Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 62
Dựa thế mạnh, Trung Sơn gây hấn biên cương
Bởi khinh suất, nước Triệu gặp nguy ba phía

❊ ❊ ❊

Huệ Thi vừa đi khỏi, Trương Nghi đã lập tức dọn ngay vào phủ tướng quốc. Trong triều đường, vị trí của Trương Nghi ở phía sau thái tử Thân, bên trái Bàng Quyên. Trong suốt ba mươi năm Huệ Vương chấp chính, lần đầu tiên giữa tướng quốc và tướng quân có sự hoà hợp.

Trương Nghi nhiệm chức tướng quốc chưa được bao lâu, đã hợp mưu với Bàng Quyên, xúi giục Huệ Vương liên tiếp hạ chiếu thư, hoàn toàn theo đúng ý nguyện của Bàng Quyên, thanh lọc một lượt tất cả các đại phu và quan lại cấp quận huyện trở lên, rồi lấy danh nghĩa củng cố quốc gia để lựa chọn và bổ nhiệm các quan lại chủ chiến. Còn với một loạt các quan lại không chủ chiến như Chu Uy, hoặc chỉ cho hư chức, hoặc bãi chức, dọn sạch phần lớn chướng ngại vật trên con đường khuếch trương võ bị của Bàng Quyên. Không đầy một tháng, khắp trong triều ngoài nội, trên dưới không còn nghe lời phản đối, trong ngoài doanh trại, sát khí bừng bừng.

Tiếp đến, Tần Vương phái Sư Lý Tật đi sứ Ngụy, Trương Nghi và Tần kết minh ước, bí mật định ra sách lược diệt Triệu.

Bàng Quyên chiếu theo minh ước, điều chỉnh việc phòng ngự Hà Tây, thu hồi võ binh phạt Tần, âm thầm lên kế sách phạt Triệu.

Tần, Ngụy kết minh chưa đầy nửa tháng, ba vạn thiết kỵ quân Tần đã mượn đường nước Ngụy, hành quân dọc theo thung lũng sông Phần Thuỷ, tiến sát nước Triệu, hạ trại ở một dải đầm Đại Chiêu, núi Hồ Kỳ cách Tấn Dương trăm dặm, rêu rao ra ngoài rằng, họ đã mua lại vùng đồng cỏ rộng lớn giữa núi Hồ Kỳ và đầm Đại Chiêu từ đám lái buôn ngựa người Bạch Địch, nên tới đây nuôi ngựa, luyện ngựa.

Xét về lịch sử, từ phía đông Hà Thuỷ tới thung lũng sông Phần Thuỷ đích xác là địa bàn của người Bạch Địch, tuy nhiên, toàn bộ tộc Bạch Địch đã di dời sang phía đông từ hơn hai trăm năm về trước, men theo khe Tỉnh Hình qua núi Thái Hàng, xây dựng nên nước Trung Sơn hiện nay ở phía đông chân núi Thái Hàng. Thung lũng Phần Thuỷ hiện nay, về cơ bản thuộc phạm vi thế lực của người Triệu. Đám lái buôn ngựa người Bạch Địch lại nói với người Tần như vậy, còn lập cả khế ước, trắng trợn tuyên bố rằng vùng đất này là đất tổ tông của nhà mình, thái độ vô cùng ngang ngược, nói trắng ra, đây chính là cái cớ ngang tàng mà người Tần đặt ra.

Tấn Dương là đất phát của Triệu thất, cũng là Tây Đô của nước Triệu, còn là trung tâm quân sự duy nhất phía tây núi Thái Hàng của Triệu, được gọi là đại bản doanh cuối cùng của nước Triệu. Năm xưa họ Trí diệt Triệu, Triệu Giản Tử đã cố thủ thành này, mới có thể trụ vững tới thời khắc cuối cùng, và liên minh với hai nhà Hàn, Ngụy, xoay chuyển bại cục thành công, tiêu diệt họ Trí. Người Tần lần này tới đây, mục tiêu rành rành là Tấn Dương, mà Tấn Dương đối với nước Triệu, tuyệt đối không thể mất. Triệu Túc Hầu hay tin, vội vã phái thượng đại phu Lâu Hoãn tới Hàm Dương điều đình, đồng thời điều động một vạn quân trấn thủ Thượng Đảng tới hỗ trợ phòng thủ Tấn Dương, chỉ lệnh Triệu Báo cảnh giới người Tần, chuẩn bị chiến tranh ngự địch. Chẳng mấy chốc, thung lũng Phần Thuỷ đã người xe rậm rịch, lòng dân hoang mang.

Sau khi liên tiếp xuống đòn, Trương Nghi bèn giao lại tất cả quốc sự nước Ngụy cho Bàng Quyên, còn mình cải trang thành lái buôn đồ da, trà trộn vào đội ngũ thương nhân tới nước Trung Sơn, vượt qua biên giới nước Triệu, tiến vào lãnh thổ Trung Sơn.

Hơn một năm qua, Trung Sơn Vương Cơ Hấn chẳng khác nào như ngồi trên đống lửa.

Lửa giận của Cơ Hấn bắt nguồn từ người Triệu. Tháng chạp năm ngoái, Trung Sơn Thành Vương quy thiên, Cơ Hấn chưa đầy mười sáu tuổi vừa lên ngôi kế vị, quân lính trấn giữ Hạo Ấp biên giới nước Triệu phía bắc Hoè Thuỷ bất ngờ đột kích ba ngôi làng, giết hại hơn mười người, bị thương hơn trăm người, nguyên nhân là ngựa chiến do họ chăn thả ngoài đồng cứ thi thoảng lại bị bắt trộm, mấy ngày gần đó mất liền hơn chục con. Một tên trộm ngựa bị bắt quả tang, thẩm tra được biết, đó là một tên trộm ngựa lâu năm ở thôn gần đó, bọn chúng đã cấu kết thành băng nhóm, chuyên trộm ngựa rồi mang sang nước Tề bán. Binh lính áp giải tên trộm đi thương thảo, hòng đòi lại ngựa, song trên đường đi, bất ngờ bị dân chúng tấn công, kẻ trộm ngựa nhân lúc hỗn loạn đã chạy thoát. Lính Triệu về gọi quân chi viện, ban đêm tập kích ba thôn, dẫn tới xung đột.

Trộm ngựa là một chuyện, người Triệu nhân lúc Trung Sơn có đại tang xuất binh khiêu khích lại là chuyện khác. Khắp nước Trung Sơn trong triều ngoài nội đều căm giận, Cơ Hấn ngựa non háu đá hoả bốc ngùn ngụt, trong cơn thịnh nộ đã hạ chỉ đánh trả. Lính thú biên giới Trung Sơn tấn công năm ngôi làng của người Triệu, giết hại hơn trăm người, bị thương gần nghìn người, đến đàn bà trẻ nhỏ cũng không tha. Người Triệu nổi trận lôi đình, ba nghìn lính ở bờ nam Hoè Thuỷ lập tức tiến vào Hạo Ấp ngay trong đêm, thực hiện một cuộc báo thù rầm rộ hơn nữa với Trung Sơn, giết hại hàng trăm người, bị thương vô số. Biên giới Trung Sơn cấp báo truyền về liên tiếp, Trung Sơn Vương điều binh khiển tướng, tướng sĩ hai bên dựng luỹ đối đầu, gươm tuốt vỏ nỏ giương dây. Mắt thấy một cuộc đại chiến đã khó lòng tránh khỏi, tướng quốc Trung Sơn là Tư Mã Điêu vội vã sai bề tôi thân tín tới Hạo Ấp, đàm phán cùng tướng quân Triệu, cuối cùng cũng khiến cục thế căng thẳng tạm thời dịu bớt.

Nhưng người Trung Sơn không ai không hiểu, giữa họ và người Triệu đã không còn đường hoà hoãn nữa. Khối nhọt này sớm đã căng mủ, không nhổ không xong. Có thể nói, khối u nhọt này bắt nguồn từ nước Tấn, đã bắt rễ ngay từ thời Xuân Thu.

Tiền thân của người Trung Sơn là người Tiên Ngu, tiền thân của người Tiên Ngu là người Bạch Địch. Người Bạch Địch họ Cơ, có thuyết cho rằng là hậu duệ của Tất Vạn Công, dòng dõi đích mạch của Chu Văn Vương; cũng có thuyết cho rằng là hậu duệ của Quắc Thúc, em trai Chu Văn Vương, song dù là thuyết nào, Bạch Địch đều có quan hệ máu mủ với Văn Vương nhà Chu, xứng đáng là vương mạch chính tông, sống ở lưu vực Phần Thuỷ phía đông Hàn Thuỷ. Sau đó, có lẽ là vào thời Chu Tuyên Vương, người Bạch Địch di chuyển về phía đông bắc đến sông Tiên Ngu, từ đó gọi là người Tiên Ngu. Sông Tiên Ngu chính là chi lưu phía bắc của sông Hô Đà. Vùng đất này nằm ở phía tây núi Thái Hàng, là lòng chảo giữa núi, địa thế bằng phẳng, cỏ mọc tốt tươi, bốn bề hiểm trở, xứng đáng là một phương phúc địa. Tuy nhiên, tới giữa thời Xuân Thu, nước Tấn hưng khởi, người Tiên Ngu vừa hay nằm trên tuyến đường trọng yếu để người Tấn bành trướng ra ngoài, vì thế buộc phải tiếp tục di chuyển về phía đông, men theo khe Tỉnh Hình vượt qua núi Thái Hàng, dừng chân ở thành Trung Nhân bên ngoài Tỉnh Hình, chính thức lập nước. Do trong thành Trung Nhân có núi, nên người Tiên Ngu gọi nước mới của mình là nước Trung Sơn. Tuy nhiên, lòng tham của người Tấn không chỉ dừng ở đó, sông Tiên Ngu chẳng qua chỉ là một hành lang, thứ mà họ thực sự khao khát, chính là vùng đất màu mỡ ở phía đông núi Thái Hàng, phía tây Hà Thuỷ, gần như muốn gom toàn bộ vùng đất hình mặt bàn được Hà Thuỷ bao quanh ba phía này vào bản đồ của Đại Tấn, cũng có nghĩa là, người Tấn đang mưu đồ xây dựng một bá quốc siêu cường tây tới Hà Tây, nam tới Hào Hàm, đông tới Hà Thuỷ, bắc tới hoang mạc. Chính vì điều này, người Trung Sơn đang chiếm giữ cửa ải trọng yếu Tỉnh Hình một lần nữa lại trở thành chướng ngại vật, người Tấn truy đuổi liên tục, chinh phạt triền miên. Sau khi ba nhà phân Tấn, nước Triệu có được Hàm Đan, mở rộng về phía bắc, sau khi tiêu diệt nước Hình, trực tiếp đối mặt với Trung Sơn. Người Triệu nhiều lần thảo phạt, người Trung Sơn không có đường lui, chỉ dựa vào địa thế hiểm trở để cố thủ. Người Triệu chinh phạt không được, thấy người Ngụy cũng đang dòm ngó, Triệu Hầu bèn nảy ra một ý, cho người Ngụy mượn đường. Ngụy Hầu vui mừng khôn tả, phong Nhạc Dương, Ngô Khởi làm tướng, đưa quân chinh chiến đường xa, huyết chiến ba năm, cuối cùng giết chết Trung Sơn Vũ Công, diệt nước Trung Sơn. Người Triệu không cam tâm để người Ngụy độc hưởng Trung Sơn, lại âm thầm trợ giúp hậu duệ của Vũ Công là Cơ Hoàn đánh đuổi người Ngụy, khôi phục Trung Sơn. Người Triệu dã tâm thế nào, người Trung Sơn đều hiểu, do vậy, sau khi đánh đuổi người Ngụy, Hoàn Công lại nhiều lần tiến đánh người Triệu, đoạt lại ải Tỉnh Hình, xua đuổi người Triệu qua Hoè Thuỷ. Để vớt vát chút thể diện, người Triệu ỷ mạnh phát động chiến tranh, cuối cùng đã chiếm được bờ bắc Hoè Thuỷ, đoạt được Hạo Ấp, thọc sâu vào tận ruột gan của Trung Sơn. Người Trung Sơn coi Hạo Ấp là mảnh xương độc mắc trong cổ họng, chỉ muốn nhổ bỏ sớm ngày nào hay ngày đó, song khổ một nỗi quốc lực không đủ, chỉ biết im lặng nuốt giận, không dám tuỳ tiện gây chiến.

Hoạ đã khó bề tránh khỏi. Mảnh xương kia nhân lúc vua mới nhỏ tuổi non nớt, đứng còn chưa vững, đã phát tác tức thì. Vào ngày đại tế tiên vương nhập thổ tròn năm, Trung Sơn Hấn Vương đợi buổi tế kết thúc, đã đặc biệt giữ hai vị trọng thần phụ chính là tướng quốc Tư Mã Điêu và thượng khanh Trương Đăng lại bàn mưu tính kế.

“Hai vị ái khanh!” Cơ Hấn vòng tay hướng về phía hai người. “Người Triệu ức hiếp ta quá đáng, quả nhân thực khó lòng nhẫn nhịn, xin tướng phụ và Trương ái khanh hãy chỉ giáo quả nhân sách lược ứng phó!” Rồi hai mắt sáng rực, quét qua Trương Đăng, dừng lại trên người Tư Mã Điêu.

Tư Mã Điêu từ nhỏ đã đọc thi thư, thông kim bác cổ, là người cương trực, cuối đời Hoàn Công tập ấm tước vị của cha mà trở thành Trung Sơn đại phu, vào thời Thành Vương nhiệm chức cung uý, sau tiếp quản chức tướng quốc của Nhạc Trì, phò tá Trung Sơn Quân xưng vương, được thụ phong làm Lam Chư Quân, xứng danh là tôi hiền trị quốc trí dũng song toàn tiếp sau Nhạc Trì, nhiều lần giúp Trung Sơn hoá nguy thành an trong các cuộc đại chiến với nước lớn.

Chúa nhỏ quyền cao, Tư Mã Điêu mưu sự lại càng thêm thận trọng, vòng tay vái mà nói: “Hồi bẩm đại vương, thần cho rằng, Triệu mạnh ta yếu, hiện tại không nên khai chiến. Hơn nữa, nếu Triệu phạt ta, ắt phải dốc toàn lực chuẩn bị. Theo thần biết, từ sau khi xuất binh Hàm Cốc, người Triệu chưa có biến động gì lớn. Lần này biên cương tranh chấp, chỉ là va chạm bình thường, ta nên chuyện lớn hoá nhỏ, không nên phản ứng quá mức!”

Rõ ràng, câu trả lời này không phải là điều Cơ Hấn muốn nghe. Trầm ngâm hồi lâu, Cơ Hấn nhìn sang Trương Đăng: “Tướng phụ chủ trương chuyện lớn hoá nhỏ, ý Trương khanh thế nào?”

“Hồi bẩm đại vương!” Trương Đăng vòng tay đáp lời. “Lời tướng quốc nói, thần cho là chí lý. Thế nhưng, chỉ cần Triệu có được Hạo Ấp, dân chúng trong phạm vi trăm dặm tại biên giới của ta sẽ không thể sống yên. Thần cho rằng, đại vương có thể nhân cơ hội tốt đẹp này, một đòn đoạt lấy Hạo Ấp, đánh đuổi người Triệu ra khỏi Hoè Thuỷ, lại dựng thành luỹ dọc theo Hoè Thuỷ, thì đã có thể kê cao gối ngủ!”

“Chính hợp với ý quả nhân!” Hấn Vương phấn khởi ra mặt. “Trương khanh, hãy thử nói xem nên xuất binh thế nào?”

Trương Đăng chần chừ một lát, rồi nhìn Tư Mã Điêu.

Hấn Vương cũng nhìn sang, ánh mắt khẩn thiết.

“Xuất binh, là đại sự của quốc gia.” Tư Mã Điêu khép mắt một lát, rồi chậm rãi nói. “Xin cho thần suy nghĩ thấu đáo, rồi sẽ tấu báo sau!”

“Như vậy cũng tốt!” Hấn Vương lại vòng tay. “Quả nhân cung kính chờ đợi kế sách hay của tướng phụ!”

Tư Mã Điêu buồn bực trở về tướng phủ.

Khiến ông ta lo lắng lại không phải là Hấn Vương, mà là Trương Đăng. Trương Đăng vốn là gia thần của Nhạc phủ, do có tài mà được cựu tướng quốc Nhạc Trì hết lòng yêu mến, tiến cử làm đại phu. Mấy năm trước, liệt quốc đua nhau xưng vương, Trung Sơn Thành Công không cam chịu lép, bất chấp lời khuyên của Tư Mã Điêu, cũng quay mặt về nam xưng vương, khiến các nước lớn xung quanh như Tam Tấn, Tề, Yên vô cùng bất mãn, đặc biệt là nước Triệu tới nay vẫn chưa xưng vương và lúc nào cũng như rập rình nhòm ngó Trung Sơn, lần này có được lý do, luyện ngựa mài đao, sẵn sàng chinh phạt. Trong nguy nan, Trương Đăng thụ mệnh đi sứ ba nước Yên, Tề, Ngụy, dốc sức chu toàn, dựa vào miệng lưỡi sắc bén mà nhẹ nhàng hoá giải mối nguy cho Trung Sơn, lập nên công lớn, được Thành Vương trọng dụng, phong làm thượng khanh. Thành Vương băng hà, Trương Đăng cùng với Tư Mã Điêu trở thành đại thần phò tá, địa vị trong triều đình còn vượt qua cả người trong Nhạc phủ, chỉ xếp sau Tư Mã Điêu.

Đương nhiên, Tư Mã Điêu không bận tâm tới việc Trương Đăng ngoi lên cao đến đâu, mà thân là trọng thần phò tá, Trương Đăng không nên bất chấp tất cả chỉ để thuận theo ý quân chủ. Cơ Hấn dù sao vẫn còn non nớt xốc nổi, chưa trải qua chiến sự, vừa không hiểu nỗi khổ sát phạt, lại càng không biết khai chiến với một nước lớn như Triệu là sẽ ra sao, song Trương Đăng thì không thể không biết! Biết mà không can gián, mù quáng thuận theo ý quân vương, Trương Đăng kia rốt cuộc muốn làm gì?

Tư Mã Điêu càng nghĩ càng buồn bực, cứ thế giam mình trong thư phòng, đang nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ, bỗng nghe thấy có tiếng bước chân vọng lại, rồi con trai cả Tư Mã Hy gõ cửa, khẽ giọng bẩm báo: “Phụ tướng, thượng khanh đại nhân cầu kiến!”

“Ồ?” Tư Mã Điêu thoáng ngạc nhiên. “Mời vào!”

Cánh cửa được đẩy ra, Tư Mã Hy dẫn Trương Đăng bước vào, phía sau là Trương Nghi trong bộ dạng lái buôn đồ da.

Tư Mã Điêu đã đứng dậy, ánh mắt lướt qua Trương Đăng, dừng lại trên người Trương Nghi: “Vị này là…” Rồi lại nhìn sang Trương Đăng.

Không để Trương Đăng kịp giới thiệu, Trương Nghi đã tiến lên một bước, vòng tay vái mà nói: “Tướng quốc Ngụy Trương Nghi bái kiến tướng quốc đại nhân!”

“Tướng quốc Ngụy Trương Nghi?” Tư Mã Điêu sửng sốt, mắt chớp liền vài cái, sau đó nhìn trân trân vào Trương Nghi. Rõ ràng Trương Nghi gắn liền với chức danh tướng quốc nước Tần, lại còn vận trang phục lái buôn đồ da, khiến ông ta hết sức ngỡ ngàng.

“Bẩm tướng quốc!” Trương Đăng mỉm cười, giải thích. “Trương Tử vốn là tướng quốc nước Tần, ba tháng trước trả ấn sang Ngụy, hiện đã được Ngụy Vương bệ hạ bái làm tướng quốc.”

“Vậy…” Tư Mã Điêu vẫn chưa hết ngỡ ngàng. “Huệ tướng quốc thì sao?”

“Tư Mã huynh có điều không biết,” Trương Nghi bật cười vài tiếng, lập tức xưng huynh gọi đệ, “con người Huệ Tử, tính khí bộc trực, do chán ngấy làm tiên sinh ở Tắc Hạ Lâm Truy mới chạy sang nước Ngụy làm tướng quốc, đến giờ lại chán ngấy chức tướng quốc, thấy tại hạ tới Ngụy, tiện thể quẳng luôn gánh nặng sang vai tại hạ, rồi vội vã đánh xe ngựa chuồn ngay, đã trở về Tắc Hạ làm tiên sinh rồi, chưa biết chừng còn thành tế tửu cũng nên!”

Tư Mã Điêu đã hiểu rõ ngọn nguồn, thở phào một tiếng, ánh mắt dừng lại trên trang phục lái buôn của Trương Nghi.

“Tư Mã huynh phải chăng thấy thích bộ trang phục lái buôn trên người tại hạ?” Trương Nghi tiện tay giật một cái, loạt soạt mấy tiếng đã cởi bỏ lớp áo ngoài, để lộ quan bào nước Ngụy bên trong, lại lấy từ trong quan bào ra mũ mão đai lưng, lần lượt vận lên người, lập tức toát lên vẻ uy nghi của tướng quốc Đại Ngụy, cuối cùng, hai tay dâng lên tấm áo lái buôn.

Tư Mã Điêu phá lên cười lớn, tiện tay đặt sang bên cạnh, khom lưng vái dài mà nói: “Trương Tử tam biến, tại hạ có mắt như mù, thất lễ, thất lễ!” Rồi chỉ vào chỗ. “Trương Tử mời!” Quay sang Tư Mã Hy. “Hy Nhi, dâng trà!”

Trà được bưng lên, tân chủ khách sáo một hồi, Trương Đăng thỉnh cầu Tư Mã Điêu cho tả hữu lui ra, rồi chỉ vào Trương Nghi nói: “Bẩm tướng quốc, Trương Tử tới đây, là có đại sự muốn bàn bạc!”

“Hiểu rồi, hiểu rồi!” Tư Mã Điêu bừng bừng thần thái, hai mắt nhìn xoáy vào Trương Nghi, vòng tay mà nói. “Trương Tử hạ mình mặc thường phục, hẳn là vì đại sự. Nếu Trương Tử không coi Tư Mã Điêu là người ngoài, tại hạ xin được lắng nghe cao luận!”

Trương Nghi vòng tay đáp lễ, dõng dạc nói: “Trung Sơn tiên vương quy thiên, đại tang, tân vương đăng cơ, đại hỷ. Tại hạ phụng chỉ của Ngụy Vương tới đây, thứ nhất là phúng viếng tiên vương, thứ hai là chúc mừng tân vương, thứ ba là tặng Trung Sơn một vật, tạm coi là lễ mọn viếng cũ đón mới.”

“Đa tạ Ngụy Vương yêu mến!” Tư Mã Điêu vòng tay. “Dám hỏi là hậu lễ gì?”

“Quận Đại!” Trương Nghi dằn mạnh từng tiếng.

“Quận Đại?” Tư Mã Điêu không hiểu, nheo mắt hỏi lại. Quận Đại ở tận phía tây nước Yên, là đất sản sinh tuấn mã, từ đó đến Trung Sơn núi cao vực sâu ngăn cách, từ thời Triệu Tương Tử, vẫn là vùng đất thuộc Triệu, giờ gắn nó với nước Trung Sơn, đối với Tư Mã Điêu, hiển nhiên là một chuyện hoang đường khó tưởng tượng.

Trương Nghi thủng thẳng nói ra một lượt mưu kế ba nhà Tần, Ngụy, Trung Sơn phân Triệu.

Tư Mã Điêu nghe mà kinh hãi, hai mắt thoạt tiên trợn tròn, sau đó khép lại, sau nữa, lại từ từ mở ra, nhìn chằm chằm vào Trương Nghi hồi lâu, mới vòng tay nói: “Nghe đồn Trương Tử đến Sở diệt Việt, sang Tần diệt Ba, Thục, giờ vừa tới Ngụy, mở miệng đã đòi diệt Triệu, quả nhiên là mưu đại sự, tại hạ thán phục. Tuy nhiên, Trung Sơn chỉ là một nước nhỏ nhoi, quốc lực mỏng yếu, nào dám sánh ngang với Ngụy, Tần?”

Trương Nghi cười vang: “Tư Mã huynh thật quá khiêm nhường. Đại Triệu tới nay vẫn là nước hầu, Trung Sơn tuy là bang nhỏ, song đã quay mặt về nam xưng vương, cùng với các nước lớn như Tề, Ngụy, Yên, Sở, Tần, và cả đường đường Đại Chu thiên tử, sánh vai cùng bước đã nhiều năm rồi!”

Trương Nghi thẳng thừng vạch ra cái tệ Trung Sơn nước nhỏ mà xưng vương, khiến Tư Mã Điêu có phần lúng túng, tuy nhiên, sự thực là như vậy, ông ta cũng khó lòng biện hộ.

“Trung Sơn hiện nay,” Trương Nghi dõng dạc nói, “phía tây tới Thái Hàng, phía đông tới Hà Thuỷ, phía bắc tới Dịch Thuỷ, phía nam tới Hoè Thuỷ, đã là năm trăm dặm vuông, vượt xa Tống, Vệ. Nếu lại thêm quận Đại, lãnh thổ đã hơn nghìn dặm vuông. Quận Đại là quê hương của tuấn mã. Trung Sơn đây có đất đai màu mỡ, kia lại có ngựa tốt, sở hữu lãnh thổ nghìn dặm, nhân khẩu trăm vạn, đã có danh là vương, cũng lại có thực của vương, liệt quốc thiên hạ, ai dám coi là nước nhỏ nữa?”

Trương Nghi lại nhắc tới quận Đại, rõ ràng, đây là một sự cám dỗ quá ư lớn lao, Tư Mã Điêu bất giác hít vào một hơi thật sâu.

“Tư Mã huynh hiểu rõ Trung Sơn,” Trương Nghi tiến dần từng bước, “Trung Sơn và Ngụy, nước Triệu ngăn cách ở giữa, có oán cũ mà không có thù mới. Trung Sơn và Triệu, lại là một mất một còn! Vì đâu lại thế? Là vì Tỉnh Hình. Triệu Đông Đô là Hàm Đan, Tây Đô là Tấn Dương. Hàm Đan và Tấn Dương cách nhau nghìn núi muôn sông, tuy Triệu có đường Phẫu Khẩu Hình, song Phẫu Khẩu nối thông tới Thượng Đảng, mà Thượng Đảng một nửa là của người Hàn, không phải người Triệu độc hưởng, người Triệu muốn hưởng bình an, cần phải nhìn mặt người Hàn. Vả lại giữa Thượng Đảng và Tấn Dương, lại có núi cao ngăn cách, người Triệu vất vả vượt núi tới Thượng Đảng, vẫn chỉ tới được nửa đường. Còn Tỉnh Hình lại khác. Tỉnh Hình về tây, thông thẳng tới Tấn Dương, người Triệu sốt sắng chỉ muốn có được Tỉnh Hình. Mà Tỉnh Hình và Hà Thuỷ, xứng danh là hai mạch Nhâm Đốc của nước Trung Sơn, nhất thiết không thể mất. Tỉnh Hình mất, Trung Sơn mất, Tỉnh Hình còn, Trung Sơn còn!”

Trương Nghi chỉ thẳng vào Tỉnh Hình, cửa ải trọng yếu mà Trung Sơn buộc phải tranh giành với Triệu, khiến Tư Mã Điêu mồ hôi túa đầy trên trán.

“Tư Mã huynh!” Trương Nghi nở một nụ cười. “Không phải tại hạ thùng rỗng kêu to, mà thực sự là do tình thế bức bách! Thiên hạ hiện nay, không phải mình Trung Sơn đối đầu nguy cục. Tô Tần khởi xướng sáu nước hợp tung, chĩa mũi nhọn vào Tần. Sáu quân phạt Tần, tập kết ở ải Hàm Cốc, người Tần nguy trong sớm tối. Nhưng đến thời khắc then chốt, người Triệu lại bán đứng Ngụy, khiến đại nghiệp hợp tung vỡ trong một chốc, người Ngụy vì đó thâm hận người Triệu. Người Tần đánh bại quân hợp tung, có được Ba, Thục, thế nước ngày càng lớn mạnh. Để phá sách lược hợp tung của Tô Tần, Tần Vương nghe theo sách lược liên hoành của tại hạ, phái tại hạ tới Ngụy kết liên minh. Ngụy Vương thấu hiểu thời thế, vứt bỏ hiềm khích trước đây, bỏ tung theo hoành, phong tại hạ làm tướng quốc, kết minh với Tần, cùng phạt Triệu bất nghĩa. Gần đây nghe nói Trung Sơn và Triệu có xích mích, tại hạ phụng vương chỉ đích thân tới Trung Sơn, bàn chuyện ba nhà phân Triệu. Tư Mã huynh, dựa vào sức mạnh của Ngụy, Tần, sư đệ của tại hạ là Bàng Quyên dụng binh như thần, chỉ cần đông tây hợp kích, kết cục bại vong của người Triệu đã có thể khẳng định. Nếu Tư Mã huynh từ phía bắc đâm ngang một đao, nước Triệu không chết mới lạ.”

Tư Mã Điêu nghe Trương Nghi giải thích một lượt, cũng đã hiểu rõ ngọn ngành, nhìn Trương Đăng cười hiểu ý, rồi vòng tay nói với Trương Nghi: “Tại hạ ở nơi hẻo lánh, kiến văn nông cạn, được Trương Tử khai sáng, thực may mắn không gì bằng!” Thở dài một tiếng. “Than ôi, tại hạ không giấu gì Trương Tử, người Triệu xâm phạm biên cương Trung Sơn, cướp đoạt Hạo Ấp, lại nhân lúc Trung Sơn đại tang, tấn công thôn xóm, giết hại thần dân, hiếp đáp Trung Sơn quá đáng. Đại vương thịnh nộ, vốn muốn hưng binh đòi lại công bằng, song tại hạ không hiểu thời thế, nhiều lần lên tiếng khuyên can. Nay có hai nước lớn Ngụy, Tần trượng nghĩa trợ giúp, tại hạ đã không còn gì lo lắng nữa. Xin lập tức cùng Trương Tử vào cung, tấu lên đại vương, cùng bàn đại sự, được chăng?”

Trương Nghi vòng tay đáp: “Đa tạ Tư Mã huynh trợ giúp!”

Ba ngày sau, quân thần Trung Sơn cùng Trương Nghi trù hoạch mưu lược tường tận, Trung Sơn Hấn Vương phong Tư Mã Điêu làm chủ tướng, Nhạc Cử làm phó tướng, Tôn Cố làm tiên phong, Công Tôn Hoằng phụ trách lương thảo, Trương Đăng phụ trách bang giao, khắp Trung Sơn trên dưới đồng lòng, khởi năm vạn tinh binh, thế như chớp giật, nhanh chóng cắt đứt Hoè Thuỷ, vây khốn Hạo Ấp.

Cùng lúc này, Tư Mã Điêu vốn mưu kế lão luyện cũng đưa ra một nước cờ, mượn lời Trung Sơn Hấn Vương giữ Trương Nghi ở lại Linh Thọ, tiếng là để hoạch định kế sách, thực chất là giữ làm con tin, đề phòng Ngụy, Tần giở trò, bán đứng Trung Sơn cho nước Triệu.

***

Biên ải cấp báo, cung Triệu chấn động.

Tấn Dương nguy cơ chưa dứt, Trung Sơn lại khơi chiến hoả, Túc Hầu Triệu Ngữ sau khi từ Mạnh Tân trở về, sức khoẻ suy yếu, gần đây lại lâm bệnh liệt giường, nay nhận được chiến báo, còn chưa đọc hết, khí huyết đã hỗn loạn, thình lình hôn mê bất tỉnh. Cung Triệu đại loạn, hoạn giả lệnh Củng Trạch triệu gấp ngự y tới, thái tử Triệu Ung, An Dương Quân công tử Khắc và đình uý Phì Nghĩa hay tin cũng vội vã tới ngay.

“Phụ quân sao rồi?” Triệu Ung chụp lấy Củng Trạch, cuống quýt hỏi. Mấy năm không gặp, Triệu Ung đã cao lên rất nhiều, yết hầu đã nổi, giọng nói đã vỡ ồm ồm, trông ra dáng một thiếu niên vũ dũng, có điều tuổi tác vẫn nhỏ, còn lâu mới đến tuổi đội mũ.

Củng Trạch chỉ lắc đầu.

Triệu Ung mặt biến sắc, xông vào phòng trong, sụp xuống bên Túc Hầu, nắm chặt lấy tay Túc Hầu, cất giọng nghẹn ngào: “Phụ quân, phụ quân…”

Túc Hầu nằm đó im lìm, tuy vẫn hôn mê, song hơi thở đã đều đặn. Một lão ngự y đang châm cứu, lần lượt cắm kim vào các huyệt vị trên người Túc Hầu. Vài cung y khác đứng hầu bên cạnh.

Bên giường Túc Hầu, vẫn đặt bản cấp báo từ biên ải.

An Dương Quân bước lại, nói khẽ với ngự y: “Ngô thái y, chúa thượng thế nào rồi?”

“Hồi bẩm An Dương Quân,” Ngự y hạ thấp giọng nói, “xem mạch tướng, là cấp hoả công tâm.”

“Cấp tốc cứu chữa!” An Dương Quân bình tĩnh dặn dò, rồi quỳ xuống trước giường Túc Hầu, kéo tay Túc Hầu lại, bắt mạch một lát, ánh mắt dừng lại trên bản cấp báo, đoạn cầm lên, đọc kỹ một lượt, chầm chậm đứng dậy, vỗ vào vai Triệu Ung, hất hàm ra phía ngoài.

Triệu Ung hiểu ý, theo An Dương Quân ra ngoài.

Phì Nghĩa cũng theo ra.

“Điện hạ!” Ba người bước tới thiên điện, An Dương Quân nhìn Triệu Ung nói. “Hạ quan quan sát chúa thượng, tạm thời không phải lo lắng, đại sự trước mắt, chính là thứ này.” Trình cấp báo lên. “Điện hạ hãy xem!”

Triệu Ung đọc xong, mặt mày biến sắc, tiện tay đưa cho Phì Nghĩa.

“Trung Sơn đột ngột khởi binh, quả là kỳ quặc, bất luận thế nào, Hạo Ấp cũng không được mất, mong điện hạ mau chóng đưa ra quyết định!” An Dương Quân xưa nay thận trọng chín chắn, dù là chuyện nguy ngập đến đâu, giọng nói vẫn hết sức điềm tĩnh.

“Đình uý!” Triệu Ung nhìn Phì Nghĩa. “Nếu không có quân chi viện, Hạo Ấp có thể trụ được bao lâu?”

“Hồi bẩm điện hạ!” Phì Nghĩa cũng đã đọc xong, đặt cấp báo xuống. “Hạo Ấp nằm ở phía bắc Hoè Thuỷ, để đề phòng Trung Sơn tập kích, thần đã cho xây dựng đặc biệt kiên cố, thành cao hai trượng tư, cổng thành bọc đồng, hào rộng năm trượng, kết hợp với tám nghìn thủ quân, vũ khí phòng ngự không thiếu thứ gì, trong thành còn có ba vạn sáu nghìn thần dân, tích trữ lương thảo đủ dùng một năm, trong thành có hai sông giao hội, còn có ba mươi lăm giếng nước. Dựa vào sức mạnh hiện tại của người Trung Sơn, dù không có quân chi viện, chỉ cần quân dân trong thành đồng tâm hiệp lực, trong thời gian ngắn sẽ không lo thất thủ!

Triệu Ung thở hắt ra một hơi, nhìn sang An Dương Quân: “Thúc công?”

“Điện hạ!” An Dương Quân dằn mạnh từng tiếng. “Vì tương lai của Triệu, Hạo Ấp không thể mất!”

“Phì Nghĩa!” Triệu Ung quay sang Phì Nghĩa. “Thúc công nói rất đúng, quân tình nguy cấp, đình uý hãy đích thân tới Tín Đô, dẫn theo ba vạn thủ quân, chi viện cho Hạo Ấp, nhằm ổn định lòng quân Hạo Ấp. Những việc khác, đợi phụ quân tỉnh lại, sẽ bàn sau!”

Triệu Ung vào trong nội điện, lấy ra hổ phù điều binh, dùng danh nghĩa điện hạ thảo ra chỉ lệnh, giao cho Củng Trạch đóng ngọc tỷ của Túc Hầu, rồi đưa cho Phì Nghĩa.

Phì Nghĩa vừa đi khỏi, cung nhân bước ra, bẩm báo Túc Hầu đã tỉnh, cho triệu kiến hai người.

An Dương Quân, Triệu Ung vội vã vào trong, quả nhiên thấy kim bạc trên người Túc Hầu đã rút ra gần hết, khí sắc Túc Hầu đã ổn định, đang để lão cung y xoa bóp lòng bàn chân.

“Hiền đệ, Ung Nhi, ngồi đi!” Túc Hầu mỉm cười với hai người, chỉ vào mép giường.

Hai người chưa vội ngồi ngay, vòng tay vấn an.

“Quả nhân không sao, Hạo Ấp…”

“Bẩm phụ quân!” Triệu Ung đáp lời. “Ung Nhi vừa rồi đã bàn bạc với thúc công và đình uý, Ung Nhi làm theo ý thúc công, lệnh cho Phì Nghĩa tướng quân điều ba vạn thủ quân Tín Đô, gấp rút lên đường chi viện, Hạo Ấp thành cao hào sâu, lại có Phì Nghĩa tướng quân tiếp ứng, tạm thời không phải lo lắng!”

Túc Hầu nhìn sang An Dương Quân: “Tấn Dương hẳn có tấu báo?”

“Thưa có!” An Dương Quân hạ giọng bẩm báo. “Người Tần vẫn ở lì tại vùng đầm Đại Chiêu, núi Hồ Kỳ, hiện tại chưa có hành động gì bất thường, thần đã gửi thư cho Triệu Báo, căn dặn phải cảnh giới nghiêm ngặt. Cho dù phải động binh, quân Tần hành quân đường xa mệt mỏi, không đáng lo ngại, có Triệu Báo ở đó, quân huynh hãy cứ yên tâm.”

Túc Hầu khẽ gật đầu, nhắm mắt lại, một lát sau, từ từ mở mắt ra: “Tô tướng quốc… vẫn ở nước Yên?”

“Vâng!”

“Gửi thư cho Tô Tử, mời Tô Tử gấp rút quay về, nói rằng quả nhân… đang chờ!”

***

Tại kinh đô Kế Thành nước Yên, Yên Dịch Vương sau khi lên ngôi, suy tính đến nhiều bề, tạm chưa lập tướng quốc, cho nên Tô Tần vẫn ở trong toà phủ trạch do Yên Văn Công ban thưởng trước đây, trên cổng trạch phủ treo tấm hoành phi đề ba chữ “Phủ tướng quốc”.

Kể từ sau khi sáu nước phạt Tần thất bại, thoắt cái đã hơn hai năm. Trong khoảng thời gian này, công chúa Doanh Tường nước Tần cứ như gà mái đẻ trứng, sinh liền cho Dịch Vương hai vị vương tử, là Tử Vi và Tử Hối. Do Yên, Tề tranh chấp đã lâu, sau khi Dịch Vương lập vương hậu, thế lực chống Tề trong nội bộ cung Yên gần như đã chiếm thế thượng phong, Dịch Vương cũng vì tiền phu nhân Điền thị mà ghét lây Tử Khoái, một lòng muốn lập Tử Vi làm thái tử.

Sau khi Tô Tần từ Hàm Đan tới Kế Thành, phần là Tề Uy Vương không nỡ từ bỏ mười thành Hà Gián, phần là Yên Dịch Vương không muốn lập Tử Khoái, hai bên đều tìm cớ thoái thác, dây dưa mãi mà chưa quyết định, Tô Tần chẳng khác gì đèn cù, hết từ Kế Thành tới Lâm Truy rồi lại từ Lâm Truy về Kế Thành, trong vòng hai năm đi đi lại lại giữa Yên, Tề đến năm lần, cuối cùng đến gần đây cũng giải quyết được ổn thoả: Yên Dịch Vương chính thức cử hành nghi lễ long trọng tại thái miếu nước Yên, sắc lập Tử Khoái làm thái tử; Tề Uy Vương cũng ngậm ngùi chiếu lệnh cho Điền Kỵ, chuyển giao vùng Hà Gián mà người Tề đã “trị lý” nhiều năm qua cho tướng quân Tử Chi nước Yên.

Trong lúc Tô Tần tất bật bôn ba vì mười thành Yên, Tề, thì người em trai thứ ba Tô Đại dắt díu vợ con, đánh cả một đoàn bảy tám cỗ xe rong ruổi vài nghìn dặm từ Lạc Dương tìm tới tận Kế Thành. Cả nhà lớn bé đến sáu bảy người, cộng thêm hơn chục nô bộc nam nữ, khiến phủ tướng quốc vốn đang trống trải chốc lát đã chật ních.

Từ sau khi Tô Tần ra đi, Tô Đại chẳng còn tâm trí đâu mà lo việc đồng áng, quyết tâm theo anh hai rèn luyện công phu miệng lưỡi, do vậy vừa tới phủ trạch của Tô Tần, lập tức lẵng nhẵng bám riết lấy Tô Tần bất kể ngày đêm. Vốn là huynh trưởng, lại cũng vì đã hứa trước kia, nên Tô Tần cũng chỉ đành nhẫn nhịn, nhân lúc rảnh rỗi lại lôi cuốn “Âm phù bản kinh” do Quỷ Cốc Tử tặng trước lúc chia tay ra, giảng giải cặn kẽ cho Tô Đại về thuật bài hạp. Tô Đại từ nhỏ chỉ quen cấy cày, ít đọc sách vở, căn cơ quá ư kém cỏi, đối mặt với cuốn “sách trời” chữ nghĩa dày đặc như giun bò trùng múa, quả thực chẳng khác nào nhìn vào bức vách. Tuy nhiên, Tô Đại cũng không phải là phường bỏ đi, không những không chịu bỏ cuộc, mà còn áp dụng “công phu” mà Tô Tần từng dùng năm xưa, hễ Tô Tần không ở nhà, hắn cũng đóng chặt cửa, vùi đầu đọc sách thâu đêm, lúc mệt mỏi, cũng bắt chước Tô Tần sử ra chiêu mạnh lấy dùi đâm đùi, thi thoảng lộ mặt, lần nào cũng xoã tóc rối tung, cử chỉ kỳ quặc, cứ như bị ma ám, lúc thì hoa tay múa chân, lúc thì lảm nhảm một mình, bày ra đủ chuyện hoang đường, đủ trò quái đản, những sự việc đó qua miệng đám người hầu bị nhanh chóng lan truyền khắp mọi hang cùng ngõ hẻm Kế Thành. Đủ thứ hành vi quái đản đó, cộng với những truyền kỳ về Tô Tần khi mới xuất sơn đã được đám tiểu thuyết gia đồn thổi khắp liệt quốc, mau chóng lan khắp Kế Thành, Tô Đại cũng chóng vánh trở thành một nhân vật được khắp trong triều ngoài nội nước Yên lưu tâm đến.

Trước vô số những hành vi quái đản của Tô Đại, Tô Tần thoạt tiên cho là tẩu hoả nhập ma, cho tới lần thứ năm trở về Yên, mới nhận ra là Tô Đại cố tình làm ra như vậy. Một mảy da lông vẫn chưa hiểu được, đã làm bộ làm tịch đủ điều, cái tâm cơ đó, thực khiến Tô Tần lo lắng vô cùng. Tô Tần nhiều lần khuyên can, song Tô Đại chỉ vâng vâng dạ dạ ngoài miệng, mà trong lòng không phục. Tô Tần không biết làm sao, đành phải giảng giải thêm lần nữa về cái đạo bài hạp, thế nhưng Tô Đại rõ ràng vô duyên với đạo, Tô Tần vừa mở miệng, Tô Đại đã hai mắt đờ đẫn, Tô Tần chỉ còn biết thở dài, lắc đầu ngao ngán.

Mười thành Hà Gián đã đòi được về, Tử Khoái cũng đã được lập làm thái tử, Tô Tần thấy không cần thiết phải ở lại Kế Thành nữa, bèn sai Viên Báo thu dọn hành trang, vào cung từ biệt Dịch Vương, cho cả nhà Tô Đại lưu lại tướng phủ, còn mình dẫn theo hơn hai mươi cỗ xe lớn nhỏ, rồng rắn tiến tới Hàm Đan. Từ các nguồn tin thám báo đưa về trong những ngày gần đây, có thể đoán rằng, Hàm Đan hiển nhiên đã rơi vào tâm xoáy thiên hạ, Tô Tần không thể trì hoãn thêm một khắc.

Giữa Yên, Triệu chỉ có một con đường cái quan, tức là từ Kế Thành xuống phía nam, vượt qua Lai Thuỷ, tức Bắc Dịch Thuỷ, đi qua Vũ Dương, lại băng qua Nam Dịch Thuỷ, mượn đường Trung Sơn vào Triệu.

Vũ Dương là Hạ Đô nước Yên, nơi đặt lăng tẩm của tiên Yên Công, cũng là nơi thái hậu Cơ Tuyết đang ở goá. Để tránh nghi ngờ, Tô Tần cố ý đi chậm lại, hành trình đáng lẽ hai ngày, lại đi thành ba ngày, cho tới chập tối ngày thứ ba, Tô Tần mới lệnh cho Viên Báo đẩy nhanh tốc độ, phải tới nơi trước khi đóng cổng thành, đến trạm dịch Vũ Dương nghỉ đêm.

Thủ thành Vũ Dương vẫn là dũng tướng Chử Mẫn. Buổi tối hôm ấy, Chử Mẫn mở tiệc thiết đãi, Tô Tần uống đến hơi chếnh choáng, lấy cớ tức ngực, muốn về dịch quán nghỉ ngơi. Đến đầu canh ba, Tô Tần thay y phục đi đêm, bám theo Trâu Phi Đao, rời khỏi cửa phụ của dịch quán, quanh co lắt léo một hồi, rồi men theo phố nhỏ ngõ hẹp tới một tư dinh.

Xung quanh tư dinh, cổ thụ cao vút, rất đỗi thanh u. Cổng gỗ đã được mở sẵn, hai người bước vào trong, tới trước cánh cửa sơn đen. Cánh cửa mở ra, Tô Tần bước vào trong nhà, cửa sơn lập tức đóng lại. Trong phòng chính không có ánh sáng. Tô Tần theo Trâu Phi Đao lần dò đi vào phòng trong, ở đó đã có người mặc áo đen chờ sẵn, thấy Tô Tần tới, bèn dẫn đến trước một cánh cửa hầm. Tô Tần bước vào trong cửa, còn Trâu Phi Đao ở bên ngoài canh gác.

Tới tận lúc này, Tô Tần mới nhìn thấy ánh sáng, có người đang cầm nến cung kính đứng chờ sẵn.

Người cầm nến không phải ai khác, chính là Xuân Mai. Tô Tần theo Xuân Mai đi theo đường hầm khoảng hơn mười trượng tới trước một cánh cửa đá, cửa đá đã mở sẵn, hai người bước vào, cửa đá liền khép lại. Trước mắt hiện ra một gian phòng đá tao nhã, rộng khoảng hai trượng vuông, trong phòng đèn nến sáng trưng, sát tường kê một chiếc giường êm ấm. Cơ Tuyết đứng chờ trước giường sớm đã thắc thỏm ngóng trông, vừa nhìn thấy Tô Tần, liền hấp tấp bước lại đón, giọng nói run rẩy, gọi khẽ một tiếng: “Tô Tử!” Rồi toàn thân mềm nhũn ngã vào lòng Tô Tần.

Thì ra, tư dinh này liền kề với ly cung, vốn là nơi ở của người trông coi lăng tiên quân. Sau khi người coi lăng qua đời, con trai ông ta không muốn tiếp tục công việc canh lăng mà tới Kế Thành mưu cầu quan tước. Nơi này đã bị hắn bán đi, qua tay nhiều người, cuối cùng đến tay Mộc Hoa. Khuất Tương Tử sai người giỏi nghề xây dựng trong Mặc gia đào thành gian phòng ngầm dưới lòng đất ở ngay bên ngoài tường bao của ly cung, từ phòng ngầm có đường hầm thông tới hai đầu, một đầu là nơi ở của người canh lăng, một đầu là tẩm cung của Cơ Tuyết, lối vào mỗi đầu đều bố trí cơ quan, một đầu do Mặc giả trông coi, một đầu do Cơ Tuyết trông coi. Bên trên phòng ngầm là lớp đất dày chừng năm thước, trên mặt đất chi chít cây gai, tre trúc rộng đến vài mẫu, chim thú thích vào, người thì ít tới.

Trong lúc xây gian phòng này, Cơ Tuyết cũng sàng lọc kỹ lưỡng đám tỳ nữ bên mình, toàn bộ số tỳ nữ nghi ngờ là gian tế do Kỷ Cửu Nhi phái đến đều được sắp xếp ở trung viện và tiền viện, tẩm cung hậu viện chỉ giữ lại vài tỳ nữ trung thành tuyệt đối như Xuân Mai. Nhìn thấy hậu viện tường cao hào sâu, có lắp thêm cánh cũng khó lọt vào, đám gian tế của Kỷ Cửu Nhi cũng thấy yên tâm, chỉ còn chăm chú trông chừng phía cửa cung, gian mật thất dưới đất đã trở thành chốn ước hẹn bí mật an toàn tuyệt đối. Trong hai năm gần đây, mỗi lần qua Vũ Dương tới Tề, Tô Tần đều gặp gỡ Cơ Tuyết tại nơi này, không còn phải nơm nớp nữa.

Đám Xuân Mai hiểu ý, lui hết ra ngoài, trong phòng chỉ còn lại Tô Tần và Cơ Tuyết. Hai người không còn phải giữ ý nữa, bèn dắt tay nhau bước lại bên giường, cùng tháo đai cởi áo, ôm nhau trong chăn gấm.

Đôi tình nhân mấy tháng trời không gặp, khác nào hạn hán gặp mưa lành, đương nhiên quấn quýt triền miên, nồng nàn ân ái. Sau khi mây mưa đã tạnh, Cơ Tuyết thôi cơn hổn hển, bèn khẽ thì thầm: “Tô Tử, Tuyết Nhi có một nguyện vọng!”

“Tuyết Nhi có nguyện vọng gì, xin cứ nói!”

“Tô Tử phải đồng ý với Tuyết Nhi trước đã!”

“Tô Tần xin thề với trời đất, bất luận Tuyết Nhi có nguyện vọng gì, Tô Tần cũng sẽ tận tâm tận lực, để khiến Tuyết Nhi thoả nguyện!”

“Tô Tử!” Cơ Tuyết cười nói. “Chàng hà tất phải thề thốt như vậy, chỉ cần đồng ý là được rồi.”

“Ta đồng ý.”

“Nguyện vọng của Tuyết Nhi là…” Cơ Tuyết trở mình ngồi dậy, nhìn thẳng vào Tô Tần, ánh mắt tình tứ thiết tha, “sinh cho Tô Tử một đứa con.”

“Gì kia?” Tô Tần kinh hãi buột miệng kêu lên thành tiếng, toàn thân giật nảy, ngồi phắt ngay dậy.

“Tô Tử?” Cơ Tuyết sững sờ.

Tô Tần ngây người một lát, mới từ từ nằm xuống, nhắm mắt lại, lệ trào ra bên khoé mắt.

Cơ Tuyết quả thực một lòng một dạ vì Tô Tần.

“Tô Tử!” Cơ Tuyết cũng nằm xuống, gối đầu lên cánh tay Tô Tần, giọng nói khẩn khoản. “Không phải vì chàng, mà hãy coi như là vì Tuyết Nhi, được không? Tuyết Nhi muốn làm mẹ thực sự một lần!”

Tô Tần ôm siết nàng vào lòng, chặt đến nỗi nàng gần như nghẹt thở. Cơ Tuyết cảm thấy trên mặt mình ướt nóng, biết rằng đó là nước mắt của Tô Tần.

Rất lâu sau, Tô Tần buông nàng ra, ngồi dậy, lau khô nước mắt, nhìn nàng trân trân, rồi kiên quyết lắc đầu.

“Tô Tử?” Cơ Tuyết cũng ngồi dậy.

“Nàng là thái hậu!” Giọng Tô Tần nhỏ tới mức gần như không nghe thấy.

“Tuyết Nhi không sợ!” Lời Cơ Tuyết gấp gáp, ngữ khí kiên định. “Tuyết Nhi đã suy nghĩ kỹ rồi, khi nào Tuyết Nhi mang thai, sẽ đóng cửa ở trong phòng, loan tin ra ngoài rằng tiên quân về báo mộng, muốn thiếp bế quan một năm để giao tiếp với linh hồn của tiên quân. Đợi đến thời khắc tốt lành, Tuyết Nhi sẽ sinh nở ngay trong mật thất này, sau đó, sẽ giao đứa bé cho Mộc Hoa, nhờ tìm một gia đình họ Tô để gửi nuôi. Sau đó, Tuyết Nhi sẽ tìm cơ hội, nhận đứa trẻ về làm con nuôi, để nó đường đường chính chính gọi Tuyết Nhi là mẹ.”

Hiển nhiên, chuyện này nàng đã suy tính không biết bao nhiêu lần, đúng là kín kẽ chu toàn. Nghĩ tới nàng vì muốn có chốn gặp gỡ an toàn mà đã phải khổ sở thuyết phục Mộc Hoa mua lại căn nhà này, lại thỉnh cầu Khuất Tương Tử đích thân xây dựng tổ ấm uyên ương tại nơi đây, Tô Tần mới thực sự thấu hiểu thế nào là sự tinh tế và kiên gan của người phụ nữ sau khi rơi vào biển ái tình.

Chỉ có điều, Tuyết Nhi đã quá ngây thơ, hình như nàng không bao giờ biết được rằng xung quanh họ có bao nhiêu người đang rình ngó, có bao nhiêu cặp mắt đang săm soi, cũng không bao giờ biết được rằng những sức mạnh tà ác trong thế gian này hung hãn đến nhường nào, có bao nhiêu người lúc nào cũng chỉ nhăm nhăm nghiền nát Tô Tần, và cả nàng nữa, thành cám vụn.

Thế nhưng, Tuyết Nhi là một người đàn bà, một người đàn bà mà trong mơ cũng khao khát được làm mẹ. Nàng cũng đã ba mươi tuổi rồi, nếu được gả cho thường dân, thì có lẽ cũng đã con cái đề huề. Giống như nhà Tô Đại, trước sau chưa đầy mười năm, đã lốc nhốc năm con cả trai lẫn gái.

“Tuyết Nhi!” Tô Tần thở dài một tiếng. “Đây là chuyện hệ trọng, chẳng phải thế ư? Đối với ta và nàng, đây là một chuyện còn lớn hơn trời, chẳng phải thế ư?”

“Phải, đúng là còn lớn hơn trời!” Cơ Tuyết gật đầu.

“Nếu đã lớn hơn trời, thì chúng ta nên từ từ bàn tính, chẳng phải thế ư?” Tô Tần quyết định gác chuyện này lại, hơn nữa, hiện tại cũng không phải là lúc nói tới chuyện này.

“Tô Tử, chàng có tin vào trời không?”

“Tin!”

“Nếu tin, chàng chớ bận tâm đến nữa, tất cả hãy theo ý trời!” Cơ Tuyết khe khẽ vuốt ve làn da bụng trắng muốt, mịn màng, khuôn mặt rạng rỡ nụ cười, ánh mắt tràn đầy khao khát.

“Tuyết Nhi, ý nàng là…” Tô Tần như đã phát giác ra điều gì, mặt mày biến sắc. Phải rồi, mỗi lần ân ái, Cơ Tuyết thường rất chừng mực, vào thời khắc then chốt nhất, đều sẽ có biện pháp phòng ngừa, tính toán kỹ lưỡng trước sau kỳ kinh nguyệt, tuyệt đối không để xảy ra sơ suất. Mà lần này, Cơ Tuyết lại nói như vậy, hẳn là đã tính toán ổn thoả mọi chuyện rồi.

“Tô Tử, hãy theo ý trời!” Cơ Tuyết nằm xuống, áp mặt lên vòm ngực rộng của Tô Tần, cất giọng dịu dàng rất mực.

Tô Tần thở dài sườn sượt, khép hai mắt lại.

Lời Cơ Tuyết thỏ thẻ tỉ tê, chuyện trò không dứt, cứ thế, trời sáng lúc nào không hay.

Gà gáy lần đầu, tiếng gõ cửa vang lên. Tô Tần từ biệt Cơ Tuyết, hẹn nàng tối nay gặp lại, rồi mở cửa đi ra, cùng Trâu Phi Đao quay trở về dịch quán trước khi trời sáng, nằm xuống giường ngủ thiếp đi. Đang say giấc nồng thì bị Viên Báo gọi dậy, vội vàng xuống giường bước ra phòng khách, đã thấy sứ giả nước Triệu là Thiện Tông chờ sẵn ở đó. Hoá ra, đám Thiện Tông cũng đã tới Vũ Dương vào đêm hôm qua, sáng sớm hôm nay ra khỏi cổng thành đánh xe tới Kế Thành, khi đi qua Bắc Dịch Thuỷ, nghe nói Tô Tần đang ở Vũ Dương nên vội vã quay trở lại.

Tô Tần quen biết Thiện Tông, biết hắn là tâm phúc của hoạn giả lệnh Củng Trạch, mà Củng Trạch lại là cái bóng của Túc Hầu, người này tới tìm Tô Tần, ắt có chuyện lớn. Quả nhiên, sau dăm ba câu khách sáo, Thiện Tông bèn lấy từ trong ống tay áo ra một phong thư do chính tay Triệu Ung viết, lại truyền khẩu dụ của Túc Hầu.

Nghe đến đoạn Túc Hầu nằm trên giường bệnh thều thào “quả nhân đang chờ”, Tô Tần nước mắt giàn giụa, nghẹn ngào thăm hỏi bệnh tình của Túc Hầu. Thiện Tông kể lại vắn tắt, rồi khẩn cầu Tô Tần mau chóng lên đường, nếu không, quân thần họ e là nguy mất.

Tô Tần không nói một lời, lập tức sai Viên Báo chuẩn bị hành trang, viết vội một bức thư, giao cho Trâu Phi Đao, bảo hắn chuyển tới Cơ Tuyết. Chưa đầy nửa canh giờ, Tô Tần chẳng kịp cả chào từ biệt quận thú Vũ Dương Chử Mẫn, lập tức cờ giương trống mở, gấp rút lên đường, dẫn đầu đoàn người ra khỏi cổng nam Vũ Dương, hướng về Nam Dịch Thuỷ, cuốn bụi mà đi.

Xe qua Nam Dịch Thuỷ, đã vào nước Trung Sơn.

Trung Sơn và Yên gần đây không có chiến sự, cửa quan vẫn mở bình thường, lại thêm xe Tô Tần giương lá cờ chữ “Tung”, đặc biệt còn có một chữ “Tô”, nên qua ải hết sức thuận lợi.

Tuy nhiên, bên trong lãnh thổ Trung Sơn, cảnh tượng lại hoàn toàn khác hẳn. Người hô ngựa hí, không khí sục sôi, xe ngựa rậm rịch, rồng rắn kéo về phía nam, chật kín cả con đường cái quan. Tô Tần đành phải đè nén cơn sốt ruột, lệnh cho đội xe của mình đi lẫn vào đoàn xe của Trung Sơn, từ từ di chuyển.

Đi suốt một ngày, chỉ được hơn hai mươi dặm. Tới chập tối, Tô Tần đang vô cùng sốt ruột thì Trâu Phi Đao bước lại gần, chỉ vào trong rừng cây bên cạnh nói: “Chúa công, trong rừng có người đang đợi chúa công!”

Tô Tần theo hắn vào rừng, nhìn thấy một lão Mặc giả đứng dưới gốc cây, Mộc Hoa, Mộc Thực mỗi người đứng một bên, không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là Khuất Tương Tử, bèn vòng tay vái chào: “Vãn bối Tô Tần khấu kiến tiền bối Khuất Tương Tử.”

“Khuất Tương Tử bái kiến Tô đại nhân!” Khuất Tương Tử cũng vòng tay đáp lễ, chỉ xuống đất nói. “Tô đại nhân mời ngồi!” Rồi khoanh chân ngồi xuống trước.

Tô Tần cũng ngồi xuống đối diện.

“Tiền bối tận tâm tận lực, che chở bảo vệ vãn bối mọi đường, vãn bối từ lâu đã muốn bái kiến tiền bối để lắng nghe lời chỉ giáo, nhưng không ngờ công việc bận rộn, ước nguyện khó toại. Nay gặp được tiền bối ở đây, thực khiến vãn bối vui mừng ngoài sức tưởng tượng!” Tô Tần liền gạt bỏ những chuyện không vui suốt mấy hôm nay sang một bên, sắc mặt hoan hỷ.

“Cảm tạ Tô đại nhân quá khen!” Khuất Tương Tử cười vang vài tiếng. “Tô đại nhân lòng hướng về thiên hạ, nhân ái vô bờ, chúng ta phụng mệnh cự tử tới trợ giúp Tô đại nhân, Tô đại nhân nếu muốn tiến nhanh, chúng ta nguyện dốc sức khuyển mã!”

“Đa tạ tiền bối yêu mến! Dám hỏi tiền bối, hẳn có liên quan tới công tộc họ Khuất nước Sở?”

“Khuất Tương mồ côi cha từ nhỏ, thuở nhỏ nghe mẹ kể lại, tiên tổ là Khuất Đãng, từng nhiệm chức mạc ngao dưới thời Khang Vương. Có điều, Khuất Tương từ nhỏ ngông cuồng phóng túng, sau vào Mặc môn, chẳng còn chút vương vấn gì đến tông môn thế hệ nữa, nên cũng quên rồi.”

“Khuất môn của tiền bối, đời đời có kỳ tài. Mấy năm trước, vãn bối gặp được một người, tài năng kiệt xuất.”

“Ồ? Là ai vậy?”

“Họ Khuất, tên Bình, tự là Nguyên, tuy còn ít tuổi, song có hùng tài đại lược, hào khí ngút trời. Khuất môn có được tuấn kiệt nhường này, thực là may mắn cho nước Sở.”

“Tiểu tử của Khuất môn được đại nhân khen ngợi, lão hủ cũng lấy làm an ủi.” Khuất Tương Tử vòng tay cảm tạ, rồi chuyển sang chuyện khác. “Đại nhân lần này xuống nam vào Triệu, là vì việc của Trung Sơn?”

“Vãn bối cũng đang muốn thỉnh giáo tiền bối về chuyện của Trung Sơn!”

Khuất Tương Tử nhiều năm qua chu du khắp ba nước Trung Sơn, Triệu và Yên, đương nhiên hiểu rõ Trung Sơn, thấy Tô Tần hỏi vậy, bèn kể lại lần lượt về hình thế của Trung Sơn và nguyên nhân xung đột với Triệu gần đây, cuối cùng nói: “Tô đại nhân, Trung Sơn do nhỏ yếu nên bị các nước lớn xung quanh dòm ngó, tình thế nguy nan, dưới tay lão hủ hiện có hơn ba trăm đệ tử Mặc gia, đa phần đang ở Trung Sơn giúp họ phòng thủ. Nay biên giới Triệu và Trung Sơn xảy ra xung đột, tương lai hẳn sẽ có chiến tranh, Mặc giả nên tới đâu theo ai, lão hủ muốn nghe lời sáng suốt của đại nhân.”

“Tạ ơn tiền bối yêu mến.” Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, rồi nhìn thẳng vào Khuất Tương Tử, nói. “Nghe tiền bối phân tích tường tận, lại suy đoán dựa vào tình hình liệt quốc, vãn bối đã biết được rằng, xung đột lần này giữa Trung Sơn và Triệu, rất đỗi bất thường, có thể dẫn tới đại chiến thiên hạ. Đệ tử Mặc gia của tiền bối có thể tạm thời rút lui khỏi Trung Sơn, nghe ngóng tình hình, sau đó trợ giúp bên nào sẽ do tiền bối quyết định!”

“Cung kính thụ mệnh!” Khuất Tương Tử vòng tay nói, rồi chỉ vào còn đường lớn trước mặt. “Con đường này ban ngày ngựa xe đông đúc, nhưng đêm xuống khá vắng vẻ. Nếu đại nhân có việc gấp, có thể ngày ngủ đêm đi, Khuất Tương Tử không làm lỡ hành trình của đại nhân nữa.”

Hai người từ biệt nhau. Tô Tần nghe theo lời khuyên của Khuất Tương Tử, ngày nghỉ đêm đi, quả nhiên nhanh chóng hơn nhiều, chưa tới ba ngày đã gần tới vùng biên giới Trung Sơn và Triệu, Hạo Ấp đã trong tầm mắt.

Nhưng đường lại không thể đi được nữa.

Khắp nơi người Trung Sơn chen vai thích cánh, liếc mắt nhìn qua, chỉ thấy doanh trại trùng trùng, đồng cỏ rộng lớn đã bị giày xéo thành bình địa. Bị vây khốn trong tầng tầng lớp lớp doanh trại của đại quân Trung Sơn, Hạo Ấp cách đó vài dặm rõ ràng đang bị cô lập.

Đoàn xe ngựa của Tô Tần đang tìm đường tiến lên, bỗng một cỗ xe ruổi lại, trên xe có một viên tướng vòng tay vái mà hỏi: “Trên xe phải chăng là tướng quốc sáu nước Tô Tần đại nhân?”

“Chính là Tô Tần!” Tô Tần trên xe lập tức đáp lễ.

“Mạt tướng Nhạc Cử, phụng mệnh của tướng quốc Trung Sơn Tư Mã Điêu, kính mời Tô đại nhân tới trướng trung quân phía trước nói chuyện.” Nhạc Cử lại vái mà nói.

Nhạc Cử là con trai của cựu tướng quốc Trung Sơn Nhạc Trì, Nhạc Trì lại là cháu trai của Nhạc Dương, chủ tướng chinh phạt Trung Sơn thời Ngụy Văn Hầu, thực đúng là dòng dõi tướng lĩnh danh môn, lần này dụng binh, được phong làm phó tướng Trung Sơn, địa vị chỉ xếp sau chủ tướng Tư Mã Điêu. Trong lúc binh hoang mã loạn, được Nhạc Cử đích thân tới mời, rõ ràng rất nể mặt Tô Tần. Tô Tần sớm đã nghe Thiện Tông kể về mâu thuẫn biên giới giữa Trung Sơn và Triệu, lần này tới Trung Sơn, vốn cũng muốn bái kiến Tư Mã Điêu, yết kiến Trung Sơn Vương, mong tìm cách hoá giải, song lại nghĩ tới Túc Hầu đang hấp hối, e là không còn dịp gặp mặt, nên mới gắng sức đi mau, nào ngờ lại bị chặn đường xin gặp, cũng coi là đã thoả lòng, lập tức vòng tay đáp lễ, nói: “Cung kính không bằng tuân lệnh, Nhạc tướng quân, mời!”

Nhạc Cử quay đầu xe, đi trước dẫn đường. Tô Tần lệnh cho đám thuộc hạ dừng lại hạ trại, còn mình cùng ba người Trâu Phi Đao, Mộc Hoa và Mộc Thực đánh xe đi theo. Chẳng mấy chốc, hai cỗ xe ngựa đã tiến vào trong trướng trung quân. Tư Mã Điêu toàn thân nhung phục và thượng đại phu Trung Sơn Trương Đăng đã đứng chờ sẵn bên ngoài trướng.

Hành lễ xong xuôi, Tư Mã Điêu dắt tay Tô Tần bước vào trong trướng, đám Trâu Phi Đao đứng hầu ngoài cửa.

Hai bên cùng ngồi, trò chuyện khách sáo một lát, Tô Tần trong lòng có chuyện, vào ngay việc chính, chỉ ra ngoài trướng nói: “Lần trước tại hạ quá cảnh vào Tề, khắp Trung Sơn trên dưới bình hoà êm ấm. Trước sau chưa đầy hai tháng, mà giờ đây lại kiếm tuốt cung giương, dám hỏi tướng quân, đã xảy ra chuyện gì?”

“Than ôi!” Tư Mã Điêu lắc đầu than thở. “Không phải Trung Sơn kiếm tuốt cung giương, mà là người Triệu ức hiếp Trung Sơn quá đáng.”

“Ồ?” Tô Tần vờ như không biết, nhổm người về trước mà hỏi. “Tại hạ kiến văn nông cạn, xin giải thích rõ hơn!”

“Không giấu Tô đại nhân, nếu nhắc đến nguyên nhân, quả thực là chuyện vặt vãnh không đáng nói, chẳng qua chỉ là vài con ngựa chiến mà thôi. Người Triệu nghi ngờ ngựa chiến bị lấy trộm, tới làng lân cận lục soát, chỉ ra vài con, khăng khăng đổ cho dân làng lấy trộm. Dân làng không chịu, hai bên tranh cãi, người Triệu cậy mạnh giết người, dân làng không phục, đánh lại người Triệu. Người Triệu điều động đại quân, thảm sát làng mạc, đến người già, đàn bà, trẻ nhỏ cũng không tha. Trung Sơn Vương nổi trận lôi đình, phái người sang nói lý, người Triệu chẳng buồn đếm xỉa. Đại vương bị ép tới hết cách, mới phải dụng binh, muốn dùng nhiệt huyết đòi lại công bằng, không ngờ lại làm kinh động tới Tô Tử!”

“Chuyện này tại hạ có nghe nói đến. Tại hạ cho rằng, Trung Sơn Vương hưng binh động chúng, lại không phải chỉ vì vài con ngựa chiến, mà là vì Hạo Ấp.” Tô Tần một lời nói thẳng.

“Tô Tử sáng suốt!” Thấy Tô Tần không chút vòng vo, Tư Mã Điêu thoáng sững sờ, rồi cũng thẳng thắn thừa nhận. “Ngựa đích xác không phải là nguyên nhân, mà cái nhọt mủ là Hạo Ấp, đã tới lúc phải nặn bỏ rồi!”

“Hạo Ấp đúng là một cái nhọt mủ, sớm muộn cũng phải nặn bỏ, tuy nhiên, Tư Mã huynh dựa vào đâu mà phán đoán cái nhọt này đã tới hồi không thể không nặn?” Tô Tần hai mắt như đuốc, nhìn xoáy vào ông ta hỏi.

Nước Trung Sơn nhỏ bé lại dám diễu võ giương oai trước Đại Triệu, chắc chắn phải có nguyên do, hoặc là vua tôi Trung Sơn đã đầu óc mụ mị, hoặc là có nguyên nhân khác. Tân quân Trung Sơn lên ngôi, quyền hành nằm trong tay Tư Mã Điêu, mà Tư Mã Điêu cũng không phải người lỗ mãng, Tô Tần hỏi như vậy, hiển nhiên là có ý khác.

“Chuyện này…” Tư Mã Điêu nhất thời cứng họng, có phần lúng túng, nhìn sang Trương Đăng.

“Tô đại nhân quả nhiên tinh tường!” Trương Đăng hơi vòng tay, tiếp lời. “Trung Sơn đánh Triệu, là lấy trứng chọi đá, có điều, ngọc báu thà vỡ còn hơn chịu bẻ cong, tuấn mã thà chết còn hơn phải quỳ hí. Người Triệu ỷ mạnh hiếp yếu, cậy lớn khinh nhỏ, xâm chiếm vùng biên giới Trung Sơn, làm nhục thần dân Trung Sơn, Trung Sơn tuy nhỏ bé, song không chịu quỳ gối sống nhục.”

“Than ôi!” Tô Tần thở dài một tiếng. “Thượng đại phu trả lời không đúng câu hỏi rồi. Là u nhọt cần nặn, tại hạ muốn hỏi lúc nào nên nặn.”

“Theo Tô đại nhân, lúc nào nặn mới là hợp lý?” Tư Mã Điêu đã trấn tĩnh trở lại.

“Đợi tới lúc chín muồi. Dưa chín cuống tự rụng, nhọt chín mủ tự chảy.”

“Hiện tại, lẽ nào nhọt còn chưa chín?”

Tô Tần nặng nề lắc đầu.

“Tại hạ ngu muội, xin Tô Tử giải thích rõ hơn.”

“Đúng như Trương huynh nói, nhỏ không khinh lớn, yếu không hiếp mạnh, trứng không chọi đá. Mà Trung Sơn dám lấy nhỏ khinh lớn, lấy yếu hiếp mạnh, lấy trứng chọi đá, xin dung thứ cho tại hạ mạo muội suy đoán, nguyên nhân không gì khác là có được trợ giúp từ bên ngoài.”

Tư Mã Điêu giật mình kinh hãi, nhìn sang Trương Đăng.

Trương Đăng cũng nhìn lại, một lát sau, bỗng bật lên một tiếng cười: “Tô Tử đã nói vậy, vì sao không chỉ rõ để hai người chúng ta nghe cho thống khoái?”

“Kết minh với Tần, Ngụy, mượn sức Tần, Ngụy để nặn bỏ cái nhọt này!” Tô Tần nói rành rọt từng chữ.

Thấy Tô Tần đã thấu tỏ mưu này, hai người không hẹn mà cùng đưa mắt nhìn nhau, đều hít ngược một hơi khí lạnh.

“Sáu nước hợp tung, Tần tất dùng liên hoành để phá.” Tô Tần vạch trần tới cùng. “Nước đầu tiên mà Tần phải liên hoành chính là nước Ngụy. Tần, Ngụy cùng mưu chiếm, ắt là nước Triệu. Nếu Tần, Ngụy mưu Triệu, ắt kết minh với Trung Sơn. Xin hỏi hai vị đại nhân, phải chăng tại hạ đã đoán bừa?”

Tô Tần suy luận chặt chẽ, lời lẽ mạch lạc, như thể tận mắt thấy mưu này, khiến Tư Mã Điêu và Trương Đăng kinh ngạc tới há hốc miệng.

“Dám hỏi Tô Tử,” Tư Mã Điêu đã kịp hoàn hồn, hạ thấp giọng nói, “cớ sao lại đoán rằng cuống này chưa rụng, nhọt này chưa chín?”

“Là nghĩa và lý.” Tô Tần chậm rãi giải thích. “Các nước hợp tung, tuy có rạn nứt song chưa đến mức thất nghĩa. Ngụy Vương ỷ thế hợp tung, dẫn đầu phạt Tần, thất bại mà oán Triệu, thực là bất minh. Nay lại nghe theo người Tần, muốn bỏ tung chọn hoành, thực là bất trí. Trung Sơn là nước nhỏ, chỉ vì một xó Hạo Ấp mà hợp mưu với Ngụy bất minh bất trí, liên minh với Tần lòng dạ sài lang, trở thành kẻ thù của nước khởi xướng hợp tung, là tự mình đối địch với các nước hợp tung, dù có lý thì việc cũng khó thành, bởi đó tại hạ mới đoán rằng, nhọt này chưa chín!”

“Đa tạ Tô Tử chỉ giáo!” Tư Mã Điêu vòng tay nói. “Trung Sơn ở nơi hẻo lánh, tại hạ kiến văn nông cạn, mạo muội thỉnh cầu Tô Tử nán lại tiểu bang vài ngày, tại hạ sẽ đích thân dẫn Tô Tử tới yết kiến đại vương, thâu đêm bàn chuyện, ý Tô Tử thế nào?”

“Đa tạ ý tốt của tướng quân!” Tô Tần đáp lễ nói. “Tại hạ e là khó được thoả nguyện. Triệu Hầu long thể bất an, lệnh cho tại hạ về gấp, tại hạ không thể chối từ. Đợi tại hạ trở về Hàm Đan vấn an Triệu Hầu xong, sẽ tới bái kiến đại vương, được chăng?”

“Tô Tử đã có việc gấp, tại hạ không dám miễn cưỡng!”

Tư Mã Điêu tiễn Tô Tần ra ngoài trướng, sai Trương Đăng, Nhạc Cử mang lễ vật đến tặng, dõi mắt nhìn theo đoàn xe lăn bánh xa dần, rồi bần thần quay vào trong trướng, đã thấy trên chiếu khách của Tô Tần vừa nãy, Trương Nghi đang ngồi chễm chệ.

Trương Nghi trông rất buồn bã, hai mắt khép hờ, dường như đang suy nghĩ điều gì.

Tư Mã Điêu liếc nhìn Trương Nghi, rồi ngồi xuống chiếu chủ.

Im lặng.

Không biết đã qua bao lâu, Tư Mã Điêu ngẩng đầu hỏi khẽ: “Lời Tô Tử nói, hẳn Trương Tử đã nghe thấy cả rồi?”

Đúng vậy, Trương Nghi đã nghe thấy. Hắn đã nghe không sót một từ. Khi Tô Tần đang sang sảng biện luận, Trương Nghi ngồi ngay sau trướng, chỉ cách Tô Tần một tấm rèm vải. Thậm chí hắn còn nghe thấy cả tiếng thở của Tô Tần.

Mới ngày nào từ biệt ở Hàm Đan, thấm thoắt đã bảy năm trường chưa gặp mặt. Bảy năm, còn dài hơn khoảng thời gian học chung trong Quỷ Cốc.

Kỳ thực, Tô Tần tới trướng, chính là do Trương Nghi dặn người mời đến. Trương Nghi mời Tô Tần đến đây, không phải để nghe Tô Tần cao đàm khoát luận, không phải để nghe Tô Tần giảng giải đại thế tung hoành, mà chỉ vì muốn trông thấy Tô Tần, được nghe giọng nói của Tô Tần. Trên đời này, tiên sinh không thể với, Thiền Nhi không thể phạm, tiểu đồng không thể đùa, Tôn Tẫn, Bàng Quyên không thể hiểu, người thực sự hiểu hắn và thực lòng quan tâm đến hắn, ngoài Hương Nữ ra, chỉ có Tô huynh.

Vậy mà, Tô huynh ơi là Tô huynh, vì sao huynh cứ mãi khăng khăng sống mái với nước cờ hợp tung? Khi hai chúng ta xuống núi, tiên sinh đã nói gì? Đại thế thiên hạ, duy có nhất thống, với tài học của huynh, há lại không hiểu? Lòng người sớm đã đổi thay, liệt quốc thuận hoà chỉ còn là ý nguyện đơn độc của mình huynh mà thôi. Huynh lại một mực hợp tung, là đi ngược đại thế, làm trái đạo lý, có khác gì bọ ngựa chống xe? Bọ ngựa chống xe, làm việc không thể, Tô huynh ơi là Tô huynh, tội tình gì mà phải làm thế?

“Tô Tử cho rằng, u nhọt chưa chín, mủ này chưa tới lúc nặn!” Thấy Trương Nghi mãi không nói năng gì, Tư Mã Điêu ngồi ngay ngắn lại, đặng hắng khẽ một tiếng, bắt đầu thuật lại trọng điểm.

“Tô huynh… đã gầy đi…” Trương Nghi lẩm bẩm vài tiếng chẳng ăn nhập gì, giọng nhỏ đến mức gần như không nghe thấy.

“Trương Tử!” Tư Mã Điêu rõ ràng không quan tâm tới chuyện béo gầy của Tô Tần. “Tại hạ cho rằng, lời Tô Tần nói, không hề vô lý, so với nước lớn, Trung Sơn quả thực chỉ là một tiểu bang bé nhỏ, không thể chen chân. Ngộ nhỡ…”

“Ngộ nhỡ làm sao?” Trương Nghi nhìn sang.

“Ngộ nhỡ chúng ta không lấy được Hạo Ấp, lại đắc tội với nước Triệu, hậu hoạ ắt khôn lường, đến đường rút lui cũng đứt.”

“Không lấy được Hạo Ấp?” Trương Nghi nhịp ngón tay lên mặt bàn đều đều. “Chỉ vỏn vẹn hơn vạn quân trấn thủ, mà sáu vạn đại quân hổ báo lại không lấy được Hạo Ấp, chuyện này mà lan truyền trong liệt quốc, chỉ e là rất khó nghe!”

“Trương Tử có điều không biết,” Tư Mã Điêu chỉ về phía Hạo Ấp, “tuy quân Triệu chỉ có hơn vạn, song gia đinh trai tráng trong thành lại tới hơn hai vạn, tên nào tên nấy tinh thông bách nghiệp, giỏi nghề đánh đấm. Tạm chưa tính đến chuyện này, Hạo Ấp thành cao hào sâu, dễ giữ khó đánh, người Triệu đề phòng bất trắc, đã tích trữ lương thảo, rèn luyện binh khí đủ dùng cho ba năm. Còn như cổng thành, tường thành, kiên cố còn hơn cả thành Hàm Đan, trong các thành nước Triệu, chỉ sau mỗi Tấn Dương, hơn nữa mấy vạn quân Triệu đều đang đóng ở bờ kia Hoè Thuỷ, bất cứ lúc nào cũng có thể vượt Hoè Thuỷ sang chi viện!”

Trương Nghi chỉ cười khẽ vài tiếng: “Nếu như có được Hạo Ấp dễ như trở bàn tay, Tư Mã tướng quân còn nhắc tới hai chữ ngộ nhỡ nữa chăng?”

“Dễ như trở bàn tay?” Tư Mã Điêu trợn tròn mắt.

“Mời tướng quân theo tại hạ một chuyến!”

Trương Nghi đứng dậy, đi ra khỏi trướng, Tư Mã Điêu bám sát theo sau.

Hai người lên xe chiến, chạy tới một vùng đất cao, từ trên nhìn xuống, Hạo Ấp cách đó không xa thu cả vào trong tầm mắt. Hoè Thuỷ rộng lớn giống như một dải đai lưng uốn lượn cách phía nam Hạo Ấp vài dặm, chầm chậm chảy về đông, vài nhánh sông chảy xuyên qua thành, hội tụ với Hoè Thuỷ tại nơi cách thành hơn chục dặm về phía đông.

“Nhìn rõ hình thế chưa?” Trương Nghi thu lại ánh nhìn, nheo nheo mắt, quay sang Tư Mã Điêu.

“Hình thế gì?” Tư Mã Điêu ngơ ngác như lạc trong sương mù.

“Hai con sông nhỏ chảy xuyên qua thành, và cả con sông Hoè Thuỷ kia!” Trương Nghi chỉ vào mấy dải sông trắng bạc phía xa xa.

“Ơ…” Tư Mã Điêu trầm ngâm suy nghĩ.

“Tướng quân vừa nãy nhắc tới sự kiên cố của Tấn Dương, liệu có còn nhớ tới cái lần Tấn Dương nguy khốn?”

“Tấn Dương nguy khốn?”

“Lẽ nào tướng quân không nhớ chút nào chuyện năm xưa Trí Bá liên kết với hai nhà Ngụy, Hàn tấn công Triệu, vây khốn Tấn Dương?”

Tư Mã Điêu đột nhiên bừng tỉnh, nói: “Ý Trương Tử là, chúng ta cũng có thể bắt chước Trí Bá, dùng Hoè Thuỷ nhấn chìm Hạo Ấp?”

“Khi ở Quỷ Cốc, tại hạ từng nghe Tôn huynh nói, không đánh mà thắng được người, mới là giỏi nhất trong những người tài giỏi.” Trương Nghi chỉ về chỗ ba con sông hội tụ phía xa. “Tướng quân chỉ cần đắp một con đập tại vùng đất trũng đằng kia, lại dẫn Hoè Thuỷ từ thượng lưu chảy vào, thành ấp hiện tại ắt sẽ trở thành biển nước!”

Tư Mã Điêu hít sâu một hơi, hai mắt sáng bừng.

***

Túc Hầu gắng gượng cầm cự một hơi thở cuối cùng, chờ Tô Tần đến.

“Tô Tử!” Túc Hầu đã đuổi hết tả hữu, bao gồm cả Củng Trạch ra ngoài, nắm chặt tay Tô Tần, cặp mắt già nua ánh lên vẻ hoang mang. “Khanh hãy thành thực trả lời quả nhân, liệt quốc hợp tung, còn có thể tiếp tục hay chăng?”

Một câu hỏi quá ư trầm trọng.

Tô Tần đã cảm nhận được, niềm tin của Túc Hầu, cũng giống như sức khoẻ của ông ta, đang tiêu biến dần, hoặc có lẽ đã gần như biến mất.

“Chúa thượng!” Tô Tần trong lòng nặng trĩu, song ngữ khí vẫn dứt khoát kiên định, không chút hồ nghi. “Có thể tiếp tục, cũng nhất thiết phải tiếp tục!”

“Sẽ… sẽ không sai lầm chứ?” Túc Hầu lại hỏi một câu.

“Chúa thượng!” Lòng dạ Tô Tần càng thêm như đá đeo, song ngoài mặt vẫn rất đỗi ung dung, còn khẽ mỉm cười. “Lẽ nào chúa thượng không tin Tô Tần? Lẽ nào chúa thượng không tin vào bản thân mình?”

Túc Hầu khép mắt lại, hồi lâu sau, mới từ từ mở mắt, nắm lấy tay Tô Tần, từ từ siết chặt, giọng nói cũng không còn đứt quãng nữa: “Tô Tử, quả nhân tin khanh, quả nhân sao có thể không tin khanh? Hợp tung là lý trời, lý trời sẽ không thể sai lầm.” Ánh mắt từ từ di chuyển khỏi khuôn mặt Tô Tần, dừng lại trên trần nhà, rồi chầm chậm khép lại. “Không giấu Tô Tử, mấy ngày nay, quả nhân nằm im trên giường, vừa chờ đợi Tô Tử, vừa nghĩ ngợi miên man, hết nhớ tiên tổ lại nhớ Giản Tử, hết nhớ Giản Tử lại nhớ Tương Tử, cứ thế nhớ hết người này đến người kia, rồi lại nhớ tới tiên quân, liệt tổ liệt tông Triệu thất, ai ai cũng từng lập nên công lao hiển hách cho Triệu thất, tạo dựng kỳ công cái thế cho đời sau, còn quả nhân thì sao? Quả nhân đời này đã làm được những gì? Quả nhân sắp phải ra đi, sắp được gặp mặt liệt tổ liệt tông, nếu họ lần lượt đến hỏi, xem quả nhân đời này đã làm được những gì cho Triệu thất, thì quả nhân biết ăn nói thế nào đây? Giúp Triệu thất mở rộng biên cương chăng? Khiến ba quân bách chiến bách thắng chăng? Giúp lê dân an cư lạc nghiệp chăng? Khiến cao sĩ bốn phương đua nhau tìm tới chăng? Quả nhân càng nghĩ càng thấy hổ thẹn. Mãi về sau, nghĩ đến Tô Tử, nghĩ tới sáu nước hợp tung, quả nhân mới cảm thấy thư thái cõi lòng. Quả nhân sẽ nói với liệt tổ liệt tông, sáu nước hợp tung, vừa là vì Triệu thất, cũng là vì thiên hạ, để giúp người trong thiên hạ an cư lạc nghiệp.”

Túc Hầu nói tới đây, trên mặt hiện một nét cười, hai mắt hé mở, lại nhìn lên trần nhà, như thể toàn bộ liệt tổ liệt tông đang ở trên đó.

“Chúa thượng!” Tô Tần nghẹn ngào.

“Tô Tử!” Túc Hầu ngoảnh đầu, nhìn sang. “Hợp tung tuy hay, song khó khăn chồng chất. Quả nhân được biết, Trương Nghi từ chức tướng quốc nước Tần, lên đường tới Ngụy, hiện đã được bái làm tướng quốc nước Ngụy, Huệ tướng quốc xe nhẹ lên đường, không biết đã đi đâu. Trương Nghi tới Ngụy, hẳn đã cấu kết với Bàng Quyên, khi sáu nước tấn công Tần, người Tần cố ý giăng bẫy, Bàng Quyên nghi ngờ người Triệu bán đứng, oán hận rất sâu, lần này lại thêm Trương Nghi, e là…”

“Chúa thượng suy nghĩ rất đúng!” Tô Tần gật đầu. “Nếu không nằm ngoài dự đoán của vi thần, Trung Sơn lần này vây đánh Hạo Ấp, chính là bởi có người Ngụy sau lưng.”

“Phải, nếu không có người Ngụy gây chuyện, nước Trung Sơn bé nhỏ lấy đâu ra gan to tày đình đến vậy! Nói tới chuyện này, can qua đã khởi, Tô Tử hẳn có kế hay ứng phó địch?”

“Tần đã nghĩ ra hai kế sách lâu dài và trước mắt. Kế sách trước mắt là, chúa thượng có thể từ bỏ Hạo Ấp, lấy Hoè Thuỷ làm biên giới, kết tình láng giềng hoà mục với Trung Sơn.”

“Còn kế sách lâu dài?”

“Chúa thượng quay mặt về nam xưng vương, cùng ngang hàng với liệt quốc. Thiên hạ đã ở vào thời đại cùng xưng vương, đến Trung Sơn, Tống cũng xưng vương cả rồi, nếu chúa thượng không xưng vương, các nước hợp tung lại sinh hiềm khích. Chúa thượng xưng vương, thần dựa vào thế của chúa thượng tiếp tục tập hợp tung thân, dựa vào năm thế Sở, Tề, Triệu, Hàn, Yên, uy hiếp Tống và Trung Sơn, hình thành đại thế, ép Ngụy bỏ hoành theo tung. Liệt quốc đều tung, Tần ắt rút về giữ Quan Trung, nguy cục có thể hoá giải.”

Huệ Hầu khép mắt lại, trầm ngâm suy nghĩ.

“Tô Tử!” Một lát sau, Túc Hầu lại hé mắt. “Trung Sơn không đáng lo, Hạo Ấp không thể bỏ, còn chuyện xưng vương, quả nhân đã lực bất tòng tâm. Tô Tử có thể bàn với Ung Nhi.” Rồi cao giọng. “Người đâu!”

Cánh cửa đẩy ra, Củng Trạch nghe tiếng bước vào.

“Cho gọi Ung Nhi!”

Triệu Ung bước vào, quỳ xuống trước giường.

“Ung Nhi!” Túc Hầu chỉ vào Tô Tần. “Hãy bái lạy Tô Tử!”

Triệu Ung quay sang Tô Tần, dập đầu.

Tô Tần vội vã phủ phục xuống đất, khấu lạy Triệu Ung.

Đợi Triệu Ung bái lạy xong, Túc Hầu kéo tay thái tử, đặt vào trong tay Tô Tần: “Tô Tử, quả nhân giao phó Ung Nhi cho khanh.”

“Chúa thượng!” Tô Tần vài dài sát đất.

“Ung Nhi!” Túc Hầu dằn mạnh từng chữ. “Bắt đầu từ hôm nay, con phải đối đãi với Tô Tử cung kính như thầy, quốc gia đại sự đều nghe theo kế sách lâu dài của Tô Tử, không được làm trái.”

“Nhi thần tuân chỉ!” Triệu Ung dập đầu đáp.

“Hợp tung phạt Tần, là kế sách lâu dài của Triệu, không thể từ bỏ.”

“Nhi thần kính cẩn ghi nhớ!”

“Lui ra, quả nhân mệt rồi!” Túc Hầu nhắm mắt lại.

Tô Tần, Triệu ưng đưa mắt nhìn nhau, bái lạy lần nữa rồi lui ra ngoài. Củng Trạch giữ Triệu Ung ở ngoài cửa trông chừng, sắp xếp Tô Tần về phủ tạm nghỉ ngơi một đêm, rồi tới thỉnh an sau. Đợi Tô Tần rời khỏi, Túc Hầu lập tức cho gọi Triệu Ung, An Dương Quân Triệu Thành, quốc uý Phì Nghĩa tới. Túc Hầu lần nữa ứa nước mắt gửi gắm con côi. Triệu Thành, Phì Nghĩa lần lượt thề nguyện trung thành trước thiếu chúa, rồi lui ra ngoài cửa điện, quỳ đó thỉnh an.

“Ung Nhi!” Túc Hầu sắp xếp xong mọi việc, bèn giữ một mình Triệu Ung lại, hỏi. “Cha giao con cho Tô Tử, tứ thúc công và Phì Nghĩa. Nếu bàn đại sự, trong ba người đó, con sẽ nghe ai?”

“Ung Nhi nghe cả ba người!” Triệu Ung trầm ngâm một lát, đáp lời.

“Nếu ý kiến của họ trái ngược nhau?”

“Ung Nhi sẽ không nghe ai!” Triệu Ung lại nói.

Túc Hầu lắc đầu.

“Nhi thần ngu muội, xin quân phụ dạy bảo!”

“Kế sách lâu dài của thiên hạ, có thể nghe Tô Tần. Theo như hiện tại, kế sách thiên hạ không nằm ngoài tung, hoành. Hợp tung, là kết yếu chống mạnh; liên hoành, là kết mạnh hiếp yếu. Hợp tung bắt nguồn từ Tô Tần, do Triệu phát động, Triệu là nước khởi xướng, từ bỏ tức là bỏ nghĩa, bỏ nghĩa thì Triệu mất thiên hạ. Tô Tử đề nghị xưng vương, con có thể nghe, quay về nam xưng tôn. Kế sách lâu dài của nước Triệu, có thể nghe Phì Nghĩa. Trung Sơn vô tình vô nghĩa, trở mặt lật lọng, là đại hoạ của nước Triệu ta. Để tiêu diệt họ, trừ hậu hoạ vĩnh viễn, liệt tổ liệt tông đã dốc hết sức lực, chỉ đáng tiếc là cơ duyên chưa tới, nên đến nay vẫn chưa thể hoàn thành. Phì Nghĩa sinh ra ở Đại Đô, lớn lên ở đất Bắc, am hiểu người Hồ. Muốn diệt trừ Trung Sơn, phải kết thân với người Hồ, điều này phụ quân đến cuối đời mới hiểu. Còn chuyện trong cung điện gia tộc, nhất nhất nghe theo tứ thúc công, có tứ thúc công bên cạnh, ta không còn gì lo lắng.”

“Nhi thần xin khắc cốt ghi tâm!”

Dặn dò xong mọi việc, Túc Hầu không còn vương vấn điều gì, ba ngày sau, trút hơi thở cuối cùng ở đài Hồng Ba.

Túc Hầu băng hà, Triệu Ung kế ngôi, dưới sự phò tá của ba vị đại thần Tô Tần, Triệu Thành và Phì Nghĩa, quay mặt về nam xưng vương, lúc đó mới mười bốn tuổi.

Lập tân quân, lại lo tang lễ cho Túc Hầu, suốt mười mấy ngày trời, Tô Tần bận rộn túi bụi, quay như chong chóng từ triều đường tới linh đường, từ tiếp đón liệt quốc phúng viếng tới xử lý xung đột biên cương, việc gì cũng đến tay, không có lấy một phút nghỉ ngơi. Tới ngày thứ mười lăm, nhìn thấy Tô Tần mặt mày nhợt nhạt, đi đường mà ngủ gà ngủ gật, Triệu Vương đặc biệt ân chuẩn cho Tô Tần không phải canh linh cữu, tạm về trạch phủ nghỉ ngơi.

Tô Tần cũng cảm thấy mọi việc đã thu xếp ổn thoả, bèn tạ ơn đại vương rồi đánh xe về phủ.

Vừa tới trước phủ, đã thấy Viên Báo chạy ra đón, bẩm báo rằng: “Chúa công, có khách từ xa tới, đã đợi ở trong phủ suốt mấy ngày rồi!”

“Khách từ xa tới?” Nhớ tới chuyện cả nhà Tô Đại không hẹn mà tới, Tô Tần đoán rằng hẳn lại có người ở quê ra, khẽ chau mày. “Ai vậy?”

“Một nam một nữ, nghe giọng nói có lẽ là người Quan Trung!” Viên Báo đáp.

“Quan Trung? Một nam một nữ?” Tô Tần giật nảy mình. “Có xưng danh tính không?”

“Tại hạ đã hỏi, nhưng họ dứt khoát không nói, chỉ bảo là người quen cũ của chúa công, nhất định đợi chúa công về.”

Người quen cũ? Tô Tần không hỏi gì thêm, vội vã vào trong phủ, thì không thấy hai người trong phòng khách. Viên Báo hỏi người hầu, được biết họ ra hậu hoa viên thưởng hoa, đang định đi gọi thì Tô Tần xua tay, sải bước về phía hậu hoa viên, từ xa đã nhìn thấy hai người một nam một nữ đang quay mặt về phía hồ sen, hiển nhiên là đang ngắm hoa.

Nghe thấy tiếng bước chân, hai người không hẹn mà cùng quay người lại. Người con gái nhìn thấy Tô Tần, vội cúi đầu xuống, nâng ống tay áo lên che mặt, không dám ngẩng lên. Người đàn ông quay lại, nhìn chằm chằm vào bộ hiếu phục trên người Tô Tần dò xét.

Người đàn ông đội mũ đen, thắt đai gấm, ăn vận kiểu đại phu, còn cô gái vàng đeo ngọc giắt, trông vô cùng lộng lẫy quý phái. Tô Tần nhìn họ một lúc, quả tình không tài nào nhớ ra hai người quen phú quý này ở đâu ra, bèn vòng tay vái mà hỏi: “Vị nhân huynh này, tới tìm Tô Tần ư?”

Người đàn ông lại nhìn Tô Tần một hồi, dường như cũng không nhận ra, bèn vòng tay đáp lễ: “Là Tô Tần đại nhân chăng?”

“Tô Tần người Lạc Dương chính là tại hạ!” Tô Tần lại vái.

“Đúng là Tô đại nhân rồi!” Người kia mừng rỡ, vội đáp lễ. “Còn nhớ đại ca cụt tay ở thôn Tiểu Tần đường Hàm Cốc không?”

Tô Tần lúc này mới nhận ra một bên tay áo người này trống rỗng, thì bừng tỉnh, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, vội bước lên một bước, chụp lấy tay hán tử reo lên: “Đại ca! Không ngờ lại là đại ca, tại hạ thực không thể nhận ra!”

“Ta cũng không nhận ra huynh đệ! Huynh đệ tốt… tại sao lại mang hiếu phục thế này?”

“Tiên quân băng hà, tại hạ đang để tang tiên quân!”

“Thảo nào khắp phố ai cũng mang trang phục trắng!” Hán tử cụt tay thốt lên một câu, rồi quay sang cô gái bên cạnh. “Quả Nhi, xấu hổ gì nữa, mau lại bái kiến tướng công đại nhân đi!”

Tô Tần lúc này mới sực nhớ ra, cô gái vàng ngọc rực rỡ kia chính là tiểu cô nương Thu Quả từng cứu mình năm xưa, liền quay sang cô gái vái dài một vái: “Thu Quả cô nương, Tô Tần có lễ!”

Thu Quả quỳ phịch xuống, phủ phục sát đất, không dám ngẩng đầu lên: “Thu Quả bái kiến Tô đại nhân!”

“Ồ…” Tô Tần vội nói. “Thu Quả cô nương, tại sao lại quỳ thế được? Cô nương là ân nhân của Tô Tần kia mà!”

“Thu Quả không dám!” Thu Quả lại dập đầu.

Tô Tần không tiện đưa tay kéo Thu Quả dậy, bèn nhìn sang hán tử cụt tay: “Tần đại ca, mau đỡ Thu Quả dậy, chúng ta quay về phòng khách nói chuyện!”

Hán tử cụt tay bèn kéo Thu Quả đứng lên, theo Tô Tần trở vào phòng khách. Hai bên lần lượt kể cho nhau nghe những chuyện xảy ra với mình kể từ lúc chia tay, lúc này Tô Tần mới biết Tần Công đúng là đã từng đi tìm mình, còn vì chuyện này mà khen thưởng nhà họ Tần thực, không những tấn tước, mà còn thăng làm đại phu. Hán tử cụt tay lấy làm cảm khái, cho rằng chăm sóc người bị thương chỉ là chuyện bình thường, thật không ngờ cứu được Tô Tần, lại được ban thưởng tương đương với cắt ba mươi tai địch. Hai người trò chuyện rôm rả, đến tận khi sắc trời đã tối, Viên Báo bày tiệc, Thu Quả xắn tay áo, rót rượu đứng hầu. Tô Tần và hán tử cụt tay nâng chén liên hồi, uống sảng khoái cho tới tận lúc trăng treo ngọn cây.

Không biết đã uống bao nhiêu, hán tử cụt tay bèn đặt chén rượu xuống, chỉ vào Thu Quả, nói thẳng vào chuyện chính: “Huynh đệ, lần này đại ca tới đây, không vì chuyện khác, chính là vì đứa con gái này.”

“Tạ ơn đại ca tin tưởng!” Tô Tần sớm đã hiểu ý, bèn vòng tay đáp. “Nhận ơn giọt nước, báo đáp dòng sông, năm xưa Tô Tần gặp nạn, được cả nhà đại ca, đặc biệt là Thu Quả cô nương mấy lần cứu giúp, Tô Tần dù có gan óc lầy đất, cũng khó lòng báo đáp. Ngàn vạn lời muốn nói, Tô Tần chỉ gói gọn trong một câu, nếu có việc gì cần đến Tô Tần, Tô Tần dứt khoát sẽ dốc hết sức lực, không dám từ nan.” Rồi quay sang Thu Quả. “Thu Quả cô nương, hãy nói đi, cô nương có ước muốn gì, a thúc đây sẽ thu xếp giúp!”

“Thu Quả chỉ mong được… ở bên cạnh… đại nhân, hầu hạ… đại nhân!” Giọng Thu Quả đứt quãng, lí nhí như thể thì thầm.

“Không giấu huynh đệ,” hán tử cụt tay vội đỡ lời con gái, “Quả Nhi đã tròn đôi chín, nếu ở đất Tần, đáng lẽ đã phải sinh con từ năm năm về trước rồi. Nhưng nó… lớn rồi, hiểu chuyện rồi, suy nghĩ cũng khác, chỉ một lòng muốn hầu hạ đại nhân, bất luận ai tới hỏi, cũng không chịu!”

Tô Tần mấp máy môi vài cái, rồi lại mím chặt.

“Huynh đệ đã hứa sau ba năm quay về đón nó, nó chờ đợi, chờ đợi đằng đẵng đã tám năm rồi!” Hán tử cụt tay than thở.

Tô Tần khép mắt lại.

“Quả Nhi tới đây, là một lòng nguyện theo huynh đệ, mong huynh đệ nể mặt đại ca, giúp nó toại nguyện!” Hán tử cụt tay đã dứt khoát chặn kín đường lui. “Không giấu gì huynh đệ, trên đường đi, đại ca đã hỏi Quả Nhi, nếu không gặp được Tô đại nhân, hoặc Tô đại nhân không chịu thì làm thế nào. Huynh đệ thử đoán xem, Quả Nhi trả lời ra sao? Quả Nhi nói, nó sống là người của huynh đệ, chết là ma của huynh đệ, nếu huynh đệ không chịu nhận, nó chỉ còn đường chết.”

Nói tới đây, thấy Tô Tần vẫn không tỏ thái độ gì, Thu Quả quýnh quáng, quỳ sụp xuống đất, bắt đầu nghẹn ngào.

“Thu Quả cô nương, cô nương… xin hãy mau đứng

dậy!” Tô Tần cuống lên.

Thu Quả vẫn chỉ nức nở.

“Than ôi, đại ca!” Tô Tần thở dài một tiếng, quay sang hán tử cụt tay. “Bảy năm về trước, tại hạ đúng là có nói sẽ tới đón Thu Quả, song vì vô số nguyên nhân, vẫn chưa thể tới Tần, để Quả Nhi phái chờ đợi lâu. Nay đại ca dẫn theo Quả Nhi không quản đường xa ngàn dặm tới đây, thực khiến tại hạ phải hổ thẹn. Đại ca nếu không chê trách, tại hạ có một ý này!”

“Huynh đệ cứ nói!”

“Tại hạ và đại ca kết tình huynh đệ, Thu Quả là ái nữ của đại ca, cũng chính là con gái của tại hạ. Tại hạ không có con cái, bắt đầu từ hôm nay, sẽ nhận Quả Nhi làm con gái nuôi, sớm tối ở lại trong phủ. Chờ đến một ngày, đợi Quả Nhi gặp người ưng ý, tại hạ sẽ giăng đèn kết hoa, làm lễ cưới gả đàng hoàng như con gái ruột, dám hỏi ý đại ca thế nào?”

“Chuyện này…” Ý của Tô Tần rõ ràng quá đỗi bất ngờ, hán tử cụt tay ngần ngừ một lát, rồi nhìn sang Thu Quả.

“Thu Quả tạ ơn nghĩa phụ đã cho phép ở lại!” Thu Quả đã thôi nức nở, đổi khóc thành cười, dập đầu sát đất hành đại lễ. “Nghĩa phụ ở trên, xin nhận của con gái một lạy!”

Tô Tần thở phào một tiếng, cho gọi Viên Báo tới, chuẩn bị đồ tế lễ cần thiết. Sáng sớm hôm sau, Tô Tần đã nghỉ ngơi đầy đủ, tinh thần phấn chấn, bèn tiến hành nghi lễ nhận nghĩa nữ trong phủ, sau đó giao hết mọi việc lặt vặt trong phủ, nhất là chuyện ăn mặc của mình cho Thu Quả quán xuyến. Còn hán tử cụt tay được Viên Báo dẫn đi chơi vài ngày trong thành Hàm Đan, rồi hoan hỷ quay về Tần.

Người khởi xướng hợp tung là Triệu Túc Hầu băng hà rõ ràng là chuyện lớn trong liệt quốc. Tô Tần muốn nhân tang lễ của Túc Hầu để chấn hưng hợp tung, rồi lấy danh nghĩa của người khởi xướng hợp tung, mời liệt vương hoặc đặc sứ của năm nước Sở, Tề, Hàn, Yên, Ngụy tới Hàm Đan, một là đưa tiễn Túc Hầu, hai là nhắc lại minh ước hợp tung, tiến cử tung ước trưởng mới, thực thi tung ước.

Năm vị sứ thần vừa ra khỏi biên giới, thì thượng đại phu Lâu Hoãn đi sứ Tần trở về đã báo rằng, người Tần đang tích thảo đồn lương, mưu đồ trỗi dậy. Tấn Dương cũng gửi cấp báo về, nói ngoài thành ngày càng xuất hiện nhiều người thân phận bất minh, quân Tần ở vùng đầm Đại Chiêu, núi Hồ Kỳ lại tăng thêm một chút, ước chừng đã hơn bốn vạn, rõ ràng mục đích tới đó không phải là chăn ngựa hay săn bắt. Triệu Báo đã điều động hai vạn nhuệ binh đóng quân tại Ngạch Dương, tiền tiêu của Tấn Dương, đồng thời bí mật phái năm nghìn quân sĩ tới đóng ở Trung Dương và Ly Thạch, tăng cường phòng vệ cho hai thành, đảm bảo Tấn Dương vây cánh an toàn, đồng thời tích cực quấy nhiễu hậu phương người Tần, cắt đứt đường lui khi cần thiết.

Quân thần Triệu thất đang bàn bạc về tình hình Tấn Dương, thì lại nhận được cấp báo từ Hạo Ấp. Người Trung Sơn dẫn nước Hoè Thuỷ vào thành, Hạo Ấp biến thành biển nước, vô số thường dân chết chìm, thành trì thất thủ.

Người Trung Sơn càn rỡ đến vậy, khiến cả kinh đô Triệu chấn động, triều thần lại càng hừng hực căm phẫn. Triệu Ung vừa mới xưng vương, hoả khí đang vượng, hạ lệnh điều ba vạn thủ quân Thượng Đảng, lại thêm hai vạn quân từ các ấp xung quanh Hàm Đan và ba vạn viện binh trước đó của Phì Nghĩa, gộp thành tám vạn nhuệ binh, chia thành tam quân, phong Phì Nghĩa làm chủ tướng, Lý Nghĩa Phu làm phó tướng, khí thế ngút trời xông thẳng tới Trung Sơn, quyết tâm một trận diệt trừ mối đại hoạ trong gan ruột, thực hiện lời trăn trối của Túc Hầu trước lúc lâm chung.

Tô Tần lo lắng tột cùng, nhiều lần can gián, song Vũ Linh Vương bịt tai không nghe.

Tô Tần nửa đêm tới gõ cửa phủ An Dương Quân, nói rõ tình thế nguy hiểm của Triệu. Song An Dương Quân nói: “Không giấu Tô Tử, những nguy hiểm này, Triệu Thành đều đã nhìn ra. Thế nhưng… sự tình đã tới nước này, biết làm sao được? Người Triệu xưa nay bộc trực khảng khái, thà chết không chịu nhục. Trung Sơn chỉ một nhúm đất nhỏ nhoi, đánh không thắng lại dùng thủ đoạn hạ tiện này. Đáng thương cho hơn vạn dũng sĩ, vài vạn dân thường Hạo Ấp, chỉ trong một đêm đã làm mồi cho Hà Bá. Chuyện này mà nhẫn nhịn được, thì còn gì không nhẫn nhịn được đây?”

Thấy An Dương Quân xưa nay vốn chín chắn thận trọng mà cũng nghĩ như vậy, Tô Tần hiểu rằng đã khó lòng cứu vãn, chỉ biết thở dài não nề mấy tiếng, rồi quay về phủ, càng nghĩ càng lo lắng, bèn cho gọi Lâu Hoãn tới, cùng bàn bạc kế sách ứng phó.

***

Tư Mã Điêu cũng sớm nhận được quân báo, một mặt dựng luỹ suốt dọc Hoè Thuỷ, bố trí phòng ngự, một mặt cấp báo lên Ngụy Vương xin viện trợ. Ngụy Vương lập tức phong Bàng Quyên làm chủ tướng, công tử Tự làm phó tướng, dẫn mười vạn quân tới chi viện Trung Sơn.

Bàng Quyên sớm đã sắp xếp ổn thoả, đại quân một mạch tiến thẳng tới Nghiệp Thành, vào một đêm trăng mờ gió lộng, vượt qua Chương Thuỷ, từ ba lộ đông, trung, tây đột phá phòng tuyến Phẫu Thuỷ của Triệu. Bàng Quyên đích thân thống lĩnh trung lộ vây đánh Chương Ấp, sau nửa ngày kịch chiến, chém chết vài nghìn quân Triệu, cướp được thành ấp, uy hiếp trực diện Hàm Đan. Cùng lúc đó, đông lộ chiếm được ấp Liệt Nhân, kiểm soát cửa ải trọng yếu phía đông Hàm Đan. Còn tây lộ do Thanh Ngưu chỉ huy ba nghìn quân hổ bôn, ngày nghỉ đêm đi, ngược dòng Chương Thuỷ mà lên, men theo thung lũng sông Thanh Chương, đâm thẳng vào khe Phẫu Khẩu, khí thế như thần binh hạ phàm, tập kích cửa ải Phẫu Khẩu. Lính Triệu trấn giữ cửa ải đa phần đều đang say giấc nồng, hốt hoảng ứng chiến, chưa đầy nửa canh giờ, chủ tướng đã bị Thanh Ngưu chém chết trong cơn hỗn loạn, cửa ải Phẫu Khẩu thất thủ, con đường duy nhất nối thông Hàm Đan với Thượng Đảng đã bị chặn ngang.

Phòng tuyến Phẫu Khẩu mà người Triệu đổ bao tâm huyết suốt mấy chục năm ròng để dựng nên, chỉ trong một đêm đã bị võ binh của Bàng Quyên phá tan tành, kinh đô Hàm Đan của người Triệu đã hoàn toàn bị phơi bày trước mũi nhọn của người Ngụy. Cho tới lúc này, Triệu Ung mới nhớ tới lời can gián của Tô Tần, dẫn An Dương Quân tới Tô phủ ngay trong đêm, thỉnh giáo sách lược ứng phó.

Quân Ngụy đã tới chân thành, Tô Tần cũng chẳng còn cách nào ứng phó, chỉ biết sắp xếp quân kháng cự. Theo lời khuyên của Tô Tần, Triệu Ung chỉ lệnh Phì Nghĩa rút quân khỏi Trung Sơn, trở về chi viện Hàm Đan, truyền dụ người Triệu ở xung quanh hoặc rút vào Hàm Đan, hoặc sơ tán vào các ấp, hoặc lui vào trong rừng núi phía tây, cố gắng bảo toàn lực lượng tối đa, kiên trì cố thủ không xuất đầu lộ diện.

Khi võ binh Ngụy tập kích cửa ải Phẫu Khẩu, tam quân do Lý Nghĩa Phu phụng chỉ xuất phát từ quận Thượng Đảng chinh phạt Trung Sơn đang băng qua khe Phẫu Khẩu, còn chưa tới cửa ải Phẫu Khẩu.

Đúng như tính toán của Bàng Quyên.

Ái Phẫu Khẩu đã vỡ, tàn quân Triệu vừa chiến vừa lui men theo khe Phẫu Khẩu, đụng đầu với đại quân của Lý Nghĩa Phu. Hay tin Phẫu Khẩu thất thủ, Lý Nghĩa Phu lập tức lệnh cho quân tiên phong tăng tốc, nhân lúc quân Ngụy còn chưa ổn định, quyết một trận giành lại cửa ải Phẫu Khẩu.

Ngụy, Triệu kịch chiến một trận trước ải Phẫu Khẩu. Tuy quân Ngụy không chiếm ưu thế về số lượng, song võ binh đều là quân hổ bôn, lại có được địa lợi, người Triệu tấn công ồ ạt hai ngày, tử thương hơn nghìn người, song không lay chuyển được lấy một tấc cửa ải. Hơn thế nữa, Thanh Ngưu đánh đang hăng máu, trong đợt tấn công thứ năm của lính Triệu, bỗng gầm lên một tiếng, vung tít một thân gỗ lớn to chừng miệng bát, mượn thế dốc núi xông thẳng xuống dưới, kè nào cản đường ắt chết, kẻ nào đụng phải ắt thương. Thấy chủ tướng như vậy, lính hổ bôn xung quanh ai nấy hùng dũng khác thường, đua nhau xuất kích, xông thẳng xuống núi. Quân Triệu hãi hùng, tan vỡ rút lui tới vài dặm mới ổn định được thế trận, tổn thất tới vài nghìn quân.

Vài ngày sau đó, đại quân Bàng Quyên đến dưới chân thành Hàm Đan, điều một vạn quân chi viện tới hợp sức phòng thủ cửa ải Phẫu Khẩu. Mắt thấy không chống chọi nổi người Ngụy, cũng không dám tự ý rút lui, Lý Nghĩa Phu chẳng biết làm sao, lệnh cho thuộc hạ đóng trại ở cách cửa ải vài dặm, đồng thời phái người đi theo con đường mòn bí mật trong núi, vòng qua doanh trại quân Ngụy, chạy về Hàm Đan xin ý chỉ.

Đại quân Phì Nghĩa đang chuẩn bị liều vượt Hoè Thuỷ, quyết chiến với Trung Sơn, thình lình nhận được chỉ lệnh, gấp rút quay về ngay trong đêm, nhưng đã muộn rồi. Bàng Quyên đã chặn đứng binh mã của Lý Nghĩa Phu ở bên ngoài cửa ải Phẫu Khẩu, còn quân chủ lực vòng qua Hàm Đan, từ phía tây thành chọc thẳng về phía bắc thành. Cùng lúc này, cánh quân vừa chiếm được ấp Liệt Nhân cũng đột phá về hướng đông bắc, binh mã hai lộ gặp nhau tại ngoại ô phía bắc Hàm Đan, bày trận thế dọc theo Minh Thuỷ, giao chiến kịch liệt với cánh quân tiên phong nước Triệu trở về trước tiên. Quân Triệu trong thành Hàm Đan cũng nhân thế tiếp ứng, chủ lực Triệu, Ngụy giao tranh dữ dội.

Đánh liền mấy ngày, Phì Nghĩa dốc hết toàn bộ bản lĩnh, quân Triệu liều mạng xung phong lâm trận, nhưng không những không thể công phá thế trận sắt thép của võ binh Đại Ngụy, mà ngược lại còn bị quân Ngụy đánh cho tan đàn xẻ nghé, quân tiếp ứng từ Hàm Đan tới cũng bị người Ngụy đánh tan tành, phải rút vào trong thành. Do thương vong quá nhiều, nên trong lúc cấp bách, không thể làm gì được quân Ngụy, lại thêm quân Trung Sơn cũng đang rập rình ở bờ bắc Hoè Thuỷ, uy hiếp sự an nguy của Tín Đô, Phì Nghĩa đành khua chiêng thu quân, rút lui về cố thủ bờ bắc Minh Thuỷ, dựa vào Tín Đô, bố trí thế trận dọc tuyến Vũ An, Lâm Minh quan, đối đầu với người Ngụy.

Trong lúc này, rất nhiều thành nhỏ xung quanh Hàm Đan đều đã bị người Ngụy công phá, quân nhu của người Triệu tích trữ trong các thành ấp đó cũng bị người Ngụy cướp sạch, Hàm Đan trở thành một toà thành cô lập. Mắt thấy binh mã phía Ngụy răm rắp chỉnh tề, trang bị hoàn chỉnh, uy võ tráng kiện, Triệu Ung không còn dám khinh suất, hạ lệnh đóng chặt cổng thành, cố thủ không ra.

Hàm Đan thành cao hào sâu, người Triệu thề chết phòng ngự, quân Ngụy tấn công liên tiếp vài ngày, vẫn không thể đột phá mảy may. Rõ ràng, nhanh chóng công phá Hàm Đan có vẻ như không nằm trong kế hoạch trước đó của Bàng Quyên. Thấy quân Ngụy công thành gặp nhiều thương vong, Bàng Quyên bèn khua chiêng thu quân, sắp đặt chốt chặn trên mọi tuyến đường trọng yếu thông tới Hàm Đan, đồng thời cử lính do thám giám sát ngoài thành Hàm Đan bất kể ngày đêm, tất cả người ra vào đều kiểm tra nghiêm ngặt. Cùng lúc đó, Bàng Quyên truyền lệnh xây dựng sáu doanh trại phòng ngự kiên cố ở ngoài Hàm Đan, hình thành thế lục lăng, vây chặt Hàm Đan, lộ rõ ý đồ vây đánh lâu dài, một mặt cho binh mã nghỉ ngơi, một mặt tìm kiếm cơ hội đột phá.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử