Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 85
GHẸO CÔNG CHÚA, TRIỆU UNG KHOE TÀI
NGHE BẠN HIỀN, CHIÊU DƯƠNG GIẢ BỆNH

❊ ❊ ❊

Trong ánh bình minh rực rỡ, trên đường biên giới mà người Triệu mới dựng, thình lình hiện ra vô số nhóm kỵ binh. A Cổ Lạp nhảy lên mình ngựa, phi tới trước tháp canh của người Triệu, leo lên tháp cao, nhìn ra tứ bề, bỗng bàng hoàng kinh hãi.

Khe núi Mã Lạt thực chất là con đường hẹp chạy qua giữa hai ngọn núi song song, rộng chưa đầy tám dặm, dài hơn chục dặm, phía bắc là một dãy núi trập trùng, đỉnh cao nhất chính là ngọn núi thứ hai mươi mốt trong dãy núi Đại Hắc; phía nam cũng là một dãy núi, đỉnh cao nhất là ngọn núi thứ hai mươi trong dãy núi Đại Hắc. Do con đường này có địa thế hiểm yếu nên người Triệu mới chiếm cứ nơi đây, xây dựng quan ải.

Lúc này, ngay trước mặt họ, là trận hình kỵ binh đông không đếm xuể, ước tính sơ qua, không dưới hai vạn, nghìn nghịt như kiến, bày thành trận thế chỉnh tề, nhìn qua cũng biết, đó là kỵ binh tinh nhuệ của Triệu.

Trận thế của người Triệu dàn thành hàng ngang, bịt kín lối ra phía tây của khe núi. Hai bên nam bắc đều là núi cao, nên lối thoát duy nhất của họ lúc này là quay đầu lại, chạy ngược trở về.

Mà chạy ngược trở về, chính là mục đích của người Triệu khi chặn đường này.

A Cổ Lạp cuống quýt lao tới chỗ Lặc Cách, đang bàn bạc đối sách thì một kỵ sĩ vội vã từ phía đông lao tới, bẩm báo rằng kỵ binh Triệu đông như kiến cỏ đang từ phía Bình Ấp kéo lại, quân tiên phong của họ đã chạm trán với tốp tráng đinh đoạn hậu, song hai bên đều chưa khai chiến.

“Lặc Cách,” A Cổ Lạp nhìn sang, “ta đã chui vào thòng lọng của người Triệu rồi!”

“A Cổ Lạp, đại vương tôn kính,” Lặc Cách kiên định, “hãy tin vào thần dụ!”

“Thần dụ là đại cát!” A Cổ Lạp cười nhăn nhó, lắc đầu, “trước sau đều là địch, trái phải đều là núi, ta bị kẹp ở giữa, trong tay lại giữ đồ của người ta!” Thở hắt ra, “này Lặc Cách, hãy thử hỏi lại thần xem, cát là cát ở chỗ nào? Đánh, hay là…”

“Đại vương tôn kính, xin hãy nói thử xem, người Triệu vì sao không khai chiến?” Lặc Cách chỉ vào trận hình của người Triệu phía trước, lại chỉ ra phía sau, không đáp mà hỏi ngược lại.

“Phải,” A Cổ Lạp chau mày, “nếu ta là người Triệu, hiện tại chính là thời cơ tốt nhất để tấn công!” Rồi ngoảnh nhìn về khe núi.

Đúng vậy, hiện tại chính là thời cơ tấn công tốt nhất. Bôn ba suốt mấy ngày trời, hôm qua lại cướp bóc cả ngày, giờ lại đi bộ suốt đêm, người Hồ lúc này đã sức cùng lực kiệt, đang mong tìm chỗ nghỉ ngơi, uống vài ngụm rượu cho lại sức, chứ không phải lập tức lên ngựa xung trận.

Cấp thiết hơn nữa, là họ đã không còn ngựa cưỡi. Người Hồ xưa nay chỉ quen cưỡi ngựa, lúc này không những phải cuốc bộ mệt mỏi, mà còn cõng vác gồng gánh, đánh bò lùa cừu, lũ gia súc đang yên ổn trong chuồng trại giờ thình lình bị xua đi trên tuyết suốt một đêm, lúc này cũng ì ra không muốn đi nữa.

Vào thời khắc này, người Triệu nếu xuất kích, sẽ tha hồ tàn sát thẳng tay vì đối phương đã không còn đủ sức chống trả.

Tuy nhiên, người Triệu lại không hề xuất kích.

Người Hồ lập tức tận dụng ngay khoảng thời gian hoà hoãn quý báu, lập tức dừng xe tháo ngựa, dỡ bỏ hàng nặng, lên ngựa cắp cung, tụ lại xung quanh tù trưởng. Các tù trưởng cũng kéo tới chỗ A Cổ Lạp và Lặc Cách, sẵn sàng ứng chiến.

“Vua của thảo nguyên tôn kính, ta đã không còn đường lui nữa, liều một phen vậy!” Các tù trưởng đồng thanh thỉnh cầu.

A Cổ Lạp nhìn các tù trưởng, rồi lại đưa mắt nhìn đám bộ thuộc khắp xa gần.

Họ đã mệt mỏi quá độ, sắc mặt ai trông cũng phờ phạc thất thần. Nhất là hôm qua, sau một ngày quần quật, đến tối cũng không kịp cơm nước, đã hối hả lên đường. Vốn dĩ A Cổ Lạp đã tính toán, sau khi ra khỏi khe núi này, hai nghìn kỵ binh đoạn hậu sẽ phong kín khe núi, số người còn lại sẽ dừng chân bên bờ hồ trước mặt, nghỉ ngơi thoải mái một ngày, sau đó chuyển hàng vào trong núi, dựa vào thế hiểm mà cố thủ, để quan sát phản ứng của người Triệu.

Mệt mỏi hơn người, là ngựa. Bôn ba mấy ngày trời, lúc này lại hoặc thồ hoặc kéo cả đêm, chúng không còn đủ sức mà xung trận nữa.

A Cổ Lạp hiểu rõ, kỵ xạ trên thảo nguyên, quan trọng nhất là phải dựa vào sức ngựa.

A Cổ Lạp lại nhìn về người Triệu phía trước.

Người Triệu không áp lại tới gần, vẫn bày hàng ngũ chỉnh tề như trước, lẳng lặng bịt kín khe núi. Người Hồ có thể liều mạng xông lên, nhưng sau đó thì sao? Họ cưỡi ngựa, người Triệu cũng cưỡi ngựa. Họ biết kỵ xạ, người Triệu cũng biết kỵ xạ. Họ mệt mỏi rời rã, người Triệu lại lấy nhàn đối nhọc. Giao chiến trong tình cảnh này, thì thảo nguyên mênh mông kia sẽ thành nấm mồ chung của họ.

A Cổ Lạp lại nhìn sang Lặc Cách.

“Vua của thảo nguyên tôn kính,” Lặc Cách chậm rãi nói, “Lặc Cách vừa cầu thần, thần dụ rằng, xuống ngựa buông cung, hạ trại tại chỗ, nhóm lửa nấu nướng, cho ngựa ăn cỏ.”

Các tù trưởng thảy đều kinh ngạc, đưa mắt nhìn nhau.

“Chư vị tù trưởng,” A Cổ Lạp đưa mắt nhìn quanh, vòng tay nói, “hãy tuân theo thần dụ!” Vào lúc trên thảo nguyên đang kiếm rút cung giương, Na Sa nằm trong biệt cung của Triệu Vương ở Bình Ấp, ngồi bên giường nàng lúc này, là Triệu Ung thân mang Hồ phục.

Đã dứt cơn sốt cao, hai mắt Na Sa từ từ hé mở. Sự mệt mỏi sau vài trăm dặm đường phi ngựa, cộng thêm nỗi tuyệt vọng không còn thiết sống đã khiến thân tâm nàng tổn thương nặng nề, qua vài ngày sốt cao và hôn mê, lúc này tỉnh dậy, nàng thấy toàn thân như không còn hơi sức.

Người đầu tiên nàng nhìn thấy, là Triệu Ung.

Na Sa giật nảy mình, mở choàng mắt, muốn ngồi bật dậy mà không được.

“Ngươi…” Na Sa nhìn thẳng vào Triệu Ung, “ngươi là ai?”

“Ta? Ta là nô bộc trung thành của nàng, hỡi quý khách thảo nguyên!” Triệu Ung mỉm cười nhìn nàng đáp.

“Ta…đang ở đâu?” Na Sa liếc mắt nhìn quanh căn phòng rộng lớn.

“Thành Bình Ấp.”

“A!” Na Sa gắng gượng muốn ngồi dậy, “là đất của người Triệu!”

“Phải, nàng là khách nhân tôn quý tới từ thảo nguyên, người Triệu chúng ta chào đón nàng!”

“Ta…chạy xa đến vậy ư?” Na Sa không thể tin nổi.

“Phải, nửa đêm hôm đó, mưa tuyết mịt mờ, chúng ta nghe thấy có tiếng ngựa hí đằng xa, nghe rất thảm thiết, bèn tới đó xem, và bới được nàng trong đống tuyết bên cạnh con ngựa. Quả là ngàn cân treo sợi tóc, chỉ muộn thêm chút nữa, e là nàng đã…”

“Ngựa của ta…” Na Sa lo lắng.

“Thấy chúng ta tới, nó còn đưa mõm dũi tuyết trên người nàng, rồi ngã quỵ xuống bên nàng, không đứng lên được nữa. Chúng ta đã làm đủ mọi cách, vẫn không thể cứu được nó! Thực là một con ngựa hay!”

Na Sa nghe vậy thì nước mắt giàn giụa, bật khóc sụt sùi.

Triệu Ung để yên cho nàng khóc một hồi, rồi mới khuyên nhủ: “Này khách thảo nguyên, nàng đừng quá đau buồn. Con ngựa đó tận trung với chủ, xả thân vì chủ, đó là vinh hạnh của nó. Chúng ta đã chôn nó ở nơi nó đã tận trung, qua vài hôm nữa, nàng khoẻ lại rồi, ta sẽ dẫn nàng tới tế lễ cho nó.”

“Tạ ơn anh, bằng hữu!” Na Sa nhìn Triệu Ung, lại hỏi, “chủ nhân của anh là ai?”

“Là chủ nhân của thành này.”

“Hãy gọi người đó lại đây, ta muốn…cảm tạ ông ta!”

“Ông ta không có nhà, dặn ta chăm sóc nàng. Nàng cần gì, cứ nói với ta!”

“Ta…” Na Sa ngập ngừng, “ta đói…”

Triệu Ung đứng dậy, đến bên bếp lò, bưng lại một bát canh thịt dê, đỡ nàng ngồi dậy, bón cho nàng ăn. Sau đó lại cho nàng uống một bát sữa ngựa.

“Ta…muốn ăn thịt!”

“Được, ta sẽ nướng thịt!” Triệu Ung ra ngoài lấy một tảng sườn cừu mang vào, nướng trên than hồng. Chốc lát, mùi thịt nướng đã ngào ngạt khắp phòng, khiến công chúa ngửi đã muốn ăn.

Na Sa ăn liền mấy khúc sườn cừu, đã thấy khoẻ khoắn thêm nhiều, lau sạch tay rồi, bèn nhìn sang Triệu Ung: “Này bằng hữu, anh tên gì?”

“Triệu Ung Tử!”

“Triệu Ung Tử?” Na Sa nhắc lại, “là chữ Triệu trong nước Triệu, phải không?”

“Phải!”

“Tôi tên là Na Sa.” Na Sa nhìn Triệu Ung, mỉm cười thân thiện.

Nước Triệu dựa vào đại thế hùng hậu của năm vạn kỵ binh, uy hiếp ba vạn tráng sĩ Lâu Phiền phải nghe theo thần dụ, ngồi im trên tuyết trắng trong khe Mã Lạt, bó tay chờ đợi, chấp nhận số phận an bài.

Nhưng vận mệnh quả nhiên đã đưa tới cho họ một sứ giả, là Nhạc Nghị người Trung Sơn, vốn chẳng xa lạ gì với A Cổ Lạp, Lặc Cách và không ít tù trưởng.

Là Ba Cáp chỉ huy quân đoạn hậu dẫn Nhạc Nghị tới gặp A Cổ Lạp.

“Hỡi đức vua thảo nguyên tôn kính,” Nhạc Nghị cúi gập người trước A Cổ Lạp, “Nhạc Nghị người Trung Sơn có lễ!”

“Nhạc Nghị?” Nhận ra Nhạc Nghị, A Cổ Lạp sững sờ kinh ngạc, “sao ngươi lại…”

“Hồi bẩm vua thảo nguyên,” Nhạc Nghị vòng tay đáp, “Nhạc Nghị đưa ngựa tốt của đại vương sang đất Triệu bán, còn chưa kịp về nhà, đã được người Triệu uỷ thác, tới đây dâng lên đại vương cùng tư tế đại nhân hai bức thư.”

“Thư?” A Cổ Lạp nhìn sang Lặc Cách.

Nhạc Nghị rút ra hai phong thư, lần lượt trình lên.

A Cổ Lạp mở ra xem, là thư mời A Cổ Lạp và Lặc Cách tới dự yến, người thết đãi là Phì Nghĩa.

Phì Nghĩa là tướng quân nước Triệu, còn là cận thần thân tín của đương kim Triệu Vương. Phì Nghĩa tới đây, chắc chắn là có ý đồ. Nghĩ tới cái bẫy mà người Triệu giăng sẵn ở đây, Lặc Cách thốt nhiên bừng tỉnh.

“Yến tiệc ở đâu?” A Cổ Lạp có phần căng thẳng.

“Phì Nghĩa đại nhân có dặn, bày tiệc ở đâu, kính cẩn nghe theo đại vương và đại tư tế.” Nhạc Nghị đáp.

A Cổ Lạp lại nhìn sang Lặc Cách.

“Này chàng trai, đằng kia, thế nào?” Lặc Cách chỉ về phía cửa ải của người Triệu, chỗ đó có một dãy lều trại, lúc này đều nằm cả trong tay người Hồ.

“Được lắm!” Nhạc Nghị đáp, rồi vòng tay, “Nhạc Nghị sẽ quay về bẩm báo với Phì Nghĩa đại nhân!”

Nhạc Nghị cáo từ, lập tức đi ngay.

Không đầy một canh giờ, sáu kỵ binh tiến lại, phi thẳng tới cửa ải, sắp chiếu bày tiệc, xong rồi ba người đi về, chỉ còn lại ba người ở đó, lần lượt là Nhạc Nghị, Phì Nghĩa và một viên tuỳ tùng.

Thấy người Triệu sắp xếp chu đáo đến vậy, dù sắt đá như A Cổ Lạp, Lặc Cách cũng lấy làm cảm khái.

Nhạc Nghị ruổi ngựa lại chỗ A Cổ Lạp, lịch thiệp chìa tay mời: “Hồi bẩm đại vương, đại tư tế, Phì Nghĩa đại nhân đã chuẩn bị xong tiệc rượu, có lời mời hai vị.”

Hai người lên ngựa, theo Nhạc Nghị tới cửa ải, vào trong căn phòng bên cạnh.

Phì Nghĩa ra đón, khom lưng hướng vào A Cổ Lạp vái dài mà nói: “Người Triệu Phì Nghĩa cung nghênh đại vương, cung nghênh đại tư tế!”

A Cổ Lạp cùng Lặc Cách đáp lễ xong, được Phì Nghĩa dẫn vào trong phòng.

Bên trong, lò lửa đốt bằng phân ngựa đang cháy rừng rực, toả ra thứ mùi rất đỗi quen thuộc với người thảo nguyên. Dưới nền nhà trải vài tấm da cừu già, lông dày êm mịn. Phía trước mỗi tấm da cừu đều kê một án nhỏ, trên án bày thịt nướng, cá nướng và rượu do người Triệu vừa mang tới. Cá thịt còn nóng hổi, toả mùi thơm quyến rũ.

Trên chiếu chủ đã có một người ngồi đó, cũng mặc áo Hồ giống họ. Phì Nghĩa ngồi vào chiếu dưới. Nhạc Nghị không ngồi, mà đứng nghiêm bên cạnh, nhìn vào cung cách, hẳn là để hầu rượu thịt.

Hai người ngồi xuống chiếu khách, A Cổ Lạp liếc về phía người mặc áo Hồ ngồi đối điện. Hiển nhiên, nhìn vào thái độ cung kính của Phì Nghĩa, người đó chắc hẳn phải có địa vị cao hơn Phì Nghĩa trong cung Triệu.

Lẽ nào là Triệu Vương? A Cổ Lạp nhìn sang Lặc Cách.

Lặc Cách cũng đang lẳng lặng quan sát.

“Hỡi các vị khách quý,” thấy hai người tỏ vẻ dò xét với người bên cạnh, Phì Nghĩa bèn vòng tay, cười nói, “Phì Nghĩa tiếp đón quý khách ở đây, thực quá sơ sài, có chỗ nào thất lễ, kính mong hai vị lượng thứ cho.”

“Phì Nghĩa tướng quân chớ nên khách khí, có lời gì, cứ nói thẳng ra!” A Cổ Lạp vòng tay đáp lễ.

Phì Nghĩa bật cười lớn mấy tiếng, chỉ vào rượu thịt trên án: “Hai vị khách quý, rượu thịt tuy đạm bạc, song tình nghĩa lại đầy tràn. Trước khi vào tiệc, xin được có đôi lời. Hai vị đây đều là người bận rộn, Phì Nghĩa hôm nay quấy quả mời dự tiệc, là vì hai việc. Thứ nhất, là muốn đáp tạ đại vương, tư tế cùng toàn bộ mục dân Lâu Phiền, trong những năm qua đã mang tới cho người Triệu vô số ngựa hay, thuận mua vừa bán, khiến đại vương của tại hạ lấy làm cảm kích, mới uỷ thác cho Phì Nghĩa cảm tạ hai vị, đợi lát nữa, xin cho tại hạ được dùng rượu bày tỏ lòng thành. Thứ hai, vào đêm hôm trước, cư dân biên ải nước Triệu gặp chuyện kinh hãi, đại vương mới phái Phì Nghĩa tới điều tra. Việc liên quan đến công đạo, Phì Nghĩa là người thô lỗ, nói năng vụng về, phần vì sợ nói không rõ ràng, phần vì sợ đoán không chính xác, phụ lòng uỷ thác của đại vương, nên đã mời tới đây một người vừa nói năng khéo léo, lại đoán sự công bằng,” chỉ vào người mặc áo Hồ bên cạnh, “chính là vị này. Tô Tử, xin hãy báo danh một tiếng.”

Tô Tần vòng tay: “Tô Tần người Lạc Dương bái kiến đại vương A Cổ Lạp tôn kính, đại tư tế Lặc Cách tôn kính!”

“A Cổ Lạp bái kiến người Lạc Dương Tô Tần!” A Cổ Lạp vòng tay hồi đáp, nhìn sang Lặc Cách.

“Hẳn là Tô đại nhân Tô Tần tung thân sáu nước?” Lặc Cách bán tín bán nghi, nheo mắt nhìn Tô Tần.

“Chính là Tô Tần.” Tô Tần khẽ cười đáp.

“Thất kính, thất kính!” Lặc Cách vái lia lịa, “Lặc Cách sớm đã nghe danh Tô đại nhân, nay mới được diện kiến, hân hạnh, hân hạnh!”

“Nghe nói đại tư tế học vấn cái thế, thấu tỏ đạo trời, Tô Tần ngưỡng mộ bấy lâu, nay được thỉnh giáo tại đây, thực là may mắn!” Tô Tần vòng tay đáp lễ.

Phì Nghĩa phá lên cười lớn, rồi nâng chén: “Hai vị đều là cao nhân, nào, xin cùng cạn chén, trước tiên vì chuyện thứ nhất, đáp tạ đại vương, đáp tạ tư tế, cùng phụ lão thảo nguyên!” Nói đoạn, một hơi cạn chén.

Ba người cùng cạn, Nhạc Nghị rót rượu.

Rượu qua vài tuần, Tô Tần mới vào chuyện chính, nhìn sang A Cổ Lạp: “Vua của thảo nguyên tôn kính, nghe nói thảo nguyên năm ngoái gặp thiên tai, Tần kiến văn nông cạn, dám hỏi tình hình thế nào?”

“Than ôi,” A Cổ Lạp thở dài buồn bã, “chuyện này thực không muốn nhắc. Không giấu Tô Tử, thảo nguyên khó lòng qua nổi mùa đông, ta vì vạn bất đắc dĩ, nên mới…” Tô Tần khẽ cười: “Vẫn nên nhắc tới. Một phương gặp nạn, tám phương trợ giúp, huống hồ Triệu và Lâu Phiền, núi liền núi, sông liền sông. Đại vương không kể rõ tình hình tai hoạ, Triệu Vương đâu thể biết đến mà tiếp cứu?”

“Năm ngoái hạn hán, từ mùa xuân tới tận mùa đông, hầu như không có lấy một giọt mưa. Sau đó, lại đến nạn châu chấu, khác nào tuyết lại thêm sương, chút cỏ hiếm hoi còn sót lại bên bờ sông hồ, đều bị châu chấu ăn trụi. Người thảo nguyên không biết phải làm sao, đành lùa súc vật vào trong núi. Nào ngờ trong núi hạn càng nghiêm trọng, súc vật chết đói quá nửa, số còn lại, e cũng không qua nổi mùa đông…Than ôi, thực đáng hổ thẹn!” A Cổ Lạp cúi đầu mà nói.

“Thiên tai nghiêm trọng là vậy, các vị nên nói sớm hơn mới phải.” Tô Tần cất giọng thân mật, “không giấu đại vương, vào đầu mùa đông, lúc còn ở Hàm Đan, Triệu Vương từng nhiều lần kể với Tô Tần về hạn hán ở thảo nguyên, hết sức quan hoài, bởi đất Bắc nước Triệu cũng phải chịu cảnh thiên tai giống như các vị. Vì muốn ứng cứu, Triệu Vương đã lệnh cho các vùng Tấn Dương, Thượng Đảng và quanh núi Thái Hàng, phàm nơi nào vẫn có mưa, toàn dân đều cắt cỏ xanh, phơi khô trữ sẵn. Đồng thời còn xuất tiền mua một lượng lớn cỏ từ vùng Thượng Đảng nước Hàn, vừa vào đông đã chuyển ngay tới đất Đại để cứu nạn. Triệu Vương cũng nghĩ tới các vị, nhưng Triệu Vương cũng hiểu rõ, người thảo nguyên, nhất là đại vương đây, rất trọng danh dự, nếu chư vị chưa mở lời, mà người Triệu lại tự mang tới, e rằng sẽ thành bất kính với đại vương. Triệu Vương không biết phải làm sao, mới lệnh cho các ấp biên thuỳ mang toàn bộ hàng cứu cấp bày thành khu chợ. Do là chợ, Triệu Vương sợ mục dân bản địa sẽ đến tranh cướp, nên mới cố tình nâng giá lên cao, nào ngờ lại gây chuyện hiểu lầm…than ôi…”

Tô Tần cố tình thở dài, lắc đầu ra chiều thất vọng.

Thấy Tô Tần thản nhiên nói trắng thành đen, biến thái độ cậy thế chèn ép của người Triệu trước đây thành khảng khái trượng nghĩa, bất chấp những sự thực rành rành như mục dân Lâu Phiền tới mua đồ, tù trưởng Ba Cáp tới giao thương bị ép giá lăng nhục, lại càng không đả động tới chuyện người Triệu mưu kế thâm sâu, trước là giăng bẫy dụ dỗ, sau lại dùng vũ lực uy hiếp, A Cổ Lạp nghe mà mặt mũi tối sầm, thở dốc vài tiếng, nhìn sang Lặc Cách.

“Tạ ơn lòng nhân từ của Triệu Vương, cầu thần linh phù hộ cho Triệu Vương!” Lặc Cách vòng tay cảm tạ, rồi nhìn sang Tô Tần, thuận đà mà nói, “vua của thảo nguyên đã hiểu được tấm lòng nhân hậu của Triệu Vương, cũng đã hiểu được Triệu Vương đặc biệt cho chuyển cỏ khô tới chợ là để tặng cho chúng tôi vượt qua hoạn nạn, nên vua của thảo nguyên đã thỉnh cầu thần dụ, sau khi thần dụ đồng ý, mới dẫn người trong tộc tới chợ lấy những hàng hoá Triệu Vương tặng cho.”

Câu trả lời của Lặc Cách, trong nhu có cương, cực kỳ khéo léo, vừa là trả miếng Tô Tần, cũng không khiến mình mất thể diện, lại còn viện đến thần dụ để bày tỏ, họ tới chợ lấy hàng không có gì sai trái. A Cổ Lạp khoan khoái thở phào một tiếng, lấy làm đắc ý nhìn sang Tô Tần và Phì Nghĩa, khẽ gật đầu.

Tô Tần cười lớn: “Từ lâu đã nghe, thần linh của chư vị thần thông quảng đại, công bình chính trực, biết phân định rõ phải trái đúng sai, Tô Tần rất muốn lĩnh giáo. Dám hỏi thần dụ thế nào?”

Tiếng cười và câu hỏi của Tô Tần, đã khởi đầu cho một trường biện luận.

“Thần dụ rằng,” Lặc Cách trầm giọng đáp lời, “láng giềng Triệu Vương thiên tính nhân từ, trượng nghĩa tặng hàng cứu cấp, bày trên đồng cỏ của ta. Các ngươi hãy đến lấy về, người Triệu sẽ không làm tổn hại các ngươi. Vua của thảo nguyên nhận được thần dụ, vì muốn lòng từ của Triệu Vương được chia đều cho tất cả, nên lệnh cho các bộ lạc căn cứ vào số tộc nhân mà cử ra số tráng đinh tương ứng, tập kết bên hồ, tế bái thần linh, rồi mới lên đường đi lấy hàng. Sự thực đúng như thần dụ, khi chúng tôi tới lấy, tất cả các chợ đều không thấy bóng một người Triệu, nhưng hàng hoá vẫn đủ đầy như cũ.” Nói rồi, vòng tay hướng về phía Đan Dương, “thần của chúng tôi sẽ phù hộ cho Triệu Vương quý thể an khang, vạn sự thông thuận, trị dân an cư lạc nghiệp!”

Lặc Cách quả là đáng nể, rõ ràng là đi ăn cướp của người ta, mà lúc này biện luận hùng hồn, nghe như hữu lý lắm.

A Cổ Lạp hết sức hài lòng, thuận nước đẩy thuyền, nâng chén rượu lên: “Bản vương kính cẩn mượn chén rượu này, thay mặt cho toàn bộ trai gái thảo nguyên, cảm tạ lòng nhân từ đại nghĩa của Triệu Vương, đã giúp người thảo nguyên vượt qua hoạ nạn!” Nói xong, nâng chén uống cạn.

Tô Tần lại không nâng chén, nhìn sang Lặc Cách, cười mà nói: “Thần của các vị, quả là thú vị, của ta là của ta, của người cũng là của ta, lẽ nào thần không phân biệt được đâu là ta đâu là người ư?”

“Lời này của Tô đại nhân, ý là…” Lặc Cách nheo mắt, nhìn thẳng vào Tô Tần.

“Ví như thần dụ vừa rồi, Triệu Vương thiên tính nhân từ, trượng nghĩa tặng hàng cứu cấp, bày trên đồng cỏ của ta. Nói như vậy, tức là đã nghiễm nhiên coi khu chợ nơi bày bán hàng hoá là đất của các vị rồi, phải không?” Tô Tần bắt đầu khiêu chiến.

“Việc đó đâu cần bàn cãi!”A Cổ Lạp dõng dạc tiếp lời, chỉ về phía đông, “từ đây về đông, chí ít có năm ngọn núi đen, đều là đất của người thảo nguyên ta!”

“Dám hỏi đại vương,” Tô Tần quay sang A Cổ Lạp, khẽ cười mà hỏi, “đại vương có bằng chứng nào để chứng minh, năm ngọn núi đó chắc chắn là của người thảo nguyên các vị? Cũng dựa vào thần dụ chăng?”

“Còn cần bằng chứng sao?” A Cổ Lạp giận dữ, ném luôn chén rượu trong tay xuống mặt án, “người tộc ta đời đời chăn thả bò cừu trên thảo nguyên dưới chân núi, tất cả người trong tộc đều biết rõ!”

“Than ôi,” Tô Tần buông một tiếng thở dài, “hỡi vua thảo nguyên tôn kính, đại vương trị lý người trong tộc theo cách này ư? Đại vương chỉ vào một ngọn núi, và nói với một con dân của mình rằng, ngọn núi ấy là của ngươi. Vậy thì ngọn núi ấy sẽ thuộc về hắn ư? Sau khi đại vương băng hà, nếu như có kẻ khác tới tranh cướp núi ấy, thì hắn biết lấy gì để chứng minh núi ấy là của hắn? Hắn chỉ có thể nói, đó là đại vương ban cho, nhưng khi đó, đại vương đã không còn nữa! Theo lý mà nói, nếu muốn tặng núi ấy cho hắn, thì đại vương cần có hai vật chứng. Thứ nhất, phải chứng minh được núi ấy là của người, người có quyền tặng lại cho người khác; thứ hai, người phải cho hắn chứng cứ, như văn khế hoặc tín vật, để chứng tỏ hắn đã được sở hữu núi ấy. Đó là lẽ thường, cũng là công lý, đại vương thấy có phải không?”

“Ồ…” A Cổ Lạp á khẩu, nhìn sang Lặc Cách.

“Đây chỉ là lý lẽ của trung nguyên các vị,” Lặc Cách tiếp lời, “còn ở thảo nguyên, chúng tôi không có địa giới cố định, thần dụ rằng, ở đâu có nước, ở đâu có cỏ, chúng tôi sẽ tới đó. Nơi nào chúng tôi thường tới, chính là thảo nguyên của chúng tôi.”

“Thần đã thị dụ như vậy,” Tô Tần chỉ ra khe núi bên ngoài, “cớ sao các vị lại không chịu nghe theo thần dụ, mà cứ khăng khăng rằng khe núi này và năm ngọn núi kia là đất của các vị?”

“Đó cũng là nơi chúng ta thường tới, là thảo nguyên của cha ông ta! Chúng ta hàng năm đều dẫn súc vật tới đây chăn thả. Chúng ta sống ở đây, chết ở đây, đương nhiên đó là mục địa của ta!” A Cổ Lạp lớn giọng đáp. “Than ôi,” Tô Tần lại thở dài, “sao nhà vua có thể nói lời vô lý đến vậy? Theo lời của đại vương, nếu ai thường tới đây chăn thả súc vật, nếu ai sinh ra ở đây hoặc chết ở đây, thì nơi đây chính là của người đó? Nếu là như vậy,” chỉ về phía đông, “hàng năm người Triệu đều tới đây chăn thả súc vật, khe núi này đã chôn không biết bao nhiêu thi thể người Triệu. Mỗi độ đông về, lại có không ít người Triệu đến hồ kia bắt cá. Nhận được chỉ lệnh của Triệu Vương, rằng nên trợ giúp các vị, người Triệu biết các vị không thạo bắt cá, đã kết thành nhóm đông, kéo tới hồ lớn, bắt được vô số cá hồ, đều bày ngoài chợ, cũng là để giúp các vị, khiến các vị không phải giết nhiều bò cừu nữa. Nhưng người Triệu đã bao giờ nói nơi đây là đất của họ chưa? Chưa hề. Những nơi đó, người Triệu thường xuyên qua lại, song chưa từng nhận là đất của mình, vậy thì cớ sao đại vương lại khăng khăng nơi đây là đất của các vị?”

“Nếu đã không nhận là đất của mình,” A Cổ Lạp giận dữ cự lại, “thì cớ sao người Triệu lại đặt cửa ải tại khe núi này? Lại dựng biên ấp ở đằng kia? Mục dân chúng ta qua lại, cớ sao còn bị tra hỏi ngặt nghèo?”

“Đại vương có điều không biết,” Tô Tần đáp lời, “thảo nguyên có cách sống của thảo nguyên, người Triệu có cách sống của người Triệu. Người thảo nguyên đi tới đâu, dựng lều ở đó, còn người Triệu đi tới đâu, dựng nhà ở đó. Người thảo nguyên chăn thả súc vật, người Triệu trồng trọt. Người thảo nguyên ăn thịt, người Triệu ăn cháo. Còn như mục dân qua lại bị tra hỏi, đó là cần thiết. Nếu người Triệu đến địa bàn của mục dân, vào chòm xóm của mục dân, các vị có để yên mặc kệ không? Ngộ nhỡ là trộm cắp thì sao?”

“Ồ…” A Cổ Lạp lại cứng họng, nhìn sang Lặc Cách.

“Tô đại nhân nói phải,” Lặc Cách hiểu rằng phía mình đã đuối lý, nếu còn tranh biện nữa, chỉ càng thêm khó coi, bèn lùi một bước, vòng tay mà nói, “tập tục mỗi nơi mỗi khác, việc đã qua rồi, không nên khơi lại.” Đoạn chỉ ra ngoài, “hàng cứu cấp của Triệu Vương, người thảo nguyên dựa theo tập tục của thảo dân, tự tiện tới lấy. Hiện tại, người Triệu cản đường, hai bên tranh chấp, hai vị tới đây, hẳn là muốn bàn việc này?”

“Than ôi,” Tô Tần lại thở dài, “hay tin các vị nửa đêm tập kích, xâm nhập biên cương, khiến con dân nước Triệu kinh hãi, bỏ chạy tán loạn, Triệu Vương lấy làm tức giận, mới lệnh cho binh lính chặn đường, muốn hỏi đại vương cho ra nhẽ. Nhưng lại thấy đại vương ngồi yên dưới đất, nhóm lửa nấu nướng, không có ý giết chóc, Triệu Vương mới nguôi giận phần nào, lệnh cho Phì đại nhân cùng tại hạ tới mời hai vị chén rượu nhạt, bàn phương cách hoà giải.”

“Triệu Vương định hoà giải thế nào?” Lặc Cách hỏi.

“Triệu Vương đưa ra ba cách. Cách thứ nhất, tuân theo quy tắc thảo nguyên của các vị, hai bên dàn trận sát phạt, kẻ chiến thắng sẽ là vua của thảo nguyên!”

“Ngươi…” A Cổ Lạp tức uất, đang định nổi giận, thì Lặc Cách đã giơ tay ngăn lại.

“Nếu không thích sát phạt, có thể chọn cách thứ hai.” Tô Tần nói tiếp, “vua của thảo nguyên dẫn người trong tộc rời khỏi thảo nguyên, đi xa khỏi núi Đại Hắc, không bao giờ được quay trở lại, hai bên từ đây không dính dáng tới nhau nữa.”

“Còn cách thứ ba?” Không đợi A Cổ Lạp kịp nổi khùng, Lặc Cách đã cướp lời hỏi tiếp.

“Kết thân với Triệu thất, thành người một nhà.”

“Kết thân? Người một nhà?” A Cổ Lạp gắng gượng nhẫn nhịn một bầu nộ hoả, sắc mặt hằm hằm, “nói xem, kết thân thế nào? Một nhà thế nào?”

“Tức là, các vị vẫn sống trên thảo nguyên như trước, thần núi Đại Hắc vẫn là thần của các vị như trước, đại vương vẫn là vua của thảo nguyên, đại tư tế vẫn là đại tư tế của thảo nguyên như trước.” Tô Tần giơ tay chỉ ra bên ngoài, “và toàn bộ số hàng mà các vị chuyển đi lúc nửa đêm kia, Triệu Vương cũng tặng hết cho các vị, để cứu cấp cho người dân gặp hạn!”

A Cổ Lạp bàng hoàng, không dám tin là thật, lại nhìn sang Lặc Cách.

“Triệu Vương muốn hồi đáp thế nào?” Lặc Cách nhìn Tô Tần, hỏi thẳng.

“Như vừa nói, kết thân với Triệu thất, thành người một nhà.” Tô Tần mỉm cười đáp.

Lặc Cách khẽ nheo mắt, trầm ngâm suy nghĩ.

“Ta không hiểu!” A Cổ Lạp sắc mặt ngơ ngác, “A Cổ Lạp ta nếu vẫn là vua, người thảo nguyên ta vẫn sống trên thảo nguyên, mọi thứ đều y như cũ không hề thay đổi, sao lại nói là người một nhà?”

“Hồi bẩm vua của thảo nguyên, ở đây còn có một điều kiện nho nhỏ,” Tô Tần tiếp lời, “toàn bộ thảo nguyên cần đặt dưới sự trị vì của Triệu, đại vương cần tiếp nhận sắc phong của Triệu Vương. Sau khi đại vương băng hà, bất luận là ai kế vị, cũng phải được Triệu Vương sắc phong!”

“Ý Tô đại nhân muốn nói, người thảo nguyên ta sẽ biến thành bề tôi của Triệu Vương vĩnh viễn?” A Cổ Lạp hai mắt trợn trừng.

“Hay nói đúng hơn, Lâu Phiền sẽ trở thành nước chư hầu của Triệu.” Tô Tần đáp lời, “đại vương thấy có chỗ nào không thoả?”

A Cổ Lạp ngẩn người, rồi lại nhìn sang Lặc Cách.

Lặc Cách khép mắt, bắt đầu suy tính được mất lợi hại.

“Còn nữa,” Tô Tần nói tiếp, “là nước chư hầu của Triệu, Triệu Vương đảm bảo, người thảo nguyên sẽ được đối đãi hệt như người Triệu, có thể tới kinh đô Hàm Đan hoặc bất cứ nơi nào trên nước Triệu để sinh sống, buôn bán, thậm chí làm quan. Triệu Vương còn hứa rằng, nước Triệu sẽ vĩnh viễn bảo vệ cho toàn bộ người thảo nguyên, đặc biệt là trước tộc người Man đến từ Mạc Bắc phía bắc núi Đại Hắc. Nghe nói, đám người này thường xuyên tới quấy nhiễu, khiến người thảo nguyên chịu khổ không ít.”

“Triệu Vương sẽ làm thế nào để ngăn cản người Mạc Bắc tới quấy nhiễu?” A Cổ Lạp hỏi.

“Triệu Vương sẽ cho xây dựng tường thành men theo sống núi của dãy Đại Hắc, nối liền các các đỉnh núi tạo thành một đường phòng tuyến vững chãi. Bố trí đài phong hoả trên các đỉnh núi cao nhất, đặt quan ải tại tất cả các khe núi, người Mạc Bắc nếu dám lại gần, sẽ lập tức đốt lửa làm hiệu. Người Mạc Bắc sở trường giao chiến nơi đồng trống, nhưng không thạo công thành. Có người Triệu canh phòng trên đỉnh núi, người thảo nguyên sẽ được an tâm. Cũng không phải lo lắng chuyện thiên tai như năm nay nữa, bất cứ khi nào thảo nguyên gặp hạn, Triệu Vương sẽ tìm cách cứu tế.”

Trước một loạt lợi ích mà Tô Tần đưa ra, A Cổ Lạp bắt đầu dao động, khẽ hích khuỷu tay vào Lặc Cách.

Lặc Cách ngẩng đầu.

Hiển nhiên, người quyết định đại sự của thảo nguyên không phải là A Cổ Lạp, mà thực chất là Lặc Cách.

“Triệu Vương quả là bậc quân vương từ ái,” Lặc Cách vòng tay nói, “xin hỏi Tô đại nhân, ngoài việc muốn người thảo nguyên làm nước chư hầu của Triệu, Triệu Vương còn có yêu cầu nào khác?”

“Còn một yêu cầu nữa,” Tô Tần đáp lễ, rồi mỉm cười nhìn sang A Cổ Lạp, “kết thân.”

“Kết thân?” A Cổ Lạp sửng sốt, “kết thân gì kia?”

“Nghe nói vua thảo nguyên có nàng công chúa tên gọi Na Sa, đương độ xuân thì, xinh đẹp hiền thục, Triệu Vương ngưỡng mộ đã lâu, có ý muốn hỏi cưới làm vương phi, nhận đại vương làm nhạc phụ. Tô Tần biết được ý nguyện này, nên xin được làm mai mối.” Nói rồi, lại nhìn sang Lặc Cách, “Tần cả gan thỉnh cầu đại tư tế làm mối cho phía thảo nguyên, cùng Tần bắt tay, tác thành cho công chúa thảo nguyên và vua Đại Triệu kết mối duyên trăm năm, khiến nước Triệu và Lâu Phiền huyết mạch nối liền, phong thuỷ tương thông, đời đời qua lại, để phúc cho hậu thế.”

A Cổ Lạp kinh ngạc không để đâu cho hết. Lao tâm khổ tứ đủ điều để tìm một mối tốt cho con gái, nhưng A Cổ Lạp chưa từng nghĩ đến nước Triệu. Tuy nhiên, suy cho đến cùng, dù có gả con gái cho ai cũng không thể có lợi cho thảo nguyên bằng gả cho Triệu Vương.

A Cổ Lạp thở phào một tiếng, sắc mặt giãn ra, nhìn sang Lặc Cách.

“Phải, huyết mạch nối liền, quả là chuyện vô cùng tốt đẹp!” Lặc Cách vòng tay đáp, “Lặc Cách nguyện làm mai mối. Chỉ có điều,” khẽ cười buồn, “mấy hôm trước, trên thảo nguyên xảy ra chút chuyện, khiến công chúa tức giận, ruổi ngựa đi mất, cho tới nay vẫn chưa rõ tung tích, người thảo nguyên đều đang xuôi ngược tìm nàng. Chờ tìm được công chúa rồi, chúng ta lại bàn chuyện mai mối, được chăng?”

“Vậy thì tốt quá.” Tô Tần nâng chén, “hãy cùng cạn chén, vì mối lương duyên giữa Triệu và Lâu Phiền, vì đại vương thành người một nhà với Triệu Vương!”

Mọi người cùng cạn.

Tiếp đến, yến tiệc trở nên vui vẻ hơn nhiều. Sau khi ăn no uống đủ, hai bên ai về chỗ nấy, quân Triệu lập tức lui binh. Người thảo nguyên vốn đã sa vào tuyệt lộ, lúc này lại cũng an tâm ăn no uống đủ, hân hoan phấn chấn mang theo số hàng cướp được quay về các bộ lạc, do tộc trưởng và tư tế lấy danh nghĩa “Triệu Vương phát chẩn” để phân chia cho từng hộ.

Nhờ được Triệu Ung chăm sóc tận tình, Na Sa nhanh chóng bình phục, những vết thương do lạnh cóng trên tay và trên mặt đã lành hẳn, nàng lại là một thiếu nữ thảo nguyên tuyệt sắc.

Ở bên cạnh Na Sa, ngoài một hầu gái thi thoảng ra vào phục dịch, chỉ có mình Triệu Ung.

Na Sa ngày càng thân thiết với Triệu Ung, còn kể cho nghe về thân phận thật sự của mình, cũng mở lòng tâm sự đủ thứ chuyện.

Trong những câu chuyện mà nàng kể, được nhắc đến thường xuyên nhất chính là hùng ưng thảo nguyên Thác Lực, hễ nhắc tới tên chàng, nàng lại nước mắt ngắn dài, sụt sùi kể lại họ đã cùng nhau lớn lên ra sao, yêu quý nhau thế nào, rằng Thác Lực giỏi giang dũng mãnh biết mấy, là dũng sĩ vô địch thảo nguyên vân vân, chỉ hận không thể kể lại tường tận mỗi một ngày họ ở bên nhau, và cuối cùng, không thể thiếu được những lời nguyền rủa đại vương tử Lâm Hồ.

Trong lúc nàng kể, Triệu Ung hoặc cười tủm tỉm, hoặc im lặng lắng nghe, không bao giờ chen vào lấy một lời.

“Sao ngươi không nói gì thế?” Na Sa chợt hỏi.

“Nói gì kia?” Triệu Ung khẽ nhún vai hỏi lại.

“Thì nói về chàng ấy!” Na Sa kêu lên, “ta kể nãy giờ, mà ngươi không khen chàng được một lời sao?”

“Tôi thấy có gì đáng khen đâu!” Triệu Ung tưng tửng đáp lại.

“Chàng như thế mà không đáng khen ư?” Na Sa lấy làm bực dọc, gần như quát lên.

“Vậy nàng nói xem, hắn có chỗ nào tốt đẹp?” Triệu Ung cười cười hỏi.

“Ta đã nói cả trăm lần rồi, chàng là dũng sĩ đệ nhất của thảo nguyên, đấu vật giỏi nhất, cưỡi ngựa bắn tên giỏi nhất, săn bắn giỏi nhất!”

“Chà!” Triệu Ung cất giọng cảm khái, “vì nàng chưa thấy được bầu trời rộng lớn hơn đó thôi. Đệ nhất thảo nguyên, ở nước Triệu ta, cũng chẳng là gì cả!”

“Cái gì?” Na Sa mày ngài nhướng cao giận dữ.

“Nàng đợi một chút!” Triệu Ung sải bước ra ngoài, tới tiền viện, gọi Phì Nghĩa lại, lệnh cho sắp đặt mọi việc, rồi quay trở vào phòng, cười hỏi, “nàng có muốn ra ngoài đi dạo một vòng cho mở mang tầm mắt?”

Na Sa gật đầu.

Triệu Ung dẫn Na Sa vào khu nhà bên cạnh, chính là phòng luyện võ của đội thị vệ. Đông đảo thị vệ đang rèn tập hăng say, người thì đấu vật, người thì múa thương, người thì bắn tên, người thì vật tay, ai cũng chăm chỉ chuyên chú. Thị vệ của Triệu Vương đều là “vạn người chọn một”, mỗi người đều có tuyệt kỹ riêng, trông thấy hai người tiến lại, thì càng luyện hăng hơn nữa.

Phì Nghĩa đích thân ra sân tập, đấu vật với vài tráng sĩ. Hoàn toàn khác với thi đấu ở thảo nguyên, trông cung cách đấu vật của họ kịch liệt và nguy hiểm hơn nhiều, thi đấu không khác gì thế mạng, động tác quyết liệt, chiêu thức rõ ràng, chiêu nào cũng như muốn đoạt mạng đối phương, khiến Na Sa đứng xem mà giật mình thon thót, hồi hộp như xem đánh trận. Hai bên vật lộn chừng một khắc, Phì Nghĩa gầm lên một tiếng, quật ngửa đối thủ xuống đất, đè cứng lên người. Đối thủ gắng gượng giãy ra, nhưng không tài nào nhúc nhích nổi.

Phì Nghĩa thủ thắng, lại giơ tay vẫy một vòng xung quanh, tiếp tục thách đấu. Có vài người nữa bước ra, nhưng chẳng mấy chốc cũng cùng chung số phận với vệ sĩ lúc nãy, bị vật ngã trắng bụng.

Vào lúc Phì Nghĩa đã giữ vững ngôi đầu, Triệu Ung bất đồ cởi phắt áo ngoài, vứt đánh vèo vào tay Na Sa, nhảy vào sân vật. Chỉ qua vài hiệp, Phì Nghĩa đã đón đỡ không xuể, rồi cuối cùng bị vật ngã ngửa xuống đất. Phì Nghĩa đang định bật dậy, thì Triệu Ung đã ngồi phịch luôn xuống bụng Phì Nghĩa, ngã ngửa ra sau, hai khuỷu tay ấn chắc xuống vai Phì Nghĩa. Phì Nghĩa giãy không được, hất không nổi, đành giơ tay nhận thua trong tiếng hò reo ầm ĩ của chúng vệ sĩ.

Tiếp đến, một lực sĩ hai tay xách hai chuỳ sắt tiến vào trong sân, rồi thả xuống đất, “uỳnh uỳnh” hai tiếng rung chuyển, khiến mặt đất lõm xuống thành hai hố lớn. Một vệ sĩ bước lại, thử nhấc chuỳ lên, nhưng vận hết sức bình sinh mà quả chuỳ vẫn như mọc rễ xuống đất, không mảy may xê dịch. Một người khác tiến lại, hai người cùng hợp sức nâng một quả chuỳ, cũng miễn cưỡng nhấc lên được một chút, nhưng rất chật vật, lại phải mau chóng thả xuống. Na Sa chưa nhìn thấy vật này bao giờ, mắt hạnh mở to, nhìn hai quả chuỳ chăm chú.

Triệu Ung bước lại, xắn cao tay áo, mỗi tay túm lấy một cán chuỳ, “hự” một tiếng lớn, nhấc bổng lên cao, còn múa thành vòng, chúng vệ sĩ hò reo dậy đất. Na Sa kinh ngạc đến há hốc miệng, không tin nổi vào mắt.

Triệu Ung bước tới bên Na Sa, nhẹ nhàng đặt hai quả chuỳ xuống đất, cười nói: “Nàng cũng thử xem!”

Na Sa ngồi thụp xuống, đưa tay sờ thử vào quả chuỳ, thấy cứng rắn mà lạnh ngắt, cầm cán lắc thử, kiểu gì cũng không thể khiến quả chuỳ nhúc nhích!

Ngoảnh sang nhìn Triệu Ung, sắc mặt Na Sa đã tràn đầy thán phục, nàng mím môi, khẽ lắc đầu.

Sau khi đã được “mở mang tầm mắt”, thái độ của Na Sa thay đổi hẳn, nói năng với Triệu Ung đã dịu dàng lễ độ hơn, dần cũng không còn nhắc tới cái tên Thác Lực nữa.

Hai ngày sau, Triệu Ung dắt lại hai con ngựa, một con màu trắng bạc, một con màu đỏ hung, sắc lông đều rất thuần, dù là ở thảo nguyên, cũng xứng là ngựa quý thượng hạng. Triệu Ung nhường con ngựa lông bạc cho Na Sa, còn mình cưỡi lên con ngựa lông hung, cùng mang theo cung tên, lao về phía thảo nguyên.

Trên thảo nguyên, đám kỵ sĩ đang bày trò săn bắn. Vài con thỏ được thả ra, chạy thục mạng trên cỏ héo, chẳng mấy chốc đã dụ đến một con chim ưng, liệng vòng tròn trên bầu trời, rồi thình lình chao xuống, quắp lấy một con thỏ, lại lao vút lên cao. Đám kỵ sĩ lập tức thúc ngựa đuổi theo, đua nhau giương cung bắn về phía chim ưng, song không một ai bắn trúng, mũi tên bay lên rồi lại rơi xuống. Chim ưng đã bay rất cao, gần như ngoài tầm tên bắn.

Đúng lúc Na Sa lấy làm thất vọng, Triệu Ung đột nhiên thúc ngựa đuổi theo, vừa đuổi vừa lắp tên kéo cung, một mũi tên xé gió bay đi chênh chếch.

Chỉ nghe chim ưng rít lên thảm thiết, rồi xoay mòng mòng mà rơi xuống.

Na Sa nhanh nhảu thúc ngựa chạy tới, nhặt con chim ưng lên xem, thấy mũi tên xuyên qua mình thỏ, đâm thẳng vào bụng chim ưng. Một mũi tên trúng hai đích!

Na Sa lại càng không giấu được niềm ngưỡng mộ với Triệu Ung. Về tới biệt cung, nàng ngắm nghía khuôn mặt anh tuấn của Triệu Ung hồi lâu, càng nhìn càng thấy trong lòng xao xuyến, bèn buột miệng nói: “Triệu Ung Tử, từ nay ta sẽ gọi ngươi là anh nhé?”

“Không được!” Triệu Ung trả lời dứt khoát.

“Tại sao?” Na Sa ngỡ ngàng.

“Nàng là công chúa, tôi chỉ là một thần bộc!” Triệu Ung nghiêm túc nói.

“Có gì mà không được!” Na Sa kêu lên, “anh Thác Lực cũng đâu phải vương tử, mà là gia bộc của nhà tôi, nhưng tôi vẫn luôn gọi là anh. Anh cũng thế!”

“Vẫn không được.” Triệu Ung lại từ chối, “nàng gọi Thác Lực là anh, là vì hai người bên nhau từ nhỏ đến lớn, nàng thích Thác Lực. Tôi không lớn lên cùng nàng, nàng cũng không thích tôi!”

“Tôi có thích anh mà!” Na Sa buột miệng đáp liền, sắc mặt chợt ửng hồng.

“Ồ?” Triệu Ung ra vẻ ngạc nhiên, “không phải là nàng thích Thác Lực ư?”

“Đó là trước đây. Còn giờ, chàng không còn nữa.”

“Ồ…Nàng thử nói xem, tôi có gì khiến nàng thích?”

“Vũ dũng!” Na Sa đáp, “con gái thảo nguyên chúng tôi chỉ thích đàn ông vũ dũng, anh là người vũ dũng nhất mà tôi từng gặp, vậy nên tôi thích anh. Và còn…” Mặt nàng lại càng đỏ bừng.

“Còn gì nữa?”

“Anh biết yêu chiều người khác. Đàn ông thảo nguyên…thì không, Thác Lực cũng không biết. Không giống như anh…Nên tôi…thấy thích anh!”

Triệu Ung mỉm cười xảo trá: “Tôi vẫn chưa thực sự yêu chiều nàng đâu đấy!”

“Ồ? Tại sao anh lại…” Na Sa mở to mắt hỏi, “lại chưa?”

“Vì tôi cũng phải thích nàng mới được!” Triệu Ung khẽ nhún vai đáp.

“Anh…” Na Sa sửng sốt, “không thích tôi?”

“Nàng đã hỏi tôi chưa?”

“Anh…” Na Sa sắc mặt vừa thấp thỏm, vừa tràn đầy mong đợi, “có thích tôi không?”

Triệu Ung đưa tay cầm lấy bàn tay nàng, nắm chặt lấy, gật đầu đáp: “Ta rất thích nàng!” Rồi Triệu Ung kéo Na Sa vào lòng, ôm lấy. Cảm giác đó, Na Sa chưa từng biết đến bao giờ, bất giác toàn thân run rẩy.

“Thác Lực chưa bao giờ làm thế này ư?” Triệu Ung cảm nhận được, bèn ngạc nhiên khẽ hỏi.

“Chưa!” Na Sa thì thầm đáp.

“Tại sao?”

“Chàng…không dám…” Na Sa bối rối đáp, rồi chợt hỏi, “Triệu Ung Tử, anh đã thích em rồi, vậy có muốn đi theo em không?”

“Đi đâu?”

“Về thảo nguyên.” Na Sa chỉ vào căn phòng, “rời khỏi nơi đây.”

“Em không thích nơi này ư?”

“Không thích. Đây là đất của người Triệu, không phải nhà của em.”

“Nhưng chủ nhân không có ở đây, anh không đi được.” Triệu Ung nhún vai, “anh phải trông coi nhà cửa, trông nom bầy ngựa cho chủ nhân, và cả em nữa…”

“Chủ nhân bảo anh chăm sóc em, nếu em muốn đi, anh sẽ phải đi theo em, đúng không?” Na Sa ngước nhìn Triệu Ung hỏi.

“Đi bằng cách nào?”

“Ta sẽ cưỡi hai con ngựa hôm qua.”

“Đó là ngựa của chủ nhân, chủ nhân coi chúng như báu vật, nếu ta cưỡi đi mất, chủ nhân tìm tới thảo nguyên, biết phải làm sao?”

“Ngựa thì em không thiếu, nếu như ông ấy tìm tới, em sẽ đền cho ông ấy mười con tuấn mã!”

“Không được, không được!” Triệu Ung lắc đầu, “em về thảo nguyên, chính là về nhà, còn anh đến thảo nguyên làm gì? Chăn ngựa cho công chúa ư?”

“Đến đó, để làm vua thảo nguyên tương lai!” Na Sa quả quyết đáp.

“A?” Triệu Ung trợn trừng hai mắt, “anh…chỉ là một nô bộc hai bàn tay trắng, đến con người anh đây cũng là của chủ nhân!”

“Nhưng giờ anh đã có em!” Na Sa hai mắt sáng rực, “em là công chúa của thảo nguyên, anh cưới em, thì anh chính là vua thảo nguyên tương lai!”

“Vua của thảo nguyên hiện tại có đồng ý không? Lỡ cha em chê anh thì sao? Lúc đó, thảo nguyên không dung anh, chủ nhân không tha cho anh, chẳng phải anh sẽ sa vào đường cùng?”

“Chao ôi, anh thực là lắm lời!” Na Sa giận dỗi đấm cho Triệu Ung một cái, “cha em sẽ đồng ý! Em là con gái duy nhất của người, người rất cưng chiều em, chỉ cần em vui, người sẽ trăm lần đồng ý!”

“Được rồi!” Triệu Ung không quanh co nữa, nghiêm túc gật đầu, “vì em, anh sẽ liều một phen!”

Sáng sớm hôm sau, Triệu Ung dắt hai con ngựa hôm trước lại, hai người lên ngựa, rời khỏi cổng thành, kẻ trước người sau phi băng băng về phía thảo nguyên mênh mông, thẳng đường về tây. Đến khi trời tối, hai người đã tới bên sông Đại Hắc.

Khi Na Sa dung nhan rạng rỡ bước vào trong lều vua, A Cổ Lạp không còn dám tin vào mắt, Tát Nhân thì quỳ sụp xuống đất, quay về phía núi Đại Hắc vái tạ liên hồi.

“Anh Ưng Tử, mau vào đi!” Na Sa quay ra ngoài, vui vẻ cất tiếng gọi.

Nhưng không nghe tiếng đáp lời.

Na Sa quay trở ra, thấy Triệu Ung đã đi đến tận bờ sông, đang dõi mắt nhìn về phía tây.

Lúc này, bầu không quang đãng, vầng trăng lưỡi liềm lơ lửng giữa trời tây, một ngôi sao sáng rực đang từ từ đi xuống.

Nơi đó, là địa bàn của người Lâm Hồ.

Na Sa tung tăng chạy lại, níu lấy cánh tay Triệu Ung, kéo vào trong lều.

A Cổ Lạp săm soi Triệu Ung một lượt khắp từ đầu đến chân. Triệu Ung đĩnh đạc đứng đó, cũng đáp lại bằng ánh mắt tương tự.

Nhìn Triệu Ung vóc dáng khôi ngô, nét mặt cương nghị, ánh mắt thông tuệ, phong thái thâm trầm, khí độ phi phàm, khiến A Cổ Lạp âm thầm chấn động.

“Này chàng trai, ngươi là…” A Cổ Lạp gật gù, trên mặt giãn ra một nụ cười, hỏi.

“Hãy mau bái kiến phụ vương!” Na Sa khẽ huých Triệu Ung. Triệu Ung khom lưng, vòng tay nói: “Ung Tử người Triệu bái kiến vua của thảo nguyên!”

A Cổ Lạp cười lớn: “Đa tạ ngươi đã đưa con gái ta về. Chúng ta đã tìm nó rất lâu!” Rồi quay vào bên trong, gọi lớn, “Tát Nhân, mau dọn rượu thịt khoản đãi quý khách!”

“Phụ vương,” Na Sa uyển chuyển bước lại bên A Cổ Lạp, chỉ Triệu Ung nói khẽ, “chàng không phải là khách!”

“Ồ?”

“Chàng là…” Na Sa ghé sát tai A Cổ Lạp thì thầm, “là chàng rể mà Na Sa mang về cho cha đấy!”

“A…” A Cổ Lạp giật nảy mình.

“Phụ vương, Na Sa nhất quyết sẽ lấy chàng!” Na Sa giọng đầy kiên định.

Rõ ràng, đây không phải lúc thích hợp để bàn việc trọng đại này, càng không thích hợp để lập tức cự tuyệt. A Cổ Lạp đã định thần lại được, bật cười vài tiếng, đứng dậy đi vào bên trong. Lát sau, cùng với Tát Nhân mang rượu thịt quay ra, rót rượu vào bát, đưa cho Triệu Ung: “Chàng trai, vất vả cho ngươi rồi, hãy uống vài chén đã!”

Triệu Ung cảm tạ, đón lấy uống cạn.

“Ngươi ở đất Triệu mưu sinh bằng nghề gì?” A Cổ Lạp cười hỏi.

“Thưa, trông nhà cho chủ nhân.”

“Ồ, ngươi là…” A Cổ Lạp nhìn sững vào hắn.

“Tôi là gia bộc của chủ nhân!”

A Cổ Lạp cười gượng gạo: “Gia bộc cũng tốt, không phải lo toan cơm áo. Nào, hãy uống tiếp!” Hai người uống thêm vài chén, A Cổ Lạp quay sang Tát Nhân căn dặn: “Hãy sắp xếp chỗ nghỉ cho khách nhân. Khách nhân đã đi một ngày đường, cần có chỗ ngủ.” Rồi nói với Triệu Ung, “ta có chút việc bận, phải ra ngoài một lát.” Đoạn đứng dậy, sải bước ra khỏi cửa.

A Cổ Lạp đi thẳng tới lều của Lặc Cách, kể lại tường tận chuyện vừa xảy ra, rồi than thở: “Chao ôi, cái con bé này, thực khiến người ta đau đầu!”

“A Cổ Lạp,” Lặc Cách nhìn xoáy vào ông ta, gọi thẳng tên mà nói, “tặng vật của Triệu Vương, ta đã mang phân chia cả rồi, tất cả mọi người đều cảm ân Triệu Vương. Kỳ thực, đó không phải là tặng vật, mà là sính lễ của Triệu Vương. Tô Tần đã nói rõ, ta không còn con đường nào khác nữa. Hoặc là chiến tranh với Triệu, hoặc là rời bỏ thảo nguyên, hoặc là hợp thành một nhà với Triệu.”

A Cổ Lạp chau mày.

“Đại vương cũng đã thấy rồi,” Lặc Cách nói tiếp, “Triệu Vương mưu tính sâu xa, chỉ vì chuyện này. Người đã từng nghĩ đến chưa? Những năm vạn kỵ binh, đều tề tựu tại thảo nguyên, ta đâu đủ sức kháng cự! Triệu Vương cho cả nước mặc áo Hồ, rèn kỵ xạ, chính là nhằm vào ta đó. Thần hiểu người Triệu, họ có quân đội chuyên để chinh chiến, còn người của ta rải rác khắp các nhà các hộ, quanh năm chỉ lo chăn nuôi súc vật, đánh ít đánh lẻ còn được, nếu là đại chiến thực sự, ta hoàn toàn không phải đối thủ của họ. Thần to gan nói thẳng, sau khi Triệu Vương thôn tính ta rồi, mục tiêu tiếp theo, chính là Ba Đồ. Ta suy tính gả công chúa cho vương tử Đại Lâm, chính là để phòng người Triệu. Ta đã tính toán kỹ lưỡng mọi bề, chỉ không ngờ công chúa tính khí lại cương liệt đến vậy. Xem ra, tất cả đều là ý thần.”

“Đã hiểu!”

Hai người bàn bạc một hồi, định sẵn sách lược ứng phó, rồi A Cổ Lạp quay trở về lều.

Lúc này, đêm đã về khuya. Triệu Ung đã vào lều khách nghỉ ngơi, còn Na Sa đang kể lại cho Tát Nhân nghe những chuyện đã xảy ra với mình từ ngày bỏ đi, cùng cuộc kỳ ngộ tại đất Triệu, hết lời ca ngợi sự dũng mãnh của Triệu Ung.

“Phụ vương,” vừa thấy A Cổ Lạp quay về, Na Sa đã sốt sắng chạy lại, “cuối cùng thì cha đã về, con chờ cha mãi!”

“Na Sa,” A Cổ Lạp ngồi xuống thảm, “cha cũng có chuyện cần nói với con.”

“Con không nghe đâu, con chỉ cần cha chấp thuận cho hôn sự giữa con và chàng!”

“Na Sa,” A Cổ Lạp nhìn thẳng vào nàng, thần sắc nghiêm nghị, “cha chỉ hỏi con một câu, con có phải là con gái thảo nguyên?”

“Phải!”

“Con có phải là công chúa thảo nguyên?”

“Phải!”

“Con có muốn biết, kể từ khi con bỏ đi, thảo nguyên đã xảy ra chuyện gì?”

Na Sa gật đầu. A Cổ Lạp bèn đem toàn bộ mọi chuyện của thảo nguyên kể cho Na Sa nghe, từ tình cảnh khốn khó do hạn hán, cho đến chuyện người Triệu bày kế, khiến năm vạn kỵ binh Triệu bao vây toàn bộ tráng nam thảo nguyên trong khe núi Mã Lạt, lấy đó để ép họ chấp thuận thành thuộc quốc của Triệu, vân vân. Kể xong rồi, bèn nói: “Na Sa, con đã khôn lớn, không thể ương bướng mãi được. Con là con gái của vua thảo nguyên, con có trách nhiệm phải giữ gìn đất đai đồng cỏ của ta. Trên thế gian này, chỉ có thần của chúng ta che chở cho chúng ta, thần muốn con kết hôn với Triệu Vương!”

Na Sa nước mắt lã chã.

“Con gái,” A Cổ Lạp dịu giọng vỗ về, “chàng trai mà con dẫn về, quả là tráng sĩ, cha rất thích. Cha sẽ giữ cậu ta lại thảo nguyên, nhận làm con nuôi bên mình, đến lúc cha già rồi, sẽ nhường lại ngôi vị cho cậu ta. Nhưng con, con buộc phải lấy Triệu Vương, bằng không, người thảo nguyên ta chỉ còn hai con đường, hoặc là quyết chiến với Triệu, hoặc là từ bỏ thảo nguyên, dời đến Mạc Bắc. Con gái, hơn chục vạn người già trẻ lớn bé, nếu bị dồn vào sa mạc, thì hỡi ôi…” Nói tới đây, chỉ còn biết thở dài, cúi đầu rầu rĩ.

Na Sa cũng cúi đầu rơi lệ một hồi, rồi chợt ngẩng lên, nhìn thẳng vào A Cổ Lạp, cất giọng rành rọt: “Thưa cha, xin hãy nhờ Lặc Cách báo với thần linh, lấy Triệu Vương, con chấp nhận, nhưng phải có một điều kiện!”

“Con cứ nói.”

“Vẫn theo quy tắc của thảo nguyên, hai bên tỉ thí công bằng, con sẽ lấy người thắng cuộc! Nếu không chấp nhận, con sẽ chết!”

“Na Sa…” A Cổ Lạp kêu lên, “người đó là Triệu Vương, chứ không phải vương tử Đại Lâm.”

“Dù có là thiên thần, Na Sa cũng sẽ tuân theo quy củ!” Na Sa dứt khoát ném lại một câu, rồi chậm chạp cất từng bước chân, quay vào buồng ngủ.

Hôm sau, Lặc Cách nơm nớp lo âu, vạn bất đắc dĩ sai người ruổi ngựa chuyển lời của công chúa sang nước Triệu, và lập tức nhận được hồi đáp của Tô Tần, rằng Triệu Vương tôn trọng quy tắc của thảo nguyên, đồng ý giao đấu với người công chúa chỉ định, nếu như thất bại, sẽ chịu nhận thua. Hai bên giao hẹn, tỉ thí tại khe núi Mã Lạt, trọng tài chỉ có một, là Na Sa.

Ba ngày sau, A Cổ Lạp, Lặc Cách, Na Sa và Triệu Ung cùng không ít tuỳ tùng nô bộc lên đường tới khe núi Mã Lạt, ở lại trong lều mà người Triệu đã dựng sẵn. Tô Tần vào gặp A Cổ Lạp và Lặc Cách, nói rằng sân đấu đã chuẩn bị xong xuôi, vào giờ Thìn hôm sau, Triệu Vương sẽ tới.

Sáng sớm hôm sau, Na Sa bưng bữa sáng thịnh soạn gồm sữa ngựa, thịt nướng tới mời Triệu Ung, nhưng Triệu Ung sắc mặt rầu rĩ, không chịu ăn.

“Anh sao thế?” Na Sa hỏi.

“Na Sa…” Triệu Ung buồn bã nhìn nàng, “anh không tỉ thí, được không?” Na Sa cuống lên: “Sao anh có thể không tỉ thí được?”

“Người ta là Triệu Vương, còn anh…chỉ là gia bộc của người Triệu, sao anh có thể tỉ thí ngang hàng cùng Triệu Vương được?”

“Anh nghe đây!” Na Sa giọng rành rọt, “một khi đã bước xuống sàn đấu, thì người đó không còn là Triệu Vương nữa, mà chỉ là đối thủ của anh thôi, chẳng khác gì anh cả.” Rồi chỉ vào mình, “anh hãy nhìn cho rõ, đây là phần thưởng, nếu thắng, anh sẽ có được. Còn nếu thua, đây sẽ là của Triệu Vương. Em đã thề trước thần rồi.”

“Khi Thác Lực đấu với Lâm Hồ, à không, đấu với vương tử Đại Lâm, chẳng phải em cũng thề đấy ư? Nhưng kết quả thì sao?” Triệu Ung nhún vai.

Na Sa nhìn thẳng vào Triệu Ung: “Lần này thì khác, em là trọng tài, xem ai dám làm xằng!”

“Na Sa,” Triệu Ung nhìn lại, “ngộ nhỡ, anh chỉ nói là ngộ nhỡ, Triệu Vương kia trong khi giao đấu, cũng giống như vượng tử Đại Lâm, anh cũng giống như Thác Lực, thì sao? Nếu anh chết, em vẫn sẽ lấy Triệu Vương chứ?”

“Triệu Ung Tử,” Na Sa gằn mạnh từng tiếng, “lẽ nào anh quên kết cục của vương tử Đại Lâm rồi?”

“Chuyện khác nhau đấy!” Triệu Ung lắc đầu, “vương tử Đại Lâm không bao giờ ngờ được em sẽ giết hắn, vậy nên không chút đề phòng. Sự việc đó đã đồn thổi ra ngoài, Triệu Vương kiểu gì cũng có cảnh giác. Em không giết nổi đâu!”

“Em không giết nổi ai, hắn, hay là bản thân em?” Na Sa chỉ vào tim mình, “nếu hắn bắn trúng tim anh,” rút lấy đoản đao, “thì lưỡi dao này sẽ đâm vào đây. Anh lên trời xuống đất, em cũng theo anh!”

“Na Sa…” Triệu Ung cảm động, nhìn nàng đăm đăm hồi lâu, mới ôm quyền mà nói, “vậy em hãy chờ anh!”

Theo quy tắc, trận đầu tiên, vẫn là đấu vật.

Sân đấu trông cầu kỳ hơn nhiều so với ở thảo nguyên. Người Triệu dựng hẳn võ đài, xung quanh quây dây thừng làm lan can. Bên ngoài vòng dây, chỗ của trọng tài được đặt ngay đối diện võ đài, cho Na Sa ngồi đó. Trước mặt Na Sa bày một chiếc án, trên án bày một con chim ưng tạc từ vàng ròng. Đối diện với Na Sa là hai chiếu trải song song, là chỗ ngồi của hai người mai mối, Lặc Cách và Tô Tần. Ngồi cạnh Lặc Cách là A Cổ Lạp, ngồi cạnh Tô Tần là Phì Nghĩa giáp trụ chỉn chu. Có điều, Na Sa lúc này không nhận ra Phì Nghĩa, cũng chẳng còn tâm trí đâu mà quan tâm đó là người quen hay người lạ.

Hai bên trái phải của võ đài, là khán giả đến từ Triệu và Lâu Phiền. Bên nước Triệu, là đội thị vệ của Triệu Vương, bên Lâu Phiền, là đoàn tuỳ tùng của A Cổ Lạp, số lượng tương đương, mỗi bên chừng ba chục.

Trống thúc vang từng đợt, Nhạc Nghị làm tư nghi, dõng dạc hô lớn: “Trận đấu thứ nhất bắt đầu, mời hai dũng sĩ đăng đàn!”

Trong tiếng trống dồn rộn rã, Triệu Ung hiên ngang bước từ bên cạnh lên võ đài, vòng tay vái chào tứ phía. Tiếng vỗ tay, tiếng hò reo lập tức vang rền như sấm, nhất là từ hai bên võ đài. Qua ba hồi trống, trên võ đài vẫn chỉ có một mình Triệu Ung.

Thấy đối thủ vẫn lề mề chưa xuất hiện, Na Sa cười nhạt, đưa mắt nhìn sang Lặc Cách.

Lặc Cách sớm đã bồn chồn nhấp nhổm, đưa khuỷu tay huých khẽ vào Tô Tần bên cạnh, hỏi nhỏ: “Người của các vị đâu?”

Tô Tần hất hàm lên võ đài: “Ở kia. Thế người của công chúa đâu?”

“Sao kia?” Lặc Cách trợn mắt, nhìn lên Triệu Ung, càng hạ thấp giọng, vội nói, “đấy là người của công chúa!”

“Ồ không, không phải, đó là người của chúng tôi!” Tô Tần trịnh trọng nói.

Lặc Cách ngây ra một chốc, mới bàng hoàng vỡ lẽ, vội vã quay sang, ghé tai A Cổ Lạp thì thầm. A Cổ Lạp cũng giật mình kinh hãi, hít ngược vào một hơi, hai mắt trợn tròn nhìn chằm chằm vào Triệu Ung, như thể mới trông thấy lần đầu.

Triệu Ung trên võ đài, trông khác hẳn Triệu Ung trên thảo nguyên mấy ngày trước, oai phong lẫm liệt, khí thế phi phàm, cử chỉ đĩnh đạc, toát lên một vẻ quyền uy khó tả.

Na Sa nhìn ý trung nhân, ánh mắt tràn đầy kính ngưỡng, thi thoảng lại khinh khỉnh liếc về phía người Triệu.

Tiếng trống lại vang lên thúc giục, mà đối thủ bên kia vẫn chưa lộ diện, người xem bắt đầu ngơ ngác, xì xào bàn tán râm ran. Chờ cho hồi trống dứt hẳn, Na Sa đứng dậy, cao giọng tuyên bố: “Trống đã gõ sáu hồi, mà người Triệu vẫn không dám đăng đài, coi như bỏ cuộc. Là trọng tài, ta tuyên bố, trận đấu thứ nhất, thảo nguyên thủ thắng!”

Na Sa lời vừa dứt, Tô Tần đã giơ tay hô lớn: “Người Triệu phản đối!”

“Người Triệu phản đối điều gì?”

“Dũng sĩ của Triệu sớm đã đăng đài, là người thảo nguyên bỏ cuộc, trận đấu thứ nhất, người Triệu thủ thắng!”

Na Sa ngơ ngác nhìn lên võ đài, vẫn chỉ Triệu Ung đứng đó, thì chau mày không hiểu ra sao, bèn nhìn sang Lặc Cách. Lặc Cách vội bước lại, hạ giọng mà nói: “Công chúa, thần đã điều tra rõ, dũng sĩ trên võ đài chính là Triệu Vương đó. Trận này, hai bên cùng thắng!”

Na Sa bàng hoàng chết lặng, đứng như trời trồng, mắt nhìn sững vào Triệu Vương, hồi lâu sau mới hoàn hồn, mặt bỗng đỏ bừng, quay người bỏ chạy.

“Tùng tùng tùng tùng…” Tiếng trống rộn ràng đuổi sát theo nàng.

Ngày mười lăm tháng đó, chính là ngày đại hỷ của Triệu Ung và công chúa Na Sa. Hôn lễ được cử hành ở ngay khe núi Mã Lạt. Năm vạn kỵ binh nước Triệu tưng bừng biểu diễn thuật cưỡi ngựa bắn tên, để mừng cho hôn lễ. Người thảo nguyên được chứng kiến màn phô diễn tráng lệ này, lấy làm kính phục, tận đáy lòng cảm thấy may mắn trước quyết sách anh minh của vua thảo nguyên A Cổ Lạp. Được mời tới dự hôn lễ, còn có đại tư tế của Lâm Hồ, Cáp Thập Cách.

Ngay sau ngày hôn lễ, Tô Tần và Lặc Cách bày tiệc mời Cáp Thập Cách. Trong tiệc, họ nhắc đến hôn sự của vương tử, nói rằng hai người họ muốn làm mai mối, gả công chúa Bình Thành, em gái của Triệu Vương cho vương tử Đại Lâm, mong được Cáp Thập Cách tác thành. Triệu Vương còn hứa, của hồi môn cho công chúa Bình Thành quyết không thua kém phần sính lễ mà Triệu Vương đã tặng cho thảo nguyên, song Đại Lâm cũng phải đáp lễ tương đương, tức chấp thuận làm nước chư hầu của Triệu. Vua của Đại Lâm về sau cũng do Triệu Vương sắc phong, đổi lại, Triệu sẽ giúp Đại Lâm giữ gìn bờ cõi.

Tô Tần cũng giải thích rõ, công chúa Bình Thành năm nay mười chín tuổi, vốn đã gả cho công tử nước Hàn, song mới cưới được nửa tháng thì phu quân đột ngột qua đời, do chưa có con cái nên Triệu Vương lại đón nàng về Hàm Đan. Công chúa xưa nay không thích ngồi xe, ham cưỡi ngựa, ưa cảnh thảo nguyên, nên Triệu Vương quyết định đổi tên Bình Ấp thành Bình Thành, ban tặng cho nàng. Người Hồ vốn không câu nệ chuyện trinh tiết của phụ nữ, mà rất vụ thực. Cáp Thập Cách không chút ngần ngừ, sau khi yết kiến Triệu Vương, nghe nhà vua quả quyết hứa hẹn, bèn lập tức trở về Đại Lâm, đem hôn sự đó bàn với Ba Đồ.

Với Ba Đồ, kỳ thực đã chẳng còn gì để mà bàn nữa. Sự việc đã rõ rành rành, Lâm Hồ gần như không còn lựa chọn nào khác, nên không thể không chấp nhận hôn sự này. Bằng không, được người thảo nguyên giúp sức, Triệu Vương bất cứ lúc nào cũng có thể kiếm cớ, dồn người Đại Lâm vào tuyệt địa.

Đến mùa hè năm đó, sau hôn lễ của công chúa Bình Thành với thái tử Đại Lâm Sát Hãn Bố Hoa, toàn bộ lãnh thổ Lâm Hồ đã trở thành một phần của Triệu. Vũ Linh Vương đặt quận Vân Trung trên đất Lâm Hồ, sáp nhập đất Lâu Phiền với vùng đất rộng lớn của nước Triệu bên ngoài ải Nhạn Môn, đặt thành quận Nhạn Môn, phái thân tín làm quận thú, chiêu mộ thanh niên trai tráng bản địa, lập thành kỵ binh, đặt tướng thống lĩnh. Ba Đồ, A Cổ Lạp đều hạ xuống một cấp làm hầu, quyền lực rút lại thành thực thi chỉ lệnh của Triệu Vương, trực tiếp cai quản sinh hoạt thường ngày của mục dân.

Đến lúc này, nhờ sự trợ giúp của Tô Tần, Triệu Vũ Linh Vương gươm không dính máu đã thu phục được hai vùng đất Hồ rộng lớn là Lâu Phiền và Lâm Hồ, mở rộng lãnh thổ ba nghìn dặm. Trong vài năm sau đó, Triệu Vương giữ đúng lời hứa, huy động nhân lực vật lực, xây dựng hơn hai nghìn dặm tường thành chạy dài theo hướng đông tây, men theo dãy núi Đạt Lan Ca Lạt, đặt vài trăm đài phong hoả, cử binh lính tới trấn giữ, đó là chuyện sau này.

Trong lúc Triệu Vũ Linh Vương và Tô Tần bận rộn thu phục người Hồ đất Bắc, thì Sính Đô nước Sở cũng cờ giong trống mở, dốc sức trù bị cho trận chiến phạt Tần kế tiếp. Máu của tám vạn tướng sĩ lại một lần nữa khiến Hoài Vương phẫn nộ sục sôi. Sau trận Đan Đương, Hoài Vương liên tiếp triệu hồi mấy viên tướng có tham gia trận chiến, bảo họ mô tả cặn kẽ diễn biến trước sau, tiếp đến lại tra soát kỹ lưỡng toàn bộ tấu báo quân tình mà Khuất Cái đã gửi về triều trước đó, sau khi nghiền ngẫm, càng khẳng định rằng chiến lược, chiến thuật của Khuất Cái đều hết sức kín kẽ, không có sơ hở, người Sở bại trận, chỉ vì sự xuất hiện bất ngờ của đám lực sĩ thình lình phá tan thế trận.

Theo lời mô tả của mấy viên tướng, ba lực sĩ kia quả thực sức khoẻ như thần, không ai địch nổi, lại xung trận vào đúng lúc không ngờ, mưu chước đó không phải tầm thường. Hiển nhiên, Khuất Cái đã tận tâm tận lực, có thể nói rằng đã làm tốt nhất trong khả năng có thể. Nếu không nghĩ cách chế phục ba kẻ này, người Sở sẽ không thể đánh tiếp với người Tần.

Tuy nhiên, phải chế phục bằng cách nào?

Hoài Vương suy tính nát óc suốt bao ngày, nghĩ tới không ít phương cách, rồi lại lần lượt phủ định. Đang lúc lấy làm muộn phiền, chợt Cảnh Thuý và vương thúc vào cầu kiến, hơn nữa hai người tìm tới, cũng là vì chuyện này.

“Thần có một kế, dùng lưới!” Cảnh Thuý phấn chấn bẩm tấu.

“Lưới?” Hoài Vương khẽ nheo mắt, “lưới gì?”

“Lưới đánh cá!”

“Ồ…” Hoài Vương lấy làm khó hiểu, chau mày ngẫm nghĩ một chốc, mà vẫn không hiểu lưới đánh cá thì có liên quan gì với việc phá địch. “Đại vương,” Cảnh Thuý giọng cấp thiết, “người xưa có câu, yếu thắng mạnh, nhu khắc cương. Ba kẻ kia đều là hạng người chí cương, dùng binh khí chí cương, trong khi lưới đánh cá là thứ chí nhu chí nhược, được dệt từ sợi gai, chính là khắc tinh chế ngự.”

“Thế nhưng, chế như thế nào?” Hoài Vương vẫn chưa hết băn khoăn.

Cảnh Thuý nhìn sang vương thúc.

“Bẩm vương huynh,” vương thúc tiếp lời, “thần đệ dẫn tới một người, có thể thử vật này.”

“Truyền vào!”

“Nơi này chật hẹp,” vương thúc nhìn quanh cung điện, “mời vương huynh ra ngoài xem xét.”

Hoài Vương cùng mọi người ra khỏi cung điện, tới chỗ rộng rãi, quả nhiên đã có vài người chờ sẵn, trên tay ai cũng cầm tấm lưới. Hoài Vương nhìn kỹ, thấy lưới đó dường như không giống lưới bắt cá, dây đan đều to như chiếc đũa, se bằng gai, mắt lưới to ngang đầu người, không có giềng lưới, cao hơn hai trượng, rộng hơn ba mươi trượng, khi trải rộng ra, giống như một tấm vải gai khổng lồ mới tháo xuống khỏi khung cửi.

Mỗi đầu lưới có hai người giữ, dùng sào tre chống lưới lên, kéo căng, di chuyển một cách nặng nhọc.

“Là thế nào vậy?” Hoài Vương nhìn một lát, đưa tay chỉ vào mấy kẻ đang ì ạch kéo lưới, chau mày hỏi.

“Bẩm đại vương,” Cảnh Thuý đáp, “lưới này rất lớn, sức người thường không kéo nổi, nhưng sức ngựa thì được. Trên chiến trường, ta sẽ buộc ràng hai đầu lưới vào xe chiến do tứ mã kéo, căng lưới rộng ra, lao về phía đó, quây kín chúng lại, dù sức có khoẻ đến mấy, vướng phải lưới này, cũng chỉ còn cách bó tay chờ trói.”

Nghe tới đây, Hoài Vương mới bừng hiểu, tấm tắc khen ngợi: “Hay lắm, hay lắm!” Ngẫm nghĩ một lát, lại căn dặn, “Cảnh tướng quân, việc này không thể khoa trương, cần hết sức bí mật, hãy cho dệt thêm vài tấm lưới giống như vậy, nếu tên thái tử kia còn dám lộ diện trước trận, lập tức bắt sống!”

“Thần kính cẩn tuân mệnh!”

“Đi, hãy vào trong điện bàn bạc!” Hoài Vương sốt sắng giục giã.

Ba người quay vào trong điện, Hoài Vương lấy làm vui mừng, ôm quyền hướng vào Cảnh Thuý mà nói: “Cảnh tướng quân, thực không ngờ khanh lại nghĩ ra được diệu kế này!” Rồi gật gù tán thưởng, “giờ thì đã có thể bàn sách lược phạt Tần được rồi!”

“Hồi bẩm đại vương,” Cảnh Thuý vòng tay đáp, “kế này không phải do thần nghĩ ra!”

“Ồ?” Hoài Vương ngạc nhiên, “vậy là của ai?”

“Điền Kỵ!”

“Người này hiện đang ở đâu?” Hoài Vương vội hỏi.

“Trong địa hạt của vương thúc.”

“Ồ!” Hoài Vương hết sức bất ngờ, nhìn sang vương thúc, “Điền tướng quân tới chỗ hiền đệ bao giờ thế?”

“Thần cũng không biết.” Vương thúc đáp, “nghe nói là sống ở bên đầm Kỷ Lăng đã mấy năm rồi. Nếu không phải Cảnh tướng quân nói ra, thần đệ cũng không hay biết.”

Hoài Vương nhìn sang Cảnh Thuý.

“Bẩm đại vương,” Cảnh Thuý tiếp lời, “thần đúng là có biết Điền tướng quân sống ở đó. Từ sau khi rời khỏi Sở, không ai biết Điền Kỵ đi đâu nữa. Mấy năm trước, mạt tướng bại trận ở Tích Thuỷ, chán chường tuyệt vọng, trên đường trở về, đi qua Kinh Môn, có một ngư dân tìm tới tận cửa, xách theo giỏ cá, giảng giải cho thần biết cớ sao lại bại trước Tần, khiến thần vỡ vạc ra không ít…”

“Người đó hẳn là Điền Kỵ?” Hoài Vương cắt lời.

“Chính phải.” Cảnh Thuý đáp lời, “Điền Kỵ lần đầu tới Sở, đã nương nhờ hàn xá của thần, hai bên trò chuyện rất tâm đầu ý hợp. Lần này tới Sở, tướng quân không còn tìm đến thần nữa, mà lại tới đầm hồ làm ngư ông.”

Hoài Vương phá lên cười lớn: “Chẳng trách ông ta nghĩ ra được kế khắc chế bằng lưới đánh cá!”

“Còn một chuyện nữa cần bẩm báo đại vương,” Cảnh Thuý nói tiếp, “lần trước Khuất tướng quân phạt Tần, ngang qua bảo địa của vương thúc, thần có mách nước tướng quân ghé qua ngư thôn thăm Điền Kỵ, tướng quân có tới đó. Nếu thần đoán không lầm, trong trận Đan Dương, kế sách ngự địch của Khuất tướng quân, có lẽ là mưu của Điền Kỵ.”

“Thảo nào!” Hoài Vương hít sâu vào một hơi, hồi lâu sau, mới tấm tắc khen ngợi, “tướng quân quả nhiên là tướng quân, có thể đặt xuống, cũng có thể nhấc lên!”

“Vương huynh,” vương thúc lên tiếng, “lần này phạt Tần, dũng sĩ Đại Sở ta không hề thua kém quân Tần. Ta tuy tử trận tám vạn, song người Tần cũng tổn thất không dưới sáu vạn binh. Đại Sở ta không dưới một nghìn năm trăm vạn dân, người Tần chưa đến năm trăm vạn. Đại Sở Ta đất đai năm nghìn dặm, còn đất của người Tần, cộng cả Ba Thục, không tới hai nghìn. Đại Sở ta đất đai bằng phẳng, nơi nơi đều là vựa cá vựa lúa; đất của Tần, tuy có Thục Xuyên, Quan Trung trồng nhiều lúa gạo, song so với Đại Sở ta, đâu thể sánh bằng. Nếu như phạt Tần, thứ ta thiếu hụt, không phải lương thảo quân nhu, không phải nhuệ binh mãnh tướng, mà là đại tướng cầm quân! Nay Điền Kỵ ở Sở, có lẽ là trời ban cho đại vương đó!”

“Hiền đệ nói rất phải!” Hoài Vương chỉ vào tấm lưới đánh cá, “hiền đệ hãy nhanh chóng cho người phỏng theo lưới này, đan hai mươi chiếc!” Lại nhìn sang Cảnh Thuý, “còn Cảnh tướng quân, hãy mau mau tới ngư thôn, có lời mời Điền Kỵ tướng quân, nói rằng quả nhân thành tâm bái làm chủ tướng phạt Tần, còn Cảnh ái khanh làm phó tướng, khởi quân cả nước, san bằng Tần Xuyên!”

“Thần lập tức đi ngay!”

Cảnh Thuý từ biệt Hoài Vương, đánh xe thẳng tới đất phong của Kỷ Lăng Quân, tìm đến ngư thôn.

Cổng nhà Điền Kỵ đóng kín, trong nhà không thấy bóng người, đến bầy ngỗng lớn và chó giữ nhà cũng không thấy đâu nữa. Cửa nhà không khoá, Cảnh Thuý mở cửa, vào phòng khách ngồi, chờ Điền Kỵ về. Nào ngờ chờ tới tận tối mịt, vẫn không thấy người đâu. Nhìn trong thôn, nhà nhà đều nổi lửa, ngư dân đánh cá dưới đầm đã về nhà hết, Cảnh Thuý lấy làm lo lắng, hỏi thăm láng giềng, mới biết từ nửa tháng trước, Điền Kỵ đã rời khỏi ngư thôn, nói rằng phải đi xa.

Cảnh Thuý bàng hoàng chấn động.

Nửa tháng trước, chính là lúc Cảnh Thuý nhận được tấm lưới mà Điền Kỵ nhờ người mang tới. Rõ ràng, lưới đó là do Điền Kỵ tự tay đan thành.

Cảnh Thuý quay trở vào nhà Điền Kỵ, châm đèn lồng, cẩn thận tìm kiếm trong nhà một hồi, quả nhiên thấy trên bàn thờ giữa phòng khách có một ống tre, bên ngoài viết vài chữ: “Gửi Cảnh Thuý huynh”.

Cảnh Thuý vặn mở ống tre, thấy bên trong có mấy tấm thẻ tre, viết rằng: “Cảnh Thuý huynh, lão ngư này đoán trước rằng huynh sẽ tới, nên để lại thư này từ biệt. Lão ngư này năm xưa vô trí vô mưu, tranh dũng hiếu chiến, khiến nay tiếc nuối khôn nguôi. Nay tuổi đã xế chiều, lấy làm hối hận, mới quyết lòng bầu bạn với sông hồ, lánh xa thế tục đua tranh, làm một ngư ông nơi bến nước. Lão ngư vốn là người Tề, nay uống nước Sở, ăn gạo Sở, cưới vợ Sở, bắt cá Sở, không biết lấy gì báo đáp, mới tự tay đan lưới, gửi tặng Sở Vương, biết đâu sẽ chế ngự được ba kẻ hung hãn của bạo Tần. Hãy bảo trọng, lão ngư Điền Kỵ.”

Cảnh Thuý mang theo bức thư, vội vã đi thâu đêm trở về Sính Đô, sáng hôm sau vào yết kiến Hoài Vương.

Hoài Vương đọc xong, thở dài thườn thượt, nói với Cảnh Thuý. “Điền tướng quân đã quyết chí lánh đời nơi sông nước, hà tất phải miễn cưỡng. Giờ nếu phạt Tần, theo ý ái khanh, người nào thích hợp làm tướng?”

“Chiêu Dương!” Cảnh Thuý đáp ngay không do dự.

“Phải!” Hoài Vương gật đầu, “quả nhân cũng nghĩ tới người này.” Nhìn sang nội doãn, “hãy vời Chiêu Tuy.”

Trần Chẩn lưu lại bên đầm Vân Trạch cũng mấy tháng rồi, trong lòng đã chán, bèn sai Lâm Đông chuyển hết đồ đạc lên thuyền, quyết ý từ biệt. Chiêu Dương khuyên nhủ mãi mà không giữ lại được, đành phải bày tiệc tiễn đưa.

Yến tiệc bày trong gác cao trên đỉnh núi bên cạnh thực ấp của Chiêu Dương, nơi này rộng rãi, bày được ba chiếu lớn. Chiếu thứ nhất bày trong chính đường, chỉ có hai người, Trần Chẩn và Chiêu Dương. Chiếu thứ hai bày ở chái tây, dành cho nữ gia quyến, khách chính là Y Na, Đào Hồng, do tiểu thiếp mới nạp của Chiêu Dương bồi tiếp. Chiếu thứ ba bày ở chái đông, khách chính là Lâm Đông, do Hình Tài bồi tiếp.

Đến khi rượu đã ngà ngà, bỗng thấy một gia bộc hối hả lên núi, đưa cho Hình Tài một bức mật thư.

Hình Tài đọc qua, vội vã mang tới chính đường, mặt mày hớn hở reo lên: “Chúa công, có tin vui!”

Chiêu Dương đón lấy, mở ra xem, rồi chỉ sang Trần Chẩn, cười lớn mà nói: “Trần đệ chuyến này không đi được nữa rồi!”

“Ồ?” Trần Chẩn ngạc nhiên nhìn Chiêu Dương. “Hãy tự đọc đi!” Chiêu Dương đắc ý đưa bức thư cho Trần Chẩn.

Trần Chẩn đỡ lấy, thì ra là mật thư do đương kim lệnh doãn Chiêu Tuy gửi tới, viết trên một tấm lụa tốt, báo tin Sở Vương muốn trọng dụng Chiêu Dương làm chủ tướng phạt Tần, mời về Sính gấp, còn nói sứ giả của nhà vua sắp tới, Chiêu Tuy vội gửi thư trước một bước, để Chiêu Dương biết trước mà chuẩn bị.

Trần Chẩn trả lại bức thư, khép mắt một hồi, rồi mới nhìn sang Chiêu Dương: “Xem ra, Chiêu huynh rất muốn trở về!

“Đương nhiên phải trở về chứ!” Chiêu Dương tràn đầy hăng hái, “cuối cùng thì Chiêu mỗ cũng chờ được đến ngày hôm nay!”

Trần Chẩn đưa hai tay lên, khe khẽ vỗ vào nhau, phát ra vài tiếng rời rạc chẳng có lấy một chút khí thế.

“Trần đệ?” Nụ cười tắt ngấm trên mặt Chiêu Dương.

Trần Chẩn thôi vỗ tay, lại chặc lưỡi vài cái.

“Đừng có chặc nữa!” Chiêu Dương nôn nóng, “có lời gì xin cứ nói ra!” Rồi quay sang Hình Tài vẫn đứng đó đợi lệnh, “mau chuyển lời, Trần đại nhân không đi nữa, toàn bộ hành lý, chuyển hết trở về.”

“Tuân lệnh!”

Hình Tài quay người, vừa bước được vài bước, Trần Chẩn đã gọi giật sau lưng: “Hãy khoan!”

Hình Tài khựng lại, ngoảnh đầu nhìn. Trần Chẩn vòng tay nói: “Ông hãy về chiếu uống rượu tiếp đi, hành lý cứ để trên thuyền, lát nữa chuyển cũng không muộn!”

“Vâng!” Hình Tài quay trở về tiệc.

“Trần đệ?” Chiêu Dương lại hỏi.

“Chiêu huynh,” Trần Chẩn nhìn sang Chiêu Dương, “thực sự muốn về ư?”

“Không được về sao?”

“Được!”

Chiêu Dương bật cười: “Vậy thì tốt rồi.”

“Có điều, chữ ‘được’ này, vẫn phải có vài điều kiện.”

“Điều kiện gì?”

“Đệ hỏi, huynh đáp, nếu đều đáp được, có thể quay về.”

“Hỏi đi!” Chiêu Dương nâng chén nhấp một ngụm, rồi ngồi ngay ngắn, sẵn sàng đối đáp.

“Câu hỏi thứ nhất, Chiêu huynh có muốn chết bất đắc kỳ tử, không chốn vùi thây?” Trần Chẩn hỏi xong, cũng nâng chén, đưa lên bên miệng.

“A…” Chiêu Dương kinh ngạc, trợn trừng mắt nhìn Trần Chẩn.

“Câu hỏi thứ hai,” Trần Chẩn uống cạn, lại tiếp, “Chiêu huynh có muốn ghi danh vào sử sách Đại Sở như một kẻ thất bại?”

Chiêu Dương hít ngược vào một hơi dài.

“Câu hỏi thứ ba,” Trần Chẩn lại châm một chén, “Chiêu huynh vẫn cảm thấy ông trời cho huynh chưa đủ?” Chiêu Dương từ từ cúi gằm mặt xuống.

“Chiêu huynh,” Trần Chẩn ngửa cổ dốc chén rượu vào miệng, nuốt xuống đánh “ực”, rồi nhìn thẳng vào Chiêu Dương, “huynh lớn tuổi hơn Chẩn, nhưng Chẩn dùng miệng lưỡi, chỉ cần môi miệng còn mấp máy được, có già nữa cũng chẳng lo gì, nhưng huynh thì sao? Huynh dùng đao thương, cái khác chưa nói, chỉ riêng chuyện đường xa gập ghềnh trắc trở, liệu còn chịu đựng nổi không? Hơn nữa, huynh lần này đánh Tần, liệu có chắc mình đánh thắng?”

“Lão đệ…” Chiêu Dương siết chặt tay quyền, “cho rằng tại hạ sợ người Tần? Tại hạ chỉ là nghe theo lão đệ, nên không đánh thực!”

“Chà!” Trần Chẩn lại chép miệng vài cái, “này Chiêu huynh, này Chiêu đại nhân, bất kể huynh có thích nghe hay không, tại hạ vẫn cứ phải nói vài lời khó nghe. Nếu như thực sự giao chiến với Tần, chớ nói là với tuổi tác của huynh hiện tại, dù huynh có trẻ lại ba chục tuổi nữa, cũng chưa chắc đã thắng nổi đâu!”

“A!” Chiêu Dương nghe mà giận dữ, tay quyền đấm mạnh xuống án, “sở dĩ tại hạ muốn trở về, chính vì muốn thử sức một phen, muốn đánh thực một trận với người Tần.”

“Dựa vào đâu?” Trần Chẩn nhìn xoáy vào Chiêu Dương.

“Dựa vào ba mươi lăm vạn dũng sĩ mà đại vương giao phó!”

“Than ôi,” Trần Chẩn thở hắt ra, “Chiêu huynh, tại hạ thực lòng không muốn khiến huynh bị tổn thương, nhưng…giờ thì, tại hạ đành bất chấp vậy. Dù sao tại hạ cũng sắp đi rồi, lời này, vẫn cứ phải nói thẳng, huynh nghe hay không, thì tuỳ.”

“Trần đệ cứ nói.”

“Theo như Chẩn thấy, với tài khí của Chiêu huynh, cùng lắm chỉ đủ để thống lĩnh mười vạn quân. Nếu cho huynh hai mươi vạn, là tai hoạ; còn ba mươi lăm vạn, chính là đại hoạ!”

“Lão đệ…” Chiêu Dương mặt mày tím tái, ngồi thở phì phò một hồi, rồi nhấc hồ rượu lên, ngửa cổ dốc thẳng vào họng, đoạn ném đánh choang xuống đất, “thử hỏi lão đệ, chỉ tính riêng trận chiến diệt Việt, tại hạ cầm bao nhiêu quân?”

“Trận chiến diệt Việt là do Chiêu huynh thống lĩnh ư?” Trần Chẩn không nể nang gì nữa, “đại chiến, quan trọng là ở trù hoạch sách lược, trận chiến diệt Việt, Chẩn theo sát đầu đuôi, Chiêu huynh hãy nói thử xem, huynh đã trù hoạch được sách lược gì? Từ đầu tới cuối, tất cả đều là Trương Nghi bày mưu tính kế. Người Việt, là do Trương Nghi dụ tới; cạm bẫy, là do Trương Nghi bày sẵn. Chiêu huynh tuy là chủ tướng, chẳng qua chỉ phụng mệnh điều binh mà thôi, nói thẳng ra, chính là nghe theo lệnh Trương Nghi!”

Chiêu Dương cứng họng không nói được lời nào.

“Lại nói thêm về những trận chiến khác mà Chiêu huynh nắm quyền chủ tướng.” Trần Chẩn nói tiếp, “gập ngón tay mà đếm, tính là đại chiến, chỉ có vài trận sau đây. Hai lần phạt Tống, lần thứ nhất dẫn sáu vạn quân, gặp Điền Kỵ dẫn quân cứu viện, Chiêu huynh bèn rút quân về. Lần thứ hai phạt Tống, trong tay Chiêu huynh, thực chất cũng chỉ có mười vạn binh, số quân còn lại, đều là hậu viện. Kết quả thì sao? Thất bại trước Bàng Quyên và Tôn Tẫn, không những tổn thất vài vạn binh mã, còn để mất trọng ải Hình Sơn, phía họ Cảnh quân mất tướng chết, từ đó lụn bại không thể vực dậy. Sau đó đến trận Tương Lăng, Chiêu huynh, đây là trận chiến tuyệt diệu nhất trong cuộc đời huynh, nhưng hãy nói thực lòng, trận chiến này, huynh có thủ thắng nhờ vào thực lực? Nếu không nhờ gặp may vì Ngụy đại bại ở Mã Lăng, nếu không sắp đặt nội ứng trong thành từ trước, thì liệu huynh có thể?” Nói đến đây thì dừng lại, quay đi.

Chiêu Dương nghe mà uất nghẹn, lồng ngực căng tức, hồi lâu thở không ra hơi, như sắp nổ tung đến nơi.

“Chiêu huynh!” Trần Chẩn liếc xéo Chiêu Dương, lại bồi thêm một đòn, “tài thấp mà chí cao, không đủ; sức yếu mà ham lớn, sẽ nguy. Chiêu huynh đã từng này tuổi rồi, xin hãy nghe Chẩn một câu, cứ ở yên trong bảo địa này mà an hưởng tuổi già. Tịch dương có đẹp cũng là hoàng hôn, Chiêu huynh không thể liều mạng được nữa.” Dừng lại một thoáng, “mà Chiêu huynh giờ đây cũng đâu cần thiết phải liều mạng nữa, đúng không?”

“Trần đệ nói đúng!” Cơn phẫn uất của Chiêu Dương đã được Trần Chẩn xoa dịu, ông ta thở hắt ra một hơi dài, từ từ điều hoà lại hơi thở, “người hiểu tại hạ, là lão đệ; người thật lòng với tại hạ, cũng là lão đệ!” Nói đoạn đứng dậy, nhặt hồ rượu dưới đất lên, ôm vò đổ đầy, châm ra hai chén, “hãy cạn!”

Hai người cùng cạn.

“Thân là dân nước Sở, quốc gia có nạn, không thể không gánh vác.” Chiêu Dương tiếp lời, “nghe Chiêu Tuy nói, sứ giả của đại vương mấy ngày nữa sẽ tới, tại hạ…đâu có thể làm con rùa rụt cổ? Trần đệ, hãy chỉ cho ngu huynh nên ứng phó thế nào?”

“Đại vương ban chiếu mời, là coi trọng, Chiêu huynh đương nhiên không thể từ chối. Không những không thể từ chối, mà còn nên hăng hái sục sôi, mang thân bệnh tật lên thuyền. Rồi sau đó thì, quân gia Hình Tài trong nhà, và cả tiểu mỹ nhân mới nạp, mỗi người ôm một bên chân Chiêu huynh, khóc lóc van nài ầm ĩ. Chiêu huynh phải lớn tiếng mắng mỏ họ, mắng cho thật hăng, cho đến khi Chiêu huynh ngã lăn ra chết ngất.”

“A…” Chiêu Dương chau mày, “nhưng tại hạ đâu có bệnh tật gì?”

“Người ta ai mà không sinh bệnh,” Trần Chẩn bật cười hinh hích, “huống hồ thân thể Chiêu huynh đây cũng đâu phải là sắt đá!”

Cơm no rượu say rồi, cả nhà Trần Chẩn vẫn lên thuyền ra đi.

Tối đến, Chiêu Dương không cho tiểu thiếp hầu hạ, mà nằm một mình, giữa đêm mót tiểu, mình trần ra ngoài, hứng gió đêm lạnh giá đúng hai khắc, cho đến khi toàn thân lạnh cóng run rẩy, sống lưng lạnh buốt, hai hàm răng va vào nhau lập cập, mới quay vào giường, trùm kín chăn nằm cho tới sáng.

Sáng hôm sau, Chiêu Dương đổ bệnh thực, toàn thân mềm nhũn, sốt hầm hập, ho sù sụ không dứt. Hình Tài mời thầy lang, bắt mạch kê đơn, sắc thuốc cho uống. Chiêu Dương uống liền vài bát, nhưng vẫn không hết sốt.

Cứ thế sốt hầm hập tới ngày thứ ba thì sứ giả tới, Chiêu Dương lúc này đã bắt đầu mê sảng, nói năng lảm nhảm.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử