Trương Nghi ra khỏi cửa, chậm rãi đi lòng vòng trong viện, hai hán tử kia cũng bám chằng chằng không rời nửa bước. Trương Nghi bước tới cổng chính, nhìn thấy vẫn có người canh giữ, đành quay trở vào trong viện, đi thẳng đến hậu hoa viên, quanh quẩn tới lui dưới một tán cây râm mát. Hai hán tử kia thấy vậy, bèn đứng ở đằng xa quan sát.
Trương Nghi vừa đi, vừa hồi tưởng kỹ lưỡng lại một lượt những chuyện diễn ra trong mấy ngày qua, càng nghĩ càng thấy mình quá hoang đường. Quan trọng nhất là đã có lỗi với Kinh Sinh. Kinh Sinh trượng nghĩa, đã cứu mạng Trương Nghi ở Hình Sơn, lại còn chăm sóc hắn chu đáo, cho tới khi bình phục hoàn toàn. Chưa nói đến những chuyện này, Trương Nghi cũng đã nhận ra, trong cửa hàng thịt không hề thiếu người trông coi sổ sách, hẳn là Kinh Sinh biết Trương Nghi đang túng quẫn, mới tạm cho hắn làm trướng gia vài ngày, chỉ là kiếm cớ để trợ giúp cho hắn mà thôi. Nghĩ Kinh Sinh đối xử với hắn tử tế đến vậy, mà hắn lại ngạo mạn ta đây, ngay ngày đầu tiên đã bỏ việc đi uống rượu, sau khi say sưa tuý luý, lại làm ra chuyện động trời nhường này. Than ôi, về lý mà nói, nhà này cũng là nhà có máu mặt, Hương Nữ cũng là một cô gái tốt đẹp, thế nhưng lại giở thói cưỡng ép bức bách, trong lúc hắn chẳng biết mô tê gì đã sấp ngửa đẩy vào động phòng, toàn bộ quá trình không hề đếm xỉa đến suy nghĩ của người chịu trận là hắn, cho dù là người bình thường cũng khó lòng chấp nhận, huống hồ lại là Trương Nghi? Chuyện này nếu rêu rao ra ngoài, Bàng Quyên biết được, lại chẳng cười cho thối mũi? Tô Tần, Tôn huynh nếu hỏi đến, biết phải giải thích thế nào đây?
Trương Nghi càng nghĩ càng hối hận, thở ngắn than dài, từ từ gục đầu vào gốc cây. Lúc này, Trương Nghi thấy mình khác nào cá nằm trên thớt. Mà tất cả mọi chuyện đều là do hắn quá chén mà tự chuốc lấy, tình cảnh lúc này thực chẳng khác nào kẻ câm ăn hoàng liên, trong lòng đắng nghẹn mà chẳng thế giãi bày.
Đương nhiên, những chuyện này đều đã xảy ra, quan trọng là chuyện trước mắt. Lần này tới Sở, vốn dĩ muốn lập nên đại nghiệp, song còn chưa kịp giang cánh, đã vướng vào cô ả kia. Nếu cô ta cứ một mực không chịu buông tha, đời này chẳng phải đã không còn hy vọng?
Trương Nghi càng nghĩ càng sợ, tự nhủ một mình: “Không! Nhất định phải rời khỏi đây”. Khổ sở suy nghĩ một hồi, đột nhiên trong óc vụt lên một tia sáng, thầm reo trong dạ: “Có cách rồi!”
Đã có tính toán trong lòng, Trương Nghi tinh thần phấn khởi, sải bước băng băng trở về tân phòng của mình và Hương Nữ. Trạch viện này thực là một nơi tao nhã, người hầu kẻ hạ nhìn thấy Trương Nghi, không ai không khom lưng chào “cô gia”. Trương Nghi hoặc mỉm cười đáp lại, hoặc gật đầu, hoặc vòng tay đáp lễ, thái độ thay đổi hoàn toàn.
Đã có tỳ nữ vào bẩm báo với Hương Nữ. Hương Nữ nhanh nhẹn bước ra, vòng tay nói: “Phu quân, chàng đã về rồi ư?”
Trương Nghi giọng hào hứng: “Đã về rồi!”
Thấy Trương Nghi lúc này khác hẳn với Trương Nghi một canh giờ trước đó, Hương Nữ thoáng ngạc nhiên, song lại cười nói ngay: “Phu quân vừa nãy có nói nơi này ngột ngạt, thiếp định đưa phu quân ra ngoài đi dạo, đang chuẩn bị đây.”
Trương Nghi cười nói: “Giờ không thấy ngột ngạt nữa!”
“Sao cơ?” Hương Nữ lại ngẩn người. “Thế… phu quân không muốn đi nữa ư?”
“Lão trượng đã nói, tập tục nơi đây là không thể xa rời, nên tại hạ không đi nữa. Xin hỏi cô nương…”
Không để Trương Nghi nói hết câu, Hương Nữ đã cắt lời, nghiêm mặt nói: “Xin phu quân đừng gọi thiếp là cô nương nữa!”
Trương Nghi vội đổi giọng, cười nói: “Phải phải, đã thành thân rồi, cũng nên đổi cách xưng hô. Nàng thử nói xem, tại hạ nên gọi nàng thế nào mới phải?”
Hương Nữ mắt nhìn Trương Nghi tình tứ: “Nên gọi là nương tử!”
Trương Nghi mặt bỗng đỏ bừng. “Xưng hô như vậy chưa quen, tại hạ nhất thời chưa thuận miệng, cứ gọi nàng là Hương Nữ giống như tối qua vậy!” Rồi không cần biết Hương Nữ có đồng ý hay không, lập tức hỏi luôn. “Xin hỏi Hương Nữ, có biết đánh cờ không?”
Hương Nữ lắc đầu, có vẻ lúng túng.
“Vậy…” Trương Nghi đảo con ngươi một vòng, “có biết gảy đàn không?”
Hương Nữ lại lắc đầu, càng lúng túng hơn, cúi đầu ấp úng: “Nếu phu quân thích những thứ này, thiếp… thiếp sẽ mời thầy về dạy.”
Trương Nghi cười sảng khoái mà nói: “Học thì không cần đâu! Cầm, kỳ, thi, hoạ, tằm, dệt, khâu, thêu đều là những môn thiếu nữ Trung Nguyên phải học, tại hạ cứ tưởng Hương Nữ cũng biết, nên hỏi đại vậy thôi. Vậy nàng hãy nói xem, nàng thích thứ gì?”
Hương Nữ thoáng do dự, rồi nói: “Kiếm!”
“Ồ!” Trương Nghi ra vẻ hào hứng. “Thích kiếm thì hay quá, tại hạ cũng từng rất say mê kiếm.”
“Thật ư?” Hương Nữ vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội quỳ xuống, nhắm mặt lại lầm rầm cầu khấn vài câu gì đó, rồi quay sang Trương Nghi. “Không ngờ phu quân cũng là người thích kiếm!”
Trương Nghi cười nói: “Còn nhiều chuyện nàng không ngờ được đâu!”
Hương Nữ vô cùng thán phục, gật đầu nói: “Phu quân nói đúng! Phu quân là thần nhân, thiếp sớm đã nhìn ra!”
“Ồ?” Trương Nghi trong lòng giật thột, vội hỏi. “Nàng nhìn ra điều gì?”
Hương Nữ cười khúc khích: “Thứ gì thiếp cũng đã nhìn ra cả!” Rồi rút bảo kiếm trong người, đưa cho Trương Nghi. “Không nói chuyện này nữa, phu quân, chàng nói là chàng cũng hiểu kiếm, vậy chúng ta thử chơi vài đường, được chăng?”
Tim Trương Nghi nảy lên một cái, nhưng cũng không tiện nói gì thêm, bèn nhận lấy kiếm, nhấc vài cái trên tay ước lượng, rồi trả lại cho Hương Nữ: “Đây là kiếm của nữ nhi, đại trượng phu sao có thể dùng?”
Hương Nữ lại cười, rồi ra hiệu cho tỳ nữ. Tỳ nữ chạy trở vào trong phòng, mang ra một thanh kiếm. Hương Nữ cầm lấy, hai tay đưa cho Trương Nghi: “Phu quân, thanh kiếm này là kiếm của trượng phu!”
Trương Nghi cầm lấy, rút ra xem, chỉ thấy kiếm khí ngùn ngụt, đưa tay búng thử, thấy phát ra tiếng leng keng rất vang, biết là kiếm Ngô Câu thượng đẳng, buột miệng khen ngợi: “Một thanh Ngô Câu tuyệt vời!”
Hương Nữ mừng ra mặt: “Phu quân quả là hiểu kiếm. Mấy năm trước, cha thiếp đã bỏ ra rất nhiều tiền bạc để nhờ một kiếm sư giỏi nhất nước Ngô đúc cho một cặp kiếm thư hùng, cặp kiếm này có thể chém sắt như bùn, sợi tóc thổi qua cũng đứt, sánh ngang với kiếm Can Tương, Mạc Da! Kiếm của thiếp là thư kiếm, còn thanh hùng kiếm này là cha có nhã ý chuẩn bị riêng cho phu quân!”
Trương Nghi mặt lại nóng ran, song lập tức nở nụ cười mà nói: “Ha ha, kiếm tốt đương nhiên phải múa hay, để tại hạ múa vài đường cho Hương Nữ xem thử!”
Trương Nghi xuống tấn, khẽ vận khí, rồi múa một bài kiếm pháp mà mình đã thành thục từ thuở nhỏ.
Hương Nữ xem một lúc, cười hỏi: “Phu quân, kiếm pháp của chàng học ở đâu vậy?”
Trương Nghi thu kiếm lại, nhìn Hương Nữ: “Thế nào, không đẹp ư?”
“Kiếm pháp của phu quân, đẹp thì có đẹp, song chỉ ngắm được chứ không dùng được.”
“Vậy nàng hãy múa kiếm cho tại hạ xem!”
Hương Nữ vung thanh thư kiếm lên đánh ra một chiêu, quả là kiếm thế hiểm hóc, kiếm khí át người.
Trương Nghi sớm đã có thắc mắc trong lòng, bèn nhân cơ hội hỏi luôn: “Thế kiếm này vô cùng kỳ lạ, dám hỏi là kiếm pháp gì?”
“Kiếm pháp gia truyền, thiếp đã tập luyện từ nhỏ.”
“Kiếm pháp gia truyền?” Trương Nghi hỏi. “Dám hỏi là kiếm pháp gì?”
Hương Nữ ngần ngừ một lát: “Nếu phu quân thực lòng muốn hỏi, thiếp sẽ giải thích cho chàng. Kiếm pháp này gọi là Công Tôn kiếm pháp, chiêu chiêu đoạt mệnh, đặc biệt thích hợp trong cận chiến.”
“Công Tôn kiếm pháp?” Trương Nghi ngẫm nghĩ một hồi, rồi lắc đầu nói. “Tại hạ chưa từng nghe nói tới. Có điều, kiếm là vũ khí cận chiến, bất luận là kiếm pháp gì, chỉ cần thích hợp với cận chiến, đều là kiếm thuật thượng đẳng. Dám hỏi Hương Nữ, kiếm thuật gia truyền của nàng, liệu có thể dạy lại cho tại hạ không?”
Hương Nữ vui vẻ nói: “Đương nhiên rồi! Thiếp đã là người của phu quân, kiếm pháp này tự khắc cũng thuộc về phu quân!” Rồi thủ thế. “Phu quân, chàng và thiếp hãy luyện Công Tôn phu thê kiếm. Một khi đã luyện thành, song kiếm hợp bích, uy lực vô song!”
Trương Nghi ngẩn ra một thoáng, rồi lại cười mà nói: “Được được, hãy luyện kiếm pháp!”
Trương Nghi cầm chắc chuôi kiếm, xuống tấn thủ thế. Hương Nữ bước lại vài bước, cầm tay uốn nắn sửa sang lại tư thế cho Trương Nghi một lượt. Hai người cứ thế từng chiêu từng thức, người qua kẻ lại tập ở trong sân, cuối cùng thành ra cùng nhau luyện thực, cứ thế luyện từ sáng tới chiều. Hương Nữ dạy rất tận tâm, Trương Nghi cũng học rất chuyên chú, đến khi trời tối, đã bước đầu lĩnh hội được điểm tinh yếu của Công Tôn kiếm pháp, múa lên trông cũng khá bài bản.
Đêm xuống, hai người tắm rửa xong xuôi, tắt đèn đi ngủ. Trương Nghi nằm trên giường, đã thay quần áo ngủ, với chăn đắp kín người. Hương Nữ ngỡ ngàng hồi lâu, thấy Trương Nghi như vậy, muốn nói gì đó, song ngượng ngùng lại thôi, đành lấy một tấm chăn khác để đắp.
Có lẽ học kiếm quá mệt, hai người vừa nằm xuống một lát, đều chìm vào giấc ngủ say sưa.
Tới canh ba, Trương Nghi mở choàng mắt, nghe thấy tiếng thở đều đều của Hương Nữ, biết là nàng đã ngủ say. Khẽ chạm tay vào người nàng, cũng không thấy phản ứng gì. Trương Nghi mừng thầm, lặng lẽ ngồi dậy, bước xuống giường, mặc áo, đi đến trước cửa.
Nghe ngóng một hồi, thấy bên ngoài không có động tĩnh gì, Trương Nghi bèn khẽ khàng rút then cửa, đẩy nhẹ một cái, cánh cửa đã mở ra. Trương Nghi cả mừng, nhủ thầm công sức hôm nay vất vả cả ngày trời quả không uổng phí, trưởng lão kia hẳn đã cho rằng hắn hồi tâm chuyển ý, không còn canh phòng nữa.
Trương Nghi đóng cửa lại, rón ra rón rén bước tới bên giường, nhìn Hương Nữ thêm một lần nữa, thấy nàng vẫn ngủ say sưa, tiếng thở đều đều nghe lại thành ra vui tai. Trương Nghi cúi người trước nàng một cái, coi như chào từ biệt, rồi quay ra mở cửa, bước ra ngoài, đóng chặt cửa lại như cũ.
Trương Nghi mò mẫm ra khỏi tân phòng, lần đến bên ngoài, đưa mắt nhìn quanh, thấy bốn bề vắng lặng, trên trời trăng khuyết mông lung. Trương Nghi ẩn mình vào bóng tối, nhặt một hòn đá ném ra chỗ sáng, thấy không có động tĩnh gì, biết là không có ai canh phòng thực, trong lòng mừng rỡ, vội vã dò dẫm đi về phía cổng phụ mà sáng nay đã nhắm sẵn, kéo then cổng, chuồn lẹ ra ngoài.
Sau khi ra khỏi cổng, Trương Nghi mới đầu còn chạy chầm chậm, sau đó xoạc cẳng chạy thục mạng, loáng cái đã rẽ qua vài con phố, ngoảnh lại phía sau, vẫn không thấy có ai đuổi theo.
Trương Nghi lúc này mới thấy yên tâm, bèn ẩn mình vào bóng tối, ngẫm nghĩ một hồi, sau khi xác định rõ phương hướng, bèn lẳng lặng quay trở về chỗ ở cũ của mình, đưa tay gõ cửa.
Trương Nghi gõ liền vài cái, bên trong vọng ra tiếng hỏi: “Ai thế?”
Trương Nghi nhận ra giọng của người hầu nam, lại gõ thêm vài cái, hạ thấp giọng nói: “Mau mở cửa, là ta đây!”
Người hầu bước ra mở cửa, nhìn thấy là Trương Nghi, kinh ngạc kêu lên: “Trướng…”
Còn chưa nói hết câu, Trương Nghi đã đưa tay lên bịt chặt miệng anh ta lại, lách người chui vào trong phòng, tiện tay đóng cửa lại, thì thào: “Đừng nói nữa, mau lên, vào trong phòng!”
Hai người dò dẫm đi vào trong. Người hầu định thắp đèn dầu, song Trương Nghi ngăn lại. Người hầu thấy hắn như vậy, đành hạ thấp giọng nói: “Hôm kia không thấy trướng gia về, tiểu nhân đang vô cùng sốt ruột, bỗng thấy anh béo hớt hải chạy về nói rằng, trướng gia chiến thắng trong tỉ thí võ đài, đã thành thân rồi, được họ Công Tôn nhận làm con rể. Tiểu nhân nghe được tin này, thực lấy làm mừng cho trướng gia, không ngờ canh ba nửa đêm trướng gia lại…”
Trương Nghi đột nhiên nhớ tới Công Tôn kiếm pháp mà Hương Nữ mới truyền cho mình, bèn xua tay ngăn anh ta lại: “Đừng nói tới chuyện này nữa, trướng gia hỏi ngươi, họ Công Tôn là ai thế?”
Người hầu ngạc nhiên hỏi lại: “Trướng gia đã là con rể nhà họ, đến chuyện này cũng không biết ư?”
Trương Nghi trầm giọng trách mắng: “Nếu biết, trướng gia hỏi ngươi làm gì?”
Người hầu vội nói: “Tiểu nhân biết sai rồi! Hồi bẩm trướng gia, họ Công Tôn là thương nhân nức tiếng, khắp Uyển Thành, Diệp Thành này, không ai không biết.”
“Biết rồi!” Trương Nghi gật đầu, lại hỏi. “Ông chủ Kinh có nhà không?”
“Tiểu nhân không biết! Nghe nói, mấy hôm nay, ông chủ đều đi vắng.”
“Vậy…” Trương Nghi mặt ngẩn tò te, “chuyện này phải làm thế nào đây?”
“Trướng gia, ngài cần gì, cứ nói với tiểu nhân!”
“Được!” Trương Nghi tỏ vẻ lo lắng. “Sáng sớm mai trướng gia phải ra khỏi thành, ngươi có cách nào không?”
Người hầu cười nói: “Trướng gia có phúc làm cô gia nhà Công Tôn, muốn đi đâu, có ai dám cản?”
Trương Nghi đảo mắt một vòng: “Nói thực với ngươi, trướng gia đã gây ra hoạ lớn ở nhà Công Tôn, lần này không thể trở thành cô gia được nữa. Trướng gia tới đây, là muốn chạy thoát thân, vốn định nhờ ông chủ Kinh giúp đỡ, nào ngờ…” thở dài một tiếng, “nào ngờ Kinh tiên sinh lại đi vắng, biết làm thế nào đây?”
Người hầu lập tức nghiêm mặt, trầm ngâm suy nghĩ một hồi rồi nói: “Trướng gia yên tâm! Ông chủ có ơn với tiểu nhân, nay ông chủ muốn tiểu nhân hầu hạ trướng gia, trướng gia gặp khó khăn, tiểu nhân dù có phải thịt nát xương tan cũng sẽ giúp trướng gia.”
Trương Nghi vô cùng cảm động, vòng tay vái tạ: “Tại hạ xin đa tạ trước!”
“Trướng gia nếu muốn cảm tạ, thì hãy cảm tạ ông chủ!” Người hầu không chần chừ thêm, lập tức lấy ra một bộ quần áo. “Ngày mai, trướng gia hãy mặc y phục này, cải trang làm người đánh xe, đợi khi rạng sáng, tiểu nhân sẽ dùng xe ngựa của ông chủ đưa trướng gia ra khỏi thành. Nếu lính gác cổng tra xét, tiểu nhân sẽ nói là đi đón ông chủ. Lính canh cổng thành hầu hết đều nhận ra xe của ông chủ, hẳn sẽ không nghi ngờ.”
“Cách này thực hay!”
Trương Nghi lập tức thu dọn hành trang, thay ra bộ trang phục phu xe mà người hầu đưa cho, rồi cất quần áo của mình vào tay nải, lên giường chợp mắt một lát thì trời đã sáng, bèn cùng người hầu đánh xe ra khỏi cổng thành. Lính gác cổng tra xét qua loa, phẩy tay cho qua.
Ra khỏi thành một đoạn, Trương Nghi lấy tay nải ra, thay lại quần áo của mình, vòng tay vái người hầu mà nói: “Tại hạ xin đa tạ!”
Người hầu vẫn nói: “Trướng gia nếu muốn cảm tạ, thì hãy cảm tạ ông chủ!”
“Nói phải lắm!” Trương Nghi gật đầu. “Khi nào ông chủ Kinh trở về, phiền ngươi chuyển giúp lời tạ ơn của tại hạ, nói là Trương Nghi người Ngụy ghi nhớ ân tình của tiên sinh, ngày sau sẽ báo đáp gấp bội!”
“Tiểu nhân nhất định sẽ chuyển lời!” Người hầu sau một hồi do dự, mới hỏi. “Dám hỏi trướng gia, nếu ông chủ trở về, hỏi trướng gia đi đâu, tiểu nhân phải trả lời thế nào?”
“Nói với ông chủ rằng, trướng gia đi tới đất Việt!”
“Đất Việt?” Người hầu kinh ngạc kêu lên. “Đất Việt cách xa hàng nghìn dặm, trướng gia chỉ dựa vào đôi chân, biết năm nào tháng nào mới tới được?”
“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng. “Còn có cách nào khác ư? Tại hạ đã tới nông nỗi này, đi mất bao lâu cũng phải chịu thôi!”
“Trướng gia!” Người hầu cúi đầu ngẫm nghĩ một hồi lâu, rồi quả quyết nói. “Thế này đi, cỗ xe của ông chủ, trướng gia cứ lấy mà dùng. Đợi ông chủ trở về, tiểu nhân sẽ bẩm báo chuyện này với ông chủ. Tuy tiểu nhân ngu dốt, song vẫn nhận ra, ông chủ rất kính trọng trướng gia. Nếu biết xe này do trướng gia mượn đi, chắc chắn sẽ không tức giận.”
Trương Nghi vội chối: “Chuyện này sao có thể được?”
Người hầu thuyết phục: “Trướng gia chớ bận tâm! Tiểu nhân đã theo ông chủ nhiều năm, biết ông chủ không trọng tiền bạc, chỉ trọng tình nghĩa. Nhìn trướng gia, biết rằng sẽ không cam tâm ở dưới người khác mãi. Đợi tới ngày trướng gia đắc chí, nếu vẫn nhớ tới món quà hôm nay, trướng gia đừng quên ông chủ là được!”
“Thôi được!” Trương Nghi gật đầu nói. “Cỗ xe này coi như tại hạ tạm thời mượn dùng, tình nghĩa của ông chủ, ngày sau xin báo đáp!”
Người hầu lại lấy ra vài chục xu tiền đồng từ trong túi: “Tiểu nhân bần hàn, không có tiền bạc, chỉ dành dụm được chút tiền cỏn con này, nếu trướng gia không chê, xin hãy mang đi theo làm lộ phí.”
Trương Nghi nhận tiền, nắm tay người hầu, nắm thật chặt, cảm kích mà nói: “Đúng là nghĩa bộc! Được, số tiền này, tại hạ xin nhận!”
Người hầu vòng tay vái Trương Nghi: “Trướng gia, cũng không còn sớm nữa, nhân lúc trời đang đẹp, hãy gấp rút lên đường!”
Trương Nghi vòng tay đáp lễ, rồi nhảy lên xe, ra roi mà phóng đi.
Trương Nghi thúc ngựa chạy nhanh, đi gấp suốt nửa ngày trời, tầm trưa thì tới Vũ Dương.
Vũ Dương đã bị quân Ngụy chiếm giữ. Để đề phòng người Sở, quân Ngụy đóng chặt bốn cổng thành, kiểm tra gắt gao. Trương Nghi biết được chuyện này, bèn vòng qua cổng thành, đi về phía chính đông, theo đường cái quan tại bờ nam Nhữ Thuỷ, thẳng tới Thượng Sái.
Đi thêm hơn hai mươi dặm đường, Trương Nghi đã thấy đói bụng, trông ngựa kéo xe cũng có vẻ mệt mỏi, bèn đi chậm lại, đưa mắt quan sát hai bên đường, đi thêm một đoạn nữa thì thấy phía trước có một quán ăn. Trương Nghi mừng rỡ, đánh ngựa tới đó. Nghe thấy có tiếng xe ngựa, một thằng nhỏ đã chạy ra đón sẵn, tiếp lấy dây cương, dắt ngựa và xe đi vào tàu ngựa ở sân sau.
Trương Nghi sải bước vào trong quán ăn, đưa mắt nhìn một lượt, thấy bên trong vắng tanh vắng ngắt, chỉ có một chàng thiếu niên mặc áo trắng đội mũ chiên ngồi phía trước bàn, hiển nhiên là thực khách.
Trương Nghi bụng đói cồn cào, tìm chỗ ngồi xuống, cao giọng gọi tiểu nhị đang đứng bên quầy: “Tiểu nhị, khách đến rồi đây!”
Tiểu nhị chỉ liếc Trương Nghi một cái, không buồn nhúc nhích.
Trương Nghi một là vừa thoát khỏi nguy hiểm, hai là sắp có cơm ăn, bởi vậy trong lòng vui vẻ, chẳng để tâm tới chuyện này, lại lớn tiếng gọi: “Tiểu nhị, nghe này, cho bốn đĩa thức ăn, một vò rượu lâu năm!” Lời nói vừa dứt, dường như sực nhớ ra điều gì, vội đổi ý. “Mà thôi, rượu không cần nữa. Nếu lại uống say sinh sự nữa thì rắc rối to!”
Vừa nói dứt lời, chàng thiếu niên áo trắng ngồi cách đó mấy bàn bỗng phì cười thành tiếng.
Trương Nghi nghe thấy, mỉm cười với hắn, vòng tay nói: “Này cậu nhóc, chớ có cười giễu! Nếu có gan, hãy lại đây, chúng ta mỗi người một vò, đảm bảo cậu sẽ phải phục sát đất!”
Thiếu niên áo trắng vốn đang ngồi nghiêng, nghe Trương Nghi nói vậy, bèn quay hẳn lưng lại. Đúng vào lúc đó, một luồng gió nhẹ thổi qua, Trương Nghi bất chợt ngửi thấy một mùi hương quen thuộc, bèn hít lấy hít để, lẩm bẩm một mình: “Quái lạ, thực là quái lạ, sao nơi này cũng có mùi hương đó?” Rồi đưa tay dụi mũi. “Phải rồi, hẳn là mũi mình đã sợ quá hoá hỏng mất rồi!”
Thiếu niên kia nghe rõ từng lời, lại cười phì một tiếng. Trương Nghi bèn gọi lớn: “Này tiểu huynh đệ, đừng cười nữa! Quay lại đây, chúng ta cùng trò chuyện!”
Thiếu niên áo trắng vẫn không mảy may di dịch, cũng chẳng thèm đếm xỉa tới Trương Nghi. Bị người này phớt lờ, Trương Nghi đang định lên tiếng thì thấy tiểu nhị từ bên trong bước ra, bưng theo một mâm đầy ắp thức ăn, bày từng đĩa từng đĩa lên trên bàn của chàng thiếu niên, sau đó quay người bước đi.
Trương Nghi bụng đói cồn cào, ngửi thấy mùi thức ăn, bèn nuốt nước bọt ừng ực. Lại thấy tiểu nhị bê lại một vò rượu lâu năm, vẫn bước tới phía bàn của thiếu niên kia, đặt hũ rượu xuống, bày hai chén rượu lên bàn, gỡ bỏ niêm phong, rót đầy vào chén, rồi quay trở về quầy đứng nguyên như cũ.
Một lát sau, Trương Nghi vẫn thấy tiểu nhị đứng nguyên đó, thì vô cùng sốt ruột, lại réo gọi: “Tiểu nhị, mau mang thức ăn lại đây!”
Tiểu nhị vẫn đứng nguyên tại chỗ, ngây người nhìn Trương Nghi, dường như không nghe thấy gì.
Trương Nghi càng nóng mặt, quát lớn: “Tiểu nhị, điếc à? Mau mang thức ăn lại đây!”
Tiểu nhị vẫn không hề phản ứng.
Trương Nghi đang giận dữ, bỗng thấy thiếu niên áo trắng kéo sụp vành mũ chiên xuống, nâng chén rượu lên, nói khẽ: “Này nhân huynh, hãy tiết kiệm sức lực đi! Tiểu nhị bị điếc, không nghe thấy đâu!”
Trương Nghi vội hỏi: “Thế… thế ông chủ đâu?”
“Ông chủ ra ngoài rồi!”
Tiểu nhị bị điếc, ông chủ lại ra ngoài, xem ra đồ ăn còn lâu mới có. Song giờ mà bỏ đi, không biết trên đường có còn quán nào khác không, lại thêm bụng đói sôi sục, khó lòng chịu xiết.
Trương Nghi đang không biết phải làm sao, chợt nghe thiếu niên lên tiếng: “Nếu nhân huynh không ngại, tại hạ xin mời nhân huynh một chén rượu nhạt, được chăng?”
Trương Nghi liếc nhìn một bàn đầy thức ăn và rượu ngon trước mặt thiếu niên, thì đảo con ngươi một vòng, cười vang mà nói: “Này tiểu huynh đệ, có một mình mà gọi từng ấy đồ ăn, chắc không ăn hết được đâu. Thôi thì, bữa rượu này hãy để tại hạ trả tiền, coi như tại hạ mời tiểu huynh đệ!”
Trương Nghi nói ra như vậy, cũng thấy yên chí, bèn đứng dậy, đi thẳng đến chỗ đối phương, ung dung đĩnh đạc khoanh chân ngồi xuống đối diện với thiếu niên, bưng chén rượu đã được rót sẵn lên, nói: “Nào, tiểu huynh đệ, tại hạ xin mời!”
Thiếu niên áo trắng cũng nâng chén rượu lên, rồi ngẩng mặt, nhìn Trương Nghi mỉm cười: “Nhân huynh, mời!”
Chén rượu trên tay Trương Nghi bỗng khựng lại giữa không trung, cả người như hoá đá. Bởi lẽ ngồi trước mặt hắn không phải ai khác, chính là Hương Nữ cải nam trang!
Hồi lâu sau, Trương Nghi mới lắp bắp được vài tiếng: “Là… là nàng!”
Hương Nữ đôi mắt rừng rực như lửa đốt chiếu thẳng vào Trương Nghi, dẩu đôi môi xinh, đổi sang giọng nữ mà nói: “Chỉ với mấy xu tiền đồng trên người chàng…” Lại phì cười thành tiếng, từ từ đưa chén rượu lên môi. “Thôi cứ để thiếp mời chàng vậy. Phu quân, cạn nào!”
Trương Nghi còn tâm trí đâu mà cạn nữa, chén rượu trong tay “cạch” một tiếng rơi thẳng xuống đất.
Hương Nữ nhặt cái chén dưới đất lên, lại rót đầy rượu, nâng hai tay đưa cho Trương Nghi: “Phu quân, thiếp kính chàng!”
Trương Nghi từ từ trấn tĩnh trở lại, mắt nhìn Hương Nữ trừng trừng, hỏi: “Sao… sao nàng lại ở đây?”
Hương Nữ cười nói: “Cha đã nói rồi, theo tập tục đất Sở, sau khi kết hôn, vợ chồng trong vòng ba ngày không được rời nhau. Phu quân và thiếp kết hôn chưa được ba ngày, phu quân đi xa, thiếp sao dám không theo?”
Trương Nghi kinh ngạc hỏi: “Nói như vậy, nàng… nàng vẫn bám sát theo sau ta?”
Hương Nữ lắc đầu, nói: “Không phải theo sau, mà là đi trước!”
“Đi trước?” Trương Nghi càng kinh ngạc. “Chuyện này… chuyện này làm sao có thể?”
Hương Nữ mỉm cười: “Thiếp chỉ biết không được rời xa phu quân, còn đi trước hay đi sau, phu quân hà tất phải quan trọng?”
Trương Nghi thở dài một tiếng, nâng chén rượu lên: “Nói cũng phải, tại hạ phục rồi. Cạn!”
Hai người cùng uống vài chén rượu. Sau khi ăn uống no nê, Hương Nữ vẫy tay ra hiệu, ngoài cửa đã có nô bộc thắng sẵn một cỗ xe tứ mã lớn đợi sẵn. Hai người lên xe, phu xe chẳng hỏi han gì, quất roi thúc ngựa, phóng đi vùn vụt.
Đi được một đoạn đường, xe ngựa rẽ về phía nam, tới chập tối thì đến một vùng núi. Chỉ thấy đường đi khúc khuỷu, núi non trập trùng, không thấy có lấy một nếp nhà.
Trương Nghi nhìn ra ngoài cửa sổ, càng nhìn càng thấy kinh ngạc, bèn quay sang hỏi: “Hương Nữ, nàng… nàng định đi đâu?”
“Đi tới nơi phu quân muốn tới!”
Trương Nghi cười chế giễu: “Nàng biết tại hạ muốn đi đâu ư?”
Hương Nữ lại cười: “Phu quân muốn tới đất Việt, nói chính xác hơn, phu quân muốn tới Lang Nha, phải không?”
Trương Nghi kinh ngạc: “Tại sao nàng biết?”
Hương Nữ lại cười: “Thiếp không những biết phu quân muốn tới đất Việt, mà còn biết phu quân muốn bái kiến Việt Vương, lập nên đại nghiệp trong đời!”
Trương Nghi ngẫm nghĩ một lát, rồi chậm rãi hỏi: “Là khi tại hạ uống say đã nói ra phải không?”
Hương Nữ lắc đầu, cười khẽ mà nói: “Phu quân, trong đêm tân hôn, chàng muốn thiếp thấu hiểu tâm sự của chàng, hiểu vì sao chàng vui, vì sao chàng buồn. Nay thiếp đã hiểu, phu quân lại đoán bừa.”
Trương Nghi sững người, ngẩng đầu nhìn Hương Nữ, trong lòng ngờ vực, bèn nhấn mạnh từng chữ: “Hương Nữ, rốt cuộc nàng là ai, hãy nói thực đi!”
Hương Nữ bật cười, nghiêng nghiêng đầu nhìn Trương Nghi, hỏi ngược lại: “Chàng là phu quân của thiếp, chàng nói thử xem thiếp có thể là ai?”
Trương Nghi cứng họng, đang không biết phải đối đáp ra sao thì xe ngựa đã rẽ vào một sơn cốc rộng rãi, sau một hồi sải vó phóng nhanh, bèn tới trước một sơn trại. Đã có người mở sẵn cổng trại, xe ngựa cứ thế lao thẳng vào trong, rồi dừng lại trước cổng một toà trạch viện rộng thênh thang.
Hương Nữ nhảy xuống xe trước, nhìn Trương Nghi đang băn khoăn ngờ vực, nói: “Phu quân, trời đã tối rồi, hãy nghỉ lại đây một đêm, sáng mai đi tiếp cũng không muộn!”
Trương Nghi đưa mắt nhìn quanh, kinh ngạc hỏi: “Đây là đâu?”
“Phu quân cứ xuống xe khắc biết!”
Trương Nghi nhảy xuống xe, lại quan sát một chặp, dưới ánh sáng mờ nhạt của buổi chiều tàn, lờ mờ nhìn thấy tấm biển trên cổng có viết mấy chữ “Trại Ngô Vương núi Tra Nha”. Đang mải ngẫm ngợi thì Hương Nữ đã bước lại, kéo tay Trương Nghi mà nói: “Phu quân, mời!”
Trương Nghi không còn cách nào khác, đành phải theo Hương Nữ vào trong cổng viện. Đi qua vài lần cổng, hai người vào trong dãy nhà thứ nhất, nhìn thấy bên trong đèn đuốc sáng trưng, trong sân có hơn hai chục hán tử đứng nghiêm trang như cây thương cắm thẳng.
Trương Nghi lòng đầy nghi hoặc bước theo Hương Nữ vào trong đại sảnh. Vừa bước qua cửa, bất giác trợn trừng hai mắt, bởi lẽ người đang ngồi ở vị trí chủ trước bàn không phải ai khác, chính là cha của Hương Nữ!
Hương Nữ quỳ xuống khấu đầu, nói: “Hương Nữ khấu kiến cha!”
Trưởng lão gật đầu, rồi nhìn Trương Nghi với ánh mắt ôn hoà.
Hương Nữ kéo tay Trương Nghi, Trương Nghi định thần lại, bèn vòng hai tay vái chào: “Vãn sinh bái kiến lão trượng!”
Trưởng lão mỉm cười, chìa tay nói: “Hiền tế, mời ngồi!”
Trương Nghi vòng tay cảm tạ, bước tới vị trí khách, khoanh chân ngồi xuống. Hương Nữ đi sát phía sau, quỳ xuống bên cạnh Trương Nghi.
Trưởng lão nhìn Trương Nghi hỏi: “Nghe nói hiền tế muốn tới đất Việt, có việc trọng đại gì, nói cho lão hủ nghe được chăng?”
Trương Nghi đưa mắt nhìn trưởng lão, lại nhìn Hương Nữ, thầm nghĩ trong lòng, hiện giờ nếu không nói thực, e rằng khó lòng thoát thân. Hơn nữa, vị trưởng lão này đã gả con gái cho mình, tất không có ý hại mình.
Nghĩ vậy, Trương Nghi lại vòng tay vái mà nói: “Vãn sinh họ Trương tên Nghi, là người nước Ngụy, tới núi Vân Mộng theo học Quỷ Cốc tiên sinh. Gần đây xuống núi, muốn tới du thuyết Việt Vương, giúp Việt Vương hoàn thành đại nghiệp!”
Trưởng lão cười vang mà nói: “Con gái lão thực có con mắt tinh tường, hiền tế quả nhiên hoài bão chí lớn. Tuy nhiên… lão hủ đây có một khúc mắc, muốn được thỉnh giáo hiền tế.
“Lão trượng cứ nói, vãn sinh nếu biết sẽ không dám giấu giếm!”
“Quỷ Cốc tiên sinh danh tiếng lẫy lừng, lão hủ sớm đã nghe nói đến. Hiền tế đã là đồ đệ của Quỷ Cốc tiên sinh, cớ sao không phò tá minh chủ trong thiên hạ, mà lại đâm đầu vào chỗ tối, tới cõi man di xa xôi hẻo lánh, du thuyết một Việt Vương không thức thời?”
Trương Nghi do dự một lát, muốn nói lại thôi.
Trưởng lão phẩy tay một cái. Ngoài Hương Nữ, tất cả những người khác đều lui ra ngoài.
Trưởng lão nhìn Trương Nghi, chậm rãi nói: “Ở đây không có người ngoài, hiền tế cứ tự nhiên, không có gì phải e ngại!”
Trương Nghi đột nhiên nhớ tới ba chữ “trại Ngô Vương” mà mình vừa đọc được khi nãy, đoán rằng trưởng lão hẳn có mối liên quan với nước Ngô, mà Ngô sớm đã bị diệt vong, chắc chắn sẽ không cản trở mình, bởi vậy quyết định dốc bầu tâm sự, lại vòng tay nói: “Vãn sinh cho rằng, thiên hạ trong tương lai, hoặc quy về Sở, hoặc quy về Tần, ắt thành nhất thống. Nghi tuy bất tài, song có chí trợ giúp Sở Vương hoàn thành đế nghiệp. Dựa vào tình hình hiện tại của nước Sở, mối hoạ tiềm ẩn chính là người Việt. Người Việt sau khi thôn tính nước Ngô, chiếm cứ vùng duyên hải phía đông, ngày một lớn mạnh. Người Việt dựa vào núi lớn, đầm rộng làm bình phong che chắn, dựa vào biển làm chỗ dựa sau lưng, xuất quỷ nhập thần, nhiều lần quấy nhiễu nước Sở, Sở đề phòng không xuể, diệt trừ không dễ. Việt đã khó trừ, hậu phương của Sở tất không vững chãi. Hậu phương đã không vững chãi, mưu đồ tiến lên phía bắc thôn tính Trung Nguyên ắt phải buông xuôi, nghiệp lớn khó thành. Nghi tới đất Việt, thực lòng là muốn dụ hổ rời núi, ra một đòn mà tiêu diệt tận gốc!”
Nghe những lời này, trưởng lão hai mắt vụt sáng, song lại mau chóng khép lại, nhưng hai tay khẽ run lên do quá kích động. Hương Nữ cũng xúc động vạn phần, bất giác đưa tay nắm chặt lấy tay Trương Nghi. Có lẽ do Hương Nữ vận lực thái quá, khiến Trương Nghi đau đến suýt bật kêu lên. Hương Nữ cảm nhận được, thầm xót ruột, vội vã xoa khẽ lên bàn tay Trương Nghi.
Trương Nghi không dám giằng ra, đang lúc lúng túng thì trưởng lão đã trấn tĩnh lại, nhìn hắn gật gù, tươi cười mà nói: “Lời hiền tế nói, bao quát toàn cục, nhắm trúng thực tế, đúng là hiền tài trong thiên hạ. Song lão hủ đây vẫn còn một câu hỏi muốn thỉnh giáo hiền tế.”
“Xin lão trượng cứ nói!”
“Lần này đi là muốn dụ hổ rời núi, hiền tế hẳn đã hiểu rõ về con hổ này?”
“Chuyện này…” Trương Nghi nhất thời cứng họng, ngây ra tại chỗ.
Trưởng lão lại nói: “Hiền tế đi lần này, chính là bảo hổ lột da. Nếu như đã muốn bảo hổ lột da, thì hiền tế phải hiểu rõ về con hổ này, biết nó từ đâu tới, sinh sống ở đâu, tuổi tác ra sao, béo hay gầy, cương hay nhu, có bao nhiêu nanh, nanh dài cỡ nào, có bao nhiêu vuốt, vuốt dài cỡ nào, uy ở chỗ nào, yếu ở mặt nào…” Rồi dừng lại, đưa mắt nhìn Trương Nghi.
Trương Nghi nghe mà kinh ngạc. Những lời trưởng lão nói rất phù hợp với thuật suy đoán mà Quỷ Cốc tiên sinh đã truyền thụ gần đây. Mấy ngày qua, tinh lực của Trương Nghi đa phần đã tiêu hao vào việc đối phó với chuyện bắt rể, còn việc mưu tính nước Việt, chính là nước cờ tiếp theo cần phải đi. Thấy trưởng lão nhìn mình không chớp, Trương Nghi cũng định thần lại, vòng tay nói: “Lão trượng nói vậy, hẳn đã hiểu rõ về con hổ này?”
“Đúng vậy!” Trưởng lão gật đầu. “Lão hủ đây quả thực có chút dây mơ rễ má với con hổ này, đã qua lại một thời gian dài với hắn. Lần này, hiền tế muốn mưu tính con hổ này, lão hủ có thể giúp hiền tế một tay.”
“Tốt quá!” Trương Nghi vòng tay vái liên hồi. “Vãn sinh phiền lão trượng chỉ giáo!”
Những lời nói của trưởng lão khơi bùng nhiệt huyết trong lòng Trương Nghi, Trương Nghi đang chăm chú đợi nghe, thì trưởng lão lại quay đầu nhìn đồng hồ nước, vòng tay nói: “Đã khuya rồi, hiền tế cả đêm qua ngủ không ngon giấc, hôm nay lại vất vả bôn ba, đánh xe ruổi ngựa suốt một ngày trời, hẳn đã mệt mỏi, nên nghỉ ngơi sớm!” Nói đoạn, chậm rãi đứng dậy, đi vào phòng trong.
Trương Nghi ngây ra một thoáng, đành phải đứng dậy vòng tay vái: “Vãn sinh cung tiễn lão trượng!”
Thấy trưởng lão lui ra, bên ngoài lập tức có người bước vào, hầu Trương Nghi và Hương Nữ dùng bữa, tắm rửa.
Đêm đó, Trương Nghi một phần do quá mệt mỏi, một phần do có quá nhiều khúc mắc chưa được giải đáp, nên chẳng còn tâm trí đâu mà nghĩ tới chuyện bỏ trốn, từ sớm đã cùng Hương Nữ vào phòng nghỉ ngơi.
Trương Nghi bước tới trước giường, nhìn thấy bên dưới tấm chăn gấm, Hương Nữ ngọc thể ẩn hiện, khắp phòng hương thơm phảng phất, trong lòng không khỏi rung động. Song chần chừ một lát, vẫn lặng lẽ ôm lấy tấm chăn, dịch gối sang nửa giường bên kia, một mình nằm xuống ngủ.
Khoảng chừng rạng sáng, Trương Nghi mơ thấy cảnh trên núi hoa nở rực rỡ, hương thơm ngào ngạt. Ngọc Thiền uyển chuyển bước lại, hai người cùng hái hoa bắt bướm, cười đùa vui vẻ. Chốc sau, Ngọc Thiền có vẻ nóng bức, bèn cởi bỏ lớp sa trắng trên người, nằm nghiêng xuống bãi cỏ xanh. Thấy Ngọc Thiền ngọc thể phơi bày, Trương Nghi vội quay người, nhắm mắt lại, đang định tránh đi, bất chợt nghe thấy giọng Ngọc Thiền thì thầm run rẩy: “Trương sĩ tử, sĩ tử lại đi đâu thế?”
Trương Nghi muốn đi mà không thể, muốn ngoái đầu mà không dám, tim đập thình thịch, miệng ấp a ấp úng: “Đệ… đệ.!.”
Ngọc Thiền cười khẽ mà nói: “Trương sĩ tử, phải chăng sĩ tử chê bai thiếp?”
Trương Nghi không dám nói, cũng không dám mở mắt nhìn, cứ thế nhắm nghiền hai mắt, từng bước từng bước lùi lại. Đang trong lúc lùi, đột nhiên cảm thấy một làn hơi ấm sực phả sát bên người, hoá ra Ngọc Thiền không biết từ lúc nào đã áp sát lại, ghé vào bên tai Trương Nghi thì thầm: “Trương sĩ tử, sĩ tử… có thích Thiền Nhi không?”
Trương Nghi khẽ nói: “Thích… thích lắm!”
“Đã thích, vậy còn đợi gì nữa?”
Trương Nghi không thể cắm lòng thêm được nữa, lập tức dang tay ôm ghì lấy Ngọc Thiền vào lòng, đang định tình tứ, thì Ngọc Thiền bất ngờ đẩy bật Trương Nghi ra, khoác làn sa mỏng lên mình, phấp phới bay đi. Trương Nghi cuống quýt đuổi theo vài bước, ôm chặt lấy nàng, miệng lắp bắp gọi: “Thiền Nhi… Thiền Nhi…”
Đang lúc gọi tên, Trương Nghi bỗng giật mình choàng tỉnh, cảm thấy là lạ, sững lại một chốc, chợt phát hiện ra mình đang ôm chặt Hương Nữ trong tay. Hoá ra, Hương Nữ không biết từ bao giờ đã dịch gối lại gần, ngủ say sưa ngay bên cạnh hắn. Nhận thấy tình cảnh này, Trương Nghi mặt mũi nóng ran, ngượng ngùng không để đâu cho hết. Có lẽ do Trương Nghi ôm quá chặt, Hương Nữ cũng đã tỉnh dậy, thấy tình cảnh đó, mặt cũng đỏ bừng, dụi đầu vào ngực Trương Nghi, cất giọng êm ái: “Phu quân!”
Trương Nghi muốn rút tay về, song lại phát hiện ra, cơ thể mình đã không còn kiểm soát được nữa.
Đêm xuân thường ngắn ngủi.
Sáng sớm hôm sau, do Trương Nghi và Hương Nữ hai tình quấn quýt, nên ngủ dậy muộn. Rửa mặt, chải đầu xong xuôi, hai người được gọi tới sảnh đường. Trưởng lão ngồi ngay ngắn trước bàn, dường như đã đợi họ khá lâu.
Trương Nghi, Hương Nữ vội vã bước lại. Hương Nữ sắc mặt rạng ngời hạnh phúc, quỳ xuống khấu đầu nói: “Hương Nữ khấu kiến cha!” Rồi đưa tay kéo Trương Nghi.
Trương Nghi do dự một lát, rồi cũng quỳ xuống khấu đầu mà nói: “Vãn sinh Trương Nghi khấu kiến lão trượng!”
Trưởng lão mỉm cười, chìa tay ra nói: “Hiền tế, ngồi xuống đi!”
Hai người ngồi xuống, trưởng lão nhìn Trương Nghi chăm chú hồi lâu, rồi gật gù, chậm rãi nói: “Những lời hiền tế đã nói tối qua về đại thế trong thiên hạ và chí khí trong cuộc đời, khiến lão hủ đây không khỏi khâm phục. Hiền tế hoài bão thiên hạ trong lòng, vì thiên hạ mà mưu tính Sở, vì Sở mà mưu tính Việt, càng khiến lão hủ đây cảm thấy hổ thẹn!”
Trương Nghi vòng tay nói: “Được lão trượng yêu mến, vãn sinh xin đa tạ. Lời khen của lão trượng, vãn sinh hổ thẹn không dám nhận.”
Trưởng lão cười vang mà nói: “Lão hủ đây là yêu tài, không phải là yêu mến!” Rồi chuyển chủ đề, đi thẳng vào việc chính. “Lần này hiền tế đi mưu Việt, trước hết cần biết rõ người Việt.”
“Xin lão trượng chi giáo!”
Trưởng lão dõng dạc nói: “Sau khi Câu Tiễn diệt Ngô, đã dẫn đại binh lên phía bắc vào Hoài, cùng Tấn, Tề trải qua ba trận đánh mà giành thắng lợi. Chu Vương sai người ban thưởng thịt cúng cho Câu Tiễn, xuống mệnh ban cho tước bá. Câu Tiễn chiến thắng liên tiếp, dã tâm bành trướng, muốn bá chiếm thiên hạ, dẫn quân tới lưu vực sông Tứ, lại giao chiến với người Tề ở Từ Châu, giành đại thắng. Câu Tiễn thừa thắng đuổi theo đến đất Tề, đại binh đánh tới Lâm Truy, lại gặp thảm bại. Câu Tiễn dẫn quân lui về Lang Nha dựng trại, dựa lưng vào biển, đối trận với người Tề. Câu Tiễn vốn muốn phục thù, nào ngờ bệnh nặng qua đời, nước Việt cũng vì vậy mà thế suy. Con trai Câu Tiễn là Dữ Di dẫn quân quay về phương nam, ngôi vị truyền qua mấy đời, yên phận ở một góc đông nam, không còn dã tâm tranh bá phía bắc nữa. Sau loạn Chư Cữu, người Việt ba lần giết quân chủ nước mình, thái tử Sưu sợ hãi không dám lên ngôi, trốn ở Đan Khanh. Người Việt đốt cỏ ngải hun ông ta, ép ra làm vua, gọi là Việt Vương Vô Chuyên. Vô Chuyên làm vua, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, thấp thỏm không yên, chưa nổi vài năm, tinh thần suy sụp mà chết, em trai ông ta nối ngôi, gọi là Vô Cương. Vô Cương ở ngôi hai mươi hai năm, nỗ lực cải cách, nước Việt đại trị. Vài năm trước, đại phu nước Sở là Bôn Thành vì chuyện nhỏ trong gia tộc mà đắc tội với họ Chiêu, cả nhà bị giết, Bôn Thành chạy trốn sang nước Việt. Bôn Thành tài năng xuất chúng, kiếm thuật cao siêu, rất được Vô Cương sủng ái, trọng dụng làm thượng tướng quân. Bôn Thành có chí, tự ví mình với Tử Tư, muốn phò tá Vô Cương hoàn thành đại nghiệp. Vô Cương từ khi có được Bôn Thành, dã tâm hừng hực, muốn tiếp tục cơ nghiệp còn dang dở của tiên vương Câu Tiễn, xưng bá Trung Nguyên…”
Nghe tới đây, Trương Nghi cười phì một tiếng: “Ồ, quân thần hai người họ, một người học theo Câu Tiễn, một người tự ví với Tử Tư, quả là thú vị!” Dừng lại một lát, đột nhiên bừng tỉnh. “Thảo nào người Việt dàn quân ở Lang Nha, hoá ra là vì vậy!”
“Đúng vậy!” Trưởng lão gật đầu nói. “Ngoài Bôn Thành, bên cạnh Vô Cương còn có hai người khác cũng rất tài giỏi, một là Luân Kỳ, hai là Nguyễn Ứng Long. Luân Kỳ là cao sĩ nước Việt, bác cổ thông kim, mưu sự chu toàn. Vô Cương phong ông ta làm quốc sư, nhất nhất nghe theo lời ông ta, mọi quốc sách lớn nhỏ đều do ông ta quyết định. Nguyễn Ứng Long xuất thân từ nhà ngư dân ở Dũng Đông, biệt danh là thuồng luồng biển, bơi lặn rất giỏi, sở trường tác chiến bằng thuyền, Vô Cương phong ông ta làm chủ soái đội thuyền Dũng Đông. Bôn Thành vốn dĩ muốn dẫn quân Việt phạt Sở, song Luân Kỳ và Nguyễn Ứng Long lại chủ trương phạt Tề. Vô Cương cuối cùng đã nghe theo hai người họ, quyết định phạt Tề trước, để hoàn thành ý nguyện của tiên vương. Bôn Thành chịu lép vế, đành cùng Việt Vương dẫn quân đi phạt Tề.”
Trương Nghi tim đập thình thịch, nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ, một lát sau mới ngẩng lên hỏi: “Xin hỏi lão trượng, Vô Cương uy ở chỗ nào?”
“Vô Cương khác hẳn với huynh trưởng Vô Chuyên. Bên trong, trời phú cho tài năng khác thường, từ nhỏ đã ôm hoài bão lớn, đọc nhiều hiểu rộng, trí dũng song toàn, giỏi nhận người tài, khéo dùng người, quan hoài thuộc hạ, từ khi kế vị, người Việt không ai không phục. Dù là Bôn Thành hay Luân Kỳ, cũng đều kính ngưỡng ông ta, một lòng trung thành tận tuỵ. Bên ngoài, sức khoẻ hơn người, tinh thông kiếm thuật, dũng mãnh vạn người khó địch!”
“Vậy ông ta yếu ở chỗ nào?”
“Bên trong, không thức thời; bên ngoài, bẩm sinh mê kiếm.”
Trương Nghi mở to hai mắt: “Xin lão trượng nói rõ hơn!”
Trưởng lão cất giọng sang sảng: “Trung Nguyên đã vào thời chiến quốc, người này vẫn mơ tranh bá xuân thu, là mò trăng đáy nước, không thức thời. Người này coi kiếm như mệnh, tinh thông kiếm thuật, si mê võ nghệ. Bất kể dù là thuật gì, một khi đã yêu thích đến độ mê muội, ắt tai mắt không thể sáng suốt!”
Nghe tới đây, Trương Nghi bàng hoàng nhìn trưởng lão, như không dám tin, hồi lầu mới nói: “Lời của lão trượng, vãn sinh vô cùng khâm phục. Dựa vào kiến thức của lão trượng, hẳn phải là cao nhân trong thiên hạ. Vãn sinh mạo muội, dám hỏi lão trượng là cao nhân phương nào?”
Trưởng lão cười nói: “Hai chữ cao nhân, lão hủ đây không dám nhận!” Rồi chậm rãi đứng dậy. “Hiền tế nếu muốn biết về lão hủ, xin mời đi theo!” Nói xong, đi về phía trước.
Trương Nghi ngẩn ra một thoáng, rồi vội cùng Hương Nữ đứng dậy, đi theo sau trưởng lão.
Hai người đi theo trưởng lão tới một khu nhà. Trương Nghi vừa nhìn, đã biết là gia miếu. Ba người bước vào miếu đường, nhìn thấy trong sảnh đường kê một dãy bàn, trên bày một hàng bài vị. Ánh mắt Trương Nghi lập tức dừng lại ở tấm linh vị chính giữa, bên trên nổi bật ba con chữ “Công Tôn Hùng”.
Nhìn thấy cái tên này, Trương Nghi lập tức hiểu ra, lại đưa mắt nhìn Hương Nữ, thấy nàng đang từ từ quỳ xuống trước bài vị.
“Hiền tế,” trưởng lão tiến lên một bước, quỳ ở giữa, nói với Trương Nghi, “con cũng quỳ xuống đi!”
Trương Nghi chần chừ một lát, rồi cũng bước lên, quỳ xuống bên cạnh trưởng lão. Ba người lạy liền mấy lạy, rồi trưởng lão ngẩng nhìn linh vị, chậm rãi hỏi: “Hiền tế có biết Công Tôn Hùng chăng?”
Trương Nghi gật đầu đáp: “Đã từng nghe nói! Năm xưa Việt Vương Câu Tiễn vây khốn Ngô Vương Phù Sai ở đài Cô Tô, đại phu nước Ngô Công Tôn Hùng đã ở trần, lê gối đến tạ tội, tới gặp Việt Vương thay mặt Ngô Vương cầu hòa.
“Đúng vậy!” Trưởng lão nước mắt chảy dài. “Lão hủ đây tên gọi Công Tôn Điệt, người trên bài vị là tiên tổ của lão hủ. Tiên tổ đã phải chịu nhục, ở trần, lê gối suốt ba trăm trượng, máu tươi nhuốm đỏ thềm đá, ai thấy cũng phải rơi lệ. Tiên tổ quỳ gối mà đi đến tận trước mặt Việt Vương Câu Tiễn, song ông ta lại chẳng thèm nhìn, dứt khoát không chấp thuận. Tiên tổ không đành lòng trở về gặp Ngô Vương, đã tới Thái Hồ, rạch bụng tự sát. Sau khi Ngô Vương tự thiêu ở đài Cô Tô, con trai trưởng và con trai thứ của tiên tổ, chính là hai vị bên cạnh, Công Tôn Tán và Công Tôn Sách, quyết báo thù nước, rửa nhục nhà, ngấm ngầm vạch kế hoạch hành thích Việt Vương. Nào ngờ Việt Vương được hộ vệ quá ư nghiêm ngặt, hai người tráng chí không thành, cả nhà vong mạng. Vị kế tiếp bên cạnh là con trai thứ ba của tiên tổ, cũng chính là cụ nội của lão hủ đây, sau khi biết tin, vội vã bỏ trốn. Cụ nội mai danh ẩn tích, lập nghiệp bằng nghề giết mổ chó, trải qua vài đời, đã gây dựng được chút sản nghiệp ở Sở. Cho tới đời lão hủ đây, sau nhiều lần di chuyển, đã tìm tới núi này, bí mật xây dựng sơn trại, chiêu nạp hiền sĩ, kết giao hào kiệt, mưu đồ rửa nhục, khôi phục cố quốc. Tuy nhiên, đã vài chục năm trôi qua, cơ duyên vẫn chưa đến. Nay gặp được hiền tế, đúng là ông trời có mắt!”
Nghe những lời này, Trương Nghi bèn dập đầu bái lạy mà nói: “Vãn sinh không biết tiền bối là hậu duệ của anh hùng, có chỗ thất lễ, mong được lượng thứ!”
“Hiền tế đừng tự trách mình. Lão hủ không hỏi hiền tế có đồng ý hay không, đã theo tập tục của người Sở, cưỡng ép làm rể, là điều thất lễ. Lão hủ không có con trai, chỉ có duy nhất đứa con gái này, tên nó là Công Tôn Yến, nhũ danh Yến Tử, do bẩm sinh đã mang hương thơm, nên lão hủ thường gọi là Hương Nữ, mong hiền tế đừng chê bỏ!”
Trương Nghi mặt nóng bừng, đầu cúi gằm xuống.
Công Tôn Điệt ngẩng nhìn linh vị của Công Tôn Hùng, lầm rầm khấn: “Tiên tổ ở trên, cháu bất hiếu từ lúc hiểu chuyện đời, không ngày nào dám quên thù nước hận nhà. Sở dĩ chưa thực hiện được ý nguyện, là vì cơ duyên chưa tới. Nay có được hiền tế, lại biết hiền tế mang chí lớn, Điệt hiểu rằng ngày rửa nhục phục quốc không còn xa nữa!” Rồi đưa hai tay, một tay vỗ vào Trương Nghi, một tay vỗ vào Hương Nữ. “Hiền tế, Hương Nữ, chúng ta sắp mưu đồ đại sự, hãy cùng khấu bái tổ tiên, khẩn cầu liệt tổ liệt tông phù hộ cho hai con tráng chí sớm thành, vợ chồng hoà thuận!”
Nói xong, Công Tôn Điệt lùi lại một bước, Hương Nữ kéo Trương Nghi lại, hai người dịch sát vào nhau, cùng quay mặt vào dãy linh vị phía trước, bắt đầu từ Công Tôn Hùng, lần lượt khấu bái từng linh vị.
Khấu bái xong xuôi, Công Tôn Điệt lại nói: “Hiền tế, chúng ta hãy tới tiền sảnh nói chuyện!” Nói xong, đi thẳng về phía trước.
Ba người bước tới tiền sảnh. Công Tôn Điệt ngồi xuống vị trí chủ. Trương Nghi bước vào, đang do dự thì Hương Nữ kéo hắn lại, hai người cùng quỳ xuống.
Hương Nữ khấu đầu nói: “Hương Nữ khấu kiến cha!”
Trương Nghi cũng khấu đầu nói: “Vãn sinh khấu kiến tiền bối!”
Hương Nữ huých nhẹ khuỷu tay vào người Trương Nghi, nhắc khẽ: “Gọi là nhạc phụ!”
Trương Nghi mặt đỏ bừng, lại lạy liền ba lạy, cúi đầu nói: “Vãn sinh Trương Nghi khấu kiến nhạc… nhạc phụ đại nhân!”
Công Tôn Điệt mỉm cười nói: “Hiền tế hãy đứng dậy!”
Hai người ngồi xuống, Công Tôn Điệt chậm rãi nói: “Lão hủ đây theo nghiệp kinh thương, tích luỹ được chút của cải ở nước Sở. Hiền tế muốn mưu cầu đại sự, lão hủ chẳng có gì khác, chỉ có nghìn lượng vàng mọn, có lẽ sẽ giúp ích cho hiền tế.”
“Nghìn lượng vàng?” Trương Nghi kinh ngạc nhìn sang Hương Nữ, dường như không dám tin vào tai mình.
Công Tôn Điệt như không nhìn thấy, vẫn thủng thẳng nói: “Ngoài ra, lão hủ còn có một trăm dũng sĩ, đều giỏi kiếm pháp Công Tôn, một mình địch nổi trăm người, có thể nói là cao thủ tuyệt đỉnh, lão hủ cũng giao cả cho hiền tế.” Trương Nghi đột nhiên nhớ tới kiếm pháp mà Hương Nữ từng luyện, ngạc nhiên hỏi: “Thế nào là kiếm pháp Công Tôn?”
“Chính là kiếm thuật ‘cùng vào chỗ chết’. Hậu duệ của họ Công Tôn vì báo thù cho đất nước, đã sáng tạo ra kiếm thuật này, chờ thời cơ hành thích Việt Vương. Phàm người học kiếm này, đều là người sẵn sàng xả thân vì nước. Hiền tế dù có bảo họ phanh thây mổ bụng, nhảy vào chảo lửa, họ cũng sẽ làm theo không hề nháy mắt.”
Trương Nghi hít vào một hơi khí lạnh, vòng tay cung kính mà nói: “Tiểu tế tạ ơn nhạc phụ đại nhân!”
“Hiền tế đừng vội cảm tạ!” Công Tôn Điệt xua tay. “Lần này tới đất Việt, còn có một người, hiền tế nhất thiết phải đưa theo cùng.”
Trương Nghi vội hỏi: “Ai vậy?”
Công Tôn Điệt mỉm cười: “Hiền tế có quen người này!” Rồi vỗ tay khẽ một tiếng. Ngay lập tức, từ ngoài cửa bước vào một người. Trương Nghi vừa ngẩng đầu nhìn, lập tức kinh ngạc chết sững. Bởi lẽ người này không phải ai khác, chính là Kinh Sinh!
Kinh Sinh bước tới trước mặt Công Tôn Điệt, quỳ xuống lạy ba lạy: “Lão nô Kinh Sinh khấu kiến tiên sinh!”
Công Tôn Điệt đưa tay chỉ vào Trương Nghi: “Bạn của ngươi đã tới!”
Kinh Sinh quay sang Trương Nghi, cũng lạy ba lạy: “Kinh Sinh khấu kiến cô gia!”
Trương Nghi hai mắt trợn trừng. Tất cả những sự việc đã xảy ra, ngay lập tức sáng rõ như ban ngày.
Nhớ lại hàng loạt những việc kỳ lạ liên tiếp gặp phải trong những ngày qua, Trương Nghi thở dài một tiếng, không giấu nổi thán phục, vòng tay vái Kinh Sinh mà nói: “Ông chủ Kinh sắp xếp đâu ra đấy, việc này nối tiếp việc kia, như vòng nối liên hoàn, tại hạ phục rồi!”
Kinh Sinh ngượng nghịu vái đáp lễ mà nói: “Kinh Sinh có chỗ nào đắc tội, mong cô gia lượng thứ!”
Trương Nghi lắc đầu, lại vòng tay vái mà nói: “Ông chủ Kinh sao lại nói là đắc tội? Đại ân của ông chủ Kinh, tại hạ sớm đã khắc sâu trong dạ. Đêm qua, trong cơn mơ còn nghĩ xem phải báo ân ra sao mới phải.”
Nghe những lời này, Kinh Sinh phủ phục sát đất, khấu đầu nói: “Cô gia xin đừng giễu cợt, Kinh Sinh biết tội rồi!”
“Được rồi! Được rồi!” Công Tôn Điệt bật cười. “Tất cả đều đã qua rồi. Kinh Sinh, ngươi mau đi chuẩn bị, dẫn người theo cô gia và Yến Tử tới Lang Nha, mọi việc đều nghe theo sự sắp xếp của cô gia!”
“Kinh Sinh tuân lệnh!”
“Hiền tế!” Công Tôn Điệt quay sang Trương Nghi. “Lão hủ già rồi, không thể bôn ba được nữa. Kinh Sinh đã theo ta nhiều năm, rất đáng tin cậy. Tuy hắn sinh ra và lớn lên ở đất Kinh, song là người Việt, thông thạo nước Việt, sẽ là trợ thủ đắc lực cho hiền tế!”
Trương Nghi vòng tay vái: “Tạ ơn nhạc phụ đại nhân!”
***
Đại quân Việt tụ về ngày một đông đảo chẳng khác gì kiến bu, trong phạm vi hơn chục dặm quanh đài Lang Nha, gần như bị phủ kín bởi doanh trại của người Việt. Trước cảnh tượng này, Tề Uy Vương vô cùng kinh sợ, một mặt điều động khoảng mười vạn quân trấn thủ và dân binh các ấp tới tuyến trường thành phía nam phòng thủ, một mặt chuẩn bị kiệu tới phủ Điền Kỵ, muốn bái Điền Kỵ làm chủ soái xuất chinh.
Từ sau khi bị làm nhục trước Bàng Quyên, Điền Kỵ quá bẽ mặt, từ hết chức vị, ở nhà hưởng nhàn, ngày ngày trồng rau, câu cá. Tề Uy Vương khổ sở cầu xin suốt mấy canh giờ, song Điền Kỵ vẫn khăng khăng không chịu, cuối cùng mới tỏ ý mình có thể nhiệm chức phó soái, nhưng với điều kiện thái tử Tích Cương làm chủ tướng, thượng đại phu Điền Anh đảm trách quân nhu. Tề Uy Vương lập tức ân chuẩn.
Điền Kỵ vừa nhậm chức, chủ tướng Tích Cương, thượng đại phu Điền Anh đã tức tốc đưa Điền Kỵ đi tuần tra việc phòng ngự trường thành.
Giờ đang lúc đầu xuân, vùng duyên hải thoắt ấm thoắt lạnh. Trường thành nước Tề cao khoảng vài trượng, rộng chừng một trượng, từ chỗ cách núi Lang Nha không xa chạy về phía tây tới hơn trăm dặm, cứ cách một trượng lại có một ụ thành, phía sau mỗi ụ thành đều có năm lính Tề ẩn phục.
Trên đài phong hoả, một quân uý đang chỉ huy vài chục binh sĩ lắp đặt nỏ liên châu lên ụ thành. Nỏ liên châu vừa lắp xong, đám tướng sĩ đang bắn thử thì chủ tướng Tích Cương, phó tướng Điền Kỵ, thượng đại phu Điền Anh và vài viên tham tướng cũng vừa tuần tra tới nơi. Quân uý nhìn thấy, vội dẫn đám binh sĩ tiến lại, quỳ xuống đợi sẵn. Đám Tích Cương dừng bước trên đài phong hoả, Tích Cương nhìn thấy nỏ liên châu, bước lại ngắm nghía, rồi quay sang hỏi quân uý: “Nỏ này có thể bắn bao nhiêu mũi tên?”
Quân uý trả lời: “Hồi bẩm điện hạ, nỏ này có thể bắn liền mười mũi tên, xuyên thấu vật cách xa trăm bước!”
Điền Kỵ tiến lại gần hơn nữa, xem xét kỹ một lượt, rồi quay người cấm lấy tấm khiên từ trong tay một binh sĩ, đưa cho quân uý, chỉ về một điểm cách chân tường thành chừng trăm bước: “Cắm tấm khiên này cách tường thành trăm bước, thử nỏ xem!”
Quân uý cầm lấy tấm khiên, giao cho một binh sĩ. Binh sĩ buộc dây thừng vào người, tuột xuống dưới thành, cắm tấm khiên vào chỗ Điền Kỵ vừa chỉ. Quân uý thấy binh sĩ kia đã ẩn nấp xong xuôi, bèn ra hiệu cho người lắp tên vào nỏ liên châu, ngắm tới tấm bia mà bắn. Chỉ nghe thấy vùn vụt mười tiếng, mười mũi tên chớp mắt đã nối đuôi nhau lao đi, duy chí có một mũi tên bắn chệch rơi xuống, chín mũi tên còn lại đều găm trúng tấm khiên. Binh sĩ kia vội vàng chạy lại, cầm lấy tấm khiên, trèo lên tường thành. Điền Kỵ nhận lấy, nhìn kỹ, thấy chín mũi tên sắc nhọn tua tủa như gai nhím, đều cắm sâu lút cán.
Mọi người không ai không xuýt xoa thán phục.
Tích Cương gật gù, quay sang tham tướng bên cạnh, nói: “Tốt lắm! Cho thợ mộc gấp rút chế tạo nỏ liên châu, mỗi ụ thành đặt một nỏ liên châu và hai trăm mũi tên sắc.”
Điền Anh cũng nói: “Phải lắm! Người Việt thiện chiến, dũng mãnh không sợ chết, nên ngực và cánh tay luôn để trần, hiếm khi mặc áo giáp. Ta có cung cứng nỏ mạnh, cố thủ trường thành, từ cao đánh xuống, lấy nhàn đợi nhọc, dù đối phương có thiên binh vạn mã, cũng chỉ tổ chết uổng mà thôi!”
Tham tướng đáp lời: “Mạt tướng tuân lệnh!”
Điền Kỵ mỉm cười, quay sang Tích Cương: “Điện hạ, người Việt vị tất đã ngốc nghếch như vậy, ưỡn ngực phơi lưng đợi ta bắn chết!”
Tích Cương, Điền Anh đều sững người.
Điền Kỵ nhìn về phía Lang Nha cách đó không xa, chậm rãi nói: “Theo vi thần được biết, chỗ lợi hại nhất của người Việt chính là có thuỷ quân. Đội thuyền của họ ngang dọc trên biển lớn, có thể đổ bộ lên đất liền bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Nếu chúng ta chỉ phòng thủ ở đây, chẳng khác nào ôm cây đợi thỏ!” Rồi chỉ tay ra phía biển. “Ta phía đông giáp biển, bờ biển kéo dài, nếu thuỷ quân của người Việt đổ bộ lên đất liền từ nơi khác, trong khi trọng binh của ta lại cố thủ ở đây, chẳng phải họ có thể thẳng đường đánh tới ư?”
Tích Cương, Điền Anh nghe vậy, đều bàng hoàng kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau.
Điền Kỵ lại nói: “Người Việt không như Tam Tấn, ai nấy gan góc thiện chiến, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, rất khó ứng phó. Năm xưa Câu Tiễn ba lần giao chiến với quân Tấn, Tề, chiến thắng cả ba, khắp thiên hạ chấn động, Chu thất phải ban thưởng thịt cúng, song Câu Tiễn còn muốn bá chủ thiên hạ. Sau này Câu Tiễn chinh phạt ta thất bại, bá nghiệp gặp cản trở, mối hiềm khích giữa Tề, Việt cũng bắt đầu từ đó. Câu Tiễn trong cơn thịnh nộ, đã dời đô về Lang Nha, muốn rửa mối nhục này. Nào ngờ trời không trợ giúp, Câu Tiễn lâm bệnh qua đời, nước Việt vì thế mà suy yếu. Vô Cương đúc rút kinh nghiệm từ những thắng bại của Câu Tiễn, mấy năm qua dốc sức phát triển thuỷ quân Dũng Đông, mục đích chỉ có một, chính là đánh ta bằng đường biển. Theo vi thần được biết, Vô Cương lần này phạt ta, dẫn theo tổng cộng hai mươi mốt vạn đại quân, trong đó thuỷ quân Dũng Đông chiếm mười vạn!” Dừng lại một lát mới nói tiếp. “Người Việt nếu như thuỷ lục quân cùng tiến, chúng ta sẽ phải sa vào một cuộc chiến cam go, thực sự là muốn phòng cũng phòng không xuể!”
Tích Cương cả kinh hỏi: “Nếu đã như vậy, phải làm thế nào?”
Điền Kỵ lắc đầu, hồi lâu mới nói: “Hiện tại chưa có kế sách vẹn toàn. Duy chỉ có cách tấu báo lên bệ hạ, chiếu cáo khắp thần dân, phòng thủ vững chắc mọi thành ấp, toàn dân chiến đấu. Đồng thời rải quân do thám tại các chốt quan trọng dọc theo bờ biển, người Việt đổ bộ ở đâu, ở đó sẽ có phải chặn đánh!”
Tích Cương hấp tấp nói: “Nếu đánh như vậy, chẳng phải sẽ khiến chúng tổn hao kiệt quệ ư?”
Điền Kỵ gật đầu nói: “Đây cũng chính là điều vi thần lo lắng! Có điều, ta tổn hao trước cửa nhà, người Việt tổn hao ở trên biển, không biết chắc ai sẽ kiệt quệ trước!”
***
Bán đảo Lang Nha hình dạng giống như đầu rùa, kê sát dưới chân trường thành phía nam nước Tề. Trăm năm trước, Việt Vương Câu Tiễn phạt Tề thất bại, dẫn quân xuống phía đông, đóng quân ở “đầu rùa” này, xây dựng bồi đô ở đây, gọi là Lang Nha, di chuyển mười vạn người Việt tới đây, chuẩn bị phạt Tề. Tề Công không dám chậm trễ, cũng thống lĩnh vài vạn đại binh đối đầu với Câu Tiễn, đồng thời cho xây dựng trường thành cách Lang Nha ba mươi dặm về phía bắc. Câu Tiễn chưa hoàn thành đại nghiệp đã lâm bệnh qua đời, vài vị Việt Vương sau đó tìm cách phạt Tề báo thù, đều coi thành này là kinh đô chính của nước Việt. Sau loạn Chư Cữu, nước Việt suy yếu, liền dời đô xuống phía nam, định đô ở Cối Kê, nên nơi này lại trở thành bồi đô, ngày một suy tàn, cho tới khi Vô Cương kế vị.
Trải qua hơn chục năm cai trị, Vô Cương thấy thế nước ngày một lớn mạnh, lại dời đô trở về Lang Nha, dựa vào địa thế nhô ra của “đầu rùa”, xây dựng một đài vuông khổng lồ bằng đá hộc cao ba mươi hai nhẫn(1), xung quanh mỗi cạnh dài năm trăm nhẫn, đặt tên là đài Lang Nha. Sau khi xây xong đài Lang Nha, Vô Cương vô cùng phấn khởi, lập tức rời khỏi cung Lang Nha, tới sống trên đài Lang Nha, sớm chiều phóng mắt ngắm biển, nghe tiếng gió thổi sóng cuộn, quan sát thuỷ triều lên xuống. Làm bạn với Vô Cương trên đài, ngoài vài vị phu nhân, cung nữ, còn có hơn chục kiếm sĩ tài nghệ tuyệt đỉnh.
Buổi trưa hôm nay, cũng như thường lệ, Việt Vương Vô Cương ngồi ngay ngắn trong phòng đấu kiếm có thể nhìn xuống mặt biển, xem kiếm sĩ giao đấu. Ngồi bên cạnh là ba trọng thần, gồm quốc sư Luân Kỳ, thượng tướng quân Bôn Thành, thượng đại phu Lã Tông.
Bước lên đài đầu tiên là một kiếm sĩ áo đen. Sau khi thượng đài, lập tức thủ thế sẵn sàng. Tiếng nhạc nổi lên, kiếm sĩ áo đen bắt đầu chậm rãi múa kiếm. Tiếng nhạc chuyển từ chậm sang nhanh, bảo kiếm trong tay kiếm sĩ cũng chuyển động y theo nhịp nhạc. Một chốc sau, chỉ thấy kiếm quang, không thấy người đâu nữa. Mọi người đều trầm trồ khen ngợi.
Kiếm sĩ áo đen múa xong một bài, liền thu thế.
Vô Cương vỗ tay đồm độp: “Hay lắm, hay lắm, múa rất hay!” Rồi đưa ánh mắt về phía đám đông kiếm sĩ. “Chư vị kiếm sĩ, có ai thắng nổi người này không?”
Giọng nói vừa dứt, một kiếm sĩ áo lam hô lớn, bước ra.
Hai người hành lễ xong, thủ thế đi quanh vài vòng, rồi lập tức ra chiêu giao đấu. Chiêu qua thức lại, kiếm va chát chúa, khí thế sát phạt ngút trời. Chừng vài chục hiệp, kiếm sĩ áo lam chớp được khoảnh khắc đối thủ sơ suất, xuyên một đường kiếm thấu ngực kiếm sĩ áo đen. Kiếm sĩ áo đen không kịp rú lấy một tiếng, đổ vật xuống chết ngay tại chỗ.
Kiếm sĩ áo lam thu thế, đám kiếm sĩ đồng thanh reo hò tán thưởng. Vô Cương vỗ bàn hét lớn: “Tuyệt diệu! Kiếm hay lắm!”
Luân Kỳ phẩy tay. Vài tên lính đứng hầu bên cạnh nhanh chân chạy lại, kéo xác kiếm sĩ áo đen ra ngoài. Một vài tên lính khác mang vải lại, lau sạch vệt máu trên sàn.
Vô Cương lại nhìn về phía các kiếm sĩ: “Có ai thắng nổi người này không?”
Lại một kiếm sĩ áo đen bước ra, chỉ qua ba hiệp, đã đâm kiếm sĩ áo lam gục ngã. Kiếm sĩ áo lam bị lôi xênh xệch ra ngoài trong tiếng hò reo còn chấn động hơn khi nãy. Kiếm sĩ áo đen thủ thế đứng chờ. Người lên thách đấu tiếp theo là kiếm sĩ áo tía, song chưa đầy hai hiệp, đã bị kiếm sĩ áo đen chém đứt phăng cánh tay cầm kiếm. Kiếm sĩ áo tía dùng tay trái nhặt lấy bảo kiếm, hét lớn một tiếng, đâm thẳng thanh kiếm vào giữa bụng, rồi đổ vật xuống đất.
Kiếm sĩ áo đen thắng liên tiếp hai đối thủ, tiếp tục khai triển tư thế sẵn sàng.
Lại có một kiếm sĩ áo xanh đứng bật dậy, chuẩn bị xông lên. Vô Cương càng xem càng phấn khích, rút bảo kiếm ra, khẽ búng vào lưỡi kiếm vài cái, lớn giọng cười vang.
Đám kiếm sĩ biết Việt Vương muốn xuất chiến, bất giác đưa mắt nhìn nhau. Kiếm sĩ áo đen quỳ sụp xuống đất, lạy Vô Cương liền ba lạy. Vô Cương rút kiếm khỏi bao, chậm rãi đứng dậy, đưa tay ra hiệu. Chỉ nghe thấy vun vút hai tiếng, từ sau lưng Vô Cương lướt tới hai mỹ nữ, trong nháy mắt đã giúp Việt Vương cởi bỏ vương bào, vương miện, thay vào đó là một bộ kiếm phục gọn gàng.
Việt Vương mỉm cười, sải chân bước vào trong sảnh, vung tay. Đội nhạc lại tấu lên một bản kiếm nhạc.
Việt Vương bước tới trước mặt kiếm sĩ áo đen: “Tráng sĩ, mau bình thân!”
Kiếm sĩ áo đen dập đầu bái tạ, đứng dậy cầm kiếm, thủ thế sẵn sàng.
Vô Cương quay đầu nhìn về đám kiếm sĩ, gọi liền ba người lên, rồi lại nhìn kiếm sĩ áo xanh, cười nói: “Lại đây, cả ba người kia nữa, đều lên cả đây, quả nhân sẽ luyện tập cùng các vị!”
Ba kiếm sĩ nào dám chậm trễ, lập tức đứng dậy, hướng về phía Việt Vương bái lạy vài lạy, rồi đều rút kiếm khỏi vỏ.
Vô Cương cười nói: “Bốn vị tráng sĩ, lại cả đây!”
Bốn người vây quanh Vô Cương, bắt đầu di chuyển theo vòng tròn. Vô Cương hai mắt nheo lại, tay đặt lên chuôi kiếm, hai chân chỉ hơi dịch chuyển. Khi tiếng nhạc tấu đến đoạn cao trào, thì thình lình rút kiếm. Chỉ thấy ánh trắng vùn vụt chớp loé mấy lần, chỉ nghe vài tiếng lanh canh loảng xoảng, bốn thanh bảo kiếm đều bị phạt đứt ngang, trong khi bốn kiếm sĩ vẫn bình yên vô sự.
Tiếng nhạc đột ngột im bặt. Đám kiếm sĩ sau khoảnh khắc bàng hoàng, đồng loạt hò reo như sấm.
Bốn kiếm sĩ quỳ sụp dưới đất, khấu đầu nói: “Tạ ơn đại vương kiếm hạ lưu tình!”
Vô Cương cười lớn, đích thân đỡ bốn người đứng dậy: “Các tráng sĩ mau đứng dậy!” Rồi trở về bàn, quay sang quan tư kiếm lệnh ngồi hầu bên cạnh. “Thưởng cho bốn vị tráng sĩ đây mỗi người ba mươi lượng vàng, các tráng sĩ khác mỗi người mười lượng vàng!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Ba tráng sĩ tuẫn thân vừa nãy, vẫn chiếu theo lệ thường, hậu táng theo nghi lễ liệt sĩ. Ai có gia thất cấp cho năm mươi lượng vàng, miễn thuế khoá phu dịch ba năm!”
Đám kiếm sĩ đang khấu đầu tạ ơn thì một viên quân uý hộc tốc bước lên đài, quỳ xuống dập đầu tấu: “Báo, có Nguyễn tướng quân cầu kiến!”
Vô Cương mừng rỡ, vội nói: “Mau mời vào!” Rồi quay sang đám kiếm sĩ. “Các vị hãy lui!”
Đám kiếm sĩ bèn khấu lạy lui ra.
Một lát sau, Nguyễn Ứng Long, chủ soái của thuỷ quân Dũng Đông, toàn thân nhung phục sải bước lên đài, tiến tới trước mặt Vô Cương, dập đầu nói: “Mạt tướng khấu kiến đại vương!”
Vô Cương tươi cười nhìn ông ta, rồi chỉ tay vào chỗ bên cạnh: “Nguyễn tướng quân miễn lễ! Mời ngồi!”
Nguyễn Ứng Long bước lại, khoanh chân ngồi xuống. Vô Cương cười nói: “Quả nhân đợi khanh đã nhiều ngày rồi. Khanh tới lúc nào vậy?”
“Mạt tướng vừa tới!”
“Nói như vậy, thuỷ quân đã tề tựu đông đủ?”
“Khởi bẩm đại vương,” Nguyễn Ứng Long gật đầu nói, “thuỷ quân Đại Việt đã tề tựu đông đủ, tổng cộng một nghìn hai trăm chiến thuyền, trong đó có một trăm chiến thuyền cỡ lớn chứa được năm trăm tướng sĩ, hai trăm chiến thuyên cỡ vừa chứa được hai trăm tướng sĩ và năm trăm chiến thuyền cỡ nhỏ chứa được một trăm tướng sĩ. Số còn lại đều là thuyền lương thảo.”
“Tốt lắm!” Vô Cương đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần. “Chư vị ái khanh, thuỷ quân, lục quân đều đã tề tựu đông đủ, phạt Tề thế nào, còn chờ ý kiến của chư vị!” Dừng lại một lát, ánh mắt di chuyển tới thượng tướng quân Bôn Thành. “Thượng tướng quân, khanh là chủ tướng, xin hãy nói trước!”
“Khởi bẩm đại vương!” Bôn Thành vòng tay nói. “Vi thần cho rằng, ta có thể chia quân thành ba lộ: một lộ vờ tấn công trực diện trường thành, thu hút sự chú ý của quân Tề; một lộ mượn đường qua nước Lỗ, men theo mặt nam Thái Sơn, bí mật chọc thẳng về phía tây, vòng qua trường thành Bình Am, từ phía sau trường thành tiến quân từ tây sang đông, đánh giáp công quân Tề; một lộ là thuỷ quân, tấn công theo đường biển, cũng vòng qua trường thành, đổ bộ lên đất liền từ bãi biển gần An Lăng, tiến quân từ đông sang tây đánh giáp công quân Tề, chia cắt ba quân Tề, bao vây tuyến trường thành, ép chúng phải đầu hàng!”
“Hay lắm!” Vô Cương gật gù, quay sang Nguyễn Ứng Long. “Nguyễn tướng quân, khanh là phó tướng, cũng nên cho ý kiến!”
Nguyễn Ứng Long vòng tay nói: “Khởi bẩm đại vương, mạt tướng cho rằng, đối phó với người Tề, cần dựa vào thuỷ quân là chính, lục quân là phụ!”
“Ồ?” Vô Cương ngả người về phía trước. “Ái khanh hãy nói rõ!”
Nguyễn Ứng Long dõng dạc nói: “Tề có trường thành, có được địa lợi, dễ thủ khó công, hơn nữa lại luôn bố trí trọng binh phòng ngự nghiêm ngặt, mạt tướng tán thành ý kiến của Bôn tướng quân, dùng kế dương đông kích tây làm chính. Thuỷ quân của ta hùng bá thiên hạ, người Tề gần như không đủ sức đối phó, bờ biển của họ lại dài dằng dặc, muốn phòng cũng không phòng xuể. Đại vương xin hãy nhìn xem,” tiện tay cầm lấy một cành cây, vạch ra đường bờ biển của bán đảo Đông Lai trên nên đất, chỉ vào vịnh Bột Hải, “thuỷ quân của ta chỉ cần đi vòng qua bán đảo Đông Lai, chọc thẳng tới đây, chính là vịnh Lai Châu, rồi đổ bộ lên bờ từ vịnh Tế Thuỷ, chỉ cần khoảng thời gian một ngày là có thể tiến thẳng tới Lâm Truy. Phần lớn quân Tề đều tập trung tại tuyến trường thành phía nam để phòng ngự lục quân của ta, Lâm Truy ắt sẽ lỏng lẻo, ta lấy thực đánh hư, chắc chắn sẽ thủ thắng.”
Vô Cương nhìn chăm chú vào hình vẽ mà Nguyễn Ứng Long vừa vạch ra, tuy gật gù, song nét mặt vẫn lộ vẻ trầm ngâm: “Ồ, ái khanh nói rất có lý!” Rồi quay sang Luân Kỳ và thượng đại phu Lã Tông, suy nghĩ một lát, nói tiếp. “Bôn ái khanh chủ trương dựa vào lục quân là chính, thuỷ quân là phụ, chia quân thành ba lộ, trước sau đánh giáp công trường thành của Tề, tiêu diệt quân chủ lực của Tề. Nguyễn ái khanh chủ trương dựa vào thuỷ quân là chính, lục quân là phụ, từ đường biển đánh thẳng tới Lâm Truy, khiến người Tề muốn phòng cũng không phòng xuể. Ý kiến của hai vị ái khanh thế nào?”
Lã Tông vòng tay đáp: “Gần trăm năm qua, sở dĩ Tề có thể đối địch với ta, đều là nhờ vào tuyến trường thành này. Vi thần tán thành kế sách của Bôn tướng quân, đánh giáp công nam bắc, khiến trường thành chỉ còn trên danh nghĩa, mà thành vô dụng. Trường thành một khi thất thủ, Tề không muốn hàng cũng khó!”
Vô Cương quay sang Luân Kỳ: “Quốc sư có ý gì chăng?”
“Khởi bẩm đại vương!” Luân Kỳ đáp lời. “Lão thần cho rằng, kế sách của Nguyễn tướng quân có thể phát huy sở trường của ta, tấn công điểm yếu của địch, chính là thượng sách phạt Tề!”
Vô Cương nhắm mắt, ngẫm nghĩ một lúc, mới ngẩng đầu lên nói: “Được, vậy hãy theo kế sách của Nguyễn tướng quân!” Rồi đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần. “Các khanh nghe chỉ!”
Quần thần đều bước ra khỏi hàng, dập đầu mà nói: “Vi thần chờ chỉ!”
Vô Cương dõng dạc nói: “Quả nhân quyết định, lần này phạt Tề, Bôn ái khanh, Nguyễn ái khanh chia quân làm hai lộ, lấy mười vạn thuỷ quân làm chủ, theo đường biển đánh thẳng tới Lâm Truy; lấy mười một vạn lục quân làm phụ, hợp kích nam bắc, bao vây trường thành, đánh tan quân chủ lực nước Tề, rửa mối nhục Từ Châu cho tiên vương!”
Quần thần đồng thanh đáp: “Vi thần lĩnh chỉ!”
Vô Cương quay sang Luân Kỳ: “Lão ái khanh, theo ý khanh, ngày nào thích hợp khởi binh?”
Luân Kỳ bấm đốt ngón tay nhẩm tính: “Ba ngày nữa thích hợp khởi binh!”
Vô Cương gật đầu nói: “Được, cứ quyết định như vậy! Tính từ hôm nay, đến giờ Thìn ngày thứ tư sẽ khởi binh!”
“Đại vương, vi thần cho rằng không được!” Nguyễn Ứng Long vội nói.
Vô Cương quay sang Nguyễn Ứng Long: “Ái khanh hãy nói rõ!”
“Vi thần quan sát thiên văn, biết rằng ba ngày nữa biển sẽ nổi gió lớn, không thích hợp ra khơi.”
Vô Cương hơi chau mày: “Theo ý ái khanh, hôm nào có thể ra khơi?”
“Mười ngày nữa!”
“Được!” Vô Cương phẩy tay. “Vậy quả nhân quyết định, mười ngày sau, đợi gió lớn qua đi, đại quân tế cờ phạt Tề!” Dừng lại một lát. “Chư vị ái khanh, lập tức phân công chuẩn bị xuất chiến.”
Thượng đại phu Lã Tông bước xuống đài Lang Nha. Người hầu từ xa nhìn thấy, vội đánh xe ngựa lại, đợi sẵn bên đường. Lã Tông bước xuống bậc thang cuối cùng, đang định tiến về phía xe kiệu, bỗng nghe có tiếng người gọi: “Lã tướng quân, xin dừng bước!”
Lã Tông quay đầu lại, nhìn thấy Kinh Sinh, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ: “Ồ, Kinh tiên sinh!”
Kinh Sinh bước lên hai bước, vòng tay nói: “Thảo dân Kinh Sinh bái kiến Lã đại nhân!”
Lã Tông cũng vòng tay đáp lễ, cười vang mà nói: “Bao năm qua không gặp Kinh tiên sinh, nghe nói, các vị buôn bán phát đạt lắm!”
Kinh Sinh cười nói: “Nhờ hồng phúc của Lã đại nhân, kinh doanh vẫn được thuận lợi!”
Lã Tông liền hỏi thẳng: “Kinh tiên sinh bận trăm công nghìn việc, tới đây hẳn là có chuyện cần. Nói đi, tiên sinh không quản đường sá xa xôi tới vùng đất hoang vu hẻo lánh này, là vì chuyện gì?”
“Lã đại phu đã thẳng thắn như vậy, thảo dân cũng không vòng vo nữa. Cùng tới đây với thảo dân còn có hai người, rất muốn được bái kiến đại nhân, mong đại nhân chấp thuận cho!”
“Ồ?” Lã Tông ngạc nhiên. “Là ai muốn bái kiến tại hạ?”
Kinh Sinh tiến gần thêm một bước, nói khẽ: “Một là tiểu thư nhà tôi, và một là cô gia nhà tôi!”
“Hay quá, hay quá!” Lã Tông cười vang mà nói. “Yến Tử cô nương tới tận cửa, tại hạ muốn mời còn chẳng mời được! Người ở đâu, mau dẫn tại hạ tới đó!”
Kinh Sinh chỉ tay vào một cỗ xe ngựa cạnh đó: “Lã đại nhân, mời!”
Lã Tông vẫy tay về phía phu xe, nói: “Ngươi hãy về trước, nói với phu nhân là bản công có việc về muộn.”
Lã Tông và Kinh Sinh đánh xe tới một lữ điếm gần đó, bước vào một trạch viện vô cùng tao nhã được xây dựng theo lối Việt.
Nghe thấy tiếng bước chân, Trương Nghi và Hương Nữ vội bước ra nghênh đón. Kinh Sinh chỉ vào hai người, giới thiệu: “Lã đại nhân, vị này là cô gia Trương Tử, vị này là Yến tiểu thư.”
Trương Nghi, Hương Nữ cùng vòng tay vái chào:
“Trương Nghi bái kiến Lã đại nhân!”
“Công Tôn Yến bái kiến Lã đại nhân!”
Lã Tông vòng tay đáp lễ, nói: “Lã Tông xin chào Trương cô gia, Yến cô nương!”
Kinh Sinh chìa tay, kính cẩn nói: “Lã đại nhân, mời!”
Lã Tông gật đầu, cùng Trương Nghi, Hương Nữ bước vào phòng, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.
Lã Tông quay sang Hương Nữ: “Yến Tử cô nương, lệnh tôn khoẻ chứ?”
Hương Nữ cười đáp: “Gia phụ vẫn khoẻ, đa tạ Lã đại nhân đã hỏi thăm!” Rồi lấy từ dưới bàn ra một hộp gấm. “Trước khi đi, gia phụ có dặn riêng tiểu nữ, bảo tiểu nữ tặng vật này cho đại nhân” Rồi nâng hai tay đưa lại. “Xin đại nhân vui lòng nhận lấy.”
Lã Tông đỡ lấy chiếc hộp, thận trọng mở ra, thấy bên trong là một cặp hoàn bội bằng ngọc màu trắng ngà, chất liệu tuyệt hảo, chế tác tinh xảo. Lã Tông là người sành sỏi, lập tức đậy nắp hộp lại, vòng tay vái mà nói: “Thứ quý giá thế này, tại hạ làm sao dám nhận?”
Hương Nữ vòng tay đáp lễ, nói: “Đây là tấm lòng thành của gia phụ, Lã đại nhân bất tất phải khách khí!” Rồi quay sang Kinh Sinh.
Kinh Sinh liền bước sang bên cạnh, bê một hòm lễ vật lại, đặt ở trước mặt Lã Tông. Hương Nữ chỉ tay vào hòm lễ vật, mỉm cười nói. “Cũng xin Lã đại nhân nâng tay ngọc, vui lòng mở hòm này ra.”
Lã Tông mở hòm, thấy bên trong đầy ắp những vàng. Hương Nữ đưa mắt nhìn Trương Nghi, Trương Nghi hiểu ý, bèn vòng tay nói: “Lã đại nhân, một trăm lượng vàng này là thành ý của tại hạ và phu nhân. Lễ mọn tình thâm, cũng xin đại nhân không chê!”
Lã Tông ngần ngừ một lát mới nói: “Đã là đại lễ của cô gia, tiểu thư, Lã Tông cũng không khách khí!” Rồi từ từ đậy nắp hòm lại. “Nghe nói cô gia là danh sĩ Trung Nguyên, hôm nay tới vùng hẻo lánh này, hẳn là có chuyện cần đến Lã Tông.”
Trương Nghi ôm quyền nói: “Lã đại nhân quả là người hào sảng! Không giấu đại nhân, khi tại hạ ở Trung Nguyên, nghe đồn đại vương trời ban tướng lạ, chỉ mong được tận mắt gặp gỡ một lần, mong đại vương thành toàn giúp!”
“Trời ban tướng lạ?” Lã Tông thoáng ngạc nhiên. “Dám hỏi cô gia, đại vương có tướng lạ thế nào?”
“Nghe sĩ tử Trung Nguyên đồn rằng, đại vương thân cao hai trượng, tay dài như vượn, tai to rủ xuống tận vai, hai mắt như chuông, giọng nói như sấm, mặt như đồng đỏ, sức mạnh nhổ bật dương liễu, múa kiếm chặn mây bay…”
Trương Nghi nói chưa hết câu, Lã Tông đã cười ngặt nghẽo, không nói nổi thành lời. Hương Nữ, Kinh Sinh hẳn cũng không ngờ Trương Nghi lại nói ra những lời như vậy, vô cùng kinh ngạc, đưa mắt nhìn nhau.
Lã Tông cười một chặp, rồi chỉ vào Trương Nghi nói: “Tin đồn như vậy mà… mà…. mà cô gia cũng tin ư?”
“Ồ?” Trương Nghi ra bộ ngỡ ngàng. “Lẽ nào tin đồn là sai?”
Lã Tông vừa lắc đầu vừa cười rũ rượi: “Không giấu cô gia, tại hạ đã theo đại vương bao năm qua, song chưa bao giờ thấy đại vương có tướng mạo như vậy!”
Trương Nghi vội hỏi: “Dám hỏi đại nhân, đại vương có tướng mạo thế nào?”
Lã Tông cười nói: “Không giấu cô gia, đại vương cũng giống như chúng ta, từ giọng nói, khuôn mặt tới điệu cười đều bình thường, làm gì có tướng lạ như cô gia nói?”
Trương Nghi nhìn Lã Tông với ánh mắt ngờ vực: “Chuyện này… không thể nào!”
Lã Tông lắc lắc đầu, rồi lại bật cười ha hả một tràng dài.
Trương Nghi ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng lên nói: “Lã đại nhân, có câu, tai nghe là giả, mắt thấy là thật. Tại hạ nghe những lời đồn thổi này, vốn dĩ cũng không tin, nên đã tranh cãi với đám sĩ tử kia, song lại bị bọn họ cười chê kiến văn nông cạn. Tại hạ bực mình, không quản gian lao vất vả, không ngại đường sá xa xôi, tìm tới tận đây là để tận mắt nhìn thấy phong thái của đại vương, mong Lã đại nhân giúp cho.”
Lã Tông vò đầu bứt tai: “Nếu chỉ vì việc này mà xin yết kiến đại vương, khoan chưa nói tới chuyện bị mọi người cười nhạo, mà tại hạ cũng sẽ bị đại vương trách mắng.”
Trương Nghi gật đầu nói: “Đại nhân nói rất phải. Nếu không đề cập tới chuyện này, liệu đại nhân có thể giới thiệu tại hạ yết kiến đại vương chăng?”
Lã Tông cúi đầu, ngẫm nghĩ một lát, rồi lắc đầu nói: “Không giấu cô gia, hiện tại đại quân sắp sửa chinh phạt, đại vương bận trăm công nghìn việc, còn thì giờ đâu mà gặp mặt cô gia?”
“Ồ…” Trương Nghi đứng dậy, đi quanh phòng vài vòng, rồi quay lại trước bàn ngồi xuống. “Tại hạ tính tình thẳng thắn vụ thực, lần này tới đây, chỉ mong được yết kiến đại vương một chốc. Nếu không gặp được đại vương, trở về Trung Nguyên, đám sĩ tử kia hỏi đến chuyện này, tại hạ biết trả lời họ sao đây?” Dừng lại một lát, lại vòng tay vái Lã Tông. “Lã đại nhân, tại hạ đã tới đây, nhất quyết không thể trở về tay không. Việc này đối với đại vương là chuyện nhỏ, song đối với tại hạ lại vô cùng quan trọng, xin đại nhân giúp cho!”
Lã Tông thấy Trương Nghi khăng khăng quyết ý, lại liếc nhìn hòm lễ vật đầy ắp, chần chừ một lát, bèn vòng tay nói: “Cô gia nếu thực sự muốn bái kiến đại vương, tại hạ đã có một kế!”
Trương Nghi cả mừng: “Đại nhân xin hãy nói!”
“Cô gia am hiểu về kiếm chăng?”
Trương Nghi gật đầu: “Có biết một hai!”
“Đại vương yêu kiếm như mạng, nếu cô gia có thể bàn chuyện kiếm với đại vương, hoặc giả đại vương sẽ đồng ý.”
“Hay quá!” Trương Nghi phấn khởi ra mặt. “Đại nhân hãy nói với đại vương rằng, đệ nhất kiếm sĩ Trung Nguyên Trương Nghi cầu kiến.”
“Đệ nhất kiếm sĩ?” Lã Tông sửng sốt, quay sang Hương Nữ và Kinh Sinh, thấy hai người cũng đều kinh ngạc sững sờ, vội ôm quyền nói: “Cô gia, chuyện này…”
Trương Nghi mỉm cười, ôm quyền đáp lễ mà nói: “Lã đại nhân, lẽ nào đại nhân không tin tại hạ?”
“Được rồi!” Lã Tông gật đầu nói. “Cô gia đã nói như vậy, tại hạ xin tuân lệnh.”
Rồi Lã Tông vòng tay cáo biệt.
Trương Nghi hất hàm ra hiệu, Kinh Sinh vội bê hòm lễ vật lên, theo Trương Nghi, Hương Nữ tiễn Lã Tông ra cửa, đặt hòm lễ vật lên xe, rồi đỡ Lã Tông bước lên. Lã Tông quay người, vòng tay cáo biệt lần nữa, rồi xe ngựa lóc cóc rời đi.
Thấy xe ngựa đã đi khuất, Hương Nữ vội quay người lại, mặt hoa thất sắc, nói với Trương Nghi: “Phu quân, cớ sao chàng dám tự xưng là đệ nhất kiếm sĩ Trung Nguyên trước mặt Vô Cương?”
Trương Nghi cười nói: “Không nói như vậy, đại vương sao chịu gặp mặt ta?”
“Phu quân!” Hương Nữ lo sợ đến rớt nước mắt. “Chàng nói như vậy, chẳng phải không thiết sống nữa hay sao?”
Trương Nghi bật cười vang, thè lưỡi ra, rồi chỉ vào lưỡi mình mà nói: “Hương Nữ, nàng cứ yên tâm, chỉ cần Việt Vương không cắt mất cái này, ta sẽ không sơ sẩy đến một cọng tóc!”
Hương Nữ lặng người.
Buổi chiều hôm sau, Lã Tông tất tả tìm tới, mặt mày rạng rỡ thông báo: “Cô gia, sự việc đã thu xếp ổn thoả. Đại vương nghe nói cô gia là đệ nhất kiếm sĩ Trung Nguyên, vội vàng giục tại hạ đi mời cô gia tới ngay!”
Hương Nữ sắc mặt trắng bệch, bước lại kéo vạt áo Trương Nghi. Nhưng Trương Nghi chẳng hề bận tâm, chỉ vòng tay nói với Lã Tông: “Đa tạ đại nhân!” Nói đoạn, vén vạt áo lên, phăm phăm đi ra cửa trước, bước thẳng lên xe của Lã Tông, rồi ngoảnh đầu nói với Hương Nữ. “Nàng đừng đi đâu hết, hãy đợi ở đây. Ta đi gặp mặt đại vương, xem đại vương có tướng lạ gì, rồi sẽ quay trở về ngay!”
Hương Nữ không nói nổi một lời, đứng thẫn thờ tại chỗ, hai mắt trân trân nhìn theo cỗ xe ngựa lóc cóc rời đi. Một lát sau, Hương Nữ mới định thần lại được, nhìn quanh không thấy Kinh Sinh đâu, vội lên tiếng gọi: “Kinh thúc!”
Trên đài Lang Nha, lính Việt đứng đông nghịt, đao thương tua tủa, khí thế trang nghiêm, cờ ngũ sắc tung bay phần phật.
Lã Tông và Trương Nghi bước lên bậc thềm, từng bước từng bước leo tới đỉnh đài, rẽ sang phía đông tới phòng đấu kiếm, từ xa đã nhìn thấy Việt Vương Vô Cương ngồi ngay ngắn ở vị trí chủ. Quốc sư Luân Kỳ, thượng tướng quân Bôn Thành, phó tướng Nguyễn Ứng Long ngồi hầu bên cạnh. Vài chục kiếm sĩ chia thành mấy hàng, ngồi xếp bằng ở phía đối diện trong phòng đấu kiếm. Vô Cương vận kiếm phục, sớm đã sẵn sàng để so tài cao thấp với cao thủ Trung Nguyên. Thượng tướng quân Bôn Thành, chủ soái thuỷ quân Nguyễn Ứng Long cũng vận kiếm phục, sắc mặt nghiêm trọng, như thể sắp gặp kẻ thù không đội trời chung. Duy có quốc sư Luân Kỳ vẫn mặc áo bào trắng, vẻ mặt bình thản như không.
Lã Tông và Trương Nghi tới trước cửa phòng đấu kiếm, Lã Tông ra hiệu, Trương Nghi bèn dừng bước.
Lã Tông bước vào, quỳ xuống dập đầu nói: “Khởi tấu đại vương, kiếm sĩ Trung Nguyên Trương Nghi cầu kiến!”
Vô Cương chìa tay: “Truyền Trương Nghi yết kiến!”
Trương Nghi bước vào, tới giữa phòng thì dừng lại, vòng tay nói: “Kiếm sĩ Trung Nguyên Trương Nghi bái kiến đại vương!”
Lã Tông đang quỳ dưới đất kinh hãi, vội kéo vạt áo Trương Nghi, khẽ nói: “Trương Tử, mau bái lạy đại vương!”
Trương Nghi làm như không nghe thấy, vẫn ngẩng đầu đứng thẳng giữa phòng.
Bôn Thành, Nguyễn Ứng Long thấy Trương Nghi vô lễ, đang định lên tiếng quát mắng, chợt thấy Vô Cương mỉm cười, vòng tay đáp lễ mà nói: “Kiếm sĩ nước Việt Vô Cương bái kiến Trương Tử!” Rồi chỉ tay vào vị trí khách ở bên cạnh. “Trương Tử, mời ngồi!”
Trương Nghi vòng tay cảm tạ, chậm rãi bước tới vị trí khách bên cạnh Việt Vương, sau khi ngồi xuống, hai mắt nhắm hờ, bộc lộ bản lĩnh đã được tu luyện khi ngồi cheo leo bên mép vực trên đỉnh Hầu Vọng, vận khí xuống đan điền, tĩnh như thỏ nằm, thế như tảng đá treo trên đỉnh núi.
Vô Cương thấy Trương Nghi có được công phu nhường ấy, trong lòng không khỏi chấn động, nheo nheo đôi mắt, nhìn khắp lượt từ đầu đến chân đối phương, biết là đã gặp phải kình địch, bèn vòng tay khen ngợi: “Có khí phách!” Dừng lại một lát, bèn hỏi. “Trương Tử tới đất Việt, hẳn là có điều muốn chỉ giáo quả nhân?”
Trương Nghi vòng tay đáp lễ: “Nghe nói đại vương yêu kiếm, Trương Nghi ngưỡng mộ danh tiếng mà tới!”
Nghe thấy chữ “kiếm”, Vô Cương vô cùng hào hứng: “Vô Cương có duyên gặp được đệ nhất kiếm sĩ Trung Nguyên, quả là may mắn kiếp này! Dám hỏi Trương Tử, khi dùng kiếm, dựa vào đâu để thủ thắng?”
Trương Nghi khẽ mấp máy hai môi: “Không động thì thôi, động thì trong vòng mười bước không còn ai sống. Không đi thì thôi, đi thì ngàn dặm không thể cản trở.”
Mọi người nghe vậy, thảy đều rúng động, cùng đưa mắt nhìn khắp phòng đấu kiếm, ước lượng cự ly. Phòng đấu kiếm tuy rộng, song dọc ngang không quá hai mươi bước. Nếu Trương Nghi đứng ở giữa phòng, trước sau phải trái không tới mười bước. Nếu nói “mười bước không còn ai sống”, cũng chính là trong phòng này không còn chỗ nào ẩn nấp.
Vô Cương cũng chấn động trong lòng, bèn vòng tay nói: “Nếu quả như vậy, kiếm của Trương Tử đúng là thiên hạ vô song!” Lại ngừng một lát mới nói tiếp. “Dám hỏi Trương Tử, động và không động, trong đó hẳn có chứa điều huyền diệu?”
“Không hề có gì huyền diệu, chỉ là xuất phát sau song đến trước mà thôi!”
Kiếm thuật của người Việt đều nhấn mạnh vào tiên phát chế nhân, người này dùng kiếm lại là “xuất phát sau mà đến trước”, khiến các kiếm sĩ đều nghe mà ngây người. Dù là cao thủ thượng đẳng như Bôn Thành, Nguyễn Ứng Long, cũng chỉ biết đưa mắt nhìn nhau. Thiết nghĩ, nếu kiếm thuật thực sự tinh thâm tới cảnh giới đó, còn ai dám xuất kiếm trước với người này?
Trương Nghi mở mắt, nhìn khắp một lượt, thấy người nào người nấy sững sờ kinh ngạc, thì mỉm cười, quay sang Vô Cương nói: “Trương Nghi nghe nói đại vương kiếm thuật cao siêu, rất muốn được giao chiêu với đại vương!”
Vô Cương mặt hơi biến sắc, nhìn trang phục của Trương Nghi, thấy không phải là kiếm phục; nhìn lên người Trương Nghi, lại không thấy đeo kiếm, thì khẽ chau mày, vòng tay nói: “Trương Tử từ nghìn dặm xa xôi tới đất Việt, đi đường chắc đã mệt rồi, xin mời về dịch quán nghỉ ngơi ba ngày. Ba ngày sau, Trương Tử hãy mặc kiếm phục tới đây, Vô Cương nhất định sẽ thỉnh giáo Trương Tử.”
Trương Nghi đáp lễ: “Một lời đã định!” Rồi lập tức xoay người, khí thế hừng hực, sải bước rời đi.
Trương Nghi bước xuống bậc thềm, từ xa đã nhìn thấy Hương Nữ, Kinh Sinh đang nghểnh cổ đứng trông cách đó khoảng trăm bước.
Trương Nghi vội vã bước lại gần. Hương Nữ cũng chạy như bay tới, lao vào lòng Trương Nghi, bật khóc mà gọi: “Phu quân!”
Kinh Sinh đưa mắt nhìn đám lính Việt gần đó, vội nói: “Cô gia, tiểu thư, nơi này không thể ở lâu, về quán trọ rồi nói tiếp!
Ba người lên xe, trở về quán trọ, Trương Nghi kể lại một lượt cuộc gặp gỡ Vô Cương vừa rồi cho hai người nghe, rồi chỉ vào áo mũ sĩ tử của mình, cười nói với Kinh Sinh: “Kinh huynh, tại hạ muốn tỉ thí, Việt Vương lại vin vào cớ tại hạ không mặc kiếm phục, lùi thời gian thi đấu lại ba ngày. Tại hạ nghĩ rằng, Việt Vương đã chê bai bộ mũ áo này, vậy phiền Kinh huynh tìm giúp cho một bộ kiếm phục.”
Hương Nữ kinh hãi hỏi: “Phu quân, chàng… vẫn muốn đấu kiếm?”
“Ha ha!” Trương Nghi gật đầu cười lớn. “Đã nhận lời rồi, không đấu không được!”
Kinh Sinh do dự một lát, quay sang Trương Nghi nói: “Cô gia, xin nghe Kinh Sinh nói một câu!”
“Xin cứ nói!”
“Vô Cương kiếm thuật tuyệt đỉnh, theo Kinh Sinh biết, trên đất Ngô Việt này, xứng làm địch thủ với ông ta chỉ có duy nhất một người, chính là Bôn Thành. Sở dĩ ông ta kính phục Bôn Thành, phong Bôn Thành làm thượng tướng quân, đều là vì đó. Chúa công sớm đã muốn hành thích Vô Cương, song cũng do kiếm thuật của kẻ này quá cao siêu, bên cạnh lại có Bôn Thành, Nguyễn Ứng Long và rất nhiều kiếm sĩ tuyệt đỉnh, nên mới chần chừ chưa dám hành động.”
Trương Nghi dường như đã hiểu ra: “Tại hạ biết rồi, kiếm pháp Công Tôn cũng là xuất phát từ đây!”
“Đúng vậy!” Kinh Sinh gật đầu nói. “Kiếm pháp Công Tôn toàn là tử chiêu. Bất luận cao thủ tầm cỡ nào, hễ còn muốn sống, đều không phải là đối thủ. Sở dĩ hôm nay Việt Vương Vô Cương chưa đọ kiếm với cô gia, chính là vì ông ta có lòng cầu sống.”
“Nói rất đúng!” Trương Nghi gật gù. “Hễ là người, chỉ cần không bị ép vào chỗ chết, ai cũng đều mong được sống.” Quay sang Hương Nữ. “Như vậy xem ra, kiếm pháp Công Tôn nhà ta vô cùng tuyệt diệu, ta và nàng hãy tranh thủ thời gian, gấp rút luyện tập, để tới lúc tỉ thí, may ra ta có thể thắng lấy một chiêu nửa thức.”
Hương Nữ khóc mà nói: “Phu quân, chàng thực là… Đừng nói là luyện tập ba ngày, dù có luyện tập ba năm, cũng không phải là đối thủ của Vô Cương.”
Trương Nghi lại cười: “Được rồi, được rồi, nếu như luyện tập cũng vô ích, thì không cần luyện tập nữa!” Rồi đi tới giữa phòng, lấy đàn ra. “Chẳng phải nàng vẫn muốn học đàn ư? Tranh thủ ba ngày này, ta sẽ dạy nàng học đàn!”
Hương Nữ hai mắt mở tròn, đứng ngây tại chỗ.
Trong mấy ngày này, mối quan hệ giữa Hương Nữ và Trương Nghi đã xoay chuyển hoàn toàn. Một loạt hành động của Trương Nghi, dù Hương Nữ có thông minh tới đâu cũng không tài nào hiểu nổi.
Sau khi Trương Nghi ung dung xuống đài, toàn bộ phòng đấu kiếm bỗng nhiên tĩnh lặng khác thường, không ai thốt lên một tiếng. Tất cả kiếm sĩ, gồm cả Luân Kỳ, Bôn Thành, Nguyễn Ứng Long, Lã Tông đều đổ dồn ánh mắt vào Vô Cương.
Vô Cương trầm ngâm một lát, quay sang đám kiếm sĩ: “Chư vị kiếm sĩ hãy về luyện tập chăm chỉ, ba ngày sau, cùng quả nhân quyết một trận cao thấp với hắn!”
Đám kiếm sĩ nhận lệnh, lui cả ra.
Vô Cương quay sang mấy vị trọng thần: “Về Trương Tử kia, chư vị ái khanh có nhận xét gì không?”
Nguyễn Ứng Long bước lên một bước: “Khởi bẩm đại vương, mạt tướng cho rằng, kẻ này chỉ ba hoa khoác lác, kiếm thuật chưa chắc đã được như vậy. Mạt tướng bất tài, định trong mười chiêu sẽ lấy đầu của hắn!”
Vô Cương lừ mắt nhìn Nguyễn Ứng Long một cái, rồi di chuyển ánh mắt sang Bôn Thành: “Bôn ái khanh, khanh thấy người này thế nào?”
Bôn Thành trả lời: “Quan sát khí sắc của người này, hẳn là cũng có chút thủ đoạn. Quan sát cử chỉ bàn tay của hắn, lại thấy không giống như người luyện kiếm. Vi thần cho rằng, người này hoặc là cao thủ tuyệt đỉnh, hoặc là không thông kiếm đạo.”
Vô Cương gật đầu đồng ý, nói với quần thần: “Hôm nay kết thúc ở đây. Chư vị về đi, quả nhân muốn đi tắm gội trai giới!”
Những người có mặt đều biết, chỉ khi nào gặp phải đại địch, Vô Cương mới đi tắm gội trai giới, do vậy thảy đều bàng hoàng, đưa mắt nhìn nhau, rồi lục tục cáo lui.
Khi sắp xuống tới chân đài, Luân Kỳ bỗng gọi Nguyễn Ứng Long: “Nguyễn tướng quân xin dừng bước!”
Nguyễn Ứng Long dừng lại, quay sang Luân Kỳ: “Quốc sư có điều gì căn dặn?”
“Đại quân ta đã giương buồm chờ xuất phát, kẻ này lại tới đây tỷ kiếm, ý đồ quả thực đáng ngờ!”
Nguyễn Ứng Long ngẫm nghĩ một lát, rồi lắc đầu nói: “Một kiếm sĩ không biết trời cao đất dày như hắn, còn có mưu đồ gì được?”
“Tướng quân hãy thử nghĩ xem,” Luân Kỳ phân tích, “ta sắp sửa phạt Tề, kẻ này sớm không đến, muộn không đến, lại đến cầu kiến đại vương đúng vào lúc này, tất có âm mưu. Còn nữa, mấy ngày qua, lão hủ cũng thấy nơi này tiềm tàng sát khí, sai người đi dò la, quả nhiên phát hiện có kiếm khách không rõ lai lịch lảng vảng quanh đây, hành tung vô cùng khả nghi!”
Nguyễn Ứng Long sửng sốt: “Ý quốc sư là…”
Luân Kỳ gật đầu: “Lão hủ ngờ rằng người này là gian tế nước Tề, tới đây để cản trở bước tiến của đại quân ta.”
Nguyễn Ứng Long hít vào một hơi khí lạnh, rồi ngẩng nhìn Luân Kỳ: “Nếu như vậy, mạt tướng phải đi giết hắn!”
Luân Kỳ lắc đầu nói: “Đại vương là người cuồng kiếm, đã hẹn sau ba ngày nữa sẽ tỷ kiếm với hắn, nếu không gặp được kẻ này, đại vương làm sao chịu nổi? Hơn nữa, kẻ này đã dám tới đây, ắt có thủ đoạn. Ngộ ngỡ không thận trọng, chẳng phải tướng quân đã trúng kế của hắn ư?”
“Quốc sư có diệu kế nào chăng?”
Luân Kỳ vuốt râu một lát, rồi thì thầm vài câu vào tai Nguyễn Ứng Long. Nguyễn Ứng Long bèn gật đầu nói: “Đúng là diệu kế! Dù kiếm thuật của hắn có cao siêu đến mấy, cũng không thể đỡ nổi vạn nỏ cùng bắn!”
Luân Kỳ lắc đầu, thở dài: “Đây chỉ là kế bất đắc dĩ mà thôi! Tướng quân phải hành sự thận trọng, không được làm tổn thương tới đại vương, cũng không được để đại vương biết. Nếu kẻ này thực sự là đệ nhất kiếm sĩ Trung Nguyên, đại vương không địch nổi hắn, lập tức bắn nỏ tiêu diệt. Nếu kẻ này chỉ là phường vô dụng, khoe khoang khoác lác, tự khắc đại vương sẽ có cách xử trí!”
“Hạ quan tuân lệnh!”
Liền ba ngày sau đó, Trương Nghi chẳng ngày nào sờ đến kiếm, chỉ nói nói cười cười dạy Hương Nữ gảy đàn trong viện.
Vô Cương nhận được tin báo, lại càng kinh ngạc, càng tin rằng Trương Nghi là một cao thủ kiếm đạo, vừa mừng vừa lo. Sáng ngày thứ tư, Vô Cương dậy rất sớm, chuẩn bị xong xuôi rồi sai Lã Tông đánh xe tám ngựa kéo của mình tới thẳng quán trọ đón Trương Nghi.
Khi vương xa tới, Trương Nghi đang thử kiếm phục trong phòng. Bộ kiếm phục này do Kinh Sinh bỏ ra một món tiền lớn để mời thợ về may gấp, cắt may tinh xảo, tuyền một màu trắng, chất liệu thượng phẩm, Trương Nghi mặc lên người, quả là anh tuấn vũ dũng vô song.
Trương Nghi ngắm nghía mình trong gương một hồi, rồi quay sang Hương Nữ hỏi: “Hương Nữ, nàng hãy nhìn xem, bộ kiếm phục này có vừa vặn chăng?”
Thấy Lã Tông cũng ở đó, Hương Nữ muốn nói lại thôi, muốn khóc mà không dám, nước mắt chực ứa ra, chỉ khẽ gật đầu, rồi quay mặt đi chỗ khác.
Trương Nghi quay sang Kinh Sinh, cười nói: “Kinh huynh, tại hạ đi lần này, là muốn so kiếm với đại vương, Kinh huynh cùng phu nhân cứ ở trong phòng đợi tại hạ trở về. Nhớ rằng, không được đi đâu hết!”
Kinh Sinh gật đầu: “Tiểu nhân xin nghe lời dặn dò của cô gia!”
Trương Nghi quay sang Lã Tông, vòng tay nói: “Lã đại nhân, mời!”
Lã Tông hơi ngạc nhiên, rồi nhắc nhở Trương Nghi: “Cô gia, kiếm của cô gia đâu?”
“Kiếm?” Trương Nghi xoè hai tay ra, hỏi ngược lại. “Cần kiếm làm gì?”
Lã Tông kinh ngạc: “Chẳng phải cô gia tới tỷ kiếm với đại vương ư?”
“Tỷ kiếm thì nhất thiết phải mang theo kiếm ư?” Trương Nghi mỉm cười, lại hỏi vặn một câu, rồi quay người tiến ra khỏi cửa.
Lã Tông mặt đầy ngờ vực đi theo sau, đang định lên xe thì Kinh Sinh đuổi tới, kéo Lã Tông sang một bên, nói khẽ: “Lã đại nhân, cô gia đi lần này, có gì bất trắc, mong đại nhân giúp đỡ cho!”
“Kinh tiên sinh!” Lã Tông cười nhăn nhó, lắc đầu nói. “Cô gia đã gây ra chuyện lớn, tại hạ sức mỏng, thực lòng khó mà giúp được gì.”
“Vậy…” Kinh Sinh lo lắng, “nếu xảy ra chuyện nguy cấp, đại nhân có thể báo giúp tại hạ một tiếng không?”
Lã Tông ngẫm nghĩ một lát, rồi gật đầu nói: “Thế này đi, Kinh tiên sinh hãy đến dưới đài, tìm chỗ khuất đứng đợi!” Nói xong, quay người ra lệnh khởi hành.
Với vài trăm vệ sĩ tiền hô hậu ủng, cỗ vương xa lộc cộc lăn bánh.
Trương Nghi và Lã Tông lại bước lên đài Lang Nha, từ xa đã thấy Việt Vương mặc kiếm phục màu lam ngồi ngay ngắn dưới chiếu. Bên cạnh Việt Vương, một bên là Luân Kỳ, một bên là Bôn Thành. Cách vài bước phía sau lưng, bốn kiếm sĩ đứng thẳng hiên ngang, đều bận kiếm phục màu thiên thanh. Cuối phòng đấu kiếm, còn có vài chục kiếm sĩ ngồi ngay ngắn, mình vận kiếm phục đủ màu.
Bên ngoài phòng đấu kiếm, Nguyễn Ứng Long đích thân dẫn năm mươi tay nỏ lặng lẽ bao vây xung quanh, mỗi người đều tự tìm chỗ ẩn nấp, tay giương sẵn nỏ, mắt nhìn chăm chú vào phòng đấu kiếm. Lã Tông tinh mắt, từ xa đã phát giác sự tình, trong lòng âm thầm kinh hãi, bất giác rùng mình ớn lạnh. Nếu tất cả tay nỏ đồng loạt bắn ra, dù Trương Nghi là cao thủ cỡ nào, cũng không thể chạy thoát.
Trương Nghi không hề hay biết, hoặc giả nhìn mà không thấy, vẫn ung dung bước vào phòng đấu kiếm, vòng tay vái chào: “Kiếm sĩ Trung Nguyên Trương Nghi bái kiến đại vương!”
Thấy Trương Nghi khí trầm thần định, anh võ ngời ngời, khác hẳn với ba ngày trước, Việt Vương buột miệng khen ngợi: “Một kiếm sĩ tuyệt vời!”
Trương Nghi lại vòng tay: “Đa tạ đại vương quá khen!”
Việt Vương vỗ tay khe khẽ, chỉ nghe vùn vụt mấy tiếng, vài cái bóng xẹt qua, bốn kiếm sĩ phía sau đã hạ xuống giữa phòng nhanh tựa tên bay, đứng vững chãi xung quanh Trương Nghi, cách chừng năm bước, người nào người nấy tay kiếm sẵn sàng, mắt như ánh chớp.
Thấy Trương Nghi mặt không đổi sắc, điềm nhiên bất động, Việt Vương bèn gật gù, chỉ tay vào các kiếm sĩ, nói với Trương Nghi: “Trương Tử, mấy vị kiếm sĩ này đều là thị vệ của quả nhân, tuy rằng bất tài, song ở nước Việt cũng được coi là kiếm sĩ tài giỏi. Nghe nói Trương Tử là đệ nhất kiếm sĩ Trung Nguyên, họ đều muốn lĩnh giáo, mong Trương Tử vui lòng chỉ giáo, kiếm chạm là dừng.”
“Trương Nghi lĩnh chỉ!” Trương Nghi vòng tay đáp, người còn chưa động, song miệng đã cất lời với bốn vị kiếm sĩ xung quanh. “Chư vị kiếm sĩ, từng người lên một, hay là cả bốn người cùng lên?”
Bốn người đều kinh hãi, đưa mắt nhìn Việt Vương.
Việt Vương ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Tuỳ Trương Tử quyết định!”
Trương Nghi cười nói: “Đại vương đã có chỉ, vậy bốn người cùng lên đi!” Nói xong, ngồi xếp bằng dưới đất, hai mắt nhắm lại, chẳng thèm liếc sang họ lấy một cái.
Thấy cảnh tượng này, bốn kiếm sĩ đều hoang mang trong lòng, lập tức thủ thế, rút bảo kiếm ra, phấp phỏng như sắp đương đầu kình địch.
Nói là tỷ kiếm, lại ngồi xếp bằng nhắm mắt, hai tay trống không, một chọi với bốn, mà bốn người đều là cao thủ nhất đẳng, Vô Cương tuy biết đến hầu hết kiếm khách trong thiên hạ, song lại chưa từng gặp loại kiếm sĩ kiểu này.
Sững sờ một hồi, Vô Cương cuối cùng không nén nổi tò mò, giơ tay lên ngăn lại: “Khoan!”
Bốn kiếm sĩ đều lùi lại một bước, thủ thế đứng vững, ai nấy tay cầm kiếm đều rịn đầy mồ hôi lạnh.
Vô Cương chiếu thẳng ánh mắt vào Trương Nghi: “Trương Tử, đã tới tỷ kiếm, cớ sao không thấy kiếm đâu?”
Trương Nghi dõng dạc trả lời: “Trương Nghi không có kiếm!”
Vô Cương kinh ngạc: “Đã là kiếm sĩ, cớ sao lại không có kiếm?”
“Trương Nghi tới đất Việt tỷ kiếm, đương nhiên không cần mang theo kiếm!”
Vô Cương càng nghe càng không hiểu: “Trương Tử không mang theo kiếm, vậy tỷ kiếm thế nào đây?”
Trương Nghi vòng tay nói: “Khi ở Trung Nguyên, Trương Nghi nghe nói người Ngô Việt giỏi đúc bảo kiếm, đại vương lại càng là sưu tầm bảo kiếm vô số, bởi vậy nên không mang theo kiếm, vốn định mượn đại vương một thanh để dùng.”
Vô Cương sau một thoáng sững sờ, bèn phá lên cười lớn: “Nghe Trương Tử nói, quả nhân cứ ngỡ có điều gì huyền diệu, nào ngờ chỉ là mượn kiếm để dùng!” Rồi gọi lớn. “Tư kiếm lại đâu?”
Tư kiếm lại nghe thấy gọi đến mình, bèn nhanh chóng bước ra, quỳ trước Việt Vương, dập đầu nói: “Vi thần khấu kiến đại vương!”
“Lấy kiếm cho Trương Tử!”
Tư kiếm lại tuân lệnh đi ngay. Một lát sau, mang tới một hộp kiếm. Chỉ nhìn vào vỏ hộp, đã biết là một thanh kiếm tốt.
Vô Cương nhìn Trương Nghi, hỏi: “Trương Tử xem thử, kiếm này có ưng ý không?”
Trương Nghi liếc qua khoé mắt, lập tức lắc đầu nói: “Đây là kiếm của người thường!”
Vô Cương sửng sốt: “Thế nào là kiếm của người thường?”
“Khởi bẩm đại vương,” Trương Nghi đáp, “chính là kiếm mà những kẻ hung hãn táo tợn mang theo, có thể dùng để mổ ruột moi gan, phạt cổ cứa họng, Trương Nghi tuyệt đối không thèm dùng loại này!”
“Ồ?” Vô Cương sững sờ, đưa mắt nhìn Luân Kỳ, Bôn Thành, thấy hai người cũng đang ngẩn tò te.
Vô Cương ngẫm nghĩ một lát, quay sang tư kiếm lại, nói: “Đổi kiếm tốt cho Trương Tử!”
Tư kiếm lại ôm kiếm lui ra. Một lát sau, ôm đến một hộp kiếm bằng gỗ hồng mộc, lật mở tầng tầng gấm bao lụa phủ, để lộ ra một thanh bảo kiếm, rồi chậm rãi lui ra.
Đám kiếm sĩ vừa liếc qua đã biết đó là bảo kiếm cực phẩm, đồng loạt nghển cổ ngó xem. Bôn Thành vừa nhìn thấy hộp, biết là bảo kiếm của Việt Vương Câu Tiễn ban tặng công thần Văn Chủng, Văn Chủng về sau đã nuốt kiếm này tự sát, bởi vậy Việt Vương gọi kiếm này là kiếm Văn Chủng, cất giữ cẩn thận cho tới ngày nay. Vô Cương bảo tư kiếm lại mang thanh kiếm này ra, một là tỏ lòng xem trọng kiếm sĩ Trung Nguyên Trương Nghi, hai là có ý muốn khoe khoang.
Vô Cương khép hờ hai mắt, liếc nhìn Trương Nghi, nét mặt lộ vẻ đắc ý: “Xin hỏi Trương Tử, kiếm này đã ưng ý chưa?”
Trương Nghi mở hé hai mắt, lấy bảo kiếm ra khỏi hộp, nheo mắt nhìn kỹ một hồi, song không rút kiếm ra khỏi bao, mà lại cất trở vào hộp kiếm, khoé miệng lộ một nét cười: “Đây là kiếm của khanh đại phu!”
Vô Cương kinh ngạc, trợn tròn hai mắt: “Thế nào là kiếm của khanh đại phu?”
Trương Nghi khép hai mắt lại: “Khởi bẩm đại vương, chính là kiếm mà những người ăn trắng mặc trơn mang theo bên mình, dùng để khoe khoang đùa giỡn, tranh giành công danh bổng lộc, Trương Nghi sao có thể dùng?”
Trương Nghi nói ra những lời này, hiển nhiên là có điều ám chỉ. Thân là khanh đại phu, Luân Kỳ và Bôn Thành sắc mặt đều lộ vẻ giận, Lã Tông lại càng bối rối, vừa sợ, vừa tức, vừa bất lực không biết phải làm sao, gõ nhẹ lên bàn mấy tiếng muốn nhắc nhở Trương Nghi.
Thấy thanh bảo kiếm nhường này lại bị Trương Nghi coi thường, kiếm sĩ xung quanh đều bừng bừng phẫn nộ, đồng loạt đổ dồn ánh mắt về Vô Cương.
Vô Cương đột nhiên lại cười vang một tràng, cười xong bèn nói: “Mau đổi kiếm khác!”
Tư kiếm lại mắt nhìn Vô Cương, ra hiệu gì đó, Vô Cương bèn gật đầu. Một khắc sau, tư kiếm lại dẫn theo hai lực sĩ khiêng tới một chiếc rương lớn làm bằng gỗ đàn hương chạm khắc vô cùng tinh xảo. Tư kiếm lại mở khoá rương, lấy từ bên trong ra một chiếc hộp, rồi vái liền mấy vái trước hộp, sau đó mới đặt lên bàn của Vô Cương. Vô Cương nhắm mắt, lầm rầm khấn vài câu, rồi đích thân mở nắp hộp, lấy bảo kiếm ra, cẩn thận xem qua một lượt, mới nâng hai tay đưa cho tư kiếm lại.
Ngoại trừ Trương Nghi, mọi ánh mắt trong phòng đều đổ dồn vào thanh bảo kiếm.
Lã Tông biết, Vô Cương lấy ra thanh kiếm này, hẳn là sát tâm đã động. Liếc nhìn Trương Nghi, thấy hắn vẫn dửng dưng như không, thì trong lòng run rẩy, trán vã mồ hôi, lặng lẽ đứng dậy, theo cửa bên lỉnh ra khỏi phòng, lao như bay xuống bậc thềm.
Từ xa nhìn thấy Lã Tông mặt mày trắng bệch, hấp tấp lao xuống, Kinh Sinh biết có chuyện chẳng lành, vội bước lại đón: “Lã đại nhân!”
Lã Tông giậm chân nói: “Trương Nghi hắn… Trời ơi, mạng ta thôi rồi!”
Hương Nữ môi son há hốc, mặt hoa trắng bệch, chết lặng hồi lâu mới hỏi: “Lã đại nhân, phu quân… rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?”
Lã Tông kể sơ qua tình hình trên đài cho hai người nghe, đồng thời nói luôn chuyện Nguyễn Ứng Long đã bố trí tay nỏ nấp sẵn ngoài phòng, cuối cùng nói gấp: “Công Tôn cô nương, Kinh tiên sinh, hiện tại vẫn còn thời gian, hai người hãy mau chóng rời khỏi nơi đây, may ra giữ được tính mạng!”
Không đợi Lã Tông nói hết, Hương Nữ đã rủn chân ngã bệt xuống đất, nấc lên nghẹn ngào, nước mắt như mưa.
Kinh Sinh vẫn giữ được chút bình tĩnh, quay sang Lã Tông: “Lã đại nhân, hiện tại có cách gì giải cứu không?”
“Than ôi!” Lã Tông thở dài, lắc đầu lia lịa. “Dù là thần tiên, e rằng cũng không giúp nổi! Tại hạ niệm tới ân tình của Công Tôn tiên sinh, vốn định giúp chút sức cỏn con, nào ngờ thành ra dẫn lửa thiêu thân, lần này hoạ đổ xuống đầu rồi!”
“Lã đại nhân hãy tạm quay trở vào đi!” Kinh Sinh ngẫm nghĩ một lát, đôi mày chau lại, chậm rãi nói. “Theo Kinh mỗ biết, cô gia là kỳ tài hiếm có trong thiên hạ, hành sự như vậy, ắt có đạo lý. Hơn nữa, ngộ nhỡ có sơ sảy gì, hảo hán làm hảo hán chịu, Kinh mỗ dù thịt nát xương tan, cũng tuyệt đối không làm liên luỵ tới đại nhân.”
“Trời ơi!” Lã Tông lại than một tiếng, lắc đầu nói. “Liên luỵ hay không, hai người chúng ta đều không thể đoán được. Có điều, tình hình trước mắt là như vậy. Nếu hai người không chịu đi, thì cứ ở đây chờ, tại hạ lại lên đài xem sao!”
Lã Tông cáo biệt, vội vã lên đài.
Thấy Lã Tông đã đi khuất, Kinh Sinh vội kéo Hương Nữ đứng nấp vào một chỗ khuất, khẽ huýt sáo, lập tức năm kiếm sĩ xuất hiện. Kinh Sinh sắc mặt nghiêm trọng, đưa mắt nhìn khắp mấy người, nói: “Hôm nay sự việc cấp bách, cô gia đang trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc, chư vị mỗi người hãy dẫn theo thuộc hạ, hễ nghe thấy ám hiệu của ta, liền theo đúng kế hoạch đã định, cấp tốc đăng đài, trước hết giải quyết đám tay nỏ, tiếp đến khống chế Việt Vương, giải cứu cô gia!”
Năm vị tráng sĩ gật đầu, rồi mau chóng rút lui.
Trong phòng đấu kiếm, không khí ngưng trệ, mọi người gần như nín thở, mọi ánh mắt đều dán chặt vào thanh bảo kiếm.
Một lát sau, Bôn Thành mới chuyển ánh nhìn sang Trương Nghi. Bôn Thành biết, Vô Cương đã lấy ra thanh kiếm này, chẳng khác nào đã dốc hết vốn liếng, cho thấy ông ta đã không nhẫn nhịn thêm được nữa, sát tâm đã động. Bôn Thành lại nhìn sang Luân Kỳ, thấy Luân Kỳ đang nhìn ra ngoài phòng. Bôn Thành cũng lén nhìn theo, rồi thầm giật thột trong dạ, vì đã thấy vài chục tay nỏ đang ẩn phục trong góc khuất, vài chục mũi tên nhất loạt nhắm thẳng vào Trương Nghi đang ngồi ngay ngắn ở giữa phòng. Bôn Thành thầm khâm phục Luân Kỳ, đồng thời cũng vã mồ hôi hột thay cho Trương Nghi. Chẳng hiểu sao, Bôn Thành cũng bắt đầu thấy phục tay kiếm sĩ này.
Tư kiếm lại hai tay bưng kiếm, quỳ gối lê tới bên cạnh Trương Nghi, khẽ khàng đặt kiếm xuống trước đầu gối Trương Nghi, rồi từ từ lùi ra phía sau. Từ đầu đến cuối, tư kiếm lại không hé răng một lời.
Vô Cương nhắm nghiền hai mắt, từ từ quay mặt ra phía biển, hai tai dỏng lên, như đang chăm chú lắng nghe tiếng sóng mơ hồ từ xa vẳng lại.
Trương Nghi không dám chậm trễ, đưa tay sửa sang vạt áo, điều chỉnh hơi thở, nhắm chặt hai mắt, trong miệng lẩm nhẩm vài câu gì đó, rồi đột nhiên trợn tròn hai mắt, từ từ rút kiếm khỏi bao.
Kiếm vừa rút khỏi bao, Trương Nghi đã cảm thấy một luồng hàn khí xộc thẳng vào mặt, vội vã ổn định tâm thần, đưa ngón tay búng khẽ, thấy bảo kiếm ngân lên lanh canh. Trương Nghi quan nhìn kỹ kiếm, vừa liếc thấy hai chữ “Thuần Quân”, lập tức trong lòng chấn động, song sắc mặt không hề biến đổi.
Vô Cương chậm rãi quay đầu lại, từ từ hé mắt thành hai khe hẹp, hai luồng hào quang sắc bén như mũi tên chiếu thẳng vào Trương Nghi, giọng nói trầm nặng, sát khí ẩn hiện: “Xin hỏi Trương Tử, kiếm này thế nào?”
Trương Nghi sắc mặt không chút sợ sệt, cũng không thấy có vẻ kinh ngạc hay vui mừng, vẫn điềm nhiên như không, tra lại bảo kiếm vào bao như cũ, rồi cất lời khen ngợi: “Khởi bẩm đại vương, đây là kiếm của cao sĩ!”
Vô Cương lập tức sầm mặt, hai mắt trợn trừng, rít qua kẽ răng: “Thế nào là kiếm của cao sĩ?”
Trương Nghi khép hờ hai mắt, vận khí xuống đan điền, giọng như chuông đổ: “Khởi bẩm đại vương, chính là kiếm mà người tài đức song toàn thường mang, có thể cường thân dưỡng tính, tăng thọ sống lâu, cũng không phải là kiếm cho Trương Nghi dùng!”
Một thanh bảo kiếm nhường này mà vẫn chưa xứng cho kẻ này dùng, tất cả những người có mặt thảy đều phẫn nộ tột đỉnh. Bôn Thành liếc mắt nhìn, thấy Luân Kỳ hai mắt dán chặt vào Việt Vương, hiểu rằng tình thế đã cấp bách, khẽ đảo con ngươi một vòng, không đợi Việt Vương nổi trận lôi đình, đã giận dữ quát lớn: “Cuồng đồ to gan, ngươi đến kiếm Việt Vương cũng không nhận ra, lại dám tỏ vẻ cao thâm ở chốn này, xưng bừa là đệ nhất kiếm sĩ!”
Một tia sáng lập tức loé lên trong trí não Trương Nghi.
Trương Nghi biết, Bôn Thành nói như vậy là để giúp mình, là muốn mách nước cho mình biết đây chính là thanh kiếm Việt Vương nức tiếng thiên hạ. Trên kiếm khắc hai chữ “Thuần Quân”, cho thấy kiếm Việt Vương chính là kiếm Thuần Quân(2), lập tức trong lòng sáng tỏ, bèn mỉm cười, quay sang Bôn Thành vòng tay nói: “Hồi bẩm Bôn tướng quân, kiếm này tên gọi Thuần Quân, vốn là bảo bối của Ngô Vương Phù Sai, sau này Việt Vương Câu Tiễn có được, bởi vậy còn được gọi là kiếm Việt Vương. Tại hạ nói vậy có đúng không?”
Tất cả các kiếm sĩ đều ngây người kinh ngạc.
Kiếm sĩ trong thiên hạ đều biết kiếm Thuần Quân, cũng biết kiếm Việt Vương, song ít người biết được rằng hai kiếm này vốn là một. Nghe Trương Nghi nói ra điều này, tất cả kiếm sĩ, dù là bốn thị vệ của Vô Cương cũng không dám tin là thật, đều đổ dồn ánh mắt vào Việt Vương.
Vô Cương cũng giật mình kinh hãi, đưa mắt nhìn Trương Nghi, tin rằng người này hẳn là kiếm sĩ phi thường. Lại ngẫm nghĩ kỹ những lời phẩm bình của Trương Nghi khi nãy, cũng cảm thấy có phần thoả đáng, chí ít cũng không hề có từ ngữ nào tỏ ý khinh thường. Nghĩ đến đây, nộ hoả ngùn ngụt của Vô Cương đã nguôi ngoai phần nào, bèn ra hiệu cho tư kiếm lại. Tư kiếm lại quỳ gối lê lên, nâng lấy kiếm Thuần Quân mang đi.
Thấy tư kiếm lại đã cất kiếm Việt Vương vào trong rương, sai người khiêng đi, Vô Cương lúc này mới quay đầu lại, mỉm cười nhìn Trương Nghi: “Như vậy xem ra, chỗ quả nhân không có kiếm thích hợp cho Trương Tử dùng. Xin hỏi Trương Tử dùng kiếm gì, hãy nói cho quả nhân được mở rộng tầm mắt!”
Trương Nghi vòng tay nói: “Khởi bẩm đại vương, người có nhân phẩm, kiếm có kiếm phẩm. Kiếm của Trương Nghi, đương nhiên là phi phàm phẩm!”
Lời nói này rõ ràng ám chỉ kiếm Việt Vương là phàm phẩm. Vô Cương lập tức vẻ cười vụt tắt, nộ hoả lại bừng bừng trên nét mặt: “Vậy hãy nói về phi phàm phẩm của Trương Tử!”
Trương Nghi dõng dạc nói: “Trong số mười thanh kiếm nổi tiếng thiên hạ, Thuần Quân xếp thứ ba, đại vương có biết xếp thứ nhất và thứ hai là kiếm nào không?”
Vô Cương “hừ” một tiếng, giọng nói lạnh tanh: “Kiến thức thông thường này, từ lúc lên năm quả nhân đã biết. Thứ nhất là Hiên Viên, thứ hai là Trạm Lư.”
Trương Nghi mỉm cười, lại hỏi: “Đại vương đã từng nhìn thấy hai thanh kiếm này chưa?”
Vô Cương ngẩn ra một thoáng, rồi đột nhiên như biến thành một người khác hẳn, nhoài về phía trước, hai mắt dán chặt vào Trương Nghi: “Nghe Trương Tử nói vậy, hẳn là đã từng được chiêm ngưỡng?”
Trương Nghi lại cười nói: “Không giấu đại vương, Trương Nghi từ nhỏ đã si mê kiếm, sở dĩ phải nếm đủ mùi khổ cực, vào tận núi Vân Mộng bái sư Quỷ Cốc tiên sinh, cũng cốt là để cầu hai thanh kiếm này!”
Lời Trương Nghi vừa nói ra, tất thảy những người có mặt đều kinh hãi, Vô Cương lại càng trợn mắt há miệng.
Bôn Thành có lẽ là người đầu tiên định thần lại, vội hỏi: “Xin hỏi Trương Tử, nghe nói thượng tướng quân nước Ngụy Bàng Quyên từng bái Quỷ Cốc Tử làm thầy, Trương Tử hẳn biết người này?”
“Hồi bẩm Bôn tướng quân,” Trương Nghi khẽ gật đầu, “người này là sư đệ của tại hạ, ở chung phòng với tại hạ ba năm, có theo tiên sinh học được chút công phu.”
Vô Cương liền đứng bật dậy, chậm rãi bước tới trước mặt Trương Nghi, kéo hai bàn tay Trương Nghi lại, xem xét một hồi, rồi tha thiết hỏi: “Dám hỏi Trương Tử, đôi tay này đã từng được chạm vào hai thanh kiếm đó?”
Trương Nghi cười nói: “Khởi bẩm đại vương, Trương Nghi theo tiên sinh học sáu năm trong sơn cốc, có thể nói là ngày ngày ngắm vuốt, giờ giờ tập luyện, không dám trễ nải lấy một khắc!”
Vô Cương nắm chặt tay Trương Nghi, quay sang đám quần thần và kiếm sĩ, dõng dạc nói: “Cuộc tỷ kiếm hôm nay đã kết thúc, các vị có thể lui về!”
Các kiếm sĩ đều lui ra cả. Luân Kỳ bước ra ngoài, ra hiệu cho Nguyễn Ứng Long giải tán đám nỏ thủ.
Vô Cương đích thân đỡ Trương Nghi dậy: “Trương Tử hãy bình thân, mời theo quả nhân vào phòng kiếm nói chuyện!”
Đúng lúc này, Lã Tông vừa leo hết vài trăm bậc thang, đang chuẩn bị rẽ vào phòng đấu kiếm thì thấy đám kiếm sĩ ùa ra khỏi phòng, bèn giật mình đứng khựng lại. Lại thấy Bôn Thành cũng đi ra, sắc mặt bình thản như không, vội vàng chạy tới, ngăn ông ta lại hỏi: “Có chuyện gì vậy?”
Bôn Thành kể sơ qua một lượt tình hình, rồi thốt lên một câu đầy thán phục: “Người này quả thực phi phàm!”
Lã Tông đã hỏi han rõ ràng, lập tức ba chân bốn cẳng chạy xuống bậc thang, từ xa nhìn thấy Kinh Sinh bước ra phía sau lùm cây, thì phấn khởi reo lên: “Phi phàm! Phi phàm! Cô gia nhà Kinh huynh, đúng là phi phàm!”
Thấy bộ dạng mừng rỡ của Lã Tông, Kinh Sinh biết là không có gì đáng ngại, mới thở phào một tiếng hỏi: “Cô gia đâu?”
“Được đại vương mời vào phòng kiếm rồi!” Lã Tông vừa thở hổn hển vừa đáp. “Không giấu Kinh tiên sinh, Lã Tông theo đại vương đã hơn mười năm, tới nay vẫn chưa từng một lần được đặt chân vào phòng kiếm của đại vương!”
Hương Nữ nghe tiếng vội bước lại, mừng rơi nước mắt.
Phòng kiếm của Việt Vương Vô Cương nằm ở mặt chính đông của đài Lang Nha, vô cùng bí ẩn.
Trương Nghi và Vô Cương theo tư kiếm lại rẽ ngoặt vòng vèo một hồi, sau khi bước xuống vài chục bậc thang, thì tới một đường hầm đá. Trương Nghi vừa liếc nhìn đã biết đây là đường cụt, không hề có cửa ra vào. Đang ngạc nhiên, thì thấy tư kiếm lại xoay một nút bấm, chỉ nghe “sầm” một tiếng nặng nề, một cánh cửa đá xịch mở, phía sau cánh cửa lộ ra một hành lang dài. Trương Nghi lại theo họ đi tiếp một chặng nữa, tư kiếm lại tiếp tục xoay một cái nút, trước mặt bèn hiện ra một cánh cửa đá.
Vô Cương chỉ vào cửa đá, vòng tay nói: “Tới phòng kiếm rồi! Trương Tử, mời!”
Trương Nghi bước vào cửa, đập vào mắt là một căn phòng rất rộng, chu vi tầm ba trượng vuông, toàn bộ đều xây bằng đá, mặt đông có hai tầng cửa sổ, mỗi tầng cao nửa thước, rộng ba thước, đều được làm bằng đồng nguyên chất, vừa có thể đón ánh sáng, lại có thể nhìn ra biển, dù là trẻ nít cũng không thể chui lọt.
Trên bốn vách đá của gian phòng treo kín các loại bảo kiếm. Tư kiếm lại dẫn Vô Cương, Trương Nghi đi một vòng, giới thiệu với Trương Nghi tên gọi và nguồn gốc của từng thanh kiếm.
Đi hết một vòng, Vô Cương thở dài sườn sượt mà nói: “Không giấu Trương Tử, quả nhân sưu tầm được cả thảy hai trăm sáu mươi lăm thanh kiếm nức tiếng thiên hạ, nhưng giờ xem ra đều là phàm phẩm! May sao trong số mười thanh kiếm bậc nhất thiên hạ, quả nhân đã có được bốn, cũng coi như an ủi phân nào!”
Trương Nghi kinh hãi trong lòng, thầm nghĩ: “Mười thanh kiếm bậc nhất thiên hạ, một mình người này đã có được bốn, quả nhiên ghê gớm!” song ngoài mặt vẫn điềm nhiên như không, chỉ mỉm cười, khẽ hỏi: “Dám hỏi đại vương, là những kiếm nào?”
Vô Cương trả lời: “Thuần Quân thì Trương Tử đã thấy rồi, ba thanh còn lại là Can Tương, Mạc Da và Thái A.”
Trương Nghi lại một phen âm thầm kinh hãi, song ngoài miệng lại bật cười mà nói: “Trung Nguyên đồn đại rằng ba thanh kiếm đó đều đã thất truyền, nào ngờ lại ở chỗ đại vương.”
Nghe Trương Nghi nói vậy, giọng Vô Cương đầy vẻ tự hào: “Không giấu Trương Tử, Can Tương, Mạc Da là do tiên tổ truyền lại, còn Thái A là do quả nhân mất ba năm tìm kiếm mới có được.”
“Ồ!” Trương Nghi đưa mắt nhìn khắp phòng, ngạc nhiên nói. “Hình như chúng không ở trong đây!”
“Trương Tử nói rất đúng!” Vô Cương gật đầu. “Trong bốn kiếm đó, quả nhân chỉ đeo bên mình thanh kiếm của tiên vương, lấy đó khích lệ ý chí. Ba kiếm còn lại đều cất giấu ở nơi thâm sâu trong núi Cối Kê, không ai hay biết. Không giấu Trương Tử, dù là Luân ái khanh, Bôn ái khanh, cũng không hề biết. Nay thấy Trương Tử là cao thủ tuyệt thế, quả nhân mới nói về chúng với Trương Tử!”
Trương Nghi vòng tay nói: “Tạ ơn lòng yêu mến của đại vương!”
Vô Cương đáp lễ, nói: “Quả nhân đã chuẩn bị bữa rượu nhạt, muốn cùng uống với Trương Tử, mong Trương Tử không từ chối!”
“Được bồi tiếp đại vương, Trương Nghi vô cùng vinh hạnh!”
Hai người bước ra khỏi phòng kiếm, tới ngự thiện phòng, đã có người bày sẵn tiệc rượu, đều là sơn hào hải vị hiếm có. Vô Cương ngồi cạnh Trương Nghi, rót đầy chén rượu, bưng lên nói: “Quả nhân kính Trương Tử một chén!”
“Đa tạ long ân của đại vương!” Trương Nghi đón lấy, rồi cũng nâng một chén rượu đưa cho Vô Cương. “Trương Nghi cũng kính đại vương một chén!”
Hai người nâng chén, nhìn nhau cười, rồi cùng uống.
Vô Cương lại rót một chén, hai tay đưa cho Trương Nghi: “Mời Trương Tử uống thêm chén nữa!”
Trương Nghi trầm ngâm một lát, rồi uống một hơi cạn sạch, đặt chén rượu xuống, nhìn sang Vô Cương.
Vô Cương cười nói: “Trương Tử quả là hào sảng! Được, quả nhân cũng uống một chén, tạm bồi tiếp Trương Tử!”
Vô Cương tự rót một chén, uống xong, đặt chén không bên cạnh chén không của Trương Nghi, lại rót đầy rượu, hai người tiếp tục cạn. Uống hết, Vô Cương lại rót rượu, rồi ôm quyền nói: “Trương Tử, Vô Cương xưa nay thẳng thắn, không thích vòng vo. Nay rượu đã qua ba chén, Vô Cương có một yêu cầu thái quá, mong Trương Tử đừng từ chối!”
Thấy Vô Cương không xưng là quả nhân nữa, mà chuyển thành Vô Cương, Trương Nghi đã hiểu rõ trong lòng, bèn ôm quyền vái mà nói: “Trương Nghi nào dám chối từ, xin lắng nghe lời căn dặn của đại vương!”
“Nghe Trương Tử nhắc tới hai kiếm Hiên Viên, Trạm Lư, Vô Cương trong lòng ngưỡng mộ vô cùng. Kiếm Hiên Viên là vật trấn trạch của lệnh sư Quỷ Cốc tiên sinh, Vô Cương không dám mơ tưởng, chỉ muốn đổi ba thanh Can Tương, Mạc Da và Thái A lấy một thanh Trạm Lư!” Nói đoạn, Vô Cương thình lình quỳ phịch xuống, vái liền ba vái. “Vô Cương khẩn cầu Trương Tử chuyển lời với lệnh sư về mối tình si cầu kiếm của Vô Cương!”
Trương Nghi sửng sốt, cũng quỳ xuống vái lạy ba vái: “Than ôi… đại vương quả là kiếm si đệ nhất!”
Vô Cương đứng dậy: “Chỉ là yêu kiếm mà thôi! Trương Tử, mời ngồi!”
Hai người lại ngồi xuống, uống thêm vài chén, Vô Cương nhìn Trương Tử với ánh mắt khẩn thiết: “Lời khẩn cầu của Vô Cương, mong Trương Tử truyền đạt giúp!”
Trương Nghi lắc đầu.
“Trương Tử!” Vô Cương đảo con ngươi một vòng. “Trương Tử hãy chuyển lời tới Quỷ Cốc tiên sinh, nói là ngoài ra, Vô Cương sẵn lòng dâng tặng toàn bộ bảo kiếm cất giấu trong phòng kiếm.”
Trương Nghi vẫn lắc đầu.
Vô Cương cuống lên, ném chén rượu trong tay đi, lại quỳ xuống, lạy Trương Nghi ba lạy: “Vô Cương xin đánh đổi tất cả, kể cả thanh Thuần Quân của tiên vương, cũng xin tặng lại cho Quỷ Cốc tiên sinh, được chăng?”
Trương Nghi thở dài một tiếng, cũng lại quỳ xuống, lạy lại Vô Cương vài lạy, song vẫn lắc đầu.
Vô Cương cảm thấy mất mặt, đầu mày chau tít, giọng lạnh lẽo run rẩy: “Xin hỏi Trương Tử, tiên sinh của Trương Tử phải đánh đổi thứ gì mới chịu?”
“Đại vương không biết ư?” Trương Nghi nhìn Vô Cương, sắc mặt vẫn bình thản như không. “Đừng nói là số kiếm mà đại vương đã có, dù là toàn bộ bảo kiếm trong thiên hạ, e rằng cũng khó lòng đổi được Trạm Lư!”
Vô Cương sửng sốt: “Ồ…”
Trương Nghi mỉm cười: “Đại vương chớ ngạc nhiên, hãy nghe Trương Nghi nói.”
Vô Cương sốt ruột giục giã: “Trương Tử mau nói!”
Trương Nghi dừng lại một lát, rồi trầm giọng hỏi: “Đại vương muốn có Trạm Lư, vậy có hiểu về Trạm Lư chăng?”
Vô Cương ngẩn ra một thoáng, rồi lắc đầu nói: “Xin Trương Tử chỉ giáo!”
“Muốn hiểu về Trạm Lư, cần tinh thông kiếm đạo. Đại vương yêu kiếm đến vậy, kiếm thuật lại phi phàm, dám hỏi đại vương có hiểu kiếm đạo chăng?”
“Kiếm đạo?” Vô Cương lại ngẩn ngơ. “Xin Trương Tử chỉ giáo!”
“Trời có thiên đạo, kiếm có kiếm đạo. Kiếm trong thiên hạ, đâu chỉ nghìn vạn? Song luận theo kiếm đạo, chỉ có ba kiếm.”
Vô Cương sửng sốt: “Ý Trương Tử là, thiên hạ chỉ có ba kiếm?”
“Đúng vậy!” Trương Nghi điềm tĩnh nói. “Đệ nhất kiếm gọi là thánh kiếm, đệ nhị kiếm gọi là hiền kiếm, đệ tam kiếm gọi là tục kiếm.”
Vô Cương mơ hồ không hiểu: “Thế nào là thánh kiếm?”
Trương Nghi chỉ tay lên trời: “Thánh kiếm chính là đệ nhất kiếm trong thiên hạ, còn gọi là thiên kiếm, cũng là kiếm của thiên đạo, lấy đạo làm sống, lấy đức làm mũi, lấy âm dương làm khí, lấy ngũ hành làm chuôi, trên có thể chém ánh trời, dưới có thể cắt mối đất. Kiếm này là của Hiên Viên đế, người đời gọi là kiếm Hiên Viên, lưu truyền tới Nghiêu, Thuấn, Vũ, trải qua ba đời vua, không cánh mà bay mất.”
Vô Cương trầm ngâm một lát, như đã ngộ ra, khẽ gật đầu: “Ồ, Vô Cương hiểu rồi. Xin hỏi Trương Tử, thế nào là hiền kiếm?”
Trương Nghi chỉ tay xuống đất: “Hiền kiếm chính là đệ nhị kiếm trong thiên hạ, còn gọi là địa kiếm, cũng là kiếm của thiên tử, lấy vạn dân làm sống, lấy hiền thần làm mũi, trên ứng với đạo trời, dưới thuận theo địa lý, giữa hài hoà ý dân. Kiếm này là của Chu Vũ Vương, người đời gọi là kiếm Trạm Lư, truyền qua mười hai đời, tới thời U Vương, không cánh mà bay.”
Vô Cương đột nhiên bừng tỉnh, vội nói: “Vô Cương hiểu rồi! Ý Trương Tử là, Hiên Viên, Trạm Lư đều là kiếm vô hình! Còn kiếm hữu hình, đều là tục kiếm.”
“Đại vương thánh minh!” Trương Nghi vòng tay nói. “Tục kiếm còn gọi là nhân kiếm, lấy thép ròng làm mũi, lấy hợp kim làm sống, lấy lạnh lẽo làm khí, trên có thể chặt đầu, dưới có thể chém chân, giữa có thể đâm thủng lục phủ ngũ tạng.”
Vô Cương gật gù: “Phải, phải, phải! Trương Tử nói chí phải.”
Trương Nghi nói tiếp: “Thiên đạo không đổi, kiếm đạo cũng vậy. Từ thời Tam đại(3) đến nay, thánh kiếm mất, xuất hiện hiền kiếm. Hiền kiếm mất, xuất hiện tục kiếm. Thánh kiếm duy người có đạo mới có, hiền kiếm duy người có đức mới có, còn tục kiếm, phàm kẻ có sức mạnh đều có!”
Vô Cương khâm phục, vòng tay nói: “Nghe Trương Tử nói, Vô Cương như được vén lên tấm màn che mắt. Kiếm mà Vô Cương có được, đều là tục kiếm. Nếu muốn có được Trạm Lư, Vô Cương phải có đức hành thiên hạ, uy phục bốn biển.”
Trương Nghi đứng dậy, khấu lạy mà nói: “Nếu đại vương có chí đó, Trương Nghi đi chuyến này coi như cũng không vô ích!”
Nghe thấy lời này, Vô Cương hùng tâm dào dạt, kéo Trương Nghi đứng lên, khảng khái mà rằng: “Không giấu Trương Tử, uy phục thiên hạ chính là mong muốn của Vô Cương. Trương Tử hẳn cũng đã nhìn thấy, Vô Cương đang điều động hai mươi mốt vạn thuỷ quân và lục quân, mục đích là xưng bá Trung Nguyên. Nay xem ra, chí này quả thực nhỏ nhoi, Vô Cương nên học theo Vũ Vương, có được Trạm Lư, nhất thống thiên hạ.”
“Tốt quá!” Trương Nghi vòng tay nói. “Đại vương muốn có được Trạm Lư, Trương Nghi nguyện giúp một tay!”
Vô Cương vòng tay nói: “Có được Trương Tử, Vô Cương đã có thể hoàn thành đại nghiệp!”
“Nói tới chuyện này,” Trương Nghi đi thẳng vào việc chính, “Trương Nghi dám hỏi đại vương, đại quân tập kết ở đây, phải chăng là để phạt Tề?”
“Đúng vậy!” Vô Cương tự hào nói. “Vô Cương dự định phạt Tề theo đường bộ và đường thuỷ, Trương Tử thấy sao?”
Trương Nghĩ ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi dứt khoát lắc đầu: “Tránh hư đánh thực, bỏ gốc cầu ngọn, Trương Nghi thiết nghĩ không được!”
“Sao?” Vô Cương kinh ngạc. “Xin Trương Tử chỉ giáo!”
“Nếu đúng như thảo dân dự đoán,” Trương Nghi nhìn Vô Cương, cất giọng hùng hồn, “đại vương ắt sẽ tấn công Tề theo ba lộ. Một lộ vờ đánh trực diện trường thành; một lộ vòng ra phía sau trường thành, cắt đứt đường rút lui của Điền Kỵ; một lộ nữa là thuỷ quân tấn công từ đường biển, tránh thực đánh hư, tiến thẳng đến Lâm Truy. Thảo dân đoán như vậy, dám hỏi đại vương có đúng chăng?”
Vô Cương trợn trừng hai mắt, đứng sững hồi lâu mới định thần lại được, bèn ôm quyền hỏi lại: “Điều này là tuyệt mật, cớ sao Trương Tử lại biết?”
Trương Nghi mỉm cười, cũng vòng tay đáp: “Đối với Nghi, thiên hạ không có tuyệt mật!”
Vô Cương thán phục nói: “Phải, phải! Vô Cương quên mất, Trương Tử là cao đồ của Quỷ Cốc tiên sinh.”
“Nghi đâu dám nhận là cao đồ!” Trương Nghi đáp. “Nghi thiết nghĩ, kế của đại vương, không đủ để phá Tề!”
“Xin Trương Tử nói rõ!”
“Đại vương xin hãy nghe,” Trương Nghi di chuyển mấy chiếc đĩa, tiện tay bày ra một bản đồ hình thế. “Đây là trường thành, dễ thủ khó công, người Tề đương nhiên có cung mạnh nỏ lửa chờ sẵn. Đây là biên giới nước Lỗ, lộ quân thứ hai của đại vương nhất thiết phải tiến vào từ đây, song theo Nghi biết, người Tề sớm đã có phòng bị, Tề Công đã bí mật hẹn với Lỗ Công, hai nước hợp lực, bày ra một miệng túi cực lớn ở đây, chỉ đợi binh mã của đại vương chui vào. Còn thuỷ quân của đại vương, người Tề sớm đã bố trí cảnh giới khắp nơi dọc theo bờ biển, đặc biệt là tuyến Lâm Truy, càng là thành cao luỹ sâu kiên cố. Thuỷ quân giỏi thuỷ chiến, không quen lục chiến, người Tề không xuống nước, chỉ chờ trên cạn, ưu thế của thuỷ quân đại vương liệu có còn không?”
Phân tích của Trương Nghi hợp tình hợp lý, Vô Cương nghe mà nổi da gà, mãi vẫn không thốt được lời nào.
“Chuyện này tạm chưa tính đến,” Trương Nghi vẫn thung dung nói tiếp. “Đại vương phạt Tề, còn có ba điều bất lợi.”
“Là bất lợi gì?” Vô Cương sốt sắng hỏi.
“Đại vương phạt Tề, xuất binh không có lý do, còn người Tề bảo vệ đất nước, là nghĩa chiến, đây là bất lợi thứ nhất. Đất Tề giàu có, binh lính tinh nhuệ, lương thực dồi dào, lại tác chiến trên ngay trên đất của mình, không phải lo lắng hậu phương. Còn đại vương vận chuyển lương thảo bằng thuyền từ nghìn dặm xa xôi mà tới, lại có người Sở rình rập phía sau, lúc nào cũng lo lắng quân Sở thừa cơ tấn công, đây là bất lợi thứ hai. Binh sĩ của đại vương đa phần tới từ vùng sông nước Giang Nam, quen thuỷ chiến, không quen lục chiến, ở phương bắc lâu ngày, tất không hợp thuỷ thổ, sức chiến đấu đương nhiên bị hạn chế, đây là bất lợi thứ ba.”
Vô Cương thở dài sườn sượt, không nói lại được câu nào.
“Đại vương,” Trương Nghi nói tiếp, “với ba điều bất lợi này, Nghi cho rằng, đại vương phạt Tề không phải là hành vi sáng suốt.”
“Trời ơi!” Vô Cương thở dài một tiếng. “Là Luân Kỳ làm hại ta rồi! Theo ý Trương Tử, Vô Cương nên làm thế nào đây?”
“Muốn được Trạm Lư, đại vương tất phải quay đầu phạt Sở.”
Vô Cương trợn tròn hai mắt: “Phạt Sở?”
“Đúng vậy!” Trương Nghi nhấn mạnh. “Đất Sở rộng lớn, dân Sở đông đúc, đại vương nếu có được Sở, tức là đã có được quá nửa thiên hạ. Sở, Việt có hơn nghìn vạn dân, đại vương chỉ cần phẩy tay một cái, đã có thể điều động đại quân trăm vạn. Nếu đại vương dùng đại quân trăm vạn bắc phạt Trung Nguyên, Trung Nguyên há chẳng như cỏ gặp gió mà đổ rạp ư?”
Vô Cương có vẻ lo lắng: “Lời Trương Tử nói tuy hữu lý, song đất Sở rộng lớn, dân Sở đông đúc, Vô Cương phạt Sở, thực lòng khó mà chắc thắng!”
Trương Nghi cười lớn mà nói: “Đại vương cớ sao lại sợ Sở đến vậy?”
Vô Cương thoáng chút bối rối: “Không phải sợ Sở, mà là sự việc quá ư bất ngờ, Vô Cương ngu dốt, nhất thời chưa hiểu rõ, vẫn mong Trương Tử chỉ giáo!”
“Theo Nghi thấy,” Trương Nghi cười nói, “không phải là Việt sợ Sở, mà là Sở sợ Việt.”
“Gì kia?” Vô Cương lại một phen sửng sốt. “Câu này phải giải thích thế nào?”
“Đại vương còn nhớ Ngô Vương Hạp Lư chăng? Hạp Lư chỉ dựa vào sức của nước Ngô, với vài vạn quân, một trận đã đánh bại vài chục vạn đại quân Sở, chiếm lấy Sính Đô, đào bới lăng mộ của Sở. Quân Ngô bất phàm đến vậy, lại bị người Việt đánh bại, người Việt chẳng phải đã hơn hẳn người Ngô ư? Nay đại vương có dân chúng Ngô Việt đông đúc, lại có hùng binh hai mươi mốt vạn, hơn hẳn Hạp Lư năm xưa, người Sở sao lại không sợ?”
Thấy Trương Nghi so sánh như vậy, Vô Cương không thể không phục, gật gù nói: “Phải, Trương Tử nói rất đúng. Xin hỏi Trương Tử, nếu phạt Sở, Vô Cương có thể nắm chắc mấy phần thắng?”
“Không phải mấy phần, mà là hoàn toàn!”
“Hoàn toàn?” Vô Cương tỏ vẻ không tin, nhìn chằm chằm vào Trương Nghi. “Xin Trương Tử giải thích rõ!”
“Xin đại vương hãy nghe!” Trương Nghi thần thái bừng bừng. “Hai nước giao tranh, bên nào có được thiên thời, địa lợi, nhân hoà tất thắng. Sở có tám thế tộc lớn như Cảnh, Chiêu, Khuất, Đấu, Hoàng, Hạng, nội chiến liên miên, khác nào một đĩa cát rời rạc. Lại nhìn người Việt, muôn dân một lòng, đồng tâm hiệp lực, khác nào một nắm đấm vững chãi. Lấy nắm đấm đối phó với cát rời, đại vương trước tiên đã có được nhân hoà. Đất Việt đa phần là vùng sông nước, người Việt giỏi thuỷ chiến. Nước Sở nhiều đồng bằng, nước Việt nhiều núi non. Người Sở nếu đánh Việt, vùng núi dễ phòng khó đánh; người Việt nếu phạt Sở, đồng bằng lại dễ công khó thủ. So sánh giữa hai bên, đại vương lại có được địa lợi. Hiện tại trọng binh nước Sở hầu hết tập trung ở tây bắc, đông bắc, đối đầu với Trung Nguyên, cánh quân tinh nhuệ của Sở đang phải tử chiến với Ngụy, Tống. Theo Nghi được biết, tướng Ngụy Bàng Quyên đã chiếm được hơn chục thành trì quan trọng ở Hình Sơn, chém đầu sáu vạn tướng sĩ của tướng Sở Cảnh Hợp, uy hiếp Hạng Thành. Chiêu Dương đã rút quân từ Tống về, đánh giáp lá cà với Ngụy. Xét tài của Chiêu Dương, còn lâu mới là đối thủ của Bàng Quyên. Nếu không nằm ngoài dự đoán của Trương Nghi, trận chiến này Chiêu Dương đã cầm chắc thất bại. Sở Ngụy giao chiến, quân Chiêu Dương thất bại, nguyên khí của Sở tất suy yếu, đại vương đương nhiên có được thiên thời. Đại vương đã chiếm trọn thiên thời, địa lợi, nhân hoà, mà lại không hề hay biết, vẫn còn ở đây tránh hư đánh thực, để lỡ thời cơ tốt, Trương Nghi tiếc thay cho đại vương!”
Vô Cương trầm ngâm hồi lâu, rồi đập bàn đứng dậy: “Lời của Trương Tử như sấm động bên tai, quả nhân không đắn đo nữa, chuyển hướng phạt Sở!” Rồi quay ra phía ngoài gọi lớn. “Người đâu!”
Thị thần khấu đâu đáp: “Có thần!”
“Triệu quốc sư, Bôn tướng quân, Nguyễn tướng quân, Lã đại phu lập tức lên điện bàn việc!”
“Thần lĩnh chỉ!”