Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 32
Tin con trẻ, Bạch Hổ gửi túi gấm
Rõ lòng người, Tôn Tẫn đốt binh thư

❊ ❊ ❊

Mười ngày sau khi Tôn Tẫn bị hành hình, viên phủ úy do Bạch Hổ phái tới Sở Khâu nước Vệ trở về phục mệnh, nói rằng Lật thủ thừa đã bị gièm pha bãi chức cách đây một năm, hiện đã đưa cả nhà về quê cũ ở nước Tống. Phủ úy tìm gặp được một nô bộc già trong phủ, người này nói rằng khi Lật tướng quân đương chức, bên cạnh chưa từng có thị vệ nào tên gọi Lưu Thanh.

Tất cả mọi bằng chứng đều cho thấy, Tôn Tẫn đã bị vu oan giá hoạ. Tuy nhiên, Bạch Hổ suy đi nghĩ lại, thấy Tôn Tẫn mới tới Đại Lương, chưa gây thù chuốc oán với ai, vậy là kẻ nào đã hãm hại Tôn Tẫn?

Bạch Hổ quyết tâm điều tra bằng được sự việc này. Bạch Hổ đoán rằng, kẻ hãm hại Tôn Tẫn tất ở Đại Lương, bèn dặn dò phủ úy không được hé răng tiết lộ chuyện này với bất cứ ai, đồng thời điều động thêm nhiều sai nha, bí mật điều tra tìm kiếm tên Lưu Thanh giả mạo có vết sẹo ở má. Chỉ cần tìm thấy kẻ này, sự việc sẽ được sáng tỏ.

Lại nói tới Cẩu Tử, từ sau khi gặp Tôn Tẫn trở về, được quản gia Bàng Thông bố trí cho ở trong một khu nhà kín đáo khuất nẻo. Cẩu Tử vốn là người thô tục, sống phóng túng đã quen, không thích ở yên một chỗ, sao có thể bó chân trong nhà? Mới đầu, do có tỳ nữ hầu hạ, còn chịu ở yên. Song hơn hai chục ngày sau, dần thấy chán tỳ nữ, tay chân bắt đầu ngứa ngáy không yên.

Chiều hôm nay, Cẩu Tử lôi mười lượng vàng mà Tôn Tẫn đã tặng cho hắn vì “đi lại vất vả” ra, đùa nghịch tung hứng cùng tỳ nữ ở trong viện. Tỳ nữ chưa từng nhìn thấy nhiều vàng như vậy, càng cung phụng hắn hơn, miệng không ngớt lời tán thưởng. Cẩu Tử được thể khoe khoang với tỳ nữ: “Chỗ vàng cỏn con này nhằm nhò gì, để ta mang cả trăm đĩnh về cho nàng xem!”

Tỳ nữ cũng khích hắn thêm.

Cẩu Tử hứng lên, càng thấy ngứa nghề, lập tức lấy mũ che đi vết sẹo, đút mười lượng vàng vào ống tay áo, lặng lẽ chuồn ra khỏi cửa. Khu nhà này nằm trong hậu hoa viên, trong hậu hoa viên có một cổng phụ, vốn dành riêng cho thợ làm vườn ra vào cho tiện. Cẩu Tử sớm đã biết tới chỗ này, bèn âm thầm mở cổng, lẻn ra phố, đi thẳng tới sòng bạc.

Những chốn đông người qua lại như sòng bạc, kỹ viện, quán trọ chính là mục tiêu lùng sục của đám sai nha. Cẩu Tử tới sòng bạc, vừa bỏ mũ, để lộ vết sẹo trên mặt, đã lập tức bị sai nha cải trang thường dân ở đó nhận ra ngay. Sai nha vốn định bắt hắn, song thứ nhất đây là sòng bạc, thứ hai thấy người này thân thể cường tráng, đoán rằng hắn rất giỏi võ, sợ không bắt nổi, lại rút dây động rừng. Muốn quay về bẩm báo, lại sợ hắn đi mất. Đang vắt óc nghĩ cách, thì Cẩu Tử đến nhanh, mà thua cũng nhanh, chưa đầy nửa canh giờ đã thua sạch cả mười lượng vàng. Lại thêm trong lòng nơm nớp, nên đến kêu than cũng không dám, im thin thít vác bộ mặt rầu rĩ bỏ ra về ngay.

Sai nha nghĩ bụng: “Bây giờ có mỗi mình ta, nếu bắt hắn, để hắn chạy thoát, lại thành hỏng việc lớn. Ta cứ bám theo hắn, xem hắn đang ở đâu.”

Nghĩ là vậy, sai nha lập tức bám theo Cẩu Tử từ khá xa. Cẩu Tử do đang lẩn trốn, không dám tuỳ tiện đi lại trên phố, tới một con phố nhỏ thì chui tọt vào trong một cánh cổng phụ. Sai nha ngước mắt nhìn lên, thấy tường cao viện lớn, biết đây là một nhà phú hộ. Vội bước lại gần, đẩy khẽ vào cánh cổng, song kẻ kia đã cài then bên trong. Đúng lúc này có một cụ già thong dong đi qua, sai nha vừa hỏi thăm đã giật bắn mình kinh ngạc. Hoá ra, bên trong cánh cổng phụ này không phải nhà ai khác, mà chính là hậu hoa viên của phủ Vũ An Quân.

Sai nha cảm tạ cụ già, rồi vội vã quay trở về phủ tư đồ, bẩm báo tường tận những điều tai nghe mắt thấy cho Bạch Hổ biết.

Bạch Hổ lặng người, ánh mắt đầy kinh hãi, đứng ngây hồi lâu mới hỏi: “Ngươi có nhìn rõ không?”

Sai nha khẳng định chắc nịch: “Đại nhân yên tâm, hai mắt của tiểu nhân vẫn tinh tường lắm!”

Bạch Hổ lại đứng lặng hồi lâu, mới chậm rãi nói: “Ngươi tạm thời ở yên trong phủ, không được đi đâu, cũng không được nói chuyện này với bất kỳ ai!”

“Tiểu nhân tuân lệnh!”

Bạch Hổ gấp rút ra khỏi phủ, thấy trời sắp tối, bèn gọi xe ngựa đi thẳng tới phủ Vũ An Quân. Bàng Thông ra đón, đưa Bạch Hổ vào phòng khách, sắp xếp chỗ ngồi xong xuôi thì tới thư phòng bẩm báo với Bàng Quyên.

Một lát sau, Bàng Quyên tất tả bước tới, người còn chưa đến phòng khách, đã nghe thấy tiếng nói vọng vào: “Tiểu đệ, lâu lắm không gặp, sao hôm nay lại có nhã hứng tới thăm ngu huynh vậy?”

Bạch Hổ đứng dậy, ôm quyền đáp: “Tiểu đệ vừa đi qua đây, chợt nhớ tới đại ca, nên tiện thể ghé thăm.”

“Đại ca cũng vậy, vừa hôm kia thôi, còn nói chuyện với chị dâu về nhà tiểu đệ. Chị dâu rất thích Khởi Nhi, còn nói rằng hôm nào đẹp trời, sẽ theo đại ca tới thăm Khởi Nhi.”

“Đa tạ đại tẩu!” Bạch Hổ vái tạ. Trò chuyện một lúc, rồi như tiện miệng hỏi. “Tôn tướng quân thế nào rồi?”

“Chao ôi!” Bàng Quyên than thở. “Đại ca đã thay mấy thầy thuốc rồi, ngày nào cũng thay băng, trong uống ngoài bôi, song vết thương của Tôn huynh vẫn sưng tấy mãi không khỏi. Đại ca lo lắm, lại đang nghĩ đến chuyện thay thầy thuốc khác!”

Bạch Hổ lo lắng, gật đầu nói: “Vâng, đại ca lo cũng phải. Người bị chết bởi hành hình, đa phần không chết trong lúc hành hình, mà chết do viêm loét sau hành hình. Tôn tướng quân may mắn có đại ca chăm sóc, nên tiểu đệ cũng yên tâm phần nào. Tiểu đệ đã tới đây, cũng muốn vào thăm Tôn tướng quân một lát!”

“Tôn huynh có thói quen mặt trời lặn là đi nghỉ, giờ này có lẽ đã ngủ rồi!” Bàng Quyên lập tức cắt ngang. “Tiểu đệ nếu không bận việc gì, trong lúc đợi người chuẩn bị cơm rượu, đại ca muốn đi dạo cùng đệ một lát, sau đó hai huynh đệ ta uống với nhau vài chén, được chăng?”

“Đương nhiên là được!” Bạch Hổ cười nói.

Bàng Quyên dặn Bàng Thông chuẩn bị rượu thịt, còn mình và Bạch Hổ ra ngoài đi dạo. Hai người đi theo con đường nhỏ trong trạch viện, khi sắp tới hậu hoa viên, Bàng Quyên chợt dừng bước, rẽ vào một lối đi khác.

Bạch Hổ cười nói: “Tiểu đệ chưa biết hậu hoa viên của đại ca, muốn vào ngắm nghía một lát, được chăng?”

Bàng Quyên cười mà rằng: “Giờ đang giữa đông, tuyết chưa tan hết, quang cảnh tiêu điều, vườn hoa héo tàn xơ xác, nhìn mà rầu lòng, tiểu đệ không xem là hơn!”

Bạch Hổ không biết nói gì, đành đi theo Bàng Quyên rẽ sang lối khác quay về phòng khách.

Đúng là oan gia ngõ hẹp. Hai người vừa đi ngang qua phòng sổ sách, đột nhiên thấy một kẻ mặt mày hỉ hả bước ra khỏi cửa, có tiếng người nói với theo sau: “Cẩu Tử, quản gia nói rồi, chỉ có thể cho ngươi thêm năm lượng. Nếu lại đánh bạc, một xu cũng không có đâu!”

Cẩu Tử quay đầu lại quát lớn: “La hét cái gì thế, bố mày biết rồi!”

Cẩu Tử nói chưa dứt câu, vừa ngẩng đầu lên đã đụng ngay Bàng Quyên và Bạch Hổ.

Nhìn thấy Bàng Quyên, Cẩu Tử kinh hãi thất sắc, lắp bắp: “Đại… đại tướng quân!”

Tuy trời đã nhá nhem, song nhờ chút ánh tà dương rơi rớt, vẫn nhìn thấy rõ ràng vết sẹo hằn trên mặt Cẩu Tử.

Bàng Quyên, Bạch Hổ đều giật mình sững lại. Bàng Quyên sầm mặt giận dữ, quát lên như sấm: “Còn không cút mau!”

Cẩu Tử chẳng dám ho he, lập tức cúi đầu lủi nhanh vào con đường mòn mà hai người vừa đi qua.

Bạch Hổ ngây người nhìn theo, cho tới khi bóng hắn khuất hẳn ở phía cuối con đường.

Bàng Quyên gọi khẽ: “Tiểu đệ!”

Bạch Hổ dường như không nghe thấy.

Bàng Quyên lên giọng: “Tiểu đệ!”

Bạch Hổ giật mình: “Ồ, đệ lơ đãng quá. Đại ca, kẻ này là ai?”

“Một tên súc sinh! Tiểu đệ, đi thôi, cơm rượu đã chuẩn bị xong xuôi!”

Bạch Hổ dừng bước, vòng tay vái mà nói: “Tiểu đệ bỗng sực nhớ ra là có một việc gấp, phải trở về phủ lập tức. Bữa rượu này hãy để ngày mai uống, được chăng?”

Bàng Quyên thoáng ngẩn người, rồi vái đáp lễ mà nói: “Tiểu đệ đã có việc, đại ca cũng không ép!”

Bàng Quyên tiễn Bạch Hổ tới cổng phủ, đã có xe ngựa chờ sẵn ở đó.

Bạch Hổ quay người vái chào: “Đại ca dừng bước, tiểu đệ sẽ tới thăm sau!”

Bàng Quyên đáp lễ, nói: “Tiểu đệ ra về cẩn thận!”

Nhìn thấy xe ngựa của Bạch Hổ đã đi xa, Bàng Quyên mặt đằng đằng sát khí, bước vội về phía hậu hoa viên, đi tới khu nhà của Cẩu Tử, song không thấy Cẩu Tử đâu. Hỏi tỳ nữ, tỳ nữ cũng không biết, chỉ nói rằng hắn cầm vàng rồi chuồn ra ngoài qua lối cổng phụ của hậu hoa viên.

Bàng Quyên suy nghĩ một lát, cho gọi Bàng Thông tới hỏi: “Thông đệ, Cẩu Tử đi đâu rồi?”

Bàng Thông vò đầu bứt tai: “Tiểu đệ không biết. Vào lúc chập tối, phòng sổ sách tới tìm đệ, nói là hắn đòi chi mười lượng. Mười lượng là một khoản tiền lớn, song thấy hắn là khách quý của đại ca, tiểu đệ suy nghĩ mãi, mới bảo phòng sổ sách tạm chi cho hắn năm lượng. Đợi bẩm báo lên đại ca xong, mới chi tiếp năm lượng còn lại.”

“Hừm!” Bàng Quyên giận dữ rít lên. “Tên súc sinh này, đúng là chán sống rồi!”

“Đại ca?” Bàng Thông nhìn Bàng Quyên ngơ ngác.

“Thông đệ có điều không biết,” Bàng Quyên giải thích, “kẻ này vốn là quan coi kho của tả quân, do ham mê cờ bạc mà tham ô lương thảo, phạm tội chết không thể dung thứ. Trong quân phát hiện ra, hắn liền chạy tới chỗ đại ca, cầu xin cứu mạng. Cũng vì đại ca qúy trọng nhân tài, nể tình hắn lập nhiều chiến công, mới đứng ra giúp hắn, mở cho một con đường sống, để hắn tạm thời lánh nạn ở đây, chờ sóng gió trong quân qua đi, sẽ giao cho hắn làm việc khác để hắn lập công chuộc tội. Nào ngờ tên súc sinh này đã không hối cải, lại ngựa quen đường cũ, còn dám đòi chi tiền đi đánh bạc, bảo đại ca tha thứ cho hắn thế nào đây?”

“Ồ!” Bàng Thông lấy làm hối hận. “Đều trách tiểu đệ khinh suất, không hỏi cho rõ ràng đã vội chi tiền!”

“Chuyện này không liên quan tới Thông đệ!” Bàng Quyên an ủi. “Chỉ là… tên súc sinh này xuất đầu lộ diện như vậy, thật bất lợi cho đại ca!”

“Ồ?”

“Đại ca đã gây dựng được danh tiếng tốt đẹp trong quân, nếu để ba quân tướng sĩ biết chuyện đại ca bao che, chứa chấp kẻ tham ô, dù đại ca có nghìn miệng lưỡi cũng không thể giải thích. Ba quân thất trị, đại ca thất uy, làm sao còn tiếp tục hiệu lệnh được nữa?”

Nghe lời này, Bàng Thông đã hiểu sự thể nghiêm trọng, vội hỏi: “Chuyện đã tới nước này, phải làm thế nào đây?”

Bàng Quyên ghé sát tai Bàng Thông, thầm thì một chốc, Bàng Thông gật đầu lia lịa.

Bạch Hổ rời khỏi phủ Vũ An Quân, vội vã trở về phủ tư đồ, gọi phủ úy và đám sai nha lại, dặn dò: “Người trong bức chân dung đã xuất hiện. Nếu đúng như dự đoán của bản phủ, lúc này hắn đang ở sòng bạc! Các ngươi lập tức hành động, bắt sống bằng được hắn về cho ta!”

Phủ úy nhận lệnh, gấp rút dẫn theo vài chục sai nha, lao đi như lốc cuốn, tiến thẳng tới sòng bạc, bao vây kín mít không chừa một khe hở. Phủ úy dẫn người xông vào chiếu bạc, đám con bạc có mặt không hiểu xảy ra chuyện gì, nháo nhác dúi dụi vào các góc, run rẩy sợ hãi.

Phủ úy tra xét một hồi, không tìm thấy Cẩu Tử, bèn gọi chủ sòng bạc lại, đưa bức chân dung ra tra hỏi: “Ngươi có biết kẻ này không?”

Chủ sòng bạc nhìn tấm chân dung, gật đầu nói: “Khởi bẩm quan gia, kẻ này có biệt danh là Mặt Sẹo, đám con bạc ở đây không ai không biết hắn. Buổi chiều nay Mặt Sẹo thua mười lượng vàng, vừa rồi lại mang năm lượng tới đánh tiếp, song còn chưa tới lượt thì đã có người gọi đi rồi!”

Phủ úy vội hỏi: “Ai gọi hắn đi?”

Chủ sòng bạc ngẫm nghĩ một thoáng: “Có những mấy người, đứng ở ngoài cửa, do trời tối, tại hạ nhìn không rõ!”

“Đi lúc nào?”

“Vừa xong!” Chủ sòng bạc chỉ vào một chén trà trên bàn. “Quan gia nhìn xem, trà của hắn vẫn còn ấm!”

Phủ úy cắt cử hai người ở lại canh chừng sòng bạc, còn mình dẫn đám sai nha chia đường tìm kiếm. Lúc này đã tới giờ Nhân định, trên phố tối đen như mực, vắng tanh không một bóng người. Đám sai nha đốt đuốc, toả đi lùng sục khắp nơi.

Khi phủ úy dẫn người tới một ngã rẽ, bỗng có kẻ kinh hãi kêu lên: “Báo, Mặt Sẹo ở đây!”

Mọi người vội lao tới.

Dưới ánh đuốc bập bùng, chỉ thấy Cẩu Tử đổ nghiêng bên góc tường, cổ họng bị cứa đứt toang hoác, hai mắt trợn trừng khiếp hãi, máu tươi còn ộc ra xối xả qua vết thương. Sai nha lục soát kỹ hiện trường, không phát hiện thấy có bất kỳ vật chứng nào.

Phủ úy lệnh cho đám sai nha cuốn thi thể Cẩu Tử vào trong chiếu cỏ, khiêng về phủ tư đồ, bẩm báo toàn bộ sự việc lên Bạch Hổ, muốn Bạch Hổ tới xem xét.

Bạch Hổ ngồi phịch xuống đất, lặng đi một hồi, rồi xua tay nói: “Không cần! Lui ra đi!”

Hiển nhiên, đây là sự thực mà Bạch Hổ không muốn nhìn thấy nhất. Nhìn theo bóng phủ úy xa dần, Bạch Hổ thở dài não nề, hai mắt đẫm lệ, lẩm bẩm một mình: “Bàng đại ca, ân công, tại sao… tại sao huynh lại có thể như vậy?”

Khu nhà mà Tôn Tẫn đang dưỡng bệnh cũng ở trong hậu hoa viên của phủ Vũ An Quân, cách khu nhà của Cẩu Tử chỉ một ao sen dài vài chục trượng. Trần Chẩn thích câu cá, ao này vốn là ao thả cá, song vì muốn lấy lòng Thụy Liên, nên Bàng Quyên đã cho thả xuống đủ các loại sen. Khi mùa hè tới, sen đua nhau nở rộ, rực rỡ vô cùng.

Bấy giờ là giữa đông, trong ao chỉ còn lá sen tàn úa, rất đỗi tiêu điều. Trời vừa hửng sáng, Bàng Quyên, Bàng Thông, Phạm Trù và một thầy lang tầm năm mươi tuổi rảo bước theo con đường lát đá bên cạnh ao sen, vội vã đến phòng Tôn Tẫn.

Bàng Quyên đi tới trước giường Tôn Tẫn, ân cần hỏi han: “Tôn huynh, hôm nay cảm thấy trong người thế nào?”

Tôn Tẫn gật đầu cười nói: “Đã bớt đau chút ít, cảm tạ hiền đệ quan tâm!”

Bàng Quyên cúi xuống, cẩn thận đỡ Tôn Tẫn ngồi dậy, khẽ than: “Than ôi, đúng là tên lang băm hại người. Đã hai tháng trời, mà vết thương của Tôn huynh chẳng thấy tiến triển gì, ngược lại còn sưng tấy hoá mủ. Quyên đệ lấy làm bực mình, hôm kia đã phạt tên lang băm đó ba mươi gậy, tống vào quân ngũ phục dịch. Hôm qua Phạm Trù tìm được một thầy lang mới, nói là danh y nước Tống, chuyên trị vết thương do bị đánh bị ngã, Quyên đệ dự tính đổi sang người này, nên nay tới nói với Tôn huynh.”

Tôn Tẫn lại gật đầu: “Đa tạ hiền đệ đã lo lắng!”

Bàng Quyên quay sang lão thầy lang, nói: “Lão tiên sinh, thương thế của Tôn tướng quân, xin tiên sinh xem xét cho kỹ.”

Lão thầy lang vén chăn, tháo bỏ lớp vải băng để kiểm tra vết thương, sau đó quay lại dập đầu nói: “Khởi bẩm tướng quân, vết thương của Tôn tướng quân đã bị thối loét…”

Không đợi lão thầy lang nói hết lời, Bàng Quyên đã chặn ngang: “Đám lang băm các ngươi, hễ tới đây là chỉ biết nói mỗi câu này. Nếu không thối loét, còn cần tới ngươi làm gì? Bản tướng hỏi ngươi, vết thương này có chữa trị được không?”

“Thảo dân sẽ tận lực!”

“Cái gì mà tận lực?” Bàng Quyên nổi giận. “Ngươi đã nhận chữa trị, chứng tỏ ngươi tin vào y thuật của mình. Bản tướng nói luôn cho ngươi biết, nếu chữa lành vết thương, bản tướng sẽ thưởng ngươi mười lượng vàng. Còn nếu như có bề gì, bản tướng sẽ lấy hai đầu gối ngươi để bồi thường cho Tôn tướng quân!”

Lão thầy lang khiếp sợ đến hai đầu gối va vào nhau lập cập, dập đầu lia lịa nói: “Tướng quân, thảo… thảo dân…”

Bàng Quyên trợn trừng hai mắt: “Sao, ngươi không dám nhận lời ư?”

“Thảo dân…”

Bàng Quyên quay sang Phạm Trù nói: “Phạm Trù, mỗi bữa của Tôn tướng quân ít nhất phải có bốn món, một canh, rau thịt hài hoà, cứng mềm đúng cách, không được sơ suất mảy may!”

Phạm Trù khấu đầu nói: “Tiểu nhân tuân lệnh!”

Bàng Quyên sắp xếp xong, quay sang Tôn Tẫn, ôm quyền nói: “Tôn huynh ở lại dưỡng thương, Quyên đệ bận việc công, phải đi ngay bây giờ!”

Tôn Tẫn vòng tay đáp lễ: “Hiền đệ bận việc cứ đi, thương thế của Tẫn, không thể vội vàng được!”

“Tôn huynh bảo trọng, Quyên đệ cáo từ!”

“Hiền đệ đi cẩn thận.”

Bàng Quyên từ biệt Tôn Tẫn, cùng Bàng Thông quay trở lại tiền viện, đã có xe ngựa chờ sẵn. Bàng Quyên nhảy lên xe, đi thẳng tới phủ tư đồ.

Bạch Hổ nhận được tin báo, thoáng chút ngạc nhiên, vội ra cổng phủ nghênh đón, vòng tay vái chào: “Sao hôm nay đại ca lại có nhã hứng tới thăm tiểu đệ vậy?”

Câu hỏi này Bàng Quyên cũng mới hỏi Bạch Hổ vào tối qua khi Bạch Hổ tới thăm. Bàng Quyên hơi sững lại, song vẫn nở một nụ cười, vòng tay đáp lễ mà nói: “Tối qua tiểu đệ tới thăm, đại ca vốn đã chuẩn bị rượu thịt sẵn sàng, vậy mà tiểu đệ lại vội vã ra về, đại ca cảm thấy không yên tâm, không biết đệ có chuyện gì nghiêm trọng. Hôm nay có việc đi qua đây, tiện thể ghé vào hỏi thăm.”

Bạch Hổ cũng cười đáp lại: “Đa tạ đại ca đã quan tâm!” Rồi chìa tay nói. “Đại ca, mời vào trong phủ!”

Bàng Quyên đưa cương ngựa cho người hầu, cùng Bạch Hổ đi vào phòng khách, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

Bàng Quyên cười hỏi: “Nghe nói, tiểu đệ gần đây rất bận, là bận chuyện gì vậy?”

Bạch Hổ cười nói: “Đều là chuyện vụn vặt trong phủ, không đáng nhắc đến.”

“Em dâu khoẻ chứ?”

“Vẫn khoẻ, đa tạ đại ca hỏi thăm!”

“Còn Khởi Nhi thế nào? Lần trước gặp thằng bé, thấy rắn rỏi khoẻ mạnh, ra dáng lắm rồi! Trông thằng bé thông minh lanh lợi, sau này ắt có tiền đồ!”

“Tạ ơn lời vàng của đại ca!”

“Nói tới Khởi Nhi, đại ca tới đây, vốn dĩ cũng có một mong muốn.”

“Đại ca xin cứ nói!”

“Nhắc tới chuyện này, cũng thật thú vị!” Bàng Quyên cười vang mà nói. “Chị dâu của đệ kết hôn đã mấy năm, tới nay vẫn chưa sinh nở, hẳn cũng sốt ruột lắm rồi, đêm ngủ cũng mơ thấy ôm con. Mấy ngày trước, chẳng hiểu chị dâu nghe ở đâu mách rằng, chỉ cần nhận con nuôi, có được dẫn dắt, chắc chắn sẽ sinh được thằng cu kháu khỉnh. Chị dâu mừng lắm, về đến nhà liền kể ngay với ta. Đệ cũng biết đấy, chuyện gì đại ca cũng nghe theo lời chị dâu, cả việc nhận con nuôi cũng thế. Đại ca nhớ tới Khởi Nhi, đang định nói thì chị dâu cứ như đã đoán ra suy nghĩ của ta, liền nói ngay rằng muốn nhận Khởi Nhi làm nghĩa tử. Đại ca vui lắm, muốn tới đây bàn chuyện với đệ. Nếu đệ nhận lời, đại ca sẽ làm lễ nhận con nuôi, sai người tới đón Khởi Nhi về phủ đại ca ở vài ngày, thứ nhất là muốn không khí trong nhà được vui vẻ, thứ hai là nhân lúc rảnh rỗi, cũng muốn dạy Khởi Nhi chút công phu quyền cước.”

Bạch Hổ vái tạ mà nói: “Khuyển tử có được vinh hạnh này, là phúc phận của nó. Để tiểu đệ báo cho tiện nội, chọn ngày đẹp đưa khuyển tử tới phủ, đại ca thấy sao?”

“Hay lắm!” Bàng Quyên phấn khởi nói. “Không phải chọn ngày nữa, ngày mai luôn đi!”

“Tiểu đệ xin nghe lời đại ca!” Bạch Hổ cảm tạ xong, lại quan tâm hỏi. “Thương thế của Tôn tướng quân thế nào rồi?”

“Ồ!” Bàng Quyên thở dài nói. “Thương thế vẫn không đỡ, vừa rồi đại ca lại thay thầy lang khác. Thầy lang mới xem ra cũng có chút tài cán, hy vọng lần này sẽ có tiến triển.”

Bạch Hổ ôm quyền, giọng đầy ẩn ý: “Tôn tướng quân gặp đại nạn lần này, may có đại ca giúp đỡ, quả là may mắn trong bất hạnh!”

“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài. “Nếu không phải tại đại ca gửi thư tiến cử, Tôn huynh hẳn sẽ không tới đây, cũng sẽ không gặp đại nạn này. Không giấu tiểu đệ, mấy ngày qua, cứ nghĩ đến chuyện này là đại ca lại thấy hối hận khôn nguôi. Song suy đi nghĩ lại, đại ca vẫn thấy chuyện này có điều khuất tất. Đại ca rất hiểu Tôn huynh, có chết cũng không tin Tôn huynh mưu phản. Đại ca khẳng định, việc này ắt có người hãm hại. Đại ca muốn nhờ đệ điều tra kỹ lưỡng, để trả lại sự trong sạch cho Tôn huynh.”

Nói tới đây, Bàng Quyên lại nghẹn ngào, đưa ống tay áo lên lau nước mắt.

Nhìn thấy Bàng Quyên diễn kịch giỏi đến vậy, Bạch Hổ bỗng thấy ớn lạnh trong lòng, song vẫn bình thản nói: “Đại ca yên tâm, điều tra chân tướng vụ việc vốn là chức trách của tiểu đệ. Đại ca có manh mối gì, có thể cung cấp cho tiểu đệ chăng?”

Bàng Quyên lắc đầu nói: “Không có! Đại ca xưa này làm việc, chỉ để ý tới đại cục, ít chú ý tới tiểu tiết, chưa từng lưu tâm tới những chuyện vụn vặt quanh mình. Tiểu đệ hẳn đã có manh mối?”

Bạch Hổ cũng lắc đầu.

Bàng Quyên bèn đứng dậy, vòng tay vái mà nói: “Chuyện của Tôn huynh, đại ca xin nhờ cậy cả vào tiểu đệ. Ngày mai đại ca chỉ ở nhà, đợi Khởi Nhi đến.”

Bạch Hổ cũng đứng dậy, vòng tay vái mà nói: “Đại ca yên tâm, ngày mai tiểu đệ sẽ cùng tiện nội đưa khuyển tử tới phủ đại ca!”

Sau khi tiễn Bàng Quyên ra về, Bạch Hổ quay vào trong phủ, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, vẫn chưa lần ra manh mối. Mãi tới buổi chiều, Bạch Hổ bỗng nảy ra một ý, bèn cấp tốc đánh xe tới phủ tướng quốc.

Quản gia dẫn Bạch Hổ tới dãy nhà thứ nhất trong hậu hoa viên, rồi quay người rời đi. Trong sân bày một dãy vài chục chậu gốm, bên trong trồng đủ các loại cây hoa, cây nào cây nấy xanh tươi mơn mởn, vừa nhìn đã biết toàn là giống cây chịu được rét. Huệ Thi giống như một ông lão làm vườn, đang ngồi lom khom dưới đất, chuyên chú xén tỉa.

Bạch Hổ tiến lại gần, vòng tay vái chào: “Hạ quan Bạch Hổ bái kiến tướng quốc.”

Huệ Thi vẫn ngồi nguyên tại chỗ, vừa chăm sóc chậu hoa, vừa nhìn Bạch Hổ cười nói: “Lão hủ đang trong bộ dạng này, không phải nghi lễ rườm rà nữa. Có việc gì vậy, nói đi!”

Bạch Hổ bèn kể lại một lượt từ đầu tới cuối chuyện Tôn Tẫn bị hãm hại, cứ ngỡ Huệ Thi sẽ phải kinh ngạc lắm, nào ngờ ông chỉ khẽ chau mày, hai tay vẫn chăm chú vào công việc, miệng hỏi: “Chuyện này còn có ai biết?”

Bạch Hổ lắc đầu nói: “Ngoài Vũ An Quân, chỉ có hạ quan và tướng quốc biết thôi!”

“Tên phủ úy kia thì sao?”

“Có lẽ không biết chi tiết. Hạ quan chỉ bảo hắn bắt người, không hề nói rõ nguyên nhân!”

“Vậy thì tốt!” Huệ Thi khẽ gật đầu. “Bạch tư đồ, việc này không nên điều tra nữa, cũng không nên hé lộ cho bất kỳ ai khác. Tư đồ biết, ta biết, chỉ nên dừng lại ở đây thôi!”

Bạch Hổ vội nói: “Sự việc đã rõ như ban ngày, vụ án này từ đầu tới cuối đều do một tay Vũ An Quân sắp đặt. Vũ An Quân biến trắng thành đen, vừa ăn cắp vừa la làng, hãm hại Tôn giám quân tới nước này, cớ sao tướng quốc lại không muốn trừng trị hắn?”

Huệ Thi vẫn chăm chú cắt tỉa cành hoa: “Cẩu Tử đã chết, không còn người đối chứng. Tội của Tôn Tẫn lại do bệ hạ khâm định. Bệ hạ vốn không phải là thánh chúa, Vũ An Quân lại là rể yêu của bệ hạ, dù có điều tra được chứng cứ rõ ràng, liệu tư đồ và lão hủ có thể làm được gì đây?” Dừng lại một lát, rồi đứng dậy khệ nệ bê chậu hoa lên giá. “Chuyện này chưa tính đến, dù tư đồ có điều tra ra chân tướng vụ việc, Bàng Quyên bị trừng phạt, Tôn Tẫn được rửa oan, liệu nước nhà có được ích lợi gì không? Tranh qua đấu lại, ắt làm tổn hại tới nguyên khí quốc gia. Suốt mấy năm qua, nước Ngụy đã gặp quá nhiều phiền toái, hà tất lại gây thêm chuyện?”

“Nếu như vậy…” Bạch Hổ lập tức tiếp lời. “Tôn tướng quân cả đời này sẽ không rửa được oan khiên ư?”

Huệ Thi thở dài một tiếng, bày xong chậu hoa, phủi bùn đất dính trên tay: “Số phận con người đều do trời định đoạt. Tôn giám quân gặp kiếp nạn này, hẳn là số trời đã định. Số mệnh của Tôn giám quân đã như vậy, tư đồ và ta còn làm gì được đây?”

“Nhưng…” Bạch Hổ vội nói, “hạ quan thân là tư đồ, chuyên cai quản hình ngục, sao có thể giương mắt đứng nhìn người khác bị hãm hại oan ức?”

“Phải!” Huệ Thi gật đầu tán thành. “Nghe lời này, quả không hổ danh là hậu duệ của Bạch Khuê! Ta thấy Tôn Tẫn mệnh vẫn chưa tận, không nên ở lại lâu trong hang hùm. Nếu Bạch tư đồ muốn giúp, hãy cân nhắc tình hình mà định liệu!”

Bạch Hổ ngẫm nghĩ một lát, rồi vòng tay nói: “Tướng quốc nhìn xa trông rộng, hạ quan kính phục!”

Giờ Mão hôm sau, Bạch Hổ và Khởi Y đưa Bạch Khởi tới phủ Vũ An Quân như đã hẹn. Bàng Quyên và Thụy Liên ra tận cổng phủ nghênh đón. Bàng Quyên cười vang, bế Bạch Khởi lên tay, dẫn khách vào trong phòng.

Nói cười được một lát thì Bàng Thông bước vào, bẩm báo từ đường đã chuẩn bị xong xuôi, có thể bái lễ. Mọi người bèn kéo nhau tới từ đường. Bàng Quyên, Thụy Liên quỳ xuống, bái lạy linh vị Bàng Hành xong thì đứng dậy, ngồi xuống trong đường.

Bạch Khởi nhìn cha mẹ, sau đó bước lại trước mặt Bàng Quyên và Thụy Liên, quỳ xuống đất, lạy liền mấy lạy, dập đầu mà nói: “Nghĩa tử Bạch Khởi khấu bái nghĩa phụ, nghĩa mẫu!”

Bàng Quyên đưa mắt nhìn Thụy Liên.

Thụy Liên đứng dậy, bước tới trước mặt Bạch Khởi, đeo lên cổ cậu bé một chiếc vòng vàng, rồi đưa tay ôm cậu bé vào lòng, sau đó dắt tới bên Bàng Quyên.

Bàng Quyên tươi cười rạng rỡ, đưa hai tay đỡ lấy: “Nào, con trai ngoan, thơm nghĩa phụ đi, ba cái vào nhé!” Nói xong, vỗ vỗ tay lên má mình.

Bạch Khởi chu môi thơm má Bàng Quyên, do Bàng Quyên râu mọc lởm chởm đầy mặt, Bạch Khởi lại thơm khá mạnh, nên lập tức chau mày nhăn mặt.

Bàng Quyên cười vang, thuận tay trả lại Bạch Khởi cho Thụy Liên: “Con trai ngoan, ăn quả lừa rồi! Nào, hai cái thơm còn lại chuyển sang cho nghĩa mẫu con, má nghĩa mẫu mềm hơn nhiều!”

Mọi người cùng cười ồ lên.

Bạch Khởi nghe theo Bàng Quyên, thơm Thụy Liên liền năm cái. Thụy Liên sung sướng cứ giữ mãi cậu bé trong lòng, không chịu buông tay.

Mọi người đang cười nói vui vẻ, bỗng thấy Bàng Thông tất tả chạy lại, khẽ bẩm báo: “Đại ca, điện hạ và Mai công chúa giá lâm.”

Thụy Liên nghe nói Thụy Mai tới, vội vã đặt Bạch Khởi xuống, cùng đám Bàng Quyên bước ra khỏi từ đường, ra cổng phủ nghênh đón. Một lát sau, Bàng Quyên và thái tử Thân đi ở phía trước, Thụy Liên nắm tay Thụy Mai đi ở đằng sau, cùng nhau bước vào phòng khách.

Thái tử Thân vừa ngồi xuống, cả nhà Bạch Hổ đã kéo vào, khấu bái sát đất, Bạch Hổ khấu đầu nói: “Vi thần Bạch Hổ cùng gia quyến khấu kiến điện hạ! Khấu kiến công chúa!”

Thái tử Thân chìa tay ra nói: “Ái khanh mau đứng dậy!”

Bạch Hổ lại dập đầu: “Tạ ơn điện hạ!”

Thụy Liên tiến tới trước mặt Thụy Mai, cười nói: “Để em giới thiệu với chị, đây là Bạch tư đồ, đây là Bạch phu nhân!” Rồi bước về phía Tiểu Bạch Khởi, bế cậu bé lên, quay trở lại. “Đây là Tiểu Bạch Khởi, hôm nay em nhận thằng bé này làm con nuôi!”

Thụy Mai nắm tay Bạch Khởi, mỉm cười nói: “Thật là một cậu bé ngoan!”

Bạch Khởi quay sang hỏi Thụy Liên: “Nghĩa mẫu, con phải gọi cô ấy là gì?”

Thụy Liên cười nói: “Gọi là dì!”

“Dì ơi!” Bạch Khởi gọi một tiếng, rồi thơm nhẹ lên má Thụy Mai.

Thụy Mai đỏ mặt, cười nói: “Thằng bé này quả là lanh lợi đáng yêu!”

Bạch Hổ bèn vòng tay nói: “Bạch Hổ xin được cáo từ!”

Bàng Quyên đáp lễ, nói: “Tiểu đệ ra về cẩn thận, đại ca không tiễn xa được!”

Vợ chồng Bạch Hổ lại bái lạy thái tử, rồi ra về.

Bạch Khởi đuổi theo hai bước: “Cha, mẹ…”

Khởi Y mắt ngấn lệ, nói: “Khởi Nhi, con ở chơi nhà nghĩa phụ, vài ngày nữa, mẹ sẽ quay lại đón!”

Bạch Khởi rơm rớm nước mắt gật đầu, nhìn theo bóng cha mẹ xa dần.

Bàng Quyên đương nhiên hiểu rõ vì sao thái tử và Mai công chúa lại tới đây. Đợi sau khi cha mẹ Bạch Khởi đi khỏi, Bàng Quyên vòng tay nói với thái tử Thân: “Điện hạ tới đây, phải chăng muốn thăm Tôn huynh?”

Thái tử Thân gật đầu: “Tôn tướng quân khoẻ chứ?”

Bàng Quyên trào nước mắt, nghẹn ngào nói: “Khởi bẩm điện hạ, đã hai tháng trời rồi mà vết thương của Tôn huynh vẫn chưa lành, thật khiến người ta lo lắng!”

Nghe thấy lời này, Thụy Mai đứng cạnh nước mắt ròng ròng. Thái tử Thân liếc nhìn Thụy Mai, rồi quay sang Bàng Quyên: “Mai muội tới đây, kỳ thực là muốn thăm Tôn Tử, không biết có được chăng?”

Bàng Quyên lau nước mắt: “Nếu Tôn huynh được gặp điện hạ và Mai công chúa, hẳn sẽ vui mừng lắm lắm!”

Thái tử Thân đứng dậy, nói với Thụy Mai: “Mai muội, đi thôi!”

Bàng Quyên dẫn đầu đoàn người, đi về phía hậu hoa viên, tới khu nhà mà Tôn Tẫn đang ở. Bàng Quyên bước vào phòng trước tiên, nói với Tôn Tẫn: “Tôn huynh, điện hạ và Mai công chúa tới thăm huynh!”

Nghe nói điện hạ và Mai công chúa tới, Tôn Tẫn giật mình kinh ngạc, muốn cử động thân người, song vết thương đau buốt, khiến trán vã mồ hôi. Bàng Quyên thấy vậy, vội bước lại đỡ: “Tôn huynh chớ cử động!”

Nói tới đây, vừa lúc thái tử Thân, Thụy Mai, Thụy Liên bế theo Bạch Khởi nối đuôi nhau bước vào trong phòng. Tôn Tẫn đưa tay gõ mấy cái lên mặt bàn phía trước giường, khóc mà rằng: “Tội nhân Tôn Tẫn khấu kiến điện hạ! Khấu kiến công chúa!”

Thái tử Thân tiến lên một bước, ngồi xuống bên giường Tôn Tẫn: “Tôn tướng quân miễn lễ!”

Tôn Tẫn lại gõ ngón tay: “Tạ ơn điện hạ!”

Thái tử Thân nhìn Tôn Tẫn, nước mắt ứa ra: “Tôn tướng quân đã phải chịu khổ rồi!”

Tôn Tẫn khóc nói: “Là tội thần có tội, phải chịu thôi!”

Thái tử Thân thở dài một tiếng: “Than ôi, không nói tới chuyện này nữa, Mai muội có điều muốn hỏi tướng quân!” Rồi đứng dậy, quay sang vợ chồng Bàng Quyên. “Bàng ái khanh, Liên muội, chúng ta ra ngoài đi!”

Bàng Quyên bế Bạch Khởi lên, cùng thái tử Thân, Thụy Liên rời khỏi phòng. Thấy mọi người đã đi xa, trong phòng không còn ai, Thụy Mai bèn bước tới trước giường Tôn Tẫn, ứa lệ nghẹn ngào: “Tôn tướng quân!”

Tôn Tẫn từ từ khép mắt lại, nước mắt âm thầm trào ra bên khoé mắt.

Thụy Mai như đứt từng khúc ruột, chỉ biết gọi: “Tôn tướng quân!” Rồi lại ôm mặt khóc nấc.

Tôn Tẫn đưa ống tay áo lên lau nước mắt, gượng trấn tĩnh lại, rồi chậm rãi nói: “Điện hạ vừa nói, công chúa có lời muốn hỏi tội nhân, Tẫn xin rửa tai lắng nghe.”

Thụy Mai không nói được gì, vẫn gục mặt vào hai bàn tay mà khóc.

Giọng Tôn Tẫn dần trở nên lạnh nhạt: “Công chúa thân qúy nghìn vàng, chớ nên khóc nhiều, tổn hại tới ngọc thể. Ở đây nhơ bẩn, nếu công chúa không có điều gì căn dặn, xin hãy về đi!”

Thụy Mai lại nghẹn ngào gọi: “Tôn tướng quân!”

Giọng Tôn Tẫn càng thêm lạnh lẽo: “Công chúa, người mau về đi, tất cả đều là lỗi của tội thần. Là tội thần không phải với bệ hạ, không phải với điện hạ, lại càng không phải với công chúa!”

Thụy Mai nghe vậy, tiếng khóc chợt im bặt, nàng ngẩng đầu nhìn thẳng vào Tôn Tẫn, cất giọng kiên định lạ lùng: “Tôn tướng quân, Thụy Mai biết, chuyện này chắc chắn không phải là sự thực!”

Song thái độ của Tôn Tẫn còn kiên định hơn: “Công chúa sai rồi, tất cả đều là sự thực! Người Ngụy giết cả nhà tại hạ, tại hạ muốn báo thù là chuyện đương nhiên. Công chúa và tại hạ không cùng một con đường, bệ hạ tha tội chết cho tại hạ đã là đại ân đại đức. Công chúa, người mau về đi, tội nhân Tôn Tẫn khẩn cầu công chúa!”

Thụy Mai mở to cặp mắt đẫm lệ, nhìn Tôn Tẫn đăm đăm hồi lâu, rồi bỗng giọng oanh rành rọt: “Tướng quân hiểu mai, tất hiểu lòng Mai. Thụy Mai kiếp này đã chọn tướng quân. Tướng quân sống, Thụy Mai sẽ theo bên tướng quân; tướng quân chết, Thụy Mai… cũng đi theo tướng quân!”

Tôn Tẫn trong lòng chua xót, nước mắt tuôn trào, hồi lâu sau mới khẽ thì thầm: “Thụy Mai…”

Thấy Tôn Tẫn lần đầu gọi thẳng tên mình, Thụy Mai trong lòng rung động, ngồi xuống bên giường, tay run run nắm lấy tay Tôn Tẫn, giọng nói nghẹn ngào: “Tiên sinh…”

Bên ngoài khu nhà, Thụy Liên đã dẫn Bạch Khởi đi ra phía xa, chỉ có Bàng Quyên cùng thái tử Thân đang tản bộ dưới hàng liễu bên ao sen. Tết Nguyên đán đã qua lâu, tiết trời tuy còn giá lạnh, song loài liễu vốn rất nhạy bén với mùa xuân đã bắt đầu nhú chồi đâm lộc.

Tản bộ được một lát, thái tử Thân than thở mà rằng: “Mai muội thanh cao kiêu ngạo, khó khăn lắm mới gặp được tri âm. Gặp Tôn Tử đây, Mai muội đã coi là tri kỷ, nào ngờ kết cục lại thành ra thế này!”

Bàng Quyên cũng thở dài buồn bã: “Điện hạ, Tôn huynh gặp nạn, vi thần lòng đau như cắt. Tôn huynh và vi thần tình thân như thủ túc, Mai công chúa và Liên Nhi lại là chị em một nhà, điện hạ yên tâm, vi thần sẽ tận tâm tận lực chăm lo cho Tôn huynh. Chỉ có điều việc thành thân…”

“Sao kia?” Thái tử Thân dừng lại, nhìn Bàng Quyên. “Ái khanh có gì lo lắng?”

Bàng Quyên lại thở dài ảo não: “Than ôi, vi thần cũng biết Mai công chúa một lòng với Tôn huynh, song Tôn huynh đã thành phế nhân, đừng nói là phụ vương không đồng ý, dù phụ vương có đồng ý, Mai công chúa lá ngọc cành vàng, lại gả cho một phế nhân, chẳng phải quá thiệt thòi ư?”

Thái tử Thân lắc đầu: “Ái khanh hiểu Liên, song không hiểu Mai. Mai muội một khi đã chọn Tôn Tử, đừng nói Tôn Tử là phế nhân, dù chỉ là một đống xương khô, cũng quyết không bội tình!”

“Than ôi!” Bàng Quyên thực lòng cảm thán. “Đại trượng phu có được diễm phúc này, coi như sống không uổng phí!” Lại trầm ngâm một lát, khó tránh ghen ghét trỗi dậy, khẽ thở dài chua chát. “Nếu được như vậy, vi thần thực sự vui mừng thay cho Tôn huynh.”

Thái tử Thân lời đầy ẩn ý: “Bàng ái khanh, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Tôn Tử hiểu Mai, làm sao Mai lại không trao gửi trái tim cho Tôn Tử?”

***

Phủ Vũ An Quân nằm trên phố Đông Nhai của Đại Lương. Phía đông thuộc Mộc, mang nghĩa phồn vinh, do vậy, trên con phố này phần lớn là quý nhân sinh sống, hai bên dãy phố đều là đại viện kín cổng cao tường, nha phủ san sát.

Nằm giữa phố Đông Nhai và cung Ngụy Vương còn có một con phố lớn khác, tên gọi là Đông Thị, dài khoảng hai dặm, rộng rãi thoáng đãng, hai bên phố hàng quán san sát, đèn màu rực rỡ, chủ yếu phục vụ cho quý tộc quan lại. Ở tận cùng phía đông của phố Đông Thị có một cửa hàng, trên cửa đề mấy chữ “Cửa hàng đồ da họ La”, phía trước cửa dựng một tấm biển gỗ, trên viết: “Nhượng lại toàn bộ cửa hàng”.

Công tử Hoa trong trang phục thiếu gia giàu có kêu xe dừng lại, cùng một tuỳ tùng xuống xe, sải bước vào trong cửa hàng.

Ông chủ thấy có khách đến, vội bước ra đón, vòng tay đon đả: “Thiếu gia, mời vào trong!”

Công tử Hoa vòng tay đáp lễ, chỉ vào biển gỗ hỏi: “Ông chủ muốn bán cửa hàng ư?”

“Phải, phải!” Ông chủ gật đầu lia lịa. “Tại hạ là người Trung Sơn, buôn bán đồ da ở Đại Lương đã hơn chục năm nay. Giờ phụ bệnh nặng, gọi tại hạ về gấp, nên cửa hàng nhỏ này đành phải bán lại.”

Công tử Hoa đưa mắt xem xét một lượt cửa hàng: “Ông chủ muốn nhượng lại giá bao nhiêu?”

Ông chủ chỉ tay vào phía trước cửa hàng, nói: “Cửa hàng có ba gian mặt tiền, bên trong có một dãy mười gian nhà. Theo thời giá, trị giá bảy mươi lượng vàng. Trong cửa hàng còn tồn ba trăm năm mươi tấm da lông, đều là chất liệu thượng hảo hạng nhập từ Yên, Triệu, Trung Sơn, đáng giá bảy mươi lượng, tổng cộng cả thảy một trăm bốn mươi lượng. Do tại hạ bán gấp, bớt hai mươi lượng, công tử trả một trăm hai mươi lượng là được.”

Công tử Hoa đi quanh xem xét một vòng, lại sai tuỳ tùng kiểm đếm số đồ da lông còn tồn, thấy đúng như lời ông chủ nói, không sai một ly, bèn ôm quyền mà nói: “Ông chủ nói cửa hàng này đáng giá một trăm hai mươi lượng, nhưng giờ đây sắp tới mùa xuân, chính là thời điểm đồ da ế ẩm, chưa tính tới chuyện quá nửa năm đầu không thể bán ra, riêng việc duy trì cửa hàng cũng đã phải tiêu tốn một khoản tiền kha khá!”

Ông chủ gật đầu nói: “Công tử đã nói như vậy, hẳn là người trong nghề. Vậy hãy ra giá đi!”

Công tử Hoa bèn chìa ra một ngón tay: “Chừng này, được chứ?”

Ông chủ gật đầu: “Công tử đã thực lòng muốn mua, giá này cũng được!”

Công tử Hoa bảo tuỳ tùng mang hòm lại, đếm đủ trăm lượng vàng, trả cho ông chủ. Ông chủ dẫn tuỳ tùng tới nha phủ, đổi xong khế ước, lập tức lên xe ngựa trở về Trung Sơn.

Công tử Hoa đích thân viết năm chữ “Cửa hàng da họ Tần”, sai người làm thành biển ngạch, tháo biển cũ xuống thay lên. Lại sửa sang cửa hàng cho mới mẻ, tìm người đến khua chiêng gõ trống một hồi, coi như khai trương.

Cách cửa hàng đồ da trăm bước, còn có một con phố nhỏ, đây là khu chợ của phố Đông Thị, bán đủ các loại thịt cá tôm cua, hàng hoá la liệt.

Buổi sáng hôm nay, đầu bếp Phạm Trù của phủ Vũ An Quân xách một chiếc làn to tướng đi chợ, lượn hết sạp hàng này đến sạp hàng khác, sờ soạng thứ này, ngó nghiêng thứ kia, túi tiền treo lủng lẳng sau mông.

Mấy đứa bé quần áo rách rưới đưa mắt nhìn nhau, rồi lẳng lặng bám theo sau. Phạm Trù đi tới một quầy đồ khô, thấy có sọt táo khô bày trước quầy, định mua một ít về hầm canh cho Tôn Tẫn, bèn ngồi xuống, lựa chọn cẩn thận. Một thằng bé liền móc ra cây kéo, lẹ làng cắt đứt phăng sợi dây buộc túi tiền của Phạm Trù, vơ lấy túi rồi co giò bỏ chạy.

Phạm Trù giật mình, vội quờ tay ra sau lưng, cuống quýt ngoảnh đầu nhìn lại, thấy một đứa bé đang cầm túi tiền của mình chạy như bay, vội quát lớn: “Trộm tiền, có kẻ trộm tiền, mau bắt thằng trộm kia lại!” Rồi đứng bật dậy, cắm cổ đuổi theo.

Phạm Trù đuổi gấp, song dọc đường, thi thoảng lại nhao ra một vài đứa trẻ choai choai hoặc bán hoa, hoặc bán đồ lặt vặt, cản bên nọ chắn bên kia, tới khi Phạm Trù lách qua được, thì đứa trộm tiền đã chạy cách một tầm tên bắn.

Phạm Trù vừa hô hoán vừa đuổi thật lực, đến khi chạy vào trong một ngõ hẻm, thì không thấy bóng dáng thằng kẻ trộm đâu nữa. Phạm Trù chạy đi chạy lại, sụp xuống tìm kiếm một hồi, biết là vô vọng, thì ngồi thụp xuống đất khóc ti tỉ. Đúng vào lúc đó, công tử Hoa từ đầu ngõ thong thả tiến lại, thấy Phạm Trù đang khóc lóc ủ ê, bèn ngồi xuống bên cạnh hỏi thăm: “Xin hỏi nhân huynh, có chuyện gì mà buồn lòng đến vậy?”

“Than ôi!” Phạm Trù than thở. “Bẩm thiếu gia, tiểu nhân ra chợ mua thức ăn, chẳng may bị kẻ trộm lấy mất túi tiền. Giờ tiểu nhân không còn lấy một đồng xu dính túi, biết lấy gì để mua thức ăn đây? Không mua được, biết lấy gì nấu ăn cho cả nhà chủ nhân đây?”

Công tử Hoa ra vẻ thông cảm: “Ồ! Quả là nghiêm trọng! Nhân huynh hãy kể rõ sự tình cho tại hạ nghe thử!”

“Chao ôi!” Phạm Trù vẫn nước mắt tèm nhem, rầu rĩ khóc lóc. “Tất cả tiền bạc của tiểu nhân đều đựng cả trong cái túi ấy. Tiểu nhân là đầu bếp trong phủ của chủ nhân, quản gia đưa tiền cho tiểu nhân mua thức ăn cho cả nhà. Tiểu nhân một lần đi chợ mua thức ăn cho ba ngày. Hôm nay còn chưa mua được món gì, đã bị trộm cả túi tiền. Giờ tay không về phủ, tiểu nhân biết ăn nói thế nào với quản gia đây?”

Công tử Hoa hỏi: “Xin hỏi nhân huynh, trong túi có bao nhiêu tiền?”

“Tổng cộng hai trăm chín mươi tám đồng tiền Nguỵ, chừng ba lượng vàng.”

“Nếu mất ba lượng vàng này, nhân huynh sẽ ra sao?”

Phạm Trù sụt sùi nói: “Mất nhiều tiền thế, quản gia chắc chắn sẽ trừ vào tiền công của tiểu nhân. Mỗi tháng tiền công của tiểu nhân chỉ có năm mươi đồng, phải sáu tháng mới trả hết được số tiền mất trộm, ở nhà tiểu nhân, trên có mẹ già hơn sáu mươi tuổi, dưới có trẻ nhỏ đang tuổi ăn tuổi lớn… Sáu tháng không tiền, tiểu nhân biết lấy gì để nuôi cả nhà đây?”

Công tử Hoa bèn đứng dậy, nói: “Nếu đã như vậy, nhân huynh hãy đi theo tại hạ!”

Phạm Trù kinh ngạc nhìn công tử Hoa: “Thiếu gia giúp tiểu nhân đi bắt trộm ư?”

“Trộm thì không bắt được rồi,” công tử Hoa cười nói. “Có điều, chút tiền cỏn con này, tại hạ lại không thiếu.”

Phạm Trù bán tín bán nghi nhìn công tử Hoa, vẫn đứng ngây tại chỗ.

“Sao, nhân huynh không tin tại hạ ư?”

Phạm Trù dường như cũng đã kịp định thần, vội nói: “Tin chứ, tin chứ!”

Phạm Trù lòng dạ thấp thỏm đi theo công tử Hoa tới phố Đông Thị, rẽ vào cửa hàng da họ Tần. Phạm Trù đứng trong cửa hàng, đưa mắt nhìn quanh cửa hàng, biết công tử Hoa là thương nhân lớn, trong lòng càng thêm lo lắng. Công tử Hoa sai thuộc hạ lấy ra ba lượng vàng, đặt vào tay Phạm Trù. Nhìn thấy những đĩnh vàng sáng lấp lánh trên tay, Phạm Trù không dám tin là thực, nhất thời đứng chết trân tại chỗ.

Công tử Hoa cười nói: “Nhân huynh ngẩn ra đó làm gì, còn không mau đi chợ?”

Phạm Trù cứ ngỡ mình đang ngủ mơ: “Ba… ba lượng vàng này đúng là tặng cho tiểu nhân thực ư?”

Công tử Hoa cười vang mà nói: “Chỉ là ba lượng vàng quèn, có nhiều nhặn gì đâu? Nhân huynh cứ cầm lấy đi, coi như để kết bạn!”

Phạm Trù quỳ phịch xuống đất, dập đầu lia lịa: “Xin hỏi ân công quý tính đại danh?”

Công tử Hoa bèn đỡ hắn dậy: “Nhân huynh hãy đứng lên đi! Tại hạ họ Tần, cứ gọi Tần gia là được rồi!”

Phạm Trù khóc mà nói: “Tiểu nhân họ Phạm, do biết nấu vài món tàm tạm nên mọi người gọi là Phạm Trù. Ba lượng vàng hôm nay coi như tiểu nhân nợ ân công, đợi lúc nào có tiền, tiểu nhân nhất định sẽ hoàn trả!”

Công tử Hoa cười nói: “Đã bảo tặng huynh là tặng, Phạm huynh chớ nhắc tới hai chữ ‘hoàn trả’!”

Phạm Trù lại quỳ xuống, khấu đầu mà nói: “An công nếu có việc gì cần dùng đến tiểu nhân, xin cứ nói một lời!”

Công tử Hoa cười vang, gật đầu nói. “Bản thiếu gia nghe rất lọt tai câu này. Bản thiếu gia vừa tới đây, hôm nay coi như đã kết giao được một người bạn là Phạm huynh. Từ nay về sau, Phạm huynh hễ gặp khó khăn gì, cứ tới đây tìm bản thiếu gia!”

Phạm Trù nghẹn ngào nói: “Phạm Trù xin ghi nhớ!”

***

Cỏ lên xanh mướt, đã sắp bước vào mùa cày bừa vụ xuân bận rộn, đợt tập huấn mùa đông kéo dài suốt mấy tháng ròng của nước Ngụy cuối cùng cũng đã kết thúc. Bàng Quyên cho triệu tập tất cả thú thừa và tướng lĩnh phụ trách việc tập huấn các nơi tới doanh trại ở Phùng Trạch báo cáo tình hình cụ thể, thưởng người có công, phạt kẻ lơ là tắc trách, bận rộn suốt mấy ngày trời, mới đánh xe trở về Đại Lương.

Về tới phủ, Bàng Quyên sau khi nghe Bàng Thông bẩm báo, trong đầu chợt loé lên một ý, bèn sải bước tới hậu hoa viên thăm Tôn Tẫn.

Vừa ra khỏi thư phòng, Bàng Quyên nhìn thấy Bạch Khởi đang chăm chú quan sát gì đó dưới một gốc cây to. Bàng Quyên lấy làm tò mò, lén bước lại sau lưng Bạch Khởi. Bạch Khởi không hề hay biết, vẫn cắm cúi nhìn.

Bàng Quyên vỗ khẽ vào vai Bạch Khởi, hỏi: “Con trai ngoan, con ngồi đây xem gì thế?”

Bạch Khởi nhìn thấy Bàng Quyên, bèn quỳ xuống khấu đầu nói: “Khởi bẩm nghĩa phụ, con đang xem bầy kiến bài binh bố trận!”

Bàng Quyên lấy làm hứng thú, cũng ngồi xuống xem, quả nhiên thấy hàng nghìn con kiến đang hối hả nối đuôi nhau bò ra khỏi tổ, tạo thành một hàng dài đen kịt, leo thẳng lên gốc cây to. Quan sát một lát, Bàng Quyên cười hỏi: “Con trai, có biết bầy kiến bày thế trận gì không?”

“Khởi bẩm nghĩa phụ, là trận trường xà chữ nhất!”

“Được lắm!” Bàng Quyên ngẫm nghĩ một lát, rồi hỏi. “Giả dụ con là tướng quân phía ta, bầy kiến này dàn trận trường xà chữ nhất đối đầu với con, con sẽ ứng phó thế nào?”

Bạch Khởi nghĩ một lát rồi đáp: “Tấn công vào hang ổ của chúng, cắt đứt đường rút lui của chúng, đánh cho chúng không còn manh giáp!”

“Ồ?” Bàng Quyên lại bật cười. “Vậy con làm thế nào để tấn công hang ổ của chúng, đánh cho chúng không còn manh giáp?”

“Nghĩa phụ hãy đợi một lát!” Bạch Khởi chạy vào gian nhà cạnh đó, một lát sau thì xách ra một ấm nước sôi, từ từ tưới vào tổ kiến dưới đất, rồi lại từ miệng tổ tưới dọc theo đường kiến đi.

Bạch Khởi tưới xong, Bàng Quyên bèn kéo cậu bé vào lòng, xoa đầu Bạch Khởi, vẻ rất hài lòng: “Được lắm, thông minh sáng dạ, có thể dạy bảo được đây! Nào, theo nghĩa phụ tới thăm Tôn bá phụ!”

Bàng Quyên bế Bạch Khởi bước vào phòng Tôn Tẫn, chuyện trò một lúc thì kéo Bạch Khởi lại trước giường Tôn Tẫn: “Con trai ngoan, hãy dập đầu chào Tôn bá phụ con!”

Bạch Khởi bèn quỳ xuống, dập đầu nói: “Bạch Khởi, trưởng tử của tư đồ Bạch Hổ, nghĩa tử của Vũ An Quân khấu kiến Tôn bá phụ!”

Tôn Tẫn cười nói: “Khởi Nhi, hãy mau đứng dậy!”

Bàng Quyên thấy Bạch Khởi ngoan ngoãn biết điều, trong lòng vô cùng phấn khởi, cười nói với Tôn Tẫn: “Bạch Khởi là con nuôi của Quyên, cũng là con nuôi của Tôn huynh, mong Tôn huynh hãy coi nó như nghĩa tử!”

Bạch Khởi chớp mắt một cái, lại quỳ xuống đất: “Tôn nghĩa phụ ở trên, xin nhận của hài nhi một lạy!” Nói xong, lạy liền ba lạy.

Tôn Tẫn vui mừng khôn xiết, gật đầu cười nói: “Hay lắm, hay lắm! Tôn nghĩa phụ xin nhận con!”

Bàng Quyên lật chăn lên, vừa xem xét vết thương của Tôn Tẫn, vừa hỏi: “Tôn huynh, gần đây thấy thế nào rồi?”

Tôn Tẫn gật đầu khen ngợi: “Ồ, thầy lang này rất cao tay, mủ đã tiêu hết rồi. Tiên sinh nói, nếu thuận lợi, một tháng nữa thôi sẽ khỏi hoàn toàn!”

“Hay quá!” Bàng Quyên quay người gọi. “Thầy lang có đấy không?”

Lão thầy lang đang sắc thuốc ở gian bên cạnh nghe thấy tiếng gọi, vội vã chạy lại, dập đầu chào Bàng Quyên. Bàng Quyên nhìn ông ta, gật gù hài lòng: “Bệnh tình của Tôn tướng quân có tiến triển tốt, đều là công lao của tiên sinh đây. Bản tướng tạm thưởng tiên sinh năm lượng trước, đợi Tôn tướng quân bình phục hoàn toàn, sẽ thưởng nốt số vàng còn lại!”

Thầy lang dập đầu nói: “Thảo dân tạ ơn đại tướng quân ban thưởng!”

Bàng Quyên xoa đầu Bạch Khởi: “Con trai, hãy dẫn thầy lang tới phòng sổ sách, hạ lệnh chi năm lượng vàng!”

Bạch Khởi “vâng” một tiếng, rồi nhanh nhẹn dẫn thầy lang bước ra khỏi cửa.

Tôn Tẫn nhìn Bàng Quyên, trong lòng xúc động muôn phần, khẽ thở dài, nghẹn ngào nói: “Than ôi! Tẫn tới Đại Lương, vốn là muốn trợ giúp hiền đệ một tay, nào ngờ lại trở thành gánh nặng cho hiền đệ. Cứ nghĩ đến chuyện này, trong lòng lại thấy vô cùng hổ thẹn.”

Bàng Quyên quỳ xuống đất, nước mắt ròng ròng mà nói: “Tôn huynh gặp đại nạn này, đều là lỗi của Quyên. Không giấu Tôn huynh, cứ nghĩ tới chuyện này, Quyên lại day dứt không yên, chỉ hận không thể lấy thân này chịu khổ thay cho Tôn huynh, trả lại cho Tôn huynh hai đầu gối đã mất.”

Tôn Tẫn càng thêm xúc động, lại thở dài: “Hỡi ôi, Tẫn đã thành phế nhân, đại ân của hiền đệ, Tẫn chỉ có thể đợi kiếp sau báo đáp.”

Bàng Quyên im lặng một lát, đưa ống tay áo lên lau nước mắt, rồi ngẩng nhìn Tôn Tẫn nói: “Chuyện này cũng trách tiên sinh, đang yên đang lành, cớ sao lại đổi tên Tân của Tôn huynh thành Tẫn? Quyên cũng từng nói, chữ Tẫn thật không tốt lành, nay quả nhiên đã ứng nghiệm!”

“Chuyện này không liên quan tới tiên sinh,” Tôn Tẫn nói. “Giờ ngẫm lại mới thấy, là trong số mệnh Tẫn đã có kiếp nạn này! Tiên sinh cao thâm, đã nhìn thấu thiên cơ từ trước, song không tiện nói lộ, bởi vậy đã đổi tên để cảnh báo cho Tẫn biết. Nào ngờ Tẫn đầu óc ngu muội, không lĩnh ngộ ra, mới gặp hoạ này.”

“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài một tiếng. “Nhắc tới tiên sinh, Quyên thực sự thấy vô cùng hối tiếc!”

“Hiền đệ hối tiếc chuyện gì?”

“Quyên vốn là người Ngụy, coi Ngụy là nhà, chỉ nghĩ tới lập nghiệp ở Ngụy. Năm xưa khi ở Quỷ Cốc, Quyên một lòng tham luyến công danh ngoài núi, nghiệp học chưa thành đã hấp tấp hạ sơn. Nào ngờ núi cao còn có núi cao hơn, người tài còn có người tài hơn, Quyên đệ dốc hết tâm lực, song luôn thấy lực bất tòng tâm, mới khẩn thiết mời Tôn huynh xuống núi. Khi mời huynh, trong lòng Quyên chỉ có một suy nghĩ, nếu hai ta liên thủ, có lẽ sẽ thành tựu đại nghiệp. Nào ngờ sự thể trái ngược, Quyên lại đã làm hại Tôn huynh!”

Tôn Tẫn thở dài một tiếng: “Than ôi, hiền đệ! Là thời, cũng là vận; là vận, cũng là mệnh. Tẫn xuất thân trong gia tộc chinh chiến, bản thân cũng kinh qua sát phạt, thập tử nhất sinh, hồ đồ không nhận ra phương hướng. May sao gặp được cự tử Mặc gia chỉ rõ bến mê, Tẫn tới Quỷ Cốc, mới hiểu rõ tiền đồ. Tu học bốn năm trong Quỷ Cốc, tuy Tẫn không bằng hiền đệ, song cũng coi như đã tận tâm tận lực. Khi quyết xuống núi, Tẫn vốn muốn lập chút sự nghiệp, nào ngờ người tính không bằng trời tính!” Dừng lại một chốc, thở dài não nề. “Hỡi ôi, hiền đệ, thôi đừng nói nữa!”

“Tôn huynh khiêm tốn rồi,” Bàng Quyên thực lòng khen ngợi. “Qua trận chiến Hạng Thành, Quyên đã nhìn ra được tài của Tôn huynh. Trong ván cờ lần trước, Tôn huynh khí thế tựa cầu vồng, càng khiến Quyên thấy mình còn xa mới theo kịp. Sau ván cờ đó, Quyên trở về đã suy nghĩ rất nhiều, chỉ một năm không gặp, công lực của Tôn huynh đã tiến bộ thần tốc, hẳn có liên quan tới ‘Tôn Tử binh pháp’. Hỡi ôi, đáng tiếc là Quyên quá nôn nóng lập công, đã bỏ lỡ mất sách quý, nên tiếc nuối khôn nguôi!”

“Hiền đệ chớ nên nghĩ ngợi,” Tôn Tẫn an ủi. “Từ khi tới Ngụy, Tẫn vốn đã có ý định truyền lại sách này cho hiền đệ, chỉ là bận rộn quá chưa có lúc nào rảnh rỗi. Nay Tẫn đã thành phế nhân, sách quý có giữ trong lòng cũng là vô dụng. Đợi Tẫn đỡ hơn chút ít, sẽ viết ra hết những gì mình ghi nhớ, để hiền đệ cùng tham ngộ.”

Bàng Quyên nghe vậy, bèn sụp xuống khấu lạy: “Nếu thực là vậy, quả là diễm phúc của Bàng đệ!”

Tôn Tẫn vội nói: “Hiền đệ mau đứng dậy!” Thấy Bàng Quyên đã đứng lên, lại nói. “Hiền đệ hãy chuẩn bị sẵn thẻ tre, bút mực, đợi Tẫn khoẻ hơn ít nhiều, sẽ viết ngay tại giường này.”

“Thực làm phiền Tôn huynh!”

Ngay ngày hôm sau, Bàng Thông sai người mang thẻ tre, bút mực tới. Bàng Quyên đích thân chọn ra một tỳ nữ thông minh lanh lợi, hiểu chút ít chữ nghĩa đến hầu hạ Tôn Tẫn. Tôn Tẫn vẫn chưa thể cử động, thầy lang cũng không cho phép làm việc gì quá sức, song vì cảm kích trước ơn nghĩa của Bàng Quyên, Tôn Tẫn khăng khăng đòi viết. Thầy lang bất đắc dĩ, đành sai người làm một bàn thấp, đặt lên mặt giường, vực Tôn Tẫn ngồi dậy, tỳ nữ ở bên cạnh hầu hạ bút mực, để Tôn Tẫn viết ra.

Viết chữ rất tốn sức, cứ mỗi chữ viết ra, Tôn Tẫn đều phải cắn răng chịu đựng nỗi đau đớn kịch liệt, vật vã suốt cả buổi sáng, mới viết xong được hai tấm thẻ tre vỏn vẹn chục chữ. Tới trưa, Bàng Quyên nghe nói Tôn Tẫn đã bắt đầu viết sách, bèn vội vã tới xem.

Thấy Tôn Tẫn cầm bút khó nhọc, trán rịn mồ hôi, Bàng Quyên tỏ vẻ áy náy, lấy ra một chiếc khăn lụa, nhẹ nhàng lau mồ hôi trên trán Tôn Tẫn, bật khóc mà gọi: “Tôn huynh!”

“Than ôi!” Tôn Tẫn thở dài buồn bã. “Vừa mới nhúc nhích một cái, đã đau buốt tận tim gan. Suốt hai canh giờ, mới chép được có từng này!”

Bàng Quyên nghẹn ngào nói: “Tôn huynh, dục tốc bất đạt, Tôn huynh không việc gì phải vội. Hiện tại dưỡng thương mới là quan trọng, đợi vết thương lành hẳn, viết cũng chưa muộn!”

Tôn Tẫn lại than thở mà rằng: “Hỡi ôi, giờ đây xem ra Tẫn đã thành phế nhân thực rồi!”

Bàng Quyên gạt nước mắt, khuyên nhủ: “Tôn huynh chớ nói những lời này! Phế hay không phế, dứt khoát không hạn chế ở thân thể. Rất nhiều người chân tay đầy đủ, song cả ngày ăn no ngồi rỗi, nào có khác gì phế nhân? Tuy Tôn huynh hai chân tàn khuyết, song mưu trí hơn người, mọi việc trong thiên hạ, không gì không biết, làm sao có chuyện đánh đồng cùng phế nhân?”

Tôn Tẫn cười buồn: “Phế hay không phế, trong lòng Tẫn tự biết, hiền đệ không phải an ủi Tẫn!”

Hai người vừa nói tới đây thì Phạm Trù tay xách hộp đựng cơm bước vào, thấy Bàng Quyên thì vội vàng dập đầu bái lạy: “Tiểu nhân khấu kiến đại tướng quân!”

Bàng Quyên liếc nhìn Phạm Trù: “Dọn cơm đi!”

Phạm Trù lấy cơm canh ra, bày lên bàn. Bàng Quyên mở ra nhìn, thấy chỉ có hai món một canh, thì đùng đùng nổi giận, quát lớn: “Nô tài to gan, cơm nước của Tôn tướng quân mỗi bữa phải bốn món một canh, sao lại giảm bớt hai món? Người đâu, lôi hắn ra ngoài, đánh hai mươi trượng cho ta!”

Bàng Thông đứng hầu sẵn trong sân lập tức dẫn hai tên gia đinh hùng hổ xông vào, túm lấy Phạm Trù.

Tôn Tẫn vội can: “Hiền đệ, chuyện này chớ trách Phạm Trù, là Tẫn đã dặn, Tẫn tứ chi bất động, không thấy đói bụng, hai món một canh là đã đủ rồi!”

Bàng Quyên vẫn hằm hằm giận dữ: “Thân là nô tài, tự ý giảm bớt đồ ăn, đáng bị xử phạt. Tôn huynh nếu đã dặn dò, vậy thì giảm cho mười trượng, lập tức lôi ra đánh!”

Bàng Thông sai người lôi Phạm Trù ra ngoài. Tôn Tẫn thấy vậy, chỉ cúi đầu, không nói gì nữa.

Bàng Quyên đích thân bày hai món một canh vào khay, bưng lại bên giường: “Tôn huynh, mời dùng bữa!”

Tôn Tẫn đẩy trả khay cơm: “Hiền đệ, hãy mang đi đi!”

Bàng Quyên ngạc nhiên: “Tôn huynh?”

“Hỡi ôi!” Tôn Tẫn khẽ thở dài. “Phạm Trù vì Tẫn mà chịu phạt, bảo Tẫn làm sao nuốt nổi?”

Bàng Quyên vội gọi: “Người đâu!”

Nô tỳ bước vào, khấu đầu đáp: “Có nô tỳ!”

“Mau đi bảo quản gia, nể tình Tôn tướng quân xin hộ, tạm tha cho Phạm Trù! Ghi nợ mười trượng!”

Nô tỳ tuân lệnh, vội vã đi ra.

Chập tối hôm sau, Phạm Trù tay xách một chiếc hộp sơn đen đẹp đẽ tìm tới cửa hàng da họ Tần. Người làm nhận ra Phạm Trù, vội đón vào trong.

Phạm Trù vòng tay hỏi: “An công có đây không?”

Lời vừa nói dứt, công tử Hoa đã từ nhà trong bước ra, mừng rỡ reo lên: “Ồ, Phạm huynh tới ư, mau vào trong nhà ngồi chơi!”

Phạm Trù theo công tử Hoa vào trong nhà, đặt chiếc hộp xuống rồi quỳ dưới đất, lấy từ trong hộp ra bốn đĩa thức ăn, một bình rượu nhỏ, bày lên trên bàn, dập đầu nói: “An công ở trên, tiểu nhân chẳng có gì đáng giá, nên tự tay nấu vài món vặt, chuẩn bị thêm bình rượu nhạt, kính mời ân công thưởng thức!”

Công tử Hoa đỡ Phạm Trù dậy: “Phạm huynh mau đứng dậy! Đã có rượu ngon, vậy hai ta hãy cùng thưởng thức, được chứ?”

Phạm Trù do dự một lát, rồi bẩm: “Rượu này chỉ dành riêng cho ân công, tiểu nhân không dám!”

Công tử Hoa đang ngẩn người ngạc nhiên, đã thấy Phạm Trù quỳ xuống, lấy bình rượu ra.

Rượu còn chưa rót, hương thơm đã bay ngào ngạt khắp phòng, công tử Hoa buột miệng khen: “Rượu ngon!”

Phạm Trù lấy làm tự hào nói: “Đây là rượu gia truyền của tiểu nhân, ân công có đi khắp Đại Lương, cũng không tìm đâu ra thứ rượu tương tự!”

“Ồ?” Công tử Hoa cười cười. “Nếu nói như vậy, bản thiếu gia đúng là có diễm phúc!”

“Không giấu công tử,” Phạm Trù rót rượu xong, chậm rãi kể, “tổ tiên tiểu nhân đều là thợ nấu rượu ở Đại Lương, rượu ngon ủ ra đều là ngự phẩm của cung đình. Ông cố nội của tại hạ cả đời nấu rượu cho cung thất. Ông nội kế tục nghiệp nhà, nấu rượu hơn ba mươi năm, qua đời từ năm mươi năm về trước. Rượu này là do ông cố nội tiểu nhân ủ riêng, trong nhà chỉ còn một hũ duy nhất, đã cất giấu suốt một trăm hai mươi năm, không phải có tiền là mua được!”

Công tử Hoa kinh ngạc thốt lên: “Bản thiếu gia đã từng thưởng thức vô số mỹ tửu, song thứ rượu ủ tới trên trăm năm, lại là lần đầu tiên được uống!”

“Đừng nói là ân công, dù có là đương kim bệ hạ, cũng chưa từng được uống!”

“Lẽ nào chúa công nhà Phạm huynh cũng chưa từng được uống?”

Phạm Trù càng dương dương tự đắc: “Tiểu nhân thân phận thấp hèn, song ý chí kiên định. Nếu không phải tri kỷ, dù có là vương tôn công tử, muốn ngửi thử rượu này, tiểu nhân cũng quyết không đồng ý! Không giấu ân công, cho tới ngày nay, trên thế gian được nếm qua rượu này mới chỉ có năm người!”

“Ồ?” Công tử Hoa rất đỗi tò mò. “Là năm người nào, Phạm huynh hãy nói nghe thử!”

“Người thứ nhất là ông cố nội. Ông cố nội cả đời thưởng thức vô số mỹ tửu, duy có rượu này chưa từng nếm một giọt. Sau khi niêm phong hũ rượu, ông cố nội đào một căn hầm trong sân, rồi giấu hũ rượu dưới đó. Cứ tới cuối năm, ông cố nội lại tắm gội xông hương, đích thân xuống hầm, hít ngửi hơi rượu qua nắp hũ. Sau khi ông cố nội qua đời, ông nội nuốt lệ mở hũ rượu, rót ra một chén, từ từ đổ vào miệng ông cố nội, còn bản thân ông nội đến một giọt cũng không động, lại niêm phong kín hũ rượu như cũ!”

“Người thứ hai là ai?” Công tử Hoa hỏi.

“Người thứ hai là ông nội!” Phạm Trù giọng đều đều như đang kể chuyện. “Ông nội cũng giống như ông cố nội, cứ tới cuối năm lại tắm gội xông hương, xuống hầm ngửi hơi rượu qua nắp hũ, vô cùng trang trọng. Khi ông nội qua đời, tiên phụ lại mở hũ rượu, rót đây một chén, nuốt lệ đổ rượu vào miệng ông nội. Người thứ ba là tiên phụ, và người rót rượu cho ông chính là tiểu nhân!”

Công tử Hoa kinh ngạc tới đờ người: “Nói như vậy, ba người được thưởng thức rượu, đều là người đã chết!”

“Đúng vậy!” Phạm Trù hai mắt đẫm lệ, gật đầu.

“Dám hỏi Phạm huynh, người thứ tư là ai?” Công tử Hoa càng lúc càng thêm tò mò.

“Sau khi tiên phụ qua đời, tiểu nhân vốn không định mở hũ rượu. Nhưng tối qua, sau khi lễ bái tiên tổ, tiểu nhân đã lén mở hũ rượu, rót ra một bình, mang tặng một người.”

Công tử Hoa sửng sốt: “Hôm qua? Tặng cho ai vậy?”

“Tôn tướng quân!”

Công tử Hoa trợn tròn mắt: “Phải chăng là Tôn Tẫn?”

“Đúng vậy!” Phạm Trù nói. “Mấy tháng qua, Tôn tướng quân đều ăn những món tiểu nhân nấu nướng. Tiểu nhân thân làm tôi tớ, cả đời hầu hạ quan lại quyền quý, thứ nhận được chỉ là đòn roi của chủ nhân, thứ nghe được chỉ là lời quát mắng của chủ nhân, chẳng may sơ sểnh, là gặp hoạ sát thân như bỡn, sống chẳng khác gì trâu ngựa. Từ lúc gặp Tôn tướng quân, tiểu nhân mới biết, tiểu nhân cũng là một con người!” Nói đoạn, bèn kể lại chi tiết sự việc xảy ra hôm qua cho công tử Hoa nghe.

Công tử Hoa nghe mà cảm động, gật gù nói: “Phải lắm, mở hũ rượu vì Tôn tướng quân cũng là xứng đáng!”

“Đúng vậy!” Phạm Trù nước mắt giàn giụa, rót ra một chén rượu từ trong bình, quỳ xuống đất, dâng lên công tử Hoa. “Và ngày hôm nay, tiểu nhân lại mở hũ rượu lần nữa. Ân công ở trên, xin mời uống chén rượu này!”

Công tử Hoa xuất thân quyền qúy, lớn lên trong chốn cung đình, làm gì được nghe thấy những chuyện kiểu này của hàng tiểu nhân? Một người thợ tầm thường, một đầu bếp hạ đẳng chuyên phục dịch người khác, lại trải qua những chặng đời xúc động nhường ấy, tấm lòng lại hào hiệp nhường ấy, thực sự khiến công tử Hoa thán phục! Công tử Hoa rơm rớm nước mắt, cũng quỳ xuống, hướng về chén rượu, lạy liền ba lạy, rồi hai tay đỡ lấy, nâng chén rượu lên nói: “Rượu ngon hiếm có chốn nhân gian, bản thiếu gia được ngửi hương đã là may mắn lắm rồi, huống chi còn được uống!”

Thấy công tử Hoa cung kính như vậy, Phạm Trù lại ứa nước mắt, khóc mà nói: “Ân công, mời dùng!”

Công tử Hoa một hơi uống cạn, quả là thấm thía tận tâm can.

Phạm Trù cầm bình rượu lên, định rót thêm chén nữa, công tử Hoa bèn vòng tay cảm tạ mà rằng: “Vật ngon không thể dùng nhiều, một chén là đủ rồi!”

Phạm Trù cũng không nài ép, đặt chén rượu xuống, lại bái lạy mà nói: “Tiểu nhân cảm tạ ân công đã dùng rượu!”

Công tử Hoa đáp lễ, đưa mắt nhìn Phạm Trù, rồi nói thẳng vào việc chính: “Vừa nãy nghe Phạm huynh nhắc tới Tôn tướng quân, bản thiếu gia chợt nhớ ra một chuyện!”

“Ân công cứ nói!”

“Cách đây không lâu, một người bạn có nhờ bản thiếu gia chuyển một bức thư tới Tôn tướng quân. Bản thiếu gia đã tìm kiếm Tôn tướng quân khắp nơi, được biết tướng quân không may ngộ nạn, được đưa vào phủ quân hầu. Phủ quân hầu thâm nghiêm như biển, thư này đương nhiên không thể chuyển được tới tay. Việc đã lâu rồi, nay nếu Phạm huynh không nhắc tới, bản thiếu gia suýt nữa cũng quên mất!”

“Một ngày ba bữa cơm của Tôn tướng quân, đều do tiểu nhân mang tới. Việc cỏn con này, ân công cứ giao cho tiểu nhân!”

“Cảm tạ Phạm huynh!” Công tử Hoa nói đoạn, lấy ra một phong thư dán kín từ trong ống tay áo, đưa cho Phạm Trù. “Lá thư này là chuyện riêng tư giữa bạn bè, xin Phạm huynh hết sức cẩn thận, tốt nhất không nên để cho ai thấy. Tôn tướng quân hiện là tội nhân, ngộ nhỡ để lộ chuyện ra ngoài, sẽ liên luỵ tới nhân huynh, cũng sẽ khiến bản thiếu gia phải bất an.”

Phạm Trù đưa hai tay đỡ lấy bức thư: “Ân công yên tâm, tiểu nhân tự biết phải làm thế nào!”

Trước giường Tôn Tẫn, tỳ nữ quỳ một bên mài mực, Tôn Tẫn tay phải cầm bút, cẩn thận viết từng nét lên tấm thẻ tre.

Phạm Trù tay xách hộp cơm, bước vào trong phòng, khẽ bẩm: “Tôn tướng quân, xin hãy nghỉ tay một lát, tới bữa trưa rồi!”

Tôn Tẫn vòng tay nói: “Phạm huynh vất vả quá!”

Tỳ nữ thu dọn bàn gỗ, thẻ tre và các vật dụng khác, rồi đứng hầu bên cạnh. Phạm Trù chợt vỗ trán kêu lên: “Phải rồi, tướng quân thích ăn trứng muối, tiểu nhân lại quên khuấy đi mất!” Rồi quay sang tỳ nữ. “Cô nương, trứng muối ở trên bàn dưới bếp, cô nương chân tay nhanh nhẹn, cảm phiền đi lấy giúp cho.”

Tỳ nữ vâng lời, líu ríu chạy đi.

Phạm Trù bước ra giữa sân, ngó quanh quất không thấy ai, mới vội trở vào phòng, lấy bức thư của công tử Hoa từ trong ống tay áo ra, quỳ xuống bẩm: “Có người nhờ tiểu nhân chuyển thư này tới tướng quân, xin tướng quân hãy mở xem vào lúc không có người.”

Tôn Tẫn hết sức kinh ngạc, nhìn Phạm Trù chăm chăm, thấy sắc mặt Phạm Trù vô cùng trịnh trọng, hiểu rằng không phải thư thường, bèn đưa tay cầm lấy, giấu xuống dưới gối, rồi vòng tay nói: “Đa tạ Phạm huynh!”

Phạm Trù làm xong việc ân công nhờ cậy, mới lấy thức ăn ra, bày lên mặt bàn. Không lâu sau, tỳ nữ cầm hai quả trứng muối quay về, đưa cho Phạm Trù.

Đợi Tôn Tẫn dùng bữa xong, Phạm Trù liền dọn khay cơm mang xuống bếp.

Tôn Tẫn quay sang tỳ nữ, nói: “Cô nương, tại hạ muốn nghỉ ngơi một lát, cô nương cũng đã mệt rồi, mau khép cửa lại, sang phòng bên nghỉ đi!”

Tỳ nữ “vâng” một tiếng, lui ra khỏi phòng, đóng cửa lại, song không dám sang phòng bên nghỉ, mà vẫn đứng hầu ngoài cửa.

Tôn Tẫn lấy bức thư từ dưới gối lên, giở ra đọc: “Kinh hãi hay tin tướng quân hàm oan, tại hạ lòng đau như dao cắt. Qua điều tra cặn kẽ, tại hạ biết được, người vu oan hãm hại tướng quân, không phải ai khác, chính là Vũ An Quân. Sự việc quá ư đường đột, tại hạ bàng hoàng sửng sốt, bèn cấp báo cho tướng quân, mong tướng quân hết sức đề phòng. Người đấu cờ ở lầu Vọng Xuân, Mộc Vũ Khuy.”

Tôn Tẫn đọc xong, vội vã gập ngay thư lại, nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ, hồi lâu sau mới lẩm bẩm một mình: “Không thể!” Dừng lại một lát, lại lắc đầu thật mạnh. “Tuyệt đối không thể!”

Hồi lâu sau, Tôn Tẫn lại mở bức thư ra, đọc kỹ một lượt nữa, lại nhắm mắt suy nghĩ miên man, bỗng nhiên như bừng tỉnh: “Phải rồi, ta đã hiểu rồi! Thứ người Tần muốn, là Ngụy; thứ người Tần sợ, là ta và hiền đệ! Giờ đây, xem ra kẻ hãm hại ta, rất có thể chính là người này! Người này lần trước hẹn ta đánh cờ, nếu không phải bệ hạ nói ra, ta đâu biết đó là trúng kế? Nay, hắn lại gửi thư tới, hẳn là muốn dùng kế ly gián, khiến ta và hiền đệ mâu thuẫn, để lợi ích cho người Tần. Được, đợi hiền đệ tới, ta sẽ nói rõ chuyện này với hiền đệ, để hiền đệ biết mà đề phòng!”

Tôn Tẫn nghĩ vậy, bèn cất lá thư xuống dưới gối, yên tâm đi ngủ.

Tới chập tối, Bàng Quyên hồi phủ. Do lúc nào cũng canh cánh bên lòng cuốn “Tôn Tử binh pháp”, nên ăn quấy quá cho xong bữa tối rồi hấp tấp cùng Bàng Thông tới ngay phòng Tôn Tẫn, ngồi xuống trước giường, vén chăn lên, cẩn thận xem xét vết thương của Tôn Tẫn, rồi ôn tồn hỏi: “Tôn huynh hôm nay thấy thế nào?”

Tôn Tẫn gật đầu nói: “Đã đỡ hơn nhiều, chỉ có điều ngứa ngáy ghê gớm!”

Bàng Quyên cười vui vẻ mà nói: “Ngứa là tốt! Thấy ngứa, chứng tỏ vết thương đang mọc da liền thịt. Hẳn không bao lâu nữa, Tôn huynh có thể xuống giường được rồi!”

Tôn Tẫn cũng vui mừng nói: “Xuống giường được thì tốt quá, cả ngày từ sáng tới tối nằm lì trên giường, buồn bực vô cùng. Hơn nữa, ngồi trên giường viết chữ đúng là không ổn, một canh giờ viết không nổi vài hàng.”

Bàng Quyên cầm tấm thẻ tre trên bàn lên, nhìn qua một lượt, tấm tắc khen ngợi: “Tôn huynh ngồi trên giường mà viết chữ vẫn đẹp thế này, khiến Quyên vô cùng khâm phục. Đã viết xong mấy chương rồi?”

“Đây là chương thứ ba, cũng sắp xong rồi!”

Tôn Tẫn sực nhớ tới bức thư, vội đưa tay xuống dưới gối lần tìm, đang định lấy thì Bàng Quyên đã quay sang hỏi tỳ nữ: “Hôm nay Phạm Trù mang tới mấy món?”

Tỳ nữ khấu đầu nói: “Bẩm, bốn món một canh!”

“Tốt! Là những món gì?”

“Bốn món là rau cải, đậu phụ, thịt ướp, cá muối. Một canh là canh trứng nấu rau cải, thêm hai quả trứng muối.”

Bàng Quyên lập tức chau mày, hai mắt sầm lại, quay sang Bàng Thông: “Thông đệ, gọi Phạm Trù lại đây!”

Bàng Thông quay người, đang định bước đi, Tôn Tẫn bỗng thấy chột dạ, vội hỏi: “Hiền đệ, gọi Phạm Trù tới làm gì?”

Bàng Quyên giận dữ nói: “Bản phủ tuy nghèo, song không thiếu những thứ sâm, nhung. Vết thương của Tôn huynh đang lúc hồi phục, cần phải chú ý bồi bổ. Những món kia đều là thức ăn tầm thường trong mâm cơm của bách tính, mà tên chết tiệt này lại nấu cho Tôn huynh ăn, há không đáng đánh đòn?”

Tôn Tẫn cười nói: “Hiền đệ, chuyện này không liên quan tới Phạm Trù! Đây đều là những thứ Tẫn thích, món ăn là do Tẫn tự yêu cầu, Phạm Trù chẳng qua chỉ làm theo y lời mà thôi. Hiền đệ có trách, xin cứ trách Tẫn!”

“Nếu đúng là vậy, Quyên sẽ tạm tha cho hắn!”

Tôn Tẫn cúi đầu ngẫm nghĩ: “Xem ra, chuyện bức thư cũng không nên nói với hiền đệ. Nếu hiền đệ biết được, ắt sẽ truy cứu nguồn gốc lá thư, chẳng phải làm hại tới Phạm Trù ư?” Nghĩ là vậy, bèn rụt ngay bàn tay đang lần dưới gối về.

Bàng Quyên không chú ý đến, chỉ chăm chú nhìn đống thẻ tre mà Tôn Tẫn đã viết xong bày ở trên bàn, cười nói: “Tôn huynh, Quyên thực sự nhịn không nổi nữa rồi! Số thẻ tre này, hãy để Quyên tạm mang về đọc trước!” Nói xong, đưa tay vơ hết chỗ thẻ tre cho cả vào tay áo.

Tôn Tẫn cũng cười nói: “Hiền đệ có thể mang hết về, có điều…

“Tôn huynh cứ nói!”

“Những phần này đều được viết ra theo trí nhớ của Tẫn, trong lúc vội vã, khó lòng chuẩn xác. Tẫn dự định sau khi viết xong toàn bộ, sẽ chỉnh sửa kỹ càng, đến khi đảm bảo hoàn toàn không còn sai sót, mới giao lại cho hiền đệ.”

“Ờ, vậy cũng tốt!” Bàng Quyên gật đầu lia lịa, rút mớ thẻ tre từ trong ống tay áo ra trả lại. “Quyên tạm để đây đã, đợi Tôn huynh viết xong, đọc một thể càng hay!”

***

Từ sau khi nhận vợ chồng Bàng Quyên làm cha mẹ nuôi, Bạch Khởi thường xuyên được đón tới phủ Vũ An Quân, mỗi lần đều ở liền vài ngày. Lúc nào thấy nhớ con quá, Khởi Y lại sai lão quản gia tới đón cậu bé về. Bàng Quyên thường xuyên vắng nhà, Thụy Liên một mình cô đơn vò võ, bởi vậy niềm vui lớn nhất là có Bạch Khởi ở bên cạnh. Mỗi khi người nhà cậu bé tới đón, Thụy Liên thường lưu luyến bịn rịn không thôi, tiễn ra tới tận cổng, còn dặn đi dặn lại cậu bé sớm trở về, như thể không phải Bạch Khởi về nhà mà chỉ là tạm thời đi thăm người thân.

Hôm nay cũng vậy, Thụy Liên ân cần dặn dò, Bạch Khởi vâng dạ luôn miệng, hẹn rằng chỉ đi hai ngày là về.

Bên này cũng là mẫu tử tình thâm, mấy ngày không gặp, như cách ba thu, vừa gặp mặt đã ôm chầm lấy nhau. Ôm ấp một hồi, Bạch Khởi đẩy Khởi Y ra, hí hửng lôi ngay cây thương kết ngù đỏ mà Bàng Quyên làm riêng cho mình ra khoe với mẹ: “Mẹ ơi, hài nhi múa cho mẹ xem nhé!”

Bạch Khởi chạy lại khoảng đất trống, múa tít cây thương nhỏ, trông cũng thành chiêu thành thức, gió rít vù vù.

Chớp mắt đã qua hai ngày. Hôm nay Bạch Khởi dậy rất sớm, ra sân luyện tập thương pháp một hồi, rồi cáo biệt Khởi Y, nói là phải về nhà cha nuôi. Khởi Y quyến luyến, không muốn cho cậu đi. Bạch Khởi quỳ xuống, lạy ba lạy mà nói: “Mẹ, nam tử hán nói lời phải giữ lời, hài nhi đã nhận lời với nghĩa mẫu, giờ phải trở về như đã hẹn, nếu không sẽ là thất tín. Đợi con về bái chào nghĩa mẫu, nói với nghĩa mẫu nỗi lòng thương nhớ con của mẹ, sau đó sẽ từ biệt nghĩa mẫu, lại trở về với mẹ, có được không?”

Nghe Bạch Khởi nói ra được những lời như vậy, Khởi Y không khỏi thầm kinh ngạc trong lòng, liền gật đầu đồng ý. Thấy con trai còn nhỏ mà đã hiểu chuyện, Bạch Hổ bỗng nảy ra một ý, bèn nói với Bạch Khởi: “Khởi Nhi, hãy theo cha tới đây!”

Bạch Khởi gật đầu, đi theo cha tới từ đường. Hai cha con quỳ xuống trước linh vị liệt tổ liệt tông, lạy liền mấy lạy. Bạch Hổ chỉ tay vào linh vị Bạch Khuê, hỏi: “Khởi Nhi, con có biết đây là linh vị của ai không?”

“Thưa cha, là ông nội!”

“Bái lạy ông nội đi con!”

Bạch Khởi quay mặt vào linh vị Bạch Khuê, lạy liền mấy lạy, rồi ngẩng nhìn Bạch Hổ.

Bạch Hổ nhìn con trai, do dự hồi lâu rồi mới hạ quyết tâm, sắc mặt hết sức nghiêm trang hỏi: “Khởi Nhi, hãy trả lời cha, con họ gì tên gì?”

Bạch Khởi vừa ngạc nhiên vừa băn khoăn: “Thưa cha, con họ Bạch tên Khởi!”

“Tên này từ đâu mà có?”

Bạch Khởi quay về phía linh vị Bạch Khuê: “Là do ông nội đặt cho con.”

“Cớ sao ông nội lại chọn chữ Khởi?”

“Khởi, nghĩa là bắt đầu bước đi; Khởi, cũng có nghĩa là tự mình bước đi!” Bạch Khởi nhắc lại câu mà mẹ đã dạy từ tấm bé.

“Tốt lắm!” Bạch Hổ xoa đầu con trai. “Con hãy trả lời tiếp, năm nay con mấy tuổi?”

Bạch Khởi càng ngạc nhiên hơn: “Thưa cha, Bạch Khởi vừa tròn bảy tuổi!”

Bạch Hổ gật gật đầu: “Khởi Nhi, con đã bảy tuổi, làm việc lớn được rồi!”

Nghe cha nói mình có thể làm việc lớn, Bạch Khởi rất đỗi tự hào: “Thưa cha, Khởi Nhi đã bảy tuổi, có thể làm được việc lớn! Chỉ cần cha căn dặn, dù có phải vào nơi nước sôi lửa bỏng, Khởi Nghi cũng không chối từ!”

“Giỏi lắm!” Bạch Khởi sắc mặt càng thêm nghiêm nghị. “Cha sẽ giao cho con một việc lớn!” Rồi lần trong ống tay áo, lấy ra một túi gấm. “Con tới nhà nghĩa phụ, hãy tìm cách gặp Tôn bá phụ, giao vật này cho bá phụ!”

Bạch Khởi nhìn túi gấm: “Xin hỏi cha, đây là thứ gì?”

“Đây là vật hệ trọng của người lớn! Khi con đưa cho bá phụ, nhất thiết không được để ai biết!”

“Cũng không được nói với nghĩa phụ?”

“Đúng vậy!” Bạch Hổ trịnh trọng gật đầu. “Không chỉ nghĩa phụ mà ngay cả thân mẫu, con cũng không được nói. Còn nữa, từ nay về sau, con phải nhớ lời cha dặn, tuyệt đối giữ kín chuyện này. Bất kể là ai, bất kể người đó nói gì, dù là đao thương kề cổ, con cũng không được hé răng tiết lộ nửa lời!”

Bạch Khởi ngẫm nghĩ một lát, rồi trịnh trọng nhận lấy túi gấm, quỳ xuống dập đầu mà nói: “Cha yên tâm, Bạch Khởi đã bảy tuổi rồi!”

Bạch Hổ xoa đầu con trai: “Con trai ngoan, cha tin con!”

Bạch Khởi giấu túi gấm vào trong người, theo lão quản gia trở về phủ Vũ An Quân. Thụy Liên đã đợi sẵn ngoài cổng, vừa nhìn thấy cậu bé, đã vội chạy lại ôm chầm lấy. Bạch Khởi mất cả buổi sáng quanh quẩn bên nghĩa mẫu, tới tận buổi chiều, Thụy Liên thấy mệt, bèn về phòng nghỉ ngơi. Bạch Khởi ra hậu hoa viên chơi đùa, tìm cơ hội tới phòng Tôn Tẫn.

Khi Bạch Khởi tung tăng chạy vào trong phòng, Tôn Tẫn đang rạp người trên giường, tay đưa từng nét chữ.

Bạch Khởi đến trước giường, quỳ xuống dập đầu nói: “Bạch Khởi khấu kiến nghĩa phụ!”

Tôn Tẫn đặt bút xuống, cười hiền hoà mà đáp: “Khởi Nhi, mau đứng dậy đi!”

Bạch Khởi lại khấu đầu: “Bạch Khởi tạ ơn nghĩa phụ!”

Tôn Tẫn xoa đầu cậu bé: “Khởi Nhi, mấy ngày nay không gặp, nghĩa phụ nhớ con quá!”

“Khởi bẩm nghĩa phụ, thân mẫu nhớ Khởi Nhi, gọi Khởi Nhi về nhà vài ngày, hôm nay mới lại tới được.”

“Hay lắm, con tới là tốt rồi! Đợi vài ngày nữa, chân của nghĩa phụ khỏi hẳn, sẽ cùng con ra ngoài sân chơi!”

“Đa tạ nghĩa phụ!” Bạch Khởi liếc nhìn vào nghiên mực trong tay tỳ nữ, thấy đã cạn, bèn quay sang nhìn tỳ nữ cười nói: “Chị ơi, chị dạy Khởi Nhi mài mực nhé!”

Tỳ nữ hốt hoảng nói: “Thiếu gia, không được đâu! Mài mực là công việc của kẻ thấp hèn, thiếu gia thân phận cao qúy, không được đâu!”

Bạch Khởi nằn nì: “Chị ơi, chị dạy Khởi Nhi đi, Khởi Nhi muốn mài mực cho nghĩa phụ!”

Tỳ nữ không còn cách nào khác, chỉ biết đưa mắt nhìn Tôn Tẫn. Tôn Tẫn cười nói: “Cô nương, cứ để thiếu gia mài, thằng bé này thực là lanh lợi!”

Tỳ nữ do dự một lát, rồi đưa nghiên mực cho Bạch Khởi. Bạch Khởi vui mừng đỡ lấy, bắt đầu chăm chú mài mực. Tôn Tẫn nhìn dáng vẻ nghiêm túc của cậu bé, tấm tắc khen ngợi: “Khởi Nhi, con mài mực giỏi lắm!”

Bạch Khởi ngẩng lên cười nói: “Tạ ơn nghĩa phụ quá khen!” Rồi lại quay sang tỳ nữ. “Chị ơi, chị làm cho Khởi Nhi một chiếc còi liễu được không?”

Tỳ nữ lúng túng: “Làm còi liễu thế nào?”

“Dễ thôi!” Bạch Khởi cười nói. “Chị ra bên hồ bẻ một cành liễu về đây, Khởi Nhi sẽ dạy cho chị làm!”

Tỳ nữ cười nói: “Được thôi!” Nói đoạn liền đi luôn ra khỏi phòng.

Thấy tỳ nữ đã đi xa, Bạch Khởi nhìn quanh quất, thấy trong nhà không còn ai, vội vã quỳ xuống, lần tìm túi gấm trong lớp áo trong cùng, đưa hai tay dâng lên Tôn Tẫn: “Gia phụ nhờ Bạch Khởi chuyển túi gấm này tới tận tay nghĩa phụ, không được để cho người ngoài biết!”

Nhớ lại có lần Bạch Hổ từng hứa sẽ rửa sạch nỗi oan cho mình, Tôn Tẫn chột dạ, vội nhận lấy túi gấm, xoa đầu Bạch Khởi mà nói: “Khởi Nhi, con còn nhỏ tuổi đã thông minh lanh lợi đến vậy, tương lai ắt làm nên nghiệp lớn.”

Bạch Khởi lại bái lạy mà nói: “Tạ ơn nghĩa phụ quá khen!”

Tối đến, Tôn Tẫn đuổi hết người hầu ra ngoài, châm đèn, mở túi gấm ra, đọc chăm chú: “Tôn tướng quân, tại hạ đã điều tra xác thực, kẻ đưa thư tên gọi Cẩu Tử, do Vũ An Quân sai đến. Tại hạ định bắt người này, song Vũ An Quân đã đi trước một bước, giết người diệt khẩu. Vũ An Quân là sư đệ của tướng quân, cũng là ân công của tại hạ. Song sự thực đã rành rành, tại hạ không thể không tin. Ngoài ra, dựa vào tình thế trong triều, người đủ sức lung lạc bệ hạ, gia hại tướng quân, không thể là ai khác ngoài Vũ An Quân! Xét thấy vụ án này nghiêm trọng, tại hạ lực bất tòng tâm, không giúp được gì, chỉ biết nói ra sự thực, mong tướng quân hãy mau chóng nghĩ kế thoát thân. Đọc xong đốt ngay, khẩn thiết! Bạch Hổ.”

Tôn Tẫn đọc xong, hai mắt trợn trừng, bàng hoàng kinh hãi, không biết bao lâu sau mới định thần lại được, vội lôi bức thư ở dưới gối ra, so sánh một hồi, nhận thấy nội dung của hai bức thư giống hệt như nhau.

Tôn Tẫn xem đi xem lại vài lượt, rồi đưa hai bức thư lên trên ngọn đèn dầu, châm lửa đốt đi.

Rồi Tôn Tẫn thả mình xuống giường, nhắm nghiền mắt lại, mặc cho hai dòng lệ lặng lẽ trào ra bên khoé mắt.

Sáng sớm hôm sau, thầy lang tới rất sớm, thay băng cho Tôn Tẫn.

Thầy lang tháo bỏ lớp băng, mừng rỡ reo lên: “Chúc mừng Tôn tướng quân, vết thương đã kín miệng, đóng vảy rồi!”

Tôn Tẫn gật đầu.

Lão thầy lang thay thuốc xong, quấn một lớp băng mới, mặt mày hớn hở, vui vẻ nói: “Đóng vảy cho thấy đã lên da non. Tướng quân, không đầy bảy ngày nữa, vảy sẽ bong ra, để lộ lớp da mới, lúc đó vết thương của tướng quân sẽ khỏi hoàn toàn.”

Tôn Tẫn vẫn không nói năng gì, cứ ngồi ngẩn ngơ trên giường.

Thầy lang lấy làm ngạc nhiên, đưa mắt nhìn Tôn Tẫn, thấy hai mắt sưng húp, hẳn là mất ngủ, bèn quan tâm hỏi: “Tối qua tướng quân không ngủ được ư?”

Tôn Tẫn lại gật đầu.

Lão thầy lang lại hỏi: “Phải chăng vết thương lên da non, tướng quân thấy ngứa ngáy khó chịu, mới bị mất ngủ?”

Tôn Tẫn lắc đầu.

Thầy lang sửng sốt nhìn Tôn Tẫn, hỏi: “Nếu không phải vậy, cớ sao tướng quân không ngủ được?”

Tôn Tẫn khẽ thở dài: “Hỡi ôi! Ngoại thương đã lành, song nội thương lại thêm trầm trọng!”

“Nội thương?” Lão thầy lang vô cùng khó hiểu. “Nội thương gì? Để thảo dân bắt mạch xem sao!”

Lão thầy lang bắt mạch, xem xét một hồi rồi nói: “Mạch tướng quân rất tốt, thảo dân nào thấy có nội thương gì!”

Tôn Tẫn cười gượng: “Vết thương trong người vãn sinh, chỉ mình vãn sinh biết. Xin hỏi tiên sinh, hôm nay vãn sinh có thể xuống giường được chưa?”

Thầy lang lắc đầu nói: “Trong thời gian đóng vảy, tướng quân càng nên hạn chế cử động. Đầu gối là khớp xương quan trọng, chỉ hơi cử động sẽ khiến vảy bong ra, lại phải mất thêm thời gian để đóng lớp vảy mới.”

“Đa tạ tiên sinh!”

Sau khi thầy lang đi khỏi, tỳ nữ giúp Tôn Tẫn rửa mặt, chải đầu, lão nô bộc giúp Tôn Tẫn vệ sinh xong xuôi, vừa hay Phạm Trù mang cơm tới.

Tôn Tẫn không còn tâm trí đâu để ăn uống, lùa lấy lệ vài miếng, rồi sai Phạm Trù dọn đi.

Tỳ nữ nhìn thời gian, chuẩn bị sẵn thẻ tre, bắt đầu lặng lẽ mài mực. Tôn Tẫn nhìn đống thẻ tre xếp gọn gàng bên cạnh giường, hỏi: “Cô nương, đã viết tổng cộng bao nhiêu tấm rồi?”

Tỳ nữ bèn nói: “Hồi bẩm tướng quân, hôm qua tỳ nữ vừa đếm, đã viết được năm mươi tấm rồi!”

Tôn Tẫn gật đầu nói: “Tối qua đau đầu cả đêm, không ngủ được, hôm nay không viết nữa. Cô nương hãy đi làm việc khác, nếu tại hạ cần gì, sẽ gọi cô nương sau!”

“Nô tỳ tuân lệnh!”

Thấy tỳ nữ đi khỏi, trong phòng cũng không còn ai khác, Tôn Tẫn lại nhắm mắt lại, hồi tưởng về những tháng ngày đi chung một đường với Bàng Quyên suốt mấy năm qua, từ buổi gặp gỡ tại cửa Túc Tư, trải qua cơn hiểm nạn ở Đại Lương, rồi tới Quỷ Cốc mấy năm trời, Bàng Quyên tuy tính tình hiểm độc, song cũng là người hào sảng, hơn nữa cũng coi Tôn Tẫn là bạn tốt, có ân có nghĩa, chưa từng dối trá nửa lời. Vậy mà mới có hai năm, Bàng Quyên đã thay lòng đổi dạ.

Tôn Tẫn trầm ngâm một lát, thở dài sườn sượt, than thở mà rằng: “Hỡi ôi, hẳn là cái tâm hiếu thắng đã hại sư đệ! Lúc còn trong sơn cốc, sư đệ không lúc nào thôi tranh hơn với ta, nay thấy ta tài nghệ trội hơn, nên cái tâm cũng đổi khác rồi!”

Tôn Tẫn ngồi trên giường, suy nghĩ mải miết, trước mặt lần lượt hiện lên những gương mặt thân quen, Tôn Cơ, Tôn Thao, Tôn An, Lật Bình, tiền bối Tuỳ Sào Tử, Quỷ Cốc tiên sinh, Ngọc Thiền, đại sư huynh, Tô Tần và Trương Nghi, càng nghĩ càng thấy đau lòng.

Nghĩ ngợi triền miên một hồi, Tôn Tẫn trong lòng bi thảm, nước mắt cứ thế lăn trào.

Buồn bã hồi lâu, Tôn Tẫn chợt nhớ tới lời dặn trong thư của Bạch Hổ: “…mong tướng quân hãy mau chóng nghĩ kế thoát thân”, bất giác lặng người kinh hãi, than thở mà rằng: “Hiện giờ xem ra, giá trị của ta chỉ nằm ở bộ binh thư này. Một khi binh thư đã viết xong, sư đệ nếu có tâm khác, ắt sẽ không dung tha cho ta. Ta vừa là tội nhân, lại là phế nhân, hơn nữa thân ở trong hang hùm, sư đệ nếu muốn giết ta, chẳng phải dễ dàng như bóp chết con kiến…” Nghĩ tới đây, nước mắt lại giàn giụa. “Than ôi, hiện giờ lâm vào tình cảnh thế này, bảo ta phải thoát thân thế nào đây?”

Lại đờ đẫn một hồi, suy nghĩ của Tôn Tẫn một lần nữa quay trở về Quỷ Cốc, nhớ lại trước ngày ra đi, Quỷ Cốc Tử đã ân cần nhắc nhở: “Tên của con cần đổi một chữ… Hãy đổi chữ ‘Tân’ thành chữ ‘Tẫn’, hoặc giả sẽ giúp con tiến thủ… Con và Bàng Quyên cùng ở một triều, cùng phò một chủ, mọi việc cần phải lưu tâm…”

Tôn Tẫn mắt đẫm lệ, lẩm bẩm mà rằng: “Tiên sinh, mọi việc tiên sinh đều đã liệu trước cả rồi, chỉ là đệ tử ngu muội, không hiểu được nỗi khổ tâm của tiên sinh. Nay đệ tử thân bị giam cầm, xin tiên sinh chỉ giúp đệ tử một kế thoát thân!”

Nói tới đây, Tôn Tẫn bỗng thấy trong đầu vụt sáng, sực nhớ ra một chuyện, lại khẽ lẩm bẩm: “Phải rồi, lúc chia tay, tiên sinh có trao cho ta một túi gấm, dặn ta gặp lúc cấp bách hãy mở ra xem. Hiện tại hẳn là lúc cấp bách, sao lại không mở ra?”

Tôn Tẫn nghĩ đã thông, bèn vội vã cởi bỏ lớp áo trên người xuống, xé rách lớp vải lót bên trong, lấy túi gấm ra. Tôn Tẫn cầm túi gấm trên tay, ngước mắt nhìn lên không trung, lầm rầm cầu khấn một hồi, rồi thận trọng mở túi gấm ra. Bên trong có một mảnh lụa, không viết bất kỳ lời dặn dò nào, chỉ thấy duy nhất một chữ “phong” thật lớn, hơn nữa không viết ở giữa, mà viết hơi chếch xuống dưới, lệch sang bên phải.

Tôn Tẫn nhìn đăm đăm vào mảnh lụa, hồi lâu vẫn không hiểu, bèn cất mảnh lụa đi, nhắm mắt ngưng thần, chìm vào suy nghĩ.

Một lát sau, Tôn Tẫn mở choàng hai mắt, lại lấy mảnh lụa ra, bày ở trước mặt, nhìn sững một hồi, thầm nghĩ: “Chữ ‘phong’ này, rốt cuộc có thâm ý gì? Cả mảnh lụa chỉ có duy nhất một chữ ‘phong’, nhìn vào kích thước, rất không hài hoà, muốn viết thêm một chữ nữa, cũng không còn chỗ mà viết. Nhưng nếu không cần viết thêm, cớ sao tiên sinh lại không viết ở chính giữa?” Vắt óc suy nghĩ một hồi nữa, đột nhiên trí não vụt sáng. “Phải chăng chữ ‘phong’ này chỉ là nửa con chữ, nửa còn lại đã cố ý giấu đi?”

Vậy thì giấu thứ gì đây?

Tôn Tẫn lại vắt óc suy nghĩ một chốc, trong đầu lại nảy ra một ý: “Phải rồi! Mình bị hành hình thành ra tàn phế, nằm liệt trên giường, chính là bệnh nhân. Bệnh nhân gặp chữ ‘phong’, chính là chữ này!” Vội vàng lấy bút, viết thêm một bộ “nạch” lên trên chữ “phong”, nhìn lại vừa hay thấy viết kín mảnh vải lụa, bèn gật đầu nói: “‘Phong’ này, chính là phong cuồng!”(1)

Tôn Tẫn đã ngộ ra diệu kế trong túi gấm, lập tức đánh đá lửa, châm đèn dầu, đốt rụi cả túi gấm và mảnh lụa, sau đó ngước nhìn lên cao, vòng tay bái lạy, khóc mà rằng: “Tạ ơn tiên sinh đã chỉ bảo đệ tử kế thoát thân!”

Chập tối, Bàng Quyên sốt sắng tìm tới, đến bên giường Tôn Tẫn, nôn nóng hỏi: “Quyên vừa trở về phủ, nghe nói Tôn huynh mất ngủ cả đêm qua, vội tới đây ngay. Tôn huynh sao vậy?”

Tôn Tẫn khẽ chau mày, cười gượng mà nói: “Tạ ơn hiền đệ quan tâm! Nửa đêm hôm qua, Tẫn chợt tỉnh giấc trong cơn mơ, thấy đầu đau như búa bổ, muốn ngủ tiếp mà không tài nào ngủ nổi, cả ngày nay mệt mỏi rã rời.”

Bàng Quyên không buồn nghĩ ngợi, oang oang nói luôn: “Phải rồi. Hiện đang là lúc giao mùa đông xuân, thời tiết thay đổi, Tôn huynh sức khoẻ còn yếu, hẳn không chịu nổi phong hàn. Để Quyên gọi thầy lang tới, khám bệnh cho Tôn huynh!”

“Hiền đệ không phải bận tâm!” Tôn Tẫn lắc đầu, cười nói. “Hôm nay lại không có gì đáng ngại. Trưa nay, Tẫn ngủ ngon suốt một canh giờ, đã bớt đau đầu rồi. Đêm nay nếu không có chuyện gì, ngày mai hẳn sẽ khoẻ lại.”

“Cũng được!” Bàng Quyên thấy Tôn Tẫn tinh thần nhẹ nhõm, biết là không có chuyện gì nghiêm trọng, bèn chuyển sang chuyện khác. “Nghe nói vết thương của Tôn huynh đã đóng vảy, vài ngày nữa sẽ khỏi hoàn toàn, Quyên cũng thấy an ủi lắm lắm. Đợi đến khi vảy bong hết, Quyên nhất định sẽ mở tiệc trong phủ mời quần thần tới chúc mừng Tôn huynh!”

“Tẫn là tội nhân, không nên phô trương thái quá!”

“Phải, phải, phải!” Bàng Quyên gật gù nói. “Tôn huynh nghĩ vậy cũng đúng. Vậy thì, Quyên sẽ chỉ mời điện hạ và Mai công chúa, được chăng?”

“Đa tạ ơn hiền đệ hậu ái!”

Bàng Quyên di chuyển ánh mắt sang đống thẻ tre trên bàn, cấm lên vài tấm, đọc lướt qua, rồi ngoảnh sang hỏi: “Tôn huynh, viết xong mấy chương rổi?”

“Sách này tổng cộng có mười ba chương. Tẫn viết hơn mười ngày rồi, mới được tám chương, thật là hổ thẹn!”

Bàng Quyên đặt thẻ tre xuống, cười nói: “Tôn huynh không phải vội, cứ từ từ thôi!”

“Hiền đệ yên tâm,” Tôn Tẫn đáp lời, “đợi Tẫn bình phục hẳn, sẽ có thể xuống giường, mấy chương còn lại, chỉ vài ngày là viết xong.”

“Vất vả cho Tôn huynh quá!”

Vài ngày sau đó, đúng dịp vụ xuân bận rộn. Ngụy Huệ Vương dẫn theo bá quan ra đồng ruộng ngoại thành, đích thân cày ruộng, đêm đến ngủ tại biệt cung Phùng Trạch.

Bàng Quyên cũng phải bồi giá từng ấy ngày, tới ngày thứ sáu mới được quay về.

Vừa về tới phủ, Bàng Quyên đã cùng Bàng Thông hộc tốc đi thẳng tới phòng Tôn Tẫn, thấy Tôn Tẫn hai tay ôm đầu, ngồi ngay ngắn trên giường, vẻ mặt vô cùng đau đớn.

Bàng Quyên kinh hãi, vội hỏi: “Tôn huynh, huynh làm sao thế?”

Tôn Tẫn không nói một lời nào, hồi lâu sau mới chỉ tay vào đầu, rồi nhắm nghiền mắt lại.

Bàng Quyên nhìn đống thẻ tre trên bàn, thấy vẫn như cũ, chưa thêm được tấm nào, thì khẽ chau mày, lui ra khỏi phòng, trở về thư phòng của mình, sai Bàng Thông cho gọi đám Phạm Trù, thầy lang, tỳ nữ và lão nô bộc tới tra hỏi từng người.

Tỳ nữ bẩm rằng: “Mấy ngày nay, Tôn tướng quân hôm nào cũng kêu đau đầu, có lúc đau quá ôm đầu đấm ngực thùm thụp, chưa viết thêm được chữ nào!”

Bàng Quyên quay sang Phạm Trù: “Tôn tướng quân ăn uống ra sao?”

Phạm Trù khấu đầu nói: “Khởi bẩm chúa công, Tôn tướng quân đột nhiên ăn rất nhiều, bình thường bốn món một canh, Tôn tướng quân ăn không hết một nửa, nhưng mấy hôm nay, bữa nào cũng ăn hết sạch. Tiểu nhân chẳng biết làm thế nào, chỉ biết tăng lượng thức ăn lên.”

Bàng Quyên sắc mặt đăm chiêu, đi tới đi lui trong phòng, một lúc sau thì dừng lại, quay sang hỏi thầy lang: “Thương thế của Tôn tướng quân thế nào rồi?”

Lão thầy lang dập đầu nói: “Khởi bẩm đại tướng quân, lớp vảy bên đầu gối trái của Tôn tướng quân đã bong hôm qua, lớp vảy bên đầu gối phải chắc đêm nay sẽ bong. Chiều qua, Tôn tướng quân đã thử xuống giường, chống hai tay di chuyển được vài bước. Về lý mà nói, ngoại thương của Tôn tướng quân đã khỏi hoàn toàn!”

“Tôn tướng quân vì sao lại đau đầu?”

“Thảo dân chỉ biết về ngoại thương, còn đau đầu thuộc về nội thương, thảo dân y thuật hạn hẹp, không nhìn ra nguyên nhân!”

“Phải!” Bàng Quyên gật gù. “Nói cũng có lý.”

Thầy lang lại nói: “Vết thương của Tôn tướng quân đã khỏi hoàn toàn, xin hỏi đại tướng quân, thảo dân đã được về quê thăm mẹ già chưa?”

“Tiên sinh về được rồi!” Bàng Quyên gật đầu, quay sang Bàng Thông. “Lão tiên sinh đã có công trị khỏi bệnh cho Tôn tướng quân, thưởng nốt năm lượng vàng!”

Thầy lang lạy liền mấy lạy: “Tạ ơn đại tướng quân đã thưởng hậu!”

Bàng Thông bảo Phạm Trù, tỳ nữ dẫn thầy lang tới phòng sổ sách, lĩnh năm lượng vàng. Thấy họ đã đi xa, Bàng Thông bèn quay sang hỏi Bàng Quyên: “Đại ca, Tôn tướng quân đúng là đột nhiên mắc chứng đau đầu, hôm kia tiểu đệ có nói bảo tướng quân hãy mời thầy lang về khám bệnh, song Tôn tướng quân có vẻ ngại phiền phức, một mực nói không sao. Tiểu đệ đi hỏi thầy lang, thầy lang bảo chỉ dựa vào mạch tượng thì thấy không có gì đáng ngại, nên tiểu đệ cũng thấy yên tâm phần nào.”

Bàng Quyên suy nghĩ một lát, nói với Bàng Thông: “Đợi nốt đêm nay xem sao. Nếu ngày mai Tôn tướng quân vẫn đau đầu, thì mời thầy lang về thăm bệnh!”

“Tiểu đệ tuân lệnh!”

Sáng hôm sau, Phạm Trù xách hộp cơm bước vào trong cổng, thấy Tôn Tẫn ngồi thu lu một mình giữa sân, hai mắt đờ đẫn, miệng lẩm bẩm, không biết đang nói gì.

Phạm Trù đặt hộp cơm xuống, gọi khẽ: “Tôn tướng quân, tới giờ ăn sáng rồi!”

Tôn Tẫn dường như không nghe thấy, miệng vẫn lẩm bẩm không ngừng. Phạm Trù lại gọi, Tôn Tẫn đột nhiên hét lên một tiếng kinh hãi, hai tay ôm đầu, ngã vật xuống đất, hôn mê bất tỉnh. Phạm Trù kinh hoảng, vứt luôn cả hộp cơm, bấm vội nhân trung, Tôn Tẫn vẫn không tỉnh. Phạm Trù sợ hãi, mang đến một bát nước lạnh, dội lên đầu Tôn Tẫn.

Bị dội nước lạnh, Tôn Tẫn rùng mình tỉnh lại, hai mắt trợn trừng nhìn vào Phạm Trù, vẻ vô cùng hoảng loạn, hét lớn: “Ngươi là ai?”

Phạm Trù vội nói: “Tôn tướng quân, tiểu nhân là Phạm Trù, tướng quân không nhận ra ư?” Rồi đưa tay đỡ lấy Tôn Tẫn, muốn dìu trở vào phòng.

Tôn Tẫn rụt mạnh tay về, chống xuống đất, khiếp đảm lùi lại vài bước, hét đến lạc giọng: “Ma quái phương nào, dám tới đây hại ta?”

Phạm Trù cảm thấy sự lạ, vội quỳ xuống đất: “Tôn tướng quân, tiểu nhân là Phạm Trù, là Phạm Trù vẫn mang cơm cho tướng quân đây, sao đến tiểu nhân tướng quân cũng không nhận ra?”

“Ha ha ha!” Tôn Tẫn bật cười sằng sặc. “Ta là thần tiên giáng trần, bên cạnh có tám vạn thiên binh thiên tướng, một tên tiểu yêu như ngươi, làm sao có thể hại được ta? Ha ha ha!” Vừa cười lớn, vừa chống tay xuống đất, thoăn thoắt di chuyển vào trong nhà, đóng sập cửa lại, dựa lưng chống chắc bên trong.

Phạm Trù giờ mới phát giác ra sự tình nghiêm trọng, vội vã co cẳng chạy thục mạng ra khỏi cổng.

Phạm Trù chạy liền một mạch tới phòng của Bàng Quyên, vừa đến nơi đã gào toáng lên: “Có chuyện rồi, đại tướng quân! Có chuyện rồi…”

Bàng Thông hộc tốc chạy ra, nghiêm giọng quát: “Phạm Trù, đại tướng quân đã lên triều từ sớm, phu nhân đang ngủ, có chuyện gì mà la lối om sòm ở đây thế, chán cái mạng chó của người rồi ư? “

Phạm Trù giật mình kinh hãi, quỳ xuống tự vả vào miệng bôm bốp mà nói: “Tiểu nhân đáng chết, tiểu nhân nhất thời kinh sợ, nên mới lớn tiếng như vậy!”

“Xảy ra chuyện gì?”

Phạm Trù chỉ tay về phía hậu hoa viên: “Tôn tướng quân bị điên rồi?”

“Bị điên?” Bàng Thông sửng sốt. “Vì sao lại điên?”

“Tiểu nhân không biết. Vừa nãy tiểu nhân mang cơm tới cho tướng quân, thấy tướng quân đã hoá điên rồi!”

Bàng Thông không nói thêm lời nào, lập tức chạy thẳng tới hậu hoa viên. Phạm Trù thấy vậy, vội vã đứng dậy, đuổi theo sau. Hai người rẽ qua góc tường, vừa tới hậu hoa viên, từ xa đã nhìn thấy khói lửa bốc lên cuồn cuộn từ phòng của Tôn Tẫn.

Bàng Thông cuống cuồng: “Nguy rồi, Tôn tướng quân phóng hoả đốt nhà rồi!”

Hai người vùng chạy như điên, xông vào trong sân, đạp mạnh cửa phòng.

Đạp liền vài cái, then cửa mới bung ra, hai người nhảy vọt qua ngưỡng cửa, thấy trong phòng lửa cháy ngùn ngụt, đống thẻ tre to tướng trên bàn, cả thẻ viết rồi và chưa viết đều đang bốc cháy rần rật. Tôn Tẫn ngồi bên cạnh, hai tay vẫn liên tục ném các đồ vật vào đống lửa, vừa ném, vừa gào thét: “Lạnh quá! Mau đốt lửa lên, lạnh quá!”

Bàng Thông cả kinh, tung người lao tới, bới được mấy tấm thẻ tre cháy dở trong đám lửa, quăng ra ngoài sân, cuống cuồng giẫm đạp dập lửa, bỏng rát đến mặt mày méo xệch. Tôn Tẫn vẫn như không thấy, tiếp tục quăng ném mọi thứ vớ được vào trong lửa, cả chăn đệm, gối cũng vứt cả vào, khói xộc lên mù mịt khiến Bàng Thông, Phạm Trù cay sè mắt mũi. Song Tôn Tẫn lại hồ hởi vỗ tay reo lên: “Mau đốt lửa lên, lạnh quá!”

Bàng Thông giậm chân quát: “Mau lên, kéo tướng quân ra!”

Hai người xông vào đám khói lửa mịt mù, mỗi người giữ một tay Tôn Tẫn, kéo xềnh xệch ra sân. Đám gia đinh thấy khói bốc ngùn ngụt đã lũ lượt chạy lại, kẻ xô người chậu, hối hả múc nước dưới ao sen hắt vào đám cháy.

Thấy lửa đã được dập tắt, Bàng Thông mới thở hắt ra, nói với Phạm Trù: “Ngươi canh chừng ở đây, ta đi gọi chúa công về!”

Bàng Thông đánh xe thẳng tới Nguỵ cung, sai người vào bẩm báo với Bàng Quyên. Bàng Quyên vừa hay tan triều, nhận được tin báo, gấp rút trở về, chạy thẳng tới nơi, thấy vài chục người từ lớn tới bé trong phủ đều tụ tập hết ở chỗ Tôn Tẫn. Tôn Tẫn ngồi trong sân, ánh mắt đờ đẫn, hai tay múa may loạn xạ, ngửa mặt nhìn trời hú gọi: “Các lộ thần tiên, tứ hải Long Vương, lục Giáp lục Đinh! Yêu ma quỷ quái xâm phạm bờ cõi ta, Thiên Vương sai ta xuống trần truy bắt, các ngươi đều phải nhất nhất theo lệnh ta, nếu ai trái lệnh, chém đầu không tha!” Rồi hai tay làm bộ gõ trống. “Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng tùng… Bản tướng điểm binh, Đông Hải Long Vương nghe lệnh, bản tướng lệnh cho ngươi dẫn ba nghìn quân tôm tép, tới mai phục trong núi. Nam Sơn Hầu Vương nghe lệnh, bản tướng lệnh cho ngươi dẫn ba nghìn quân khỉ vượn, mai phục dưới sông. Hoa Sơn Xà Tinh nghe lệnh, bản tướng lệnh cho ngươi dẫn ba nghìn quân rắn rết, mang theo vật dẫn lửa, mai phục trong hang núi! Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng…”

Bàng Quyên chau tít đôi mày, bước lại gần, lớn tiếng gọi: “Tôn huynh!”

Tôn Tẫn không buồn để ý, hai tay vẫn múa may khua khoắng, làm bộ gõ trống, miệng kêu ra rả: “Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng tùng…”

Bàng Quyên mặt biến sắc, gầm lên: “Tôn Tẫn, ngươi không nhận ra bản tướng ư?”

Tôn Tẫn dừng “gõ trống”, trừng mắt nhìn Bàng Quyên, một lúc sau thì quát lớn: “Kẻ nào khiêu chiến, mau mau xưng danh, bản tướng không giết kẻ vô danh!”

Bàng Quyên nói lớn: “Tôn huynh không nhận ra Bàng Quyên ư?”

Tôn Tẫn kêu lên: “Bàng Quyên hay Bàng Góp gì, hễ có tên, hãy lãnh một thương của bản tướng!” Miệng lại kêu “tùng tùng” hai tiếng, hai tay giơ lên khua khoắng loạn xạ, như thể đang cầm thương đâm giết.

Bàng Quyên rướn mày, lùi về phía sau một bước, gọi Phạm Trù lại: “Nghe nói ngươi nhìn thấy Tôn tướng quân phát điên đầu tiên?”

Phạm Trù quỳ xuống, khóc nức nở mà nói: “Khởi bẩm chúa công, tiểu nhân sáng nay mang cơm tới như thường lệ, vừa mở cửa đã thấy tướng quân ngồi trong sân, miệng lẩm bẩm, không biết đang nói gì. Tiểu nhân gọi tướng quân ăn cơm, tướng quân không trả lời, tiểu nhân lại gọi, tướng quân đột nhiên hét to một tiếng, ngã vật ra hôn mê bất tỉnh. Tiểu nhân hoảng hốt, vội bấm nhân trung, tướng quân vẫn không tỉnh. Tiểu nhân sốt ruột, lấy nước lạnh dội vào đầu tướng quân. Tướng quân bừng tỉnh dậy, trợn mắt nhìn tiểu nhân, bảo tiểu nhân là yêu quái. Tiểu nhân sợ xanh mắt, mới chạy vội đi gọi người. Trong lúc tiểu nhân và quản gia đang chạy tới, Tôn tướng quân đã phóng hoả trong phòng. Sự việc sau đó, mọi người đều đã rõ.”

Bàng Quyên nhìn hộp cơm vẫn chỏng chơ bên cạnh, thì đảo mắt một vòng, bước lại cầm hộp cơm lên, lấy từ trong đó ra một chiếc bánh nướng và hai quả trứng gà, đặt trước mặt Tôn Tẫn nói: “Bánh nướng tới rồi, mời Tôn huynh dùng bữa!”

Tôn Tẫn đang “gõ trống”, nghe có tiếng nói, quay đầu lại nhìn bánh nướng và trứng gà, một tay chộp lấy chiếc bánh, một tay giật lấy hai quả trứng gà, giơ lên cao múa may điên loạn, cười ha hả mà nói: “Ha ha ha, Thiên Vương tặng ta hai bảo bối, đám yêu ma quỷ quái kia, kẻ nào muốn tới nạp mạng? Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng tùng…” “Tiếng trống” càng gõ càng nhanh, đột nhiên chuyển thành tiếng gào rú. “Ma đầu to gan, dám đánh lén bản tướng sau lưng, lãnh đòn của ta đây!” Rồi nghiến răng quăng luôn một quả trứng về phía Phạm Trù, vừa hay bay trúng ngực ông ta.

Phạm Trù kinh hãi kêu lên một tiếng, lùi liền vài bước. Tôn Tẫn tiếp tục vung tay ném chiếc bánh nướng đi. Chiếc bánh bay vụt qua đầu đám người, lao qua đỉnh tường, khiến hai tỳ nữ đang đứng hóng chuyện gần đó kêu ré lên khiếp đảm. Nhìn thấy trong tay chỉ còn lại một quả trứng, Tôn Tẫn chuyển từ tay trái sang tay phải, rồi lại chuyển từ tay phải sang tay trái, mắt đảo tứ phía, miệng hét lớn: “Đám ma đầu kia, kẻ nào còn dám liều mạng?”

Đám người hầu đang vây lại xem đều kinh hãi giật lùi cả lại.

Bàng Quyên đưa mắt nhìn đám người hầu, gầm lên: “Các ngươi đứng đó làm gì? Còn không cút mau!”

Đám người sợ hãi, vội vã tản đi.

Bàng Quyên bán tín bán nghi nhìn Tôn Tẫn, một lát sau, khẽ chau mày lại, sải bước bỏ đi. Bàng Quyên vừa về tới phòng khách, Bàng Thông đã bước theo bén gót, tay cầm vài tấm thẻ tre cháy nham nhở, đưa cho Bàng Quyên.

Bàng Quyên xem kỹ một lượt, trầm ngâm suy nghĩ, rồi lắc đầu nói: “Thông đệ, có nhận ra không, Tôn huynh giả điên!”

Bàng Thông kinh ngạc: “Giả điên?”

Bàng Quyên gật đầu, than thở: “Than ôi, đệ thử nói xem, Tôn tướng quân tội gì phải khổ sở đến thế?”

Bàng Thông vẫn thấy mơ hồ không hiểu, ngẩn người hồi lâu mới hỏi: “Cớ sao đại ca biết Tôn tướng quân giả điên?”

Bàng Quyên ném mấy tấm thẻ tre trong tay lên mặt bàn: “Chính là thứ này! Nếu điên thật, Tôn huynh chắc chắn không đốt thẻ tre!”

Bàng Thông vội nói: “Đại ca, tiểu đệ mắt kém, nhìn không ra Tôn tướng quân chỉ có ý muốn đốt thẻ tre! Tiểu đệ tận mắt thấy, tướng quân luôn miệng kêu lạnh, quăng hết mọi thứ có thể trong phòng vào đống lửa. Nếu tiểu đệ không tới cứu kịp, e rằng, đến phòng ốc cũng bị tướng quân đốt trụi mất rồi.”

“Than ôi!” Bàng Thông khẽ thở dài. “Thông đệ là người thực thà, làm sao nhận ra mưu kế của Tôn huynh? Nhưng thật đáng tiếc, lần này Tôn huynh thông minh quá mức, diễn trò khổ nhục kế thái quá, ngược lại đã để lộ ra sơ suất.”

“Khổ nhục kế?” Bàng Thông ngơ ngác, trợn tròn mắt nhìn Bàng Quyên. “Đại ca, khổ nhục kế gì kia?”

“Thông đệ đã từng nghe chuyện tráng sĩ chặt tay chưa?” Bàng Quyên hỏi.

Bàng Thông lắc đầu.

Bàng Quyên cười gằn, nói: “Thông đệ, xem ra, đệ nên đọc thêm sách sử mới được. Đại trượng phu đứng trong trời đất, phải làm nên đại sự. Đệ cả ngày quẩn quanh trong phủ, lẽ nào muốn làm quản gia suốt đời?”

Bàng Thông đỏ bừng mặt, vò đầu nói: “Đại ca trách rất đúng. Tuy nhiên Thông đệ ngu dốt, thuở nhỏ không học hành tử tế, nay đã qua tuổi đội mũ, dù muốn học, e rằng cũng không kịp. Hơn nữa, đại ca từ sáng tới tối bận rộn bên ngoài, mọi việc trong phủ cũng cần có người lo liệu.”

“Nói vậy cũng đúng!” Bàng Quyên gật đầu, thở dài đánh sượt. “Tuy nhiên… như vậy thì thiệt thòi cho Thông đệ quá. Dựa vào tài của Thông đệ, làm phó tướng trong quân, phụ trách kho lương cho ba quân cũng xứng.”

Bàng Thông cười nói: “Đa tạ đại ca đã đề cao. Chỉ là Thông đệ không có phúc, chẳng thiết tha chuyện gì, chỉ muốn ở trong phủ đại ca, ngày ngày giúp đại ca lo toan việc nhà. Đại ca tin tưởng giao cả gia nghiệp này cho Thông đệ, đã là đánh giá cao đệ rồi!” Dừng lại một lát, ngước mắt nhìn Bàng Quyên. “Chuyện tráng sĩ chặt tay, đại ca vẫn chưa kể!”

“Nói lạc đề mất rồi!” Bàng Quyên cười gượng. “Chuyện tráng sĩ chặt tay chính là chuyện Yêu Ly hành thích Khánh Kỵ xưa kia. Năm xưa, thái tử nước Ngô sai Chuyên Chư hành thích Ngô Vương Liêu, rồi lên ngôi kế vị, chính là Hạp Lư. Con trai trưởng của Ngô Vương Liêu là Khánh Kỵ chạy trốn sang nước Vệ, mưu đồ phục thù. Nghe đồn Khánh Kỵ là đệ nhất dũng sĩ ở nước Ngô, vạn người không địch nổi, Hạp Lư và Ngũ Tử Tư phái kiếm khách Yêu Ly đi hành thích. Yêu Ly tự chặt cánh tay phải, giết chết vợ con, nói dối là do Hạp Lư gây ra, rồi chạy tới nương nhờ Khánh Kỵ. Khánh Kỵ thấy tình cảnh của Yêu Ly như vậy, không mảy may nghi ngờ, coi là tâm phúc, cuối cùng đã bị Yêu Ly đâm chết.”

Bàng Thông gật đầu nói: “Khổ nhục kế chính là Yêu Ly đã giết chết vợ con, tự chặt cánh tay phải của mình?”

“Đúng vậy!”

Bàng Thông vẫn chưa hiểu ra, vò đầu bứt tai: “Đại ca nói Tôn tướng quân giả điên, vì sao cũng là khổ nhục kế?”

Bàng Quyên khẽ thở dài: “Than ôi, Thông đệ có điều không biết đấy, khi ở trong sơn cốc, Quỷ Cốc tiên sinh đã truyền thụ cho đại ca một bộ binh thư, có tên là ‘Ngô Khởi binh pháp’, sau đó lại truyền thụ cho Tôn huynh một bộ binh thư, tên gọi ‘Tôn Tử binh pháp’. Đại ca đã truyền lại cho Tôn huynh ‘Ngô Khởi binh pháp’, Tôn huynh cũng đã đồng ý truyền lại ‘Tôn Tử binh pháp’ cho đại ca. Nào ngờ còn chưa kịp truyền, Tôn huynh đã lén giấu đại ca, ngấm ngầm cấu kết với Tần, Tề, cuối cùng bị bệ hạ phát giác. Bệ hạ vốn muốn xử trảm Tôn huynh, song đại ca đã kết nghĩa kim lan với Tôn huynh, tình như thủ túc, nên giữa triều đình đã liều chết bảo toàn mạng sống cho Tôn huynh. Bệ hạ nể tình đại ca có công lao, đã đổi trảm hình thành tẫn hình. Sau khi hành hình, đại ca lại giữ Tôn huynh trong phủ chăm sóc chu đáo. Cách đây mười ngày, Tôn huynh nhớ tới lời hứa trước đây, bảo đại ca chuẩn bị bút mực, thẻ tre để chép lại ‘Tôn Tử binh pháp’ cho đại ca. Nào ngờ mới chép có đoạn đầu, Tôn huynh đã…”

“Tôn tướng quân cớ sao lại không muốn chép lại bộ sách này?”

“‘Tôn Tử binh pháp’ chỉ còn một bản duy nhất tại nhân gian, là bảo bối trong thiên hạ, sau khi truyền thụ cho Tôn huynh, Quỷ Cốc tiên sinh đã lập tức đốt ngay. Nếu Tôn huynh truyền lại cho đại ca, đại ca sẽ là thiên hạ đệ nhất binh gia, không ai địch nổi.”

“Thông đệ đã hiểu rồi, hẳn là Tôn tướng quân sinh lòng đố kỵ, không muốn truyền lại binh thư cho đại ca.”

Bàng Quyên gật đầu.

Bàng Thông vẫn băn khoăn không hiểu: “Khi ở trong sơn cốc, cớ sao Quỷ Cốc tiên sinh lại không truyền sách này cho đại ca?”

“Hỡi ôi!” Bàng Quyên than thở. “Đều trách đại ca suốt ngày chỉ nghĩ tới thù nhà, kiên quyết đòi xuống núi sớm. Tiên sinh khuyên nhủ hết lời, đại ca vẫn không chịu nghe theo, hẳn là đã khiến tiên sinh tức giận, nên mới không truyền lại cho đại ca.”

Bàng Thông nghe vậy, cũng thấy phẫn nộ: “Nếu quả như vậy, Tôn Tẫn thực là xấu xa! Đại ca đối xử tốt với hắn như thế, hắn đã không báo đáp thì chớ, lại còn ở đây giở trò loè bịp!”

“Hỡi ôi, Thông đệ,” Bàng Quyên lại than thở, “cũng là do đại ca đã hại Tôn huynh! Năm đó, nếu đại ca không mời Tôn huynh tới đây cùng hưởng phú quý, Tôn huynh hẳn đã không phải chịu nỗi khổ xác thịt này. Mấy ngày trước, nếu đại ca không chuẩn bị giấy bút, thẻ tre cho Tôn huynh, không bảo Tôn huynh chép binh thư, thì đâu đến nỗi Tôn huynh phải giả điên giả dại, diễn trò khổ nhục kế này!”

“Đại ca đúng là ngốc!” Bàng Thông giậm chân kêu lên. Ngẫm nghĩ một lát, lại đảo mắt rồi nói. “Đại ca yên tâm, việc này cứ giao cho Thông đệ. Người này nếu giả vờ điên, đệ không tin hắn có thể vờ vịt được mãi!”

“Thông đệ không được hồ đồ!” Bàng Quyên nghiêm giọng ngăn cản. “Dù thế nào đi nữa, Tôn huynh cũng là huynh đệ kết nghĩa của đại ca. Đại ca thà chịu thiệt thòi, cũng quyết không làm hại đến bạn bè!”

“Nhưng… nhưng hắn đâu có coi đại ca là bằng hữu!”

“Tôn huynh không coi đại ca là bằng hữu, nhưng đại ca không thể không coi Tôn huynh là bằng hữu!”

Bàng Thông cúi đầu, không nói thêm lời nào nữa.

Bàng Quyên bước lại, vỗ vai hắn, cười nói: “Thông đệ, đệ không phải lo lắng chuyện này nữa! Hãy nói thử xem, những ngày qua, có những ai tới phòng Tôn huynh?”

Bàng Thông ngẫm nghĩ một lát, rồi lắc đầu nói: “Ngoài Phạm Trù, tỳ nữ, thầy lang, lão nô bộc, không còn ai tới. Phải rồi, còn có một người nữa, là Bạch thiếu gia.”

“Bạch Khởi?” Bàng Quyên trong lòng giật thột. “Nó… nó đâu?”

“Vừa nãy mới thấy múa kiếm bên ngoài, để Thông đệ đi gọi!”

“Đại ca tự đi!” Bàng Quyên bước vội ra ngoài, rẽ qua góc tường, từ xa đã nhìn thấy Bạch Khởi đang múa kiếm thoăn thoắt trên bãi trống, né trái dịch phải, thanh kiếm trên tay lên xuống liên hồi, vùn vụt xé gió, miệng “hự” lên liên tục nghe rất khí thế.

Bàng Quyên tiến lại gần, vỗ tay khe khẽ. Bạch Khởi nhìn thấy Bàng Quyên, bèn thu kiếm lại, lạy chào: “Bạch Khởi khấu kiến nghĩa phụ!”

Bàng Quyên khen ngợi: “Kiếm pháp này con mới học hôm qua, hôm nay trông đã ra dáng lắm rồi, nghĩa phụ rất vui!”

Bạch Khởi lại dập đầu nói: “Tạ ơn nghĩa phụ quá khen!”

Bàng Quyên bước lại, bế Bạch Khởi lên tay: “Con trai, chuyện của Tôn nghĩa phụ, con đã biết chưa?”

Bạch Khởi xịu mặt, gật đầu: “Con biết rồi! Vừa rồi con tới thăm Tôn nghĩa phụ, nghĩa phụ không nhận ra con. Con gọi ‘nghĩa phụ’ mà nghĩa phụ còn lấy cành cây đánh con, nói con là tiểu yêu ma. Tối qua nghĩa phụ vẫn bình thường là thế, sao hôm nay lại thành ra như vậy, thật đáng thương!”

Bàng Quyên thở dài: “Than ôi, con trai ngoan, con có biết vì sao Tôn nghĩa phụ của con bị điên không?”

Bạch Khởi lắc đầu.

Bàng Quyên lại thở dài: “Ồ, nói đến chuyện này, phải trách con trai đấy!”

Bạch Khởi kinh ngạc ngẩng đầu nhìn Bàng Quyên: “Trách con?”

“Nghĩa phụ nghe nói, mấy hôm trước, con tới chỗ Tôn nghĩa phụ, có đưa vật gì đó cho Tôn nghĩa phụ?”

Bạch Khởi giật nảy mình, bên tai lập tức văng vẳng lời dặn của thân phụ Bạch Hổ: “Không chỉ nghĩa phụ mà ngay cả thân mẫu, con cũng không được nói. Còn nữa, từ nay về sau, con phải nhớ lời cha dặn, tuyệt đối giữ kín chuyện này”. Ngẫm nghĩ một lát, bèn lắc đầu nói: “Hôm đó con tới mài mực cho Tôn nghĩa phụ, không đưa vật gì cho Tôn nghĩa phụ cả!”

Bàng Quyên cười nói: “Con trai ngoan, con thử nghĩ kỹ lại xem, có ai nhờ con đưa vật gì không?”

Bạch Khởi nghiêng đầu nhìn Bàng Quyên: “Xin hỏi nghĩa phụ, ai sẽ nhờ con?”

“Chẳng hạn như, thân phụ con, thân mẫu con, hoặc nghĩa mẫu con!”

Bạch Khởi lại ngẫm nghĩ một lát, rồi dứt khoát lắc đầu. Một lúc sau, bỗng mắt sáng bừng, phấn khởi reo lên: “Nghĩa phụ, hài nhi nhớ ra rồi!”

Bàng Quyên mừng rỡ giục giã: “Con trai ngoan, mau nói đi!”

“Hôm kia, trước lúc ra về, hài nhi quả thực đã tặng Tôn nghĩa phụ một vật!”

“Ồ?” Bàng Quyên vội hỏi. “Là bảo bối gì vậy?”

“Một chiếc còi liễu! Do con tự làm, con đã tặng cho Tôn nghĩa phụ, khỏi nói cũng biết Tôn nghĩa phụ vui mừng đến đâu. Khi con đã đi xa, vẫn nghe thấy Tôn nghĩa phụ thổi còi ‘toe toe’ trong phòng…” Bạch Khởi nói rồi chu cái miệng bé xíu, giả tiếng “toe toe” liên hồi.

Sắc mặt Bàng Quyên tối sầm lại, từ từ thả Bạch Khởi xuống đất, rồi quay người, cúi đầu lầm lũi bước đi.

Bạch Khởi vội đuổi theo vài bước: “Nghĩa phụ, còi liễu hay lắm, nếu nghĩa phụ thích, con cũng sẽ làm một cái tặng cho nghĩa phụ!”

Bàng Quyên quay đầu lại, nhìn cậu bé mỉm cười: “Nghĩa phụ không thích còi liễu, con cứ làm đi, rồi mang tặng Tôn nghĩa phụ!”

Tôn Tẫn thình lình hoá điên là chuyện Bàng Quyên không bao giờ ngờ tới. Suốt một ngày trời, Bàng Quyên không ra khỏi cửa, chỉ giam mình trong thư phòng, ngồi buồn bã trên chiếu, trầm ngâm suy nghĩ về biến cố này.

Bất luận thế nào, Bàng Quyên có chết cũng không tin Tôn Tẫn bị điên thật. Khả năng lớn nhất là, sau khi Tôn Tẫn biết được chân tướng sự việc, không còn cách nào khác, buộc phải giả vờ điên dại. Tuy nhiên, vì sao Tôn Tẫn lại có thể biết được chân tướng sự việc? Hiện tại, ở nước Ngụy, người có khả năng biết rõ việc này, cùng lắm chỉ có hai mà thôi, một là bản thân Bàng Quyên, hai là Bạch Hổ.

Điểm mấu chốt hiện nay là, liệu Bạch Hổ đã biết được bao nhiêu? Cẩu Tử đã chết rồi. Còn Lật Bình? Phải rồi, Lật Bình! Liệu Bạch Hổ có cử người tới nước Vệ điều tra Lật Bình không? Nếu điều tra ra chỗ Lật Bình vốn không có người đưa thư nào tên là Lưu Thanh, Bạch Hổ sẽ có bằng chứng để chứng minh bức thư đó là giả, còn Tôn Tẫn bị hàm oan. Dựa vào tính khí của Bạch Hổ, hẳn sẽ bẩm báo với Chu Uy, Chu Uy sẽ bẩm báo với tướng quốc, rồi sẽ tới bệ hạ! Còn nữa… tại sao Bạch Hổ lại biết mà điều tra Cẩu Tử? Than ôi, con bạc năm xưa khi đã hối cải, cũng thực đáng gờm!

Thần sắc Bàng Quyên mỗi lúc càng thêm căng thẳng. Hắn biết, chưa tới lúc cùng bất đắc dĩ, thì hắn dứt khoát không thể nói ra sự thực với Bạch Hổ. Hơn nữa, dù có nói ra sự thực với Bạch Hổ, liệu Bạch Hổ lúc đó có còn coi hắn là ân công như trước nữa không? Nếu Bạch Hổ không còn coi hắn là ân công, giữa hắn và Bạch Hổ chỉ có thể là thù địch, là một mất một còn. Nghĩ tới những ân oán trước đây, nghĩ tới việc mình đã từng mưu trí cứu Bạch Hổ ra khỏi sòng bạc, lại nghĩ tới Bạch Hổ đã từng bất chấp nguy hiểm cứu mình ra khỏi tử lao, trong lòng Bàng Quyên chợt trào dâng một niềm chua xót.

“Hỡi ôi!” Bàng Quyên khẽ thở dài. “Lẽ nào ta đã đi quá xa rồi? Ngộ nhỡ Tôn huynh… Tôn huynh không phải giả điên, mà là điên thật, bảo ta sao có thể nhẫn tâm? Bất luận thế nào, Tôn huynh cũng có ân nghĩa với ta, thân thiết như thể tay chân, vì ta mà tới Ngụy, cũng vì ta mà gặp kiếp nạn, không những trở thành phế nhân, giờ lại thành kẻ điên điên dở dở…” Nghĩ đến đây, Bàng Quyên cúi gằm đầu xuống, một lát sau, lại lắc đầu dứt khoát. “Không được, không được, dứt khoát không thể có lòng dạ mềm yếu đàn bà! Dựa vào bản lĩnh của Tôn Tẫn, trước khi vào núi còn không sợ sinh tử, vài năm ở trong núi, càng tỏ ngộ cái đạo trời đất, vì sao lại phát điên được? Điên loạn như vậy, chắc chắn là giả, ta phải tìm cách lật tẩy trò hề của hắn!”

Bàng Quyên đang suy tính, bỗng từ trong sân vọng lại tiếng bước chân. Bàng Quyên nghe giọng nói, biết là Thụy Liên và tỳ nữ, lập tức nảy ra một ý hay, bèn ngồi ngay ngắn trên chiếu, sắc mặt lộ vẻ ủ rũ đau thương.

Tỳ nữ gõ cửa, Bàng Quyên không trả lời.

Thụy Liên xua tay, tự đẩy cửa bước vào phòng, thấy bộ dạng khổ sở của Bàng Quyên, bèn tiến lại gần nói: “Thiếp nghe nói phu quân suốt ngày ngồi rầu rĩ trong thư phòng, cơm không buồn ăn, lấy làm lo lắng, mới tới đây xem sao.” “Tạ ơn phu nhân quan tâm!” Bàng Quyên chỉ xuống chỗ ngồi bên cạnh. “Phu nhân hãy ngồi xuống đây!”

Thụy Liên ngồi xuống, lo lắng nhìn Bàng Quyên: “Phu quân, chàng chẳng tha thiết chuyện ăn uống, có phải vì Tôn huynh?”

“Hỡi ôi!” Bàng Quyên thở dài một tiếng, nước mắt ứa ra ròng ròng. “Nghĩ tới Tôn huynh, vốn là huynh đệ tình thâm với Quyên, giờ thành ra nông nỗi như vậy, bảo Quyên sao có thể đành lòng!”

Thụy Liên cũng chảy nước mắt: “Phu quân nói rất đúng. Thần thiếp hôm kia vào cung, thấy Mai tỷ vẫn còn đau buồn rơi lệ vì Tôn huynh. Mai tỷ tâm cao khí ngạo, mà số mệnh thực bi thương. Tôn huynh đã thành người tàn phế, mà Mai tỷ vẫn một lòng một dạ không thay đổi. Nếu biết chuyện Tôn huynh phát điên, không biết Mai tỷ còn đau khổ tới mức nào?”

“Phu nhân lo lắng cũng phải!” Bàng Quyên lau nước mắt, rồi ngẩng đầu nhìn Thụy Liên. “Nghe phu nhân nhắc tới Mai công chúa, Quyên chợt nảy ra một ý này, bệnh điên của Tôn huynh, có lẽ Mai công chúa sẽ chữa khỏi được!”

Thụy Liên vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, mở to mắt nhìn Bàng Quyên: “Vậy thì tốt quá! Phu quân nói mau, chữa trị thế nào?”

“Tôn huynh gặp đại nạn này, trong lòng tất có oán hận. Lại thêm hai chân tàn tật, nằm liệt trên giường, oán hận không biết trút bỏ vào đâu, tất dồn cả vào tâm, dẫn tới tinh thần điên loạn. Tôn huynh trước khi phát bệnh, đã đau đầu liền vài ngày, hẳn là dấu hiệu báo trước. Tôn huynh và Mai công chúa rất mực thâm tình, nếu được Mai công chúa ra mặt khuyên nhủ, biết đâu oán hận trong lòng Tôn huynh sẽ tiêu tan. Nếu vậy, bệnh tình không cần chữa cũng tự khỏi.”

“Chỉ có điều…” Thụy Liên khẽ lắc đầu, “hiện tại bộ dạng của Tôn huynh như vậy, nếu để Mai tỷ thấy, há chẳng đau lòng đứt ruột?”

“Phu nhân, Mai công chúa với Tôn huynh tình sâu nghĩa nặng, nếu nghe tin Tôn huynh phát điên, song lại không trông thấy người, chẳng phải càng đau khổ hơn ư?”

“Phu quân nói cũng phải. Ngày mai thiếp sẽ vào cung ngay, nói lại chuyện này với Mai tỷ. Nếu Mai tỷ có thành ý, thiếp sẽ đưa chị ấy về đây.”

Bàng Quyên vòng tay vái Thụy Liên mà nói: “Quyên thay mặt Tôn huynh tạ ơn phu nhân!”

Buổi chiều hôm sau, bốn người Bàng Quyên, Bàng Thông, Thụy Mai và Thụy Liên tất tả tới phòng Tôn Tẫn.

Vừa bước vào cổng, Bàng Quyên đã lớn tiếng gọi: “Tôn huynh, Tôn huynh ơi, Mai công chúa tới thăm huynh đây!”

Bên trong không một tiếng đáp.

Bàng Quyên bước vào trong phòng, ngó nhìn tứ phía, song không thấy Tôn Tẫn đâu cả.

Bàng Quyên lo lắng, quay sang Bàng Thông hỏi: “Tôn tướng quân đâu?”

Bàng Thông đáp: “Có lẽ vẫn ở trong nhà. Tiểu đệ đã cử người trông coi, chưa từng thấy Tôn huynh ra ngoài.”

“Tìm mau!”

Bàng Thông tìm kiếm khắp nơi, cuối cùng phát hiện ra Tôn Tẫn đang ở trong góc chứa củi khô, đầu gối trên củi, ngủ ngon lành. Mới có một ngày không gặp, trông Tôn Tẫn đã không còn ra hình người, đầu bù tóc rối, mặt mũi nhem nhuốc, chẳng khác gì một gã điên lang thang nơi đầu đường xó chợ.

Vừa nhìn thấy Tôn Tẫn, Mai công chúa đã vùng tay khỏi Thụy Liên, chạy thẳng về phía góc tường, chỉ vài bước đã đến bên Tôn Tẫn, níu lấy tay, đau đớn khóc oà lên thành tiếng: “Tôn tướng quân!”

Đây chính là điều Bàng Quyên đang chờ đợi.

Thụy Liên vội vã bước lại, gắng sức kéo Thụy Mai ra.

Bàng Quyên giậm chân quát mắng đám người hầu: “Các ngươi thật là một lũ vô tích sự, sao lại để Tôn tướng quân ngủ ở đây? Mau đưa Tôn tướng quân về phòng ngủ!”

Bàng Thông gọi hai gia đinh lại, người nhấc tay kẻ nhấc chân khiêng Tôn Tẫn về phòng.

Tôn Tẫn bị họ xô đẩy mà choàng tỉnh, ráng sức giãy giụa: “Đám ma đầu kia, mau mau thả ta ra! Ngấm ngầm hãm hại bản tướng thế này, còn gọi gì là bản lĩnh?”

Đám gia đinh chẳng nói chẳng rằng, khiêng thẳng Tôn Tẫn về phòng đặt lên giường.

Bàng Quyên bước vào theo, gọi lớn: “Mau mang nước nóng lại đây!”

Người hầu bê nước nóng lại. Bàng Quyên đích thân lấy khăn rửa mặt cho Tôn Tẫn. Tôn Tẫn giãy giụa rất dữ, không cho Bàng Quyên động đến người. Bàng Quyên cũng không nhiều lời, một tay giữ chặt Tôn Tẫn, một tay cầm khăn lau mặt, sau đó ấn Tôn Tẫn xuống giường, đắp chăn bông lên.

Tôn Tẫn bị giữ chặt, trợn tròn hai mắt, kinh hãi nhìn Bàng Quyên, như thể Bàng Quyên là ma đầu thực sự.

Bàng Quyên quỳ sụp xuống đất, bật khóc thảm thiết, đau đớn cất tiếng gọi: “Tôn huynh!”

Ánh mắt Tôn Tẫn càng thêm sợ hãi, toàn thân run lên bần bật, rúm người nép vào tận góc tường phía cuối giường.

Thụy Liên đưa mắt ra hiệu, Bàng Thông bèn dẫn đám gia đinh lánh ra ngoài sân.

Bàng Quyên khóc không thành tiếng: “Tôn huynh, có Mai công chúa tới thăm huynh!”

Thụy Mai bước lại bên giường, khóc mà nói: “Tôn tiên sinh… Thụy Mai tới thăm tiên sinh đây!”

Tôn Tẫn toàn thân vẫn run rẩy, hai tay bịt mắt, miệng gào lên thật lớn: “Đám ma đầu kia, mau cút đi, mau, mau, mau cút hết đi!”

Bàng Quyên đứng dậy, nắm tay Thụy Liên kéo ra ngoài, thuận tay khép cánh cửa lại. Bàng Quyên áp sát tai vào cánh cửa, chăm chú lắng nghe động tĩnh bên trong.

Mai công chúa khóc lóc một hồi, thấy Tôn Tẫn vẫn ra rả một điều “ma đầu” hai điều “ma đầu”, bèn nín khóc, hai mắt nhìn Tôn Tẫn đăm đăm, nuốt lệ ngâm nga:

“Mong manh mai một cội,

Khinh tuyết nở âm thầm.

Lặng đưa hương phảng phất,

Theo lối tìm tri âm.

Thấy Tôn Tẫn vẫn toàn thân run rẩy, Thụy Mai ngừng lại một lát, rồi tiếp tục ngâm:

“Mong manh mai một cội,

Trong tuyết nở âm thầm.

Đợi người hiểu mai tới,

Hai ý thành gió xuân.”

Tôn Tẫn vẫn hai mắt đờ đẫn, sợ hãi nhìn Thụy Mai, miệng không ngớt lảm nhảm: “Ma đầu, ma đầu, các ngươi mau cút đi!…”

Thụy Mai bàng hoàng đau đớn, lại khóc một hồi nữa, rồi nghẹn ngào nói: “Xuân có mẫu đơn, là hoa giàu có; hạ có sen trắng, là hoa sang trọng; thu có cúc vàng, là hoa ẩn dật; đông có mai hồng, là hoa thanh cao. Giàu có là áo của hoa, sang trọng là mũ của hoa, ẩn dật là tình của hoa, thanh cao là tâm của hoa. Tẫn tài đức gì đâu, nào dám… mơ đến… tâm hoa!”

Thụy Mai ngâm tới câu cuối cùng, bật khóc thành tiếng, bước lại gần, toan nắm lấy tay Tôn Tẫn, nào ngờ bị Tôn Tẫn điên cuồng đẩy mạnh, ngã nhào ra phía sau. Tôn Tẫn lại càng co rúm người nép sát vào góc tường, hai mắt đầy khiếp đảm nhìn Thụy Mai, gào lên điên dại: “Ma đầu! Ma đầu! Ngươi là đại ma đầu! Mau chạy thôi, đại ma đầu tới rồi! Mau chạy thôi, đại ma đầu tới rồi…” Rồi sau đó, trái ngược hẳn với vẻ khiếp sợ khi nãy, lập tức hai mắt trợn trừng, đôi mày dựng ngược, chộp lấy gối, đập thùm thụp vào bức tường sau lưng, miệng lại gõ trống chiến. “Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng tùng… Đại ma đầu, bản tướng sao phải sợ ngươi? Bản tướng là thần tiên giáng trần, Thiên Vương giao cho ta chuỳ báu Hỗn Thiên, đám ma đầu các ngươi mau tới chịu chết! Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng…”

Thụy Mai cõi lòng tan nát, khắp người đau nhức, kêu lên một tiếng bi thảm, ngất lịm trên đất.

Bàng Quyên nghe rõ mồn một, vội đẩy cửa xông vào, xốc Thụy Mai dậy, cùng Thụy Liên cấp tốc rời đi.

Tôn Tẫn bật cười một tràng dài, miệng lại đánh trống thắng trận: “Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng tùng… Bản tướng giương cờ thắng trận, đại ma đầu đã bị quật chết dưới chuỳ báu Hỗn Thiên! Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng tùng…”

Nghe thấy tiếng bước chân đã xa dần rồi mất hút, khu nhà lại chìm trong tĩnh lặng như vốn có, “tiếng trống” của Tôn Tẫn cũng chậm lại, yếu dần, dần dần biến thành tiếng nức nở: “Tùng tùng tùng… Thụy Mai… Thụy Mai… tùng tùng tùng…”

***

Ngay sau khi Tôn Tẫn phát điên, Bàng Quyên lập tức hạ lệnh, cấm không cho bất kỳ gia nhân nào được ra ngoài, đến việc đi chợ của Phạm Trù cũng bị kiểm soát gắt gao. Phạm Trù chỉ được liệt kê những thực phẩm cần mua, còn thì Bàng Thông sẽ đích thân mua về.

Tới ngày thứ ba, Bàng Thông mới xoá bỏ lệnh cấm. Phạm Trù được ra khỏi cổng phủ, vội tìm cơ hội, kín đáo chạy tới cửa hàng da họ Tần, kể lại đầu đuôi sự việc cho “ân công” nghe, cuối cùng, khóc nghẹn mà nói: “Tôn tướng quân đã… đã hoá điên mất rồi!”

Công tử Hoa trong lòng đã hiểu rõ, bèn gật đầu hỏi: “Khi Tôn tướng quân phát bệnh, vết thương nơi đầu gối thế nào?”

“Vừa mới khỏi hẳn!”

Công tử Hoa càng thêm chắc chắn, trầm ngâm một lát, lại hỏi: “Xin hỏi Phạm huynh, trong thành Đại Lương có thầy lang nào chuyên trị bệnh điên không?”

Phạm Trù ngẫm nghĩ một lát: “Tiểu nhân nghe nói có hai người, đều chữa được bệnh thần kinh và bệnh điên.”

“Phạm huynh hãy nói qua về họ!”

“Một người trung niên, sống ở phố Tây Nhai. Còn người kia nhiều tuổi hơn một chút, sống ở góc ngoặt phố Nam Nhai.”

“Ồ?” Công tử Hoa hỏi. “Thế người nào nổi tiếng hơn?”

“Đương nhiên là người nhiều tuổi hơn. Nghe nói người trung niên vốn là em trai của ông ta, sau này tự mở y quán.”

“Ông ta họ gì?”

“Họ Hoàng, nghe nói y thuật cao siêu, hễ người điên nào gặp phải ông ta cũng phải ngoan ngoãn hết! Tần gia muốn tìm ông ta ư?”

Công tử Hoa khẽ mỉm cười: “Người này sắp phát tài rồi!”

Sau khi Phạm Trù ra về, công tử Hoa tức tốc đánh xe tới phố Nam Nhai, từ xa đã nhìn thấy tại khúc ngoặt trên phố có treo một tấm biển, trên viết một chữ “Y” rất lớn. Công tử Hoa xuống xe, bước vào y quán.

Hoàng y sư tuổi độ ngũ tuần, nghe thấy tiếng động liền bước ra, công tử Hoa vòng tay vái chào: “Là Hoàng y sư chăng?”

Hoàng y sư vòng tay đáp lễ: “Chính tại hạ!”

Công tử Hoa lập tức nói thẳng vào chuyện: “Vãn sinh nghe nói tiên sinh chuyên trị bệnh điên, nên mới tới đây cầu kiến.”

“Sĩ tử, mời!”

Hoàng y sư dẫn công tử Hoa vào phòng trong, phân ngôi chủ khách ngồi xuống, tự giới thiệu: “Y quán này và cả y thuật của lão hủ đây, đều là do tổ tiên truyền lại, đến lão hủ đã là đời thứ năm.”

Công tử Hoa vòng tay nói: “Vãn sinh ngưỡng mộ đã lâu! Xin hỏi tiên sinh, phí khám chữa bệnh thế nào?”

Hoàng y sư cũng vòng tay đáp: “Trong thành Đại Lương, tính theo số lần khám bệnh, mỗi lần năm mươi đồng, tiền thuốc tính riêng. Bệnh điên thông thường, ba lượng vàng chữa đến khỏi.”

Công tử Hoa thoáng ngạc nhiên: “Ba lượng chữa đến khỏi, là thế nào?”

“Là thế này!” Hoàng y sư giải thích. “Hễ là bệnh điên, lão hủ đây nhiều nhất cũng chỉ thu ba lượng. Nếu vượt quá số tiền này mà bệnh vẫn không khỏi, lão hủ một đồng cũng không lấy thêm, chữa cho tới khi bệnh khỏi hẳn mới thôi.”

“Nếu tiên sinh không chữa khỏi thì sao?”

“Trả lại toàn bộ phí tổn!”

“Ồ, y thuật của tiên sinh quả nhiên cao siêu!” Công tử Hoa lấy ra năm lượng vàng từ trong ống tay áo, đặt lên mặt bàn. “Vãn sinh có một bệnh nhân muốn nhờ tiên sinh chữa trị giúp, đây là tiền đặt trước.”

Hoàng y sư kinh ngạc nhìn năm lượng vàng: “Người bệnh của khách quan hẳn không phải người tầm thường, có thể nói cho lão hủ biết, bệnh nhân là ai không?”

Công tử Hoa đứng dậy, bước tới bên Hoàng y sư, ghé tai thì thầm một hồi, rồi quay trở về chỗ ngồi.

Hoàng y sư ngẫm nghĩ một lát, rồi lắc đầu nói: “Khách quan hãy cất vàng đi, xin mời về cho!”

Công tử Hoa mỉm cười, lại lấy thêm năm lượng vàng nữa từ trong ống tay áo, đặt lên mặt bàn: “Tiên sinh, mười lượng vàng này vẫn chỉ là ứng trước. Sau khi xong việc, tại hạ xin cảm tạ nốt mười lượng còn lại!”

Hoàng y sư vẫn lắc đầu: “Khách quan nhầm rồi, lão hủ đây từ chối, không phải vì chuyện tiền bạc. Dòng họ Hoàng hành nghề y, lấy y đức làm trọng, chưa từng làm chuyện sai trái. Nếu tham chút vàng cỏn con này, dù giấu được mọi người, giấu được đại tướng quân, song y đức của lão hủ lại mất, khi tế lễ tổ tiên, trời biết đất biết, khách quan bảo lão hủ phải ăn nói thế nào trước liệt tổ liệt tông?”

Công tử Hoa vòng tay nói: “Y đức của tiên sinh, thực khiến người ta phải kính trọng. Hãy khoan nói tới chuyện tiền bạc, tiên sinh có biết Tôn tướng quân chăng?”

“Lão hủ không biết!”

“Không giấu gì tiên sinh,” công tử Hoa sắc mặt nghiêm trang, chậm rãi nói, “vãn sinh xin kể rõ ngọn ngành cho tiên sinh biết! Tôn tướng quân là cháu đời thứ sáu của danh tướng thiên hạ Tôn Vũ Tử, tiên tổ phụ Tôn Cơ là tướng quốc nước Vệ. Khi bệ hạ phạt Vệ, thượng tướng quân công tử Ngang dẫn quân thảm sát Bình Dương, cả dòng họ Tôn tuẫn thân tận trung với Vệ thất, duy có Tôn tướng quân may mắn thoát nạn. Sau này, Tôn tướng quân cùng đại tướng quân Bàng Quyên kết nghĩa vào núi, cùng bái Quỷ Cốc tiên sinh làm thầy. Đại tướng quân thành tựu tầm tầm, mọi mặt đều không bằng Tôn tướng quân, do đố kỵ mà sinh lòng thù hận, trước mặt bệ hạ đã hãm hại Tôn tướng quân, khiến Tôn tướng quân phải chịu tẫn hình. Tôn tướng quân đã thành phế nhân, đại tướng quân vẫn không buông tha, giam lỏng Tôn tướng quân trong phủ. Tôn tướng quân không còn cách nào khác, đành phải giả điên. Nếu tiên sinh khám ra bệnh điên của Tôn tướng quân là giả, Tôn tướng quân ắt khó lòng bảo toàn tính mạng! Dòng họ Tôn chỉ còn sót lại mình Tôn tướng quân, mà sự sống chết của Tôn tướng quân hiện nay, phụ thuộc cả vào lời nói của tiên sinh. Tiên sinh, y đức lớn nhất là cứu người thoát nạn, một lời nói của tiên sinh, vừa cứu sống Tôn tướng quân, lại không mảy may tổn thương tới một cọng tóc của đại tướng quân. Vãn sinh thiết nghĩ, một công đôi việc, đã không tổn hại tới y đức, ngược lại còn là công đức, xin tiên sinh nghĩ lại!”

Hoàng y sư trầm ngâm hồi lâu, rồi ngẩng đầu nhìn công tử Hoa: “Nghe nói Tôn tướng quân là người tốt, Bàng tướng quân cũng là người tốt. Chuyện giữa hai người họ, người khác không hiểu được, càng không liên quan gì tới lão hủ đây. Có điều, những lời khách quan nói không phải không có lý. Một lời nói của lão hủ, nếu vừa có thể cứu sống Tôn tướng quân, lại không làm tổn thương tới Bàng tướng quân, thì lão hủ coi như cũng có lời giải thích trước tổ tiên. Chuyện này, lão có thể đồng ý.”

Công tử Hoa vòng tay cảm tạ mà nói: “Vãn sinh thay mặt Tôn tướng quân cảm tạ ân cứu mạng của tiên sinh.”

“Lão hủ tuy đã đồng ý với khách quan, nhưng liệu đại tướng quân có tới mời hay không, cũng chưa thể biết. Do vậy, khách quan bất tất phải cảm tạ quá sớm, xin hãy mang vàng về cho!”

Công tử Hoa lại vái tạ mà nói: “Tiên sinh yên tâm, vãn sinh đã nói, tất không rút lời. Nếu đại tướng quân không tới mời tiên sinh, mười lượng vàng này coi như vãn sinh kính tặng tiên sinh. Nếu đại tướng quân tới mời, chỉ cần tiên sinh đừng nói ra chuyện này, vãn sinh sẽ hậu tạ thêm mười lượng nữa.”

Hoàng y sư thở dài một tiếng, vòng tay nói: “Khách quan đã khăng khăng như vậy, thì cứ tạm để số vàng này ở đây, đợi sự việc qua đi, sẽ hoàn trả sau!”

Công tử Hoa đứng dậy cáo từ, Hoàng y sư tiễn ra ngoài cửa, nhìn theo bóng xe ngựa xa dần, lắc đầu thở dài một tiếng, rồi quay trở vào trong y quán.

Tiễn Mai công chúa ra về, Bàng Quyên lại ngồi rầu rĩ trong thư phòng, vùi đầu suy nghĩ. Nếu Tôn Tẫn quả thực giả điên, chắc chắn đã hiểu rõ nội tình. Nội tình duy chỉ Bạch Hổ có khả năng biết được, tuy nhiên hắn đã canh phòng rất nghiêm ngặt, Bạch Hổ chưa từng một mình gặp mặt Tôn Tẫn bao giờ. Tất cả những người được phép vào phòng Tôn Tẫn, cũng đều được hắn chọn lựa kỹ lưỡng. Phạm Trù? Cũng không thể. Phạm Trù vừa không quen biết Bạch Hổ, cũng chưa từng nghe nói giữa hai người có tiếp xúc qua lại. Khả năng duy nhất chính là Bạch Khởi, nhưng một đứa trẻ bảy tuổi đầu, dù Bạch Hổ có giao việc đi chăng nữa, bộ dạng ngây thơ của cậu bé hôm đó cũng không thể là giả được. Một điều nữa là Mai công chúa. Trước phản ứng hôm nay của Mai công chúa, dù Tôn Tẫn có định lực bằng trời, lòng dạ sắt đá cũng không thể không lộ ra sơ suất, vậy mà…

Lẽ nào… lẽ nào Tôn Tẫn lại bị điên thật? Bàng Quyên càng chau tít đôi mày. Một lúc sau, đầu mày khẽ giật một cái, trong đầu bỗng nảy ra một ý. Điên hay không, không thể giấu được thầy lang. Tôn Tẫn nếu giả điên, dù có giả giống y như thật, cũng không thể qua mắt được thầy lang chuyên trị bệnh điên.

Nghĩ tới đây, Bàng Quyên đứng dậy bước ra ngoài cửa, sai người gọi Bàng Thông tới, than thở mà rằng: “Thông đệ này, hôm nay xem ra, bệnh tình của Tôn huynh không giống như giả dạng. Thực không ngờ Tôn huynh hôm nay lại lâm vào tình cảnh này, đại ca thân là sư đệ, càng nghĩ càng đau đớn. Dù thế nào đi nữa, có bệnh thì phải chữa. Đệ thử đi nghe ngóng xem trong thành Đại Lương, có thầy lang nào chuyên trị bệnh điên không?”

Bàng Thông đáp ngay: “Tiểu đệ đã dò la biết được, trong thành Đại Lương, có hai thầy lang chuyên trị bệnh điên, một người sống ở phố Tây Nhai, một người sống ở phố Nam Nhai. Trong hai người, y thuật của Hoàng y sư phố Nam Nhai giỏi hơn, nghe nói là đã truyền qua năm đời, phí điều trị ba lượng chữa đến khỏi, chữa không khỏi bệnh không lấy một đồng công.”

Bàng Quyên chau mày suy nghĩ một hồi, rồi quyết đoán: “Đã có hai người, thì mời cả về đây!”

Bàng Thông chần chừ một lát: “Hồi bẩm đại ca, thầy lang phố Tây Nhai sáng sớm nay có người đến gọi đi rồi, nghe nói là tới nơi xa khám bệnh, ở tận vùng đất gì đó của nước Hàn, xem ra, vài ba hôm nữa chưa chắc đã về được.”

“Được rồi, nếu Hoàng y sư kia y thuật giỏi nhất, hãy mau đi mời ông ta về đây trị bệnh!”

Bàng Thông vâng lệnh, vội vã đi ngay. Nhìn theo bóng Bàng Thông, Bàng Quyên cười nhăn nhó: “Than ôi, quả là quái lạ! Mình muốn hai người cùng tới trị bệnh, ai ngờ một người lại đi mất rồi!”

Chưa đầy nửa canh giờ sau, Bàng Thông đã dẫn Hoàng y sư tất tả quay về. Bàng Quyên hành lễ xong, lập tức dẫn ông ta tới phòng Tôn Tẫn. Còn chưa tới nơi, ba người đã loáng thoáng nghe thấy “tiếng trống” trong viện của Tôn Tẫn, âm thanh lúc cao lúc thấp, lên bổng xuống trầm.

Hoàng y sư ra hiệu, ba người khẽ khàng dừng bước. Hoàng y sư nghiêng tai nghe ngóng một lúc, rồi nhấc chân bước vào trong cửa.

Thấy có người vào, Tôn Tẫn kích động trông thấy, miệng gào lên: “Ma đầu tới rồi, thiên binh thiên tướng mau bày trận, nghe hiệu lệnh của bản tướng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng tùng…”

Hoàng y sư quan sát kỹ một hồi, rồi hỏi Bàng Thông: “Người này phát bệnh bao lâu rồi?”

“Bốn ngày rồi!”

“Trước khi phát bệnh, người này phải chăng luôn miệng kêu đau đầu, ăn thùng uống vại?”

“Đúng vậy!”

“Sau khi phát bệnh, người này lúc nào cũng như thế kia phải không?”

“Lúc phát lúc đỡ, có lúc nằm ngủ li bì.”

“Phải rồi!” Hoàng y sư không hỏi thêm gì nữa, gật gật đầu ra chiều khẳng định, sau đó cất cao giọng, rõ ràng là muốn nói cho Tôn Tẫn nghe. “Đúng thực là bị điên rồi, để lão hủ bắt mạch thử xem.”

Nghe thấy Hoàng y sư nói muốn bắt mạch, tiếng trống của Tôn Tẫn lại càng gấp gáp, hai cánh tay khua khoắng điên cuồng, nắm đấm nện tứ tung. Hoàng y sư không thể lại gần, Bàng Quyên đành phải xông vào, gắng sức ghì chặt lấy hai cánh tay Tôn Tẫn. Hoàng y sư đưa tay bắt mạch, lần sờ một hồi rồi buông tay ra, chau tít đôi mày.

Bàng Quyên vội hỏi: “Hoàng tiên sinh, bệnh thế nào?”

Hoàng y sư thở dài, trầm giọng mà nói: “Người này mắc chứng thất tâm phong!”

“Thất tâm phong là thế nào?”

“Hồi bẩm đại tướng quân,” Hoàng y sư dõng dạc đáp, ngoài mặt vẻ như đang nói với Bàng Quyên, song thực chất vẫn là muốn nói cho Tôn Tẫn nghe. “Người ta đều có hai thân, một là nhục thân, hai là linh thân. Hai thân hợp một, là người bình thường. Linh thân còn gọi là nguyên thần, một khi bị kinh hãi, sẽ trốn khỏi nhục thân. Linh nhục phân ly, nhục thân không có linh thân, sẽ mất kiểm soát, người bình thường sẽ trở thành người điên. Khi linh thân quay trở về nhục thân, lúc đấy bệnh điên sẽ khỏi dần. Nếu linh thân mãi mãi không chịu trở về nhục thân, người này sẽ điên dại kéo dài!”

Nghe Hoàng y sư giảng giải về y lý huyền diệu, Bàng Quyên tuy vẫn mơ hồ, song cũng thấy phục, im lặng hồi lâu, bèn gật gù mà nói: “Hoàng y sư xứng đáng là danh y, vậy chứng thất tâm phong này…”

Hoàng y sư thuận miệng nói tiếp: “Về mặt y lý, linh thân bị kinh hãi có nhiều nguyên nhân khác nhau, mức độ khác nhau, chứng bệnh đương nhiên cũng khác nhau. Phàm bệnh điên được phân thành bốn loại, một là mê tâm phong, hai là loạn tâm phong, ba là kinh tâm phong, bốn là thất tâm phong.”

Bàng Quyên kinh hãi hỏi: “Theo như tiên sinh nói, lẽ nào thất tâm phong là nghiêm trọng nhất?”

“Đúng vậy!” Hoàng y sư gật đầu. “Chứng điên thông thường đều là mê tâm phong và loạn tâm phong. Mê tâm phong và loạn tâm phong có thể chữa khỏi, kinh tâm phong cũng có thể chữa, riêng thất tâm phong thì không chữa được, bởi lẽ người mắc chứng thất tâm phong, nguyên thần bị kinh hãi nặng nề nhất, hoàn toàn rời khỏi nhục thân, không có chỗ bấu víu. Bệnh của Tôn tướng quân, đừng nói là tại hạ, dù Biển Thước tái thế, e rằng cũng khó lòng chữa trị. Bất luận là ai, một khi đã mắc chứng thất tâm phong, đời này coi như đã hết!”

Bàng Quyên nghe mà bàng hoàng chấn động, trợn mắt đứng chết trân.

“Thôi được!” Hoàng y sư khẽ thở dài. “Lão hủ cứ kê đơn thuốc, nếu người này uống thuốc đều đặn, bệnh tình hoạ may có thể thuyên giảm. Song muốn trị tận gốc, đại tướng quân cần mời người cao tay hơn.” Nói xong, kê ngay một đơn thuốc, đưa cho Bàng Thông.

Bàng Thông cầm lấy đơn thuốc, nhìn Bàng Quyên.

Bàng Quyên quay người, đi thẳng một mạch ra khỏi khu nhà, ra tới cổng thì quay đầu lại nói: “Thưởng tiên sinh một lượng. Tiễn khách!”

Bàng Thông lấy một lượng vàng, đưa cho Hoàng y sư, dẫn ông ta ra khỏi khu nhà, đến lúc đi xa, lại nghe thấy tiếng “trống chiến” dồn dập của Tôn Tẫn.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử