Trên đường trở về, Tô Tần nặng trĩu suy tư.
Phủ tướng quốc cách cung thành không xa, song với Tô Tần lúc này, quãng đường lại dài dằng dặc tựa hồ như bất tận. Tô Tần rất hiểu Tử Chi. Xem ra, hoạ nạn của nước Yên đã không thể vãn hồi, kiếp nạn khủng khiếp hơn nữa, còn ở phía sau.
Bỗng sực nhớ tới một điều, Tô Tần trong lòng giật thột, vội vén rèm xe, gọi giật: “Trâu huynh, dừng!”
Trâu Phi Đao hô phu xe dừng lại. Kể từ sau lần ngộ nạn dọc đường, Trâu Phi Đao không tự đánh xe nữa, mà tìm một phu xe khác, để mình chuyên tâm hộ vệ Tô Tần.
“Chúa công?” Trâu Phi Đao ghé lại gần.
“Trong cung còn mấy vị công tử?”
“Viên Báo có lẽ biết.” Trâu Phi Đao đáp.
“Mau, về phủ.”
Loáng cái, xe ngựa đã về tới trước cổng, ra đón họ lại không phải là Viên Báo, mà là Tô Đại. “Anh hai, nhớ anh quá!” Trông thấy Tô Tần, Tô Đại không còn giữ vẻ mặt nghiêm trang thường nhật, mà lại hồn nhiên như hồi còn ở Lạc Dương, hân hoan chạy ra đón, “không ngờ anh lại trở về vào lúc này!”
Tô Tần khẽ cười đáp lại, rồi chỉ vào phòng khách.
Thấy Trâu Phi Đao dìu Tô Tần xuống xe, Tô Đại vội vàng chạy lại đỡ ở bên kia, cùng vào trong phòng.
Trong phòng khách, cả nhà Tô Đại đã tề tựu đông đủ, đầy chật cả một gian phòng rộng lớn.
Tô Tần ngồi xuống, ánh mắt dừng lại ở một cô gái, trông còn rất trẻ, song tóc đã vấn cao, mang trang phục thiếu phụ, sắc mặt e thẹn, đứng bên cạnh con trai cả của Tô Đại.
“Thưa anh, đây là trưởng công chúa của đương kim đại vương, hiện là cháu dâu của anh đó!” Tô Đại thấy Tô Tần nhìn nàng ta thì mau mắn giới thiệu, giọng điệu không giấu nổi vẻ hãnh diện, rồi vẫy tay với hai người, “các con, đây là bác hai mà cha thường kể, hãy mau lại vái chào!”
Con trai Tô Đại kéo công chúa bước lại, cùng hành đại lễ khấu bái.
“Vẫn nhớ ta chứ?” Tô Tần nhìn công chúa cười, “ta từng tới nhà cỏ của con, lúc đó, con còn bé xíu!”
Trưởng công chúa cúi mặt, gật đầu: “Thưa, vẫn nhớ!”
Tô Đại gọi những người con khác lại, lần lượt vái lạy. Tô Tần sai Viên Báo mang vàng tới, tặng cho mỗi người một đĩnh. “Viên huynh,” Tô Đại nhìn sang Viên Báo, “hãy dẫn bọn chúng ra vườn hoa, xem có chỗ nào cần nhổ cỏ dọn dẹp không?”
Viên Báo vâng lời, cùng mọi người lui ra.
Có lẽ đã quá mệt mỏi, Tô Tần đi vào trong buồng, nằm ghé xuống giường.
Tô Đại cũng theo vào.
“Thưa anh,” thấy trong phòng không còn ai khác, Tô Đại mới hồ hởi kể lại, “mấy năm qua, nghe theo lời anh chỉ dạy, em đã đọc những sách anh đọc, ngộ những điều anh ngộ, cũng có ít nhiều tâm đắc. Gần đây có đem vận dụng, chao ôi, quả là hữu hiệu thần kỳ!”
“Em vận dụng thế nào?”
Tô Đại bèn đem chuyện đi sứ sang Tề kể hết cho Tô Tần nghe, rằng mình đã suy đoán tình thế ra sao, đối đáp với Thuần Vu Khôn thế nào, rồi lại đến chuyện đối đáp với Tề Vương, trò chuyện với Tử Chi, phục mệnh với Yên Vương Khoái, và cả chuyện Tề Vương khen ngợi, Tử Chi tặng vàng vân vân, hào hứng bẩm báo vô cùng cặn kẽ.
“Ngươi…” Tô Tần cuối cùng đã hiểu rõ ẩn tình, giơ tay chỉ thẳng mặt Tô Đại, ngón tay run lên bần bật, “ngươi phá hỏng đại sự của ta đã đành, lại còn tàn hại nước Yên, tàn hại người Yên, tàn hại Tử Chi, cuối cùng, đã tàn hại chính bản thân ngươi đó!”
Tô Đại bàng hoàng chết lặng.
Rõ ràng, Tô Đại hoàn toàn không thể ngờ được sẽ nhận phải lời quở trách nặng nề nhường này.
“Anh…anh…” Tô Đại nghẹn lời, “là…là thế nào?”
“Ngươi…” Tô Tần phẫn uất khó kham, ho rũ một hồi, rồi gắng gượng khiến mình trấn tĩnh lại, trừng mắt nhìn Tô Đại, “khắp Kế Thành máu nhuộm đỏ loà, mà kẻ châm ngòi hiểm hoạ là ngươi lại không hề hay biết, đây…đây chính là thuật miệng lưỡi mà ngươi học được đó sao?”
“Yên Vương nhường ngôi cho hiền thần Tử Chi, chính là thánh đức thời thượng cổ. Bởi thái tử quá cố chấp, cứng đầu phản nghịch, mới gây ra hoạ nạn này. Nhưng sau đó, Thị Bị tướng quân hiểu rõ nguồn cơn, đã đứng về phía Tử Chi, giờ đây phản đảng đã trừ, nước Yên chẳng mấy chốc sẽ…”
Không chờ Tô Đại nói hết lời, Tô Tần đã chỉ thẳng ra cửa: “Đi…ngươi đi ngay cho ta! Từ nay về sau, đừng bao giờ đặt chân vào nhà ta nữa!”
“Anh…” Tô Đại kinh hãi rụng rời, quỳ sụp xuống bật khóc.
Tô Tần quay đi, xoay lưng về phía Tô Đại.
“Thưa anh…” Tô Đại nghẹn ngào, “em biết em sai rồi, việc tới nước này, xin anh hãy dạy em phải làm gì đây?”
“Nếu ngươi còn muốn sống, nếu ngươi không muốn vợ con ngươi mất mạng, trong vòng ba ngày tới, hãy dẫn họ lập tức rời khỏi Kế Thành, rời khỏi nước Yên!” Tô Tần nói gọn lỏn, rồi kết một câu, “chớ hỏi ta tại sao!”
Hai chữ “tại sao” vừa lên đến miệng đã bị chặn ngang, Tô Đại đành miễn cưỡng nuốt lại xuống họng, lắp bắp hỏi: “Đi đâu?”
“Ngươi từ đâu tới, thì hãy về đó!”
“Anh hai?” Tô Đại rất đỗi hoang mang, “em…em ngựa đẹp xe sang đưa cả nhà đi khỏi, giờ lại vất vưởng quay về, còn mặt mũi nào?”
“Mấy trăm dật vàng, lẽ nào còn chưa đủ cho ngươi vênh vang? Một cô con dâu công chúa, lẽ nào còn chưa đủ cho ngươi hãnh diện? Từ lúc nào mà mặt mũi của ngươi đã lớn đến mức không màng sống chết?”
“Em…”
“Đi ngay!” Tô Tần dứt khoát, “còn nữa, ngày nào ta còn sống, thì cấm ngươi được lộ diện ở bất cứ nước nào!”
“Em…”
“Nhớ kỹ chưa?” Tô Tần nghiêm giọng quát hỏi.
“Nhớ…nhớ rồi.” Tô Đại lí nhí, vái mà nói, “thưa anh, em…em đi đây.”
“Còn nữa,” Tô Tần lật mình lại, nhìn thẳng vào Tô Đại, “ta còn một chuyện muốn hỏi. Mấy vị công tử của Tử Khoái, hẳn đều đang ở trong cung?”
“Trước đây ở trong cung, còn lúc này ở đâu không rõ.”
Tô Tần đưa hai tay bưng lấy mặt, bộ dạng rất đỗi bất lực đớn đau.
“Thưa anh?” Tô Đại hạ giọng thăm dò.
“Đi ngay,” Tô Tần lại chỉ ra cửa, “ngươi rời Kế Thành, tuyệt đối không được hé lộ cho ai biết, bằng không…”
Tô Đại lúc này mới bắt đầu thấy sợ, vội vòng tay vái lia lịa: “Tạ ơn anh hai, Tô Đại nhớ rồi!” Sáng sớm hôm sau, Tô Tần rời khỏi Kế Thành trước sự giám sát của vô số tai mắt phía Tử Chi, Viên Báo cũng đi cùng. Phủ tướng quốc nước Yên bao năm dành cho Tô Tần, giờ đã bỏ trống thật sự.
Tô Tần ra đi chưa đầy ba ngày, Tử Chi đã bức chết toàn bộ các công tử đang ở trong tay mình, bất kể là con của Tử Khoái hay của Dịch Vương, chính thức lập con trai mình làm thái tử. Thái thượng Cơ Khoái vẫn bị tân Yên Vương giam lỏng trong cung viện, hoàn toàn cách tuyệt với bên ngoài.
Trong mấy ngày đó, Tô Đại nghe theo lời khuyên của Tô Tần, bỏ lại toàn bộ phủ trạch gia tài, mượn cớ đi thăm bạn, cả nhà chia thành nhiều tốp lục tục rời khỏi Kế Thành, tụ hợp ở Vũ Dương, sau đó tới thẳng Hàm Đan.
Tô Đại có chết cũng không chịu về thôn Hiên Lý.
Chẳng mấy chốc, hung tin về thái tử Bình đã truyền tới Lâm Truy.
Đây cũng chính là tin Tuyên Vương đang chờ đợi. Tuyên Vương lập tức triệu Điền Anh, Khuông Chương tới nghị sự, gần như không phải bàn bạc gì thêm, nhanh chóng nhiệm Khuông Chương làm chủ tướng, điểm binh năm đô, lấy cớ Tử Chi cướp Yên thất đạo, rục rịch phạt Yên.
Yên cũng là nước lớn, nếu Tề phạt Yên, sẽ phải dốc hết quốc lực, cũng cần đảm bảo không phải lo lắng hậu phương. Vì chuyện này, Tề Tuyên Vương phái các đại phu Thẩm Đồng, Điền Văn đi sứ Trung Sơn và nước Triệu, hẹn hai nước cùng khởi binh.
Thẩm Đồng là người nước Lỗ, từ nhỏ đã học Nho gia, tôn sùng Mạnh Tử. Lần này thụ mệnh, Thẩm Đồng suy nghĩ nát óc mà vẫn không thông, đến ngày xuất sứ, đi tới Tắc môn lại quay trở về, đánh xe thẳng tới nhà Mạnh Tử, nào ngờ thấy Khuông Chương cũng đang ở đó.
“Dám hỏi phu tử,” thi lễ xong rồi, Thẩm Đồng hỏi ngay vào chuyện, “Yên, có phạt được chăng?”
Mạnh Tử liếc mắt về phía sứ tiết của Thẩm Đồng, rồi chậm rãi hỏi: “Là đặc sứ của Tề Vương hỏi lão phu ư?”
“Thưa không,” Thẩm Đồng vội vã gỡ mũ sứ thần xuống, đặt sứ tiết sang một bên, cung kính đáp, “là vãn sinh Thẩm Đồng tới thỉnh giáo riêng phu tử!”
“Nếu là hỏi riêng,” Mạnh Tử hạ giọng, ra điều bí mật, “lão phu sẽ nói, Yên có thể phạt!”
“Vì sao có thể phạt?” Thẩm Đồng lại hỏi.
“Bởi Cơ Khoái không được phép đem nước Yên tặng cho người khác, Tử Chi không được phép nhận nước Yên từ tay Cơ Khoái.”
“Ồ…” Thẩm Đồng lấy làm băn khoăn, “nước Yên đã là của Cơ Khoái, cớ sao lại không thể tặng cho người khác?”
“Nước Yên sao có thể là của Cơ Khoái? Nước Yên là của Vũ Vương nhà Đại Chu ban phong cho em trai là Thiệu Công, đất Yên là của hậu duệ Thiệu Công. Hậu duệ của Thiệu Công lại có hậu duệ, phân bố khắp mọi nơi trên toàn cõi nước Yên. Nước Yên là của toàn bộ người Yên, chứ đâu phải của mình Cơ Khoái?”
“Nhưng Cơ Khoái là vua nước Yên kia mà! Cớ sao Nghiêu Thuấn có thể nhường thiên hạ, còn Cơ Khoái thân làm vua nước Yên lại không thể nhường nước?”
“Than ôi,” Mạnh Tử lắc đầu, “vậy thì lão phu xin hỏi, đặc sứ có thể tặng nhà cửa, ruộng vườn của mình cho người khác được không?”
“Nhà cửa, ruộng vườn là của vãn bối, đương nhiên có thể tặng.”
Mạnh Tử chỉ sang Khuông Chương: “Vậy tướng quân có thể tặng nhà cửa, ruộng vườn của Thẩm đại phu đây cho người khác được không?”
“Không thể!”
“Đặc sứ có mấy người con, đang mong chờ đặc sứ phân chia tài sản, vậy đặc sứ có thể đem nhà cửa, ruộng vườn của mình tặng cho người khác được không?”
“Ồ…” Thẩm Đồng không biết trả lời thế nào.
“Chính là vậy đấy.” Mạnh Tử giải thích, “Nghiêu, Thuấn có thể nhường thiên hạ, bởi thiên hạ vốn dĩ không phải của Nghiêu Thuấn, thiên hạ là của người thiên hạ, chỉ là Nghiêu Thuấn hiền năng, nên được người thiên hạ uỷ thác để trị lý thiên hạ. Họ chỉ là người trị lý, chứ không phải người sở hữu thiên hạ. Do vậy, khi thấy mình không còn đủ sức, mới lựa chọn người hiền năng khác để nhường ngôi vị. Cơ Khoái thì khác. Cơ Khoái không thể nhường nước Yên, bởi nước Yên không phải của mình Cơ Khoái. Nước Yên là do thiên tử nhà Chu ban cho Thiệu Công, là của Thiệu Công. Thiệu Công cho con trai trưởng dòng đích kế vị. Cơ Khoái sở dĩ được lên ngôi vua, vì Cơ Khoái là con trai trưởng dòng đích của tiên vương, cho nên, Cơ Khoái nhường nước Yên cho người khác, tức là đem cho đi ngôi vị vốn dĩ thuộc về con trai trưởng dòng đích của mình là Cơ Bình. Sao lại có thể đem cho người khác thứ sẽ thuộc về đích trưởng tử của mình được? Đặc sứ đã thấy rồi đấy, nước Yên chính vì thế mới sinh loạn. Kẻ làm loạn nước Yên, chính là Cơ Khoái.”
“Vậy…tại sao Tử Chi lại không thể nhận lấy ngôi vị mà Cơ Khoái đã nhường?” Thẩm Đồng lại hỏi.
“Than ôi,” Mạnh Tử lắc đầu, “thân là bề tôi, mà lại nhận lấy tiền của không nên nhận, nhận lấy ngôi vị không nên nhận, chẳng phải đã đánh mất đạo của bề tôi ư?”
“Ba họ Hàn, Triệu, Ngụy phân chia nước Tần, chẳng phải cũng là đánh mất đạo bề tôi đó ư?” Thân là bề tôi nước Tề, Thẩm Đồng không dám nhắc tới chuyện họ Điền đoạt quyền họ Khương.
“Ba nhà chia Tần, vốn là đại nghịch, tuy nhiên sau đó đã nhận được chiếu phong của thiên tử nhà Chu, thì lại khác đấy.”
“Ý phu tử là, nếu Tử Chi cũng nhận được chiếu phong của Chu thiên tử, sẽ được chấp nhận?”
“Chu thiên tử đã ban chiếu phong cho người này chưa?” Mạnh phu tử hỏi ngược lại. “Vãn bối hiểu rồi!” Thẩm Đồng vòng tay, “tạ ơn phu tử chỉ giáo!”
“Xin hỏi phu tử,” Khuông Chương tiếp lời, “Yên là nước vạn cỗ xe, đệ tử thụ mệnh phạt Yên, với tình thế hiện tại, đệ tử đã cầm chắc phần thắng, song trong lòng vẫn thấp thỏm bất an. Dám hỏi phu tử, bất an này vì đâu mà có?”
“Chưa thỉnh vương mệnh.” Mạnh phu tử đáp ngay tức khắc.
“Vương mệnh?” Khuông Chương ngơ ngác, “đệ tử xuất chinh, chính là nhận vương mệnh đó.”
“Vương này không phải vương đó, mệnh này không phải mệnh đó.” Mạnh Tử thủng thẳng đáp, “Yên, Tề đều là nước vạn cỗ xe, nước Yên thất đạo, quả thực đáng phạt, song người Tề dựa vào đâu mà phạt? Sở dĩ trong lòng tướng quân thấy bất an, là bởi điều này.”
“Ý phu tử muốn nói, cần thỉnh mệnh Chu thiên tử?”
“Chính phải!” Mạnh Tử gật đầu thật mạnh, “Yên là nước do thiên tử nhà Chu ban phong, nay nước Yên thất đạo, dân Yên gặp hoạ, chịu đựng nỗi khổ như nước ngập lửa thiêu, song chỉ có thiên tử nhà Chu mới có quyền phạt tội. Ai có thể phạt? Người phụng mệnh Chu thiên tử. Nay Tề Vương ban chiếu phạt Yên, song lại chưa thỉnh mệnh thiên tử, là lấy vô đạo phạt vô đạo. Tướng quân dụng binh, lấy vô đạo phạt vô đạo, trong lòng sao có thể không bất an cho được?”
“Vậy đệ tử nên làm thế nào?”
“Hãy tấu lên Tề Vương, sai sứ sang Chu tiến cống, thỉnh mệnh phạt Yên. Tướng quân nếu phụng mệnh thiên tử cứu dân Yên thoát cảnh lầm than, Yên ắt phá được, tướng quân ắt lập uy đức ở Yên, lưu danh hậu thế!”
Khuông Chương lập tức vào cung, tấu lên Tuyên Vương lời khuyên của Mạnh Tử. Tuyên Vương cười nhăn nhó, rồi cũng bảo Điền Anh phái một đại phu mang theo trăm dật vàng và trăm súc lụa tới Lạc Dương thỉnh mệnh, xin thiên tử ban chiếu cho Tề Vương kết minh liệt quốc thiên hạ phạt Yên.
Thấy Tề Vương nghe theo lời can gián, Mạnh Tử mãn nguyện vô cùng, tráng chí dào dạt, tự tìm đến chỗ Khuông Chương mà nói: “Phụng chiếu mệnh thiên tử, thống lĩnh quân chính nghĩa, phạt nước vạn cỗ xe, đây là đại nghiệp thiên cổ. Mạnh Kha bất tài, cũng xin được đi theo dưới trướng tướng quân!”
Khuông Chương vòng tay: “Có ân sư trù hoạch sách lược, đệ tử lấy làm vinh hạnh!”
Sứ Tề Thẩm Đồng gấp rút tới Trung Sơn, vào yết kiến Trung Sơn Vương, nói về việc kết minh với Tề Vương.
Trung Sơn Vương đang tuổi tráng niên, khao khát làm nên nghiệp lớn, bèn triệu lão tướng quốc Tư Mã Chu vào nghị sự.
“Hồi bẩm đại vương,” Tư Mã Chu gắng kìm cơn phấn chấn, thong thả đáp, “đây chính là cơ hội nghìn năm một thuở.”
“Sao lại nói là nghìn năm một thuở?” Trung Sơn Vương ngả người lại hỏi.
“Hồi bẩm đại vương,” Tư Mã Chu dõng dạc nói, “ta phía bắc có Yên, phía đông có Tề, phía tây phía nam là Triệu. Ba nước đều là kẻ địch của ta, hung hãn nhất là Triệu. Dám hỏi đại vương, có sợ Triệu chăng? Dứt khoát là có. Như lão thần đây, đã cùng Triệu đại chiến nhiều lần, tiểu chiến cũng không ít, vẫn thực lòng sợ Triệu. Lại thêm gần đây, Triệu Ung tập kích Lai Nguyên, chiếm lấy trọng ải phía tây của ta, nếu lại liên minh với Yên, thì có thể theo Lai Thuỷ về đông, tập kích ta từ phía bắc, khiến ta trước mặt sau lưng đều thọ địch. May sao, trời không tuyệt ta. Người Yên nội loạn, Tử Chi cướp nước, người Tề nhận chiếu mệnh của thiên tử, hẹn ta cùng phạt Yên. Người Tề phạt Yên, chí ở Hà Gián. Nếu ta phạt Yên, chí ở Bắc Dịch Thuỷ. Ta nếu có được Bắc Dịch Thuỷ, tiến về phía bắc tới Yên Sơn, sẽ khống chế được ải Tử Kinh và ải Cư Dung, chặn đứng đường tiến về đông của Triệu. Lúc đó, người Triệu dù hung hãn, cũng làm gì được ta?”
“Nếu ta phạt Yên mà người Triệu thừa cơ tập kích sau lưng, tướng quốc hẳn có kế sách ứng phó?”
“Nghe sứ Tề nói, Tề Vương cũng phái sứ thần Điền Văn tới Hàm Đan. Nếu không ngoài dự liệu, người Triệu ắt cũng theo Tề phạt Yên”
“Vì sao người Triệu lại theo Tề?”
“Bởi vì giao ước với Tề Vương. Xưa Ngụy phạt Triệu, Tề dốc toàn lực cứu Triệu. Nay Tề Vương muốn kết minh, Triệu có thể không theo ư?”
“Tướng quốc nói rất phải.” Trung Sơn Vương gật gù, “có điều, Triệu nếu phạt Yên, ắt sẽ mượn đường ta. Người Tần xảo trá, kế mượn đường phạt Quắc, tướng quốc không thể không đề phòng.”
“Chuyện này, thần đã có dự liệu.” Tư Mã Chu đáp,“Triệu đã theo Tề phạt Yên, chính là đồng minh với Tề và ta. Nếu Triệu tập kích sau lưng ta, tức là không nể mặt Tề Vương. Mặt khác, khi Triệu dẫn quân qua lãnh thổ ta, đại vương cũng nên có phòng bị, ngoài lỏng trong chặt, một mặt lợn dê khao thưởng, một mặt bày trận sẵn sàng.”
“Hay lắm!” Trung Sơn Vương đã hạ quyết tâm, “tuy nhiên, tướng quốc vẫn nên phái sứ thần sang Triệu cầu thân, kết tình láng giềng hoà mục, nhân thể nghe ngóng xem ý Triệu Vương thế nào.”
“Thần tuân mệnh.”
Sau khi Tô Tần và Cơ Tuyết lên đường tới Yên, Phi Phi không còn bị quản thúc quá ngặt, nên cuộc sống cũng tự do hơn nhiều.
Từ sau lần đụng đầu ngoài phố, công tử Chức rất năng tới phủ tướng tìm Phi Phi học võ thuật, kiếm pháp, còn khen ngợi võ nghệ của Phi Phi hết lời. Đang là đệ tử, vụt cái được đưa lên hàng sư phụ, Phi Phi rất vui, dạy dỗ cũng đâu ra đấy, chẳng bao lâu sau, đã truyền thụ toàn bộ kiếm pháp Mặc gia cho Tử Chức. Tình bạn giữa hai “thầy trò” ngày càng thêm thân thiết, hôm nào không gặp, cả hai đều thấy bứt rứt không yên. Tuy nhiên, dù là Phi Phi hay công tử Chức, cũng không lúc nào thoát khỏi vòng giám sát. Phía Phi Phi là Mặc giả, còn phía công tử Chức là tỳ nữ thân tín của mẫu hậu, cũng chính là hắc điêu do Doanh Tật để lại bảo vệ cho hai mẹ con. Tuy địa vị của nàng ta trong Hắc Điêu đài không cao, song võ nghệ hơn người, không hề thua kém Thiên Hương. Bên cạnh nàng ta còn có một ổ hắc điêu lớn mạnh của Tần, chỉ tính riêng ở Hàm Đan, đã có không dưới hai chục kẻ, hoặc ở vương cung, hoặc ở quan phủ, hoặc tản mát ngoài phố chợ tửu lầu, giám sát nhất cử nhất động của kinh đô Triệu.
Những điều này, công tử Chức lại không hề hay biết.
Chiều hôm đó, hai người cùng luyện kiếm trong hậu hoa viên của phủ tướng quốc, Phi Phi chợt hỏi: “Anh có muốn học thuật phi đao của chú Trâu không? Chú Trâu đã truyền dạy cho em, nếu là cận chiến, không binh khí nào có thể sánh kịp phi đao.”
“Muốn chứ!” Tử Chức vội đáp.
Phi Phi đưa mắt nhìn quanh, chau mày: “Chỗ này không được. Luyện phi đao ngộ nhỡ lỡ tay, rất dễ tổn thương đến người khác.”
“Vậy phải luyện ở chỗ nào?”
“Có một chỗ rất vắng vẻ,” Phi Phi chỉ ra bên ngoài tường vây, “ngoài kia có một ngôi miếu nhỏ bỏ hoang, hồi trước chú Trâu cũng dạy em tại đó.”
“Hay quá!” Tử Chức reo lên, “chúng ta hãy tới đó.”
“Nhưng ông Khuất Tương không cho.” Phi Phi ngẫm nghĩ một lát, lại nói, “có cách rồi, mình đừng đi cổng chính, mà hãy trèo tường qua đó, khi nào luyện xong, lại trèo tường về.”
Hai người đi đến bên tường vây, Phi Phi tung mình nhảy lên, đứng trên đỉnh tường, nhìn vào trong miếu, thấy vắng tanh vắng ngắt không một bóng người, bèn chìa tay cho Tử Chức. Tử Chức nắm lấy, nhảy lên tường vây, rồi cả hai cùng vào trong miếu hoang.
Hai người đi quanh xem xét một vòng, rồi mới cài chặt then cổng, đứng trong sân miếu.
Phi Phi cười nói: “Chỗ này không có ai qua lại, anh cứ an tâm mà tập phóng đao.” Nói rồi buộc một tấm bia làm bằng da hươu lên thân cây to trong sân, rút ra vài cây đao nhỏ, “anh xem!” Chỉ nghe “vút” một tiếng, ngọn đao rạch gió lao đi, cắm phập giữa tâm bia.
Công tử Chức xuýt xoa khen ngợi, cũng nhặt đao lên, vận lực ném đi. Nhưng mũi phi đao chẳng chịu nghe lời, chệch qua thân cây, va trúng tường bao cách đó vài trượng.
“Phải thế này!” Phi Phi nhặt phi đao về, bắt đầu chỉ dẫn cho công tử Chức từ cách cầm phi đao cho tới cách vận lực.
Hai người luyện đao chừng nửa canh giờ, bỗng nghe xung quanh có tiếng xào xạc, rồi chớp mắt, từ khắp tứ phía nhảy xổ ra cả thảy mười hai kẻ bịt mặt tay lăm lăm đao kiếm, vây kín lấy họ, chặn mất đường lui tới bên tường của phủ tướng.”
“Kẻ nào?” Phi Phi quát lên lanh lảnh. “Nhóc con, không liên quan đến ngươi!” Kẻ cầm đầu chỉ sang bên cạnh, “mở đường, cho con bé đi.”
“Các ngươi là ai?” Phi Phi lớn giọng hỏi.
“Họ là thích khách nước Yên, người họ tìm là anh, em đi mau!” Tử Chức giải thích, rồi rút bảo kiếm cầm tay, dựa lưng vào thân cây, thủ thế sẵn sàng quyết chiến.
“Anh Chức!” Phi Phi đi sát theo sau, đứng ở bên kia gốc cây, một tay nhổ mũi phi đao, một tay rút nhuyễn tiên, sau đó gập một ngón tay đưa lên bên môi, huýt lên một tiếng sáo dài lảnh lót.
“Lên!” Chúng thích khách nhận lệnh, lập tức nhảy xổ vào Tử Chức.
“Vút vút” hai tiếng, hai mũi phi đao bay ra khỏi tay Phi Phi, trúng vào hai kẻ, song những thích khách khác đã lao tới nơi, vài mũi kiếm sáng loà đồng thời đâm vào Tử Chức.
Tử Chức tung mình nhảy vọt lên không, chân giậm cành cây nhún mình cái nữa, lẹ làng nhảy lướt qua đầu đám thích khách như chim cắt chao ngang, đồng thời với đó, vung kiếm chém từ trên xuống, trúng đỉnh đầu hai thích khách. Tử Chức đáp xuống sau lưng chúng thích khách, xoay tít người, vung kiếm thủ thế.
Tất cả diễn ra trong nháy mắt.
Phi Phi trợn tròn mắt nhìn, như không dám tin.
Mười hai thích khách, chỉ trong nháy mắt, bốn kẻ trọng thương, chúng không còn dám khinh suất nữa, sáu kẻ vây kín Cơ Chức, còn hai kẻ xông về phía Phi Phi. Trong tay Phi Phi đã hết phi đao, cũng chẳng còn thời gian để nhổ từ trên cây nữa, chỉ còn biết rũ ngọn nhuyễn tiên nghênh chiến.
Thích khách võ công cao cường, Phi Phi mảnh dẻ sức yếu, quất hụt một roi, vụt trúng kiếm của đối phương. Thích khách nhanh tay xoắn liền vài cái, giật mạnh. Sức Phi Phi không giữ nổi, roi tuột khỏi tay. Chưa kịp rút kiếm, thì mũi kiếm trên tay một thích khách khác đã đâm về phía nàng.
Đúng vào khoảnh khắc nguy cấp, bỗng “vút” một tiếng, kẻ tấn công rú lên thảm thiết, tay ôm lấy ngực, ngã quỵ xuống, lưỡi kiếm đang đâm về phía Phi Phi cũng cắm phập xuống đất. Tiếp đến, những tiếng “vút vút” rít lên không ngớt, nháy mắt, năm trong sáu kẻ đang vây đánh công tử Chức theo nhau ngã nhào. Thích khách vừa giật nhuyễn tiên của Phi Phi thấy tình thế bất lợi, vội bỏ Phi Phi tháo chạy, nào ngờ một mũi phi đao cắm trúng gót chân, không còn nhảy được lên tường, đành phải múa kiếm che chắn.
Thấy phía trước chỉ còn một người, công tử Chức hăm hở tấn công, kiếm quang loang loáng như nước. Đánh được vài hiệp, kẻ kia do lo sợ bị trúng phi đao, tâm tư bấn loạn, không thể chuyên tâm, bị Tử Chức chớp được sơ hở, một kiếm đoạt mạng.
Tử Chức cầm kiếm, hằm hằm tiến về phía thích khách bị thương ở gót chân. Kẻ này vứt luôn thanh kiếm, quỳ sụp xuống xin tha. Phi Phi biết là Khuất Tương Tử vừa ra tay ứng cứu, bèn lớn tiếng gọi: “Ông Khuất Tương!”
Nhưng Khuất Tương Tử lại không lộ diện. Người bước ra là ba Mặc giả. Họ nhanh nhẹn thu dọn tàn cục, dẹp xác chết đi, giải thích khách bị thương về phủ tướng quốc, băng bó chữa thương rồi tra hỏi. Cùng lúc này, phủ tướng cũng mang vụ án báo lên phủ tư hình nước Triệu.
“Anh Chức,” Phi Phi đã hoàn hồn, níu áo Tử Chức, ánh mắt kinh ngạc, “thực không ngờ, võ công của anh lại cao cường đến vậy!”
“Cuống quá hoá liều mà thôi!” Cơ Chức mỉm cười, trả lời quấy quá.
“Không phải!” Phi Phi nhìn thẳng vào Tử Chức, “nói mau, anh học của ai?”
“Còn nhớ người tới cùng mẹ anh hôm đó không? Là chị ấy dạy võ cho anh!”
“Nhưng…” Phi Phi lấy làm khó hiểu, “anh đã có võ nghệ nhường này, tại sao hôm đó lại ngồi yên cho chúng bắt nạt? Chúng đâu thể đánh nổi anh?”
“Anh…” Cơ Chức ngần ngừ một lát rồi đáp, “anh là kẻ lưu lạc tha hương, không thể chuốc oán với người họ Triệu, mà chúng đều là họ Triệu cả.”
“Em hiểu rồi.” Phi Phi lấy làm thán phục, “anh giỏi nhẫn nhịn thực!” Nhưng vẫn chưa hết băn khoăn, “chúng còn đòi rạch mặt anh, anh vẫn muốn nhịn ư?”
“Chẳng phải có em ở đó sao?” Tử Chức cười, “anh biết em sẽ không để yên cho chúng rạch mặt anh đâu. Vả lại, chúng vẫn chưa kịp xuống tay. Nếu như rạch thật, chúng sẽ phải trả giá!”
“Anh Chức này, lẽ ra anh phải dạy võ công cho em mới phải!”
“Không được!”
“Vì sao kia?”
“Ông Khuất Tương võ nghệ cao cường,” sắc mặt Tử Chức đầy vẻ kính phục, “anh rất muốn bái ông làm thầy. Hôm nay nếu không có ông, e rằng anh đã…”
“Cũng phải!” Phi Phi lập tức níu tay Tử Chức, “em sẽ dẫn anh tới gặp ông Khuất Tương, em mà đã xin, kiểu gì ông cũng chịu thu anh làm đệ tử.”
Ngày thứ ba sau khi Tử Chức gặp thích khách, đám Tô Tần, Cơ Tuyết đã lặn lội gió sương từ nước Yên trở về.
Hay tin Tô Tần về tới, Vũ Linh Vương không triệu kiến, mà đích thân dẫn theo ngự y tới tận cửa thăm nom. Ngự y bắt mạch xong, nói rằng không có gì nghiêm trọng, kê đơn thuốc bổ, giao cho Trâu Phi Đao đi bốc thuốc.
Vũ Linh Vương xua ngự y ra ngoài, rồi hỏi han tường tận tình hình nước Yên, lại hỏi về đại kế ứng biến.
“Khánh Phụ chưa chết, hoạ Lỗ không hết.” Tô Tần thở dài, “Tử Chi hệt như Khánh Phụ, còn ở nước Yên ngày nào, nước Yên còn loạn ngày đó. Các công tử của Vương Khoái và của tiên Dịch Vương đều đã ngộ nạn tại Kế Thành, chỉ có hai người chạy thoát, đều bị Tử Chi truy sát ráo riết, một là Cơ Trụ, con trai thứ ba của Vương Khoái, kịp nhân khi loạn lạc bỏ trốn, hiện không biết lẩn tránh nơi nào. Một người nữa là Cơ Chức, con trai của tiên Dịch Vương, hiện đang ở Hàm Đan.”
“Quả nhân có biết Cơ Chức,” Vũ Linh Vương gật đầu, “mấy hôm trước Tử Chi phái thích khách tới, suýt nữa đã đoạt mạng hắn.”
“Phải!” Tô Tần tiếp lời, “nếu Tử Chi không giết Cơ Bình, vẫn lập Cơ Bình làm thái tử, người Yên có lẽ sẽ chấp nhận chuyện nhường ngôi. Nhưng kẻ này quá nóng vội, cũng quá tàn độc. Nước Yên lần này nội loạn, người chết trong giao chiến kỳ thực không nhiều, nhưng ngược lại, sau khi Cơ Bình chết rồi, số người bị Tử Chi tàn sát vì tội mưu nghịch lên đến hàng vạn, khiến lòng dân Kế Thành hoang mang khiếp hãi. Lòng quân lại càng loạn, bởi trong tam quân có không ít tướng sĩ từng theo Thị Bị tạo phản. Phàm những ai có qua lại với Thị Bị, đều bị bắt giết. Thị Bị vốn dĩ là người tốt, đến bước đường này, quả là oan uổng.”
“Theo ý Tô Tử, quả nhân nên ứng phó thế nào?”
“Thứ nhất, Yên chớ nên tranh, mong đại vương ghi nhớ kỹ.” Tô Tần nhìn thẳng vào Triệu Ung.
“Đương nhiên rồi.” Vũ Linh Vương bật cười, “hứng thú của quả nhân, chỉ ở Trung Sơn.”
“Tử Chi thất đạo, người Yên lầm nạn, người Tề ắt sẽ xuất binh.” Tô Tần khẽ mỉm cười buồn bã, “theo ý thần, đại vương có thể kết minh với Tề Vương, dấy binh vì nghĩa tiêu diệt Tử Chi, rồi đưa Tử Chức về Yên. Theo như Tần thấy, Tử Chức rất khá, đại vương nếu lập Tử Chức, thứ nhất, người Yên sẽ chấp nhận; thứ hai, Tử Chức lánh nạn ở Hàm Đan nhiều năm, nay lại nhận ơn của Triệu, ắt sẽ thân Triệu, sẽ đội ơn đại vương.”
“Tử Chức chẳng phải là cháu ngoại của Tần Vương ư?” Vũ Linh Vương nheo mắt hỏi.
“Nhưng Tử Chức cũng là người Yên.”
“Quả nhân hiểu rồi.” Vũ Linh Vương từ biệt Tô Tần quay về, triệu Phì Nghĩa vào cung.
“Đại vương, có tin đại hỷ!” Phì Nghĩa sắc mặt hân hoan, “Trung Sơn Vương phái sứ thần tới, chính là Tư Mã Hy, con trai trưởng của Tư Mã Chu, lúc này vừa tới dịch quán, muốn vào yết kiến đại vương.”
“Ồ?” Vũ Linh Vương chau mày, “hắn muốn gì?”
“Muốn kết tình láng giềng hoà mục, mang theo không ít lễ vật.” Phì Nghĩa trình lên danh sách lễ vật của sứ thần Trung Sơn.
“Quả nhân đã hiểu hắn muốn gì.” Vũ Linh Vương khẽ cười, rồi nói lại sách lược ứng phó của Tô Tần cho Phì Nghĩa nghe.
“Đại vương, không được!” Phì Nghĩa vội kêu lên.
“Sao kia?”
“Người Tề dấy binh, đâu phải vì chính nghĩa, mà chỉ vì muốn nhân cháy nhà hôi của, mục tiêu là đất Hà Gián. Chỉ cần người Tề hưng binh, Tử Chi không dám không cắt đất dâng cho. Nếu ta cùng Tề dấy binh, chính là đắc tội với Tử Chi. Đến khi người Tề được đất lui binh, đại vương biết phải làm sao? Đại vương đưa Tử Chức vào Yên, sẽ thành kẻ thù không đội trời chung của Tử Chi. Tử Chi đã có được Yên, phía bắc còn được người Hồ trợ giúp, lại không đối địch với đại vương ư? Chưa nói đến chuyện khác, chỉ cần hắn quay sang hậu thuẫn cho Trung Sơn, đại vương có chống đỡ nổi không?”
Vũ Linh Vương hít sâu vào một hơi, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, mới ngẩng đầu lên hỏi: “Vậy theo ý khanh, ta nên ứng phó thế nào?”
“Kết tình láng giềng hoà mục với Trung Sơn, để Trung Sơn không phải lo lắng sau lưng, mà yên tâm hợp sức với người Tề phạt Yên.”
“Ồ…” Vũ Linh Vương chau mày, “Yên trải qua cuộc nội loạn này, đã sức tàn lực kiệt. Nếu Trung Sơn cũng dự vào đó, ắt sẽ cướp được Bắc Dịch Thuỷ. Trung Sơn kiểm soát Bắc Dịch Thuỷ, chiếm được ải Tử Kinh, há chẳng phải sẽ chặn đứng ta trong đường núi Lai Nguyên ư, há chẳng phải sẽ cắt đứt đường tiến của ta…”
“Thứ đại vương cần, chính là điều đó!” Phì Nghĩa lập tức đáp liền,“Trung Sơn và Tề cùng chung biên giới với Yên, nếu chinh phạt thành công, ắt sẽ tranh cướp đất đai, tranh đất thì mất lòng Tề. Nước Yên hiện chỉ còn lại hai công tử, một ở trong tay đại vương, một sống chết chưa rõ, không biết phiêu bạt nơi nào. Người Tề không lập được tân vương, ắt phải sai khiến cận thần trị Yên. Người Tề trị Yên, người Yên kiểu gì cũng không phục. Lúc đó, đại vương chỉ cần đưa Tử Chức về Yên, nước Yên sẽ theo Tử Chức, đánh đuổi người Tề đi. Trung Sơn thừa lúc nước sôi lửa bỏng phạt Yên, sẽ bị người Yên oán hận. Trung Sơn tranh đất Yên với Tề, cũng bị người Tề căm ghét. Đại vương nếu đợi đến lúc đó mới mưu Trung Sơn, người Tề sẽ không can dự, tân Yên Vương ắt cũng chịu cho mượn đường…” Nói đến đây thì dừng lại, nhìn Vũ Linh Vương.
Đây quả nhiên là thượng thượng sách, một đá trúng ba chim.
“Cứ theo kế của khanh,” Vũ Linh Vương không đắn đo thêm nữa, lập tức vòng tay, “sứ thần Trung Sơn, phải rồi, và cả sứ Tề, đều giao hết cho khanh xử trí. Quả nhân còn một đại sự!” Quay sang hoạn giả lệnh, “khởi giá, phủ thái phó!”
“Thái phó?” Hoạn giả lệnh ngơ ngác, đứng ngẩn ra một chốc mới hỏi, “nhưng…đại vương nào đã bái ai làm thái phó!”
“Giờ sẽ bái!”
“Là vị đại nhân nào?”
“Chu Thiệu.”
Cả hoạn giả lệnh và Phì Nghĩa đều sửng sốt, bởi Chu Thiệu là bề tôi duy nhất trong thành Hàm Đan cho tới lúc này vẫn dứt khoát không mặc áo Hồ, theo như pháp lệnh của Vũ Linh Vương, lẽ ra phải khép vào trọng tội. Vậy mà Vũ Linh Vương không những không trị tội, còn định bái làm thái phó, quả là ngoài sức tưởng tượng.
Gia tộc Chu Thiệu là dòng dõi danh Nho, ở Triệu đã ba đời, từ thời Thành Hầu đã làm quan đại phu trong cung Triệu, cai quản lễ nghi, trông nom thái miếu, đích xác là người gìn giữ cho trật tự cung đình nước Triệu. Mấy tháng lại đây, khiến Chu Thiệu không thể ngờ được, đó là Triệu Vương tự mặc áo Hồ đã đành, lại còn cờ giong trống mở bắt cả thiên hạ thay phong đổi tục, khiến người Triệu đều mặc áo Hồ. Thân là Nho gia, Chu Thiệu không thể chịu đựng nổi việc này. Chu Thiệu ra sức khuyên ngăn không được, bèn cáo bệnh không vào chầu, hôm nay lại dâng tấu lên Vũ Linh Vương, nói mình tuổi cao sức yếu, xin được cáo quan về quê, an dưỡng tuổi già.
Mà Chu Thiệu đâu chỉ là một mình Chu Thiệu, trong môn của người này còn có vài chục Nho sĩ học vấn uyên thâm. Chu Thiệu mà đi, đám Nho sĩ kia cũng quyết không ở lại cung Triệu. Nho gia thiên hạ hay tin, chắc chắn cũng không còn tới Triệu nữa. Nước lớn vạn cỗ xe không thể không có lễ nhạc, triều đường uy nghiêm không thể không có tôn ti, vì thế việc Chu Thiệu từ quan đã khiến Vũ Linh Vương lấy làm suy nghĩ.
Vũ Linh Vương bất đồ tìm tới, Chu Thiệu thoạt tiên sững sờ kinh ngạc, tiếp đến chỉnh trang áo mũ, ra ngoài cổng phủ nghênh đón.
Thấy Vũ Linh Vương vẫn mặc áo Hồ, Chu Thiệu lập tức sầm ngay sắc mặt, vốn đã toan hành đại lễ, vội dừng ngay lại, chỉ khẽ vòng tay, cất giọng châm chọc: “Đại vương tới hàn xá, phải chăng là để trị tội già này?”
Vũ Linh Vương phá lên cười lớn, rồi vái sâu một vái mà nói: “Quả nhân tới đây, là muốn đặt lên vai Chu khanh một gánh nặng!” Chu Thiệu lấy làm ngờ vực, đành chìa tay: “Đại vương, mời vào trong!”
Vua tôi kẻ trước người sau đi vào trong khách đường.
Vũ Linh Vương ngồi xuống chiếu chủ, quay sang hoạn giả lệnh đứng hầu bên cạnh: “Tuyên chiếu!”
Hoạn giả lệnh cao giọng hô: “Chu Thiệu nghe chỉ!”
Chu Thiệu quỳ xuống khấu đầu: “Thần tiếp chỉ!”
“Đại phu Chu Thiệu, trung hiếu vẹn toàn, đức tài kiêm đủ, xứng là đại hiền nước Triệu. Nay quả nhân ban chiếu mệnh, nhiệm Chu Thiệu làm thái tử thái phó, liệt vào hàng tam công! Khâm thử, Triệu Vương.”
Chu Thiệu bàng hoàng sửng sốt.
Thái tử là quân vương tương lai, phò tá thái tử, cũng chính là bậc quốc sư, do vậy, được dạy dỗ thái tử, đứng vào hàng tam công, chính là giấc mơ lớn nhất của mọi Nho gia, cũng là sự nghiệp vĩ đại của đời người mà Chu Thiệu chưa bao giờ dám mơ tưởng.
Thế nhưng, đây lại là một quốc vương mặc áo Hồ, ngự giá tận cửa, ban cho sứ mệnh là dạy dỗ một thái tử cũng mặc áo Hồ.
“Đại vương ban chiếu,” Chu Thiệu đắn đo hồi lâu, mới khấu đầu đáp, “thần không dám không nhận. Tuy nhiên, thần có lời này, không dám không tâu với đại vương!”
“Chu khanh cứ nói!”
“Đại vương đã dùng sai người rồi!” Chu Thiệu bẩm tấu, “thái tử, là tương lai của đất nước. Thái phó, là thầy dạy của thái tử, không phải bậc hậu đức, không thể đảm đương. Thần thân hèn tài mọn, không đủ sức gánh vác vương mệnh, vậy nên khấu thỉnh đại vương hãy tìm bậc tài đức khác, để mở mang quốc vận!”
Vũ Linh Vương bật cười vài tiếng: “Hiểu con, không ai bằng cha; hiểu tôi, không ai bằng vua. Cha của thái tử là quả nhân, vua của bề tôi cũng là quả nhân. Quả nhân lập thái phó cho thái tử, sao có thể lập sai người được?”
“Đại vương hẳn biết đạo lập thái phó?”
“Chu khanh cứ nói.”
“Đạo lập thái phó, có sáu,” Chu Thiệu dõng dạc nói, “mưu trí không nóng nảy thấu hiểu thời biến; khoan hậu nhân từ thông hiểu lễ; uy quyền không thể khiến thay đổi chức trách; trọng lợi không thể khiến thay đổi tâm trí; trong việc dạy dỗ cung kính cẩn trọng, biết tuần tự tiệm tiến; đối với kẻ dưới khiêm tốn hoà nhã, không cậy thế hiếp người. Sáu điều kể trên, làm thái phó nhất thiết phải có, mà thần lại không có lấy một điều. Giấu giếm sự thực mà không tận lực, là tội của bề tôi. Theo mệnh vua mà nhục đến chức trách, phiền tới quan ti, là nỗi nhục của người làm quan. Thần Thiệu bất tài, dám mong đại vương hãy lập người khác làm thái phó!”
“Chu khanh,” Vũ Linh Vương đứng dậy, khom lưng vái một vái thật sâu, “chính bởi khanh thấu hiểu sáu điều trên, nên quả nhân mới muốn lập khanh làm thái phó.” Nhìn sang hoạn giả lệnh, “hãy ban Hồ phục cho thái phó!”
Hoạn giả lệnh liền lấy ra một bộ Hồ phục may sẵn cho Chu Thiệu, hai tay dâng lên. “Than ôi,” Chu Thiệu trong lòng cảm động, song ngoài mặt lại ra vẻ bất đắc dĩ, thở dài thườn thượt, rồi lại dập đầu, “thần Thiệu ngu muội, tới nay vẫn chưa hiểu rõ thâm ý của đại vương trong việc mặc áo Hồ. Tuy nhiên, thân là bề tôi, mà đại vương không trách lỗi của thần, giao phó cho thần trọng trách, thần không dám không nghe!” Nói đoạn, nhận lấy áo Hồ, mặc ngay tại chỗ, lại hành đại lễ, “thần đã mang áo Hồ, khấu tạ đại vương hậu ngộ!”
Dẫu rằng chưa được yết kiến Triệu Vương, song qua miệng Phì Nghĩa, Tư Mã Hy biết được Triệu Vương muốn kết tình láng giềng hoà mục với Trung Sơn, lại chấp thuận lập minh ước ba năm không chinh phạt lẫn nhau, thì lấy làm phấn khởi, ngay trong hôm đó cùng Phì Nghĩa soạn xong minh ước, vào cung Triệu đóng ấn tỉ.
Cũng vào lúc này, Triệu Vương nghe theo lời khuyên của Tô Tần, sai cung nhân đón mẹ con công tử Chức vào vương cung, không những dành riêng cho họ cả một toà cung viện, mà còn bày tiệc chào đón, tiếp đãi vô cùng trọng hậu.
Tư Mã Hy mang theo minh ước, quay về Linh Thọ. Trung Sơn Vương đọc liền mấy lượt, không còn gì lo lắng nữa, cũng đóng ấn tỉ, giao lại cho sứ Triệu mang về. Ngay ngày hôm sau, lập tức tới thái miếu tế bái tổ tiên, phong Tư Mã Chu làm chủ tướng, thống lĩnh ba quân, lên đường chinh phạt nước bất nghĩa.
Ngoài quân phòng ngự các nơi, ba quân mà Trung Sơn có thể điều động chưa tới ba vạn, xe chiến năm trăm cỗ. Trong lễ bái tướng, Tư Mã Chu ngấp nghé lục tuần đắc chí mãn nguyện, hào khí bừng bừng, chỉ trời thề rằng: “Yên Vương Cơ Khoái u mê vô đạo, không noi theo đại nghĩa, không bố cáo chư hầu, đã vua tôi hoán vị, phá huỷ cơ nghiệp của Thiệu Công, cắt đứt dòng dõi của tiên vương, chuyện này mà nhịn được, thì còn chuyện gì không nhịn được. Thần tuy bất tài, nay phụng vương mệnh, nguyện theo sĩ đại phu dẹp nạn đất Yên, khẩn câu hoàng thiên hậu thổ, liệt tổ liệt tông, phù hộ quân ta thành công, phù hộ Trung Sơn ta khang ninh vạn đại.”
Ba ngày sau, Tư Mã Chu dẫn theo tam quân ba vạn rời khỏi Linh Thọ, tiến về biên giới nước Yên, hạ trại tại bờ nam Trung Dịch Thuỷ, để quan sát động tĩnh của người Tề.
Tại kinh đô nước Tề Lâm Truy, sứ thần đi sứ sang Triệu và Trung Sơn đều đã quay về phục mệnh. Sứ Tề Điền Văn mang tin từ nước Triệu, nói rằng người Tần tăng binh Thiếu Lương, có ý nhòm ngó Tấn Dương nước Triệu, nước Triệu đang dốc sức phòng bị người Tần, nên không thể xuất binh cùng Tề, song Triệu một lòng ủng hộ Tề cùng Trung Sơn phạt Yên.
Triệu không xuất binh, điều này Tề Tuyên Vương sớm đã đoán được. Đương nhiên, Tuyên Vương cũng không mong muốn người Triệu xuất binh. Yên thất tự loạn, đất Yên đã là vật trong túi của Tề, Tuyên Vương trong thâm tâm không mong muốn chia sẻ “nồi canh” này cho thêm ai nữa. Có Trung Sơn, đã đủ rồi.
Nói gì thì nói, người Tề cũng không thể một mình uống cả nồi canh nước Yên, nhường cho Trung Sơn vài ngụm, với Tề chỉ có lợi chứ không có hại. Thứ nhất, sẽ khiến Trung Sơn dốc lòng theo Tề, kiềm toả nước Triệu; thứ hai, cũng dễ ăn nói với liệt quốc thiên hạ.
Tam quân phạt Yên, Tề Tuyên Vương sớm đã sắp đặt sẵn sàng, thoạt tiên điểm năm vạn quân, lúc này thấy Trung Sơn xuất binh ba vạn, Tuyên Vương lại sung thêm một vạn nữa, rồi đích thân tới thái miếu tế bái tổ tông, phong Khuông Chương làm chủ tướng.
Khuông Chương nhiệm chức đã vài ngày, song lại chần chừ chưa chịu xuất chinh.
Khuông Chương còn chờ sứ thần từ Lạc Dương trở về.
Nhưng kỳ thực, người đợi không phải là Chuông Chương, mà là Mạnh Kha.
Chưa nhận được chiếu mệnh chinh phạt của Chu thiên tử, Mạnh Kha kiên quyết ngăn trở Khuông Chương xuất binh. Thân là đệ tử, Khuông Chương không dám trái lệnh thầy, đành phải thành thực tấu báo lên Tuyên Vương. Tuyên Vương chẳng còn cách nào, buộc phải sai người gấp rút tới Lạc Dương đốc thúc.
Cuối cùng, tận mười một ngày sau khi sứ thần Trung Sơn trở về, sứ thần từ Lạc Dương mới về tới, mang theo chiếu mệnh phạt Yên có đóng ngọc tỉ của Đại Chu.
Mạnh Kha cả mừng, gọi ngay Khuông Chương vào cung yết kiến Tuyên Vương. Mạnh phu tử xuất chinh, không thể không thụ vương mệnh.
Tuyên Vương ra tận cổng cung nghênh đón, hành lễ xong, cầm tay Mạnh Tử dẫn vào trong.
“Nghe Khuông tướng quân nói, phu tử cũng muốn theo quân xuất chinh, quả nhân nằm mơ cũng vui cười tỉnh dậy mấy lần, quả là ông trời phù hộ quả nhân!” Tuyên Vương phá lên cười lớn, vòng tay với Mạnh phu tử, “phu tử ở trên, xin nhận của Tích Cương một vái.”
“Tạ ơn Tề Vương coi trọng!” Mạnh phu tử đáp lễ, “Mạnh Kha tới đây, là để thỉnh cầu vương mệnh!”
“Phải rồi, phải rồi, phu tử xuất chinh, không thể không có danh phận!” Tuyên Vương nhìn sang Khuông Chương, “Khuông tướng quân là chủ tướng, hãy xem nên để phu tử đảm đương chức trách gì cho thích hợp?”
“Phu tử là thầy của thần, thần là chủ tướng tam quân, không có chức trách nào thích hợp hơn quân sư!” Khuông Chương vòng tay đáp.
“Được lắm, quân sư,” Tuyên Vương gật đầu, nhìn sang Mạnh Tử, “xin hỏi phu tử, chức này được chăng?”
“Mạnh Kha đã theo vương sư, chỉ nghe vương mệnh!”
“Soạn chỉ,” Tuyên Vương nhìn sang ngự sử, “chiếu mệnh Mạnh Kha làm quân sư, cùng Khuông Chương tướng quân thống lĩnh ba quân, phạt Yên vô đạo.”
“Dám xin Tề Vương hãy thêm cho bốn chữ, phụng chiếu thiên tử.” Mạnh Tử vội nói. Tuyên Vương khẽ chau mày, do dự một lát, lại nói: “Chiếu mệnh, quả nhân bái Mạnh Kha làm quân sư, cùng Khuông Chương tướng quân thống lĩnh ba quân, phụng chiếu thiên tử, phạt Yên vô đạo.”
“Tạ ơn Tề Vương hậu ái!” Mạnh Tử lúc này mới đứng dậy, dập đầu bái tạ, “vận trời xoay vần chuyển động, lại gặp được thời Văn Vũ. Tề Vương theo trời hành đạo, người Trâu Mạnh Kha xin nhận chiếu mệnh, thề dẫn quân chính nghĩa, phạt nước vô đạo, tận tâm tận lực, trợ giúp Khuông tướng quân thành tựu công này!”
“Phu tử, hãy bình thân!” Tích Cương đỡ Mạnh phu tử dậy, “lần này phạt Yên, được phu tử trợ giúp, quả là may mắn lớn của quả nhân!”
“Mạnh Kha vẫn còn một thỉnh cầu, mong Tề Vương tác thành!” Mạnh Tử nhìn sang Tề Vương.
“Phu tử cứ nói.”
“Mạnh Kha to gan, thỉnh cầu vương cung!”
“Vương cung?” Tuyên Vương ngỡ ngàng, nhìn sang nội thần.
“Hẳn là đại cung của Vũ Vương đang giữ trong cung?” Nội thần hết nhìn Tuyên Vương, lại nhìn Mạnh Tử, giọng nửa như hồi bẩm, nửa như dò hỏi.
“Chính phải.” Mạnh Tử vòng tay đáp.
“Truyền chỉ, thỉnh đại cung Vũ Vương cho phu tử!” Tuyên Vương dõng dạc ban chỉ.
Mạnh Tử thỉnh được vương cung cùng ba mũi ngự tiễn, tạ ơn Tuyên Vương, rồi chỉ dẫn theo một mình đệ tử Vạn Chương, một thân áo vải tiến vào doanh trại, theo đại quân bắc chinh.
Trận chiến này, là trận chiến của Mạnh Kha, phu tử sớm đã suy tính nên chinh phạt thế nào.
Ba quân Đại Tề đi qua đất Hà Gián, sắp sửa tiến vào bờ cõi nước Yên. Đêm đó, Mạnh Tử sai Vạn Chương đi mời chủ tướng Khuông Chương tới trại quân sư.
“Khuông tướng quân,” Mạnh Tử đổi cách xưng hô, “ngày mai vào Yên, lão phu muốn hỏi tướng quân, hẳn đã biết cách chinh phạt bang vô đạo?”
Phạt Yên thế nào, chiến lược đã được hoạch định từ lúc ở Lâm Truy, điều này Mạnh phu tử cũng biết. Lúc này, lại lên tiếng hỏi, Khuông Chương hiểu rõ phu tử có ẩn ý khác, bèn vòng tay đáp: “Đệ tử không biết, kính xin phu tử chỉ giáo!”
“Phụng chiếu mệnh thiên tử, dấy binh chính nghĩa, phạt nước vô đạo, thân là chủ tướng, tướng quân dứt khoát phải nhớ kỹ hai chữ!” Mạnh Tử dừng lại, nhìn xoáy vào Khuông Chương.
“Hai chữ?” Khuông Chương có phần ngơ ngác.
“Một, là nhân, hai, là nghĩa.”
“Đệ tử đã nhớ!” Khuông Chương vòng tay đáp.
“Đã là quân nhân nghĩa, dám hỏi tướng quân, hẳn biết thế nào là quân nhân nghĩa?”
“Ồ…” Khuông Chương ngần ngừ một lát, “khởi binh phải có nguyên do, không thất lễ, không trí trá, không chém sứ giả, không dựa vào cửa ải hiểm trở, không tấn công kẻ chưa dàn trận xong, không đánh kẻ bị thương, không đuổi kẻ tháo chạy, không giết người lớn tuổi…”
“Đó là giao chiến thời Xuân Thu, không phải quân nhân nghĩa.” Mạnh Tử cắt ngang lời Khuông Chương.
“Ồ…” Khuông Chương vò đầu bứt tai, nhìn sang Vạn Chương, thấy hắn cũng ngơ ngác không hiểu, bèn vòng tay nói, “đệ tử không biết, kính xin phu tử chỉ giáo!”
“Tướng quân nếu như không biết, xin hãy nghe lời lão phu!” Mạnh Tử đã sẵn chủ ý trong lòng, cất giọng quyết đoán, “ghi lệnh!”
Khuông Chương sai mang bút và da dê lại, ngước mắt nhìn Mạnh Tử chăm chú, giống như kẻ thư đồng chờ nghe đọc viết.
“Khi hành quân, quân dung tề chỉnh, hàng ngũ ngay thẳng, ngẩng đầu sải bước, mắt không liếc ngang.” Mạnh Tử giọng như chuông đổ.
Khuông Chương liền chép ngay lại.
“Khi hạ trại, hàng lối ngay ngắn, động tĩnh tuần tự, trật tự nghiêm trang, ăn ở theo lệnh.”
Khuông Chương lại hí hoáy chép.
“Khi tiến quân, qua thành không vào, qua ấp không nhiễu, thẳng tới Kế Đô, bắt ngay vua giặc.”
Điều này, hoàn toàn trái ngược với chiến lược phạt Yên đã vạch ra từ trước.
Khuông Chương dừng bút, nhìn sang Mạnh Tử, ánh mắt nghi ngại: “Phu tử?”
“Viết đi!” Mạnh Tử ra lệnh, giọng đầy kiên định.
Khuông Chương bèn viết theo.
“Ba điều trảm. Cướp của cải người Yên, trảm. Bức hiếp đàn bà con gái Yên, trảm. Tuỳ tiện xông vào tư gia người Yên, trảm.”
Khuông Chương ghi lại.
“Ba điều bố cáo. Bố cáo chiếu mệnh thiên tử nơi thị tứ. Bố cáo Yên thất thất đạo nơi thị tứ. Bố cáo ba điều trảm trong quân lệnh nơi thị tứ.”
Khuông Chương tiếp tục ghi lại.
Hồi lâu sau, thấy Mạnh phu tử không nói thêm gì nữa, Khuông Chương mới ngẩng đầu: “Thưa, đã hết chưa?”
“Hết rồi.” Mạnh Tử nhìn sang Khuông Chương, “còn lại, là việc của chủ tướng.”
“Còn lại”, tức chỉ việc thực thi. Khuông Chương nghiền ngẫm ý vị “quân nhân nghĩa” của phu tử một hồi, bỗng phì cười.
“Khuông Chương?” Mạnh Tử nghiêm giọng.
Khuông Chương vội thu lại nụ cười, vòng tay: “Đệ tử kính cẩn lắng nghe phu tử!”
“Sai!”
Khuông Chương liền đứng dậy, sắc mặt trang trọng, hành quân lễ: “Chủ tướng ba quân nước Tề kính cẩn nghe lệnh quân sư!”
“Thực thi đi!” Mạnh phu tử bật ra ba tiếng gọn lỏn.
Khuông Chương bèn mang mệnh lệnh đã ghi ban hành trong ba quân, nghiêm lệnh thực thi. Nhờ vào chiến tích đánh bại quân Tần ở Tang Khâu năm trước, tướng sĩ năm đô thảy đều kính phục Khuông Chương, nên bất kể quân lệnh kỳ khôi thế nào, cũng không ai dám bàn ra tán vào, đều nghiêm túc tuân theo.
Thế nhưng chiêu này của Mạnh phu tử, lại là đánh bừa mà trúng.
Sau khi kiểm soát được Kế Đô, Tử Chi mau chóng bổ nhiệm tướng mới, chỉnh đốn tam quân, đưa binh lính thiện chiến đến đóng ở biên giới Yên Tề.
Tuy nhiên, kinh qua một trường kiếp nạn, tướng sĩ ba quân có đến quá nửa bị liên luỵ bởi cuộc tạo phản của thái tử Bình, hoặc bị chém đầu, hoặc bị cách chức, còn lại non nửa số binh sĩ, không muốn tiếp tục phục dịch, tan tác ở hương thôn, vì thế, binh lính thiện chiến mà Tử Chi điều động được, trước sau không tới bảy vạn. Trong khi các đô ấp lớn như Kế Đô, Vũ Dương lại cần phòng thủ nghiêm ngặt, các cửa ải trọng yếu như Tử Kinh, Cư Dung lại càng không thể để mất. Lại thêm dải biên giới Trung Sơn, phòng tuyến Dịch Thuỷ…Tử Chi càng nghĩ càng đau đầu nhức óc, đành phải lựa chọn phương án phòng ngự có phần bị động, tức bỏ nhỏ giữ lớn, phòng ngự kiên cố, vườn không nhà trống, cố thủ thành trì, lấy nhàn đối nhọc, đốc thúc các thành ấp lớn tích thảo đồn lương, tránh xuất thành giao chiến, ngồi yên chờ người Tề đánh tới. Kẻ nào trái lệnh, xử chém tức thì.
Thế là, phòng tuyến Hà Thuỷ vốn dĩ thành luỹ kiên cố, trận thế thâm nghiêm, giờ bị thu nhỏ lại thành vài trọng ải. Khi người Tề trống giong cờ mở, rầm rộ băng qua Hà Thuỷ bên ngoài trọng ải, toàn bộ quân Yên giữ nghiêm quân lệnh của Tử Chi, ở yên trong ải, giương mắt nhìn tam quân người Tề cùng đoàn lương thảo quân nhu rồng rắn qua sông, cứ như không hề biết đến, mặc cho họ đường hoàng tiến theo đường cái quan thênh thang thẳng tới Kế Đô, hàng ngũ chỉnh tề, uy nghi đầy đủ. Trên đường tiến về phương bắc, với các thành ấp lớn nhỏ bên đường cái, bất luận có đồn quân hay không, quân Tề đều không mạo phạm.
Quân Tề tới thành ấp nào cũng đều hạ trại ven sông, tự bắc bếp nổi lửa, không một kẻ nào ra ngoài quấy nhiễu dân thường. Người Yên còn loáng thoáng nhìn thấy nguyên do xuất binh đề trên cờ hiệu của người Tề, nào là “phụng chiếu Chu thiên tử, phạt hôn quân vô đạo”, “chỉ phạt kẻ bất nhân, không phạm đến người Yên”, nào là “vương sư nhân nghĩa,”
“theo trời hành đạo”, nên dần dần không còn cảm thấy sợ người Tề, thậm chí còn mang lòng kính ngưỡng. Những người Yên vốn thân với Tử Bình, bất mãn với Tử Chi còn giết bò mổ lợn, mang tới khao quân. Mạnh phu tử đối đãi với họ rất tử tế, trọn vẹn lễ nghi, lại còn khăng khăng trả cho họ khoản thù lao tương ứng.
Người Yên xưa nay luôn được dạy rằng, người Tề là quân sài lang hổ báo. Thế nhưng, chỉ vỏn vẹn có vài ngày, ấn tượng cũ của người Yên đã bị xoá bỏ hoàn toàn bằng sự thực rành rành trước mắt. Sau khi người Tề vào Yên, hành quân vài trăm dặm, suốt dọc đường đi cho đến gần Yên đô Kế Thành, không có một binh tướng nào ra mặt cản đường, cũng không có một mũi tên nào nhằm vào người Tề.
Kỳ tích này, không thể không quy công cho quân sư Mạnh Tử.
Khi Tử Chi hiểu ra sự tình, thì quân Tề đã băng qua Vũ Dương, hàng ngũ chỉnh tề, rầm rập tiến trên đường cái quan nam bắc cách Vũ Dương ba mươi dặm về đông. Tử Chi thất kinh, phái ngay thám mã tới Vũ Dương, lệnh cho tướng thủ thành Vũ Dương dẫn quân truy kích quân Tề, cắt đứt đường tiếp tế.
Tướng giữ Vũ Dương là mãnh tướng tâm phúc của Tử Chi, Thiện Ưng.
Thiện Ưng là người Hồ, thân thể cường tráng, khoẻ ngang trâu mộng, khiển một thanh Hồ đao nặng bảy mươi bảy cân, một khi múa lên, bốn bề tan tác. Chuyện này tạm chưa nói tới, chỗ lợi hại thực sự của Thiện Ưng, chính là bày chim ưng của hắn. Thiện Ưng, tên giống như người, nổi danh khắp đất Yên nhờ tài huấn luyện chim ưng thiện nghệ, trong tay có tới trăm con chim ưng, được biên thành đội ngũ, lĩnh hưởng quân lương. Một con chim ưng có thể bắt sói độc, cả đàn chim ưng có thể kết thành ưng trận, diệt cả bầy sói. Khi hai quân đối trận, trăm con ưng đã được huấn luyện có thể dàn trận trên không, thừa cơ bổ xuống, mổ đầu khoét mắt, chuyên tấn công chủ tướng địch quân, thường khiến chủ tướng địch không dám đứng chỗ cao, quân địch đón đỡ không xuể, không chiến tự loạn.
Người Tề vượt Hà Thuỷ ở cách Vũ Dương chừng trăm dặm về đông. Thiện Ưng nhanh chóng nhận được tin báo người Tề vượt sông, song Tử Chỉ lại chỉ điều cho hắn có hai vạn binh, trừ đi năm nghìn quân trấn giữ ải Tử Kinh, đóng tại Vũ Dương, chỉ còn vạn rưỡi.
Thiện Ưng đoán rằng, mục tiêu đầu tiên của người Tề chắc hẳn là Vũ Dương, nên thực thi sách lược cố thủ thành trì, vườn không nhà trống, phân bổ số quân hữu hạn trấn giữ các thành luỹ, cửa ải trọng yếu xung quanh Vũ Dương, nghiêm trận đợi địch.
Nhưng hắn hoàn toàn không thể ngờ rằng, người Tề lại không động tới Vũ Dương, mà cứ thế hành quân thẳng tới Kế Thành. Thiện Ưng vừa kịp thở phào, thì sứ giả của Tử Chi đã hộc tốc mang vương chỉ tới nơi, bảo hắn lập tức truy kích quân Tề, cắt đứt đường chi viện cùng lương thảo.
Thế nhưng, tất cả đều đã muộn.
Người Tề khởi binh được ba ngày, Tư Mã Chu cũng dẫn quân Trung Sơn vượt Trung Dịch Thuỷ trong đêm, khí thế hừng hực tựa hùm beo, xông thẳng vào đất Yên, sau khi kiểm soát Bắc Dịch Thuỷ, liền dùng kỳ binh đột kích ải Tử Kinh từ phía tây, cắt đứt con đường nối thông ải này với Vũ Dương.
Tử Kinh quan là cửa ải phòng thủ phía tây, người Trung Sơn từ phía đông đánh tới, lại vào giữa đêm, do vậy hầu như không vấp phải trở ngại nào đã chiếm được cửa ải. Năm nghìn quân Yên giữ ải đa phần đang say giấc nồng, đều bị bắt sống, không ai trốn thoát.
Sau khi lấy được ải Tử Kinh, quân Trung Sơn tức tốc lùi về, mũi tiên phong nhắm thẳng tới Vũ Dương, hạ trại Kiên cố tại phía đông bắc Vũ Dương, chặn giữa Vũ Dương và Kế Thành.
Người Trung Sơn để lại ba nghìn quân trấn thủ ải Tử Kinh, dựng luỹ trên một con đường chật hẹp khác dẫn tới ải này, chặn đứng con đường phía tây Vũ Dương.
Ba vạn quân của Trung Sơn đều là nhuệ binh thiện chiến, Tư Mã Chu còn cho làm sẵn lưới đặc chế để ứng phó với ưng trận, có thể nói là chuẩn bị rất chu toàn.
Về phía nam là Dịch Thuỷ, có lính thú Trung Sơn canh giữ; về phía đông là nước Tề, có lính thú nước Tề trấn thủ; về phía tây là ải Tử Kinh, đã bị người Trung Sơn chiếm mất; duy chỉ còn con đường phía bắc, đã bị Tư Mã Chu kiểm soát hoàn toàn.
Hiển nhiên, mục đích của Trung Sơn là chiếm trọn Vũ Dương, Thiện Ưng đã lâm vào cảnh thân mình khó giữ, còn nói gì đến truy kích quân Tề.
Đối mặt với đại quân sáu vạn của Tề ồ ạt tiến tới theo đường cái quan, Tử Chi rụng rời kinh hãi.
Đúng vậy, đây chính là hùng sư của Đại Tề đã hai lần đánh bại Bàng Quyên, chiến thắng năm vạn quân Tần, chủ tướng là Khuông Chương từng đánh bại tướng Tần Tư Mã Thác.
Tử Chi đâu dám xuất thành nghênh chiến, chỉ biết hạ lệnh bịt chặt toàn bộ cổng thành của Kế Đô, nghiêm trận chờ đợi. Tử Chi nhẩm tính, người Tề vượt đường xa viễn chinh, lương thảo chi viện khó khăn, chỉ cần cố thủ thành trì, người Tề sẽ không chiến mà tự khắc phải rút lui.
Quân Yên trấn giữ Kế Thành vốn có hai vạn, nhưng rồi năm nghìn theo Thị Bị nổi loạn, toàn bộ tan rã, lại qua tay Tử Chi sàng lọc, số còn lại không đầy một vạn. Tử Chi gấp rút điều động lính thú các ấp xung quanh quay về, khiến số quân trấn thủ Kế Đô tăng lên ba vạn, cộng thêm ba nghìn quân bảo vệ vương cung, tuy giao chiến thì không đủ, nhưng phòng thủ thì dư sức.
Tử Chi bởi thế cũng tự tin hơn nhiều.
Cùng với đó, Tử Chi sai em vợ gấp rút tới Bắc Hồ, xin người Hồ xuất quân chi viện. Tử Chi tin chắc, chỉ cần cố thủ Kế Thành được ba tháng, viện binh người Hồ sẽ kịp tới nơi, đến lúc đó, người Tề có muốn rút lui, e cũng không phải dễ dàng.
Tuy nhiên, có một điều mà Tử Chi không bao giờ có thể tính trước được, đó là hắn đã gặp phải một đối thủ chưa từng có trong đời, Mạnh Kha người Trâu.
Người Tề vây thành đã ba ngày, nhưng trận quyết chiến công thành mà Tử Chi chờ đợi vẫn không hề xuất hiện. Người Tề vây chặt ba cổng đông, tây, nam, nhưng chừa lại một cổng bắc cho người Yên đào thoát.
Quả nhiên, người Yên bắt đầu trốn chạy.
Tử Chi vội vàng hạ chỉ phong kín cổng này.
Tử Chi không muốn chạy trốn. Hắn không thể nhếch nhác tháo chạy khỏi cung thành nước Yên đã đổ bao tâm huyết mới giành được. Hắn không nỡ bỏ lại bao nhiêu kho lẫm châu báu, cung điện xa hoa mà Yên thất tích luỹ qua bao đời, cùng hàng đàn mỹ nữ trong hậu cung của hai đời quân vương. Hắn hiểu rõ, một khi rời khỏi Kế Đô, rời khỏi vương cung này, bao nhiêu công sức trước đây đều sẽ tan như bọt nước.
Tới ngày thứ tư, Mạnh phu tử sai Khuông Chương cho quân Tề bày trận chỉnh tề bên ngoài cổng thành nam, giương cao cờ hiệu, tìm lấy một binh sĩ tốt giọng, nói năng lưu loát, cho đánh xe lên đầu trận, cầm ống tù và do da thú cuộn thành, hướng lên lầu cổng thành, tuyên đọc chiếu thư chinh phạt kẻ vô đạo của thiên tử Đại Chu, kể rõ những chỗ thất đạo, thất đức, thất nghĩa của Yên thất bấy giờ, rằng nước Yên vốn dĩ là do thiên tử nhà Chu phong cho Thiệu Công, Tử Khoái không được phép tự tiện trao nhường, Tử Chi cũng không được phép tự tiện nhận lấy. Nay Tề Vương phụng chiếu mệnh của Chu thiên tử, dấy quân chính nghĩa, chinh phạt vô đạo, phò tá đạo thống. Quân Tề là đạo quân nhân nghĩa, suốt dọc đường vỗ yên dân chúng, thay mặt thiên tử nhà Chu chủ trì chính đạo, tuyệt không quấy nhiễu dân lành, vân vân.
Tướng sĩ giữ thành đều dỏng tai lắng nghe.
Tử Chi hay tin, tức tốc tới cổng thành nam, trèo lên lầu thành, nghe ngóng một chốc, vung tay chỉ vào trận quân Tề, quát lớn: “Bản vương ở đây, giặc Tề xâm phạm biên cương Khuông Chương ở đâu?”
Khuông Chương đang định bước ra, Mạnh phu tử liền xua tay ngăn lại: “Khuông tướng quân, hãy để lão phu!”
Lời vừa dứt, Vạn Chương đã ra roi quất ngựa. Tử Chi phóng mắt nhìn xuống, chỉ thấy một cỗ xe nhẹ từ giữa trận quân Tề lọc cọc lao ra, trên xe một người đứng thẳng hiên ngang, mình mang Nho phục, khắp trên dưới không một manh giáp, cũng không có thương kích phòng thân, duy có trường cung đặt ngang trước xe, bên cạnh bày ba mũi tên nhọn hoắt.
Vạn Chương đánh xe tiến thẳng lên trước trận quân, xe chiến đọc chiếu thư trước đó lại quay đầu trở về.
“Người tới là ai?” Tử Chi lại chỉ tay mà hỏi, giọng vang như chuông, khẩu khí ngạo mạn.
“Mạnh Kha người Trâu!” Mạnh Tử dõng dạc đáp lời, rồi ôm quyền, “ngươi không phải Yên Vương, Mạnh Kha không hành đại lễ!”
Đại danh của Mạnh Kha người Trâu vang khắp thiên hạ, Tử Chi sớm đã nghe nói tới, song chuyện nghe thấy, đều là những giai thoại về tính cố chấp hủ lậu của Mạnh Kha, chuyện nào cũng là đề tài đàm tiếu trong thiên hạ. Nay thấy Mạnh phu tử thình lình xuất hiện trong bộ dạng thế này, Tử Chi không nhịn được, lại chỉ vào Mạnh Kha, phá lên cười sặc sụa một tràng: “Này Mạnh lão phu tử, ông không ở đất Trâu ngâm thơ diễn lễ, lại chạy vào trong hàng ngũ quân Tề để làm gì?”
“Hồi bẩm tướng quân,” Mạnh Kha lại vòng tay, chỉ gọi Tử Chi bằng danh xưng tướng quân hồi trước, “Yên thất thất đạo, thiên tử nổi giận, chiếu mệnh cho Tề hưng binh phạt tội. Tề Vương thụ mệnh, phong Khuông tướng quân làm tướng, bái Kha làm quân sư, hưng sáu vạn nghĩa quân, tới đây phạt nghịch, khuông phù chính nghĩa. Nay Kha khuyên tướng quân…”
“Thiên tử gì? Chiếu mệnh gì?” Tử Chi lại quát hỏi.
“Thiên tử Đại Chu!” Mạnh Tử lấy từ trong ống tay áo ra chiếu mệnh của Chu thiên tử, giơ cao, “chiếu mệnh ở đây!”
Tử Chi phá lên cười ngặt nghẽo, cười xong, bèn quay sang tướng sĩ: “Chư vị đều nghe thấy rồi chứ? Hắn nói là thiên tử Đại Chu, và còn chiếu mệnh, ha ha ha ha! Thiên hạ đều đã xưng vương, đến Trung Sơn giờ cũng ngang hàng với Chu thất lâu rồi, mà hắn vẫn một điều thiên tử Đại Chu hai điều thiên tử Đại Chu! Chư vị hãy nói xem, liệt quốc thiên hạ, còn ai coi kẻ đó là vua nữa? Chỉ một Lạc Dương, nhỏ như nắm đấm, trong số chư vị, có ai muốn nhận hắn là vua? Tuy nhiên, nếu Chu thiên tử tới Đại Yên ta, quả nhân cũng sẵn sàng cắt tặng một khoảnh đất phía bắc Yên Sơn, cho ông ta tha hồ cưỡi ngựa rong chơi…”
“Nghịch tặc phản thần, không được vô lễ!” Thấy Tử Chi thốt ra những lời đại nghịch bất đạo nhường này, Mạnh Kha bừng bừng giận dữ, không còn khách khí thêm nữa, nhấc vương cung lên, trỏ thẳng vào Tử Chi.
“Ái chà,” Tử Chi lấy làm thú vị, “Mạnh lão phu tử, không phải muốn thi tài xạ nghệ với bản vương đấy chứ?” Đoạn chìa tay hô lớn, “mang cung lại đây!”
Một tên quân sĩ liền mang tới cây cung ngũ thạch.
“Kẻ phản tặc kia, ngươi không xứng với cây cung trong tay lão phu, cũng không xứng cùng lão phu thi tài xạ nghệ!” Mạnh Tử lại giơ cung mà nói. “Lão hủ Nho đáng chết,” Tử Chi bị nhục mạ, nộ khí xung thiên, lắp tên giương cung, quát lớn, “nhận tên đây!” Lời còn chưa dứt, mũi tên đã bật khỏi dây cung, lao thẳng vào giữa trán Mạnh phu tử, không chệch một ly.
Chỗ Mạnh phu tử đang đứng cách lầu cổng thành chừng một tầm tên bắn, tức năm mươi bước, mà Tử Chi chỉ tiện tay đã bắn ngay tới đó, đủ thấy sức khoẻ như thần.
Mạnh Kha cười nhạt, mặc cho mũi tên vùn vụt bay tới trước mắt, chỉ giơ cánh cung gạt khẽ, thân thể vẫn đứng im tại chỗ, không mảy may xê dịch.
Mũi tên bị gạt sang một bên mà thân người vẫn bất động, công phu ấy, định lực ấy, quả không tầm thường.
Tử Chi bàng hoàng kinh ngạc, sững sờ một thoáng, lại hô: “Mang vương cung lại đây!”
Hai quân sĩ bèn khiêng một cây trường cung lại, quỳ xuống, mỗi kẻ giữ một đầu, dâng lên Tử Chi.
Chúng nhân đều hiểu, Tử Chi sức khoẻ hơn người, kéo được cung cứng bảy thạch. Cung này là cung đặc chế, chỉ dành riêng cho Tử Chi dùng, trước gọi là cung tướng quân, nay đã đổi thành vương cung.
Tuy nhiên, cung này rất ít khi dùng đến, chư tướng sĩ hiếm khi được thấy. Lúc này, trông thấy thị vệ của Tử Chi khiêng cung lại, chúng nhân đều phấn khích hò reo.
Tử Chi lắp tên vào dây cung, quát lớn một tiếng: “Hủ Nho nhận tên!”
“Tưng” một tiếng, mũi tên rạch gió bay đi.
Mũi tên bắn ra từ cung mạnh bảy thạch, lao nhanh tựa gió, kình lực như đinh, tưởng không sức nào gạt nổi. Mạnh Tử không đáp, thoăn thoắt lắp tên kéo cung, căng tựa trăng tròn, nhằm đúng mũi tên đang lao tới, rồi buông dây.
Mũi tên của Mạnh Tử bay nhanh hơn, lực dữ hơn, lao thẳng vào mũi tên của Tử Chi đang bay tới.
“Chát” một tiếng đinh tai, hai mũi tên va vào nhau, hoả quang bắn toé giữa trời, mũi tên của Mạnh Tử bẻ nát mũi tên của Tử Chi thành từng mẩu vụn, rồi bay thêm một quãng nữa, vạch thành một đường vòng cung, cắm phập vào tường thành, không sứt mẻ lấy một mảnh.
Mảnh vụn mũi tên của Tử Chi theo nhau rơi xuống bãi đất trống trước cỗ xe nhẹ của Mạnh phu tử không đầy ba mươi bước chân.
Tướng sĩ hai bên đều mắt trợn trừng, miệng há hốc.
Tử Chi vẫn còn ngây sững nhìn theo những vụn mũi tên đang rơi xuống đất, thì lại một mũi tên khác xé gió bay tới, trúng ngay vương miện trên đầu, không sai một mảy. “Cạch” một tiếng trầm trầm, mũi tên kéo theo vương miện bay đi, cắm phập lên cột trụ của lầu cổng thành cách đó không xa. Bị chấn động bởi xung lực dữ dội, ngọc châu trên vương miện rụng rơi lả tả, lăn lông lốc khắp nơi.
“Ối chao!” Chư tướng sĩ đều ngỡ Tử Chi đã trúng tên, rú lên kinh hoảng, song lại thấy Tử Chi không chút tổn thương, chỉ có vương miện bị găm chặt trên cột trụ.
Tử Chi sờ lên đỉnh đầu, lại ngoảnh nhìn vương miện vẫn rung rinh ở phía sau, sắc mặt trắng bệch, vừa kinh hãi, lại vừa hổ thẹn, vội vã sải bước chạy đến bên cột trụ, cầm vương cung cậy vương miện ra. Cậy liền mấy cái, vương miện kia vẫn cứ trơ trơ, chỉ có ngọc châu tiếp tục rụng rơi như trút.
Tử Chi sắc mặt tím bầm, vứt toẹt vương cung xuống đất, sải bước xuống lầu.
“Nghịch thần Yên thất Cơ Chi, nghe cho rõ đây. Cung này là cung của Vũ Vương nhà Chu, ban cho Tề Công Khương Thượng từ hơn bảy trăm năm về trước, chuyên dùng để bắn nghịch thần cướp nước. Lão phu thỉnh cầu ba mũi tên, đã bắn đi hai, vẫn còn một mũi, dành cho nghịch tặc ngươi đó. Nếu còn không chịu nhận tội, thì lần sau thứ phải nhận tên, không chỉ là vương miện trên đầu ngươi đâu!” Mạnh Tử giọng vang sang sảng, không lỡ thời cơ ném theo một câu.
Từ trong trận Tề, tiếng hoan hô vang như sấm động.
Tử Chi vốn dĩ định khoe vũ dũng để áp đảo Mạnh phu tử, nào ngờ lại bị một lão hủ Nho áo vải mà cả thiên hạ chê cười làm nhục ngay trước mặt thuộc hạ, hằm hằm giận dữ quay vào trong cung, càng nghĩ lại càng uất hận.
Ngồi một hồi lâu, Tử Chi dần dần trấn tĩnh, bên tai bất chợt lại như văng vẳng giọng nói của Tô Tần: "…Tần xin khuyên huynh ba việc. Thứ nhất, trả lại vương vị cho Vương Khoái, huynh vẫn là tướng quốc. Thứ hai, lựa chọn người hiền trong số các công tử của Vương Khoái, lập làm thái tử. Thứ ba, nghị hoà với Tề…Người Tề trước kia đúng là chỉ muốn đất Hà Gián. Giờ đây, không phải nữa rồi…Bản thân huynh thân bại danh liệt đã đành, còn gây hoạ cho dòng dõi cháu con, giáng tai ương cho từ đường xã tắc… Dù huynh có tin hay không, mệnh trời vẫn là mệnh trời…”
Tử Chi toát mồ hôi lạnh.
“Triệu Lộc Mao Thọ!” Tử Chi quay sang nội thần.
Rất nhanh, Lộc Mao Thọ đã tới: “Đại vương đột ngột cho gọi Mao Thọ, hẳn có…”
Lộc Mao Thọ còn chưa kịp dứt lời, đã bị Tử Chi xua tay ngăn lại, chỉ vào chỗ ngồi đối diện.
Lộc Mao Thọ liền ngồi xuống đó.
“Chuyện ở cổng thành nam, hẳn khanh đã biết?” Tử Chi nhìn Lộc Mao Thọ trừng trừng.
“Thần vừa…mới nghe nói.” Lộc Mao Thọ ngần ngừ chốc lát, “thần…”
“Mao Thọ,” Tử Chi lại cắt lời, “quả nhân hỏi khanh, vương miện này, phải chăng quả nhân đã đội sai rồi?”
“A…” Lộc Mao Thọ sửng sốt, “đại vương cớ sao lại hỏi như vậy? Vương miện này, là do Yên Vương nhường lại cho đại vương, chứ đâu phải đại vương tự mình đội lên, chẳng phải thế ư? Yên Vương năm lần bảy lượt nhượng vị, đại vương năm lần bảy lượt từ chối, chuyện này hết thảy người Yên đều đã nhìn thấy rành rành, chẳng phải thế ư?”
“Than ôi,” Tử Chi thở dài, “nhưng người Tề lại không nghĩ vậy, giờ đã đánh tới tận cửa nhà ta! Vũ Dương thế nào rồi?”
“Thần vừa nhận được cấp báo của Thiện tướng quân, người Trung Sơn tập kích ta, đã chiếm mất ải Tử Kinh, vây khốn Vũ Dương, chủ tướng là Tư Mã Chu dẫn theo ba vạn nhuệ binh, nghe nói còn đang tăng binh nữa!”
Tử Chi đấm thẳng xuống án: “Một tiểu bang mỏn mọn, mà cũng dám ức hiếp ta!”
“Đại vương nguôi giận,” Lộc Mao Thọ khuyên nhủ, “Trung Sơn lang sói lại không đáng ngại, chẳng qua chỉ thừa cơ cháy nhà hôi của mà thôi. Chỉ cần Kế Thành, Vũ Dương còn đó, xem họ làm gì nổi ta!”
“Khanh nói phải!” Tử Chi bỗng sực nhớ ra, “phải rồi, còn ngôi vị tướng quốc, quả nhân cũng nên trao sớm cho khanh!” Quay sang nội thần, hạ lệnh, “lấy ấn!”
Nội thần lấy ấn tướng quốc ra, dâng lên Tử Chi.
“Mao Thọ, hãy nhận ấn thụ này!”
Lộc Mao Thọ nhận lấy ấn tướng quốc, khấu đầu: “Thần khấu tạ đại vương hậu ái!”
“Tướng quốc hãy đứng dậy!” Tử Chi lập tức đổi ngay cách xưng hô, “quả nhân phiền tướng quốc tới doanh trại Tề một chuyến, thử gặp Khuông Chương, nói rằng chỉ cần hắn chịu lui binh, mọi chuyện đều có thể thương lượng!”
“Đại vương, nếu người Tề muốn đất Hà Gián?” Lộc Mao Thọ khẽ hỏi.
“Cho họ!”
“Nếu người Tề muốn đất Vũ Dương?”
“Cho họ!”
“Nếu người Tề muốn cả Kế Đô?”
“Đi đi, thử xem ý hắn ra sao.”
Lộc Mao Thọ mau chóng rời thành, chưa đầy một canh giờ, đã quay về phục mệnh.
“Người Tề nói sao?” Tử Chi nôn nóng hỏi.
“Họ không muốn gì cả, chỉ cần đại vương nhường lại ngôi vị, trói tay chịu bắt, để người Tề áp giải tới Lạc Dương, cho Chu thiên tử xử tội làm loạn nước Yên!”
“Há có lý này!” Tử Chi nổi giận đùng đùng.
“Đại vương,” Lộc Mao Thọ cười nhăn nhó, “theo như thần thấy, ta chỉ có hai con đường. Thứ nhất, cố thủ chờ viện binh, quyết một trận sống mái với Tề. Thứ hai, tạm thời bỏ Kế Đô, chạy sang đất Hồ. Núi xanh còn đó, sợ gì hết củi, đại vương thấy sao?”
“Người Tề chịu tha cho chúng ta?” Tử Chi hỏi.
“Qua việc hôm nay có thể thấy, người Tề quả thực là quân nhân nghĩa, họ vây chặt ba cổng đông, tây, nam của ta, bỏ trống hoàn toàn cổng bắc, không có lấy một tên lính, còn nói là cho đại vương thời hạn ba ngày!”
“Quân nhân nghĩa cái gì?” Tử Chi gằn giọng, “từ thời Bình Vương tới nay, khanh đã bao giờ nghe thấy chuyện hủ nho dẫn binh?”
“Đại vương?”
“Quả nhân biết rồi.” Tử Chi xua tay, “để quả nhân suy nghĩ đã.”
Tử Chi suy nghĩ liền ba ngày, vẫn chưa thể quyết định có rời thành hay không. Tới ngày thứ tư, người Tề vây chặt luôn cổng bắc, Tử Chi cũng hết hy vọng đột phá vòng vây, chỉ vắt óc nghĩ kế giữ thành.
Theo Tử Chi thấy, Kế Đô vững tựa thành đồng, chắc như bàn thạch. Hắn cũng nghiền ngẫm kỹ các trận Quế Lăng, Mã Lăng giữa Tề và Ngụy, trận Tang Khâu giữa Tề và Tần, khẳng định rằng người Tề sở trường giao chiến nơi đồng trống chứ không giỏi đánh thành. Kỵ binh của Điền Kỵ và Tôn Tẫn, ngoài việc quấy nhiễu hậu phương, chẳng thể dùng vào việc gì khác. Chỉ cần hắn bịt chặt bốn cổng thành, đám kỵ binh kia cũng bó tay hết cách. Chờ viện binh của người Hồ tới nơi, đó mới là kỵ binh thực sự, không những giỏi cưỡi ngựa, còn thiện xạ vô địch.
Tử Chi càng nghĩ càng thấy an tâm, từ đó sáng nào cũng cùng đám cận thần Lộc Mao Thọ đi thị sát một vòng trên tường thành Kế Đô. Do Mạnh phu tử đã nói còn một mũi tên, nên mỗi khi đi tới cổng thành nam, Tử Chi không còn leo lên lầu cổng thành nữa, chỉ đứng trong chỗ khuất đằng xa dõi mắt quan sát doanh trại quân Tề.
Quan sát liền vài ngày, quân Tề vẫn y hệt như vậy, không công thành, cũng không lui binh, từ xa nhìn lại, chỉ thấy lều trại san sát, ngay lối thẳng hàng, choán hết toàn bộ khoảng đất trống ngoài cổng thành cùng đồng ruộng xa gần quanh đó.
Tử Chi nhìn thấy rành rành, bật cười vui vẻ, nhìn sang Lộc Mao Thọ: “Trận chiến Tang Khâu, người Tần thất bại thế nào, tướng quốc hẳn có biết?”
Lộc Mao Thọ lắc đầu. “Người Tần bại ở hai chữ, nhân nghĩa,” Tử Chi chỉ về phía trận địa mỗi ngày một kiểu của người Tề, “giống như trước mặt ta đây.”
Lộc Mao Thọ chưa hiểu, lại lắc đầu ngơ ngác.
“Trận chiến Tang Khâu,” Tử Chi giải thích rành rọt, “người Tần dẫn quân viễn chinh, giương cờ nhân nghĩa, nghi trượng chỉnh tề, không trộm không cướp, cư xử có lễ, mua bán sòng phẳng, quân luật nghiêm minh, thậm chí còn ban bố quân lệnh, kẻ nào dám chạm tới một cọng cỏ trên mộ Liễu Hạ Huệ, tru di cả tộc. Kết quả thì sao? Chỉ một mồi lửa của người Tề trong một đêm tối trời, bao nhiêu nhân nghĩa của người Tần đã ra tro hết, ha ha ha!”
“Đại vương thánh minh!” Lộc Mao Thọ cũng cười, “Tề Vương cho một lão hủ nho dẫn quân, quả là trò cười cho thiên hạ!”
“Đi nào,” Tử Chi kéo tay Lộc Mao Thọ, “tướng quốc hãy theo quả nhân vào cung! Mấy hôm nay, lúc nào cũng ngột ngạt bức bối, hiếm khi được sảng khoái thế này, hai ta hãy cùng thưởng thức vài màn ca vũ, cho thư thái tâm tư.”
Vua tôi hai người hào hứng quay vào trong cung, truyền nhạc phường lệnh bày ca vũ diễn hầu.
Thế nhưng, Tử Chi lại đã lầm, nhân nghĩa của người Tề khác hẳn nhân nghĩa của người Tần, bởi người thưởng lãm khác nhau. Người Tần nhân nghĩa, là để cho thiên hạ xem, còn người Tề, lại chỉ nhân nghĩa cho người Yên thưởng lãm. Quân Tần nổi danh liệt quốc vì chuyện xẻo tai lĩnh thưởng, còn quân Tề vây Ngụy cứu Triệu, vây Ngụy cứu Hàn, đều là hành vi trượng nghĩa, trong lòng người Yên tự khắc biết phẩm bình. Yên Vương Khoái nhường ngôi, Tử Chi kế vị, người Yên thoạt tiên chưa hiểu rõ, đều cho là noi theo đạo của Nghiêu Thuấn, cho đến khi thái tử Bình nổi loạn, Tử Chi thẳng tay tàn sát, Kế Thành máu chảy thành sông, người Yên mới hãi hùng choàng tỉnh. Nhất là sau khi Mạnh Tử xuất hiện trước ba quân, có lễ có nghi, nói năng đĩnh đạc, trong khi Yên Vương cử chỉ khinh bạc, kiêu căng hợm hĩnh, muốn lăng nhục người khác mà lại tự chuốc nhục, tướng sĩ có mặt chứng kiến tận mắt, khắc ghi trong lòng, chưa đầy vài ngày sau, toàn bộ dân chúng Kế Thành không ai không biết chuyện.
Dân chúng tuy không dám nói ra, song trong lòng đều sáng tỏ. Ngày càng có nhiều người Kế căm ghét Tử Chi, thương xót thái tử Bình cùng những công tử bị sát hại, tâm tư đó dần dần lan tới lính gác trên thành.
Thời cơ, cuối cùng cũng tới.
Đúng vào lúc Tử Chi, Lộc Mao Thọ đang khoan khoái thưởng thức ca vũ trong cung, Mạnh Tử tiến ra khỏi trận quân Tề, vẫn một thân áo vải, một cỗ xe nhẹ, đánh thẳng tới trước cổng thành.
Trên xe Mạnh phu tử, không bày cung tên, trên người Mạnh phu tử, cũng không binh khí, mang Nho phục trắng tinh, khác nào thần tiên giáng thế.
Càng khiến người Yên kinh ngạc, đó là, xe nhẹ đã tới chỗ dừng xe lần trước, nhưng vẫn tiếp tục lao đi, thẳng tiến về phía cầu treo. Xe nhẹ của Mạnh Tử đã tới bên rìa hào nước trước cầu. Chỉ vài bước nữa thôi, vó ngựa kéo xe sẽ lọt xuống hào nước.
Ở khoảng cách này, chớ nói là cung năm thạch, dù là cung ba thạch tầm thường cũng đủ sức đâm xuyên giáp trụ, huống hồ Mạnh phu tử lúc này, lại không có lấy một manh giáp hộ thân.
Người Tề trong trận đều toát mồ hôi hột lo cho Mạnh lão phu tử.
Lính Yên cũng vậy, tất cả mọi ánh mắt hết đổ dồn vào Mạnh phu tử, lại nhìn sang chủ tướng.
Tướng thủ thành là Cơ Vĩ, cháu ruột của Cơ Chi, cũng là ái tướng tâm phúc do hắn một tay rèn giũa, xứng đáng là cháu đích tông trong dòng đích tông.
Cơ Vĩ hai mắt nheo lại, nhìn chằm chằm vào cỗ xe nhẹ một ngựa kéo của Mạnh phu tử đang túc tắc lại gần, như muốn nhìn thấu ý đồ của Mạnh phu tử.
Xe nhẹ đã dừng lại.
Chờ xe dừng hẳn, Mạnh Tử mới hướng lên lầu cổng thành, khom lưng vái sâu một vái, cất giọng sang sảng: “Chư vị tướng sĩ quân Yên, Mạnh Kha người Trâu có lễ!”
Trên lầu cổng thành, chư tướng sĩ ngơ ngác nhìn nhau, rồi lại nhìn cả vào Cơ Vĩ.
Cơ Vĩ bước tới, đứng vững chãi tại chỗ cao trên thành, vòng tay đáp: “Tướng giữ Kế Thành nước Yên Cơ Vĩ bái kiến phu tử!”
“Cơ tướng quân, chư vị tướng sĩ quân Yên,” Mạnh Tử lại vái thêm lần nữa, “Mạnh Kha người Trâu có lời gan ruột muốn nói cùng chư vị, mong được chư vị nể tình nghe thử!”
“Phu tử cứ nói!” Cơ Vĩ cũng đáp lại một lễ.
“Con người ta sống ở trên đời, thứ này, chỉ có một,” Mạnh Tử đưa tay chỉ vào đầu mình, “mạng sống, cũng chỉ có một. Bất kể là ai, cuối cùng cũng đều phải chết. Con người ta chết đi, cũng có nhiều cách khác nhau, hoặc chết vì tiền của, hoặc chết vì mỹ sắc, hoặc chết vì no đói, hoặc chết vì nhân ái.” Lại chỉ lên đầu thành, “thân là chiến sĩ, ắt coi tử chiến làm vinh. Tuy nhiên, chư vị tướng sĩ đã từng nghĩ đến, tử chiến thế nào mới được coi là vinh hạnh?”
Những lời giáo huấn thế này, tướng sĩ chưa từng nghe thấy, câu hỏi thế này, họ cũng chưa từng nghĩ tới, tất cả đều vô thức dỏng tai lắng nghe.
“Chư vị tướng sĩ,” Mạnh Tử dõng dạc tiếp lời, “kẻ chết vì tiền của, là bởi tham lam; kẻ chết vì mỹ sắc, là bởi dâm đãng; kẻ chết vì no đói, là bởi ăn uống; kẻ chết vì nhân ái, là bởi nghĩa khí. Chư vị hãy nói thử xem, là chiến sĩ, nên chết vì cái gì?”
Trên lầu thành tĩnh lặng như tờ, chỉ có tiếng gió thổi cờ bay phần phật.
“Chiến sĩ, nên chết vì cờ! Chết vì cờ, là như thế nào? Vì cờ chính nghĩa! Khởi binh chính danh, sĩ khí sung túc. Giương cờ phi nghĩa, giao chiến ắt bại.” Mạnh Tử dịch chuyển ngón tay, trỏ vào lá cờ Yên đang bay lồng lộng trên đầu thành, “chư vị tướng sĩ, hãy nhìn cờ chiến trên đỉnh lầu thành, liệu có đáng cho chư vị tử chiến?” Giọng nói càng thêm sang sảng, “hoàn toàn không đáng!”
“Lão phu tử,” Cơ Vĩ giơ tay trỏ vào Mạnh Tử, nghiêm giọng quát, “chớ nên ăn nói hồ đồ!”
“Cơ tướng quân,” Mạnh Tử khẽ cười, “hãy nói thử xem, Mạnh Kha hồ đồ chỗ nào?”
“Đây là cờ chiến của nước Yên ta!” Cơ Vĩ giọng như chuông đổ, “thân là tướng sĩ nước Yên, chúng ta nguyện chết vì cờ này, không gì vẻ vang hơn thế.”
“Dám hỏi tướng quân, cái gì là nước Yên?” Mạnh Kha truy hỏi.
“Nước Yên chính là nước Yên.”
“Cơ tướng quân, xem ra tướng quân không hiểu về nước Yên rồi.” Mạnh Tử giọng điệu chậm rãi, giống như đang giảng sách cho đệ tử, “nước Yên là do Chu Vũ Vương phong cho em trai Cơ Thích Thiệu Công, hậu duệ của Thiệu Công đời đời kế vị cho tới hôm nay, đây chính là nước Yên! Thế nhưng, nước Yên hôm nay thì sao? Đã không còn là nước Yên mà đời đời hậu duệ của Thiệu Công truyền nối nữa, mà là nước Yên của bề tôi cướp nước!”
“Phu tử nói xằng!” Cơ Vĩ quát lớn, “đại vương ta được thái thượng Cơ Khoái nhường ngôi, chứ đâu phải bề tôi cướp nước?”
“Yên Vương Cơ Khoái có quyền gì mà nhường ngôi vị cho Tử Chi?” Mạnh phu tử vặn ngược lại. “Hồ đồ!” Cơ Vĩ càng quát lớn, “nước Yên là của Yên Vương Cơ Khoái, Yên Vương muốn nhường ngôi cho ai thì nhường, cớ gì lại nói là không có quyền?”
“Dám hỏi tướng quân, lầu cổng thành này có phải của tướng quân?”
“Đương nhiên không phải.”
“Vậy thì của ai?”
“Là của đại vương ta!”
“Không phải của tướng quân, tướng quân trấn giữ ở đây làm gì?”
“Nhận mệnh của vua ta, bản tướng có quyền trấn giữ!”
“Vậy thì, tướng quân có quyền nhường lại ngôi vị chủ tướng trấn giữ cổng thành này cho người khác chăng?” Mạnh Tử chỉ vào viên phó tướng đứng bên Cơ Vĩ, “nhường cho vị này chẳng hạn.”
“Làm sao có thể?” Cơ Vĩ xẵng giọng, “bản tướng làm sao có quyền nhường lại ngôi chủ tướng!”
“Mạnh Kha không bảo tướng quân nhường chức chủ tướng, mà chỉ nhường lại quyền cai quản cổng thành này!”
“Không được!”
“Chính là như vậy!” Mạnh phu tử rành rọt, “tướng quân là chủ tướng, song lại không thể nhường quyền cai quản cổng thành, vì sao kia? Bởi cổng thành này không phải của tướng quân, quyền cai quản này cũng không phải của tướng quân. Cổng thành là của nước Yên, quyền cai quản cổng thành thuộc về người cai quản toàn cõi nước Yên, Yên Vương. Nhưng quyền cai quản nước Yên lại từ đâu mà có? Là do Vũ Vương năm xưa ban cho Thiệu Công, nên phải thuộc về người kế thừa chính danh của Thiệu Công. Người kế thừa chính danh của Thiệu Công là ai? Là toàn bộ cháu con của Thiệu Công, chính là toàn bộ dân Yên mang họ Cơ trên đất Yên này, cũng bao gồm cả Cơ Vĩ tướng quân đây. Thân là một hậu duệ họ Cơ, Cơ Khoái sao có thể tự ý trao quyền cai trị toàn cõi nước Yên cho người khác?”
Cơ Vĩ nghe mà đầu óc bùng nhùng, nhưng vẫn cố cãi: “Thái thượng là Yên Vương, người đương nhiên có thể nhường lại vương vị thuộc về mình!”
“Vương vị của Cơ Khoái, là do người khác nhường cho ư?”
“Không phải!”
“Vậy vì đâu mà có?”
“Là do kế vị tiên vương.”
“Vì sao lại được kế vị?”
“Bởi thân là thái tử, là quân vương tương lai.”
“Chính là như thế! Nếu đã là vậy, thì làm sao có thể nhường lại vương vị mà mình được kế thừa từ tiên vương cho một bề tôi không phải là thái tử?” Mạnh Tử cất giọng đanh thép, “nếu như muốn nhường, Cơ Khoái chỉ có thể nhường lại cho một người duy nhất, chính là con trai trưởng dòng đích của mình, quân vương tương lai của nước Yên, thái tử Cơ Bình!”
Chư tướng sĩ cuối cùng cũng đã hiểu ra ý tứ của Mạnh phu tử, theo nhau gật đầu. Dù là Cơ Vĩ, cũng không biết phải đối đáp thế nào trước những lời lẽ sắc bén nhường ấy, mở miệng mấy lần rồi lại im bặt.
“Cơ Khoái không có quyền nhường lại ngôi vị mà mình được kế thừa từ đời đời tổ tông, bởi quyền ấy, chỉ thuộc về quân vương chính danh của nước Yên. Giống như vậy, thân là bề tôi, Tử Chi cũng không có quyền nhận lấy vương vị mà chủ nhân nhường lại, bởi quyền đó vốn không thuộc về hắn. Tuy nhiên, Cơ Khoái đã nhường, Tử Chi đã nhận, đây gọi là gì? Là hợp mưu cướp nước!” Mạnh Tử lại chỉ vào lá cờ, “chư vị tướng sĩ, thân là người Yên, chư vị lại đi canh giữ cổng thành cho kẻ cướp nước, ngộ nhỡ tử chiến, liệu có thấy vẻ vang? Nếu xuống suối vàng, chư vị còn mặt mũi nào đối diện với liệt tổ liệt tông nước Yên? Chư vị chết vì kẻ cướp, thì hậu duệ của chư vị, người thân của chư vị, còn mặt mũi nào để đối mặt với lời trách cứ của người đời?”
Toàn bộ tướng sĩ đều cúi gằm mặt.
“Chư vị tướng sĩ quân Yên,” Mạnh Tử chớp lấy thời cơ, lại nói tiếp, “chư vị hãy thử nghĩ lại mà xem, trước khi nhường ngôi, nước Yên quần thần hoà hợp, trên dưới một lòng, vui vẻ hoà thuận. Còn sau khi nhường ngôi thì sao? Thái tử tạo phản, bởi lẽ ngôi vị mà Cơ Khoái nhường cho kẻ khác vốn dĩ thuộc về thái tử. Bề tôi cũng làm phản, bởi lẽ thứ Tử Chi có được không phải thứ hắn nên nhận. Bất kể là ai, nếu như giành lấy thứ mình không nên nhận, chính là loạn lễ. Trên dưới loạn lễ, nước Yên lẽ nào không loạn? Sở dĩ Yên Vương Cơ Khoái nhường ngôi, bởi ngỡ Tử Chi là một người hiền. Nhưng chư vị đều đã mắt thấy tai nghe, Tử Chi có phải người hiền? Trước khi làm tướng quốc, Tử Chi ở nhà cỏ, mặc áo vải thô, sau khi làm tướng quốc, lại ở phủ trạch lộng lẫy, ăn mặc xa hoa. Trước khi mưu cướp nước, hắn giữ mình trong sạch, đồng cam cộng khổ cùng thê tử. Sau khi cướp được nước rồi, thì sao? Sống trong vương cung, đêm đêm yến ẩm, ngày ngày hoan ca. Trước khi mưu cướp nước, hắn nghiêm khắc với mình, độ lượng với người. Sau khi cướp được nước rồi, thì sao? Diệt trừ người trái ý, tàn sát chẳng gớm tay, thuận theo thì sống, chống lại thì chết. Trước khi mưu cướp nước, với Yên Vương Khoái rất mực cung kính. Sau khi cướp được nước rồi, thì sao? Khép thái tử vào tội mưu phản mà giết chết, còn tàn sát toàn bộ công tử nước Yên không hề mưu phản, lập con trai mình lên làm thái tử. Qua đó mới thấy, nghịch tặc Cơ Chi đích xác là phường giả nhân giả nghĩa, loạn thần cướp nước! Hiền của hắn, chỉ là giả tạo! Này chư tướng sĩ nước Yên, dòng nước Kế Thuỷ vì sao mà nhuộm đỏ, lẽ nào các vị lại không trông thấy? Bầu không Kế Thành vì sao mà tanh máu, lẽ nào chư vị lại không ngửi thấy? Hôn quân Cơ Khoái, tặc nhân Cơ Chi mở miệng là nói học theo Nghiêu Thuấn, xin hỏi các vị, vua Nghiêu mà như vậy ư? Vua Thuấn mà như vậy ư? Và cả Đại Vũ, cũng như vậy ư?”
Mạnh Tử lời lời tựa sấm rền, từng chữ từng câu, như chích vào tâm khảm.
“Chư vị tướng sĩ nước Yên,” Mạnh Kha ngoảnh đầu lại, chỉ vào đại quân Tề ở sau lưng, “được lòng dân, ắt được thiên hạ. Tử Chi cướp nước, không được lòng dân. Tề Vương nhận chiếu mệnh thiên tử, phái Khuông Chương tướng quân khởi binh phạt nghịch, dọc đường tới đây, không mạo phạm mảy may, không vào một thành, không giết một người, không đâm một thương, không bắn một tên. Chuyện này tạm chưa nói tới. Khuông Chương tướng quân còn ban quân lệnh tam trảm. Cướp của người Yên, trảm. Hiếp vợ con người Yên, trảm. Xông vào tư gia người Yên, trảm. Thế gọi là gì? Là quân nhân nghĩa! Tất cả những điều này, bách tính nước Yên đã nhìn thấy trong mắt, cảm động trong lòng. Suốt mấy ngày nay, người Yên nơi nơi giết lợn mổ bò, từ bốn phương tám hướng mang tới doanh trại người Tề khao tặng!”
Lúc này, Cơ Vĩ thình lình sực tỉnh, gầm lên quát lớn: “Nho sinh Mạnh Kha, chớ có ở đây nói xằng mê hoặc! Còn nói nữa, chớ trách cung tên của bản tướng vô tình!”
Lời vừa dứt, Cơ Vĩ vội vã giương cung lắp tên, từ từ ngắm thẳng vào Mạnh phu tử.
Mạnh phu tử phá lên cười lớn: “Này Cơ tướng quân, cứ bắn đi!” Đưa tay vỗ ngực, “bắn vào đây này!”
Tay Cơ Vĩ bỗng run lên.
Đứng trước mặt hắn, chính là đại Nho lừng danh thiên hạ Mạnh Kha tay không tấc sắt!
Thế nhưng, thân là cháu ruột, cũng là ái tướng tâm phúc của Tử Chi, Tử Chi đã trao quyền phòng ngự Kế Thành cho hắn, Cơ Vĩ không còn lựa chọn nào khác.
Cơ Vĩ nhắm mắt nghiến răng, tay kéo dây cung, khấn thầm trong lòng: “Lão phu tử, chỉ một tên này, có trúng hay không, tuỳ vào ý trời!” Cơ Vĩ kéo dây cung căng hết cỡ.
Đúng vào khoảnh khắc Cơ Vĩ buông dây, bỗng “vút” một tiếng, một mũi thương từ bên cạnh đâm tới, nhắm trúng dây cung hất ngược lên trên. Mũi tên lập tức bay vọt lên trời, rồi rơi xuống xa tít sau lưng Mạnh Kha.
Mọi ánh mắt đổ dồn cả lại. Chính là mũi thương của phó tướng Thương Ngô.
“Tướng quân!” Thương Ngô cắm thương xuống đất, khuỵu một chân quỳ xuống.
“Tướng quân!” Toàn bộ tướng sĩ đồng loạt buông vũ khí, đều quỳ cả xuống.
“Than ôi!” Cơ Vĩ thở dài não nề, chậm chạp quỳ phịch xuống, hai tay bưng mặt.
Thương Ngô nhìn thấy rõ rành rành, bèn quay sang chư tướng sĩ hô lớn: “Sao còn đứng ngây ra đó? Mau mở cổng thành, xếp hàng nghênh đón Mạnh lão phu tử cùng đại quân nhân nghĩa nhập thành!”
Loảng xoảng một hồi, cổng thành mở rộng.
Lịch kịch vài tiếng, cầu treo thả xuống.
Vạn Chương ngồi trước xe ngựa đưa tay dụi mắt.
Mạnh Tử trên xe hai mắt nhoà lệ.
Khi Mạnh lão phu tử dẫn đầu đại quân “nhân nghĩa” nước Tề hàng ngũ nghiêm chỉnh, ngẩng đầu hiên ngang sải bước trên phố lớn Kế Thành, người Kế chạy đi báo tin cho nhau, ai nấy sung sướng bật khóc, dìu già dắt trẻ, xếp hàng ở hai bên đường nghênh đón.
So với những ngày trước đó, hàng xóm láng giềng ai vì chủ nấy, chửi bới chém giết lẫn nhau, lòng dân Kế Thành đã xoay chuyển hoàn toàn.
Người Kế đông đến hàng vạn đi theo quân Tề tiến về vương cung, bao vây dày đặc xung quanh cung thành, nước hắt không lọt.
Nam nữ già trẻ nhất tề hô lớn, kẻ gọi chồng kẻ gọi con, người gọi anh người gọi em, ba nghìn cung vệ nháy mắt đã tan rã như lá khô trước gió. Không biết là ai đã mở cổng cung.
Ba nghìn cung vệ, không ai chống cự, cùng quăng thương bỏ kích, chạy về phía người nhà đang hô gọi, vừa chạy vừa cởi bỏ giáp trụ, vứt hết xuống đất.
Cũng vào lúc đó, ở sâu trong cung, nơi những tiếng hô hoán thét gào dậy đất đã bị át hết bởi chuông trống sáo đàn, sáu mươi tư nữ tử đầu tóc xoã tung, mình không mảnh vải đang điên cuồng nhảy điệu Ba vũ. Đám cung phi xiêm áo trễ tràng, lả lơi uốn éo vây quanh Tử Chi và Lộc Mao Thọ.
Cung nhân đương trực bất chấp lệnh cấm, xông thẳng vào trong, mắt thấy cảnh tượng thác loạn này, cũng đành mặc kệ, lắp bắp bẩm báo sự việc bên ngoài. Tử Chi đang cơn hưng phấn, đâu có chịu tin, tiện tay giáng cho hắn vài cái tát.
Nhưng Lộc Mao Thọ đã luôn miệng hô dừng. Vũ nhạc im bặt, trong cung yên ắng trở lại, tiếng ồn ã bên ngoài lập tức vọng vào mồn một.
Tử Chi, Lộc Mao Thọ giờ mới dám tin, tất cả đều là sự thật.
Tử Chi rút kiếm, sải bước xông ra.
“Đại…đại vương…” Lộc Mao Thọ đuổi theo sát gót, lắp bắp không thốt nổi thành lời.
“Đi mau, xử lý thái thượng!” Tử Chi hạ lệnh.
Lộc Mao Thọ vội dẫn theo hai cung nhân, chạy tới cung viện của Tử Khoái. Tử Khoái còn đang ngơ ngác trước tiếng hô hét vang dậy bốn bề, đã lãnh một kiếm ngang họng.
Giết Tử Khoái rồi, Lộc Mao Thọ mau chóng thay đổi trang phục cung nhân, chạy theo lối hậu hoa viên bỏ trốn.
Tử Chi đang định đi tìm bộ tướng, nào ngờ lại đụng đầu với quân Tề đang thẳng tiến vào cung. Dẫn đầu đội ngũ chỉnh tề, chính là Mạnh Tử, một tay cầm cung, một tay cầm mũi tên duy nhất.
Tử Chi đứng khựng lại.
“Nghịch thần cướp nước,” Mạnh phu tử nghiêm nghị quát lớn, “mau buông kiếm xuống, cúi đầu chịu trói!”
Tử Chi đến giờ mới hiểu, kẻ đánh bại hắn, lại chính là hủ nho này.
Hai mắt chợt loé hung quang, Tử Chi giơ bảo kiếm, thủ thế sẵn sàng. Bất thần, Tử Chi vung kiếm, lao thẳng về phía Mạnh Tử như một bóng ma.
Mạnh Tử mặt không đổi sắc, khom lưng lắp tên.
Đúng lúc Tử Chi tung mình lao tới, cơ thể đang lơ lửng giữa không trung, Mạnh Tử đã buông cung, ngự tiễn xé gió lao đi, xuyên thấu qua tim, xé lưng mà ra. Xung lực lao tới của cơ thể tráng kiện bị xung lực của mũi tên triệt tiêu non nửa, Tử Chi như một bao cát, rơi phịch xuống sàn đá trước mặt Mạnh Tử, mũi miệng trào máu.
Chỉ nửa canh giờ sau đó, vì có cung nhân tố giác, Lộc Mao Thọ đã bị lôi ra từ trong đám hoạn quan, bị lính Tề giải đi, xử chém ngang lưng giữa chợ.
Người Tề cũng tìm thấy xác của Tử Khoái, Mạnh Tử căn dặn hậu táng theo nghi lễ quân vương. Do không còn con trai nào bên cạnh, cũng không có công tử nào khác để lập, Mạnh phu tử không thể đặt cho thuỵ hiệu, đành cứ gọi là Yên Vương Khoái.
Đêm đó, Khuông Chương tự tay thảo tấu chương, bẩm báo với Tề Vương toàn bộ quá trình chinh phạt Kế Thành, lại càng kể lể cặn kẽ về kỳ tích đem đại nghĩa thắng hung tàn, dùng nhân nghĩa làm vũ khí của Mạnh Tử.
Mạnh Kha từ đó danh tiếng lừng lẫy khắp cung Tề.