Trước sự nghênh đón của quân Ngụy ở bờ bên kia, đại lương tạo nước Tần Công Tôn Ưởng dẫn khoảng năm vạn lính Tần thuộc tam quân tả, trung, hữu, lũ lượt vượt sông Lạc Thuỷ, đi qua Đại Lệ quan, tiến thẳng tới trường thành, đóng trại bên ngoài trường thành từ Đại Lệ quan tới Lâm Tấn quan tuân theo đúng quy định nghiêm ngặt của quân Ngụy, ở đó chờ lệnh.
Người Tần đóng trại liền hai ngày, toàn bộ binh lính đều giữ đúng phép tắc, không hề có hành động dị thường. Tới ngày thứ ba, tướng trấn giữ trường thành Lã Giáp sai tham tướng dẫn người khiêng lợn dê sang doanh trại Tần khao quân, nhân tiện nghe ngóng tình hình. Người Tần vui vẻ đón tiếp, không hề có chút thù địch. Tướng sĩ khao quân và lính Tần chuyện trò rôm rả, lính Tần đều hào hứng nói chuyện đông chinh, chỉ đợi bệ hạ Đại Ngụy có chỉ, lập tức tới thẳng Sơn Đông, nguyện một lòng xả thân vì bệ hạ.
Tham tướng khao quân trở về báo lại tường tận lên Lã Giáp. Lã Giáp triệu tập các tướng lại, nói: “Bệ hạ đã kết minh với người Tần, Công Tôn Diễn lại tự mình chủ trương, vô cớ sinh sự, khăng khăng cho rằng người Tần mưu đồ bất trắc. Hôm nay đã thấy rõ, Công Tôn Diễn chẳng qua chỉ là lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử mà thôi!”
Có bộ tướng tiếp lời: “Lã tướng quân, Công Tôn Diễn lấy cớ trị quân, vài ngày trước công khai xử chém Triệu Lập. Chưa đầy ba ngày sau, lại hạ lệnh cho quân giữ Đại Lệ quan mở cửa nghênh đón người Tần. Hành động trước sau mâu thuẫn, lẽ nào Triệu Lập đã chết oan?”
Một bộ tướng khác chêm vào: “Lã tướng quân, ý đồ thực sự của Công Tôn Diễn không phải là chém Triệu Lập, mà là muốn thừa cơ ra oai, cố ý làm tướng quân mất mặt!”
Nói tới đó, những người vốn thân thiết với Triệu Lập đều bất bình phẫn nộ. Triệu Lập vốn là ái tướng của Lã Giáp, hôm nay lại nghe thấy đám thuộc hạ nói như vậy, Lã Giáp nổi giận đùng đùng, nghiến răng nói: “Chư vị tướng quân, Công Tôn Diễn đã cố tình gây khó dễ với bản tướng, bản tướng cũng sẽ không để hắn sống yên ổn! Đợi Long tướng quân chinh chiến trở về, bản tướng sẽ tâu bày tường tận lên tướng quân, có các vị đây làm chứng, cùng rửa mối oan cho Triệu tướng quân!”
Các tướng đồng thanh nói: “Mạt tướng chỉ mong nghe được lời này của Lã tướng quân!”
Lã Giáp suy nghĩ một lát, cất giọng sang sảng: “Chư vị tướng quân, hôm nay vừa hay bảy ngày Triệu tướng quân, chúng ta hãy ở đây uống rượu, coi như đưa tiễn vong linh Triệu tướng quân!”
Lã Giáp nói xong, lập tức bày tiệc rượu. Chốc lát, rượu thịt được bưng lên, các tướng cười nói rôm rả, chuốc nhau uống say túy lúy.
Buổi tối hôm đó, bỗng dưng trời trở gió, sấm chớp đùng đùng, mưa như trút nước, mãi nửa đêm mới tạnh. Do tướng quân không có mặt, cũng không dặn dò gì, lại gặp mưa gió bão bùng, lính Ngụy ở trường thành hầu hết đều xuống khỏi thành trú mưa, chui vào luỹ đất phía sau tường thành cởi giáp nằm ngủ, chỉ còn lác đác vài người ở lại trên thành, hoặc canh gác tại chỗ che mưa của đài phong hoả. Cho tới tảng sáng, những binh sĩ canh gác cũng đều thấm mệt, chìm vào giấc ngủ say sưa.
Trong thủ phủ trường thành, Lã Giáp và các tướng uống say khướt, nằm ngổn ngang la liệt, ngáy khò khò như sấm động.
Chính vào lúc này, quân Tần đông đến hàng vạn đã xếp thành hàng dài dọc theo trường thành, quăng dây thừng lên các ụ gạch trên thành, lặng lẽ leo lên như đàn kiến. Trong nháy mắt, quân Tần đã leo tới mặt thành, lẻn đến bên những binh sĩ canh gác đang ngủ say sưa, khẽ khàng lật những cái đầu đang gục xuống, đưa một nhát đao lướt ngang cần cổ. Đáng thương cho đám lính Ngụy, ra ma ngay trong giấc mơ mà không hề hay biết.
Cũng thật may mắn, một tên lính canh ở đài phong hoả vừa hay mót tiểu tỉnh ngủ, đang đứng dậy định đi tiểu, đột nhiên nhìn thấy vài chục lính Tần tay lăm lăm binh khí, đang men theo mặt trong tường lửng, tiến về phía mình. Lính Ngụy kinh hãi thất sắc, quên luôn cả mót tiểu, gào lên thất thanh: “Quân Tần tới rồi!” Vừa gào, vừa châm lửa đốt phong hoả.
Khi quân Tần kịp xông tới nơi, đài phong hoả đã cháy rừng rực. Từ xa nhìn thấy phong hoả, lính Ngụy theo bản năng và chức trách, lập tức đốt các đài phong hoả tiếp theo. Chốc lát, trên trường thành, phong hoả theo nhau bùng cháy. Đám lính Ngụy đang ngủ trong thành luỹ nghe thấy tiếng thét gào ầm ĩ, lập tức lồm cồm bò dậy, một số còn chưa kịp mặc áo đã trở thành ma dưới mũi giáo quân Tần. Cũng có người tìm được thương đao, đâm chém quyết liệt.
Lã Giáp cùng các tướng uống rượu say mèm nên khi ngủ chưa kịp cởi áo giáp. Lúc này cơn say đã qua, nghe thấy bên ngoài náo động, thì bừng tỉnh dậy, réo gọi đám tướng, cầm thương xông ra cửa, đã thấy phong hoả ngút trời, trên tường thành quân Tần đông nghịt. Lã Giáp biết đại thế đã mất, vội vã xông vào quân Tần, chém liền mấy tên.
Lã Giáp cầm ngang cây thương, xông thẳng lên trước, đang định sát phạt, vừa hay gặp tiên phong quân Tần là Tư Mã Thác dẫn quân lao tới.
Muốn đánh giặc trước tiên phải bắt tướng, Tư Mã Thác sớm đã nắm rõ các điểm trọng yếu của thủ phủ trường thành, do vậy sau khi chiếm được trường thành, lập tức dẫn người xông thẳng tới đây, vừa hay chạm trán Lã Giáp. Hai người thúc ngựa vung thương, đánh liền mấy hiệp. Nếu là bình thường, Tư Mã Thác không phải là đối thủ của Lã Giáp. Tuy nhiên, vào lúc này, Lã Giáp sớm đã không còn tâm trí chiến đấu, nên chưa đánh được mấy hiệp, đã quay đầu ngựa, mở ra đường máu, chạy về phía Thiếu Lương.
Khi Lã Giáp chạy tới Thiếu Lương, mặt trời đã lên tới đầu ngọn sào. Trong thành Thiếu Lương, bốn cổng đóng chặt, trên lầu cổng thành, cờ bay phần phật, giáo dựng tua tủa, hết sức uy nghiêm. Lã Giáp giờ thấy hối hận cũng đã muộn rồi, bèn xông tới trước lầu cổng thành, gọi lớn: “Ta là Lã Giáp, cấp báo tới Công Tôn tướng quân, người Tần đã phá trường thành, đang xông tới đây!”
Công Tôn Diễn toàn thân giáp trụ, từ từ xuất hiện trên lầu thành, đưa ánh mắt lạnh lùng nhìn xuống Lã Giáp, rồi vẫy tay ra hiệu mở cổng. Một lát sau, cầu treo thả xuống, cổng thành mở ra.
Lã Giáp khắp người bết máu, ghì chặt đầu ngựa, ôm quyền nói với Công Tôn Diễn: “Công Tôn tướng quân! Lã Giáp tới đây, chỉ muốn nói với tướng quân một tiếng, Lã Giáp nông cạn khinh địch, không chịu nghe lời tướng quân, giờ hối hận cũng đã muộn rồi. Lã Giáp thỉnh cầu tướng quân chuyển lời tới Long tướng quân, nói là Lã Giáp có lỗi với tướng quân, có lỗi với bệ hạ, có lỗi với Hà Tây, xin được tạ lỗi tại đây!”
Dứt lời, Lã Giáp xuống ngựa, cắm thương xuống đất, dập đầu liền ba cái về phía lầu thành, lại dập đầu liền vài cái về phía An Ấp, sau đó rút kiếm tự vẫn.
Cùng lúc này, năm vạn quân Tân không tốn chút sức lực đã vượt qua được tuyến phòng thủ trường thành, khí thế hừng hực, tiến lên như hồng thuỷ mãnh thú, trong tiếng hô sát phạt kinh thiên động địa, phân chia thành nhiều ngả, xộc vào các thành ấp thuộc Hà Tây. Người Ngụy bàng hoàng sửng sốt, trở tay không kịp, các thành trì lần lượt thất thủ.
Buổi trưa hôm đó, mây đen ùn ùn kéo về giăng kín bầu trời An Ấp, sấm nổi ầm ầm, mưa tuôn xối xả.
Trong thiên điện cung Ngụy, Ngụy Huệ Hầu đang nằm nghiêng trên ghế rồng lắng nghe tỳ nhân tuyên đọc tấu báo của công tử Ngang, đột nhiên như có linh tính, hốt hoảng ngồi bật dậy, như thể vừa bị trúng đòn hiểm thình lình, đùng đùng quát lớn: “Dừng!”
Tỳ nhân không biết xảy ra chuyện gì, vội vã gập tấu báo lại, kinh hãi nhìn Huệ Hầu: “Bệ hạ!”
Ngụy Huệ Hầu ngơ ngẩn, nhìn khắp xung quanh, thấy không có gì bất thường, mới ngước mắt nhìn Trần Chẩn đang ngồi ở mé trái trước mặt, rồi lại khép mắt lại, chậm rãi nói: “Đọc!”
Tỳ nhân lại mở tấu báo, tiếp tục đọc: “Thượng tướng quân đã hợp binh với Long tướng quân, dự tính xuất kích trước địch, đánh quân Tề trước, xin đợi chỉ!”
Ngụy Huệ Hầu khẽ hé mắt, nhìn Trần Chẩn: “Long tướng quân muốn đánh quân Tề trước, ý khanh thế nào?”
Trần Chẩn vòng tay nói: “Đánh rắn phải đánh dập đầu, đánh giặc cần bắt vua giặc. Trong ba nước, quân Tề mạnh nhất. Chỉ cần đánh bại quân Tề, quân Hàn và Triệu tất không chiến mà lùi!”
Ngụy Huệ Hầu gật gù, quay sang tỳ nhân: “Chuẩn tấu của Ngang Nhi! Còn gì nữa không?”
Tỳ nhân mở một cuốn khác: “Hà Tây báo về, Công Tôn Ưởng đích thân dẫn năm vạn đại quân từ Đại Lệ quan vượt qua Lạc Thuỷ, đóng trại ở bên ngoài trường thành giữa Đại Lệ quan và Lâm Tấn quan, đợi chỉ đông chinh!”
Ngụy Huệ Hầu khẽ gật đầu, quay sang Trần Chẩn, tấm tắc khen ngợi Tần Công: “Trần ái khanh, Tần Công đúng là đã nói là làm!”
“Bệ hạ, có sự trợ giúp của năm vạn đại quân Tần, liệt quốc Sơn Đông còn gì phải lo lắng?”
“Đúng vậy!” Ngụy Huệ Hầu lại gật đầu, quay sang tỳ nhân, “lát nữa soạn chỉ cho Ngang Nhi, nhớ thêm vào điều này, quân Tần xuất năm vạn binh, sắp sửa đánh về phía đông, bảo Ngang Nhi nói thẳng cho người Tề, Triệu và Hàn biết, để chúng dễ bề tính toán!”
“Lão nô tuân chỉ!”
Ngụy Huệ Hầu quay sang Trần Chẩn: “Trần ái khanh, Tần Công hết lòng ủng hộ quả nhân, tấm lòng thật đáng biểu dương, hành động thật đáng khen ngợi, quả nhân nên ban thưởng mới phải, khanh thấy thế nào?”
“Bệ hạ thưởng công phạt tội, thật sánh ngang với thánh vương thượng cổ!”
“Theo ý ái khanh, quả nhân nên thưởng thế nào mới thoả đáng?”
“Vi thần cho rằng, bệ hạ có thể thưởng tiền, cấp lương thảo, trước hết khao quân Tần, đợi quân Tần đông chinh trở về, lại căn cứ vào công lao mà thưởng!”
“Phải!” Ngụy Hầu gật đầu, “ái khanh nói chí phải! Khanh hãy truyền chỉ cho Chu tư đồ, bảo ông ta cấp phát vạn thạch lương thực, năm nghìn lợn dê cho quân Hà Tây, nói rằng để ái khanh khao thưởng quân Tần, cùng bàn chuyện đông chinh!”
“Vi thần lĩnh chỉ!”
Trần Chẩn đang định đứng dậy, bỗng từ ngoài cửa vang lên tiếng bước chân dồn dập. Tỳ nhân từ xa đã nhìn thấy Chu uy, vội nói: “Bệ hạ, Chu tư đồ cầu kiến!”
Ngụy Huệ Hầu nhìn Trần Chẩn cười: “Vừa nhắc tới Chu ái khanh thì Chu ái khanh đã tới. Truyền vào gặp!”
Chu Uy thở hổn hển, cầm chiến báo trên tay, loạng choạng bước vào trong điện, quỳ thụp xuống đất, nước mắt ròng ròng: “Bệ hạ!”
Ngụy Huệ Hầu kinh hãi: “Chu ái khanh, có chuyện gì?”
Chu Uy tay giơ chiến báo, giọng nói thảm thiết: “Chiến báo… Hà… Hà Tây!”
Huệ Hầu sững sờ, Trần Chẩn thất sắc. Một lát sau, Huệ Hầu mới định thần lại được: “Chu ái khanh, Hà Tây không có chiến sự, sao lại có chiến báo?”
Chu Uy dập đầu sát đất, khóc không thành tiếng, hai tay dâng chiến báo qua đầu. Ngụy Huệ Hầu hất hàm ra hiệu, tỳ nhân vội bước lại, hai tay đỡ lấy chiến báo.
Ngụy Huệ Hầu nói: “Đọc!”
Tỳ nhân mở chiến báo, dõng dạc đọc: “Tướng trấn giữ Lâm Tấn quan là Trương Mãnh hoả tốc cấp báo, năm vạn quân Tần vào giờ Kê minh sáng sớm nay đột kích trường thành, chia quân mấy lộ, tấn công tứ phía. Quân giữ thành không đề phòng, trường thành thất thủ, vài chục thành ấp bị chiếm, chỉ còn lại ba thành Thiếu Lương, Âm Tấn, Lâm Tấn quan vẫn đang kháng cự quyết liệt…”
Trần Chẩn mặt xám ngoét, còn Ngụy Huệ Hầu hai mắt tối sầm, lảo đảo không đứng vững, tỳ nhân vội vàng lại đỡ.
Ngụy Huệ Hầu cứng họng, hồi lâu mới lắp bắp được vài tiếng: “Thảo… thảo nào… vừa rồi… quả nhân… thấy trong lòng… vô cùng bất an… hoá… hoá ra… là như vậy!”
Chu Uy cũng đã lấy lại hơi thở, dập đầu bình bịch, khóc mà nói: “Bệ hạ, ba thành Thiếu Lương, Âm Tấn, Lâm Tấn quan nguy đến nơi rồi!”
Ngụy Huệ Hầu run rẩy: “Mau… truyền chỉ Long Giả, hoả tốc cứu viện… Hà Tây!”
“Vi thần lĩnh chỉ!”
Chu Uy tức tốc đi ra. Trần Chẩn lúc này mới kịp định thần, lảo đảo quỳ xuống, run rẩy mà nói: “Bệ hạ, bên Đế Khâu, ba con khỉ đó xử lý thế nào?”
“Còn xử lý thế nào nữa?” Huệ Hầu nói không ra tiếng. “Cầu hòa”
Vào lúc này, quân Tần đã chiếm cứ phần lớn Hà Tây, bắt đầu tập trung binh lực tấn công vào ba thành cô lập Âm Tấn, Lâm Tấn quan và Thiếu Lương, bởi lẽ chưa hạ được ba thành này, coi như chưa thể chiếm lĩnh Hà Tây hoàn toàn. Trước khi Long Giả kịp trở về ứng cứu, mục tiêu chiến lược của Công Tôn Ưởng là kiểm soát hiểm địa Hà Thuỷ, đối đầu với quân Ngụy ở bờ sông bên kia. Công Tôn Ưởng chia quân ba lộ, Xa Anh dẫn tả quân tấn công Âm Tấn, Công Tôn Ưởng dẫn trung quân tấn công Lâm Tấn quan, Tư Mã Thác dẫn hữu quân tấn công Thiếu Lương.
Tuy nhiên, chính ở ba nơi này, quân Tần mới thực sự được lĩnh giáo sự lợi hại của võ binh Đại Ngụy.
Ở Âm Tấn, quân Tần thế như chẻ tre xông lên tấn công bốn phía, đông như kiến cỏ. Từ trên thành, gỗ đá ầm ầm lăn xuống, tên bắn như mưa. Quân Tần tử thương la liệt, tiếng gào rú liên miên không dứt. Tấn công liền vài đợt, Xa Anh thấy thương vong quá nhiều, gấp rút gióng chiêng thu quân.
Lâm Tấn quan là nơi cực kỳ trọng yếu trong phòng thủ Hà Tây, do phía sau cửa quan là cầu vượt sông Hà Thuỷ mà Long Giả đã phải dốc ra lượng lớn tiền của để xây dựng nên, là con đường tắt duy nhất nối liền Hà Tây với Hà Đông. Một khi để người Tần chiếm được, quân Ngụy ở Hà Tây sẽ rơi vào đường cùng, vừa không thể rút lui, cũng chẳng có quân chi viện, chỉ có thể cúi đầu chờ trói. Trương Mãnh nát óc suy tính, quyết định thà để mất Âm Tấn, quyết không để mất Lâm Tấn quan, do vậy tạm thời rút hai nghìn võ binh từ Âm Tấn sang, đích thân chỉ huy. Công Tôn Ưởng hiển nhiên cũng đã nhìn ra vị trí yết hầu của nơi đây, đích thân dẫn trung quân vây đánh, ở cửa quan có cả thảy bảy nghìn võ binh, toàn là lính tráng lão luyện, được trang bị tốt, lại rất thiện chiến, cộng thêm mấy ngày qua Trương Mãnh bố trí canh phòng nghiêm cẩn, bách tính trong thành đồng tâm hiệp lực. Do đó Công Tôn Ưởng tấn công suốt một ngày trời, mà không thể tiến lên gang tấc.
Tư Mã Thác giỏi dùng binh hơn hẳn Xa Anh, lệnh cho bao vây Thiếu Lương bốn phía, song chưa vội tấn công ngay, mà dựng chòi cao bên ngoài thành, trèo lên quan sát. Tuy nhiên, có một điều khiến hắn ngạc nhiên khó hiểu, đó là quân Tần đã tới chân thành, song trên tường thành lại không thấy một bóng người, thậm chí đến một lá cờ cũng không có, dường như phía trước là một toà thành chết.
Trên tường thành càng yên tĩnh, Tư Mã Thác càng thận trọng. Do dự hồi lâu, hắn quyết định đánh trống công thành, thăm dò thực hư.
Tiếng trống nổi lên như sấm rền dưới thành, quân Tần ồ ạt ném rơm rạ, gỗ nổi đã chuẩn bị sẵn xuống hào nước quanh thành, chẳng mấy chốc đã bắc được vô số cầu phao, đua nhau vượt hào, tới tấp dựng thang, trèo lên tường thành.
Nhìn thấy quân đã sắp lên tới tường thành, mà trên thành vẫn không chút động tĩnh, như thể vốn dĩ chẳng có ai canh giữ. Tư Mã Thác nhìn ra phía xa, chau tít đôi mày, vội vã phẩy tay, hạ lệnh khua chiêng. Tiếng trống thình lình dừng bặt, tiếng chiêng thu quân lại gióng lên liên hồi.
Trên tường thành vẫn tĩnh lặng như tờ, không một bóng người lộ diện, cũng không một âm thanh, chỉ một bầu lặng yên chết chóc. Tư Mã Thác kinh ngạc ngẩn ngơ, trầm ngâm rất lâu, cuối cùng nghiến răng, đích thân cầm dùi trống, lại thúc trống tiến quân. Quân Tần quay đầu lại, hô hào tiếp tục trèo thang lên trên.
Chính vào lúc hầu hết quân Tần đã leo lên tường thành, từng gáo lớn dầu sôi bất ngờ rào rào tưới xuống. Quân Tần đua nhau ôm mặt, gào rú thảm thiết, ngã văng khỏi thang. Tiếp đến, tên lửa bắn xuống như mưa, bén cháy vào thang, vào người lính Tần. Lính Tần khắp người bốc cháy đùng đùng, lăn lộn đầy đất, đua nhau nhảy xuống hào nước quanh thành, cảnh tượng vô cùng thảm khốc.
Tiếp đến, trên lầu cổng thành, một lá cờ lớn từ từ kéo lên, hai chữ “Công Tôn” bay phần phật trong gió.
Tư Mã Thác kinh hãi, vội vã gióng chiêng thu quân. Trong trận chiến đầu tiên, quân Ngụy Hầu như không có thương vong, trong khi quân Tần đã để lại dưới thành hơn nghìn xác chết.
Tư Mã Thác chưa đầy ba mươi tuổi, khí huyết đang hăng, gặp phải thảm bại, ngượng quá hoá giận, nhanh chóng tập hợp quân Tần lại, tiếp tục tấn công. Tư Mã Thác lệnh cho quân Tần tới các hộ dân gần đó, gom về đủ loại nồi sắt, mâm sứ, đội lên đầu, tiếp tục tấn công. Có điều lần này, họ lại không bị dội dầu sôi, mà bị đá tảng, gạch ngói dội xuống. Nồi sắt, mâm sứ lập tức vỡ toác, Tư Mã Thác sợ người Tần lại tưới dầu sôi, đành phải gióng chiêng thu quân lần nữa.
Ba lộ đại quân của Tần dốc hết sức lực tấn công liền ba ngày, ngoài việc để lại vài nghìn xác chết dưới ba thành, vẫn không thể đột phá mảy may. Tần Hiếu Công sốt ruột, triệu tập chư thần bàn bạc kế sách ứng phó.
Mọi người ngồi vào chỗ, theo thường lệ nghe phó tướng Xa Anh tấu báo tình hình chiến sự: “Tính đến nay, ta đã đoạt hết trường thành, công phá được bốn mươi sáu ấp Hà Tây. Quân Ngụy còn sót lại đang ngoan cố chống cự dọc Hà Thuỷ, hiện ta đang dốc sức công phá nốt ba thành cô lập là Thiếu Lương, Âm Tấn và Lâm Tấn quan!”
Xa Anh nói năng hàm súc, hơn nữa, những điều này đều đã quá rõ ràng, không cần phải rườm lời. Ai cũng biết, nếu không công phá nổi ba thành trì này, những ngày tháng tiếp theo sẽ khó lòng yên ổn. Bởi vậy, khi Xa Anh lên tiếng, không khí trở nên vô cùng căng thẳng.
Công Tôn Ưởng trầm ngâm quay sang Tư Mã Thác: “Tư mã tướng quân, ai là chủ tướng của Thiếu Lương?”
Tư Mã Thác trả lời: “Trên cờ hiệu thấy hai chữ ‘Công Tôn’. Các tướng Hà Tây, mạt tướng đều biết, chỉ không biết có ai mang họ Công Tôn.”
Công Tôn Ưởng giật mình sửng sốt: “Lẽ nào là hắn?”
Tần Hiếu Công hỏi: “Ai?”
“Công Tôn Diễn!”
Hiếu Công ngơ ngác: “Công Tôn Diễn?”
“Khởi bẩm chúa thượng, người này vốn là môn khách trong phủ tướng quốc Bạch Khuê, khi tại hạ đi sứ sang Ngụy, đã từng đấu khẩu với hắn, suýt nữa chết dưới tay người này! Chúa thượng, nếu đúng là hắn, trận chiến này thực không dễ đánh!”
Mọi người đều kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau, bởi xưa nay Công Tôn Ưởng chưa từng nhắc tới tướng soái liệt quốc nào với giọng điệu như vậy. Song Doanh Tứ lại tỏ ra khoái chí, buột miệng nói: “Một Công Tôn Ưởng, một Công Tôn Diễn, hai người hẳn là kỳ phùng địch thủ trời sinh. Doanh Tứ muốn hỏi, trong hai người, ai giỏi hơn ai?”
Câu hỏi của Doanh Tứ đương nhiên không hợp thời điểm, thậm chí còn có ý cười cợt. Hiếu Công lừ mắt nhìn Doanh Tứ, đang định nói sang chuyện khác thì Công Tôn Ưởng đáp rành rọt: “Khởi bẩm điện hạ, Ưởng và Công Tôn Diễn ai giỏi hơn ai, phải đợi tới hồi kết mới rõ. Có điều, theo Ưởng biết, nếu quả thực người này đã trở thành chủ tướng của Ngụy, chắc chắn Tần và Ngụy sẽ phải có một trường huyết chiến tại Hà Tây.”
Tần Hiếu Công sửng sốt: “Nếu quả là vậy, ái khanh có kế nào hay chăng?”
“Khởi bẩm chúa thượng, việc nguy cấp trước mắt, không phải là đối phó với Công Tôn Diễn. Nếu vi thần tính không sai, lúc này Long Giả có lẽ đang trên đường trở về. Nhiệm vụ của chúng ta là phải chiếm bằng được Lâm Tấn quan và Thiếu Lương trước khi Long Giả về đến nơi. Công phá Thiếu Lương, có thể diệt trừ Công Tôn Diễn. Công phá Lâm Tấn quan, có thể chặn Long Giả ở phía đông Hà Thuỷ, dù có sức cũng chẳng thể làm gì!”
Tần Hiếu Công gật đầu lia lịa: “Ái khanh nói rất phải!” Rồi nhìn khắp lượt quần thần, “Chư vị ái khanh!”
Quần thần đều nhìn vào Hiếu Công.
Hiếu Công cất giọng sang sảng: “Hà Tây bị đột kích, Ngụy Anh ắt dốc toàn lực ứng chiến với ta. Trận chiến giữa Tần Ngụy, không thể không đánh. Nếu đã đánh, phải đánh cho ra đánh!” Quay sang Công Tôn Ưởng, “ái khanh chỉ cần lo điều binh khiển tướng, trời có sập xuống, đã có quả nhân chống đỡ! Không giấu ái khanh, quả nhân mang tới mười vạn tinh binh, đã đóng quân ở tuyến Lạc Thuỷ, sẵn sàng chờ ái khanh điều động. Quả nhân còn chuẩn bị mười vạn quân đầu xanh(1) phòng khi bất trắc!”
Công Tôn Ưởng dõng dạc đáp: “Vi thần tuyệt đối không phụ lòng uỷ thác của chúa thượng!”
Có được hậu thuẫn chắc chắn của Tần Công ở sau lưng, Công Tôn Ưởng một lần nữa sắp xếp quân Tần tấn công quyết liệt ba thành, đặc biệt là Thiếu Lương và Lâm Tấn quan. Tên bắn như mưa, trống trận vang rền, quân Tần khí thế hừng hực chưa từng thấy, trèo lên tường thành từ bốn phương tám hướng. Công Tôn Diễn khắp người đầm đìa máu me, tay cầm trường mâu, chạy dọc tường thành, hò hét chỉ huy. Bách tính trong thành xuôi ngược đưa cơm đưa nước. Dầu đã dùng hết, các cụ ông cụ bà cấp tốc đun nước sôi gánh lên tường thành. Do lúc này đang vào mùa nóng nực, nên nước sôi cũng có tác dụng đáng kể, vô số quân Tần bỏng rộp khắp người, kêu gào thảm thiết, ngã lộn nhào khỏi thang.
Vài chục quân Tần khiêng theo một súc gỗ tròn cỡ lớn, miệng hô khẩu lệnh, đâm uỳnh uỳnh vào cổng thành. Trong cổng thành đã bày sẵn binh xa giữ cổng. Một lát sau, cổng thành bật toang. Quân Tần vừa ồ ạt xông vào, hơn hai chục lính Ngụy đã đẩy binh xa sầm sập lao tới, đâm thẳng vào cổng thành vừa mở. Trước mặt binh xa chi chít mũi nhọn lưỡi sắc, quân Tần không kịp né tránh, trúng thương gào rú thảm thiết, quân phía sau vội vã lùi lại, cổng thành một lần nữa lại bị khoá kín.
Tới chập tối ngày thứ năm, Long Giả dẫn đội kỵ binh tiên phong rầm rập trở về, đi qua cầu phao tại Lâm Tấn quan, xông vào trong ải. Long Giả mở toang cửa quan, vô số quân Ngụy nhanh như chớp giật xông thẳng vào trung quân của Công Tôn Ưởng. Công Tôn Ưởng biết là Long Giả đã về tới nơi, vội vã gióng chiêng, lui quân năm mươi dặm hạ trại.
Long Giả cũng không tham đánh, tức tốc phi ngựa thẳng tới Thiếu Lương, cát bụi tung mù như che khuất cả mặt trời. Tư Mã Thác đang chỉ huy công thành, đột nhiên nhìn thấy cát bụi cuồn cuộn ập tới, đoán biết quân chi viện của người Ngụy đã về, vội vã gióng chiêng, song đã muộn rồi. Long Giả xông thẳng tới nơi, Công Tôn Diễn cũng nhân thế mở cổng thành, từ trong đánh ra, hợp sức cùng Long Giả trước sau giáp công. Tư Mã Thác đại bại, vội vã rút chạy.
Tới đây, cuộc tập kích thành công của người Tần đã mở màn cho trận đại chiến Hà Tây quyết định vận mệnh hai nước Tần Ngụy. May nhờ có đám Công Tôn Diễn, Trương Mãnh liều chết giữ thành, Long Giả cứu viện kịp thời nên đã cứu vãn được Ngụy cục. Hai bên mỗi bên giữ một nơi, tạm thời giữ thế cân bằng, mỗi bên giữ chắc trận địa phía mình, điều binh khiển tướng, dàn trận khắp bảy trăm dặm Hà Tây.
Đây là một cuộc chiến đáng lẽ đã không xảy ra, hoặc chí ít cũng không xảy ra sớm như vậy.
***
Tuỳ Sào Tử và đệ tử Tống Kiển đứng lặng phắc trên một tảng đá lớn nơi đỉnh núi, phóng mắt nhìn về phía đài phong hoả lửa đỏ ngút trời. Vầng trán Tuỳ Sào Tử từ từ chau tít lại, chòm râu trắng bay phất thơ theo làn gió thổi ra từ khe núi.
Tuỳ Sào Tử khẽ nhắm mắt lại, trong tâm trí lần lượt hiện lên cảnh tượng đồng ruộng, nhà cửa cháy rụi, trọng trấn Bình Dương sau vụ thảm sát toàn thành, những thi thể đàn bà bị hãm hiếp trong từ đường, ông lão tuần canh phát điên sau khi tận mắt chứng kiến trò thú tính, hai cái xác trẻ nít cháy đen, ánh mắt trầm tư của Sào Tử, điệu múa thô tục trong cung Ngụy, cảnh Ngụy Vương phẩy ống tay áo bước đi, cảnh đại quân Long Giả tới phía đông biên giới Vệ, cảnh xác quân Tần Ngụy la liệt dưới thành Thiếu Lương…
Tuỳ Sào Tử không dám nghĩ thêm nữa, lại mở mắt ra, đôi mắt già nua từng chứng kiến bao nỗi cay đắng chốn nhân gian vẫn chiếu ánh nhìn từ bi về phía đài phong hoả rừng rực trước mặt, cơ thể lặng phắc như một pho tượng.
Tống Kiển khẽ bẩm báo: “Tiên sinh, người Tần đã tập kích thành công, xem ra, đại chiến khó lòng tránh khỏi!”
“Than ôi!” Tuỳ Sào Tử than khẽ, “cuộc đại chiến mới chỉ bắt đầu mà thôi, thiên hạ sẽ chẳng được ngày nào yên ổn!” Nói xong, dõi ánh nhìn ra phía xa hút tầm mắt. Một lát sau, đôi mày đột nhiên giật khẽ, tinh thần bỗng chốc phấn chấn thấy rõ.
Tống Kiển nhận ra, gọi khẽ: “Tiên sinh?”
Tuỳ Sào Tử không để tâm tới, phăm phăm bước xuống tảng đá, tìm đường đi, sải bước băng băng.
Tống Kiển đứng ngẩn ra một lát, rồi cũng vội vàng nhảy xuống tảng đá, cấp tập đuổi theo trên con đường núi. Đi được một đoạn, Tống Kiển nhịn không nổi, bước lên vài bước hỏi nhỏ: “Tiên sinh, chúng ta đi đâu vậy?”
Tuỳ Sào Tử đáp ngay không chút đắn đo: “Núi Vân Mộng!”
“Tiên sinh!” Tống Kiển vội nói, “Hà Tây thình lình gặp họa binh đao, bách tính đang chờ chúng ta tới cứu!”
“Than ôi!” Nghe nói tới bách tính lầm than, Tuỳ Sào Tử buông chùng bước chân, lại thở dài một tiếng, “Tống Kiển, dù ta có dốc hết sức lực, chẳng qua cũng chỉ là hạt muối bỏ biển mà thôi!”
Cự tử xưa nay chưa từng nói ra những lời nhụt chí như vậy trước mặt đệ tử, bởi vậy Tống Kiển thoáng kinh ngạc, đuổi dấn lên một bước, hỏi nhỏ: “Ý của tiên sinh là, trong núi Vân Mộng ẩn tàng rồng thần cứu thế?”
Tuỳ Sào Tử dừng bước, quay lại nhìn Tống Kiển, khẽ gật đầu nói: “Tuy trong núi không có rồng thần, song lại có một vị cao nhân tuyệt thế ẩn cư. Nếu chúng ta được người này chỉ bảo, sẽ hữu ích gấp bội!”
“Cao nhân tuyệt thế?” Tống Kiển lại sửng sốt. “Lẽ nào trong thiên hạ có người cao siêu hơn cả tiên sinh ư?”
“Đúng vậy!” Tuỳ Sào Tử gật đầu. “So với cao nhân, ta chẳng qua chỉ là một kẻ tầm thường. Tài của người này, lớn thì có thể tung hoành thiên hạ, nhỏ thì có thể quan sát đến tơ hào, ta nào dám sánh với cao nhân?” Nói xong, liền sải bước đi tiếp.
Tống Kiển kinh ngạc, hồi lâu mới lẩm bẩm: “Lẽ nào người này là rồng thần ư?”
Hai người một thầy một trò đi suốt ngày đêm, vài ngày sau đã tới núi Vân Mộng. Tuỳ Sào Tử dường như rất thông thạo nơi đây, dẫn Tống Kiển vòng vèo một hồi, chẳng bao lâu đã tới một khe núi thâm u, chỉ thấy xung quanh núi non trùng trùng bao bọc, cây cỏ tốt tươi, suối tuôn róc rách, chim hót líu lo, hương hoa thơm ngát.
Trên một tảng đá lớn trước khe núi, có khắc hai con chữ gân guốc cứng cáp: “Quỷ Cốc”.
Nhìn thấy tảng đá, Tuỳ Sào Tử dừng bước, thở phào một hơi, vầng trán chau tít từ từ giãn ra, quay lại nhìn Tống Kiển mà nói: “Quỷ Cốc tiên sinh ưa yên tĩnh, không thích bị người lạ quấy rầy. Con hãy ở đây đợi ta!”
“Đệ tử xin nghe!” Nói xong, Tống Kiển nhìn thấy bên cạnh có một cây to, bèn lại đó ngồi xuống, khép hai mắt lại, bắt đầu tĩnh tọa.
Tuỳ Sào Tử quay người, sải bước trên con đường mòn men theo khe suối bên vách núi. Đi chưa được bao xa, đã thấy trước mặt xuất hiện một gian thảo đường. Trên bãi cỏ phía trước ngôi nhà, một đứa trẻ chừng mười tuổi đang nhảy nhót vui đùa với mấy con bướm. Từ xa nhìn thấy Tuỳ Sào Tử, đứa trẻ buông cánh bướm ra, bước lại nghênh đón, vái dài một vái, cất giọng trong trẻo hỏi: “Xin hỏi lão trượng, tới khe núi này là để đốn củi hay tìm thuốc?”
Tuỳ Sào Tử vái lại rồi hỏi: “Xin hỏi linh đồng, Quỷ Cốc tiên sinh có nhà không?”
Thấy ông lão trước mặt vừa tới đã hỏi tìm tiên sinh, tiểu đồng có vẻ ngạc nhiên, rồi gật đầu nói: “Gia sư có nhà!”
“Làm phiền linh đồng bẩm báo một tiếng, nói là người quen lâu năm Tuỳ Sào Tử tới bái kiến!”
Tiểu đồng lùi lại một bước, quan sát Tuỳ Sào Tử từ đầu tới chân, khẽ lắc đầu nói: “Bẩm lão trượng, chuyện khác còn có thể xem xét, chuyện này thì không thể được!”
Tuỳ Sào Tử sửng sốt: “Ồ, vì sao không được?”
Tiểu đồng không nói nữa, lại quan sát kỹ Tuỳ Sào Tử một lượt, lẩm bẩm: “Nhìn dáng vẻ, lão trượng hẳn là từ bên ngoài núi tới!”
“Vậy thì sao?”
“Ngoài núi đều là người phàm tục, gia sư không phải loại người nào cũng tuỳ tiện gặp mặt đâu!”
“Ồ, ra vậy!” Tuỳ Sào Tử mỉm cười, cố làm vẻ kinh ngạc hỏi, “dám hỏi linh đồng, gia sư của cậu muốn gặp loại người nào?”
Tiểu đồng lộ vẻ tự hào, dõng dạc nói: “Không giấu lão trượng, khách tới thăm gia sư đều đến từ chốn núi rừng sâu thẳm, mà không, là từ trời cao cưỡi mây đạp gió mà đến, hạ xuống khe núi này, cả người từ đầu tới chân không dính một mảy bụi trần, đi nhẹ như bay, chân không tiếp đất!”
Tuỳ Sào Tử cười ha hả mà nói: “Người mà linh đồng vừa nói tới, phải chăng là Liệt Ngự Khấu(2) tiên sinh?”
Tiểu đồng vẫn đang chìm đắm trong cảm giác “cưỡi mây về gió”, vốn không nghe Tuỳ Sào Tử hỏi gì, lại nhìn kỹ Tuỳ Sào Tử một lượt nữa, lắc đầu quầy quậy ra chiều đáng tiếc: “Ồ, chân đi dép cỏ, mình mặc áo nâu, khắp người bụi đất, đi đứng hai chân giẫm đất như lão trượng đây, đừng nói là gia sư không muốn gặp, mà dù có gặp, lão trượng cũng chẳng nói được gì trước mặt gia sư đâu!”
Tuỳ Sào Tử cảm thấy tiểu đồng nói năng thú vị, bèn hào hứng hỏi: “Thật ư? Linh đồng sao biết lão hủ không nói được gì trước mặt gia sư?”
“Bởi những lời gia sư nói, lão trượng nghe cũng chẳng hiểu gì!”
Tuỳ Sào Tử bị tiểu đồng giễu cợt, lại lấy làm khoái chí, bật cười vang: “Chưa hẳn đã vậy!”
Thấy Tuỳ Sào Tử không tán đồng, tiểu đồng càng hăng hái hơn: “Nghe khẩu khí của lão trượng, hẳn là trong lòng không phục. Thế này đi, tiểu đồng hỏi lão trượng một câu khó, nếu lão trượng trả lời được, tiểu đồng sẽ dẫn lão trượng vào bái kiến gia sư. Nếu không trả lời được thì mời lão trượng về cho, cần đốn củi thì cứ đốn đi!”
Tuỳ Sào Tử gật gật đầu: “Được, như vậy cho công bằng! Linh đồng, hãy ra câu hỏi!”
Tiểu đồng khép hai mắt lại, bắt chước giọng điệu người lớn: “Tiểu đồng xin hỏi lão trượng, thế nào gọi là huyền cơ trong vũ trụ?”
Nghe vậy, Tuỳ Sào Tử ngạc nhiên sửng sốt. Đừng nói là huyền cơ trong vũ trụ, dù là huyền cơ trong nhân gian, bản thân khổ sở kiếm tìm cả đời cũng không thể hiểu hết, nay đến khe núi này, cũng là để thỉnh giáo chuyện đó. Nhưng tiểu đồng kia, mở miệng đã nói tới huyền cơ trong vũ trụ, bảo mình phải trả lời sao đây? Tuy nhiên lời đã nói ra, lúc này sao có thể thu lại? Tuỳ Sào Tử bắt đầu lo lắng, vừa ấp a ấp úng, vừa cố vắt óc suy nghĩ: “Chuyện này… à,… huyền cơ vũ trụ… chính là… à… ừ… đó là…”
Tiểu đồng bật cười thành tiếng, nói: “Sao thế, lão trượng, đừng nói là không trả lời được nhé!”
Tuỳ Sào Tử ứng phó linh hoạt, ngẩng đầu hỏi lại: “Linh đồng trả lời được chăng?”
Tiểu đồng ngừng cười, thở dài một tiếng hệt như người lớn, chậm rãi lắc đầu: “Ồ, nếu tiểu đồng mà trả lời được, việc gì phải hỏi lão trượng? Mà cũng phải thôi, câu này hơi khó. Thế này đi, tiểu đồng cho lão trượng một cơ hội nữa, lão hãy trả lời một câu rất đơn giản.”
Tuỳ Sào Tử hiền từ nhìn tiểu đồng chờ đợi.
Tiểu đồng chỉ vào khe suối bên cạnh: “Xin hỏi lão trượng, nước trong khe suối sao chỉ chảy từ trên núi xuống, mà không chảy từ dưới núi lên?”
Tuỳ Sào Tử cười ha hả, lại hỏi ngược trở lại: “Xin hỏi linh đồng, khi linh đồng đun nước, vì sao hơi nước bốc ra từ trong nồi lại bay lên nóc nhà, mà không phải từ nóc nhà bay vào trong nồi?”
Tiểu đồng chớp mắt liền vài cái, chau mày lẩm bẩm: “Hơi nước bốc ra từ trong nồi bay lên nóc nhà, không phải từ nóc nhà bay vào trong nồi? Ồ, đúng vậy, vì sao nhỉ?” Chau mày suy nghĩ một lát, bỗng ngẩng đầu lên, lại quan sát Tuỳ Sào Tử một chập, gật gật đầu. “Lão trượng, xem ra, lão cũng thú vị lắm!”
“Ồ, lão hủ thì có gì thú vị?”
“Tức là… tức là gia sư đã đồng ý gặp lão!”
“Vì sao?”
“Vì trông lão bề ngoài thì thần bí, ăn nói thì vòng vo!”
Tuỳ Sào Tử cười ha hả: “Đã nói như vậy, hẳn là linh đồng muốn dẫn lão trượng tới gặp gia sư rồi?”
Tiểu đồng hơi bối rối, rồi nói: “Không giấu lão trượng, tiểu đồng cũng phải vào bẩm báo trước một tiếng, nếu không, gia sư sẽ quở trách!”
Đúng lúc này, cánh cửa thảo đường cót két mở ra, một ông lão tiên phong đạo cốt, tóc bạc phơ phơ, mặt đỏ hồng hào, hai hàng lông mày trắng bạc uốn cong trên trán, chậm rãi từ bên trong bước ra.
Từ xa nhìn thấy Tuỳ Sào Tử, Quỷ Cốc Tử vội rảo bước lại, vái dài một vái: “Thảo nào Vương Hủ trong lòng thấp thỏm không yên, hoá ra Tuỳ Sào huynh tới thăm!”
Tuỳ Sào Tử cũng vái đáp lễ, cười mà nói: “Ngưỡng cửa nhà Vương huynh, thật khó bước qua!”
Quỷ Cốc Tử chỉ vào tiểu đồng, cười vui vẻ: “Hẳn là thằng nhóc này đã làm khó huynh?”
Hai người cùng nhìn tiểu đồng cười vang. Tiểu đồng há hốc miệng ngạc nhiên, ngơ ngác đưa tay lên gãi đầu.
Quỷ Cốc Tử quay người lại, chìa tay mời: “Tuỳ Sào huynh, mời vào hàn xá!”
Tuỳ Sào Tử cũng khiêm nhường đáp lễ: “Vương huynh, mời vào trước!”
Hai người dắt tay nhau bước vào thảo đường, ngồi đối diện nhau. Tiểu đồng pha trà xong, đứng hầu phía sau Quỷ Cốc Tử. Tuỳ Sào Tử nhấp một ngụm nhỏ, thưởng thức hương trà, rồi đặt chén xuống nói: “Trà này không phải trà thường!”
Quỷ Cốc Tử cũng nhấp một ngụm, mỉm cười mà nói: “Nhận biết được mùi vị của trà này, e rằng trên đời không có nổi vài người. Không giấu Tuỳ Sào huynh, mười ngày trước, bạn tiên Liệt Tử cưỡi mây qua đây, trà này là do Liệt Tử biếu tặng!”
Tuỳ Sào Tử thở dài một tiếng: “Nghe nói Liệt Tử đi mây về gió, như thiên mã lướt trên trời cao. Tuỳ Sào nếu có bản lĩnh này, không biết sẽ tiết kiệm được bao nhiêu đôi dép cỏ!”
Quỷ Cốc Tử cười vang: “Nếu Tuỳ Sào huynh như thiên mã lướt trên trời cao, e rằng chư hầu liệt quốc sẽ ngủ không ngon giấc!”
Hai người lại cùng cười vang. Quỷ Cốc Tử như sớm đoán được ý định của Tuỳ Sào Tử, lại nhấp một ngụm trà, rồi thong thả nói: “Trước khi Liệt Ngự Khấu ra về, đã để lại một áng kỳ văn, khiến cho Vương Hủ say mê ngẫm ngợi đến tận bây giờ!”
Tuỳ Sào Tử ngạc nhiên: “Ồ, áng kỳ văn gì mà có thể khiến Vương huynh xúc động đến thế?”
Quỷ Cốc Tử lấy ra một cuộn thẻ tre, lật giở vài tấm, đưa cho tiểu đồng: “Kỳ văn này, Vương Hủ không nỡ một mình hưởng thụ, muốn thưởng thức cùng Tuỳ Sào huynh.”
Tiểu đồng đỡ lấy, nâng trên hai tay đưa cho Tuỳ Sào Tử. Tuỳ Sào Tử cầm lên, thấy đó là một bài văn ngắn, kể về chuyện Ngu Công ở Bắc Sơn thấy trước cửa có hai ngọn núi chắn đường, quyết chí đào núi dời đi cho bằng được.
Tuỳ Sào Tử đọc đi đọc lại nhiều lần, rồi thở dài thườn thượt: “Ngu Công ở Bắc Sơn đích thị là chỉ Tuỳ Sào rồi!”
Quỷ Cốc Tử cười cười mà nói: “Ngu Công sao có thể sánh với Tuỳ Sào huynh?”
“Tại sao không?”
“Xin hỏi Tuỳ Sào huynh, thế nào là núi Đại Hình? Thế nào là núi Vương Ốc?”
“Đại Hình, chính là người; Vương Ốc, chính là mình. Liệt Tử nói, phàm là lòng người, đều có hai ngọn núi ngăn cản, một là trong lòng có người, hai là trong lòng có mình.”
“Đúng vậy!” Quỷ Cốc Tử gật đầu cười nói. “Trong lòng Tuỳ Sào huynh, Vương Ốc sớm đã chuyển đi rồi, duy còn lại Đại Hình; mà trong lòng Ngu Công ở Bắc Sơn, cả hai núi đều tồn tại! Tuỳ Sào huynh chỉ cần di dời một núi, Ngô Công phải di dời cả hai núi. Di dời một núi và hai núi, ai khó ai dễ, chẳng phải liếc mắt qua cũng biết được ư?”
Tuỳ Sào Tử lắc đầu: “Người hiểu ta, là Vương huynh; người không hiểu ta, cũng là Vương huynh! Ngu Công trong lòng tuy có hai ngọn núi, song quyết chí di dời. Còn Tuỳ Sào Tử trong lòng tuy có một ngọn núi, nhưng không những không có chí di dời, ngược lại tâm tư luôn phiền muộn vì nó, đêm ngủ không ngon giấc!”
Quỷ Cốc Tử cười vang mà nói: “Nghe những lời này, đúng là mỗi người một chí, không thể gượng ép!”
Tuỳ Sào Tử ngẩng đầu, nhìn Quỷ Cốc Tử bằng ánh mắt tha thiết: “Không giấu Vương huynh, Tuỳ Sào đến đây, mục đích chính là ngọn núi Đại Hình này!”
Quỷ Cốc Tử lắc đầu quầy quậy: “Đại Hình cũng vậy, Vương Ốc cũng thế, những điều này sớm đã không liên quan gì tới Vương Hủ. Tuỳ Sào huynh nếu vì núi này mà tới đây, xem ra phải thất vọng quay về rồi!”
Lời nói này chẳng khác gì chặn đứng con đường trước mặt. Tuỳ Sào Tử thấy tim nảy lên trong lồng ngực, đuôi mày khẽ giật giật, rồi lại cười vang mà nói: “Không nói tới núi này cũng được. Tuỳ Sào còn một việc nữa, nhân tiện muốn thỉnh giáo Vương huynh!”
“Nếu là việc khác, Vương Hủ sẵn sàng giúp chút sức mọn!”
Tuỳ Sào Tử bưng chén trà lên, lại nhấp một ngụm, chậm rãi nói: “Tiên sư Mặc Địch năm xưa nhận chữa bệnh cho một người. Bệnh của người này đã mưng mủ sưng tấy, chữa mãi không khỏi, tiên sư lấy làm hối tiếc, trước lúc quy tiên, đã giao người bệnh lại cho Tuỳ Sào. Vài chục năm qua, Tuỳ Sào chạy đôn đáo khắp nơi, tuy đã tận lực, song vẫn không tìm ra cách cứu chữa! Tới nay, độc đã ngấm vào đến xương, bệnh đã tới hồi nguy kịch, gần như hết thuốc chữa. Tuỳ Sào biết Vương huynh tinh thông y đạo, nên lần này muốn tới đây thỉnh giáo!”
Quỷ Cốc Tử trầm ngâm hồi lâu, thở dài một tiếng: “Vòng vo xa gần, tấm lòng cứu thế của Tuỳ Sào Tử, quả nhiên khó dứt!”
Tuỳ Sào Tử vái dài một vái: “Vẫn xin Vương huynh niệm đến lòng đại ái trong trời đất, chỉ bảo Tuỳ Sào một phương thuốc chữa trị.”
Thấy Tuỳ Sào Tử đã nói tới nước này, Quỷ Cốc Tử đành phải đáp lễ, lại thở dài một tiếng: “Lòng bác ái của Tuỳ Sào huynh khiến đất trời cảm động, quỷ thần rơi lệ, Vương Hủ sao không xúc động cho được? Xin hỏi Tuỳ Sào huynh đã chữa trị cho người này như thế nào?”
“Tuỳ Sào vẫn làm theo cách điều trị của tiên sư Mặc Địch, trước hết dùng thuốc cao đắp vào vùng nhiễm bệnh, dùng thuốc uống tiêu trừ độc tố, lại xem âm dương thịnh suy để giảm bớt chỗ dư thừa, bổ sung chỗ thiếu hụt, điều trị dần dần. Tuy nhiên, chữa trị tới nay, bệnh tình đã không thuyên giảm, trái lại còn sưng tấy hơn, khí độc càng ngấm vào xương tuỷ. Tuỳ Sào đã hết cách, vô cùng khổ não!”
“Tuỳ Sào huynh dùng cách thức rất đúng. Sở dĩ chưa có hiệu quả, là vì thời điểm chưa tới. Thuốc từ từ mới ngấm, nên hiệu quả cũng từ từ mới có. Tông chỉ của cách thức này nằm ở chỗ diệt trừ tận gốc, hiệu quả sẽ xuất hiện về sau!”
Tuỳ Sào Tử gật đầu: “Nghe được những lời này của Vương huynh, Tuỳ Sào Tử thấy đã an ủi phần nào. Song sưng tấy ngày càng lan rộng, mủ độc ngày càng tích tụ, tai hại ngày càng kịch liệt, người bệnh ngày càng khổ sở. Tuỳ Sào Tử ngày ngày chứng kiến, thực sự không đành lòng!”
Quỷ Cốc Tử ngẩng đầu hỏi: “Nói như vậy, thì điều mà Tuỳ Sào Tử đau đầu, chỉ là không đành lòng nhìn đám mủ độc sưng tấy, chỉ mong nhanh chóng trừ bỏ?”
“Đúng vậy!” Tuỳ Sào Tử lại thở dài, “Nguyện vọng này thực quá xa xỉ! Không giấu Vương huynh, nếu bệnh có thể khỏi trong một sớm, Tuỳ Sào có chết cũng không hối hận!”
Quỷ Cốc Tử lại nghĩ ngợi một lát, gật đầu nói: “Nếu đúng như vậy, Vương Hủ có một phương thuốc, chỉ sợ Tuỳ Sào huynh không muốn làm.”
Tuỳ Sào Tử mắt sáng rực: “Vương huynh cứ nói, Tuỳ Sào mong muốn được thử!”
“Tuỳ Sào huynh có thể dùng dao sắc cắt bỏ vùng nhiễm bệnh, khoét đi chỗ sưng tấy, rạch xương cạo độc ra!”
Tuỳ Sào Tử nhắm mắt lại, đắm chìm trong suy nghĩ, hồi lâu sau mới mở mắt ra nói: “Người bệnh nặng kỵ dùng thuốc mạnh, đây là lẽ thường trong nghề y. Cách này của Vương huynh tuy hay, song dùng dao chỉ sợ chưa khoét bỏ được chỗ sưng tấy thì người bệnh đã chết rồi.”
Quỷ Cốc Tử mỉm cười: “Có lẽ người bệnh chỉ chết ngất vì đau đớn. Tuy nhiên, sau khi hết đau, người bệnh có thể tỉnh lại. Lúc này, vùng nhiễm bệnh đã được trừ bỏ, Tuỳ Sào huynh chỉ cần đắp thuốc vào chỗ khoét, bổ sung nguyên khí tiêu hao, trong vòng mười ngày, vết thương sẽ dần hồi phục. Sau đó lại tiếp tục dùng thuốc bổ dưỡng, cân bằng hai khí âm dương, giảm bớt chỗ dư thừa, bổ sung chỗ thiếu hụt, người bệnh ắt sẽ hồi phục như thường, cơ thể lại khoẻ mạnh tráng kiện!”
Tuỳ Sào Tử cúi đầu suy nghĩ một lát, vòng tay cất giọng khâm phục: “Lời của Vương huynh đã khiến Tuỳ Sào thức tỉnh, Tuỳ Sào cho là rất đúng! Hôm nay, xem ra thứ mà Tuỳ Sào theo đuổi cả đời, đều là trị chưa đúng bệnh, thuốc chưa vào được bên trong. Cách của Vương huynh, biến đau đớn kéo dài thành đau đớn chốc lát, có lẽ đã trị đúng bệnh!”
Quỷ Cốc Tử cũng vòng tay nói: “Tuỳ Sào huynh quá khen!”
“Thế nhưng…” Tuỳ Sào Tử dừng lại một chốc, “cách lấy độc trị độc, sử dụng dao sắc mà Vương huynh nói, thực sự không phải là sở trường của Tuỳ Sào. Phương thức này của Vương huynh, Sào Tử lực bất tòng tâm, cần Vương huynh đích thân thực hiện mới được!”
Quỷ Cốc Tử lắc đầu: “Vương Hủ vào núi đã nhiều năm, từ lâu đã quen tiêu dao nơi sơn dã. Chữa trị các chứng bệnh tục của thế gian, thực sự không phải là mong muốn của Vương Hủ.”
Tuỳ Sào Tử tha thiết khẩn cầu: “Vương huynh đã nhìn ra bệnh, cũng đã kê ra đơn thuốc, sao không tiến thêm bước nữa, để người bệnh sớm thoát khỏi đau đớn?”
“Người đời có phúc riêng của người đời, tiên nhân có niềm vui của tiên nhân. Sướng khổ của đời người đều thuận theo tự nhiên, cũng quy về tự nhiên, Tuỳ Sào huynh hà cớ phải miễn cưỡng khổ sở làm vậy?”
Tuỳ Sào Tử trầm ngâm một lát, chậm rãi nói: “Bách tính tàn sát lẫn nhau, thanh niên chết trận oan uổng, người già neo đơn không nơi nương tựa… Khổ nạn trong thiên hạ, lời nói của Tuỳ Sào từ lâu đã không đủ sức hình dung. Với trí nhãn của Vương huynh, đâu có cớ gì không biết? Vương huynh đã biết, sao còn nhẫn tâm ẩn cư chốn thâm sơn, chỉ khư khư tu thiện riêng mình? Xin hãy nghe một lời của Tuỳ Sào, sướng khổ của đời người tuy là tự nhiên, song chiến loạn tàn sát lại là nhân họa. Đã là nhân họa, phải có người trị. Tuỳ Sào tài hèn sức yếu, chỉ biết từ bỏ nốt chút thể diện cỏn con, xin khẩn cầu Vương huynh!” Nói tới đây thì đứng dậy, từ từ quỳ xuống trước mặt Quỷ Cốc Tử, khấu đầu sát đất, nước mắt giàn giụa trên khuôn mặt già nua.
Quỷ Cốc Tử tuy kinh ngạc, song vẫn ngồi im.
Tuỳ Sào Tử cũng là người cực kỳ ngoan cố, vẫn quỳ trên đất im lìm bất động.
Hai người cứ như vậy hồi lâu, rồi Quỷ Cốc Tử khẽ thở dài một tiếng, chậm rãi nói: “Tuỳ Sào Tử! Vương Hủ lòng đã vững như bàn thạch, Tuỳ Sào quỳ tới giờ chắc đã mệt rồi, mau đứng dậy đi, Vương Hủ về động tu luyện đây!” Nói đoạn, chậm rãi đứng lên, không ngoảnh đầu lại, rảo bước đi thẳng về phía động Quỷ Cốc nối liền với thảo đường.
Tiểu đồng nhìn cảnh tượng này, thấy không đành lòng, lè lưỡi theo sau lưng Quỷ Cốc Tử. Đợi Quỷ Cốc Tử bước vào trong động, vội chạy lại, kéo tay Tuỳ Sào Tử, cất giọng thông cảm: “Tuỳ Sào Tử lão trượng, đừng cầu xin gia sư nữa, để tiểu đồng nấu gì cho lão ăn, bổ sung nguyên khí!”
Tuỳ Sào Tử từ từ đứng dậy, thở dài một tiếng, lắc đầu không nói một lời, nặng nề lê bước ra khỏi thảo đường.
Từ xa nhìn thấy Tuỳ Sào Tử bước ra khỏi sơn cốc, Tống Kiển vội vã đứng dậy, chạy lại đón, thấy Tuỳ Sào Tử mặt nặng trình trịch, ngần ngừ một lát mới hỏi: “Tiên sinh, Quỷ Cốc tiên sinh không có trong sơn cốc ư?”
Tuỳ Sào Tử lắc đầu.
Tống Kiển nghĩ một lát, lại hỏi: “Vậy… Quỷ Cốc tiên sinh cũng không có phương thuốc cứu thế ư?”
Tuỳ Sào Tử lại lắc đầu.
Tống Kiển ngơ ngác không hiểu: “Có phương thuốc hay, lẽ nào không chịu nói với tiên sinh?”
Tuỳ Sào Tử vẫn lắc đầu.
Tống Kiển lộ vẻ sốt ruột: “Đều không phải, vậy tại sao trông tiên sinh âu sầu nhường kia?”
Tuỳ Sào Tử thở dài thườn thượt: “Tuy Quỷ Cốc tiên sinh có phương thuốc kỳ diệu cứu thế, song chúng ta lại không có khả năng thực hiện!”
Tống Kiển vội nói: “Chuyện này cũng dễ thôi! Người nào có khả năng, chúng ta đi mời người đó!”
“Trong thiên hạ ngày nay, người có thể làm được, có lẽ chỉ mình Quỷ Cốc tiên sinh. Thế nhưng tiên sinh… Than ôi!” Tuỳ Sào Tử ngồi xuống tảng đá, sắc mặt rầu rĩ.
Tống Kiển không biết phương thuốc này kỳ diệu đến đâu, cũng không biết Quỷ Cốc tiên sinh vì sao có khả năng mà không giúp, chỉ biết đứng ngẩn ra nhìn bộ dạng đau khổ của Tuỳ Sào Tử.
Tuỳ Sào Tử đang buồn rầu, bất ngờ khoé mắt liếc thấy một cây nấm màu sắc rực rỡ lấp ló trong vạt rừng, bỗng nảy ra một ý, lẳng lặng bước tới, cúi người nhổ lên, cho vào ống tay áo.
Tống Kiển đang lo lắng cho thầy, hơn nữa Tuỳ Sào Tử đang quay lưng lại, nên không để ý tới động tác của lão, bèn nói khẽ: “Quỷ Cốc tiên sinh không muốn xuống núi, chúng ta liệu có thể thử cách khác chăng?”
Tuỳ Sào Tử cũng đã kịp quay về, bình thản nói: “Quỷ Cốc tiên sinh không chịu giúp, ta cũng chẳng còn cách nào. Đi thôi!” Nói xong, quay đầu bước đi.
Tống Kiển gật đầu, đi theo sau. Hai người đi theo đường mòn khoảng hơn trăm bước, Tuỳ Sào Tử lẳng lặng lấy cây nấm độc từ trong ống tay áo ra, bỏ vào trong miệng. Đi thêm khoảng mười bước nữa, độc tố phát tác, Tuỳ Sào Tử loạng choạng, ngã nhào xuống đất.
Tống Kiển kinh hãi thất sắc, vội vàng chạy lại đỡ lấy Tuỳ Sào Tử, hốt hoảng gọi: “Cự tử! Cự tử!”
Tuỳ Sào Tử sùi bọt mép, sắc mặt tái xanh.
Tống Kiển quỳ xuống đất khóc gọi: “Cự tử, mau tỉnh dậy đi!”
Tuỳ Sào Tử từ từ mở mắt, nhìn Tống Kiển, khoé miệng khẽ động dậy, gắng gượng cất lời: “Tống Kiển!”
“Có đệ tử!”
“Mau lên, đỡ… đỡ ta ngồi xuống dưới gốc cây!”
Tống Kiển cuống quýt đỡ Tuỳ Sào Tử dậy, để lão ngồi tựa lưng vào gốc cây. Tuỳ Sào Tử khép hai mắt lại, nén khí xuống đan điền, bắt đầu luyện công. Một lát sau, Tuỳ Sào Tử đã khống chế được độc tố, từ từ mở mắt, nhìn Tống Kiển cười nói: “Vừa rồi đói bụng, nhìn thấy ven đường có một cây nấm, chưa kịp nhìn kỹ, cứ thế bỏ vào miệng. Ăn được một nửa, cảm thấy bất ổn, thì đã không kịp!”
Tống Kiển vội nói: “Cự tử, là độc thì đều có cách giải! Tiên sinh tinh thông y đạo, ắt là biết cách giải độc!”
Tuỳ Sào Tử khẽ lắc đầu: “Hình dạng của cây nấm này rất khác lạ, độc của nó cũng kỳ lạ không gì bằng, ta xưa nay chưa từng gặp, làm thế nào để giải đây?”
Khí độc lại phát tác, Tuỳ Sào Tử mồ hôi rịn đầy trên trán, tiếp tục vận công, mặt vàng như nghệ.
Tống Kiển quỳ xuống khóc nức nở: “Tiên sinh…”
Tuỳ Sào Tử gắng gượng lấy từ trong ống tay áo ra nửa cây nấm độc, nói: “Nấm này mọc ở Quỷ Cốc, hẳn là Quỷ Cốc tiên sinh… tiên sinh…” Lại ngừng lời, tiếp tục vận công.
Tống Kiển đã hiểu ra, cầm lấy nửa cây nấm độc từ trong tay Tuỳ Sào Tử, chạy như bay về phía Quỷ Cốc.
Tuỳ Sào Tử vừa đi khỏi, Quỷ Cốc Tử quay gót bước ra khỏi động, hai tay chắp sau lưng, cúi đầu đi đi lại lại trên bãi cỏ.
Tiểu đồng nhìn qua đã hiểu, cười khẽ một tiếng, bước lại gần, làm ra vẻ ngạc nhiên hỏi: “Tiên sinh, bình thường tiên sinh vào trong động, hoặc hai, ba tháng, hoặc tám, mười ngày, ít nhất cũng ba, năm canh giờ, vì sao hôm nay vừa vào đã lại ra?”
Quỷ Cốc Tử lừ mắt nhìn tiểu đồng, mắng: “Đi đi, tiểu tử nhiều lời quá!”
Tiểu đồng cười hì hì nói: “Tiên sinh hẳn là có tâm sự trong lòng!”
Quỷ Cốc Tử lại mắng: “Ngươi còn ở đó nhiều lời, ta…” khoé mắt liếc qua, nhìn thấy một cành cây nhỏ, liền bước tới, cầm lấy dứ dứ ra chiều định đánh, “ta quất cho nát mông bây giờ!”
Tiểu đồng vờ sợ hãi: “Tiên sinh, đừng… tiểu đồng không dám nữa!”
Quỷ Cốc Tử ném cành cây xuống đất, tiểu đồng cười rúc rích chạy lại, nắm lấy tay Quỷ Cốc Tử, hai người một già một trẻ đi đi lại lại trên bãi cỏ.
Đi được một lát, tiểu đồng lại không nhịn nổi, bèn dừng bước, ngước mắt nhìn Quỷ Cốc Tử: “Phải chăng tiên sinh đang lo lắng cho Tuỳ Sào Tử lão trượng?”
Quỷ Cốc Tử cũng dừng lại, thở dài một tiếng, đưa mắt nhìn về phía xa xăm.
“Tiên sinh, vừa rồi nhìn bộ dạng khẩn cầu của lão trượng, tiểu đồng trong lòng cũng thấy thương xót, vì sao tiên sinh không đồng ý với nguyện vọng của lão trượng?”
Quỷ Cốc Tử lại thở dài, vỗ vào đầu tiểu đồng: “Ngươi còn bé lắm, sao có thể hiểu được! Thiên đạo thế đạo, đều tuân theo đạo tự thân, mỗi cái đều có vận số riêng. Nếu hôm nay vận số chưa tới, ta và ngươi có sốt sắng đến mấy, cũng nào có ích gì?”
“Vậy thì tiên sinh cũng nên an ủi khuyên nhủ lão trượng, không nên đuổi lão đi như vậy!”
Quỷ Cốc Tử khẽ lắc đầu: “Cái thằng bé này, ngươi chỉ biết thầy ngươi lòng dạ sắt đá, mà không biết Tuỳ Sào Tử lão trượng kia giống như nhựa cây, hễ dính vào người, muốn vẩy ra cũng không vẩy nổi! Vừa rồi ta đuổi lão ấy đi, chỉ e là vẫn chưa đuổi nổi thôi! Nếu ngươi không tin…”
Nửa câu cuối còn chưa nói hết, Tống Kiển đã chạy vụt qua cửa sơn cốc, vừa chạy vừa khóc hu hu, gọi lớn: “Quỷ Cốc tiên sinh… Quỷ Cốc tiên sinh…”
Tiểu đồng kinh ngạc nhìn về phía có tiếng gọi. Quỷ Cốc Tử chậm rãi bước lên một tảng đá ở bên cạnh, từ từ ngồi xuống, sắc mặt bình thản nhìn Tống Kiển.
Tống Kiển đoán người này chính là Quỷ Cốc Tử, bèn chạy thẳng tới, quỳ thụp xuống đất, khóc không thành tiếng: “Quỷ Cốc tiên sinh, cự tử nhà tôi… đã… đã”
Quỷ Cốc Tử ôn tồn hỏi: “Nói đi, cự tử nhà ngươi làm sao?”
“Cự tử… cự tử đã ăn nhầm phải nấm độc!”
Quỷ Cốc Tử mỉm cười: “Vị đệ tử kia, ngươi cứ yên tâm về đi! Dựa vào công phu của cự tử, nấm độc bình thường sẽ không thể gây tổn thương đến lão!”
Tống Kiển vội vã lấy ra nửa cây nấm độc từ trong ống tay áo: “Cự tử dặn vãn bối đưa cho tiên sinh thứ này!”
Quỷ Cốc Tử liếc nhìn, trong lòng thầm kinh hãi, song thần sắc vẫn không mảy may thay đổi, chỉ than khẽ một tiếng: “Than ôi, cái lão già này, muốn đùa với cả tính mạng mình ư?”
Tiểu đồng cầm lấy cây nấm độc từ trong tay Tống Kiển, xem kỹ một lát, kinh hãi kêu lên: “Tiên sinh, đây chẳng phải là nấm xuyên tràng sao? Tuỳ Sào Tử lão trượng, lão ấy…”
Quỷ Cốc Tử cầm lấy nửa cây nấm độc, lại thở dài một tiếng, gật đầu nói: “Đúng vậy, đây là thứ độc nhất trên đời, chỉ với nửa cây nấm, độc tố đã đủ để giết chết hai con bò mộng. Tuỳ Sào Tử lão trượng của cậu dám ăn nửa cây, có thể thấy lão đã tu luyện đến cảnh giới cao siêu!”
“Nhưng lão trượng…”
“Cũng may lão ấy chỉ ăn nửa cây, nếu không, đừng nói là lão hủ đây, cho dù có thần y tái thế, e rằng cũng không cứu nổi!
Tiểu đồng cười hớn hở: “Tiên sinh, nghe tiên sinh nói vậy, Tuỳ Sào Tử lão trượng hẳn được cứu rồi!”
Quỷ Cốc Tử khẽ lắc đầu.
Tiểu đồng vội nói: “Tại sao vậy? Chẳng phải vừa rồi tiên sinh có nói, may mà Tuỳ Sào Tử lão trượng chỉ ăn có nửa cây thôi ư?”
“Tuỳ Sào Tử nhất quyết muốn chết, cứu làm sao được? Tiểu tử nghĩ mà xem, ta cứu lão ấy lần này, lại sẽ có lần sau. Lần này là nấm độc, lần sau không biết là thứ gì nữa, tiểu tử bảo ta phải cứu lão trượng thế nào đây?”
Tiểu đồng cầu xin: “Tiên sinh, Tuỳ Sào Tử lão trượng sẽ không như vậy đâu, lần này hẳn là sơ ý ăn nhầm mà thôi!”
Tống Kiển cũng vội nói thêm vào: “Tiên sinh, cự tử là ăn nhầm. Đúng là ăn nhầm, chính miệng cự tử đã nói vậy!”
Quỷ Cốc Tử lại thở dài, nhìn sang tiểu đồng: “Tiểu tử, ngươi thật sự muốn cứu Tuỳ Sào Tử lão trượng ư?”
Tiểu đồng gật đầu lia lịa.
Quỷ Cốc Tử trở vào thảo đường, cầm ra hai viên đan dược, một viên màu đen, một viên màu vàng, đưa cho tiểu đồng: “Viên màu đen bảo lão trượng uống, viên còn lại tiểu tử hãy mang theo bên mình!”
Tiểu đồng ngạc nhiên hỏi: “Tiểu đồng không ăn nấm độc, cần nó làm gì?”
“Để phòng bất trắc. Nếu Tuỳ Sào Tử lại ăn nhầm thứ độc khác, ngươi biết làm thế nào?”
Tiểu đồng sực hiểu ra, gật đầu trả lời: “Tiên sinh nói rất phải, tiểu đồng đi đây!”
Tiểu đồng và Tống Kiển chạy như bay ra khỏi Quỷ Cốc, một lát sau đã tới bên gốc cây, quả nhiên thấy Tuỳ Sào Tử sắc mặt đã chuyển từ xanh tái sang đen sạm, hàm răng nghiến chặt, toàn thân lạnh toát, hai tay run rẩy, bất tỉnh nhân sự. Tiểu đồng vội vã lấy viên thuốc màu đen ra, Tống Kiển cạy răng Tuỳ Sào Tử, nhét viên thuốc vào, giúp lão nuốt xuống.
Quả là thần dược. Chưa đầy nửa canh giờ, Tuỳ Sào Tử trên mặt đã thấy huyết sắc, dần dần hồi tỉnh. Tiểu đồng và Tống Kiển cùng thở phào, nhìn nhau cười.
Tuỳ Sào Tử từ từ mở mắt, trông thấy tiểu đồng ngồi cạnh, hiểu rằng Quỷ Cốc Tử đã nhìn thấu tâm can mình, bèn thở dài một tiếng, khép mắt lại.
Tiểu đồng quan tâm hỏi: “Tuỳ Sào Tử lão trượng! Gia sư nói, lão trượng không phải ăn nhầm nấm xuyên tràng, mà là cố tình ăn! Vì sao lão trượng lại cố tình ăn thứ cực độc như vậy?”
Tuỳ Sào Tử im lặng không nói.
Tiểu đồng ngẫm nghĩ một lát, lại hỏi tiếp: “Tuỳ Sào Tử lão trượng, tiểu đồng biết lão trượng vì sao lại ăn rồi! Lão trượng muốn mời gia sư ra khỏi núi, đúng không?”
Tuỳ Sào Tử khẽ gật đầu.
“Tuỳ Sào Tử lão trượng, lão trượng đừng cầu xin gia sư nữa. Tiểu đồng biết, gia sư không muốn rời xa khu rừng này đâu! Nếu gia sư đã không muốn, đừng nói là lão trượng ăn nhầm thuốc độc, mà ngay cả lão trượng dùng xích sắt trói gô gia sư lại cũng vô ích mà thôi!”
Tuỳ Sào Tử lại gật đầu.
“Tuỳ Sào Tử lão trượng, tiểu đồng đã hiểu ra rồi. Biết nguyên nhân cũng tốt, không biết nguyên nhân cũng chẳng sao, suối trên núi vẫn chảy từ trên xuống, nước trong nồi vẫn bốc hơi lên nóc nhà. Tuỳ Sào Tử lão trượng, việc gì cũng nên suy nghĩ cho khoát đạt, mọi việc trong thiên hạ, có miễn cưỡng cũng vô ích.”
Tuỳ Sào Tử thấy tiểu đồng mới chút tuổi đầu đã thông minh đến vậy, bất giác nước mắt tuôn trào.
Tiểu đồng đưa ống tay áo lên lau nước mắt cho Tuỳ Sào Tử, rồi từ từ quỳ xuống, dập đầu liền ba cái: “Tuỳ Sào Tử lão trượng, lão hãy bảo trọng, tiểu đồng về núi đây!”
Tuỳ Sào Tử lại gật đầu, đưa tay xoa đầu tiểu đồng.
Tiểu đồng lấy ra viên thuốc màu vàng từ trong tay áo: “Tuỳ Sào Tử lão trượng, viên thuốc này cũng xin lão trượng mang theo bên mình!”
Tuỳ Sào Tử lắc đầu nói: “Độc tố đã giải, thuốc này còn có ích gì?”
Tiểu đồng ôn tồn nói: “Gia sư lo lão trượng lại ăn nhầm thứ độc khác, đã chuẩn bị sẵn viên thuốc giải độc này cho lão trượng. Gia sư nói, dù độc đến đâu, lão trượng chỉ cần uống vào, ắt hoá giải được!”
Nghe thấy lời này, Tuỳ Sào Tử từ từ đứng dậy, đẩy trả viên thuốc, thở dài sườn sượt: “Tiểu đồng, xin hãy về bẩm với gia sư rằng, Tuỳ Sào lão trượng đây không cần thuốc giải. Cần đến thuốc giải, chính là bách tính trong thiên hạ!”
Nói xong, nặng nề cất bước đi luôn, không ngoảnh đầu lại, cứ thế chậm rãi men theo đường núi.
Tiểu đồng tay cầm thuốc giải, đứng trông theo bóng Tuỳ Sào Tử mỗi lúc một xa, lòng đầy suy tư.
Khi bóng hai thầy trò Tuỳ Sào Tử đã khuất hẳn cuối con đường mòn, tiểu đồng mới thở dài một tiếng, trong đầu ngổn ngang suy nghĩ, quay trở về Quỷ Cốc. Từ xa, tiểu đồng đã nhìn thấy Quỷ Cốc Tử vẫn đang ngồi trên tảng đá, trong tay cầm nửa cây nấm độc ăn dở của Tuỳ Sào Tử, như cầm chơi, cũng như đang xem xét.
Tiểu đồng cúi đầu đi về, chẳng nhìn Quỷ Cốc Tử lấy một cái, bước tới bên cạnh một tảng đá khác, ngồi xuống, hai mắt nhìn sững về phía gò đất cách đó không xa.
Quỷ Cốc Tử liếc nhìn tiểu đồng, gọi: “Tiểu tử!”
Tiểu đồng giả bộ như không nghe thấy.
Quỷ Cốc Tử lại gọi to hơn: “Tiểu tử!”
Tiểu đồng đã không thèm lý đến, còn cố tình quay đầu đi, nhìn về phía khác.
Quỷ Cốc Tử cười ha hả: “Tiểu tử, ngươi giận dỗi như vậy phỏng có ích gì? Có phải Tuỳ Sào Tử lão trượng không chịu uống thuốc chăng?”
Tiểu đồng nhấm nhẳng: “Không phải!”
“Là Tuỳ Sào Tử lão trượng của ngươi vẫn ở đó, không chịu xuống núi?”
“Cũng không phải!”
Quỷ Cốc Tử nghĩ một lúc: “Vậy… hẳn là ngươi tiếc vì mất đi viên thuốc giải độc vạn năng?”
Tiểu đồng sốt ruột, quay lại nhìn Quỷ Cốc Tử, xẵng giọng: “Cũng không phải!”
Quỷ Cốc Tử lắc đầu liên hồi: “Thế này không phải, thế kia cũng không phải. Tiểu tử, hẳn là ngươi đang cố ý chơi trò bịt mắt bắt dê với ta?”
Tiểu đồng chớp chớp đôi mắt to tròn, buồn bã mà nói: “Tiểu đồng thấy khó chịu trong lòng!”
Quỷ Cốc Tử cười vang vui vẻ nói: “Ồ, tiểu tử cũng có tâm sự ư! Nói đi, khó chịu gì trong lòng?”
Tiểu đồng bỗng đứng bật dậy, lên giọng nói: “Nhìn Liệt Tử lão trượng, chân không bén đất, nói đến là đến, nói đi là đi! Lại nhìn Tuỳ Sào Tử lão trượng, vì người khác mà đi mòn vẹt cả dép cỏ, chứ ai như tiên sinh…”
Quỷ Cốc Tử mỉm cười hỏi: “Lão hủ thì sao?”
Tiểu đồng hừ mũi một tiếng, nét mặt coi thường: “Từ sáng tới tối ở lì trong sơn cốc, chẳng làm việc gì, chẳng đi đến đâu! Tiểu đồng thực sự không hiểu, tiên sinh sống ở đây, hết ngày này qua ngày khác, hết năm này qua năm khác, rốt cuộc thì có tài cán gì?”
Quỷ Cốc Tử phá lên cười sảng khoái, cười xong bèn nói: “Tiểu tử nhà ngươi nói là có điều khó chịu trong lòng, hoá ra là vì chê bai lão già này!” Lời vừa nói dứt, tiện tay bỏ luôn nửa cây nấm độc vào trong miệng, nhai một cách thích thú.
Tiểu đồng thấy vậy, kinh hãi kêu thét lên: “Tiên sinh!” Nhưng đã muộn rồi. Tiểu đồng lao bổ về phía Quỷ Cốc Tử như một mũi tên, hai bàn tay nhỏ bé thọc sâu vào trong miệng Quỷ Cốc Tử, gắng sức moi móc.
Tiểu đồng đã chậm một bước, chỉ nghe cổ họng Quỷ Cốc Tử “ực” một tiếng, cả nửa cây nấm đã bị nuốt trôi xuống bụng. Tiểu đồng quỳ xuống đất, gào lên ầm ĩ, vừa khóc vừa nói: “Tiên sinh, tiểu đồng không chê bai tiên sinh, tiểu đồng chỉ là…” Nói đến đây, bỗng sực nhớ ra, lập tức ngừng bặt, đứng bật dậy, móc ra viên thuốc giải độc vạn năng, cố gắng nhét vào trong miệng Quỷ Cốc Tử.
Quỷ Cốc Tử nhổ viên thuốc ra, nhìn viên thuốc một hồi, rồi quay sang tiểu đồng, kinh ngạc hỏi: “Chẳng phải đã bảo ngươi đưa viên thuốc này cho Tuỳ Sào Tử lão trượng ư?”
Tiểu đồng ngớ người, vội giải thích: “Tiểu đồng quên chưa bẩm với tiên sinh, Tuỳ Sào Tử lão trượng nói, lão trượng không cần thuốc giải. Lão trượng còn nói, Người cần đến thuốc giải, chính là bách tính trong thiên hạ! Tiên sinh, bách tính trong thiên hạ, phải chăng cũng ăn nhầm nấm độc giống như Tuỳ Sào Tử lão trượng?”
Nghe thấy lời nói của tiểu đồng, Quỷ Cốc Tử đứng lặng người, trầm ngâm một lát, nhẹ nhàng đặt viên thuốc giải độc vào trong tay tiểu đồng: “Đúng vậy, bách tính trong thiên hạ đã ăn nhầm nấm độc. Viên thuốc giải này, ngươi hãy mang theo bên mình!” Nói xong từ từ đứng dậy, đi vào thảo đường.
Tiểu đồng cầm viên thuốc giải độc vạn năng, kinh ngạc nhìn theo bóng dáng Quỷ Cốc Tử, vò đầu bứt tai, lẩm bẩm một mình: “Thực kỳ lạ! Tiên sinh ăn cây nấm xuyên tràng, vậy mà lại không hề hấn gì!”
Tiểu đồng lại đứng ngẩn tò te một hồi, rồi như chợt bừng tỉnh, sải bước đuổi theo Quỷ Cốc Tử, nhẹ nhàng đỡ lấy tay ông.
Quỷ Cốc Tử âu yếm xoa đầu tiểu đồng: “Tiểu tử, Tuỳ Sào Tử lão trượng của ngươi xuống núi thật rồi ư?”
Tiểu đồng gật đầu.
Quỷ Cốc Tử khẽ thở dài: “Tiểu tử, lớn lên rồi ngươi sẽ hiểu, không phải là ta không chịu giúp lão trượng, mà là việc trần gian như một mớ bòng bong, thực không dễ gỡ!”
Tiểu đồng ngẩng đầu nói: “Không dễ gỡ khác với không thể gỡ, đúng không?”
Quỷ Cốc Tử mắng khẽ: “Tiểu tử ngươi ăn nói y hệt như Tuỳ Sào Tử lão trượng! Gỡ là bòng bong, không gỡ cũng là bòng bong, tìm không ra đầu mối, miễn cưỡng gỡ bừa, chỉ tổ càng gỡ càng rối. Tuỳ Sào Tử lão trượng của ngươi là như vậy đấy, miễn cưỡng gỡ cả đời, chẳng phải càng gỡ càng rối ư?”
“Vậy… Tuỳ Sào Tử lão trượng lẽ nào không tỉnh ngộ?”
“Nếu tỉnh ngộ được, lão trượng đã không phải là Tuỳ Sào Tử! Ngươi nhìn lão trượng mà xem, bản thân gỡ không được, lại còn ương bướng cầu xin. Đời người ngắn ngủi, ta muốn dành cuộc đời này tìm kiếm đại đạo, tới nay, đừng nói là thấu ngộ, dù là cảnh giới mơ hồ hỗn độn như Lão Đam đã gặp, còn chưa từng đạt đến, làm gì còn thời gian giúp lão trượng gỡ mớ bòng bong ấy?”
Tiểu đồng không hiểu, nói: “Tiên sinh hiểu lầm Tuỳ Sào Tử lão trượng rồi. Tiểu đồng tận mắt thấy lão trượng đã xuống núi!”
Quỷ Cốc Tử thở dài một tiếng, nói: “Tiểu tử không biết đâu, hôm nay bị lão trượng quấy rầy, ta bắt đầu cảm thấy bất an trong lòng. Ngươi cứ chờ đấy, chắc hẳn lão trượng sẽ lại tìm ra chiêu khác cho xem!”
Người hiểu Tuỳ Sào Tử, chỉ có Quỷ Cốc Tử.
Hai thầy trò Tuỳ Sào Tử một trước một sau im lặng không nói, rầu rĩ theo đường mòn xuống núi. Đi được vài canh giờ, hai người ra khỏi núi Vân Mộng. Khi sắp tới cửa Túc Tư, trước mặt họ xuất hiện ba con đường lớn; một đường phía chính bắc, chạy thẳng tới Triều Ca, Hàm Đan; một đường phía chính đông, chạy thẳng tới cửa Túc Tư, từ đó vượt Hà Thủy, có thể tới Đại Lương đất Ngụy, Trịnh Đô nước Hàn; một đường chếch về phía tây, là đường mòn, chạy thẳng vào núi Đại Hình, đi đường tắt có thể tới Thượng Đảng, Lạc Dương.
Tống Kiển đi trước mở đường, đột nhiên dừng bước, quay lại nhìn Tuỳ Sào Tử.
Tuỳ Sào Tử đang suy nghĩ rối bời, thấy Tống Kiển dừng bước, cũng dừng theo, ngẩng đầu nhìn.
Tống Kiển chỉ ba ngả đường trước mặt, hỏi: “Tiên sinh, chúng ta nên đi đường nào?”
Tuỳ Sào Tử quan sát một lúc, bỗng nảy ra một ý, chỉ vào con đường mòn: “Đi theo đường này!”
Tống Kiển ngạc nhiên hỏi: “Tiên sinh, đường này dẫn đi đâu?”
“Lạc Dương!” Lời vừa nói dứt, Tuỳ Sào Tử tinh thần phấn chấn, sải bước hăm hở đi về phía con đường mòn chênh chếch hướng tây.
Tống Kiển đứng ngẩn ngơ, đoán chắc là Tuỳ Sào Tử đã lại nghĩ ra kế sách gì, bèn vội vã đuổi theo.
***
Ngụy Huệ Hầu điều động năm vạn đại quân Hà Tây, hẹn năm vạn quân Tần kết liên minh, nóng lòng muốn tấn công biên giới nước Vệ, đại chiến với bầy khỉ, đánh một đòn mà định thiên hạ Trung Nguyên. Nào ngờ lửa cháy sau vườn, người Tần đột kích Hà Tây, khiến ông ta giật mình tỉnh mộng, lập tức điều Long Giả trở về chi viện Hà Tây, đồng thời cấp tốc sai Trần Chẩn tới Đế Khâu, cầu hoà với Tề, Triệu, Hàn.
Người Tần bất ngờ lật lọng, hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của Trần Chẩn. Nhớ tới những hành vi của mình trước đây, Trần Chẩn vô cùng kinh hãi, vừa hận Công Tôn Ưởng lừa gạt, lại phải vắt óc tìm đường lui cho mình. Ngụy Hầu sai ông ta đi cầu hoà, rõ ràng đã tạo cho cơ hội lấy công chuộc tội. Do vậy, sau khi nhận lệnh, không dám nấn ná một chốc, lập tức sai Thích Quang đánh xe, mang theo vàng bạc châu báu trong nhà, hối hả tới biên giới nước Vệ.
Người Ngụy cấp tốc rút quân chỉ trong một đêm, Vệ Thành Công, Tôn Cơ và thần dân nước Vệ đều thở phào nhẹ nhõm. Tôn Cơ và quần thần sắp đặt những việc cần thiết, trong khi Vệ Thành Công đích thân tới doanh trại ba nước Tề, Triệu, Hàn để khao quân, nhiệt tình mời Hàn Chiêu Hầu, Tề thái tử, Phụng Dương Quân, Điền Kỵ tới Đế Khâu nghỉ ngơi, đích thân bày tiệc rượu ở hậu cung, sai mỹ nữ múa hát cảm tạ.
Đám người đang say sưa tiệc rượu thì sứ thần nước Ngụy Trần Chẩn cùng đội xe rầm rập tiến vào thành. Vệ Thành Công nhận được tin, đưa mắt nhìn khắp lượt tân khách, có ý muốn dò hỏi cách đối đãi. Trong số các tân khách, duy có Hàn Hầu tước vị cao nhất, do đó Điền Tích Cương, Phụng Dương Quân và Điền Kỵ đều nhìn vào ông ta. Hàn Hầu cũng không đùn đẩy, suy nghĩ một lát, khẽ gật đầu, quay sang cười nói với Vệ Thành Công: “Sứ Ngụy từ xa tới, cũng nên cho hắn uống một chén mới phải!”
Điền Tích Cương, Phụng Dương Quân hiểu ý, cũng đều gật đầu. Vệ Thành Công phẩy tay ra hiệu cho đám vũ nữ rút lui, quay sang nội thần truyền lệnh: “Truyền sứ Ngụy yết kiến!”
Lát sau, nội thần dẫn Trần Chẩn vào thẳng hậu cung. Trần Chẩn tiến lên vài bước, quỳ xuống dập đầu nói: “Sứ Ngụy Trần Chẩn khấu kiến Vệ Công, khấu kiến Hàn Hầu, khấu kiến Tề quốc điện hạ, khấu kiến Phụng Dương Quân.”
Mọi người đưa mắt nhìn nhau, Vệ Thành Công khẽ phẩy tay, chỉ vào chiếu khách ở bên cạnh: “Sứ Ngụy miễn lễ, ngồi đi!”
Trần Chẩn cảm tạ, đứng dậy ngồi vào chiếu khách.
Điền Tích Cương lạnh lùng hỏi: “Trần thượng khanh tới đây hẳn là muốn giao chiến thư?”
“Trần Chẩn không dám!” Trần Chẩn vòng tay về phía mọi người, “Trần Chẩn tới đây để cầu láng giềng hoà mục!”
“Ha ha ha!” Điền Tích Cương bật cười vang, giễu cợt. “Võ binh Đại Ngụy tung hoành khắp thiên hạ, bệ hạ Đại Ngụy ở tít trên cao, từ lúc nào lại nảy sinh ý nghĩ láng giềng hoà mục?”
Mọi người đều cười nghiêng ngả.
Trần Chẩn mặt mũi đỏ bừng, vội vòng tay nói: “Chư vị quân chủ, điện hạ, Điền tướng quân, quả quân bị người Tần xúi bẩy đến mê muội, đã khởi binh xâm phạm biên giới Vệ, đắc tội với liệt quốc. Quả quân vô cùng hối hận, uỷ thác tại hạ tới tạ lỗi với liệt quốc, đặc biệt là với Vệ Công và thần dân nước Vệ! Quả quân nguyện cầu hoà với liệt quốc, mãi mãi là láng giềng hoà mục.”
Để đạt mục đích, Trần Chẩn không dám nhắc tới hai chữ “bệ hạ”, chỉ dám một điều “quả quân”, hai điều “quả quân”. Điền Tích Cương nhịn không nổi, cười khẩy một tiếng: “Nói hay lắm! Nếu người Tần không tấn công Hà Tây, e rằng quả quân của ngươi đã đưa quân thẳng tới Lâm Truy rồi!”
Trần Chẩn lại vòng tay, cười xun xoe mà nói: “Hiểu lầm, hiểu lầm, tất cả đều là hiểu lầm mà thôi, Trần Chẩn xin thay mặt quả quân tới nhận lỗi với chư vị!”
Điền Tích Cương đang định nói thêm, thì Hàn Chiêu Hầu đặng hắng một tiếng, tiếp lời: “Quả quân ngươi biết sai là đúng! Chúng ta thì không sao, song bách tính nước Vệ vô cớ phải chịu họa đổ máu, không biết Trần thượng khanh định giải thích thế nào đây?”
“Chuyện này…” Trần Chẩn ngập ngừng một lát, quay sang Vệ Thành Công, vòng tay, “Trần Chẩn thay mặt quả quân thực lòng tạ lỗi trước Vệ Công và thần dân nước Vệ…”
“Hừm, móng sắt Đại Ngụy giẫm đạp tan hoang một vùng nước Vệ, Trần thượng khanh chỉ nói một lời tạ lỗi là xong ư?” Điền Tích Cương lại cười nhạt, chặn họng.
Trần Chẩn ngẫm nghĩ một lát, rồi nhìn thẳng vào Điền Tích Cương: “Ý điện hạ là…”
Điền Tích Cương không chút vòng vo, lập tức nói thẳng: “Quả quân ngươi đã biết sai, đương nhiên phải bồi thường tổn thất cho người Vệ!”
“Đương nhiên rồi!” Trần Chẩn gật đầu nói, “tổn thất của người Vệ, nước Ngụy xin được gánh vác!” Quay sang Vệ Thành Công, giọng nói càng thêm thành khẩn. “Khởi bẩm chúa thượng, trước lúc đi, quả quân dặn đi dặn lại rằng, Vệ Công đưa ra giá nào, quả quân cũng xin nghe theo!”
“Chuyện này…” Vệ Thành Công lúng túng một lát, vòng tay nói, “Ngụy Hầu đã biết sai là tốt, còn chuyện bồi thường… thôi hãy miễn đi!”
Trần Chẩn vòng tay nói: “Trần Chẩn thay mặt quả quân đa tạ tấm lòng độ lượng của Vệ Công.”
“Như vậy sao được?” Không đợi Vệ Thành Công lên tiếng, Điền Tích Cương đã sang sảng mà rằng. “Đã làm sai, tự khắc phải trả giá! Thế này đi, Vệ Công đã không nói, Tích Cương xin nói thay. Thiên hạ ngày nay, lấy dân làm gốc, tổn thất của cải có thể không tính đến, song thần dân tử thương không thể bỏ qua, chí ít người chết phải có chỗ chôn, người bị thương phải được chăm sóc. Tích Cương đề nghị, trong cuộc chiến loạn lần này, nước Ngụy phải bồi thường cho mỗi người chết hai lượng vàng, mỗi người bị thương một lượng vàng.” Rồi quay sang phía mọi người, “chư vị thấy có hợp lý chăng?”
Trần Chẩn chẳng biết nói sao, đành gật đầu chấp thuận: “Được, đợi Trần Chẩn về bẩm lên quả quân, lập tức bồi thường.”
“Còn nữa!” Điền Tích Cương vẫn chưa chịu buông tha, “từ nay trở đi, chuyện nước Vệ, quả quân của ngươi không được nhúng mũi vào!”
Trần Chẩn suy nghĩ một lát, lại gật đầu.
“Tốt!” Điền Tích Cương thay đổi sắc mặt, nhìn khắp lượt mọi người, cười vang với Trần Chẩn, nâng chén mà nói. “Trần thượng khanh, mời uống chén rượu này, chúc cho tình láng giềng hoà mục!”
***
Bên bờ Lạc Thuỷ, sau trận mưa lớn, người hô ngựa hí, nam nữ già trẻ kẻ kéo người khiêng, đoàn người vận chuyển lương thảo nối đuôi nhau thành một hàng dài dằng dặc, khó nhọc di chuyển trên đoạn đường ngập ngụa bùn lầy.
Một cỗ xe la chở nặng bị lún xuống hố lầy, lão trượng vung roi quất mạnh vào mông la, hai cô con dâu trẻ và ba đứa cháu tuổi còn lỡ cỡ đẩy phía sau, bánh xe lắc lư một chặp, lại thụt xuống sâu hơn.
Hiếu Công mặc thường phục, cùng nội thần và hai hộ vệ từ phía xa vội vã bước lại. Hiếu Công chẳng nói chẳng rằng, lập tức xắn tay áo lên, bước lại phía sau bánh xe bị lún sâu nhất, nội thần bước sang bên kia, hai hộ vệ cũng đều chọn chỗ thuận lợi, gắng sức đẩy xe lên.
Hiếu Công nhìn lão trượng, nói: “Lão trượng, hô hiệu lệnh đi, mọi người cùng đẩy!”
Lão trượng vung roi hô lớn: “Một, hai, ba, đẩy!”
Mọi người đều dồn sức đẩy, bánh xe nhanh chóng lăn ra khỏi hố sâu.
Lão trượng giơ tay cười với mọi người, đánh xe thẳng tiến lên phía trước. Hiếu Công nhìn vào hố lầy, bảo hai hộ vệ: “Mau lấy đá vụn đổ xuống hố!”
Hai hộ vệ tuân lệnh, chạy toả ra xung quanh tìm đá. Hiếu Công ngẩng lên, từ xa nhìn thấy Công Tôn Ưởng và vài hộ vệ đang phi ngựa tới. Công Tôn Ưởng tới gần, thấy Hiếu Công khắp mình lấm lem bùn đất, trong lòng đau xót, xoay người xuống ngựa, quỳ xuống đất bùn dập đầu mà nói: “Vi thần Công Tôn Ưởng khấu kiến chúa thượng!”
Hiếu Công chùi bàn tay dính bùn vào vạt áo, bước tới đỡ Công Tôn Ưởng dậy, cười mà nói: “Ái khanh mau đứng dậy, trên đất toàn bùn lầy, bất tất phải hành lễ rườm rà.”
Công Tôn Ưởng nhìn Hiếu Công khắp mình bùn đất, giọng nói nghẹn ngào: “Chúa thượng!”
Hiếu Công nhìn lại người mình, lại cười vang mà nói: “Xem chừng quả nhân chẳng làm được trò trống gì, mới chỉ đẩy có một cỗ xe, đã lấm lem như ông phỗng thế này đây!”
Công Tôn Ưởng vô cùng xúc động, giọng đầy cảm kích: “Có được quân chủ thế này, địch nào không thắng?”
Hiếu Công lắc đầu, xua tay nói: “Ái khanh đừng nói vậy! Việc quả nhân làm, chẳng qua là việc nhỏ, đánh địch thế nào, hoàn toàn dựa vào ái khanh.”
Công Tôn Ưởng nói vào việc chính: “Chúa thượng triệu gấp vi thần, hẳn có việc hệ trọng?”
“Đúng vậy!” Hiếu Công gật đầu. “Không giấu ái khanh, mấy ngày nay, trong lòng quả nhân thấp thỏm không yên, ngủ không ngon giấc!”
“Dám hỏi chúa thượng lo lắng việc gì?”
“Tuy ta đột kích thành công Hà Tây, song người Ngụy chỉ dựa vào hơn vạn võ binh, không những bảo vệ được ba cửa ải then chốt Thiếu Lương, Lâm Tấn quan, Âm Tấn, mà còn khiến ta thương vong hơn vạn, sức chiến đấu của người Ngụy quả thực khiến quả nhân kinh sợ!”
“Chuyện này đều tại vi thần!”
“Quả nhân cho triệu khanh tới, không hề có ý khiển trách ái khanh. Hơn nữa, chuyện này cũng không liên quan đến ái khanh? Ái khanh cũng đã gắng hết sức rồi!”
Công Tôn Ưởng rầu rĩ than thở: “Vi thần tính toán không chu đáo, chúa thượng có thể không trách, song vi thần không thể không tự trách mình!”
Hiếu Công ngạc nhiên: “Tính toán không chu đáo? Chỗ nào không chu đáo?”
“Ngoài lính giữ thành, Hà Tây có tổng cộng năm vạn lính thiết giáp. Vi thần vốn cho rằng Long Giả sẽ dẫn toàn bộ số quân này tới biên giới Vệ, không ngờ ông ta chỉ dẫn hai vạn lính mới chiêu mộ đi, để hai vạn quân thiết giáp. May sao Lã Giáp chủ quan lỗ mãng, nếu không, ngay từ trường thành, chúng ta đã phải huyết chiến một phen! Đây là một chỗ không chu đáo. Vi thần chỉ chú tâm điều Long Giả đi, không ngờ lại mọc ra một Công Tôn Diễn! Không giấu gì chúa thượng, vi thần cho rằng, người này mới là kẻ đáng gờm. Chỉ một mình hắn, đủ để địch lại mười vạn hùng binh!”
Tần Hiếu Công cũng than thở: “Quả nhân lo lắng cũng là vì chuyện này! Nước Ngụy có nhân tài như vậy, ngộ nhỡ Ngụy Anh trọng dụng hắn làm tướng, thì cuộc đại chiến này…” Nói tới đây thì dừng lại một lát, rồi đổi sang chuyện khác. “Ái khanh có kế sách ứng phó chăng?”
“Bẩm chúa thượng, vi thần cho rằng, cảnh ngộ hiện tại của Công Tôn Diễn giống hệt như vi thần khi ở nước Ngụy năm xưa. Ngụy Anh ngày đó không dùng vi thần, ngày nay ắt cũng sẽ không dùng Công Tôn Diễn!”
Hiếu Công mở to mắt, vừa kinh ngạc vừa ngờ vực: “Nếu đúng là vậy, quả là may mắn cho nước Tần. Như ái khanh nói, chỉ cần có hắn, có thể địch nổi mười vạn hùng binh. Hiện tại, giữa ta và địch thế lực tương đương, quyết định thắng thua không phải ở binh lính giỏi chém giết, mà ở tướng soái giỏi mưu kế. Theo ý ái khanh, nếu Ngụy Anh không dùng Công Tôn Diễn, sẽ chọn ai làm chủ tướng?”
Công Tôn Ưởng suy nghĩ một lát: “Công tử Ngang!”
Hiếu Công ngẫm nghĩ một hồi, rồi lắc đầu quầy quậy: “Không thể, không thể! Trận chiến này đối với Ngụy, cũng là dốc sức quyết chiến, tuyệt đối không phải tầm thường. Ngụy Anh dù không thông minh, cũng không đến nỗi ngu xuẩn đến vậy!”
Công Tôn Ưởng mỉm cười: “Tuy Ngụy Anh không ngu xuẩn, song lại dễ nghe lời đường mật, chúa thượng hãy cứ yên tâm!”
Thấy Công Tôn Ưởng khẳng định chắc chắn, Hiếu Công cũng thấy yên tâm trong dạ, bèn gật đầu nói: “Có lời này của ái khanh, đêm nay quả nhân đã có thể kê cao gối ngủ!”
Công Tôn Ưởng bái biệt Hiếu Công, vội vã trở về trại trung quân, suy nghĩ một lát, sai người gọi ngũ đại phu Sư Lý Tật tới, ghé vào tai ông ta thì thầm một chặp.
Sư Lý Tật bước ra khỏi trại, tay cầm tờ tấu đã đóng con dấu của Công Tôn Ưởng tới doanh trại thái phó lĩnh năm trăm lượng vàng, đóng vào hai chiếc rương; lại tới chỗ quân uý chuyên quản tang lễ, phụ trách việc khâm liệm binh sĩ tử trận, nói rõ ý đồ. Quân uý đóng cửa lại, sai người cải trang cho Sư Lý Tật. Tới khi ông ta ra khỏi cửa, diện mạo đã thay đổi hoàn toàn, trông chẳng khác gì một người Hàn thực thụ.
Sư Lý Tật đường hoàng đi vào trong doanh trại. Hộ vệ của ông bỗng thấy một người Hàn phăm phăm tiến vào thì chặn ngay lại, gặng hỏi một thôi một hồi.
Sau khi đã chuẩn bị chu đáo, Sư Lý Tật dẫn theo vài tuỳ tùng đã được chọn lựa kỹ lưỡng cải trang thành người Hàn, xuất phát từ Hàm Cốc quan, vượt sông ở Mạnh Tân, thẳng tới An Ấp.
Sau khi vào thành, Sư Lý Tật đánh xe ngựa tới thẳng lầu Nguyên Hanh. Tới trước cửa lầu, Sư Lý Tật nghênh ngang dừng xe, nhìn thẳng lên cửa, rồi bước xuống xe.
Tuy Sư Lý Tật ăn mặc quý phái sang trọng, song hành sự lại tuỳ tiện, môn nhân kinh nghiệm đầy mình, liếc mắt đã biết đây là một phú hộ mới phất, bèn vội vã bước ra chào đón, niềm nở hỏi han: “Xin chào khách quan!”
Sư Lý Tật không thèm đếm xỉa tới hắn, quay đầu về phía xe, gọi to: “Bay đâu, tới lầu Nguyên Hanh rồi, mau khiêng đồ xuống!”
Sau một hồi tất bật, vài người hầu từ trên xe khiêng xuống hai chiếc rương, theo Sư Lý Tật tiến vào trong cửa. Môn nhân đi trước dẫn đường, đưa họ tới phòng dành cho khách quý, sắp xếp chỗ ngồi cho họ.
Đã có người báo lên ông chủ Lâm. Một lát sau, nghe có tiếng bước chân vọng lại, ông chủ Lâm đi thẳng vào phòng, đảo mắt một vòng, tới trước mặt Sư Lý Tật, vái dài mà nói: “Quý khách giá lâm, tại hạ Lâm Dung thất lễ không đón tiếp từ xa!”
Sư Lý Tật hơi nhỏm mông lên, coi như đáp lễ: “Là ông chủ ư, thất kính, thất kính! Ông chủ Lâm, tại hạ nghe nói nơi này rất thú vị, muốn tới thử xem sao.”
Ông chủ Lâm liếc mắt về phía chiếc rương bên cạnh, cười hê hê mà nói: “Đương nhiên, đương nhiên, khách quan đây đã tìm đúng chỗ rồi!” Nói đoạn quay ra phía ngoài, vỗ tay bôm bốp, tức thì Tiểu Đào Hồng uyển chuyển từ trên lầu bước xuống.
Ông chủ Lâm dặn dò cô ả: “Lão gia đây từ xa tới, mang trà thơm lại, hầu hạ chu đáo!”
Tiểu Đào Hồng “vâng” một tiếng, mỉm cười với Sư Lý Tật, ném ra một ánh nhìn lả lơi, rồi quay người vào trong chuẩn bị pha trà.
Ông chủ Lâm lại cười hềnh hệch mà nói: “Nghe giọng của khách quan, hình như là…”
Sư Lý Tật liếc xéo ông ta: “Ông chủ đã tới Nghi Dương bao giờ chưa?”
Ông chủ Lâm nghe đã hiểu ra, vội vòng tay nói: “Úi chà chà, Nghi Dương là kinh đô luyện sắt, giờ đây đồng không bằng sắt, tại hạ đúng là gặp quý nhân. Xin hỏi, lão gia muốn chơi trò gì?”
Sư Lý Tật cười vang, nói: “Tới lầu Nguyên Hanh, còn có thú vui nào khác? Nói thực, tại hạ sinh ra đã thích chơi trò kích động, mấy hôm trước ở Hà Tây kiếm được chút tiền mọn, muốn tìm nơi chốn thoả mãn cơn nghiền! Có người bạn mách rằng nơi này thú vị, nên vội tới ngay!”
Ông chủ Lâm mặt mày giãn nở, cười mà nói: “Lão gia hãy nghỉ ngơi một lát, tại hạ đi chuẩn bị!”
Ông chủ Lâm vội vã bước về phía mật thất, sai người mời Thích Quang tới, thì thầm một hồi vào tai Thích Quang rồi bẩm khẽ: “Bẩm Thích gia, nhìn hai chiếc rương, đích thị là của kẻ buôn bán lớn, Thích gia có cần đích thân xuất hiện không?”
Thích Quang khép hờ hai mắt, suy nghĩ một lát, thủng thẳng nói: “Người Nghi Dương? Đến từ Hà Tây? Ồ, xem ra người này không phải là khách bình thường! Thế này đi, ngươi chuyển lời tới vị lão gia kia, nói là Thích Quang muốn mời ông ta uống chén trà nhạt, mong ông ta nể mặt!”
“Tiểu nhân đi ngay!”
Một lát sau, ông chủ Lâm dẫn Sư Lý Tật bước vào một nhã thất khác, Thích Quang đã đợi sẵn ở đó, nghe thấy tiếng bước chân, vội vã chạy ra đón, vòng tay vái mà nói: “Tại hạ Thích Quang xin có lời chào!”
Sư Lý Tật liếc xéo ông ta, nói: “Sơ mỗ từ lâu đã nghe nói An Ấp có một vị Thích gia, là người hào sảng, dám hỏi phải chăng là đại nhân?”
Thích Quang mỉm cười đáp: “Thích mỗ không dám! Là mọi người quá lời!”
Sư Lý Tật vội vái dài: “Tại hạ Sơ Dần xin có lời chào Thích gia!”
Thích Quang tuy đã từng gặp Sư Lý Tật, song Sư Lý Tật hiện đã cải trang thành người Hàn, lại thêm bộ râu rậm rạp, giọng nói và ngữ điệu cũng thay đổi hoàn toàn, nên đôi mắt tầm thường của ông ta đương nhiên không thể nhận ra.
Thích Quang cung kính mời Sư Lý Tật ngồi vào ngôi khách, đích thân rót trà, vào ngay chuyện chính: “Nghe nói Sơ huynh phát tài ở Hà Tây, Thích mỗ dám hỏi vì đâu mà phát tài?”
“Ồ…” Sư Lý Tật đưa mắt nhìn sang ông chủ Lâm đang đứng khúm núm bên cạnh, toan nói lại thôi.
Thích Quang hiểu ý, hất hàm về phía ông chủ Lâm, ông chủ Lâm bèn vòng tay nói: “Hai vị lão gia xin trò chuyện tự nhiên, có gì sai bảo, cứ gọi tiểu nhân!” Nói xong, vòng tay lui ra.
Sư Lý Tật nghe thấy tiếng bước chân xa hẳn, mới nói: “Trước danh tiếng của Thích gia, Sơ mỗ không dám giấu giếm. Sơ mỗ ở Nghi Dương làm chủ vài lò luyện thép. Lần trước, người Tần trả giá cao mua một trăm xe thép, mười ngày trước đưa tới Hà Tây, đã trả tiền nhận hàng xong xuôi!”
Thích Quang làm bộ ngạc nhiên kêu lên: “Úi chà chà, Sơ huynh buôn bán được với người Tần, quả thực không phải tầm thường!”
Sư Lý Tật hạ thấp giọng nói: “Không giấu Thích gia, em gái Sơ mỗ hầu hạ thái phó nước Tần, thái phó hiện lại phụ trách tiền bạc lương thảo, vụ làm ăn này đương nhiên…”
“Chậc chậc chậc!” Thích Quang tấm tắc khen ngợi, vòng tay nói, “Sơ huynh trúng quả lớn, tại hạ xin có lời mừng! Đã như vậy, tại hạ có một chuyện nữa muốn thỉnh giáo Sơ huynh!”
“Thích gia cứ nói, nếu tại hạ biết, sẽ không giấu giếm!”
“Người Tần dám cướp Hà Tây, lẽ nào không sợ võ binh Đại Ngụy?”
Sư Lý Tật thoáng ngẩn người, sau đó bật cười ha hả.
Thích Quang nhất thời khựng lại, nhìn ông ta hỏi: “Sơ huynh vì sao lại cười?”
Sư Lý Tật lại cười một tràng nữa mới dừng lại nói: “Sao Thích gia lại hỏi vậy? Võ binh Đại Ngụy tung hoành khắp thiên hạ, ai mà không sợ?”
Thích Quang gãi đầu, vẻ đầy nghi hoặc: “Vậy… xin hỏi Sơ huynh, người Tần đã sợ, cớ sao còn dám công chiếm Hà Tây?”
Sư Lý Tật nhoài người về phía Thích Quang, nói: “Thích gia chỉ chú tâm đến kinh thương, đương nhiên không nghĩ tới thứ khác. Tại hạ dám hỏi Thích gia, võ binh Đại Ngụy nghe lời ai?”
Thích Quang buột miệng đáp liền: “Đương nhiên là nghe lời tướng quân!”
“Tướng quân lại nghe lời ai?”
“Nghe lời chủ tướng!”
“Chính là vậy!” Sư Lý Tật lại cười. “Người Tần sớm đã tính đúng, Ngụy Tần giao chiến, Ngụy Vương bệ hạ ắt phải dùng Long Giả làm chủ tướng, bởi vậy mới dám mạo hiểm một phen!”
Thích Quang ngẩn người: “Sơ huynh nói vậy, Thích mỗ càng nghe càng mơ hồ!”
Sư Lý Tật chỉ vào ông ta, lại cười ngặt nghẽo một hồi: “Thích gia thật là, đúng là người ngoại đạo thì không hiểu nội tình! Không giấu Thích gia, Tần Công cũng vậy, Công Tôn Ưởng cũng vậy, đều đánh cược vào Long Giả. Thích gia nghĩ mà xem, Long Giả tuy giỏi dụng binh, song lão ta đã ở lỳ Hà Tây hơn chục năm rồi, dù là một con chuột nhắt, người Tần cũng đã quen thuộc, có thể nói là từ lâu đã hiểu thấu lão ta tới chân tơ kẽ tóc. Lão ta chỉ cần đánh một phát rắm, người Tần đã biết lão ta sẽ thải ra thứ phân gì. Đã hiểu tường tận đến vậy, lại còn không dám đánh ư?”
Thích Quang kinh hãi trong lòng, song vẫn cười nói: “Nghe Sơ huynh nói vậy, Thích mỗ mới biết bên trong có nguyên do ngầm ẩn. Có điều Thích mỗ còn có một thắc mắc, muốn hỏi ý Sơ huynh, tại sao người Tần lại một mực khẳng định bệ hạ sẽ dùng Long Giả làm chủ tướng?”
Sư Lý Tật cười vang, nói: “Công Tôn Ưởng là hạng người nào, chẳng nhẽ đến việc này cũng không đoán ra được ư? Thích gia thử nghĩ mà xem, trong các tướng Ngụy, ai quen với người Tần nhất? Long Giả! Ai là người lão luyện nhất? Long Giả! Ai trấn giữ Hà Tây bao năm qua? Long Giả! Ai có nhiều khả năng kháng cự người Tần nhất? Long Giả! Ngụy Vương bệ hạ trí tuệ tuyệt luân, chẳng nhẽ không biết điều này?”
Thích Quang cãi lại: “Hiện tại thượng tướng quân chính là công tử Ngang!”
Nghe thấy ba chữ “công tử Ngang”, Sư Lý Tật vội vàng nhìn ngó xung quanh, thấy không có ai, mới nói: “Không giấu Thích gia, theo tại hạ biết, người khiến Công Tôn Ưởng đau đầu nhất hiện nay chính là vị này! Lần trước Công Tôn Ưởng đi sứ sang Ngụy, thượng tướng quân ép ông ta hai tay dâng tặng công chúa bảo bối của Tần Công, nghe nói sau khi về Tần, bị Tần Công chửi cho mất mặt! Có điều, Công Tôn Ưởng lần này đoán chắc, Ngụy Vương tuyệt đối sẽ không dùng người này làm tướng.”
“Ồ, vì sao?”
“Bởi vì thượng tướng quân chưa từng trải qua đại chiến, Ngụy Vương không thể yên tâm!”
Thích Quang chau tít đôi mày: “Lần trước phạt Vệ, chẳng phải thượng tướng quân đánh rất hay ư?”
Sư Lý Tật cười nói: “Xem ra, Thích gia đúng là không hiểu gì về quân sự. Thượng tướng quân phạt Vệ, là nước mạnh đánh nước yếu, đừng nói là thượng tướng quân, dù Thích gia dẫn quân đi đánh cũng sẽ thủ thắng! Lần này là giao chiến với người Tần, bệ hạ có thể không do dự được chăng?”
Trán Thích Quang càng chau tít lại: “Đã như vậy, Công Tôn Ưởng vì sao lại còn đau đầu vì thượng tướng quân?”
“Chuyện này…” Sư Lý Tật cười cười mà nói. “Thích gia phải đi hỏi Công Tôn Ưởng mới được. Chuyện trong binh pháp, hẳn cũng giống với kinh doanh, mỗi người đều có bí quyết riêng. Có lẽ cách dụng binh của thượng tướng quân khiến Công Tôn Ưởng không thể đoán lường!”
Thích Quang gật gù: “Chà chà, đúng là nhìn không ra, Sơ huynh buôn bán đã giỏi, nhìn người cũng tài, tại hạ bái phục!” Rồi không đợi Sư Lý Tật kịp đáp lời, đã quay ra ngoài cửa gọi lớn, “người đâu, mang trà lại đây!”
Tiểu Đào Hồng đã đứng hầu sẵn bên ngoài, nghe gọi, vội vã lên tiếng: “Nô tỳ tới ngay!” Rồi õng ẹo bước vào.
Thích Quang vô tình thám thính được tin quan trọng, trong lòng thầm mừng rỡ, sai Tiểu Đào Hồng hầu hạ Sư Lý Tật chu đáo, còn mình ra ngoài, mau chóng trở về phủ thượng khanh, tới thư phòng Trần Chẩn, kể lại chi tiết đầu đuôi mọi chuyện cho Trần Chẩn nghe.
Trần Chẩn nghe xong, tròn mắt kinh ngạc, hồi lâu mới nói: “Người này lai lịch thế nào, ngươi chắc chắn không?”
Thích Quang gật đầu lia lịa: “Chúa công yên tâm, tiểu nhân chỉ nhìn qua đã biết là loại người ruột để ngoài da, ăn nói văng mạng, kiếm được chút tiền nhờ vào đũng quần đàn bà, đã vội vàng tới đây ra oai!”
Trần Chẩn ngẫm nghĩ một lát, khẽ gật đầu: “Ồ, nếu liên quan tới Doanh Kiền thì cũng đáng tin đấy! Doanh Kiền vốn là người cầm quân, song Tần Công lại để Công Tôn Ưởng làm chủ tướng, chỉ cho ông ta quản lý lương thảo, Doanh Kiền hẳn không cam tâm! Trong lòng bực tức, khó tránh có lúc buột miệng trút giận. Tay họ Sơ này có mối quan hệ thân quen với hắn, có lẽ chuyện này là thực. Thế này đi, ngươi viết lại toàn bộ sự việc, đợi bản công soạn tấu báo, trình lên bệ hạ! Long Giả kia xưa nay có hiềm khích với bản công, tuyệt đối không thể để lão tranh công!”
Thích Quang lấy ra một tấm da dê tinh xảo, viết lại toàn bộ sự việc không thiếu một chi tiết, điểm chỉ xong, trình lên Trần Chẩn. Trần Chẩn xem qua một lượt, cất vào ống tay áo, sai Thích Quang: “Chuẩn bị xe!”
Sau bữa trưa, Ngụy Huệ Hầu vẫn như mọi khi, nằm trên võng trúc thiu thiu ngủ trong đình hóng mát tại hậu hoa viên, bên cạnh có một vài kẻ hầu hạ.
Nằm một lúc, đột nhiên Ngụy Huệ Hầu ngồi bật dậy, ngẩn ngơ một hồi, lại nằm xuống. Tỳ nhân nhìn thấy, biết Huệ Hầu có tâm sự trong lòng, bèn cầm lấy quạt từ tay cung nữ, ngồi xuống bên cạnh Huệ Hầu, trông tưởng là quạt, thực chất là đợi chỉ.
Quả nhiên, Ngụy Huệ Hầu lại mở choàng mắt, ngẩng lên hỏi: “Chu tư đồ đâu rồi?”
Tỳ nhân dừng tay quạt: “Khởi bẩm bệ hạ, ở phủ tư đồ! Nếu bệ hạ muốn gặp tư đồ, lão nô sẽ vời vào cung!”
Ngụy Huệ Hầu chậm rãi đứng dậy, ngẩng đầu nhìn ra ngoài đình: “Trời nhiều mây, nắng cũng không quá gắt, quả nhân dù gì cũng không ngủ được, vì sao không tự đi tìm tư đồ?”
Giờ đang giữa mùa hạ, đúng vào tiết Tam phục vô cùng nóng bức, Ngụy Huệ Hầu cam tâm hạ mình đi tìm một hạ thần ngay sau bữa trưa nắng gắt, khiến tỳ nhân vô cùng kinh ngạc. Tỳ nhân hạ quạt xuống, ngẩn ra giây lát, chần chừ hỏi: “Ý bệ hạ là chuẩn bị xa giá tới phủ tư đồ?”
Ngụy Huệ Hầu trừng mắt nhìn tỳ nhân: “Ngươi không nghe thấy ư?”
“Lão nô tuân chỉ!”
Một lát sau, xe của Ngụy Huệ Hầu được một đoàn lính hộ giá rời khỏi cung thành, thẳng tiến tới phủ tư đồ.
Thích Quang đích thân đánh xe, cấp tốc đưa Trần Chẩn tới cung thành. Chưa tới cửa cung, Thích Quang từ xa đã nhìn thấy vương giá xuất cung, vội vã gọi Trần Chẩn. Trần Chẩn ngẩng đầu nhìn, vô cùng sửng sốt, ra hiệu cho Thích Quang đuổi theo. Đuổi tới gần phủ tư đồ, Trần Chẩn từ xa nhìn thấy Huệ Hầu xuống xe, được tỳ nhân dìu bên cạnh, chậm rãi bước vào trong phủ.
Trần Chẩn ngẫm nghĩ một lát, lệnh cho Thích Quang tới phủ thượng tướng quân.
Vào giữa trưa có khách, đối với phủ thượng tướng quân cũng là hy hữu. Quản gia dẫn Trần Chẩn vào phòng khách, nghe Trần Chẩn nói có việc gấp cần bẩm báo với thượng tướng quân, chẳng kịp cả pha trà, lập tức ba chân bốn cẳng chạy vào nhà sau.
Trần Chẩn đứng đợi một hồi, vẫn không thấy công tử Ngang xuất hiện. Trần Chẩn vô cùng sốt ruột, chốc chốc lại liếc nhìn đồng hồ nước ở mặt bên đại sảnh.
Chính vào lúc Trần Chẩn đứng ngồi không yên, hoả đã bốc tới tận đỉnh đầu, công tử Ngang mới mình mặc áo dài, chân đi guốc gỗ, tất tả bước vào từ cửa bên, vòng tay tạ lỗi: “Để thượng khanh phải đợi lâu!”
Trần Chẩn ngửi thấy hương thơm thoang thoảng, cũng đã hiểu ra chuyện gì, bèn đáp lễ, nói đùa một câu: “Thượng tướng quân mải đắm mình trong hương sắc, đến hạ quan cũng chẳng ngó ngàng tới!”
Thấy Trần Chẩn nhìn thấu sự tình, công tử Ngang ngượng nghịu dang rộng hai tay, nhăn nhó mà nói: “Không giấu thượng khanh, nàng ấy đúng là báu vật trời ban, rất mực ngoan hiền. Gần đây, biết tin nước mình đánh chiếm Hà Tây, Ngụy Tần xảy ra chiến sự, lúc nào cũng khóc lóc vật vã, trông thật thương tâm, ta thân là hán tử mà cũng phải mủi lòng!”
Trần Chẩn lại cười: “Anh hùng khó qua ải mỹ nhân! Tử Vân công chúa mà khóc lóc ủ ê, e rằng thượng tướng quân đến cây thương cũng không cầm nổi.”
“Thượng khanh sao lại nói vậy?” Công tử Ngang ngồi xuống ghế chủ, nghiêm mặt nói. “Nương tử là nương tử, cha vợ là cha vợ. Dù báu vật trời cho kia có khóc đến chết, bản công tử cũng tuyệt đối không tha cho cha vợ. Còn tay Công Tôn Ưởng chết toi kia nữa, lật lọng lừa dối, thật khiến bản công tử không thể nhẫn nhịn nổi! Lần này Hà Tây quyết chiến, bản công tử nhất định phải đích thân bắt sống hắn, cho hắn sống không bằng chết, để hắn thấm thía kẻ tiểu nhân tráo trở sẽ có kết cục ra sao!”
Trần Chẩn khẽ thở dài, nói: “Chỉ sợ Công Tôn Ưởng không thể lĩnh giáo được tài năng của thượng tướng quân!”
Công tử Ngang ngạc nhiên: “Nói vậy là sao?”
“Vừa rồi, hạ quan có việc gấp tới gặp bệ hạ, vừa định vào cung thì từ xa đã thấy bệ hạ xa giá tới phủ tư đồ. Nếu đúng như hạ quan suy đoán, bệ hạ tới phủ tư đồ, hẳn là vì chuyện chủ tướng. Chu Uy chắc chắn sẽ tiến cử Long Giả. Nếu bệ hạ phong Long Giả làm chủ tướng, e rằng thượng tướng quân có muốn làm phó tướng cũng khó!”
Công tử Ngang tức giận nói: “Lão thất phu sợ Tần như sợ cọp, sao có thể làm chủ tướng?”
“Đúng vậy, hạ quan cũng nghĩ thế. Long Giả và người Tần đối địch đã vài chục năm, người Tần hiểu lão ta như lòng bàn tay, tự khắc cũng muốn giao chiến với lão ta hơn!”
Công tử Ngang mắt đỏ ngầu tức giận, ngẫm nghĩ một thoáng, rồi ngẩng lên nói: “Thượng khanh túc trí đa mưu, tất có kế hay dạy ta!”
Trần Chẩn khẽ gật đầu: “Thượng tướng quân nếu thực sự muốn làm chủ tướng, hạ quan có thể giúp, tuy nhiên…” Nói nửa chừng thì dừng lại.
Công tử Ngang sốt ruột không nhịn nổi: “Thượng khanh có kế gì, hãy mau nói ra!”
“Bạch tướng quốc qua đời đã lâu, trong triều…”
Công tử Ngang tâm lĩnh thần hội, lập tức gật đầu nói: “Thượng khanh nói rất đúng, trong triều không thể để trống ngôi vị tướng quốc mãi được. Đợi bản công tử đánh bại người Tần, nhất định sẽ tấu lên phụ vương, tiến cử thượng khanh làm tướng quốc!”
Trần Chẩn đứng dậy bái lạy: “Hạ quan khấu tạ ân tái tạo của công tử!”
Trần Chẩn đoán không sai, Ngụy Huệ Hầu xa giá tới phủ tư đồ, quả là vì chuyện chủ tướng.
Sau khi thực hiện xong các nghi thức nghênh bái rườm rà, vua tôi cùng ngồi vào chỗ, Ngụy Huệ Hầu đi thẳng vào việc chính, thở dài thườn thượt mà nói: “Quả nhân hối hận đã không nghe lời Bạch Khuê, nên đã gặp họa! Mấy ngày qua không lúc nào quả nhân không nhớ tới Bạch ái khanh!”
Chu Uy nghe vậy, nước mắt giàn giụa, gạt nước mắt mà nói: “Bệ hạ, vi thần cũng chỉ mong nghe được những lời này của bệ hạ!”
Nghe Chu Uy vừa khóc vừa nói, càng khiến Huệ Hầu xúc động, cầm lòng không đặng, bèn kéo vạt áo lên lau nước mắt: “Ái khanh, khanh cũng là một bề tôi tốt, khanh và Bạch Tướng quốc đều là bề tôi trung thành của quả nhân!”
Ngụy Huệ Hầu nói ra lời này, lại càng khiến Chu Uy nước mắt ròng ròng. Tỳ nhân đứng hầu bên cạnh cũng không thể cầm lòng, lẻn ra ngoài cửa, đưa tay chấm nước mắt.
Vua tôi hai người rầu rĩ một hồi, Chu Uy bèn quỳ xuống đất, khấu đầu mà nói: “Bệ hạ, mất bò sửa chuồng, cũng vẫn chưa muộn. Hôm nay bệ hạ đã nói được lời này, linh hồn Bạch tướng quốc ở nơi chín suối cũng được an ủi!”
Ngụy Hầu thực lòng than thở: “Không giấu ái khanh, Bạch tướng quốc ra đi, quả nhân gặp đại sự, không có ai để bàn bạc. Nghĩ đi nghĩ lại, chỉ thấy ái khanh là người có thể đưa ra chủ ý. Quả nhân không quản trưa nắng tới đây tìm khanh, chỉ vì chuyện này. Cuộc chiến với người Tần, để ai làm chủ tướng, quán xuyến toàn cục, quả nhân suy nghĩ nát óc suốt mấy ngày nay, vẫn chưa thể quyết định, muốn nghe ý kiến của ái khanh!”
Chu Uy có vẻ sớm đã nghĩ thấu chuyện này, gần như đáp ngay không cần suy nghĩ: “Khởi bẩm bệ hạ, vi thần cho rằng, bệ hạ nên phong Long Giả làm chủ tướng, Công Tôn Diễn làm phó tướng!”
Ngụy Huệ Hầu ngẫm nghĩ một lát, chậm rãi nói: “Ý của ái khanh, cũng là suy nghĩ của quả nhân. Long Giả làm chủ tướng, chuyện này có thể quyết định ngay, song để Công Tôn Diễn làm phó tướng…”
“Bệ hạ, dựa vào tài trí của Công Tôn Diễn, hoàn toàn có thể làm chủ tướng. Vi thần chỉ tiến cử hắn làm phó tướng, là đã hạ thấp một bậc rồi!”
Ngụy Huệ Hầu khẽ chau mày: “Công Tôn Diễn chỉ là môn khách của phủ tướng quốc, nếu để hắn làm phó tướng, liệu có khiến người Tần xem thường chăng?”
Chu Uy lại khấu đầu: “Công Tôn Ưởng khi ở Ngụy, cũng là môn khách của phủ tướng quốc Công Thúc Toạ. Sau khi tới Tần, Tần Công lại trọng dụng làm đại lương tạo, thay quyền tướng quốc. Vi thần đánh bạo nhắc lại chuyện cũ, mong bệ hạ minh xét!”
Ngụy Huệ Hầu sắc mặt không vui, cúi đầu trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, mới ngẩng lên hỏi: “Ý ái khanh là tài của Công Tôn Diễn có thể sánh ngang Công Tôn Ưởng?”
“Bệ hạ!” Chu Uy nói thẳng không chút quanh co, “liệt quốc hôm nay, nhân tài tuy nhiều, nhưng đa phần cũng chỉ thường thường, hoặc giả có thể sử dụng để bảo vệ lãnh thổ, song để tranh giành thiên hạ, lại không có nhiều. Hiện tại, nhân tài có thể giành thiên hạ, theo vi thần thấy, chỉ có hai người, một là Công Tôn Ưởng, hai là Công Tôn Diễn. Bệ hạ, hiện giờ Công Tôn Ưởng dẫn binh tới xâm phạm bờ cõi nước ta, người có thể địch lại hắn, không ai khác ngoài Công Tôn Diễn! Trước lúc lâm chung, Bạch tướng quốc đã dặn đi dặn lại Long tướng quân và vi thần rằng: ‘nước Ngụy đã mất Công Tôn Ưởng, không được lại mất Công Tôn Diễn’. Lời Bạch tướng quốc, xưa nay không sai bao giờ, bệ hạ!”
Ngụy Huệ Hầu trong lòng sửng sốt, chau mày suy nghĩ một hồi, quăng về Chu Uy một cái nhìn bực dọc, rồi đứng dậy ra về.
Chu Uy kinh hãi, phủ phục dưới đất, khấu đầu mà nói: “Vi thần cung tiễn bệ hạ, chúc bệ hạ vạn an!”
Từ phủ Chu Uy trở về, Ngụy Huệ Hầu dặn tỳ nhân không cho bất cứ ai vào gặp, sau đó giam mình trong thư phòng, nhắm mắt suy nghĩ. Ngụy Hầu muốn suy ngẫm lại mọi việc, muốn chỉnh đốn lại từ đầu.
Trước hết là triều hội Mạnh Tân, sau đó là phạt Tần, tiếp đến Công Tôn Ưởng đi sứ, Bạch Khuê tự vẫn để khuyên can, tiếp đến là gì nữa? Phải rồi, là xưng vương! Xưng vương là sai lầm chăng? Vương nghiệp nghìn năm là giấc mơ thuở nhỏ của Ngụy Hầu, giờ Ngụy Hầu tuổi đã ngũ tuần, nếu lúc này không thực hiện, sống còn ý nghĩa gì đây? Tiếp đến là gì? Phải rồi, tiếp đến là phạt Vệ! Vệ Công lẽ nào không thể chinh phạt? Người này nghĩ một đằng, làm một nẻo, Huệ Hầu từ lâu đã căm ghét tới tận xương tuỷ. Hơn nữa, xuất binh cũng không đơn thuần là phạt Vệ, mà là… Tiếp đến thì sao? Là Tuỳ Sào Tử. Phải rồi, Tuỳ Sào Tử. Quả nhiên lão phu tử có con mắt tinh tường, giờ đây mới thấy, con chim sẻ mà lão ám chỉ không phải là ba con khỉ nọ, mà chính là con ưng đen này! Nhưng lúc đó sao Huệ Hầu lại không nhìn ra? Đúng là kẻ trong cuộc u mê, thực sự quá u mê…
Ngụy Huệ Hầu cứ ngồi lì trong phòng, nghĩ ngợi lao lung, cho tới tận sẩm tối. Do Ngụy Hầu đã dặn trước, nên tới giờ ăn tối, cũng không ai dám vào bẩm báo một tiếng.
Trời đã tối hẳn, do nhắm mắt nên Huệ Hầu không hề cảm giác thấy. Tỳ nhân khẽ khàng bước vào, châm vài ngọn nến. Ngụy Huệ Hầu đột nhiên cảm thấy phía trước có ánh sáng, mới biết trời đã tối. Tỳ nhân thấy Huệ Hầu vẫn đang đăm chiêu suy nghĩ, châm nến xong vội vã lui ra, đứng hầu bên ngoài cửa.
Huệ Hầu lại khép mắt, bên tai văng vẳng giọng Chu Uy: “Bệ hạ, hiện giờ Công Tôn Ưởng dẫn binh tới xâm phạm bờ cõi nước ta, người có thể địch lại hắn, không ai khác ngoài Công Tôn Diễn! Trước lúc lâm chung, Bạch tướng quốc đã dặn đi dặn lại Long tướng quân và vi thần rằng, ‘nước Ngụy đã mất Công Tôn Ưởng, không được lại mất Công Tôn Diễn’. Lời Bạch tướng quốc xưa nay không sai bao giờ, bệ hạ!”
“Nước Ngụy đã mất Công Tôn Ưởng, không được lại mất Công Tôn Diễn!” Ngụy Huệ Hầu đứng bật dậy, đi đi lại lại trong phòng, trong miệng lẩm bẩm, “Công Tôn Ưởng, Công Tôn Diễn, cùng là Công Tôn, cùng là môn khách của tướng quốc, cùng được lão tướng quốc trọng dụng.” Rồi đột nhiên như bừng tỉnh, dừng bước, gọi lớn: “Người đâu!”
Tỳ nhân cấp tập bước vào: “Có lão nô!”
Ngụy Huệ Hầu cất giọng sang sảng, ngữ khí kiên định: “Tức tốc phái người tới Hà Tây, triệu hai tướng Công Tôn Diễn, Long Giả về An Ấp gấp!”
Nghe thấy ba chữ “Công Tôn Diễn” từ miệng Ngụy Huệ Hầu, hơn nữa còn xướng trước hai chữ “Long Giả”, tỳ nhân lập tức hiểu ý, dõng dạc đáp lời: “Lão nô tuân chỉ!”
Tỳ nhân quay đi soạn chỉ, vừa ra tới cửa, nhìn thấy thái giám chấp sự dẫn Trần Chẩn hối hả bước tới, thì khẽ chau mày. Trần Chẩn từ xa nhìn thấy tỳ nhân, vội vã vòng tay vái. Tỳ nhân buộc phải dừng bước, vái đáp lễ Trần Chẩn: “Thượng khanh đại nhân, muộn như vậy, vẫn chưa nghỉ ư?”
Trần Chẩn vội nói: “Tại hạ có việc cầu kiến bệ hạ, xin bẩm báo giúp!”
“Bệ hạ buổi chiều có dặn, bất kể ai, cũng không gặp!”
Trần Chẩn sốt ruột: “Việc này cực gấp, hay là…”
Tỳ nhân dứt khoát chìa tay, có ý đuổi khách: “Thượng khanh đại nhân, tính khí bệ hạ thế nào, đại nhân hẳn cũng hiểu rõ!”
Trần Chẩn đang định nài nỉ, từ bên trong bỗng vọng ra tiếng Ngụy Huệ Hầu: “Ai đang nói vậy?”
Tỳ nhân chẳng còn cách nào khác, đành bẩm báo: “Khởi bẩm bệ hạ, là Trần thượng khanh, nói rằng có việc cầu kiến bệ hạ, lão nô đã ngăn lại!”
Vừa nghe là Trần Chẩn, Ngụy Huệ Hầu lập tức sầm mặt xuống, suy nghĩ một lát, bèn lạnh lùng nói: “Người đã tới, cứ cho vào!”
Trần Chẩn bước vào, quỳ xuống dập đầu hô: “Vi thần khấu kiến bệ hạ!”
Ngụy Huệ Hầu lừ mắt nhìn Trần Chẩn: “Muộn thế này, khanh còn muốn tấu chuyện gì?”
Trần Chẩn lại dập đầu, khẽ giọng bẩm báo: “Vi thần nhận được mật báo, sự việc liên quan tới đại cục, nên vội tới yết kiến ngay trong đêm.”
Ngụy Huệ Hầu thoáng ngạc nhiên: “Mật báo gì vậy?”
Trần Chẩn vội lôi từ trong ống tay áo ra miếng da dê do Thích Quang viết. Tỳ nhân nhận lấy, trình lên Huệ Hầu. Huệ Hầu đọc kỹ, chau mày suy ngẫm, một lát sau, ngẩng lên hỏi Trần Chẩn: “Ý ái khanh thế nào?”
“Muôn tâu bệ hạ,” Trần Chẩn nói, “vi thần cho rằng chuyện này là thực. Người Tần đã qua lại hơn chục năm với Long tướng quân, hiểu Long tướng quân như lòng bàn tay, hẳn cũng mong Long tướng quân được làm chủ tướng!”
Ngụy Huệ Hầu ném mật báo lên án, bật cười ha hả. Huệ Hầu cười lớn đến vậy, không chỉ Trần Chẩn, mà đến cả tỳ nhân cũng sững sờ kinh ngạc.
Ngụy Huệ Hầu liếc nhìn mật báo, lại cười vài tiếng, rồi sầm mặt nói: “Trần ái khanh, mật báo này rất hay, đúng là thứ quả nhân muốn thấy!”
Trần Chẩn ngần ngừ một lát, hạ thấp giọng hỏi: “Bệ hạ đã… đã định đoạt xong chủ tướng rồi ư?”
Ngụy Huệ Hầu trịnh trọng gật đầu: “Quả nhân đã định, lần này trọng dụng Công Tôn Diễn làm chủ tướng, Long Giả làm phó tướng, đánh cho người Tần một phen trở tay không kịp!”
Trần Chẩn bàng hoàng sửng sốt, đứng đực ra một lúc mới định thần lại được, lớn tiếng tấu bày: “Bệ hạ, vi thần cho rằng không thoả đáng!”
Ngụy Huệ Hầu lừ mắt nhìn Trần Chẩn, sắc mặt không vui: “Có gì không thoả đáng?”
Trần Chẩn dừng lại một lát, sắp xếp lời lẽ, rồi chậm rãi nói: “Vi thần cho rằng, có ba điều không thoả đáng. Thứ nhất, Công Tôn Diễn từng là môn khách của phủ tướng quốc, thân phận thấp hèn, nếu phong làm chủ tướng, ắt mọi người không phục. Đã không được mọi người phục, sao có thể điều khiển ba quân?”
Ngụy Huệ Hầu gật đầu nói: “Được, đây là điều thứ nhất, vậy còn điều thứ hai?”
“Thứ hai, nếu người Tần biết chủ tướng của quân ta chỉ là một môn khách, sĩ khí tất hưng phấn. Lòng quân phe ta không ổn định, sĩ khí phe địch lại hưng phấn, hai bên giao chiến, một lên cao một hạ thấp, ai thắng ai thua, không đánh cũng biết! Còn thứ ba, Công Tôn Diễn có tài năng hay không, vi thần vẫn thấy nghi ngờ. Khi Long Giả đông chinh, từng lệnh cho Công Tôn Diễn tạm thời làm thú thừa Hà Tây, trao cho hắn hai vạn quân thiết giáp, còn mình dẫn hai vạn tân binh lên đường. Hai vạn quân thiết giáp, ngoài ra còn có lính canh giữ thành ấp các nơi, tuy quân số ở Hà Tây không phải quá nhiều, song cũng tương đối khả quan. Kết quả thế nào? Trường thành thất thủ ngay trong một đêm, ngoài ba thành cô lập Thiếu Lương, Âm Tấn và Lâm Tấn quan, Công Tôn Diễn đã khiến toàn bộ Hà Tây thất thủ chỉ trong ba ngày ngắn ngủi!”
Trần Chẩn đang lúc cấp bách, nói ra một mạch ba lý do không hề hợp lý. Hai lý do đầu tiên, thực chất chỉ là một, vốn đều vô nghĩa, song vì Ngụy Huệ Hầu tâm tư rối bời, không biện biệt được. Tỳ nhân trong lòng sáng tỏ như gương, song triều thần dâng tấu, nội thần không được can dự, chỉ biết bồn chồn đứng hầu bên cạnh.
Nghe Trần Chẩn tấu xong, vầng trán Huệ Hầu lại chau tít, suy nghĩ một lát, Huệ Hầu bèn ngẩng đầu hỏi: “Vậy… theo ý ái khanh, nên phong ai làm chủ tướng?”
Trần Chẩn dõng dạc tấu: “Vi thần cho rằng, có thể phong thượng tướng quân làm chủ tướng. Cũng có ba nguyên nhân. Thứ thất, thượng tướng quân tuổi trẻ hào kiệt, trí dũng song toàn, tinh thông binh pháp, hơn nữa cũng đã giữ chức thượng tướng quân nhiều năm, ba quân tâm phục. Thứ hai, thượng tướng quân danh chấn liệt quốc, người Tần nghe danh mà khiếp vía, lại càng không dò đoán được cách dụng binh của thượng tướng quân. Mật báo cũng nói, Công Tôn Ưởng sợ nhất một người, chính là thượng tướng quân. Thứ ba, thượng tướng quân là cốt nhục của bệ hạ, nếu làm chủ tướng, khác nào bệ hạ thân chinh, sĩ khí ba quân ắt hừng hực ngút trời!”
Trần Chẩn tâu mạch lạc từng lý do, Ngụy Huệ Hầu nghe xong, không khỏi dao động, khẽ gật đầu, hỏi tiếp: “Vậy… theo ý ái khanh, người nào có thể làm phó tướng?”
“Long Giả có thể làm phó tướng! Long Giả thông thạo Hà Tây, cũng thông thạo người Tần, chính là biết mình biết địch. Thượng tướng quân có sức trẻ, Long Giả có chín chắn; thượng tướng quân có kỳ mưu, Long Giả lại thiện chiến. Hai người kết hợp, ắt không ai địch nổi! Đây là sự kết hợp trời ban, mong bệ hạ minh xét!”
Ngụy Huệ Hầu trầm ngâm hồi lâu, rồi chậm rãi gật đầu: “Biết rồi!” Rồi quay sang tỳ nhân, “hai tướng quân Công Tôn Diễn, Long Giả, tạm hoãn triệu hồi!”
Tỳ nhân sững sờ, một lúc mới định thần lại được: “Lão nô tuân chỉ!”
Ngụy Huệ Hầu suy nghĩ suốt một đêm, tới hôm sau mới đưa ra quyết định, nghe theo Trần Chẩn, phong thượng tướng quân công tử Ngang làm chủ tướng, Long Giả làm phó tướng, khởi binh toàn quốc, tới Hà Tây quyết chiến với Tần.
***
Khi công tử Ngang hăm hở dẫn ba quân Đại Ngụy lên đường tới Hà Tây, thì trong cung Tần ở Hàm Dương xa xôi, mọi người múa hát ăn mừng, như thể vừa nhận được tin báo tiệp từ tiền tuyến.
Nhìn cảnh quần thần vui mừng hớn hở, Tần Hiếu Công thở phào nhẹ nhõm, cười nói với Công Tôn Ưởng: “Ái khanh, khanh đúng là đi guốc trong bụng Ngụy Anh. Hễ hắn động khúc ruột nào, khanh cũng có thể nhìn thấu!”
Công Tôn Ưởng cười nói: “Là trời giúp chúa thượng, đâu phải là do Ưởng?”
Tần Hiếu Công cười nói: “Trời giúp quả nhân, song cũng cần phải có mưu trí của Công Tôn Ưởng!”
Cảnh Giám cười vang, góp vào một câu: “Công tử Ngang ở Vệ thảm sát Bình Dương, giết người vô số, khiến người, thần đều phẫn nộ, tiếng xấu lan xa, Ngụy Vương trọng dụng hắn làm chủ tướng, không chiến đã thua rồi!”
Xa Anh giận dữ nói: “Tên này miệng hùm gan sứa, diễu võ dương oai, phải cho hắn nếm mùi khổ nhục!”
Tần Hiếu Công bỗng sực nhớ ra một chuyện, bèn quay sang hỏi Cảnh Giám: “Cảnh ái khanh, nói tới liệt quốc, chúng ta gây chiến ở Hà Tây, các nước Sơn Đông phản ứng ra sao?”
Cảnh Giám trả lời: “Khởi bẩm chúa thượng, Trần Chẩn đã tới Đế Khâu, giảng hoà với Tề, Triệu, Hàn, Vệ, ký kết minh ước láng giềng hoà mục với các nước này. Ba nước Tề, Triệu, Hàn đều đã rút quân! Tả tư mã nước Sở là Chiêu Dương nhân lúc người Ngụy không rảnh rỗi để ý đến phía nam, đã dẫn năm vạn đại quân phạt Tống, nghe nói đã chiếm được Tuy Dương, Bành Thành. Tống Công cầu cứu Tề viện trợ. Hữu tư mã Khuất Vũ dẫn vài vạn quân chinh phạt Kiểm Trung, đã chiếm được nghìn dặm đất!”
Tần Hiếu Công suy nghĩ một lát, quay sang Công Tôn Ưởng, khẽ gật đầu: “Ba nước Tề, Triệu, Hàn đều đã rút quân, chính là tọa sơn quan hổ đấu, chờ quả nhân và Ngụy Anh lưỡng bại câu thương, sẽ làm ngư ông đắc lợi. Xem ra, Sở Vương nam man kia tính toán chu toàn hơn cả, chớp thời cơ này để toan tính mối lợi lớn!”
“Bẩm chúa thượng!” Công Tôn Ưởng chậm rãi nói, “theo vi thần, thế cờ này đã định, bước tiếp theo, ta nên thừa cơ khiêu chiến!”
“Ồ, ái khanh muốn hạ nước cờ ở đâu?”
“Chu thất!”
“Chu thất?” Tần Hiếu Công như chưa nghe rõ, nhìn chằm chằm vào Công Tôn Ưởng. “Hai quân đại chiến Hà Tây, ta nên tập trung vào Hà Tây mới là thượng sách, cớ sao ái khanh lại muốn hạ nước cờ tại Chu thất?”
Công Tôn Ưởng mỉm cười nói: “Bẩm chúa thượng, nước cờ này vẫn là nước cờ định thế cục. Chu thất giống như Thiên Nguyên, hiện tại tuy hạ cờ ở đây không có ích gì, song một khi đã chiếm được vị trí này, sẽ giành đại thắng!”
Tần Hiếu Công là người trí tuệ nhường nào, sao lại không hiểu? Công Tôn Ưởng vừa dứt lời, Hiếu Công đã nói ngay: “Được, theo ý ái khanh, quả nhân sẽ hạ nước cờ này, chiếm lấy Thiên Nguyên!”
“Chúa thượng thánh minh!”
“Song… nước cờ này nên hạ thế nào, còn cần ái khanh giải thích rõ.”
Công Tôn Ưởng chậm rãi nói: “Kết thân!”
Quần thần đều kinh ngạc, Hiếu Công càng bất ngờ hơn: “Kết thân? Tử Vân đã gả cho tên bất tài kia, giờ nghĩ lại quả nhân vẫn đau xót trong lòng! Hơn nữa, quả nhân cũng chỉ có mình Tử Vân, còn đâu con gái nữa mà gả!”
Công Tôn Ưởng cười cười, nói: “Lần trước chúa thượng gả đi Tử Vân công chúa, lần này vi thần sẽ cưới về cho chúa thượng một công chúa, gọi là bù đắp, không biết ý chúa thượng thế nào?”
Tần Hiếu Công kinh ngạc: “Cưới về một công chúa? Là công chúa nước nào?”
Công Tôn Ưởng vẫn cười, nói: “Lần này hạ cờ ở Thiên Nguyên, đương nhiên là công chúa của Chu thiên tử!”
Tần Hiếu Công thoáng chau mày: “Công Tôn ái khanh, trước mắt còn rối như mớ bòng bong, trăm việc vướng bận, quả nhân còn thời giờ đâu mà nghĩ tới việc cưới về một công chúa Chu thất chẳng được ích lợi gì. Ái khanh, khanh nghĩ ra trò gì vậy?”
Công Tôn Ưởng cười sảng khoái, nói: “Chúa thượng, theo vi thần được biết, tuyệt sắc giai nhân trong thiên hạ chỉ có hai người, một là Tử Vân công chúa, hai là Cơ Tuyết công chúa của Chu thất!”
Tần Hiếu Công chau tít đôi mày, nét mặt hơi sầm xuống, cắt ngang: “Công Tôn ái khanh!”
Công Tôn Ưởng đoán Hiếu Công đã hiểu lầm, vội vàng thu lại nụ cười, giải thích cặn kẽ: “Chúa thượng, ý vi thần muốn nói, nếu Cơ Tuyết công chúa là thái tử phi của Tần quốc, thì chúa thượng sẽ trở thành người nhà của thiên tử Đại Chu. Tuy Chu thất đã suy vi, song lòng người thiên hạ vẫn hướng về Chu, cậy mạnh chỉ đoạt được thế, không thể đoạt tâm. Lần trước Ngụy Hầu bỡn cợt thiên tử, nay lại tự lập làm vương, chư hầu thiên hạ đều thấy chán ghét. Nếu chúa thượng làm ngược với họ, ắt thu được hiệu quả diệu kỳ, đẩy Ngụy Anh vào bước đường thất đạo, không ai trợ giúp!”
Tần Hiếu Công cuối cùng đã hiểu ý của Công Tôn Ưởng, thoáng ngượng ngùng, rồi gật đầu liên tiếp mà nói: “Được lắm, kế hay! Tuy Chu thất chỉ còn là cái vỏ, song danh tiếng vẫn có thể lợi dụng.” Lại quay sang Cảnh Giám. “Cảnh ái khanh, hãy lập tức lo liệu chuyện này, sai người tới Chu thất cầu thân!” Dừng lại một lát, nói tiếp, “truyền ngũ đại phu Sư Lý Tật đi sứ!”
Cảnh Giám đáp lời: “Vi thần tuân chỉ!”
Công Tôn Ưởng dặn dò: “Cảnh huynh, hãy dặn Sư Lý Tật, đội ngũ phải rầm rộ, sính lễ phải trọng thể. Đồng thời truyền hịch liệt quốc, để thiên hạ đều biết việc Tần thất và Chu thất kết thân!”
“Hạ quan đã hiểu!”
Trần Chẩn nhận được truyền hịch của nước Tần, vội vã vào cung.
Huệ Hầu xem qua hịch văn, ngạc nhiên sửng sốt: “Gì kia? Tần Công muốn kết thân với Chu thất?”
“Bệ hạ!” Trần Chẩn bước lên tấu, “theo tin từ Hàm Cốc quan báo về, đoàn xe cầu thân của nước Tần đã qua Hàm Cốc được khoảng vài dặm. Chỉ tính riêng xe vận chuyển sính lễ ước chừng đã hơn hai mươi cỗ, kèn trống vang trời suốt dọc đường đi, vô cùng rầm rộ. Chư hầu kết thân, quy mô như vậy thật là hiếm thấy, vi thần cho rằng, bên trong nhất định ẩn giấu mưu mô!”
Ngụy Huệ Hầu cười khẩy một tiếng: “Hừm, Tần Công kia ở đây ủng hộ quả nhân xưng vương, ở kia lại kết thân với Chu thất, hắn tính toán thật tinh ranh!”
“Bệ hạ thánh minh!”
Ngụy Huệ Hầu ngẫm nghĩ một lát, ngẩng lên hỏi: “Mà Chu Vương có bao nhiêu công chúa?”
“Khởi bẩm bệ hạ, Chu Vương có cả thảy bảy công chúa, trong đó năm công chúa là do tần phi sinh ra, tuổi hãy còn nhỏ. Hai công chúa do chính cung Sái hoàng hậu sinh ra, trưởng công chúa Cơ Tuyết năm nay mười sáu, vẫn chưa kết hôn; nhị công chúa Cơ Vũ chưa tới tuổi cập kê!”
“Nói như vậy, Tần Công lần này muốn hỏi cưới trưởng công chúa ư?”
“Đúng vậy!” Trần Chẩn đáp, “nghe nói trưởng công chúa quốc sắc thiên hương, thông minh hiền thục, là tuyệt sắc giai nhân bậc nhất thiên hạ theo lời đồn trong thiên hạ!”
Ngụy Huệ Hầu đưa tay lên vuốt râu, một lát sau, mỉm cười mà nói: “Quả nhân đang muốn chiếu cáo thiên hạ, chọn tần phi cho thái tử. Cô gái này thông minh hiền thục, tài sắc vẹn toàn, thật là thích hợp! Trần ái khanh, khanh mau tới Chu thất một chuyến, chiếu cáo Chu thất, nói rằng bệ hạ Đại Ngụy đã ưng thuận trưởng công chúa của Chu thất, muốn cưới về làm thái tử phi, bảo Chu thất chọn ngày đẹp tiễn con về nhà chồng!”
“Vi thần lĩnh chỉ.”