Ngay vào hôm Tống Di bị Tề Tuyên Vương nấu trong vạc trước cung Tề, phó sứ tuỳ tùng là hạ đại phu nước Sở Cảnh Huệ vội vã thu dọn hành trang, gấp rút trở về Sính Đô. Cảnh Huệ vốn định nhanh chóng bẩm báo lên Sở Vương chuyện Tống Di gan dạ xả thân vì nước, nào ngờ sau khi vào Sở, lại gặp mưa lớn triền miên, sau đó đường sá quan ải bị phong toả vì ôn dịch, thế nên khi về tới Sính Đô, đã là một tháng sau đó.
Đi cùng Cảnh Huệ vào cung, đương nhiên là thượng quan Ngận Thượng.
Cảnh Huệ kể lại đầu đuôi mọi sự, sống động như thật, chốc chốc lại nghẹn ngào nức nở, khiến Hoài Vương nghe mà nước mắt ròng ròng.
“Soạn chỉ,” Hoài Vương lau nước mắt, quay sang hàm doãn, “phong đặc sứ Tống Di làm Chấn Uy Quân, lập đền trung…”
Chữ “liệt” cuối cùng còn chưa kịp thốt, ngoài cung bỗng vọng lại tiếng bước chân dồn dập, cung doãn đương trực sải bước lao vào: “Bẩm đại vương, đặc sứ sang Tần, Chiêu đại nhân đã từ Hàm Dương trở về, đang chờ yết kiến ngoài điện!”
“Chao ôi, đến thật đúng lúc, mau mời vào!” Hoài Vương mừng rỡ ra mặt, vội giơ tay mời.
“Tuyên đặc sứ Chiêu Tuy yết kiến!” Nội doãn hô lớn.
Lời vừa dứt, Chiêu Tuy đã hối hả tiến vào, đi thẳng tới trước mặt Hoài Vương, quỳ phịch xuống, khóc lớn mà gọi: “Đại vương…”
“Chiêu ái khanh?” Hoài Vương sửng sốt.
“Đại vương,” Chiêu Tuy vừa khóc vừa bẩm tấu, “Trương Nghi lừa ta!”
“Trương Nghi? Lừa ta?” Hoài Vương nheo mắt, “lừa thế nào?”
“Hắn…hắn hoàn toàn không có ý trả đất cho ta, hắn chỉ muốn khiến ta tuyệt giao với Tề, hắn…” Giọng Chiêu Tuy run bắn.
“Chiêu…Chiêu khanh,” Hoài Vương kinh hãi, “khanh…chớ có luống cuống như thế, hãy nói rõ ràng!”
Chiêu Tuy gắng gượng trấn tĩnh, đứng thẳng người dậy, rồi kể lại cặn kẽ từ đầu chí cuối về chuyến đi sứ lần này, đoạn nói: “Đại vương, Trương Nghi hoàn toàn không muốn trả đất cho ta, bị thần bức bách quá, nên mới nói sẽ đền cho ta sáu dặm Ư Thành. Đại vương, ta đã trúng kế của hắn rồi…”
Hoài Vương sắc mặt tím tái, nắm tay siết chặt đến kêu lên răng rắc, chậm chạp quay sang, nhìn trừng trừng vào Ngận Thượng, giọng rít qua kẽ răng: “Ngận Thượng!”
“Đại…đại vương,” Ngận Thượng lúc này mới bàng hoàng sực tỉnh, đảo mắt một vòng, vội phân trần, “hẳn là có hiểu lầm rồi, Trương Nghi không phải người như vậy, chắc…chắc…chắc Trương Nghi đợi mãi không nhận được tin đại vương tuyệt giao với Tề, nên mới…”
“Bẩm đại vương,” Chiêu Tuy liếc sang Ngận Thượng, cười nhạt mà nói, “chân tướng sự việc, thần đã thăm dò kỹ lưỡng, Trương Nghi kia đã lần lữa tránh mặt đến tận khi nhận được tin báo đặc sứ của đại vương bị Tề Vương nấu trong cung Tề, mới chịu lộ diện gặp thần. Chân Trương Nghi không hề bị thương, tất cả đều do hắn bịa tạc. Lúc ngã xuống sườn dốc, hắn bảo bị thương bên chân trái, ba tháng sau gặp lại, có lẽ bởi hắn lơ đãng, trước mặt thần lại bày ra bên chân phải băng bó. Đang bước đi tập tễnh, đến khi thần chất vấn Tần Vương cớ sao huỷ ước, hắn lại bước đi phăm phăm như thường, lúc đó, thần đã nhìn rõ rành rành, chân cẳng hắn không sao hết. Hắn không hề bị thương, chỉ vờ tập tễnh mà thôi!”
“Trương…Nghi!” Hoài Vương đùng đùng nổi giận, nghiến răng ken két, ánh mắt lại một lần nữa quay sang Ngận Thượng và Cảnh Huệ, gầm lên, “các…các ngươi…cút mau!”
“Đại vương…” Ngận Thượng dập đầu bình bịch, khóc lớn mà gọi.
“Cút!” Hoài Vương gầm lên như sấm.
Ngận Thượng run lập cập, vội kéo Cảnh Huệ dậy, loạng choạng lủi ra khỏi điện. “Truyền chỉ,” thấy Ngận Thượng đã khuất dạng, Hoài Vương mới đưa tay, run rẩy chỉ ra ngoài điện, “đánh…chuông chiến!”
Chuông chiến của đất nước, không thể đánh tuỳ tiện, một khi đã đánh, tức là có chiến sự cấp bách.
Lúc này, tiếng chuông thình lình vang rền trong cung Sở, choang choảng từng hồi, người Sính Đô vừa mới hoàn hồn chút ít sau thuỷ tai và ôn dịch, đều bàng hoàng kinh hãi, cùng đổ dồn ánh mắt về cung Sở.
Triều thần không dám chậm trễ, bất kể xa gần, bất kể bận rộn, đều vứt bỏ mọi việc, tức tốc lên đường thẳng tới cung thành. Thấy triều thần đều đã tề tựu đông đủ, Hoài Vương cũng không nhiều lời, lệnh cho Chiêu Tuy kể lại toàn bộ sự việc trong chuyến đi sứ sang Tần cùng mối nhục phải chịu. Việc Trương Nghi hứa hẹn trả lại Thương Ư và lập minh ước với Sở, triều thần đều biết. Giờ lại nghe nói Trương Nghi vờ đau chân tránh mặt, Tần Vương thiêu huỷ minh ước, chúng thần ai nấy căm hận sục sôi, đều chửi Trương Nghi gian hiểm, không ít triều thần còn lớn tiếng thỉnh cầu khai chiến với Tần. Hoài Vương thuận thế chiếu mệnh Khuất Cái làm tướng, dấy hai mươi vạn quân, dùng vũ lực thu phục Thương Ư.
Sau khi bãi triều, Ngận Thượng càng nghĩ càng buồn bực. Ngận Thượng dứt khoát không chịu tin kết cục lại thành ra như thế, Trương Nghi lại là người như thế. Chắc chắn phải có điều uẩn khúc. Đúng, chắc chắn là vậy.
Ngận Thượng lầm lì ngồi non nửa canh giờ trong phủ, trong lòng dần dần sáng tỏ, bèn đứng dậy, đi tới phủ trạch của vương thúc.
Trước cổng phủ vương phúc đỗ đầy xe ngựa, trong sân bóng người lố nhố, phòng khách ngồi chật những người, vài kẻ không có chỗ, phải kéo đệm gai ngồi tạm. Tất cả những người này đều là vương thân, rõ ràng đang đợi vương thúc.
Chỗ của vương thúc, vẫn trống không.
Ngận Thượng đang đứng ngẫm nghĩ, chợt có người hầu bước lại, dẫn tới hậu hoa viên. Tử Khải đứng đợi sẵn bên một dãy nhà hoa cỏ tốt tươi, dẫn Ngận Thượng vào.
Nơi đây là thư phòng của vương thúc. Ngồi ở chiếu chủ trong phòng là vương thúc, chiếu khách có bốn người, Xạ Cao Quân, Bành Quân, Phùng Quân, Tử Khải, bên cạnh Tử Khải còn có một chỗ trống, hiển nhiên là dành cho Ngận Thượng.
“Ngận Thượng,” vương thúc sắc mặt âm trầm, “ông tới cũng thật đúng lúc. Chúng ta đang bàn chuyện khai chiến với Tần.”
Vương thúc cố tình tránh nhắc đến Trương Nghi, hiển nhiên rất không muốn nói về kẻ đó.
“Vương thúc,” Ngận Thượng vòng tay nói, “thần đang có một chuyện nghĩ mãi không thông, kính xin vương thúc chỉ giáo!”
“Nói đi!”
“Cớ sao đại vương lại phái Chiêu Tuy đi sứ sang Tần?”
“Phái hắn đi sứ sang Tần thì sao?”
“Kẻ Trương Nghi căm hận nhất, là Chiêu Dương, mà Chiêu Tuy lại là con trai trưởng của Chiêu Dương. Vương thúc, nếu vương thúc là Trương Nghi, sẽ nghĩ thế nào?” Ngận Thượng giọng đầy bực bội, “vậy mà đại vương lại cứ phái Chiêu Tuy đi!”
“Là lão phu tâu lên đại vương phái Chiêu Tuy đi!” Vương thúc đáp.
Ngận Thượng giật nảy mình.
Rõ ràng, hắn đã tính nhầm một nước.
“Ngận Thượng,” vương thúc nhìn chằm chằm vào hắn, “tình thế lúc đó, ông nói xem, để ai đi? Ông đi ư? Hơn nữa, dù bảo ông đi, ông có chịu đi không? Những người khác, còn ai đi được? Đại vương hiểu rõ, chúng ta đều ủng hộ Trương Nghi, mà đại vương vốn dĩ đã hồ nghi về chuyện đó. Còn nữa, khi Trần Chẩn chất vấn, đến Trương Nghi cũng không thể ứng phó, ông bảo đại vương sẽ nghĩ thế nào? Nếu những lời Trần Chẩn nói là sai, thì tại sao trước triều đình, ông lại không hề phản bác?”
“Thần…” Ngận Thượng ấp úng.
“Dẫu Chiêu Tuy là con trai trưởng của Chiêu Dương, nhưng hắn tính khí hiền hoà hơn hẳn Chiêu Dương, đối nhân xử thế cũng biết chừng mực. Bất luận thế nào, ba dòng họ Khuất, Cảnh, Chiêu đều là trụ cột của Đại Sở ta, bao nhiêu năm qua, văn trị võ công, đời đời xuất anh hào. Đây, chính là gia phong. Nếu nói công tâm, nước Sở mỗi khi gặp đại sự, chẳng phải cuối cùng vẫn là ba nhà này đứng ra gánh vác hay sao?”
Ngận Thượng cúi gằm mặt.
“Còn như Trương Nghi,” vương thúc thở hắt ra, “xem ra, chúng ta đều đã trúng kế của hắn thực rồi. Hôm qua, lão phu suốt đêm không chợp mắt, lần lại từ đầu ván cờ lớn này, từ việc lưỡi cày, cho tới việc muối Ba, rồi lại tới việc tin theo Trương Nghi, tuyệt Tề thân Tần, càng nghĩ lại càng cảm thấy, là bản thân chúng ta đã lầm đường thực rồi. Hoặc giả, Khuất Bình đã đúng.”
“Vương thúc…” Ngận Thượng kinh hãi.
“Ngận Thượng,” vương thúc cười gượng một tiếng, “lão phu hỏi ông, nếu ông là Trương Nghi, dù ông căm hận Chiêu Dương bằng trời, cũng có thể làm ra chuyện như thế được chăng?” Lại quét ánh mắt khắp lượt mọi người, “bất luận thế nào, Chiêu Tuy cũng là đặc sứ của vua Đại Sở, chứ không còn là bản thân Chiêu Tuy nữa. Thứ Chiêu Tuy mang theo, chính là quốc thư, thứ cầm trên tay, chính là minh ước hai nước do Trương Nghi và đại vương ghi danh đóng ấn! Mỗi một lời của Chiêu Tuy, đều là thay mặt cho Sở. Còn Trương Nghi thì sao? Hắn đã nói những gì trong phủ này? Hắn đã nói những gì giữa triều đường? Những gì cần nghe, các người đều đã nghe thấy cả, vương thúc đây cũng nghe thấy cả! Hắn còn thề thốt! Hắn còn khẳng định tất cả đều là ý chỉ của Tần Vương!”
“Đánh!” Phùng Hầu đấm mạnh xuống chiếu.
Phùng Hầu họ Mị tên Sửu, là cháu bốn đời của tiên Tuyên Vương, kế thừa đất phong của ông nội, được gọi là Phùng Hầu Sửu. Tuy tên là Sửu, tức xấu xí, song kỳ thực là một hậu sinh anh tuấn, tuổi chưa tới ba mươi, khí huyết sung mãn, là người ưa thích binh nhung nhất trong số các con cháu vương thân, cũng là người dũng mãnh nhất, sử thành thạo cây giáo lớn nặng gần trăm cân. Lúc này, sắp có chiến sự, vương thúc đặc biệt gọi hắn tới thư phòng, rõ ràng có ý trọng dụng.
“Ngận Thượng, ông còn muốn nói gì không?” Vương thúc nhìn sang Ngận Thượng.
“Thần xin nghe theo vương thúc!” Ngận Thượng không dám ho he thêm lời nào nữa, vội khom lưng đáp.
“Nếu nghe theo vương thúc, hãy đánh trận này!” Vương thúc cũng vòng tay đáp lễ, rồi lại nhìn sang chúng nhân, “còn ai có ý gì khác?”
Mấy người đưa mắt nhìn nhau, đều vòng tay nói: “Xin kính cẩn nghe theo vương thúc!”
Vương thúc chầm chậm đứng dậy: “Đi thôi, ra phòng khách tiền viện. Binh sĩ, lương thảo, mọi người hãy tự đưa ra con số!”
Lời động viên của vương thúc thực hữu hiệu. Chúng vương thân trong vụ buôn bán ô kim đã kiếm được bộn tiền của người Tần, lại nhờ vào muối Ba mà giữ lại được lời lãi, vốn dĩ đều ít nhiều cảm thấy áy náy với người Tần, lúc này đã có được lý do, lại chợt cảm thấy không những rất nên chiếm đoạt tiền của người Tần, mà người Tần lật lọng bất tín, đáng hận đáng giết, đều đua nhau lên tiếng ủng hộ đại vương, sẵn sàng xuất quân xuất của thu phục Thương Ư. Vương thúc vẫn cứ là vương thúc, khi đã chuyển hướng, tất cả mọi việc đều đảo ngược.
Cùng chúng vương thân bàn bạc xong xuôi về phần binh sĩ quân nhu của các nhà, tiễn họ về rồi, vương thúc lập tức lệnh cho phu xe đánh xe thẳng tới vương thành, vào cung yết kiến Hoài Vương, bẩm báo lên Hoài Vương về số binh lương mà chúng vương thân nguyện đóng góp.
“Mười sáu vạn?” Hoài Vương vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, gần như không dám tin vào tai mình.
“Đây mới chỉ là vương thân ở Sính Đô, số lượng cũng là do họ tự nguyện báo lên. Nếu cộng thêm những người khác bên ngoài Sính Đô, chỉ tính riêng các nhà vương thân, binh lính có lẽ được hơn hai mươi vạn. Lại thêm ba họ và tông thân, thì năm mươi vạn binh trong tay vương huynh, cũng không phải là không thể! Đại Sở ta, giơ tay áo thành bóng râm, vẩy mồ hôi thành mưa rào.” Vương thúc siết chặt tay quyền, “chớ nói là người Tần, cho dù…” chợt dừng lại nửa chừng, hừ mũi thật lớn.
“Thực không thể ngờ, quả nhân…” Hoài Vương lấy làm kích động, nhất thời không thốt nên lời.
“Trương Nghi lừa ta, Tần Vương bất tín,” vương thúc dõng dạc tiếp lời, “chúng vương thân nghe được tin này, thảy đều căm phẫn, thề quyết một trận sinh tử với Tần, đoạt lại Thương Ư, rửa mối nhục xưa!”
“Trương…Nghi!” Hoài Vương nghiến răng kèn kẹt.
“Vương huynh, giờ hẳn vương huynh đã thấy, mỗi khi đất nước lâm nạn, vương huynh xuống chiếu, thực lòng báo quốc, duy có vương thân và tông thân!” Vương thúc không lỡ thời cơ, bồi thêm một câu.
“Hiền đệ nói phải!” Hoài Vương lấy làm cảm khái, “sự việc trước kia, là ngu huynh sai rồi. Mong hiền đệ hãy chuyển lời tới chúng vương thân cho họ an tâm, chừng nào quả nhân còn tại vị, nước Sở sẽ không bao giờ cải chế!”
“Cảm tạ vương huynh!” Vương thúc vòng tay, “thần đệ còn có một việc!”
“Cứ nói!”
“Là chuyện lệnh doãn. Đất nước không thể thiếu lệnh doãn, nhất là trước đại chiến!”
“Trước khi hiền đệ tới, quả nhân cũng đang nghĩ tới chuyện này. Theo ý hiền đệ, ai có thể đảm đương trọng trách đó?”
“Thần đệ tiến cử một người, tả đồ Khuất Bình.” Vương thúc vòng tay đáp.
“Được!” Hoài Vương cao giọng đáp, “hiền đệ và quả nhân đều chung một suy nghĩ. Than ôi, không giấu hiền đệ, mấy ngày qua, quả nhân suy đi nghĩ lại, lấy làm hối hận vô cùng! Khuất Bình nói đúng, quả nhân sai rồi.”
“Vương huynh chớ nên tự trách mình.” Vương thúc tiếp lời, “sự việc vừa qua, lỗi ở thần đệ, và cả ở thượng quan. Giờ mới thấy, Trương Nghi quả nhiên là kẻ tiểu nhân gian trá, ngoại trừ tả đồ, tất cả chúng ta đều đã trúng phải gian kế của hắn!” Nói đoạn, nhìn thẳng vào Hoài Vương, “phải rồi, thần đệ còn có một việc muốn bẩm báo vương huynh. Tư tế Bạch Vân không phải hoàn toàn là người Ba!”
“Ồ?” Hoài Vương sửng sốt.
“Tư tế chính là cháu gái của vương huynh, cũng tức là con gái của thần đệ!”
Hoài Vương há hốc miệng, hồi lâu sau, mới hít ngược một hơi.
“Năm xưa thần đệ phụng mệnh tiên vương, đóng giả diêm thương, tiềm phục tại đất Ba, gặp được tư tế núi Vu Hàm, cũng chính là thân mẫu của Bạch tư tế. Đó là một kỳ nữ, là người duy nhất mà thần đệ yêu thương trong cuộc đời này. Sau đó, thần đệ và nàng…đã có Bạch Vân. Nhưng rồi, thần đệ dẫn quân đánh vào trại Ba, chiếm đoạt suối muối, nàng ấy hổ thẹn với người Ba, bèn nhảy xuống vách núi tự vẫn. Than ôi…” Kể đến đây, vương thúc nước mắt đầm đìa.
“Hiền đệ nên nói sớm mới phải, quả nhân suýt nữa…” Hoài Vương có phần trách móc.
“Thoạt tiên, thần đệ chỉ là suy đoán, cho tới gần đây, thần đệ mới xác thực rõ ràng. Vân Nhi quyến luyến Khuất Bình, Khuất Bình cũng mến mộ Vân Nhi, hai người họ…Than ôi, vào thời khắc then chốt, thần đệ đã không chịu nghe theo lời họ, thực hối hận vô cùng!”
“Hiền đệ, xin đừng nói nữa.” Hoài Vương nhìn sang vương thúc, chủ ý đã quyết, “hiền đệ hãy đi ngay, lập tức vời Khuất Bình vào cung, ta cùng bàn đại sự. Thời gian trước, quả nhân xử tệ với tả đồ, nghe nói hắn ôm trong lòng không ít oán hận. Hôm qua chuông chiến vang rền, sự việc cấp bách, toàn bộ triều thần đều tới đông đủ, duy có tả đồ không tới. Quả nhân vốn định soạn chỉ trách mắng vài câu, nhưng rồi…Mà thôi, không nói chuyện này nữa. Thỉnh cầu hiền đệ hãy chuyển lời tới Khuất Bình, quả nhân vốn muốn cùng đến mời, nhưng trăm việc bộn bề, không thể dứt ra, hiện tướng quân Khuất Cái vừa tới bàn chuyện phạt Tần, đang đợi yết kiến bên thiên điện!”
Vương thúc liền cáo từ Hoài Vương, đánh xe tới thẳng nhà cỏ của Khuất Bình ở ngoài thành Sính Đô.
Dù Hoài Vương không thỉnh cầu, vương thúc cũng phải tới chỗ Khuất Bình.
Vương thúc muốn nhận sai với Khuất Bình, và với Bạch Vân.
Vương thúc muốn lập tức công khai nhận con gái ruột.
Vương thúc muốn trịnh trọng hứa gả con gái cho Khuất Bình.
Thế nhưng, khi Khuất Dao dẫn vương thúc vào trong phòng của Khuất Bình, vương thúc hoàn toàn không dám tin vào cảnh tượng đang bày trước mắt: Khuất Bình đầu bù tóc rối, hai mắt ngây dại, ngồi bên mép giường, bế Bạch Vân trong lòng, ôm thật chặt, hoàn toàn không màng đến lễ nghi. Bạch Vân giống như đứa trẻ đang ngon giấc, toàn thân mềm nhũn, nép sát vào Khuất Bình.
Lúc này, đang giữa ban ngày.
Lúc này, Khuất Bình lẽ ra phải ở trong phủ tả đồ xử lý việc công. Vương thúc sực nhớ tới lời Hoài Vương, sau hồi chuông chiến, tả đồ Khuất Bình không thượng triều.
Trực giác mách bảo vương thúc, Bạch Vân có chuyện.
“Vân Nhi? Vân Nhi!” Vương thúc giật mình lo sợ, sải bước lại bên Khuất Bình, cúi xuống, đưa tay định chạm vào Bạch Vân.
Khuất Bình bỗng gầm lên một tiếng, tung chân đạp thẳng vào vương thúc.
Vương thúc không kịp đề phòng, lãnh nguyên một đạp, loạng choạng lùi liền mấy bước, ngã ngồi xuống đất.
Khuất Dao vội vã chạy lại, đỡ vương thúc dậy.
Vương thúc đỏ mặt tía tai, sửng sốt nhìn Khuất Dao.
“Đã mấy ngày rồi.” Khuất Dao lau nước mắt, “tả đồ cứ như thế, suốt ngày lẫn đêm chỉ ngồi ôm tư tế, không ăn không ngủ, mãi tối qua mới chịu ăn chút ít, nhưng vẫn thức trắng đêm, không rời tư tế. Còn tư tế…”
“Tư tế làm sao?”
“Nghe Nam Nam nói, tư tế hoá thành một vầng mây trắng, bay…bay đi mất rồi!” Nói đến đây, Khuất Dao cũng nghẹn ngào.
“A!” Vương thúc lúc này đã bừng hiểu, ngã sụp xuống đất, bật khóc thành tiếng, “ôi Vân Nhi, Vân Nhi của ta…” Khóc lóc vật vã một hồi, lại đứng dậy, sải bước chạy ra ngoài, “Nam Nam là ai, Nam Nam đâu?”
Khuất Dao bèn gọi Nam Nam lại.
Vương thúc hỏi han tường tận, Nam Nam nước mắt giàn giụa, kể lại sự tình hôm đó. Vương thúc căn dặn Khuất Dao chăm sóc hai người cẩn thận, rồi tức tốc tới thái miếu tìm miếu doãn và bốc doãn.
“Hồi bẩm vương thúc,” bốc doãn nghe vương thúc kể xong, thì dõng dạc đáp, “chuyện của tư tế, thần đã hiểu rồi. Tư tế vì muốn cứu người Sở thoát khỏi ôn dịch, nên đã hoá thành mây, bay lên đỉnh núi Thái Bạch.”
“Bay…bay lên núi Thái Bạch làm gì?” Vương thúc kinh ngạc.
“Vương thúc còn nhớ chuyện năm sao sắp hàng, sao chổi xuất hiện chứ? Năm nay Canh Tý, vốn là đại hoạ, khí Thuỷ cực thịnh trên trời, đại thần Cộng Công năm xưa bị tiên tổ Chúc Dung ta đuổi tới Bắc Minh, ẩn phục hơn hai nghìn năm tại đó, bèn chớp lấy thời cơ quay lại. Tư tế của Cộng Công được người Tần giúp sức, dựng đàn tế trên đỉnh Thái Bạch, thi hành tà pháp, xua toàn bộ nước trời đáng lẽ phải rơi xuống đất Ưng quay lại Kinh Sở ta, khiến nước ta chìm trong tai ương, còn Tần Xuyên bình yên vô sự. Sau đó, đại thần Cộng Công lại phái ôn thần hại ta. Bạch tư tế cầu cứu đại thần Vu Hàm, nhưng Vu Hàm lực bất tòng tăm, đành bảo tư tế, chuyện này chỉ có thể thỉnh cầu Cộng Công.” Im lặng một chốc, bốc doãn nói tiếp, “hẳn là tư tế đã đi cầu Cộng Công, đem thân mình ra đánh đổi.”
“Sao bốc doãn biết được?” Vương thúc nhìn bốc doãn chằm chằm.
“Hồi bẩm vương thúc,” bốc doãn vòng tay đáp, “người Tần bất tín, làm nhục Đại Sở ta, đại vương lệnh cho thần tế cáo tiên tổ, xuất binh phạt Tần. Khi thần tế cáo tiên tổ, tiên tổ hiển linh, thần vì thế mới biết được nguyên do.”
“Con…con gái…của ta…” Vương thúc đổ sụp xuống đất, bật khóc thất thanh.
Nghe thấy hai tiếng “con gái”, bốc doãn và miếu doãn đưa mắt nhìn nhau, đều lấy làm sửng sốt.
Vương thúc khóc một hồi, chợt đứng phắt dậy, rút soạt bảo kiếm, chỉ thẳng lên trời mà hét lớn: “Ác thần Cộng Công, trả lại con gái cho ta!” Rồi đùng đùng giận dữ, xô cửa mà đi.
Vương thúc vào thẳng cung thành, đi được nửa đường, đầu óc đã tỉnh táo hơn nhiều.
Vương thúc hiểu rõ, thù hận không phải cứ gầm lên vài câu quyết liệt là có thể báo thù. Hiện tại, có hai việc cấp bách, thứ nhất là quốc kế dân sinh, thứ hai là xuất binh phạt Tần.
Vương thúc lệnh cho phu xe rẽ sang hướng khác, đi chậm lại.
Xe ngựa từ từ lăn bánh, vương thúc đăm chiêu nghĩ ngợi.
Cỗ xe đi quanh con phố bên ngoài cung thành hai vòng, vương thúc trong lòng đã sáng tỏ, mới lệnh cho đánh xe vào cung, dừng lại bên ngoài cấm môn, đi bộ vào trong.
Khuất Cái vẫn ở trong cung, đang cùng Hoài Vương bày sa bàn trong thiên điện. Trên sa bàn là địa hình sơn cốc Thương Ư, từ Lam Điền tới Tích Thuỷ, toàn bộ sông ngòi khe rãnh, thành ấp thôn trại, thành luỹ quan ải, đường bộ đường thuỷ, binh lính lương thảo, tất cả những gì liên quan đến quân tình chiến sự, đều có đầy đủ trên sa bàn. Rõ ràng, vì cuộc chiến này, Khuất Cái đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng.
Thấy vương thúc cũng tới, Khuất Cái cảm thấy cần phải bày tỏ rõ mọi mối đắn đo.
“Đại vương, vương thúc,” Khuất Cái chỉ vào sa bàn, sắc mặt nặng nề, “không phải thần cả nghĩ, song cuộc chiến với Tần, thần có ba mối lo.”
“Khanh cứ nói.” Hoài Vương chìa tay.
“Thứ nhất, là binh lực. Sở dĩ Trương Nghi dám làm như vậy, là bởi người Tần sớm đã chuẩn bị cho cuộc chiến này. Theo như thần biết, chỉ riêng sơn cốc Thương Ư, binh tướng dưới trướng Ngụy Chương đã không chỉ là ba vạn như trong trận Tích Thuỷ, mà đã lên tới mười ba vạn. Mười vạn sung thêm, là mới kéo tới đóng quân vào hai tháng trước. Phía người Tần là thủ, phía ta là công, người Tần có mười ba vạn quân, thì ta cần phải gấp đôi. Đại vương chỉ xuất hai mươi vạn, thần cho rằng binh lực không đủ.”
“Còn điều thứ hai?” Hoài Vương nhìn xoáy vào Khuất Cái.
“Chiến bị.” Khuất Cái đáp, “phạt nước nghìn cỗ xe, cần chuẩn bị ba năm, mà Tần là nước vạn cỗ xe. Trong mười lăm năm qua, ta và Tần đại chiến ba lần, một ở Thương Ư, một ở đất Ba, một ở Tích Thuỷ, ba trận bại cả ba. Thương Ư, người Tần thắng do tập kích. Nước Ba, người Tần thắng do trí trá. Còn trận Tích Thuỷ, người Tần thắng vì nhiều cớ, nhờ binh khí, nhờ sĩ khí, cũng nhờ những thứ khác. Nay người Tần đã chuẩn bị sẵn sàng, còn ta vẫn đương bề bộn, lại thêm năm nay đủ thứ tai ương, dân chúng kiệt quệ, theo như thần biết, không dưới ba mươi vạn người chết vì hồng thuỷ, không dưới ba vạn sinh mệnh chết bởi ôn thần. Đất nước gặp hoạ, dân đói ăn nhiều không đếm xuể.”
“Còn điều thứ ba?” Hoài Vương hiển nhiên không muốn nghe những lời này, giọng đầy nôn nóng.
“Thứ ba là chiến địa.” Khuất Cái ngần ngừ một lát, chỉ xuống sa bàn, “chí của ta là thu phục Thương Ư, binh lực dồn hết vào đây, còn người Tần lại đồn quân đông đảo ở Nam Trịnh. Bởi cần dẹp loạn Ba Thục, quân Tần ở Thục ít cũng năm vạn, do Tư Mã Thác chỉ huy, đã theo sạn đạo quay về phòng thủ Nam Quyển, cộng thêm Nam Trịnh vốn đã có quân đồn thú, binh lực cũng hơn mười ba vạn. Nếu ta khai chiến ở Thương Ư, Tư Mã Thác có lẽ sẽ men theo Hán Thuỷ mà xuống, tập kích Hán Trung ta.”
Đất Hán Trung mà Khuất Cái vừa nhắc đến là một quận lớn của Sở. Hán Thuỷ sau khi chảy ra khỏi Thục Sơn, đổ vào bổn địa Nam Trịnh. Bổn địa Nam Trịnh vốn dĩ do bốn nước Ba, Thục, Sở, Tần chia nhau chiếm cứ, sau khi Tần diệt Ba Thục, cũng chiếm luôn phần đất của Ba Thục, chỉ để lại cho người Sở một khoảnh đồi núi nơi Hán Thuỷ từ phía nam chảy vào. Hán Thuỷ chảy về đông, lại đổ vào một số vùng đồng bằng nhỏ, vốn là đất Dung, sau khi Sở diệt Dung, lập quận tại đây, là quận Hán Trung, còn bổn địa Nam Trịnh được gọi là Tây Hán Trung. Vùng núi ở Tây Hán Trung nay đã trở thành tuyến đầu phòng ngự người Tần, quận Hán Trung nếu cũng bị Tần đoạt mất, người Tần có thể theo Hán Thuỷ mà xuống, uy hiếp Sính Đô. Do vậy, gần trăm năm qua, nước Sở luôn đóng trọng binh tại đất này, do họ Khuất làm tướng thống lĩnh. Giờ đây, Khuất Cái được điều sang chiến trường Thương Ư, thì Hán Trung sẽ mỏng yếu đi nhiều.
“Khanh nói phải,” Hoài Vương thoáng trầm ngâm, chỉ vào sơn cốc Thương Ư trên sa bàn, “trước tiên nói về điều thứ nhất. Nếu hai mươi vạn không đủ, quả nhân sẽ cấp thêm cho khanh sáu vạn nhuệ binh, tổng cộng là hai mươi sáu vạn, thế nào?”
“Tạ ơn đại vương!” Khuất Cái vòng tay.
“Tiếp đến điều thứ hai,” Hoài Vương chỉ vào nước Tần, “người Tần đã có chuẩn bị, lẽ nào Đại Sở ta lại không? Từ lúc quả nhân kế vị, sớm tối lúc nào cũng chỉ nghĩ tới chuyện thu phục Thương Ư. Nếu Tần là nước vạn cỗ xe, Đại Sở ta há chịu dưới vạn cỗ? Còn như năm nay tai ương quả thực không nhỏ, song quả nhân điều tra được biết, toàn bộ tai hoạ đều do vu sư đất Tần gây nên. Người Tần bất chấp đạo trời, giá hoạ láng giềng, hành vi bất nghĩa, gây ra chuyện thương thiên hại lý nhường này, khiến thần người đều phẫn nộ!”
“Vu sư đất Tần?” Khuất Cái sửng sốt.
“Đúng vậy,” vương thúc tiếp lời, “thần vừa từ thái miếu trở về, nghe bốc doãn nói, là vu sư đất Tần thi pháp, thỉnh đại thần Cộng Công giáng lâm, xua toàn bộ nước trời lẽ ra phải đổ xuống đất Ưng Châu quay về Kinh Châu ta, dìm chết người Sở ta. Và cả ôn thần, cũng là do Tần vu sai khiến.” Dừng lại một thoáng, nhìn sang Hoài Vương, “bẩm đại vương, để cứu người Sở thoát khỏi ôn dịch, mà tư tế Bạch Vân đã…” Nói đến đây, nước mắt lại ứa ròng ròng.
“Nàng ấy làm sao?” Hoài Vương hỏi dồn.
“Nàng…nàng đã hoá thành mây trắng về trời!”
“Hoá thành mây trắng? Về trời?” Hoài Vương sửng sốt.
Vương thúc kể lại vắn tắt một lượt câu chuyện bi thương mà mình đã thấy trong nhà của Khuất Bình, cùng lời của bốc doãn thái miếu. Nghe xong, cả Hoài Vương và Khuất Cái đều không cầm được nước mắt.
“Trời ơi!” Hoài Vương ngửa cổ hét lớn, “Khuất ái khanh của ta, cháu gái của ta, tư tế của ta…”
“Đại vương,” vương thúc gạt nước mắt, nhìn sang Hoài Vương, “điều thứ ba mà Khuất tướng quân vừa nói, xin hãy giao cho thần đệ. Thần đệ đã nhiều năm không cầm quân, tay chân ngứa ngáy, lần này giao chiến với Tần, thần đệ thỉnh mệnh trấn thủ Hán Trung, hợp sức cùng Khuất tướng quân!”
“Hiền đệ…” Hoài Vương vô cùng xúc động, giọng cũng run lên, “quả nhân…ân chuẩn!”
“Có vương thúc trấn thủ Hán Trung, thần không còn gì lo lắng nữa!” Khuất Cái vòng tay với vương thúc, rồi lại quay sang Hoài Vương, “có trời cao chứng giám, thần xin thề trước đại vương, không thu phục được Thương Ư, thề không về Sính!”
“Có lời này của tướng quân, quả nhân yên tâm rồi!” Hoài Vương vòng tay, “ngạn ngữ có câu, tướng bên ngoài, có thể không theo mệnh vua. Trận chiến này phải đánh thế nào, quả nhân sẽ không hỏi nhiều, mọi sự đều nghe theo tướng quân!”
“Tạ ơn đại vương tin tưởng!”
“Còn một chuyện nữa, chính là chọn lệnh doãn. Hãy cùng bàn xem,” Hoài Vương nhìn sang vương thúc, “hiền đệ, Khuất Bình lẽ nào…thực sự không kham nổi trọng trách này?”
“Than ôi.” Vương thúc thở dài một tiếng, “nghe Khuất Dao nói…tâm trí hắn đều đã bị Vân Nhi mang đi mất rồi, than ôi…” Nước mắt lại ứa ra, “suốt mấy ngày qua, hắn như kẻ mất hồn, chỉ ngồi đờ đẫn ôm lấy Vân Nhi…mà ngâm đi ngâm lại mãi một bài thơ…”
“Bài thơ nào?”
“Chính là bài thơ mà hắn từng ngâm trong lễ tế miếu Vu Hàm hôm đó…”
“Tắm nước lan này gội hương, mặc sắc thắm này y thường. Mây phấp phới chừ đã đến, ánh rực rỡ chừ lạ thường…” Hoài Vương bất giác lẩm nhẩm đọc khẽ mấy câu đầu, rồi chìm vào im lặng.
“Đại vương,” vương thúc tiếp lời, “theo như thần đệ thấy, Khuất Bình hẳn bởi đau thương quá độ mà không còn tỉnh táo, nên việc triều đường trước mắt, tạm chưa thể phó thác cho hắn. Đất nước không thể thiếu lệnh doãn, huống hồ hiện tại chiến sự cận kề, các phủ doãn, các quận doãn đều cần điều độ. Chức trách lệnh doãn này, vương huynh tốt nhất nên chọn người khác.”
“Theo ý hiền đệ, người nào thích hợp?”
“Việc này, thần thực khó nói. Người có thể cáng đáng việc triều chính, trước có Chiêu Dương, sau có Khuất Bình. Chiêu Dương, thứ nhất đã già, thứ hai đã cáo quan quy ẩn, giờ lại triệu về, thực không thích hợp. Đại vương có thể lựa chọn người hiền trong số hậu bối của ba họ lớn.”
“Khuất tướng quân,” Hoài Vương nhìn sang Khuất Cái, “về chức lệnh doãn, tướng quân có tiến cử gì chăng?”
“Thần không có tiến cử, chỉ kính cẩn vâng theo vương mệnh!”
“Trong số hậu bối của ba họ lớn, có thể đảm đương trọng trách này, chỉ có hai người, một là Cảnh Lý, hai là Chiêu Tuy. Trong hai người này, hiền đệ và tướng quân sẽ lựa chọn ai?” Hoài Vương nhìn vào hai người.
“Thần xin nghe theo đại vương!” Khuất Cái đáp.
Hoài Vương nhìn sang vương thúc.
“Cảnh Lý có thể trị dân, Chiêu Tuy có thể trị quan.” Vương thúc đáp.
“Cứ theo lời hiền đệ!” Hoài Vương gật đầu, coi như chấp thuận, lại quay sang nội doãn, “soạn chiếu mệnh, nhiệm Chiêu Tuy làm lệnh doãn, nhiệm Cảnh Lý làm tả đồ.” Rồi nhìn sang vương thúc, “còn Khuất Bình, chờ hắn bình phục, sẽ bổ nhiệm sau!”
Trần Chẩn thủng thẳng về đến Sính Đô.
Trước tiên là Chiêu Dương bị đuổi đi, tiếp đến là Khuất Bình bị điều đi, sau nữa là Tống Di vâng mệnh Sở Vương làm loạn cung Tề bị nấu trong vạc, sau nữa là Tần Tề kết minh, Trương Nghi lừa Sở, Sở Vương trả đòn, một chuỗi liên hoàn, việc này nối tiếp việc kia, mọi toan tính của Trần Chẩn ở Tề coi như đã sụp đổ hoàn toàn.
Tuy nhiên, Trần Chẩn không thể không về Sính. Thứ nhất, vẫn là sứ thần của Sở Vương, Trần Chẩn buộc phải hồi triều phục mệnh. Thứ hai, vì gia quyến và gia sản. Có Y Na, có con gái, Trần Chẩn đã không còn là mưu sĩ lang thang, đến đi mặc dầu nữa.
Vào hôm Trần Chẩn về Sính, đúng lúc Sở Vương đang làm đại lễ sắc phong lệnh doãn, bái chủ tướng tuyên thệ phạt Tần tại thái miếu.
Gần đến giờ Ngọ, đại lễ kết thúc, Sở Hoài Vương về cung, hay tin Trần Chẩn đang chờ, nhớ đến những lời Trần Chẩn đối chất với Trương Nghi trước triều đường lần trước, giờ đều chứng nghiệm, lấy làm cảm khái, lập tức truyền Trần Chẩn vào thiên điện yết kiến.
Nghe được tin Trần Chẩn phục mệnh, còn có hai quan viên tân nhiệm, là lệnh doãn Chiêu Tuy và tả đồ Cảnh Lý.
Trần Chẩn hoàn trả sứ tiết, kể lại vắn tắt về việc đi sứ sang Tề, ở lại Lâm Truy chờ tin giao nhận Thương Ư để thực thi sứ mệnh tuyệt Tề.
Khi kể tới chuyện Tống Di bị nấu trong vạc, Trần Chẩn tâm tư kích động, chỉ vào mũi mình mà nói: “Đại vương, Chẩn chưa đến tuổi đội mũ đã tới An Ấp, ở đó năm năm, làm quan tới chức đại phu. Thêm năm năm nữa, thăng thượng đại phu. Thêm ba năm nữa, nhiệm chức thượng khanh và đại chúc nước Ngụy, chủ trì minh hội Mạnh Tân. Tiếp đến sang Tần, đi sứ sang Sở, lại phụng mệnh tiên Sở Vương đi sứ sang Thục đối đầu với Tần, lại vâng mệnh tung ước trưởng Tô Tần giữ chức tư nghi, kết minh nước lớn. Thế rồi lại phụng mệnh đại vương hai lần đi sứ Lâm Truy, một lần kết minh với Tề, một lần tuyệt giao với Tề. Chuyện cũ tuy không đáng nói, nhưng đi nhiều thấy nhiều, cũng coi như có chút kiến văn, vậy mà chưa từng gặp một kẻ nào kém cỏi về lễ nghi bang giao như Tống Di kia. Thân là đặc sứ của nhà vua, nhất cử nhất động đều là thay mặt cho nhà vua, từng lời từng chữ đều là thay lời cho nhà vua. Đại vương, giả sử chính người đang ở trong cung Tề, cho dù nộ hoà ba trượng, căm hận ngút trời, song thân là khách, hẳn cũng đâu có thể buông lời ngông cuồng, không biết tiến thoái như Tống Di kia? Lại cắt đứt đường lui của Đại Sở ta? Bang giao đâu phải là sa trường! Bang giao đâu phải là võ đài sinh tử! Đã mang danh sứ thần, thì cần phải ứng biến linh hoạt, tiến thoái ung dung, kỵ nhất là nói năng quá tuyệt tình, kỵ nhất là tự cắt đường lui. Tống Di ở Tề, làm ra bao việc ngu xuẩn, lăng nhục người khác, mắng chửi tiên tổ người khác, lại không biết tiến thoái, tự nhảy vào vạc, bảo sử gia hậu thế sẽ viết về hắn thế nào đây? Đại vương, Tống Di là đặc sứ của đại vương, vậy thì sử gia hậu thế sẽ viết về đại vương thế nào đây? Than ôi!” Nói đến đây, nước mắt đã ròng ròng, vừa khóc vừa tiếp, “không giấu đại vương, khi Tống Di mang danh đặc sứ của đại vương mà nhục mạ Tề Vương giữa triều đường, Chẩn lúc đó cũng là sứ thần vâng mệnh đại vương, thực sự hổ thẹn vô kể, không biết giấu mặt vào đâu! Tề Vương nấu Tống Di, khác nào nấu đại vương, khi ngọn lửa bùng lên rừng rực, Chẩn…lòng đau như cắt, chỉ muốn chết đi…” Giọng Trần Chẩn nghẹn lại từng hồi, “Than ôi…Chẩn thực sự chỉ muốn nhảy luôn vào lửa ấy chết đi cho xong…Nhưng Chẩn…không thể chết, Chẩn phải về Sính Đô…phục mệnh với đại vương…” Nói rồi lại khóc lớn.
Những lời thống thiết của Trần Chẩn, hiển nhiên đã khiến Hoài Vương chấn động.
“Ngận Thượng hại ta!” Hoài Vương đấm mạnh xuống án, gầm lên giận dữ.
“Đại vương,” Trần Chẩn tiếp lời, “thỉnh cầu đại vương hãy nghe Chẩn nói một câu, hại đại vương, không phải là Ngận Thượng, mà chính là bản thân đại vương đó! Trong lòng đại vương chỉ một hai nghĩ tới chuyện không đánh mà có được Thương Ư, thế gian nào có chuyện dễ dàng đến thế? Lấy tâm đọ tâm, đại vương thử nghĩ, giả sử người là Tần Vương, người đã có được Thương Ư, tiến có thể uy hiếp Uyển Thành, Sính Đô của Đại Sở, lui có thể che chắn cho Hàm Dương, Quan Trung, trọng địa nhường này, người có muốn hai tay dâng cho kẻ khác? Nhưng Trương Nghi kia mở miệng là nói tặng cho, giơ tay là lập minh ước. Hắn dựa vào đâu? Đất đó phải chăng là của hắn? Nếu đổi lại, Chẩn là Trương Nghi, người là Tần Vương, Chẩn đem đất của người nay tặng chỗ này, mai tặng chỗ kia, người có tha cho Chẩn hay không? Nhưng đại vương lại tin hắn! Đại vương cớ sao lại tin hắn? Bởi lẽ đại vương không tin Chẩn, không tin Chiêu Dương, đại vương vẫn canh cánh chuyện Chẩn và Chiêu Dương từng hại Trương Nghi. Không giấu đại vương, nhớ năm xưa, Trương Nghi kia đúng là mắc mưu của Chẩn, song khi đó, Chẩn làm như thế, không phải vì Chẩn, mà vì Tần Vương. Bởi lẽ lúc đó, Chẩn vẫn là sứ thần của Tần Vương, Tần Vương chiếu mệnh, muốn Chẩn ép Trương Nghi rời Sở, Chẩn thụ mệnh của Tần Vương, sao có thể không dốc sức vì Tần Vương? Sau đó, Trương Nghi sang Tần, đã không biết ơn Chẩn thì chớ, lại ghi hận Chẩn, trước mặt Tần Vương, nhiều lần mưu hại Chẩn đến thập tử nhất sinh, Chẩn mới buộc phải rời Tần tới Sở, nương nhờ lệnh doãn. Thân là môn khách của họ Chiêu, Chẩn đương nhiên phải dốc sức vì Chiêu môn. Chiêu Dương là lệnh doãn của Sở, Chẩn phò trợ cho Chiêu môn, cũng là dốc sức vì Đại Sở. Sau đó đại vương cho Chẩn làm khách khanh nước Sở, lệnh cho Chẩn đi sứ sang Tề, thì thân này của Chẩn chính là của đại vương. Chẩn ở nước Sở, đại vương trọng dụng Chiêu Dương, Chẩn giúp Chiêu Dương. Đại vương trọng dụng Khuất Bình, Chẩn giúp Khuất Bình. Đại vương trọng dụng Chẩn, Chẩn tận tâm tận lực. Chẩn đi sứ Tề, bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào cũng là nói thay cho đại vương, đỡ lời cho đại vương, nhưng xin đại vương hãy tự vấn lương tâm, trong lòng người đã từng tin Chẩn…”
Trần Chẩn lúc này không còn kiêng dè gì nữa.
Sau khi thổ lộ toàn bộ nỗi uẩn ức tự đáy lòng, Trần Chẩn mới khoan khoái hít sâu một hơi, rồi từ từ thở ra, đoạn cuối hơi thở hoá thành một tiếng than: “Hỡi…ôi…” Triều thần nước Sở, không ai dám trách cứ đại vương thẳng thừng nhường vậy.
Chiêu Dương, Cảnh Lý bàng hoàng kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau, rồi không hẹn mà cùng đổ dồn ánh mắt vào Hoài Vương.
Hoài Vương sắc mặt tím tái, hồi lâu sau, mới vòng tay hướng vào Trần Chẩn: “Quả nhân sai rồi!” Lại ngồi ủ ê một hồi, mới ngẩng lên, thở dài thườn thượt, “than ôi, chuyện trước đây, quả nhân hối cũng không kịp. Việc tới nước này, tiên sinh hẳn có kế hay chỉ giáo cho quả nhân?”
“Chẩn chỉ có năm chữ,” Trần Chẩn đưa ra kế sách, “đâm lao phải theo lao.”
“Ồ…” Hoài Vương không hiểu, nhìn sững vào Trần Chẩn dò hỏi.
“Vừa nãy chẳng phải đại vương vừa nói, đại vương sai rồi?” Trần Chẩn giải thích, “vậy thì hãy cứ tiếp tục cái sai này.”
“Ồ…” Hoài Vương lại càng lấy làm khó hiểu, nhìn sang Chiêu Tuy, Cảnh Lý.
Hai người cũng ngơ ngác không hiểu.
“Dám hỏi đại vương, sai ở chỗ nào?” Trần Chẩn lại hỏi.
“Quả nhân sai ở hai chỗ,” Hoài Vương ngần ngừ một lát, rồi gần như ấp úng, “thứ nhất, tin lời Trương Nghi; phái Tống Di tuyệt Tề.”
“Chính phải.” Trần Chẩn tiếp lời, “đâm lao phải theo lao, thứ nhất tiếp tục tin lời Trương Nghi, thứ hai tuyệt Tề triệt để.”
“Tiên sinh phải chăng đang bỡn cợt…” Hoài Vương mặt nóng ran, gắng gượng nuốt xuống hai chữ “quả nhân” sau cùng.
“Không phải.” Trần Chẩn thu thần, sắc mặt nghiêm nghị, “việc bang giao, trọng ở thành tín. Đại vương đã kết minh hoà mục với Tần, thì hãy tiếp tục hoà mục, để xem người Tần còn giở trò gì? Chẳng phải Trương Nghi đã hứa tặng cho đại vương sáu dặm đất phong? Đại vương cứ thuận tình với hắn, nhận lấy sáu dặm đất phong của hắn, xem Trương Nghi giao đất thế nào. Đại vương đã gả công chúa Mị Nguyệt, cũng có thể phái sứ thần tới Hàm Dương, cầu hôn một công chúa của Tần thất, kết tình thông gia. Lúc đó, người Tần có muốn bất hoà, cũng khó. Tiếp đến, đại vương đã tuyệt Tề, thì cứ tiếp tục tuyệt Tề. Tề Vương giận dữ nấu đặc sứ của đại vương, cũng chính là muốn nấu đại vương, đại vương có thể mượn cớ này mà bắt tay với Tần, cùng chinh phạt Tề, giành lấy Tứ Hạ, bù vào Thương Ư đã mất. Người Tần cách đây không lâu bị khốn ở Lỗ, đại bại trước Tề, thù này chưa trả, đâu chịu cam tâm.”
Hiển nhiên, kế sách của Trần Chẩn, đã vượt quá xa khỏi sức lý giải của Hoài Vương.
Hoài Vương lại nhìn sang Chiêu Tuy.
Chiêu Tuy, Cảnh Lý đưa mắt nhìn nhau, rồi lại nhìn Hoài Vương.
Hoài Vương cười gượng một tiếng, nhìn sang Trần Chẩn, vòng tay: “Sách lược của tiên sinh, quá ư cao viễn, quả nhân ngu độn, vẫn phải nghiền ngẫm vài ngày, rồi sẽ lại thỉnh giáo tiên sinh. Phải rồi,” chỉ sang Chiêu Tuy, Cảnh Lý, “quả nhân hôm nay nhiệm Chiêu khanh làm lệnh doãn, Cảnh khanh làm tả đồ, Khuất Cái làm chủ tướng phạt Tề, đã chiếu cáo tiên miếu, tuyên thệ phạt Tần. Tiên sinh nếu cần gì, hãy cứ nói với hai người họ.”
Trần Chẩn rứt gan rứt ruột khuyên nhủ suốt nãy giờ, lại chỉ nhận về tám chữ “chiếu cáo tiên miếu, tuyên thệ phạt Tần” của Hoài Vương, khó tránh hụt hẫng, chỉ biết gượng cười, vòng tay mà nói: “Chẩn phục mệnh đã xong, chúc đại vương phạt Tần thành công! Chẩn xin cáo lui!” Nói đoạn, đứng ngay dậy, chậm chạp lui ra.
“Kết Tần phạt Tề?” Hoài Vương khẽ nheo mắt, nhìn theo bóng Trần Chẩn xa dần, lại nhìn sang Chiêu Tuy, Cảnh Lý, cười nhạt mà nói: “Quả nhân cứ ngỡ kẻ này sẽ nghĩ ra diệu kế thế nào, té ra lại là thứ này. Các khanh nói thử xem, nếu theo lời Trần Chẩn, thì lý trời ở đâu? Người Tần khinh ta, gây hoạ cho ta, làm nhục ta, ta không phạt Tần, lại còn kết thân? Người Tề chưa từng phụ ta, là ta phụ người Tề trước, giờ lại hưng binh phạt Tề chiếm đất. Thế mà hắn cũng nghĩ ra được! Than ôi…” Lắc đầu ngao ngán.
“Đại vương?” Chiêu Tuy khẽ giọng.
“Quả nhân biết khanh định nói gì!” Hoài Vương xua tay ngăn lại, “lời của Trần Chẩn, dứt khoát không thể theo. Tự cổ chí kim, người Sở vẫn luôn ân oán phân minh, phải trái rõ ràng. Nếu kẻ khinh ta ta lại đền ơn, kẻ giúp ta ta lại báo oán, bảo quả nhân còn mặt mũi nào để gặp liệt tổ liệt tông? Vả lại, chuông chiến đã đánh, tiên tổ đã tế, quả nhân nay lại lật lọng, thì còn ra thể thống gì?” Đưa mắt nhìn hai người, “quả nhân hiểu rõ, có thể giữ yên nước ta, chắc chắn là ba họ Khuất, Cảnh, Chiêu. Hai khanh tuổi tác tương tự, tài năng tương đương, đều là trụ cột của Đại Sở, là cánh tay đắc lực của quả nhân. Lần này phạt Tần, mong hai khanh đồng tâm hiệp lực, dốc sức phò trợ tướng quân Khuất Cái, đánh thắng người Tần, để cho chúng phải thảm bại đau đớn, để cho chúng phải khắc cốt ghi tâm, rằng Đại Sở ta không dễ chịu nhục!”
“Thần thụ mệnh!” Chiêu Tuy, Cảnh Lý vòng tay đáp.
Khi Chiêu Tuy về đến Chiêu phủ, đã là giờ Thân buổi chiều.
Chiêu gia một lần nữa có được ngôi lệnh doãn, văn võ bá quan, tông thân bằng hữu kéo tới chật nhà chúc mừng. Chiêu Tuy chào hỏi qua loa vài câu, nhân lúc không ai để ý, lẻn ra cổng sau, đi thẳng tới trạch viện của Trần Chẩn nằm chênh chếch phía đối diện.
Khiến Chiêu Tuy vô cùng kinh ngạc, đó là đám nô bộc trong nhà đều đang bận rộn tất bật, Y Na cũng đang lục tung hòm xiểng, bới bới chọn chọn trong đống đồ vật ngổn ngang.
“Chiêu đại nhân, Chiêu lệnh doãn, vừa mới nhậm chức, hẳn phải bận trăm công nghìn việc, sao lại rảnh rỗi tới thăm hàn xá?” Trần Chẩn hay tin, tay chân mặt mũi lem luốc từ trong nhà chạy ra, vòng tay chào hỏi.
“Chú Trần, thế này là…” Chiêu Tuy bật cười nhìn bộ mặt nhọ, nhem của Trần Chẩn. “Đi thôi!” Trần Chẩn phủi bụi bám trên vạt áo, “đất này ở mãi chán rồi!”
“Đi?” Chiêu Tuy sửng sốt, “chú định chuyển nhà?”
“Phải, chuyển nhà.”
“Tới phố nào?”
“Chiêu đại nhân nên hỏi, tới nước nào mới phải!” Trần Chẩn cười đáp.
“Chú…muốn rời Sở?” Chiêu Tuy gần như chết lặng.
“Nơi đây đâu phải cố quốc của ta, ta đâu nhất thiết phải bám khư khư lấy nó?” Trần Chẩn nhún vai đáp.
“Chú Trần,” Chiêu Tuy cuống lên, “chú…chú không thể đi, cháu bất tài vừa mới ngồi lên chức lệnh doãn, không có lấy một ai đáng tin cậy bên mình, nên cháu tới đây, là…là để thỉnh cầu chú.”
“Cầu ta chuyện gì?”
“Thỉnh cầu chú hãy nể mặt phụ công, mà giúp cháu một tay!”
“Than ôi,” Trần Chẩn xoè bàn tay nhem nhuốc, vỗ bồm bộp lên quan phục mới tinh của Chiêu Tuy, “không phải chú không chịu giúp, mà là…ngôi lệnh doãn này, cháu chẳng thể ngồi lâu!”
“Vì sao kia?” Chiêu Tuy kinh ngạc hỏi dồn.
“Bởi lẽ, thân là lệnh doãn, nếu cháu làm sai, liệu cháu có thừa nhận mình sai? Cháu nhất định sẽ đổ vấy cho thuộc hạ. Cũng giống vậy, đại vương làm sai, cũng sẽ tìm người đổ vấy, phải không?”
“Nhưng chẳng phải hôm nay, đại vương đã nhận sai?”
“Đại vương đã nhận ư?” Trần Chẩn cười nhạt, “nếu vẫn phạt Tần, chính là không nhận!”
“Chú!” Chiêu Tuy sắc mặt khổ sở, “cháu bất tài cầu xin chú, hãy ở lại Sính Đô! Cháu hứa với chú, chỉ cần Chiêu Tuy này còn một hơi thở, sẽ không kẻ nào dám động đến một sợi tóc của chú. Chú nói gì, cháu cũng xin nghe theo. Cho dù thế nào, cháu cũng xin…”
Chiêu Tuy dợm quỳ xuống, song còn chưa kịp khom lưng, đã bị Trần Chẩn thuận tay lôi dậy.
“Cháu hiền,” Trần Chẩn nhìn thẳng vào Chiêu Tuy, “kể từ hôm nay, cháu hãy ghi nhớ ba câu của chú, vậy là đã đủ.”
“Chú?”
“Câu thứ nhất, chớ nên đối đầu với đại vương, càng không được khăng khăng can gián, đại vương này còn xuẩn ngốc hơn cả tiên Ngụy Vương. Câu thứ hai, chớ nên quá trọng chức tước, cũng chớ nên quá trọng tài vật. Câu thứ ba, thấy đủ thì dừng, sớm tìm đường lui, chớ nên khư khư bám lấy Sính Đô.”
“Đường lui ở đâu?” Chiêu Tuy vội hỏi.
“Nơi cách xa người Tần!” Trần Chẩn chỉ về phía đông nam, “có thể tới Ngô Việt. Có lẽ cháu sẽ thấy, chẳng bao lâu nữa, cha cháu nhờ hoạ mà được phúc, có được kết cục an lành!”
“Chú!” Chiêu Tuy nhìn sững vào Trần Chẩn, “ý chú muốn nói, nếu ta phạt Tần, cũng sẽ giống như trận Tích Thuỷ, đại bại lần nữa?”
“Tất bại, vả lại tuyệt đối không giống trận Tích Thuỷ.”
“Vì sao kia?” Chiêu Tuy sửng sốt, “người Tần lừa ta, ta trên dưới đồng lòng, đến vương thúc vương thân cũng đùng đùng phẫn nộ, chắc hẳn…”
“Được rồi!” Trần Chẩn vòng tay, “coi như chú đây nói càn. À phải,” nhìn thẳng vào Chiêu Tuy, “Khuất Bình sao rồi? Hiện đang ở đâu? Vẫn ở Đan Dương chứ?”
“Sớm đã trở về.” Chiêu Tuy thở dài rầu rĩ, “than ôi, nhưng mà…” chỉ vào tim, “cái này hỏng rồi.”
“A?” Đến lượt Trần Chẩn kinh ngạc.
Quanh nhà cỏ của Khuất Bình, gió thu cuốn bay lá rụng, khắp chốn thê lương. Chỉ còn vô số hoa lan vẫn cứ tốt tươi vào độ cuối thu này, cây thì nở hoa, cây thì đơm nụ, cây thì đang tích nhựa sống để chờ khoe sắc.
Khuất Dao chỉ giữ lại hai vu nữ để chăm sóc Khuất Bình và Bạch Vân, toàn bộ số vu nữ còn lại đều được đưa về miếu Vu Hàm trong vương cung.
Sắp xếp xong công việc nơi này, Khuất Dao lên xe chiến, tới thẳng doanh trại.
Chiến tranh nói tới là tới, hơn nữa, phụ thân còn là chủ tướng thống lĩnh hai mươi sáu vạn đại quân. Khuất Dao hiểu rõ, Khuất Cái đời này chưa từng thống lĩnh nhiều quân đến thế, cũng chưa từng nhận trọng trách nào nặng nề đến thế. Trong tâm trí Khuất Dao, trận chiến Tích Thuỷ vẫn luôn là bóng đen ám ảnh. Trực giác mách bảo Khuất Dao, đại vương nôn nóng xuất binh, trận chiến này lành dữ khó đoán. Thân là trưởng tử, Khuất Dao không có mong muốn nào khác, chỉ cầu được ở bên cha, san sẻ một phần gánh nặng, biết đâu gặp khi nguy cấp, có thể đứng mũi chịu sào.
Thế nhưng, dù Khuất Dao có nài nỉ thế nào, Khuất Cái vẫn dứt khoát không cho theo.
Khi ba quân chuẩn bị khởi hành, Khuất Dao tìm tới doanh trại lần cuối.
Vừa trông thấy hắn, Khuất Cái lập tức ném ra một tấm lệnh bài: “Tì tướng Khuất Dao nhận lệnh!”
“Mạt tướng nhận lệnh!” Khuất Dao quỳ một gối, hành quân lễ, cất giọng sang sảng.
“Kính cẩn tuân mệnh vương thúc, bảo vệ Khuất Bình!” Khuất Cái rành rọt từng tiếng.
“Cha…” Khuất Dao cuống quýt kêu lên.
“Đi mau!” Khuất Cái hai mắt như đuốc.
“Mạt tướng…tuân lệnh!” Khuất Dao gần như lẩm bẩm, hết sức miễn cưỡng nhặt lệnh bài lên, đi giật lùi từng bước ra khỏi đại trại trung quân.
Khuất Dao đã hiểu, cha không muốn cho mình đi, là muốn giữ lại huyết mạch cho dòng họ Khuất.
Hơn nữa, ở bên Khuất Bình lúc này, chỉ có người già trẻ nhỏ, thực sự không thể bỏ mặc mà đi.
Thất vọng nối tiếp thất vọng, cộng thêm cơn bạo bệnh và nỗi đau thương khi mất Bạch Vân, đã mau chóng khoét rỗng thân tâm Khuất Bình, thân hình vốn cao ráo thanh tú giờ càng gầy rộc đi thấy rõ. May sao, tình hình chưa tới mức quá tệ. Khuất Bình đã bắt đầu chịu ăn uống, hai con ngươi đã bắt đầu chuyển động, bắt đầu có chút phản ứng với mọi việc xung quanh.
Đúng vào lúc Khuất Dao từ đại trại trung quân trở về nhà cỏ, Nam Nam đang bưng một chậu lan vừa nở rộ vào trong phòng.
“Thưa chú, thưa chị,” Nam Nam gọi lớn, “đây là chậu hoa nở đẹp nhất trong vườn, hương cũng thơm nhất, Nam Nam mang nó vào đây, đặt lên án này, để nó sớm chiều bầu bạn cùng chú, cùng chị!”
Khuất Bình liếc mắt nhìn sang, con ngươi khẽ động đậy một chốc, vòng tay ôm Bạch Vân lại càng ghì chặt.
“Chú ơi?” Nam Nam thấy Khuất Bình đã có phản ứng, bèn nhìn chăm chú.
Khuất Bình nhắm mắt, lại ngâm: “Tắm nước lan này gội hương, mặc sắc thắm này y thường…”
“Mây phấp phới chừ đã đến, ánh rực rỡ chừ lạ thường. Mây thần đậu xuống cung thọ, cùng nhật nguyệt chiếu sáng bừng. Cưỡi xe rồng mặc đế phục, nàng ngao du khắp muôn phương…” Nam Nam lập tức tiếp lời trôi chảy.
Khuất Bình mở choàng mắt, nhìn sững vào cô bé, như không tin vào tai mình.
“Thưa chú,” Nam Nam hớn hở khoe, “cháu đã thuộc từ lâu rồi!”
Khuất Bình lại nhắm mắt, cánh tay ôm Bạch Vân khẽ đung đưa, đang định ngâm tiếp, chợt có tiếng bước chân từ bên ngoài vọng lại. Rồi hai người bước vào.
Khuất Dao đi trước, Trần Chẩn theo sau.
Từ doanh trại trở về, khi đi ngang qua lầu Nguyên Cát, Khuất Dao vừa hay trông thấy Trần Chẩn từ trong lầu bước ra, đi theo sau tiễn là Lâm Đông và Đào Hồng. Trần Chẩn gọi Khuất Dao lại, rồi đánh xe theo sau Khuất Dao, đi thẳng tới nhà cỏ của Khuất Bình.
Căn phòng của Khuất Bình được hai vu nữ dọn dẹp sạch sẽ, thoang thoảng hương thơm từ chậu hoa lan mà Nam Nam mới mang vào.
Trần Chẩn hít lấy vài hơi, ánh mắt dừng ở Khuất Bình.
Khuất Bình không nhìn Trần Chẩn, cứ như không biết có người tiến vào, vẫn ôm Bạch Vân trong lòng, miệng khẽ ngâm thơ, giống như đang ru nàng ngủ.
Nhìn chừng một khắc, Trần Chẩn vẫy tay với Khuất Dao, đi ra khỏi phòng.
“Tìm cho ta một cái chiêng, một chậu nước lạnh!” Trần Chẩn nói.
Khuất Dao tìm một hồi không thấy chiêng, bèn mang lại một cái chậu đồng: “Cái này được không?”
“Phải là chiêng!” Trần Chẩn lắc đầu.
Khuất Dao ngẫm nghĩ chốc lát, sai phu xe đánh xe ngựa ra phố, mua lấy một cái chiêng lớn cùng với dùi gỗ, mang về cho Trần Chẩn. Lúc này đương là cuối thu, nước lạnh dễ kiếm, Trần Chẩn đã múc sẵn một chậu, đặt ở trong phòng.
“Lui cả ra đi!” Trần Chẩn chỉ ra ngoài cửa. Đám Khuất Dao kéo nhau ra ngoài.
Trần Chẩn đóng cửa phòng, cầm chiêng lên, bước tới bên cạnh Khuất Bình, giơ chiêng lại sát bên tai, thẳng tay gõ liền ba nhát.
Ba tiếng “cheng cheng cheng” đinh tai nhức óc xuyên thẳng vào màng nhĩ Khuất Bình, tiếng ngân vang rúng động kéo dài tựa sóng dồn, từng đợt theo nhau, ập vào trong tai.
Khuất Bình rùng mình liền ba cái, còn chưa kịp hoàn hồn, một chậu nước lạnh ngắt đã dội thẳng xuống đỉnh đầu.
Khuất Bình giật nảy mình, nhảy bật dậy, đầu óc lúc này mới như thình lình choàng tỉnh, Bạch Vân tuột khỏi tay Khuất Bình, rơi xuống mặt giường.
Trần Chẩn mỉm cười với Khuất Bình, ném chậu nước đi, vỗ tay mấy cái, rồi mở cửa bước ra, gọi hai vu nữ lại, chỉ vào trong phòng: “Thay trang phục cho Khuất đại nhân và Bạch tư tế!”
Hai vu nữ đi vào, một người vực Bạch Vân lại, lau người cho nàng, thay ra xiêm y ướt sũng nước lạnh. Còn một người thay áo cho Khuất Bình.
Đến khi Trần Chẩn quay trở lại, căn phòng đã được dọn dẹp xong xuôi, Bạch Vân không còn ngồi trong lòng Khuất Bình nữa, mà nằm yên trên giường, mình đắp lượt chăn mỏng.
Khuất Bình đầu óc đã hoàn toàn tỉnh táo, đang ngồi bên mép giường, hai mắt nhìn chăm chú vào Bạch Vân.
“Đã khiến Khuất Tử phải kinh động,” Trần Chẩn vòng tay, vái một vái dài, “Chẩn thực có lỗi!” Khuất Bình nhìn trân trân vào Trần Chẩn, hồi lâu, bỗng bật khóc.
“Khóc đi, Khuất Tử cứ khóc đi, cứ khóc cho thoả thích.” Trần Chẩn đóng cửa phòng, ngồi xuống chiếu, “không giấu Khuất Tử, suốt mấy ngày qua, bên tai Chẩn lúc nào cũng vang vang tiếng chửi bới, tiếng sát phạt, tiếng gầm thét, tiếng nguyền rủa, chỉ không nghe thấy tiếng người khóc, nhất là tiếng khóc của Khuất Tử đây, chao ôi, một tiếng ngang vàng! Khuất Tử mà khóc nghìn tiếng, Chẩn thành phú ông nghìn vàng đến nơi rồi!”
Khuất Bình khóc lớn một hồi, rồi tự lau khô nước mắt, chầm chậm tiến lại, ngồi xuống trước mặt Trần Chẩn, vòng tay lên tiếng: “Khuất Bình tạ ơn tiền bối đã đánh thức!”
“Đánh thức Khuất Tử thì dễ, song muốn đánh thức hôn quân kia của Khuất Tử, Chẩn bất lực rồi!” Trần Chẩn dẫn dắt vào chuyện chính.
“Xảy ra chuyện gì ư?” Khuất Bình hỏi.
Trần Chẩn kể lại sơ lược những sự việc xảy ra gần đây, đoạn thở dài mà nói: “Than ôi, đại vương của Khuất Tử u mê quá rồi, nước Sở của Khuất Tử cũng u mê quá rồi. Trần Chẩn tại hạ đã từng u mê, cũng đã từng chứng kiến tiên Ngụy Vương u mê. Song ở nước Ngụy, bên cạnh tiên Ngụy Vương còn có Bạch Khuê, còn có Long Giả, còn có Công Tôn Diễn, còn có tỳ nhân…Bên cạnh Sở Vương thì sao? Giờ đây, chỉ có một Khuất Bình, song lại bị Sở Vương hành hạ đến nông nỗi này. Than ôi, buồn thay!”
“Theo ý tiên sinh, nên làm thế nào?” Khuất Bình nhìn Trần Chẩn hỏi.
“Vào hôm qua, đại vương cũng hỏi tại hạ như vậy. Tại hạ đáp rằng, đâm lao phải theo lao, đã sai thì sai cho trót. Hãy cứ thuận theo ý Trương Nghi, nhận lấy sáu dặm đất phong của hắn, bên trong phục hồi nguyên khí sau thiên tai, bên ngoài kết minh với Tần, phía đông phạt Tề. Như thế là mất ở góc tây, được ở góc đông.”
Góc đông, góc tây trong lời Trần Chẩn, đương nhiên là chỉ mất trong tay tây Tần, thu về ở đông Tề. Khuất Bình vốn sùng thượng sách lược hợp tung của Tô Tần, rõ ràng là không hiểu, ánh mắt đầy ngỡ ngàng.
“Khuất Tử,” Trần Chẩn chỉ về phía tây bắc, “theo Chẩn biết, Trương Nghi dám ngang nhiên lừa Sở, Tần Vương dám thiêu huỷ minh ước, là có hai nguyên do. Thứ nhất, Đại Sở đã tuyệt giao với Tề, trở nên cô độc. Thứ hai, người Tần đã chuẩn bị xong xuôi mọi việc, chỉ chờ người Sở hưng binh đánh tới. Chẩn không hiểu việc binh, nhưng tự cổ chí kim, dụng binh khi nóng giận luôn là đại kỵ.”
Khuất Bình hít sâu vào một hơi.
“Nước lớn tranh giành, cần đến thứ này!” Trần Chẩn chỉ vào đầu mình, “thiên hạ ngày nay, đã không còn giống như thiên hạ hai mươi năm về trước. Sở đã được Ngô Việt, Tần đã được Ba Thục. Tuy nhiên, người Sở cho tới nay vẫn chưa thể thu phục người Việt hoàn toàn, còn loạn Thục đã bình, Ba Thục đã an định. Người Tần đã có thể rảnh rang tranh đoạt thiên hạ. Người Tần muốn đoạt thiên hạ, mối lo trước nhất là người Sở. Người Tần chỉ một lòng mong diệt Sở, nên lúc này, họ đang trông ngóng người Sở tới đánh!”
Khuất Bình lại hít vào một hơi.
“Nhưng đại vương của các vị lại…” Trần Chẩn cười gượng, lắc đầu ngao ngán, “than ôi, ở đất Sở này, Chẩn chỉ có hai người đáng là bằng hữu, một là Chiêu Dương, đã không còn ở Sính Đô, một nữa là Khuất Tử. Chẩn tới đây, thứ nhất là bởi hay tin Khuất Tử hôn mê bất tỉnh, muốn đánh thức Khuất Tử; thứ hai, sau khi thức tỉnh Khuất Tử rồi, cũng nhân thể nói lời từ giã!” Nói rồi đứng dậy, vòng tay, “Chẩn đã đánh thức Khuất Tử, giờ đã đến lúc cáo biệt!”
“Cáo biệt?” Khuất Bình sửng sốt, “tiên sinh đi đâu?”
“Rời khỏi Sính Đô, rời khỏi nước Sở, tiêu dao quãng đời còn lại.”
Khuất Bình bàng hoàng chấn động, ngây ra hồi lâu, mới nhìn Trần Chẩn mà hỏi: “Tiên sinh định đi đâu?”
“Nước Triệu.”
“Nước Triệu?” Khuất Bình im lặng một lát, “muốn tới tìm Tô Tần ư?”
“Không hoàn toàn là vậy.” Trần Chẩn thở dài thườn thượt, “than ôi, nhìn đi nhìn lại, khắp thiên hạ nhường này lại chẳng còn lấy một chốn yên thân.”
“Ý tiên sinh là, nước Triệu có thể yên thân?”
“Từ thời Ngụy Văn Hầu tới nay, liệt quốc thiên hạ, cải chế sẽ hùng mạnh.” Trần Chẩn ngậm ngùi than thở, “Sở Vương không dùng Khuất Tử, xem ra nước Sở không cải chế được nữa rồi. Nước đang cải chế hiện nay, chính là Triệu. Nghe Tô Tần nói, nước Triệu đang đề xướng mặc áo Hồ rèn kỵ xạ, thứ thay đổi, không chỉ là chế độ, mà còn là giáo hoá, là phong tục. Thường nói, giang sơn dễ đổi, phong tục khó dời. Nếu nước Triệu đến việc khó là vậy cũng thay đổi được, thì còn chuyện gì không thể thành tựu? Nước Triệu có thể thành tựu việc này, cho thấy Triệu Vương đáng phò tá. Xem ra, Tô Tử thường ở nước Triệu, không phải vô duyên vô cớ!”
“Tiên sinh vẫn là người khoát đạt, muốn đi muốn ở mặc dầu, còn Khuất Bình này…” Khuất Bình cười gượng một tiếng, nhìn sang Bạch Vân.
“Khuất Tử,” Trần Chẩn nhìn xoáy vào Khuất Bình, “nếu như tin tưởng, hãy đi cùng Chẩn. Thiên hạ là thiên hạ, phương đông không sáng phương tây sáng, phải không? Chúng ta mang thân bề tôi, sống là để phò quân chủ. Những năm qua, Chẩn coi như đã nhìn thấu tỏ một điều, có những người đáng phò, có những người không thể. Với người không thể phò tá, Khổng Tử đã nói thế nào? ‘Gỗ mục không thể đẽo gọt, tường lở không thể quét vôi.’ Đã không thể đẽo gọt, cũng không thể quét vôi, chúng ta cớ gì cứ phải khổ sở phò tá? Chẩn già rồi, chẳng còn đủ sức đảm đương. Nhưng Khuất Tử thì khác, đương lúc tuổi trẻ tài cao. Tài của Khuất Tử, nếu như tới Triệu, dưới có Tô Tử hỗ trợ, trên có Triệu Vương hiền minh, chuyện khác không nói, kiến công lập nghiệp, chẳng phải xa xôi. Lúc đó, Chẩn này bất tài, nếu có thể được bát cơm ăn dưới hiên nhà Khuất Tử, yên ổn sống đến hết đời, cũng là một chuyện tốt đẹp.”
“Tạ ơn ý tốt của tiên sinh!” Khuất Bình vòng tay nói, “tiên sinh là đại tài, là toàn tài, bất luận đi tới nơi nào, cũng có thể gặp đất nở hoa. Vãn bối không được như thế.” Đưa tay chỉ vào chậu lan trên bàn, “hoa này chỉ mọc được trên đất Sở, dời đi nơi khác, sẽ không sống nổi.”
“Than ôi,” Trần Chẩn thở dài buồn bã, “Khuất Tử còn luyến tiếc gì nơi này? Cũng phải, mỗi người mỗi chí, nước Sở quả thực cũng không thể thiếu Khuất Tử. Thiên hạ nếu không còn Sở, tung thân của Tô Tử sẽ đứt đoạn. Nước Sở nếu không còn Khuất Tử, thì Chẩn này…” mỉm cười buồn bã, “e rằng không còn muốn nhớ.”
“Tạ ơn tiên sinh coi trọng!” Khuất Bình lại vòng tay.
“Khuất Tử,” Trần Chẩn đáp lễ, rồi nhìn thẳng vào Khuất Bình, “nếu đã lựa chọn ở lại nơi này, thì hãy làm điều gì cho nó.” Chỉ về phía tây bắc, “Sở Vương phạt Tần, là điên rồ, có thể ngăn cản ông vua điên rồ này, có lẽ chỉ có một người, chính là vương thúc. Nghe nói vương thúc đã thay đổi, đối đãi với Khuất Tử rất tốt, mấy ngày trước còn nhất quyết tiến cử Khuất Tử làm lệnh doãn Đại Sở, tiếc là Khuất Tử lại đang đổ bệnh. Sở Vương chẳng biết làm sao, hôm qua mới trao chức này cho Chiêu Tuy. Giờ Khuất Tử đã hồi tỉnh, nếu muốn ngăn cản việc này, hãy lập tức đến cầu vương thúc.” Nhìn sang Bạch Vân, rõ ràng đã biết mối quan hệ giữa nàng và vương thúc, nên giọng đầy ẩn ý, “tốt nhất hãy đưa nàng ấy cùng đến.”
“Tạ ơn tiên sinh chỉ giáo!” Khuất Bình vòng tay.
“Không phải tạ ơn!” Trần Chẩn chầm chậm đứng dậy, đi ra phía cửa, tới trước cửa lại dừng chân, ngoảnh đầu thở dài mà nói, “Khuất Tử, đây có lẽ chính là cơ hội cuối cùng mà trời ban cho nước Sở của Khuất Tử đây!”
Chịu kích động liên tiếp từ phía Trần Chẩn, tâm trí của Khuất Bình đã hoàn toàn tỉnh khỏi cơn u mê, liền gọi Khuất Dao mang lại hai bát cháo loãng, ăn xong, đã thấy khoẻ hơn nhiều.
Bên tai Khuất Bình lại văng vẳng giọng nói của Trần Chẩn: “Khuất Tử, đây có lẽ chính là cơ hội cuối cùng mà trời ban cho nước Sở của Khuất Tử đây!”
Khuất Bình rùng mình ớn lạnh.
Khuất Bình bảo Khuất Dao đánh xe lại, đưa Bạch Vân cùng lên xe, tiến thẳng tới phủ trạch của vương thúc.
Trong phủ vương thúc, đâu đâu cũng thấy người mang nhung phục.
Nghe nói người tới là Khuất Bình, vương thúc đích thân ra đón.
Khuất Bình bế Bạch Vân trên tay, chầm chậm xuống xe, tiến lại trước mặt vương thúc.
Vương thúc cũng một thân nhung phục, lẫm liệt hiên ngang, bên hông giắt thanh kiếm Ngô Câu đã lâu không cầm tới.
“Khuất Tử, bệnh của Khuất Tử…” vương thúc lấy làm xúc động, nhìn sững vào Khuất Bình, “khỏi rồi?”
“Khỏi rồi!” Khuất Bình khẽ đáp.
“Vậy còn…Vân Nhi?” Vương thúc bước lại gần, nhìn vào Bạch Vân, sắc mặt đầy lo lắng. Bạch Vân vẫn y như vậy, nằm bất động trong tay Khuất Bình.
Vương thúc đưa tay vuốt khẽ lên khuôn mặt trắng nhợt của nàng, nước mắt ứa ra.
“Vương thúc,” Khuất Bình nhìn thẳng vào vương thúc, “tại hạ tới đây, là để từ biệt!”
“Khuất Tử đi đâu?” Vương thúc vội vã hỏi dồn.
“Đằng kia,” Khuất Bình nhìn về phía núi tây, “đưa nàng về núi Vu Hàm.”
“Phải rồi, hãy mau đưa tới đó, đại thần Vu Hàm chắc chắn sẽ cứu được Vân Nhi!” Vương thúc khấp khởi hy vọng, nhìn về núi tây, vái dài một vái, lầm rầm khấn nguyện.
“Vương thúc,” Khuất Bình tiếp lời, “Khuất Bình tới đây, còn có một chuyện muốn thỉnh cầu!”
“Khuất Tử cứ nói!”
“Khuất Bình khẩn cầu vương thúc hãy can gián đại vương, Tần không thể phạt!”
“Cớ sao không thể phạt?” Vương thúc sững sờ.
“Trời giáng hai hoạ, nạn dân đang chờ được chăm nom, hiện tại, bên ngoài tuyệt giao với Tề, bên trong trị quốc khó khăn, mà đại vương lại không xót thương dân khổ, giận dữ hưng binh, xuất chinh vội vã, đây chính là điều mà người Tần đang chờ đợi!”
“Khuất Tử…” vương thúc nhìn xoáy vào Khuất Bình, “đã gặp Trần Chẩn?”
“Phải, ông ta vừa mới lại hàn xá của vãn sinh.”
“Khuất Tử tin lời Trần Chẩn?”
“Vãn sinh tin vào trực giác.”
“Khuất Bình,” vương thúc cười buồn bã, “ta quá tin Trương Nghi, nên đã mắc lừa. Giống như vậy, Trần Chẩn cũng chẳng hề tốt đẹp. Mặc ai nói ngả nói nghiêng, giờ đây ta chỉ tin vào cái này!” Rút thanh Ngô Câu, cầm ở trên tay, thổi phù một hơi, lại tra vào vỏ.
“Vương thúc,” Khuất Bình lo lắng, “tuyệt đối không thể đi từ cực đoan này sang cực đoan khác. Tần Sở rồi sẽ phải giao chiến một phen, nhưng không phải bây giờ!”
“Chính là hiện tại!” Vương thúc siết chặt tay quyền, “hai quân giao chiến, khí thịnh tất thắng. Người Tần lừa dối ta, ta trên dưới một lòng, vạn chúng chung thù, sĩ khí hừng hực, lúc này không đánh, lẽ nào chờ tới lúc sĩ khí nguội lạnh?”
“Vương thúc…” Khuất Bình tay ôm Bạch Vân, từ từ quỳ xuống, “xin hãy nghe vãn sinh một câu, cũng là nghe lời lệnh ái!”
“Khuất Tử,” vương thúc nhìn thẳng vào Khuất Bình, lời lời rành rọt, “nước Sở tự cổ chí kim, chưa từng biết sợ kẻ nào. Từ một xó chật hẹp đến năm nghìn dặm vuông, không khoảnh đất nào không phải đoạt lấy trên đường thương mũi kiếm. Ngày nay cũng thế. Không phải ta không nghe Khuất Tử, không nghe Vân Nhi, mà lúc này đây, kiếm đã tuốt khỏi vỏ, tên đã ở trên cung, người Tần phải trả giá cho hành động xuẩn ngốc của họ!” Ngoảnh đầu nhìn về phía tây bắc, “còn nữa, sau khi Khuất Tử tới núi Vu Hàm, có thể tế cáo lên đại thần Vu Hàm, rằng chuyện vu sư nước Tần, ta đã hỏi ở thái miếu, biết rõ ngọn nguồn. Nay ta xuất chinh tới Hán Trung, sau đó sẽ từ Hán Trung đánh tới núi Thái Bạch, giết chết ác vu, phá huỷ đàn tế, cứu sống Vân Nhi!” Nói đến đây thì vòng tay, ngữ điệu dứt khoát, “sắp phải khởi hành, không giữ Khuất Tử được nữa. Bạch Vân của ta, xin cậy nhờ cả vào Khuất Tử!”
“Vương thúc?” Khuất Bình bật khóc tuyệt vọng.
“Đi đi!” Vương thúc ánh mắt kiên định, “ba quân Đại Sở chia làm hai ngả. Vương thúc một ngả, xuất phát từ Hán Trung. Ngả còn lại, chinh phạt Thương Ư, do chú của Khuất Tử làm chủ tướng, lúc này hẳn đã lên đường. Đại vương đã tới doanh trại khích lệ ba quân, cho buổi tiễn hành thêm phần hùng tráng!”
Khuất Bình nghe vậy, không kịp nghĩ nhiều, lập tức từ biệt vương thúc, quay trở ra xe, bảo Khuất Dao đánh xe thẳng tới cổng bắc.
Hôm nay là ngày xuất chinh, cờ chiến đã tế. Suốt dọc đường đi, trên khắp phố xá Sính Đô, đâu đâu cũng trông thấy cảnh bịn rịn đau buồn, vợ tiễn chồng, cha tiễn con, người nắm tay kéo áo, kẻ nước mắt đầm đìa.
Khi xe gần tới doanh trại, đã thấy tốp chiến xa đầu tiên đang rầm rập lao ra khỏi cổng trại trung quân, tiếp theo sau là tốp thứ hai, thứ ba.
Ngoài doanh trại nối liền với đường trì đạo[2] rộng rãi, đủ cho sáu cỗ xe dàn hàng ngang mà chạy, ba hàng đi xuôi, ba hàng đi ngược. Nhưng gặp chiến sự, ba quân bất luận lên đường xuất chinh hay khải hoàn trở về, đều sẽ dùng cả sáu hàng, bất kỳ ai khác đều không được phép đi ngược.
Trì đạo nối liền với đường cái quan theo chiều nam bắc chạy qua Sính Đô.
Cỗ xe của Khuất Dao chạy băng băng theo đường cái quan mà tới, đang chuẩn bị rẽ vào đường trì đạo, chợt thấy hàng đoàn xe chiến từ trong doanh trại cách đó không xa rùng rùng lao ra, cuốn bụi mù mịt.
Khuất Dao đang định đánh xe tránh vào lề đường, Khuất Bình đã khẽ giọng nói: “Cứ đi thẳng tới, chặn ở giữa đường!”
Khuất Dao giật mình kinh hãi.
Đi thẳng tới, chính là ngược đường, chính là ngăn cản ba quân. Mà ngăn cản ba quân, là trọng tội xử trảm.
Khuất Dao lại nhìn sang, thấy ánh mắt Khuất Bình rực lên kiên định, thì cũng đánh liều ra roi thúc ngựa, rẽ vào trì đạo, đón đầu đoàn xe chiến xuất chinh đang băng băng tiến lại.
Tốp xe chiến nhanh chóng lại gần.
Khuất Dao dừng xe ngay giữa lòng đường.
Hai cỗ xe chiến chạy ở chính giữa hàng đầu dừng khựng lại. Bốn cỗ xe bên cạnh không hiểu chuyện gì, cũng dừng lại theo.
Được Khuất Dao dìu đỡ, Khuất Bình chầm chậm xuống xe, bế Bạch Vân trên tay, tiến lên phía trước đầu xe, đứng hiên ngang giữa đường. Khuất Bình thấy rõ rành rành, đứng trên cỗ xe chiến đầu tiên, chính là chủ tướng tả quân kiêm tiên phong tam quân, Phùng Hầu Mị Sửu.
Khuất Bình biết, hắn là người của vương thúc.
Thấy người chặn đường là Khuất Bình, lại mang theo Bạch Vân trên tay, Phùng Hầu bèn giơ tay chỉ, cao giọng chất vấn: “Khuất đại nhân, cớ sao lại chặn đường?”
Khuất Bình đứng lặng phắc giữa đường, không đáp lời hắn. Thân hình hao gầy sau cơn bạo bệnh đứng trước đoàn xe chiến dàn sáu hàng ngang đông đến hàng trăm, nhỏ bé chẳng khác nào bọ ngựa chắn xe.
Nếu là người khác, Phùng Hầu Sửu chắc chắn đã đánh xe cán thẳng qua không chút nể nang.
Tuy nhiên, kẻ cản đường lại là Khuất Bình, cháu ruột của chủ tướng Khuất Cái, triều thần được Hoài Vương trọng vọng nhất, trên tay lại mang theo Bạch Vân, con gái của vương thúc.
Phùng Hầu không dám lỗ mãng, vội cho người bẩm báo lên Khuất Cái và Hoài Vương lúc này vẫn đang ở trong doanh trại.
Không lâu sau, xe chiến trên trì đạo dạt sang hai bên, chừa ra một lối đi ở giữa. Vương xa tiến lại theo đường trống, tham tướng đánh xe truyền chỉ của Hoài Vương, đỡ Khuất Bình lên xe, đưa về doanh trại.
Khuất Dao đánh xe bám sát theo sau.
Sau khi vương xa đi qua rồi, Phùng Hầu vung tay về phía trước, cỗ xe lại lịch kịch lao đi. Sáu hàng xe chiến vừa tách làm đôi lập tức chụm lại, thành một đoàn xe khí thế hừng hực, rùng rùng chạy lên đường cái quan, tiến về tiền tuyến Đan Dương.
Trong đại trại trung quân, Hoài Vương ngồi ngay ngắn trên chiếu chủ, ba người Khuất Cái, Chiêu Tuy, Cảnh Lý ngồi bên cạnh.
Khuất Bình mang theo Bạch Vân bước vào, bước chân loạng choạng, cơ thể gầy yếu ngả nghiêng chực ngã.
“Khuất ái khanh!” Hoài Vương đứng vụt dậy, sải bước lại gần đỡ lấy Khuất Bình.
“Thần cùng Bạch tư tế khấu kiến đại vương!” Khuất Bình quỳ xuống hành lễ, được Hoài Vương kéo dậy, đỡ lại chỗ chiếu khách dành sẵn.
“Tư tế…” Hoài Vương nhìn sang Bạch Vân.
Bạch Vân sắc mặt trắng bệch, trông chẳng khác gì đã chết, chỉ là cơ thể vẫn còn hơi ấm, trong mũi vẫn còn hơi thở.
“Tư tế tới đây, vì muốn khẩn cầu đại vương!” Khuất Bình bẩm tấu.
“Khẩn cầu chuyện gì?” Hoài Vương hỏi.
“Không thể phạt Tần!”
Hoài Vương khép mắt lại.
“Khuất Bình, tư tế,” hồi lâu sau, Hoài Vương mới mở mắt, nhìn thẳng vào Khuất Bình, cất giọng trầm nặng, “lời khẩn cầu của hai người, quả nhân đã nghe thấy. Không phải quả nhân cố chấp phạt Tần, mà bởi người Tần quá ư hiểm độc, không thể không phạt!”
“Dám hỏi đại vương, cớ sao lại muốn phạt Tần?” Khuất Bình nhìn thẳng vào Hoài Vương hỏi.
“Ồ…” Hoài Vương ngỡ rằng Khuất Bình gần đây bệnh nặng nên không biết đã xảy ra chuyện gì, bèn nhìn sang Chiêu Tuy.
Chiêu Tuy bèn kể lại vắn tắt mọi chuyện, rằng Trương Nghi đã lập minh ước với Sở Vương thế nào, bị Trần Chẩn phản bác giữa triều đường ra sao, rồi chuyện theo Trương Nghi sang Tần nhận Thương Ư, chuyện Trương Nghi vờ bị thương để tránh mặt, rồi chuyện sứ Sở Tống Di bị nấu ở cung Tề, chuyện Trương Nghi báo tin Tần Vương thiêu huỷ minh ước, đề nghị dùng sáu dặm đất phong của hắn đền cho sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư.
Hoài Vương nghe mà máu nóng bốc ngùn ngụt, đang định buông lời giận dữ, thì Khuất Bình đã điềm tĩnh tiếp lời: “Toàn bộ những việc này, thần đều đã biết.” Ánh nhìn chuyển từ Hoài Vương sang Khuất Cái, Chiêu Tuy, “thần dám hỏi đại vương, lần này phạt Tần, là vì muốn chiến thắng người Tần, đòi lại Thương Ư, hay là vì thịnh nộ một chốc, hả giận nhất thời?”
“Chuyện này cũng phải hỏi sao? Đương nhiên vì muốn chiến thắng người Tần, đòi lại Thương Ư!” Hoài Vương đáp.
“Nếu là như vậy, thần thỉnh cầu đại vương hãy thu hồi chiếu mệnh!”
“Khuất Bình?” Hoài Vương biến ngay sắc mặt, sửng sốt nhìn sang. “Đại vương chẳng phải muốn học theo Tần Vương? Vì muốn đoạt lại Hà Tây, Tần Vương đã dùng biến pháp của Vệ Ưởng, chuyên tâm trị quốc mười sáu năm trời, cho đến hội thề Mạnh Tân, vốn dĩ Tần đã có thể đánh đoạt, nhưng Tần Vương vẫn không ra tay, lại cẩn trọng giấu mình, thần phục trước Ngụy, khiến Ngụy Hầu ngạo mạn, tự ý xưng vương, thất đạo với thiên hạ…”
“Khuất Bình,” Khuất Bình còn chưa nói hết, Hoài Vương đã cắt ngang, giọng như sấm động, “ý khanh muốn ví Đại Sở hùng vĩ của ta với nước Tần trước trận Hà Tây ư? Ý khanh muốn nói, quả nhân nên bắt chước Doanh Cừ Lương, phái người sang Tần, hạ mình cầu cạnh Tần Vương, để khiến cho hắn cũng kiêu căng ngạo mạn, thất nghĩa với thiên hạ? Doanh Tứ, Trương Nghi thất tín nuốt lời, lật lọng tráo trở, giả bị thương lừa ta, khinh miệt sứ thần ta, ngang nhiên thiêu huỷ minh ước, lẽ nào vẫn chưa phải là thất nghĩa?”
“Đại vương…” Nghe Hoài Vương căn vặn, Khuất Bình lòng như dao cứa, “thần…không phải ý này…”
“Được rồi, được rồi,” Hoài Vương xua tay lia lịa, “chuyện này không bàn thêm nữa. Khuất Bình, khanh trọng bệnh vừa khỏi, chớ nên lao tâm lao lực, hãy về nhà tĩnh dưỡng một thời gian, sau đó sẽ có trọng trách cho khanh. Còn như chuyện phạt Tần, quả nhân cùng Khuất tướng quân đây đã bàn bạc kỹ càng. Khanh hãy yên tâm, trận chiến này, dứt khoát sẽ khác trận Tích Thuỷ, quả nhân tin chắc trong lòng!” Nói đoạn, quay ra phía ngoài gọi lớn, “Khuất Dao!”
“Có thần!” Khuất Dao sải bước tiến vào.
“Nghe chỉ!” Hoài Vương dứt khoát.
“Thần chờ chỉ!”
“Kể từ hôm nay, nhiệm vụ của khanh là chăm lo cho Khuất Bình cùng tư tế, không được trễ nải!” Hoài Vương hạ chỉ.
“Thần tuân mệnh!”
“Đi đi!” Hoài Vương phẩy tay, “quả nhân còn phải bàn đại sự cùng Khuất tướng quân đây!”
Khuất Dao bèn bước lại gần, vực Khuất Bình dậy.
“Đại vương…” Khuất Bình bật khóc thảm thiết.
“Đi đi!” Hoài Vương ngoảnh mặt, lại phất tay lần nữa.
Tần đô Hàm Dương, trong thiên điện vương cung, không khí trịnh trọng khác thường. Huệ Vương ngồi chiếu chủ, ngồi hầu bên cạnh là thái tử Doanh Đãng, Trương Nghi, Tư Mã Thác, Ngụy Chương, công tử Tật, công tử Hoa và Cam Mậu.
Đây là lần mưu sự cuối cùng trong cung Tần trước cuộc đại chiến. Trước tiên, công tử Hoa bẩm báo một lượt về quân tình.
“Đại vương, chư vị đại nhân.” Bẩm tấu xong rồi, công tử Hoa nói tiếp, “những điều vừa nói, chỉ là bề ngoài, chỉ là con số, Doanh Hoa cho rằng, thay đổi lớn nhất, chính là sĩ khí. Người Sở đã thực sự nổi giận, từ Hoài Vương cho đến vương thân, tông thân, đến cả tướng sĩ, thảy đều căm hận chửi mắng ta, coi chuyện huỷ ước là quốc nhục, quyết chí báo thù. Nhất là vương thúc, đã quay ngược hoàn toàn, đòi đích thân xung trận, trấn giữ Hán Trung. Nhiều năm qua, vương thúc không cầm quân, cũng không hỏi đến chính sự, vậy mà lần này lại chủ động thỉnh mệnh.”
“Tháo chuông phải tìm người buộc chuông,” thấy công tử Hoa đã nói xong, Huệ Vương quay sang Trương Nghi, cười nói, “tướng quốc đại nhân, người Sở là do đại nhân chọc giận, nên ứng phó thế nào, hẳn đã có chủ ý.”
“Binh tới tướng ngăn.” Trương Nghi xua tay lia lịa, “lúc đó thần là sứ thần, chỉ biết gây sự, lúc này thần là tướng quốc, chỉ quản trăm quan. Còn như chuyện cầm quân đánh trận…” Ánh mắt nhìn sang Tư Mã Thác và Ngụy Chương.
“Tư Mã Thác?” Huệ Vương cũng nhìn sang.
“Đánh!” Tư Mã Thác khẽ nhún vai.
“Đánh thế nào?” Huệ Vương ngả người lại hỏi.
“Đánh người Sở, đại vương phải hỏi người này.” Tư Mã Thác chỉ vào Ngụy Chương ngồi bên cạnh, cười nói.
“Ngụy tướng quân?” Huệ Vương nhướng mày, nhìn sang Ngụy Chương mỉm cười.
“Thần cho rằng,” Ngụy Chương vòng tay đáp, “vừa nãy công tử nói rất phải, trận chiến này đã khác trận Tích Thuỷ xưa. Trận Tích Thuỷ, ta hiểu người Sở, người Sở không hiểu ta. Ta đồng lòng nhất chí, người Sở lại một dạ hai lòng. Ta có binh khí ô kim, người Sở vẫn dùng đồng thau. Tạm chưa nhắc tới những điều này, quan trọng nhất là, người Sở vô cớ đánh ta, ta giữ đất mình, là ta có nghĩa. Trận này thì khác. Thứ nhất, ta hiểu người Sở, người Sở cũng hiểu ta. Các lò rèn ở Uyển Thành ngày ngày cấp tốc rèn binh khí ô kim, dẫu rằng vẫn chưa đủ để trang bị cho ba quân, song lính tiên phong có lẽ đều đã đủ dùng. Hơn nữa, Uyển Thành gần trong gang tấc, người Sở có thể ngày ngày tiếp thêm binh khí mới rèn vào doanh trại, tức là ưu thế về binh khí của ta đã không còn nữa. Lại thêm ta huỷ ước thất nghĩa trước, người Sở hữu lý, sĩ khí lên cao, trên dưới đồng lòng. Thứ ba, tướng Sở Khuất Cái dụng binh thận trọng, tinh thông bố trận, lại rất thành thạo giao chiến nơi đồi núi.”
“Ngụy đại tướng quân,” Doanh Đãng không nhẫn nhịn nổi nữa, giơ tay ngăn lại, “những điều đó, khác nào chấy rận chạy trên đầu hói, đã rõ mồn một cả rồi. Nói thẳng ra đi, đánh thế nào?”
Doanh Đãng sức vóc đã trưởng thành, khắp người cơ bắp cuồn cuộn, khoẻ mạnh lực lưỡng, chớ nói là đám công tử anh em, dù là lực sĩ trong ba quân, cũng khó lòng đọ sức với hắn.
Thần lực trời sinh, cộng thêm thân thế thái tử, khiến Doanh Đãng đi tới đâu cũng rất được nể vì không ai dám nói nửa lời trái ý. Mới vài năm trước, tất cả triều thần, gồm cả Huệ Vương, đều coi Doanh Đãng là một đứa trẻ, nhưng đứa trẻ này giờ đã cao lớn dũng mãnh, Huệ Vương cũng có ý tài bồi, nên mới cho hắn tham dự cuộc nghị sự hôm nay. “Hồi bẩm điện hạ,” Ngụy Chương vòng tay đáp, “người Sở đã phạt ta, sách lược của thần vẫn là phòng thủ, chọn nơi địa thế thích hợp, dàn trận đối luỹ với Sở, trước quan sát tình thế, sau thừa cơ xuất kích.”
“Điều Đãng muốn biết, là đại tướng quân phòng thủ thế nào? Xuất kích thế nào?” Thái tử Đãng hỏi thẳng thừng.
“Chuyện này…” Ngụy Chương ngần ngừ một chốc, “cần phải quan sát tình thế chiến trường, rồi mới có thể nhân theo thế địch mà đưa ra quyết đoán.”
“Điều Đãng muốn hỏi, là chiến lược!”
“Về chiến lược, thần đã nói rõ, trước hãy phòng thủ, chờ thời tấn công. Theo tình thế trước mắt, thần cho rằng, chủ lực quân Sở sẽ chia làm ba ngả, ngả thứ nhất qua ải Kinh Tử về tây, men theo Đan Thuỷ tập kích Thương Ư ta, cắt đứt đường lui của ta. Ngả thứ hai xuất binh từ Uyển Thành, qua ải Hắc Thuỷ về tây, tập kích Tích Ấp và Ư Thành của ta. Ngả thứ ba từ Đan Dương men theo Tích Thuỷ lên bắc, đánh vào Ư…”
“Nếu Doanh Đãng nhớ không nhầm, trong trận Tích Thuỷ, người Sở cũng làm như vậy?”
“Phải, điện hạ.”
“Trận chiến Tích Thuỷ, người Sở tấn công, đại tướng quân phòng thủ, lần này cũng thế. Đại tướng quân có thể nghĩ ra chiêu gì mới mẻ hơn không?” Giọng thái tử Đãng đầy châm chọc.
Ngụy Chương máu nóng dồn lên mặt, mấp máy môi mấy cái rồi nhìn sang chỗ khác. Thái tử Đãng đang định nói tiếp, Huệ Vương đằng hắng một tiếng, nhìn sang hắn, nghiêm giọng: “Đãng Nhi?”
“Có nhi thần!” Thái tử Đãng vòng tay.
“Không được vô lễ!”
“Nhi thần không vô lễ,” thái tử Đãng thanh minh, “nhi thần đang bàn việc cùng đại tướng quân, đang thỉnh giáo việc quân với đại tướng quân!”
Huệ Vương lừ mắt nhìn hắn, rồi quay sang Trương Nghi: “Tướng quốc đại nhân, đối sách của Ngụy tướng quân, khanh thấy thế nào?”
“Thần hoàn toàn tán đồng.”
“Các khanh có ý kiến gì khác chăng?” Huệ Vương nhìn sang đám Tư Mã Thác.
“Thần không có ý khác!” Tư Mã Thác vòng tay đáp.
Công tử Tật, công tử Hoa, Cam Mậu cũng tán thành.
“Nếu là như vậy, sách lược đã định.” Huệ Vương quay sang nội thần, “thảo chiếu, chiếu mệnh tướng quân Ngụy Chương làm chủ tướng, Doanh Tật làm phó tướng, Cam Mậu phụ trách lương thảo, tướng quốc Trương Nghi tổng quản, dẫn mười lăm vạn quân, nghênh chiến giặc Sở tại Thương Ư! Chiếu mệnh Tư Mã Thác làm chủ tướng, Doanh Hoa làm phó tướng, dẫn mười vạn binh, trấn giữ Nam Trịnh, thứ nhất kìm chân quân Sở ở quận Hán Trung, thứ hai hô ứng với tướng quân Ngụy Chương ở Thương Ư!”
Nội thần liền chép lại.
“Phụ vương, nhi thần có tấu!” Doanh Đãng vòng tay. “Cứ nói.”
“Nhi thần đã tròn mười bảy, luyện võ từ nhỏ, nhưng chưa một lần kinh qua chiến trận. Nay người Sở phạm ta, đúng là thời cơ trời ban, nhi thần thỉnh cầu tòng quân, nguyện làm một binh sĩ bình thường, xung phong lâm trận, khẩn cầu phụ vương ân chuẩn!” Thái tử Đãng cất giọng sang sảng.
“Ồ…” Huệ Vương nhắm mắt, vuốt râu một chốc, “thôi được, con cũng đã đến lúc phải tôi rèn, bằng không, sẽ không hiểu được lẽ ngắn dài cao thấp!” Nhìn sang nội thần, “chiếu mệnh Doanh Đãng làm giám quân, theo Tư Mã tướng quân, cùng nghị sự trong trướng.”
“Phụ vương?” Doanh Đãng vội kêu lên.
“Ồ?” Huệ Vương nhìn sang.
“Nhi thần thỉnh cầu tới Thương Ư, xin theo dưới trướng Ngụy tướng quân!”
“Ngụy tướng quân, ý khanh thế nào?” Huệ Vương nhìn sang Ngụy Chương.
“Có điện hạ trấn trận, thần không còn gì lo lắng!” Ngụy Chương vòng tay đáp.
“Cũng được, vậy hãy để Doanh Đãng theo tướng quân, rèn luyện sa trường!” Hoài Vương vòng tay đáp lễ Ngụy Chương, lại quay sang Doanh Đãng, “con phải ghi nhớ cho kỹ, việc của ba quân, nhất nhất đều nghe theo Ngụy tướng quân. Nếu như trái lệnh, pháp bất vị thân!”
“Nhi thần tuân chỉ!” Được phụ vương cho phép tòng quân, thái tử Đãng phấn chấn quay về Đông cung, tới thẳng bãi luyện võ trong hậu hoa viên.
Trên bãi, khoảng trăm lực sĩ đang thay phiên nhau thử nâng một trục lăn bằng đá.
Đó là một trục đá rất lớn, to cả vòng ôm, một đầu to, một đầu nhỏ, nặng hơn nghìn cân, lại thêm bề mặt nhẵn thín, không có bất cứ chỗ nào để bám tay, đến một vết hõm cũng không.
Đám lực sĩ này được thái tử Đãng chiêu mộ từ khắp nơi trong cả nước, ai cũng sức vóc phi phàm. Thái tử nuôi họ trong Đông cung, chỉ có một nhiệm vụ, chính là cùng thái tử rèn thần lực, bằng đủ mọi kiểu cách tập luyện lạ lùng, nâng trục đá cũng là một trong những cách rèn tập đó.
Do không có chỗ bám tay, nên đám lực sĩ thay phiên nhau thử, đừng nói là nâng lên cao, dù chỉ nhấc lên một chút cũng là quá khó.
“Ai mang cái thứ này tới vậy?” Một lực sĩ sau khi thử nâng nhiều lần không được, lớn tiếng trách móc.
Một lực sĩ khác hất hàm về phía bãi cỏ gần đó.
Mọi người nhìn về phía đó, thấy một lực sĩ thân thể cường tráng đang ngồi ngay ngắn trên bãi cỏ, nâng vò rượu uống, hai mắt nheo nheo, chốc chốc lại liếc về phía họ.
“Người anh em, lại đây. Cái trục đá này trơn truồi truội, chẳng có chỗ nào để bám, thì nâng thế nào được?” Một lực sĩ gọi lớn.
Lực sĩ kia bèn đặt vò rượu xuống, đứng dậy, tiến về phía họ. Mọi người bèn dịch ra, nhường chỗ cho hắn.
Lực sĩ kia bước tới bên trục đá, ngồi thụp xuống, tay trái nắm lấy đầu nhỏ, tay phải đỡ dưới đầu to, “hự” một tiếng, đầu to lập tức bị nhấc bổng, trục đá dựng đứng lên, toàn bộ sức nặng đều dồn hết lên tay trái. Cùng lúc đó, lực sĩ vụt cái đứng bật ngay dậy, nâng cả trục đá trên bàn tay trái, tay phải chẳng qua chỉ đỡ để giữ thăng bằng mà thôi.
Trục đá khổng lồ được nâng lên tới trước ngực, lực sĩ xoay ngang trục đá, tay phải đỡ lấy đầu to, lại “hự” lên tiếng nữa, hai tay cùng hất mạnh lên trên. Trục đá nặng nề bị ném lên cao vài trượng, đến khi rơi xuống, lực sĩ lại đưa hai tay đỡ lấy. Rồi lại tung lên, rồi lại đỡ lấy, cứ như một đứa trẻ tinh nghịch đang tung hứng món đồ chơi.
Chúng lực sĩ ai nấy mắt trợn tròn, miệng há hốc, quên cả hoan hô.
Chỉ có một lời tán dương duy nhất vang lên cách đó hai mươi bước chân, một tiếng “hay” trầm trầm bật ra từ miệng Doanh Đãng.
Nghe thấy tiếng chủ nhân, chúng lực sĩ đều quay lại.
Doanh Đãng sải bước tiến lại, hai luồng ánh mắt nhìn xoáy vào lực sĩ kia, rồi từ từ dịch chuyển xuống trục đá trên tay hắn.
Lực sĩ kia nhìn thấy, đang định đặt trục đá xuống để hành lễ thì Doanh Đãng xua tay ngăn lại: “Đứng yên!”
Lực sĩ kia bê trục lăn trên tay, đứng im tại chỗ.
Doanh Đãng lùi lại vài bước, thủ thế sẵn sàng, rồi nói với lực sĩ: “Ném lại đây!” Lực sĩ kia thoạt tiên sửng sốt, rồi ngờ vực nhìn sang chúng lực sĩ. Chúng lực sĩ cũng căng thẳng không kém. Trục đá nặng là thế mà ném lại, xung lực cực lớn, lỡ điện hạ không đỡ nổi, thực chẳng phải trò đùa!
“Người anh em, cứ ném đi!” Doanh Đãng càng tỏ ra hào hứng.
Thấy điện hạ gọi mình là “người anh em”, lực sĩ lấy làm cảm động, lại càng không dám ném.
Doanh Đãng liền vỗ bồm bộp vào ngực mình, “cứ ném đi, bản cung nếu không đỡ nổi, coi như đã thua!”
Lực sĩ kia vẫn do dự, lại nhìn sang chúng lực sĩ.
“Cái gã này!” Doanh Đãng sốt ruột, “mau ném đi chứ, đừng có nhìn chúng nữa. Chúng chẳng có trò gì hay cả, chỉ tổ khiến bản cung cụt hứng!”
“Điện…điện hạ…” Lực sĩ kia lắp bắp.
“Vậy thì hãy để xuống!” Doanh Đãng chỉ xuống đất.
Lực sĩ kia nghe thấy vậy mới thở phào một tiếng, nhẹ nhàng đặt trục đá xuống đất.
Doanh Đãng bước lại, cũng làm giống như lực sĩ khi nãy, ngồi thụp xuống, tay trái đỡ đầu nhỏ, tay phải vịn đầu lớn, “hự” một tiếng, đứng bật ngay dậy, thuận đà xoay ngang, tay phải đẩy thẳng lên trời, trục đá bị tung lên vài trượng, rồi lại đưa tay đón lấy.
Chúng lực sĩ thấy vậy, thảy đều kinh hãi, bởi họ chưa từng thấy điện hạ khoe ra thần lực nhường này.
Lực sĩ kia cũng lấy làm phấn chấn, buột miệng hô một tiếng “hay”, rồi vô thức lùi lại vài bước. “Người anh em, đón lấy!” Doanh Đãng ném trục đá về phía lực sĩ.
Lực sĩ bèn đưa tay đỡ lấy.
“Ném lại đây!” Doanh Đãng xuống tấn sẵn sàng.
Lực sĩ kia đã mạnh dạn hơn, bèn ném lại. Hai người vừa hay là kỳ phùng địch thủ, người tung kẻ hứng, trục đá cứ thế bay qua bay lại như quả bóng giữa hai bên. Đón đỡ một lát, Doanh Đãng bắt đầu thấy chán, bèn đặt trục đá xuống đất, bước lại gần, vỗ vai đối thủ hỏi: “Người anh em, tên gì? Từ đâu tới?”
“Hồi bẩm điện hạ,” lực sĩ kia lùi lại một bước, vòng tay vái mà nói, “thảo dân tiện danh Nhậm Bỉ, đời đời sống ở Lũng Sơn;”
“Lũng Sơn, tốt lắm. Tới đây lúc nào?”
“Thưa, hôm kia.”
Doanh Đãng nhìn sang chúng lực sĩ: “Nhậm huynh tới từ hôm kia, sao các ngươi không bẩm báo bản cung?”
Chúng lực sĩ đưa mắt nhìn nhau.
Lực sĩ thủ lĩnh quỳ xuống trước, chúng nhân đua nhau quỳ xuống theo: “Tiểu nhân biết tội!”
Doanh Đãng bật cười vài tiếng, phẩy tay: “Đứng dậy đi. Hẳn các ngươi chưa thấy được biệt tài của Nhậm huynh, nên mới không bẩm báo kịp thời.”
“Tạ ơn điện hạ lượng thứ!” Chúng nhân dập đầu cảm tạ, lục tục đứng dậy.
“Đi,” Doanh Đãng nhìn sang lực sĩ thủ lĩnh, “dặn thiện phòng, chuẩn bị tiệc rượu. Hôm nay bản cung có hai chuyện vui, muốn mời chư vị cùng uống thoả thích, không say không về!” Rồi bá vai Nhậm Bỉ, “còn người anh em, hãy theo bản cung vào sảnh trò chuyện!”
Sảnh mà Doanh Đãng nhắc tới, không phải là sảnh tiếp khách, mà là võ sảnh.
Hai người cùng bước vào trong sảnh. Nhậm Bỉ nhìn thấy mười tám món binh khí bày trên giá, sắp xếp từ thấp tới cao, hiểu rằng đó là những binh khí điện hạ đã rèn tập từ nhỏ tới lớn.
“Than ôi,” Doanh Đãng nhìn vào giá binh khí, lắc đầu than thở, “nhìn qua nhìn lại, cả dàn binh khí này, rốt cuộc chẳng có cái nào vừa tay! Mà chiến sự đã cận kề trước mắt…”
“Nhậm Bỉ cũng vậy, đi khắp thiên hạ, không có lấy một binh khí phù hợp, nên mới chọn trục đá kia để rèn tập.”
“Đại Tần ta sắp giao chiến với người Sở, bản cung theo quân xuất chinh, muốn chế ra một món binh khí vừa ý, nhưng rốt cuộc là binh khí thế nào, bản cung suy đi nghĩ lại, vẫn chưa nghĩ ra. Nhậm huynh có cao kiến gì chăng?”
“Điện hạ sở trường món binh khí nào”
“Những thứ này đều biết, nhưng không có thứ nào sở trường.”
“Nhậm Bỉ không rành binh khí, chỉ nghe nói rằng, người sức nhỏ dùng thương, người sức lớn dùng thang.[3]”
“Thang?” Ánh mắt Doanh Đãng di chuyển tới cây thang dựng ở một bên, “bản cung nghe theo Nhậm huynh, sẽ dùng thang.”
“Nhậm Bỉ từ nhỏ thích luyện võ, nhưng chưa một lần xông pha chiến trận. Dám hỏi điện hạ, lần này phạt Sở, liệu có thể cho Nhậm Bỉ thử sức một phen?”
“Nhậm huynh muốn dùng binh khí nào?”
“Nhậm Bỉ chỉ có sức khoẻ, không thạo binh khí, điện hạ cứ tuỳ tiện chế cho một món là được.”
Doanh Đãng ngẫm nghĩ một thoáng: “Song chuỳ, thế nào?”
“Xin nghe theo điện hạ.”
“Nhậm huynh tuổi tác bao nhiêu?”
“Thưa, hai mươi sáu!”
“Vì sao lại tới Hàm Dương?”
“Nhậm Bỉ có chút sức vóc, sức ăn quá khoẻ, mê võ yêu văn, chỉ không thích việc đồng áng, ở nhà chẳng có việc gì làm. Cha mẹ mất sớm, anh trai chị dâu nuôi không nổi, suốt ngày than thở, Bỉ không biết làm sao, mới bỏ nhà ra đi, lang bạt bốn phương, vừa bán sức kiếm cơm, vừa tìm người cùng chung chí hướng. Khi ở Ung Châu, hay tin điện hạ chiêu mộ lực sĩ, bèn tìm tới xin miếng cơm ăn!”
Doanh Đãng phá lên cười lớn: “Được Nhậm huynh tới đầu quân, thực là hồng phúc của bản cung!” Vỗ mạnh lên vai Nhậm Bỉ, “không giấu Nhậm huynh, bản cung chưa từng gặp ai là địch thủ, trong lòng buồn bực không vui, nay đã thoả nguyện, quả là chuyện sảng khoái trong đời! Ồ, phải rồi, vừa rồi nghe Nhậm huynh nói, muốn tìm người cùng chung chí hướng, đã tìm được chưa?”
“Hồi bẩm điện hạ,” Nhậm Bỉ đáp lời, “Bỉ có gặp được một người, sức lực không hề thua kém tiểu nhân!”
“Hắn ở đâu? Họ gì tên gì?” Doanh Đãng nôn nóng hỏi.
“Bạn Bỉ là người Khương, họ Ô tên Hoạch, nhà ở Đông Quách ấp Xích Ô. Xích Ô vốn thuộc nước Nguyệt Thị, hiện đã quy về Đại Tần.”
“Ôi chao!” Doanh Đãng tiếc nuối kêu lên, giọng điệu có phần trách móc, “khi Nhậm huynh tới đây, sao không dẫn người đó tới cùng?”
“Hồi bẩm điện hạ,” Nhậm Bỉ đáp, “người Khương ở đất ấy tuy đã thuộc Tần, song trong lòng vẫn còn e sợ, bằng hữu của Bỉ lo lắng…”
“Mau mời bằng hữu ấy tới đây, chớ phải lo lắng!” Doanh Đãng ngẫm nghĩ một lát, lại hỏi, “Ô Hoạch nay bao nhiêu tuổi?”
“Ít hơn Bỉ năm tuổi, là em kết nghĩa với Bỉ.”
“Tuổi đẹp lắm, vừa độ thích hợp để dụng võ!” Doanh Đãng ôm quyền, vui vẻ nói, “Nhậm huynh hãy nói lại với vị bằng hữu đó, nếu chịu tới Tần, Đãng xin tôn làm huynh trưởng!”
“Bỉ cho rằng không được!” Nhậm Bỉ vái mà nói, “điện hạ là điện hạ, tiểu nhân là tiểu nhân. Điện hạ không chê, thưởng cho tiểu nhân miếng cơm no bụng, thì dù là Nhậm Bỉ hay là Ô Hoạch, cũng đều cảm kích ơn nghĩa của điện hạ, nguyện dốc sức vì điện hạ!”
“Nhậm huynh,” Doanh Đãng lấy làm nôn nóng, “xin hãy lập tức viết thư, để bản cung sai người mang tới tận cửa thỉnh cầu!”
Nhậm Bỉ lập tức viết một bức thư, Doanh Đãng gọi môn nhân tâm phúc lại, sai mang theo hậu lễ, đi xe tứ mã, lập tức lên đường, đi suốt ngày đêm về tây, tới Xích Ô mời Ô Hoạch tới.