn nói chuyện với Tôn Tân!”

“Thiền Nhi biết rồi!”

Ngọc Thiền khoan thai bước ra ngoài nhà cỏ, dừng lại cách thái tử Thân chừng năm bước, vòng tay vái mà nói: “Tiểu nữ xin chào thái tử điện hạ nước Ngụy!”

Thái tử Thân không thể ngờ được ở nơi thâm sơn cùng cốc lại có một tuyệt sắc giai nhân nhường đó, nhất thời ngây thộn, đứng sững như trời trồng.

Ngọc Thiền lại vòng tay hành lễ: “Tiểu nữ xin chào thái tử điện hạ!”

Thái tử Thân lúc này mới giật mình sực tỉnh, vội vàng đáp lễ: “Ngụy Thân xin chào cô nương. Xin hỏi cô nương, Quỷ Cốc tiên sinh có nhà hay chăng?”

“Tiên sinh đang bế quan tu luyện, không tiện gặp khách!”

“Ồ…”

“Điện hạ đi đường vất vả, nếu không chê, xin mời vào nhà cỏ uống chén trà nhạt.”

“Ngụy Thân đa tạ cô nương khoản đãi!”

“Điện hạ, mời!”

“Cô nương, mời!”

Hai người một trước một sau đi vào thảo đường, tiểu đồng rót trà bày lên trên bàn, sau đó đứng hầu bên cạnh.

Thái tử Thân ôm quyền hỏi: “Ngụy Thân xin hỏi quý tính đại danh của cô nương?”

Ngọc Thiền vòng tay đáp lễ: “Tiểu nữ tên Ngọc Thiền. Điện hạ, mời dùng trà!”

Thái tử Thân nhấp một ngụm trà, hai mắt nhìn chăm chăm vào Ngọc Thiền, buột miệng thốt lên: “Non xanh nước biếc, giai nhân, trà thơm, quả là chốn động thiên phúc địa!”

Ngọc Thiền lập tức sầm ngay nét mặt, đứng dậy nói: “Nếu điện hạ đến đây là để du sơn ngoạn thuỷ, dùng trà xong có thể lên đỉnh núi trước mặt, phong cảnh nơi đó đẹp hơn nhiều. Tiểu nữ có việc phải đi trước, thứ lỗi không thể bồi tiếp!” Rồi vái hờ một vái, quay người toan đi.

Thái tử Thân biết mình lỡ lời, vội vã đứng dậy: “Cô nương xin dừng bước!”

Ngọc Thiền dừng chân, ngoái đầu hỏi: “Điện hạ có gì dặn dò?”

Thái tử Thân vòng tay vái mà nói: “Một dạo trước đây, nước Ngụy bốn bề ngự địch, tình thế nguy cấp. Đệ tử của tiên sinh là Bàng Quyên đã xoay chuyển đại nạn, giúp nước Ngụy biến nguy thành an. Phụ vương cảm tạ ơn giáo hoá của tiên sinh, nên đã phái Ngụy Thân vào sơn cốc đa tạ!” Rồi quay ra ngoài vỗ tay, mấy người đi theo liền khiêng hai hòm đựng đầy vàng vào, đặt ở dưới đất, mở nắp hòm, sau đó lui ra.

Thái tử Thân chỉ vào hai chiếc hòm: “Phụ vương ban tặng cho Quỷ Cốc tiên sinh năm trăm lượng vàng, hai cặp ngọc bích, một viên dạ minh châu, mười chuỗi ngọc, hai mươi súc gấm vóc. Chút lễ mọn này không đủ tỏ lòng thành kính, mong cô nương hãy nhận giúp cho.”

Ngọc Thiền đến nhìn cũng chẳng thèm nhìn, sắc mặt lạnh lùng, nói: “Tiểu nữ thay mặt tiên sinh đa tạ ý tốt của Ngụy Vương. Quỷ Cốc vốn là nơi thanh tịnh, không chứa được những thứ quý giá này. Tiên sinh có dặn, Bàng Quyên đã xuống núi, không còn liên quan đến Quỷ Cốc nữa. Xin điện hạ hãy đem những thứ bảo bối này về trả lại cho Ngụy Vương!”

Thái tử Thân thấy Ngọc Thiền thẳng thừng từ chối, vội nói: “Đây là tâm ý của phụ vương, cô nương kiên quyết không nhận, như vậy là làm khó cho Ngụy Thân!”

Ngọc Thiền cười nhạt, nói: “Xin điện hạ hãy bẩm lại với phụ vương của người, đạo làm quân vương là phải biết lo cho dân. Tiền bạc lấy từ dân, cũng phải dùng cho dân. Số vàng bạc châu báu này đều là xương máu của dân, không dễ có được, hãy dùng vào những việc đáng dùng, đừng nên tuỳ tiện hoang phí!”

Thái tử Thân nghe vậy, bỗng thấy kính trọng trong lòng: “Lời của cô nương như sấm sét bên tai, Ngụy Thân nhất định sẽ bẩm lại với phụ vương. Ngụy Thân vẫn còn một chuyện muốn thỉnh cầu cô nương!”

“Điện hạ cứ nói!”

Thái tử Thân lấy từ trong tay áo ra chiếu thư của Ngụy Huệ Vương và bức thư của Bàng Quyên: “Đây là chiếu thư do phụ vương tự tay thảo ra, phiền cô nương chuyển giúp lên tiên sinh. Còn đây là bức thư mà Bàng tướng quân viết gửi Tôn tướng quân, phiền cô nương hãy chuyển cho Tôn tướng quân giúp. Bàng tướng quân còn có vài lời dặn dò, muốn Ngụy Thân đích thân nhắn với Tôn tướng quân.”

Ngọc Thiền gật đầu nói: “Tiểu nữ xin nhận bức thư mà Ngụy Vương viết cho tiên sinh. Còn về thư của Bàng Quyên, điện hạ hãy tự giao cho Tôn Tân đi!” Rồi quay sang tiểu đồng. “Hãy dẫn điện hạ đi gặp Tôn Tân!”

“Được!” Tiểu đồng đáp lời, rồi quay sang khẽ vái thái tử Thân. “Điện hạ, mời!”

Thái tử Thân vòng tay đáp lễ: “Tiên đồng, mời!”

Tiểu đồng dẫn thái tử Thân đi tới trước căn nhà cỏ của bốn người, cất tiếng gọi lớn: “Tôn sư đệ, có người đến tìm!”

Tôn Tân đáp lời, rồi đi ra khỏi nhà, thấy đám thái tử Thân, nhất thời kinh ngạc.

Thái tử Thân vòng tay vái chào: “Ngụy Thân xin chào Tôn Tử!”

Tôn Tân vòng tay đáp lễ: “Tôn Tân xin chào Ngụy Tử!” Rồi chỉ tay vào mấy chiếc ghế đá bày trên bãi cỏ. “Ngụy Tử, mời!”

Hai người lần lượt ngồi xuống. Thái tử Thân rút ra bức thư của Bàng Quyên, hai tay đưa cho Tôn Tân: “Bàng tướng quân nhờ Ngụy Thân trao cho Tôn Tử một bức thư, xin Tôn Tử hãy đọc!”

Tôn Tân đưa hai tay nhận lấy: “Đã khiến Ngụy Tử vất vả rồi!

Tôn Tân mở bức thư của Bàng Quyên ra, thấy thư viết: Tôn huynh! Quyên vội vàng xuống núi, bước bước gian nan, may được bệ hạ hậu ái, sau đã được trọng dụng. Đệ không lúc nào quên lời hứa trước khi ly biệt, nay chân đã đứng vững, nên tiến cử Tôn huynh lên bệ hạ. Bệ hạ nghe thấy tài của Tôn huynh, ăn không ngon, ngủ không yên, nên đặc phái điện hạ phụng chiếu vào cốc, mời Tôn huynh cùng gây dựng đại nghiệp. Ân sủng nhường này, khác nào ơn tri ngộ Thái Công bên bờ Vị Thuỷ. Mong huynh đừng bỏ lỡ thời cơ, nhanh chóng phụng chiếu hạ sơn, chung sức với đệ, cùng phò minh chủ. Đệ Bàng Quyên vái dâng!

Tôn Tân đọc xong, biết người ngồi trước mặt là thái tử nước Ngụy, lập tức khấu đầu sát đất: “Tôn Tân không biết điện hạ giá lâm, đã thất lễ, mong điện hạ bao dung!”

Thái tử Thân vội vàng đỡ dậy: “Tôn Tử bất tất phải câu nệ lễ tiết! Ngụy Thân phụng chiếu mệnh của phụ vương, từ ngàn dặm xa xôi đến đây, chỉ vì muốn mời được Tôn Tử. Mong Tôn Tử thành toàn cho ý tốt của phụ vương, nhanh chóng xuống núi, cùng Ngụy Thân trở về Đại Lương, kiến công lập nghiệp.”

“Ý tốt của bệ hạ, thịnh tình của điện hạ, Tôn Tân hổ thẹn không dám nhận!”

“Tôn Tử bất tất phải khách khí. Giờ không còn sớm nữa, không biết Tôn Tử lúc nào có thể hạ sơn?

“Đây là việc trọng đại, Tôn Tân không thể tự quyết. Trên núi giá rét, xin điện hạ hãy tạm thời xuống núi nghỉ ngơi, đợi tại hạ bẩm với tiên sinh, sau đó sẽ trả lời điện hạ.”

“Được vậy thì tốt quá!” Thái tử Thân gật đầu nói. “Ngụy Thân sẽ đợi Tôn Tử ở cửa Túc Tư. Trong vòng ba ngày, nếu không thấy Tôn Tử đến, Ngụy Thân đành phải tiếp tục vào cốc khẩn cầu.”

“Trong vòng ba ngày, Tôn Tân nhất định sẽ trả lời điện hạ!”

Thái tử Thân vòng tay vái: “Ngụy Thân xin cáo từ!”

Tôn Tân vòng tay đáp lễ: “Tôn Tân cung tiễn điện hạ!”

Màn đêm buông xuống. Trong gian thảo đường của Quỷ Cốc Tử, Trương Nghi đốt liền một lúc năm sáu ngọn nến, khiến toàn bộ gian nhà sáng trưng. Năm người Trương Nghi, Tô Tần, Tôn Tân, Ngọc Thiền, tiểu đồng cùng tập trung trong nhà chính. Hai hòm lễ vật mà thái tử Thân mang đến vẫn được bày trong thảo đường. Tiểu đồng bước lên trước, lần lượt mở hai chiếc hòm ra, Tô Tần, Trương Nghi ghé mắt nhìn, thấy một hòm đầy ắp những đĩnh vàng sáng chói, hòm còn lại đựng đầy châu ngọc gấm vóc, bày xếp chỉnh tề.

Tiểu đồng đã được nhìn thấy tiền đồng, cũng đã được nhìn thấy thỏi vàng nhỏ, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy những đĩnh vàng vun cao thành đống như vậy, lại càng chưa từng nhìn thấy châu ngọc và gấm vóc, nên kinh ngạc chỉ vào hòm, đưa mắt nhìn Tô Tần: “Tô sư đệ, đây là vật gì?”

Tô Tần cũng lần đầu tiên trong đời được nhìn thấy nhiều vàng bạc như vậy, hai mắt đờ đẫn, đứng ngây tại chỗ, nghe tiểu đồng hỏi mới sực tỉnh, vội nói: “Hồi bẩm sư huynh, đây là vàng, kia là châu ngọc và gấm vóc!”

Tiểu đồng rất mực hiếu kỳ: “Vàng? Vàng dùng để làm gì kia?”

Mọi người đều bật cười.

Trương Nghi cười nói: “Hồi bẩm sư huynh, trong thiên hạ này, vàng là thứ vô địch, không có nó thì chẳng làm được việc gì cả.”

Tiểu đồng càng thêm kinh ngạc, lấy từ trong hòm ra một thỏi vàng, xoay qua lật lại, lại tung mấy cái trong tay, rồi quay đầu nhìn sang Ngọc Thiền: “Chị Thiền Nhi, chẳng lẽ những thứ này còn tài tình hơn cả tiên sinh?”

Mọi người được phen cười nghiêng ngả. Ngọc Thiền thôi cười, kéo tiểu đồng về phía mình, nói nhỏ: “Đừng nghe Trương Nghi nói bậy. Trong Quỷ Cốc, những thứ này chẳng có tác dụng gì, còn chẳng bằng đá sỏi bên khe suối!”

Tiểu đồng nghe thấy vậy, liền tiện tay ném toẹt thỏi vàng vào trong hòm, phì cười: “Điện hạ cái gì? Nếu thực lòng muốn cảm tạ tiên sinh, cũng phải mang tặng vài thứ hữu dụng chứ. Mang những thứ này đến, không ăn được, cũng chẳng dùng được, mà nhấc thử lại nặng gớm ghê!”

Mọi người càng cười lớn hơn. Nhưng Tôn Tân chỉ ngồi yên dưới đất, từ đầu đến cuối không cười một tiếng. Thấy mọi người cười đã chán, Tôn Tân bèn đứng dậy, vòng tay nói với mọi người: “Đại sư huynh, sư tỷ, Tô huynh, Trương huynh, xin mọi người đừng nói tới vàng nữa. Tại hạ đã suy nghĩ nát óc, nên đi hay ở, thực chưa thể quyết, xin mọi người hãy cho tại hạ một chủ ý.”

Trương Nghi liền đáp: “Có gì phải bàn đâu! Theo ý của Trương Nghi, Tôn huynh nên đi!”

Tôn Tân nhìn Trương Nghi: “Sao Trương huynh lại nói vậy?”

“Là vì đống vàng này!” Trương Nghi chỉ tay vào hòm vàng, nói. “Ngụy Vương dùng vàng ngọc cầu tài, điện hạ đích thân đến mời, đủ thấy nước Ngụy coi trọng người tài ra sao. Thằng cha Bàng Quyên có là cái thá gì, nhưng Ngụy Vương không những phong tướng ban tước, mà còn gả cả công chúa cho. Xem ra, trận chiến Hà Tây ngày trước đã khiến hôn quân thức tỉnh. Nước Ngụy nằm ở Trung Nguyên, nếu muốn chấn hưng, giống như tay Bàng Quyên kia đã nói, phải lấn sang tả hữu, đó chính là đất dụng võ của Tôn huynh!”

Nhưng Tô Tần liên tiếp lắc đầu: “Theo ý của tại hạ, không thể đến nước Ngụy!”

Tôn Tân quay đầu lại: “Xin Tô huynh hãy nói rõ!”

“Cũng là vì đống vàng này!” Tô Tần đưa mắt nhìn hòm vàng. “Mấy năm nay, nước Ngụy xây dựng bừa bãi, chinh chiến triền miên, quốc khố từ lâu trống rỗng, dân chúng lầm than, nhưng Ngụy Vương lại nhìn mà không thấy, tiêu xài vẫn hoang phí nhường này, coi vàng như đất, có thể thấy Ngụy Vương không hiểu dân tình, không thương dân chúng. Vua không hiểu dân, sẽ khốn. Vua không thương dân, sẽ quẫn. Từ đó có thể thấy, vua này không thể phò tá.”

Nghe Tô Tần nói vậy, Ngọc Thiền bỗng thấy trong lòng chấn động, bất giác liếc nhìn Tô Tần. Tôn Tân gật đầu, đưa mắt nhìn Ngọc Thiền: “Sư tỷ có ý kiến gì chăng?”

Ngọc Thiền cười nói: “Lời của Trương sĩ tử, Tô sĩ tử, nghe đều có lý. Với tài của Tôn sĩ tử, cho dù có phó tá quân chủ nước nào, cũng đều có thành tựu. Chỉ có điều…” dừng lại một lát, mới nói tiếp, “nếu Tôn sĩ tử đến nước Ngụy, Thiền Nhi có một lo lắng.”

Tôn Tân vội hỏi: “Sư tỷ có điều gì lo lắng?”

Ngọc Thiền hơi do dự, rồi lại cười một tiếng: “Không có gì khác, Thiền Nhi chỉ muốn nói, Tôn sĩ tử quá đỗi nhân hậu, nếu như làm quan cùng một triều với Bàng Quyên, e rằng khó có ngày mở mày mở mặt!”

“Phải phải phải!” Trương Nghi hấp tấp nói liền mấy tiếng. “Sư tỷ nói rất đúng ý tại hạ! Lúc nãy tại hạ chỉ nghĩ đến cái lớn, không nghĩ tới cái nhỏ, đã quên khuấy mất nhân phẩm của thằng cha Bàng Quyên kia. Hạng người Bàng Quyên có thể cùng chung hoạn nạn, nhưng không thể cùng hưởng phú quý, Tôn huynh tốt nhất đừng nên đến nước Ngụy!”

Tôn Tân cười nói: “Nếu là vậy thì cũng không có gì đáng lo. Bàng sư đệ và Tân tình nghĩa thân thiết, còn về danh lợi, trước nay Tân không tranh giành, tin chắc sẽ không vì chuyện này mà gây hiềm khích với sư đệ.”

“Tôn sư đệ!” Tiểu đồng nói xen vào. “Nói đi nói lại, rốt cuộc đệ có đi hay không?”

“Điều này…” Tôn Tân do dự một lúc, “hồi bẩm sư huynh, sư đệ thực lòng không thể quyết định, xin sư huynh hãy quyết giúp đệ!”

Tiểu đồng xua tay: “Đây là việc của người lớn, tiểu đồng làm sao có thể quyết được!”

Mọi người đều bật cười.

Tiểu đồng đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người, rồi quay sang nhìn Tôn Tân, sắc mặt nghiêm túc: “Nếu như các vị đã không thể quyết, sư đệ cũng không biết nên đi hay ở, vậy theo ý của sư huynh, chúng ta hãy vào động hỏi tiên sinh.”

Tôn Tân đáp: “Hồi bẩm đại sư huynh, lúc nãy nghe sư tỷ nói tiên sinh đang bế quan tu luyện, sư đệ không dám làm phiền.”

Trương Nghi cười nói: “Tiên sinh nói vậy, chắc chắn là để đuổi tên thái tử kia đi, Tôn huynh cứ việc vào động!”

Tôn Tân đưa mắt nhìn Ngọc Thiền, Ngọc Thiền gật đầu nói: “Trương sĩ tử nói đúng, tiên sinh không hề bế quan. Có điều… giờ cũng đã muộn, có lẽ tiên sinh cũng nhập định rồi, hay là sáng sớm mai Tôn sĩ tử hãy vào hỏi.”

Sáng sớm hôm sau, Tôn Tân đi vào thảo đường. Ngọc Thiền dẫn Tôn Tân vào cửa, thấy Quỷ Cốc Tử đã ngồi ngay ngắn bên trong, trông có vẻ như đang đợi Tôn Tân. Tôn Tân bước lại khấu bái, hai tay trình lên bức thư của Bàng Quyên. Quỷ Cốc Tử đọc qua một lượt, đọc xong, tiện tay vứt lá thư lên mặt bàn, mỉm cười nhìn Tôn Tân.

Tôn Tân dập đầu nói: “Khi sư đệ xuống núi, đã từng có hẹn ước với đệ tử. Nay sư đệ y theo lời hẹn, mời đệ tử xuống núi, nếu đệ tử không đi, đó là thất tín. Ngụy Vương đích thân phái điện hạ mang lễ vật đến, thành tâm mời đệ tử, nếu đệ tử không đi, đó là thất lễ. Nhưng mấy năm nay, người Ngụy xâm phạm lãnh thổ nước Vệ, khiến máu nhuộm Bình Dương, phụ thân, cả nhà thúc phụ và hàng vạn bách tính bất hạnh đều tuẫn thân vì nước, nếu đệ tử đến giúp Ngụy, tức là đã quên đi thù xưa, đó là bất hiếu. Sự việc ngày hôm nay, đệ tử đã suy nghĩ nhiều lần, nhưng vẫn khó lòng quyết định, nên đành phải làm phiền tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử khép hai mắt lại, một lúc sau mới chậm rãi nói: “Tạm không nói đến tín, lễ, hiếu, thì tâm của con đang hướng đến nơi nào?”

“Đệ tử nguyện cùng tiên sinh ẩn cư trong Quỷ Cốc, tu tiên luyện đan, chuyên tâm cầu đạo!”

Quỷ Cốc Tử nhìn thẳng vào Tôn Tân, hồi lâu mới gật đầu nói: “Con trung hậu chất phác, tâm không tạp niệm, có tâm nguyện này, ắt sẽ có thành tựu. Nhưng hiện giờ thiên hạ loạn lạc, chiến tranh triền miên, chúng sinh đang chìm trong biển lửa. Con đã học binh pháp thì phải thuận theo ý trời, hoá giải chiến tranh, chấm dứt loạn lạc. Sau khi hoàn thành mệnh trời, sẽ lại thực hiện tâm nguyện đó. Ta sẽ luôn ở chốn thâm sơn cùng cốc này, đợi con thành công quay lại.”

Tôn Tân bái lạy: “Đệ tử xin nghe theo lệnh tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói: “Con có đến nước Ngụy hay không, tâm con tự quyết, lão hủ không có ý kiến gì. Còn về việc tín với bằng hữu, lễ với quân vương, hiếu với người thân, tất cả đều là ân oán cá nhân, người tu đạo nên quên bỏ, chỉ nghĩ đến đạo lớn của thiên hạ!”

Lời của Quỷ Cốc Tử giống như một gậy giữa đỉnh đầu, Tôn Tân đột nhiên tỏ ngộ, bèn khấu đầu nói: “Đệ tử đã hiểu rồi!”

Quỷ Cốc Tử nhìn Tôn Tân, trên mặt lộ một nụ cười hiền từ: “Con đã hiểu gì?”

“Đệ tử đã quyết định! Đệ tử sẽ xuống núi giúp sư đệ một tay!”

Quỷ Cốc Tử trong tâm hơi chấn động, nhưng lập tức điềm tĩnh trở lại, khẽ gật đầu: “Con đã quyết định, vậy hãy đi đi!”

“Lần này đệ tử đi, là phúc hay hoạ, xin được tiên sinh chỉ điểm!”

Quỷ Cốc Tử đưa mắt nhìn Tôn Tân, rồi căn dặn: “Tiên thánh có câu, ‘hoạ là chỗ nương tựa của phúc, phúc là chỗ ẩn tàng của hoạ’, là phúc hay hoạ, đều là mệnh trời, sức người không thể thay đổi. Con hãy vào trong núi, hái lấy một đoá hoa, ta sẽ bói cho con một quẻ, may ra biết được lời cảnh báo!”

“Đệ tử tuân lệnh!”

Tôn Tân đứng dậy, đang định đi hái hoa, vừa hay nhìn thấy Ngọc Thiền bưng một chậu nước sạch bước vào, đi tới bên bức tường trước phòng của Quỷ Cốc Tử. Ở đó bày một đỉnh đồng nhỏ chân cao, trong đỉnh đồng cắm bó hoa cúc dại hôm qua Ngọc Thiền hái về. Ngọc Thiền thay nước trong đỉnh, cắm lại hoa cho đẹp.

Tôn Tân nhìn thấy hoa cúc, bỗng nảy ra một ý, liền tiến tới, rút lấy một bông, rồi quỳ xuống trước mặt Quỷ Cốc Tử, hai tay nâng hoa, khấu đầu nói: “Tiên sinh, đệ tử dùng hoa này gieo quẻ, xin tiên sinh hãy xem giúp.”

Quỷ Cốc Tử phẩy tay. Tôn Tân đa tạ xong, liền đứng dậy cắm hoa vào đỉnh, rồi quay lại, tiếp tục quỳ xuống trước mặt Quỷ Cốc Tử.

Quỷ Cốc Tử khép hờ hai mắt, vận thần phát công, một lúc sau mới mở mắt ra, thần sắc trầm trọng, nặng trĩu ưu tư, đôi mắt nhìn chăm chăm vào Tôn Tân, hồi lâu vẫn không lên tiếng.

Tôn Tân hơi chột dạ, bèn gọi khẽ: “Tiên sinh…”

Lại qua một lúc, Quỷ Cốc Tử khẽ than một tiếng, rồi chậm rãi nói: “Được thôi, con đã chọn hoa này, vậy ta sẽ dùng nó để bói cho con. Hoa này sinh ra trong sơn cốc hoang vu, nở vào mùa thu, không tranh đua với trăm hoa khác, cho thấy con là người tâm trí cao viễn, không tranh với đời. Hoa này mọc bên vách đá, hương thơm thanh cao, gặp sương không rụng, cho thấy con có phẩm tính thanh cao, thần trí kiên định. Hoa này được ngọc nữ yêu thích, lại do ngọc nữ hái về, được ngọc nữ nâng niu, cho thấy con sẽ có được lòng thành của mỹ nhân. Hoa này lớn lên trong sơn cốc, nhưng giữa chừng lại bị bẻ ngang, cho thấy con sẽ gặp phải kiếp nạn. Hoa này mặc dù bị bẻ, nhưng lại được nuôi trong đỉnh quý, cho thấy con tuy gặp kiếp nạn, nhưng không phải mạng nguy. Bình để cắm là đỉnh đồng, thứ nuôi dưỡng là nước sạch, cho thấy trong tương lai con sẽ được trọng dụng, có được kết cục an lành!”

Tôn Tân nghe thấy tương lai như vậy, nhất thời ngây người, quỳ sững một lúc lâu mới khấu đầu nói: “Đệ tử đa tạ tiên sinh chỉ giáo!”

Quỷ Cốc Tử lại thở dài một tiếng: “Đã xem hoa này, vậy tên của con cũng cần đổi một chữ.”

“Xin tiên sinh hãy đổi giúp đệ tử!”

“Hãy đổi chữ ‘Tân’ thành chữ ‘Tẫn’, hoặc giả có thể giúp con tiến thủ.”

Ngọc Thiền ngạc nhiên, hỏi khẽ: “Tiên sinh, ‘Tân’ đổi thành ‘Tẫn’, sao có thể tiến thủ được?”

“Đây là thiên cơ!”

Tôn Tân lại khấu lạy: “Đệ tử đa tạ tiên sinh đã đổi tên!”

Quỷ Cốc Tử không đáp, ngồi yên một lúc, mới cất lời đầy ẩn ý: “Tôn Tẫn, con và Bàng Quyên cùng ở một triều, cùng phò một chủ, mọi việc cần phải biết đề phòng!”

Tôn Tẫn khấu đầu đáp: “Đệ tử xin ghi nhớ!”

Quỷ Cốc Tử quay người đi tới trước bàn, cầm bút viết chữ lên một vuông lụa. Viết xong, cất vuông lụa vào trong túi gấm, gói kín lại rồi đưa cho Tôn Tẫn: “Ta cho con một cẩm nang, khi nào gặp hiểm nạn, hãy mở ra xem!”

Tôn Tẫn hai tay nhận lấy, chảy nước mắt mà khấu đầu: “Đệ tử đa tạ tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử gật đầu nói: “Tôn Tẫn, con có thể đi được rồi!” Nói xong quay người đi thẳng vào trong động.

Tôn Tẫn nhìn theo Quỷ Cốc Tử, liên tiếp bái lạy, khóc lớn mà gọi: “Tiên sinh…”

Trên con đường núi, Tô Tần, Trương Nghi gánh theo một chiếc hòm, Ngọc Thiền, Tôn Tẫn gánh một hòm nữa, đi miết trên con đường quanh co khúc khuỷu. Ngọc Thiền chưa bao giờ phải gánh nặng, mới đi được mấy dặm đã đuối sức, Tôn Tẫn bèn kéo thật sát chiếc hòm về phía mình.

Trương Nghi nhìn thấy, đi thêm một đoạn nữa thì đặt quang gánh xuống: “Tôn huynh, đổi chỗ đi, đừng để mệt nhọc quá mức!”

Tôn Tẫn cười nói: “Tại hạ đã luyện võ công, chút nặng nhọc này có đáng gì.”

Trương Nghi kiên quyết: “Cái này không phải dựa vào cơ bắp, mấy chục dặm đường núi kia đấy!”

Trương Nghi thế chỗ cho Tôn Tẫn, lại dịch chuyển chiếc hòm sát hơn về phía mình.

Ngọc Thiền cười nói: “Trương sĩ tử, sĩ tử đừng nên quá sức, đi mười dặm thử xem đã!”

Trương Nghi cười nói: “Sư tỷ, không phải nói khoác, chứ chút đồ lặt vặt này, sư đệ cõng trên lưng đi cả mười dặm cũng chăng hề hấn gì.”

Ngọc Thiền phì cười: “Vậy cứ đi thử xem sao!”

Tuy nhiên, mới đi chưa được năm dặm, bước chân của Trương Nghi đã dần dần chậm lại, chân bước mỗi lúc càng nặng nề, đòn gánh hết chuyển từ vai trái sang vai phải, lại chuyển từ vai phải sang vai trái. Đi thêm được hai dặm nữa, Trương Nghi thực tình không thể chịu đựng được thêm, bèn nói nhỏ: “Sư tỷ, chúng ta nghỉ một lát nhé!”

Ngọc Thiền đặt quang gánh xuống, mọi người cũng dừng lại.

Ngọc Thiền thở dốc một chốc, rồi nhìn Trương Nghi cười hỏi: “Thế nào, lần này đã phục chưa?”

Trương Nghi vừa nắn bóp hai vai, vừa thực tình thốt lên: “Phục rồi, phục rồi, Trương Nghi phục rồi!”

Nghe thấy câu “Trương Nghi phục rồi” mọi người đều bật cười.

Trương Nghi thôi cười, giơ chân đá thẳng vào chiếc hòm, bực bội nói: “Tên thái tử chết toi, hại bách tính chưa nói, nay lại còn vào tận sơn cốc hại cả chúng ta! Sư tỷ, những thứ này đều là xương máu của dân, đúng ra chúng ta không cần phải trả lại cho họ!”

Ngọc Thiền cười nói: “Nói đến điều này, Thiền Nhi muốn hỏi một câu.”

“Sư tỷ xin cứ hỏi!”

“Trương sĩ tử, nếu tặng số vàng này cho sĩ tử, sĩ tử muốn làm gì?”

Trương Nghi nửa đùa nửa thật: “Tại hạ ư, tại hạ sẽ xây một cung điện thật lớn trong Quỷ Cốc, bên trong thứ gì cũng có, sau đó mời tiên sinh, sư tỷ, và cả tiểu đồng, đều dọn vào ở, chuyên tâm tu tiên ngộ đạo!”

Mọi người đều phá lên cười.

Ngọc Thiền cười nói: “Chỉ e cung điện của sĩ tử còn chưa kịp động thổ thì tiên sinh đã chuyển đến một sơn cốc khác rồi!” Lại quay sang Tôn Tẫn. “Tôn sĩ tử, nếu số vàng này là của sĩ tử, sĩ tử muốn làm gì?”

“Tại hạ sẽ dùng để cứu giúp những người cô quả, những người bị thương tàn vì chiến tranh.”

Ngọc Thiền quay sang Tô Tần: “Thế còn Tô sĩ tử?”

Tô Tần trịnh trọng trả lời: “Hồi bẩm sư tỷ, tại hạ sẽ dùng để dựng lều trại, mua lương thực, để những người dân gặp tai hoạ trong thiên hạ đều có chốn nương thân.”

Ngọc Thiền mỉm cười: “Mong muốn của Tô sĩ tử khiến người ta cảm động, đáng tiếc là mất bò mới lo làm chuồng. Trong thời thái bình của thánh hiền cổ xưa, Tô công tử đã bao giờ nhìn thấy chuyện dựng lều trại hay chưa?”

Tô Tần trầm ngâm một lúc, rồi vòng tay vái Ngọc Thiền: “Sư tỷ kiến thức sâu rộng, Tô Tần hổ thẹn!”

Trương Nghi cười nói: “Sư tỷ, đừng nói đến chúng tôi nữa, hãy nói sư tỷ đi. Nếu số vàng này là của sư tỷ, sư tỷ muốn làm gì?”

Ngọc Thiền cười nói: “Ta e, ta chỉ muốn chúng nhanh chóng biến mất! Đi thôi, còn hơn chục dặm đường nữa kia!”

Tô Tần đi tới trước chiếc hòm bên cạnh Ngọc Thiền, rút quang gánh ra, “hự” một tiếng đã vác lên vai, quay sang nói với Trương Nghi: “Hiền đệ, đệ và Tôn huynh gánh hòm kia, sư tỷ mệt rồi!”

Trương Nghi kinh hãi nhìn Tô Tần: “Ôi trời, thật không thể ngờ được, Tô huynh!”

Tô Tần cười chất phác: “Những việc nặng nhọc này, huynh giỏi hơn đệ!”

Ngọc Thiền tay cầm quang gánh đứng ở phía sau, mắt nhìn sững theo Tô Tần đang vác hòm nặng trên vai sải bước băng băng, dường như có điều suy nghĩ.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử