Chuyện Ngụy Huệ Hầu thử vương phục trong cung mau chóng truyền tới tai tư đồ Chu Uy. Chu Uy sai người kín đáo dò la, biết được chuyện vương phục liên quan tới thượng đại phu Trần Chẩn và thượng tướng quân công tử Ngang. Nhớ tới lời nói của con sáo trong cung và việc Công Tôn Ưởng tới cầu hoà, tôn vương, Chu Uy bất giác rùng mình ớn lạnh, nghĩ đi nghĩ lại, càng nghĩ càng thấy không ổn, bèn vội vã tới phủ tướng quốc.
Bạch Khuê đi vắng, phủ tướng quốc thường ngày huyên náo như chợ hôm nay tĩnh lặng khác thường. Chu Uy đi ra sân sau, Công Tôn Diễn đang thay Bạch Khuê xử lý mọi chuyện trong phủ, nghe thấy tiếng bước chân gấp gáp, vội chạy ra cửa nhìn thấy Chu Uy, đang định hành lễ thì Chu Uy đã phẩy tay nói: “Công Tôn huynh, mau tới Đại Lương một chuyến, mời Bạch tướng quốc về ngay!”
Công Tôn Diễn ngạc nhiên hỏi: “Xảy ra chuyện gì ư?” Chu Uy thuật lại sơ qua toàn bộ sự việc, Công Tôn Diễn trầm ngâm suy nghĩ, sắc mặt mỗi lúc càng thêm trầm trọng, thở dài một tiếng: “Than ôi, chúa thượng thực sự muốn xưng vương, nước Ngụy nguy rồi!”
Chu Uy vốn chỉ cho rằng có điều không ổn, chưa nghĩ tới mối nguy, nghe Công Tôn Diễn nói vậy, kinh hãi mà hỏi: “Công Tôn huynh, dựa vào đâu mà nói như vậy?”
“Người Tần quy phục là giả, muốn tranh giành Hà Tây với ta mới là thực. Chu thất tuy suy, song danh nghĩa vẫn còn. Triều hội Mạnh Tân lần này, chúa thượng tuy nhất hô bách ứng, hiệu lệnh thiên hạ, song cờ giương lên vẫn là cờ hiệu tôn Chu. Tần không tôn Chu, chúa thượng cổ vũ thiên hạ thảo phạt, chư hầu cùng hưởng ứng. Kết quả, còn chưa khởi binh phạt nghịch, bản thân đã trở thành nghịch tặc, ắt đánh mất lòng thiên hạ. Hiện nay, thiên hạ ủng hộ hay quay lưng sẽ quyết định thành công hay thất bại, chúa thượng làm vậy, chẳng khác gì tự huỷ trường thành!”
Chu Uy vẫn như không hiểu, lẩm bẩm nhắc lại: “Tự huỷ trường thành?”
“Đúng vậy! Chỉ cần đánh mất lòng dân, nước Tần ắt sẽ lấy danh nghĩa phạt nghịch để khiêu chiến với ta, ta sẽ rơi vào thế cô lập không ai trợ giúp, trở thành giặc chung của thiên hạ!”
Chu Uy nghe xong, toát mồ hôi lạnh, vội vàng hỏi: “Công Tôn huynh, có cách gì cứu vãn không?”
Công Tôn Diễn lắc đầu nói: “Chúa thượng sớm đã có ý xưng vương, lại có công tử Ngang, Trần Chẩn ở hai bên hô ứng, chuyện này e rằng đã định, khó lòng cứu vãn.”
Chu Uy trầm tư suy nghĩ, rồi kiên quyết nói: “Công Tôn huynh, huynh mau tới Đại Lương một chuyến, mời Bạch tướng quốc trở về, còn ta ở đây gấp rút triệu tập bá quan. Chỉ cần tướng quốc trở về, bá quan có người cầm đầu, họa may có thể thay đổi suy nghĩ của chúa thượng!”
Công Tôn Diễn gật đầu: “Cũng chỉ còn cách này!”
“Sự việc không thể chậm trễ, xin Công Tôn huynh mau chóng lên đường!”
Công Tôn Diễn tới tàu ngựa, chọn ra hai con ngựa tốt, cưỡi một con, dẫn theo một con, phi như bay về phía Đại Lương.
Từ An Ấp tới Đại Lương, đi đường tắt cũng phải hơn nghìn dặm. Công Tôn Diễn phi ngựa suốt ngày đêm, trên đường liên tục đổi ngựa. Khi đã thấm mệt, đành phải dừng lại nước Hàn nghỉ ngơi hai canh giờ. Đến buổi trưa ngày thứ ba thì tới Đại Lương.
Phủ quan của Đại Lương không một bóng người. Công Tôn Diễn hỏi thăm mãi mới biết Bạch tướng quốc và thú thừa Đại Lương đang ở chỗ thi công kênh lớn, bèn vội vàng quất ngựa tới đó.
Lúc này, ở gần Phùng Trạch, phía đông Đại Lương, đoạn cuối cùng của con kênh đào đã gần thông suốt. Khắp một vùng, dân công đi lại nhộn nhịp, đâu đâu cũng thấy kẻ khuân người vác.
Bạch Khuê và thú thừa Đại Lương khắp người lấm lem đất cát, tay xách theo cây thuổng, hăm hở bước về phía mái lều dựng tạm trên một bãi đất cao. Trong lều kê vài chiếc bàn dính đầy bùn đất, trên bàn bày sơ đồ và sa bàn thi công.
Bạch Khuê tinh thần phấn chấn, không hề có vẻ mệt mỏi, vừa uống nước vừa cắm cúi lật xem bản sơ đồ, nói với thú thừa Đại Lương bên cạnh: “Cứ tình hình này, chỉ một tháng nữa kênh lớn có thể thông suốt toàn bộ!”
Thú thừa Đại Lương gật gù tán đồng: “Hạ quan đã tra kỹ rồi, ngày vọng(1) tháng tới là ngày cất lợi, có thể phóng thuỷ!”
Bạch Khuê phấn chấn: “Tốt lắm! Tới lúc đó bản tướng sẽ đích thân tới dự lễ phóng thuỷ!”
Lời vừa dứt, bỗng nghe tiếng vó ngựa dồn dập, mỗi lúc một gần. Công Tôn Diễn tới trước lều, xoay người xuống ngựa, chạy tới trước mặt Bạch Khuê khấu đầu phủ phục dưới đất: “Công Tôn Diễn khấu kiến chúa công!”
Nhìn thấy Công Tôn Diễn, Bạch Khuê càng thêm phấn khởi: “Công Tôn Diễn đấy ư? Mau đứng lên, lão hủ cũng vừa nghĩ tới ngươi. Báo cho ngươi một tin vui, vào ngày vọng tháng sau sẽ khai thông kênh lớn!”
Công Tôn Diễn đứng dậy, người hầu liền đưa lại một tấm khăn ướt, Công Tôn Diễn cầm lấy, lau mặt qua quýt rồi đỡ lấy bát nước lạnh, uống ừng ực vài ngụm đã hết.
Bạch Khuê đứng dậy, hồ hởi chỉ tay về phía đoạn kênh đang thi công bên ngoài, nói: “Ngươi xem, Phùng Trạch lũ lụt triền miên, dân chúng gần xa lầm than cơ cực. Lần này kênh lớn khai thông, nước Phùng Trạch có thể biến hại thành lợi, nối liền một mạch với mười sông hai mươi tám đầm. Công Tôn Diễn, ngươi đừng xem nhẹ con kênh này. Với thương nhân, phía đông có thể qua, phía nam có thể tới; với nhà nông, hạn hán có thể tưới ruộng, mưa lũ có thể tiêu úng, chỉ thấy trăm lợi mà không có lấy một hại, quả là người Ngụy có phúc!”
Công Tôn Diễn đứng ngây người nhìn Bạch Khuê. Bạch Khuê thấy lạ, nhưng vẫn nói tiếp: “Công Tôn Diễn, lão hủ còn muốn nói cho ngươi biết, trị quốc cần lấy nông làm gốc, lấy thương làm hồn, hai thứ này không thể thiên vị bên nào. Trọng thương khinh nông, nước không thể mạnh; còn trọng nông khinh thương, dân không thể giàu.”
Công Tôn Diễn chẳng còn tâm trí đâu để nghe những lời giáo huấn, mặt mũi nhăn nhó mà nói: “Chúa công, xảy ra chuyện lớn rồi!”
Bạch Khuê thoáng sững sờ: “Chúa thượng xuất binh ư?”
“Không phải!”
Bạch Khuê thở phào nhẹ nhõm, thủng thẳng hỏi: “Vậy chuyện gì khiến ngươi hoảng hốt đến thế?”
“Chuyện này còn tệ hại hơn cả xuất binh!”
Bạch Khuê bình thản bưng một bát nước lạnh lên, khẽ nhấp một ngụm, nói: “Chỉ cần không phải là khởi binh phạt Tần, nước Ngụy hẳn không có chuyện gì nghiêm trọng! Nói đi!”
“Công Tôn Ưởng vào triều, dập đầu xưng thần, chuyện này tạm không nói tới, song lại cực lực xúi bẩy chúa thượng xưng vương!”
Bạch Khuê sửng sốt: “Sao? Hắn xúi bẩy chúa thượng xưng vương? Chúa thượng có đồng ý không?”
“Trần Chẩn đã may ba bộ vương phục để công tử Ngang dâng tặng chúa thượng, chúa thượng lần lượt mặc thử, không ngớt lời khen ngợi!”
Bạch Khuê đứng ngây như khúc gỗ, bát nước trong tay rớt xuống đất vỡ tan tành.
Công Tôn Diễn kinh hãi gọi: “Chúa công!”
Bạch Khuê giật mình bừng tỉnh, lớn tiếng sai bảo: “Mau chuẩn bị xe!”
Thú thừa Đại Lương nghe vậy, vội vã truyền lệnh chuẩn bị xe. Bạch Khuê lập tức lên xe, Công Tôn Diễn bất chấp mệt mỏi, ra roi thúc ngựa, lại phi thẳng về An Ấp.
Hiện thời đã sắp sang hè, sau trưa nắng như thiêu như đốt. Ngụy Huệ Hầu dùng xong cơm trưa, được đám cung nữ xúm xít theo hầu đưa tới hậu hoa viên, nằm hóng mát trên võng trong đình.
Cánh võng được ghép từ các mảnh trúc nhỏ, vô cùng tinh xảo. Lúc này muỗi không nhiều, nhưng tỳ nhân vẫn sai người mắc màn phòng xa.
Ngụy Huệ Hầu rất chú trọng đạo dưỡng sinh. Đã thành thói quen, một ngày không thể thiếu hai giấc ngủ đêm và ngủ trưa. Với Huệ Hầu, giấc ngủ đêm không thành vấn đề, do đã quen cứ giờ Nhân định(2) là lên giường, nên tới giờ Tý, đã chìm vào giấc ngủ say. Còn giấc ngủ trưa không dễ dàng như vậy, thường xuyên bị quấy rầy, không phải thời tiết nóng lạnh thất thường, cũng là các chuyện phiền toái trong triều.
Ngụy Huệ Hầu hai mắt lim dim, nằm im trên võng. Cung nữ nhẹ nhàng đung đưa cánh võng, một sủng phi tay cầm quạt phe phẩy một bên. Nằm một lát rồi mà Ngụy Huệ Hầu vẫn không ngủ được, đành phải trở mình nghiêng sang bên kia. Sủng phi nhanh trí, vừa quạt, vừa hát ru khe khẽ. Chiêu này quả nhiên hiệu nghiệm, chỉ một lát sau, Ngụy Huệ Hầu đã ngáy pho pho.
Ngụy Huệ Hầu vốn to béo đẫy đà, mỗi khi cất tiếng ngáy, nghe trầm bổng du dương, khá là vui tai. Những người hầu hạ quanh Ngụy Huệ Hầu đều hiểu rõ, nghe thấy tiếng ngáy là biết quân chủ đã ngủ say. Sủng phi có lẽ đã thấm mệt nên dừng tay quạt, chỉ để cung nữ thay phiên nhau đưa võng.
Đúng lúc này, mặt Ngụy Huệ Hầu bỗng căng lên, toàn thân run bắn, miệng ú ớ không thốt thành lời, hai chân run bần bật, song không quẫy đạp. Cung nữ sợ hãi thất sắc, song sủng phi có vẻ đã quen, ra sức lay gọi quân chủ: “Chúa thượng! Chúa thượng!”
Sau một hồi lay gọi, Ngụy Huệ Hầu mới choàng tỉnh, hoảng hốt ngồi bật dậy, mồ hôi vã ra như tắm khắp người.
Sủng phi ân cần hỏi: “Chúa thượng mơ thấy ác mộng ư?”
Ngụy Huệ Hầu dường như không nghe thấy, chỉ ngồi đờ đẫn một hồi mới hoàn hồn, quát lớn: “Người đâu!”
Tỳ nhân đang ngồi ngủ gà gật cách đó không xa, nhận ra có chuyện bất thường, đã đứng dậy sẵn từ lúc nãy, nghe thấy tiếng gọi, vội vã chạy lại.
Ngụy Huệ Hầu không buồn ngẩng đầu, nói: “Mau triệu thượng đại phu vào gặp ta!”
Tỳ nhân “vâng” một tiếng, rồi vội vã bước xuống đình. Ngụy Huệ Hầu tắm gội xong xuôi, thay đổi lễ phục, vừa ngồi xuống thư phòng thì thượng đại phu Trần Chẩn đã tới. Trần Chẩn tiến vào cửa dập đầu nói: “Vi thần Trần Chẩn khấu kiến chúa thượng.”
Ngụy Huệ Hầu xua tay nói: “Ái khanh mau bình thân!”
Đối với Ngụy Huệ Hầu, gấp rút triệu kiến đại thần vào giữa trưa là chuyện hiếm thấy. Trần Chẩn không hiểu duyên do, chỉ biết cười cười, hạ giọng thăm dò: “Bẩm chúa thượng, có câu ‘tâm có giao cảm’, vi thần vốn không tin, hôm nay thì đã tin rồi!”
Ngụy Huệ Hầu không nói gì, chỉ nhìn Trần Chẩn. Trần Chẩn chột dạ, sợ mình đoán sai, lại toét miệng cười, giải thích: “Vi thần nằm ở trên giường, trong lòng đang nghĩ tới chúa thượng thì khẩu dụ của chúa thượng đã tới! Chúa thượng thấy có kỳ lạ không?”
Ngụy Huệ Hầu vẫn như không nghe thấy Trần Chẩn nói gì, đảo con ngươi vài vòng, rồi nhìn thẳng vào ông ta, nói: “Trần ái khanh, quả nhân gấp rút triệu khanh tới, song không phải có chuyện gì quan trọng, chỉ là vừa rồi đột nhiên ngủ mơ, quả là ly kỳ, giật mình tỉnh giấc đầu óc rối bời, suy nghĩ mãi không thể lý giải, muốn nhờ ái khanh giải giúp!”
Trần Chẩn thở phào: “Vi thần xin được lắng nghe!”
Ngụy Huệ Hầu khép mắt, tựa như chìm vào giấc ngủ: “Quả nhân đang ngủ trong đình hóng mát, trong lúc mơ màng, nhìn thấy từ trên trời cao có một con chim lớn bay lại. Chim lớn quắp lấy quả nhân, bay thẳng lên tầng mây trắng. Quả nhân vô cùng kinh sợ, muốn kêu không được, muốn giãy không xong, toàn thân bất lực. Đột nhiên mây trắng biến thành mây lành bảy sắc, mây lành bảy sắc hợp thành một dải cầu vồng. Chim lớn bay về phía cầu vồng, đỗ lại trên đỉnh. Quả nhân nhìn khắp tứ phía, thấy khí lành bốc lên cuồn cuộn, mây tía lớp lớp, thật là khung cảnh tuyệt mỹ chốn nhân gian! Tiếp đến nhạc tiên cất lên, từ phía xa một bầy mỹ nữ giống hệt thiên thần bay lại. Mỹ nữ bay vào trong mây ngũ sắc, múa lượn dịu dàng. Quả nhân đang say sưa thưởng thức, bỗng nhiên chim lớn đạp vuốt, quả nhân sợ hãi đứng không vững nữa, rơi thẳng từ trên đỉnh cầu vồng xuống!” Huệ Hầu dừng lại một lát, vẻ như chưa hết kinh sợ. “Quả nhân rơi xuống tựa như chiếc lá, vô tình nhìn xuống phía dưới. Phía dưới tối đen thăm thẳm, hun hút không thấy đáy! Quả nhân hồn xiêu phách lạc, liếc nhìn xung quanh thấy bên cạnh chẳng có một ai, vội hét lên kêu cứu, song chỉ ú ớ trong họng mà không thành tiếng. Muốn nhảy lên, song hai chân không thể cử động, đang kinh hãi thì may được sủng phi lay gọi tỉnh dậy. Ái khanh, quả nhân giật mình tỉnh giấc, toàn thân vã mồ hôi lạnh toát!”
Trần Chẩn đảo con ngươi một vòng, rồi đứng bật dậy, tiến lại trước mặt Ngụy Huệ Hầu, quỳ phịch xuống đất, cất giọng sang sảng: “Vi thần chúc mừng bệ hạ! Chúc mừng bệ hạ!”
Nghe Trần Chẩn hô to hai chữ “bệ hạ”, Ngụy Huệ Hầu sững sờ hồi lâu mới lắp bắp: “Trần ái khanh, khanh… ý khanh là…”
Trần Chẩn lại lạy ba lạy: “Bệ hạ đã mơ thấy một giấc mơ tốt lành, vi thần chúc mừng bệ hạ!”
Ngụy Huệ Hầu bán tín bán nghi: “Tốt lành thế nào, còn nhờ ái khanh giải thích rõ!”
“Nước Tần xưa nay được gọi là đất nước của hắc điêu, tức giống ưng đen. Mơ gặp chim lớn, đương nhiên là Tần Công. Chim lớn mang bệ hạ bay thẳng lên trời cao, chính là Tần Công phò tá bệ hạ xưng vương. Bệ hạ bay lên phía trên mây lành bảy sắc, tức bệ hạ sẽ trở thành thiên tử. Mây lành có bảy màu, là chỉ liệt quốc trong thiên hạ đều hết lòng thần phục, giống như muôn sao chầu về mặt trăng. Mỹ nữ vây quanh bệ hạ nhảy múa hát ca là chỉ thần dân thiên hạ quy thuận, muôn người vui vẻ. Bệ hạ muốn kêu không được, muốn động không xong là chỉ bệ hạ có tấm lòng đại đức, không chịu nhận lấy vị trí này.”
Ngụy Huệ Hầu trầm ngâm một lúc, rồi khẽ gật đầu: “Ái khanh nói cũng có lý. Tuy nhiên, chim lớn lại hất ta xuống vực thẳm, chuyện này nên giải thích ra sao?”
Trần Chẩn sớm đã nghĩ ra lời ứng phó: “Theo vi thần biết, cõi mộng đa phần hư ảo, giống như gương vậy. Hình trong gương là ngược lại, cõi mộng cũng là ngược lại. Mơ đen là trắng, mơ trắng là đen; mơ dữ là lành, mơ lành là dữ. Bệ hạ cuối cùng bị chim lớn hất xuống vực thẳm, tưởng hung mà lại là cát. Rơi xuống dưới tức là hướng lên trên, vực sâu không đáy ngụ ý nền móng kiên cố sâu dày. Bệ hạ, giấc mơ này đại cát đại lợi, cho thấy bệ hạ ắt sẽ hoàn thành vương nghiệp!”
Ngụy Huệ Hầu thở hắt ra một hơi sảng khoái: “Nói như vậy, quả nhân đã tự chuốc muộn phiền vào mình ư?”
Trần Chẩn khẽ liếc nhìn Ngụy Huệ Hầu: “Sự việc khéo trùng hợp, cách đây không lâu vi thần nghe được một lời đồn trong thiên hạ, vừa hay phù hợp với giấc mơ của bệ hạ.”
“Ồ!” Ngụy Huệ Hầu hào hứng. “Lời đồn thế nào?”
Trần Chẩn hít sâu một hơi, chậm rãi nói: “Cách Đại Lương một trăm dặm về phía đông nam có một đầm nước tên gọi Phùng Trạch. Bên đầm có núi gọi là Long Sơn. Một tháng trước, có tiều phu nghe thấy tiếng chim phượng hót trên núi, có ngư dân nghe thấy tiếng rồng ngâm trong đám. Phượng hót rồng ngâm là điềm may mắn nghìn năm mới gặp một lần. Năm xưa phượng hót ở Kỳ Sơn, Vũ Vương phạt Trụ. Ngày nay phượng hót ở Long Sơn, bệ hạ quay mặt về nam xưng vương cũng là thuận theo ý trời!”
“Có chuyện kỳ lạ như vậy ư?” Ngụy Huệ Hầu mắt bỗng sáng rực. “Trần ái khanh, khanh hãy cấp tốc đi điều tra, nếu là tin đồn thì thôi; song nếu đúng là thật, quả nhân sẽ đích thân tới Phùng Trạch, tế lễ trời đất!”
“Khởi bẩm bệ hạ,” không biết từ lúc nào, Trần Chẩn đã thay đổi cách xưng hô, “khi nghe được chuyện này, vi thần liền tức tốc cử người đi điều tra ngay, và đã tìm được hai người đó!”
Ngụy Huệ Hầu vô cùng phấn chấn: “Ồ, hiện họ ở đâu?”
“Ở trong phủ của vi thần!”
“Mau mời họ vào cung yết kiến!”
“Vi thần tuân chỉ!”
Trần Chẩn bước ra khỏi ngự thư phòng, đưa ống tay áo lên lau mồ hôi lạnh rịn trên trán, thở phào một tiếng, nghĩ thầm trong bụng: Thật may, nếu chúa thượng không mời mình tới giải thích giấc mơ, nếu mình không khéo tuỳ cơ ứng biến thì mọi nỗ lực mấy ngày qua đều đã xôi hỏng bỏng không. Sự việc đã tới nước này, đại sự hẳn đã thành công!
Trần Chẩn sải bước ra khỏi cửa cung, phu xe đã đợi sẵn bên cửa đỡ ông ta lên xe, gấp rút quay trở về phủ.
Tại một gian phòng bên trong một khu nhà ba dãy, Thích Quang đang trò chuyện với hai gã đàn ông trung niên. Hai người này quỳ dưới đất, một người trong trang phục tiều phu, còn một người trong trang phục ngư dân, hai người đang trợn mắt lẩm nhẩm gì đó. Thích Quang ngồi trước bàn, đôi mắt lim dim vẻ đang ngưng thần lắng nghe. Đôi tai thính như thỏ của Thích Quang chỉ nghe thấy tiếng chân bước đã biết là chủ nhân trở về, vội vã đứng bật dậy khỏi chiếu chạy ra cửa nghênh đón, đỡ Trần Chẩn ngồi xuống chiếu chủ nhân, còn mình đứng hầu bên cạnh.
Trần Chẩn quay sang Thích Quang: “Chúng đều thuộc lòng rồi chứ?”
Thích Quang liếc nhìn hai người, lớn tiếng hỏi: “Hai người các ngươi mau bẩm báo chúa công, những lời vừa rồi, đã ghi nhớ cả chưa?”
Hai người lại lạy ba lạy: “Bẩm chúa công, tiểu nhân đã thuộc làu như lòng bàn tay, một chữ cũng không bỏ sót.”
“Được, nhớ hết thì tốt!” Trần Chẩn cười nói. “Có điều, thuộc làu ở đây cũng vô ích. Lát nữa tới gặp bệ hạ, nếu các ngươi cũng thuộc làu không sót một chữ mới là quan trọng!”
Hai người đồng thanh nói: “Chúa công yên tâm, đừng nói là bệ hạ, dù trước mặt thần linh cũng không bỏ sót một chữ!”
Trần Chẩn ra hiệu với Thích Quang, rồi khép hờ mắt lại. Thích Quang bước tới bên cạnh bê một chiếc hòm tới trước bàn Trần Chẩn, mở nắp hòm ra, lần lượt lấy ra từng đĩnh vàng lấp lánh xếp thành hai đống nhỏ. Động tác của Thích Quang còn cố ý phô trương, khiến hai kẻ kia nhìn không chớp mắt.
Thích Quang xếp xong, nghiêm giọng nói với hai người: “Hai tên kia, nghe rõ đây! Đợi sau khi bái kiến bệ hạ, nếu nói hay nói tốt, mỗi người sẽ được nhận một phần. Nếu nói sót một chữ, không những không được vàng, mà toàn bộ người trong nhà từ già tới trẻ của các ngươi đều…” Thích Quang dừng lại, chỉ cười nham hiểm.
Ngư dân và tiều phu sợ tái mặt, dập đầu liên tục, lắp bắp: “Tiểu… tiểu nhân… đã hiểu!”
Trần Chẩn gật đầu, đứng dậy nói: “Đi thôi!”
Đúng lúc Trần Chẩn dẫn ngư dân và tiều phu vào cổng chính của cung thành, thì ở cổng thành phía đông An Ấp, Công Tôn Diễn mặt sưng húp vì thiếu ngủ nhiều ngày cũng quất ngựa hô to một tiếng, lao qua cổng thành.
“Chúa công, đã tới An Ấp rồi! Chúng ta nên về phủ tướng quốc trước, dù sao chúa công cũng nên nghỉ ngơi một lát!” Công Tôn Diễn quay người lại nói.
Bạch Khuê hai mắt lim dim, chẳng buồn ngẩng đầu, chỉ nói hai tiếng: “Vào cung!”
Công Tôn Diễn do dự một lát, rồi quất roi thúc ngựa, lao băng băng về phía cung thành.
Khi lão tướng quốc bước vào cửa cung, thì ngư dân và tiều phu đã dập đầu bái kiến ở thiên điện. Tiều phu đã nói xong, ánh mắt Huệ Vương đang chiếu sang ngư dân. Ngư dân sắc mặt lấm lét, đứng đực ra một lát, húng hắng vài tiếng, mới đọc ê a: “Thảo… thảo dân dậy sớm tới Phùng Trạch quăng lưới, đột… đột nhiên nghe thấy tiếng nước ở phía trước, tiếp đến nhìn… nhìn thấy trong nước có một vật đang bơi lội, thân dài vài trượng. Thảo dân chưa từng nhìn thấy giống vật đó bao giờ, vô cùng ngạc nhiên, bèn mở to mắt nhìn kỹ. Con vật ấy càng bơi càng nhanh, sau đó đột nhiên từ dưới nước bay… bay vút lên không trung vài… vài trượng, cất lên tiếng ngâm vừa vang vừa dài, như thế này…” hắn lấy hơi, phồng má, “u… hu…”
Ngụy Huệ Hầu miệng há hốc, ngả hẳn người về phía trước, vội vã hỏi: “Ngươi có nhìn kỹ vật đó chăng?”
Ngư dân lắc đầu nói: “Hôm đó sương mù dày đặc, thảo dân nhìn không rõ, chỉ thấy cơ thể nó to không gì bằng, hình thù giống mãng xà lớn, miệng nhả lửa hừng hực, cuồn cuộn lên xuống…”
Trần Chẩn đặng hắng khẽ một tiếng, ngư dân bèn im bặt. Ngụy Huệ Hầu mừng rỡ ra mặt, quay sang Trần Chẩn nói: “Quả nhân nghe nói rồng phượng theo nhau, trong núi có phượng, vậy thì vật này ắt là thiên long rồi!”
Trần Chẩn vòng tay tán đồng: “Bẩm chúa thượng, long phượng hiện thế, quả là may mắn khác thường!”
Ngụy Huệ Hầu ngoảnh sang phía tỳ nhân, vuốt râu nói: “Ồ, trời hiện điềm lành, hai vị hương dân đây trình báo có công, thưởng cho mỗi người ba mươi lượng vàng!”
Tỳ nhân ra hiệu, một hoạn quan liền bưng tới hai khay vàng. Ngư dân, tiều phu một lần nữa lại được nhìn thấy những thỏi vàng lấp lánh, vội vã dập đầu lia lịa, còn chưa kịp nói lời tạ ơn thì một hoạn quan khác chạy vào bẩm báo: “Khởi bẩm chúa thượng, Bạch tướng quốc cầu kiến!”
Nghe thấy ba chữ “Bạch tướng quốc”, Trần Chẩn bất giác giật mình đánh thót, ngư dân và tiều phu hai chân run lên bần bật. Song Ngụy Huệ Hầu lại rất đỗi vui mừng: “Ồ, lão ái khanh trở về rồi ư! Mau mời tướng quốc vào!”
Tỳ nhân dõng dạc hô: “Chúa thượng có chỉ, vời Bạch tướng quốc yết kiến!”
Bạch Khuê vội vã rảo bước vào, khấu đầu hô: “Vi thần khấu kiến chúa thượng!”
Ngụy Huệ Hầu tươi cười, chìa tay ra nói: “Lão ái khanh mau bình thân, ngồi đi, ngồi đi!”
Bạch Khuê lạy thêm một lạy: “Tạ ơn chúa thượng!” Vừa đứng dậy, nhìn thấy Trần Chẩn đang ngồi lù lù ở chỗ của mình, Bạch Khuê lập tức sầm mặt xuống. “Chúa thượng, ở đây hình như không có chỗ của lão thần!”
Trần Chẩn lập tức mặt mày biến sắc.
Ngụy Huệ Hầu quay sang Trần Chẩn, cười ha hả mà nói: “Trần ái khanh, khanh ngồi nhầm chỗ rồi, mau đổi chỗ đi!”
Trần Chẩn lúng túng đứng dậy, đi sang ngồi xuống hàng bên phải, vòng tay hướng về phía Bạch Khuê: “Hạ quan thất lễ, mong tướng quốc lượng thứ!”
Bạch Khuê chậm rãi bước tới chỗ của mình, ngồi xuống, khinh khỉnh nói: “Không phải thượng đại phu thất lễ, mà là lão hủ đây tới không đúng lúc!”
Trần Chẩn càng luống cuống: “Không phải, không phải, hạ quan không có ý này!”
Bạch Khuê còn định nói nữa thì Ngụy Huệ Hầu đã cắt ngang: “Lão ái khanh, đừng chấp việc này nữa, quả nhân đang có chuyện muốn kể cho khanh nghe đây!”
Bạch Khuê quay người lại, vòng tay cung kính: “Lão thần xin được lắng nghe!”
Ngụy Huệ Hầu chỉ tay vào ngư dân và tiều phu đang quỳ dưới đất, nói: “Hai vị hương dân đây vừa từ Phùng Trạch tới, nói là đích thân nghe thấy tiếng phượng hót rồng ngâm. Điềm may mắn này quả là nghìn năm có một!”
Bạch Khuê liếc nhìn hai kẻ kia, lòng đã sáng tỏ như gương, sắc mặt sa sầm, chiếu thẳng ánh mắt vào ngư dân và tiều phu, thấy hai kẻ này đều cúi gằm đầu, cố gắng nâng ống tay áo rộng che kín mặt, lại càng hiểu rõ, bèn chậm rãi nói: “Hai vị hương dân đây thật là có phúc, hãy ngẩng đầu lên để bản tướng nhìn rõ mặt!”
Ngư dân và tiều phu càng vùi mặt sâu hơn vào ống tay áo, toàn thân run bần bật, hai mông đít rung lắc hệt như hai cái sàng đang sàng thóc, Bạch Khuê nhìn rõ mồn một, bèn nghiêm giọng quát: “Hai vị hương dân, bản tướng muốn hai người ngẩng đầu lên, đã nghe rõ chưa?”
Ngư dân và tiều phu chẳng còn cách nào khác, đành phải ngẩng lên. Bạch Khuê vừa liếc nhìn lập tức nhận ra bọn họ, bèn nện mạnh nắm đấm xuống án, giận dữ quát lớn: “Điêu dân to gan, hẳn đã từng gặp bản tướng?”
Hai người mặt xám ngoét, toàn thân run rẩy.
Bạch Khuê cười nhạt: “Phượng hót rồng ngâm cái gì? Hai ngươi làm xằng làm bậy ở quê nhà còn chưa kể, lại dám tìm cách vào cung bày chuyện điêu trá, khi quân phạm thượng, các ngươi có biết đây là tội tru di cửu tộc?”
Nghe thấy bốn chữ “tru di cửu tộc”, hai kẻ gần như rũ liệt dưới đất.
Bạch Khuê chậm rãi quay sang phía Ngụy Huệ Hầu: “Bẩm chúa thượng, sau khi từ Mạnh Tân trở về, vi thần luôn sống ở Phùng Trạch, chưa từng nghe thấy phượng hót rồng ngâm, cũng chưa từng nghe ai nói tới chuyện này. Còn hai kẻ kia, vốn không phải là ngư dân hay tiều phu gì hết. Một tên là Câu Tam, chơi bời lêu lổng, nổi tiếng côn đồ. Tên kia là Chu Tứ, ham mê cờ bạc thành tính, lừa gạt cả cha mẹ vợ con. Mấy năm gần đây đào khơi kênh lớn, hai kẻ này nhiều lần trốn tránh lao dịch, đã bị thú thừa Đại Lương phạt đánh bốn mươi roi. Đúng hôm xử phạt, vi thần vừa hay đến đó, nên vẫn nhớ mặt! Điêu dân lại dám vào tận đây dối lừa chúa thượng, hẳn là có kẻ xui khiến, mong chúa thượng minh xét!”
Sắc mặt Ngụy Huệ Hầu chốc lát tối sầm, từ từ dịch chuyển ánh mắt sang Trần Chẩn: “Trần ái khanh, có chuyện này chăng?”
Trần Chẩn sớm đã trấn tĩnh trở lại, đảo con ngươi vài vòng, từ từ đứng dậy nhìn thẳng vào Bạch Khuê, cố gắng nói thật chậm rãi: “Những lời này của Bạch tướng quốc, rõ ràng là muốn kết tội hạ quan. Bạch tướng quốc xưa nay nhất ngôn cửu đỉnh, hạ quan dù có mười miệng cũng khó lòng biện hộ. Hôm nay trước mặt chúa thượng, hạ quan không dám nói bừa, nhất định phải làm sáng tỏ chuyện này!”
Ngụy Huệ Hầu nghe Trần Chẩn nói vậy, mặt vẫn tối sầm, song cũng gật đầu mà nói: “Trần ái khanh cứ nói!”
Trần Chẩn quay sang tiều phu, ung dung dẫn dắt: “Xin hỏi tiều phu, tướng quốc đại nhân đây nói, đại nhân đã từng gặp ngươi ở Đại Lương, có chuyện này không?”
Thấy tiều phu liếc nhìn lại, Trần Chẩn lừ mắt ra hiệu.
Tiều phu lập tức hiểu ý, vội lắc đầu quầy quậy: “Tiểu nhân sống ở Long Sơn, quanh năm kiếm sống bằng nghề đốn củi, hơn chục năm qua chưa rời khỏi núi một lần, chưa từng gặp tướng quốc đại nhân!”
Trần Chẩn hết sức hài lòng, lại quay sang phía ngư dân: “Xin hỏi ngư dân, đã từng gặp tướng quốc đại nhân chưa?” Ngư dân đương nhiên cũng lắc đầu.
“Trông hai ngươi bộ dạng thực thà, chắc cũng không dám dối trá!” Trần Chẩn khẽ cười một tiếng, lại nhìn sang tiều phu. “Vậy ta hỏi tiếp, ngươi nghe thấy phượng hót lúc nào, ở đâu?”
Tiều phu ngẩng lên, chạm phải ánh mắt nghiêm nghị của Bạch Khuê, vội vã cúi đầu né tránh.
Trần Chẩn lớn tiếng hỏi: “Tiều phu, đây là triều đường, không phải Đại Lương, ngươi nghe thấy gì thì nói thế ấy! Nếu có nửa lời giả dối, bản quan tất xử ngươi tru di cửu tộc.”
Tiều phu nghe vậy, vội vàng nói thật mạch lạc: “Vào một buổi chiều nọ, tiểu dân đang đi đốn củi, đột nhiên nghe thấy tiếng chim hót trong núi.”
Trần Chẩn sầm mặt: “Là chim hót, hay là phượng hót?”
Tiều phu vội vã sửa lại: “Là… là phượng hót!”
“Sao ngươi biết đó là phượng hót?”
Tiều phu đã lấy lại bình tĩnh, dõng dạc nói: “Tiểu dân nhìn thấy hàng nghìn hàng vạn con chim kết thành đàn bay vòng quanh đỉnh núi, một lát sau lại đột nhiên biến mất, ngay sau đó thì nghe thấy một tiếng hót dài vọng lại từ đỉnh núi, âm thanh vang động tới hơn chục dặm, tựa như tiên nữ ca hát. Tiểu dân từ nhỏ đã được nghe chuyện trăm chim chầu phượng hoàng, do vậy đoán rằng tiếng hót ngân dài kia chắc chắn là tiếng hót của chim phượng!”
Trần Chẩn từ từ đứng dậy, bước tới phía trước Ngụy Huệ Hầu, dập đầu sát đất nói: “Trắng đen phải trái đã rõ, mong chúa thượng minh xét!”
Ngụy Huệ Hầu khẽ gật đầu, chậm rãi nhìn về phía Bạch Khuê, trầm giọng nói: “Lão ái khanh, khanh trở về khi nào?”
“Chúa thượng!” Bạch Khuê nôn nóng, quên bẵng cả tôn ti. “Lời kể của tiều phu có rất nhiều sơ hở, rõ ràng là muốn giở trò gian xảo lừa gạt chúa thượng!”
Ngụy Huệ Hầu nghiêm mặt, rồi đột ngột cao giọng: “Bạch Khuê, quả nhân hỏi khanh, khanh từ Đại Lương trở về khi nào?”
Bạch Khuê trong lòng giật thột, bèn từ từ đứng dậy, dập đầu sát đất: “Khởi bẩm chúa thượng, vi thần vừa trở về, còn chưa kịp hồi phủ!”
“Lão ái khanh!” Giọng Ngụy Huệ Hầu chậm rãi, “khanh đã có tuổi, đi đường xa xôi hẳn đã mệt mỏi, mau trở về phủ nghỉ ngơi ba ngày rồi hãy lên triều!”
Bạch Khuê trong lòng ớn lạnh, liếc sang Trần Chẩn, lại nhìn hai kẻ lưu manh và số vàng bày trước mặt chúng, thở dài một tiếng, khấu đầu nói: “Vi thần lĩnh chỉ!”
***
Bàng Quyên bị giam vào ám thất tối tăm dưới lòng đất, không biết đã qua mấy ngày, mỗi ngày chỉ được húp một bát cháo loãng, đói lả người toàn thân rệu rã.
Buổi sáng hôm nay, bỗng thấy hai hán tử mở cửa phòng, chẳng nói chẳng rằng xốc nách Bàng Quyên kéo lê ra ngoài lầu Nguyên Hanh rồi đẩy mạnh ra phố. Bàng Quyên không còn chút hơi sức, lại bị hai hán tử thình lình xô đẩy nên theo đà lăn lông lốc ra ngoài, rồi nằm phơi mặt trên đất.
Hai hán tử liếc hắn một cái, phủi tay quay trở vào sân. Bàng Quyên nằm một lát thì nghiến răng bò dậy, nhìn trừng trừng vào tấm biển hiệu lầu Nguyên Hanh, gắng hết sức bò tới bên tường, vịn tay vào đó, khó nhọc lê đi.
Bàng Quyên trở về phố Tây Nhai thì thấy cửa nhà khoá trái. Bàng Quyên hết sức ngạc nhiên, không kịp mở cửa, vội vã đi sang tiệm bán giá đỗ bên cạnh. Người bán hàng vui vẻ mời Bàng Quyên ngồi. Bàng Quyên bèn hỏi cha mình đã đi đâu, song anh ta lắc đầu, nói không biết, chỉ biết tiệm may đã đóng cửa cả tuần(3) trời.
Bàng Quyên chợt nhớ ra La Văn có đến nhà mình vào chục ngày trước, trong lòng cũng thấy yên tâm, bèn bảo người bán hàng làm cho hai bát mì. Anh ta thấy Bàng Quyên đã đói lử, nhanh nhẹn vào bếp nổi lửa, một lát sau đã bưng ra hai bát mì nóng hổi. Bàng Quyên ăn xong, thấy khoẻ hơn hẳn bèn vòng tay vái tạ rồi trở về nhà. Mở cửa ra, quan sát một lượt, thấy mọi thứ vẫn như cũ thì thở phào một tiếng, ngồi xuống dưới chiếu phía trước quầy hàng, trấn tĩnh tinh thần, vừa điều chỉnh lại tâm tư hỗn loạn mấy ngày qua, vừa đợi thể lực phục hồi, chờ đợi tin tức của cha.
Bàng Quyên cứ thế ngồi trong tiệm tới khi trời tối thì có người đẩy cửa bước vào. Bàng Quyên ngẩng đầu nhìn, chính là La Văn. Bàng Quyên nhảy phắt dậy, túm lấy La Văn, tức giận kêu lên: “Họ La kia, ta đang định đi tìm ngươi thì ngươi lại dẫn xác tới!”
La Văn không giằng co, cứ để Bàng Quyên túm lấy. Bàng Quyên lôi hắn tới trước quầy hàng, hằm hằm chỉ tay vào quầy hỏi lớn: “Nói mau, cha ta ở đâu?”
La Văn đáp: “Bàng huynh buông tay ra, tại hạ tới đây cũng là vì chuyện này.”
Bàng Quyên thả tay ra, song mắt vẫn nhìn trừng trừng vào La Văn. La Văn thở hắt ra một hơi, rồi kể lại toàn bộ sự việc xảy ra trong những ngày qua, song giấu nhẹm chuyện vương phục, chỉ nói trong phủ mời Bàng sư phụ may vài bộ quần áo quý giá, đồng thời lấy từ trong ống tay áo ra hai mươi bảy lượng vàng, xếp lên mặt bàn, nói: “Đây là tiền công của Bàng sư phụ trong mười ngày qua, lão quản gia bảo tại hạ tiện thể mang qua cho Bàng huynh trước.”
Mười ngày đã kiếm được tới hai mươi bảy lượng vàng, quả là chuyện khó tin! Bàng Quyên đưa mắt nhìn đống vàng xếp trên bàn, cười nhạt một tiếng: “Dù có may vương phục cho thiên tử cũng không được nhiều vàng như vậy! Họ La kia, ngươi muốn lừa ta ư?”
“Bàng huynh chớ nghi ngờ, đây đúng là số tiền công của Bàng sư phụ. Do làm gấp nên trong phủ trả công cao hơn một chút, nghe lão quản gia nói, thù lao cao gấp ba lần bình thường.”
Bàng Quyên truy hỏi: “Là trang phục gì mà tiền công đắt đến thế?”
La Văn ngẩn ra chốc lát, rồi lắc đầu nói: “Chuyện này… tại hạ cũng không biết!”
“Họ La kia!” Bàng Quyên rít qua kẽ răng, “dù ngươi có biết hay không, thì cha ta đã đi theo ngươi, ta chỉ biết tìm ngươi đòi người. Nhà ta đối xử với ngươi không đến nỗi tệ, hôm nay không nói nhiều lời, ngươi mau về bảo Trần Chẩn thả cha ta ra, nếu không…” Nói tới đây thì ngừng lời, nắm đấm siết lại răng rắc.
La Văn gật đầu nói: “Bàng huynh không phải nói nữa, tại hạ sẽ về bẩm báo với lão quản gia!”
La Văn đi được vài bước thì ngoảnh đầu lại nói: “Còn một việc nữa, tại hạ suýt quên mất! Bàng sư phụ dặn, nếu có việc gấp, đi tìm chú ba!”
Bàng Quyên lạnh lùng đáp: “Ta chẳng tìm ai, chỉ muốn cha ta trở về!”
La Văn ra khỏi cửa, thấy trời đã tối, vội vã sải bước về phủ thượng đại phu. Bước vào cửa phủ, La Văn nghĩ ngợi một lát, quyết định tới gặp Bàng sư phụ trước để báo với ông Bàng Quyên vẫn bình an vô sự. La Văn rảo bước tới khu nhà nhỏ nơi Bàng Hành đang bị nhốt, từ xa đã nhìn thấy cổng ngoài khoá chặt, bên trong tối đen như mực không có lấy chút ánh đèn. La Văn trong lòng hoang mang, sải bước nhanh hơn, tới trước cổng gõ liên hồi, song không ai lên tiếng. Gắng sức đẩy cổng, cũng không đẩy được.
La Văn vô cùng sốt ruột, vừa hay nhìn thấy một tên hầu đi lại, bèn chặn đầu hỏi: “Bàng sư phụ đâu?”
Tên hầu hỏi lại: “Bàng sư phụ là ai?”
“Là lão sư phụ may quần áo trong khu nhà này!”
“À! Lúc sẩm tối, tôi thấy mấy người đưa ông ta đi rồi!”
La Văn kinh hãi hỏi: “Đưa đi đâu?”
Tên hầu lắc đầu.
La Văn đứng ngây ra một lát, rồi quay người bước tới khu nhà của Thích Quang, song không thấy lão quản gia đâu. La Văn hỏi người hầu trong viện, được biết Thích Quang vừa đi, hình như là tới thư phòng của chúa công.
La Văn thoáng do dự, rồi cuối cùng cũng cất bước hướng về phía thư phòng của Trần Chẩn.
Thư phòng của Trần Chẩn là khu nhà thứ sáu, cũng là khu nhà cuối cùng, vô cùng bí ẩn, ngoài đám người hầu thân cận, những thuộc hạ khác nghiêm cấm ra vào. Do đang gấp gáp, La Văn quên bẵng mất điều này, sải bước tiến thẳng tới cổng.
Bên trong khu nhà tĩnh mịch không một tiếng động, chỉ có vầng trăng lưỡi liềm toả sáng dìu dịu. Không có ánh đèn có nghĩa là không có người. La Văn đứng lại, nhìn vào bên trong lần nữa, đúng là họ không có bên trong. Đang định bỏ đi, đột nhiên nghe thấy tiếng nói: “Chúa công, vừa rồi hai gã lưu manh kia lại làm ầm lên, khăng khăng đòi trả vàng, thả người!”
La Văn nhận ra giọng của Thích Quang, vô cùng sửng sốt, vội vã nín thở ngưng thần lắng nghe. Câu trả lời của Trần Chẩn cũng vang lên ngay sau đó: “Sự việc đã xong, nếu như muốn đi, hãy tiễn chúng lên đường!”
“Tiểu nhân đã rõ!”
La Văn điếng người. Rõ ràng, Trần Chẩn và Thích Quang đang bàn chuyện cơ mật, nếu để họ biết La Văn nghe thấy, tuyệt đối không phải chuyện tốt đẹp. La Văn đang định len lén bỏ đi thì giọng Trần Chẩn lại vang lên chậm rãi: “Thế còn… chuyện của Bạch gia, làm đến đâu rồi?”
Nghe thấy hai chữ “Bạch gia”, lòng hiếu kỳ bỗng trỗi dậy khiến La Văn dừng bước.
Ngay sau đó là giọng Thích Quang: “Khởi bẩm chúa công, Bạch công tử đã bị Lương công tử, Ngô công tử và cô ả kia làm cho điên đảo thần hồn, mấy ngày nay, hôm nào cũng đánh bạc, tối tối hưởng lạc, ngày ngày thắng bạc, sảng khoái chẳng khác gì thần tiên, lúc này chắc vẫn đang tiêu dao trong lầu Nguyên Hanh!”
“Không được để hắn ngày ngày thắng bạc, phải để hắn có thắng có thua. Thắng thì phải để hắn thắng sung thắng sướng, còn thua thì phải để hắn thua thảm thua hại. Chỉ có vậy, hắn mới thấy thú vị!”
“Tiểu nhân ghi nhớ lời dạy của chúa công!”
Trần Chẩn thở dài một tiếng, hậm hực nói: “Lão già Bạch Khuê thật đáng ghét! Ta chỉ ngồi vào chỗ của lão có một lúc mà lão đã khiến ta mất mặt không để đâu cho hết! Cơn giận này ta đã nhẫn nhịn mấy năm rồi, đã đến lúc cần phát tiết rồi đấy!”
Thích Quang nịnh bợ: “Chúa công yên tâm, chỉ cần nắm trong tay bảo bối sống này, không tới nửa năm, tiểu nhân chắc chắn sẽ chuyển hết mớ gia tài kếch xù của lão ta vào kho lẫm của chúa công, để rồi xem lão ta có tức chết hay không!”
La Văn nghe thấy tất cả, toàn thân nổi da gà, vội vàng bỏ đi, chẳng may vấp phải vật gì đó, lảo đảo suýt ngã. Thích Quang nghe thấy tiếng động lạ, vội vã chạy lao ra ngoài cổng, quát lớn: “Ai?”
Đã không kịp nữa rồi, La Văn đành phải đánh liều tiến lại, quỳ xuống khấu đầu nói: “Bẩm… bẩm Thích gia, là tiểu nhân, La… La Văn!”
Thích Quang mặt không biến sắc, bước lại gần, nghiêm giọng mắng: “Thằng oắt này, lén la lén lút, chạy tới đây làm gì?”
La Văn tinh thần hoảng loạn, lắp bắp nói: “Tiểu nhân… nhà họ Bàng… có việc gấp, muốn gọi chú Bàng về… về nhà một chốc. Tiểu nhân tìm khắp nơi không thấy Thích gia đâu, nghe nói Thích gia tới đây, nên vội… vội tới tìm!”
Thích Quang ngẫm nghĩ một lát, thái độ mềm mỏng trở lại: “Ngươi về trước đi, đợi ta ở phòng sổ sách!”
“Tiểu nhân tuân lệnh!” La Văn vội đứng dậy, ba chân bốn cẳng chạy đi.
Nghe tiếng bước chân xa dần, Trần Chẩn cũng bước ra, nhìn theo bóng La Văn, rồi lại nhìn Thích Quang, gật gật đầu.
La Văn hồn xiêu phách lạc chạy tới phòng sổ sách, đợi một hồi lâu Thích Quang mới tới, nhìn thấy La Văn, thì cười ha hả mà nói: “Thằng oắt này, vừa rồi ta còn tưởng là kẻ trộm, sợ hết cả hồn!”
La Văn cũng đã lấy lại bình tĩnh, lên tiếng thanh minh: “Tiểu nhân cũng vậy. Tiểu nhân vừa bước vào trong viện, thấy bên trong không có ánh đèn, đang định bỏ đi, không ngờ bị Thích gia gọi lại!”
“La Văn!” Thích Quang nhìn hắn cười cười, rồi chậm rãi nói. “Mấy ngày qua trong phủ nhiều việc bận rộn, nhiệm vụ của ngươi là bảo vệ trạch viện, phải hết sức cẩn trọng mới được. Sao, Bàng gia có chuyện gì gấp?”
“Bàng Quyên đột nhiên mắc bệnh nặng, đau bụng tới chết đi sống lại!”
Thích Quang ngẫm nghĩ một lát rồi lấy từ trong hòm ra ba lượng vàng đưa cho La Văn: “Thanh niên đau bụng chắc tại ăn bậy bạ, không tính là bệnh nặng. Ba lượng vàng này ngươi cầm đi, mời đại phu về khám bệnh cho hắn!”
La Văn nhận lấy vàng, nhân tiện hỏi: “Chuyện này hẳn cũng nên nói với Bàng sư phụ một tiếng. Không biết Bàng sư phụ… đâu rồi?”
Thích Quang lại bật cười: “Bàng sư phụ gặp vận may rồi! Hồi sẩm tối, trong cung bỗng có người tìm đến, nói là Bàng sư phụ tay nghề khéo léo, muốn mời ông ta vào cung vài ngày, e rằng chưa thể trở về ngay được. Nếu ngươi gặp Bàng Quyên, hãy báo tin vui này cho hắn.”
“Vậy… vậy…”
“Vậy vậy cái gì?” Thích Quang sầm mặt xuống. “Lẽ nào việc nhà quan trọng hơn việc nước?”
La Văn run bắn, vội lúng búng: “Tiểu nhân tuân lệnh!”
La Văn cầm vàng, vừa định đi, Thích Quang lại nói: “Bàng sư phụ có một tay nải muốn nhờ ngươi mang về giúp!”
“Tay nải? Ở đâu kia?”
“Tại chỗ ở của Bàng sư phụ!”
La Văn lui ra khỏi phòng sổ sách, trong lòng hoang mang thấp thỏm, đi tới khu nhà nơi Bàng Hành may quần áo, trống ngực vẫn đập thình thịch, đưa mắt nhìn khắp một lượt tứ phía, thấy không có gì bất thường mới chậm rãi bước vào trong. La Văn chỉ chú ý quan sát động tĩnh xung quanh, không ngờ chân vấp phải một vật, bèn ngã sõng soài xuống đất.
La Văn sờ soạng, thấy là hai xác chết. Dưới ánh trăng lờ mờ, hắn định thần nhìn kỹ, thì ra chính là tiều phu và ngư dân. Rõ ràng họ mới bị giết chết tức thời, máu tươi vẫn đang tuôn ồng ộc. Giờ La Văn mới hiểu ra câu nói “tiễn chúng lên đường” của Trần Chẩn, bất giác run lên cầm cập.
Xung quanh tĩnh lặng đến chết chóc. La Văn nằm rạp dưới đất, đảo mắt nhìn quanh một vòng, rồi thình lình rút kiếm, lăn tròn trên đất, tung mình lao vọt lên đỉnh tường, chỉ vài bước nhảy đã tót lên nóc nhà.
Các động tác liền tiếp một mạch, hoàn thành trong nháy mắt, sát thủ ẩn phục trong bóng tối vốn cứ ngỡ rằng giết La Văn dễ như bắt ba ba trong hũ, nên chưa vội vàng ra tay, song sự việc diễn biến quá bất ngờ khiến chúng chết sững mất một chốc. Đến khi định thần lại, La Văn đã tung người nhảy xuống khỏi mái hiên rồi.
Có người hô lớn: “Giết người! Mau bắt lấy hung thủ!”
Tiếng hô hoán rộ lên râm ran khắp phủ thượng đại phu, đám sát thủ rầm rập chạy ra sau nhà truy đuổi. La Văn thân nhẹ đường quen, rẽ ngoặt liên hồi, một lát sau đã vọt qua tường biến mất.
Sau khi La Văn đi khỏi, Bàng Quyên vẫn ngồi đợi ở trong nhà. Đợi suốt hai canh giờ, vẫn không thấy bóng dáng La Văn đâu. Bàng Quyên thấy đói bụng, bèn ra ngoài kiếm chút đồ ăn, sau đó trở về nhà đợi tiếp. Đợi mãi, liền ngủ thiếp đi lúc nào không biết.
Khi Bàng Quyên giật mình tỉnh dậy, đã là sáng hôm sau. Mặt trời đã lên cao quá ngọn cây, trên phố chốc chốc lại vang lên tiếng rao bán đồ ăn sáng. Bàng Quyên múc một chậu nước, rửa mặt qua loa, đang định ra phố thì nhìn thấy một người bán bánh nướng tiến lại, vừa đi vừa rao: “Bánh nướng đây, bánh nóng hổi mới ra lò đây!”
Đợi anh ta tới gần, Bàng Quyên móc ra một đồng tiền đưa cho anh ta, nói: “Này anh, cho hai cái!”
Người bán bánh nướng lấy ra ba cái từ dưới đáy làn đưa cho Bàng Quyên, song lại không cầm tiền, hỏi vì sao thì anh ta nói: “Có người trả tiền rồi! Người này muốn nhờ tiểu nhân đưa ba chiếc bánh nướng này cho tiệm may nhà họ Bàng, còn yêu cầu tiểu nhân giao tận tay Bàng công tử.”
Người bán bánh nướng nói xong bèn quay người bước đi luôn, tiếng rao lại cất lên vang vang dọc theo con phố. Bàng Quyên cầm bánh nướng lên, bụng đầy ngờ vực, bước vào trong tiệm, đặt bánh nướng lên trên bàn, quan sát kỹ thì thấy có một chiếc bánh bị rạch một đường, tách đôi ra, quả nhiên thấy bên trong có một mảnh lụa. Bàng Quyên trải ra xem, mặt thoắt biến sắc, vội nhét hai mươi bảy lượng vàng La Văn đưa vào trong ống tay áo, cầm bánh nướng lên, vừa ăn vừa vội vã đi ra khỏi cửa tiệm.
Bàng Quyên đi tới phố Bắc Nhai, dừng lại trước cửa tiệm rèn, mua một thanh kiếm thượng đẳng. Quay trở ra phố, ngó quanh không thấy ai, bèn đi thẳng tới cổng bắc.
Bàng Quyên ra khỏi cổng bắc, tới ngoại ô, nhìn thấy phía trước có vạt rừng rậm rạp, bèn chạy thẳng vào. Một lát sau, nghe thấy có tiếng người gọi khẽ, quay đầu lại, hoá ra là La Văn.
La Văn chào hắn một tiếng rồi đi luôn, bước chân băng băng, Bàng Quyên vội vã đuổi theo, vòng vo một hồi thì tới một cánh rừng bạch dương còn rậm rạp hơn nữa.
La Văn dừng bước, nhìn ngó xung quanh, thấy không một bóng người, mới đứng dựa lưng vào một thân cây, mặt trắng bệch nhìn Bàng Quyên.
Bàng Quyên sửng sốt hỏi: “Họ La kia, ngươi làm trò quỷ gì thế?”
La Văn gắng trấn tĩnh nói: “Có người muốn giết tôi!”
Bàng Quyên kinh ngạc hỏi: “Ai muốn giết ngươi?”
La Văn đáp: “Chúa công và Thích gia!”
Tiếp đến, La Văn kể lại toàn bộ ngọn nguồn sự việc cho Bàng Quyên nghe, không thiếu một chi tiết nào, bắt đầu từ chuyện may vương phục, tới chuyện mình suýt bị ám sát. Bàng Quyên nghe xong, ôm đầu ngồi thụp xuống đất, đau đớn thốt lên: “Cha ơi, giờ thì hẳn cha đã biết, không phải chỉ có người múa giáo mới chết dưới giáo, người múa đao mới chết dưới đao!”
La Văn cũng ngồi xuống, thở dài sườn sượt: “Bàng huynh, việc này đều trách tại hạ. Tại hạ cứ tưởng đã mang lại mối làm ăn cho chú Bàng, nào ngờ đã làm hại chú ấy, còn gây liên luỵ cho Bàng huynh!”
Bàng Quyên trầm ngâm một lát, ngẩng đầu nhìn La Văn: “Vừa rồi ngươi nói, Trần Chẩn còn muốn hãm hại Bạch tướng quốc phải không?”
La Văn gật đầu.
Bàng Quyên như chợt bừng tỉnh: “Thảo nào hôm đó chúng cung kính với Bạch thiếu gia đến vậy!” Dừng lại một lát, sắc mặt bừng bừng giận dữ. “Bạch tướng quốc giúp dân thông thương, một lòng tận tuỵ vì đất nước, lại mang tiền bạc trong nhà đi làm thuỷ lợi, sửa sang đường sông, thiên hạ có ai không biết tiếng? Trần Chẩn bất chấp thủ đoạn mưu hại tướng quốc, đúng là không bằng giống súc sinh!”
“Bàng huynh nói rất đúng!” La Văn tiếp lời. “Lão quản gia không biết tìm đâu ra hai tên tiều phu và ngư dân, nói là nghe thấy phượng hót rồng ngâm, là điềm may mắn nghìn năm có một! Ngư dân, tiều phu cái nỗi gì? Rõ ràng là hai gã lưu manh!”
“Phượng hót rồng ngâm?” Bàng Quyên không giấu nổi kinh ngạc.
La Văn lại kể tường tận về hai tên tiều phu và ngư dân. Bàng Quyên nghe xong, trầm ngâm suy nghĩ, một lát sau, ngẩng đầu lên chậm rãi nói: “La huynh, tại hạ đã hiểu ra chút ít rồi!”
La Văn ngẩn người nhìn Bàng Quyên, miệng khẽ “ồ” lên một tiếng.
Bàng Quyên vẻ như đã suy đoán thông suốt: “Trần Chẩn lén bắt cha ta may vương phục, lại còn diễn trò phượng hót rồng ngâm, mục đích chỉ có một, chính là xúi bẩy quân chủ xưng vương!”
“Xưng vương?” La Văn kêu lên thất thanh. “Chẳng phải là mưu phản ư? Thảo nào chú Bàng nhất quyết không chịu làm.”
Bàng Quyên đi tới đi lui trong rừng, một lát sau, ngẩng đầu lên hỏi: “La huynh biết chúng giam cha tôi ở đâu không?”
La Văn lắc đầu nói: “Nghe Thích Quang nói, quân chủ mời Bàng sư phụ vào cung, nhưng theo suy đoán của tôi, hiện tại chú Bàng hẳn vẫn đang trong phủ.”
Bàng Quyên ngẫm nghĩ một hồi rồi nói: “La huynh, giống gian tặc kia đang truy sát huynh, huynh mau trốn đi!”
“Chú Bàng thì sao?”
“Tại hạ sẽ tự đi cứu ông ấy!”
“Bàng huynh sao lại nói ra những lời như thế?” La Văn vội nói. “Chú Bàng vì tại hạ mà gặp kiếp nạn, sống chết chưa rõ, nếu tại hạ một mình bỏ trốn, sau này sao có thể làm người?”
Bàng Quyên vô cùng cảm động, gật đầu nói: “La huynh có lòng đại nghĩa, Bàng Quyên xin nhận huynh làm huynh đệ! Hiện giờ chúng đang truy đuổi huynh, huynh hãy tạm thời ẩn nấp ở đây. Đêm nay vào giờ Nhân định, hai ta sẽ gặp nhau trước phủ gian tặc, trước là cứu gia phụ, sau tiện thể chém chết gian tặc, trừ hại cho đất nước!”
“Được, tại hạ xin nghe theo Bàng huynh!”
Cùng lúc này, một bóng người vội vã bước vào trong phủ Thượng đại phu, rẽ vào khu nhà của Thích Quang. Thích Quang nghe thấy tiếng bước chân, nhận ra Đinh Tam, vội bước ra hỏi: “Có động tĩnh gì không?”
Đinh Tam tiến lại gần, thì thầm vài câu vào tai Thích Quang, Thích Quang hỏi ngay: “Ngươi nhìn rõ chứ?”
“Tiểu nhân không nhìn sai. Trời còn chưa sáng, tiểu nhân đã tới gần Bàng gia, mắt không rời khỏi thằng oắt họ Bàng. Vừa rồi thằng oắt đó vội vã ra khỏi nhà, tới phố Bắc Nhai mua một thanh kiếm, sau đó vòng vèo một hồi, tới cánh rừng ở ngoại ô phía bắc, loáng cái đã mất tích trong rừng sâu. Tiểu nhân đuổi theo không kịp, lại không dám nấn ná ở đó quá lâu, lập tức quay về bẩm báo Thích gia!”
Thích Quang gập ngón giữa lại, gõ nhịp xuống mặt bàn: “Hai người bọn chúng đã bắt tay nhau thì cứ để chúng đi chung một đường!” Miệng nói, tay lôi ra một chiếc túi từ trong hòm. “Chút tiền này để các huynh đệ mua rượu uống! Nói với các huynh đệ, sự việc thành công, Thích gia ta sẽ trọng thưởng!”
Đinh Tam nhận lấy: “Tạ ơn Thích gia!”
Thích Quang trợn mắt hỏi: “Có biết thế nào là để chúng đi chung một đường không?”
“Chính là tiểu nhân dẫn theo vài đệ tử, trừ khử hai thằng oắt đó!”
Thích Quang khẽ lắc đầu: “Công phu của La Văn thì ngươi đã biết, nghe nói thằng oắt họ Bàng kia võ nghệ cũng rất rất cao cường. Dựa vào mấy miếng võ quèn của các ngươi, trừ khử chúng thế nào?”
“Việc này… Việc này…”
Thích Quang dằn mạnh từng tiếng: “Nghe nói thằng oắt Bàng gia rất có hiếu, chuyện này đúng không?”
“Thưa phải. Bàng Quyên mồ côi mẹ từ nhỏ, trong nhà chỉ có hai cha con hắn nương tựa vào nhau mà sống!”
Thích Quang vẫy tay: “Lại đây!”
Đinh Tam ghé sát lại, Thích Quang thì thầm vào tai hắn, Đinh Tam gật đầu lia lịa.
Vào giờ Nhân định, La Văn lặng lẽ tới trước phủ thượng đại phu, quả nhiên đã thấy Bàng Quyên đứng đợi sẵn ở đó. Vừa trông thấy La Văn, Bàng Quyên nói nhỏ: “Tại hạ đã thăm dò kỹ rồi, trong hậu hoa viên nhà gian tặc có một hầm ngầm, gia phụ bị nhốt ở đó!”
La Văn gật đầu nói: “Tại hạ cũng đoán là ở đó. Bên trong quanh co ngoắt ngoéo, nếu không thông thạo đường đi, đã vào trong rồi đừng hòng thoát ra được!”
“Có vẻ như La huynh đã từng vào đó?”
“Đúng vậy! Ông lão trông coi hầm ngầm chơi thân với tại hạ, thường mời tại hạ xuống hầm uống rượu!”
“Vậy thì tốt quá! Đi thôi!”
Hai người tìm một chỗ khuất, nhảy qua tường vây vào trong, chưa đầy một canh giờ đã tới trước hầm ngầm. Quan sát xung quanh không thấy ai, La Văn bèn mở khoá, bước vào bên trong.
Trong hầm rất cao lớn, rộng thênh thang. Hai người đi chưa được bao xa, thấy phía trước có đuốc cháy, vừa đưa mắt nhìn, quả nhiên thấy Bàng Hành bị nhốt trong cũi, hình như không có ai canh giữ.
Bàng Quyên vội chạy lại, khẽ gọi: “Cha!”
Bàng Hành bị trói giật cánh khuỷu ra phía sau, trói chặt vào một cọc gỗ, miệng nhét đầy bông, nghe thấy tiếng Bàng Quyên gọi, ú ớ muốn nói, song không thành tiếng.
Bàng Quyên giận dữ, máu huyết sôi lên sùng sục, xông lên định đạp cửa cũi thì La Văn kêu lên thất thanh: “Bàng huynh, chúng ta mắc lừa rồi!”
Lời vừa dứt, bỗng nghe sau lưng ồn lên từng chặp, cửa ngầm sập lại đánh rầm một tiếng. Cùng lúc, đuốc trong hầm vụt sáng, hơn chục sát thủ tay lăm lăm đao kiếm lao tới vây kín, kẻ cầm đầu chính là Đinh Tam.
Bàng Quyên quét mắt nhìn khắp lượt, hỏi La Văn: “La huynh, liều mạng với chúng chứ?”
La Văn đảo mắt một vòng, lập tức thì thầm: “Mau, chạy theo tại hạ!” Nói xong, hét vang một tiếng, cầm kiếm lao vào một góc. Bàng Quyên cấp tốc bám theo, đâm chém hỗn loạn, gấp rút mở ra một đường máu, rẽ vào một ngách hầm. La Văn cắm đầu chạy hết tốc lực, rẽ ngoặt liên hồi, vừa đánh vừa chạy, đám Đinh Tam bám sát sau lưng không rời. Sắp tới cuối đường, La Văn bị một đao chém trúng chân, bước đi có phần lảo đảo.
Bàng Quyên kinh sợ kêu lên: “La huynh!”
Đám Đinh Tam đã đuổi theo sát nút, Bàng Quyên bèn xông lên chặn chúng lại. Tuy phía Đinh Tam số người đông đảo, song lại không thể phát huy lợi thế số đông trong đường hầm, hơn nữa lại có Bàng Quyên dũng mãnh chặn đầu, nên không ai dám xông lên. Hai bên giằng co tại chỗ. La Văn chống kiếm, gắng gượng đứng dậy, tiến lên vài bước, sờ thấy cửa ngầm, xoay mạnh chốt sắt, mở ra một cánh cửa, hét lớn: “Bàng huynh, mau lên, chạy ra bên ngoài sẽ gặp một vạt trúc, rẽ phải là tới tường vây!”
Bàng Quyên vừa đánh vừa lùi, đáp: “Huynh đi trước đi, tôi ngăn cản chúng!”
La Văn vội nói: “Còn không đi, chúng ta chết chắc!”
Bàng Quyên đã lùi tới cửa, La Văn thình lình xô mạnh Bàng Quyên ra ngoài, còn mình tiện tay đóng sập cửa, cài chốt lại. Bàng Quyên gắng sức đẩy mạnh vào trong, song cánh cửa vẫn trơ trơ không hề nhúc nhích. La Văn ở bên trong quát lên: “Bàng huynh, mau chạy đi!”
Tiếp đến, chỉ nghe thấy tiếng đao kiếm loảng xoảng, tiếng gào rú thảm thiết, sau đó là tiếng rên rỉ, rồi tiếng người rút chốt cửa.
Bàng Quyên không còn cách nào khác, vội cắm đầu chạy thục mạng, quả nhiên gặp một vạt trúc, vội rẽ sang phải thì tới tường vây. Khi đám Đinh Tam đuổi tới thì Bàng Quyên vừa hay đã nhảy vọt qua tường. Đợi đám Đinh Tam qua được tường vây, đã không thấy bóng dáng Bàng Quyên đâu nữa. Cả bọn lùng sục một thôi một hồi, chẳng tìm thấy gì, đành tiu nghỉu quay về phủ.
Đang ngồi trong viện chờ tin, thấy Đinh Tam hộc tốc chạy về, quỳ phục xuống đất, Thích Quang đã hiểu nguồn cơn, lạnh lùng nói: “Lại để chúng chạy thoát rồi ư?”
“Tiểu nhân vô dụng, đã trừ khử được tên họ La, để thằng oắt Bàng gia chạy thoát!”
Thích Quang sầm mặt xuống.
Đinh Tam vội nói: “Thích gia yên tâm, thằng oắt đó chưa thể chạy xa được!”
“Cái gì?”
“Chỉ cần chúng ta vẫn giam lão già, lo gì thằng oắt không quay lại!”
Thích Quang lừ mắt nhìn hắn: “Lũ xuẩn ngốc các ngươi, đến việc cỏn con này cũng làm không xong, bảo ta ăn nói thế nào với chúa công đây?”
Đinh Tam dập đầu nói: “Xin Thích gia dạy bảo!”
Thích Quang đứng dậy, đi tới đi lui một hồi, rồi nói: “Ngươi nghe đây, hai tên lưu manh hôm qua, cộng với La Văn, cả thảy ba mạng, cứ đổ hết tội lỗi cho Bàng Quyên. Các ngươi sắp xếp hiện trường rồi báo lên phủ tư đồ!”
Đinh Tam đảo mắt một vòng: “Quả là diệu kế! Bẩm Thích gia, tiểu nhân sẽ làm ngay!”
“Còn nữa!” Thích Quang chậm rãi nói. “Sắp xếp vài người canh chừng Bàng sư phụ, không để ông ta có chuyện sơ sảy!”
“Tiểu nhân tuân lệnh!”
Đinh Tam quay ra, sai người đưa Bàng Hành đi, dàn xếp hiện trường, bảo người viết cáo trạng ngay trong đêm, tố rằng Bàng Quyên tham tiền của tiều phu và ngư dân, đã giết họ cướp tiền, bị vệ sĩ trong phủ phát hiện, bèn giết chết vệ sĩ rồi bỏ trốn, quả là đầu đuôi liền mạch, nghe rất hợp tình hợp lý. Thích Quang xem xong cáo trạng vô cùng hài lòng, sai người tới phủ tư đồ báo án.
Đường đường kinh đô Đại Ngụy, lại ngay trong phủ thượng đại phu canh gác thâm nghiêm, liên tiếp xảy ra hai án mạng, hơn nữa kẻ bị giết còn là con dân mẫu mực vừa được quân chủ đích thân triệu kiến, ban thưởng hậu hĩnh, khiến phủ tư đồ không khỏi bàng hoàng. Chu Uy cảm thấy sự việc nghiêm trọng, bèn sai người tới phủ thượng đại phu kiểm tra hiện trường, xác định hung thủ là Bàng Quyên, bèn lập tức viết cáo thị truy nã, đóng quan ấn, gửi đi khắp nơi.
Bàng Quyên trốn chạy vào rừng, lòng đau như bào, cắm phập lưỡi kiếm xuống đất, nước mắt giàn giụa, quay về phía kinh thành, dập đầu lia lịa, giọng lạc đi trong tiếng nấc nghẹn: “La huynh… cha…”. Bái xong, lại nghiến răng ken két. “Gian tặc Trần Chẩn nghe đây, thù này không báo, Bàng Quyên sẽ như cây này!” Nói đoạn, đứng phắt dậy, vung kiếm phạt đứt ngang một thân cây cỡ bắp tay bên cạnh.
Bàng Quyên vốn không phải là kẻ lỗ mãng. Thề độc xong, hắn ngồi xuống dựa lưng vào gốc cây, để đầu óc bình tĩnh trở lại, bắt đầu nghĩ cách báo thù. Hiện tại báo thù ngay chắc chắn không được. Thứ nhất, An Ấp là thiên hạ của Trần Chẩn; thứ hai, Bàng Quyên thân cô thế cô, dù có vào được trong phủ, e rằng cũng khó thành công.
Đại trượng phu báo thù, mười năm không muộn. Bàng Quyên suy đi tính lại, quyết định tạm thời ẩn náu, tìm cơ hội báo thù sau. Thế nhưng, tới đâu lánh nạn Bàng Quyên không biết, bởi lẽ từ nhỏ Bàng Quyên lớn lên ở An Ấp, ngoài An Ấp chẳng có họ hàng thân thích nào ở nơi khác.
Đang chưa biết phải làm sao, Bàng Quyên chợt nhớ La Văn đã từng nhắn lại, cha dặn nếu có chuyện gấp hãy tìm gặp chú ba. Bàng Quyên phấn chấn hẳn lên, bởi gần đây hắn từng nghe cha kể, ông vốn sống ở Đại Lương, cha mẹ đều sớm qua đời, chỉ còn một người em tên gọi Bàng Thanh sống ở phố Nam Nhai, là thợ đóng thùng, Bàng Quyên bèn quyết định tới Đại Lương tìm chú.
Sáng sớm hôm sau, Bàng Quyên tìm đến nếp nhà của người gác rừng, thấy trong nhà không có ai, bèn tự vào bếp lục đồ ăn, lại tìm được một bộ quần áo vải thô, bèn lấy mặc lên người. Thấy trên tường treo một chiếc mũ cỏ, lại lấy xuống đội lên đầu, sau đó móc vài đồng tiền đặt bên cạnh bếp, rồi lần ra khỏi rừng, đi về phía Đại Lương.
Đi chưa được bao lâu, Bàng Quyên tới một thị trấn nhỏ, nhìn thấy ở ngã tư có một đám người xúm đông xúm đỏ đang xem gì đó, cũng chen lên trước xem. Hoá ra có hai nha lại đang dán cáo thị, chân dung vẽ trên cáo thị rành rành là hắn, phía dưới còn ghi rõ quê quán, họ tên và tội trạng.
Bàng Quyên đọc kỹ tội trạng trên tờ cáo thị, cười khẩy một tiếng, kéo sụp vành mũ xuống rồi quay người bước đi.
***
Ngụy Huệ Hầu từ sau khi được công tử Ngang dâng tặng vương phục, ngày nào trước khi đi ngủ cũng mang ra thử, tham vọng xưng vương đã dâng cao hừng hực. Vào ngày đại triều mồng chín tháng năm, chính là ba hôm sau khi ngư dân và tiều phu kể lại chuyện nghe thấy phượng hót rồng ngâm, Huệ Hầu càng thấy trong người bứt rứt như lửa đốt. Chuông thượng triều đã ngân vang ba lượt, Ngụy Huệ Hầu vẫn mặc nguyên áo ngủ ngồi xếp bằng trong tẩm thất, trầm tư nhìn ra ngoài cửa, không hề có ý trở dậy.
Thái giám tư phục tay nâng triều phục, cúi đầu đợi sẵn bên cạnh, khẽ nhắc nhở: “Muôn tâu chúa thượng, chuông thượng triều đã ngân ba lần!”
Ngụy Huệ Hầu không thèm để ý, từ từ quay sang phía tỳ nhân, lẩm bẩm: “Hôm nay là đại triều ư?”
Tỳ nhân đáp: “Khởi bẩm chúa thượng, hôm ngay ngày mồng chín tháng năm, là đại triều, triều thần từ chức hạ đại phu trở lên đều đang đợi chúa thượng trong triều!”
Ngụy Huệ Hầu từ từ đứng dậy, đi tới đi lui vài bước, đột nhiên ngẩng đầu hỏi: “Sứ Tần Công Tôn Ưởng lên triều chưa?”
“Công Tôn Ưởng là ngoại thần, nếu không được chúa thượng triệu kiến, không thể lên triều!”
“Bảo ông ta lên triều ngay!”
“Lão nô lĩnh chỉ!” Tỳ nhân hiểu ý, cất giọng lanh lảnh truyền chỉ: “Chúa thượng có chỉ, truyền sứ Tần Công Tôn Ưởng lên triều nghe lệnh!”
Ngụy Huệ Hầu lại đợi thêm một lát, mới liếc nhìn thái giám tư phục. Thái giám vội vã đem triều phục lại, đang định thay cho Ngụy Huệ Hầu thì Ngụy Huệ Hầu trừng mắt quát: “Không phải bộ này!”
Thái giám tư phục ngạc nhiên, đứng ngẩn ra tại chỗ, tay nâng triều phục, mặt mũi ngơ ngác. Tỳ nhân thoáng ngẫm nghĩ một lát, rồi vội rảo bước tới tủ quần áo ở bên cạnh, lấy ra vương phục, vương miện và đai hia. Ngụy Huệ Hầu khẽ gật đầu, bước tới phía trước gương đồng.
Tỳ nhân đích thân mặc vương phục, đội vương miện, đi hia cho Huệ Hầu. Huệ Hầu đứng trước gương, ngắm nghía một hồi, gật gù hài lòng, lẩm bẩm như nói một mình, cũng lại như nói với tỳ nhân: “Quả nhân phục sức thế này thượng triều, liệu có khiến mọi người kinh hãi?”
Tỳ nhân lập tức phủ phục sát đất: “Lão nô khấu kiến bệ hạ!”
Thái giám tư phục và đám thái giám còn lại thấy vậy cũng đồng loạt quỳ xuống: “Khấu kiến bệ hạ!”
Ngụy Huệ Hầu ngắm nghía trước gương, tự tay chỉnh sửa vương miện, rồi nói với tỳ nhân: “Thượng triều!”
Trong sự hộ tống của đám thái giám, Ngụy Huệ Hầu mình mặc vương phục, bước tới cửa bên của đại điện, dừng lại ngoài cửa. Bá quan văn võ sớm đã đợi sẵn đứng đông nghịt trong triều.
Tỳ nhân bước lại bên ngai vàng, khẽ hắng giọng, rồi cất tiếng lanh lảnh: “Bệ hạ giá lâm!”
Vừa nghe thấy hai chữ “bệ hạ”, quần thần kinh hãi, ai nấy đều đứng ngây tại chỗ. Vẫn chưa hết ngỡ ngàng thì thấy Ngụy Huệ Hầu mình mặc vương phục, đầu đội vương miện, chân đi hia rồng từ sau điện bước ra, bước lên ngai vàng, từ từ ngồi xuống.
Toàn bộ triều đình im phăng phắc, không nghe thấy một hơi thở. Ngụy Huệ Hầu quét mắt khắp lượt quần thần, đặng hắng một tiếng, cất giọng sang sảng: “Chư vị ái khanh, từ thời Xuân Thu đến nay, Chu thất thất đức, lễ băng nhạc hoại, chư hầu không thể yên vị, bách tính không thể lạc nghiệp. Cho tới hôm nay, thiên hạ hỗn loạn, dân chúng khổ cực, bách tính chẳng khác nào chìm trong biển lửa. Nay có phượng hót ở Long Sơn, rồng ngâm ở Phùng Trạch, là điềm lành mà trời ban cho Đại Ngụy. Quả nhân quyết định thuận theo ý trời, chuẩn theo thỉnh cầu của Tần Công, từ hôm nay quay mặt về nam xưng vương, bên trong an định trăm dân, bên ngoài vỗ về bốn biển, tái tạo đời thịnh thượng cổ!”
Quần thần ngỡ ngàng như chưa hiểu, ai nấy vẫn đứng trân trân như khúc gỗ. Đám thái tử Thân, Chu Uy, Long Giả đưa mắt nhìn nhau, không biết phải làm gì.
Công Tôn Ưởng đứng cạnh Trần Chẩn, liếc mắt nhìn khắp quần thần một lượt, biết thời khắc hệ trọng đã tới, bèn bước lên một bước, dập đầu sát đất, hô lớn: “Sứ Tần Công Tôn Ưởng chúc mừng bệ hạ, chúc bệ hạ vạn thọ vô cương!”
Trần Chẩn, công tử Ngang thấy vậy, cũng đều bước lên một bước, dập đầu sát đất: “Vi thần (nhi thần) khấu kiến bệ hạ, chúc bệ hạ vạn thọ vô cương!”
Văn võ bá quan giờ mới định thần, cũng đều ngoan ngoãn dập đầu, đua nhau tung hô: “Vi thần khấu kiến bệ hạ!”
Ngụy Huệ Hầu khẽ gật gù, đưa ánh mắt lạnh lùng lần lượt quét qua mấy vị đại thần vẫn còn đứng nguyên tại chỗ. Thái tử Thân bước lên một bước, quỳ xuống. Hai người Chu Uy, Long Giả thấy vậy cũng quỳ xuống bái lạy, đồng thanh hô chúc mừng.
Ngụy Huệ Hầu phẩy khẽ hai tay: “Các khanh bình thân!”
Quần thần đồng thanh: “Tạ ơn bệ hạ!”
Quần thần đứng dậy, lần lượt trở về vị trí.
Ngụy Huệ Hầu lại nhìn khắp lượt quần thần: “Chư vị ái khanh, ai có tấu?”
Công Tôn Ưởng lại bước lên: “Vi thần Công Tôn Ưởng có tấu!”
“Ái khanh cứ nói!”
Công Tôn Ưởng dõng dạc nói: “Bệ hạ thương xót thiên hạ khổ nạn, quay mặt về nam xưng tôn, dốc sức xoay ngược làn sóng dữ, quả là may mắn cho muôn dân thiên hạ. Theo thiển nghĩ của vi thần, bệ hạ nên truyền hịch các nước, hội minh chư hầu trong thiên hạ, lựa chọn nơi tốt ngày đẹp, tế trời bái đất, minh thệ đăng cơ, chiếu cáo thiên hạ, khiến khắp gầm trời đều hoan hỷ. Bệ hạ cũng nên căn cứ vào vương chế các đời, mở rộng cung thành, tu sửa điển chương, quảng bá nhân đức, ban ân trạch cho muôn dân!”
Ngụy Huệ Hầu gật đầu lia lịa, quay sang Trần Chẩn: “Trần ái khanh!”
Trần Chẩn bước lên đáp: “Có vi thần!”
“Việc Công Tôn ái khanh vừa tấu là việc cấp bách trước mắt. Quả nhân phong khanh làm thượng khanh, tạm giữ chức đại tông bá, lo liệu các sự vụ nghi lễ điển chương.”
Trần Chẩn khấu đầu đáp: “Vi thân lĩnh chỉ! Đa tạ long ân của bệ hạ!”
Công Tôn Ưởng cũng tiến lên một bước dập đầu nói: “Vi thần còn có một thỉnh cầu.”
“Nói đi!”
“Tần Công có người con gái là Tử Vân công chúa, đã tới tuổi cập kê, rất mực ngưỡng mộ uy danh của thượng tướng quân. Tần Công mong ước được kết thông gia cùng bệ hạ, muốn nhờ Công Tôn Ưởng mai mối, vi thần khấu đầu mong bệ hạ ân chuẩn!”
Ngụy Huệ Hầu cười vang mà nói: “Tốt, tốt, tốt! Quả nhân chấp thuận thỉnh cầu của Tần Công! Năm xưa Tần Tấn kết thông gia, ngày nay Ngụy Tần kết thông gia, quả là giai thoại thiên cổ!”
“Công Tôn Ưởng khấu tạ long ân của bệ hạ!”
“Ái khanh miễn lễ!”
Công Tôn Ưởng cảm tạ xong, liền trở về chỗ.
Tin Ngụy Huệ Hầu mặc vương phục thượng triều mau chóng lan ra ngoài cung, Công Tôn Diễn biết tin, bàng hoàng sửng sốt, ba chân bốn cẳng chạy về phủ tướng quốc.
Lão tướng quốc đã thức giấc từ lúc gà gáy. Nghe thấy tiếng chuông thượng triều ngân vang lần thứ nhất, vội vội vàng vàng mặc triều phục, định ra khỏi cửa mới sực nhớ ra quân chủ có lệnh trong vòng ba ngày không được thượng triều, đành thở dài một tiếng, buồn bã đi đi lại lại trong sân.
Tiếng chuông ngân tới lần thứ ba, lão quản gia thấy Bạch Khuê vẫn quanh quẩn trong sân thì nhắc nhở: “Chúa công, tiếng chuông thượng triều đã ngân lần thứ ba rồi!”
Bạch Khuê khẽ thở dài: “Chúa thượng muốn ta nghỉ ngơi ba ngày, hôm nay lại đúng vào ngày thứ ba, lên triều thế nào đây?”
Lão quản gia bèn an ủi: “Chúa công, người cũng đã mệt mỏi quá độ, có lẽ cũng nên nghỉ ngơi vài ngày!”
Bạch Khuê nhìn về phía cung thành, than thở: “Từ thời tiên quân Văn Hầu, Bạch gia nhận ân sủng của Đại Ngụy mới có được vinh hoa phú quý như ngày nay. Khi tiên phụ lâm chung, dặn đi dặn lại ta phải một lòng phò tá chúa thượng, báo đáp đất nước. Than ôi, Bạch Khuê vô dụng, chỉ biết giương mắt đứng nhìn gian thần mê hoặc lòng chúa thượng, gây họa cho đất nước mà chẳng biết phải làm sao, đã phụ sự uỷ thác của tiên phụ rồi!” Đột nhiên, ông sực nhớ ra một điều, bèn ngẩng nhìn quản gia. “Lần này trở về, sao không thấy Bạch Hổ đâu?”
Lão quản gia giật bắn mình, ngập ngừng một lúc mới nói: “Hồi… hồi bẩm chúa công, thiếu gia có lẽ… có lẽ đi học kỹ nghệ với người ta rồi!”
Bạch Khuê thấy ông ta ấp úng thì sinh nghi, gặng hỏi: “Học kỹ nghệ? Kỹ nghệ gì?”
Lão quản gia càng cuống quýt: “Có lẽ… có lẽ là học võ!”
Bạch Khuê đang truy hỏi, Công Tôn Diễn đã bước vào, không kịp hành lễ, vội vàng nói ngay: “Bẩm chúa công, trong cung có người nói rằng, vừa rồi chúa thượng mặc vương phục lên triều!”
Bạch Khuê kinh hãi thất sắc, tay chân rụng rời, người lảo đảo đến đứng không vững, Công Tôn Diễn phải vội vàng đỡ lấy. Bạch Khuê đặt tay lên ngực, thở hắt vài cái, một lúc sau mới trấn tĩnh lại được, vội giục giã Công Tôn Diễn: “Mau lên, theo ta vào cung!”
Công Tôn Diễn cùng Bạch Khuê mau chóng vào cung. Vừa tới bên ngoài điện, đã nghe thấy Ngụy Vương, lúc này vừa tuyên bố xưng vương xong, đang hỏi quần thần: “Còn ai có tấu?”
Câu hỏi vừa dứt, giọng nói trầm đục của Bạch Khuê đã vang lên từ ngoài điện: “Lão thần có tấu!”
Cả triều đình kinh ngạc, không ai bảo ai đồng loạt nhìn ra cửa, thấy Công Tôn Diễn đang dìu Bạch Khuê bước thấp bước cao qua cửa cung. Bạch Khuê chỉnh sửa trang phục, hất tay Công Tôn Diễn ra, vừa bước được một bước thì lảo đảo suýt ngã. Công Tôn Diễn vội chạy lại, đỡ lấy Bạch Khuê, hai người chuệnh choạng bước tới trước điện.
Khắp điện lặng ngắt như tờ.
Khi tới trước mặt Công Tôn Ưởng, ánh mắt sắc nhọn của Bạch Khuê chiếu thẳng vào ông ta, như thể đã nhìn thấu lục phủ ngũ tạng đối phương. Công Tôn Ưởng run bắn người, cảm thấy dường như có một luồng sát khí đang chiếu thẳng tới, vội vã vận khí thu thần.
Đối với Công Tôn Ưởng, đại chiến thực sự chính là trước mắt. Tới lúc này, mọi việc đều tiến triển theo đúng kế hoạch của ông ta, chỉ còn một đối thủ duy nhất chính là Bạch Khuê.
Bạch Khuê từ từ quỳ xuống, khấu đầu sát đất: “Lão thần Bạch Khuê khấu kiến chúa thượng!”
Ngụy Huệ Hầu đương nhiên biết Bạch Khuê tới đây làm gì, khẽ chau mày, hỏi thẳng: “Lão ái khanh muốn tấu việc gì?”
Bạch Khuê dõng dạc nói: “Chúa thượng nhất thiết không được nghe lời gian tặc, bất chấp lễ nghi thiên hạ, tự huỷ hoại cơ nghiệp tiên tổ!”
Bạch Khuê ung dung tự tại, hoàn toàn gạt hết sự an nguy của bản thân sang một bên, vừa mở miệng đã cất lời trầm trọng. Tất thảy triều thần đều kinh hãi, song Ngụy Huệ Hầu không lấy làm thẹn, chỉ lạnh lùng nói: “Lão ái khanh, quả nhân chẳng phải đã bảo ái khanh nghỉ ngơi ba ngày ư? Sao dám trái lệnh lên triều?”
“Bẩm chúa thượng, xin để lão thần được nói vài lời!” Rồi Bạch Khuê nói liền một mạch. “Ngôi vị thiên tử không thể tuỳ tiện ngồi vào. Chu thất tuy suy, song vương quyền là do thần linh giao phó, cửu đỉnh là do trời cao đúc ra. Từ thời Xuân Thu, dẫu thiên hạ rối ren hỗn loạn, chư hầu tranh hùng tranh bá, cậy thế bức bách thiên tử hiệu lệnh chư hầu, song chúa thượng đã từng thấy nước nào chiếm đoạt ngôi vị thiên tử chăng? Tuy có Man Sở xưng vương ở phía nam, song xét về gốc gác, Man Sở suy cho cùng vẫn là dị tộc, không phải dòng mạch Chu thất. Vi thần dám hỏi chúa thượng, các nước Trung Nguyên đã chịu thừa nhận Sở Vương chưa?”
Lời của Bạch Khuê, khí phách hừng hực, tựa như một bát nước lạnh giội thẳng xuống đầu. Ngụy Huệ Hầu trong lòng kinh hãi, miệng há ra mấy lần, song không biết đối đáp thế nào mới phải.
Cả triều đình lặng phắc như tờ.
“Không, từ xưa đến nay đều không có!” Bạch Khuê dừng lại một lát, giọng nói càng như chém đinh chặt sắt. “Các nước Trung Nguyên chỉ tôn Chu thiên tử! Chúa thượng kế thừa cơ nghiệp của tiên quân đã nhiều năm, đương nhiên hiểu rõ lý do trong đó.”
Cả triều đường chết lặng. Bạch Khuê ngẩng đầu, vuốt chòm râu trắng như tuyết, ánh mắt nghiêm nghị liếc nhìn một lượt quần thần. Chư thần trong triều đều kinh sợ trước chính khí và đức vọng của Bạch Khuê, ngay cả Ngụy Huệ Hầu cũng không biết nói gì.
Công Tôn Ưởng biết lúc này nếu không lên tiếng, hẳn là việc sắp thành tất hỏng, bao công lao sẽ đổ xuống sông xuống biển, ông ta đặng hắng khẽ một tiếng, từ từ mở to mắt, di chuyển ánh nhìn tới Bạch Khuê, giọng nói tuy ôn tồn, song sát khí lại cực kỳ bức bách: “Vương quyền là do thần linh giao phó, nói hay lắm! Xin hỏi Bạch tướng quốc, thời Thương Thang thay ngôi nhà Hạ, vương quyền ở đâu? Thời Vũ Vương phạt Trụ, thần linh giao phó ở đâu? Lễ nghi thiên hạ sớm đã thay đổi, Bạch tướng quốc vẫn ôm thói cũ không buông, chẳng phải là ‘khắc thuyền tìm kiếm’ hay sao?”
Công Tôn Ưởng từng lời sắc sảo tựa mũi dùi, từng câu viện dẫn sự thực, đến Bạch Khuê cũng thấy trong lòng chấn động, chòm râu rung lên bần bật, không biết đối đáp ra sao.
Triều đường càng thêm lặng phắc như tờ. Đúng lúc này, bỗng vang lên một tiếng cười nhạt. Tiếng cười tuy khẽ, song trong một bầu tĩnh lặng lại trở nên rất âm vang. Quần thần sửng sốt, nhìn về phía phát ra tiếng cười, hoá ra là Công Tôn Diễn đang quỳ bên cạnh Bạch Khuê.
Công Tôn Diễn quay sang Công Tôn Ưởng, nhìn thẳng vào mắt ông ta, nói rành rọt từng chữ: “Đại lương tạo cưỡng từ đoạt lý, hùng hổ doạ người, là khinh Đại Ngụy ta không có người ư?”
Bạch Khuê làm loạn triều đường tuy là rắc rối bất ngờ, song vẫn nằm trong dự đoán của Công Tôn Ưởng. Nhưng lúc này đột nhiên xuất hiện thêm một kẻ khác cản đường, lại là nằm ngoài dự kiến, bởi vậy trong lòng bất giác hoang mang, mắt nhìn Công Tôn Diễn, ngờ vực hỏi: “Các hạ là…”
Công Tôn Diễn ôm hờ quyền mà nói: “Tại hạ tiểu bối vô danh, chẳng qua là nhìn thấu dụng ý của đại lương tạo khi cố tình quỳ gối trước Ngụy.”
Công Tôn Ưởng trong lòng kinh ngạc, nét mặt thoáng vẻ hốt hoảng: “Các hạ… thử nói xem, Công Tôn Ưởng ta có dụng ý gì?”
“Đại lương tạo cực lực khuyên chúa thượng xưng vương, trên danh nghĩa là thần phục, thực chất là để Đại Ngụy ta trở thành mục tiêu công kích của các nước Sơn Đông!”
Công Tôn Ưởng ngấm ngầm vận khí, cười gượng gạo: “Các hạ quá lời rồi! Bệ hạ uy đức song toàn, quay mặt về nam xưng vương, các nước Sơn Đông không ai không thần phục, dựa vào đâu mà nói là ‘mục tiêu công kích’?”
Công Tôn Diễn lại cười nhạt một tiếng: “Đạo lý giản đơn này đến đứa trẻ con còn biết, đại lương tạo lẽ nào không hiểu? Ngụy và liệt quốc đều là chư hầu, tuy phân mạnh yếu lớn nhỏ, song không phân tôn ti trên dưới. Nếu Ngụy xưng vương, khác nào phân tôn ti trên dưới, liệt quốc sao có thể cam lòng? Ngụy xưng vương, liệt quốc tất sinh lòng cứu chủ, làm gì có chuyện thần phục? Liệt quốc đã không cam lòng, lại không thần phục, sẽ coi Ngụy là kẻ thù, ắt hợp sức chống lại Ngụy, chẳng phải nước Ngụy sẽ trở thành mục tiêu công kích ư? Ngụy tranh giành với các nước Sơn Đông, đại lương tạo còn có thể cam tâm thần phục không? Dù đại lương tạo có cam tâm thần phục, Tần Công liệu có cam tâm thần phục không? Dù Tần Công cam tâm thần phục, liệu người Tần vốn có mối thù trăm năm với Ngụy, lại thêm mối nhục Hà Tây, liệu có cam tâm thần phục không?”
Công Tôn Diễn dồn dập đưa ra một loạt câu hỏi, chỉ ra hậu quả đáng sợ của việc xưng vương, khiến toàn triều chấn động. Ngay cả Ngụy Huệ Hầu cũng kinh hãi trong lòng, hai mắt nheo lại, liếc nhìn Công Tôn Diễn qua khoé mắt.
Bạch Khuê dõng dạc nói tiếp: “Muôn tâu chúa thượng, Công Tôn Ưởng mê hoặc chúa thượng xưng vương, mục đích là muốn chúa thượng rước họa vào thân, trở thành kẻ thù của liệt quốc. Hơn nữa muốn nước Ngụy ta và liệt quốc thành ‘cò nghêu tranh hùng’, còn nước Tần hắn là ‘ngư ông đắc lợi’. Công Tôn Ưởng dụng tâm ác độc, tội không thể dung tha. Lão thần khẩn cầu chúa thượng xử trảm hắn, để cảnh cáo những kẻ có ý đồ bất trắc sau này.”
Ngụy Huệ Hầu sắc mặt tím tái, hơi ngả người ra phía sau, ánh mắt từ từ di chuyển về phía Công Tôn Ưởng.
Chu Uy biết thời cơ đã tới, bèn chậm rãi bước tới bên Bạch Khuê, quỳ xuống dập đầu nói: “Bẩm chúa thượng, vi thần đồng ý với Bạch tướng quốc, khẩn cầu chúa thượng tính kế lâu dài!”
Long Giả cũng dập đầu nói: “Bẩm chúa thượng, dã tâm cướp lại Hà Tây của người Tần chưa bao giờ phai nhạt. Vào lúc đại quân của ta sắp sửa chinh phạt, thì Công Tôn Ưởng đột nhiên xưng thần, lại cực lực khuyên chúa thượng xưng vương, ý đồ hết sức khả nghi, vi thần khẩn cầu chúa thượng minh xét!”
Rất nhiều lão thần đua nhau bước lên, quỳ xuống sau lưng Bạch Khuê, nhao nhao cầu xin xử chém Công Tôn Ưởng. Nhìn đám lão thần đua nhau dập đầu bái lạy dưới đất, Ngụy Huệ Hầu chau tít đôi mày. Huệ Hầu đã hiểu, vừa rồi họ quỳ hô bệ hạ là không thật lòng, còn lời khẩn cầu này mới chính là mong muốn thực sự. Thấy quần thần không ủng hộ việc làm của mình, Ngụy Huệ Hầu trầm ngâm suy nghĩ, một lát sau ngẩng lên, nhìn về phía Công Tôn Ưởng.
Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Công Tôn Ưởng.
Công Tôn Ưởng từ từ mở to đôi mắt đang khép hờ, khoé mắt liếc về phía Công Tôn Diễn, châm biếm: “Đường đường là triều đình Đại Ngụy, sao hạng người nào cũng có thể tuỳ tiện ra vào?”
Chiêu dịch chuyển trọng tâm của Công Tôn Ưởng quả nhiên thâm độc, cũng may ông ta đã phát hiện ra tiểu tiết này vào đúng thời khắc ngàn cân treo sợi tóc. Giống như Công Tôn Ưởng năm xưa ở trong phủ Công Thúc Toạ, Công Tôn Diễn tuy là sĩ tử trong phủ tướng quốc, song lại không có chức quan, chỉ là môn khách. Vừa rồi lên triều, là vì dìu tướng quốc vào. Công Tôn Diễn xưa nay hành vi phóng túng, vốn không chú ý tới phục sức, càng không ngờ mình sẽ lên triều, do vậy chưa hề thay trang phục sĩ tử, vẫn ăn mặc kiểu môn khách. Thời đó các nước đều có quy định bất thành văn, chỉ có sĩ, đại phu mới có thể lên triều, môn khách cũng ngang với nô bộc, không thể tham triều.
Sơ suất nhỏ này đã bị Công Tôn Ưởng phát giác. Nghe ông ta nhắc nhở, mọi ánh mắt trên triều đường lập tức chuyển hướng sang Công Tôn Diễn và trang phục tuỳ tiện trên người ông ta.
Bạch Khuê và Công Tôn Diễn xuất hiện thình lình, gây rối loạn triều đường, vốn dĩ đang khiến Ngụy Huệ Hầu đau đầu không biết phải xử trí ra sao. Song ngặt vì họ nói năng hợp tình hợp lý, nên tuy trong lòng nộ hoả bừng bừng mà không thể bộc phát. Giờ thấy Công Tôn Ưởng chỉ ra điểm này, Huệ Hầu lập tức chau mày, quay sang Trần Chẩn hỏi: “Người này là ai?”
Trần Chẩn cũng chộp ngay lấy cơ hội: “Khởi bẩm bệ hạ, người này là môn khách trong phủ tướng quốc, tên gọi Công Tôn Diễn. Hôm thiên tử ban tiệc rượu ở Mạnh Tân, hắn chính là kẻ hầu rượu!”
Ngụy Huệ Hầu đùng đùng nổi giận, đập bàn quát lớn: “Môn khách cũng dám huyên náo chốn triều đường? Thực khiến liệt quốc chế nhạo!”
Đám thị vệ nghe vậy, lập tức xông lên bắt lấy Công Tôn Diễn.
Bạch Khuê thấy vậy thì hoảng hốt, dập đầu sát đất, nước mắt giàn giụa kêu xin: “Chúa thượng!”
Đám Chu Uy, Long Giả đang quỳ dưới đất cũng vội vã dập đầu cầu xin Huệ Hầu tha thứ. Ngụy Huệ Hầu nhìn lướt một lượt qua Bạch Khuê, Long Giả và Chu Uy, sắc mặt từ từ dịu lại, lạnh lùng nói: “Công Tôn Diễn, quả nhân nể tình ngươi là môn khách của phủ tướng quốc, tạm tha cho ngươi tội làm loạn triều cương lần này! Đuổi hắn ra!”
Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn khắp triều đình một lượt, hất đám thị vệ ra, ngửa mặt cười một tràng dài, rồi quay người ngẩng đầu bước đi.
Bạch Khuê nhìn theo bóng Công Tôn Diễn rời khỏi cửa cung, lòng đau như dao cắt, run giọng gọi lớn: “Công Tôn Diễn!” Rồi quay phắt người lại, toàn thân run rẩy, chỉ tay thẳng mặt Công Tôn Ưởng. “Công Tôn Ưởng, ngươi… tên gian tặc nước Ngụy kia, dám lập mưu tính kế bán Ngụy cầu vinh, tiếp tay cho giặc, muốn hại chúa thượng mang tiếng bất trung bất nghĩa, đẩy Đại Ngụy vào biển lửa rừng gươm, ngươi… ngươi…”
Lão tướng quốc phẫn nộ tới đỉnh điểm, khiến cả triều đường đều bàng hoàng kinh hãi.
Thấy lão Bạch Khuê nói năng bất chấp, Công Tôn Ưởng càng thần thanh khí định, nắm chắc phần thắng, từ tốn mà rằng: “Bạch tướng quốc cả đời thông minh sáng suốt, vì sao càng già lại càng hàm hồ đến vậy? Xin hỏi Bạch tướng quốc, Ưởng vốn là người Vệ, vì sao lại nói là gian tặc nước Ngụy? Ưởng khi ở Ngụy một lòng vì Ngụy, khi ở Tần một lòng vì Tần, vì sao lại nói bán Ngụy cầu vinh? Tần Hiếu Công trong lòng chỉ nghĩ tới bách tính, dùng Ưởng thay cũ đổi mới, mưu lợi cho dân, vì sao nói là tiếp tay cho giặc? Ưởng dốc lòng vì Tần hơn mười năm, một lòng kết tình hữu hảo với Ngụy, chưa từng sai một binh một tốt nước Tần xâm phạm lãnh thổ Ngụy, vì sao lại nói mưu hại người Ngụy, hãm hại bệ hạ bất trung bất hiếu?”
Bạch Khuê vốn dĩ là một nhà buôn thực thà trung hậu, trong lúc tức giận nói năng bất chấp, đương nhiên không thắng nổi biện luận sắc sảo của Công Tôn Ưởng, nhất thời cứng họng, bàn tay già nua nổi đầy gân xanh run rẩy chỉ về phía Công Tôn Ưởng: “Ngươi… ngươi…” Rồi quay sang Huệ Vương dập đầu lia lịa. “Bẩm chúa thượng, giữa Ngụy với Tần có mối huyết hải thâm thù đã mấy chục năm, Tần Công sao có thể dễ dàng quên được? Công Tôn Ưởng đã giăng bẫy liên hoàn, mục đích không phải ở láng giềng hoà mục, không phải ở tôn vương, chỉ là đoạt lại Hà Tây mà thôi! Chúa thượng!”
Công Tôn Ưởng đang định phản bác thì công tử Ngang đã tiến lên một bước: “Khởi tấu bệ hạ, Tần Công thật lòng kết liên minh, còn muốn kết thông gia, chúng ta lại ở đây bán tín bán nghi, nhi thần cho rằng sẽ tổn hại đến khí phách của đại quốc!”
Trần Chẩn cũng bước lên nói: “Tâu bệ hạ, lời của thượng tướng quân rất có lý. Ngụy, Tần như môi với răng, chiến tranh tất hai bên đều thương tổn, hoà hữu tất hai bên đều thịnh vượng. Tần Công đã tỏ lòng thần phục, muốn tôn bệ hạ làm vương, lại kết giao tình nghĩa Tấn Tần. Nếu bệ hạ một mực xem Tần là thù, sao có thể uy phục liệt quốc trong thiên hạ?”
Bạch Khuê đứng bật dậy, đưa cánh tay run rẩy chỉ vào Trần Chẩn, giận dữ chửi rủa: “Ngươi… ngươi… các ngươi, giang sơn Đại Ngụy sớm muộn gì cũng bị chôn vùi trong tay đám sâu mọt các ngươi!”
Lời mắng chửi của Bạch Khuê hiển nhiên bao gồm cả công tử Ngang, thậm chí còn bao gồm cả Ngụy Huệ Hầu trong đó. Ngụy Huệ Hầu nổi giận đùng đùng, đập bàn quát lớn: “Bạch Khuê nghe chỉ!”
Bạch Khuê cũng cảm thấy hơi quá lời, lập tức quay người lại, dập đầu sát đất: “Có lão thần!”
“Thân là trọng thần mà coi thường quả nhân, dám gây rối chốn triều đường, đã biết tội chưa?”
“Lão thần biết… biết tội!”
“Nể tình ông là tướng quốc bao năm, có công lao trị quốc, quả nhân tạm tha cho lần này! Song ông có tuổi rồi, không còn thích hợp với ngôi tướng quốc nữa. Quả nhân cho phép ông cáo lão về quê, an hưởng tuổi già!”
Bạch Khuê nghe mà chết lặng, đau đớn tột cùng, thét lên lạc giọng: “Chúa thượng, lão thần… lão thần…”
Rồi thình lình, ông gắng gượng đứng phắt dậy, loạng choạng mấy bước, rồi cắm đầu lao thẳng vào cây cột gần đó. Lão tướng Long Giả đứng cạnh quá đỗi bất ngờ không kịp trở tay, tới lúc định thần muốn chặn lại thì đã muộn rồi, Bạch Khuê lao đầu đánh “bịch” vào cột, đổ vật xuống đất.
Sự việc quá ư đột ngột, khiến văn võ bá quan trong triều thảy đều sững sờ kinh hãi. Ngụy Huệ Hầu đứng bật dậy, kêu lên thất thanh: “Lão ái khanh!”
Long Giả cuống quýt chạy lại đỡ lấy Bạch Khuê, thấy ông đã ngất lịm.
Buổi đại triều mau chóng kết thúc bởi sự việc lão tướng quốc Bạch Khuê đập đầu tự vẫn, lấy cái chết khuyên can Ngụy Huệ Hầu.
Bạch Khuê tuy có lòng muốn chết, song do tuổi cao sức yếu, bước chân không vững, lực đâm không mạnh, bởi vậy vẫn chưa chết ngay tại chỗ. Long Giả vội bấm nhân trung, một lát sau, Bạch Khuê khẽ thở hắt ra một hơi yếu ớt. Ngụy Huệ Hầu thấy Bạch Khuê chưa chết, thở phào nhẹ nhõm, sai tỳ nhân gọi ngự y tới khám chữa cho ông ta, rồi phẩy tay áo mặt tối sầm lui ra khỏi triều.
Đám Long Giả xúm xít đưa Bạch Khuê về phủ tướng quốc. Đến tận khi trời tối, Bạch Khuê vẫn hôn mê chưa tỉnh. Công Tôn Diễn mời mấy vị đại phu nổi tiếng trong An Ấp tới xem mạch, tuy nhiên, Bạch Khuê lúc này đã như ngọn đèn cạn dầu, dù là thần y cũng chẳng thể làm được gì hơn. Thấy trời đã tối, tướng quốc vẫn chưa tỉnh, quần thần đành cáo từ, bên cạnh Bạch Khuê chỉ còn lại bốn người Công Tôn Diễn, lão quản gia, Long Giả và Chu Uy. Cô con dâu Khởi Y mới về nhà chồng chưa đầy một năm, đứng sau cánh cửa khóc sụt sùi.
Vào giờ Nhân định, ngự y do Ngụy Huệ Hầu phái tới hấp tấp đến bắt mạch cho Bạch Khuê. Bắt mạch một lát, lão quản gia thấy ngự y chau tít đôi mày, biết rằng lành ít dữ nhiều, vội vã hỏi: “Mạch của chúa công thế nào?”
Ngự y lắc đầu nói: “Chuẩn bị hậu sự!”
Lão quản gia bật khóc thất thanh: “Chúa công!”
Công Tôn Diễn ngẩng lên hỏi: “Chúa công có tỉnh lại được chăng?”
Ngự y lấy ra một viên thuốc từ trong chiếc hộp sơn đen, chậm rãi nói: “Cho tướng quốc uống viên thuốc Cứu tầm này, có thể tỉnh lại. Song cầm cự được bao lâu, tại hạ cũng không dám chắc.”
Công Tôn Diễn bưng một bát nước lại, ngự y đỡ Bạch Khuê ngồi dậy, cạy miệng nhét viên thuốc vào, sau đó đổ cho ông một thìa nước ấm. Cổ họng Bạch Khuê khẽ trồi thụt, viên thuốc đã được nuốt xuống.
Ngự y lại đặt Bạch Khuê xuống giường, mọi người nhìn ông không chớp mắt. Sau đó khoảng chừng một bữa cơm, Bạch Khuê quả nhiên đã tỉnh lại, từ từ mở mắt.
Công Tôn Diễn nghẹn ngào nói: “Chúa công, người tỉnh lại rồi!”
Bạch Khuê nhắm mắt lại, một lát sau, lại mở mắt ra nhìn thẳng vào Công Tôn Diễn, sau đó chuyển ánh nhìn sang Long Giả và Chu Uy, cuối cùng dừng lại ở lão quản gia, khó nhọc lên tiếng: “Mọi người đều có mặt! Tốt quá!”
Long Giả khấu đầu nói: “Lão tướng quốc, người có gì căn dặn, xin cứ nói với chúng tôi!”
Bạch Khuê gật đầu, mắt vẫn nhìn vào lão quản gia: “Thằng nhóc kia đâu rồi, cũng… cũng gọi nó lại đây!”
Lão quản gia hơi khựng lại, rồi ấp úng nói: “Vừa nãy còn ở đây, thoắt cái đã biến đâu rồi, để lão nô đi tìm!” Nói xong, vội vã chạy đi, trách cứ viên hộ viện. “Đã bảo các ngươi đi gọi thiếu gia về, vậy người đâu?”
Hộ viện đáp lời: “Bẩm lão quản gia, tiểu nhân đã hai lần tới lầu Nguyên Hanh gọi, thiếu gia đánh bạc đang hứng, nhất quyết không chịu về!”
Lão quản gia sốt ruột nói: “Chúa công chẳng còn sống được bao lâu nữa, không gọi thiếu gia về không được!”
Hộ viện “vâng” một tiếng, dắt ra một con ngựa khoẻ, nhảy phắt lên yên, phi băng băng về phía lầu Nguyên Hanh.
Trong sòng bạc, tiếng người ồn ào như sóng, Bạch Hổ đang cùng đám Lương công tử, Ngô công tử sát phạt kịch liệt. Bạch Hổ trán nổi gân xanh, mồ hôi ròng ròng, mắt dán chặt vào ống xúc xắc trong tay Tiểu Đào Hồng, miệng gào thật lớn: “Tài! Tài! Tài”
Tiểu Đào Hồng vừa lắc xúc xắc, vừa liếc nhìn Bạch Hổ, hai mắt lúng liếng, rồi hai tay khẽ khàng hạ xuống sòng bạc. Kết quả là Xỉu. Bạch Hổ thất vọng tràn trề, than ngắn thở dài không ngớt. Tiểu Đào Hồng vươn cánh tay ngọc ngà, vơ lấy số vàng trước mặt hắn đẩy về phía người thắng, rồi thân người lả lướt ngả vào Bạch Hổ, giơ bàn tay nuột nà vừa lắc xúc xắc lên trước mặt Bạch Hổ, thẽ thọt: “Bạch thiếu gia, hãy nhìn bàn tay của thiếp…”
Bạch Hổ nhẹ nhàng nắm lấy tay ả, ghé sát bên miệng thổi một hơi, cười nói: “Lần này sẽ được, nàng lắc tiếp đi, chắc chắn sẽ thắng!” Nói xong, phẩy tay một cái, thằng hầu phía sau lập tức mở hòm lấy vàng ra xếp thành vài đống lên bàn. “Đặt cược năm mươi lượng!”
Lúc này, hộ viện hớt hải chạy tới bên Bạch Hổ, kéo áo hắn: “Thiếu gia, lão gia… lão gia…”
Bạch Hổ bực mình đẩy hộ viện ra: “Tránh ra, vận may sắp tới, ngươi muốn phá bĩnh ư?”
Hộ viện sốt ruột: “Thiếu gia, lão gia… không ổn rồi! Thật đấy!”
Tiểu Đào Hồng níu tay Bạch Hổ, thỏ thẻ: “Cái gì không ổn vậy, Bạch thiếu gia?”
“Ổn! Ổn! ổn! Bảo bối của ta!” Bạch Hổ ôm lấy cô ả dỗ dành, trợn mắt nhìn hộ viện, lớn tiếng trách cứ. “Không ổn cái gì? Dám ở đây nói lời xui xẻo, thật đáng chết! Cút ngay, còn lải nhải thêm nữa, ta đặt cược ngươi luôn!”
Hộ viện thấy Bạch Hổ nổi giận, lại thấy đám đông đổ dồn ánh mắt bực dọc về phía mình, chỉ biết thở dài bất lực, vội vã bỏ về.
Trong căn phòng đối diện, Thích Quang ngồi sau tấm rèm, đã quan sát thấy tất cả, khoé miệng lộ nụ cười nham hiểm, bước tới bên ông chủ Lâm gật đầu một cái, dặn khẽ: “Tiểu Đào Hồng quả là khéo léo, thưởng cho cô ta năm lượng vàng!”
Ông chủ Lâm cúi gập người nói: “Tiểu nhân đã nhớ!”
“Quả là thú vị!” Thích Quang cười nói. “Lão cha già ở nhà sắp về chầu trời, mà thằng con quý tử lại ở đây ôm gái đẹp đánh bạc, thật là một màn kịch thú vị!”
Ông chủ Lâm cười nói: “Nếu gọi đây là kịch thì Thích gia chính là người soạn kịch!”
Thích Quang cười vang, nói: “Ngươi quá tâng bốc Thích gia rồi! Người soạn kịch, chỉ có thể là chúa công!”
Hộ viện nhảy xuống ngựa, hộc tốc lao vào trong phủ tướng quốc, chạy vội tới phòng Bạch Khuê, đang định tiến vào thì bị một nữ tỳ đứng canh ngoài cửa chặn lại. Hộ viện vội nói: “Tôi có việc gấp muốn gặp lão quản gia!”
Nữ tỳ hất hàm vào phía trong, hộ viện liếc nhìn theo, rồi vội vã lùi sang một bên.
Phía trước giường bệnh, Bạch Khuê đang dặn dò hậu sự. Chỉ nhìn thấy ông nhấc bàn tay già nua, nắm chặt lấy tay Long Giả, run run gọi: “Long tướng quân!”
Long Giả sụt sùi: “Bạch tướng quốc!”
Bốn bàn tay già nua nắm chặt lấy nhau như không muốn rời. Bạch Khuê giọng run rẩy: “Chúa thượng mê muội, mù quáng xưng vương, cơ nghiệp trăm năm của Đại Ngụy sắp phải huỷ hoại trong chốc lát! Lão hủ vô dụng, thật hổ thẹn với tiên quân!”
“Lão tướng quốc,” Long Giả sụt sùi, “người đã cố gắng hết sức rồi! Ngụy có ngày hôm nay là ý trời. Ngụy không còn trong ngày mai cũng là ý trời. Ý trời khó cưỡng!”
Bạch Khuê thở dài: “Đại Ngụy được như hôm nay không phải dễ dàng, lão hủ thật không… không nhắm mắt!”
Long Giả cũng thở dài sườn sượt, cúi thấp đầu, nước mắt tuôn trào.
Bạch Khuê dừng lại chốc lát, rồi chậm rãi nói: “Từ ngày Ngô Khởi chiếm được Hà Tây đến nay, đã trải qua một vòng Giáp Tý, vì bảy trăm dặm đất này mà Tần, Ngụy chiến tranh liên miên, xác chết ngổn ngang khắp Hà Tây. Long tướng quân, ông trấn giữ Hà Tây nhiều năm, có lẽ đã hiểu điều này. Người Tần ân oán phân minh, có thù tất báo. Mối thù Hà Tây, họ không dễ dàng quên được!”
“Lời tướng quốc nói, Long Giả hiểu rõ. Những năm qua, Long Giả bên ngoài tu bổ trường thành, bên trong tích trữ lương thảo, đâu đâu cũng canh phòng nghiêm ngặt, thận trọng cẩn mật, không lúc nào dám lơ là với người Tần.”
Bạch Khuê gật đầu: “Những việc ông làm, lão hủ đây đều thấy. Tuy nhiên, đó là chuyện hôm qua và hôm nay, nhưng còn ngày mai?”
Long Giả khẽ chau mày lại, nắm chặt tay Bạch Khuê: “Lão tướng quốc…”
Bạch Khuê nhìn Long Giả: “Lão hủ sắp ra đi, có một chuyện muốn nhờ cậy tướng quân!”
Long Giả vội quỳ xuống: “Long Giả xin được lắng nghe!”
“Mưu của Công Tôn Ưởng, tất nhằm tới Hà Tây! Nếu lão hủ đoán không lầm, không đầy năm nữa, Hà Tây ắt có đại chiến. Thứ mà lão hủ muốn giao lại cho tướng quân, chính là bảy trăm dặm giang sơn Hà Tây!”
Long Giả nghẹn ngào nói: “Long Giả xin ghi nhớ!”
“Long tướng quân, ta biết, sự uỷ thác này đã làm khó cho tướng quân. Nhà ta mấy đời buôn bán, có tích cóp được chút của cải. Lão quản gia?”
Lão quản gia vẫn quỳ ở bên cạnh liền lên tiếng: “Có lão nô!”
“Trong kho còn bao nhiêu vàng?”
“Khởi bẩm chúa công, tu bổ kênh lớn dùng hết tám nghìn lượng, đắp đê dùng hết ba nghìn lượng. Năm kia hạn hán, cứu tế cho dân một nghìn năm trăm lượng, trong kho hiện còn bảy nghìn ba trăm lượng!”
Bạch Khuê trầm ngâm một lát, run run nói: “Đều giao hết cho Long tướng quân! Phòng ngự Hà Tây, không thể thiếu số vàng này!”
“Lão nô tuân lệnh!”
Công Tôn Diễn, Chu Uy nhất loạt quỳ trước giường bệnh, nước mắt rơi lã chã: “Chúa công…”
Bạch Khuê chuyển ánh mắt sang Chu Uy, chậm rãi nói: “Chu tư đồ, kênh lớn định vào ngày vọng tháng sau phóng thuỷ, lão hủ đã đồng ý tới dự lễ, xem ra việc này giờ phải làm phiền tư đồ!”
Chu Uy nói trong nước mắt: “Hạ quan… tuân lệnh…”
Bạch Khuê bỗng ho dữ dội, Công Tôn Diễn vội vã bước lại, khe khẽ vuốt lưng cho ông. Bạch Khuê thở hổn hển một lúc, rồi quay sang Long Giả nói tiếp: “Long tướng quân, hiền tài là gốc rễ lập nước, hiện tại người Ngụy đối đầu được với Công Tôn Ưởng, chỉ có Công Tôn Diễn. Lão hủ đã nhiều lần tiến cử hắn lên chúa thượng. Than ôi… Ngụy trước mất Ngô Khởi, sau lại mất Công Tôn Ưởng, không thể lại mất Công Tôn Diễn! Hãy để Công Tôn Diễn đi theo tướng quân, hắn tất sẽ giúp ích cho việc phòng ngự Hà Tây.”
“Long Giả xin ghi nhớ!”
Bạch Khuê lại chuyển ánh mắt sang Công Tôn Diễn: “Công Tôn Diễn…”
Công Tôn Diễn nghẹn ngào: “Chúa công!”
Bạch Khuê nhìn lên vách tường. Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn theo, thấy trên tường treo một thanh bảo kiếm, vội vàng gỡ xuống, đặt lên trên giường. Bạch Khuê vuốt nhẹ thanh bảo kiếm, nói: “Công Tôn Diễn, đây chính là thanh bảo kiếm mà Ngô Vương Phù Sai ban cho Ngũ Tử Tư thời Xuân Thu, Tử Tư đã dùng nó cứa cổ tự vẫn. Nghĩ tới Ngũ Tử Tư cả đời dốc hết tâm huyết lập nên công lao hiển hách cho nước Ngô, không ngờ lại phải đánh đổi lấy thanh kiếm này. Lão hủ tự ví cuộc đời mình với Tử Tư, mỗi khi nhìn thanh kiếm trên tường, lại có mối cảm hoài sâu sắc. Lão hủ vốn dĩ muốn giữ nó lại đến khi cấp thiết sẽ bắt chước Tử Tư, nhưng hôm nay xem ra không cần phải dùng đến nó nữa. Bảo kiếm nhường này, Tử Tư tiên sinh còn không mang theo, lão hủ đương nhiên không dám hưởng thụ một mình. Giờ ta sắp ra đi, tặng lại thanh kiếm này cho ngươi!”
Công Tôn Diễn đưa hai tay đỡ lấy bảo kiếm, mắt lệ rưng rưng khấu bái: “Chúa công…”
Bạch Khuê lại ho sặc sụa, Công Tôn Diễn vội vuốt lưng cho ông. Cơn ho vừa dứt, ánh mắt Bạch Khuê lại nhìn quanh, vẻ như đang tìm kiếm. Quản gia biết ông đang tìm Bạch Hổ, vội chạy ra ngoài cửa, nhìn thấy hộ viện đứng đợi ở đó, hỏi ngay: “Thiếu gia đâu?”
Hộ viện khấu đầu nói: “Thiếu gia nhất quyết không chịu về, tiểu nhân chạy lại lôi kéo thì thiếu gia doạ sẽ gán luôn tiểu nhân cho ván bạc!”
Lão quản gia giận run người, giậm chân bình bịch, chỉ thẳng vào mặt hộ viện trách mắng: “Ngươi… ngươi đúng là vô dụng, mau dẫn vài người đi theo, gô cổ thiếu gia về đây!”
“Tiểu nhân tuân lệnh!” Hộ viện vội vã gọi vài tên gia đinh đi theo. Một lát sau, cả đoàn ngựa đã phi rầm rập trên phố, cuốn theo cát bụi mù mịt.
Lão quản gia quay trở lại phòng, Bạch Khuê hỏi: “Tiểu tử đã về chưa?”
Lão quản gia quỳ xuống: “Bẩm lão gia, thiếu gia theo người đi học võ, lão nô đã sai người đi gọi rồi, chắc… chắc cũng sắp về!”
Bạch Khuê nhìn chằm chằm vào lão quản gia: “Nói thực đi, nó ở đâu?”
Lão quản gia lại nghẹn ngào: “Lão gia…”
“Nói mau!”
Lão quản gia khóc nấc lên không thành tiếng: “Đánh bạc ở… ở lầu Nguyên Hanh!”
Bạch Khuê nhắm nghiền mắt lại, hai giọt lệ ứa ra từ hai bên khoé mắt. Một lát sau, Bạch Khuê từ từ mở mắt, nói với lão quản gia: “Gọi… gọi Khởi Y lại đây!”
Lão quản gia vội chạy đi, một lát sau, dẫn Khởi Y lại. Khởi Y năm nay mới mười sáu tuổi, vốn là con gái của đại phu nước Triệu Chung Sở. Chung Sở do trách mắng tướng quốc quyền thần nước Triệu là Phụng Dương Quân ngay giữa triều đình, không lâu sau bị tịch biên tài sản, khép tội phản quốc rồi xử tử. Chung Sở không có con trai, chỉ có một mụn con gái là Khởi Y, năm đó mới hai tuổi. Chung Sở biết đại nạn sắp giáng xuống đầu, bèn sai bà vú bế Khởi Y chạy trốn. Bà vú nghe theo lời dặn của Chung Sở, trải qua bao ngày tháng khổ cực, cuối cùng đã đưa được Khởi Y đến nước Ngụy, tìm tới nương nhờ Bạch Khuê. Bà vú không lâu sau bệnh nặng qua đời, từ đó Khởi Y chẳng còn ai thân thích ngoài cha con Bạch Khuê. Khởi Y ít hơn Bạch Hổ sáu tuổi, song lớn lên cùng nhau, là đôi thanh mai trúc mã, sớm ngày không rời nhau nửa bước. Khởi Y dần trưởng thành, trở thành một thiếu nữ cực kỳ xinh đẹp, Bạch Khuê rất ưng thuận trong lòng. Sau khi Khởi Y tới tuổi cập kê vào năm ngoái, đã tổ chức hôn lễ cho hai người.
Khởi Y bước vào, quỳ xuống trước giường, gục đầu xuống, khóc nấc lên từng hồi. Bạch Khuê đưa bàn tay già nua nhăn nheo, nhẹ nhàng vuốt mái tóc của Khởi Y, nói: “Con ơi, thực không ngờ Bạch Hổ lại tệ đến vậy, lão hủ đã hại con rồi!”
Khởi Y vừa khóc vừa nói: “Là Y Nhi tự nguyện. Y Nhi sống là người họ Bạch, chết làm ma họ Bạch, cho dù chàng trở thành người ra sao, Y Nhi cũng tuyệt không hối hận!”
Bạch Khuê nhìn Khởi Y mà nói: “Nghe nói con đã mang thai, nếu sinh con trai, hãy đặt tên là Bạch Khởi, để thằng bé bắt đầu từ đầu, bắt đầu từ chính mình!”
Khởi Y nuốt lệ gật đầu.
Bạch Khuê lại ho vài tiếng, rồi nhìn sang Công Tôn Diễn: “Khuyển tử vô dụng, đều tại lão hủ quá nuông chiều. Công Tôn Diễn, thằng nhóc này cậy nhờ ngươi dạy dỗ giúp. Hãy nhận lời ta, đưa nó về Hà Tây, để nó chết… chết trên chiến trường, không được để nó chết… trên chiếu bạc…”
Bạch Khuê lại ho lên dữ dội. Công Tôn Diễn vội vã vuốt lưng cho ông, nhưng đã muộn, một khối đờm đặc đã tắc nghẽn trong họng. Sau một hồi co giật, đầu Bạch Khuê đổ vật sang một bên.
Đám người đồng loạt gào khóc nức nở: “Chúa công!”
Trong ngoài phủ tướng quốc bao trùm trong bầu không khí tang thương, tiếng khóc than rền rĩ. Đúng vào lúc này, hộ viện dẫn theo đám gia đinh áp giải Bạch Hổ bị trói giật cánh khuỷu bước vào. Bạch Hổ bị đẩy vào trong sân, vừa vùng vẫy, vừa giậm chân chửi rủa: “Thả ta ra, lũ khốn kiếp chết tiệt! Thả ta ra… xem ta làm thịt các ngươi!”
Công Tôn Diễn mình mặc tang phục bước ra, lừ mắt nhìn hắn, lạnh lùng nói: “Thả thiếu gia ra!”
Đám gia đinh liền thả Bạch Hổ ra.
Bạch Hổ kinh hãi nhìn bộ tang phục trên người Công Tôn Diễn, bật kêu lên thất thanh: “Công Tôn huynh… chuyện gì…”
Giọng Công Tôn Diễn vẫn lạnh tanh: “Chúa công quy tiên rồi!”
Bạch Hổ dường như không tin vào tai mình: “Sao? Huynh lảm nhảm gì thế?”
“Chúa công dành lại hơi thở cuối cùng để chờ gặp cậu, mà cậu không chịu về. Chúa công đợi không được, đã quy tiên nửa canh giờ trước!”
Bạch Hổ lúc này mới nhận ra sự việc nghiêm trọng, mặt mũi tái nhợt, gào lên thảm thiết: “Cha ơi!” Rồi lao thẳng vào trong phòng.