Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 84
KÉN PHU QUÂN, NA SA THỬ TÀI
VƯỢT ẢI HIỂM, HỒ VƯƠNG CƯỚP BÓC

❊ ❊ ❊

Dãy núi Đạt Lan Ca Lạt khởi đầu từ phía bắc nước Yên, sừng sững vắt ngang đông tây, kéo dài đến tận cực bắc của vòng cung Hà Thuỷ, giao với mạch núi Hạ Lan chạy theo chiều nam bắc, tạo thành một hình thước thợ khổng lồ.

Phía bắc có núi cao che chắn, phía nam có Hà Thuỷ vắt ngang, trên vùng bảo địa được núi sông che chở này, nhờ được Hà Thuỷ tưới tắm và núi non bao bọc, nên rừng rậm tốt tươi, muông thú đầy đàn, là chốn đào nguyên của người Lâm Hồ.

Hà Thuỷ chảy về đông, tại vòng cung lớn rẽ xuống phương nam, có một con sông chảy tới hợp dòng, chính là sông Ca Bố mà Nhạc Nghị đã nhắc tới. Sông Ca Bố từ trên một ngọn núi đen trong dãy Đạt Lan Ca Lạt quanh co chảy xuống, uốn khúc vài chỗ, rồi đổ vào Hà Thuỷ. Lòng sông rất rộng, nước nông tới mức gần như không thấy bờ sông, dưới lòng sông nhan nhản những phiến đá lăn từ trên triền núi phía bắc xuống. Đá hoặc lớn hoặc nhỏ, hỗn loạn đầy sông, không ít khối đá còn lởm chởm góc cạnh, người hay súc vật đi trong bãi đá đều phải hết sức thận trọng, kẻo bị đá rạch thành thương. Kỳ lạ hơn nữa, sông Ca Bố chính là một đường phân giới tự nhiên, từ đó về tây, rừng rậm tươi tốt; từ đó về đông, lơ thơ cây bụi, chỉ thấy thảo nguyên bát ngát.

Bị thuỷ giới này chia đôi, không chỉ có rừng rậm và thảo nguyên, mà còn là cương vực của người Lâm Hồ và người Lâu Phiền. Người Lâu Phiền dắt ngựa ra sông uống nước, tới giữa dòng sông, liền thấy thấp thỏm, nếu mà lại tới bờ tây, sẽ phải đưa tay làm hiệu, bằng không, từ trong rừng rậm kiểu gì cũng có tên sắc đón đầu. Người Lâu Phiền mà bỏ xác ở bờ tây sông, coi như uổng mạng, không thể biện hộ cho mình.

Phía người Lâm Hồ, cũng có quy ước tương tự.

Đây là giao ước bất thành văn giữa hai bộ tộc, được đúc rút bằng máu tươi và sát phạt suốt hơn trăm năm qua.

Lúc này đã sang tháng Giêng, phương nam ấm lại, song ở vùng đất bên ngoài biên tái, dưới chân núi Đạt Lan Ca Lạt, nước sông vẫn đóng băng, mấy trận tuyết lớn từ hồi tháng Chạp đã phủ lên toàn bộ mặt sông cùng rừng rậm mênh mông phía bờ tây và thảo nguyên bát ngát phía bờ đông một màu tuyết trắng.

Với người Lâu Phiền, tuyết này thực sự đáng mừng. Suốt một năm qua, nhất là vào mùa hè Canh Tý khi vùng Kinh Sở chìm trong lũ lụt, cũng là mùa mưa mà thảo nguyên khao khát mong chờ, người Lâu Phiền chỉ biết giương mắt dõi theo những vừng mây ùn ùn từ phương bắc bay lại, dưới sự sai khiến của một sức mạnh dị thường, cứ thế phớt lờ sự sống chết của họ mà trôi tuốt xuống phương nam, không hề nấn ná.

Vừa qua giờ Ngọ, một đoàn kỵ mã hơn năm chục người giương cao cờ hiệu, vó ngựa rầm rậm đạp trên tuyết trắng, từ phía thảo nguyên phi nước đại tới, dừng lại bên sông, dõi mắt nhìn về phía tây.

Dẫn đầu đoàn người là vua của Lâu Phiền, A Cổ Lạp, trên vai đậu một con chim ưng. Theo sát phía sau là người hiệu lệnh, một thanh niên khôi ngô cường tráng, tay rút tù và, nhìn sang A Cổ Lạp.

“Thổi đi, Thác Lực!” A Cổ Lạp ra hiệu.

Thác Lực liền thổi tù và.

Tiếng tù và vừa rúc vang, con chim ưng đậu trên vai A Cổ Lạp liền bay vút lên không, chao liệng giữa trời.

Chẳng mấy chốc, trong khu rừng phía xa cũng bay lên một con chim ưng, tiếp đến là tiếng tù và đáp lại.

Hai con chim ưng liệng vòng trên bầu trời, có tiếng lục lạc lanh canh vọng lại từ trong rừng cây rậm rạp, một toán kỵ binh giương cờ hiệu khác lao ra khỏi rừng, băng qua lòng sông, dừng ngựa bên bờ đối diện.

Nhìn vào số lượng, thấy hai bên tương đương nhau, rõ ràng đã có giao hẹn từ trước.

A Cổ Lạp bỏ mũ chiên xuống, tiến lại phía người dẫn đầu, là một tráng hán râu quai nón rậm rì, mình quấn da hổ, trên mũ chiên cắm ba sợi lông điêu, rồi cúi gập người mà nói: “Mãng hán thảo nguyên A Cổ Lạp cung nghênh vua của Đại Lâm!” Tráng hán được gọi là vua của Đại Lâm cũng bỏ mũ chiên đáp lễ: “Ngu phu rừng rậm Ba Đồ thất lễ, đã để vua của thảo nguyên phải đợi lâu!”

“Na Sa,” A Cổ Lạp quay sang một thiếu nữ phía sau, “đây chính là vua Đại Lâm, bá phụ Ba Đồ mà con thường hay hỏi!”

Na Sa cũng bỏ mũ, xoã tung mái tóc nâu, cúi gập người trước Ba Đồ: “Gái thảo nguyên Na Sa bái kiến vua Đại Lâm, Ba Đồ bá phụ!”

Ba Đồ phá lên cười lớn, ngắm nghía một chốc rồi đáp lễ, gật gù hài lòng mà nói: “Quả là viên minh châu của thảo nguyên, đã lớn thật rồi!” Nhìn sang A Cổ Lạp, “có câu thời gian như nước chảy, quả thực không sai. Còn nhớ lần trước uống rượu ở chỗ nhà vua, Na Sa mới cao chừng này, đi còn chập chững!” Đưa tay vạch ngang đầu gối.

Mọi người đều cười ồ.

“Lúc đó người ta mới có hơn một tuổi!” Na Sa dẩu môi xinh, khẽ giọng cãi lại.

Ba Đồ nghe vậy, lấy làm vui vẻ, vuốt râu cười lớn, rồi đưa tay chỉ về ba tráng sĩ ở sau lưng: “Phải rồi, lúc đó ba anh chàng này cũng mới cao bằng đấy!” Rồi gọi tên từng người, “Ba Thiếp Nhĩ, Sát Hãn Bố Hoa, Mậu Ba Tư, còn không mau hành đại lễ với vua của thảo nguyên, và cả viên minh châu rực rỡ này, công chúa Na Sa!”

Ba Thiếp Nhĩ bước lên trước, khom lưng trước A Cổ Lạp: “Hậu sinh Ba Thiếp Nhĩ khấu kiến vua của thảo nguyên tôn kính, A Cổ Lạp!” Tiếp đến, Sát Hãn Bố Hoa, Mậu Ba Tư cũng đều bước lên hành lễ.

A Cổ Lạp đưa mắt nhìn ba anh em, tươi cười phấn khởi: “Hay lắm, hay lắm, đều là hậu sinh anh tuấn!”

“Tạ ơn bá phụ quá khen!” Ba anh em Ba Thiếp Nhĩ vòng tay cảm tạ, rồi lại quay sang Na Sa, khom lưng nói, “mãng phu Đại Lâm bái kiến minh châu thảo nguyên, công chúa Na Sa!”

Na Sa uyển chuyển đáp lễ: “Nữ nhi thảo nguyên Na Sa bái kiến các vương tử Đại Lâm.” Lễ xong, lại đội mũ lên, quay về phía sau A Cổ Lạp.

“Vua Đại Lâm tôn kính,” A Cổ Lạp nhìn vào Ba Đồ, “mặt trời ấm áp đã ngả về tây, lửa trên thảo nguyên đã nổi, thịnh tình của thảo nguyên đã tràn trề, trai gái thảo nguyên đang trông ngóng vua Đại Lâm tôn kính từ phương xa tới làm khách. Kính mời lên ngựa, yến tiệc tế thần núi Đại Hắc đang chờ chư vị tới để bắt đầu!” Giơ tay chỉ vào một đỉnh núi cao tuyết phủ trắng xoá ở phía đông bắc.

“Khởi hành!” Ba Đồ hô lớn, tung mình lên ngựa.

Kỵ sĩ hai bên đều dạ ran, cùng nhảy lên ngựa, đạp tuyết lao về phía đông.

Từ thành Tấn Dương đi về phía bắc, qua ải Nhạn Môn, vượt Hằng Sơn, lại đi tiếp về phía bắc, sẽ tới Bình Thành. Từ Bình Thành tiến về phía tây, chính là địa bàn của người Lâu Phiền. Những năm gần đây, thế lực của người Triệu từ Bình Thành liên tục mở rộng về tây, từ từ xâm lấn vào địa bàn của người Lâu Phiền. Người Lâu Phiền là dân du mục, không biết đến lãnh thổ cố định, bò ngựa lùa tới đâu, thì đồng cỏ nơi đó là của họ; lùa bò ngựa đi nơi khác, nơi đó sẽ bỏ không, vì thế khi người Triệu xâm lấn, thoạt tiên họ không mấy để tâm, cho đến sau này, lại xua bò ngựa quay về nơi chăn thả cũ theo thường lệ, mới sững sờ phát giác, thảo nguyên năm xưa đã biến thành thôn ấp biên thuỳ của Triệu.

Thế là, xung đột xảy ra.

Thế là, người Triệu đồn quân, bắt đầu đặt ải trấn giữ, dựng tháp canh phòng, tiếp đến ở bên ngoài tháp canh, lấy sông làm ranh giới, cắm mốc khoanh đất, không cho người Lâu Phiền tới chăn gia súc.

Vào hôm vua Lâm Hồ và vua Lâu Phiền gặp mặt, trong thôn ấp mới lập của người Triệu bỗng nhộn nhịp lạ thường. Từng cỗ xe lớn chất đầy hàng hoá, từ thức ăn gia súc, vật dụng thường ngày, binh khí mã cụ, cho tới phục sức châu báu không thiếu thứ gì, rậm rịch kéo tới, dỡ hàng ngay bên cửa ải mới dựng cách đây không lâu.

Trong một gian nhà gỗ lớn vừa dựng tạm, một chậu than đang cháy đượm, tướng Triệu, Phì Nghĩa ngồi ngay ngắn trước án lớn, trên án bày chỉ dụ và hổ phù điều binh của Triệu Vương.

Đứng trước mặt Phì Nghĩa là hơn chục viên tướng Triệu, đều mặc áo Hồ. “Chư vị tướng quân, thời cơ kiến công lập nghiệp đã tới!” Phì Nghĩa chỉ vào hổ phù và chỉ dụ, “vua ta mật chỉ, năm nay thu phục Lâm Hồ và Lâu Phiền.”

Chúng tướng lấy làm phấn khởi, nhao nhao hỏi: “Đánh thế nào?”

“Chưa nghe rõ sao, là thu phục, không phải đánh!” Phì Nghĩa nhắc lại.

Chư tướng sửng sốt, đưa mắt nhìn nhau.

“Với người Hồ, không đánh, thì làm sao thu phục được?” Một viên tướng hỏi.

“Có nhìn thấy những cỗ xe ngoài kia không?” Phì Nghĩa hỏi.

“Có thấy!” Chư tướng đồng thanh đáp.

“Sẽ dùng những thứ đó để thu phục!” Phì Nghĩa nở một nụ cười thâm thuý, “mấy ngày tới, các vị hãy mở chợ ở biên quan, mang toàn bộ vật phẩm trên xe bày biện ra hết, để dụ người Hồ tới mua bán.”

“Sao có thể được?” Một viên tướng lập tức phản đối, “năm nay gặp thiên tai, người Hồ sống dở chết dở, giờ chở tới bao nhiêu hàng tốt, họ lại chẳng tới cướp ngay?”

Một viên tướng khác bừng hiểu ra, phá lên cười lớn, chỉ vào viên tướng vừa lên tiếng: “Đúng là đồ ngốc, họ không tới cướp, thì ta thu phục thế nào?”

Chúng tướng đều cười rộ.

“Có điều, làm sao để người Hồ tới cướp, vẫn cần phải có mưu khéo mới được!”

“Mưu khéo ở đâu?” Chúng tướng vội hỏi.

“Ở đây!” Phì Nghĩa lấy ra túi gấm mà Tô Tần đã trao cho, từ tốn mở ra.

Ngọn núi Đại Hắc sừng sững chọc trời đã không còn màu đen nữa, mà được phủ lên một màn tuyết trắng phải sang xuân mới tan chảy. Men theo chân núi là một thung lũng sông rộng lớn chạy về đông, lúc này cũng không thấy đâu nữa, chỉ còn thấp thoáng một khe tuyết nông gợi nhớ về sự tồn tại của nó.

Hai bên bờ khe tuyết nhấp nhô những nóc lều màu trắng. Chủ nhân những căn lều này đến từ nhiều bộ tộc khác nhau sống trên thảo nguyên, đa phần là thủ lĩnh các bộ tộc và dũng sĩ đến thi đấu trong lễ hội thần núi lần này.

Từ trên tháp cao dựng trên lưng chừng núi Đại Hắc nhìn xuống dưới, những nóc lều màu trắng như hoà lẫn vào nền tuyết mênh mông, dày san sát, kéo dài đến vài chục dặm, hết vòng này đến vòng khác, quây thành nhiều khu lều nhỏ. Các khu lều ngay ngắn chỉnh tề, xen kẽ lẫn nhau, hình thành nên một bức tranh tuyệt đẹp, thoạt nhìn giống như một con trăn lớn đang uốn lượn theo chân núi trườn từ tây sang đông.

Các khu trại được phân biệt bằng màu sắc của cờ hiệu dựng phía trước lều. Các lều cùng một khu sẽ cắm cờ cùng màu, trên những lá cờ dựng trước cửa mỗi lều đều được thêu hình khác nhau, là ký hiệu nhận biết để tránh đi nhầm.

Tại vị trí trung tâm của những khu lều, sừng sững một nóc lều to lớn nhất. Chính là lều của vua thảo nguyên A Cổ Lạp.

Bóng chiều mờ mịt, một vầng trăng sáng lơ lửng giữa bầu không.

Rằm tháng Giêng chính là lễ tế thần núi của người Lâu Phiền, chủ yếu là để cúng tế thần núi Đại Hắc, bởi vì hơn ba mươi ngọn núi trong dãy Đạt Lan Ca Lạt, nguồn sống của người Lâu Phiền, đều coi núi Đại Hắc là núi tổ.

Lúc này là đêm ngày mười bốn tháng Giêng, dưới lòng sông rộng lớn phía trước lều vua, những đống lửa được nhóm lên để chào đón ngày lễ thần núi, chiếu sáng rực một vùng tuyết trắng. Bắc ngang trên lửa là từng xiên cừu nướng nguyên con, mùi thịt nướng thơm nức toả khắp trong thung lũng. Nam nữ thảo nguyên tới từ các bộ tộc Lâu Phiền, đông đến vạn người, ai cũng ăn mặc rực rỡ, ngồi bên đống lửa hoặc nướng thịt hoặc xẻ thịt, hoặc ăn hoặc uống. Trong tiếng trống, chiêng, sáo, nhị cùng đủ loại nhạc cụ khác của người Hồ, dưới sự thôi thúc của hơi men, nam nữ thảo nguyên hoặc nhảy múa rộn ràng, hoặc cất cao tiếng hát, quang cảnh vô cùng náo nhiệt.

Vũ nhạc đã tới cao trào, viên minh châu thảo nguyên, công chúa Na Sa, phục sức lộng lẫy, kiều diễm đăng đàn. Trong tiếng nhạc rộn ràng sôi nổi, hai mươi tư mỹ nữ thảo nguyên và hai mươi tư tráng hán cùng nhảy múa tưng bừng bên ánh lửa.

Trăng tròn vằng vặc, lửa cháy rực hồng.

Vũ nhạc dần đến hồi cuồng nhiệt. Công chúa thảo nguyên càng phô bày đủ vẻ lộng lẫy yêu kiều, khác nào đoá hoa tháng Tư vừa khoe sắc giữa mùa xuân thảo nguyên. Na Sa uyển chuyển lướt quanh bãi trống, vừa múa vừa vẫy tay đáp lễ những người xem đang vỗ tay tán thưởng. Rồi nàng tiến lại trước mặt Thác Lực, chìa ra một bàn tay.

Thác Lực liền bước ra, nắm lấy tay nàng.

Hai người sánh bước vào giữa bãi trống, Sa Na quay sang nhạc đội, vẫy tay. Nhạc lập tức chuyển sang điệu khác, Thác Lực cùng Na Sa tay trong tay, vừa nhảy múa vừa cất cao giọng hát.

Đó là bài hát về núi Đại Hắc, Thác Lực hát về núi, Na Sa hát về nước, sau đó cùng hoà giọng hát rằng:

Núi Đại Hắc xuyên qua mây,

Sông Đại Hắc dưới núi này lượn quanh.

Núi Đại Hắc, nhà ưng xanh,

Sông Đại Hắc, dải vườn lành cỏ hoa.

Chim ưng xanh làm nhà đỉnh núi,

Cỏ hoa tươi bén cội ven sông.

Núi như xương cốt anh hùng

Sông như dòng máu thắm hồng mỹ nhân.

Núi sông nương tựa thật gần,

Như là xương máu trong thân giao hoà.

Na Sa và Thác Lực, một bên là công chúa thảo nguyên, một bên là kim ưng thảo nguyên, kẻ xướng người hoạ, ca vũ nhịp nhàng, người xem hoan hô dậy đất.

Ba vị vương tử ngồi tại chiếu khách đưa mắt nhìn nhau, ba luồng nhãn quang không hẹn mà cùng chiếu thẳng vào Thác Lực. Không sai, đó chính là hán tử đeo tù và trước ngực, cưỡi ngựa đi bên cạnh công chúa khi ra nghênh đón họ hồi chiều.

Ba Đồ cũng mặt dài thượt.

Cha con họ được mời tới đây, danh nghĩa là tham gia lễ hội thần núi của người Lâu Phiền, song kỳ thực là vì chuyện hôn nhân. Na Sa, công chúa Lâu Phiền đã tròn mười sáu, đương độ rực rỡ xuân thì, nên quốc sư Lâu Phiền là Lặc Cách và quốc sư Lâm Hồ là Cáp Thập Cách đã qua lại mai mối, dự tính liên hôn với vương tử của Lâm Hồ. Lâu Phiền chỉ có một công chúa, mà Lâm Hồ có những ba vương tử, người Hồ lại không có tục con trai trưởng kế vị, do vậy, Ba Đồ đã nghe theo ý nguyện của A Cổ Lạp, dẫn cả ba vương tử tới đây, để công chúa thảo nguyên lựa chọn.

Rất hiển nhiên, vua của thảo nguyên A Cổ Lạp không có con trai nối dõi, chỉ có mỗi một cô con gái này, ai lấy được nàng, người đó sẽ là vua thảo nguyên tương lai. Không chỉ có thế, trước khi xuất hành, Ba Đồ cũng đã giao hẹn trước, trong ba anh em, ai may mắn cưới được công chúa Na Sa, người đó sẽ là vua Lâm Hồ tương lai, bởi vậy, lần cầu hôn này sẽ quyết định trực tiếp tới địa vị vua tôi trong tương lai của ba anh em, ý nghĩa cực kỳ hệ trọng.

Cả ba anh em đều ngấm ngầm tính toán, chuẩn bị kỹ càng, định bụng phô bày thân thủ trước mặt công chúa, song nào có ngờ, công chúa vừa xuất hiện, đã lựa chọn ngay một hán tử đồng tộc, không chỉ cùng hát, mà còn cùng nhảy múa! “Hỡi A Cổ Lạp, vua thảo nguyên tôn quý!” Ba Đồ nâng bát rượu, mắt nhìn chằm chằm vào Thác Lực đang nhảy múa say sưa, “cậu thanh niên kia nhảy múa nom cũng thực đẹp mắt!”

A Cổ Lạp hiểu rõ ông ta muốn ám chỉ điều gì, cũng nâng bát, khẽ cười mà nói: “Đó là Thác Lực, dũng sĩ kim ưng chiến thắng trong cuộc thi năm ngoái, bọn trẻ ai cũng yêu mến cậu ta!”

“Vậy sao?” Ba Đồ uống cạn bát rượu, “không phải là chim ưng mà con gái thảo nguyên đã lựa chọn đấy chứ?”

Trong ngôn ngữ thảo nguyên, Thác Lực cũng có nghĩa là chim ưng.

“Sao có thể?” A Cổ Lạp hạ giọng khẽ nói, “Thác Lực là người ngoại tộc, lâm nạn mà chạy tới đây, lúc đó mới có sáu tuổi. Khi tôi bắt gặp, hai mẹ con sắp chết đói đến nơi, bên cạnh còn có một con sói đói đang rình rập. Tôi bắn chết con sói, thấy họ thực đáng thương, bèn giữ lại trong nhà. Thác Lực và Na Sa lớn lên cùng nhau, nên rất thân thiết, coi nhau như anh em ruột!”

Nghe nói Thác Lực và Na Sa coi nhau như anh em, xét về địa vị, Thác Lực cũng chỉ là nô bộc, Ba Đồ mới thở phào một tiếng, gật gù khen ngợi: “Hay lắm, hay lắm, thằng bé mà ông cứu giúp, quả đúng là một tráng sĩ!” Rồi ghé sát bên tai A Cổ Lạp, thì thầm, “vua của thảo nguyên tôn kính, Ba Đồ tôi đã chuẩn bị sẵn sính lễ cầu hôn rồi!”

A Cổ Lạp bật cười vui vẻ: “Đã nghe Lặc Cách báo lại, vua Đại Lâm tôn kính chuẩn bị lễ vật hậu hĩnh, gồm một vạn bó cỏ đông, một vạn bao thóc lúa, đều là những thứ mà thảo nguyên đang rất cần!” Khẽ thở dài một tiếng, “than ôi, năm nay đại hạn, cỏ cây khô héo. Không giấu Ba Đồ huynh, tuy rằng đợt hạn hán lần này chưa khốc liệt bằng đợt hạn hơn trăm năm trước, song các bộ lạc đều đã không thể cầm cự nổi. Hậu lễ của Ba Đồ huynh, khác nào đợt tuyết may mắn này, đúng là mưa rào trong nắng hạn!”

“Lặc Cách của ông bẩm báo sai rồi!” Ba Đồ nở nụ cười ranh mãnh.

“Ồ?” A Cổ Lạp ngạc nhiên.

“Không giấu thông gia,” Ba Đồ chậm rãi nói, “nghe Lặc Cách kể về tình hình đại hạn trên thảo nguyên, nói rằng không ít bộ lạc đã hết sạch cỏ, không cầm cự nổi tới tháng Ba. Giờ đang thời kỳ giáp hạt, tháng Giêng, tháng Hai chính là mùa gia súc mang thai, nếu đứt nguồn cỏ, hậu quả khó lòng tưởng tượng. Ba Đồ vì chuyện này mà mấy đêm liền ngủ không ngon giấc, vội lệnh cho các con triệu tập bộ tộc các nơi, sai Cáp Thập Cách làm lễ tế thần sông, bẩm báo tình hình thiên tai ở thảo nguyên. Hai chúng ta cùng ở dưới chân núi Đại Hắc, thiên tai ở thảo nguyên cũng là thiên tai của Đại Lâm. May nhờ có thần sông phù hộ, nên các bộ lạc của chúng tôi mới có thể gắng gượng qua ngày. Hay tin người anh em thảo nguyên hết cỏ mùa đông, các bộ tộc Đại Lâm đều khảng khái tương trợ, nên con số lúc nãy, mới chỉ là một nửa mà thôi!”

“Cảm tạ thần núi, cảm tạ thần sông.” A Cổ Lạp chắp hai tay, hướng về phía núi Đại Hắc vái một vái, rồi lại hướng về phía sông Hà Thuỷ vái một vái nữa, “A Cổ Lạp thay mặt cho người thảo nguyên, cảm tạ tấm lòng của vua Đại Lâm.”

Ba Đồ cười lớn, đáp lễ mà nói: “Vua của thảo nguyên hà tất đa lễ, núi sông nương tựa vào nhau, trời cao cho chúng ta kết tình thông gia, giờ chúng ta đã thành người một nhà.” Ngả người lại gần, hạ giọng nói, “vả lại, đây mới chỉ là một phần sính lễ,” liếc nhìn về phía ba vương tử, “Ba Đồ đã tế cáo thần sông, trong ba đứa kia, ông và công chúa ưng đứa nào, thì đó chính là nhà vua tương lai của Đại Lâm!”

“A Cổ Lạp cảm tạ vua Đại Lâm đã yêu mến Na Sa!” A Cổ Lạp nói, rồi giơ một tay lên cao, “trước thần núi Đại Hắc, A Cổ Lạp hứa với vua Đại Lâm, bất luận ai trở thành phu quân của Na Sa, người đó cũng sẽ là vua tương lai của thảo nguyên!”

Lời nói vừa dứt, màn ca vũ cũng kết thúc, Thác Lực buông tay Na Sa ra, quay về chỗ ngồi. Một điệu nhạc khác lại được tấu lên, Na Sa uyển chuyển bước lại, khom lưng thật thấp trước Ba Đồ, rồi chìa tay với Ba Thiếp Nhĩ.

Ba Thiếp Nhĩ bước vào giữa bãi, hai người cùng nhảy một khúc. Tiếp đến, Na Sa lần lượt mời Sát Hãn Bố Hoa, Mậu Ba Tư cùng nhảy. Cuối cùng, nàng tươi cười vẫy tay với mọi người xung quanh. Chúng nhân nhận được lời mời, cùng chạy ùa vào trong bãi, nhảy múa sôi nổi trong tiếng nhạc tưng bừng.

Trăng chếch về tây, cuộc vui kết thúc. A Cổ Lạp dẫn khách về lều, rồi hối hả quay về lều vua, quét mắt một vòng, nhìn sang vương hậu Tát Nhân hỏi: “Na Sa đâu?”

“Ối chao, vừa nãy vẫn còn nghe thấy tiếng, sao thoắt cái đã không thấy đâu rồi?” Tát Nhân nhìn quanh, ra bộ ngạc nhiên.

“Nó chưa về!” A Cổ Lạp lừ mắt nhìn vương hậu, rồi quay sang nô tỳ đứng hầu bên cạnh, “mau đi tìm về đây!”

Nô tỳ vâng dạ rồi chạy đi ngay.

Tát Nhân tươi cười hỏi: “Nhìn vào việc hôm nay, hẳn là đại vương đã ưng ý vương tử của Ba Đồ?”

“Nàng đoán đúng rồi đấy!” A Cổ Lạp ngồi xuống, thấy vương hậu bưng chậu nước nóng lại, bèn duỗi chân ra, “vương tử thứ hai nhà Ba Đồ, nàng thấy sao?”

“Là cậu nào?” Vương hậu vừa rửa chân cho A Cổ Lạp vừa hỏi.

“Chính là đứa ngồi giữa, mặt vuông vức, tên là Sát Hãn Bố Hoa. Nghe Lặc Cách nói, người mặt vuông tính tình trung hậu.”

“Thiếp không hiểu chuyện này, đại vương vừa mắt ai thì hãy chọn người đó!” Tát Nhân mỉm cười, khẽ nói, “có điều, đại vương cũng sẽ nghe theo ý tứ của Na Sa, phải không? Vì con bé sẽ chung sống với người ta cả đời kia mà! Hơn nữa, con bé từ nhỏ đã ương bướng khó bảo, cũng tại đại vương nuông chiều nó quá!”

“Phải, phải.” A Cổ Lạp sốt ruột cắt lời, chợt chau mày hỏi, “mà ta nghe nói, nó rất thích Thác Lực, có chuyện này không?”

“Thiếp có nghe ai nói vậy đâu!” Tát Nhân liếc nhìn A Cổ Lạp, “có điều, thằng Thác Lực cũng rất tốt, ai ai cũng mến. Năm ngoái tế lễ thần núi, thằng bé thi gì cũng giành giải nhất, là kim ưng của thảo nguyên, chẳng phải đại vương cũng thích…”

“Thích cũng không được!” A Cổ Lạp lại cắt lời vương hậu, giọng như chém đinh chặt sắt.

“Vì sao kia?” Từ bên ngoài lều bỗng vang lên một giọng nói đầy bất bình.

Là Na Sa.

Không biết nàng đã trở về từ lúc nào, đứng bên ngoài cửa nghe rõ mồn một, bèn kéo đánh soạt tấm rèm, sải bước đi vào, sắc mặt giận dỗi nhìn thẳng vào A Cổ Lạp.

“Bởi vì con là công chúa thảo nguyên, con nhất định phải gả cho vương tử Đại Lâm!” A Cổ Lạp mặt không đổi sắc, cất giọng kiên định.

“Cha…” Na Sa giậm chân.

“Na Sa,” A Cổ Lạp hạ giọng, ngữ khí cũng hoà hoãn lại đôi chút, “những năm qua, người Triệu được tấc đòi thước, liên tiếp xâm phạm cương giới ta, quấy nhiễu dân ta. Cha đã bàn với Lặc Cách, Lặc Cách hỏi ý trời cao, trời cao thị dụ, ta cần liên hôn với vua Đại Lâm. Na Sa, nếu con kết hôn với vương tử Đại Lâm, ta sẽ không còn sợ người Triệu nữa!”

A Cổ Lạp cố ý không đả động tới tình cảnh khó khăn trước mắt, chỉ nhắc đến người Triệu.

“Con có Thác Lực, con không sợ ai hết!” Na Sa vẫn kiên quyết. “Hồ đồ!” A Cổ Lạp sầm mặt, nhìn trừng trừng vào nàng, “Na Sa, chuyện này không phải con muốn là được. Nghe đây, là công chúa thảo nguyên, con chỉ có một lựa chọn, đó là chọn lấy một người trong ba vị vương tử Đại Lâm làm phu quân! Cha và Ba Đồ đã giao hẹn xong rồi, trong ba vương tử, con chọn người nào, người đó sẽ là vua của Đại Lâm tương lai, cũng là vua của thảo nguyên tương lai! Tới lúc đó, thảo nguyên và rừng rậm hợp thành một nhà, dù là người Triệu, người Tần, người Nghĩa Cừ hay người Mạc Bắc, ta đều không sợ nữa!”

“Được!” Na Sa cắn môi một lát rồi nói, “Na Sa cũng có một điều kiện!”

“Nói đi!”

“Ba người họ phải thi đấu với Thác Lực. Lựa chọn của con chỉ có một, hoặc Thác Lực, hoặc người chiến thắng Thác Lực!”

“Nếu cả ba đều thắng Thác Lực thì sao?”

“Thì lại đấu với nhau, cho tới khi chọn được người chiến thắng cuối cùng!”

“Thi gì?”

“Thi võ, thi văn đều được, do cha quyết định!”

Thi võ là huyết chiến, gươm đao tấn công, sinh tử đổ máu; thi văn là thi nghệ, chỉ cần quyết định thắng thua. Hiển nhiên, đối với A Cổ Lạp, thi võ là không thể.

“Vậy thì thi văn. Con hãy nói ra một cách!”

“Đã tới thảo nguyên, thì cần tuân thủ cách tỉ thí của thảo nguyên ta, thi cưỡi ngựa, bắn cung, đi săn!”

“Ừm.” A Cổ Lạp vuốt râu một hồi, nhìn sang Na Sa, khẽ gật gù, “con gái thảo nguyên phải gả cho người mạnh nhất. Có điều, thi đấu cần phải ngang hàng. Nói gì thì nói, người ta cũng là vương tử, còn Thác Lực chỉ là thứ dân. Na Sa, ba cuộc tỉ thí, ta có thể để Thác Lực tham gia một cuộc, hai cuộc còn lại, hãy để anh em họ của con tham gia, thế nào?”

“Không được!” Na Sa vô cùng kiên quyết, mắt nhìn thẳng vào A Cổ Lạp, “cha, hồi Na Sa còn nhỏ, người thường nhắc đi nhắc lại rằng, trên thảo nguyên, không phải anh hùng thì không xứng làm con trai thảo nguyên, không biết kỵ xạ thì không xứng làm con gái thảo nguyên. Na Sa là con gái thảo nguyên, nên đã rành cưỡi ngựa bắn cung rồi. Người con trai mà Na Sa lấy làm chồng sẽ là vua tương lai của thảo nguyên, vậy thì người đó nhất định phải là dũng sĩ, nhất định phải là anh hùng đệ nhất. Ngoài cha ra, thì Thác Lực chính là dũng sĩ vô địch trong mắt Na Sa, bất luận là ai, nếu muốn trở thành phu quân của Na Sa, nhất định phải trội hơn Thác Lực! Còn với thân thế vương tử của quý khách Đại Lâm, Na Sa có thể nhượng bộ một bước.” Nói đoạn, giơ tay phải lên, thần sắc nghiêm trang, “trước thần núi Đại Hắc, Na Sa hứa rằng, trong ba vương tử, bất kể ai thắng được Thác Lực, dù chỉ một trận, thì gái thảo nguyên Na Sa nguyện lấy người đó làm chồng!”

Thấy Na Sa đã chịu nhượng bộ tới nước này, A Cổ Lạp không biết phải nói sao, cũng giơ tay lên mà nói: “Trước thần núi Đại Hắc, vua của thảo nguyên A Cổ Lạp chấp thuận lời hứa của Na Sa!” Đã mượn danh nghĩa của thần, đương nhiên phải đi cầu thần.

Sáng sớm hôm sau, A Cổ Lạp tìm đến lều của đại tư tế Lặc Cách.

Lặc Cách đương nhiên là người trí tuệ nhất trên thảo nguyên này. Trí tuệ của Lặc Cách bắt nguồn từ tổ tiên. Tổ tiên của Lặc Cách đến từ Mạc Bắc xa xôi, là một tát man có thể hô mưa gọi gió. Trước khi tổ tiên của Lặc Cách tới đây, người thảo nguyên không thờ một vị thần cố định, mỗi bộ tộc du mục sẽ thờ một vị thần khác nhau, có tộc thờ mặt trời, có tộc thờ mặt trăng, có tộc thờ thần núi, có tộc thờ thần sông, có tộc thờ sói trắng, có tộc thờ chim ưng, cũng có tộc thờ cây cối, quả là muôn hình vạn trạng. Các tín ngưỡng thờ thần ấy đều được truyền lại từ đời đời tổ tiên, không ai hồ nghi cả. Sự thay đổi mới xảy ra từ hơn trăm năm trước. Trời giáng hạn hán liền ba năm, suốt ba mùa xuân hạ thu không có lấy một cơn mưa đúng nghĩa, mùa đông cũng không mưa tuyết, đường thuỷ đứt đoạn, ngay cả sông Đại Hắc vốn dạt dào cuồn cuộn cũng cạn trơ đáy. Cỏ cây chết héo, tiếp đến là nạn châu chấu, gia súc cũng mắc phải chứng bệnh lạ, chết hàng loạt. Các bộ lạc vì tranh giành nguồn nước và đồng cỏ càng lúc càng khan hiếm mà chém giết lẫn nhau. Chính vào lúc đó, tổ tiên của Lặc Cách đã từ Mạc Bắc tìm tới.

Tổ tiên của Lặc Cách tìm tới tổ tiên của A Cổ Lạp, vốn thờ thần núi Đại Hắc. Tổ tiên của A Cổ Lạp bèn ra mặt, triệu tập thủ lĩnh các bộ tộc đang mải mê sát phạt, rồi thi pháp ngay trước mặt họ, khiến linh thần hiển hiện, nhập thần tự xưng là thần núi Đại Hắc, trách cứ các bộ tộc thảo nguyên vô ơn, bởi lẽ thần núi đã nuôi dưỡng toàn bộ bò cừu, trở thành nguồn sống cho các bộ tộc thảo nguyên, lại giúp họ chắn gió lạnh từ phương bắc thổi tới. Vậy mà các bộ tộc ấy không biết cảm ân, không thờ cúng thần linh ban ơn, nên đã khiến thần núi nổi giận, giáng tai hoạ xuống thảo nguyên. Nếu họ không biết hối cải, đại hạn còn kéo dài thêm ba năm nữa, dịch bệnh sẽ không chỉ ở gia súc, mà còn lan sang con người. Thủ lĩnh các bộ tộc đều phủ phục bái lạy, từ đó đổi sang thờ thần núi Đại Hắc làm thần chung của thảo nguyên. Kể cũng kỳ lạ, ngày thứ ba sau khi tế bái thần núi, trời bắt đầu đổ mưa, lúc lớn lúc nhỏ, rả rích suốt bảy ngày bảy đêm, núi Đại Hắc lại xanh tươi mơn mởn, sông Đại Hắc lại sóng gợn dạt dào, thảo nguyên mênh mông lại cỏ mọc bời bời, đàn châu chấu cũng đột nhiên biến mất. Tù trưởng của các bộ tộc thảo nguyên từ đó một lòng tin tưởng vào thần núi Đại Hắc, quần tụ về xung quanh tổ tiên của A Cổ Lạp, tôn làm vua của thảo nguyên, lập quốc hiệu Lâu Phiền, thờ duy nhất một vị thần là thần núi Đại Hắc. Hai chữ Lâu Phiền cũng xuất phát từ thần dụ của thần núi Đại Hắc, ngay cả người truyền dụ ý thần cũng không biết giải thích thế nào. Để báo đáp, tổ tiên của A Cổ Lạp đã bái tổ tiên của Lặc Cách làm đại tư tế của thần núi Đại Hắc kiêm quốc sư của nước Lâu Phiền, mỗi khi có đại sự, đều uỷ thác cho việc tế bái thần núi Đại Hắc, để cầu thần dụ.

Vương vị của Lâu Phiền truyền từ đời này qua đời khác, chức đại tư tế cũng được truyền thừa trong dòng họ. Khi A Cổ Lạp kế vị, thì Lặc Cách cũng được thừa kế chức đại tư tế truyền thần dụ, phàm gặp đại sự, A Cổ Lạp đều phải thỉnh giáo Lặc Cách.

Ở Lâu Phiền, lều của đại tư tế chỉ đứng sau lều vua về độ lớn. Khi A Cổ Lạp bước vào, trong lều của đại tư tế đã ngồi chật những người, đa phần đều là tư tế của các bộ tộc khác. Ba ngày tới sẽ là thời điểm sôi động nhất của lễ tế thần, cũng là thời khắc khai phóng nhất của người Lâu Phiền trong một năm, chuyện hôn nhân của thanh niên Lâu Phiền đa phần được quyết định trong ba ngày đó, để rồi chính thức thành hôn lúc xuân sang hoa nở. Chính vì vậy, đại tư tế cần tổ chức rất nhiều cuộc thi tài, chỉ cần là trai gái thảo nguyên, đều có thể báo danh tham gia. Do năm nay thiên tai trầm trọng, lại có khách quý từ Đại Lâm tới, đại tư tế lại càng nghiêm ngặt kỹ lưỡng, không cho phép xảy ra bất cứ sai sót nào dù nhỏ nhất.

Thấy người bước vào là A Cổ Lạp, tất cả các tư tế đều đứng dậy thi lễ.

Lặc Cách đứng dậy nghênh đón, nhường lại vị trí chủ cho A Cổ Lạp, còn mình ngồi ở bên cạnh.

A Cổ Lạp không mời mà tới, hẳn có đại sự. Lặc Cách mời chúng tư tế ra ngoài, rồi nhìn vào A Cổ Lạp: “Vua của thảo nguyên hẳn có việc cần tới Lặc Cách?”

“Có hai việc muốn thỉnh giáo quốc sư.” A Cổ Lạp vòng tay nói, “thứ nhất, tối qua Ba Đồ đã nói, sính lễ ban đầu sẽ tăng gấp đôi, để giúp chúng ta giải quyết chuyện khó khăn trước mắt. Ông ta còn hứa, trong ba vương tử, Na Sa chọn ai, sẽ cho người đó kế thừa vương vị.”

“Vậy còn việc thứ hai?” Lặc Cách khẽ cười hỏi.

“Là việc của Na Sa.”

“Công chúa làm sao kia?”

A Cổ Lạp bèn kể lại chuyện tối qua.

Lặc Cách nhắm mắt, lầm rầm cầu khấn hồi lâu, mới mở mắt nhìn A Cổ Lạp, cất giọng khoan thai: “Tâu đại vương tôn kính, ý nguyện của công chúa không hợp với thần dụ. Thần ta dụ rằng, công chúa nhất nhiết phải kết thân với vương tử Đại Lâm, bằng không, trời sẽ giáng đại hoạ lớn hơn nữa xuống thảo nguyên!”

“Đại hoạ lớn hơn?” A Cổ Lạp kinh hãi, “là đại hoạ gì?”

“Binh đao.”

“Binh đao?” A Cổ Lạp hít sâu vào một hơi, “binh đao ở đâu ra?”

“Người Triệu.”

“Người Triệu!” A Cổ Lạp hừ mũi một tiếng, cười nhạt mà nói, “ta đang muốn tìm họ để đòi công đạo đây!”

Lặc Cách biết rõ, A Cổ Lạp lâu nay vẫn đang nuốt hận vì người Triệu. Những năm gần đây, các bộ tộc biên thuỳ liên tục than phiền, rằng người Triệu âm thầm xâm lấn đồng cỏ, rồi dựng thôn lập ấp ngay ở những nơi vốn dĩ thuộc về họ.

“Đại vương tôn kính,” Lặc Cách nói tiếp, “theo thần biết, cách đây không lâu, Triệu Vương đã lệnh cho cả nước Triệu mặc áo Hồ rèn kỵ xạ.”

“Ta biết!” A Cổ Lạp đáp lời, “ta đã dò hỏi người từ Trung Sơn về chuyện này, người Triệu mặc áo Hồ rèn kỵ xạ vì muốn đánh nước Trung Sơn. Nước Trung Sơn cắt đôi nước Triệu, sớm đã bị coi là cái gai trong mắt, không thể không nhổ bỏ.”

“Đại vương tôn kính,” Lặc Cách ngữ điệu trầm trọng, “trước khi tiêu diệt người Trung Sơn, cái gai mà người Triệu cần trừ bỏ trước hết, chính là Lâu Phiền ta!”

“Vì sao kia?” A Cổ Lạp mắt trợn tròn xoe.

“Vì ngựa.” Lặc Cách ngẫm nghĩ một thoáng, lại bổ sung, “muốn diệt Trung Sơn, cần có đủ ngựa! Muốn nuôi đủ ngựa, cần có đồng cỏ, mà đồng cỏ tại đất Đại của người Triệu không đủ cho họ dùng!”

“Có thể mua ngựa của ta kia mà!”

“Có thể mua, nhưng đại vương cũng có thể không bán!”

Hiển nhiên, Lặc Cách suy nghĩ rất sâu xa.

“Ta hiểu rồi!” A Cổ Lạp siết chặt tay quyền, “kỵ xạ không phải muốn học là học được ngay, họ dám tới, cứ để họ tới!”

“Đại vương,” Lặc Cách nhìn chăm chú vào A Cổ Lạp, hồi lâu sau, mới khẽ thở dài mà nói, “xin hãy nghe theo thần dụ, chọn lấy một người trong ba vương tử Đại Lâm làm phò mã. Đại vương tôn kính, thần núi đã chỉ rõ, chỉ còn cách kết thành một nhà với vua Đại Lâm, ta mới đủ sức để đối đầu với người Triệu.”

“Nhưng ta đã hứa trước thần núi là sẽ chấp thuận thỉnh cầu của Na Sa, vương tử nếu muốn cưới Na Sa, nhất thiết phải đánh thắng Thác Lực.”

“Chuyện này, có thể theo công chúa.” Lặc Cách nhắm mắt một lát, lại mở ra nhìn A Cổ Lạp, “thần linh sẽ trợ giúp cho vương tử Đại Lâm!”

Ba ngày liên tục, trai gái thảo nguyên giết bò mổ cừu, hân hoan đón mừng lễ hội núi Đại Hắc một năm mới có một lần, tiếp theo là thi tài sôi nổi, mai mối tưng bừng. Thi thố, đa phần là các kỹ nghệ săn bắn và lao động không thể thiếu trong cuộc sống thường ngày của người thảo nguyên, từ nam phụ lão ấu cho đến các loại gia súc, động vật đều có phần dự thi. Ông già bà cả thì thi hát để ca ngợi núi Đại Hắc, thi nấu nướng để dâng cúng món ngon lên thần núi. Thanh niên trai tráng thi các kỹ nghệ cưỡi ngựa bắn cung, đấu vật, săn bắn, giao chiến; thiếu niên thi cưỡi ngựa, bắn tên; trẻ nhỏ thi cưỡi cừu, nhỉnh hơn một chút thi cưỡi lừa, nhỉnh hơn chút nữa thi cưỡi bò, thú săn gồm chuột, thỏ cho tới sói hoang thảo nguyên. Hơn vạn người chia thành các nhóm nhỏ để thi đấu, mỗi nhóm một môn, môn nào cũng vô cùng sôi động, khiến một góc thảo nguyên tưng bừng náo nhiệt khác thường.

Cứ như thể núi Đại Hắc cũng biết gọi mây mưa hồi đáp. Các cuộc tỉ thí vừa mới bắt đầu, gió bắc đã nổi, mây đen vần vũ quanh đỉnh núi phía bắc, báo hiệu một đợt tuyết lành sắp sửa giáng xuống.

Với những người thảo nguyên đã phải chịu khô hạn suốt một năm qua, gió bắc càng rét mướt, mây đen càng dày đặc, lại càng đáng mừng hơn bao giờ hết. Thần mây dồn tụ suốt ba ngày, cuối cùng tới ngày quyết đấu hôm nay, đã giăng kín bầu trời.

Cuộc tỉ thí hệ trọng nhất, chính là trận đấu sau cùng giữa các tráng niên.

Qua ba vòng đấu võ, Thác Lực không phụ kỳ vọng, đã đánh bại kẻ khiêu chiến cuối cùng, dễ dàng giữ được danh xưng kim ưng thảo nguyên từ năm trước. Phần thưởng là một con chim ưng đúc bằng vàng ròng.

Vào lúc chúng nhân hò reo ầm ĩ chúc mừng Thác Lực, Lặc Cách lấy danh nghĩa thần núi Đại Hắc, tuyên bố mở thêm một trường tỉ thí nữa, do khách nhân phương xa tới từ Đại Lâm thách đấu với kim ưng thảo nguyên, với danh nghĩa là tỉ thí giao hảo giữa hai nước lân bang. Người thách đấu là ba vị vương tử đến từ Đại Lâm, thi ba môn võ nghệ, kỵ xạ và săn bắn, trọng tài gồm vua thảo nguyên A Cổ Lạp, vua Đại Lâm Ba Đồ, đại tư tế của thảo nguyên Lặc Cách, đại tư tế của Đại Lâm Cáp Thập Cách, giải thưởng là một con thiên lý mã có sắc lông thuần. Thi đấu chia làm ba trận, trận thứ nhất thi đấu vật, người thách đấu là tam vương tử Mậu Ba Tư; trận thứ hai thi kỵ xạ, người thách đấu là nhị vương tử Sát Hãn Bố Hoa; trận thứ ba thi săn bắn, người thách đấu là đại vương tử Ba Thiếp Nhĩ. Trong ba trận, bên nào thắng hai là bên thủ thắng.

Tiếng reo hò cổ vũ vang động như sấm.

Rõ ràng, đây là một sự sắp xếp đầy cố ý. Ba vị vương tử, mỗi người có sở trường riêng, Lặc Cách để mỗi người chỉ đấu một trận, hiển nhiên sẽ lựa chọn môn sở trường của họ. Thêm vào đó, Thác Lực đã thi đấu ba ngày liên tục, lại vừa mới kết thúc trận cuối cùng, khí lực đã giảm sút đáng kể, trong khi ba người thách đấu được nghỉ ngơi trọn ba ngày, giờ lại chơi bài xa luân chiến, quả là một cuộc thi không cân sức, muốn không thắng cũng khó.

Tuy nhiên, cách sắp xếp này lại vô cùng hợp lý. Phải trải qua tất cả các môn thi đấu trước đó, mới có thể chọn được quán quân. Mà người được quý khách thách đấu, đương nhiên phải là quán quân. Đây là một trường tỉ thí thêm vào, thi đấu với danh nghĩa lân bang giao hảo, kẻ thách đấu lại là vương tử, ba vương tử mỗi người đấu một trận, cũng là hợp tình hợp lý.

Người bất lợi duy nhất là Na Sa. Theo như lời thề của nàng, trong ba người thách đấu, chỉ cần một người chiến thắng, tức là nàng đã thua.

Cuộc tỉ thí sắp sửa bắt đầu. Trận đầu tiên là đấu vật, kẻ thách đấu Mậu Ba Tư khệnh khạng bước ra sân, cơ thể cường tráng cùng trang phục vương tử hoa lệ trông vô cùng bắt mắt. Mậu Ba Tư cao to vạm vỡ, sức khoẻ phi phàm, sở trường đấu vật. Trong các cuộc thi đấu vật của người Lâm Hồ, không một ai thắng nổi Mậu Ba Tư.

Thác Lực thay xong trang phục bó chẽn, đang định ra sân thì Na Sa đi tới, vẫy tay gọi.

Thác Lực tiến lại gần. Na Sa rảo bước tới một góc khuất, rồi quay người lại nhìn Thác Lực.

Thác Lực bước lại, ánh mắt dò hỏi: “Em có chuyện gì ư?”

Na Sa chỉ ra sân đấu: “Anh có thắng được hắn?”

“Được!” Thác Lực liếc mắt nhìn ra, rồi trịnh trọng gật đầu.

“Hai trận còn lại, thì sao?”

“Được!” Thác Lực ánh mắt kiên định.

Na Sa cười, ánh mắt long lanh tình ý: “Em biết anh sẽ thắng, em đã thề trước thần núi Đại Hắc rồi, anh nhất định phải thắng!”

Thác Lực nhăn mặt tinh nghịch, rồi chỉ vào con thiên lý mã đang buộc phía xa: “Em nhìn xem, con ngựa đằng kia mang sắc lông trắng bạc mà em yêu thích. Anh thắng rồi, sẽ tặng nó cho em!”

“Em không cần ngựa, em cần anh!”

“Anh hiểu rồi!”

“Vậy anh hãy thề trước thần núi Đại Hắc rằng, anh sẽ thắng cả ba trận!”

Thác Lực sửng sốt, nhìn sững vào nàng.

“Anh thề đi!”

“Sao lại phải thắng cả ba?” Thác Lực hỏi, “đã quy định rồi, thắng hai trận là thắng!”

“Đó là thắng ngựa!”

“Chẳng phải chỉ là thắng ngựa thôi ư?”

Tiếng trống bên ngoài đã vang lên dồn dập, người ta bắt đầu hô gọi Thác Lực.

“Mau thề đi!” Na Sa thúc giục.

“Nhưng anh…đã thề rồi!”

“Thề gì kia?” Na Sa ngơ ngác. “Anh sẽ thua trận thứ hai, kỵ xạ.”

Na Sa giật nảy mình: “Anh thề với ai?”

“Thần núi Đại Hắc!”

“Ai bảo anh thề?”

Thác Lực nhìn về đài trọng tài ngoài sân đấu.

“Chao ôi!” Na Sa ứa nước mắt nhìn Thác Lực, “sao anh có thể buông ra lời thề tồi tệ đến vậy? Anh làm thế, chính là lừa dối thần linh! Lừa dối thần linh sẽ bị sét đánh!”

“Em à…” Thác Lực cuống lên, “hãy nghe anh giải thích, năm nay đại nạn, chúng ta không đủ sức cầm cự qua nổi mùa đông, gia súc của ta cũng sắp chết đói hết rồi. Vua của Đại Lâm phụng theo ý chỉ của thần sông tới giúp chúng ta. Đại tư tế cũng nói, thần núi Đại Hắc ban thần dụ, muốn anh thua trận giữa, thứ nhất có thể giữ thể diện cho người Đại Lâm, thứ hai có thể khiến thần sông hài lòng, thứ ba cũng không ảnh hưởng tới chiến thắng cuối cùng, nên anh…đã thề rồi…”

Na Sa đưa tay lau nước mắt, nhìn thẳng vào Thác Lực: “Em hỏi anh, anh có đồng ý cho em lấy người khác?”

Thác Lực kinh ngạc: “Em lấy ai kia?”

“Bất kể là ai, anh hãy trả lời em đi!”

Thác Lực cắn chặt môi.

“Anh,” Na Sa ánh mắt bức bách, “anh không muốn em trở thành vợ của anh sao?”

Thấy nàng hỏi thẳng thừng đến vậy, lại vào đúng thời điểm này, Thác Lực kinh ngạc đến sững sờ. Nhưng nhìn vào ánh mắt tha thiết của Na Sa, Thác Lực đã định thần trở lại, không né tránh nữa, mà cũng nhìn thẳng vào nàng, ánh mắt cháy rực. Chàng giơ tay lên, quay mặt về phía núi Đại Hắc mà nói: “Thác Lực thề trước thần núi Đại Hắc, trong lòng Thác Lực chỉ có một người con gái duy nhất, chính là em, Na Sa!”

“Vậy thì!” Na Sa chỉ về phía núi Đại Hắc, “anh hãy thề trước thần núi lần nữa, thu lại lời thề trước đó, không cố tình thua trận thứ hai, không cố tình thua bất cứ trận nào, bởi đó là lừa dối thần linh!”

Đúng vào lúc này, Lặc Cách rẽ qua đám đông, sải bước lại gần.

“Thác Lực!” Lặc Cách dừng lại cách họ hơn chục bước chân, nhìn chằm chằm vào Thác Lực, ánh mắt uy nghiêm.

Chạm phải ánh mắt đó, Thác Lực bỗng rùng mình ớn lạnh.

Na Sa vụt cái đã bước lại chặn giữa Lặc Cách và Thác Lực, chắn ngang tầm nhìn của đôi bên, rồi nhìn thẳng vào Thác Lực, giọng nàng vút lên lanh lảnh: “Thác Lực, anh thề đi, trước thần núi, trước mặt em!”

“Anh…anh thề…” Thác Lực cất tiếng, nhưng lại ngập ngừng rồi im bặt.

“Thề đi!”

“Thề thế nào?” Thác Lực nhìn Na Sa, khẽ hỏi.

“Thu lại lời thề trước đó, không lừa dối thần núi, dốc sức thi đấu đến cùng, vì em!” Thác Lực dường như đã bừng hiểu ra điều gì, không còn hoang mang, không còn đắn đo nữa, mà trịnh trọng giơ tay lên, nhìn về phía núi Đại Hắc, cất giọng rành rọt: “Thần núi Đại Hắc linh thiêng, Thác Lực xin thu lại lời thề trước đây, và thề lại rằng, sẽ dốc hết sức mình trong cả ba trận đấu!”

Lặc Cách đã nghe thấy rõ ràng, bèn quay lưng lại, rảo bước đi luôn.

Ngoảnh nhìn theo Lặc Cách, Na Sa chợt mỉm cười.

Na Sa bước lại gần Thác Lực, vòng đôi cánh tay ôm quanh cổ vít đầu hắn xuống, ghé sát bên tai thì thầm: “Thần núi sẽ phù hộ cho anh. Đi đi, hãy thực hiện lời thề của anh, để có được em!” Rồi buông cùng Thác Lực sánh vai bước ra sân đấu.

Mọi ánh mắt cùng đổ dồn lại, Thác Lực đăng đài.

Trận tỉ thí thứ nhất, Thác Lực thủ thắng.

Trận tỉ thí thứ hai, Thác Lực lại thủ thắng.

Ba trận thắng hai, Thác Lực đã trở thành người chiến thắng, có được phần thưởng thiên lý mã.

Quanh sân, tiếng hoan hô vang rền như sấm dậy.

Trận tỉ thí thứ ba, thi săn bắn, bước ra sân là Ba Thiếp Nhĩ. Với người Lâu Phiền, trận tỉ thí này chỉ đơn thuần mang tính giao hảo, không còn ý nghĩa, thắng hay thua cũng không quan trọng.

Tuy nhiên, với Ba Đồ, với A Cổ Lạp, với hai vị đại tư tế của thần núi và thần sông, với Na Sa, và nhất là với Ba Thiếp Nhĩ, đây lại là cơ hội cuối cùng. Toàn bộ ánh nhìn đều hướng vào Thác Lực.

Cuộc đấu bắt đầu.

Săn bắn vẫn luôn là cuộc thi được người thảo nguyên ưa thích nhất, hai bên bờ sông, người xem đứng chật kín lớp trong lớp ngoài. Ở một đầu lòng sông, hai đối thủ Thác Lực và Ba Thiếp Nhĩ đều cưỡi ngựa cầm cung, ánh mắt rừng rực nhìn chằm chằm vào cũi gỗ phía trước.

Bên trong cũi gỗ nhốt một con gấu xám đang lồng lộn.

Trong túi tên của Thác Lực đựng ba mũi tên màu trắng, trong túi tên của Ba Thiếp Nhĩ đựng ba mũi tên màu lục. Theo giao hẹn, mỗi người chỉ được bắn ba mũi tên vào con gấu, sau đó sẽ có người đi kiểm tra xác gấu. Mũi tên của ai bắn trúng chỗ hiểm giết chết con gấu, người đó sẽ chiến thắng. Nếu con gấu không bị bắn chết mà chạy mất, hai bên coi như hoà, sẽ dùng mồi săn khác để thay thế, cho tới khi phân định thắng thua.

Tiếng trống dồn dập, muôn mắt nhìn vào.

Con gấu đang gầm gừ giận dữ, thì cửa cũi bật mở.

Hai bên trái phải nghìn nghịt những người, một đầu lại có hai xạ thủ cưỡi ngựa đứng chặn, con gấu nhìn quanh, rồi cắm đầu chạy lao về phía lòng sông bỏ trống. Đợi con gấu chạy được chừng vài trăm bước, một tiếng chiêng vang lên đinh tai, hai kỵ sĩ lập tức thúc ngựa giương cung, đuổi theo con gấu.

Thác Lực dần bứt lên một quãng chừng hai thân ngựa, đuổi tới gần gấu xám, buông cung bắn đi mũi tên trắng đầu tiên. Đó là mũi tên chuyên để bắn gấu, rất lớn và cứng.

Mũi tên xé gió bay đi, nhắm đúng hậu môn gấu xám, phập một tiếng xuyên thẳng vào trong bụng. Gấu xám đau đớn nhảy chồm lên, gầm rú thảm thiết, đầu ngửa lên trời.

Đúng vào lúc này, mũi tên trắng thứ hai của Thác Lực lao tới, nhằm trúng đầu gấu xám. Lực đạo của mũi tên cực lớn, xuyên sâu vào trong đầu gấu.

Gấu xám ngã đánh rầm xuống đất.

Đúng vào lúc tất cả mọi người đang hò reo dậy đất, thì mũi tên xanh của Ba Thiếp Nhĩ cũng bật khỏi dây cung.

Nhưng mũi tên không bay về phía gấu xám đang lăn lộn dưới đất, mà nhằm thẳng vào hậu tâm Thác Lực.

Ngựa của Thác Lực vẫn sải vó phi như bay, sắp sửa vượt qua gấu xám.

Nhưng mũi tên xanh còn bay nhanh hơn.

Thác Lực không kịp kêu lên một tiếng, ngã nhào xuống khỏi mình ngựa.

Đó cũng là một mũi tên bắn gấu, thân tên to ngang ngón tay, đầu tên có nhiều cạnh sắc, đâm lút vào lưng Thác Lực, xuyên thấu qua tim.

Ngựa của Ba Thiếp Nhĩ lao vụt tới, khi lướt qua gấu xám, mũi tên xanh thứ hai bật khỏi dây cung, xuyên thẳng vào tim gấu xám lúc này đã nằm bất động.

Tiếng hò reo im bặt.

Biến cố thình lình khiến hết thảy những người chứng kiến đều bàng hoàng chết lặng, bao gồm cả bốn vị trọng tài đang ngồi trên đài cao. “Thác Lực…” Na Sa rú lên thảm thiết, rồi nhảy phóc lên ngựa, lao đi như một mũi tên, nháy mắt đã tới bên Thác Lực. Nàng nhảy xuống, thấy mũi tên màu xanh từ sau lưng Thác Lực xuyên thấu qua tim, đầu mũi tên xé rách vạt áo nhô ra trước ngực.

Thác Lực đã tắt thở, máu tươi vẫn chảy ròng ròng, chỗ máu thấm ngoài vạt áo đang đông cứng thành băng trong tiết trời lạnh giá.

Na Sa gạt lệ, vạch mở vạt áo của Thác Lực, đưa tay vào trong, thấm đẫm một bàn tay máu, quệt thẳng lên mặt mình. Rồi nàng ngẩng phắt lên, nhìn trừng trừng vào Ba Thiếp Nhĩ.

Ba Thiếp Nhĩ đã lao đi rất xa, đang quày ngựa trở về.

Na Sa nhặt lấy cây cung của Thác Lực rơi trên mặt tuyết, rút lấy mũi tên màu trắng còn sót lại trong túi tên, rồi tung mình nhảy lên ngựa của Thác Lực, thúc ngựa lao thẳng về phía Ba Thiếp Nhĩ.

Trông thấy Na Sa mặt loang lổ máu lao về phía mình, Ba Thiếp Nhĩ lấy làm kinh ngạc, vội ghìm ngựa lại, giơ cung lên vẫy, gọi lớn:

“Na Sa!”

Na Sa không đáp lời, lúc này đã sắp phi tới trước mặt Ba Thiếp Nhĩ, nhanh như chớp lắp tên giương cung, nhằm thẳng Ba Thiếp Nhĩ mà buông dây.

Khoảng cách quá gần, mũi tên cắm phập vào trước ngực Ba Thiếp Nhĩ, không chệch một ly.

Tất cả, diễn ra trong nháy mắt. Chưa ai kịp định thần, Ba Thiếp Nhĩ đã ngã khỏi mình ngựa. Na Sa lao vụt qua bên cạnh, đầu không ngoảnh lại.

Hai bên lòng sông, lều trại san sát, Na Sa cứ thế giục ngựa phi thẳng tới tận cùng dãy lều, lao vào thảo nguyên bát ngát, cuốn tuyết mà đi.

Biến cố thình lình đã phá vỡ tan tành giấc mơ nhất thống giữa thảo nguyên và rừng rậm. Ba Đồ tận mắt chứng kiến mọi chuyện từ đầu tới cuối, không nói một lời, lặng lẽ đặt xác con trai trưởng vắt ngang lưng ngựa, dẫn theo hai người con còn lại cùng với đoàn rước sính lễ, không buồn từ biệt A Cổ Lạp, men theo lũng sông quay về.

Nhìn theo đoàn khách Đại Lâm dần dần biến thành những chấm đen trên nền tuyết, vua của thảo nguyên A Cổ Lạp lúc này mới như bừng tỉnh khỏi cơn ác mộng, hét lên một tiếng “Na Sa”, rồi nhảy lên lưng ngựa, dẫn theo tuỳ tùng, lần theo vết vó ngựa mà Na Sa lưu lại trên nền tuyết, cũng lao vào thảo nguyên mênh mông.

Trên thảo nguyên ngút ngàn tuyết trắng, một người một ngựa lao đi điên cuồng, không cần phương hướng.

Gió bắc gào rít, mây đen vây bủa kín trời. Na Sa ngửa mặt đón gió, cứ thế men theo chân núi Đạt Lan Ca Lạt mà lao đi, không hề dừng lại.

Rồi gió ngừng thổi, tuyết rơi mờ mịt.

Sắc trời thẫm dần, mặt đất một màu trắng xoá.

Vó ngựa vẫn xuyên qua màn tuyết tơi bời, lao thẳng về đông, không biết đã đi được mấy trăm dặm. Cuối cùng, ngựa không nhấc nổi vó nữa. Na Sa nhảy xuống khỏi ngựa, ngoảnh mặt nhìn về rặng núi trắng xoá trập trùng bất tận phía bắc, đổ sụp xuống trong màn mưa tuyết.

Màn đêm đã bủa vây mịt mùng, ngựa của Thác Lực ngửa cổ hí lên từng hồi rền rĩ. Tiếng hí xé tan màn đêm tĩnh mịch, hết tiếng này tới tiếng khác, cuối cùng gọi đến hơn chục kỵ sĩ.

Chúng kỵ sĩ định dắt con ngựa đi, song nó lại khuỵu chân trước xuống, đưa mõm ủi vào đống tuyết trước mặt.

Chúng kỵ sĩ bèn gạt tuyết ra, mới thấy một cô gái đang nằm gục ở đó, đã bất tỉnh nhân sự, mặt lem những máu, chính là Na Sa. Họ vực nàng dậy, rồi qua dắt ngựa, nhưng nó đã gục xuống, không còn đứng lên được nữa.

Nó vốn là một con chiến mã thượng đẳng, do một tay Na Sa nuôi nấng từ nhỏ, tới khi bốn tuổi thì đem tặng cho Thác Lực. Nó đã cùng Thác Lực thi đấu ba ngày liên tiếp, rồi lại cõng Na Sa lao như bay hơn bảy trăm dặm về đông, đến khi không đi nổi nữa, lại dùng hết hơi tàn để gọi người tới cứu chủ nhân, nên đã kiệt sức mà gục ngã.

Hôn sự với Lâm Hồ xôi hỏng bỏng không, hàng cứu cấp sắp tới tay lại vuột mất, người Lâu Phiền rơi vào bước đường cùng.

Tuyết bay tơi tả, nhanh chóng phủ dày lên vết vó ngựa của Na Sa.

Trời đã tối mịt, A Cổ Lạp vẫn phi ngựa vô định trên thảo nguyên mênh mông, cho tới tận tối hôm sau, mới trở về lều, sắc mặt tràn đầy tuyệt vọng.

Chờ trong lều vua, là Lặc Cách.

Nhìn thấy A Cổ Lạp thất thần mệt mỏi, sau hai ngày không chợp mắt, không ăn uống, Lặc Cách thở dài rầu rĩ.

Tát Nhân bưng tới một bát sữa, quỳ xuống đưa cho A Cổ Lạp. A Cổ Lạp nhận lấy, ừng ực một hơi hết sạch.

“Na Sa…” Tát Nhân thấp thỏm nhìn A Cổ Lạp, muốn hỏi mà không dám.

“Rượu!” A Cổ Lạp gầm lên như điên dại.

Tát Nhân run bắn, đang định đứng dậy, thì Lặc Cách nhấc lấy một hồ rượu nóng, châm ra bát, phẩy tay ra hiệu cho Tát Nhân. Tát Nhân vội vàng chạy vào trong góc, bưng ra mấy đĩa thịt, rồi hối hả lấy thêm vài bánh phân bò khô bỏ vào bếp lò, cầm que đồng cời lửa.

Bếp lò lại bốc cháy rừng rực.

“Đại vương tôn kính,” Lặc Cách trao bát rượu cho A Cổ Lạp, rồi cũng bưng lên một bát, “Lặc Cách đã cầu khấn thần linh, thần dụ nói rằng, công chúa Na Sa vẫn vô sự. Nàng vẫn ở trên thảo nguyên, dưới sự che chở của thần linh. Lặc Cách cũng đã căn dặn tư tế các bộ tộc toả đi mọi hướng tìm kiếm, trong vòng ba ngày, sẽ có tin vui.”

A Cổ Lạp hướng lên trời vái một vái, rồi bưng bát rượu lên, một hơi uống cạn.

“Thần dụ còn nói,” Lặc Cách chậm rãi nâng bát rượu lên, “vương tử Đại Lâm Ba Thiếp Nhĩ bị ác ma nhập vào trong tim, chính ác ma đó đã phá hoại sự sắp đặt của thần. Ba Thiếp Nhĩ bị công chúa bắn trúng tim mà chết, cũng là phụng theo ý thần.” Nói xong, ngửa cổ uống cạn bát rượu, rồi lại lần lượt châm đầy.

“Đại vương tôn kính,” Lặc Cách lại đưa bát rượu cho A Cổ Lạp, “việc nguy cấp hiện tại, là cỏ cho mùa đông. Trận tuyết hôm qua, tuy là tuyết lành, song cũng lại khiến cho thiên tai càng thêm trầm trọng. Sáng nay thức dậy, không ít tù trưởng đã tìm đến thở than với Lặc Cách, xin Lặc Cách cầu thần ban ơn, hoá giải tai ương trước mắt. Nên Lặc Cách lại đã thỉnh cầu.”

“Thần có ban dụ chăng?” A Cổ Lạp nôn nóng hỏi.

“Thần ban dụ rằng, phương tây không sáng phương đông sáng.”

“Phương đông?” A Cổ Lạp kêu lên, “hướng đó chẳng phải là người Triệu?”

“Phải, người Triệu.” A Cổ Lạp thở dài, “hiện tại, không còn lối thoát nào khác, chỉ còn cách cầu cứu người Triệu.”

“Cầu cứu thế nào?”

“Theo lời tù trưởng Ba Cáp của bộ tộc Khách Ô Lạp, người Triệu đã mở sáu khu chợ ở ấp biên thuỳ, cách hồ Khách Ô Lạp không xa. Trong chợ món gì cũng có, đều là thứ ta cần, gồm cả cỏ khô.”

“Hồ Khách Ô Lạp?” A Cổ Lạp sửng sốt, “chợ của họ cách hồ bao xa?”

“Chưa đầy ba mươi dặm.”

“Đó chẳng phải là đồng cỏ của ta ư?” A Cổ Lạp không tin vào tai mình, “từ hồ đó về đông một trăm ba mươi dặm có sáu ngọn núi, đều là đồng cỏ của ta!”

“Phải,” Lặc Cách lại thở dài, “người Triệu đang ép dần từng bước tới trước cửa nhà ta rồi.”

A Cổ Lạp đấm mạnh xuống mặt án.

Đúng lúc đó, có tiếng vó ngựa rậm rịch lại gần. Vài kỵ sĩ tìm tới, dừng lại ngoài cửa lều, cùng nhảy xuống ngựa.

Tát Nhân bước ra đón, vén rèm mở cửa, mời họ vào trong.

Người đi đầu, chính là tù trưởng Ba Cáp của bộ tộc Khách Ô Lạp.

A Cổ Lạp quay ra nhìn họ.

“Trát Mộc,” Ba Cáp ngoảnh sang gọi một chàng trai mặt đỏ ửng vì lạnh, “hãy bẩm báo lại toàn bộ sự việc với đại vương và đại tư tế!”

“Bẩm đại vương, bẩm đại tư tế,” Trát Mộc khom lưng vái chào rồi nói, “thần là Trát Mộc, vừa từ hồ Khách Ô Lạp tới đây, muốn bẩm báo hai việc cấp bách. Thứ nhất, nửa đêm hôm qua, trong tộc của thần có người nghe thấy tiếng vó ngựa dồn dập, bèn ra khỏi lều xem thử, thấy xa xa có một người một ngựa đang phi băng băng trên cánh đồng tuyết trắng ở phía nam hồ, chạy về phía đông. Giữa đêm hôm thế này, làm gì có người đi lại, hắn ngỡ là kẻ trộm, bèn lên ngựa đuổi theo. Tiếc là khoảng cách quá xa, không thể đuổi kịp, chỉ biết giương mắt nhìn người đó lao vào biên ấp của người Triệu. Sáng nay nhận được lệnh tìm người của đại tư tế, hắn mới ngờ rằng người mà mình đuổi theo đêm qua có lẽ là người mà đại tư tế muốn tìm, bèn bẩm báo lại.”

A Cổ Lạp, Lặc Cách đều kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau, Tát Nhân rú lên: “Chao ôi, chắc chắn là Na Sa rồi! Tại sao…tại sao nó lại chạy sang chỗ người Triệu kia chứ?”

Sau cơn bàng hoàng, A Cổ Lạp lại thở phào một tiếng. Bất luận thế nào, đây cũng là một manh mối, cho thấy Na Sa còn sống, lúc này đang ở đất Triệu.

“Việc thứ hai là gì?” Lặc Cách nhìn vào Trát Mộc.

“Là người Triệu.” Chàng trai nói tiếp, “buổi chiều hôm nay, họ kết thành từng toán, phi ngựa tới bên hồ của ta, đập băng bắt cá dưới hồ, còn dựng lều ở đó.”

“Sao không đuổi họ đi?”

“Vì họ quá đông.”

“Bao nhiêu người?”

“Ít cũng phải hai, ba nghìn, đông nghìn nghịt, kín cả mặt hồ. Tù trưởng và tư tế đều tới đây dự lễ hội, ở nhà không có ai làm chủ, nên trưởng lão mới sai hai chúng tôi tới bẩm báo, thỉnh cầu đại vương quyết đoán!”

“Gần đây, các ngươi có đi qua khe núi Mã Lạt?”

“Không ai dám đi,” Trát Mộc đáp, “khe núi bị người Triệu chiếm mất rồi. Họ còn lập ấp trên đồng cỏ phía sau khe núi, dựng không ít nhà, quây hàng rào, bày cung nỏ, lập trạm gác, người qua kẻ lại đều bị lục soát gắt gao.” Dừng lại một thoáng, lại tiếp, “lúc này, họ còn đang họp chợ!”

“Chợ? Có cho các ngươi mua không?”

“Thưa có!” Trát Mộc đáp, “vừa nghe nói có rất nhiều cỏ khô được chở tới chợ, có vài nhà lập tức động lòng. Biết người Triệu thích ngựa, hơn chục người liền xua ngựa tới, nhưng người Triệu lại không cho toàn bộ qua trạm gác, mà chỉ cho ba người qua, mỗi người chỉ được dẫn theo một con ngựa vào chợ, nói rằng chợ này hạn chế bán hàng cho ngoại bang, cỏ khô của họ phải ưu tiên bán cho người Triệu.”

“Vậy ba người đó có mua được không?”

“Thưa có, một con ngựa đổi được mười xe cỏ khô, mười bao ngũ cốc cho gia súc. Người Triệu còn giúp họ chuyển ba mươi xe cỏ khô ra bên ngoài biên ấp, ba người kia quay về lấy xe, chở hết cỏ về nhà cỏ là loại tốt, từng đó đủ cho bầy gia súc của ba nhà đó cầm cự qua ngày.”

“Họ có xem chợ không?”

“Thưa có. Họ nói chợ rất nhiều hàng, vật ta cần không gì không có, cỏ khô chất đống như núi. Nghe họ nói, người Triệu ở đó chẳng có bao nhiêu, ngựa của họ ăn không hết được! Trưởng lão nói rằng, người Triệu rất khôn ngoan, họ bày hàng ra đó để dụ ta tới mua, hòng kiếm lời từ ta!”

“Biết rồi!” A Cổ Lạp nhìn Tát Nhân, “thưởng rượu!” Rồi quay sang tộc trưởng Ba Cáp, chỉ vào gian bên cạnh, “dẫn họ sang bên đó ngồi chờ, uống vài bát rượu cho ấm.”

Ba Cáp liền dẫn hai thanh niên sang gian bên cạnh.

A Cổ Lạp nhìn Lặc Cách.

“Biên ấp, hồ Khách Ô Lạp, năm ngọn núi đen…” Lặc Cách nhắm mắt, khẽ lẩm bẩm trong miệng, lát sau, nhìn sang A Cổ Lạp, “đại vương tôn kính, có còn nhớ lời thần dụ?”

“Thần dụ nào kia?”

“Thần dụ mà thần vừa nói.”

“Nhớ rồi,” A Cổ Lạp vỗ trán, “phương tây không sáng phương đông sáng!”

“Phải!” Lặc Cách tiếp lời, “chúng ta thiếu gì, người Triệu liền mang thứ đó tới.”

“Quốc sư nói phải!” A Cổ Lạp siết chặt nắm tay, “xin hỏi quốc sư, lấy bằng văn hay bằng võ?”

Võ, là cướp đoạt bằng vũ lực; văn, là dùng gia súc trao đổi.

“Văn.” Lặc Cách đáp.

“Chúng ta chẳng còn bao nhiêu gia súc.” A Cổ Lạp đáp, “năm nay hạn hán khốc liệt, bê non không sống nổi, vào đông lại chết không ít, con đực hoặc giết hoặc bán, còn lại chẳng bao nhiêu. Con cái đang mang thai, không bán được!”

“Than ôi.” Lặc Cách cười buồn, “không có người Đại Lâm hậu thuẫn, ta không thể…” Lắc đầu rầu rĩ.

“Được rồi!” A Cổ Lạp nói, rồi quay sang gian bên cạnh gọi, “Ba Cáp, lại đây.”

Ba Cáp bước vào.

“Vừa nãy nghe Trát Mộc nói, chợ của người Triệu một con ngựa đổi được mười xe cỏ khô, mười bao ngũ cốc.” A Cổ Lạp căn dặn, “các ngươi uống rượu xong rồi thì hãy quay về. Ngươi tới đó thương lượng với người Triệu, giá này hơi đắt, trước đây là mười hai xe cỏ khô, mười hai bao ngũ cốc, được giá, ta sẽ mua nhiều, mua cả chợ. Hãy nói cho họ hiểu, hai tháng nữa là cỏ mọc rồi, cứ tích trữ cỏ khô đến lúc ấy, cũng thành vô dụng mà thôi. Phải rồi, còn một việc nữa, hãy dò tin về Na Sa. Theo lời Trác Mộc, thì người phóng ngựa trong đêm ấy chắc chắn là Na Sa.”

Ba Cáp khom lưng: “Kính cẩn tuân mệnh!”

Bình Ấp không phải ấp biên thuỳ của Triệu, mà là ấp lớn phương bắc. Mấy năm gần đây, người Triệu không tiếc công sức xây thành dựng luỹ, tích thảo đồn lương, biến nơi đây thành trọng địa biên phòng, đầu mối kinh thương đất bắc.

Để tỏ lòng coi trọng, Vũ Linh Vương cho dựng biệt cung trong thành này, mỗi khi tới đây, đều ở trong cung đó, để không gây phiền hà cho việc phòng thủ thành ấp.

Gọi đây là cung cũng hơi quá lời, chẳng qua chỉ là một toà phủ trạch rộng rãi gồm năm dãy nhà, tường bao không cao, thường ngày hầu như bỏ không, chỉ có vài người ở lại trông nom dọn dẹp. Lúc nào Triệu Vương tới, nơi đây mới có chút sinh khí, canh giữ trong ngoài, đều là vệ binh của Triệu Vương.

Trong năm dãy nhà, Triệu Vương ở dãy giữa, gian chính là chính đường có thể nghị sự. Phì Nghĩa, Tô Tần ở dãy thứ hai và thứ tư, hai dãy ngoài cùng dành cho đội vệ binh, còn nô bộc, cung nữ ở hai gian chái hai bên dãy giữa, tiện cho việc ra vào phục dịch hàng ngày.

Để Tô Tần ở trong biệt cung, thứ nhất vì an toàn, thứ hai để tiện cho nghị sự.

Đã là nơi ở, không thể thiếu nước, cũng không thể thiếu cây. Phía đông của biệt cung là đồng cỏ, phía tây biệt cung là hồ nước rộng hai mẫu. Hồ nước nối thông với một dòng sông chảy qua thành ấp. Tuy nhiên, trong những ngày tuyết rơi lạnh lẽo thế này, bất luận là hồ nước hay đồng cỏ, cũng chỉ còn là tuyết trắng mênh mông.

Vào lúc vua Lâu Phiền đang đau đầu nhức óc trước hàng loạt biến cố, trong biệt cung của Triệu Vương lại là một bầu không khí yên bình. Cả mấy dãy nhà đều ấm sực, không thấy một tia giá lạnh. Cháy rực ở đây, không phải phân bò, mà là than củi. Gian phòng nào cũng đốt chậu than, than đều là loại tốt, chỉ vài thanh là hồng rực suốt cả ngày. Cửa sổ đều đóng chặt, tường nhà rất dày, toàn bằng đất sét đầm chắc, đông ấm hè mát.

Dùng xong bữa trưa, Triệu Vương gọi Tô Tần tới, hai người cùng ngồi thảnh thơi bên lò sưởi.

Tin tức ở thảo nguyên, hiển nhiên đã truyền tới đây.

“Tô Tử,” Triệu Vương khẽ nheo mắt, “quả nhân suy đi nghĩ lại, vẫn không hiểu tại sao công chúa Lâu Phiền lại bắn chết vương tử Lâm Hồ. Phải chăng là bởi hận tình?”

“Hồi bẩm đại vương,” Tô Tần đáp, theo tin ta thăm dò được, thần đoán rằng, Lâu Phiền gặp đại hạn, nên phải cầu cứu Lâm Hồ trợ giúp. Vua Lâu Phiền không có con trai, chỉ có một công chúa, vua Lâm Hồ hẳn muốn dùng cách thông hôn hòng thôn tính Lâu Phiền, nên đã chọn đúng dịp lễ hội để tới cầu hôn. Theo lời thám báo, sính lễ của vua Lâm Hồ là hơn vạn xe cỏ khô, đây là thứ mà Lâu Phiền không thể từ chối. Còn như chuyện công chúa Lâu Phiền bắn chết vương tử Lâm Hồ, có thể bởi công chúa đã có tình riêng với dũng sĩ bản tộc, khiến vương tử Lâu Phiền sinh lòng đố kỵ, giết chết dũng sĩ, nên công chúa mới giết hắn báo thù. Đây là bi kịch của những người trẻ tuổi, nhưng có lẽ lại là cơ may trời ban cho đại vương. Nếu Lâu Phiền, Lâm Hồ kết thân, e rằng tướng quân Phì Nghĩa sẽ uổng công bận rộn.”

Vừa nhắc tới Phì Nghĩa, từ bên ngoài bỗng vọng vào tiếng bước chân hối hả, Phì Nghĩa dẫn theo Nhạc Nghị bước vào.

“Đại vương, Tô Tử,” Phì Nghĩa hành lễ rồi bẩm tấu, “lại có việc gấp.”

“Ồ?” Triệu Vương nhìn sang hai người, chỉ vào lò sưởi. Hai người bèn ngồi xuống bên cạnh.

Phì Nghĩa lấy ra một bản cấp báo về tình hình biên ải, hai tay dâng lên.

Triệu Vương đọc xong, đưa cho Tô Tần.

“Khe núi Mã Lạt?” Triệu Vương lẩm bẩm, đoạn nhìn sang Phì Nghĩa, “kẻ tới là ai?”

“Tù trưởng của bộ lạc Khách Ô Lạp, tên gọi Ba Cáp.”

“Quả nhiên.” Tô Tần đọc xong, trả lại cấp báo cho Triệu Vương, khẽ cười mà nói, “đại vương, đã đến lúc hạ cờ rồi!”

“Hắn muốn vét sạch cả chợ, lại còn đòi giảm giá, ha ha ha, Tô Tử hãy nói xem, quả nhân nên giảm giá thế nào?” Triệu Vương nhìn sang Tô Tần.

“Giảm hai phần, chỉ cần ngựa.” Tô Tần nói liền.

“Giảm hai phần?” Phì Nghĩa kêu lên, “sao lại giảm? Nên tăng mới phải!”

“Một con ngựa của họ đổi lấy tám xe cỏ khô, tám bao ngũ cốc cho gia súc.” Tô Tần cười nói, “thế chẳng phải là giảm hai phần ư?”

“Ồ,” Phì Nghĩa vỗ trán, gật gù, “Tô Tử, hay lắm!”

“Phì Nghĩa,” Triệu Vương căn dặn, “truyền dụ biên ải, nếu hắn chịu, thì giảm hai phần rồi bán hết cho hắn. Nếu hắn không chịu, chỉ cần ngần ngừ một chút, đổi ngay thành giảm bốn phần. Nếu còn đôi co nữa, sẽ giảm sáu phần!”

“Phì Nghĩa lĩnh chỉ!” Phì Nghĩa dõng dạc đáp.

“Bên hồ bắt được bao nhiêu cá?” Tô Tần hỏi.

“Vô số, không đếm xuể, tại hạ thu mua hết, đủ cho ba quân ta ăn nửa tháng.” Phì Nghĩa hào hứng đáp, “thực không hiểu nổi, nhiều cá như thế, sao người Lâu Phiền lại không bắt?”

“Nếu họ biết bắt, còn tới lượt ta ư?” Triệu Vương phì cười.

“Phì đại nhân,” Tô Tần tiếp lời, “bảo họ bắt thêm ba ngày nữa, sau đó rút về, mang hết số cá bắt được ra chợ. Người Hồ chẳng phải muốn mua cả chợ? Chỗ cá đó cũng phải bao luôn.”

“Phì Nghĩa hiểu rồi.” Phì Nghĩa đáp lời, nhìn sang Nhạc Nghị, “còn một việc nữa, ngươi hãy bẩm báo.”

“Đại vương, Tô đại nhân,” Nhạc Nghị vòng tay nói, “ba hôm trước, vào giữa đêm khuya, tuyết rơi dày đặc, mục dân biên ấp nghe thấy tiếng ngựa hí thảm thiết trên thảo nguyên, bèn tìm tới xem, bới được một thiếu nữ bị vùi trong tuyết, đã đưa về cứu sống.”

Vũ Linh Vương, Tô Tần đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng nhìn vào Nhạc Nghị.

“Mục dân nhìn vào ngựa và phục sức, đoán được thiếu nữ không phải người Hồ bình thường, bèn báo lên trên. Thần hay tin bèn cùng Phì đại nhân tới thám thính, vừa gặp mặt, quả nhiên là nàng ấy.”

“Công chúa Lâu Phiền?” Vũ Linh Vương ngạc nhiên buột miệng hỏi.

“Vâng.” Nhạc Nghị tiếp lời, “khi thần ở Lâu Phiền, đã nhiều lần chạm mặt nàng ấy, còn mua được từ nàng một con ngựa rất hay.”

“Hiện nàng đang ở đâu?”

“Bị rét cóng,” Nhạc Nghị khẽ thở dài, “lúc này vẫn đang được cứu chữa trong lều của mục dân.”

“Có nguy kịch không?” Vũ Linh Vương lo lắng hỏi.

“Sốt cao, lúc mê lúc tỉnh.” Nhạc Nghị đáp, “rét cóng thì dễ chữa, đó là sở trường của mục dân biên ải. Nghiêm trọng là nội thương. Công chúa đau buồn tuyệt vọng, không còn thiết sống. Sở dĩ nàng chưa chết, là nhờ con ngựa. Thần đã nhận ra, nó là con chiến mã lừng danh Cách Lực, có thể ngày đi nghìn dặm. Ngựa này, do công chúa nuôi dưỡng rồi tặng cho dũng sĩ Thác Lực, ý trung nhân của nàng. Hôm đó, nàng chứng kiến Thác Lực bị vương tử Lâm Hồ bắn chết, uất hận tột cùng, đã bắn chết vương tử, rồi cứ thế lên ngựa băng qua thảo nguyên, đến tận chỗ chúng ta. Cách Lực kiệt sức, công chúa ngã vùi trong tuyết, nhưng con ngựa vẫn hí vang cầu cứu cho đến tận khi mục dân tìm tới. Từ núi Đại Hắc tới biên ấp của ta, tại hạ nhẩm tính, không dưới bảy trăm dặm, hẳn là công chúa bi thương quá đỗi, thúc nó phi nhanh không nghỉ, nên mới kiệt sức mà bỏ mạng.”

“Thác Lực là người thế nào?”

“Là người dũng mãnh nhất thảo nguyên. Gái thảo nguyên thích trai cường tráng. Trong cuộc thi tài năm ngoái, Thác Lực là dũng sĩ vô địch, trở thành kim ưng thảo nguyên. Năm nay vẫn như vậy.”

“Ồ, cô gái này thú vị đây!” Vũ Linh Vương nhìn sang Phì Nghĩa, “hậu táng tuấn mã, dựng bia nơi nó quỵ ngã.” Dừng lại một thoáng, lại tiếp, “đưa công chúa tới chỗ quả nhân để tiện chăm sóc cho nàng.”

“Thần thụ mệnh.” Phì Nghĩa đáp.

“Đại vương,” Nhạc Nghị nói tiếp, “còn một việc nữa, gã Ba Cáp kia cũng nhắc tới công chúa, nói rằng người trong tộc họ nhìn thấy nàng phi ngựa vào lãnh địa của ta giữa đêm khuya, thỉnh cầu chúng ta tìm giúp, nói rằng đại vương và toàn bộ người thảo nguyên đều rất lo lắng cho nàng. Ta nên hồi đáp thế nào cho thoả?”

Vũ Linh Vương nhìn sang Tô Tần. Tô Tần trầm ngâm một lát, lên tiếng: “Tạm trả lời hắn, rằng chưa nghe nói tới chuyện này.” Dừng lại một thoáng, lại tiếp, “à phải, hãy bảo quan uý dẫn hắn đi dạo một vòng quanh các chợ, cho thoả con mắt.”

“Giảm hai phần?” Lặc Cách nheo mắt, “theo giá này, dù ta có giao cho họ toàn bộ số ngựa có thể bán, cũng không đủ để đổi lấy từng ấy cỏ khô.”

“Phải!” Ba Cáp mặt mày nhăn nhó, “thần vừa hoà nhã thử hỏi họ rằng, liệu có thể…, còn chưa kịp nói hết câu, hắn đã cắt lời, bảo rằng nếu còn lôi thôi nữa sẽ giảm luôn bốn phần. Thần nào dám ho he thêm nữa.”

“Khinh người quá đáng!” A Cổ Lạp rít qua kẽ răng.

“Vâng,” Ba Cáp tiếp lời, “lúc đó thần cũng đầy bụng giận dữ, nhưng…nhưng thần không thể nổi giận…Quân uý kia thấy thần không vui, lại tỏ ra thân thiện, dẫn thần đi dạo một vòng các chợ, hàng hoá đúng là rất nhiều, đều được chở từ nơi khác tới. Người Triệu đến chợ khá đông, đa phần là mục dân xung quanh, song không có mấy người mua, đều than quá đắt.”

“Chủ hàng là ai? Cỏ khô chở từ đâu tới?” Lặc Cách chợt hỏi.

“Do lái buôn chở tới. Họ nghe nói chỗ ta hạn hán, nên mới chở hàng hoá và cỏ khô từ Thượng Đảng đến, muốn kiếm một món hời.”

“Ồ.” Lặc Cách trầm ngâm suy nghĩ. “Hỡi vua của thảo nguyên,” Ba Cáp nhìn sang A Cổ Lạp, “khiến thần giận dữ không phải chuyện cỏ khô, mà là cá.”

“Cá?”

“Người Triệu kết thành từng nhóm đông, kéo tới câu cá trong hồ của ta, rồi mang ra chợ của họ bán. Họ có nướng cho thần ăn, quả là ngon tuyệt. Thần hỏi giá tiền, còn đắt hơn cả thịt cừu. Nuôi một con cừu mất hơn một năm, còn cá này vốn không phải nuôi, chỉ đục lỗ trên băng mà bắt, tại sao lại đắt đỏ đến vậy? Người Triệu quá giỏi buôn bán!”

“Sao các ngươi không bắt?”

“Thưa, không bắt được! Họ bắt bằng một loại lưới đặc biệt, đầu tiên đục lỗ trên mặt băng, rồi cầm lưới đó vớt bên dưới lớp băng. Nghe họ nói, chỉ cần đục ra một lỗ, cá sẽ tự kéo tới. Thực không ngờ, dưới hồ lại nhiều cá đến vậy. Trong chợ hàng cá xếp thành dãy dài, cá chất thành đống. Nếu ta cũng bắt được như họ, có thể bớt giết đáng kể bò cừu!”

“Na Sa thế nào? Có tin gì chưa?” Tát Nhân bước lại, lo lắng hỏi.

“Thần đã hỏi rồi, họ nói không biết. Thần nghĩ rằng, công chúa buổi chiều ra khỏi núi Đại Hắc, khi tới bên hồ là khoảng nửa đêm, hơn sáu trăm dặm, lại trên đất tuyết, ngựa có tốt đến mấy cũng chịu không nổi. Dù tới đất Triệu, cũng là giữa đêm khuya, lúc người Triệu đang say giấc. Còn nếu công chúa vẫn điên cuồng phi trên thảo nguyên, e rằng…” Ba Cáp ngập ngừng rồi im bặt. Tát Nhân ôm mặt, bật khóc thảm thiết.

A Cổ Lạp nhìn sang Lặc Cách: “Triệu tập các bộ tộc. Bất luận thế nào, chúng ta cũng phải sống tiếp. Là đám gian thương kia tự tìm đường chết!”

“Quận Đại có bao nhiêu binh mã?” Lặc Cách hỏi A Cổ Lạp.

“Ta đã thăm dò, cộng tất cả các nơi, không tới hai vạn.” A Cổ Lạp đáp, “hơn nữa đa phần sống ở Đại Thành, cách khe núi Mã Lạt đến vài trăm dặm. Chúng ta cứ cướp hết cả chợ, nếu họ dám đuổi theo, ta sẽ bày cạm bẫy phía sau khe núi, dụ họ vào tròng, đánh cho tơi tả.”

“Đại vương tôn kính,” Lặc Cách nhìn thẳng vào A Cổ Lạp, “ta có thể đánh họ, song người Triệu không phải người Lâm Hồ, chọc tức họ, chúng ta không chống đỡ nổi đâu!”

“Đánh không lại cũng phải đánh!” A Cổ Lạp lòng đã quyết, “ta có núi Đại Hắc, cùng lắm là chạy vào trong núi, xem họ làm gì nổi ta? Còn nữa, người Triệu dù đông, cũng dám kéo hết tới đây không? Phía sau họ còn người Hàn, người Tần, người Ngụy, người Tề, và cả người Trung Sơn, không rảnh để nhìn tới ta!

“Vâng, vậy đại vương hãy triệu tập tù trưởng các bộ tộc, Lặc Cách sẽ thỉnh cầu thần núi ban thần dụ.”

Lặc Cách cầu thần núi, được thần dụ đại cát. A Cổ Lạp không chần chừ nữa, đem thần dụ báo cho các tù trưởng và tế sư của các bộ tộc, tập hợp ba vạn trai tráng, chuẩn bị cung tên, chiến đao sẵn sàng, sau khi đã trù hoạch kỹ lưỡng, vào một đêm không trăng, tập kích vào khe núi Mã Lạt.

Người Triệu rõ ràng đã có chuẩn bị, nhìn thấy đoàn kỵ binh đen nghịt đang rùng rùng tiến tới, lập tức đốt lửa hiệu, khua chiêng gõ trống ầm ầm.

Nhìn thấy lửa hiệu bùng lên, các nơi khác cũng đồng loạt đốt lửa hiệu, gõ trống theo.

Tuy nhiên, khi kỵ binh của Lâu Phiền đánh thốc tới, lại kinh ngạc nhận ra, trong cửa ải không có một người Triệu nào. Nhìn vào dấu vết lộn xộn mà người Triệu để lại, thấy rằng họ chưa bắn lấy một mũi tên đã lên ngựa tháo chạy cả.

Người dẫn đầu đoàn kỵ binh là Ba Cáp leo lên đài quan sát của người Triệu, phóng mắt nhìn đi, song chỉ thấy các thôn ấp của người Triệu đang trong cảnh rối ren hỗn loạn, người Triệu đều đang cuống cuồng bỏ chạy.

Ba Cáp bẩm báo lên A Cổ Lạp. A Cổ Lạp thấy lính giữ ải Triệu không bắn lấy một mũi tên đã chạy, cho rằng quân lính liệu mình ít không địch nổi nhiều, nên mới tháo chạy cho nhanh, thế là lập tức truyền lệnh cho các bộ tốt, chia quân nhiều ngả, ùa vào bên trong biên ải, nhất là những khu chợ hàng.

Thế nhưng, chợ nào cũng trống rỗng, không một bóng người.

Kỵ binh Lâu Phiền lùng sục khắp nơi, thấy người Triệu trông coi hàng hoá đều đã chạy sạch, không ít chăn đệm vẫn còn hơi ấm. A Cổ Lạp lệnh cho một vạn kỵ binh canh chừng quanh chợ, đề phòng quân Triệu đồn trú tại Bình Ấp và các nơi khác tới cứu viện, số còn lại xử trí hàng hoá trong chợ của người Triệu.

Hàng hoá chất chồng như núi, từ binh khí tới vật dụng thường ngày, như cung tên, đao cong, yên ngựa, trang phục, muối, nồi niêu bát đĩa, tất cả những gì họ cần, không gì không có. Chưa nói đến cái khác, chỉ riêng cá tươi bắt dưới hồ đã đông cứng như băng đã đủ chất đầy mười xe lớn.

Lần xuất kích này không phải nhằm khai chiến với người Triệu, mà chỉ vì số vật phẩm này. Người Hồ ai nấy hân hoan sung sướng, rộn ràng gom hàng chất lên xe.

Càng đáng mừng hơn nữa, đó là một nhóm người Hồ đã bất ngờ phát hiện ra một đồng cỏ rộng mênh mông mà người Triệu để dành cho mùa đông.

Người Triệu trong đồng cỏ đều đã bỏ chạy.

Người Hồ vừa kiểm tra, vừa bẩm báo lên A Cổ Lạp. A Cổ Lạp lập tức phi ngựa tới xem.

Nhìn thấy hơn ba vạn con cừu, hơn vạn con bò cùng rơm cỏ chất cao như núi trong chuồng trại, cùng những bao thức ăn gia súc chất đầy trong kho, vua Lâu Phiền mừng vui khôn xiết, cười mãi không thôi.

Chưa tính những thứ khác, chỉ riêng hàng hoá trong chợ và cánh đồng vừa phát hiện, đã đủ để bù đắp cho mọi tổn thất mà tất cả bộ tộc đã phải hứng chịu trong đại nạn năm ngoái.

Chỉ có một điều khó, là làm sao để vận chuyển được về. Cứ như thể ông trời đã sắp xếp tất cả. Đúng vào lúc A Cổ Lạp đang vắt óc nghĩ cách chuyên chở, lại có người Hồ tìm thấy một bãi trống ở gần đồng cỏ, trong bãi đậu rất nhiều xe lớn.

A Cổ Lạp vội tới xem thử, quả nhiên thấy trên nền tuyết trắng xếp ngay ngắn từng dãy xe lớn mà người Triệu dùng để vận chuyển quân nhu. Có người đếm qua, phải hơn năm trăm cỗ, dường như đã bày ở đây khá lâu rồi, xe nào cũng phủ lớp tuyết dày.

A Cổ Lạp hiểu rõ, đất này không thể ở lâu. Bất kể thế nào, tất cả vật phẩm đều phải chóng vánh chuyển đi, giấu ngay vào trong núi. Đất này cách thành Tấn Dương chưa đầy nghìn dặm, viện binh ở Tấn Dương chỉ trong ba ngày là kịp kéo tới. Đợi đến lúc đó, họ chỉ còn hai lựa chọn, hoặc quyết một trận sống mái, hoặc bỏ lại tất cả mà chạy.

A Cổ Lạp không chần chừ nữa, lập tức lệnh cho bộ chúng thắng ngựa cưỡi vào năm trăm cỗ xe, kéo tới đồng cỏ, chất hết núi cỏ khô chất ngất lên xe. Lại chọn những con bò to khoẻ trong số vạn con trong chuồng, dắt tới chợ, chất từng bao hàng lớn lên lưng bò.

Mọi người bận rộn túi bụi tới tận chập tối, A Cổ Lạp lo sợ đêm dài lắm mộng, truyền lệnh rút lui ngay.

Trận hình thoái lui hùng hậu khác thường. Ba vạn kỵ binh tới từ các bộ tộc thảo nguyên tay không mà tới, đầy xe trở về. Ngoài hai vạn trai tráng đi sau đoạn hậu, A Cổ Lạp lệnh cho tất cả kỵ sĩ khác, gồm cả mình, đều xuống ngựa đi bộ, ngựa cưỡi dành để vận chuyển hàng hoá, hoặc kéo xe, hoặc thồ hàng, nhiều quá thồ không hết thì người cõng. Ba vạn con cừu và vài nghìn con bò còn lại, đa phần đều đã mang thai, không giết được, đành phải lùa theo về. Phóng mắt nhìn đi, chỉ thấy hàng đoàn người Hồ toả ra đông nghịt trên thảo nguyên mênh mông, lộn xộn không thành hàng lối, từng tốp từng nhóm chở thồ cõng vác chiến lợi phẩm, nặng nhọc lội tuyết mà tiến từng bước về tây.

Người Hồ hoặc cõng hoặc khiêng, hoặc lùa cừu bò, hoặc đánh xe ngựa, không ai rảnh tay. Cứ thế ròng rã suốt một đêm, cho tới khi trời sáng, đa phần đã mệt phờ, cứ ngỡ đã đi được xa lắm, nhưng thực chất mới qua được vài chục dặm đường, tốp tiên phong chỉ vừa tới được khe núi Mã Lạt.

Nhìn thấy tháp canh và đài phong hoả của người Triệu, người Hồ bất giác rảo nhanh nhịp bước.

Khi gần tới tháp canh, những người Hồ đi đầu đột nhiên khựng lại.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử