Đúng vào lúc bốn nước phạt Sở, Triệu mưu Bắc Hồ, Trung Sơn cũng không chịu ngồi yên.
Khi tiệp báo quân Trung Sơn chiếm được ải Cư Dung về tới Linh Thọ, Trung Sơn Vương Cơ Thố mừng rơi nước mắt.
Kể ra thì vương thất Trung Sơn vốn không phải họ Cơ. Là một nhánh của Nhung Địch, người Trung Sơn vốn chỉ có tên mà không có họ, sở dĩ lấy họ Cơ, chẳng qua vì muốn lấy tiếng Chu thất, kéo gần khoảng cách với các nước chư hầu Trung Nguyên.
Trung Sơn Vương Cơ Thố đương nhiên có thể hân hoan. Vương Thố tuổi nhỏ lên ngôi, chủ trì quốc sự, đến tuổi đội mũ thì xưng vương, vai vế sánh ngang với các nước lớn Trung Nguyên. Như thế đã xứng đáng là cơ nghiệp hiển hách, rạng danh tiên tổ, song Trung Sơn Vương vẫn chưa thoả mãn. Vậy nên sau khi lập quốc đã tháo nước dìm ngập Cao Ấp, đuổi người Triệu về phía nam Hoè Thuỷ, sau đó lại theo Nguỵ phạt Triệu, uy hiếp biên cương phía bắc nước Triệu. Lần này lại theo Tề phạt Yên, không chỉ công chiếm Hạ Đô nước Yên, mà còn đoạt lấy vài trăm dặm đất Yên, chiếm cứ hai trọng ải Tử Kinh và Cư Dung. Vinh quang nhường đó, liệt tổ liệt tông của Cơ Thố không ai có thể sánh bằng.
Vương Thổ hiểu, toàn bộ công tích lừng lẫy này, đều nhờ vào sức của một người, lão thần Tư Mã Chu.
Tư Mã Chu tuy tuổi đã cao, song sức vẫn tráng kiện, tung hoành trên đất Yên rộng lớn không hề biết mệt mỏi. Trợ giúp đắc lực cho Tư Mã Chu là tư đồ Tư Mã Hy, khi ba quân phạt Yên, Tư Mã Hy cai quản quân nhu, vận chuyển nhân lực, lương thảo cho tiền tuyến, gần như thao túng toàn bộ việc kinh thương tài vật của Trung Sơn.
Vào cái đêm nhận được tiệp báo gửi về từ tiền tuyến, lúc rạng đông, Vương Thố mơ thấy ba quân phạt Yên khải hoàn, hùng dũng dẫn đầu đoàn quân chỉnh tề là cha con Tư Mã Chu. Hai cha con đứng trên cùng một cỗ chiến xa, bách tính Linh Thọ đều quỳ rạp bên đường nghênh đón, văn võ bá quan trong triều cũng đua nhau quỳ lạy, mà không một ai nhìn đến Vương Thố cả.
Khi chiến xa của Tư Mã Chu lao tới trước mặt, Vương Thố vẫn đứng ngây tại chỗ.
“Quỳ mau, đại vương khải hoàn, muốn chết hay sao!” Nội thần kéo Vương Thổ quỳ xuống, nhưng Vương Thổ vẫn đứng trơ trơ.
Cha con Tư Mã Chu nhảy xuống khỏi chiến xa, không đếm xỉa tới Vương Thổ mà đi thẳng về phía ngai vàng, ngự lên trên đó. Toàn bộ triều thần đều quỳ mọp tung hô, chỉ có Vương Thố vẫn đứng nguyên.
“Kẻ kia là ai? Sao không bái lạy?” Tư Mã Chu quát lên như sấm.
“Ta mới là vua của Trung Sơn!” Vương Thố cũng quát lớn.
Tư Mã Chu phá lên cười ha hả: “Dám làm loạn giữa triều đường, lôi ra ngoài chém!”
Hai võ sĩ chạy lại, bắt lấy Vương Thố, lỗi tới hình đài. Đao phủ vung cao đại đao.
Đúng vào lúc lưỡi đao hạ xuống, Vương Thố giật mình choàng tỉnh, ngồi bật dậy, mồ hôi đầm đìa.
Vương Thố cứ thế ngồi thẫn thờ trên giường cho tới khi mặt trời mọc, mới bước xuống, hạ chiếu lệnh cho Tư Mã Chu tức tốc quay về Linh Thọ.
Tư Mã Chu không hiểu chuyện gì, lập tức lên đường, đi suốt ngày đêm. Vào giờ Nhân định ngày thứ ba thì tới Linh Thọ, không kịp về phủ, vội vã vào cung yết kiến.
Vương Thổ hay tin, đá văng đôi hia, chân trần ra ngoài cửa cung nghênh đón, đỡ Tư Mã Chu dậy, cầm tay dẫn vào trong điện.
“Đại vương, có chuyện gì ư?” Tư Mã Chu lo lắng hỏi. “Không có chuyện gì lớn!” Vương Thố vòng tay nói, “là quả nhân tưởng nhớ tướng quốc, nhận được tiệp báo của tướng quốc, quả nhân mừng rỡ không thể cầm lòng, muốn vời tướng quốc về kinh để phong thưởng!” Quay sang ngự sử, “lấy kim bài và chiếu thư lại đây!”
Ngự sử nhanh chóng mang tới một tấm kim bài và một đạo chiếu thư, dâng lên Vương Thổ.
“Lão tướng quốc,” Vương Thố cầm lấy, nhìn sang Tư Mã Chu, “tướng quốc liên tiếp lập kỳ công cho Trung Sơn, công tày nhật nguyệt, quả nhân không biết lấy gì báo đáp, nên ban tặng kim bài này cùng với chiếu thư, để biểu dương công trạng của khanh, khanh hãy nhận lấy!”
Tư Mã Chu rời chiếu, dập đầu mà nói: “Thần tạ ơn đại vương ban thưởng!” Đoạn hai tay đỡ lấy kim bài và chiếu thư.
Sau đó, Tư Mã Chu về phủ, cả đêm thức trắng.
Sáng sớm hôm sau, Tư Mã Hy đang điều động lương thảo ở bên ngoài, hay tin cha về triều, thì tức tốc quay về, thấy Tư Mã Chu ngồi lặng giữa nhà, vẻ ưu tư nặng trĩu, thì kinh ngạc: “Tướng phụ, đã có chuyện gì ư?”
Tư Mã Chu cười gượng một tiếng, đưa cho con trai kim bài vua ban.
“Kim bài miễn tử!” Tư Mã Hy dụi mắt, nhìn lại lần nữa, phấn chấn reo lên, “tướng phụ, đại vương đã ban kim bài miễn tử cho nhà ta!”
“Con hãy xem tiếp cái này!” Tư Mã Chu lại đưa ra chiếu thư.
Tư Mã Hy đón lấy, vội vã đọc lướt qua một lượt, càng thêm hân hoan: “Tướng phụ, đại vương đang xưng tụng công lao của nhà ta đấy!” Rồi kìm lòng không đặng, đọc lên thành tiếng, “chao ôi, lời xưa không sai. Quả nhân nghe nói, thà chết chìm dưới vực, còn hơn bị người dìm chết.
Trước kia, vua Yên là Tử Khoái trí tuệ hơn ta, được người tôn kính, thông hiểu chuyện trong thiên hạ, vậy mà vẫn bị Tử Chi mê hoặc, gây hoạ mất nước, bị thiên hạ giết, huống chi là quân chủ vô tri trẻ người non dạ? Xưa kia, tiên vương ta là Thành Vương bỏ quân thần mà đi quá sớm, quả nhân tuổi nhỏ, trí tuệ chưa có, mọi sự chỉ nhất nhất nghe theo lời thái phó. Trời ban vận lành cho nước trẫm, mới có trung thần nhường này… Đích thân thống lĩnh ba quân chinh phạt bang bất nghĩa, thúc trống khua chiêng, mở mang biên cương vài trăm dặm, vài chục thành trì, đánh bại nước lớn. Quả nhân tán tụng đức của người đó, khen thưởng công của người đó, vậy nên ban thưởng kim bài, miễn tội chết đến ba đời… Lân bang khó tin, kẻ thù kề cận, than ôi, hãy ghi nhớ lấy, đời đời con cháu, mãi mãi bảo vệ, chớ để mất nước!” Đọc xong, nhìn sang Tư Mã Chu, “tướng phụ, có kim bài và chiếu thư này, nhà ta ba đời không còn gì lo lắng nữa.”
“Than ôi,” Tư Mã Chu thở dài một tiếng, “con mới chỉ nhìn thấy bề ngoài thôi!”
“Là sao kia, tướng phụ?” Tư Mã Hy ngạc nhiên hỏi. “Con hãy đọc cho thật kỹ mấy câu đầu!”
Tư Mã Hy bèn đọc lại: “Quả nhân nghe nói, thà chết chìm dưới vực, còn hơn bị người dìm chết. Trước kia, vua Yên là Tử Khoái trí tuệ hơn ta, được người tôn kính, thông hiểu chuyện trong thiên hạ, vậy mà vẫn bị Tử Chi mê hoặc, gây hoạ mất nước, bị thiên hạ giết, huống chi là quân chủ vô tri trẻ người non dạ…” Rồi lẩm bẩm một mình, “ồ, có gì bất thường đâu!” Ánh mắt dịch chuyển từ trên chiếu thư sang vào Tư Mã Chu, “tướng phụ?”
“Thà chết chìm dưới vực, còn hơn bị người dìm chết… bị Tử Chi mê hoặc, gây hoạ mất nước, bị thiên hạ giết, huống chi là quân chủ vô tri trẻ người non dạ… Quả nhân tuổi nhỏ, trí tuệ chưa có, mọi sự chỉ nhất nhất nghe theo lời thái phó…” Tư Mã Chu lẩm bẩm nhắc lại vài câu, rồi khép mắt lại.
Tư Mã Hy lại xem kỹ chiếu thư một lượt, đoạn chau mày hỏi: “Ý tướng phụ muốn nói, đại vương…”
“Đại vương đã ngủ không ngon giấc!” Tư Mã Chu chậm rãi đáp.
“Đã có tướng phụ dốc sức phò tá đại vương, cớ sao lại ngủ không ngon giấc?”
“Tư Mã Hy,” Tư Mã Chu mở choàng mắt, ánh mắt như đuốc, nhìn xoáy vào con trai, gọi rành rọt cả họ lẫn tên, “con luôn suy xét sự việc thế này sao?”
“Sao kia, tướng phụ?” Tư Mã Hy ngẩn người, càng ngơ ngác không hiểu.
“Nghe lời phải nghe ý, nhìn người phải nhìn tâm.” Tư Mã Chu cất giọng rành mạch, “con hãy nghiền ngẫm kỹ những lời này! Thà chết chìm dưới vực, còn hơn bị người dìm chết, đây là quyết tâm của đại vương, ý nói thà bị diệt bởi ngoại bang, cũng không muốn chết bởi nội loạn! Bị Tử Chi mê hoặc, gây hoạ mất nước, bị thiên hạ giết, huống chi là quân chủ vô tri trẻ người non dạ, là đem Cơ Khoái ra ví với mình, đem Tử Chi ra ví với cha! Quả nhân tuổi nhỏ, trí tuệ chưa có, mọi sự chỉ nhất nhất nghe theo lời thái phó, ai là thái phó của đại vương? Chính là cha! Thêm ý của đại vương là, thân là quân vương mà lại không có thực quyền, chỉ biết nghe theo lệnh cha, bị cha chế ngự, giờ đại vương đang lo sợ trước những sự việc đã xảy ra! Đại vương ngoài mặt xưng tụng công lao của cha, song kỳ thực lại là bày tỏ nỗi e sợ trong lòng. Đại vương sợ cha bắt chước Tử Chi, chiếm đoạt ngôi vị!”
“Chao ôi!” Tư Mã Hy lúc này mới bừng hiểu ra, đưa ống tay áo lên lau mồ hôi, “con… con không nghĩ được như vậy!” Dừng lại một chốc, sắc mặt âu lo, “tướng phụ, giờ phải làm sao?” Đảo con người vài vòng, “hay là, tướng phụ hãy soạn một tấu chương trình lên đại vương, nói rõ chúng ta không có lòng này, chúng ta… đều là trọng thần, là nghĩa bộc!”
“Này con, than ôi!” Tư Mã Chu thở dài thườn thượt, lắc đầu, “chuyện này đâu thể nói huỵch toẹt ra như vậy? Nếu như nói thẳng, khác nào chưa khảo mà xưng?”
“Vậy… phải làm sao đây?” Tư Mã Hy cuống quýt. Tư Mã Chu trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, rồi nhìn sang Tư Mã Hy: “Đại vương gần đây sủng ái phi tử nào?”
“Giang Cơ.”
“Âm Cơ thì sao?”
“Năm ngoái sủng ái Âm Cơ, ba tháng trước đổi sang Giang Cơ rồi.”
“Vì sao?”
“Con chưa hỏi kỹ, giờ sẽ đi dò la.”
“Được!” Tư Mã Chu gật đầu, “nhất thiết phải dò la cho rõ. Đại vương hiện tại vẫn không thể thiếu được chúng ta, hẳn chưa đến nỗi thái quá. Quan trọng là chuyện sau này. Đại vương có năm vương tử, nhưng nhà vua trong tương lai, chỉ có thể là con trai của Giang Cơ và Âm Cơ.”
“Phải!” Tư Mã Hy tiếp lời, “nay đại vương tuy sủng ái Giang Cơ, song cũng không dám đắc tội với Âm Cơ. Bởi xét về thế lực, gia tộc họ Âm vẫn nhỉnh hơn họ Giang ít nhiều, Âm Công cũng hung hãn hơn Giang Công.”
“Công tử nào là con của Âm Cơ?”
“Thế Thứ.”
“Bao nhiêu tuổi rồi?”
“Mười ba.”
“Tính khí ra sao?”
“Bạo ngược. Công tử của Giang Cơ thì hiền lành hơn.”
“Phải thân cận với cả hai vị công tử này, thăm dò sở thích của họ.”
“Con hiểu rồi.”
Sau khi được Trung Sơn Vương Cơ Thố “khen thưởng”, Tư Mã Chu thình lình đổ bệnh, vô cớ mà đầu váng mắt hoa, đôi lúc chóng mặt đến nôn thốc nôn tháo. Phủ Tư Mã mời khắp danh y, Vương Thố cũng phái ngự y tới khám, đều không tìm ra căn nguyên gây bệnh.
Thế rồi, chứng chóng mặt của Tư Mã Chu lại được trị khỏi bằng cấp báo người Yên tập kích ải Cư Dung.
Do người Triệu đã chinh phục Lâm Hồ và Lâu Phiên, ải Cư Dung lại nối liền với đất Triệu, cho nên đối với Trung Sơn, ải Cư Dung thất thủ quả là tin động trời. Tư Mã Chu vào cung ngay trong đêm, bẩm rõ lợi hại với Vương Thố, rồi sáng sớm hôm sau bất chấp già nua bệnh tật, mang giáp trụ xuất chinh.
Vương Thổ lấy làm cảm kích, đích thân tiễn ra cổng đông, sụt sùi tạm biệt lão tướng quốc.
Tư Mã Chu vừa tới Hạ Đô, lập tức lệnh cho hai vạn bộ tốt, ba trăm cỗ chiến xa đồng loạt đánh vào ải Cư Dung, song đã muộn rồi. Khi quân Trung Sơn tới được phía đông cửa ải, thì kỵ binh Hồ phục tới từ đất Triệu cũng đã kịp tới phía tây. Hai bên kịch chiến, kỵ binh Hồ phục càng đánh càng đông, nghìn nghịt khắp núi rừng, gần như nuốt chửng quân Trung Sơn. Lại thêm người Yên xuất quỷ nhập thần, đêm ngày tập kích quấy nhiễu, khiến quân Trung Sơn nhanh chóng tan rã mà thoái lui.
Tuy nhiên, dù là bộ tốt hay chiến xa, thoái lui có nhanh cách mấy cũng không thể nhanh bằng kỵ binh Hồ phục từ thảo nguyên tới. Người Trung Sơn chưa chạy được bao xa, đã bị kỵ binh từ xa đánh vu hồi lại chặn đứng đường lui.
Toán kỵ binh này không tấn công, cũng không phòng thủ, chỉ giống như từng bầy sói thảo nguyên, chạy qua chạy lại trên đường rút lui của người Trung Sơn, rồi thừa cơ bắn tên như mưa. Người Trung Sơn đón đỡ không xuể, cũng không thể lui được nữa, đành phải hạ trại tại chỗ, bị quân Triệu, Yên vây khốn.
Tư Mã Chu lấy làm lo lắng, đích thân dẫn một vạn nhuệ binh cùng năm trăm xe chiến, rời Hạ Đô tiếp ứng.
Kỵ binh Triệu hay tin bèn nhanh chóng rút lui, chờ cho cánh quân của Tư Mã Chu tới được chỗ cánh quân bị vây khốn, lại thình lình ập tới, kết thành vòng vây rộng lớn hơn nữa. Hai bên giằng co chừng nửa tháng trời, đường lương thảo của người Trung Sơn bị kỵ binh Hồ phục cắt đứt hoàn toàn, quân Trung Sơn sa vào thế cô lập, bốn bề thọ địch, không thể cầm cự nổi nữa.
Tư Mã Chu tìm cách cầu cứu người Tề. Người Tề ngoài miệng chấp thuận, song trì hoãn mãi không gửi viện binh tới. Tư Mã Chu đã hiểu người Tề vì sao không cứu, chỉ đành thở dài nghiến răng, chia bảy trăm cỗ chiến xa còn lại thành hai cánh, một cánh bốn trăm cỗ xe xông thẳng ra trận đột phá vòng vây, cánh còn lại ba trăm cỗ, do Tư Mã Chu đích thân chỉ huy, đi sau yểm hộ. Bộ tốt Trung Sơn bày trận hình vuông, ngoài cùng là nó thủ, vừa bắn tên vào kỵ binh Triệu, vừa men theo chân núi Thái Hàng mà rút lui về Hạ Đô.
Trên đường tháo chạy, kỵ binh Hồ vẫn tiếp tục kéo đến, càng lúc càng bao vây dày đặc. Từ ải Cư Dung tới Hạ Đô Vũ Dương chỉ hơn ba trăm dặm, mà người Trung Sơn phải đột phá vòng vây suốt mười hai ngày trời mới tới được Vũ Dương.
Song cái giá phải trả quá ư đắt đỏ. Khi tới Vũ Dương, ba vạn quân Trung Sơn đã tổn thất quá nửa, bị thương vài nghìn, bảy trăm cỗ chiến xa còn lại không đầy trăm cỗ, quân nhu tổn thất sạch không.
Bi thảm hơn nữa, Tư Mã Chu đã bị trúng tên.
Tư Mã Chu trúng tên vào vai, mũi tên vừa hay xuyên qua khe giáp, cắm ngập vào xương bả vai. Khi thầy thuốc rút mũi tên ra, Tư Mã Chu mất quá nhiều máu, sau đó vết thương lở loét, cộng thêm lao lực nhiều ngày, sức lực cạn kiệt, không thể vực dậy, ba ngày sau thì qua đời tại Hạ Đô.
Sau khi người Trung Sơn tới được Hạ Đô, quân Triệu cũng án binh bất động.
Cơ Chức triệu tập chư tướng, lệnh cho họ tiếp tục đánh vào Hạ Đô, đoạt ải Tử Kinh, đuổi người Trung Sơn qua Dịch Thuỷ, sau đó đánh đuổi người Tề, đoạt lại Kế Thành, xua người Tề sang bên kia Hà Thuỷ.
Tướng Triệu đưa mắt nhìn nhau, không ai nhận lệnh.
Quân tướng đều là đi mượn, tuy trên danh nghĩa là của Cơ Chức, song Cơ Chức hiểu, người Triệu mãi mãi là người Triệu, họ chỉ nghe lệnh Triệu Ung.
Không còn được người Triệu trợ giúp, Cơ Chức chẳng biết phải làm sao. Kể từ sau khi vào Yên, thực sự đi theo để bảo vệ Cơ Chức, chỉ có nhóm người Yên đã từng đột kích ải Cư Dung, quân số chưa đầy một vạn. Các cánh nghĩa quân khác trên đất Yên, một mặt thế lực chưa lớn, một mặt vẫn còn nghe ngóng. Dù sao thì, Cơ Chức vẫn chưa công khai phất cờ hiệu lệnh.
Triệu Ung không theo quân vào Yên, lúc này vẫn cùng tân phu nhân Na Sa sống trong biệt cung Bình Ấp.
Ở lại Bình Ấp, còn có Cơ Tuyết và Dịch vương hậu. Phần là do Triệu Ung giữ lại, phần nữa cũng bởi chiến trận quá ư nguy hiểm, Cơ Chức không muốn họ đi cùng, chỉ dẫn theo Phi Phi và Đỗ Hành, đều mang nhung phục. Cơ Chức vội vã phi ngựa về Bình Ấp, vào yết kiến Triệu Vương.
Trông thấy Cơ Chức, Vũ Linh Vương giả bộ kinh ngạc: “Sao công tử lại trở về?”
Cơ Chức vái mà nói: “Cơ Chức tới đây, là thuốn khẩn cầu Triệu thúc!”
“Có chuyện gì ư?” Triệu Ung đáp lễ, nheo mắt hỏi, quả nhân cũng vừa nhận được tiệp báo, cháu hiền cầm quân thích đáng, liên tiếp đánh bại người Yên kia mà!”
“Cơ Chức khẩn cầu Triệu thúc, hãy lệnh cho ba quân đánh đuổi người Tề, người Trung Sơn ra khỏi bờ cõi nước Yên!” Cơ Chức vòng tay nói.
“Ồ?” Triệu Ung ngẩn người, “ba quân chẳng phải đã giao cho cháu hiền?”
“Nhưng,” Cơ Chức rầu rĩ, “họ không theo lệnh cháu!”
“Ồ?” Triệu Ung vờ như không biết, “có chuyện này ư! Nói xem, cớ sao họ lại không nghe?”
“Cháu… cháu lệnh cho họ đoạt lại Kế Thành, Hạ Đô, đánh đuổi người Tề, người Trung Sơn ra khỏi nước Yên, song họ không nghe lệnh!”
“Ồ, thì ra là vậy!” Triệu Ung nhắm mắt ra bộ ngẫm nghĩ chốc lát, rồi nhìn sang Cơ Chức, “chuyện này, cũng không thể hoàn toàn trách họ!”
“Triệu thúc,” Cơ Chức cuống lên, “chẳng phải chúng ta đã thoả thuận rồi ư?”
“Cháu hiền,” Triệu Ung mỉm cười, “việc ta thoả thuận, là quả nhân hộ tống cháu hiền quay về đất Yên, chờ thời cơ thích hợp, sẽ lập cháu hiền làm Yên Vương. Quả nhân giờ đã hộ tống cháu về tới đất Yên rồi, chuyện tiếp theo quả nhân có thể làm, chỉ là lập cháu hiên làm tân quân nước Yên. Còn như lập lúc nào, đó là nội sự của nước Yên, cháu hiền tốt nhất hãy đi hỏi phu nhân của tiên Yên Quân Văn Công, tức thái hậu nước Yên! Theo quả nhân biết, trong Yên thất hiện thời, thái hậu chính là người có quyền lực nhất để lập cháu hiền lên ngôi.”
“Nhưng Triệu thúc,” Cơ Chức gần như phát khóc, “cường địch phía trước, hùm beo trong nhà, người bảo cháu làm vua thế nào đây! Hơn nữa, cho dù cháu có kế ngôi, cũng biết lập đô ở đâu đây? Đất Yên đa phần đang nằm trong tay kẻ thù, người bảo cháu làm vua của ai đây?”
“Than ôi,” Triệu Ung thở dài, nhìn sang Cơ Chức, “về chuyện này, quả nhân đã bàn với Tô Tử từ trước. Quả nhân đồng ý hộ tống công tử vào Yên, song chưa nhận lời đoạt lại bờ cõi cho công tử, vì sao kia? Vì đó là chuyện của người Yên. Quả nhân mà làm như vậy, chính là khai chiến với Tề và Trung Sơn. Khi nước Yên nội loạn, Tề Vương hẹn quả nhân cùng phạt Yên, quả nhân đã khước từ, bởi Triệu, Tề, Yên đều là nước tung thân, minh ước vẫn còn nguyên đó. Thế rồi, người Tề lại hẹn Trung Sơn cùng phạt Yên, Trung Sơn Quân sai Tư Mã Chu đi sứ sang Triệu kết tình láng giềng hoà mục, Tề Vương cũng nói giúp Trung Sơn, quả nhân bất đắc dĩ, đành phải giao ước với hai nước sẽ không xâm phạm lẫn nhau. Không phải quả nhân không giúp cháu hiền, mà bởi đã có giao hẹn từ trước!”
“Ôi chao…” Cơ Chức vò đầu bứt tai, “vậy theo kế của chú, cháu nên làm thế nào đây?”
“Muốn đánh đuổi người Tề và người Trung Sơn, cháu hiền có hai cách. Thứ nhất, tập hợp người Yên, đánh đuổi họ đi. Đây là đường chính, song e rằng sẽ mất nhiều thời gian và sức lực. Thứ hai, giảng hoà với Tề, để người Tề tự động lui quân. Người Tề lui rồi, Trung Sơn cũng không thể tiếp tục trụ lại được. Nghe nói Tư Mã Chu bị trúng tên, đã chết rồi.”
“Tư Mã Chu chết rồi?” Cơ Chức sửng sốt.
Triệu Ung gật đầu.
Cơ Chức nắm chặt bàn tay, lát sau nhìn sang Triệu Ung: “Cháu xin thỉnh giáo, phải thương lượng thế nào với người Tề?”
“Chuyện này,” Triệu Ung cười, “nên hỏi Tô Tử.”
“Tô Tử.”
Dường như đoán được Cơ Chức định nói gì, Triệu Ung liền cắt lời: “Công tử hãy về đất Yên, nếu đúng như quả nhân dự liệu, chẳng mấy sẽ gặp được Tô Tử.”
Rõ ràng, tất cả đều nằm trong sự sắp đặt của Triệu Vũ Linh Vương. Cơ Chức hít vào một hơi dài, vái tạ rồi quay trở về chỗ Dịch vương hậu, kể lại tường tận đầu đuôi sự việc. Dịch vương hậu không nói một lời, kéo Cơ Chức tới gặp Cơ Tuyết.
“Danh bất chính, ngôn bất thuận,” Cơ Tuyết nghe xong, bèn thong thả đáp, “giờ Chức Nhi hãy về đất Yên trước, tổ hậu cùng mẫu hậu của con sẽ tới sau, ta sẽ thỉnh cầu Triệu Vương cùng đi, trước tiên phải dựng được cờ!”
“Tạ ơn tổ hậu trợ giúp!”
Vài ngày sau, Triệu Vũ Linh Vương ngự trên vương xa, Cơ Tuyết, Dịch vương hậu ngồi trên hậu xa của Yên thất, đoàn xe lăn bánh rầm rập qua ải Cư Dung, được năm vạn kỵ binh Hồ phục và hơn vạn nghĩa sĩ đất Yên tiên hộ hậu ủng, tiến thẳng tới Yên đô Kế Thành. Còn cách Kế Thành ba dặm thì dừng lại hạ trại.
Quân sĩ nước Tề cho rằng họ tới công thành, bèn đóng chặt cổng thành, bày trận sẵn sàng chờ đợi.
Sau đó vài ngày, người Triệu, người Yên dựng đàn tế tại chỗ, lập bài vị của thần trời đất và tiên tổ Yên thất, quan đại chúc của tiên miếu nước Yên làm tư nghi, tổ thái hậu Cơ Tuyết chủ trì, công tử duy nhất còn sống sót của Yên thất Cơ Chức thề trước trời đất, lên ngôi Yên Vương, sử gọi là Yên Chiêu Vương. Quách Quy, thủ lĩnh cánh nghĩa quân công chiếm ải Cư Dung và hơn hai chục thủ lĩnh nghĩa quân từ các vùng khác nhau hay tin tìm tới, cùng các quan đại phu tiền triều và thành viên Yên thất may mắn sống sót đang rải rác các nơi, đều tới nghe chiếu.
Sau đại lễ tức vị, Yên Vương Cơ Chức ban bố chiếu mệnh, không chấp nhận vương vị của Cơ Khoái, Tử Chi, trực tiếp truy phong phụ vương Cơ Tô là tiến vương, thuy hiệu vẫn là Dịch Vương, phong Cơ Tuyết là tổ thái hậu, Dịch vương hậu là thái hậu, Quách Quy và các tướng lĩnh theo Yên đều liệt vào hàng đại phu, đồng thời tuyên chiếu đại xá thiên hạ, phàm những ai tham gia loạn Tử Chi đều không truy tội; phàm những ai dốc sức đánh kẻ xâm lăng đều được ban thưởng.
Tiếp đó, Yên Chiêu Vương phái Quách Quy mang sứ tiết tới Kế Thành và Hạ Đô Vũ Dương, trao vương mệnh cho người Tề và người Trung Sơn giữ thành, đưa ra kỳ hạn để yêu cầu họ rời khỏi đất Yên, trao trả Kế Đô, Hạ Đô và toàn bộ đất Yên đã chiếm đóng cho Yên Vương.
Có Triệu Vương hậu thuẫn, tổ thái hậu ra mặt, người Yên đều thừa nhận Cơ Chức, đất Yên bỗng chốc khí thế sục sôi, chiếu mệnh của Yên Vương bay như bươm bướm tới khắp các miền nước Yên. Trước sau chưa tới năm ngày, nghĩa quân các nơi vâng chiếu cần vương kéo về ủng hộ đã không dưới năm vạn, và còn đông đảo nghĩa sĩ rầm rộ tìm tới Kế Thành theo lời hiệu triệu.
Người Tề kinh hãi, co cụm trong Kế Thành, cố thủ không dám ló ra.
Ngày thứ tư sau khi Yên Chiêu Vương tức vị, Tô Tần đã tới.
Cùng đi với Tô Tần, còn có Viên Báo.
Tô Tần vào yết kiến, Cơ Chức ra tận ngoài vương trướng nghênh đón. Hành lễ xong, hai người dắt tay nhau vào trong.
Chờ Cơ Chức yên vị rồi, Tô Tần lại hành đại lễ yết kiến, dập đầu mà nói: “Thần Tô Tần khấu kiến đại vương, cung chúc đại vương thụ mệnh ở trời, nhận phúc từ tổ, được thần linh xã tắc phù hộ, thống lĩnh vạn triệu dân Yên, phục hưng giang sơn nước Yên, chấn hưng xã tắc nước Yên, khiến dân Yên mãi mãi thoát cơn bĩ cực, đời đời hưởng phúc lành.”
Cơ Chức cảm động, đứng lên, đỡ Tô Tần dậy, nước mắt lã chã: “Ân công…”
Hai người ôm chặt nhau hồi lâu, rồi mới buông nhau ra, quay về chiếu ngồi xuống.
“Ân công,” Cơ Chức vòng tay, “Cơ Chức tuổi nhỏ non nớt, đức chưa xứng vị, bước đường sau này, vẫn phải nhờ ân công chỉ giáo.”
“Tạ ơn đại vương tín nhiệm!” Tô Tần đáp lễ, “Tần đi suốt ngày đêm tìm tới, chính là vì đại vương!”
“Ân công,” Cơ Chức vội nói, “trước mắt trăm việc rối bời, muôn nghìn cấp bách, mà việc cấp bách đầu tiên là đánh đuổi hai giặc Tề và Trung Sơn. Đánh đuổi thế nào, những mong ân công chỉ giáo!”
“Hồi bẩm đại vương,” Tô Tần đáp, “thần cho rằng, đại vương quả thực có muốn nghìn việc cấp bách, song việc cấp bách đầu tiên lại không phải đánh đuổi hai giặc!”
“Ồ?” Cơ Chức sửng sốt, “vậy đâu mới là việc cấp bách đầu tiên?”
“Là kế sách lâu dài cho nước Yên!”
“Dám hỏi đâu là kế sách lâu dài?” Cơ Chức ngả người lại, ánh mắt khẩn thiết.
“Tung thân!”
“Việc này thì Chức hiểu!” Cơ Chức ngồi thẳng người trở lại, “ân công từng nói trước đây, Chức cũng tán đồng.”
“Đại vương mới hiểu hợp tung, chứ chưa hiểu phải làm thế nào để hợp tung!”
“Dám hỏi ân công, hợp tung thế nào?”
“Kết minh với Tề!”
“Ân công,” Cơ Chức chỉ về phía Kế Thành, hoả khí bốc lên, giọng nói gần như uất nghẹn, “người Tề… lúc này… vẫn còn chiếm giữ đô thành của nước Yên ta! Họ… xâm phạm đất Yên, cướp của cải, diệt xã tắc, đốt tông miếu, sát hại dân Yên ta…” Ngón tay bất giác run lên bần bật, “Chức nhất quyết không đội trời chung với họ, và cả người Trung Sơn.”
“Phải, đại vương,” Tô Tần đáp, “lời người vừa nói, thần đều đã hiểu.”
"Ân công đã hiểu, cớ sao còn nói kết minh?”
“Bởi kết minh với Tề chính là trường sách của Yên.”
Cơ Chức nhắm mắt lại.
“Đại vương,” Tô Tần ngả người lại, nhìn xoáy vào Cơ Chức, “nếu không kết minh với Tề, thì người hãy nghĩ xem, còn có kế nào?”
“Khai chiến với địch!” Cơ Chức gần mạnh từng tiếng, “quả nhân đã chiêu tập được sáu vạn quân Yên, vẫn còn đông đảo người Yên đang từ các nơi kéo tới, tính sơ qua, chỉ trong ba tháng, quả nhân sẽ có trong tay mười vạn dũng sĩ! Người Tề, người Trung Sơn cưỡng chiếm nhà cửa đất đai của người Yên, người Yên không ai không ôm lòng thù hận!”
“Đại vương,” Tô Tần nhìn thẳng vào Cơ Chức, “lẽ nào người không muốn làm một vị vua hiện ư?”
“Quả nhân…” Cơ Chức ngơ ngác, “đánh đuổi quân xâm lược, lẽ nào không tính là hiền ư?”
“Vua hiền, nhất định phải biết thương xót nỗi khổ của dân!” Tô Tần nhấn mạnh từng chữ.
Cơ Chức ngắc ngứ rồi im lặng.
Tô Tần dõng dạc tiếp lời: “Đại vương từ nhỏ sống trong cung thành, tuy gặp cảnh loạn lạc, chịu khổ lưu ly, song khổ nạn thực sự của người dân, nhất là khổ nạn của dân Yên, theo như thần biết, đại vương chưa từng cảm nhận, nói gì tới thấu hiểu. Tử Chi gây loạn nước Yên, khiến cho khắp nước Yên sinh linh đồ thán, sau đó lại đến người Tề, người Trung Sơn ùa vào cướp bóc, tàn hại đủ đường, dân Yên sớm đã chịu đủ mùi cơ cực. Dân Yên mong ngóng đại vương, chính là hy vọng đại vương có thể mang lại cho họ cuộc sống bình yên, để họ được nghỉ ngơi dưỡng sức, chứ không phải là để lôi họ vào cuộc chiến một mất một còn với hai nước lớn lân bang.”
“Cơ Chức hiểu rồi!” Cơ Chức vòng tay, giọng nói đã hoà hoãn lại, “trước đây, Triệu Vương cũng từng nhắc tới chuyện này, chỉ là quả nhân nhất thời phẫn hận, chưa kịp nguôi ngoai. Ân công,” chỉ về phía Kế Đô, “chỉ cần người Tề chịu rút khỏi bờ cõi, quả nhân sẽ cùng họ… kết minh!”
“Đại vương anh minh!” Tô Tần vòng tay.
“Còn người Trung Sơn?” Cơ Chức nhìn sang Tô Tần, “chắc không đến mức bảo quả nhân phải giảng hoà và kết minh với họ chứ?”
“Nút thắt Trung Sơn, không cần đại vương phải tháo!”
“Ồ?”
“Đại vương hẳn có biết, vì sao Triệu Vương sẵn lòng đưa người về Yên và hậu thuẫn đại vương lên ngôi?”
“Vì sao?”
“Chính là vì nước Trung Sơn.”
“Nhưng họ.” Cơ Chức hậm hực, “lại không chịu đánh Vũ Dương!”
“Không phải không đánh, mà là chưa đến lúc để đánh!”
“Được,” Cơ Chức vòng tay, “ấn công đã nói về trường sách, Cơ Chức đều chấp thuận. Giờ đến đoản sách, xin ôn công hãy chỉ giáo!”
“Chiêu mộ nhân tài, chỉnh đốn quan lại, dốc lòng trị quốc, cùng dân nghỉ ngơi!”
“Tạ ơn ân công!” Cơ Chức vòng tay.
Mưu tính xong đại sự, Tô Tần tới yết kiến Triệu Vương, bàn luận sơ qua về chuyện ba nước Tề, Yên, Trung Sơn, xong mới quay về trại khách. Do đang ở trong doanh trại, Tô Tần không thể vô duyên vô cớ đến gặp Cơ Tuyết, nên dành ở yên trong trại. Tới sáng hôm sau, sai Trâu Phi Đạo đánh xe, tìm tới Yên đô Kế Thành.
Thấy người gọi cổng là Tô Tần, công tử Trọng truyền lệnh mở cổng, đích thân ra đón.
“Dám hỏi tướng quân,” hành lễ xong xuôi, Tô Tần vào ngay chuyện chính, “tướng quân muốn liều chết một trận, hay muốn an toàn lui về đất Tề?”
“Lui thế nào được?” Công tử Trọng nhún vai, “ngoài thành đều là người Triệu và người Yên…”
“Tướng quân vẫn chưa trả lời câu hỏi của tại hạ.” Tô Tần vẫn khăng khăng.
“Đương nhiên là muốn lui!” Công tử Trọng vội đáp, “có ai lại muốn bỏ mạng ở chốn xa xôi heo hút này.”
“Nếu vậy,” Tô Tần tiếp, “tại hạ sẽ thuyết phục Yên Vương và Triệu Vương, chừa ra một con đường, đảm bảo tướng quân và toàn bộ người Tề an toàn rút khỏi Kế Đô, ra khỏi nước Yên; Biên giới Tề, Yên vẫn giữ nguyên như trước khi người Tề vào Yên, thế nào?”
“Ồ…” Công tử Trọng lộ vẻ bối rối, “bản tướng còn phải bẩm báo đại vương. Không có hổ phù và chiếu mệnh, bản tướng cũng…”
“Tướng quân nói phải!” Tô Tần đáp, “tại hạ vừa từ Lâm Truy tới đây, trước lúc khởi hành, tại hạ vào cung yết kiến Tề Vương, có nhắc đến chuyện nước Yên, Tề Vương cũng chấp thuận lui quân. Chỉ là người Triệu, và cả người Yên, e là không muốn chờ đợi thêm nữa. Tướng quân cũng hiểu, người Yên từ trên xuống dưới đều đang giận dữ sục sôi!”
“Tô đại nhân,” công tử Trọng lo lắng, “vậy… phải làm thể nào đây?”
“Tướng quân,” Tô Tần đắn đo chốc lát, rồi nhìn sang công tử Trọng, “tướng ở bên ngoài, tuỳ cơ ứng biến. Tướng quân hãy cứ lui quân trước, còn tại hạ sẽ lập tức tới Lâm Truy, giúp tướng quân thỉnh mệnh. Bất luận thế nào, tướng quân và đại vương đều là cốt nhục của tiên vương, gân mạch nối liền. Tướng quân có thể không sợ người Yên, song kỵ binh người Triệu, tướng quân cũng không sợ ư? Lẽ nào tướng quân thực sự muốn vì nước vong thân ở đất Yên rồi lập bài vị trong miếu đường nước Tề.”
“Ân công thực sự có thể thuyết phục vương huynh?” Công tử Trọng nhìn xoáy vào Tô Tần.
“Tướng quân yên tâm, tại hạ đảm bảo tướng quân sẽ được vô sự!”
Công tử Trọng suy nghĩ một hồi, rồi vòng tay với Tô Tần: “Điền Du cảm tạ Tô đại nhân!”
“Tuy nhiên, tại hạ cũng có một thỉnh cầu!” Tô Tần đáp lễ, nhìn thẳng vào công tử Trọng.
“Tô đại nhân cứ nói.”
“Ngoài quân lương và số quân nhu ban đầu, tướng quân không được mang theo bất cứ thứ gì khác.”
“Sao kia?” Công tử Trọng mắt trợn tròn xoe, nhảy dựng dậy, “ý đại nhân là muốn chúng ta tay trắng quay về Lâm Truy?”
“Phải!”
“Sao có thể được?” Công tử Trọng bừng bừng kích động, “chư tướng sĩ lìa vợ xa con, vào sinh ra tử, là vì cái gì? Giờ đây trở về, đại nhân lại muốn họ tay trắng mà đi Tô đại nhân, bảo bản tướng phải ăn nói thế nào với họ, với người nhà họ đây?”
“Lẽ nào những thứ đã cướp đoạt được, vẫn chưa đủ ư?”
“Cũng có chút ít, nhưng tất cả đều đang trữ trong Kế Thành. Chư tướng sĩ vẫn đang chờ đợi đến ngày nhận được chiếu lệnh rút quân, để có thể mang theo chiến lợi phẩm quay về quê cũ, cởi giáp làm ruộng!”
“Chẳng phải đã có rất nhiều đoàn xe đầy ắp từ Yên sang Tề đấy thôi?”
“Đều nộp cho quốc khố cả rồi!” Công tử Trọng giải thích, “lần này trở về, những thứ chở theo mới là của chư tướng sĩ!”
Tô Tần khép mắt hồi lâu, mới bật ra một tiếng thở dài sườn sượt.
“Tô Tử, không thể để chư tướng sĩ tay không trở về!” Công tử Trọng kiên quyết, “bằng không, họ thà tử chiến!”
“Tại hạ hiểu rồi!” Tô Tần chậm rãi đứng dậy, đi ra đến cửa, ngoảnh đầu lại nói, “cứ quyết định như vậy. Tướng quân có thể mang đi những thứ đã lấy được, nhưng không được phép tiếp tục quấy nhiễu dân Yên! Nếu không, tại hạ không thể đảm bảo tướng quân có thể bình yên vô sự về đến đất Tề!”
Vài ngày sau chuyến điều đình của Tô Tần, liên quân Yên, Triệu quả thực đã nhường lại con đường cái quan, để cho vài vạn quân Tề cùng cả vạn xe quân nhu chở đầy của cải cướp bóc được trên khắp đất Yên rầm rập rời khỏi cổng nam kinh thành, rồi theo đường lớn tiến về phía nam, cho tới tận biên giới Tề, Yên như trước trận chiến.
Khi quân Tề ở Kế Đô rút về, người Tề ở các thành ấp khác cũng lục tục lui binh. Không đầy vài ngày, trên khắp nước Yên đã sạch bóng quân Tề.
Vào hôm người Tề rút quân, Cơ Chức cùng vài chục triều thần nước Yên mới được bổ nhiệm xếp thành hàng tiến vào vào cổng nam Kế Thành.
Cơ Chức không ngồi xe, mà đi bộ từng bước vào cung thành.
Hay tin Yên Vương nhập thành, người Yên trong Kế Thành thảy đều dìu già dắt trẻ kéo ra ngoài phố, quỳ dọc bên đường, rơi nước mắt nghênh đón tân vương.
Nhìn những người Yên què tay cụt chân, áo quần rách rưới, Cơ Chức bất giác ứa lệ.
Cơ Chức dừng lại trước một lão ăn mày cụt cả hai chân, gầy như xác ve.
Đột nhiên, Cơ Chức quỳ sụp xuống trước mặt ông lão, dập đầu xuống đất mà khóc lớn: “Lão trượng, quả nhân và Yên thất… có lỗi với lão, có lỗi với toàn bộ người Yên đã gặp kiếp nạn! Trời đất xin hãy giáng hết khổ nạn lên đầu Cơ Chức này.”
Tất thảy người Yên có mặt cũng khóc theo.
Cứ như vậy, Cơ Chức vừa khóc vừa đi, vừa đi vừa quay sang dân chúng hai bên đường vái dài tạ tội. Từ cổng nam cho tới cung thành chưa tới sáu dặm đường, Cơ Chức phải đi hơn một canh giờ mới tới nơi.
Trong cung trống rỗng.
Cung thất và cung khố cũng trống rỗng. Tất cả những thứ có thể lấy, đều đã bị người Tề chất hết lên xe chở đi cả rồi.
Nhưng nhà cửa vẫn còn đó, cây cỏ vẫn còn đó, đình đài vẫn còn đó.
Cơ Chức hồi cung chừng hơn nửa canh giờ, có vài chục cung nhân già lục tục chui ra từ các ngóc ngách khác nhau trong cung thành. Họ là những người cuối cùng ở lại trông coi cung thành, trước khi người Tề rút quân, họ đều sợ hãi nấp kín, lúc này mới dám ló ra, cùng quỳ sụp xuống trước Cơ Chức.
Cơ Chức bước lại gần, và nhận ra vài người trong số họ. Mấy người đó cũng nhận ra Cơ Chức, bèn lê lại ôm lấy chân Cơ Chức mà khóc lóc thảm thiết.
Cơ Chức hướng về phía chúng cung nhân, vái sâu một vái, rồi lại vòng tay hướng lên không trung hành lễ với chư thần linh bốn phương.
Dưới sự sắp xếp của đám Quách Quy, Cơ Chức bước vào chính điện, chiếu lệnh cho nam nữ cung nhân đang rải rác các nơi, phàm ai muốn trở về cung đều có thể quay về, đảm đương chức cũ. Tiếp đến, Cơ Chức sai người đi đón Cơ Tuyết, Dịch vương hậu vào hậu cung, trông nom cung thất.
Trải qua một trường kiếp nạn, Yên đô Kế Thành cuối cùng đã có được ngày bình yên. Chốn cung đình cũng được quay về với lễ nhạc.
Cơ Chức lên triều, thấy trong triều đường đã ngồi kín triều thần.
Tuy nhiên, những triều thần đó là như thế nào?
Đa phần đều là hán tử hương thôn được chiêu tập từ nơi thảo dã. Sau non nửa tháng, đã dần lộ ra sở đoản, bất kể giao cho chức vị gì, đa phần đều không biết phải làm như thế nào.
Cơ Chức khép mắt lại, bên tai chợt văng vẳng giọng nói của Tô Tần: “Chiêu mộ nhân tài, chỉnh đốn quan lại, dốc lòng trị quốc, cùng dân nghỉ ngơi!”
Nhưng lúc này, Tô Tần lại không có mặt.
Sau khi dàn xếp xong chuyện Kế Thành, Tô Tần lập tức tới thẳng Lâm Truy, thay công tử Trọng thinh mệnh. Hơn nữa, rạn nứt giữa Tề và Yên thực sự quá lớn, cũng cần có Tô Tần hàn gắn.
Cơ Chức bèn tới tiên miếu. Tiên miếu nước Yên đã bị người Tề đập phá tan hoang, lúc này, Quách Quy đã tập hợp thợ thuyền để sửa sang, dựng lại. Đại Yên phục quốc, muôn việc cần làm, song tông miếu xã tắc chính là việc trong đại hàng đầu, vậy nên Cơ Chức đã lệnh cho thượng đại phu Quách Quy đích thân đốc thúc thi công.
Quách Quy dẫn Cơ Chức đi xem một vòng, rồi tới một ngôi đình. Đình đã dựng xong, trong bày kỷ án, là Quách Quy chuẩn bị sẵn cho Cơ Chức.
Cơ Chức ngồi xuống, Quách Quy bèn ngồi vào chiếu của bề tôi.
“Bao giờ thì tiên miếu xây xong?” Chiêu Vương hỏi.
“Hồi bẩm đại vương,” Quách Quy vòng tay đáp, “theo tốc độ này, còn chừng ba tháng.”
“Tốt lắm!” Chiêu Vương gật gù, “quả nhân tới đây, không phải để thúc giục, mà có một việc muốn hỏi khanh.”
“Đại vương cứ hỏi.”
“Nước Yên muốn việc bề bộn, cần gấp nhân tài, mà hiền thần triều trước đa phần đều đã chết vì nạn nước, quả nhân nhìn khắp triều đường, mà lại không thấy có ai dùng được. Không giấu thượng đại phu, mấy ngày qua, quả nhân cả đêm trằn trọc, không sao ngủ được!”
“Thần có một khúc mắc, thỉnh cầu đại vương giải thích giúp cho.” Quách Quy đáp lời.
“Thượng đại phu cứ nói.”
“Đại vương thực lòng cầu hiền, hay là…”
“Ồ…. ” Chiêu Vương nôn nóng, “chuyện này mà còn giả được ư? Quả nhân nôn nóng cầu hiền còn không được! Một đất nước, đáng buồn nhất là bên trong không có bề tôi giỏi mưu, bên ngoài không tướng lĩnh thiện chiến!”
“Đại vương hiền đức!” Quách Quy đứng dậy, dập đầu bái lạy, sau đó chậm rãi quay về chiếu, vòng tay nói, “thần từng nghe kể một tích chuyện xưa, đại vương có muốn nghe chăng?”
“Quách khanh hãy kể!” Chiêu Vương chìa tay mời.
“Xưa có nhà vua rất thích ngựa thiên lý, nguyện bỏ ra ngàn vàng để mua ngựa, mà suốt ba năm không được.”
“Sau đó thì sao?” Chiêu Vương tò mò hỏi.
“Thấy nhà vua ao ước quá, nội thị bèn thỉnh mệnh đi tìm.” Quách Quy kể tiếp, “nhà vua tin lời, bèn giao cho ngàn vàng. Nội thị đi liền ba tháng, cuối cùng mang vê một bộ xương ngựa. Nhà vua nổi giận, quát lớn: ‘Quả nhân muốn ngựa sống chứ đâu phải ngựa chết, tại sao ngươi lại bỏ ra những năm trăm lượng vàng chỉ để mua một bộ xương ngựa? Nội thần bèn đáp: ‘Chúa thượng bớt giận, ngựa sống vài hôm nữa sẽ tới. Nhà vua giận dữ hỏi lại: “Là sao?’ Nội thần bèn đáp: Xương của ngựa thiên lý còn đáng giá năm trăm vàng, huống hồ là ngựa sống? Quả nhiên, chưa đầy một năm sau, ngựa thiên lý đua nhau tìm tới.”
Chiêu Vương trầm ngâm suy nghĩ.
“Đại vương,” Quách Quy vòng tay nói, “nếu thực sự muốn chiêu nạp hiền sĩ, xin hãy bắt đầu từ Quy. Quy chẳng phải hiền năng, mà còn được đại vương dùng đến, huống hồ là người hiền tài hơn Quy?”
“Hay lắm!” Chiêu Vương rời khỏi chiếu, vái Quách Quy một vái thật sâu, “từ hôm nay, quả nhân bái khanh làm quốc sư, lập phủ để trông nom việc nước!”
Quách Quy đứng dậy, dập đầu mà nói: “Tạ ơn đại vương hậu đãi!”
Ngay sáng hôm sau, Chiêu Vương ban chiếu giữa triều, bái Quách Quy làm quốc sư, ban cho một toà phủ trạch, một nghìn lượng vàng, hai mươi sáu nô bộc, ba mươi súc lụa, đồng thời ban chiếu chiêu hiên, dựng Chiêu Hiền quán, chiếu cáo thiên hạ, tất cả đều giao cho Quách Quy đảm trách.
Đương nhiên, nghìn lạng vàng, ba mươi súc lụa, chi là giả.
Khắp nước Yên đều sôi sục.
Quân Tề đã rút lui, nhưng người Trung Sơn chưa rút, vẫn chiếm giữ vùng đất rộng lớn chừng trăm dặm vuông từ Hạ Đô tới ải Tử Kinh.
Người Trung Sơn không thể rút lui.
Không phải Trung Sơn Vương Cơ Thố không muốn rút quân về, mà là không đành lòng từ bỏ. Vương Thổ hiểu, mất đi Vũ Dương, cũng chính là mất đi ải Tử Kinh; mất đi ải Tử Kinh, cũng chính là mất đi Bắc Dịch Thuỷ. Mất đi Bắc Dịch Thuỷ, vậy thì đi theo người Tề suốt mấy năm nay coi như uổng công vô ích. Tề Vương từ lâu đã có được thứ mình muốn có, gần như cướp sạch cung Yên, còn Vương Thố thì sao? Đánh đổi hơn hai vạn sinh mệnh Trung Sơn, giờ chỉ còn lại Vũ Dương và ải Tử Kinh này.
Sau khi Tư Mã Chu trúng tên mà chết, Vương Thổ tăng viện bốn vạn đại quân, hạ trại tại Bắc Dịch Thuỷ, đồng thời tăng binh Vũ Dương, củng cố lực lượng phòng thủ cho ải Tử Kinh.
Đối mặt với hai tầng áp lực đến từ người Triệu và người Yên, tướng sĩ Trung Sơn lúc nào cũng phải căng mình trực chiến.
Thấy người Trung Sơn cảnh giác cao độ, ngủ không rời giáo, Vũ Linh Vương bèn hạ lệnh rút quân.
Sau khi Yên Chiêu Vương cử hành đại lễ tức vị, Vũ Linh Vương cũng quay về đất Triệu, tiếp tục sống ở biệt cung Bình Ấp.
Vũ Linh Vương quyết định lui quân, là có liên quan tới đại phu nước Triệu Lý Tỳ.
Trước hôm xuất quân đến Trung Sơn, Vũ Linh Vương đã âm thầm phái sủng thần Lý Tỳ đi sứ Linh Thọ. Trong thời khắc hệ trọng này, Trung Sơn Vương Cơ Thố không dám sơ suất, tiếp đãi đặc sứ của Triệu Vương hết sức long trọng, song cũng chú ý đề phòng, trên danh nghĩa là phái người bồi tiếp, kỳ thực là muốn giám sát nhất cử nhất động của Lý Tỳ.
Khi người Triệu hộ tống Cơ Chức về Yên, đồng thời đánh đuổi người Trung Sơn từ ải Cư Dung chạy về Vũ Dương, Trung Sơn Vương Cơ Thố hoang mang sợ hãi, tiếp đãi Lý Tỳ lại càng thêm chu đáo, đồng thời cũng tìm lời giải thích, muốn Lý Tỳ thuyết phục Triệu Vương chớ đánh Vũ Dương.
Lý Tỳ nhận lời, qua Lai Nguyên vượt Phi Hồ Khẩu về Triệu, tới Bình Ấp yết kiến Triệu Vương.
“Trung Sơn có thể phạt chăng?” Vũ Linh Vương lập tức hỏi thẳng.
“Có thể!”
“Nói xem, vì sao có thể?”
“Vua Trung Sơn thường hạ mình tới tận hang cùng ngõ hẻm để lễ hiền nạp sĩ. Một số nơi chật hẹp quá, vương xa không thể đi qua, còn bảo phu xe gỡ lọng xuống, thậm chí xuống xe đi bộ, tìm đến tận nhà.”
Vũ Linh Vương sửng sốt: “Hiền sĩ như vậy ở Linh Thọ có bao nhiêu?”
“Hơn bảy mươi hộ.”
“Như vậy chính là hiền quân, cớ sao khanh lại nói có thể phạt?”
“Hồi bẩm đại vương,” Lý Tỳ dõng dạc đáp, “thần đã thăm dò, những kẻ được gọi là hiền sĩ đó, đa phần là Nho sinh, chỉ biết giảng kinh luận đạo, phẩm bình lễ nhạc, chứ không có tài cán gì khác, sống nhờ vào tiền thưởng của Trung Sơn Quân. Trung Sơn Quân chuộng kẻ lễ nhạc, vậy thì dân Trung Sơn chắc chắn sẽ cầu danh mà bỏ gốc, bỏ thực mà theo hư. Sự thực đúng là như vậy. Thần đã cho người đếm thử, đất Linh Thọ bé xíu mà có tới ba mươi hai nhạc phường, hai mươi tám lễ đường, các đồ kim khí, đa phần cũng theo lễ nhạc. Còn nữa, người Trung Sơn ham rượu, gia tộc quyền quý sống rất xa hoa hưởng lạc, nói họ sống trong ao rượu rừng thịt cũng không hề quá đáng. Lễ, nhạc và rượu đều là hưởng lạc, thần dân đam mê hưởng lạc, kẻ làm ruộng ắt lười biếng, kẻ chinh chiến ắt khiếp nhược. Nay là thời đại tranh, bên ngoài là cường địch, bên trong thì hưởng lạc, thế mà không mất nước, là chuyện chưa từng có xưa nay.”
Vũ Linh Vương khép mắt, hồi lâu không nói năng gì. Ba ngày sau, Vũ Linh Vương truyền chỉ cho Phì Nghĩa rút quân.
“Đại vương, không thể rút được!” Phì Nghĩa lo lắng, “nếu như rút quân, há chẳng phải bao nhiêu công lao đều thành công cốc?”
Vũ Linh Vương cười lớn: “Tiên hiền để lại rất nhiều lời hay ý đẹp, quả nhân chỉ nhớ một câu, trị nước lớn, như nấu cá nhỏ.”
“Đại vương?” Phì Nghĩa nhìn sững vào Vũ Linh Vương, ngơ ngác không hiểu.
“Thôi, đừng gọi nữa,” Vũ Linh Vương lại cười, “khanh không phải Tô Tử, không hiểu quả nhân đâu. Mau truyền lệnh!” Khi Phì Nghĩa sắp sửa quay ra, lại gọi giật lại, “phải rồi, hãy sai Nhạc Nghị đến báo tin với Yên Vương, để bàn giao lại phòng tuyến cho người Yên.”
Nhạc Nghị lúc này vẫn ở đất Yên, được Vũ Linh Vương nhiệm làm tỳ tướng, thống lĩnh cánh kỵ binh mới, đều là trai tráng Lâm Hồ, Lâu Phiên.
Nhận được chỉ dụ, Nhạc Nghị thúc ngựa tới thẳng cung Yên.
“Nhạc tướng quân,” Yên Chiêu Dương ra tận cổng điện nghênh đón, phấn chấn mà rằng, “vừa hay quả nhân đang định đi tìm tướng quân đây!”
“Tạ ơn đại vương nhớ tới!” Nhạc Nghị hành lễ, “mạt tướng tới đây, là để từ biệt đại vương!”
“Từ biệt?” Chiêu Vương sửng sốt, “tướng quân định đi đâu?”
“Về Triệu.”
“Có chuyện gì ư?”
“Phụng vương mệnh.”
“Vương mệnh gì kia?” Chiêu Vương kinh ngạc.
“Người Tề đã rút lui, đại vương đã tức vị, người Triệu không nên nấn ná ở lâu trên đất Yên, vậy nên đại vương lệnh cho ba quân rút khỏi ải Cư Dung, quay về đất Triệu. Tại hạ tới đây, thứ nhất là để từ biệt đại vương, thứ hai cũng là tấu thỉnh đại vương phái người tới doanh trại của mạt tướng để giao nhận.” Nhạc Nghị điềm đạm giải thích.
“Ôi chao…” Chiêu Vương lặng đi mất một lát, mới nhìn thẳng vào Nhạc Nghị, “Nhạc tướng quân?”
“Có mạt tướng!” Nhạc Nghị vòng tay đáp.
Chiêu Vương tiến lên một bước, nắm lấy tay Nhạc Nghị: “Nơi này không tiện nghị sự, mời vào trong điện!”
Hai người nắm tay nhau vào thẳng trong điện, phân ngôi quân thần ngồi xuống.
“Nhạc tướng quân,” Chiêu Vương vòng tay, “Cơ Chức vẫn luôn mong mỏi được thỉnh giáo tướng quân, nào ngờ trăm việc bộn bề, bận rộn không ngơi, nên vẫn chưa làm được, than ôi.”
“Thỉnh giáo thì không dám!” Nhạc Nghị đáp lễ, “xin hỏi đại vương, là vì chuyện gì?”
“Đất Yên trải qua đại nạn, kiệt quệ khó kham, giờ đây trong triều không có hiền thần, trong nước không có lương tướng, kho lẫm trống rỗng, dân chúng đói khổ, lại thêm sói dữ Trung Sơn, bá chiếm Hạ Đô ta không chịu trả. Cơ Chức nhìn thấy trong mắt, lo lắng trong lòng, ngặt vì… Cơ Chức tài hèn sức mọn, đức không xứng vị, có chỉ chấn hưng, mà lực bất tòng tâm! Lần trước thỉnh giáo ấn công Tô Tử, Tô Tử tiến cử tướng quân, nói tướng quân là đại tài trong thiên hạ…” Thoáng dừng lại, nhìn thẳng vào Nhạc Nghị, “Cơ Chức bất tài, muốn thỉnh giáo về trường sách trị Yên, mong tướng quân chớ tiếc lời chỉ bảo!”
“Đại vương đã gặp Tô Tử, trường sách trị Yên hẳn đã có rồi, mạt tướng không dám nói bừa.”
“Trường sách mà Tô Tử nói đến là hợp tung, kết minh với Tề. Nhưng tướng quân cũng biết, người Tề đã nhân lúc nước ta nội loạn, cấu kết Trung Sơn, giả danh chính nghĩa, kỳ thực là cướp bóc, giết hại dân lành, tàn phá tiên miếu, huỷ hoại xã tắc, cướp bóc sạch trơn của nả của dân chúng và vàng bạc châu báu trong cung, thù này không đội trời chung, Cơ Chức…” Ngoảnh nhìn về nam, “chưa báo được thù, chết không nhắm mắt!”
“Đại vương nếu muốn báo thù, cần nghe theo lời Tô Tử.” Nhạc Nghị đáp, “quân tử báo thù, mười năm chưa muộn. Câu Tiễn cung phụng Ngô Vương, còn tự nếm phân của Ngô Vương kia mà!”
“Tướng quân nói phải,” Chiêu Vương tiếp lời, “vậy nên Cơ Chức đã nghe theo lời Tô Tử, cậy nhờ Tô Tử đi sứ sang Tề. Cơ Chức coi tướng quân như tri kỷ, mới mang lời gan ruột cậy nhờ. Dám hỏi tướng quân, Cơ Chức phải làm sao mới có thể khiến Yên cường thịnh, thoả nguyện bình sinh?”
“Mạt tướng cho rằng,” Nhạc Nghị vòng tay, “phía nam là cường Tề, không thể mưu đồ; phía tây nam là Trung Sơn, không thể mưu đồ; phía tây là cường Triệu, không thể mưu đồ. Lâu Phiền, Lâm Hồ đều đã quy thuận Triệu Vương. Còn lại cho đại vương, duy có Đông Hô!”
“Trung Sơn cớ sao không thể mưu đồ?” Chiêu Vương phẫn hận, “Trung Sơn nhân cháy nhà hôi của, xâm phạm ba trăm dặm biên cương ta, tới nay vẫn bá chiếm Hạ Đô không trả, chuyện này mà nhẫn nhịn được, thì còn chuyện gì không thể nhẫn nhịn!”
“Trung Sơn đáng hận, song mạt tướng nói không thể mưu đồ, bởi Trung Sơn là của Triệu Vương. Chuyện của Trung Sơn, mạt tướng đảm bảo, không đầy ba năm, đại vương không tốn một binh một tốt, chỉ cần cho Triệu mượn đường, là có thể thu hồi toàn bộ đất đai đã mất.”
“Nhưng Triệu Vương cớ sao lại lui quân?”
“Triệu Vương lui quân, là vì Trung Sơn giờ đây không thể mưu cầu. Đã không thể mưu cầu, lại khiến ba quân chinh chiến bên ngoài, không những ba quân sinh lòng oán hận, mà còn dễ xô xát với người Yên. Người Triệu rút quân, lại có lợi cho đại vương đấy.”
Chiêu Vương hít sâu vào một hơi, nhìn sang Nhạc Nghị: “Hãy thử nói về Đông Hồ!”
“Theo như thần biết,” Nhạc Nghị vòng tay, “đất Đông Hồ, còn mênh mông gấp bội Lâm Hồ và Lâu Phiên. Phía bắc Yên Sơn, thảo nguyên bát ngát, đất Liêu Đông lại càng bao la bất tận. Đại vương nếu có được Đông Hồ, thì vừa có thể dùng dân của họ, vừa có thể di chuyển người Yên tới đó khai hoang trồng trọt. Đại vương sau trước thênh thang, sản vật phong phú, lại được người Hồ dũng mãnh thiện chiến, lúc đó lại tìm cơ hội mưu đồ phía nam, hẳn sẽ có cơ thủ thắng.”
“Thế nhưng… đất Hồ mênh mông, người Hồ nay đây mai đó, mưu đồ thế nào?”
“Cùng dân nghỉ ngơi, chỉnh đốn quân Yên, học theo người Triệu, Hồ phục kỵ xạ.”
Chiêu Vương hít sâu vào một hơi, hồi lâu sau, mới từ từ đứng dậy, quỳ xuống trước mặt Nhạc Nghị: “Chức có một thỉnh cầu, mong tướng quân không từ chối!”
“Đại vương, không được!” Nhạc Nghị cuống quýt đứng lên, đỡ Chiêu Vương dậy.
“Tướng quân nếu không nhận lời, Chức sẽ quỳ mãi ở đây!” Chiêu Vương hai tay chống đất, uốn cong thân người, thủ thế chắc chắn không cho kéo dậy.
Nhạc Nghị đành phải quỳ xuống, vái lạy Chiêu Vương mà nói: “Đại vương có yêu cầu gì, Nhạc Nghị kính cẩn lắng nghe!”
“Chức thỉnh cầu tướng quân lưu lại đất Yên, giúp Chức một tay, Chức dốc sức cả nước, nhất nhất nghe theo tướng quân!”
“A…” Nhạc Nghị sững sờ.
“Không giấu tướng quân,” Chiêu Vương khẩn thiết nhìn Nhạc Nghị, “lúc ở Hàm Đan, Chức sớm đã tâm đắc với tướng quân, giờ đang đắn đo suy nghĩ xem phải mở lời với tướng quân thế nào, thì tướng quân lại…”
“Là đại vương yêu lầm!” Nhạc Nghị vội hành đại lễ, “Nghị trẻ người non dạ, kiến văn nông cạn, không đủ sức đảm đương đại sự, e rằng phụ lòng uỷ thác của đại vương!”
“Tướng quân có trẻ, cũng vẫn lớn tuổi hơn Cơ Chức!” Chiêu Vương rất mực chân thành, “cao luận của tướng quân khi nãy, khiến Chức hoàn toàn sáng tỏ. Muốn báo thù Tề, chinh phục Đông Hồ là thượng thượng sách! Tuy nhiên, trường sách có tốt đến mấy, nếu không đủ sức thực thi, cũng chỉ uống hoài. Chức tài hèn sức mọn, chỉ biết uy thác quốc sự vào tay tướng quân, khẩn cầu tướng quân chớ nên từ chối!”
“Tạ ơn đại vương trọng dụng!” Nhạc Nghị vòng tay đáp, “Nghị xin nhận lời với đại vương, song thân là thần tử nước Triệu, Nghị vẫn phải về đất Triệu, thứ nhất để phục mệnh Triệu Vương, thứ hai để bẩm rõ ý của đại vương, thỉnh cầu Triệu Vương cho từ chức!”
“Cơ Chức xin chờ tướng quân!”
Chiêu Vương ban chiếu yết bảng chiêu mộ hiền tài khắp thiên hạ, tin tức truyền đi chưa được bao lâu, thì một con ngựa thiên lý đã nửa tin nửa ngờ tiến vào đất Yên.
Chính là tiên sinh tắc hạ Đàm Thiên Diễn đã hậm hực rời khỏi Tề trước đó.
Thoạt tiên, Trâu Diễn định tới Hàm Đan, nào ngờ Triệu Vương lại không ở đó. Hàm Đan không có Triệu Vương, với Trâu Diễn cũng lạt lẽo khác nào nước lã, trong khi Trâu Diễn lại chưa cần giải khát.
Thứ Trâu Diễn cần, là rượu ngon có thể khiến người ta say sưa. Tắc Hạ là một lò luyện, đã tôi luyện Trâu Diễn thành thép ròng, nên buộc phải tìm một nơi có thể rèn nên lợi khí.
Nơi đó, có lẽ là nước Yên.
Bằng trực giác, Trâu Diễn cảm thấy nước Yên gặp đại nạn này, chắc chắn là có vấn đề ở đâu đó, nên Trâu Diễn muốn tới tận nơi để nhìn tận mắt, để phán đoán, để chứng thực cho học thuyết âm dương ngũ hành, ngũ đức của mình.
Đàm Thiên Diễn lúc này đã không còn như trước, kéo một đoàn hai chục cỗ xe mui, hơn trăm đệ tử tiền hô hậu ủng, rầm rộ tiến trên đường cái quan dẫn tới Kế Thành, đoàn người xe kéo dài nửa dặm, trên xe cắm cờ ngũ sắc, tượng trưng cho học thuyết ngũ hành, tạo nên một quang cảnh khá là tráng lệ.
Thiên hạ không ai không biết Đàm Thiên Diễn là đại hiền. Nghe nói người này tìm tới, Yên Chiêu Vương mừng rỡ muôn phần, ra tận ba chục dặm ngoài ngoại ô nghênh đón, còn dắt tay cùng lên vương xa, đuổi phu xe xuống, đích thân đánh xe, đãi ngộ nhường này, đủ khiến Trâu Diễn nở mày nở mặt.
Về tới cung thành, Chiêu Vương sắp xếp dịch quán cho đệ tử Trâu Diễn trọ lại, chỉ giữ một mình Trâu Diễn trong cung, giữ lễ đệ tử để thỉnh giáo về quốc sách. Hai người bàn luận suốt ba ngày ba đêm, đến lúc mệt thì nằm cạnh nhau mà ngủ.
Trâu Diễn ở Tề, tuy cũng được triều đình coi trọng, song chưa từng được hậu đãi đến vậy bao giờ.
“Tặng ta trái mộc đào, đáp lại ngọc quỳnh dao”, hơn một tháng sau đó, Trâu Diễn dẫn đệ tử đi khắp hang cùng ngõ hẻm Kế Thành, lại lên phương bắc tới Yên Sơn, xuống phía nam tới Vũ Dương, tìm hiểu tình thế sông núi của đất Yên, rồi bẩm báo lên Chiêu Vương, đề ra ba sách lược chấn hưng nước Yên dựa theo thuật âm dương: Thứ nhất, chọn một ghềnh đá lớn gần bờ tại một khúc quanh trên sông Cô Thuỷ dưới chân núi phía nam Yên Sơn làm nền móng, dựng một cung Kiệt Thạch trên ghềnh đá đó, để trấn áp sát khí phía nam. Thứ hai, di dời lăng mộ của tiên Văn Công, để thoát khỏi tình cảnh gian nan trước mắt. Thứ ba, đẩy mạnh trồng ngũ cốc, để giải quyết nạn đói cho dân Yên.
Trong ba sách lược, việc xây cung điện trên ghềnh đá là dễ thực thi nhất, Chiêu Vương lập tức ban chỉ, sai Quách Quy đôn đốc xây dựng. Nhưng hai sách lược còn lại khá là hóc búa. Nơi đặt lăng Văn Công là do chính tiên Văn Công đã chọn khi còn sống, nếu muốn di dời, Chiêu Vương không thể tự ý quyết định.
“Đại vương nhất thiết phải dời lăng!” Trâu Diễn khẳng định dứt khoát, “thần đã quan sát lăng đó, bốn phía thấp và bằng phẳng, chỉ có một sườn núi, không có mạch để dựa vào, đây gọi là núi cô độc, cao ba chục trượng. Độc sơn không thể táng!”
“Cớ sao độc sơn không thể táng?” Chiêu Vương hỏi.
“Tiên hiền đã dạy, núi đến sông về, tài vượng nhân quý; núi khốn nước tù, người chết tài mất. Theo thuyết phong thuỷ, núi không thể táng có năm loại: khí sinh thì hoà, núi trọc không thể táng; khí theo hình tới, núi đứt đoạn không thể táng; khí đi theo đất, núi đá không thể táng; khí dừng theo thế, núi đang đi không thể táng; khí theo long tụ, núi độc không thể táng. Thần quan sát lăng mộ của tiên quân Văn Công, hình núi nam bắc, không mạch để dựa, chính là núi độc. Núi cô độc không có chỗ dựa, tây nam có sát khí, nam có một đầm nước, chính là nước tù không chảy, nên là mộ hung. Thần khuyên đại vương hãy sớm dời lăng đó, bằng không, không những đất nước không có ngày bình yên, mà e rằng đại vương cũng…” Trâu Diễn dừng lại nửa chừng.
Chiêu Vương không dám chậm trễ, lập tức tới gặp Cơ Tuyết, thuật lại toàn bộ phán đoán của Trâu Diễn.
“Quốc sư đã nói như vậy, đại vương hãy cứ dời lăng.” Cơ Tuyết lập tức đồng ý, “năm xưa sở dĩ tiên quân chọn nơi đó để đặt lăng, vì tin theo lời một thuật sĩ phong thuỷ. Kể cũng lạ, kể từ khi dựng lăng tại đó, quả thực Yên thất cũng hết cảnh thanh bình. Giờ đây nghĩ lại, hoạ loạn của Yên thất có lẽ bắt nguồn từ đó thực.”
Chiêu Vương cảm tạ, vời Trâu Diễn tới, nói: “Chuyện dời lăng có thể thực thi, lăng mới nên đặt ở đâu, quốc sư hẳn đã có chủ ý”
“Chính là ở chỗ nước tụ ở phía nam cung Kiệt Thạch mà thần đã chọn, thần đã quan sát phong thuỷ, nơi đó bắc dựa Yên Sơn, nam có Cô Thuỷ ôm vòng, có thể giữ được trăm năm phúc vận cho đại vương!”
“Chi trăm năm thôi ư?” Chiêu Vương chau mày.
“Phải, đại vương,” Trâu Diễn đáp lời, “đại vận của trời đất, không phải muốn thay đổi là thay đổi được. Trăm năm tới đây, thiên hạ đến thời đại tranh diệt quốc, đất Yên xa xôi hẻo lánh, Yên Sơn ở thế cô lập, khó mà thành đại nghiệp. Yên thất có được trăm năm phúc vận, đã là may mắn lắm rồi.”
“Trăm năm thì trăm năm!” Chiêu Vương tiếp lời, “quả nhân đang ôm mối hận với hai kẻ cướp nước là Tề và Trung Sơn. Dám hỏi tiên sinh, trong đời quả nhân liệu có rửa được thù này?”
“Thần khuyên đại vương, hãy lo chuyện đói khổ của dân trước, rồi sau hãy mưu chuyện lâu dài.”
Chiêu Vương không nói được gì thêm, bèn hạ chỉ cho Quách Quy y theo lời Trâu Diễn, dựng cung Kiệt Thạch trên ghềnh đá, xây lăng mới, chấn hưng nghề nông.
Đất Yên khác với nước Sở phương nam, thậm chí cũng khác với Hàn, Nguỵ, Tứ Hạ, Chu thất, một năm có thể thu hoạch đủ hai vụ. Không chỉ có vậy, đất ruộng của Yên đa phần tập trung xung quanh Kế Thành cho tới bờ Dịch Thuỷ, phong phú nhất là xung quanh Hạ Đô Vũ Dương. Vũ Dương bị người Trung Sơn chiếm đoạt, tức kho lương của nước Yên đã bị mất đi quá nửa. Cộng thêm gần đây hoạ loạn triền miên, bách tính không còn tâm trí mà trồng trọt cấy cày, đất Hồ phương bắc cũng không còn cung ứng bò dê, nên cả thóc lúa lẫn thịt đều thiếu hụt nghiêm trọng, Kế Thành củi quế gạo châu, dân đen điêu đứng.
Sau khi người Tề lui binh không lâu, quân Triệu cũng rút về. Không có quân Triệu, chỉ dựa vào sức người Yên, không thể đuổi được Trung Sơn, Hạ Đô đương nhiên cũng không thể thu hồi. Hạ Đô không thể thu hồi, lăng mộ Văn Công đương nhiên cũng không thể di dời. Muốn dựa vào sức mình để đánh đuổi Trung Sơn, người Yên chỉ còn cách tích luỹ nguyên khí, tăng cường quốc lực, trước tiên cần lo sinh kế cho lễ dân. Ngoại viện khó khăn, nước Yên phía nam tiếp giáp Trung Sơn và Tề, đều là nước đối địch, hiện tại khó lòng thông thương. Chỉ còn duy nhất một con đường là qua nước Triệu, có thể vận chuyển vật phẩm qua ải Cư Dung.
Người Triệu cũng đã làm như vậy.
Song chỉ có một ải, khó lòng tiếp ứng đủ cho dân Yên đang khốn quẫn. Dân Yên buộc phải tự lực cánh sinh.
Trâu Diễn đề ra kế sách tìm lương trên núi.
Vùng núi Trâu Diễn lựa chọn là thung lũng sông Cô Thuỷ phía trên cung Kiệt Thạch.
Thung lũng sông này chạy song song với sông Bào Khâu, xuất phát từ núi Yên Sơn, có phù sa bồi đắp, có thể trồng ngũ cốc. Tuy nhiên, núi cao đất lạnh, trái ngược với tập tính sinh trưởng của lúa, kê.
Mùa đông tới, cây cỏ khô héo tiêu điều, là thời điểm khẩn hoang tốt nhất. Yên Chiêu Vương chiếu mệnh cho người Yên ở Kế Thành, phàm những ai có thể làm việc, đều tới thung lũng sông Cô Thuỷ. Chiêu Vương, Trâu Diễn đích thân đi đầu, bách tính Kế Thành đều lấy làm cảm động, bèn dựng lều trong thung lũng sông, khai khẩn đất hoang. Trải qua vài tháng, cho tới mùa xuân, thung lũng sông Cô Thuỷ đã có được hơn mười vạn mẫu ruộng.
Gió xuân thổi lại, xung quanh Kế Thành liễu đã mướt xanh, song thung lũng sông Cô Thuỷ vẫn vô cùng giá lạnh.
Thóc lúa hoa màu đều đã vào vụ gieo trồng. Mắt thấy ngoại ô Kế Thành thóc đã thành mạ, hạt đã nảy mầm, mà nơi lũng sông Cô Thuỷ vẫn rét mướt căm căm, không thể gieo hạt, Yên Chiêu Vương đã vất vả suốt một mùa đông bắt đầu lo lắng.
Trâu Diễn quan sát thiên tượng, cầm cây tiêu dài, ngồi trước cung Kiệt Thạch đang xây dựng dở dang, thổi trước trời đất.
Trâu Diễn thổi suốt ba ngày ba đêm không nghỉ.
Trong ba ngày ba đêm đó, Yên Chiêu Vương cũng không hề chợp mắt, hoặc là ngồi cạnh, nghiêng tai lắng nghe tiếng sáo réo rắt vang trong thung lũng, hoặc đưa tay chổi, quét sạch lá rụng trên bậc thềm trước cung, để tránh làm ảnh hưởng tới tiên sinh diễn tấu.
Kể cũng thực lạ, khi Trâu Diễn thổi đến ngày thứ ba, bắt đầu thấy gió ấm lùa vào trong lũng, tiếp đến hơi nước bốc lên, tới đêm hôm đó, trời giáng mưa lành, ba ngày mới dứt. Sau trận mưa lành, đất lạnh vào xuân, người Yên đã gieo được hạt giống vào thời khắc cuối cùng của vụ mùa.
Tháng Ba mùa xuân, Vũ Linh Vương quay về Hàm mật báo của nội gián gửi về từ Linh Thọ.
Đan, nhận được Vũ Linh Vương đọc xong, vui mừng khôn xiết, triệu ba người Phì Nghĩa, Lý Tỳ và Nhạc Nghị tới: “Các khanh, điều lợi tới rồi!”
“Là lợi gì kia?” Phì Nghĩ nôn nóng hỏi.
“Nước Trung Sơn.” Vũ Linh Vương mở mật báo trên tay, rút ra một mảnh lụa, “Tư Mã Chu dâng lên Trung Sơn Quân một chiếc bình đồng dát vàng, Trung Sơn Quân lại thưởng cho ông ta một chiếc vạc đồng. Đây là minh văn9 khắc ở trên đó.”
Ba người chuyền tay nhau xem hai đoạn minh văn hồi lâu, rồi đưa mắt nhìn nhau.
“Nhạc Nghị,” Vũ Linh Vương nhìn sang, “có nhận ra điều gì chăng?”
“Quân thần hiềm khích.” Nhạc Nghị lập tức đáp lời.
Phì Nghĩa ngẩn người, “sao thần không nhìn ra được nhỉ?”
Vũ Linh Vương cười nói: “Nếu khanh có thể nhìn ra, chắc quả nhân trong mơ cũng sẽ bật cười tỉnh dậy.” Khế giũ mảnh lụa, nhìn sang Lý Tỳ, “chẳng trách Trung Sơn Quân lại đi khắp hang cùng ngõ hẻm, lễ hiền nạp sĩ, hoá ra là vì Tư Mã Chu!”
Lý Tỳ lúc này mới bừng hiểu tại sao Vũ Linh Vương lại quyết định rút quân khỏi đất Yên, hoá ra vì đang chờ đợi sự rạn nứt bên trong nước Trung Sơn.
“Các khanh,” Vũ Linh Vương chỉ vào một mảnh lụa khác trong mật báo, “theo như những mật báo này, quả nhân đã đoán được rằng, Tư Mã Chu công cao át chủ, Trung Sơn Quân lo lắng ông ta sẽ theo gót Tử Chi nước Yên, đe doạ tới ngôi báu của mình, vậy nên mới tức tốc triệu Tư Mã Chu từ đất Yên về, hẳn đã nói lời gì đó. Tư Mã Chu nghe ra ẩn ý, mới sai con trai đúc chiếc bình đồng dát vàng này, khắc đoạn minh văn bày tỏ lòng trung. Sau đó, ải Cư Dung thất thủ, Tư Mã Chu vội vã tới Yên, xả thân trong chiến trận. Trung Sơn Quân có lẽ thấy hối lỗi với Tư Mã Chu, nên ban hậu táng, cho Tư Mã Hy thế tập ngôi tướng quốc, lại tặng đỉnh đồng, khắc bản minh văn, vừa để ca tụng công lao của họ Tư Mã, cũng vừa thổ lộ nỗi bất an của mình.”
“Nếu là như vậy,” Phì Nghĩa gãi đầu gãi tai, “chẳng phải hai bên đã quân thần hoà hợp, hoàn toàn vô sự rồi sao?”
“Vô sự có thể sinh sự!” Vũ Linh Vương cười đáp, rồi nhìn sang Lý Tỳ, “Lý đại phu, khanh nói có phải không?”
Lý Tỳ mỉm cười hiểu ý.
“Các khanh nghe chi!” Vũ Linh Vương đưa mắt nhìn ba vị triều thần, ánh mắt dừng lại ở Phì Nghĩa, “Phì Nghĩa, giờ khanh hãy lập tức tới Bình Ấp, gấp rút luyện quân, sẵn sàng khai chiến với người Trung Sơn bất cứ lúc nào.”
“Thần thụ mệnh!” Phì Nghĩa dõng dạc đáp.
“Nhạc Nghị,” Vũ Linh Vương tiếp lời, “giờ khanh có thể sang Yên được rồi. Nước Yên quá yếu ớt, lại không phải chuyện tốt với ta. Khanh hãy phò tá đắc lực cho Yên Vương, chờ đến khi quả nhân lấy được Trung Sơn, chớ để đất Yên lại sinh nội loạn.”
“Thần thụ mệnh!” Nhạc Nghị lĩnh mệnh.
“Lý Tỳ, khanh hãy lo liệu việc của Trung Sơn, dựa vào tình hình trước mắt mà sinh sự cho hắn!”
“Thần thụ mệnh!”
Đúng như Vũ Linh Vương dự đoán, sau khi lão tướng quốc Tư Mã Chu qua đời, không khí trong phủ tướng Trung Sơn lại càng thêm u ám.
Trời đã nhập nhoạng, bóng đêm từ từ phủ kín đại viện nguy nga của phủ tướng quốc tại đô thành Linh Thọ. Khắp phủ tĩnh mịch như tờ, tới cả tiếng bước chân của nô bộc cũng khẽ tới mức gần như không nghe thấy, dường như đều đang sợ hãi làm kinh động tới một điều gì.
Kẻ mà nô bộc không dám làm kinh động, chính là chúa công của phủ trạch này, Tư Mã Hy, đến nay đã giam mình trong thư phòng hơn nửa tháng.
Khiến Tư Mã Hy phải trầm uất giam mình, chính là tờ chiếu mệnh bãi chức tướng quốc đến từ Vương Thổ. Sau khi chiếu mệnh được tuyển, kim ấn tướng quốc uy quyền cũng đã bị quan tuyên chiếu mang đi mất. Kể từ hôm đó, trước phủ Tư Mã thường ngày tấp nập là thế bỗng vắng bặt bóng ngựa xe, ngay cả vài quan viên vốn qua lại thân thiết với nhà Tư Mã cũng không còn lai vãng.
Tư Mã Hy không lưu luyến những điều này, nhưng nhất thiết phải hiểu rõ vì sao Vương Thố lại đột nhiên bãi chức tướng quốc của mình, và sau khi bãi chức, sẽ còn xảy ra chuyện gì nữa. Nghĩ tới lời cảnh báo của Tư Mã Chu khi còn sống, Tư Mã Hy trong lòng trăm mối tơ vò.
Vào giờ Nhân định, trời đất im lìm.
Quản gia bước lại, gõ khẽ vào cánh cửa: “Chúa công?”
“Vào đi!” Tư Mã Hy nhận ra tiếng, bèn đáp lời. Quản gia đẩy mở cửa phòng, hạ giọng bẩm báo: “Có khách cầu kiến!”
“Khách?” Tư Mã Hy giọng như quở trách, “đã giờ nào rồi, mà còn có khách?”
Quản gia giọng càng nhỏ hơn: “Là người Triệu.”
“Người Triệu?” Tư Mã Hy sửng sốt, “ai?”
“Sứ Triệu Lý Tỳ!”
“Lý Tỳ?” Tư Mã Hy nhìn sang quản gia, “kẻ này tới làm gì?”
“Nói là vì chuyện của chúa công.”
Tư Mã Hy khép mắt: “Dẫn vào!”
Quản gia đi ra, dẫn Lý Tỳ vào thư phòng.
“Mời ngồi!” Tư Mã Hy khẽ khom lưng chào, rồi chỉ vào chiếu đối diện.
Lý Tỳ cảm tạ rồi ngồi xuống, rồi nhìn thẳng vào Tư Mã Hy, vòng tay nói: “Tại hạ mạo muội tìm tới, đã quấy rầy sự thanh tĩnh của đại nhân.”
“Than ôi,” Tư Mã Hy vòng tay đáp lễ, thở dài não nề, “cây muốn lặng mà gió chẳng dừng.”
“Đại nhân hẳn biết gió từ đâu tới?” Trên mặt Lý Tỳ thấp thoáng nét cười.
“Sứ Triệu có biết?” Tư Mã Hy nghe ra ẩn ý, đưa mắt nhìn lại.
“Nếu như không biết, sẽ không tới đây.”
Tư Mã Hy hít sâu vào một hơi, từ từ ngả người lại, vòng tay nói: “Tại hạ sơ suất rồi!” Đoạn quay sang quản gia, “dâng trà mời khách quý!”
Quản gia lập tức đi chuẩn bị trà.
“Dám hỏi sứ Triệu, gió từ đâu tới?” Tư Mã Hy lại hạ giọng hỏi.
“Bên gối.”
“Là Giang Cơ?” Tư Mã Hy sững sờ kinh ngạc, vô thức buột ra một cái tên.
“Âm Cơ!”
“Âm Cơ?” Tư Mã Hy hai mắt nheo lại như kẻ chỉ, giọng nói gần như thì thào, “tại hạ chưa từng đắc tội với nàng ta.”
“Đại nhân thử nghĩ lại xem, tuy chưa từng đắc tội với Âm Cơ, nhưng liệu đã từng đắc tội với người khác, chẳng hạn như công tử của Âm Cơ.”
“Thế Thứ?” Tư Mã Hy lại buột miệng kêu lên. “Có lẽ.”
“Tại hạ cũng chưa từng đắc tội với hắn!” Tư Mã Hy sửng sốt.
“Đại nhân có bao giờ nhắc tới mấy vị công tử của đại vương trong lúc chuyện gẫu với ai đó, nói rằng nếu như làm thái phó, người đại nhân không muốn dạy dỗ chỉ có một người…” Lý Tỳ bóng gió.
“Công Tôn Hoằng!” Tư Mã Hy bừng hiểu ra, nghiến rǎng ken két.
Công Tôn Hoằng là một trong ba phu xe của Trung Sơn Vương, qua lại thân thiết với Tư Mã Hy, hai người trò chuyện tâm đầu ý hợp, thường không giấu nhau chuyện gì. Quả thực Tư Mã Hy đã từng nói chuyện này với hắn, nào có ai ngờ…
Lý Tỳ bật cười: “Đại nhân nên cảm tạ Công Tôn Hoằng mới phải.”
“Hắn… bán đứng ta!” Tư Mã Hy giận dữ.
“Công Tôn Hoằng không phải muốn bán đứng đại nhân, mà chỉ là muốn lấy lòng công tử của Giang Cơ, bởi chính kẻ này cũng không ưa gì Thế Thứ. Rồi công tử Nguyên Lăng con trai của Giang Cơ tiết lộ với công tử Thượng con trai của Phục Phi, công tử Thượng lại tiết lộ với Thế Thứ, Thể Thứ nói lại với Âm Cơ, Âm Cơ mới khuấy động nên gió!”
“Dám hỏi sứ Triệu, vì đâu mà biết được chuyện này?”
“Tại hạ không phải sứ Triệu,” Lý Tỳ gượng cười đáp, “tại hạ đã rời khỏi Triệu thất, nay đến Trung Sơn, là muốn tới phủ đại nhân kiếm cơm ăn.”
“Vì Triệu Vương xử tệ với ông ư?” Tư Mã Hy hỏi. “Cũng không phải. Sở thích khác nhau mà thôi.”
“Sở thích khác nhau?”
“Sở thích của Triệu Vương, là cưỡi ngựa săn bắn; sở thích của tại hạ, là lễ nghi cung đình.” Lý Tỳ lại cười buồn mà đáp, “chẳng hạn, Triệu Vương phát động cả nước mặc áo Hồ, rèn kỵ xạ, tại hạ thực không đồng tình.” Hạ giọng tiếp lời, “lần trước đi sứ Trung Sơn, thấy đại vương sùng chuộng lễ nhạc, lễ hiền nạp sĩ, tại hạ lấy làm xúc động, vậy nên treo ấn từ Triệu, tới cậy nhờ đại nhân!”
“Sao ông không tới cậy nhờ đại vương?” Tư Mã Hy ngạc nhiên hỏi.
“Đại nhân nói đùa rồi,” Lý Tỳ vòng tay, “ở Trung Sơn, làm gì có ai to gan lớn mật, dám vượt qua bậu cửa của phủ Tư Mã.” Lại nhìn thẳng vào Tư Mã Hy, “vả lại, tại hạ từng là đặc sứ của Triệu Vương, nay nếu tới cậy nhờ đại vương, dẫu có lòng trung thành, e rằng đại vương khó tránh sinh lòng ngờ vực.”
“Cũng phải.” Tư Mã Hy gật gù, giọng nói đã ôn hoà hơn nhiều, đổi cách xưng hô, “xin hỏi Lý huynh, cục diện trước mắt nên tháo gỡ thế nào?”
“Việc này, cần phải hỏi chí của đại nhân, là muốn tiếp tục làm tướng, hay là muốn từ nay không màng thế sự, thảnh thơi sống nốt quãng đời còn lại?”
“Cục diện đã tới nước này, tại hạ dù muốn thảnh thơi sống nốt quãng đời còn lại, e rằng cũng khó.” Tư Mã Hy chua chát.
“Đại nhân nói rất phải.” Lý Tỳ đáp lời, “nếu đã như vậy, Tỳ có một kế, hoặc giả có thể khiến đại vương tới tận quý phủ, hoàn trả tướng ấn!”
“Dám hỏi kế gì?” Tư Mã Hy ghé sát lại gần.
“Làm tướng của Triệu Vương!”
Tư Mã Hy hít ngược một hơi dài.
Nửa tháng sau, một đoàn xe ngựa nước Triệu rầm rập lăn bánh vào cổng thành Linh Thọ, rồi tiến thẳng tới phủ Tư Mã.
Đoàn xe dừng lại trước phủ, từ trên xe nhảy xuống một người, chính là Lý Tỳ.
Lý Tỳ trình lên bái thiếp, cầu kiến Tư Mã Hy.
Lúc này, Tư Mã Hy đang đánh cờ cùng Công Tôn Hoằng trong đình hóng mát ở hậu hoa viên, hay tin bèn ra cổng đón, từ xa đã thấy đoàn tuỳ tùng của Lý Tỳ đang hối hả khiêng từng rương lễ vật từ trên xe xuống, đặt ở ngoài cổng, rương nào rương nấy nặng trình trịch.
Tư Mã Hy ngỡ ngàng, nhìn sững vào đống rương: “Sứ Triệu, thế này là…”
“Lý Tỳ bái kiến đại nhân,” Lý Tỳ bước lên một bước, vòng tay vái chào, cất giọng sang sảng, “hay tin Tư Mã đại nhân đang nhàn rỗi trong nhà, vua ta hết sức vui mừng, bèn phái tại hạ gấp rút lên đường, đi suốt ngày đêm, tới đây thỉnh cầu đại nhân hãy tới Hàm Đan, vua ta muốn mang quốc sự uỷ thác!” Rồi chỉ vào dãy rương lễ vật, “đây là chút lễ mọn vua ta gửi tới, chẳng đáng bao nhiêu, chỉ để bày tỏ chút lòng thành. Lễ vật gồm hai trăm dật vàng ròng, ba mươi súc lụa Lỗ, ba mươi súc gấm Sở, ba mươi viên dạ minh châu, ngoài ra ban cho đại nhân một phủ tướng quốc trên phố lớn Hàm Đan, cùng năm mươi nô bộc.”
“A…” Tư Mã Hy sửng sốt đến trợn mắt há miệng, đưa mắt liếc sang Công Tôn Hoằng cũng theo ra đón khách. Công Tôn Hoằng cũng đang há hốc miệng.
“Đây là chiếu mệnh do Triệu Vương tự tay thảo, xin đại nhân hãy xem!” Lý Tỳ rút từ trong ống tay áo ra bản chiếu, hai tay trình lên.
Tư Mã Hy đỡ lấy, mở ra, liếc qua một cái, rồi vội gập lại như cũ.
“Là chức tướng quốc!” Công Tôn Hoằng nhìn thấy rõ rành rành, buột kêu thành tiếng.
“Chính phải!” Lý Tỳ dõng dạc tiếp lời, “vua ta thành tâm uỷ thác quốc sự cho Tư Mã đại nhân đây, mời về làm tướng quốc nước Triệu, dám mong đại nhân chớ khước từ.”
Tư Mã Hy lúc này mới định thần trở lại, nhìn đám tuỳ tùng của Lý Tỳ vẫn đang tất bật khiêng những tương hòm từ trên xe xuống, vội phẩy tay kêu lên: “Dừng, dừng, dừng lại!”
Chúng nô bộc lập tức dừng tay.
“Đại nhân?” Lý Tỳ ngơ ngác gọi.
Tư Mã Hy thu thần, vòng tay, khom lưng vái sâu một vái: “Người Trung Sơn Tư Mã Hy tạ ơn Triệu Vương hậu đãi! Hy cũng thỉnh cầu sứ Triệu quay về bẩm tấu Triệu Vương, Hy tuy đức mọn tài hèn, song sinh ra ở Trung Sơn, lớn lên ở Trung Sơn, ăn gạo thóc của Trung Sơn, uống nước suối của Trung Sơn, trên chịu ơn vua, dưới kết lòng dân, vậy nên không dám tuỳ tiện rời khỏi Trung Sơn, càng không dám nhận lời mời của Triệu Vương, nhận lấy trọng trách tướng bang nước lớn!”
Tư Mã Hy lại khước từ thẳng thừng lời thỉnh cầu của Triệu Vương, không chút quan tâm đến ngôi vị tướng quốc Đại Triệu!
Công Tôn Hoàng nghe mà sững sờ.
“Còn những lễ vật này,” Tư Mã Hy chỉ vào đống rương lễ vật đã được chuyển xuống gần hết, “cũng xin sứ Triệu mang hết về cho. Không có công không nhận lộc, Hy tuy thanh bần, song cũng không thể vô duyên vô cớ nhận hậu lễ của Triệu Vương.”
“Ối chao…” Lý Tỳ sắc mặt sượng sùng, bộ dạng luống cuống.
Tư Mã Hy tiện tay đưa chiếu mệnh của Triệu Vương cho quản gia đứng bên cạnh: “Trả lại cho người ta. Tiễn khách!” Đoạn kéo Công Tôn Hoằng trở vào trong phủ.
Ba ngày sau, lại một đoàn xe ngựa rầm rập thẳng tiến tới trước cổng phủ Tư Mã Hy, xe đi giữa là vương xa, phu xe là Công Tôn Hoằng.
Tư Mã Hy vội vàng ra nghênh đón, dập dầu sát đất. Vương Thố xuống xe, bước lại đỡ Tư Mã Hy dậy, nắm chặt lấy tay, giọng đầy cảm khái: “Tư Mã khanh, chuyện của sứ Triệu, quả nhân đã nghe nói. Quả nhân tài gì đức gì, mà lại có được chí sĩ trung trinh như Tư Mã khanh đây.”
Rồi vua tôi nắm tay nhau cùng vào trong phủ, Vương Thố ngồi xuống chiếu chủ, nhìn sang nội tể: “Tuyên chiếu!”
Nội tể lấy chiếu mệnh ra, dõng dạc tuyên chỉ.
Tư Mã Hy lại vái lạy, rồi bình thản đỡ lấy tướng ấn vốn dĩ thuộc về nhà mình từ trong tay Vương Thổ.
Sau chuyến viếng thăm rình rang của Lý Tỳ, địa vị của Tư Mã Hy trong triều đình Trung Sơn lại càng thêm vững chãi, những triều thần đang xa lánh nhà Tư Mã lại đua nhau kéo tới làm thân, trước phủ Tư Mã quay về với cảnh ngựa xe như nước.
Để cuộc đi sứ diễn ra như thật, Lý Tỳ lại dẫn theo cả đoàn xe đầy ắp lễ vật, hậm hực rời khỏi Trung Sơn, quay về nước Triệu. Song sau đó không lâu, Lý Tỳ lại đóng giả làm thương nhân, âm thầm trở lại Trung Sơn, ở trong phủ Tu Mã Hy.
Tư Mã Hy rất mực cảm tạ Lý Tỳ, tiếp đãi như thượng khách.
“Chúa công,” Lý Tỳ tự hạ mình, nhận Tư Mã Hy làm chủ nhân, “chúa công có muốn mãi mãi bảo toàn vinh quang trên đất Trung Sơn này, được khắp trong triều ngoài nội tung hô tôn kính?”
“Tiên sinh có cao kiến gì ư?” Tư Mã Hy cũng đổi cách xưng hô, nhận Lý Tỳ làm thầy.
“Không có cao kiến, đại nhân chỉ cần làm được bốn chữ, sẽ có thể bảo toàn.”
“Là bốn chữ gì?”
“Vì nước vì nhà!”
“Vì nước vì nhà?” Tư Mã Hy nheo mắt lại, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, rồi ngả người lại, “tại hạ ngu độn, xin tiên sinh hãy chỉ giáo cho!”
“Trước tiên hãy nói đến vì nước, cũng chính là vì đại vương.” Lý Tỳ chỉ ra bên ngoài, “điều đại vương lo nghĩ, không nằm ngoài loạn trong giặc ngoài. Loạn trong là bề tôi át chủ, điều này, đại nhân hẳn đã được lĩnh giáo. Giặc ngoài là cường địch xung quanh. Xung quanh Trung Sơn có ba nước, một là Yên, hai là Triệu, ba là Tề. Đại vương dấy binh xâm phạm nước Yên, tức đã đắc tội với người Yên. Đại Vương cướp đoạt Hạ Đô từ trong tay Tề, tức đã đắc tội với người Tề. Giờ đây, đại vương chỉ có thể cậy nhờ vào nước duy nhất còn lại, là Triệu.”
“Ồ….” Tư Mã Hy giọng đầy cấp thiết, “không giấu tiên sinh, khiến đại vương ta lo lắng không phải là Yên, không phải là Tề, mà là người Triệu!”
“Đây chính là chỗ bất trí của đại vương!” Lý Tỳ khe cười, lắc đầu, “đại nhân thử nghĩ mà xem, Trung Sơn ba mặt nam, tây, bắc đều tiếp giáp với Triệu, duy có hướng bắc lệch đông giáp Yên, một góc đông nam giáp Tế. Với Tề, với Yên đều cách sông, duy có núi liền núi sông liền sống với Triệu. Dám hỏi đại nhân, nếu Triệu Vương quyết ý phạt Trung Sơn, đại vương có thể cầm cự? Đại nhân lại xem, cách đây không lâu, Trung Sơn nuốt gọn một vùng đất Yên nam bắc ba trăm dặm, đông tây gần trăm dặm. Sau đó, do tung ước trưởng Tô Tần, tổ thái hậu nước Yên thỉnh mệnh, Triệu Vương xuất năm vạn kỵ binh, hộ tổng công tử nước Yên Cơ Chức vào Yên, lên ngôi Yên Vương, quân Tề không đánh mà tự lui. Đại nhân, nếu Triệu Vương có chút mưu đồ bất lợi cho đại vương, thì lúc này hẳn là thời cơ tốt nhất. Người Yên hận Trung Sơn, người Tề oán Trung Sơn, năm vạn kỵ binh người Triệu thừa thể đánh xuống phía nam, cộng thêm người Yên quyết chí phục thù, khí thế khác nào Thái Sơn sập xuống. Còn đại vương thì sao? Ngoài không có viện binh, trong không có dư lực, kết cục sẽ thế nào? Người Trung Sơn nếu muốn kịch chiến với Yên, ắt phải dốc tận quốc lực. Khi đó, phương nam sẽ phải làm sao? Triệu chỉ cách Trung Sơn một con sông, Triệu Vương nếu xuất binh từ Hàm Đan, cộng thêm địch thủ đến từ Lai Ấp, Trung Sơn sẽ bốn bề thọ địch, có thể cầm cự bao lâu? Đại vương xâm phạm đất Yên, là kết oán với liệt quốc, chuyện khác chưa nói, chỉ riêng hai nước Tần, Ngụy, đại nhân thử nghĩ mà xem, liệu họ có mừng không? Đương kim thái hậu nước Yên là trưởng nữ đích mạch của Tần Vương, đương kim Yên Vương là cháu ngoại đích mạch của Tần Vương, nếu đại nhân là Tần Vương, liệu có thể không hùa về với Triệu? Còn người Ngụy, ân oán giữa Trung Sơn với Ngụy đâu chỉ có dăm ba năm, Ngụy Vương có chịu giúp đại vương chăng?” Dừng lại một chốc, lại nhìn thẳng vào Tư Mã Hy nói tiếp, “đại nhân, hiện ngài cũng nhìn thấy cả rồi, Triệu Vương đã hành xử thế nào? Yên Vương mấy lần khẩn cầu Triệu Vương đánh đuổi người Trung Sơn, giúp Yên thu hồi đất đai đã mất, nhưng đều bị Triệu Vương khước từ. Không chỉ có thế, Triệu Vương còn rút ba quân về nước. Vì sao kia? Bởi Triệu Vương đã lập minh ước láng giềng hoà thuận với đại vương, giao hẹn không xâm phạm lẫn nhau, minh ước vẫn còn nguyên đó. Quân Triệu vào Yên, chẳng qua là để hộ tống Yên Vương. Yên Vương tức vị, thu hồi lãnh thổ đương nhiên là việc của người Yên. Kết quả thì sao? Người Triệu vừa rút lui, người Yên cũng bỏ cuộc, Hạ Đô và ải Tử Kinh tới nay vẫn là của đại vương. Đại thế như vậy, đại nhân lẽ nào còn chưa hiểu rõ.”
“Tiên sinh nói chí phải!” Tư Mã Hy lau mồ hôi trên trán, gật đầu lia lịa, “không giấu tiên sinh, nếu tại hạ là Triệu Vương, cũng sẽ không bỏ qua cơ hội trước mắt.” Ngẫm nghĩ chốc lát, “việc vì nước, tại hạ đã hiểu cần phải làm gì, còn vì nhà thì sao?”
“Nhà lại có hai,” Lý Tỳ đáp lời, “một là nhà của đại nhân, hai là nhà của người khác.”
“Nhà của người khác?” Tư Mã Hy ngơ ngác hỏi.
“Ngoài nhà của đại nhân, đại nhân hãy thử nghĩ xem, ở Linh Thọ này, còn có những nhà nào có thể uy hiếp đến đại vương, bất lợi cho đại nhân?”
"Âm gia, Giang gia, Mai gia, Phì gia, Nhạc gia…” Tư Mã Hy gập ngón tay lẩm nhẩm, nửa như tự nhủ, nửa như nói với Lý Tỳ.
“Tại hạ muốn hỏi, nhà nào có thể uy hiếp nghiêm trọng đến đại vương?”
“Vậy thì có hai nhà, một là Âm gia, hai là Giang gia. Chuyện lần trước, là bắt nguồn từ Âm gia.”
“Xin đại nhân hãy nói qua về Âm gia.”
“Âm gia nhiều đời làm nghề luyện kim, các lò đúc, lò rèn, lò luyện kim tại các ấp từ Linh Thọ tới Trung Sơn, có tới tám phần là của Âm gia, vàng bạc trong ngân khố của đại vương, cũng đều do Âm gia đúc. Gia tài của Âm gia chiếm hơn ba phần mười của cải của Trung Sơn, thợ thuyền, nô bộc đồng tới vài vạn, đại vương không dám đắc tội…”
“Giang gia thì sao?”
“Gia súc ngựa bò. Đồng cỏ trong núi hầu hết đều là của Giang gia. Nếu Giang gia không vui, cung thành sẽ không có thịt mà ăn, không có da mà mặc.” …
“Dám hỏi đại nhân, đại vương thân thiết với vàng bạc, hay thân thiết với thịt da hơn?”
“Đây chính là chỗ khó quyết đoán của đại vương, cho nên luôn thân cận với cả hai nhà, cho tới nay vẫn chưa lập vương hậu!”
“Cái cần quyết đoán mà không quyết đoán, ắt sinh loạn!” Lý Tỳ ngữ khí dứt khoát, “đại vương không lập vương hậu, sẽ không thể định ngôi thái tử. Không lập thái tử, sau khi đại vương trăm năm, chư công tử há chẳng tàn sát lẫn nhau?”
“Phải, đây chính là nỗi lo lắng của đại vương?”
“Đại nhân không muốn chia sẻ mối lo với đại vương ư?”
“Chia sẻ thế nào?”
“Chọn cho đại vương một vương hậu!”
“Tiên sinh?” Tư Mã Hy hít sâu vào một hơi, nhìn sững vào Lý Tỳ, hồi lâu sau mới nói được nên lời, “phải chọn người nào?”
“Âm Cơ!”
“Sao kia?” Tư Mã Hy gần như nhảy dựng dậy, “lập Thế Thứ ư?”
Lý Tỳ khẽ cười một tiếng. Đợi Tư Mã Hy định thần trở lại, Lý Tỳ đứng dậy, tiến lại bên cạnh, ghé sát tai Tư Mã Hy thì thầm.
Tư Mã Hy trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, rồi hít sâu vào một hơi, gật đầu dứt khoát.
Cha của Âm Cơ là Âm Công, vào thời tiến quân Trung Sơn đã được phong cho Phì Ấp. Phì Ấp vốn thuộc về dòng họ Phì, cũng chính là địa bàn cư trú của tổ tiên quyền thần Phì Nghĩa nước Triệu. Cho đến hiện tại, sống tại đất này đa phần cũng là hậu duệ của họ Phì. Song thời huy hoàng của gia tộc họ Phì sớm đã không còn nữa, toàn bộ Phì Ấp đều đã thuộc về họ Âm.
Âm Công đương nhiên không chịu chuyển đến Phì Ấp, mà dứt khoát ở lại Linh Thọ. Phủ trạch của họ Âm nằm cách phủ Tư Mã không xa, chỉ qua ba hộ là tới. Ngay sau hôm được Lý Tỳ trù hoạch kế sách, Âm Công đã tìm tới tận cửa cầu kiến Tư Mã Hy.
Sau một hồi hàn huyên, Âm Công hạ giọng, vào ngay chuyện chính: “Tại hạ nhận được một phong thư, đoán già đoán non vẫn không đoán ra thâm ý trong đó, nên tới đây thỉnh giáo tướng quốc, mong tướng quốc chớ tiếc lời chỉ giáo!”
“Thư gì mà lại tối nghĩa đến vậy?” Tư Mã Hy cười hỏi.
Âm Công lấy ra một vật, hai tay trình lên. Tư Mã Hy nhận lấy, thấy là một bức mật hàm, trên đề mười sáu chữ: “đại vương lập điện, ắt tại Giang Âm; Ông muốn thành sự, sao chẳng gặp thần”. Bèn đưa trả lại, vòng tay cười lớn mà nói: “Thư này quả nhiên khó đoán, nhất là câu cuối cùng, sao chẳng gặp thần’, e rằng Âm Công tìm nhầm chỗ rồi.”
Âm Công cười đáp: “Lão phu mắt chưa hoa, tại chưa điếc, không đến nhầm chỗ đâu, vẫn mong đại nhân chớ tiếc lời chỉ giáo!”
“Ồ….” Tư Mã Hy thấy không thoái thác được nữa, mới vòng tay đáp, “việc Âm Công hỏi, đương nhiên là đại sự quốc gia, tại hạ không dám nói bừa. Có điều, Âm Công đã hỏi, tại hạ không thể không nói một vài lời.” Đoạn hạ giọng thì thào, “nơi lập điện này, liên quan tới tương lai của nước nhà. Bờ nam sông lớn, đất rộng dân đông; Còn sông đất âm, không đất không dân.”10
“Đây chính là điều lão phu lo lắng.” Âm Công đứng dậy, vái dài sát đất, “tướng quốc đại nhân hẳn có kế hay?”
“Tại hạ quả có một kế, hoặc giả có thể khiến đại vương lập điện tại bờ Âm của sông lớn.”
“Việc này nếu thành,” Âm Công vòng tay, “gia tộc họ Âm sẽ nhất nhất nghe theo đại nhân!”
Hôm sau vào triều, Tư Mã Hy bước lên trước hàng ngũ, tấu rằng: “Thần xin đi sứ sang Triệu!”
Thố “Tướng quốc đi sứ sang Triệu, là vì việc gì?” Vương ngạc nhiên.
“Triệu mạnh ta yếu, Triệu lớn ta bé, người Triệu ba mặt giáp ranh với ta, chính là đại hoạ tương lai của ta. Binh pháp có câu, biết người biết ta, trăm trận trăm thắng. Triệu Vương hai lần phái sứ sang ta, danh nghĩa là thăm hỏi, thực chất là để thám thính thực hư. Có qua có lại mới phải lễ, thần xin đi sứ sang Triệu, cũng là để thám thính người Triệu, quan sát địa hình hiểm trở, dân chúng giàu nghèo, quân thần hiền năng hay bất tài, để trù bị cho tương lai!” Tư Mã Hy dõng dạc đáp.
“Quả nhân chuẩn tấu!” Trung Sơn Vương phẩy tay.
Đi sứ sang Triệu cùng Tư Mã Hy là Công Tôn Hoằng, một trong những sủng thần được Vương Thố tín nhiệm nhất.
Tới Hàm Đan, Tư Mã Hy vào cung yết kiến xong thì cùng Công Tôn Hoằng đi khắp mọi ngõ ngách, hỏi han khắp mọi nơi, hơn một tháng sau thì cáo từ quay về.
Triệu Vương bày tiệc tiễn hành, Lý Tỳ, Công Tôn Hoằng bồi tiếp.
Trong tiệc rượu, Triệu Vương sai mỹ nữ trong cung nhảy múa giúp vui.
Mỹ nữ múa xong một khúc, Triệu Vương hào hứng hỏi: “Sứ thần Trung Sơn, vũ nhạc thế nào?”
Tư Mã Hy chỉ khẽ nhếch miệng, nâng chén lên uống. Triệu Vương hiểu ý, vỗ tay: “Đổi vũ khúc khác!”
Nhạc Triệu tấu liền sáu khúc, phi tử múa liền sáu điệu, Tư Mã Hy vẫn không nói không rằng, chỉ mím môi cười tủm tỉm.
“Ồ?” Triệu Vương ngạc nhiên nhìn Tư Mã Hy, “sứ Trung Sơn cớ sao lại cười?”
“Khi thần ở Trung Sơn, nghe nói Hàm Đan nhiều giai lệ, lần này sang Triệu, đi khắp phố lớn ngõ nhỏ, mà chưa từng thấy giai lệ. Hôm nay nhìn khắp cung điện, cũng không trông thấy. Là mắt thần vô phúc, hay là nước Triệu vốn không hề có.” Tư Mã Hy chê bai thẳng thừng.
Triệu Vương sắc mặt tím tái, nhìn sang Lý Tỳ.
“Khởi bẩm đại vương,” Lý Ty vòng tay, “lúc thần đi sứ sang Trung Sơn, có bữa dạo chơi ngoài phố, chợt thấy dân chúng xôn xao, dạt cả sang vệ đường, thần đang lấy làm lạ, bỗng có xe ngựa đi tới, hoá ra là loan giá của vương phi qua phố. Thần ngẩng đầu nhìn, vừa hay trông thấy phi tử trong xe, bỗng chốc bàng hoàng chết lặng. Thần vâng mệnh đại vương, đi sứ khắp thiên hạ, cũng coi là thấy nhiều biết rộng, song như phi tử đó, trong thiên hạ thực không có nữ tử thứ hai, quả là giai nhân tuyệt sắc!”
“Là phi tử nào vậy?” Triệu Vương hai mắt mở to, nôn nóng hỏi.
“Thần đã hỏi dò, là nàng Âm Cơ, tên Giản.”
Tu “Nếu là như vậy, thì tại quả nhân kiến văn hạn hẹp rồi!” Triệu Vương ngồi thẳng dậy, chậm rãi quay sang Mã Hy, “này sứ Trung Sơn, quả nhân có một ý nguyện, xin sứ thần quay về hãy tấu lại với Trung Sơn Vương!”
“Triệu Vương có ý nguyện gì?”
“Quả nhân có hai sở thích, một là ngựa, hai là sắc. Trung Sơn có nữ tử diễm lệ đến vậy, quả nhân trong lòng ao ước, muốn cầu phi tử đó, chính là nàng Âm Cơ mà Lý đại phu vừa nhắc tới, không tiếc mọi giá, chỉ nguyện được một lần chiêm ngưỡng dung nhan, được chăng?” Triệu Vương thong thả vuốt chòm râu dài, ánh mắt liếc lại, đây vẻ thèm muốn.
“Chuyện này…” Tư Mã Hy nhìn sang Công Tôn Hoằng, thấy hắn cũng kinh ngạc không kém, bèn vòng tay nói, “hồi bẩm Triệu Vương, Âm Cơ đúng là thiên hạ tuyệt sắc, từ mắt mày, sống mũi, gò má, ấn đường, xương trán, quý tướng nhường ấy, phải là hậu của đế vương, chứ không chỉ là phi của chư hầu. Sở cầu của đại vương, thực không phải điều Hy này dám nhắc tới, ý của đại vương, cũng không phải điều Hy này dám chuyển lời. Chuyện này hãy coi như gió thoảng qua tai, mong đại vương đừng nên nhắc lại nữa.”
“Ái chà, nhắc lại lần nữa thì đã làm sao?” Triệu Vương hừm một tiếng, “quả nhân chỉ là muốn được một lần tận mắt chiêm ngưỡng dung nhan mà thôi, chứ đâu phải lấy nàng làm phi tử. Tư Mã Hy, ông hãy cứ chuyển lời với Cơ Thố, muốn đưa phi tử ấy tới Hàm Đan, hay là để quả nhân đích thân tới Linh Thọ chiêm ngưỡng.”
“Đại vương…
Tư Mã Hy vừa mới cất lời, đã bị Triệu Vương giơ tay chặn lại.
“Lý đại phu,” Triệu Vương nhìn sang Lý Tỳ, “yến tiệc đã tàn, tiễn khách!”
Tư Mã Hy và Công Tôn Hoằng buồn bực rời khỏi cung Triệu. Lý Tỳ lấy làm áy náy, dẫn hai người về phủ của mình, bày tiệc tiếp đãi, vừa chúc rượu vừa luôn miệng tạ lỗi về chuyện Âm Cơ. Sau đó mới giải thích với hai người rằng, Triệu Vương xưa nay đam mê nữ sắc, vả lại tỉnh lực sung mãn, một đêm có thể làm hạnh đến chục người, cung phi bình thường khó mà chịu nổi. Vậy nên Triệu Vương mới tìm kiếm mỹ nữ khắp nơi, nghe nói Âm Cơ dung nhan tuyệt thế, mới buột miệng nói ra lời đó mà thôi. Hai người biết được nội tình, mới nguôi ngoai cơn bực bội.
“Dám hỏi đại nhân,” Công Tôn Hoằng khẽ hỏi, “Triệu Vương một đêm lâm hạnh những mười người, chuyện đó… có thực chăng?”
“Đích xác là vậy.” Lý Tỳ mỉm cười, hạ giọng thì thào, “nếu hai vị có tiên đan đó, cũng sẽ được như vậy.”
“Tiên đan?” Hai người ngỡ ngàng hỏi lại.
“Chính là thứ thuốc này!” Lý Tỳ bước vào trong buồng, lấy ra một chiếc hộp nhỏ chế tác tinh xảo, lấy từ trong hộp ra một lọ nhỏ, rồi đổ ra mấy hoàn thuốc đen đen.
Hai người lấy làm hiếu kỳ, cầm viên thuốc lên nhìn kỹ. “Sao đại nhân lại có được?” Công Tôn Hoằng ngạc nhiên hỏi.
“Đây chẳng phải vật hiếm quý gì, do một phương sĩ nước Sở bán ra, chỉ là giá cả đắt đỏ, mỗi viên một lượng vàng, dân thường không mua nổi mà thôi. Thoạt tiên chẳng ai chịu tin cả, sau đó có người bạo gan dùng thử, quả nhiên hiệu nghiệm, cả đêm ngự nữ liên tiếp mà không mệt mỏi. Thế là quý tộc Hàm Đan đua nhau mua dùng, tại hạ thấy tò mò, cũng mua một hộp. Hẳn là có ai đó chu đáo đã tặng cho Triệu Vương thứ này, nên mới sung sức đến vậy.” Lý Tỳ giải thích.
“Lý đại nhân,” Công Tôn Hoằng lập tức lấy ra một cục vàng, “đây là hai mươi lượng, tại hạ chỉ muốn đại nhân nhượng lại mười viên, được chăng?”
“Ái chà!” Lý Tỳ bật cười, đếm lấy hai mươi viên, lần lượt bỏ vào hai lọ nhỏ, “không giấu hai vị, tại hạ có ba mươi viên cả thảy, đã dùng vài viên, vô cùng hiệu nghiệm, một đêm có thể gần gũi hết lượt đàn bà trong phủ. Tại hạ lần trước tới Trung Sơn, được hai vị tiếp đãi chu đáo, sau này sẽ còn quấy quả nhiều. Hai chục viên này, xin được tặng mỗi vị mười viên, tạm coi như món quà kết tình bằng hữu!” Rồi đẩy trả mười lượng vàng.
Tư Mã Hy, Công Tôn Hoằng lấy làm mừng rỡ, luôn miệng cảm tạ, rồi nhận lấy lọ thuốc cất đi.
Do trạm dịch không có đàn bà, hai người không dám tuỳ tiện dùng thử, nên cố nhẫn nhịn đến khi trở về Linh Thọ, bèn dùng ngay mỗi người một viên, quả nhiên hiệu nghiệm như thần, suốt đêm không mệt.
Sáng sớm hôm sau, Tư Mã Hy, Công Tôn Hoằng vào cung yết kiến, phục mệnh Trung Sơn Vương. Sau đó, Công Tôn Hoằng cũng bẩm báo luôn những lời nói của Triệu Vương trong tiệc tiễn hành cung Triệu.
“Há có lý này!” Trung Sơn Vương giận tím mặt, đấm mạnh xuống án, giận dữ thở hồng hộc một hồi, rồi nhìn sang Tư Mã Hy, vòng tay nói, “tướng quốc đối đáp rất thoả đáng, không phụ sứ mệnh, quả là may mắn cho quả nhân, may mắn cho Trung Sơn!”
“Là đại vương uy vũ, thần không dám nhận công!” Tư Mã Hy vòng tay đáp lễ, rồi khẽ giọng nói, “có điều, chuyển đi lần này, thần đã nắm được thực hư của nước Triệu!”
“Tướng quốc hãy nói!”
“Triệu Vương không hiếu đức, chỉ hiếu sắc, không phải vua hiền; không chuộng nhân nghĩa, chỉ ham vũ lực, không phải vua giỏi. Triệu có quân vương kém cỏi nhường vậy, quả là phúc lớn cho Trung Sơn ta. Đại vương nên cảm tạ trời cao đã phù hộ cho ta mới phải!”
“Tướng quốc nói đúng lắm!” Vương Thố gật gù, rồi băn khoăn hỏi, “có điều, yêu sách của Triệu Vương, quả nhân nên hồi đáp ra sao?”
“Thần có một kế, có thể chặn đứng dục vọng của Triệu Vương!”
“Nói đi!”
“Trên đời này chỉ có cống nạp phi chứ không ai cống nạp hậu. Đại vương nếu lập Âm Cơ làm hậu, có thể dập tắt vọng tưởng của Triệu Vương!”
“Ồ, cũng phải.” Vương Thố trầm ngâm một lát, nhìn sang nội tể, “soạn chỉ, sắc phong Âm Cơ làm hậu, lập con trai Âm Cơ Thể Thứ làm thái tử, chọn ngày lành tế cáo thái miếu, tuyên chiếu khắp thiên hạ.”
“Thần lĩnh chỉ.”
Tư Mã Hy tạ ơn, rồi đưa mắt ra hiệu cho Công Tôn Hoằng, sau đó cáo lui. Thấy trong cung không còn ai khác, Công Tôn Hoằng mới lấy ra một lọ nhỏ, kể lại đầu đuôi lời của Lý Tỳ, Vương Thố lấy làm kinh ngạc. Vừa hay gần đây, Vương Thổ đang rầu rĩ bởi tinh lực suy giảm. Phi tần của Trung Sơn Vương không hề ít, đều xuất thân từ dòng họ thế lực, nếu bị bỏ bê lâm hạnh, hẳn sẽ ghen tuông oán trách, chuyện mà lan ra ngoài, sẽ gây phiền hà không nhỏ.
“Thần và tướng quốc, mỗi người được tặng mười viên, đêm qua dùng thử, quả là thần dược. Còn lại chín viên, thần không dám giữ dùng riêng, xin dâng tặng đại vương! Ý của tướng quốc cũng vậy!”
Trung Sơn Vương vui mừng khôn xiết, đêm ấy lập tức lấy thử một viên ra uống. Thuốc vừa xuống bụng, bỗng thấy toàn thân rạo rực khó tả, lập tức tìm tới hậu cung.
Chưa tới năm ngày, Vương Thổ đã dùng hết chín viên mà Công Tôn Hoằng dâng tặng. Tư Mã Hy cũng dâng lên chín viên, Vương Thổ chưa kịp dùng hết, đêm đó miệng mũi bỗng trào máu tươi, chết ngay trên người Giang Cơ.
Do Vương Thố đã chính thức sắc phong Âm Cơ làm vương hậu, công tử của Âm Cơ là Thế Thứ đường hoàng tức vị, lập tức xử tử Giang Cơ vì tội dâm đãng, tiện tay trừ khử luôn con trai Giang Cơ là công tử Nguyên Lăng.
Tần vương Trung Sơn vẫn bái Tư Mã Hy làm tướng quốc, tấn phong Công Tôn Hoằng làm thượng khanh. Nước Trung Sơn lại chuyển sang một chương sử mới.