Chiêu Dương đổ bệnh, việc hệ trọng nhất lúc này, đó là bái ai làm tướng. Hoài Vương triệu vương thúc, Cảnh Thuý, Chiêu Tuy vào cung nghị sự, vương thúc có ý muốn mời cả Khuất Bình, bởi lẽ không thể thiếu người của Khuất môn. Hoài Vương bèn vời Khuất Bình tới, vua tôi năm người bàn suốt từ giờ Ngọ cho tới giờ Thân, vẫn chưa thể chọn ra người thích hợp. Cho tới cuối cùng, Chiêu Tuy dứt khoát tiến cử vương thúc làm chủ tướng. Vương thúc viện cớ từ chối, quay sang tiến cử Cảnh Thuý. Cảnh Thuý xua tay lia lịa.
Không phải hai người không muốn cáng đáng, mà là không dám cáng đáng, bởi lẽ, bày trước mắt họ không phải là vinh nhục của cá nhân, mà là sự sống chết của ba mươi lăm vạn tráng sĩ nước Sở, là vận mệnh tương lai của Đại Sở.
“Tam Lư đại phu,” thấy Khuất Bình từ đầu tới cuối không nói một lời, Hoài Vương nhìn sang, “khanh hẳn có tiến cử thích hợp?”
“Thần không có.” Khuất Bình khẽ đáp, “thần chỉ có một khúc mắc, dám mong đại vương chỉ giáo.”
“Khúc mắc gì?”
“Cớ sao lại phải phạt Tần?”
“Khanh…” Hoài Vương cười gượng, nhún vai mà đáp, “chuyện này mà cũng phải hỏi ư? Con đường yết hầu trong sáu trăm dặm Thương Ư, trước sau đã nhuộm máu của mười vạn liệt sĩ, lẽ nào còn chưa đủ?”
“Hồi bẩm đại vương, thần cho rằng, còn xa mới đủ.” Khuất Bình vẫn khăng khăng.
“Quả nhân thêm hai điều nữa, Trương Nghi dối quả nhân, Tần Vương dối quả nhân, thế đã đủ chưa?”
“Càng không phải lý do!” Khuất Bình gạt đi.
“Khuất Bình!” Hoài Vương mặt biến sắc, “khanh nói xem, tại sao không phải lý do?”
“Hồi bẩm đại vương,” Khuất Bình giọng đầy cảm khái, “thần từ nhỏ đã đọc sử nước Sở, nước Sở chiến bại không chỉ một hai lần, người Sở xả thân vì nước cũng không chỉ mười vạn tám vạn, song không phải lần nào cũng nhất định phải phục thù. Dù có phục thù, cũng ít khi phục thù ngay lập tức. Còn như đường yết hầu sáu trăm dặm Thương Ư, không biết đại vương đã từng nghe nói tới một chuyện cũ xảy ra ở nước Ngụy?”
“Khanh cứ nói.”
“Ngụy Vũ Hầu dẫn chư đại phu ngao du Tây Hà.” Khuất Bình dõng dạc đáp, “nhìn thấy nước sông cuồn cuộn, hai bên bờ vách đá dựng đứng như tường thành, Vũ Hầu trong lòng cảm khái, cất lời khen ngợi: ‘Tráng lệ thay, núi sông hiểm trở, ta còn gì phải lo lắng nữa?’ Đại phu Vương Chung lập tức đáp rằng: ‘Chỗ mạnh của Tần, chính là ở đây, nếu như khéo tận dụng, có thể thành tựu nghiệp bá vương.’ Ngô Khởi liền phản bác mà rằng: ‘Lời của chúa thượng, sẽ nguy đến nước; ông còn hùa theo, là nguy càng thêm nguy’ Vu Hầu sầm mặt giận dữ: ‘Ngô Khởi, khanh nói vậy, là có ý gì?”’
Hoài Vương lấy làm hiếu kỳ, nhìn Khuất Bình chăm chú: “Ngô Khởi nói sao?”
“Hồi bẩm đại vương,” Khuất Bình tiếp lời, “Ngô Khởi đáp rằng: ‘Núi sông hiểm trở, chưa bao giờ đủ để hộ quốc; sự nghiệp bá vương, chưa bao giờ nhờ vào hiểm trở. Nhìn lại thời xưa, nơi ở của Tam Miêu, bên trái có hồ Bành Lãi sóng dồn, bên phải có hồ Động Đình nước lớn, núi Văn Sơn phía nam, núi Hoành Sơn phía bắc. Tuy có non nước hiểm trở này, song trị lý kém cỏi, cuối cùng bị Đại Vũ đuổi đi. Nước của Hạ Kiệt, bên trái có núi Thiên Môn, bên phải có sông Thiên Khê; Lư Sơn, Cao Sơn ở phía bắc, Y Thuỷ, Lạc Thuỷ ở phía nam. Tuy có non nước hiểm trở này, song trị lý kém cỏi, cuối cùng bị Thương Thang tiêu diệt. Nước của An Trụ, bên trái có núi Mạnh Môn, bên phải có sông Chương, Phẫu, trước có Hà Thuỷ, sau có Thái Hàng. Tuy có non nước hiểm trở này, song trị lý kém cỏi, cuối cùng bị Vũ Vương thảo phạt. Còn như chúa thượng đây, chẳng phải cũng đã thống lĩnh bề tôi đánh thành cướp đất vô số? Những thành ấp đó, đâu phải không cao, những tường luỹ đó, đâu phải không dày, những dân chúng đó, đâu phải không đông, vậy mà vẫn bị chúa thượng tiêu diệt, nguyên nhân không phải gì khác, đều do trị lý kém cỏi. Nhìn vào đó mà thấy, địa hình hiểm trở, không đủ để thành tựu nghiệp bá vương!”
“Nhưng quả nhân…” Hoài Vương im bặt một lát, rồi giọng nói rít qua kẽ răng, “thực sự nuốt không trôi mối hận này! Không bắt được Trương Nghi, không san bằng Tần Xuyên, quả nhân…”
“Than ôi, đại vương!” Khuất Bình thở dài cắt ngang, “thân là vua của Đại Sở, sao đại vương có thể mang sinh mạng của ba mươi lăm vạn con dân ra trút hận trong một chốc?”
“Khuất Bình, ngươi…” Hoài Vương giận tới tím tái mặt mày, chỉ vào Khuất Bình, toàn thân run bắn, “đủ rồi!”
“Đại vương, dụng binh khi nóng giận, là đại kỵ xưa nay!” Khuất Bình không những không im, mà càng thêm cao giọng, gần như quát lên.
“Ra ngoài…” Hoài Vương chỉ ra cửa điện, thét lớn.
Khuất Bình liền đứng ngay dậy, ngẩng cao đầu, sải bước đi ra.
Hoài Vương sắc mặt trắng bệch, thở phì phò một thôi một hồi, rồi nhìn sang ba vị trọng thần đang mỗi người một vẻ bàng hoàng bên cạnh: “Chuyện chủ tướng, không bàn thêm nữa!” Đoạn gằn mạnh từng tiếng, “quả nhân thân chinh!” Nhìn vương thúc, Cảnh Thuý, “hai khanh làm phó tướng! Mau lui ra!”
Mười ngày sau, Hoài Vương ban chiếu phạt Tần, ngự giá thân chinh, tự làm chủ tướng, nhiệm vương thúc, Cảnh Thuý làm phó tướng, Chiêu Ngư làm tiên phong, dốc hết quốc lực phạt Tần.
Trong ngoài triều đình một phen chấn động.
Hoài Vương một khi đã quyết, quả đoán vô cùng. Ngay sau hôm ban chiếu, Hoài Vương mật lệnh cho Chiêu Ngư, Cảnh Khuyết tức tốc tới Đan Dương, chia thành hai lộ đông tây, nhất tề tấn công sơn cốc Thương Ư. Tây lộ là Chiêu Ngư, đông lộ là Cảnh Khuyết.
Chiến sự bùng nổ ở ngả tây trước tiên. Sau trận Đan Dương, chiến sự tuy dừng, song quân Sở chưa rút về, mà vẫn đồn trú ở xung quanh, nhất là quanh ải Man Xuyên, lại càng đồn quân dày đặc. Nhận được vương mệnh, quân trấn giữ ải Man Xuyên được điều chuyển cho Chiêu Ngư chỉ huy, chia làm nhiều ngả đánh lên phía bắc.
Kể từ khi ải Man Xuyên thất thủ, người Tần đã dựng luỹ đặt ải trên hầu khắp mọi nẻo đường núi ở phía bắc ải này. Tuy nhiên, cánh quân chủ lực của Sở đa phần là tráng hán núi Ba, lại thấy Sở Vương thân chinh, thì càng sĩ khí ngút trời, sôi sục quyết tâm báo thù nhà nợ nước, không đỉnh núi nào không thể trèo qua, không khe núi nào không thể vượt nổi. Họ không đi đường núi, mà chuyên luồn lách trong núi cao rừng rậm, khát thì uống nước suối, đói ăn thịt thú rừng, hết tên thì vót tre tại chỗ, xuất quỷ nhập thần khác nào quỷ núi, thình lình xông ra trước mũi người Tần, khiến người Tần đề phòng không xuể. Trước sau chưa tới mười ngày, thành luỹ trùng trùng của người Tần đa phần thất thủ, lại thêm nửa tháng, người Sở đã chiếm cứ phần lớn vùng núi phía bắc ải Man Xuyên, phía nam đường núi Thương Ư, ép sát tới gần sơn cốc Thương Ư.
Hoài Vương nhận được tin báo, tức tốc tăng cường ba vạn quân, men theo các ngả đường núi đã hoàn toàn thông suốt, khí thế hừng hực, đội ngũ rùng rùng tràn tới, sau khi cắt đứt đường sơn cốc, chia quân hai ngả, một ngả tấn công ải Nghiêu Quan, vần đá dựng luỹ tại nơi hiểm yếu; ngả còn lại bao vây Thương Thành, đánh ải Vũ Quan.
Cùng lúc này, Cảnh Khuyết dẫn quân đông lộ cũng đã khai chiến. Cả vạn lính Sở men theo sông Kỳ Thuỷ tiến lên phía bắc, tập kích phá tan thành luỹ người Tần đã dựng bên lũng sông Kỳ Thuỷ, đánh vào các thôn ấp xung quanh, cắt ngang đường sơn cốc Thương Ư, lại vần đá dựng luỹ ở phía đông và phía tây cách thôn ấp năm dặm, cắt đứt hoàn toàn đường sơn cốc Thương Ư, bố trí canh phòng cẩn mật.
Cho đến lúc này, tuyến đường từ ải Kinh Tử tới lũng sông Kỳ Thuỷ, gồm mười dặm đường sơn cốc kéo dài từ đông sang tây, đã hoàn toàn nằm trong tay người Sở. Tất cả các con đường giao thông giữa ải Tây Vũ và ải Đông Vũ, giữa Thương Thành và Ư Thành, đều đã bị người Sở cắt đứt.
Ngụy Chương lòng như lửa đốt.
Trong trận chiến lần trước, Tần Vương cấp cho Ngụy Chương mười ba vạn quân, tử chiến sáu vạn, còn lại bảy vạn, trong đó không ít binh lính vẫn đang dưỡng thương, chiến lực sụt giảm trầm trọng. Tần Vương có hứa sẽ bổ sung binh lực, song do cuộc chiến đã kết thúc, nên không lấy làm gấp gáp. Nào ngờ người Sở không buồn nghỉ ngơi, loáng cái đã lại dẫn quân đánh tới.
Quan trọng là, binh lực của Ngụy Chương đa phần đặt ở phía đông ải Vũ Quan, bên phía Thương Thành, do có Nghiêu Quan che chở, nên chỉ để lại ba vạn binh mã trấn giữ, trong đó có đến gần một nửa phải canh phòng trên các con đường núi phía nam sơn cốc, đến giờ đã tử thương gần hết trong các trận đột kích của người Sở.
Ngụy Chương đành phải lệnh cho các bộ từ bỏ đường núi, cố thủ thành ấp, đồng thời gửi cấp báo về Hàm Dương.
Thế hiểm của Thương Ư, chủ yếu nằm ở vùng núi hai bên đường núi. Nếu như vùng núi thất thủ, đường sơn cốc Thương Ư bị cắt đứt, hậu quả khó lòng tưởng tượng. Huệ Vương gấp rút hạ chỉ cho Cam Mậu dẫn năm vạn quân rời ải Nghiêu Quan tới chi viện, đồng thời triệu tập các trọng thần ngay trong đêm đó, bàn kế ứng phó.
Những người nghị sự vẫn như cũ, gồm thái tử Đãng, Trương Nghi, Tư Mã Thác, công tử Tật, công tử Hoa, ngoài ra có thêm con trai của Xa Hy Hiền là Xa Vệ Quân, lúc này đã tấn tước tả thứ trưởng, nhậm chức giá tiền ngự sử, phụ trách ghi chỉ ban lệnh.
Lên tiếng đầu tiên là công tử Hoa, trải rộng địa đồ, chậm rãi bẩm báo một lượt về tình hình đất Sở mà mình đã nghe ngóng được, quan trọng nhất là chuyện Hoài Vương triệu Chiêu Dương về kinh làm tướng, song Chiêu Dương bệnh nặng không đi nổi, Hoài Vương không tìm được chủ tướng thích hợp, đã tự làm chủ tướng thân chinh, nhiệm vương thúc và Cảnh Thuý làm phó tướng. “Tin này, thần mới nhận được hôm qua.” Công tử Hoa lại mở một bức mật báo, “Sở Vương trưng ba vạn binh từ đất Việt, điều ba vạn binh từ quận Kiềm Trung, điều ba vạn binh từ Phương Thành, trưng ba vạn binh người Ba từ đất Dung, điều hai vạn binh từ Hạ Đông Quốc, điều một vạn binh từ Tương Lăng, tổng cộng đã tăng mười lăm vạn binh cho chiến tuyến Uyển, Tương, Đan Dương. Có điều, số quân này muốn tới được Uyển Tương, chí ít cũng cần một tháng nữa.”
Tăng binh mười lăm vạn!
Trước trận Đan Dương, quân Sở đã có hai mươi sáu vạn, trừ đi tám vạn tử chiến, cộng với hai vạn thọ thương, có lẽ vẫn còn mười sáu vạn. Giờ lại thêm viện binh, tổng cộng lên đến ba mươi mốt vạn.
Ba mươi mốt vạn, đều là binh lính thiện chiến!
Mọi người đưa mắt nhìn nhau, rồi mọi ánh mắt cùng đổ dồn vào Huệ Vương.
“Hoa đệ tính toán rất chi tiết.” Huệ Vương cười buồn, “nhưng vẫn bỏ sót một cánh, đó là vương sư. Sở Vương có sáu cánh vương sư, gồm mười hai vạn, sáu vạn đã ở Đan Dương. Giờ Sở Vương lại thân chinh, chắc chắn sẽ đánh cược toàn bộ, chỉ để lại hai vạn trấn thủ Sính Đô, bốn vạn còn lại, cũng sẽ lên đường.”
Nếu Sở Vương làm như thế thực, vậy thì đại quân tham chiến, sẽ là ba mươi lăm vạn.
Ba mươi lăm vạn! Có dốc hết toàn bộ binh lực của nước Tần, gồm cả lính thú trấn giữ trọng ải thành trì, cũng không thể đủ số đó. Tuy nhiên, với nước Sở đất rộng người đông, con số đó hiển nhiên vẫn chưa phải là toàn bộ.
“Xem ra, chúng ta không nên chọc giận con gấu lớn này!” Huệ Vương lại cười buồn mà nói.
“Vậy thì phải hỏi xem, là ai đã chọc giận con gấu thối ấy?” Thái tử Đãng tiếp lời, khoé mắt liếc xéo về phía Trương Nghi.
Rất hiển nhiên, chính Trương Nghi đã khơi dậy cơn giận dữ đó. Nên mọi ánh mắt lại đổ dồn vào Trương Nghi.
Trương Nghi ngồi vững như chuông, hai mắt khép hờ, cứ như thể chưa từng nhìn thấy, cũng chưa từng nghe thấy chuyện này.
“Phải rồi,” Huệ Vương lại thình lình buông một câu, “vẫn còn một món nợ lớn chưa tính đến.”
Mọi ánh mắt đều chuyển hướng nhìn sang Huệ Vương, ngoại trừ Trương Nghi.
“Chính là món nợ của chúng ta.” Huệ Vương nói tiếp, “trong trận chiến Đan Dương lần trước, ta tuy chiến thắng, song tổn thất nặng nề, tử chiến sáu vạn, thọ thương hơn vạn, không ít binh sĩ đã thành tàn phế, không thể tiếp tục xung trận. Sáu vạn ấy, mà phải tính là bảy vạn mới đúng, đều là binh lính thiện chiến, nhất thời không thể huấn luyện để bổ sung ngay được. Và cả quân nhu, cũng là một khoản rất lớn. Không ít quân nhu đang trữ ở Thương Ư, đều là tích luỹ đã nhiều năm. Nếu như để mất Thương Ư, cái khác tạm chưa tính đến, chỉ riêng quân nhu, hậu quả đã khó lòng tưởng tượng.”
Không khí trong điện mỗi lúc càng thêm nặng nề, dù là thái tử Đãng cũng không dám lên tiếng. Ba quân tham chiến, trung nghĩa chỉ là bề ngoài, lương thảo quân nhu mới là chỗ dựa và niềm tin thực sự của tướng sĩ. Tự cổ chí kim, lương thảo mất mà lòng quân không lung lay là chuyện gần như chưa từng có.
Đúng vào lúc này, nội thần hối hả bước vào, trình lên cấp báo từ ải Nghiêu Quan do Cam Mậu gửi về, báo rằng người Sở đã cắt đứt hoàn toàn đường sơn cốc Thương Ư, dựng luỹ bên ngoài Nghiêu Quan, cản trở viện binh, Cam Mậu đang dốc sức tấn công, cố gắng đánh lui người Sở, mở thông đường đi.
Tình hình lại càng thêm nghiêm trọng. Nếu người Sở đã dựng luỹ bên ngoài Nghiêu Quan, thì không biết con đường sơn cốc Thương Ư dài dằng dặc những sáu trăm dặm phía đông Nghiêu Quan đã bị cắt làm mấy khúc. Vậy thì đám Ngụy Chương cũng chỉ còn biết cố thủ thành trì, chờ đợi viện binh mà thôi.
Thế nhưng, viện binh làm thế nào để tới được? Trong đường sơn cốc Thương Ư có rất nhiều cửa ải hiểm yếu, chỉ cần người Sở kiểm soát được vách núi hai bên, liền có thể dựng luỹ đắp tường, vậy thì người Tần sẽ phải đánh ải đến bao giờ mới hết.
Trong điện, bầu không khí im lìm chết chóc.
“Ta sợ quái gì!” Thái tử Đãng thình lình vỗ đánh rầm xuống án, “phụ vương, hãy để nhi thần dẫn quân tới đó, xem có xé xác con…” Thấy Huệ Vương trừng mắt nhìn lại, thì nuốt vội chữ “gấu” xuống họng, im thin thít.
“Doanh Đãng, nghe chỉ!” Huệ Vương vẫn không buông tha, ánh mắt uy nghiêm nhìn xoáy vào Doanh Đãng.
“Nhi thần nghe chỉ!” Thái tử Đãng vội ngồi ngay ngắn lại.
“Kể từ hôm nay, thái tử tuyệt đối không được phép tham dự vào việc quân, nếu dám trái chỉ, phạt theo Tần pháp!” Huệ Vương dứt lời, liền quay sang Xa Vệ Quân, “ghi lại!”
Xa Vệ Quân lập tức ghi chỉ.
Rồi Huệ Vương lại nhìn thái tử Đãng, gằn giọng hỏi: “Ngươi đã nhớ chưa?”
“Nhi thần…” Thái tử Đãng cắn chặt môi, miễn cưỡng nặn ra hai tiếng, “đã nhớ.”
Huệ Vương quay lại, đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần: “Ngự địch thế nào, các khanh hẳn có kế hay?”
Ngồi ở hàng đầu, Trương Nghi vẫn vững như bàn thạch, hai mắt lim dim.
“Quân tới tướng ngăn!” Khi ánh mắt Huệ Vương quét tới, Tư Mã Thác siết chặt nắm tay, cất giọng khảng khái.
“Khanh nói thử xem, ngăn thế nào?”
“Ta chia quân ba ngả, ngả thứ nhất, xuất binh Hàm Dương, tấn công trực diện, cố thủ Nghiêu Quan. Ngả thứ hai, xuất binh Nam Trịnh, về đông đánh đoạt Hán Trung, bức bách Sính Đô. Ngả thứ ba, xuất binh Giang Châu, đánh thẳng vào Sính!” Tư Mã Thác nói liền một mạch, mọi người nghe mà khí huyết sục sôi.
“Hay lắm!” Huệ Vương gật đầu liên tiếp, nhìn sang công tử Tật và công tử Hoa, “hai khanh có kế gì chăng?”
“Thần tán đồng quốc uý!” Hai người ôm quyền đáp.
Ánh mắt Huệ Vương lướt qua Doanh Đãng, dừng lại ở Trương Nghi.
Trương Nghi vẫn lim dim mắt ngồi nghiêm trang.
“Tướng quốc?” Huệ Vương gọi đích danh, rồi lại nhấn mạnh thêm lần nữa, “Trương tướng quốc?”
Trương Nghi từ từ mở mắt.
“Tháo chuông phải tìm người buộc chuông. Quả chuông trên cổ con gấu này là do tướng quốc buộc vào, giờ phải tháo nó ra rồi!” Huệ Vương nhịp ngón tay xuống án chờ đợi.
“Chẳng phải có người tháo rồi đấy ư?” Trương Nghi khẽ cười, nhìn sang Tư Mã Thác.
“Đó là cách tháo của quốc uý! Quả nhân muốn nghe cách tháo của khanh!”
“Cách gỡ của thần, có một phần giống với quốc uý.”
“Phần nào?”
“Ngả thứ nhất, xuất binh Hàm Dương, tử thủ Nghiêu Quan. Có thể bổ sung một điều, phía sau Nghiêu Quan, hãy đặt thêm một ải nữa, ải Lam Điền.”
“Ải Lam Điền?” Huệ Vương hít vào một hơi, lại hỏi, “đặt ở đâu?”
“Chính là nơi thần trượt chân ngã lần trước.”
“Được!” Huệ Vương bật cười, nhưng nụ cười lại tắt ngấm lập tức, “nói xem, cớ sao tướng quốc lại không tán đồng hai lộ quân còn lại?”
“Đó gọi là liều chết!”
“Nghiêu Quan, chẳng phải cũng là liều chết đó ư?”
“Nghiêu Quan, không thể không liều chết!”
Hiển nhiên, mưu kế của Trương Nghi không ở chiến trường, lại càng không ở đấu sức.
Huệ Vương phấn chấn ra mặt, ánh mắt dán vào Trương Nghi, như không muốn bỏ sót mất một từ.
Trương Nghi lại khép mắt.
“Nói đi, tướng quốc!” Huệ Vương sốt ruột giục giã.
“Vừa nãy, đại vương nói nước Sở là con gấu lớn, điện hạ nói nước Sở là con gấu thối. Gấu lớn cũng thế, mà gấu thối cũng vậy, thần chỉ muốn hỏi một câu, nếu ta gặp phải gấu thực, phải đấu với nó thế nào?” Trương Nghi hai mắt vẫn khép, chỉ có tiếng nói cất lên.
Vào thời khắc này, Trương Nghi lại buông ra mấy câu không đầu không cuối, lại mang lời nói của đại vương và thái tử ra để dẫn dắt, mọi người đều ngẩn ra nhìn nhau, không hiểu thế nào.
“Tư Mã tướng quân,” Trương Nghi mở mắt, nhìn sang Tư Mã Thác, “tướng quân sở trường đánh gấu, hãy nói xem, phải đấu với gấu thế nào? Con gấu đang đứng trước mặt tướng quân, to cao lực lưỡng, da dày, sức lớn, chặn kín lối vào nhà tướng quân, giận dữ điên cuồng, bởi tướng quân đã lấy mất con của nó, đánh đập con của nó, nên nó mới tìm tới tận cửa để báo thù.”
“Tại hạ…tại hạ…” Tư Mã Thác ấp úng, “phải rồi, tại hạ sẽ đâm vào hậu môn nó!”
Mọi người cười ồ lên, đến Huệ Vương cũng nhịn không nổi, phì cười thành tiếng.
Duy chỉ Trương Nghi không cười, mà nghiêm túc nhìn thẳng vào Tư Mã Thác: “Đâm như thế nào?”
“Tại hạ…” Tư Mã Thác vò đầu bứt tai, “nhưng tại hạ đâu có ra ngoài được!”
“Này tướng quốc đại nhân,” Huệ Vương đã nghe ra ẩn ý, bèn nín cười, nhìn sang Trương Nghi, “đừng vòng vo nữa, mau nói xem, đâm như thế nào.”
“Hồi bẩm đại vương,” Trương Nghi vòng tay đáp, “đâm bốn nhát!”
“A?” Huệ Vương sửng sốt, đổ người lại giục, “nói mau!”
“Nhát thứ nhất, thần xin đi sứ sang Hàn. Nhát thứ hai, thần xin đi sứ sang Ngụy. Nhát thứ ba, thần xin đi sứ sang Tề.” Trương Nghi nói liền một hơi ba cách, đều là tự thỉnh mệnh làm sứ thần, du thuyết ba nước Hàn, Ngụy, Tề, để họ xuất binh.
“Được, được, được!” Huệ Vương đáp liền ba tiếng, lại càng ngả người sát lại, “còn một nhát nữa?”
Trương Nghi nhìn sang Tư Mã Thác.
“Tại hạ…” Tư Mã Thác ngơ ngác, “phải đâm vào đầu?” Mọi người lại cười ồ. “Kiềm Trung!”
Không ai cười nữa.
Đây quả là diệu kế, tránh thực đánh hư, xứng đáng là thượng sách ngự địch.
Huệ Vương khép mắt ngẫm nghĩ, hồi lâu sau mới nhìn sang Trương Nghi, vòng tay nói: “Tần được tướng hiền, còn hơn mười vạn đại quân!”
“Thần không dám!” Trương Nghi đáp lễ.
“Chư vị khanh tướng,” Huệ Vương quay sang quần thần, “về kế ngự địch, không cần bàn nữa, cứ theo kế sách của tướng quốc. Tư Mã Thác nghe chỉ!”
“Có thần!” Tư Mã Thác vòng tay hô lớn.
“Khanh dẫn năm vạn binh mã đất Thục, xuất quân Giang Châu, đoạt lấy quận Kiềm Trung, từ đó chĩa mũi nhọn về Sính Đô!”
“Thần thụ mệnh!” Tư Mã Thác dõng dạc đáp.
“Tật đệ?” Huệ Vương nhìn sang công tử Tật.
“Có thần.” Công tử Tật vòng tay đáp.
“Hãy tới Nam Trịnh, canh phòng Hán Trung thật sát sao, không được để vương thúc vượt qua biên giới!”
“Thần tuân mệnh.”
“Hoa đệ,” Huệ Vương nhìn sang công tử Hoa, “theo quả nhân tới Lam Điền, canh giữ cổng chính!”
“Vương huynh…thân chinh ư?” Công tử Hoa kinh hãi.
“Hùng Hoè tìm tới tận cửa, quả nhân không ra chào hỏi, chẳng phải thất lễ lắm ư?” Huệ Vương nói đoạn, quay sang vòng tay với Trương Nghi, “còn những chuyện khác, phải nhọc tới tướng quốc!”
“Thần thụ mệnh!” Trương Nghi đáp lễ.
Huệ Vương cuối cùng đã có thể phá lên cười sảng khoái: “Tỉ dụ của tướng quốc, thực hay, gấu lớn giận dữ chặn cửa, quả nhân cùng Hoa đệ giữ cửa chính, ngáng miệng nó lại. Tật đệ canh cửa bên, chặn móng vuốt nó lại. Còn việc đâm vào hậu môn của nó, sẽ giao cho tướng quốc và quốc uý. Quốc uý đánh xuống phía nam tới Kiềm Trung, chính là đâm dọc; tướng quốc đi sang phía đông tới ba nước Hàn, Ngụy, Tề, chính là đâm ngang. Hai khanh đâm dọc ngang bốn nhát, quả nhân thực sự muốn xem, hậu môn của con gấu ấy có thể to lớn chừng nào?”
Mọi người đều cười rộ, chỉ có thái tử mặt mũi ỉu xìu.
Đợi tiếng cười dứt hẳn, thái tử mới vòng tay, giọng điệu nhún nhường hơn hẳn, ánh mắt cũng trở nên ôn hoà: “Phụ vương, nhi thần…thỉnh mệnh!”
“Ồ, phải rồi.” Huệ Vương nhìn sang Doanh Đãng, “thái tử nghe chỉ!”
“Có nhi thần!” Thái tử Đãng giọng lại sang sảng.
“Trấn thủ Hàm Dương, không được sơ suất, tuyệt không được phép xuất thành!”
Tình thế cấp bách, Trương Nghi không dám chậm trễ, ngay sáng sớm hôm sau khởi giá đăng trình, đi qua Lạc Dương, thẳng tới kinh đô Tân Trịnh nước Hàn. Khi sắp tới Trịnh Đô, Trương Nghi giao hai sứ tiết và quốc thư còn lại cho hai sứ thần tuỳ tùng, dặn dò kỹ lưỡng, rồi để một người đi sứ sang Ngụy, một người đi sứ sang Tề.
Trương Nghi qua cổng thành, tới vương cung Hàn, lấy danh nghĩa sứ thần vào yết kiến Hàn Vương, trình lên quốc thư điếu viếng của Tần Vương. Hàn Vương nhận quốc thư, cảm tạ Tần Vương, rồi lệnh cho đại hành nhân đưa sứ Tần tới dịch quán sắp xếp chỗ nghỉ.
Hàn Vương mà Trương Nghi yết kiến, chính là Tương Vương Hàn Thương mới lên ngôi năm ngoái.
Với toàn thiên hạ, trong năm Canh Tý vừa qua, không một nhà nào được hưởng thái bình, với Sở là lũ lụt, với Tần là đại chiến, với Bắc Hồ là hạn hán, với Yên là nội loạn, với Triệu là chinh Hồ, với Ngụy là mất ba thành vào tay Tần, với Tề và Trung Sơn là sa chân vào loạn nước Yên, còn với Hàn, chính là mất chúa.
Hàn Vương băng hà năm ngoái là Hàn Khang, vị quân chủ xưng vương đầu tiên của nước Hàn, mất trong một ngày mùa đông gió rét căm căm.
Kể ra thì Hàn Khang tuyệt mệnh cũng là tự làm tự chịu. Chập tối hôm đó, Hàn Khang đi săn trở về, lúc xa giá đi ngang qua cánh cổng lớn dựng từ thời tiên quân Chiêu Hầu, bỗng nghe có người chỉ về phía trời tây hô lớn: “Xem kìa, rồng đỏ nuốt mặt trời!” Rồi mọi người cùng ngỏng cổ nhìn trời. Hàn Khang nổi hứng, bèn bỏ xe trèo lên cổng cao, muốn nhìn cho rõ cảnh ráng chiều như rồng đỏ, nào ngờ lại xảy ra chuyện không hay. Mấy hôm trước, Trịnh Thành đổ một trận mưa tuyết không lớn lắm, sau đó, phần lớn tuyết đọng đều tan thành nước chảy đi hết, bậc đá sạch bong, duy chỉ bậc trên cùng còn đọng một vũng nước, lúc này gió lạnh thổi về, đã đóng thành băng. Tuyên Huệ Vương vừa đặt chân trước xuống, nhấc chân sau lên, thì trượt một cú thẳng cánh, cơ thể phốp pháp đổ nhào, lăn lông lốc xuống theo bậc đá, va ngã liền hai thị vệ, vương miện văng đi, đầu trần đập mạnh vào tường gạch cứng, tắt thở tại chỗ.
Hàn thất đại tang, phái người tới Hàm Dương đón thái tử Hàn Thương đang làm con tin ở Tần về nước, lập làm tân Hàn Vương, chính là Hàn Tương Vương, đặt thuỵ hiệu cho tiên vương Hàn Khang là Tuyên Huệ Vương.
An trí cho Trương Nghi xong rồi, Tương Vương Hàn Thương lập tức cho vời tướng quốc Công Tôn Diễn và lão thần Công Trọng Minh vào nghị sự. Công Trọng Minh là trọng thần từ thời Chiêu Hầu, tới thời Tuyên Huệ Vương được phong tướng quốc. Sau khi Công Tôn Diễn sang Hàn, Tuyên Huệ Vương đã cho Công Tôn Diễn thế chỗ Công Trọng Minh, cho ông ta chuyển sang làm thái phó, phò tá thái tử Hàn Thương, đến nay đã trở thành lão thần ba triều. Nay Hàn Thương lên ngôi vua, là thầy dạy của thái tử, Công Trọng Minh lại được trọng dụng, mỗi khi gặp đại sự, Hàn Vương đều nghe theo ông ta, mà lạnh nhạt với Công Tôn Diễn.
Công Tôn Diễn cũng đã chán ngấy ở Hàn, có ý bỏ đi, chỉ là chưa tìm được cớ. Tuyên Vương đưa quốc thư của Tần cho Công Tôn Diễn. Công Tôn Diễn đọc xong, đưa cho lại Công Trọng.
“Tướng quốc, thái phó,” Tuyên Vương vòng tay với từng người, “Tần Sở giao chiến, sứ Tần tới cửa, hẳn là muốn hẹn ta cùng phạt man Sở. Người Tần, đại hoạ của ta, người Sở, cường địch của ta. Một bên là đại hoạ, một bên là cường địch, ta kẹp ở giữa, lại còn sông núi nối liền, sáng đi tối tới, trái phải đều không thể đắc tội. Nay tiên vương buông tay về trời, quả nhân tuổi nhỏ non nớt, ứng phó thế nào, vẫn phải thỉnh cầu hai vị mưu tính giúp cho!”
Công Tôn Diễn, Công Trọng Minh đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng khép mắt ngồi im.
Qua một lát, Tương Vương gượng cười một tiếng, nhìn sang Công Tôn Diễn, ôm quyền: “Tướng quốc?”
“Hồi bẩm đại vương,” Công Tôn Diễn mở mắt, vòng tay đáp, “năm xưa khi thần còn ở trong phủ ân sư Bạch Khuê, có nghe Bạch tướng quốc kể một câu chuyện thú vị, không biết đại vương có muốn nghe chăng?”
“Là chuyện gì?”
“Là câu chuyện về một ngư dân.” Công Tôn Diễn dõng dạc tiếp lời, “Bạch tướng quốc dạo chơi chốn đầm hoang, giữa đường chợt thấy một ngư dân xách theo con cò từ dưới đầm đi tới. Bạch tướng quốc trông thấy trong mỏ con cò cắp một con trai lớn, nhìn kỹ lại, thì thấy con trai kia đang kẹp chặt mỏ cò. Bạch tướng quốc lấy làm ngạc nhiên, bèn giữ ngư dân lại hỏi. Ngư dân mới kể rằng, cò mổ thịt trai, trai kẹp mỏ cò, hai bên giằng co, không bên nào chịu nhả, nên cũng không bên nào thoát được, vậy là ngư dân tiện tay chụp luôn cả cò lẫn trai.”
“Ý tướng quốc muốn nói,” Tuyên Vương ngả người lại hỏi, “ta không giúp Tần?”
“Tự cổ chí kim, dụng binh ở nghĩa.” Công Tôn Diễn đáp lời, “nước lớn phạt nước nhỏ, nước nhỏ cầu cứu, đại vương xuất binh trợ giúp, là vì nghĩa. Sở, là nước lớn nhất thiên hạ; Tần, là nước mạnh nhất thiên hạ, nay hai bên giao tranh, đã không còn là cò trai tranh giành nữa, mà là hùm beo tranh bá. Hàn là nước nhỏ, giống như con linh dương kẹp giữa hai bên. Nay hùm beo tranh giành, có lẽ ý ở linh dương. Dám hỏi đại vương, thân là linh dương, nên giúp hùm hay giúp beo đây?”
“Tướng quốc nói phải!” Tương Vương gật gù, “tuy nhiên, tướng quốc Tần Trương Nghi đã đích thân đi sứ đến nơi, nếu quả nhân cự tuyệt, há chẳng phải đắc tội với Tần ư?”
“Sài lang mãi mãi là sài lang, nước Tần mãi mãi là nước Tần. Đắc tội cũng thế, mà không đắc tội cũng vậy, đối với nước Hàn, kết cục cũng như nhau mà thôi.” Công Tôn Diễn ánh mắt sáng rực, “huống hồ tướng quốc nước Tần Trương Nghi lại là kẻ bất tín đệ nhất thiên hạ!”
“Bất tín đệ nhất?” Tương Vương sửng sốt, “bất tín thế nào kia?”
“Đại vương hẳn còn nhớ tấm gương nước Sở? Trương Nghi hứa hẹn chắc chắn sẽ trả lại cho Sở sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư, còn lập khế ước làm bằng. Kết quả thì sao? Đến khi người Sở tới Hàm Dương nhận đất, thì sáu trăm dặm lại biến thành sáu dặm, đây chẳng phải bất tín ư?”
Tương Vương chép miệng mấy cái, quay sang Công Trọng: “Ý thái phó ra sao?”
“Đại vương cớ sao không thử nghe xem Trương Nghi giải thích?” Công Trọng đáp.
“Thái phó nói phải!” Tương Vương quay sang nội thần, “truyền chỉ, có lời mời sứ Tần vào cung yết kiến!”
Nội thần lập tức đi truyền chỉ.
“Đại vương,” Công Tôn Diễn vòng tay, “thần xin cáo lui!”
“Ồ…” Hàn Vương ngạc nhiên.
“Trương Nghi kia, thần không muốn gặp!” Công Tôn Diễn lại vái chào, rồi đứng dậy, sải bước mà đi.
Trương Nghi vào cung yết kiến, Công Trọng ngồi hầu bên cạnh.
Thi lễ xong rồi, Tương Vương vòng tay hỏi: “Quả nhân làm con tin ba năm ở Hàm Dương, may được tướng quốc chăm lo cho, nên luôn được yên ổn. Lần này, tướng quốc hạ giá tới tiểu bang, quả là vinh hạnh cho quả nhân. Ngày hôm qua,” chỉ vào hiếu phục trên người, “vừa đúng đại lễ bốn mươi chín ngày của tiên vương, quả nhân vội tới thái miếu, nên chưa kịp nghe tướng quốc chỉ giáo. Nay đã rảnh rỗi, quả nhân không dám chậm trễ, liền mời tướng quốc tới ngay, vẫn mong được lắng nghe cao luận của tướng quốc!”
“Tạ ơn đại vương coi trọng!” Trương Nghi đáp lễ, “Nghi lần này tới đây, là vì hai việc. Việc thứ nhất, hay tin tiên vương băng hà, Tần Vương trong lòng đau buồn, vốn muốn đích thân tới viếng, ngờ đâu người Sở bất đồ xâm phạm biên cương, muốn đi mà không được. Nay chiến sự tạm yên, Tần Vương vẫn canh cánh việc này, bèn sai thần tới điếu viếng.” Nói đoạn, hai tay dâng lên bản danh sách lễ vật, “đây là chút thành ý của Tần Vương, lễ mọn tình thâm, mong đại vương chớ chê!”
Nội thần tiếp lấy, trình lên Tương Vương.
Tương Vương phẩy tay, tỏ ý bảo nội thần thu nhận, rồi quay sang Trương Nghi, vòng tay nói: “Tạ ơn thịnh tình của Tần Vương! Đây là việc thứ nhất, xin hỏi tướng quốc, còn việc thứ hai?”
“Người Sở cậy mạnh phạt Tần, Tần Vương lực mỏng khó lòng chống đỡ, thỉnh cầu đại vương trợ giúp, hợp sức phạt Sở!”
“Là chuyện này ư?” Tương Vương liếc sang Công Trọng, rồi lại nhìn sang Trương Nghi, mượn lời của Công Tôn Diễn mà đáp, “Hàn là nước yếu, Sở là nước lớn, Tần là nước mạnh. Nước lớn giao chiến cùng nước mạnh, nước yếu kẹp giữa hai bên, lại cùng là sông núi nối liền…”, thở dài một tiếng, “than ôi.”
Trương Nghi khẽ cười một tiếng: “Đại vương vì cớ gì mà phải sang Tần làm con tin, hẳn chưa quên nhanh đến thế?”
“Quả nhân…” Tương Vương lúng túng, lại nhìn sang Công Trọng Minh. Đó là chuyện xảy ra vào nhiều năm trước, Công Trọng đương nhiên hiểu rõ.
Năm đó, người Ngụy phạt Hàn, người Hàn khốn đốn vì ứng chiến, Hàn Vương cầu cứu nước Tề, Bàng Quyên liền dẫn đại quân rời nước Hàn, quyết chiến với Tề, đại bại tại Mã Lăng. Người Hàn chưa kịp hoàn hồn, lại phải đối mặt với nguy cơ mới. Sự việc này khởi phát từ Lỗ Quan. Một lái buôn tới từ Dương Địch vì chuyện buôn bán mà xung đột với lái buôn người Sở tại chợ Lỗ Quan, bị người Sở đánh chết, còn cướp trắng toàn bộ của nả. Người Dương Địch biết chuyện, tìm tới báo thù, giết chết hơn chục người Sở. Cứ thế, mâu thuẫn giữa hai bên mỗi ngày một căng thẳng, cuối cùng tới tai Sở Vương. Sở Vương nổi giận, sai Cảnh Khuyết dẫn quân phạt Hàn, tuyên bố san bằng Dương Địch. Dương Địch là huyết mạch của Hàn, Hàn Vương hay tin, hối hả điều binh khiển tướng. Tuy nhiên, người Hàn vừa mới trải qua đại chiến triền miên, đã quá mệt mỏi, không còn sức lực để mà đánh Sở. Đúng lúc đó, sứ Tần sang Hàn, bí mật gặp Công Trọng, hứa xuất quân giúp Hàn, với điều kiện nước Hàn phải bỏ tung theo hoành, kết minh với Tần. Hàn Vương nhận lời, chính vì vậy mới phải đưa thái tử tới Hàm Dương làm con tin. Thấy nước Tần ra mặt, Sở Vương mới chịu lui quân, nước Hàn vì thế mà tránh được một trường ác chiến.
Sau đó, Công Tôn Diễn sang Hàn, nước Hàn dần dần phục hồi sinh khí, mới không còn khiếp nhược trước Tần và Sở. Trương Nghi nói ra lời này vào lúc này, ẩn ý đã rất rõ ràng.
Tương Vương lại nhìn sang Công Trọng.
“Đối với Hàn, phạt Sở là đại sự,” Công Trọng mỉm cười đáp, “sứ Tần liệu có thể đợi ta bàn bạc sơ qua?”
“Đương nhiên rồi.” Trương Nghi cười nói, “có điều, tại hạ còn muốn thỉnh cầu đại vương cùng thái phó hãy nhân tiện bàn luôn cả chuyện Phương Thành.”
“Phương Thành?” Tương Vương, Công Trọng gần như đồng thanh hỏi lại.
“Chính phải!” Trương Nghi chỉ về phía nam, “chính là nơi đó, bắt đầu từ Lỗ Quan, đông tới Diệp Thành, nam tới Uyển Thành, tây tới núi sâu, quả là một địa bàn không nhỏ. Còn nữa, nghe nói ô kim đất Uyển không hề thua kém Nghi Dương của quý quốc.”
Cả hai vua tôi đều hít ngược một hơi.
Công Trọng khẽ cười: “Trương tướng quốc đang đùa đấy ư? Phương Thành hơn hai trăm dặm vuông, vẫn là trọng địa của Sở, Sở Vương đặt trọng binh trấn giữ, nước Hàn dù có muốn, e cũng không dám tơ tưởng!”
“Vậy ư?” Trương Nghi hỏi ngược lại, “vậy thì miếng thịt béo này, tại hạ đành phải tặng lại cho người Ngụy mất rồi!”
“Người Ngụy?” Tương Vương cuống lên.
“Nếu không ngoài dự liệu, lúc này, Ngụy Vương cũng đang chờ tại hạ!” Tương Vương, Công Trọng đưa mắt nhìn nhau, rồi không hẹn mà cùng nhìn sang Trương Nghi.
“Không giấu đại vương cùng thái phó,” Trương Nghi nhìn về phía đông, “tại hạ lần này phụng chỉ Tần Vương, hẹn Ngụy Vương, Tề Vương cùng phạt Sở. Ý của Tần Vương, lần này phạt Sở, liệt quốc đều có lợi. Con gấu Sính Đô kia vốn đã to lớn hơn người, thịt mỡ nung núc, vậy mà vẫn không biết đủ, còn tham lam muốn nuốt hết liệt quốc thiên hạ vào trong bụng.”
“Ngụy Vương, Tề Vương…chịu xuất binh ư?” Tương Vương vẫn không tin nổi.
“Hồi bẩm đại vương,” Trương Nghi nhìn thẳng vào Tương Vương, “giả như người là Ngụy Vương, vừa đại chiến với Tề, mà còn chiến bại thảm hại, tổn binh mất tướng, đang rầu rĩ muộn phiền, vậy mà người Sở lại thừa nước đục thả câu, lẳng lặng xẻo lấy một miếng thịt kề sát tim là tám ấp Tương Lăng, đã thế còn trộm lấy bằng mưu gian chước xảo, thử hỏi người có nuốt nổi mối hận này không? Còn nữa, giả như người là Tề Vương, Sở Vương sai sứ thần vượt nghìn dặm xa xôi tới Lâm Truy, cùng lập minh ước láng giềng hoà thuận. Mà minh ước còn chưa ráo mực, sứ Sở vẫn ở dịch quán, Sở Vương đã lại phái sứ thần khác tới, trở mặt huỷ ngay minh ước, còn công nhiên sỉ nhục đại vương trước mặt văn võ bá quan ngay giữa triều đường, mạ lị đến tận tám đời tổ tông, thử hỏi người có nuốt nổi mối hận này không?”
“Phải lắm,” Tương Vương gật đầu, “làm sao có thể nuốt trôi!”
“Song man Sở quá ghê gớm, hình vóc khổng lồ, tính khí hung tợn, nên nuốt không trôi cũng phải gắng mà nuốt!” Trương Nghi tiếp lời, “bởi vậy, Tương Lăng mất đã nhiều năm, mà Ngụy Vương vẫn phải im hơi lặng tiếng. Không phải Ngụy Vương không muốn lên tiếng, mà là đang chờ đợi thời cơ. Tề Vương cũng vậy. Và lúc này, thời cơ đã tới, man vương kia bất chấp thiên tai, không thương dân khổ, dốc hết quốc lực đánh Tần, chiến bại một lần, vẫn không chịu thua, lại muốn đánh tiếp. Thử nhìn mà xem, dưới gầm trời này, có kẻ nào ngông cuồng như thế?” Nói đến đây thì bật ra một tiếng thở dài thườn thượt, lắc đầu ngao ngán.
“Dám hỏi sứ Sở,” Tương Vương bắt đầu hào hứng, “nếu như đánh Sở, vậy thì Tần Vương…sẽ đánh thế nào? Người khác sẽ được lợi gì?”
“Đánh, chỉ có một cách, đánh gục gấu dữ, xẻ rời tứ chi, phàm kẻ góp sức, đều được chia phần.”
“Xẻ như thế nào?”
“Theo ý Tần Vương,” Trương Nghi ngừng lại một thoáng, rồi đưa tay vạch lên mặt án, “trong vòng Phương Thành, quy về Hàn. Phía đông Phương Thành cho tới Tương Lăng, Hạng Thành, quy về Ngụy. Đất Hạ Đông Quốc, quy về Tề.”
“Còn phần của Tần Vương?” Tương Vương nôn nóng hỏi.
“Đất Hán Trung.”
“Ừm,” Tương Vương chép miệng, nhìn sang Công Trọng, khẽ gật đầu, “phân chia thế này, cũng là hợp lý.”
“Đại vương, vậy đất Phương Thành, người có muốn nữa không? Nếu người không muốn, tại hạ sẽ gộp lại tặng luôn cho Ngụy Vương, coi như trả nghĩa! Dù sao chăng nữa, tại hạ từng là người Ngụy, trước đây cũng ở Ngụy vài năm, đã uống không biết bao nhiêu nước Ngụy!”
“Muốn, muốn chứ.” Tương Vương rối rít đáp, nhưng lại sực nhớ ra một chuyện, bèn nhìn sang Công Trọng, “thái phó?”
“Dám hỏi sứ Tần,” Công Trọng hiểu ngay ẩn ý của Tương Vương, liền nhìn sang Trương Nghi, “Tần Vương lấy gì để đảm bảo, lời này là thực?”
“Phải, phải đấy!” Tương Vương vội hùa theo, “lấy gì để đảm bảo?”
“Khế ước!” Trương Nghi đáp, “khắc lên tre gỗ, đóng ngọc tỷ nước Tần.”
“Nghe nói khi tướng quốc đi sứ Sính Đô, cũng từng lập khế ước với Sở Vương, hai bên ghi danh đóng ấn đàng hoàng, nhưng sau đó, Tần Vương lại đem khế ước đốt mất, có chuyện này chăng?” Công Trọng tung ra sát chiêu.
“Có!” Trương Nghi thản nhiên thừa nhận.
“Nếu là như vậy, bảo ta làm sao tin được Tần Vương? Nay ta lập khế ước rồi, ngày mai Tần Vương lại không thừa nhận, lại cho một mồi lửa thiêu rụi, thì sao?” Công Trọng nhìn chằm chằm vào Trương Nghi. “Than ôi, thái phó mới chỉ là nghe nói mà thôi.” Trương Nghi thở hắt ra một tiếng, đáp lời, “còn tại hạ là tận mắt chứng kiến. Sự thực là khi tại hạ đi sứ sang Sở, Tần Vương thành thực muốn kết tình láng giềng hoà mục với Sở Vương. Song người Sở lại không thực lòng, năm lần bảy lượt bỡn cợt Tần Vương, bỡn cợt tại hạ!”
“Bỡn cợt thế nào?” Tần Vương tò mò hỏi.
“Than ôi, thực khó mở miệng.” Trương Nghi thở ngắn than dài một hồi, mới tiếp, “nhưng đại vương đã hỏi, tại hạ cũng đành muối mặt mà thú thực. Người Sở có ô kim, làm ra lưỡi cày, người Tần ở Quan Trung làm ruộng quá vất vả, nên muốn mua lưỡi cày của Sở về dùng. Nào ngờ, người Sở lại bán cho người Tần với mức giá cao gấp ba lần thị giá. Thương vụ này, do chính tại hạ đảm đương, mà tại hạ vốn đâu phải người buôn bán, nên đã bị người Sở đưa vào tròng. Song khế ước đã lập, thì sống chết gì cũng phải thực thi. Tại hạ bất chấp Tần Vương trách mắng, vẫn kiên quyết làm theo khế ước, mang vài nghìn dật vàng ròng để trả tiền hàng cho người Sở, đều là tiền mồ hôi xương máu do người Quan Trung chắt chiu đóng góp. Còn người Sở thì sao? Nhận đủ vàng rồi, lại không chịu trả lưỡi cày, đòi đổi sang dùng muối trừ nợ. Tại hạ không làm gì được họ, đành một lần nữa ngậm bồ hòn làm ngọt, lập tiếp một khế ước khác với người Sở, dùng muối Sở trừ nợ tiền hàng, tính theo thị giá. Kết quả là, tại hạ lại bị họ đưa vào tròng lần nữa. Khế ước vừa lập xong, muối Sở ngoài chợ đã tăng giá vùn vụt. Việc này, đại vương hẳn là cũng biết. Giá muối Sở đã tăng lên bao nhiêu? Nói ra, đại vương chắc hẳn không tin, chưa đầy một tháng, giá tăng gấp tám! Nhưng còn khế ước, tại hạ đã lập, vẫn phải theo thôi! Người Tần muốn khóc mà không còn nước mắt! Tần Vương lại càng quở trách tại hạ trăm điều. Nhưng đây là khế ước lập giữa hai nước, Nghi là tướng quốc của Tần Vương, đại diện cho Tần Vương, cho nước Tần, dù có thế nào cũng phải ngậm đắng nuốt cay mà chấp nhận thôi!”
“Sau đó thì sao?” Tương Vương nôn nóng muốn biết kết cục.
“Sau đó giống như thái phó vừa hỏi.” Trương Nghi dõng dạc tiếp lời, “Tần Vương nói với tại hạ, cho dù thế nào, cũng không thể đắc tội với người Sở, quả nhân vẫn phải kết tình láng giềng hoà mục với Sở. Tại hạ mới tâu, hay ta hãy cùng Sở thất thông hôn, kết tình thân thiết. Vừa hay chỗ vương thúc có một công chúa tên là Mị Nguyệt, tài mạo song toàn, đại vương có thể nạp làm hậu phi. Đại vương nghe thấy hữu lý, mới cho Nghi sang Sở cầu hôn, dùng sáu trăm dặm Thương Ư làm sính lễ, bởi lẽ Sở Vương rất coi trọng đất đó. Có điều, Tần Vương cũng có một điều kiện, đó là Sở không thể vừa kết thân với Tần, lại vừa kết thân với Tề, bởi Tần Vương vẫn chưa thôi giận dữ Tề Vương vì chuyện Tang Khâu. Nghi nhận vương mệnh, lại tới Sính Đô. Sở Vương thấy Nghi thành tâm, bèn chấp nhận hôn sự, đồng ý tuyệt giao với Tề, cho người cùng Nghi lập khế ước. Vì trước đã có hai lần lập khế ước bị lừa, nên lần này, Nghi vô cùng cẩn trọng, xem xét kỹ càng, đề phòng hết nước. Nhưng kết quả thì sao? Vẫn không lường hết chữ ngờ. Mắt thấy khế ước đã lập xong, kẻ thân tín bên cạnh Sở Vương là Trần Chẩn lại thình lình xen vào, trước là tìm cách lừa gạt, sau là phản đối kịch liệt, bởi Trần Chẩn kia vốn có hiềm khích với Nghi, có oán hận với Tần Vương, nên lo sợ Sở, Tần hoà hợp, chỉ mong hoà hảo với Tề. Đứng giữa triều đường, Trần Chẩn lớn tiếng yêu cầu Tần Vương cắt đất trước, rồi Sở Vương sẽ tuyệt Tề sau. Chuyện này sao có thể được? Nghi dứt khoát không đồng ý. Sở Vương thấy vậy, mới nói rằng hãy làm hai việc đồng thời, được chăng? Nghi đáp, đại vương anh minh, đã là khế ước, thì nên thực hiện đồng thời. Kết quả thì sao? Nghi trở về Hàm Dương, giao gái Sở cho Tần Vương nạp vào hậu cung, nóng lòng chờ tin Sở Vương tuyệt giao với Tề. Lúc này mới nhận ra, Sở Vương vốn không có thành ý, bởi kẻ đi sứ sang Tề tuyệt giao, lại là Trần Chẩn. Trần Chẩn sang Tề, ở lại Lâm Truy, ngày ngày vui chơi hưởng lạc, chỉ không nhắc đến chuyện tuyệt giao. Còn bên này, đặc sứ của Sở Vương là Chiêu Tuy tối ngày ở lì trong phủ Nghi, lôi khế ước ra thúc ép, Nghi bị bức bách quá, đành phải cầu cứu Tần Vương, trình khế ước lên. Tần Vương thịnh nộ, mắng chửi Nghi không tiếc lời, rồi châm lửa đốt luôn khế ước! Than ôi, Nghi lòng dạ rối bời, cùng đường hết cách, không biết làm sao, đành nói với Chiêu Tuy, nguyện đền cho Sở Vương sáu dặm Ư Thành mà Tần Vương ban phong. Kết quả là, Sở Vương đùng đùng nổi giận, xuất đại binh phạt Tần, sau khi bại ở Đan Dương, lại dốc hết quốc lực, xuất binh lần nữa. Trận chiến lần này, Sở Vương gom quân cả nước, liều mạng đánh tới, Tần Vương có muốn tránh cũng không được, đành phải ứng chiến, đồng thời sai Nghi đến hẹn đại vương, hợp lực với Ngụy, Tề, cùng xả thịt con gấu lớn kia để chia nhau.”
Nghe Trương Nghi mạch lạc kể rõ ngọn nguồn, Tương Vương, Công Trọng không còn hồ nghi nữa.
Tương Vương lập tức soạn chỉ, sai mãnh tướng Bạo Diên khởi ba vạn quân, hợp binh liên hoành với Tần, cùng chinh phạt Sở.
Người Hàn giàu có, nên phủ trạch tướng quốc rất bề thế nguy nga, cổng phủ cao lớn, trước cổng sừng sững một cặp sư tử đá còn cao hơn cả thân người.
Trương Nghi nhảy xuống xe, không nhìn cổng phủ, chỉ săm soi cặp thú đá, còn lại gần vuốt ve vài cái.
Cổng phủ mở rộng, không có người canh.
Khi thằng nhỏ theo hầu bê rương lễ vật xuống khỏi xe, Trương Nghi mới rời khỏi con sư tử, dẫn thằng nhỏ đi vào trong cổng.
Đỗ trong sân là hai cỗ xe mui, đám nô bộc đang bận rộn xếp hành lý lên xe. Có hai người khiêng một rương lớn bước ra, người đi sau là quản gia, trông thấy Trương Nghi, bèn đặt rương xuống, tiến lại vòng tay hỏi: “Các hạ đây là…”
“Tại hạ là bạn cũ của Công Tôn tiên sinh, tới đây bái kiến cố tri!” Trương Nghi đáp lễ.
Quản gia liếc nhìn Trương Nghi một lượt, rồi vái mà nói: “Xin đợi một lát, tiểu nhân sẽ vào bẩm báo!” Quản gia còn chưa kịp cất bước, đã thấy Công Tôn Diễn mỗi tay xách một túi bước ra, đi theo sau là phu nhân Địa Hương, một tay bế con nhỏ, một tay dắt con lớn.
Trông thấy Trương Nghi, Công Tôn Diễn sửng sốt khựng lại một thoáng, rồi sải bước lại bên xe, ném túi hành lý vào trong, đoạn chìa tay kêu lên: “Ồ, chẳng phải là Trương tướng quốc mới từ Đại Tần tới đó ư? Lâu rồi không gặp, vẫn mạnh giỏi chứ?”
“Công Tôn huynh, thế này là…” Trương Nghi chỉ vào cỗ xe trong sân.
Công Tôn Diễn bật cười vài tiếng: “Ở đây chán rồi, đang định đưa vợ con đi hóng gió. Trương huynh không phải là tới tiễn hành đấy chứ?”
“Tại hạ quả thực không ngờ!” Trương Nghi cười đáp, “tại hạ dự định tới đây để bái kiến Công Tôn huynh, cùng hàn huyên chuyện cũ, nào ngờ lại đúng lúc thế này.” Quay sang vẫy tay với thằng nhỏ, đợi nó bê rương lễ vật lại, bèn chỉ vào rương mà nói, “khi tại hạ rời khỏi Hàm Dương, tiện nội dặn tại hạ nhất định phải đem rương này tới, tặng cho tẩu phu nhân, nên tại hạ không dám chậm trễ!”
“Dám hỏi tướng quốc, là phu nhân nào tặng vậy?” Công Tôn Diễn liếc xéo rương lễ vật hỏi.
“Cả hai đều tặng!”
Cồng Tôn Diễn bật cười, quay sang Địa Hương, chỉ vào Trương Nghi mà nói: “Vị này chính là tướng quốc nước Tần Ư Thành Quân,” lại chỉ vào rương, “đây là lễ vật của hai vị phu nhân Ư Thành Quân tặng cho nàng, hãy mau tới cảm tạ!” Địa Hương đặt đứa trẻ xuống, chậm rãi bước lại gần, khom lưng vái mà nói: “Cảm tạ Trương đại nhân, cảm tạ hai vị phu nhân!”
“Trương Nghi chúc mừng tẩu phu nhân được hai quý tử!” Trương Nghi cũng vái đáp lễ, lại chỉ vào rương mà nói, “quà cho hai cháu, tiện nội cũng đã sắp xếp ở trong rương này.”
Địa Hương cảm tạ thêm lần nữa, nhưng không mở rương ra xem, mà dẫn luôn hai đứa trẻ lên xe.
“Không còn sớm nữa,” Công Tôn Diễn nói với Trương Nghi, “đại lễ của hai vị phu nhân, tiện nội đã nhận, giờ tại hạ đã đến lúc phải lên đường, dám hỏi Trương huynh còn việc gì chăng?”
Trương Nghi chỉ vào miệng: “Muốn xin phủ Công Tôn huynh chút nước để nhuận da miệng.”
Công Tôn Diễn cười lớn: “Nước thì có vị gì, hãy uống rượu!” Rồi chìa tay mời.
Hai người bước vào phủ đường, Công Tôn Diễn tìm chén, rót rượu, Trương Nghi đưa mắt nhìn quanh, thấy trên án thờ ở chính đường bày một bọc lụa đỏ, hiểu rằng bên trong chắc hẳn là ấn tướng quốc.
Công Tôn Diễn rót đầy một hồ rượu, châm ra hai chén, đưa cho Trương Nghi một chén: “Không chuẩn bị được món gì, đành uống suông vậy. Trương huynh, hãy cạn vì cuộc gặp gỡ hôm nay!”
Hai người cùng cạn. “Công Tôn huynh!” Trương Nghi nhấc hồ rượu, châm đầy hai chén, “không giấu gì huynh, tại hạ biết thế nào rồi huynh cũng đi, chỉ không ngờ lại nhanh đến vậy!”
“Tại hạ cũng lấy làm tiếc vì không thể khiến tướng quốc tận hứng!” Công Tôn Diễn cầm chén, một hơi uống cạn.
“Phải, phải!” Trương Nghi gật đầu, “tại hạ lần này tới đây, đã chuẩn bị sẵn sàng để đấu với Công Tôn huynh đây vài hiệp, nào ngờ huynh lại…Than ôi!”
“Tướng quốc than thở gì kia?” Công Tôn Diễn nhìn xoáy vào Trương Nghi.
“Than thở cho mình!” Trương Nghi cười buồn, lại rót rượu ra chén, “sống ở trên đời, tri kỷ khó gặp. Dưới gầm trời này, người hiểu tại hạ, một là Tô Tần, còn hai, chính là Công Tôn huynh đây. Tô huynh và tại hạ, đấu ở chỗ lớn; Công Tôn huynh và tại hạ, đấu ở chỗ nhỏ; Tô Tần và tại hạ, đấu ở ngoài sáng; Công Tôn huynh và tại hạ, đấu ở trong tối. Dù lớn dù nhỏ, dù sáng dù tối, chỉ cần đấu được, là thú vị rồi. Hai ta lần này khó khăn lắm mới chạm mặt nhau mà lại không đấu, há chẳng phải mất hứng lắm ư?”
Công Tôn Diễn phá lên cười lớn, rồi nâng chén rượu lên: “Tướng quốc đại nhân, hãy cạn chén này, vì lời khen đại nhân vừa dành cho tại hạ!”
Hai người cùng cạn.
“Hai ta nếu đã là đấu ở trong tối, vậy thì tại hạ ở lại chỗ này, chẳng phải lại thành ở ngoài chỗ sáng rồi ư?” Công Tôn Diễn thủng thẳng nhấc hồ rót rượu. “Cũng phải.” Trương Nghi cười lớn, “nói xem, Công Tôn huynh muốn đi đâu để đấu với tại hạ?”
“Trương huynh lẽ nào không biết?”
“Tại hạ chỉ có thể nghĩ tới một nơi, nước Ngụy.”
“Tại sao?”
“Vì nước Ngụy cần Công Tôn huynh.” Trương Nghi lại thở dài một tiếng.
“Tướng quốc cớ sao lại thở dài?”
“Vì nước Ngụy?”
“Vì chuyện gì?”
“Vừa có bao lâu, Đại Ngụy còn hùng bá thiên hạ, mà nay lại thành ra nông nỗi này, liệt quốc thiên hạ, ngoài nước Yên ra, chẳng hơn được nước nào khác nữa. Giờ đây, đến Hàn Vương cũng có thể ngạo nghễ trước Ngụy Vương. Đã từng là người Ngụy, tại hạ…” Trương Nghi dừng lại hồi lầu, mới than thở, “trong lòng đủ mùi chua xót. Tại hạ đã suy nghĩ rất nhiều, có thể giúp Ngụy Vương phục hưng, chỉ có một người, chính là Công Tôn huynh đây. Đương kim Ngụy Vương tuy vô dụng, song vô dụng cũng có cái lợi của vô dụng. Trong chư hầu liệt quốc, tiên Ngụy Vương có đủ cả ba điều nhân, trí, dũng, xứng là vua giỏi, song Đại Ngụy lại cũng lụn bại ở chính trong tay ông vua giỏi này.”
“Trương huynh nói phải.” Công Tôn Diễn đáp.
“Có điều,” Trương Nghi tiếp lời, “nếu Công Tôn huynh muốn xui nước Ngụy đối đầu với Đại Tần, e rằng sẽ phải thất vọng đó.”
“Vì sao?”
“Bởi vì Ngụy không phải là đối thủ của Tần.”
“Vậy nước nào mới là đối thủ?”
“Triệu!”
“Cớ sao lại là Triệu mà không phải là Tề.”
“Vì Tô Tần thường xuyên ở Triệu mà hiếm khi ở Tề.”
“Chỉ dựa vào điều này?” Công Tôn Diễn nhìn xoáy vào Trương Nghi.
“Còn một điều nữa,” Trương Nghi đáp, “nước Triệu có một vị quân vương trẻ tuổi, Triệu Ung, có thể khiến dân cả nước mặc áo Hồ, rèn kỵ xạ, quả là một vị quân vương hiếm có!”
“Được, hãy cạn vì nước Triệu!” Công Tôn Diễn nâng chén.
Hai người cùng uống cạn.
“Phải rồi, Công Tôn huynh,” Trương Nghi rót rượu, nâng chén, nhìn thẳng vào Công Tôn Diễn, “xin hỏi một câu bên lề, thiên hạ hiện nay, hẳn là có người khiến huynh thực lòng khâm phục?”
“Có một người, tiếc rằng không phải là huynh.” Công Tôn Diễn đáp.
Trương Nghi bật cười, nâng chén uống cạn, lại rót: “Lời này của Công Tôn huynh không thật lòng rồi!”
“Ồ?” Công Tôn Diễn cầm chén, nhìn vào Trương Nghi.
“Người huynh khâm phục, hẳn là Tô Tần, mà đối thủ của Tô Tần, lại là tại hạ, Trương Nghi. Huynh phục Tô Tần, song không phục đối thủ của Tô Tần, há chẳng phải nói không thật lòng?”
Công Tôn Diễn cười: “Không ngờ Trương huynh cũng tự tin thực! Nhân tiện hỏi một câu, Trương huynh hẳn có khâm phục ai đó?”
“Tại hạ khâm phục ba người.”
“Hay lắm! Có thể nói ra chăng?”
“Người thứ nhất, là sư phụ của tại hạ. Người thứ hai, là sư huynh của tại hạ. Người thứ ba, là sư tỷ của tại hạ.”
“Tô Tần thì sao?”
“Tô Tần ư,” Trương Nghi nâng chén, dõi mắt về phía xa xăm, như có điều tư lự, hồi lâu sau, mới khẽ chép miệng rồi đáp, “là người tại hạ yêu quý.”
Công Tôn Diễn cười lớn, lại nâng chén: “Hãy cạn chén vì lời đáp thú vị này!”
Hai người cạn rồi, Công Tôn Diễn vòng tay: “Trương huynh, rượu đã uống xong, tại hạ giờ phải lên đường.”
“Chén này,” Trương Nghi lại rót đầy, đưa chén cho Công Tôn Diễn, “là để tiễn chân Công Tôn huynh!” Rồi tự uống cạn.
“Diễn chờ Trương huynh ở Đại Lương!”
“Nghi không đi Đại Lương, bởi việc ở Đại Lương đã xong rồi!” Trương Nghi khẽ cười, ánh mắt tràn đầy tự tin.
“Huynh sẽ tới, và còn tới rất nhanh!” Công Tôn Diễn mỉm một nụ cười thâm thuý. “Sao lại tới?” Trương Nghi hiểu ra ẩn ý của Công Tôn Diễn, nhìn lại mà hỏi.
“Tô Tần năm xưa rời khỏi đất Tần thế nào, Trương huynh hẳn đã hỏi công tử Hoa!” Công Tôn Diễn nheo nheo mắt, chiếu ra một ánh nhìn bí hiểm, lại thêm một câu, “Tô Tử từ đó không bao giờ quay lại đất Tần nữa. Và cả tại hạ, cũng sẽ không bao giờ tới nữa, trừ phi dẫn theo ba quân!”
Trương Nghi khép mắt lại, hồi lâu sau, mới vòng tay, khẽ cười mà nói: “Nếu quả thực có một ngày tại hạ thất chí ở Đại Lương, vẫn sẽ đấu một trận nhỏ với Công Tôn huynh đây!”
“Tại hạ sẽ chờ!”
Công Tôn Diễn bỏ Trịnh Thành mà đi, vừa hay cũng hợp ý của Hàn Tương Vương, ngay trong hôm đó, ấn thụ tướng quốc đã được giao lại cho Công Trọng Minh. Sứ Tần Trương Nghi cũng không vội vã quay về, yên tâm lưu lại trạm dịch, thi thoảng lại vào cung uống rượu chuyện gẫu cùng Hàn Tương Vương, đôi khi cũng đàm đạo về thời cuộc.
Vài ngày sau, Trương Nghi đánh xe rời thành, được Hắc điêu tại đất Hàn dẫn đường tới An Lăng, dừng lại trước cổng một toà phủ trạch cổ kính ở ngoài thành.
Trương Nghi xuống xe, sai người khiêng theo lễ vật, lại gần gọi cổng. Ra mở cổng là một thiếu phụ tuổi chừng đôi mươi, dẫn theo một bé gái tầm ba tuổi.
“Khách nhân đây là…” Thiếu phụ hỏi, ánh mắt nghi ngại nhìn rương lễ vật rất lớn phía sau.
“Tẩu phu nhân, Lãnh tiên sinh có nhà không?” Trương Nghi vòng tay hỏi.
“Có nhà.” Thiếu phụ đáp, rồi quay sang bảo bé gái vào gọi cha. Đứa bé chạy vào, lát sau quay ra nói với Trương Nghi: “Cha nói cha không rỗi, ông về đi.”
Trương Nghi bật cười, ngồi xuống, bế bé gái lên: “Nói cho chú biết, cháu tên gì?”
“Lãnh Phong, lãnh nghĩa là lạnh lẽo, phong nghĩa là sắc bén.” Bé gái đáp.
“Ồ, tên của cháu thật hay, là cha cháu đặt ư?”
“Vâng.”
“Cha cháu ở đâu, dẫn chú lại đó, được chứ?” Trương Nghi quay đầu, hất hàm với nô bộc.
Phu xe cùng Hắc điêu nô bộc liền khiêng theo rương lễ vật, đi vào trong nhà. Thiếu phụ dẫn hai người vào phòng khách, rồi đi chuẩn bị trà nước.
Được Lãnh Phong chỉ đường, Trương Nghi băng qua hai dãy nhà, tới dãy nhà thứ ba, thấy Lãnh Hướng đang nằm trên ghế trúc kê ở trong sân, nhắm mắt phơi bụng sưởi nắng. Biết có người tới, Lãnh Hướng vẫn nằm im, cũng chẳng buồn mở mắt.
“Cha, khách vào đây rồi, nói là có việc, còn khiêng theo một cái hòm to!” Lãnh Phong chạy lại bên ghế, khẽ nói. “Lãnh Hướng không có khách, cũng không chờ khách, đang bận sưởi nắng!” Lãnh Hướng giơ tay, chỉ ra phía cổng, “người tới mời về cho!”
Lãnh Phong quay sang nhăn mặt với Trương Nghi, chỉ ra nhà trước.
“Lãnh Phong,” Trương Nghi mỉm cười, ngồi xuống, cũng chỉ ra nhà trước: “Trong cái hòm đó có quà của cháu, mau lại mà xem!”
Lãnh Phong nghe vậy thì reo lên chạy vụt đi.
“Khách nhân đây là…” Lãnh Hướng đã lên tiếng, mí mắt hé ra một khe hẹp, liếc nhìn Trương Nghi.
Trương Nghi không đáp, mà đi vòng quanh ghế trúc, vừa đi, vừa nhìn chằm chằm vào Lãnh Hướng.
Lãnh Hướng lại khép mắt, khoé miệng thoáng hiện một nét cười lạnh lẽo.
Trương Nghi thủng thẳng đi quanh ba vòng thì dừng lại, chỗ đứng vừa hay che khuất ánh nắng chiếu trên người Lãnh Hướng.
“Này ông khách, che mất nắng của tôi rồi đấy!” Lãnh Hướng lên tiếng.
“Tại hạ Trương Nghi, đã quấy quả đến tiên sinh!” Trương Nghi vòng tay nói.
“Trương Nghi?” Lãnh Hướng thoáng kinh ngạc, ngồi dậy, mở to mắt nhìn, “hẳn là tướng Tần Trương Nghi?”
“Chính là tại hạ.” Trương Nghi khẽ cười, lại vòng tay đáp. “Thất kính!” Lãnh Hướng chầm chậm kéo lại vạt áo, thắt dây lưng, ngồi ngay ngắn lại, vòng tay hỏi, “cơn gió nào đưa tướng quốc tới đây?”
“Nghi thụ mệnh mà tới!”
“Thụ mệnh ai?”
“Của một lão nhân mà tiên sinh không hề xa lạ.”
“Là ai?” Lãnh Hướng nhìn Trương Nghi dò hỏi.
“Thi Tử!”
“Thi Tử?” Lãnh Hướng sửng sốt, “là Thi Tử nào?”
“Thi Giảo, sư phụ của tiên sinh.” Trương Nghi mặt không biến sắc, ra khẽ một chiêu.
“Tướng quốc…” Lãnh Hướng rùng mình một cái, nhìn trân trân vào Trương Nghi, hai mắt bỗng loé hàn quang, “sao lại biết Thi Giảo là sư phụ ta?”
“Nếu tại hạ không nghe lầm, thì Lãnh tiên sinh đây đã từng dập đầu hành lễ bái sư với Thi lão tiên sinh!” Trương Nghi hơi cao giọng, lại ra tiếp một đòn.
“Tướng quốc nghe ai nói?” Giọng Lãnh Hướng rít qua kẽ răng.
“Thi Tử!”
“Tướng quốc…đã gặp?” Lãnh Hướng kinh ngạc.
Trương Nghi bật cười: “Đã gặp, không chỉ một lần, còn cùng uống rượu nhiều lần. Tửu lượng của lão phu tử, tại hạ bội phục.”
“Là gặp sư phụ ở đất Thục ư?” Giọng Lãnh Hướng đã dịu xuống, ánh mắt cũng ôn hoà hơn hẳn. “Đất Ba.”
“Sư phụ…vẫn khoẻ chứ?”
“Giờ đây, có lẽ vẫn còn sống. Nhưng hễ trời mưa, đầu gối lại đau nhức, đau tới nghiến răng nghiến lợi, chỉ còn cách uống rượu triền miên.”
“Là phong thấp. Sư phụ không nên ở đất Ba, nơi đó ẩm thấp.”
“Tiên sinh lầm rồi,” Trương Nghi đáp, “người Ba có thuốc chuyên trị bệnh này, nghe Thi Tử nói, sau khi tới đất Ba, đầu gối đã đỡ hơn nhiều!”
“Hay quá!” Lãnh Hướng nhìn về phía trước, “sư phụ có nhờ đại nhân chuyển lời gì chăng?”
“Một hôm Thi Tử uống quá chén,” Trương Nghi nhìn ra xa xăm, khẽ nheo mắt lại, “có nói với tại hạ rằng, cả đời này chỉ nhận hai đệ tử, một là Vệ Ưởng, nửa quãng đường đầu đi đúng hướng, nửa quãng đường sau lại lầm lạc. Còn người thứ hai, chính là tiên sinh đây.”
“Sư phụ có nói gì về tại hạ?” Lãnh Hướng hỏi dồn.
“Thi Tử nói, tiên sinh nửa quãng đường đầu đi rất cẩn trọng, nửa quãng đường sau hoặc giả có thành tựu.”
Lãnh Hướng nhắm mắt lại, hồi lâu sau, mới lại hỏi: “Sư phụ còn nói gì nữa?”
“Nói nhiều lắm, về tiên sinh, còn một câu nữa.” Trương Nghi dừng lại nửa chừng.
“Nói thế nào?” Lãnh Hướng nôn nóng hỏi. “Chính là làm thế nào để thành tựu.” Trương Nghi liếc xéo Lãnh Hướng.
“Làm thế nào để thành tựu?”
“Phò Tần, thành tựu đại nghiệp.”
Lãnh Hướng lại khép mắt, rất lâu sau, mới chậm rãi mà nói: “Sư phụ có điều không biết, con tim trần thế của Lãnh Hướng đã chết rồi.”
“Tim của tiên sinh chưa chết.”
“Tướng quốc dựa vào đâu mà nói vậy?”
“Lãnh Phong!” Trương Nghi khẽ cười, “nếu con tim của tiên sinh đã chết thật rồi, thì tiểu công chúa nên gọi là Lãnh Băng mới phải.”
“Thôi được,” Lãnh Hướng nhìn sang Trương Nghi, “nói đi, tại hạ phải làm sao để được thành tựu?”
“Hãy gọi tẩu phu nhân chuẩn bị rượu thịt, hai ta uống thoả thích một bữa, sau đó, tiên sinh theo tại hạ tới Hàn đô, dốc sức phò Hàn!”
“Dốc sức phò Hàn?” Lãnh Hướng ngỡ ngàng.
“Tiên sinh là người Hàn, làm một vài việc cho mẫu quốc, chẳng phải càng tốt đẹp ư?”
“Ồ…” Lãnh Hướng khẽ chau mày, “chẳng phải sư phụ nói, để tại hạ phò Tần?”
“Dốc sức vì Hàn, cũng là phò Tần.”
“Phò thế nào?”
“Hai ta hợp sức, thúc đẩy Tần Hàn hoà mục, liên hoành chống tung.”
“Thế nhưng Hàn Vương…”
“Phía Hàn Vương, tại hạ sẽ tiến cử.”
Hôm đó, hai người uống rất sảng khoái, bàn luận khắp mọi sự trong thiên hạ, con tim đã chết của Lãnh Hướng lại khí huyết căng tràn, hồi sinh trở lại. Sáng sớm hôm sau, Lãnh Hướng theo Trương Nghi tới Trịnh Thành, lại qua ba ngày nữa, Hàn Tương Vương đón Lãnh Hướng vào cung, bái làm thượng khanh.
Công Tôn Diễn đúng là tới Đại Lương thực.
Từ Trịnh Thành tới Đại Lương, đường thẳng rộng rãi, toàn bộ hành trình chỉ hai trăm dặm, xe tứ mã vốn chạy một ngày là tới. Song Công Tôn Diễn có vẻ không lấy làm vội vàng, cứ thủng thẳng mà đi, dọc đường gặp hồ đầm, lại dẫn ba mẹ con du ngoạn bên mép nước, khi tới Đại Lương, đã là chập tối ngày thứ ba, trường đình mười dặm phía tây thành Đại Lương nhuộm đỏ ráng chiều.
Bên cạnh trường đình đỗ dài một đoàn xe, dẫn đầu là vương xa.
Bên cạnh vương xa, có một người đang đứng, nghển cổ nhìn về phía tây.
Công Tôn Diễn thấy rõ rành rành, chính là Tương Vương nước Ngụy, song mình không vương phục, đầu không vương miện.
Bên cạnh Tương Vương không có một ai, đến một nội thần cũng không, chỉ thấy một hàng thị vệ đứng mãi đằng xa. Công Tôn Diễn không xuống xe, cũng chẳng nhìn đến Tương Vương, cứ thế đánh xe lại gần.
Nhìn thấy Công Tôn Diễn, Tương Vương vái sâu một vái: “Người tới, phải chăng là Tê Thủ người Ngụy?”
Bốn tiếng “Tê Thủ người Ngụy” đầy thân thiết, hiển nhiên đã khiến Công Tôn Diễn trong lòng xúc động.
Công Tôn Diễn hô dừng ngựa, nhảy xuống xe, hành đại lễ mà hô: “Tê Thủ người Ngụy ở đây!”
“Ngụy Tự cung kính chờ đợi đã nhiều giờ!” Ngụy Tự lại khom lưng vái mà nói.
“Tê Thủ khấu kiến Ngụy Vương đại giá!” Công Tôn Diễn đáp lễ, rồi nhìn vào xe vua, vờ như không biết, “đại vương tới đây, là để…”
“Ngươi, xuống xe.” Ngụy Tự chỉ vào phu xe ra lệnh. Phu xe vội vã nhảy xuống.
Ngụy Tự chỉ vào xe của Công Tôn Diễn: “Đánh xe này!” Rồi quay sang Công Tôn Diễn, chìa tay: “Công Tôn tiên sinh, mời!”
Công Tôn Diễn ngây ra một thoáng, rồi cũng lên xe.
Ngụy Tự chẳng nói chẳng rằng, nhảy luôn lên chỗ phu xe, ra roi thúc ngựa, đánh xe chạy về phía Đại Lương.
Đám thị vệ cùng sững sờ kinh ngạc.
Về tới cung Ngụy, sắc trời đã tối. Yến tiệc đã chuẩn bị sẵn sàng, một bên là vương hậu và hai công chúa chờ sẵn trên chiếu, tiếp đón Địa Hương và hai đứa trẻ, một bên là Ngụy Tự nắm tay Công Tôn Diễn, bước vào chiếu tiệc ở một gian khác. “Diễn tài gì đức gì, mà được đại vương đích thân đón tiếp?” Sau khi ngồi xuống chỗ rồi, Công Tôn Diễn mới có cơ hội để vòng tay cảm tạ.
Ngụy Tự cười lớn: “Đại vương gì kia, xin cứ gọi là Ngụy Tự! Thú thực với tiên sinh, nhớ năm xưa, trên đời này Tự chỉ kính phục hai người, một là Bàng đại tướng quân, một nữa, chính là tiên sinh đây. Nay được đánh xe cho Tê Thủ, là may mắn lớn của Tự!”
“Ồ…” Công Tôn Diễn không khỏi ngạc nhiên, “Diễn nào có gì đáng để đại vương kính phục?”
“Chính là trận đột kích Hà Tây!” Ngụy Tự đáp, “Hà Tây tuy chiến bại, song trận đột kích đó, Ngụy Tự càng nghĩ càng kính phục vô cùng. Vốn cứ ngỡ là công của Trương Mãnh, sau này mới biết, công thần thực sự chính là Tê Thủ đây.”
“Than ôi,” Công Tôn Diễn cười buồn, “đều là chuyện cũ, không đáng để nhắc tới.” Nhìn sang Ngụy Tự, “phải rồi, Diễn có một khúc mắc.”
“Tê Thủ cứ nói.”
“Diễn tới Đại Lương, là việc đường đột, lúc đi cũng âm thầm lặng lẽ, cớ sao đại vương lại biết mà chờ ở bên đình?”
“Nghe sứ Tần nói.” Ngụy Tự thực thà đáp, “sứ Tần bảo rằng, Tê Thủ đã từ chức tướng quốc nước Hàn, đang trên đường tới Đại Lương. Tự trong lòng sung sướng, sai người nghe ngóng suốt dọc đường, nào ngờ Tê Thủ lúc đi lúc nghỉ, khiến Tự phải bồn chồn trông đợi.” Nói rồi lại cười lớn. Công Tôn Diễn lúc này mới hiểu, tin do Trương Nghi tiết lộ, lấy làm cảm khái, lại nhìn vào Ngụy Tự hỏi: “Diễn là người thất thế, dám hỏi đại vương sao lại phải chờ?”
“Chính là vì đại tài thiên hạ này đây!” Ngụy Tự rót rượu, rồi buột miệng chửi, “đều tại con đàn bà chết tiệt, khi tiên vương băng hà, Tự mới lên ngôi, muốn tìm người giúp nước, Tô Tần tiến cử Tê Thủ, Tự cũng thấy Tê Thủ là nhân tài lý tưởng nhất, nhưng ả đàn bà kia lại ngăn cản bằng được!”
“Diễn biết người đó!” Công Tôn Diễn khẽ cười đáp.
“A?” Ngụy Tự kinh ngạc, “Tự còn chưa nói là ai, sao Tê Thủ biết được?”
“Là người bên gối của đại vương, đã tìm đến với đại vương khi chinh phạt Hàm Đan, đúng không?” Công Tôn Diễn lại cười.
“Phải, phải!” Ngụy Tự gật đầu lia lịa, “ả đàn bà ấy, sắc nước hương trời, thực biết cách khiến người ta mê mẩn!”
“Về sau, phải chăng nàng ta đã lặng lẽ bỏ đi?”
“Phải, lúc tới âm thầm lặng lẽ, lúc đi cũng vậy, khiến Tự buồn bực mấy ngày trời.” Ngụy Tự rót đầy chén rượu, đưa cho Công Tôn Diễn, “Ngụy Tự xin mời Tê Thủ chén này!”
“Đại vương không những không nên buồn bực, mà ngược lại, nên lấy làm may mắn mới phải!” Công Tôn Diễn đỡ lấy chén rượu, uống cạn.
“Phải, phải!” Ngụy Tự cười nói, “ả mà không đi, sẽ rút kiệt Tự này mất thôi!” Công Tôn Diễn cười gượng một tiếng, lắc đầu: “Diễn không phải nói tới điều này.”
“Ồ?” Ngụy Tự ngạc nhiên.
“Đại vương có biết nàng ấy là ai?” Công Tôn Diễn cười hỏi.
“Ai kia?”
“Thiên Hương.”
“Thiên Hương?” Ngụy Tự nheo mắt, “là danh kỹ Thiên Hương ở lầu Miên Hương An Ấp ư?”
“Phải!”
“Ối chao!” Ngụy Tự sờ cằm, lẩm bẩm, “thảo nào Thân huynh cũng bị hút hết hồn phách!”
“Thân huynh của đại vương, cũng là bỏ mạng trong tay nàng ta!”
“Sao cơ?” Ngụy Tự lại một phen kinh hãi.
“Chính nàng ta viết thư hẹn thái tử Thân tới đất Tống. Thái tử nhận ra bút tích của nàng ta, bèn tới chỗ hẹn, mới bị người ta bắn chết rồi giá hoạ cho người Tề.”
“A!” Ngụy Tự hai mắt trợn trừng, chết sững hồi lâu, mới lẩm bẩm, “nhưng, tại sao ả lại phải giết Thân huynh?”
“Bởi nàng ta không muốn để thái tử Thân trở thành Ngụy Vương tương lai!”
“Ý tiên sinh muốn nói, ả…muốn ta làm vua?”
“Phải, lúc đó nàng ta đã ở bên cạnh đại vương, đã nắm đại vương trong tay, nên cho rằng đại vương mới là Ngụy Vương tương lai mà nàng ta mong muốn.” Ngụy Tự nghe mà vã mồ hôi lạnh, hồi lâu sau mới định thần, nhìn xoáy vào Công Tôn Diễn: “Cớ sao Tê Thủ…lại biết những chuyện này?”
“Người ngoài kia,” Công Tôn Diễn chỉ ra chiếu tiệc bên ngoài, “chính là tiện nội, năm xưa nàng ấy là Địa Hương.”
“A!” Ngụy Tự buột kêu lên kinh ngạc, sững sờ một chốc mới hỏi tiếp, “vậy tại sao…Thiên Hương nhất định muốn Tự làm Ngụy Vương?”
“Muốn người làm Ngụy Vương, không phải nàng ta, mà là người khác.”
“Ai kia?”
“Tần Vương!”
Ngụy Tự lại há hốc miệng.
Công Tôn Diễn bưng chén rượu lên: “Diễn mượn rượu của đại vương, tạ ơn đại vương đã đón rước!”
“Nàng ta…nàng ta là ai?” Ngụy Tự vẫn chìm trong kinh hãi.
“Là một Hắc điêu trong Hắc Điêu đài nước Tần, lúc này đã sang nước Sở!”
“Hắc Điêu đài?” Ngụy Tự lẩm bẩm nhắc lại, “cái tên này, dường như đã từng nghe qua!”
“Là nơi huấn luyện gián điệp của nước Tần, đặt trong núi Chung Nam.”
“Ối chao!” Ngụy Tự vỗ mạnh lên đầu, rồi nâng chén, “nào, hãy cạn, vì Thiên Hương chịu giữ lại cái đầu này cho Tự!” Hai người uống thêm mấy chén nữa, Ngụy Tự mới bịt vòi bình, nhìn sang Công Tôn Diễn: “Tê Thủ, trước khi uống say, Tự muốn thỉnh giáo vài đại sự.”
“Đại vương cứ nói!” Công Tôn Diễn vòng tay đáp.
“Người Sở phạt Tần, sứ Tần đến thỉnh cầu, muốn Tự xuất binh phạt Sở. Tự suy đi nghĩ lại, vẫn chưa biết phải làm thế nào, may sao Tê Thủ tới vừa đúng lúc.”
“Đại vương có thể tặng cho người Tần một ân tình, đồng ý phạt Sở!” Công Tôn Diễn đáp.
“Chà!” Ngụy Tự vỗ đùi đánh đét, “đây cũng chính là điều quả nhân mong muốn. Khốn kiếp, người Sở quả là đáng hận, cướp trắng tám ấp Tương Lăng…” Nói tới đây, giận dữ đấm mạnh xuống án, khiến cốc chén nảy tung.
“Đại vương hẳn đã biết phạt thế nào?” Công Tôn Diễn cười hỏi.
“Còn thế nào nữa? Đánh, đoạt lại tám ấp Tương Lăng.”
Công Tôn Diễn lắc đầu.
“Ồ…” Ngụy Tự nhìn sững vào Công Tôn Diễn.
“Phạt mà không đánh, toạ sơn quan đấu, vừa không đắc tội với Tần, cũng không đắc tội với Sở!”
“Tương Lăng thì sao?”
“Đại vương có còn muốn nước Tống?” Công Tôn Diễn chợt hỏi.
Ngụy Tự lắc đầu
“Tương Lăng vốn là đất của Tống, đại vương không muốn nước Tống, thì Tương Lăng chỉ là đất hư không mà thôi. Hơn nữa, Sở Vương rất coi trọng Tương Lăng, chắc chắn đã đặt trọng binh trấn thủ. Đại vương vất vả để tranh hư, sao bằng nhẹ nhàng mà có thực?”
“Nơi nào là thực?”
“Diệp Thành.”
“Sứ Tần hứa rằng, nếu quả nhân xuất binh phạt Sở, thì vùng đất tây tới Diệp Thành, đông tới Tương Lăng, nam tới Hạng Thành, Tần Vương sẽ cắt toàn bộ cho quả nhân.”
“Lời của Tần Vương, đại vương tin ư?” Công Tôn Diễn cười hỏi.
Ngụy Tự chép miệng không đáp.
“Đại vương,” Công Tôn Diễn nói tiếp, “Diệp Thành nằm trong Phương Thành, được Diệp Thành, tức là được Phương Thành của Sở. Được Phương Thành, có thể kiểm soát Uyển Thành, phía bắc chế Hàn, phía nam chế Sở, lại không đến nỗi quá đắc tội với Sở Vương.”
“Tê Thủ nói phải!” Ngụy Tự suy nghĩ chốc lát, rồi quay sang nội thần đứng hầu bên cạnh, “đi, tới phủ công thúc, mang mấy thứ tướng ấn lại đây. À, phải rồi, truyền chỉ với công thúc, chiếu mệnh ông ta làm…” Vò đầu một hồi, “làm thái sư đi, chức này hợp với công thúc!”
Đi sứ sang Tề, là em trai của Mị Nguyệt, Ngụy Nhiễm. Do lập công trong trận chiến Đan Dương, Ngụy Nhiễm được Tần Vương đặc cách nhiệm mệnh làm ngũ đại phu, lúc này lại được Trương Nghi tiến cử làm sứ giả sang Tề. Trương Nghi để Ngụy Nhiễm đi sứ sang Tề, gần như tặng không cho Ngụy Nhiễm một phần công lao, bởi lẽ để Tề Vương phạt Sở, chẳng cần tốn đến miệng lưỡi. Thứ Tề Vương chờ đợi, chỉ là thời cơ và lý do. Hiện tại thời cơ đã tới, lại được Tần Vương cầu cứu, coi như cũng đủ lý do. Bởi vậy, Ngụy Nhiễm vào triều không cần nhiều lời, chỉ hành nghi lễ sứ thần rồi trình lên quốc thư và sính lễ của Tần Vương, liền quay về trạm dịch chờ hồi âm.
Quả nhiên, Tề Vương chỉ chờ có thế. Sứ Tần vừa quay gót, không cần quần thần nghị sự, Tuyên Vương lập tức vời tới ba người Điền Anh, Khuông Chương, Điền Văn, lập tức phong Khuông Chương làm chủ tướng, Điền Văn làm phó tướng, khởi sáu vạn quân năm đô, chọn ngày lành xuất chinh phạt Sở.
Qua lời Khuông Chương, biết được Tề phạt Sở là để cứu Tần, Mạnh phu tử chẳng nói chẳng rằng, tức tốc tới Tề cung cầu kiến.
Tề Vương tuyên gặp.
“Nghe nói đại vương muốn hưng binh phạt Sở, hẳn có chuyện này?” Mạnh phu tử hành xong đại lễ, vào ngay chuyện chính.
“Ý phu tử muốn nói, Sở không nên phạt ư?” Tuyên Vương liền hỏi ngược lại.
“Chinh phạt nước khác, phải dựa vào nghĩa, dám hỏi đại vương, phạt Sở thì nghĩa ở đâu?” Mạnh phu tử gần như chất vấn. “Sứ thần của Sở Vương lăng nhục quả nhân ngay giữa triều đường, lẽ nào còn không đáng để chinh phạt?”
“Sứ thần của Sở Vương lăng nhục đại vương giữa chốn triều đường, là lỗi của sứ thần.”
“Phu tử nói sai rồi!” Tuyên Vương vừa nhắc tới đã bừng bừng phẫn hận, “sứ thần là do Sở Vương phái tới, lời của sứ thần, chính là lời của Sở Vương, thân của sứ thần, chính là thân của Sở Vương!”
“Vậy thì đại vương không hiểu sứ thần rồi!” Mạnh phu tử khẽ cười mà đáp.
“Gì kia?” Tuyên Vương nổi giận, “phu tử nói quả nhân không hiểu sứ thần?”
“Phải.” Mạnh phu tử dõng dạc đáp, “đạo làm sứ, tự cổ chí kim đều như nhau. Thứ nhất, ở lập tín, thứ hai, ở truyền ngôn.”
“Hai thứ này, giải thích thế nào?” Tuyên Vương chau mày hỏi.
“Là sứ thần, hành vi không tuỳ tiện là lập tín, lời nói không bừa bãi là truyền ngôn.” Mạnh phu tử nói, “sứ Sở Tống Di không giữ lễ của sứ tiết, lớn tiếng chửi mắng giữa triều đường, như thế gọi là hành vi tuỳ tiện.”
“Vậy còn nói năng bừa bãi?” Tuyên Vương lấy làm tò mò.
“Nói năng bừa bãi, chính là lời nói quá xa sự thực. Có hai loại nói quá, một là khen quá lời, hai là chê quá lời.”
“Thế nào là khen quá lời? Thế nào là chê quá lời?” Tuyên Vương đã cảm thấy thú vị. “Lời của sứ thần, là truyền lại lời của quân vương. Quân vương vui vẻ, thường nói lời hay ý đẹp, gọi là khen quá lời; quân vương tức giận, thường nói lời chê trách khó nghe, gọi là chê quá lời. Xưa nay, sứ giả tài giỏi vừa không truyền đi lời khen thái quá, cũng không truyền đi lời chê thái quá. Tống Di kia…”
“Thôi thôi thôi,” Tuyên Vương cắt ngang lời Mạnh phu tử, sắc mặt băn khoăn, “thân là sứ thần, thì phải truyền lời của quân vương. Quân vương vui vẻ thì truyền lời vui vẻ, quân vương giận dữ thì truyền lời giận dữ, thế mới là sứ giả tài giỏi, cớ sao phu tử lại…” Nhìn xoáy vào Mạnh Tử, ánh mắt dò hỏi.
“Đạo làm sứ giả, là bày tỏ thành ý, dẹp yên tranh chấp, chứ không phải là gây chuyện thị phi, khơi dậy phân tranh, nếu không, quân vương còn cần gì đến sứ thần, cứ dẫn ba quân đi gây chiến là được. Từ đó mà thấy, từ xưa đến nay, sứ thần tài giỏi vừa phải không truyền đi lời khen thái quá, cũng không truyền đi lời chê thái quá…” Mạnh phu tử vẫn thao thao giảng giải.
“Khoan,” Tuyên Vương lại cắt ngang, nheo mắt hỏi, “không truyền đi lời chê thái quá, có thể hiểu được, nhưng cớ sao lại không truyền đi lời khen thái quá? Lời khen, là để ca tụng đối phương, chính là bày tỏ thành ý, cớ sao sứ thần lại không được truyền?”
“Giả dụ như đại vương đây, nhất thời thích Tần, nên trước mặt sứ thần nói nhiều lời khen thái quá. Sứ thần đi truyền tin, vừa mới rời khỏi, đại vương lại bất ngờ hay tin Tần Vương trái ý đại vương, phải chăng sẽ long nhan phẫn nộ, mắng nhiếc Tần Vương không tiếc lời?”
“Phải!” Tuyên Vương ngơ ngác đáp.
“Sở Vương chính là như vậy. Thoạt tiên thích Tề, bèn sai Trần Chẩn tới truyền lời hay ý đẹp. Sau lại giận Tề, mới phái Tống Di tới truyền lời chê trách. Vậy nên đại vương nổi giận, mang nấu trước sân chầu.”
“Phải rồi!” Tuyên Vương vòng tay khen ngợi, “lão phu tử quả nhiên uyên thâm, quả nhân thụ giáo! Có điều, thân là sứ thần, đã không nên truyền lời khen ngợi, cũng không nên truyền lời chê trách, vậy nên truyền lời thế nào?”
“Lời thường.”
“Thế nào là lời thường?”
“Bỏ màu mè, trừ hoa mỹ, là lời thường.”
“Bỏ màu mè? Trừ hoa mỹ?” Tuyên Vương chép miệng, nhìn sang Mạnh Tử, “đây phải chăng chính là thành ý mà phu tử vừa nhắc tới?”
“Chính phải.” Mạnh phu tử đáp, “lời không màu mè hoa mỹ, thì tình không vui không giận, xuất phát từ cái tâm khoan nhân đại nghĩa, vì thế quân tử trong việc bang giao, không vui, không giận; vì thế mà sứ giỏi, không miễn cưỡng, không cậy khéo; nếu cậy khéo, bắt đầu ở thành mà kết thúc ở bại; miễn cưỡng theo lễ, bắt đầu ở kính mà kết thúc ở loạn; truyền lời hay thái quá, bắt đầu từ khoan dung mà kết thúc ở thù địch. Trong chuyện bang giao xưa nay, thí dụ đâu đâu cũng có, với kiến văn của đại vương, Kha không cần phải rườm lời. Mong đại vương hãy nhìn lại Tống Di…”
“Tống Di!” Tuyên Vương lại đùng đùng nổi giận, “hễ nghe tới cái tên này, quả nhân lại giận dữ sục sôi, giờ nghĩ lại, thấy mang nấu vẫn là quá nhẹ, lẽ ra nên róc thịt bằm xương ném cho chó!”
“Đại vương lẽ nào chưa từng nghĩ, rằng chính mình đã sai ư?” Mạnh phu tử nhìn thẳng vào Tuyên Vương.
“Quả nhân có gì sai?” Ánh mắt Tuyên Vương đầy bức bách.
“Hai quân giao chiến, còn không chém sứ thần, huống hồ là bang giao giữa nước lớn?” Mạnh phu tử lời lẽ thẳng thừng không chút nể vì, “Trần Chẩn và Tống Di, hai sứ thần nối gót nhau mà tới, một người khen quá lời, một người chê quá lời, thực chất chính là kết quả của sự giao tranh giữa Sở và Tần. Quân chủ anh minh, phải xuyên qua lớp lớp sương mù để nhìn thấu bản chân của sự vật. Còn đại vương thì sao? Trước nghe lời khen ngợi thái quá, lập tức giao hảo với Sở, lập minh ước láng giềng hoà mục; sau nghe lời chê thái quá, lập tức quay lưng với Sở, mang nấu sứ Sở trong vạc. Lẽ nào đại vương chỉ thích nghe lời khen hoa mỹ? Lẽ nào đại vương chưa từng suy xét cớ sao Sở Vương lại trở mặt thình lình? Lẽ nào đại vương chỉ nhất nhất nghe theo lời của một người, nói gió là gió, nói mưa là mưa? Giả như có con chó điên sủa cắn đại vương, lẽ nào đại vương cũng sủa cắn lại chó ấy?”
Một tràng cật vấn dập dồn như sấm nổ bên tai, khiến Tề Tuyên Vương nghe mà choáng váng, ngồi thở hồng hộc một hồi, lại nặn ra một lý do xuất binh khác: “Không tính tới Tống Di kia, thì nay Sở phạt Tần, Tần Vương cầu cứu, quả nhân lẽ nào bàng quan mặc kệ?”
“Dám hỏi đại vương, lý do gì để cứu Tần?” Mạnh phu tử khí thế tựa cầu vồng, ánh mắt như chớp loé.
“Ồ…” Tuyên Vương ngây ra một chốc, “người Ngụy đánh Triệu, tiên vương cứu viện; người Ngụy đánh Hàn, tiên vương cũng cứu viện; nay người Sở đánh Tần, quả nhân nếu như không cứu, há chẳng…”
“Đại vương,” Mạnh phu tử thở dài một tiếng, “người đang so mình với tiên Tề Vương đấy ư? Lẽ nào người lại không rõ đúng sai, không phân thiện ác đến thế ư?”
“Lão phu tử…” Tuyên Vương nộ khí xung thiên, đưa tay chỉ Mạnh phu tử quát lớn.
“Tần theo pháp của Vệ Ưởng, trong dùng luật hà khắc chèn ép bách tính, ngoài dùng sức cương cường chinh phạt lân bang, thất đạo với thiên hạ, đáng gọi là nước lang sói, thiên hạ không ai không biết. Tô Tần hợp tung sáu nước, là để chế Tần. Người Ngụy phạt Triệu, là phản bội minh ước sáu nước, thất nghĩa với thiên hạ, vậy nên tiên Tề Vương mới phạt. Người Ngụy phạt Hàn, lại cũng là thất nghĩa với thiên hạ, vậy nên tiên Tề Vương lại phạt. Nay Sở Vương dốc hết quốc lực phạt Tần lang sói, là làm thay các nước tung thân, đáng gọi là quân chính nghĩa, đại vương đã không giúp thì chớ, lại còn viện Tần phạt Tề, há chẳng phải nối giáo cho giặc ư?” Tề Tuyên Vương nghe mà tím mặt, toàn thân run bắn: “Lão phu tử, nói hết chưa?”
“Hết rồi!” Mạnh phu tử dõng dạc đáp.
“Hết rồi thì đi đi!” Tuyên Vương phất mạnh tay áo, quát lớn, “người đâu, tiễn khách!”
Hai tiếng “tiễn khách” còn chưa kịp thốt, Mạnh phu tử đã đứng vụt dậy, giũ tay áo dài, chẳng buồn cáo lui, cứ thế nghênh ngang mà đi.
Chú thích
[1] Theo lịch pháp xưa, tam phục là cách gọi chung của sơ phục, trung phục và mạt phục, được coi là ba thời điểm nóng nực nhất của mùa hè, nằm trong khoảng từ giữa tháng Bảy đến giữa tháng Tám dương lịch.
[2] Trì đạo, đường rộng chuyên dành cho xe ngựa đi thời cổ.
[3] Một loại vũ khí cán dài, được cải tiến từ thương, phần đầu thường có ba mũi, mũi ở giữa thẳng nhọn, hai mũi bên cạnh chĩa sang ngang, thường có răng cưa hoặc uốn lượn như râu rồng.
[4] Trong tiếng Hán, chữ “Hồ” là người Hồ cũng có nghĩa là râu quai nón.
[5] Vua Sở họ Hùng, trong tiếng Hán, Hùng có nghĩa là gấu.