Mấy ngày đầu sau khi Tôn Tẫn xuống núi, gian nhà cỏ của bốn đệ tử trong Quỷ Cốc lại càng trở nên quạnh quẽ. Tô Tần, Trương Nghi dường như trở thành hai người khác hẳn. Suốt mấy ngày liền, hoặc ôm chăn ngủ vùi, hoặc bó gối ngồi ngẩn, hoặc vào núi thẩn thơ, chẳng ai còn tâm trí đâu mà đọc sách, miệng như bị dán chặt, đến cả đi lại cũng cúi gằm mặt xuống, chân lê loạc choạc như kẻ vô hồn.
Suốt bảy ngày liền như vậy, Trương Nghi cuối cùng không thể nhẫn nhịn được thêm, vào trưa ngày tiếp theo đã đẩy cửa phòng Tô Tần. Tô Tần đang ngồi nhắm mắt tĩnh toạ trên chiếu, nghe thấy tiếng động, biết là Trương Nghi, song không mở mắt, vẫn ngồi lặng phắc như không hề biết chuyện gì.
Trương Nghi nhìn Tô Tần hồi lâu, thấy hắn vẫn không có động tĩnh gì, thì đặng hắng lớn một tiếng, bắt đầu động tác quen thuộc là đi lòng vòng quanh đối phương. Nếu là bình thường, chỉ cần đi ba vòng là đủ, song hôm nay thì khác, Trương Nghi cứ đi quanh Tô Tần hết vòng này đến vòng khác, vừa đi vừa dán mắt nhìn chằm chằm vào Tô Tần, bước chân vô cùng chậm chạp, như thể đang quan sát một con quái vật.
Tô Tần vẫn ngồi nghiêm trang bất động.
Không biết đã đi được bao nhiêu vòng, cuối cùng Trương Nghi hết chịu nổi, bèn quay người bước ra ngoài, tiện tay sập luôn cửa lại. Trương Nghi tiếp tục cúi gằm mặt đi lòng vòng trên bãi có bên ngoài, bộ dạng trông rất mực phiền muộn, rồi thình lình sải rộng bước chân, nhảy vài cái đã lại đến trước cửa phòng Tô Tần, “rầm” một tiếng đạp tung cánh cửa, xồng xộc đi thẳng tới trước mặt Tô Tần, khoanh gối ngồi phịch xuống, đặng hắng ầm ĩ, rồi cất giọng oang oang: “Tô huynh này, chúng ta nên nói vài câu đi chứ!”
Tô Tần mở mắt, nhìn thẳng vào Trương Nghi, không hé miệng, chỉ hỏi bằng ánh mắt: “Nói gì đây?”
Trương Nghi cười một tiếng: “Sư huynh nói xem, Tôn huynh… đi thì đã đi rồi, lại còn bắt hồn của người ta theo, khiến Tô huynh đây nhìn xa thì như cây khô, còn nhìn gần thì như xác chết!”
Tô Tần lại khép mắt, song đã có chút cử động, dịch mông về phía sau một tấc.
Trương Nghi thấy vậy, bật cười mà nói: “Bảo là xác chết có vẻ hơi quá, gọi huynh là cục thịt sống vậy, nghe có vẻ đúng hơn. Tô huynh đã nhúc nhích được rồi, chỉ có điều chẳng có tinh khí thần gì cả!”
Tô Tần lại mở mắt, đáp trả một câu: “Hiền đệ đang nói về mình đấy ư?”
“Được, được, được!” Trương Nghi cười nói. “Cứ cho là đệ nói về mình đi! Dù sao, chỉ cần Tô huynh chịu hé miệng vàng đã là thành công rồi.”
“Hiền đệ có điều gì, cứ nói ra!” Tô Tần điềm đạm nói.
“Đệ muốn nói,” Trương Nghi cao giọng, “thiên hạ này thực là thú vị!”
Tô Tần đưa mắt nhìn Trương Nghi: “Hiền đệ vì đâu lại nói vậy?”
“Thì nhìn thằng cha Bàng Quyên kia đấy thôi, còn chưa hiểu rõ trắng đen phải trái, đã hấp ta hấp tấp xuống núi. Cũng thật quái lạ, đệ có nằm mơ cũng không ngờ tới, chỉ trong một năm, Bàng Quyên trong bụng chỉ có chút vốn liếng cỏn con, vậy mà cũng có thể phong hầu bái tướng, ấm thân nhờ vợ, đại phú đại quý!”
Tô Tần liếc xéo Trương Nghi với vẻ coi thường: “Huynh cứ tưởng hiền đệ sẽ nói ra những lời kinh thiên động địa, nào ngờ lại là chuyện này.”
“Lại nhìn Tôn huynh mà xem,” Trương Nghi chẳng buồn tranh cãi với Tô Tần, cứ thế nói tiếp, “còn chưa xuất sơn, mà chao ôi, uy thế đã lẫy lừng nhường kia, được thái tử đích thân tới đón, sính lễ hậu hĩnh, tiền hô hậu ủng, ngựa xe rầm rập tắc cả đường đi!”
Tô Tần cúi đầu, trầm ngâm không nói.
“Tô huynh nói gì đi chứ!” Trương Nghi có phần kích động. “Chúng ta và hai người họ cùng vào Quỷ Cốc, không phải nói quá, xét về bất cứ điểm nào, chúng ta cũng nào có thua kém họ!”
Tô Tần khẽ thở dài một tiếng, rầu rĩ ngồi im.
“Này Tô huynh!” Trương Nghi lại cao giọng thêm mấy phần, gần như đang hét lên. “Thử nghĩ mà xem, nếu huynh đệ ta xuống núi, thế gian này sẽ ra sao?”
Tô Tần ngẩng đầu lên: “Hiền đệ thử nói xem sẽ ra sao?”
Trương Nghi bật cười vang: “Trời long đất lở, chắc chắn là trời long đất lở!”
Tô Tần lại cúi đầu, trầm ngâm hồi lâu, mới nói: “Theo hiền đệ, lẽ nào chúng ta đã thành tài?”
Trương Nghi lại cười lớn mấy tiếng, rồi nói: “Tô huynh cớ sao phải dùng hai chữ ‘lẽ nào’? Chỉ với chút tài mọn của Bàng Quyên, mà đã làm ngả nghiêng liệt quốc. Tài của Tôn huynh hơn hẳn Bàng Quyên, thiên hạ ai người có thể sánh bằng? Trong sơn cốc này, cứ nhắm mắt nghĩ xem, hai huynh đệ ta cho dù có bất tài đến mấy, song chí ít cũng không thể thua kém Tôn huynh!”
“Hiền đệ tự cho rằng tài của mình hơn cả Tôn huynh?”
“Tô huynh chớ nên khiêm tốn! Chúng ta đã kết nghĩa huynh đệ, cũng nên nói thật lòng. Tô huynh hãy tự hỏi lòng mình xem, năm xưa huynh tới sơn cốc này, lẽ nào vì muốn sống tới già tới chết trong chốn rừng sâu núi thẳm?”
Tô Tần ngẩn người, ngẩng đầu nhìn Trương Nghi: “Ý hiền đệ là…”
“Theo đệ, chúng ta cũng nên tìm cơ duyên, xuống núi trổ tài một phen!”
Tô Tần đang định lên tiếng, bỗng nghe thấy có tiếng động bên ngoài cửa, chưa kịp quay đầu lại thì tiểu đồng đã bước vào phòng, nhìn thấy hai người, thì cười khúc khích mà hỏi: “Là vị sư đệ nào muốn xuống núi vậy?”
Hai người đều giật mình, vội đứng lên, vòng tay vái mà nói: “Sư đệ xin chào đại sư huynh!”
Mấy năm qua đi, tiểu đồng bất giác đã vỡ giọng, lớn phổng lên, cao chẳng kém gì Trương Nghi. Tuy cử chỉ lời nói đã trưởng thành hơn xưa, song vẻ ngây thơ vẫn chưa mất hẳn.
Nhìn bộ dạng lúng túng của hai sư đệ, tiểu đồng cười khanh khách, xua tay mà nói: “Ngồi xuống đi! Sư huynh không phải là tiên sinh, hai sư đệ bất tất phải đa lễ!” Thấy hai người đã ngồi xuống, bèn nhìn họ, giục. “Nói đi, sư huynh đang chờ nghe đây!”
Thấy tiểu đồng nhìn mình, Trương Nghi đành vòng tay nói: “Hồi bẩm đại sư huynh, là đệ nói!” Dừng lại một lát, tiếp lời. “Đệ và Tô huynh mấy ngày qua buồn bực trong lòng, bởi có một chuyện nghĩ mãi chưa thông, đại sư huynh tới thật đúng lúc!”
“Trương sư đệ!” Tiểu đồng thu ánh mắt lại, mỉm cười, để lộ hai lúm đồng tiền thấp thoáng bên khoé miệng. “Mấy ngày nay, hai sư đệ chỉ nghĩ tới chuyện xuống núi, song lại không dám nói với tiên sinh, có đúng vậy chăng?”
Trương Nghi sững lại một thoáng, rồi gật đầu.
“Hai vị sư đệ đã suy nghĩ thái quá rồi!” Lúm đồng tiền bên má tiểu đồng càng xoáy sâu hơn, song giọng nói không hề có vẻ chế nhạo. “Trong Quỷ Cốc, đã không có cửa, cũng chẳng có khoá. Tiên sinh đã không ép hai vị lên núi, đương nhiên cũng sẽ không giữ chân hai vị ở đây. Hai vị sư đệ muốn xuống núi lúc nào thì cứ tuỳ tiện, có chuyện gì mà phải nghĩ chưa thông?”
Lời nói thong thả của tiểu đồng khiến Trương Nghi nghẹn cứng họng, lắp bắp: “Chuyện này…”
“Đại sư huynh,” Tô Tần bèn giải vây, ôm quyền mà nói, “đệ và Trương Nghi đều không có ý đó. Mấy ngày trước, Tôn huynh xuống núi, hai đệ đều cảm thấy buồn. Vừa rồi nhớ tới chuyện này, Trương sư đệ có than thở vài câu, chỉ vậy mà thôi!”
“Thật ư?” Tiểu đồng quay sang Trương Nghi. “Tôn Tẫn xuống núi, Trương sư đệ than thở gì vậy, có thể nói cho sư huynh nghe chăng?”
Trương Nghi ngẫm nghĩ một thoáng, rồi đáp: “Rồng bay trên trời!”
Tiểu đồng cười nói: “Vậy thì, Trương sư đệ là rồng khốn trong núi ư?”
Trương Nghi lại bị nói cho tắc họng, bình thường miệng lưỡi liến thoắng là thế, giờ không thốt được nửa lời.
Tô Tần lại giải vây lần nữa: “Đại sư huynh, sư đệ có điều ngờ vực.”
Tiểu đồng hai lần đều chặn họng được Trương Nghi, nghe vậy liền quay đầu lại, cười khanh khách nhìn sang Tô Tần.
Tô Tần hỏi: “Theo ý của đại sư huynh, thì Bàng huynh, Tôn huynh đã được xem là thành tài chưa?”
Tiểu đồng cười nói: “Đương nhiên rồi!”
“Ồ…” Tô Tần thoáng ngẩn người, “thế còn đệ và Trương sư đệ?”
Tiểu đồng dứt khoát lắc đầu.
“Đại sư huynh,” Trương Nghi sốt sắng chất vấn, “sư huynh vì đâu mà nói họ đã thành tài, còn hai đệ thì chưa?”
“Là dựa vào điều này,” tiểu đồng chỉ vào hai người, “họ đã xuống núi, mà hai đệ vẫn còn ở đây!”
“Sư huynh nói như vậy là không công bằng!” Trương Nghi lớn tiếng phản bác. “Họ xuống núi, là vì họ muốn xuống núi. Chúng đệ không xuống núi, là vì chúng đệ không muốn xuống núi!”
“Được rồi, được rồi!” Tiểu đồng xua tay, cười giòn tan mà nói. “Bản sư huynh tới đây, không phải để tranh cãi với sư đệ. Muốn biết đã thành tài hay chưa, tốt nhất hai đệ đi mà hỏi tiên sinh!”
Nói dứt lời, tiểu đồng đứng dậy: “Hai vị sư đệ, mời!”
Tô Tần và Trương Nghi đều ngẩn ra tại chỗ.
Trương Nghi lắp bắp: “Đi… đi đâu?”
Tiểu đồng lại cười thành tiếng: “Đi hỏi tiên sinh chứ còn đi đâu?”
Hai người đương nhiên không dám hỏi tiên sinh chuyện này, bởi vậy chỉ đưa mắt nhìn nhau, không ai nói gì.
Tiểu đồng nghiêm mặt, thúc giục: “Tiên sinh đang đợi hai đệ ở trong thảo đường, còn không mau đi!”
Thấy tiểu đồng không có vẻ đùa giỡn, hai người vội vàng đứng dậy, chỉnh đốn lại mũ áo, đi theo tiểu đồng tới thảo đường. Quả nhiên, nhìn thấy Quỷ Cốc Tử đang ngồi ngay ngắn giữa nhà, Ngọc Thiền ngồi xéo trước mặt. Tiểu đồng bước lại, đứng chếch sau lưng Quỷ Cốc Tử.
Hai người liền khấu bái. Quỷ Cốc Tử ra hiệu miễn lễ, hai người do dự một lát, rồi ngồi xuống cạnh Ngọc Thiền.
Quỷ Cốc Tử mỉm cười, nhìn Tô Tần và Trương Nghi, lập tức nói ngay vào chuyện: “Vài ngày trước, hai con hẳn đã nhìn thấy vinh hoa phú quý?”
Thấy Quỷ Cốc Tử mở miệng đã hỏi thẳng vào đề, Tô Tần và Trương Nghi nào dám nói năng. Cả hai đều cúi gằm mặt, lúng túng không biết phải đối đáp ra sao, trông hệt như hai đứa trẻ vừa mắc lỗi.
Quỷ Cốc Tử mỉm cười trìu mến: “Lão hủ hỏi hai con, phải chăng cũng muốn xuống núi rồi?”
Tô Tần, Trương Nghi càng cúi đầu thấp hơn.
“Sao không nói gì?” Quỷ Cốc Tử đã nhìn thấu suy nghĩ của họ, quyết không buông tha.
Hai người càng không dám hé răng.
“Hồi bẩm tiên sinh,” tiểu đồng nói xen vào, “họ ngại không dám nói, xin để tiểu đồng nói thay. Vừa rồi khi tiểu đồng tới, hai vị sư đệ đang bàn chuyện lúc nào xuống núi.”
“Đại sư huynh…” Trương Nghi mặt đỏ bừng, muốn ngăn tiểu đồng lại.
“Trương sư đệ,” tiểu đồng cười nói, “có tâm sự gì, hãy cứ nói ra. Vừa nãy chẳng phải đệ nói rằng, tài của hai đệ không hề thua kém Tôn Tẫn và Bàng Quyên ư? Chẳng phải đệ cho rằng hai đệ đã thành tài rồi ư?”
Trương Nghi sượng sùng, cúi đầu ấp úng: “Tiên sinh, đệ… đệ tử…”
Quỷ Cốc Tử mỉm cười, quay sang Tô Tần: “Tô Tần, phải chăng con cũng cảm thấy vậy?”
“Vâng!” Tô Tần gật đầu. “Nhìn thấy Bàng huynh, Tôn huynh được như vậy, đệ tử quả thực cũng thấy cảm khái trong lòng.”
“Trương Nghi!” Quỷ Cốc Tử quay sang Trương Nghi. “Phải thì bảo phải, không phải thì bảo không, trong Quỷ Cốc, không có chuyện úp úp mở mở.”
Trương Nghi cúi đầu đáp: “Vâng!”
“Hơn nữa,” Quỷ Cốc Tử nói tiếp, “con cũng không nói sai. Lão hủ đã thấy, sự lĩnh ngộ của hai con đúng là không hề thua kém Bàng, Tôn. Nếu họ đã được xem là thành tài, thì hai con đáng lý ra cũng sẽ phải thành tài!”
Tô Tần sững người: “Ý tiên sinh là, chúng đệ tử vẫn chưa thành tài?”
Quỷ Cốc Tử khẽ gật đầu: “Không phải là vẫn chưa, mà là còn lâu!”
Trương Nghi không phục, ngẩng lên lý sự: “Chúng đệ tử đã không thua kém họ, cớ sao tiên sinh lại nói họ đã thành tài, mà chúng đệ tử còn lâu mới thành tài?”
“Được thôi!” Quỷ Cốc Tử đưa mắt nhìn Trương Nghi. “Con muốn biết duyên do, lão hủ sẽ nói cho con nghe. Lão hủ hỏi con, nếu hai con xuống núi, sẽ dựa vào gì để tồn thân lập mệnh?”
Trương Nghi đáp: “Chúng đệ tử đã học thuật nói năng, đương nhiên sẽ dựa vào miệng lưỡi để tồn thân lập mệnh!”
“Nói năng có khéo có vụng, biện luận có cao có thấp, lão hủ lại hỏi con, tài biện luận của hai con thế nào?”
Trương Nghi không chút đắn đo, lập tức trả lời: “Nói năng khéo léo, biện luận cơ trí, dù không có lý cũng thắng chắc ba phần.”
Quỷ Cốc Tử lắc đầu: “Kiểu biện luận này chỉ có thể thuyết phục người, không thể thuyết phục nhà!”
“Vậy thì…” Trương Nghi nói tiếp, “xuất khẩu thành chương, lời ắt có lý, ăn nói kín kẽ, không chút sơ suất!” Quỷ Cốc Tử vẫn lắc đầu: “Kiểu biện luận này chỉ có thể thuyết phục nhà, không thể thuyết phục nước!”
Trương Nghi sốt ruột, vò đầu bứt tai, một lát sau, dõng dạc nói: “Suy xét lời nói, quan sát sắc mặt, đón cát tránh hung, chọn tốt mà nói, chọn xấu mà tránh!”
Quỷ Cốc Tử lại lắc đầu: “Kiểu biện luận này có thể thuyết phục nước, không thể thuyết phục thiên hạ.”
Trương Nghi kinh ngạc, nhìn sang Tô Tần, thấy Tô Tần cũng đang trợn mắt ngạc nhiên.
Quỷ Cốc Tử cười, hỏi hai đệ tử: “Hai con còn có biện giải gì nữa không?”
Trương Nghi và Tô Tần đều lắc đầu.
Quỷ Cốc Tử bật cười vang: “Muốn hỏi đáp án không?”
Tô Tần, Trương Nghi lại lắc đầu.
“Các con ngoài miệng không hỏi, mà lòng lại không phục!” Quỷ Cốc Tử vẫn mỉm cười, thong thả nói. “Để lão hủ đây nói cho hai con biết. Tài có cao thấp, thuật có chuyên công. Bàng Quyên, Tôn Tẫn đều tu luyện binh học. Điều cốt yếu của binh học là ở chỗ ứng phó với chiến tranh trong thiên hạ. Chiến tranh trong thiên hạ là sự việc cụ thể, nên binh học cũng gọi là sự học, có chiến tranh tức có sự việc tới, hết chiến tranh thì sự việc cũng qua. Song tài biện luận lại không giống vậy. Miệng là cửa của tâm, lưỡi là tiếng của tâm, miệng lưỡi quan trọng ở chỗ ứng phó với lòng người trong thiên hạ. Người giỏi ăn nói, trước hết cần thuyết phục lòng người. Mà lòng người biến hoá khôn lường, vốn không tuân theo bất kỳ quy tắc nào!”
Tô Tần chăm chú lắng nghe, không cầm lòng nổi bèn hỏi ngay: “Xin hỏi tiên sinh, làm cách nào mới thuyết phục được lòng người?”
Quỷ Cốc Tử trả lời: “Muốn thuyết phục lòng người, trước hết cần phải đi vào lòng người. Lời nói đi vào lòng người, ít thì có thể muốn gì được nấy, nhiều thì có thể biến can qua thành ngọc lụa. Lời nói không đi vào lòng người, nhẹ thì có thể phản bạn thành thù, nặng thì có thể khiến người chết hàng vạn, máu chảy thành sông.”
Trương Nghi vội hỏi: “Làm thế nào mới có thể đi vào lòng người?”
“Nắm bắt vận mệnh!”
Hai người trầm ngâm suy nghĩ, một lát sau, Tô Tần ngẩng đầu lên hỏi: “Đệ tử ngu dốt, mong tiên sinh giải thích rõ hơn!”
“Cái gọi là vận mệnh,” Quỷ Cốc Tử giải thích, “có thể phân thành ba loại, một là vận mệnh của cá nhân, hai là vận mệnh của bang quốc, ba là vận mệnh của thiên hạ. Người nắm bắt được vận mệnh cá nhân, có thể đi vào lòng một người, thuyết phục được một người; người nắm bắt được vận mệnh bang quốc, có thể đi vào lòng một nước, thuyết phục được một nước; người nắm bắt được vận mệnh thiên hạ, có thể đi vào lòng thiên hạ, thuyết phục được thiên hạ.”
Tô Tần lại cúi đầu suy nghĩ một hồi, vẫn chưa hiểu: “Xin hỏi tiên sinh, ba loại vận mệnh đều giống nhau ư?”
Quỷ Cốc Tử xua tay: “Nếu giống nhau thì đã không còn là việc khó. Nói cụ thể, đối với một người, hoàn cảnh sống là mệnh, cơ hội gặp được là vận. Đối với bang quốc, hoàn cảnh xung quanh là mệnh, thiên thời gặp được là vận. Đối với thiên hạ, thiên thời quanh nó là mệnh, đại thế thiên hạ là vận. Sở dĩ ‘Chu Dịch’ có thể chiêm chuyện đời trước, đoán chuyện tương lai, vì nó thể hiện cái đạo sinh tồn chuyển hoá của vận mệnh, biết ‘Dịch’ có thể biết được thiên hạ!”
Trương Nghi hỏi: “Xin hỏi tiên sinh, đệ tử làm thế nào mới nắm bắt được thời vận thiên hạ?”
“Thẩm thời độ thế!” Quỷ Cốc Tử nói rành rọt từng chữ. “Chính là xem xét thời của thiên hạ, đánh giá thế của thiên hạ.”
Trương Nghi lại hỏi: “Thế nào là thời thế của thiên hạ?”
“Thời của thiên hạ chính là xu hướng vận động của đại thế trong thiên hạ. Còn thế của thiên hạ chính là các lực đạo thúc đẩy đại thế của thiên hạ. Nếu ví thiên hạ là biển lớn, thì hướng gió là thời, con sóng chuyển động theo gió là thế, nắm bắt được thời thế, thì có thể đùa giỡn trên con sóng. Thời thế thiên hạ, mờ mịt mơ hồ, quỷ thần khó đoán, chớp mắt vạn biến. Thánh nhân biết thời nhận thế, theo thời dùng thế, từ đó mà trị thế gian. Gian tặc tạo thế ngược thời, do vậy mà làm loạn thế gian.”
Những lời lẽ uyên thâm, cao viễn của Quỷ Cốc Tử khiến Tô Tần nghe mà ngẩn ngơ, hồi lâu sau mới hỏi: “Xin hỏi tiên sinh, làm thế nào để biết thời nhận thế, theo thời dùng thế?”
Quỷ Cốc Tử chậm rãi đứng dậy: “Sáng sớm mai, các con hãy theo lão hủ đến đỉnh Hầu Vọng. Đứng ở đó, các con sẽ biết!” Rồi quay sang Ngọc Thiền. “Thiền Nhi, hãy cùng lão hủ đi dạo trong cốc!”
Ngọc Thiền đứng dậy, đỡ lấy cánh tay Quỷ Cốc Tử, chậm rãi bước ra khỏi thảo đường.
Trên đường trở về nhà cỏ, Tô Tần và Trương Nghi kẻ trước người sau, cúi gằm mặt xuống, mỗi bước đi như nặng ngàn cân.
Suốt cả buổi chiều, Tô Tần nằm lì trên giường, hai mắt nhìn chong chong lên trần nhà, chẳng khác gì xác chết, chỉ còn hai bàn chân là vô thức xoay qua xoay lại.
Đến chập tối, Trương Nghi đẩy cửa bước vào, lại đi loanh quanh trong phòng không biết bao nhiêu vòng, cuối cùng dừng bước, thở dài một tiếng: “Trời ơi, Tô huynh thử nói xem, học cái thứ này, liệu có điểm tận cùng không? Gắng gỏi suốt bốn năm trời trong Quỷ Cốc, cứ nghĩ là đã kiên trì đến ngày hái quả, giờ nghe tiên sinh nói như vậy, chao ôi, hoá ra đây mới chỉ là khởi đầu!”
Tô Tần vẫn nhìn chòng chọc lên nóc nhà, không buồn lên tiếng.
“Trời ơi!” Trương Nghi lại thở dài thườn thượt. “Ve sầu không biết đến có thu, Trương Nghi phục rồi!”
Lại qua một hồi im lặng, Trương Nghi giậm mạnh chân xuống đất, ngửa cổ kêu toáng lên: “Phục rồi, phục rồi! Trương Nghi phục thật rồi!”
Trên con đường mòn dọc theo khe suối, Ngọc Thiền đỡ cánh tay Quỷ Cốc Tử, càng đi, bước chân càng chậm lại.
Quỷ Cốc Tử dừng bước, mỉm cười nhìn Ngọc Thiền: “Thiền Nhi, hình như trong lòng con có điều muốn nói?”
Ngọc Thiền cũng cười, đáp lại: “Hồi bẩm tiên sinh, Thiền Nhi có điều không rõ.”
“Ồ!” Quỷ Cốc Tử vẫn mỉm cười. “Điều gì không rõ?”
“Năm ngoái Bàng Quyên xuống núi, tiên sinh không nói gì, để cho Bàng Quyên đi. Năm nay Tôn Tẫn xuống núi, tiên sinh vẫn không nói gì, để mặc Tôn Tẫn đi. Còn Trương Nghi, Tô Tần muốn xuống núi, cớ sao tiên sinh lại nói ra những lời ngăn cản?”
“Vừa rồi lão hủ đã nói, hai người Bàng, Tôn chỉ là mưu sự, còn hai người Tô, Trương lại là mưu tâm, Thiền Nhi lẽ nào còn nghe không hiểu?”
“Đó là tiên sinh cố ý nói cho Tô Tần, Trương Nghi nghe. Binh học đâu phải chỉ là giao chiến, cũng liên can đến rất nhiều, trên có quân chủ, dưới có binh sĩ, người nào cũng đều có tâm, cái tâm nào cũng đều phải phục. Nói rằng đó chỉ là mưu sự, tuyệt đối không phải bản ý của tiên sinh.”
Quỷ Cốc Tử nhìn Ngọc Thiền, gật gù khen ngợi: “Thiền Nhi, con hiểu được như vậy, thực khiến ta vui lòng!” Rồi bước lên một tảng đá lớn bên bờ suối, nhìn dòng nước chảy, trầm ngâm hồi lâu, thở dài một tiếng. “Than ôi, Tuỳ Sào Tử nói rất đúng, thiên hạ không thể tiếp tục đại loạn. Nhưng nếu muốn kết thúc loạn cục, phải cần đến người trí tuệ siêu phàm!”
Ngọc Thiền mở to mắt: “Tiên sinh muốn nói tới Tô Tần và Trương Nghi?”
Quỷ Cốc Tử gật đầu.
“Hai người họ…” Ngọc Thiền nhìn Quỷ Cốc Tử có phần nghi hoặc, “liệu có được chăng?”
“Được chứ!” Quỷ Cốc Tử lại thở dài. “Song hiện tại vẫn chưa được, đây cũng là nguyên do vì sao lão hủ ngăn cản họ. Nhưng một khi thời vận thôi thúc, chỉ có thể là hai người họ gánh vác sứ mệnh.”
Ngọc Thiền trong lòng chấn động, trầm ngâm hồi lâu, lại ngẩng lên hỏi: “Theo ý tiên sinh, loạn cục trong thiên hạ, lúc nào mới có thể kết thúc?”
Quỷ Cốc Tử hít vào một hơi thật sâu, rồi từ từ thở ra, dõi mắt về phía xa xăm: “Thiên hạ hỗn loạn, đều do thế sinh. Thế nhiều tất xung đột, thế loạn tất hỗn độn. Loạn thế xung đột hỗn độn, thiên hạ trị thế nào đây? Nếu muốn kết thúc loạn cục trong thiên hạ, khiến thế đạo an hoà, cần bắt tay từ gốc rễ, dẫn dắt loạn thế quy về một mối, nhất thống sơn hà.”
“Làm thế nào để khiến loạn thế quy về một mối?”
“Câu hỏi của Thiền Nhi cũng chính là việc mà hai người Tô, Trương phải làm.”
Ngọc Thiền kinh ngạc hỏi: “Tiên sinh, đại sự nhường này, cần đến sức mạnh sánh ngang núi Đế Trụ chắn giữa sông Hà Thuỷ, liệu hai người Tô Tần, Trương Nghi… có được không?”
“Điều này cần phải xem tạo hoá của hai người họ!” Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói. “Có điều, theo lão hủ thấy, hai người họ tuy không có sức mạnh tựa Đế Trụ chắn dòng nước xiết, song có hai bảo bối vô cùng quý giá, một là chính khí hạo nhiên, hai là trí tuệ hơn người. Có hai bảo bối này, có thể dẫn dắt các thế.”
Ngọc Thiền kinh ngạc nhìn Quỷ Cốc Tử: “Chính khí hạo nhiên, Trương Nghi cũng có ư?”
“Đúng vậy!” Quỷ Cốc Tử gật đầu. “Ở ngay trong cốt tuỷ của hắn. Có điều, chính khí của hắn, nếu không có Tô Tần thì khó lòng bộc lộ. Cũng giống như Bàng, Tôn, hai người Tô, Trương cũng là vừa thấu hiểu nhau, vừa tranh đua nhau, bổ trợ lẫn nhau.”
Nghe Quỷ Cốc Tử nói vậy, Ngọc Thiền như rẽ mây thấy mặt trời, trong lòng sáng tỏ, liền gật đầu nói: “Hai người Tô, Trương nếu có được thành tựu đó, đúng là phúc của thiên hạ!” Dừng lại một lát, lại ngẩng nhìn Quỷ Cốc Tử. “Tuy nhiên, dù Tô Tần, Trương Nghi gặp may mắn, có thể dẫn dắt các thế, liệu thiên hạ hỗn loạn… có thực sự nhất thống được chăng?”
“Có lẽ là được!” Quỷ Cốc Tử trịnh trọng gật đầu. “Thiên hạ ngày nay loạn thế xung đột, loạn tượng rối ren. Nhưng nếu dùng huệ nhãn để nhìn, sẽ thấy đại thế trong thiên hạ chỉ có một xu thế, chính là nhất thống!”
Ngọc Thiền đột nhiên bừng tỉnh: “Ý tiên sinh là, nhất thống thiên hạ là xu hướng của đại thế. Nếu Tô Tần, Trương Nghi xuống núi, chẳng qua chỉ là thuận thế dẫn thế mà thôi!”
“Đúng vậy!” Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói. “Loạn thế xung đột, chẳng khác nào dòng lũ trên sông lớn, nếu không dẫn dắt, ắt tràn lan mà gây hoạ. Hai người Tô, Trương nếu biết thuận thế dẫn dắt, sẽ có thể khống chế được loạn thế, khiến vạn dòng chảy về sông, đổ ra biển.”
“Thiền Nhi vẫn có một điều nghi hoặc!” Ngọc Thiền trầm ngâm một lát, lại nhìn Quỷ Cốc Tử. “Nếu như nhất thống được, liệu thực sự có thể quốc thái dân an chăng?”
“Than ôi!” Quỷ Cốc Tử ngước nhìn trời xanh, thở dài một tiếng. “Lão hủ mong là như vậy! Sẽ có một ngày thiên hạ quy về một mối, còn liệu có được quốc thái dân an hay không, lão hủ cũng không thể đoán trước. Phải xem ý trời.”
Sáng hôm sau, trên đỉnh Hầu Vọng, trời cao mây nhạt, khí lạnh se sắt. Quỷ Cốc Tử tiên phong đạo cốt, râu tóc bạc phơ dẫn đầu đám đệ tử, ung dung đĩnh đạc bước lên đỉnh núi đầu tiên, bốn đệ tử Tô Tần, Trương Nghi, Ngọc Thiền, tiểu đồng bám sát theo sau.
Quỷ Cốc Tử dẫn bốn đệ tử đi vòng quanh đỉnh núi, rồi bước thẳng đến dưới gốc thông lớn bên vách núi, ngồi xếp bằng sát mép vực cheo leo. Các đệ tử cũng chia nhau ngồi xuống hai bên Quỷ Cốc Tử. Thầy trò cùng phóng mắt nhìn ra tứ phía, chỉ thấy núi xa khe gần, ráng mây rực rỡ, rừng cây gió lộng, sương sớm giăng ngang, núi dài trùng điệp, đỉnh nhọn nhấp nhô.
Mọi người nhìn ngắm một hồi, Quỷ Cốc Tử bèn quay sang nhìn Trương Nghi, trầm giọng hỏi: “Trương Nghi, con nhìn thấy gì?”
Trương Nghi đáp: “Hồi bẩm tiên sinh, đệ tử nhìn thấy núi xa!”
“Núi xa như thế nào?”
“Tầng tầng trùng điệp, quanh đỉnh mây vờn, như ẩn như hiện.”
Quỷ Cốc Tử chuyển ánh mắt sang Tô Tần: “Tô Tần, con nhìn thấy gì?”
Tô Tần đáp: “Đệ tử nhìn thấy khe sâu dưới vực.”
“Khe sâu thế nào?”
“Sương sớm giăng che, mờ mờ ảo ảo, đệ tử nhìn không thấy rõ!”
Quỷ Cốc Tử quay sang Ngọc Thiền: “Thiền Nhi, còn con nhìn thấy gì?”
Ngọc Thiền hai mắt khép hờ: “Thiền Nhi nhìn thấy trên đỉnh núi xa có cây thông lớn, dưới khe núi sâu có dòng suối nhỏ.”
Quỷ Cốc Tử gật gù, chuyển ánh mắt sang tiểu đồng: “Tiểu tử, con nhìn thấy gì?”
Tiểu đồng hai mắt nhắm nghiền: “Hồi bẩm tiên sinh, tiểu đồng nhìn thấy rất nhiều rất nhiều điều thú vị.”
Quỷ Cốc Tử mỉm cười: “Tiểu tử quả là có con mắt tinh tường. Nói thử xem có những điều gì thú vị?”
Tiểu đồng vẫn nhắm mắt, chậm rãi nói: “Trên cây thông mà chị Thiền Nhi nhìn thấy có ba con hạc trắng, một con mỏ ngậm cá, hai con còn lại vỗ cánh vươn mỏ, muốn cướp lấy cá. Bên dòng suối dưới khe núi có hai con chim non đang hót ríu rít, nhảy nhót tung tăng. Một con rắn lục ẩn mình trong bãi có gần đó, vươn đầu ngó nghiêng, như sắp lao lên…” Đột nhiên tiểu đồng dừng lại, sắc mặt đăm chiêu.
Trương Nghi, Tô Tần đều sững sờ, hai mắt mở to, kinh ngạc nhìn tiểu đồng.
Trương Nghi thấy tiểu đồng không hề mở mắt, lời nói lại giống như đọc thuộc lòng, bèn kêu ầm lên như thể phát hiện ra trò gian dối: “Đại sư huynh, không nhìn thấy thì bảo không nhìn thấy, lại muốn thêu dệt làm gì?”
Tiểu đồng như thể không nghe thấy, vẫn toàn thần chuyên chú, một lát sau, đột nhiên la lên: “Tiên sinh, con rắn đớp trúng rồi, chim non đang đập cánh phành phạch…”
Trương Nghi bật cười: “Này đại sư huynh càng thêu dệt lại càng hoang đường đấy. Rắn ở đâu kia, cho các sư đệ nhìn với!”
Tiểu đồng vẫn nhắm nghiền hai mắt, song lại đưa tay chỉ xuống vách sâu hun hút: “Ở đó!”
Trương Nghi vươn cổ ra nhìn, chỉ thấy mây trắng giăng kín khe núi, đừng nói là chim non, ngay cả dòng suối mà Ngọc Thiền nhắc đến cũng chẳng thấy đâu, bèn cười ha hả mà nói: “Bên dưới vách núi, ngoài mây mù cũng chỉ có mây mù, làm gì thấy rắn nào đớp chim?”
Quỷ Cốc Tử sắc mặt ôn hoà: “Trương Nghi, con quan sát bằng gì?”
Trương Nghi đáp: “Hồi bẩm tiên sinh, đệ tử quan sát bằng mắt!”
Quỷ Cốc Tử quay sang Ngọc Thiền: “Thiền Nhi, con quan sát bằng gì?”
Ngọc Thiền đáp: “Đệ tử quan sát bằng trực giác!”
Quỷ Cốc Tử lại quay sang tiểu đồng. “Tiểu tử, còn con?”
Tiểu đồng đáp: “Tiểu đồng quan sát bằng tâm!”
Trương Nghi, Tô Tần hết nhìn Ngọc Thiền, lại quay sang nhìn tiểu đồng, đột nhiên hiểu rõ nguyên do, vô cùng khâm phục.
Quỷ Cốc Tử mỉm cười, quay sang Trương Nghi: “Trương Nghi, giờ thì con đã hiểu rồi chứ? Dùng mắt thịt, sẽ nhìn thấy sự vật trước mắt. Dùng trực giác, sẽ nhìn thấy sự vật ngoài tầm mắt. Dùng tâm nhãn, sẽ không gì không thấy!” Rồi chuyển ánh mắt từ Trương Nghi sang Tô Tần, rồi lại chuyển sang Trương Nghi. “Hôm qua chúng ta có nói tới ‘biết thời nhận thế, theo thời dùng thế’, nói theo cách khác, đó chính là quan sát thiên hạ.”
Tô Tần, Trương Nghi bỗng chốc hiểu ra dụng tâm của Quỷ Cốc Tử khi gọi họ lên đỉnh núi chót vót này, lập tức hai mắt mở tròn, chăm chú nhìn Quỷ Cốc Tử không chớp.
Quỷ Cốc Tử dõng dạc nói: “Quan sát thiên hạ, cũng giống như nhìn núi non phía xa kia, nhìn khe núi sâu hút này, không thể chỉ dùng tới mắt, mà còn phải dùng tới trực giác, dùng tới tâm. Quan sát núi xa, không nhất thiết phải leo lên núi; quan sát vực sâu, không nhất thiết phải đi xuống vực. Ngược lại, nếu thực sự đã leo lên núi, đã xuống dưới vực, con sẽ không thể nhìn thấy núi xa, không thể nhìn thấy vực sâu. Giống như chui vào trong rừng rậm, chỉ nhìn thấy cây cối, không thấy được cả khu rừng. Nếu muốn thấy được cả khu rừng, chỉ có cách leo lên đỉnh núi cao, phóng mắt mà nhìn, dùng trực giác mà nhìn, lại dùng tâm mà nhìn.”
Lời Quỷ Cốc Tử chẳng khác gì đề hồ quán đỉnh, khiến Tô Tần, Trương Nghi trong tâm chốc lát đã sáng bừng.
Tô Tần nói: “Đệ tử đã hiểu rồi, thẩm thời độ thế, cần dùng tâm nhãn, không dùng mắt thịt.”
“Đúng vậy!” Quỷ Cốc Tử khẽ gật đầu. “Tâm nhãn cũng gọi là tuệ nhãn. Cái học miệng lưỡi là để thuyết phục thiên hạ. Muốn thuyết phục thiên hạ, cần quan sát thiên hạ. Muốn quan sát thiên hạ, cần hiểu thấu ba đạo thiên, thánh, nhân, phải am hiểu thuật bài hạp. Những gì các con đã học trong bốn năm qua mới chỉ là chút công phu khua môi múa mép, dùng để thuyết phục người, thuyết phục nhà may ra còn được, song thuyết phục nước thì chưa đủ. Nếu lại đem ra thuyết phục thiên hạ, ắt gây trò cười cho người ta.”
Tô Tần, Trương Nghi đưa mắt nhìn nhau.
Một lát sau, Tô Tần hỏi: “Xin hỏi tiên sinh, thế nào là ba đạo thiên, thánh, nhân?”
“Thiên đạo là đạo của tự nhiên, cũng tức là cái lý sinh khắc biến hoá của vạn vật trong vũ trụ. Thánh đạo là đạo của nhân thế, cũng tức là cái lý an bang định quốc, thiên hạ đại đồng. Nhân đạo là đạo của nhân sinh, cũng tức là cái lý an cư lạc nghiệp, đối nhân xử thế. Ba đạo này bổ trợ lẫn nhau, cái này mất thì cái kia cũng mất. Xa thiên đạo thì thánh đạo khốn; xa thánh đạo thì nhân đạo khó.”
Mọi người đều trầm ngâm suy nghĩ.
Một lát sau, Trương Nghi lại hỏi: “Xin hỏi tiên sinh, thế nào là thuật bài hạp?”
“Bài tức là mở, là nói; hạp tức là khép, là im. Thuật bài hạp chính là thuật mở khép, tức thuật mở miệng khép miệng. Học cái học miệng lưỡi, biết mở biết khép là khó nhất.”
Trương Nghi vội hỏi: “Tiên sinh, mở miệng, khép miệng có gì là khó?”
Quỷ Cốc Tử lắc đầu: “Khó chứ! Khó chứ!”
Tô Tần hỏi: “Xin hỏi tiên sinh, khó ở chỗ nào?”
“Khó ở chỗ phải biết lúc nào nên mở miệng, lúc nào nên khép miệng; phải biết lúc nên mở miệng thì mở như thế nào, lúc nên khép miệng thì khép như thế nào. Trong cung đình, một lời nói hợp lòng người, thành công dễ dàng như trở bàn tay; một lời nói sai lầm, đầu lập tức lìa khỏi cổ. Thường có câu, phúc từ miệng vào, hoạ từ miệng ra, chính là đạo lý này.”
Tô Tần ngẩn ra một thoáng, lại hỏi tiếp: “Vậy… thuật mở khép có bí quyết chăng?”
“Nếu muốn hiểu rõ thuật mở khép, trước tiên phải am hiểu đạo mở khép.”
“Thế nào là đạo mở khép?”
“Đạo mở khép, cũng tức là ba đạo thiên, thánh, nhân, chính là cái lý biến hoá âm dương của vạn vật trong vũ trụ. Bất cứ sự vật nào, đều không tách rời mở khép, cũng đều có thể phân tích theo đạo mở khép. Dương là mở, âm là khép; ngày là mở, đêm là khép; khởi đầu là mở, kết thúc là khép; thiện là mở, ác là khép; xuân hạ là mở, thu đông là khép; trăng tròn là mở, trăng khuyết là khép; hướng lên là mở, hướng xuống là khép; trường sinh, phú quý, vinh hoa, an lạc, lợi ích, hy vọng là mở, chết chóc, nghèo khổ, huỷ hoại, đau khổ, tổn thất là khép…”
“Tiên sinh,” Ngọc Thiền ngẩng đầu lên, nhìn Quỷ Cốc Tử như có điều nghĩ ngợi, “nếu nói như vậy, liệu có phải phàm những thứ liên quan tới sinh đều là mở, những thứ liên quan tới chết đều là khép?”
Quỷ Cốc Tử khẽ gật đầu: “Cũng có nghĩa này, song đạo mở khép không chỉ dừng lại ở đây. Các con chỉ có từ từ thể ngộ, mới có thể lĩnh ngộ được cái lý vi diệu trong đó.”
Trương Nghi lại hỏi: “Đạo mở khép cụ thể ở trong cái học miệng lưỡi, có quy luật nào chăng?”
“Đương nhiên là có!” Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói. “Đạo mở khép tuân theo quy luật biến hoá âm dương. Vạn vật hoặc mở hoặc khép, hoặc trong khép có mở, hoặc trong mở có khép. Cụ thể trong cái học miệng lưỡi, quy luật trong đó là, phàm những mưu kế dẫn đến thành công đều gọi là mở, phàm những mưu kế dẫn đến thất bại đều gọi là khép.”
Trương Nghi lập tức tỏ ngộ: “Lời của tiên sinh đã giúp đệ tử vén đám mây mù!”
“Học cái học miệng lưỡi, đạo mở khép cũng giống như một cánh cửa lớn, chỉ khi các con bước qua cánh cửa đó, mới lĩnh ngộ được sự diệu kỳ trong đó, mới nắm bắt được thời cơ mở khép, mới biết lúc nào nên mở miệng, lúc nào nên khép miệng, mới biết lúc cần mở miệng thì mở như thế nào, lúc cần khép miệng thì khép như thế nào.”
Tô Tần, Trương Nghi đều thán phục, nói: “Đệ tử xin thụ giáo!”
Từ sau khi nghe Quỷ Cốc Tử giảng giải về đạo mở khép trên đỉnh Hầu Vọng, Tô Tần và Trương Nghi không còn nhắc tới chuyện xuống núi nữa, ngày đêm ở trong sơn cốc chuyên tâm đọc sách, suy ngẫm, cảm ngộ. Mỗi khi ngộ ra một điều, hai người lại cùng bàn luận, tiến bộ ngày một nhanh chóng. Vài tháng sau đó, hai người đã biết cách dùng trực giác quan sát giống như Ngọc Thiền. Lại qua vài tháng nữa, họ cũng đã theo kịp tiểu đồng, có thể dùng tâm nhãn xét đoán sự vật.
Thời gian thấm thoắt thoi đưa, thoáng cái đã tới giữa thu, gió Bắc từng đợt tràn về mang theo hơi giá rét, thổi hồng từng vạt rừng thu. Lá thu rơi rụng tơi bời, những cánh rừng trong khe Quỷ Cốc, cây cối phần nhiều đã thành trơ trụi.
Buổi trưa hôm nay, Ngọc Thiền đang đọc sách trong thảo đường, một làn gió lạnh bất ngờ thốc tung cửa phòng, ào vào bên trong. Ngọc Thiền rùng mình ớn lạnh, bèn đứng dậy ra đóng cửa lại, lấy thanh gỗ chống chặt, rồi trở vào khuê phòng trong động, mở hòm quần áo, lấy ra một tấm áo ấm mùa thu khoác lên người.
Ngọc Thiền trở lại thảo đường, đang định ngồi xuống, bỗng nghe tiếng chim nhạn vọng xuống tự ngang trời.
Một chuyện xa xưa bỗng dưng sống lại, trong lòng Ngọc Thiền bỗng quặn thắt tựa như bị ai đó vặn ngang, rảo vội vài bước đã tới bên cửa, mở toang cánh cửa, chạy ra bãi có bên ngoài.
Ngọc Thiền dõi mắt nhìn lên, chỉ thấy muôn dặm trời trong điểm xuyết vài vệt mây trắng, một đàn chim nhạn đang lướt qua đầu, xếp thành hình chữ “nhân” băng qua Quỷ Cốc. Lời nói của Cơ Tuyết hôm nào lại văng vẳng bên tai theo từng tiếng nhạn: “Vũ Nhi, đất Yên xa xôi, chị đi lần này, e rằng khó có ngày trở lại. Khi nhớ đến em, chị sẽ gửi tâm sự cho chim nhạn. Chim nhạn biết giữ lời hứa, hẳn sẽ chuyển lời chị đến cho em. Vũ Nhi, khi mùa thu đến, nếu nhìn thấy chim nhạn bay về phương nam, em hãy để tâm lắng nghe…”
Ngọc Thiền đang chìm trong hồi tưởng, bầy nhạn đã lướt qua đầu, bay về đỉnh núi Nam Sơn. Ngọc Thiền đuổi theo vài bước, mắt nhìn hút vào đàn chim khuất dần sau núi. Tiếng chim cũng xa dần, không còn nghe thấy nữa.
Sơn cốc lại trở về tĩnh lặng.
Nước mắt Ngọc Thiền bất giác tuôn trào. Đang lúc buồn thương, lại có hai đàn chim nhạn từ phương bắc bay lại, kêu vang từng đợt, lướt vội qua đầu. Ngọc Thiền phấn chấn trở lại, hai mắt chăm chú dõi nhìn không chớp, cho tới khi chúng lại biến mất sau ngọn núi Nam Sơn.
Lại đợi thêm một chốc nữa, thấy không còn đàn chim nhạn nào bay qua, Ngọc Thiền mới khẽ thở dài, quay trở vào thảo đường, mang hộp đàn ra, lấy ra cây thất huyền cầm mà Cơ Tuyết đã tặng trong ngày ly biệt, khẽ đưa tay vuốt ve.
Ngọc Thiền tay vỗ phím đàn, nước mắt lã chã như mưa, nghẹn ngào nói: “Chị ơi, Vũ Nhi đã nhìn thấy chim nhạn bay về, chúng nhắn với Vũ Nhi rằng, chúng đã nhìn thấy chị. Chúng nhìn thấy chị đứng trước mặt chúng, song chị chỉ nhìn chúng mà chẳng nói câu gì… chẳng nói câu gì… Chị ơi, chị có tâm sự trong lòng, tại sao không nói với Vũ Nhi? Chị ơi… Vũ Nhi rất nhớ chị!”
Ngọc Thiền khóc thương một hồi, rồi chậm rãi đứng dậy, ôm đàn bước khỏi phòng, đi ra bãi cỏ, chụm gối ngồi xuống, quay nhìn về hướng bắc, tay khẽ lướt trên dây đàn.
Một cơn gió thổi qua. Một phiến lá thu chao xuống, rơi trên mặt phím, rồi lại mau chóng bị một cơn gió khác cuốn bay đi.
Tiếng đàn ban đầu trầm nặng, nghe như những tiếng nghẹn ngào. Sau đó lại như mưa dông gió giật, rồi lại như tiếng nhạn thê lương, tiếng nước róc rách, nỉ non thì thầm. Cuối cùng như mây nhẹ lướt qua, để lại một bầu câm lặng.
Bên khe suối cách đó chừng hai trăm bước, Tô Tần và Trương Nghi đang ngồi kề vai im lặng trên một tảng đá lớn, nhắm mắt ngưng thần, chuyên chú lắng nghe tiếng đàn của Ngọc Thiền.
Quỷ Cốc Tử và tiểu đồng tản bộ trở về, nhìn thấy hai người, bèn bước lại gần. Tô Tần cảm thấy có người đến, vội mở mắt ra, nhìn thấy Quỷ Cốc Tử thì quay người định vái lạy, song Quỷ Cốc Tử đã giơ tay ngăn lại. Trương Nghi hoàn toàn chìm đắm trong tiếng đàn của Ngọc Thiền, hai hàng nước mắt lặng lẽ lăn dài, nhỏ giọt lên phiến đá.
Quỷ Cốc Tử bước lên phiến đá, khoanh gối ngồi xuống. Trương Nghi lúc này mới phát giác ra, giật mình kinh ngạc, vội đưa ống tay áo lên lau nước mắt, ngồi ngay ngắn lại.
Quỷ Cốc Tử nhìn Trương Nghi: “Trương Nghi, con đang nghe gì thế?”
Trương Nghi đáp: “Hồi bẩm tiên sinh, đệ tử đang nghe sư tỷ gảy đàn.”
“Tiếng đàn thế nào?”
“Cảm động tâm can, khiến người rơi lệ. Đệ tử từng nghe đàn vô số, song duy chỉ có tiếng đàn hôm nay khiến đệ tử rung động trong tâm.”
“Đúng vậy!” Quỷ Cốc Tử gật đầu nói. “Lão hủ đã thấy rồi.” Quay sang Tô Tần. “Tô Tần, con cũng đang nghe Thiền Nhi gảy đàn ư?”
Tô Tần đáp: “Vâng, thưa tiên sinh.”
“Tiếng đàn thế nào?”
“Như khóc than, như tâm tình!”
“Ồ?” Quỷ Cốc Tử ngẩng đầu. “Có nghe thấy Thiền Nhi khóc than gì, tâm tình gì không?”
Tô Tần lắc đầu: “Đệ tử không nghe ra!”
“Ồ!” Quỷ Cốc Tử khen ngợi. “Con có thể nghe được như thế, đã tốt lắm rồi!”
Trương Nghi trong lòng chấn động, vội vã hỏi: “Dám hỏi tiên sinh, sư tỷ đang tâm tình gì vậy?”
Quỷ Cốc Tử quay sang tiểu đồng: “Tiểu tử, con thử nói xem, chị Thiền Nhi của con đang tâm tình những gì?”
Tiểu đồng đang nhắm mắt lắng nghe, thấy Quỷ Cốc Tử hỏi vậy, không hề quay đầu lại, lập tức trả lời ngay: “Hồi bẩm tiên sinh, chị Thiền Nhi đang tâm tình cùng chim nhạn!”
“Chim nhạn?” Trương Nghi ngẩn người, rồi đột nhiên hiểu ra, gật gù thán phục. “Đúng vậy, đại sư huynh nói rất đúng! Vừa rồi sư tỷ nhìn thấy chim nhạn bay về phương nam, mới mang đàn ra gảy.”
Quỷ Cốc Tử không để ý tới Trương Nghi, lại hỏi tiểu đồng: “Chị Thiền Nhi của con tâm sự gì với chim nhạn?”
Tiểu đồng lắng nghe một chốc, rồi lắc đầu.
Trương Nghi vội hỏi: “Tiên sinh đã nghe ra Thiền Nhi đang nói gì phải không?”
“Đúng vậy!” Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói. “Thiền Nhi đang chất vấn chim nhạn cớ sao lại thất tín, cớ sao không mang giúp thứ cần mang tới nơi.”
“Thứ cần mang?” Trương Nghi ngẩn người. “Xin hỏi tiên sinh, chim nhạn có thể mang giúp vật gì?”
Quỷ Cốc Tử đưa mắt nhìn Trương Nghi: “Nếu con quan tâm tới chuyện này, tốt nhất hãy hỏi Thiền Nhi!”
Trương Nghi biết tiên sinh đã thấu tỏ tâm tư của mình, mặt nóng bừng, vội vàng cúi gằm đầu xuống.
“Tiên sinh!” Tô Tần lên tiếng giải vây. “Tinh tế đến độ này, liệu đệ tử có thể nghe hiểu được chăng?”
Quỷ Cốc Tử trả lời: “Chỉ cần dùng tâm, tự khắc sẽ hiểu.”
“Dùng tâm như thế nào?”
“Lấy tâm so tâm, tâm tâm tương thông!”
“Làm thế nào mới đạt đến độ tâm tâm tương thông?”
“Tâm của con người thông thẳng đến tình, ý. Muốn hiểu được tâm của người khác, cần phải suy đoán tình, ý của người khác. Nghe tiếng đàn, đoán được tình, suy được ý, tự khắc thông tỏ được tâm của người.”
Tô Tần lẩm nhẩm trong miệng: “Đoán được tình, suy được ý, tự khắc thông tỏ được tâm của người.”
“Đúng vậy!” Quỷ Cốc Tử lại khẳng định. “Đây là thuật suy đoán. Thuật mở khép muôn hình vạn trạng, trước hết cần biết suy đoán.”
Trương Nghi đã nhận ra tiên sinh muốn nhân cơ hội này để truyền thụ, lập tức tinh thần phấn chấn, mở to hai mắt: “Xin hỏi tiên sinh, thế nào là đoán tình?”
Quỷ Cốc Tử thong thả nói: “Đoán tình tức là phán đoán lòng người khác. ‘Thi’ có câu: ‘Người khác có lòng, ta lường đoán được’, chính là nói đến đoán tình. Nếu phán đoán người, cần xem lời nói, nhìn sắc mặt, nghe giọng nói, quan sát hành vi, sau đó suy đoán về suy nghĩ trong lòng người đó. Nếu phán đoán thiên hạ, cần thấu hiểu tình thế đất nước, xem nước đó có tài vật hay không, dân chúng nhiều hay ít, địa hình hiểm trở hay bằng phẳng, quân lực mạnh hay yếu, quân thần hiền hay ngu, thiên thời phúc hay hoạ, lòng dân hướng về hay phản đối, sau đó mới suy đoán được vận nước là thịnh hay suy, là hưng hay vong.”
Quỷ Cốc Tử cứ từ việc này suy ra việc khác, suy cho đến phán đoán thiên hạ. Tô Tần và Trương Nghi như được đọc sách trời, nghe đến ngẩn ngơ. Ngẫm nghĩ một hồi, Tô Tần bèn hỏi: “Xin hỏi tiên sinh, thế nào là suy ý?”
“Suy ý chính là nhân theo sở thích của người khác, dụ họ bộc lộ tâm tình. Chẳng hạn, đối phương liêm khiết, nếu thuyết phục bằng chính trực, người này ắt vui, vui ắt phát tiết tình cảm. Đối phương tham lam, nếu kết giao bằng tiền bạc, người này ắt thích, thích ắt phát tiết tình cảm. Đối phương hiếu sắc, nếu dụ dỗ bằng sắc đẹp, người này ắt mừng, mừng ắt phát tiết tình cảm. Người giỏi suy ý, như tới vực nước sâu câu cá, chỉ cần dùng mồi thích hợp, cá tất cắn câu.”
Tô Tần, Trương Nghi lại trầm ngâm suy nghĩ.
Quỷ Cốc Tử thấy hai đệ tử đã suy nghĩ chuyên tâm, bèn chậm rãi đứng dậy: “Học cái học miệng lưỡi, không biết đoán tình suy ý, chẳng khác gì điếc lác đui mù, nếu muốn thành công, rất khó!”
Tô Tần và Trương Nghi đứng dậy, bái lạy mà nói: “Đệ tử xin ghi nhớ lời dạy của tiên sinh, dốc lòng thể ngộ!”
Nhìn theo bóng Quỷ Cốc Tử và tiểu đồng xa dần, Trương Nghi quay đầu lại nhìn Tô Tần, vẻ mặt nghiêm túc: “Tô huynh, huynh thử nói xem, trong bụng tiên sinh có bao nhiêu bảo bối, đáng lẽ nên dốc toàn bộ ra mới phải. Vậy mà mỗi lần chỉ được chút đỉnh, khiến chúng ta cứ phải suy nghĩ, đoán già đoán non cả ngày trời.”
Tô Tần bật cười: “Hiền đệ, sức chứa của chúng ta có hạn, nếu tiên sinh dốc bầu toàn bộ, liệu chúng ta có chứa đựng nổi không?”
“Tô huynh nói rất phải!” Trương Nghi cũng cười. “Tiên sinh làm như vậy, hôm nay một chút, ngày mai một xíu, chính là để chúng ta từ từ thể ngộ.” Dừng lại một lát, lại hỏi tiếp. “Mà này, đệ hỏi huynh, về thuật đoán và suy của ngày hôm nay, huynh có cảm ngộ gì?”
“Còn chưa suy nghĩ kỹ càng, nói gì đến cảm ngộ?”
“Đệ vừa nghĩ tới một chuyện, sao chúng ta không luyện tập thử xem, không chừng sẽ ngộ ra được!”
Tô Tần cười nói: “Hiền đệ nghĩ tới chuyện gì vậy?”
“Sư tỷ!” Trương Nghi thoáng do dự, rồi cố làm ra bộ thản nhiên. “Vừa rồi tiên sinh nói, sư tỷ chất vấn chim nhạn cớ sao không mang giúp vật cần mang tới, hẳn là sư tỷ đang nhớ nhung ai đó. Tô huynh thử suy đoán xem, sư tỷ đang nhớ tới ai?”
Tô Tần xua tay: “Nếu suy đoán về người khác, huynh còn có thể. Song nếu suy đoán về sư tỷ, huynh đương nhiên không thể bằng hiền đệ!”
“Tô huynh bất tất phải khiêm nhường!” Trương Nghi giọng đầy ẩn ý. “Ở trong sơn cốc này, ngoài tiên sinh ra, người thực sự thấu hiểu sư tỷ, chẳng phải là Tô huynh ư? Ví như vừa rồi, sư tỷ gảy đàn, đệ nghe thấy chẳng qua chỉ là tiếng đàn, còn Tô huynh nghe thấy lại là tiếng lòng. Chỉ tính riêng điểm này, đệ đã phục huynh sát đất!”
“Hiền đệ quá khen!” Tô Tần cười nói. “Kỳ thực, tiếng lòng của sư tỷ, hiền đệ sớm đã suy đoán ra rồi, chẳng qua là biết mà vờ như không biết mà thôi!”
“Tô huynh nói đùa rồi!” Trương Nghi cũng cười. “Nếu đệ đã hiểu, hà tất phải hỏi tiên sinh làm gì, để bị mọi người cười trêu?”
“Hiền đệ nghe tiếng đàn, trong lòng rung động, nước mắt đầm đìa. Nếu không phải là lấy tâm so tâm, tâm tâm tương thông, sao có thể được như vậy?”
Trương Nghi nghe Tô Tần nói vậy, liền vòng hai tay, cười mà nói: “Tâm sự của đệ, thực không giấu nổi Tô huynh!”
Đêm đó, Trương Nghi nằm trên giường, trằn trọc không tài nào ngủ được. Liên tưởng tới câu “Mơ nàng chẳng gặp, trằn trọc bâng khuâng”(1) trong thiên mở đầu của “Thi”, bỗng nhiên cũng như đồng điệu với mối cảm xúc của người xưa. So sánh một hồi, Trương Nghi tưởng như lời cảm thán của người xưa là viết cho mình hiện tại.
Trương Nghi khẽ thở dài một tiếng, khoác áo xuống giường, đẩy cửa bước ra ngoài.
Đang là đêm giữa thu, trăng tròn vành vạnh như tấm gương lơ lửng giữa trời. Trương Nghi bước tới bãi cỏ bên ngoài, ngửa mặt nằm xuống, mắt nhìn không chớp vào vầng trăng thu, lại nhìn từng đám mây nhàn nhạt lững lờ trôi đến bên trăng, rồi lại chậm rãi trôi đi, lúc một xa dần.
Ngắm mãi, ngắm mãi, trong vầng trăng sáng dường như có thứ gì đang chuyển động. Trương Nghi dụi mắt, định thần nhìn kỹ, thì ra là Ngọc Thiền. Ngọc Thiền thân khoác tấm sa trắng bạch, tư thái thanh tao, từ trăng bay xuống, khoan thai đi về phía Trương Nghi. Không phải đi, mà là lướt tới, bởi lẽ nàng nhẹ thênh thênh như một phiến lá chao theo gió.
Ngọc Thiền cứ bay, bay mãi, bay thẳng về phía Trương Nghi. Khi sắp sửa tới trước mặt Trương Nghi, thì đột nhiên dừng lại, quay nghiêng thân người, từ từ buông lơi tấm sa trắng muốt trên cơ thể. Ánh trăng lạnh lẽo chảy nghiêng, tràn trề trên trên tấm thân trinh nguyên tuyệt mỹ tựa thiên tiên, nuột nà như mây trắng.
Trương Nghi vội vàng nhắm mắt lại. Đúng lúc đó, bên tai hắn lại văng vẳng giọng nói lạnh lùng của Ngọc Thiền: “Các vị sĩ tử, từ khi đặt chân tới sơn cốc này, từ khi theo tiên sinh bước lên con đường cầu đạo, tâm của Thiền Nhi đã giao cho đại đạo, không còn thuộc về Thiền Nhi nữa. Thứ thuộc về Thiền Nhi chỉ là cái xác thân này. Nếu vị sĩ tử nào mê đắm với xác thân này, Thiền Nhi tình nguyện dâng hiến. Các vị sĩ tử, Thiền Nhi đang nói thực lòng. Nếu các vị thực sự có thể trở thành anh hùng, nếu các vị thực sự có thể cứu được thời loạn, nếu các vị thực sự có thể cứu vớt bách tính thoát khỏi lầm than, nếu các vị thực sự có thể vì thế mà ngộ đạo, cho dù có nuốt chửng cả tấm thân của Thiền Nhi, Thiền Nhi cũng có gì đáng tiếc!”
Trương Nghi đột nhiên rùng mình ớn lạnh, ngồi phắt dậy, liên tục dụi mắt. Ngọc Thiền đã biến mất, trước mắt chẳng thấy một ai, vẫn chỉ một vầng trăng tròn vành vạnh lơ lửng giữa trời. Bên tai cũng không còn nghe tiếng nói, chỉ còn tiếng gió thu lạnh lẽo xao xác thổi qua.
Trương Nghi nhận ra mình vừa mới thất thần, cười gượng một tiếng, than thầm: “Than ôi, Trương Nghi ta từ lúc sinh ra, ngoài mẫu thân, chưa từng yêu mến một người con gái nào, duy chỉ có sư tỷ khiến ta mộng hồn quanh quẩn. Thế nhưng… hoa rơi hữu ý, nước chảy vô tình, suốt mấy năm qua, sư tỷ lại dường như…”. Nghĩ tới đây, lại thở dài sườn sượt: “Than ôi, tâm ý của ta, Thiền Nhi liệu có thấu chăng? Nếu tâm nàng thực sự đã giao phó cho đại đạo, chắc chắn sẽ không rung động vì tình. Nàng không rung động vì tình, cho dù ta có phơi bày cả tấm chân tình với nàng, cũng vô ích mà thôi!”
Lại buồn bã suy tư hồi lâu, Trương Nghi đột nhiên nảy ra một ý: “Ồ, phải rồi! Hôm nay tiên sinh vừa dạy thuật suy đoán, vì sao ta không dùng thử xem sao? Đợi ta tìm được cơ duyên, sẽ dùng lời nói để dẫn dụ nàng, xem liệu có phải nàng đã thực sự đoạn tuyệt tơ tình hay chưa? Nếu tơ tình vẫn còn, ta bày tỏ tấm chân tình với nàng cũng chưa muộn”.
Chưa đầy vài ngày sau, cơ duyên quả thực đã tới.
Sáng sớm hôm nay, Trương Nghi ra suối tắm rửa, lúc trở về, đi ngang qua trước cửa thảo đường, nhìn thấy tiểu đồng đang sắp xếp mấy vật dụng như xẻng sắt, sọt trúc, thì vội bước lại gần, đứng nhìn hồi lâu, rồi cười hỏi: “Đại sư huynh đang bận rộn gì thế?”
Tiểu đồng đáp: “Thời tiết giữa thu rất thích hợp để hái thảo dược, sư huynh sắp cùng chị Thiền Nhi lên núi!”
“Ồ?” Trương Nghi chợt nảy ra một ý hay. “Lúc nào xuất phát?”
Tiểu đồng ngước nhìn mặt trời: “Hiện giờ sương quá nhiều, xem ra phải đợi thêm nửa canh giờ nữa.”
“Dám hỏi đại sư huynh, hai người định lên núi nào?” Trương Nghi nhân tiện hỏi luôn.
“Đỉnh Hầu Vọng.” Tiểu đồng chỉ tay về phía xa. “Thảo dược ở đó, dược tính tốt nhất!”
Dừng lại một thoáng, chợt đưa mắt nhìn Trương Nghi. “Mà sư đệ hỏi làm gì vậy?”
“Là thế này!” Trương Nghi cười nói. “Sư đệ đang nghĩ, sư huynh cùng sư tỷ phải đi xa như vậy để hái thảo dược, muốn hái được nhiều, phải cần đến một đôi chân khoẻ.”
“Đệ muốn đi thì cứ nói thẳng ra, hà cớ phải vòng vo xa gần?” Tiểu đồng châm chọc.
“Phải, phải, phải!” Trương Nghi vội vàng thú thực. “Không giấu sư huynh, mấy ngày qua sư đệ từ sáng tới tối ngồi không, hai chân tê cứng, muốn được cùng sư huynh đi một chuyến, một là để vận động đôi chân, hai là học thêm chút kiến thức từ sư huynh.”
Tiểu đồng cười nói: “Chỉ cần nghe miệng lưỡi dẻo quẹo của đệ, sư huynh ta đã đồng ý rồi! Đệ hãy tìm lấy một con dao cật tre, mang thêm một cây gậy dài, qua hai khắc nữa, đến đây đợi ta!”
Trương Nghi “vâng” một tiếng, hấp tấp trở về nhà cỏ. Hai khắc sau, Trương Nghi mang theo dao cật tre và gậy dài quay trở lại thảo đường, từ xa đã thấy Ngọc Thiền địu sọt trúc trên lưng, đang cùng tiểu đồng cất bước trên con đường mòn. Trương Nghi vội vàng sải bước đuổi theo.
Ngọc Thiền nghe thấy tiếng chân theo sau, bèn ngoảnh lại nhìn, rồi khẽ chau mày, hỏi tiểu đồng: “Hắn tới làm gì thế?”
Tiểu đồng cười nói: “Là tiểu đồng bảo hắn tới. Buổi chiều hái thảo dược trở về, cũng có người cõng giúp.”
Ngọc Thiền phì cười, nói: “Hắn muốn cõng, thì cho hắn cõng luôn!” Nói đoạn, tháo ngay sọt trúc trên lưng xuống, đứng đợi ở ven đường.
Trương Nghi chạy tới, nhìn thấy sọt trúc đặt ở vệ đường, lại thấy Ngọc Thiền mỉm cười đứng đợi, trong lòng mừng rỡ, chẳng nói chẳng rằng, bỏ dao cật tre vào trong sọt, đưa gậy gỗ cho Ngọc Thiền, cười hì hì mà nói: “Sư tỷ hãy cầm lấy thứ này mà xung trận, ngộ nhỡ gặp con mèo rừng nào xồ ra, cái mạng nhỏ bé này của sư đệ xin cậy nhờ cả vào sư tỷ!”
Ngọc Thiền nhận lấy cây gậy, cười nói: “Đừng có bẻm mép, tiết kiệm sức đi, buổi chiều sẽ mệt đấy!” Nói xong, xăm xăm đi lên đầu.
“Ồ, vâng!” Trương Nghi vui vẻ đáp, cảm thấy xương cốt toàn thân không chỗ nào không thư thái.
Ba người cười nói vui vẻ, không đầy hai canh giờ sau đã lên tới đỉnh Hầu Vọng.
Đỉnh Hầu Vọng tuy hiểm trở, song mấy năm qua, ba người đều đã thông thạo đường đi lối lại nơi đây. Dù là Trương Nghi, cũng không còn sợ hãi như lần đầu leo núi nữa. Đặc biệt là hôm nay, trời trong vạn dặm, gió thu mát lành, lại thêm người trong mộng ở ngay bên cạnh.
Giữa thu là lúc thảo dược chín rộ, đỉnh Hầu Vọng càng là nơi thảo dược phong phú, chỉ mới đi vài bước, đã thấy có thảo dược quý bày ngay trước mắt. Tiểu đồng và Ngọc Thiền đều rất giỏi nhận biết cây thuốc, mới quá trưa, sọt trúc trên lưng Trương Nghi đã đựng kha khá. Do có người cõng sọt, tiểu đồng cũng không hề khách khí, hễ nhìn thấy thảo dược tốt, lập tức sục xẻng đào lên, khiến sọt trúc trên lưng Trương Nghi chốc lát đã được lưng lửng.
Tiểu đồng giơ chân lèn chặt xuống, cười khanh khách mà nói: “Hôm nay đẹp trời, hãy đi vòng qua mỏm núi này, ở đằng kia còn có mấy vị thuốc quý nữa. Sư huynh đã nhắm sẵn từ năm ngoái, song không nỡ đào, năm nay hẳn cũng lớn rồi. Trương sư đệ, chớ than nhiều đấy nhé!”
“Sư huynh cứ đào đi!” Trương Nghi cười toe toét. “Không giấu sư huynh, sư đệ đã tích luỹ sức lực suốt mấy năm qua, mà chưa được sử dụng lấy một lần. Đừng nói là vài cây thảo dược, dù sư huynh có ngồi vào trong sọt, sư đệ cũng có thể cõng huynh về!”
“Hay lắm, là đệ nói đấy nhé!” Tiểu đồng lập tức cầm xẻng, phăm phăm chạy lên phía trước.
Thảo dược mùa thu đa phần là rễ, củ, lại thêm tiểu đồng lèn rất chặt, bởi vậy tuy mới hơn nửa sọt, song đã khá nặng. Hai người đuổi theo tiểu đồng chưa được bao xa, Ngọc Thiền đã thấy mồ hôi lấm tấm trên trán Trương Nghi.
Ngọc Thiền lấy ra mảnh khăn lụa từ trong tay áo, đưa cho Trương Nghi, nói: “Trương sĩ tử, vã mồ hôi rồi mà vẫn còn nói bướng. Này, lau đi!”
Trương Nghi mắt nhìn Ngọc Thiền chứa chan tình ý, cầm lấy khăn lụa, đưa lên bên mũi, hít hà vài cái, rồi trả lại cho Ngọc Thiền, lời đầy ẩn ý: “Khăn lụa của sư tỷ thơm tho thế này, nếu mang lau mồ hôi hôi hám của Trương Nghi, chẳng phải sẽ dơ bẩn mất ư?”
Ngọc Thiền chẳng nói chẳng rằng, lập tức đưa khăn lên lau mồ hôi giúp Trương Nghi, trách mắng: “Thơm với hôi cái gì? Khăn là thứ dùng để lau mồ hôi, sĩ tử cứ quá câu nệ thế này, sắp theo kịp Tô sĩ tử rồi đấy!”
Trong lòng Trương Nghi bỗng trào dâng một niềm cảm động khó tả, giọng cũng run lên, gọi khẽ: “Thiền Nhi!”
Ngọc Thiền ngạc nhiên nhìn Trương Nghi: “Ồ, Trương sĩ tử, sĩ tử làm sao vậy, giọng nói nghe lạ quá!”
Nhìn vẻ thuần chân của Ngọc Thiền, Trương Nghi đành phải gắng gượng cầm lòng, quay mặt đi, nói khẽ: “Không sao, họng hơi khô thôi!”
Ngọc Thiền liền tháo bầu nước trên người xuống, mở nắp ra, đưa cho Trương Nghi, nói: “Trương sĩ tử, uống chút nước đi, sẽ dễ chịu hơn đấy!”
Trương Nghi cầm lấy bầu nước, uống ừng ực liền mấy ngụm, rồi đưa ống tay áo lên lau miệng, cười nói: “Dễ chịu hơn rồi, sư tỷ!”
Ngọc Thiền nhìn về phía trước, vội giục: “Trương sĩ tử, mau đi thôi, tiểu đồng không biết đâu mất rồi!”
Trương Nghi đưa mắt nhìn Ngọc Thiền, miệng cười cười, nửa đùa nửa thật: “Sư tỷ, nếu đúng là tiểu đồng đã đi mất, ở đây sẽ chẳng còn ai khác, chỉ còn lại đệ và sư tỷ!”
Ngọc Thiền chau mày: “Vậy thì không được rồi!”
“Ồ?” Trương Nghi lòng chùng xuống, vội hỏi. “Tại sao lại không được?”
Ngọc Thiền cười nói: “Ta và sĩ tử có hai người, tiểu đồng chỉ có một mình!” Rồi sải bước nhanh hơn. “Mau lên, hai ta phải đi nhanh hơn một chút!”
Nghe thấy lời này, Trương Nhi bỗng nảy ra một ý, vội bước lên một bước, cố tình gặng hỏi: “Sư tỷ, hai ta sao cơ, Trương Nghi chưa nghe rõ!”
Ngọc Thiền lừ mắt nhìn Trương Nghi: “Không nghe rõ thì thôi!”
“Chà chà!” Trương Nghi nghĩ bụng. “Hai ta…. thực là hay… lời này của Thiền Nhi hẳn là có thâm ý, xem ra hẳn là dấu hiệu tốt lành! Chốc nữa ta lại kiếm lời thăm dò nàng mới được”. Đuổi theo vài bước, lại ngập ngừng cất lời. “Sư tỷ, nếu như…”
Ngọc Thiền dừng bước, ngoảnh đầu nhìn Trương Nghi: “Nếu như gì cơ?”
Trương Nghi ấp úng: “Nếu như… nếu như… thế gian này không có tiểu đồng, không có tiên sinh, không có Tô huynh, cũng không có bất cứ ai khác, chỉ có một mình sư tỷ, sống đơn độc trong núi Vân Mộng này, sư tỷ… sư tỷ sẽ thế nào?”
Ngọc Thiền phì cười hỏi: “Tại sao Trương sĩ tử lại hỏi như vậy?”
“Sư tỷ còn chưa trả lời kia mà!”
“Ta ư, ta phải suy nghĩ chút đã! Nếu thế gian này chỉ có một mình Thiền Nhi, thì…. trời ơi, Thiền Nhi… Thiền Nhi sẽ hoá điên mất!”
Trương Nghi mừng thầm trong bụng, gật đầu lia lịa: “Phải rồi, phải rồi, dù là ai cũng sẽ hoá điên thôi!” Dừng lại một lát. “Sư tỷ này, sư đệ còn một câu hỏi nữa, nếu có thêm một người làm bạn cùng sư tỷ thì sao?”
Ngọc Thiền lại bật cười mà nói: “Ồ, thế thì còn đỡ. Có điều, Thiền Nhi phải xem người này là ai đã!”
Nghe thấy lời này, hai mắt Trương Nghi sáng rực, miệng nở toe toét, cười ngây ngô mãi không thôi, bộ dạng hệt như vừa vớ được một món bảo bối vô giá. Nhìn thấy vẻ hưng phấn của Trương Nghi, Ngọc Thiền cảm thấy khó hiểu, đang định hỏi xem hắn đang cười gì, bỗng nghe tiếng tiểu đồng gọi toáng lên, vội ngẩng đầu nhìn về phía đó, thấy tiểu đồng đang đứng ở tít đằng xa vẫy tay rối rít, thì quên phắt luôn chuyện này, vội vã rảo bước tiến lại gần.
Trương Nghi đi theo sau, vừa đưa mắt nhìn, thì cha chả, trước mặt tiểu đồng là cả một vạt hà thủ ô lớn. Nếu như đào hết toàn bộ, chí ít cũng phải vài chục cân!
Thăm dò được Ngọc Thiền vẫn chưa đoạn tuyệt trần duyên, Trương Nghi trong lòng phơi phới như con diều chao liệng trong tiết xuân trăm hoa đua nở, dù đang cõng trên lưng sọt thuốc nặng tới mấy chục cân, song bước đi vẫn nhẹ tênh tênh, bàn chân tưởng chừng không bén đất.
Đêm hôm đó, tuy cơ thể rã rời, song Trương Nghi vui mừng khó tả, nằm trên giường mà lăn qua lăn lại, trăn trở tới tận nửa đêm, vẫn không tài nào chợp mắt, lại mở cửa đi ra ngoài, ngồi xếp bằng trên bãi có dưới ánh trăng.
Trương Nghi không ngắm trăng, mà khép hờ hai mắt, từ từ hồi tưởng về quá khứ. Bắt đầu từ Chu thất ở Lạc Dương, cho đến những năm tháng trong Quỷ Cốc, sau cùng mới hồi tưởng đến giờ khắc tối quan trọng, bên tai lại như văng vẳng giọng nói của Ngọc Thiền: “Ta ư, ta phải suy nghĩ chút đã! Nếu thế gian này chỉ có một mình Thiền Nhi, thì…. trời ơi, Thiền Nhi… Thiền Nhi sẽ hoá điên mất!… Ồ, thế thì còn đỡ, có điều, Thiền Nhi phải xem người này là ai đã!”
Trương Nghi bất chợt ngẩn người, nhủ thầm trong dạ: “Phải rồi, ngoài ta ra, người này còn có thể là ai được nhỉ? Là tiên sinh ư? Nếu là tiên sinh, cho thấy Ngọc Thiền tâm không vướng bụi trần, không phù hợp với ý tứ buổi ban ngày, bởi lẽ người tu đạo, trong lòng chỉ có đạo tâm trời đất, tuyệt đối sẽ không thể nói rằng mình sẽ hoá điên nếu như phải cô độc. Nếu không phải tiên sinh, sẽ là ai đây? Bàng Quyên, Tôn Tẫn? Không phải! Tô Tần? Tuyệt đối không thể! Chu thiên tử? Cũng không thể. Lẽ nào là Cơ Tuyết?”
Trước mặt Trương Nghi bỗng hiện lên khuôn mặt của Cơ Tuyết. Hắn trầm ngâm hồi lâu, rồi lắc đầu nhủ thầm: “Tuyệt đối không thể! Nam giới nếu có phàm tâm, chắc chắn sẽ không sống cả đời với một người đàn ông khác. Nữ nhi cũng giống vậy. Dù là chị em ruột, nếu cả đời ở với nhau, cũng sẽ rất vô vị. Loại trừ những người này ra, còn ai nữa đây?”
Trương Nghi lại vắt óc suy nghĩ.
Lại một lúc lâu nữa trôi qua, Trương Nghi đột nhiên giật nảy mình: “Đại sư huynh!”
Hình ảnh tiểu đồng thoắt cái đã hiện lên trước mặt Trương Nghi. Mấy năm trước, tiểu đồng chỉ là một đứa trẻ, nhưng nay đã khác rồi, tiểu đồng giờ cao ngang ngửa Trương Nghi, giọng nói cũng đã vỡ. Tu đạo khiến tiểu đồng trưởng thành rất sớm, trí tuệ lại càng đĩnh ngộ phi phàm. Suy xét kỹ hơn, suốt mấy năm trời sống trong Quỷ Cốc, lúc nào cũng kè kè bên cạnh Ngọc Thiền như hình với bóng chính là tiểu đồng, chứ không phải Trương Nghi.
Đúng vậy, hai người họ chí đồng đạo hợp, đúng là một cặp trời sinh. Ví như hôm nay, hai người cùng đi hái thảo dược…
Trương Nghi không dám nghĩ tiếp nữa.
“Phải rồi!” Trương Nghi vò đầu lẩm nhẩm. “Trên đời này, ngoài Trương Nghi ta ra, người lúc nào cũng thực lòng quan tâm tới sư tỷ, xứng đáng để sư tỷ bầu bạn cùng, chính là đại sư huynh!”
Nghĩ tới tình địch của mình lại là một cậu thiếu niên mới lớn, Trương Nghi bất giác mặt cười nhăn nhó, lắc đầu than thở: “Chao ôi, chuyện khôi hài trong thiên hạ, cũng chỉ đến thế mà thôi!”
Buổi chiều hôm sau, phía trước căn nhà của bốn đệ tử, Trương Nghi ngồi thẫn thờ trên bãi có, Tô Tần ngồi đọc sách bên cạnh chiếc bàn đá cách đó không xa. Đúng lúc này, Tô Tần nhìn thấy Quỷ Cốc Tử và Ngọc Thiền từ phía xa tiến lại, bèn đứng dậy gọi Trương Nghi, rồi vòng tay hành lễ. Quỷ Cốc Tử và Ngọc Thiền bước lại gần, ngồi xuống bãi có bên cạnh Trương Nghi. Tô Tần và Trương Nghi thấy vậy, cũng ngồi xuống theo.
Trương Nghi lén nhìn Ngọc Thiền, vừa hay bắt gặp ánh mắt của Ngọc Thiền đang nhìn sang, lập tức đỏ bừng mặt, tim đập thình thịch, vội vã quay đi.
Quỷ Cốc Tử nhìn Trương Nghi: “Trương Nghi, vừa rồi con thần trí tản mạn, có tâm sự gì chăng?”
Trương Nghi mặt mũi nóng ran, vội nói: “Đệ tử đang ngẫm nghĩ về thuật suy đoán mà tiên sinh đã dạy.”
Quỷ Cốc Tử cười hỏi: “Ồ, có cảm ngộ gì chăng?”
“Đoán tức là thẩm thời độ thế, suy tức là nhìn thấu tâm sự của người.”
Quỷ Cốc Tử gật đầu cười nói: “Giải thích như vậy, đúng là ngắn gọn rõ ràng. Lĩnh ngộ đến mức này, cũng là hiếm có. Thường có câu, biết mình dễ, biết người khó. Thuật suy đoán quan trọng ở chỗ biết người. Hai con nếu biết vận dụng linh hoạt, thì hình thế, tâm sự của đối phương tự nhiên sẽ thấu tỏ trong lòng. Tôn Vũ Tử từng nói ‘biết người biết ta, trăm trận trăm thắng’.”
Tô Tần hỏi: “Xin hỏi tiên sinh, nếu biết người biết ta, chắc chắn sẽ trăm trận trăm thắng phải không?”
Quỷ Cốc Tử lắc đầu.
“Nếu là như vậy,” Trương Nghi hỏi, “câu nói của Tôn Vũ Tử chẳng phải đã có chỗ sai lầm ư?”
“Tôn Vũ Tử nói câu này, mục đích là nhấn mạnh đến việc hiểu rõ tình thế. Nếu hiểu rõ tình thế, làm được đến mức ‘biết người biết ta’, sẽ có khả năng thủ thắng. Còn nếu không, sẽ chỉ có thất bại mà thôi!”
Tô Tần lại hỏi: “Nếu biết người biết ta, trong thuật mở khép phải chăng cũng có thuật thủ thắng?”
“Có hai thuật có thể trợ giúp con thủ thắng, một là quyền, một là mưu.”
Trương Nghi vội hỏi: “Thế nào là quyền, mưu?”
“Quyền tức là cân nhắc, mưu tức là tính toán. Cân nhắc có được dựa vào suy đoán, cân nhắc lợi hại, được mất, quyết định xem có nên nói ra không, có nên hành động không. Còn nói ra như thế nào, hành động như thế nào, lại cần phải tính toán, đó chính là mưu.”
“Ý tiên sinh là, quyền tức là lúc nào nên nói, mưu tức là nên nói như thế nào?”
“Đúng vậy!”
Trương Nghi trong lòng chấn động: “Xin hỏi tiên sinh, nếu suy đoán đã xong, được mất đã cân nhắc, vậy sẽ nói ra như thế nào, trong việc này có quy tắc gì không?”
Quỷ Cốc Tử cười vang: “Đương nhiên, đạo mở khép đều phải tuân theo quy tắc. Nếu suy đoán đã xong, lợi hại đã cân nhắc, đã có thể quyết định nói như thế nào. Thông thường, nên tuỳ người mà nói. Nói với người trí tuệ, dựa vào uyên bác; nói với người uyên bác, dựa vào hùng biện; nói với người hùng biện, dựa vào trọng tâm; nói với người hiền quý, dựa vào thế; nói với người giàu có, dựa vào địa vị; nói với người tham lam, dựa vào ích lợi; nói với người hèn mọn, dựa vào khiêm tốn; nói với người dũng cảm, dựa vào can đảm…”
Trương Nghi đột nhiên bừng tỏ, nói: “Ý tiên sinh là, tuỳ vào từng người để xem nên nói gì?”
“Đúng vậy!”
“Vậy… nếu không phải là nói, mà là mưu sự thì sao?”
“Cũng có quy tắc phải tuân theo. Thông thường, mưu âm không mưu dương, mưu tư không mưu công, mưu kỳ không mưu chính.”
Tô Tần cúi đầu, lẩm nhẩm nhắc lại: “Mưu âm không mưu dương, mưu tư không mưu công, mưu kỳ không mưu chính.”
Quỷ Cốc Tử thấy Tô Tần chau mày, bèn giải thích thêm: “Nói rõ hơn, người giỏi mưu, là ở âm thầm, ở riêng tư, ở kỳ lạ. Mưu sự việc, tất phải âm hiểm; mưu với quân chủ, tất phải kỳ lạ; mưu với bề tôi, tất phải riêng tư.”
Sau khi tiên sinh và Ngọc Thiền đi khỏi, Trương Nghi lẩm bẩm mãi câu cuối cùng của Quỷ Cốc Tử: “Mưu sự việc, tất ở âm hiểm; mưu với quân chủ, tất ở kỳ lạ; mưu với bề tôi, tất ở riêng tư”, càng ngẫm nghĩ, càng thấy thú vị, rồi đột nhiên tỏ ngộ, nhủ thầm trong dạ: “Sư tỷ như quân chủ, muốn mưu sư tỷ, tất phải kỳ. Trong lòng sư tỷ liệu có ta hay chăng, vẫn chưa biết được. Đợi ta nghĩ ra kỳ sách, sẽ có được kiểm chứng. Nếu trong lòng sư tỷ có ta, đến lúc đó, ta bày tỏ chân tình cũng chưa muộn!”
Trương Nghi lại ngồi trầm ngâm suy nghĩ một hồi, thình lình vỗ đùi đánh đét, reo lên: “Có rồi, tiên sinh nói rằng, nói với người trí tuệ, dựa vào uyên bác; nói với người uyên bác, dựa vào hùng biện; nói với người hùng biện, dựa vào trọng tâm; nói với người hiền quý, dựa vào thế… Còn nói với sư tỷ, hẳn là phải dựa vào bi thương. Thiền Nhi ngoài mặt lạnh lùng, song tấm lòng nhân ái, ta sẽ tự giày vò bản thân, diễn một màn bi kịch, có lẽ sẽ thử được lòng nàng!”
Trong khe núi Đông Sơn có một cây hồng thân to cỡ một vòng ôm, lúc này, đang là mùa hồng chín, những quả hồng đỏ mọng treo lúc lỉu đầy cành. Vào lúc xế chiều, Trương Nghi nói với Tô Tần rằng muốn tới Đông Sơn hái quả.
Song đến tận khi trời tối, vẫn không thấy Trương Nghi trở về, Tô Tần sốt ruột lo lắng, bởi lẽ mùa thu cũng là thời điểm các loài thú lớn như mèo rừng, hoẵng, lợn rừng… Trở nên dữ tợn. Người trong sơn cốc thường trở về cốc ngay khi bóng chiều vừa ập xuống, không dám tuỳ tiện đi đêm.
Tô Tần tới thảo đường tìm, lại vào trong sơn cốc hú gọi một hồi, lo rằng Trương Nghi đã xảy ra chuyện chẳng lành, vội vã gọi tiểu đồng, Ngọc Thiền cùng đi tìm. Quả nhiên, nhìn thấy Trương Nghi nằm sóng soài dưới gốc hồng, hai tay ôm chặt một cành hồng gãy ngang, đã “ngất lịm”.
Tô Tần cả kinh, vội đưa tay đến trước mũi Trương Nghi, thấy vẫn còn hơi thở, mới yên tâm phần nào, bèn cúi đầu khẽ gọi vài tiếng, song không thấy Trương Nghi có phản ứng gì. Tô Tần bèn bước lại, đang định cõng Trương Nghi lên lưng thì Ngọc Thiền vội cản: “Tô sĩ tử, khoan đã!” Ngọc Thiền cúi xuống, cầm một cánh tay Trương Nghi lên, lúc lắc vài cái, rồi bắt mạch một lát, sau đó kiểm tra một lượt khắp người, thấy không hề có ngoại thương, mạch đập vẫn bình thường, lúc này mới cùng tiểu đồng đỡ Trương Nghi dậy, nhẹ nhàng đặt lên lưng Tô Tần.
Sắp về đến Quỷ Cốc, Trương Nghi cuối cùng cũng rên hừ hừ lên vài tiếng. Tô Tần sải bước nhanh hơn, về tới nhà cỏ, đặt Trương Nghi xuống giường. Ngọc Thiền lại kiểm tra một lượt nữa, Trương Nghi kêu la inh ỏi, rên xiết chỗ này đau, chỗ kia tê, toàn thân trên dưới không có chỗ nào được ổn. Ngọc Thiền mới học y đạo, đương nhiên cũng chưa phân biệt được thực hư, ấn trái nắn phải một hồi, cứ thế loay hoay đến nửa canh giờ, cho rằng Trương Nghi ngã không hề nhẹ. Tuy nhiên, vì không nhìn thấy vết thương ngoài da, nên cuối cùng suy đoán có thể hắn bị tổn thương trong nội tạng.
Ngọc Thiền từ ngày tu luyện y đạo, tuy đọc nhiều, cũng đã chữa trị không ít bệnh, song trường hợp ngã bị thương “nghiêm trọng” đến thế này, cũng là mới gặp lần đầu, do vậy rất đỗi tận tuỵ, đến tận nửa đêm cũng dứt khoát không chịu về, nhất định muốn ở lại bên Trương Nghi để theo dõi bệnh tình cho hắn.
Sáng hôm sau, Ngọc Thiền phát hiện thấy bên mắt cá chân trái của Trương Nghi sưng vù, đưa tay sờ thử, Trương Nghi đau nảy người, kêu la thảm thiết. Ngọc Thiền đã tìm ra chỗ đau, bận rộn suốt nửa ngày trời, điều chế thảo dược đắp lên mắt cá chân cho hắn, lại bốc thêm vài thứ thuốc khác, tự tay sắc thuốc. Khi thuốc sắc xong, còn đích thân nếm thử, rồi mới bưng lại cho Trương Nghi uống.
Thấy Ngọc Thiền tận tâm đến vậy, Trương Nghi không kiềm lòng nổi, hai mắt cay sè, nước mắt cứ thế tuôn trào, giọt lã chã vào trong bát thuốc. Ngọc Thiền lấy khăn lụa ra lau nước mắt cho Trương Nghi, khẽ nói: “Trương sĩ tử, đừng buồn! Thiền Nhi đã xem qua rồi, chỉ là trẹo mắt cá chân mà thôi, không có gì nghiêm trọng. Bát thuốc này do Thiền Nhi điều chế, có thể điều hoà âm dương, rất tốt cho thương tích do bị ngã. Uống thuốc vào, hẳn sẽ thấy dễ chịu hơn!”
Trương Nghi nghẹn ngào khẽ gật đầu, bưng bát thuốc chan nước mắt lên, uống ừng ực vài hơi hết sạch.
Sau khi Ngọc Thiền đi rồi, Trương Nghi một mình nằm trên giường, nước mắt lại chảy đầm đìa, than thở: “Than ôi, lần này chịu khổ, xem ra cũng chẳng uổng công. Chỉ có điều… Thiền Nhi đối xử với ta tốt như vậy, mà ta không những ôm ngờ vực trong lòng, lại giả vờ giả quẻ, cứ y như thực, đúng là có lỗi với nàng!”
Trương Nghi tự trách mình một hồi, trong lòng đã thấy dễ chịu hơn đôi chút, lại nằm suy nghĩ mông lung một chặp, cuối cùng ngoẹo đầu trên gối ngủ ngon lành.
Nhờ Ngọc Thiền tận tình chăm sóc, “thương thế” của Trương Nghi đã mau chóng bình phục. Vài ngày sau, mắt cá chân đã hết sưng phồng, Trương Nghi có thể “gắng gượng” xuống giường đi lại vài bước. Ngọc Thiền thấy vậy thì mừng rỡ, đi tìm về một khúc cây, khăng khăng bắt Tô Tần đẽo thành một cây gậy chống. Trương Nghi tận mắt nhìn thấy việc này, vô cùng xúc động, càng vững tin với suy đoán trước đây của mình.
Do vết thương của Trương Nghi vẫn chưa hoàn toàn bình phục, nên vào ngày chợ phiên ở cửa Túc Tư, Tô Tần bèn cùng tiểu đồng xuống núi, mua sắm vật dụng thường ngày. Vào xế chiều hôm sau, khi hai người vừa trở về sơn cốc, Trương Nghi sốt ruột, lập tức hỏi ngay Tô Tần tình hình dưới núi ra sao. Tô Tần kể sơ qua một lượt mọi tin tức mà mình đã nghe được, trong đó đa phần là chuyện liên quan tới Tôn Tẫn và Bàng Quyên, kể rằng hai người họ ở Ngụy vẻ vang ra sao, Tôn Tẫn đã được Ngụy Vương phong làm giám quân như thế nào, giúp nước Ngụy đồng thời phát triển nông tang quân bị thế nào, người Ngụy được miễn giảm thuế khoá, nước Ngụy đại trị ra sao vân vân. Trương Nghi nghe mà ngơ ngẩn, hai mắt tròn xoe, hùng khí sôi sục.
Tô Tần phải cõng rất nhiều thứ trên lưng, lại phải cuốc bộ hơn nửa ngày trời trên đường núi, nên đã thấm mệt. Kể sơ qua tình hình một lượt, bèn vòng tay cáo từ. Tô Tần vừa ra khỏi cửa phòng, trái tim Trương Nghi bỗng như bị ai bóp chặt, thoắt rùng mình một cái.
Trương Nghi bật dậy khỏi giường, đi đi lại lại trong phòng. Vài ngày nay, tâm trí Trương Nghi không lúc nào rời khỏi Thiền Nhi, bỗng chốc quên khuấy mất mục tiêu to lớn của cuộc đời mình, bỏ bẵng luôn cả mối thâm thù đại hận với người Tần. Giờ đây, những lời của Tô Tần đã thức dậy mối tâm tư này trong hắn. Đúng vậy, nếu lựa chọn Ngọc Thiền, thì suốt cuộc đời này sẽ phải ở lì trên núi, sống cùng tiên sinh đến già đến chết giữa chốn lâm tuyền. Bởi lẽ Ngọc Thiền không phải người tham luyến trần thế, sẽ không bao giờ chịu cùng Trương Nghi xuống núi, theo hắn tàn sát người thế tục.
Một bên là Ngọc Thiền, một bên là hùng tâm tráng chí, Trương Nghi không nỡ dứt bỏ bên nào, suốt đêm hai mắt chong chong. Đến khi tảng sáng, Trương Nghi mới nghiến răng quyết định, dứt bỏ Ngọc Thiền, xuống núi tranh đua. Tuy nhiên, khi mặt trời vừa nhô khỏi đỉnh núi, Ngọc Thiền lại tới thăm hỏi Trương Nghi, khiến quyết tâm này chốc lát đã tan thành mây khói.
Trong thời gian này, Quỷ Cốc Tử đang bế quan thâm tu. Vào lúc chập tối, Quỷ Cốc Tử xuất quan, Ngọc Thiền bèn thuật lại với Quỷ Cốc Tử chuyện Trương Nghi ngã trẹo chân, cũng kể qua một lượt quá trình chẩn đoán và trị bệnh của mình. Quỷ Cốc Tử khen Ngọc Thiền vài câu, rồi cùng tới thăm Trương Nghi.
Nhìn thấy Quỷ Cốc Tử tới, Trương Nghi biết khó lòng giấu giếm nổi, con mắt láo liên vài cái, rồi đành phải giơ bên mắt cá chân bị trẹo cho tiên sinh xem.
Quỷ Cốc Tử đưa ánh mắt quét ngang người Trương Nghi: “Đi thử vài bước xem!”
Trương Nghi làm bộ làm tịch chống gậy đi tập tễnh vài bước.
Quỷ Cốc Tử cười vang mà nói: “Chẳng phải đã khỏi lâu rồi ư?”
Nhìn thấy Trương Nghi vẫn hơi tập tễnh, Ngọc Thiền bèn đỡ lời: “Tiên sinh, vết thương ở chân Trương sĩ tử vẫn chưa khỏi hẳn kia mà!”
Quỷ Cốc Tử mỉm cười, nói với Trương Nghi: “Trương Nghi, vứt gậy xuống, nhảy lên hai cái, rồi đi thử xem sao!”
Trương Nghi đành phải vứt gậy xuống, nhảy liền hai cái, lại đi vài bước, quả nhiên không thấy tập tễnh nữa.
Trương Nghi cười gượng nói: “Tiên sinh đúng là thần thông, chỉ hai cú nhảy đã không còn tập tễnh nữa!”
Quỷ Cốc Tử cười nói: “Chân vốn không tập tễnh, là tim con tập tễnh!”
Trương Nghi biết tiên sinh đã nhìn thấu tâm can mình, mặt đỏ bừng, đang không biết nói gì để che lấp nỗi ngượng ngùng thì Ngọc Thiền đã chợt hiểu ra, bèn nói: “Tiên sinh, Thiền Nhi đã hiểu rồi! Tâm là chủ của thần, thần là chủ của thân, Trương sĩ tử tim tập tễnh trước, sau đến thần tập tễnh, cuối cùng mới khiến chân đi tập tễnh!”
Quỷ Cốc Tử bật cười thành tiếng: “Thiền Nhi học y đạo lĩnh ngộ được đến mức này, thực là hiếm có!”
“Phải, phải, phải!” Trương Nghi vội nói. “Điều sư tỷ vừa lĩnh ngộ rất đúng! Mấy ngày nay, tâm trí đệ tử lúc nào cũng vơ vẩn tận đâu đâu.”
Quỷ Cốc Tử lại cười lớn mấy tiếng: “Trương Nghi, tâm trí của con đã trở về chưa?”
Trương Nghi lắc đầu, đột nhiên nảy ra một ý, liền vòng tay nói: “Đệ tử có một khúc mắc muốn được thỉnh giáo tiên sinh!”
“Nói đi!”
Trương Nghi chớp mắt vài cái rồi nói: “Xưa có một người, chí ở bốn phương. Một ngày nọ, anh ta tới một nơi, gặp được một kỳ nữ, vô cùng yêu mến, thực lòng muốn chung sống trọn đời bên nàng ấy. Song nàng ấy lại quyến luyến gia đình, tuy rất yêu thương anh ta, song không muốn theo anh ta bôn ba khắp chốn. Một bên là rong chơi bốn biển, thoả chí tung hoành, một bên là ở cạnh ý trung nhân, lứa đôi hạnh phúc. Người này băn khoăn trăn trở mãi, chẳng biết chọn bên nào bỏ bên nào. Xin hỏi tiên sinh, có cách giải quyết nào trọn vẹn chăng?”
“Ồ!” Quỷ Cốc Tử trầm ngâm một lát, rồi vuốt râu nói. “Nỗi khó xử của người này chính là ở việc quyết định, đây cũng là thuật mở khép.”
Nghe Quỷ Cốc Tử nhắc tới thuật mở khép, Trương Nghi mở to hai mắt: “Quyết định cũng là thuật mở khép ư?”
“Đúng vậy!” Quỷ Cốc Tử gật đầu. “Trong thuật mở khép, suy đoán, cân nhắc chỉ là biện pháp, quyết định mới là mục đích. Việc khó nhất trong thiên hạ, không gì hơn quyết định. Nói cách khác, việc cần phải đưa ra quyết định, ắt là rất khó khăn phức tạp.”
Trương Nghi than thở: “Than ôi, đúng là như vậy! Đệ tử vì thế mà trăn trở suốt đêm, không tài nào chợp mắt nổi, khổ sở không nói hết!”
Quỷ Cốc Tử cười nói: “Xem ra con đã gặp phải chuyện khó quyết định! Có điều, dù là việc khó khăn tới đâu, cuối cùng vẫn phải quyết định. Cần quyết mà lại không quyết, ắt sẽ rối loạn!”
Trương Nghi vội hỏi: “Đệ tử nên quyết thế nào đây?”
“Trước hết, cần phải hiểu rõ quyết định là gì?” Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói. “Quyết định chính là lựa chọn. Mọi việc trong thiên hạ, đều dựa vào lựa chọn, cũng đều xuất phát từ lựa chọn. Sự diệu kỳ của đời người, chính là ở đây. Trong vạn sự vạn vật, việc liên quan tới quyết định chỉ có hai loại, thứ nhất là việc dễ quyết, thứ hai là việc khó quyết.”
Trương Nghi hỏi: “Thế nào là việc dễ quyết?”
“Việc dễ quyết chính là việc có thể quyết định được ngay. Đa số việc trong thiên hạ đều thuộc loại này!”
“Việc dễ quyết có tuân theo quy luật nào chăng?”
“Việc dễ quyết có thể phân thành năm loại: một là việc đáng làm; hai là việc cao thượng, tốt đẹp; ba là việc không tốn sức mà nhanh chóng thành công; bốn là việc tuy tốn sức song không thể không làm; năm là việc đón cát tránh hung.”
“Thế còn việc khó quyết?” Trương Nghi chỉ quan tâm tới chuyện này, nên sốt sắng hỏi luôn.
“Việc khó quyết cũng có quy luật. Tục ngữ có câu, ‘hai cái hại thì cân nhắc chọn cái nhẹ hơn, hai cái lợi thì cân nhắc chọn cái nặng hơn’. Mạnh Tử từng nói, ‘cá, ta muốn; chân gấu, ta cũng muốn, nếu hai thứ không thể được cả hai, thì bỏ cá chọn chân gấu vậy’, chính là nói về việc này!”
Trương Nghi lại hỏi: “Tiên sinh, nếu cân nhắc năm lần bảy lượt rồi mà vẫn không thể quyết, nên làm thế nào?”
Quỷ Cốc Tử cười nói: “Cách làm của người xưa là, rút thẻ gieo quẻ, nghe theo mệnh trời!”
“Vậy ý tiên sinh thế nào?”
“Mệnh trời không thể trái!” Quỷ Cốc Tử vừa nói, vừa chậm rãi đứng dậy. “Các thuật mở khép đều thông với đạo, không có đạo, tức là không có thuật. Giữa các thuật có liên quan qua lại với nhau, từ một mà sinh mười, từ mười mà đến một, nhất thiết không được sử dụng riêng rẽ, nếu không sẽ thành ra cứng nhắc, mất đi cái gốc biến hoá.”
Trương Nghi khấu đầu sát đất: “Đệ tử xin ghi nhớ lời giáo huấn của tiên sinh!”
“Cách làm của người xưa là, rút thẻ gieo quẻ, nghe theo mệnh trời!” Sau khi mọi người đi khỏi, Trương Nghi lẩm nhẩm mãi câu nói này của Quỷ Cốc Tử, càng ngẫm nghĩ càng thấy có lý.
“Ở lại bên sư tỷ, hay xuống núi tung hoành, nếu như đã khó quyết đoán đến vậy, cớ sao không thử học theo cách của người xưa, nghe theo mệnh trời?” Nghĩ là vậy, Trương Nghi lập tức đóng cửa phòng, tìm một tấm thẻ tre, vẽ một con ve sầu ở mặt chính diện, còn mặt sau vẽ một cái miệng rộng, từ trong miệng thè ra một chiếc lưỡi dài.
Trương Nghi vẽ xong, ngắm nghía một lát, rồi quỳ xuống đất, hướng về bốn phương trời đất vái mỗi phương ba vái, sau đó đứng dậy, nắm chặt tấm thẻ tre trong tay, lấm rầm khấn vái một hồi, mắt nhắm lại, rồi tung thẳng tấm thẻ tre lên trên. Chỉ nghe “cạch” một tiếng, Trương Nghi biết nó đã va phải trần nhà.
Trương Nghi lại đợi thêm một lát nữa, song không nghe thấy tấm thẻ tre rơi xuống đất, bèn ngẩng nhìn lên, thấy tấm thẻ vừa hay cắm trúng phóc vào khe hở trên trần. Trương Nghi thở dài một tiếng, cầm cây gậy khều nó xuống, rồi lại quỳ xuống đất lầm rầm cầu khấn, sau đó tiếp tục tung lên không. Rút kinh nghiệm lần trước, lần này lực đạo đã giảm đi đáng kể. Tấm thẻ tre lộn nhào mấy vòng trên không trung rồi rơi xuống. Trương Nghi không dám mở mắt ra nhìn, vẫn nhắm mắt tiếp tục lầm rầm cầu khấn một thôi một hồi rồi mới hé mắt ra.
Tấm thẻ tre rơi chình ình ngay trước mặt Trương Nghi. Mặt ngửa lên trên là mặt chính, đập vào mắt Trương Nghi là hình vẽ ve sầu. Trương Nghi hít vào một hơi thật sâu, hai tay nâng thẻ tre lên, cẩn thận áp lên lồng ngực một chốc, rồi quỳ xuống vái lạy bốn phương trời đất, lầm rầm khấn vái, lại tung thẻ tre. Tấm thẻ tre rơi xuống, lần này, mặt ngửa lên vẫn là mặt vẽ hình ve sầu.
“Mệnh trời không thể trái…” Nhớ tới lời nói của Quỷ Cốc Tử, Trương Nghi thở dài sườn sượt, nhặt thẻ tre lên, lại lặng lẽ quỳ thêm một lát, nước mắt cứ thế tuôn trào.
Trương Nghi quỳ ở trong phòng, càng nghĩ càng thấy kiên định, trong lòng cũng đã nhẹ nhõm hơn nhiều. Nếu như ông trời đã sinh cho hắn một Ngọc Thiền, hắn không thể làm trái ý trời. Nghĩ tới những điểm tốt đẹp của Ngọc Thiền, lại nghĩ tới bản thân đâu có tài đức gì, mà lại có thể ngày ngày được ở kề bên một người con gái tốt đẹp đến vậy, Trương Nghi cầm lòng không nổi, thở ngắn than dài, quỳ trên đất mà thề rằng: “Trời xanh trên cao, Trương Nghi nguyện tuân theo ý muốn của người, sớm tối ở trong sơn cốc này bầu bạn cùng sư tỷ Ngọc Thiền, coi những chuyện quốc thù gia hận, những thứ ồn ào bên ngoài núi như mây khói thoảng qua!”
Thề xong, Trương Nghi cảm thấy vô cùng thư thái, liền đứng dậy, mở cửa, đi sang gõ cửa phòng Tô Tần, còn chưa nghe thấy tiếng trả lời, đã đẩy cửa bước luôn vào. Tô Tần đang ngồi trên giường, nhìn thấy Trương Nghi, bèn dịch sang nói: “Hiền đệ, ngồi đi!”
Trương Nghi chẳng buồn nhìn đến Tô Tần, cứ thế đứng lặng im một lúc, mới ngồi xuống ngay ngắn, trịnh trọng nói: “Tô huynh, vừa rồi Nghi đã quyết định một đại sự, người đầu tiên muốn chia sẻ chính là Tô huynh.”
Nhìn thấy vẻ mặt nghiêm túc của Trương Nghi, lại nhớ tới câu hỏi lúc nãy của hắn, Tô Tần biết Trương Nghi không hề đùa cợt, bèn ngồi ngay ngắn dậy, nghiêm sắc mặt mà nói: “Hiền đệ cứ nói!”
Trương Nghi bèn kể hết đầu đuôi câu chuyện của mình và Ngọc Thiền cho Tô Tần nghe, đặc biệt là những nỗi giày vò đã chịu đựng trong mấy ngày qua và quyết định ban nãy, sau cùng lại nói: “Tô huynh, không phải đệ không muốn cùng Tô huynh xuống núi mưu đại sự, mà thực sự là mệnh trời không thể trái. Là ông trời đã sinh ra Thiền Nhi cho đệ, là ông trời đã muốn đệ rời khỏi Hà Tây, là ông trời đã khiến đệ tới Chu thất, là ông trời đã cho đệ gặp công chúa, là ông trời đã cho công chúa biến thành Thiền Nhi, là ông trời đã cho đệ tới Quỷ Cốc… Đúng vậy, tất cả đều là do ông trời sắp đặt, mệnh trời không thể trái!”
Sắc mặt của Tô Tần chuyển từ ngạc nhiên sang kinh ngạc, rồi lại trầm ngâm, sau cùng, Tô Tần bèn ôm quyền chúc mừng: “Hiền đệ nếu đã quyết định, huynh cũng không nói thêm gì, xin chúc mừng!”
Trương Nghi cũng ôm quyền mà nói: “Tiểu đệ đa tạ ý tốt của Tô huynh!”
Tô Tần chần chừ một lát, rồi ngẩng đầu lên hỏi: “Ý nguyện này của hiền đệ, sư tỷ đã biết chưa?”
Trương Nghi lắc đầu nói: “Đệ cũng vừa mới quyết định, còn chưa kịp nói với sư tỷ. Hơn nữa, tâm tư này của đệ thực sự không thể mở miệng với sư tỷ. Đệ tới đây, thứ nhất là để nói cho Tô huynh biết, thứ hai là muốn xin ý kiến của Tô huynh.”
Tô Tần bật cười: “Hiền đệ vốn là tài tử phong lưu, mà chuyện này lại xin ý kiến huynh, chẳng phải cố ý chê cười ta ư?”
Trương Nghi cũng phì cười: “Chỉ nhìn vào cách Tô huynh đối xử với Tuyết công chúa, đệ đã khâm phục sát đất rồi! Tô huynh chớ nên khiêm tốn, chuyện này chỉ có Tô huynh mới đưa ra được chủ ý!”
Nghĩ tới Cơ Tuyết, Tô Tần bất giác buồn bã âu sầu, cúi đầu trầm ngâm một hồi, rồi mới chậm rãi nói: “Nếu hiền đệ thực lòng yêu mến sư tỷ, hãy bày tỏ cho sư tỷ biết. Tiên sinh tuổi tác đã cao, quy tiên chỉ là chuyện sớm muộn. Sư tỷ vốn xuất thân cao quý, có hiền đệ bầu bạn, đời này cũng không đến mức phải mai một giữa núi rừng. Hơn nữa, dựa vào tư chất của hiền đệ, vốn hoàn toàn tương xứng với sư tỷ, huynh…” nói tới đây, ngập ngừng một lát, rồi ôm quyền mà vái, “huynh lại có lời chúc mừng!”
Trương Nghi vội nói: “Đệ xin cảm tạ sư huynh! Rốt cuộc có chủ ý gì, xin Tô huynh hãy mau nói ra!”
Tô Tần suy nghĩ một lát, rồi ghé sát tai Trương Nghi thì thầm một chặp.
Trương Nghi gật gù, luôn miệng tấm tắc: “Tuyệt diệu! Tuyệt diệu!”
Buổi trưa hôm sau, Ngọc Thiền đang giặt quần áo bên khe suối, Trương Nghi bèn bước lại gần, ngồi xuống bên cạnh, mắt nhìn Ngọc Thiền không chớp. Thấy Trương Nghi cứ ngơ ngẩn nhìn mình, Ngọc Thiền cũng cảm thấy bối rối.
Ngọc Thiền khẽ mỉm cười, lên tiếng trước: “Trương sĩ tử, xem ra hôm nay đã hoàn toàn bình phục rồi ư?”
“Khỏi rồi, khỏi rồi!” Trương Nghi định thần trở lại, ôm quyền mà nói. “Lần này may có sư tỷ, nếu không, cái mạng nhỏ nhoi này của tại hạ đã đi tong mất rồi!”
Ngọc Thiền cười nói: “Lúc đầu, thấy Trương sĩ tử ngã rất nghiêm trọng, sau mới phát hiện, té ra Trương sĩ tử chẳng bị thương ở đâu cả, chẳng qua chỉ là trẹo cổ chân…”
Trương Nghi hết sức ngạc nhiên: “Ý sư tỷ là, tại hạ… chỉ vờ vĩnh?”
Ngọc Thiền lại cười một tiếng: “Vờ vĩnh hay không, chẳng phải bản thân sĩ tử biết rõ ư?”
Trương Nghi ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng lên hỏi: “Sư tỷ nhận ra từ lúc nào?”
“Sáng ngày hôm sau,” Ngọc Thiền cười nói, “chính là lúc sắc thuốc cho Trương sĩ tử uống.”
Trương Nghi ngẩn tò te, sững sờ hồi lâu mới hỏi: “Vậy… sư tỷ đã biết tại hạ vờ vĩnh, cớ sao không nói toạc ra, mà lại coi như không có chuyện gì, cứ tiếp tục chữa trị cho tại hạ?”
Ngọc Thiền bật cười, nói: “Trương sĩ tử giả bệnh, hẳn là muốn cho Thiền Nhi cơ hội để hiểu thêm về y đạo, Thiền Nhi cảm ơn còn chưa hết, tại sao phải nói toạc ra?”
Thấy Thiền Nhi suy nghĩ như vậy, con tim treo ngược của Trương Nghi mới hạ xuống được đôi phần, bèn thuận miệng nói tiếp: “Không giấu sư tỷ, chỉ một cây hồng nhép kia, sao có thể khiến tại hạ ngã được? Tại hạ làm vậy, một phần là muốn đùa chơi, còn một phần là muốn… muốn thử xem y thuật của sư tỷ thế nào. Nào ngờ y thuật của sư tỷ quả thực cao minh, đến tại hạ giả bệnh cũng nhận ra được!” Rồi cười ngẩn ngơ một tiếng, ánh mắt nhìn đăm đắm vào Ngọc Thiền.
Ngọc Thiền cảm thấy ánh mắt Trương Nghi có phần kỳ lạ, bèn nhìn hắn, cười hỏi: “Trương sĩ tử, Thiền Nhi có đẹp không?”
“Đẹp chứ, đẹp chứ, quả thực là đẹp như tiên nữ!”
“Cảm tạ Trương sĩ tử đã quá khen!” Ngọc Thiền cười nói. “Trương sĩ tử, nếu không có chuyện gì, Thiền Nhi còn phải giặt quần áo!”
“Sư tỷ, tại hạ…” Trương Nghi lắp bắp, muốn nói lại thôi.
“Trương sĩ tử!” Ngọc Thiền ngẩng đầu lên nhìn Trương Nghi. “Có gì cứ nói thẳng ra, chớ nên giữ kín trong lòng!”
“Sư tỷ!” Trương Nghi hạ quyết tâm. “Là… là thế này, tại hạ vừa mới sực nhớ ra một câu chuyện, cảm thấy nực cười, không biết sư tỷ có muốn nghe không?”
“Được!” Ngọc Thiền tươi cười. “Thiền Nhi đã lâu rồi chưa được nghe kể chuyện.”
“Sư tỷ đã nghe nói tới Sư Khoáng chưa?”
“Có nghe nói tới!”
“Sư Khoáng ẩn cư trong núi Bạch Vân, âm luật đã đạt tới cảnh giới xuất thần nhập hoá. Ông ta thu nạp bốn đệ tử, ba người là sư huynh, một người là sư muội. Sư muội vừa dạy đã hiểu, rất mực thông minh linh lợi, Sư Khoáng đặt tên cho nàng là Linh Nhi, yêu thương nàng nhất. Ba vị sư huynh đều yêu quý Linh Nhi, nhưng thực lòng yêu nàng, là một trong ba vị, tên gọi Cung Trường. Cung Trường thông minh hiếu học, tính khí cương trực, đối với Linh Nhi rất mực chân thành, từng thề với trời cao, kiếp này sẽ không lấy ai khác ngoài Linh Nhi.”
Kể tới đây, Trương Nghi cố tình dừng lại, đưa mắt nhìn sang Ngọc Thiền. Ngọc Thiền cũng đang mở to mắt nhìn Trương Nghi, trông dáng vẻ, biết rằng nàng đang chăm chú lắng nghe.
Trương Nghi đã có tính toán sẵn, lại kể tiếp: “Thời gian thấm thoắt thoi đưa, ngày qua ngày, năm qua năm, tình cảm của Cung Trường chỉ tăng mà không giảm, song lại chưa từng một lần bày tỏ với Linh Nhi.”
“Ồ!” Ngọc Thiền ngạc nhiên hỏi. “Vì sao?”
“Là vì…” Trương Nghi chậm rãi nói, “trong trái tim của Linh Nhi hoàn toàn không tồn tại tình nam nữ, chỉ có âm nhạc và hiếu đạo. Linh Nhi nhiều lần bày tỏ trước các sư huynh rằng, nàng muốn hiến thân cho âm nhạc, nguyện theo Sư Khoáng tới già.” Đưa mắt nhìn sang Ngọc Thiền, vẫn thấy nàng mở tròn đôi mắt nhìn mình chăm chú, thì khẽ đặng hắng một tiếng. “Chớp mắt, lại vài năm nữa trôi qua, sắp tới ngày ba vị sư huynh phải cáo biệt tiên sinh ra đi. Cung Trường vô cùng đau khổ, đêm đêm quanh quẩn trên con đường núi, thẫn thờ nhìn về cửa sổ phòng Linh Nhi. Ngày chia tay đã gần kề, cứ một ngày trôi qua là nỗi giày vò trong lòng Cung Trường lại càng thêm thống khổ, trái tim như muốn vỡ tan. Một ngày nọ, Cung Trường hạ quyết tâm phải bày tỏ lòng mình với Linh Nhi.”
“Ồ?” Ngọc Thiền mở tròn đôi mắt. “Cung Trường bày tỏ thế nào?”
“Là như thế này!” Trương Nghi dừng lại một lát, rồi đưa đầu ngón tay lên miệng cắn rách, nhìn những giọt máu ứa ra rồi kể tiếp. “Cung Trường đã cắn rách ngón tay, viết cho Linh Nhi một bức huyết thư, trong thư viết rằng: ‘Trời xanh thăm thẳm, đồng biếc mênh mông. Không có nhật nguyệt, trời đất rỗng không! Đêm dài triền miên, gió trong phơi phới. Không có Linh Nhi, Cung Trường tăm tối!’”
Ngọc Thiền trầm ngâm suy nghĩ một lát, rồi khen ngợi: “Ồ, Cung Trường viết hay lắm. Nhưng… tình cảm phải từ hai phía, Cung Trường yêu thương Linh Nhi như vậy, nhưng Linh Nhi có tình cảm với Cung Trường không?”
Trương Nghi buột miệng nói: “Đương nhiên là có!”
“Ồ?” Ngọc Thiền ngạc nhiên nhìn Trương Nghi. “Trái tim của Linh Nhi, Trương sĩ tử làm sao biết được?”
“Trên đời này, duy chỉ có Cung Trường là tâm ý tương thông với Linh Nhi, xứng đáng với Linh Nhi.”
Ngọc Thiền mỉm cười: “Tương thông thế nào?”
“Thì…” Trương Nghi ngẫm nghĩ một lát, “Linh Nhi thông minh linh lợi, Cung Trường cũng thông minh linh lợi; Linh Nhi có huệ tâm, Cung Trường cũng có huệ tâm; Linh Nhi hiến thân cho âm nhạc, Cung Trường cũng quyết hiến thân cho âm nhạc; Linh Nhi nguyện theo tiên sinh sống suốt đời trong rừng sâu, Cung Trường cũng nguyện theo tiên sinh sống suốt đời trong rừng sâu…”
Ngọc Thiền cắt ngang lời Trương Nghi: “Linh Nhi trả lời Cung Trường thế nào?”
“Tại hạ không biết!” Trương Nghi lắc đầu, nhìn sang Ngọc Thiền, vẻ khấp khởi hy vọng. “Sư tỷ, giả sử sư tỷ là Linh Nhi, sư tỷ sẽ trả lời thế nào?”
Ngọc Thiền bật cười: “Trương sĩ tử, ta là Thiền Nhi, là Ngọc Thiền, chứ không phải là Linh Nhi trong câu chuyện của sĩ tử.”
Trương Nghi tim đập thình thịch, vẫn kiên trì: “Là thế này, chúng ta… ý của sư đệ là, giả sử sư tỷ là Linh Nhi.”
“Trương sĩ tử thật nực cười!” Ngọc Thiền lại cười. “Được thôi, giả sử Thiền Nhi là Linh Nhi, Linh Nhi sẽ viết thư trả lời Cung Trường rằng: ‘Trời xanh thăm thẳm, đồng biếc mênh mang. Ánh sao vằng vặc, trời đất sáng quang! Đêm dài triền miên, gió trong phơi phới. Đại ái huệ tâm, Cung Trường hết tối’!”
Trương Nghi sững sờ: “Sư tỷ, nói như vậy… là… là sư tỷ không thích Cung Trường ư?”
“Thích chứ!” Ngọc Thiền lập tức trả lời. “Nhưng thích không có nghĩa là yêu. Trương sĩ tử, sĩ tử nghĩ mà xem, đừng nói là Linh Nhi trong lòng chỉ nghĩ tới âm nhạc, dù không nghĩ tới âm nhạc, người thông minh sáng dạ như nàng ấy, làm sao có thể yêu một kẻ hai mắt tối tăm?” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Còn nữa, Cung Trường yêu Linh Nhi, song không hiểu Linh Nhi. Linh Nhi thích gì, Linh Nhi muốn gì, Linh Nhi quan tâm điều gì, Linh Nhi buồn bã chuyện gì, Cung Trường lại chẳng hề hay biết, bởi Cung Trường chưa từng thấu hiểu lòng Linh Nhi. Linh Nhi sao có thể yêu một người không hiểu lòng mình?”
Trương Nghi ngây người, đứng chết lặng.
“Trương sĩ tử!” Ngọc Thiền lại nói. “Nếu ngược lại, giả sử sĩ tử là Cung Trường, Linh Nhi thích sĩ tử, yêu sĩ tử, song chỉ thích vẻ bề ngoài của sĩ tử, yêu vẻ bề ngoài của sĩ tử, chưa bao giờ hiểu rõ tâm hồn sĩ tử, không biết sĩ tử vui vì điều gì, buồn vì chuyện gì, liệu sĩ tử có yêu Linh Nhi không?”
Trương Nghi cuối cùng cũng gắng gượng trấn tĩnh lại được, ngượng ngùng nói: “Sư tỷ, điều này…”
“Được rồi!” Ngọc Thiền nhoẻn miệng cười. “Trương sĩ tử, Thiền Nhi đã giặt xong rồi, giờ phải mang quần áo về phơi, không rảnh để nhọc công lo lắng cho mấy vị cổ nhân tận đẩu đâu!” Nói đoạn, vớt quần áo dưới suối lên, xếp vào thùng gỗ, rồi xách thùng lên, lại nhìn Trương Nghi mỉm cười, sau đó khoan thai bước đi.
Những lời giãi bày của Trương Nghi đã khơi dậy nỗi niềm tâm sự của Ngọc Thiền. Khi phơi quần áo trên bãi cỏ, động tác của Ngọc Thiền mỗi lúc càng thêm chậm chạp, sau cùng, nàng gác mãi bàn tay lên dây, đứng lặng đi. Bần thần mất một hồi lâu, mới chậm chạp cử động trở lại. Phơi xong quần áo, nàng xách chiếc thùng rỗng lên, cứ thế bước trở về thảo đường như một kẻ thất thần.
Trong thảo đường chỉ có một mình Ngọc Thiền. Ngọc Thiền ngồi ngẩn ngơ, hai mắt thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ. Giờ đã cuối thu, lá rụng còn nhiều hơn mấy ngày trước, dù có gió hay không, lá cây vẫn trút xuống tơi tả.
Đúng vậy, lá cây đã tới lúc phải rơi rụng.
Ngọc Thiền nhìn những chiếc lá lớn bé đỏ vàng bay xao xác, tâm sự càng thêm trĩu nặng. Không biết đã qua bao lâu, Ngọc Thiền khẽ thở dài một tiếng, thì thầm khẽ ngâm:
“Gió bấc lạnh lẽo,
Mưa tuyết tơi bời.
Ai người yêu mến,
Dắt nhau đi thôi.
Chớ còn thong thả,
Đã gấp lắm rồi.
Gió bấc vi vút,
Mưa tuyết kín trời.
Ai người yêu mến,
Dắt nhau đi thôi,
Chớ còn thong thả,
Đã gấp lắm rồi.
Chồn nào không đỏ,
Quạ nào không đen…”
Ngọc Thiền đang ngâm nga, bỗng cảm thấy sau lưng có tiếng động, quay người lại nhìn, thấy Quỷ Cốc Tử không biết đã ra khỏi động từ lúc nào, đang đứng sau lưng mình cười tủm tỉm, thì vội vàng im bặt, mặt đỏ ửng, ngượng nghịu cúi đầu gọi: “Tiên sinh!”
Quỷ Cốc Tử bước tới trước mặt Ngọc Thiền, khoanh chân ngồi xuống, nhìn Ngọc Thiền với ánh mắt hiền từ, ngâm tiếp:
“Ai người yêu mến,
Chung xe đi liền,
Chớ còn thong thả,
Hãy gấp gấp lên.”(2)
Ngọc Thiền đoán Quỷ Cốc Tử đã nhìn thấu tâm tư của mình, càng cúi đầu thấp hơn.
“Thiền Nhi, con có tâm sự gì, liệu có thể nói cho lão hủ biết chăng?”
Ngọc Thiền vẫn cúi gằm mặt hồi lâu, rồi ngẩng đầu lên, nét mặt đã lấy lại vẻ điềm tĩnh thường ngày, khẽ nói: “Tiên sinh, kỳ thực cũng không có gì, vừa nãy Thiền Nhi suy nghĩ vẩn vơ, giờ đã hết rồi.”
“Ồ!” Quỷ Cốc Tử vẫn cười tủm tỉm. “Liệu có thể nói xem, con suy nghĩ lung tung những gì không?”
“Chỉ là một vài vọng niệm thế tục mà thôi, Thiền Nhi đã xua đuổi được rồi!”
Quỷ Cốc Tử cười nói: “Trên đời chỉ có hai loại người không có vọng niệm, thứ nhất là người chết, thứ hai là thần nhân. Con không thuộc hai loại người này, có vọng niệm, cớ sao lại phải xua đuổi?”
Ngọc Thiền ấp úng: “Thiền Nhi đã vào sơn cốc theo tiên sinh tu đạo, đáng lý ra không nên…”
“Không nên làm sao?”
“Không nên lại nảy sinh tư tình.”
Quỷ Cốc Tử cười cười: “Nếu như đã nảy sinh rồi, con hãy thử nói xem sao!”
Ngọc Thiền im lặng lại một lát, rồi chậm rãi nói. “Thiền Nhi vốn đã đoạn trừ tục niệm, một lòng hướng đạo. Nhưng… mấy hôm nay, chẳng hiểu sao cái tâm tư tình bỗng dưng âm thầm trỗi dậy. Thiền Nhi đã kháng cự nó, đè nén nó, dập tắt nó, song… nó vẫn cứ quẩn quanh vương vấn, không chịu bỏ đi, chỉ hơi chạm đến, lập tức sống dậy. Tiên sinh, lẽ nào Thiền Nhi…” đưa ánh mắt lo âu nhìn Quỷ Cốc Tử, “thực sự nguy rồi?”
Quỷ Cốc Tử bật cười vang.
Ngọc Thiền ngỡ ngàng hỏi: “Sao tiên sinh lại cười?”
“Ta cười Thiền Nhi của ta!”
Ngọc Thiền sốt ruột nói: “Thiền Nhi trong lòng khổ sở, mà tiên sinh lại…”
“Thiền Nhi,” Quỷ Cốc Tử thôi cười, chậm rãi nói, “con đã hiểu lầm rồi, hãy để lão hủ nói cho con nghe!”
Ngọc Thiền tiến sát lại gần, ngước nhìn Quỷ Cốc Tử, gọi: “Tiên sinh!”
Quỷ Cốc Tử đưa ánh mắt hiền từ nhìn Ngọc Thiền: “Này con gái, tình tâm và đạo tâm kỳ thực không hề mâu thuẫn. Đạo đã tồn tại trong vạn vật, tự khắc cũng tồn tại trong chữ tình của thế tục.”
Ngọc Thiền mở to đôi mắt, linh quang bừng sáng.
Quỷ Cốc Tử biết Thiền Nhi đã có lĩnh ngộ, bèn nói tiếp: “Trời đất có âm dương, cầm thú có trống mái, con người có nam nữ. Âm dương kết hợp, trống mái thành cặp, nam nữ sánh đôi, đây là đạo lý thường tình. Tình tâm là đạo tâm, đạo tâm cũng tức là tình tâm.”
Ngọc Thiền đột nhiên bừng tỏ: “Ý tiên sinh là, sinh tình và tu đạo không hề cản trở lẫn nhau.”
Quỷ Cốc Tử gật đầu: “Không những không cản trở lẫn nhau, ngược lại còn bổ trợ lẫn nhau. Truy về nguồn gốc, biết rằng cái đạo âm dương bắt đầu được lĩnh ngộ từ Hoàng Đế. Hoàng Đế là người hiểu đạo, một ngày nọ tình cờ gặp Tố Nữ, hai người thân tâm hợp nhất, sánh đôi không rời, cuối cùng đã ngộ ra cái đạo âm dương giao hợp.”
Nghe thấy hai chữ “giao hợp”, Ngọc Thiền đỏ bừng mặt, cúi gằm đầu xuống.
Quỷ Cốc Tử nói tiếp: “Không ngộ tâm tình, khó thông đạo lý. Không hiểu chuyện nam nữ, làm sao biết sự biến hoá của âm dương? Nếu Thiền Nhi có tình tâm, hãy cứ để mặc cho nó thuận theo tự nhiên, duyên tới tình tới, duyên dừng tình dừng; tình tới tâm tới, tình dừng tâm dừng.”
Được tiên sinh chỉ điểm, mối âu lo ngờ vực trong lòng Ngọc Thiền phút chốc đã tiêu tan, trong lòng mừng rỡ, bèn quỳ xuống khấu đầu nói: “Thiền Nhi cảm tạ tiên sinh đã điểm hoá!”
Quỷ Cốc Tử đứng dậy, ung dung bước ra khỏi thảo đường, bắt đầu chậm rãi đi dạo trong sơn cốc. Thấy tiên sinh đã đi xa, Ngọc Thiền còn ngồi ngẩn ngơ trong thảo đường một lúc, rồi lấy đàn ra, đặt trước cửa sổ, bắt đầu gảy.
Tiếng đàn uyển chuyển linh động, tựa như tiếng uyên ương giỡn nước trong khe suối, tiếng chim én ríu rít trên xà nhà. Tô Tần và tiểu đồng đang hái nấm cách đó không xa, tai nghe tiếng đàn vẳng lại, lập tức dừng bước.
Từ trong tiếng đàn, Tô Tần nhận ra giai điệu của chữ tình, suy đoán một hồi, cho rằng chuyện của Trương Nghi đã thành công, trong lòng cũng mừng thay cho hắn. Lại nghe thêm một lúc nữa, Tô Tần bắt đầu cảm thấy hoang mang, bởi trong tiếng đàn không hề thấy niềm hạnh phúc tràn trề khi đã có được tình yêu, mà vẫn như đang tìm kiếm, đang dò hỏi. Tuy nhiên, Thiền Nhi đang tìm kiếm điều gì, dò hỏi điều gì, Tô Tần lại không thể nghe ra.
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, rồi đưa mắt nhìn sang tiểu đồng dò hỏi: “Sư huynh có nghe ra sư tỷ đang tâm sự gì không?”
Tiểu đồng ngoảnh nhìn Tô Tần, ánh mắt đầy vẻ ngạc nhiên: “Sư đệ đúng là đồ ngốc! Chị Thiền Nhi đang tâm sự với sư đệ đấy, đệ không biết ư?”
“Tâm sự với đệ?” Tô Tần sửng sốt, đứng sững hồi lâu mới hỏi. “Dám hỏi sư huynh, Thiền Nhi sư tỷ đang nói gì?”
Tiểu đồng thuận miệng ngâm nga vài câu:
“Chim cưu ríu rít,
Trên cồn bãi sông.
Cô gái dịu dàng,
Sánh cùng quân tử…”(3)
“Sư huynh, huynh…” Tô Tần mặt nóng ran, vội vã cắt ngang lời tiểu đồng, một lát sau lại nói. “Sư huynh hẳn đã nghe lầm rồi. Sư tỷ một lòng hướng đạo, làm gì có chuyện nảy sinh tục tâm? Hơn nữa, dù trong lòng sư tỷ có một ai đó, cũng không thể là Tô Tần được.”
Tiểu đồng trợn mắt lườm Tô Tần: “Sư huynh chỉ nghe đàn mà thôi, sư đệ nghĩ linh tinh đến chuyện gì thế?”
Thấy tiểu đồng trách móc thẳng thừng, Tô Tần chẳng biết đối đáp thế nào, ngây ra hồi lâu, rồi ngượng ngập cúi gằm mặt xuống. Tiểu đồng chậm rãi đứng dậy, nhìn Tô Tần cười cười: “Sư đệ, đi thôi, đừng có đứng đấy mà suy nghĩ vẩn vơ, bỏ lỡ mất nấm ngon phía trước!”
Vào lúc chập tối, Tô Tần thần tình ngơ ngẩn trở về nhà cỏ, không thấy Trương Nghi đâu. Tô Tần đợi ở trong phòng một lát, không thấy hắn trở về, trong lòng lo lắng, vội vã ra ngoài tìm.
Tô Tần tới bên suối, từ xa đã thấy Trương Nghi ngồi trên một tảng đá lớn, im phăng phắc hệt như pho tượng.
Tô Tần đã hiểu tại sao Trương Nghi lại ngồi bất động ở đây, cũng không tiến lại gần Trương Nghi, chỉ lặng lẽ đứng đợi cách đó vài chục bước. Gió lạnh thổi ào ào, song Trương Nghi dường như không hề có chút cảm giác.
Không biết bao lâu sau, Trương Nghi bất thình lình đứng phắt dậy, cười một tràng dài, rồi ngâm nga:
“Gió xao xác chừ đã thổi,
Người dằng dặc chừ đã xa,
Thử hỏi tình là vật gì,
Cười dài một tiếng đã qua!”
Tô Tần nghe vậy, biết Trương Nghi đã nghĩ thông, hẳn không có chuyện gì đáng ngại, nên quay trở về nhà trước.
Về tới nhà cỏ, Tô Tần băn khoăn trằn trọc, không tài nào chợp mắt. Một bên là Trương Nghi, một bên là Ngọc Thiền, cả hai người Tô Tần đều rất mực yêu thương, song cả hai đều lại vì Tô Tần mà sa vào khổ não, quả thực là điều Tô Tần chưa từng ngờ tới.
Tô Tần lật mình trở dậy, khoanh hai chân ngồi xếp bằng trên giường, suy nghĩ miên man.
Đến sáng hôm sau, Tô Tần dậy rất sớm, bước thẳng tới thảo đường. Tiểu đồng tay xách thùng gỗ, đang định ra ngoài, nhìn thấy Tô Tần tiến lại, bèn bước ra đón.
Tô Tần vòng tay vái chào: “Tô Tần xin chào sư huynh!”
Tiểu đồng đặt thùng xuống, đáp lễ rồi cười hỏi: “Sư đệ tới tìm chị Thiền Nhi phải không?”
Tô Tần gật đầu: “Sư huynh nói đúng! Sư tỷ có nhà không?”
Tiểu đồng quay vào trong gọi: “Chị Thiền Nhi, có Tô sư đệ tới tìm!” Nói xong, xách thùng nước lên, tung tăng đi về phía khe suối.
Tô Tần bước tới trước cửa thì dừng lại, đưa tay gõ. Từ bên trong vọng ra giọng nói êm ái của Ngọc Thiền: “Mời vào!”
Tô Tần bước vào trong cửa, thấy Ngọc Thiền ngồi ngay ngắn trên chiếu, khuôn mặt mỉm cười, đôi mắt chan chứa nhu tình, bẽn lẽn nhìn Tô Tần mà nói: “Tô sĩ tử, mời ngồi!”
Tô Tần vẫn đứng nguyên tại chỗ: “Sư tỷ, tại hạ có một chuyện, tới đây làm phiền sư tỷ!”
Ngọc Thiền hơi sững lại một thoáng, rồi bật cười mà nói: “Ngồi xuống rồi nói, nhìn Tô sĩ tử sao vội vàng đến vậy!”
Tô Tần ngồi xếp bằng xuống chiếu: “Tô Tần cảm tạ sư tỷ ban ngồi!”
Ngọc Thiền lại cười: “Xem ra, Tô sĩ tử có chuyện lớn thật rồi, Thiền Nhi xin rửa tai lắng nghe!”
Tô Tần nghiến răng kiên định: “Hồi bẩm sư tỷ, Bàng huynh, Tôn huynh xuống núi, uy chấn thiên hạ, công danh hiển hách, Tô Tần sớm đã thấy động lòng, nên lần này cũng… cũng muốn xuống núi. Nếu ông trời rủ lòng thương, Tô Tần hoạ may sẽ làm nên đại nghiệp, không phụ công khổ luyện nhiều năm trong sơn cốc.”
Ngọc Thiền mặt hoa biến sắc, sững sờ hồi lâu, mãi vẫn chưa thốt nổi nên lời.
Tô Tần nói tiếp: “Tại hạ tới đây, muốn phiền sư tỷ bẩm báo với tiên sinh, nói rằng Tô Tần cầu kiến!”
Ngọc Thiền cuối cùng cũng đã định thần lại được: “Tô sĩ tử tới đây là để từ biệt ư?”
“Tô Tần muốn từ biệt tiên sinh, từ biệt sư tỷ!”
Ngọc Thiền ấp úng: “Tô… Tô sĩ tử, sĩ tử… thật lòng muốn xuống núi ư?”
Tô Tần gật đầu dứt khoát.
Ngọc Thiền trầm ngâm một lát, rồi ngẩng nhìn Tô Tần: “Được! Có điều tiên sinh vẫn chưa xuất định, Tô sĩ tử cần đợi thêm một lát!”
“Tại hạ xin đợi!”
Hai người lại ngồi yên một lúc. Ngọc Thiền đưa mắt nhìn Tô Tần, chậm rãi nói: “Tô sĩ tử, sĩ tử sắp xuống núi rồi, lẽ nào không muốn nói vài lời với Thiền Nhi?”
Tô Tần ngẫm nghĩ một thoáng, rồi đứng dậy, quỳ xuống, nói với Ngọc Thiền: “Sư tỷ ở trên, xin nhận của Tô Tần một lạy!” Nói xong, vái liền ba vái.
Ngọc Thiền trong lòng chấn động, giọng nói cũng run rẩy: “Tô sĩ tử hành đại lễ, bảo Thiền Nhi làm sao dám nhận?”
“Nếu không có sư tỷ, dứt khoát không có Tô Tần ngày hôm nay, kẻ quỳ ở đây vẫn chỉ là tên Tô Tần nói lắp ở làng Hiên Lý Lạc Dương, vẫn chỉ là tên Tô Tần thô tục chỉ biết sống tạm bợ vì công danh lợi lộc. Sư tỷ có cái tâm thuần khiết, chân thiện, giống như ánh sáng trăng rằm, vĩnh viễn chiếu rọi cho linh hồn khiếm khuyết của Tô Tần.”
Ngọc Thiền nước mắt tràn mi: “Những lời ngợi khen tốt đẹp của Tô sĩ tử, Thiền Nhi thực không dám nhận. Tô sĩ tử, hôm nay từ biệt, liệu kiếp này còn gặp lại nhau chăng?”
Tô Tần khấu đầu sát đất: “Cho dù đi tới chân trời góc bể, Tô Tần sẽ mãi mãi nhớ tới sư tỷ, nhớ tới sư đệ, cảm nhớ ân tái tạo của tiên sinh!”
Ngọc Thiền ngần ngừ một lát, rồi dứt khoát gỡ con ve sầu bằng ngọc đeo trên cổ xuống, áp lên bờ môi, hôn khẽ, cất giọng run rẩy: “Tô sĩ tử…”
“Sư tỷ có gì căn dặn?”
“Từ ngày Thiền Nhi đến với thế gian, vật này đã gắn bó với Thiền Nhi không rời một khắc. Hai mươi năm qua, Thiền Nhi đã là nó, nó cũng đã hoá thành Thiền Nhi. Hôm nay Tô sĩ tử sắp đi xa, Thiền Nhi không có vật nào khác, chỉ có vật này mang tặng, mong Tô sĩ tử sớm tối đừng chê bỏ!”
Tô Tần toàn thân run rẩy, khấu đầu sát đất, lặng phắc hồi lâu, mới bái lạy mà nói: “Hậu ý của sư tỷ, Tô Tần xin ghi nhận trong tâm. Trái tim thanh cao của sư tỷ, Tô Tần mãi mãi tôn kính. Song vật yêu mến của sư tỷ, Tô Tần lại không dám nhận!”
Ngọc Thiền nước mắt giàn giụa, giọng lạc đi: “Tô sĩ tử!”
Tô Tần cũng nghẹn ngào nói: “Sư tỷ, xin cho Tô Tần giải thích một lời. Không phải Tô Tần không yêu vật này, mà thực sự là ngoài núi hỗn loạn, thế tục dơ dáy, Tô Tần đắm mình vào chốn bụi trần, khác nào sa vào vũng bùn nhơ, nếu mang theo vật quý thanh khiết của sư tỷ bên mình, há chẳng khiến cho ô uế? Tấm lòng của sư tỷ, Tô Tần xin nhận; tình cảm của sư tỷ, Tô Tần ghi tạc trong tim. Còn vật quý của sư tỷ, xin sư tỷ cứ giữ lấy bên mình, đợi Tô Tần…”
“Tô sĩ tử, đừng nói nữa!” Ngọc Thiền nghẹn ngào cắt ngang lời Tô Tần. “Thiền Nhi sẽ đi bẩm báo với tiên sinh!” Rồi chậm chạp đứng dậy, đeo lại ve ngọc lên cổ, bước vào trong động.
Ngoài cửa, Trương Nghi cũng tới từ biệt tiên sinh, đã nghe thấy đầu đuôi cuộc nói chuyện giữa hai người, đột nhiên như choàng tỉnh mộng, bàng hoàng dựa người vào khung cửa, nước mắt như suối.
Trong động, Quỷ Cốc Tử ngồi ngay ngắn trên chiếu, trước mặt bày một bàn cờ, trên bàn cờ tuy các đường dọc ngang có đủ, song lại không có lấy một quân cờ. Tô Tần, Trương Nghi khấu bái sát đất, đều nước mắt giàn giụa.
Quỷ Cốc Tử mở mắt, liếc nhìn hai người, rồi chậm rãi hỏi: “Cả hai con đều muốn xuống núi?”
Tô Tần, Trương Nghi đều im lặng, không ai nói gì.
Quỷ Cốc Tử lại đưa mắt nhìn hai người: “Thượng tài cầu đạo, trung tài cầu tiên, hạ tài cầu quan. Với tố chất của hai con, nếu chuyên tâm khổ luyện, có lẽ sẽ đạt tới tiên đạo. Xuống núi hay không, đã nghĩ kỹ chưa?”
Trương Nghi bái lạy mà nói: “Đệ tử ngu dốt, khó thành tiên đạo, mong tiên sinh thành toàn!”
Quỷ Cốc Tử từ từ di chuyển ánh mắt sang Tô Tẩn: “Tô Tần, con thì sao?”
Tô Tần cũng bái lạy mà nói: “Đệ tử muốn cùng sư đệ xuống núi, đồng cam cộng khổ!”
“Được!” Quỷ Cốc Tử khẽ thở dài một tiếng. “Hai con đã quyết định như vậy, lão hủ cũng không ép. Lão hủ thấy hai đệ tử Bàng, Tôn thế khó dung nhau, thực lòng mong hai con khác họ, giúp đỡ khoan nhượng lẫn nhau, cùng thành tựu sự nghiệp, chớ làm thương tổn tới tình đồng học.”
Tô Tần, Trương Nghi đưa mắt nhìn nhau, rồi gật đầu nói: “Đệ tử xin ghi nhớ!”
Quỷ Cốc Tử lấy ra hai hộp cờ, một hộp đen, một hộp trắng. Quỷ Cốc Tử đẩy hộp đen về phía Tô Tần, đẩy hộp trắng về phía Trương Nghi, rồi ngồi nghiêm trang, thu thân mà nói: “Lấy cờ đi!”
Tô Tần và Trương Nghi lại đưa mắt nhìn nhau, rồi mỗi người cầm lên một quân cờ. Tô Tần cầm quân đen, Trương Nghi cầm quân trắng.
“Tô Tần, Trương Nghi!” Quỷ Cốc Tử chỉ vào bàn cờ trước mặt. “Thiên hạ giống như bàn cờ, trị thiên hạ giống như đánh cờ. Bàn cờ ở đây, quân cờ trong tay hai con, nước cờ này phải hạ thế nào, hai con đã có tính toán gì chưa?”
Tô Tần, Trương Nghi lại đưa mắt nhìn nhau, hồi lâu không ai nói lời nào.
Ánh mắt của Quỷ Cốc Tử trước hết nhìn vào Tô Tần, sau chuyển sang Trương Nghi, rồi lại quay về Tô Tần.
Tô Tần vòng tay nói: “Đệ tử ngu muội, xin tiên sinh chỉ giáo!”
“Hai con đã không chịu lên tiếng, vậy kẻ làm thầy sẽ chỉ điểm vài điều!” Ánh mắt của Quỷ Cốc Tử di chuyển tới bàn cờ. “Bàn cờ giống như thiên hạ, trị thiên hạ cũng chính là đánh ván cờ thiên hạ. Hai con đều là kỳ thủ cao cường, hạ nước thế nào, định thế ra sao, bố cục kiểu gì, rồi tấn công phòng thủ, thu quan ra sao, vô số phương thuật, ta cũng không nhắc lại nữa. Ta chỉ muốn nói, thế nào là cờ, thế nào là đạo đánh cờ.”
Hai người bốn mắt tròn xoe.
“Thế nào là cờ? Cờ là dịch, là biến số của thời gian không gian. Số của vạn vật, bắt đầu từ một. Nước của bàn cờ có tổng cộng ba trăm sáu mươi mốt. Một là chủ của bàn cờ, ở vị trí thiên nguyên, vận hành bốn phía. Ba trăm sáu mươi, tượng trưng cho số của một năm. Phân thành bốn phía, mô phỏng bốn góc; mỗi góc gồm chín mươi nước, tượng trưng cho số ngày trong mỗi mùa. Vòng ngoài cùng có bảy mươi hai nước, phỏng theo số hậu(4) trong năm. Quân cờ có tổng cộng ba trăm sáu mươi quân, trắng đen mỗi bên một nửa, phỏng theo âm dương. Bàn cờ vuông mà tĩnh, quân cờ tròn mà động, động tĩnh tương hợp. Từ đó có thể thấy, đạo lý của cờ, là mô phỏng theo trời đất, kết nối thiên địa nhân, chính là cái gốc xoay vần biến hoá của ba thứ đó.”
Một bàn cờ rất đỗi bình thường lại chứa đựng nhiều điều huyền diệu đến nhường này, cả Tô Tần và Trương Nghi quả thực chưa từng nghĩ đến. Giờ chia tay sắp tới, lời tiên sinh tặng trước lúc lên đường, lại càng uyên thâm hơn hẳn những giáo huấn thường nhật. Hai người càng thêm kính trọng, toàn thần chăm chú lắng nghe.
“Còn đạo đánh cờ, hoàn toàn phù hợp với đạo mở khép mà lão hủ đã từng giảng cho các con nghe, các con có thể đối chiếu mà lĩnh hội. Bàn cờ có đường ngang dọc, giống như trị thế không thể đi ngược đường. Thế cờ biến hoá khôn lường, từ cổ chí kim chưa có hai ván cờ nào tương tự, giống như thời thế thiên biến vạn hoá. Trị thế cần phải tuỳ cơ mà ứng biến, thuận thế mà dẫn dắt, không thể cứng nhắc rập khuôn. Đánh cờ không thể thiếu quân cờ, mỗi người các con nắm giữ một trăm tám mươi quân, nếu để trong hộp sẽ mãi mãi là quân cờ chết, chỉ có đặt lên bàn cờ, mới được sống động, mới có thể ‘trong ta có ngươi, trong ngươi có ta’. Nếu một quân cờ đi sai vị trí, nhẹ thì mất đất tổn binh, nặng thì thua trắng cả ván. Bởi vậy, khi đi bất cứ nước cờ nào, cần suy tính kỹ lưỡng rồi mới quyết định!” Nói tới đây, Quỷ Cốc Tử từ từ khép mắt lại.
Tô Tần, Trương Nghi khấu bái sát đất, đồng thanh nói: “Lời dạy của tiên sinh, đệ tử xin ghi nhớ nằm lòng!”
“Nhớ thì tốt!” Quỷ Cốc Tử lại mở mắt, thở dài một tiếng. “Hai con đã sắp ra đi, người làm thầy này muốn nói một lời thực lòng. Năm năm về trước, lão hủ thu nạp bốn người các con làm đệ tử, tuy là có nhân duyên tụ hợp, song cũng có lòng kỳ vọng.”
Tô Tần, Trương Nghi đồng thanh nói: “Đệ tử xin kính cẩn lắng nghe lời dạy bảo của tiên sinh!”
“Hai con nghe đây!” Quỷ Cốc Tử lại đưa mắt nhìn hai người. “Thế đạo hỗn loạn, thất hùng tranh bá, quần long múa vuốt, trăm họ lầm than, dân chúng khao khát thái bình. Thái bình là đạo của trời đất, cũng là nơi đại thế theo về, đại đạo hướng tới. Lão hủ đây kỳ vọng bốn người các con biết tâm niệm đến thiên đạo, đồng tâm hiệp lực, thúc đẩy đại thế thiên hạ hướng tới thái bình, chớ nên chỉ chăm chăm đến ân oán được mất, danh lợi tình thù.”
Tô Tần, Trương Nghi đều kinh động, cảm thấy trên vai như có gánh nặng ngàn cân.
Im lặng hồi lâu, hai người lại bái lạy, rồi đồng thanh nói: “Đệ tử xin ghi nhớ!”
“Ghi nhớ thì tốt!” Quỷ Cốc Tử gật đầu. “Các con có gì muốn nói chăng?”
Tô Tần nói: “Đệ tử có một thắc mắc, xin được tiên sinh chỉ giáo!”
“Nói đi!”
“Làm thế nào mới khiến thiên hạ thái bình?”
“Hãy khiến thiên hạ yên ổn.”
“Làm thế nào mới khiến thiên hạ yên ổn?”
“Cái đạo khiến thiên hạ yên ổn, có thể đi theo hai con đường: thứ nhất là thiên hạ nhất thống, thứ hai là chư hầu hoà thuận.”
Trương Nghi nói chen vào: “Theo ý tiên sinh, thiên hạ nhất thống và chư hầu hoà thuận, cách nào dễ thành công hơn?”
Rõ ràng, câu hỏi của Trương Nghi rất khó trả lời. Quỷ Cốc Tử ngẫm nghĩ hồi lâu, mới đáp: “Thiên hạ nhất thống và chư hầu hoà thuận đều có ưu thế riêng, lão hủ khó lòng phân định hơn kém. Có điều, thiên hạ sớm đã lễ băng nhạc hoại, lòng người không còn chất phác như xưa, mà đã sa đà theo tư dục, chư hầu đều mong tư lợi, đấu đá lẫn nhau. Nếu muốn các bên hoà thuận, quay trở về với lễ chế đầu thời Chu, thực chẳng khác nào bảo hổ lột da, đường xa xôi lại thêm trắc trở. Thiên hạ đã như người hấp hối, duy chỉ có cách dùng dao sắc mũi nhọn, thực thi những thuật phi thường, mới có thể đi đến thái bình. Theo lão hủ, con đường nhất thống có lẽ dễ thành công hơn. Còn làm thế nào để được nhất thống, chính là sứ mệnh mà ông trời ban cho hai con!”
Tô Tần và Trương Nghi đồng thanh cao giọng thề rằng: “Đệ tử nguyện thề cúc cung tận tuỵ, không phụ lời uỷ thác của tiên sinh!”
“Không phải là lão hủ uỷ thác, mà là ông trời uỷ thác, là lê dân trong thiên hạ uỷ thác. Lão hủ chỉ yêu cầu các con một điều, bất kể lúc nào, bất kể ở đâu, bất luận gặp phải bao nhiêu gian nan trắc trở, đều phải lấy đại cục thiên hạ làm trọng, nhất thiết không được buông tuồng cảm tính!”
Hai người bái lạy: “Đệ tử ghi nhớ lời dạy của tiên sinh!”
Quỷ Cốc Tử lấy từ dưới bàn ra hai bó thẻ tre, đặt trước mặt hai người: “Ra khỏi Quỷ Cốc, lão hủ đây tuy có lòng cũng không giúp được gì nữa. Chỉ có hai cuốn thẻ tre, mỗi người một cuốn, nếu gặp điều gì khúc mắc, có thể từ từ cảm ngộ.”
Hai người nhận lấy thẻ tre, mở ra xem, hoá ra là bản “Âm phù kinh” mà họ đã từng đọc nhiều ngày liền trong động. Khác chăng ở chỗ, trên hai cuốn thẻ tre này viết chi chít những lời chú giải của Quỷ Cốc Tử. Hai người chuyên chú đọc kỹ những lời chú giải, đột nhiên phát hiện ra đó chính là đạo thuật mở khép mà Quỷ Cốc Tử mới truyền thụ gần đây. Rõ ràng, tiên sinh mới soạn riêng cho hai người họ không lâu. Những con chữ còn chưa ráo mực, hương thơm phảng phất.
Tô Tần và Trương Nghi nước mắt chan hoà, quỳ sụp xuống đất khấu bái: “Đệ tử khấu tạ tiên sinh hậu tặng!”
“Sách là chết, dùng là sống. Làm thế nào để vận dụng những gì đã học, hoàn toàn dựa vào cảm ngộ của các con!”
“Đa tạ tiên sinh dạy bảo!”
Quỷ Cốc Tử khép hai mắt lại, phẩy tay nói: “Đi đi! Lão hủ việc trần đã xong, muốn nhập định rồi!”
Tô Tần và Trương Nghi lại lạy thêm mấy lạy, rồi lui ra khỏi thảo đường.
Tô Tần và Trương Nghi khoác theo tay nải, ngoái nhìn lần nữa gian nhà có mà họ đã sống suốt năm năm trường, lại lạy ba lạy về phía thảo đường, rồi đứng dậy, đi theo con đường mòn ven suối, tiến về phía cửa sơn cốc.
Tô Tần cứ đi vài bước, lại ngoảnh đầu nhìn.
Trương Nghi khó chịu trong lòng, nói giễu: “Tô huynh, hình như huynh có vẻ không nỡ rời xa!”
“Đúng vậy!” Tô Tần cười buồn, đáp. “Lần này xuống núi, còn chưa kịp từ biệt sư huynh một lời, vừa nãy tìm sư huynh mà không tìm thấy.”
Nghĩ rằng Ngọc Thiền yêu mến Tô Tần, tiểu đồng có lẽ ghen tỵ, Trương Nghi bèn nói đầy ẩn ý: “Phải chăng sư huynh không muốn gặp…” dừng lại một lát mới tiếp, “không muốn gặp chúng ta, nên đã cố tình lánh mặt?”
Tô Tần nghe ra ý tứ, hiểu rằng đằng sau ba tiếng “không muốn gặp” vốn dĩ phải là “Tô huynh”, chứ không phải là “chúng ta” như Trương Nghi vừa nói, song lúc này cũng không tiện nói gì, chỉ cười gượng mà lắc đầu thở dài: “Hiền đệ đã nói vậy, thì chúng ta đi thôi!”
Hai người sải bước đi luôn. Vừa rẽ qua một khúc quanh, thình lình thấy tiểu đồng đứng chắn ngang phía trước, bên cạnh là Ngọc Thiền ngồi ngay ngắn dưới đất, trước mặt bày cây đàn cầm mà nàng vô cùng yêu quý.
Thấy hai người đi đến, Ngọc Thiền khẽ mỉm cười nhưng không đứng dậy, cất giọng trong trẻo vui tươi: “Hai vị sĩ tử xuống núi, tiểu nữ không có gì tặng, xin gảy một khúc đàn, chúc hai vị thượng lộ bình an, thành công như ý.”
Lời vừa dứt, Ngọc Thiền vẩy nhẹ ống tay áo, hai tay lướt nhẹ trên đàn, vẫn là khúc nhạc quen thuộc “Cao sơn” và “Lưu thủy”, song so với năm năm về trước khi mới vào sơn cốc, âm vận giờ đây đã tinh diệu hơn không biết bao nhiêu lần. Huống hồ Ngọc Thiền tâm tư vạn mối, lại đàn trong thời khắc này, nên âm điệu càng thêm rung động tâm can.
Nghe được một lát, tiểu đồng buồn rầu khó nén, bèn quay mặt đi, kéo vạt áo lau nước mắt. Tô Tần và Trương Nghi đưa mắt nhìn khắp núi non bốn phía, rồi từ từ quỳ xuống trong tiếng đàn, bái lạy những ngọn núi xung quanh Quỷ Cốc, lại lạy tiểu đồng và Ngọc Thiền mỗi người ba lạy, sau đó dứt khoát quay người đi thẳng.
Trương Nghi đi được vài bước, lại quay người vẫy tay với tiểu đồng. Tiểu đồng liền chạy đuổi theo.
Trương Nghi vái tiểu đồng một vái thật sâu. Tiểu đồng vái đáp lễ, rồi hỏi: “Trương sư đệ muốn dặn dò gì ư?”
“Mấy năm rồi trong cốc, sư đệ vô cùng cảm kích sư huynh. Lần này đi rồi, sư đệ không có vật gì tặng, chỉ có một bảo bối, giấu ở dưới giường, xin tặng lại cho sư huynh!”
“Tiểu đồng cảm tạ sư đệ!”
Trương Nghi lập tức quay người, phăm phăm bước đi, không ngoảnh đầu lại nữa. Tô Tần ôm quyền hành lễ một lần nữa, rồi cũng quay bước đi theo. Ngọc Thiền lệ rơi thánh thót, lại đàn thêm một lúc nữa, tiếng đàn vấn vít du dương, đưa tiễn hai người ra tới tận ngoài sơn cốc.
Tiểu đồng nghĩ tới món quà mà Trương Nghi đã nói, bèn quay trở lại sơn cốc trước, đẩy cửa phòng Trương Nghi, mò mẫm được một bó thẻ tre dưới gầm giường, chẳng buồn xem qua, cứ thế cầm lên rồi mang luôn ra ngoài.
Tiểu đồng mang cuộn thẻ tre đi về thảo đường, vừa hay gặp Ngọc Thiền ôm đàn về tới, bèn gọi lớn: “Chị Thiền Nhi, bảo bối đây rồi!”
Ngọc Thiền hỏi: “Bảo bối gì vậy?”
“Là của Trương sư đệ, nói là tặng cho tiểu đồng, còn chưa kịp xem!” Tiểu đồng đặt bó thẻ tre xuống, mở ra nhìn, hoá ra là bản “Ngô Tử binh pháp” do Bàng Quyên sao chép.
“Ồ!” Tiểu đồng vò đầu bứt tai, kinh ngạc lẩm bẩm. “Chẳng phải sách này đã đốt rồi ư, tại sao lại còn ở chỗ Trương sư đệ?”
Ngọc Thiền lập tức hiểu ra nguyên do, bèn điềm đạm nói: “Trương Nghi đã tặng cho sư huynh, thì sư huynh hãy giữ lấy đi!”
Tiểu đồng giơ chân đá vào bó thẻ tre: “Tiên sinh đã muốn đốt nó, tiểu đồng có giữ cũng ích gì?” Nghĩ một lát, lại đổi ý, cuộn bó thẻ tre lại, cầm trong tay. “Dù sao bó tre này cũng có ích, đợi tới lúc tuyết rơi, có thể đem đun bếp.”
Trên đường đi, Tô Tần và Trương Nghi chẳng ai nói với ai lời nào, tới khi ra khỏi núi Vân Mộng, vẫn kẻ trước người sau cúi đầu bước lầm lũi. Hai người đi đò qua cửa Túc Tư, đi tiếp chưa được bao xa, trước mặt đã hiện ra hai con đường. Con đường cái quan phía chính nam thông tới Đại Lương, con đường mòn còn lại chếch sang hướng tây nam, men theo Hà Thuỷ thẳng tới Lạc Dương.
Trương Nghi dừng bước, ôm quyền mà nói: “Tô huynh, chúng ta có lẽ nên chia tay nhau ở đây. Trước mắt có hai ngả đường, Tô huynh chọn đường nào?”
“Hiền đệ,” Tô Tần sững sờ, “vừa… vừa mới qua cửa Túc Tư thôi mà, chúng ta vẫn có thể đi cùng một đoạn đường nữa!”
“Tô huynh,” Trương Nghi lại ôm quyền nói, “thiên hạ không có bữa tiệc nào không tàn, chúng ta rồi cũng phải chia tay, thêm một đoạn hai đoạn cũng vậy mà thôi!”
Thấy Trương Nghi không muốn đi cùng mình nữa, Tô Tần đành vái đáp lễ mà nói: “Hiền đệ nếu đã nhất quyết chia tay, huynh chỉ biết phục tùng. Nhân tiện hỏi một câu, hiền đệ hẳn là muốn tới đất Sở?”
Trương Nghi thoáng ngạc nhiên: “Đệ định đi đâu, sao Tô huynh lại biết?”
Tô Tần trả lời: “‘Gió xao xác chừ đã thổi’ hẳn là điệu dân ca của người Sở. Hiền đệ ngâm bài này, cho thấy đã có lòng nghĩ về Sở đã lâu, Tô Tần nhờ đó mà biết được.”
Trương Nghi cười vang mà nói: “Công phu suy đoán của Tô huynh quả nhiên lợi hại. Không giấu Tô huynh, đúng là vài ngày nay, đệ chỉ một lòng nghĩ đến Sở. Nước Sở rộng lớn, sản vật phong phú, dân chúng đông đúc, tiến có thể công chiếm, lùi có thể phòng ngự, chính là nơi có thể thoả chí vẫy vùng. Đệ quan sát liệt quốc, thấy kẻ nhất thống được thiên hạ, chỉ có thể là Tần hoặc Sở. Trương Nghi đã quyết định đặt cược vào nước Sở. Vậy còn Tô huynh, muốn tới đất nào?”
Tô Tần chỉ vào con đường mòn dẫn tới Lạc Dương: “Hiền đệ nhìn xa trông rộng, huynh bái phục. Huynh muốn trở về Lạc Dương, sẽ đi theo con đường này!”
Trương Nghi cười nói: “Tô huynh không đi đường lớn, đệ đành phải đi vậy!” Lại nhìn theo con đường mòn một lúc, rồi vòng tay nói. “Tô huynh đặt quân cờ đầu tiên sau khi xuống núi vào vị trí Thiên nguyên, quả thực cao tay. Tiểu đệ bái phục, xin chúc mừng!”
“Ồ!” Tô Tần sững sờ. “Hiền đệ dựa vào đâu mà nói vậy?”
“Tô huynh muốn dùng kế ‘mượn đường diệt Quắc’, chẳng phải cao tay ư?”
“Nói vậy có nghĩa gì?”
Trương Nghi dõng dạc: “Chu thất tuy suy, song về danh nghĩa, vẫn là vương thất chính tông, xứng đáng gọi là Thiên nguyên. Tô huynh trở về Lạc Dương, ắt muốn du thuyết Chu thiên tử, phất lá cờ Chu thất để chỉnh đốn thiên hạ. Chu thiên tử đương nhiên không dùng huynh, song sẽ rất tán thưởng huynh. Như vậy, nghĩa cử phò tá Chu thất, cực lực xoay chuyển cơn sóng dữ của Tô huynh cũng sẽ vang danh thiên hạ. Tô huynh mang theo vinh dự tới Tần, danh giá cũng không còn tầm thường nữa.”
Thấy Trương Nghi một mạch chỉ rõ những tính toán trong lòng mình, Tô Tần không khỏi giật mình kinh hãi, bất giác rùng mình một cái, song lập tức nặn ra một nụ cười: “Hiền đệ tính toán như vậy, huynh vô cùng khâm phục. Có điều, lần này ra đi, huynh thực sự chưa nghĩ được nhiều như vậy.”
Trương Nghi hỏi gặng: “Nếu không phải vì vậy, cớ sao Tô huynh lại trở về quê, có thể nói cho đệ biết chăng?”
“Không giấu hiền đệ,” Tô Tần thẳng thắn, “lần này, quả thực huynh muốn tới Chu thất, song không phải để thực thi mưu kế, mà chỉ là để triều bái thiên tử mà thôi. Ngoài ra, huynh cũng muốn về thăm nhà một chuyến. Mới thế mà đã xa nhà gần sáu năm trời. Năm xưa tranh cãi với cha, huynh bực tức bỏ nhà ra đi, cũng là bất hiếu. Đến nay, nghiệp học có chút thành tựu, cũng nên về quê thăm cha mẹ, tạm tròn đạo hiếu.”
Lời giải thích của Tô Tần, không ngờ lại khiến Trương Nghi thêm một phen chua xót. Nghĩ đến mình không còn cha mẹ, không còn nhà để thăm, không còn nước để về, Chu thiên tử lại là phụ vương của Ngọc Thiền, Trương Nghi gắng cười gượng gạo mà nói: “Nếu đúng như vậy, hẳn là đệ đã suy nghĩ thái quá!” Rồi quay đầu nhìn về phía Hà Tây xa xôi, thở dài sườn sượt. “Than ôi, có nhà thực tốt làm sao, tới thăm Chu Vương lại càng nên làm. Chu Vương mất đi ái nữ, hẳn vẫn đau lòng tới tận ngày nay. Tô huynh lần này tới đó, vừa hay cũng an ủi được Chu Vương.”
Nghe giọng nói pha chút mỉa mai của Trương Nghi, Tô Tần vô cùng áy náy. Song lời đã thốt ra, có nói thêm gì cũng đã muộn rồi. Tô Tần cười gượng, tiếp lời: “Hiền đệ nói phải, huynh cũng có ý này!”
“Than ôi!” Trương Nghi lại thở dài một tiếng. “Tô huynh mưu sự giấu kín không lộ, thực khiến đệ bội phục! Đệ dốc hết tâm huyết để bố cục suốt năm năm ròng, cứ ngỡ đã chu toàn kín kẽ, nào ngờ trong nháy mắt đã bị Tô huynh phá hỏng. Suy đi tính lại, trong hiệp thứ nhất giữa hai ta, Tô huynh đã thắng thực ngoạn mục!”
Thấy Trương Nghi vẫn canh cánh trong lòng chuyện của Ngọc Thiền, Tô Tần lại cười gượng một tiếng, ôm quyền cáo biệt: “Hiền đệ, chuyện trong Quỷ Cốc đều là việc đã qua. Hiền đệ giờ đã muốn chia đường, vậy huynh xin cáo từ ở đây. Hẹn ngày gặp lại!”
Trương Nghi cũng ôm quyền mà nói: “Hẹn ngày gặp lại!”