Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 58
Trương Nghi bớt trâu, bức thái tử rối trí
Trần Chẩn dùng mẹo, khích Thục Vương xuất chinh

❊ ❊ ❊

Mục tiêu giao hảo với Ngụy đã đạt được, Trương Nghi liền thu quân quay trở về Tần, suốt dọc đường ra roi thúc ngựa, đi suốt ngày đêm không nghỉ.

Sở dĩ Trương Nghi vội vàng đến vậy, là vì Tư Mã Thác đã gửi tin cấp báo, nói rằng đường sang Thục đã hoàn toàn khai thông, thái tử Thông Quốc của nước Thư đã dẫn người đến nhận trâu đá vãi phân vàng, Tần vương yêu cầu Trương Nghi hoả tốc hồi cung, cùng bàn cách ứng phó.

Kỳ thực, người còn sốt ruột hơn cả Trương Nghi chính là thái tử Thông Quốc. Trước khi Trương Nghi đi sứ, đã đoán trước thái tử Thông Quốc sẽ đến, bèn căn dặn lễ tư đại phu cắt giảm bớt một con trâu đá mà không cho bất cứ lý do gì. Năm đó Tần Công đồng ý cho năm con, đồng thời một con trong đó bắt buộc phải là trâu đực, không được cắt giảm, muốn giảm chỉ được giảm trâu cái, mà trâu cái mới thực sự vãi được phân vàng. Đám Thông Quốc vừa sốt ruột vừa tức giận mà chẳng làm gì được, Thông Quốc mấy lần vào cung yết kiến Tần vương để hỏi cho ra nhẽ, nhưng lại bị viện đủ lý do để cự tuyệt ngay ngoài cổng, đành phải đến phủ quốc uý Tư Mã Thác để truy hỏi nguyên nhân. Tư Mã Thác là người thẳng thắn, thấy cắt bớt của nhà người ta một con trâu mà lại không giải thích rõ ràng, cũng tự cảm thấy áy náy, nên đành phải làm kẻ mặt dày nhận lỗi với Thông Quốc, đồng thời nói rằng tất cả những điều này đều do tướng quốc Trương Nghi căn dặn, đợi khi Trương Nghi trở về, tất cả sẽ được sáng tỏ. Thông Quốc vội giục giã Tư Mã Thác viết thư hối thúc Trương Nghi, bản thân cũng như ngồi trên đống lửa, khổ sở chờ đợi Trương Nghi trở về.

Đến chập tối Trương Nghi mới về đến Hàm Dương. Mặc dù được phong làm tả tướng, nhưng phủ trạch của Trương Nghi không thay đổi, vẫn ở tại phủ hữu thứ trưởng trước đây. Sau khi Công Tôn Diễn bỏ đi, Tần Huệ Vương liền ban lại phủ đại lương tạo cho Trương Nghi, nhưng Trương Nghi đã khéo léo từ chối, nói là ở phủ của mình quen rồi. Đặc biệt là Hương Nữ, nhất quyết không chịu chuyển nhà.

Hương Nữ không chịu chuyển, vì lòng nàng không quan tâm đến vật, chỉ quan tâm đến người. Người này chính là Trương Nghi. Trên thế gian này, nàng đã chẳng còn người thân nào khác, giờ chỉ còn sống vì Trương Nghi. Một ngày không gặp, trái tim nàng như thắt lại một ngày, huống hồ lần này đi sứ nước Ngụy, trước sau đã hai tháng trời không gặp mặt.

Lúc này, thấy Trương Nghi bình an trở về nhà, Hương Nữ vui mừng ứa lệ, cứ ngã vào lòng Trương Nghi không chịu buông tay.

Trương Nghi hít hà hương thơm trên người Hương Nữ rồi cười hỏi: “Nước nóng đã chuẩn bị xong chưa?”

“Đã xong rồi!”

“Người ta đang hôi rình như cú, sắp làm ô uế mất hương thơm của nàng rồi! Đi thôi, chúng ta cùng tắm!” Lời vừa dứt, Trương Nghi đã kéo luôn Hương Nữ cùng vào phòng tắm, đang lúc tháo đai cởi áo, bỗng ngoài cửa vang lên tiếng bước chân, rồi giọng nói của Tiểu Thuận vọng vào: “Chúa công, cái tay thái tử lỗ mãng nước Thư kia đến rồi, đang đợi gặp chúa công ở ngoài cổng phủ.”

“Phu quân!” Hương Nữ hạ giọng nói. “Thái tử Thông Quốc đã đến nhiều lần rồi, chắc là có việc gấp.”

“Ta biết là việc gì rồi!” Trương Nghi cười hích hích, hô lớn với Tiểu Thuận. “Tiểu Thuận, đi đi, hãy nói với hắn, ta đang cùng phu nhân chơi trò uyên ương nghịch nước. Hừm, chính vì hắn nên mới phải đi đường gấp gáp, hại ta ba ngày liền không được ngủ tròn giấc, mệt đến hoa mắt chóng mặt, giờ vừa về đến nhà, còn chưa kịp chợp mắt, hắn đã mò đến tận nơi, còn để người ta sống nữa không?”

“Những điều cần nói tiểu nhân đã nói cả rồi, nhưng thái tử Thông Quốc không chịu đi, sống chết đòi gặp chúa công cho bằng được!”

“Tiểu Thuận!” Hương Nữ lúc này cũng đã khép xong vạt áo, bèn đi ra ngoài, mở cửa cười nói. “Đừng nghe chủ nhân ngươi nói lăng nhăng. Đi đi, mời thái tử Thông Quốc vào đây, bảo thái tử đến phòng khách đợi một lát.”

Tiểu Thuận vâng một tiếng, rồi vội vàng đi ngay.

Hương Nữ bèn đóng cửa lại, hai tay thoăn thoắt giúp Trương Nghi cởi bỏ y phục, rồi ấn vào thùng nước: “Phu quân mau tắm đi, Hương Nữ tắm xong từ lâu rồi!”

Vì có việc của Thông Quốc, Trương Nghi lúc này cũng chẳng còn tâm trạng mà đùa giỡn, vội tắm qua loa, mặc quan phục vào, rồi rảo bước tới phòng khách. Thông Quốc đứng dậy nghênh đón, sắc mặt vô cùng nôn nóng.

Sau một vài lời khách sáo, Thông Quốc bèn vỗ tay, đám tuỳ tùng liền khiêng hai hòm lễ vật lớn tiến vào. Thông Quốc rút ra một tờ danh sách lễ vật từ trong tay áo, hai tay dâng lên Trương Nghi, vòng tay nói: “Đất Thư nghèo nàn, Thông Quốc chỉ có thể mang chút đặc sản núi rừng kính tặng tướng quốc, mong tướng quốc không chê!”

Trương Nghi nhận lấy tờ danh sách, thấy ghi trên đó đều là những món trân quý vùng rừng núi, trong đó còn có muối tinh, thì trong lòng chấn động, bèn hỏi: “Đất Thư các vị cũng có muối tinh ư?”

“Không, không phải!” Thái tử Thông Quốc đáp. “Chúng tôi chỉ có ngũ cốc và hàng rừng, muối tinh là do Ba Vương cống tặng.”

“Ba Vương?” Trương Nghi càng chấn động. “Nghe nói muối nước Ba là loại muối thượng phẩm trong các loại muối, tại hạ vẫn chưa được thấy bao giờ.”

Thái tử Thông Quốc vội vàng bước tới, mở nắp hòm, lấy ra hai cái túi tinh xảo được đan từ cỏ dại, mở ra mà nói: “Đây chính là muối nước Ba, mời tướng quốc kiểm tra!”

Trương Nghi quan sát kỹ lưỡng, quả nhiên thấy hạt muối mịn màng, sắc trắng tinh như tuyết, không lẫn mảy may tạp chất, bèn bẻ lấy một góc nhỏ, thè lưỡi nếm thử, vị mặn thơm tho thấm tận phế phủ, thì tấm tắc khen liền mấy tiếng: “Muối ngon, đúng là muối ngon!” Rồi quay sang Tiểu Thuận đang đứng hầu bên cạnh. “Đã là thịnh tình của thái tử Thông Quốc và Ba Vương, ngươi hãy mau chiếu theo danh sách mà nhận lấy, khoản đãi thịnh soạn.”

Tiểu Thuận gật đầu vâng lệnh, sai người khiêng hòm đi, rồi dẫn đám tuỳ tùng của Thông Quốc sang phòng bên, khoản đãi trà nước.

Thấy Trương Nghi tỏ ra yêu thích muối nước Ba, thái tử Thông Quốc liền vòng hai tay, đi thẳng vào chuyện chính: “Tướng quốc đại nhân đi sứ vừa về, Thông Quốc đã mạo muội tới làm phiền, thực cũng vì bất đắc dĩ, mong tướng quốc lượng thứ!”

“Điện hạ bất tất phải khách khí!” Trương Nghi đáp lễ. “Lần này điện hạ đến, phải chăng là vì mấy con trâu thần vãi phân vàng?”

“Đúng thế!”

“Đường đi đã thông chưa?”

“Đã thông suốt, đường hẹp nhất là đường sạn đạo, rộng chừng năm thước, cũng có thể đi xe ngựa. Thông Quốc đã thử rồi, vận chuyển trâu thần hẳn không có gì trở ngại.”

“Nếu đã như vậy, ngày mai tại hạ sẽ bẩm tấu với đại vương, trao tặng trâu thần, thái tử thấy sao?”

“Ờ…” Thông Quốc nín thở ngưng thần. “Dám hỏi tướng quốc trao tặng mấy con trâu thần?”

“Ồ?” Trương Nghi giả bộ kinh ngạc. “Họ không cho điện hạ biết ư? Đại vương đồng ý tặng năm con trâu thần, điện hạ đồng ý ba năm làm xong đường đến Thục. Năm con trâu thần đại vương đã chuẩn bị sẵn sàng từ lâu, nhưng còn đường đến Thục, điện hạ cứ chậm trễ mãi không thông, bởi vậy tại hạ…” Cố ý ngừng lời.

“Tướng quốc đại nhân!” Thông Quốc vội vã ngắt lời Trương Nghi. “Không phải Thông Quốc không cố gắng, mà thực sự là…” vừa nói vừa nước mắt ròng ròng, giọng nói nghẹn ngào, “thực sự là Thông Quốc không thể ngờ được làm đường Thục lại gian nan đến vậy!”

“Điện hạ hãy thử nói xem, làm đường Thục gian nan thế nào?”

“Tướng quốc đại nhân có điều không biết,” Thông Quốc đưa tay áo lau nước mắt, “đường đến Thục vốn đã có từ trước, nhưng đường đó đi bộ đã chẳng dễ dàng, nói gì đến đi xe. Để vận chuyển trâu thần, phụ quân đã phải tập hợp tráng đinh cả nước, do Thông Quốc dẫn đầu, dốc toàn lực để phá núi mở đường, nhưng không ngờ lại khó khăn quá mức. Ông trời chẳng chịu chiều người, mưa tuyết gió rét không nói, hàng năm cứ đến lúc vào đông, lại có mấy tháng đất trời băng giá, tuyết phủ kín non, căn bản không thể làm đường được!”

“Vậy ư?” Trương Nghi chăm chú nhìn Thông Quốc, rồi khẽ gật đầu. “Nhìn tướng mạo của điện hạ, đúng là đã gầy guộc hơn nhiều so với ba năm về trước, xem ra quả thực đã phải chịu không ít cực khổ!”

“Đa tạ tướng quốc đại nhân thấu hiểu!” Thông Quốc lại nghẹn ngào. “Chịu khổ chỉ là thứ yếu, chủ yếu là do tráng đinh không đủ. Thông Quốc cực khổ lao lực suốt hai năm, xoay sở đủ mọi phương cách, nhưng đường vẫn chưa làm được một nửa. Để giữ đúng lời hẹn ba năm, Thông Quốc đã cầu xin phụ quân nhờ vả Ba Vương hỗ trợ. Ba Vương liền điều một vạn nhân đinh, dốc toàn lực cho kịp kỳ hạn, song kết quả vẫn chậm trễ.” Nói đoạn quỳ sụp xuống đất, nước mắt đầm đìa.

“Điện hạ, tuyệt đối không được làm thế!” Trương Nghi vội đứng lên, tiến tới đỡ hắn dậy. “Đại lễ nhường này sẽ khiến Trương Nghi yểu thọ!”

“Tướng quốc đại nhân!” Thông Quốc dập đầu sát đất, không chịu đứng lên. “Thông Quốc khẩn cầu đại nhân hãy tặng cho năm con trâu thần như đã hứa, nếu đại nhân không đồng ý, Thông Quốc sẽ… sẽ không đứng dậy!”

“Than ôi, điện hạ!” Trương Nghi khẽ thở dài một tiếng. “Theo lý mà nói, trâu thần có được bốn con đã là không phải ít, chí ít đã có ba con vãi được ra vàng, làm người không nên quá tham lam!” Rồi hạ thấp giọng. “Không giấu điện hạ, con trâu này cũng không phải tại hạ cố ý cắt giảm đi, mà kỳ thực là đại vương của tại hạ… không muốn cho!”

Thông Quốc lập tức dừng khóc, đứng bật dậy, kinh ngạc nhìn sững vào Trương Nghi: “Đại vương… cớ sao lại không muốn cho?”

“Còn có thể vì lý do nào khác nữa? Tiếc chứ còn gì! Điện hạ nghĩ thử xem, một con trâu cái mỗi ngày vãi ra được một đống vàng, vàng vốn nặng, một đống chí ít cũng được vài dật, có thể mua từ liệt quốc hơn nghìn gánh lương, hoặc đổi được một con thiên lý mã, thái tử bảo đại vương sao lại không tiếc cho được!”

“Ôi!” Thông Quốc càng thêm hốt hoảng. “Lúc đầu chính miệng đại vương đã đồng ý, vua một nước lớn, nhất ngôn cửu đỉnh, lại còn lập quốc thư, viết giao ước, làm sao có thể muốn lật lọng là lật lọng, nói bớt là bớt được?”

“Điện hạ!” Trương Nghi khẽ vòng tay. “Nếu nói về giao ước, thì bên nào bội ước trước, hẳn điện hạ cũng đã rõ. Trước khi đi sứ Ngụy, tại hạ đã vào cung gặp đại vương, đại vương đột nhiên hỏi tại hạ: ‘Người nước Thư làm đường đến đâu rồi?’ Tại hạ bèn đáp: ‘Nghe nói đã làm xong rồi.’ Đại vương nói: ‘Quả nhân nhớ là hình như trước đây thái tử Thông Quốc hẹn với ta ba năm sẽ làm xong, thời hạn ba năm đã đến chưa?’ Nội tể không nói không rằng, lập tức lấy bản giao ước năm xưa ra, nói là đã quá hạn nửa năm rồi. Đại vương liền nói: ‘Ngay từ đầu quả nhân đã biết lời nói của người Thư không đáng tin, các khanh lại không tin, giờ chẳng phải đã hai năm rõ mười rồi ư?’ Nội tể bèn hỏi: ‘Người Thư đã không làm đúng giao ước, vậy mấy con trâu thần này, chúng ta còn tặng họ nữa không?’ Đại vương nói: ‘Đương nhiên là không, ai bảo họ bội ước?’ Tại hạ vừa nghe, trong lòng hốt hoảng, vội vã cầu xin cho điện hạ: ‘Đại vương, không được! Người Thư vì mấy con trâu thần mà đã phải dốc kiệt sức lực của cả nước để làm đường, đường nay đã sắp làm xong, nếu đại vương không cho trâu thần, bảo điện hạ Thông Quốc phải làm thế nào đây? Phải đối mặt với hương thân phụ lão nước Thư thế nào đây?’ Đại vương nghe tại hạ nói có lý, nên cũng không tiện không cho, nhưng truyền chỉ cho tại hạ cắt bớt một con, để phạt chuyện bội ước. Việc này cũng là phải lẽ, điện hạ thông hiểu tình lý, chắc hẳn sẽ không…”

“Tướng quốc đại nhân có điều không biết!” Thông Quốc lại nước mắt nước mũi đầm đìa, cất giọng cầu khẩn. “Đừng nói là bớt đi một con, cho dù là không bớt, năm con trâu thần cũng chẳng đủ để phân chia!”

“Ồ?”

“Không giấu đại nhân,” Thông Quốc đành phải thổ lộ điều khó nói. “Để làm cho kịp kỳ hạn, phụ vương đã khẩn cầu Ba Vương trợ giúp. Ba Vương đương nhiên không chịu vô duyên vô cớ mà giúp đỡ, phụ quân đành phải hứa với Ba Vương, đợi sau khi mở xong đường, sẽ tặng cho Ba Vương một con trâu. Vừa mới dàn xếp ổn thoả được phía Ba Vương, phía Thục Vương đã lại nghe tin, liền hạ lệnh phải cống hai con. Thục Vương là huynh trưởng của phụ quân, nước Thục lại là thượng quốc của nước Thư, phụ quân không dám không đồng ý. Trong năm con trâu chỉ có bốn con có thể vãi phân vàng, Ba Vương một con, Thục Vương hai con, phụ quân chỉ còn lại một con, nếu một con này lại bị đại vương cắt giảm, bảo Thông Quốc phải về ăn nói với phụ quân thế nào đây? Bảo phụ quân phải ăn nói với phụ lão huynh đệ trên đất Thư thế nào đây? Để mở đường này, hàng ngàn người đã phải bỏ cả mạng sống, nếu như ngay cả một con trâu thần cũng không có được, bảo Thông Quốc phải đối diện với linh hồn của họ thế nào đây?”

Thông Quốc càng nói càng đau lòng xót ruột, lại nước mắt đầm đìa.

Trương Nghi nghe mà chấn động, bèn hít vào một hơi dài, nhắm mắt suy nghĩ hồi lâu, rồi thở dài thườn thượt, ngẩng đầu lên nói: “Nỗi khổ tâm của điện hạ, hôm nay tại hạ mới được biết. Thôi được, ngày mai tại hạ sẽ vào cung gặp đại vương, điện hạ có thể đi cùng. Đại vương tấm lòng nhân từ, sẽ không nỡ nhìn người khác chịu khổ, điện hạ hãy thổ lộ những nỗi khổ này cho đại vương biết, tại hạ cũng nói giúp vài câu, hoặc giả đại vương sẽ đổi ý, không cắt bớt nữa. Dù sao đại vương cũng còn nhiều trâu thần, thêm bớt một con cũng chẳng ảnh hưởng gì.”

“Đa tạ đại nhân!” Thông Quốc lại bái lạy rồi đứng dậy, thấp thỏm cáo từ.

Sáng sớm hôm sau, Thông Quốc theo Trương Nghi vào cung, theo lời dặn của Trương Nghi, vừa khóc lóc vừa kể lể những nỗi khó khăn cực nhọc khi mở đường. Tần vương quả nhiên đã “cảm động”, cộng thêm Trương Nghi, Tư Mã Thác liên tiếp “cầu xin”, năm con trâu thần đã được ban tặng cho nước Thư không thiếu một con, chỉ là con số hai mươi mỹ nữ như lời hứa ban đầu giảm xuống còn mười mỹ nữ, coi như trừng phạt việc thất hẹn.

Thông Quốc cuối cùng cũng đã có được năm con trâu thần như ý nguyện, tạ ơn không biết bao nhiêu lượt, rồi mới bái lạy cáo từ.

Nhìn thái tử Thông Quốc hoan hỷ bước xuống bậc thềm trước điện, Huệ Vương, Trương Nghi đưa mắt nhìn nhau, cùng mỉm cười đầy ẩn ý.

“Đại vương!” Tư Mã Thác ngạc nhiên hỏi. “Hai người đang cười gì vậy?”

“Cười Trương ái khanh!” Huệ Vương chỉ vào Trương Nghi nói. “May mà Trương ái khanh nghĩ ra cách này, đòi cắt bớt một con trâu, nếu không, chưa biết chừng sẽ gặp phải phiền hà.”

“Phiền hà gì kia?” Tư Mã Thác gãi đầu. “Vi thần nghĩ mãi vẫn không hiểu, vốn dĩ đã giao hẹn từ trước, tự nhiên lại cắt bớt của người ta một con, thật không hiểu nổi!”

“Này ái khanh, lòng dạ của khanh đến khi nào mới lắt léo được một chút nhỉ?” Huệ Vương cười lớn mà nói. “Lần này Thông Quốc đến, mang theo rất đông tuỳ tùng, chờ đợi vận chuyển trâu thần. Thế nhưng về việc chinh phạt, chúng ta lại chưa chuẩn bị xong, tạm thời chưa thể xử lý chuyện này. Nhàn cư vi bất thiện, trong đám sứ thần của Thông Quốc biết đâu có kẻ đi lại lung tung, chẳng may có người tiết lộ phong thanh, kế trâu vàng há chẳng phải sẽ tan thành bọt nước? Trương ái khanh ra tay trước, tự dưng cắt giảm mất một con, khiến sứ đoàn của Thông Quốc từ trên xuống dưới đều phải lo lắng sợ hãi, không còn lòng dạ nào để quan tâm đến những chuyện khác nữa!”

Lúc này Tư Mã Thác mới hiểu ra ý đồ của Trương Nghi, thực lòng khâm phục, liền quay sang Trương Nghi khen ngợi không ngớt lời.

“Hai vị ái khanh, người ta đã làm đường xong cho chúng ta rồi, màn kịch tiếp theo, tới lượt các khanh biểu diễn!” Huệ Vương nói đoạn, dẫn hai người đi thẳng tới ngự thư phòng, bảo nội tể lấy hai tấm da dê từ trên giá sách xuống, trải lên mặt bàn.

Đó là hai tấm bản đồ, một tấm là đường Thục, bao gồm ba con đường núi ở vùng núi Chung Nam.

Nhìn thấy tấm bản đồ ký hiệu tỉ mỉ, tỉ lệ chuẩn xác, cả Trương Nghi và Tư Mã Thác đều hết sức kinh ngạc, không ai không thấy chấn động trong lòng. Chỉ nhìn vào nét bút, đã biết là do Tần vương tự tay phê. Xem ra, tâm tư mà Tần vương đổ vào vào hai vùng đất Ba, Thục chẳng hề thua kém hai người họ.

“Hai vị ái khanh!” Huệ Vương nhìn tấm bản đồ. “Ba, Thục nằm ở đây! Lễ chuộng có qua có lại, người ta đã chủ động dâng đại lễ đến, chúng ta cũng phải thể hiện lòng thành. Còn thể hiện như thế nào, quả nhân muốn cùng bàn với hai vị ái khanh.”

“Theo ý của vi thần,” Tư Mã Thác đi thẳng vào đề, “có thể cho binh sĩ trà trộn vào đội vận chuyển trâu, đại quân lặng lẽ theo sau, nhân lúc người Thư sung sướng ăn mừng mà tập kích, thần đảm bảo xuất kỳ chế thắng.”

Huệ Vương mỉm cười, quay sang Trương Nghi: “Ý ái khanh thế nào?”

“Được thì có được, chỉ là thắng không vẻ vang!” Trương Nghi cũng cười một tiếng, coi như trả lời.

“Đối phó với giống man di này, đâu cần phải quan tâm tới vẻ vang!” Tư Mã Thác sốt sắng biện bạch. “Hơn nữa, như vậy có thể giảm bớt được thương vong. Để dũng sĩ Đại Tần ta chết trong tay những kẻ thấy vàng sáng mắt kia, tại hạ thấy thực đáng tiếc!”

“Nếu nói như vậy,” Trương Nghi tiếp lời, “đại tướng quân sẽ chỉ làm cho thương vong lớn hơn mà thôi!”

“Ồ?” Tư Mã Thác ngẩn người.

“Tại hạ hỏi tướng quân,” Trương Nghi hai mắt nhìn thẳng vào Tư Mã Thác, “đại tướng quân điều động ba quân, cực nhọc vượt núi băng đèo, chỉ là vì một mảnh đất Thư nhỏ bé kia ư?”

“Đương nhiên không phải!” Tư Mã Thác lập tức đáp lời. “Đợi sau khi tại hạ chiếm được đất Thư, sẽ mượn thế tiến lên, đánh cho Thục, Ba không còn manh giáp.”

“Người Ba, Thục không phải là lợn, nay ta bội tín bội nghĩa, đao kiếm lăm lăm, vừa đến đã tiêu diệt nước Thư, hai vua Ba, Thục còn không liều mạng? Người ta thuộc đường thuộc lối, vừa được địa lợi, lại có lòng dân, còn tướng quân lại lạ người lạ đất, hươu chết vào tay ai, vẫn rất khó đoán. Hơn nữa, cho dù cuối cùng tướng quân giành được phần thắng, Ba Vương, Thục Vương tan tác rút vào rừng núi thâm u, liệu người dân Ba, Thục có chịu phục tùng tướng quân hay không, hay là sẽ chạy theo Ba Vương, Thục Vương? Tướng quân chỉ còn cách bỏ ra nhiều công sức hơn nữa để truy đuổi Ba Vương, Thục Vương, mà người dân Ba, Thục sẽ càng thêm tổn thương nặng nề, chia năm xẻ bảy, khống chế đã khó, muốn nuôi dưỡng hồi phục lại càng phải bỏ ra nhiều thời gian công sức hơn. Một Ba, Thục như vậy, không những chẳng có lợi gì cho Đại Tần, ngược lại còn trở thành gánh nặng cho Đại Tần, thà chẳng có còn hơn!”

Nghe những phân tích thấu đáo, nhìn xa trông rộng của Trương Nghi, đừng nói là Tư Mã Thác, mà ngay đến Huệ Vương cũng kinh ngạc, liên tiếp vỗ tay: “Lời ái khanh thực tuyệt diệu!”

“Ờ…” Tư Mã Thác gãi đầu gãi tai. “Nếu như thế không được, vậy phải chinh phạt thế nào, tướng quốc có diệu kế gì chăng?”

“Tạm thời chưa có!” Trương Nghi mặt mũi nhăn nhó, rồi lại cười. “Thế nhưng, chỉ cần để tâm vào đó, tin chắc sẽ nghĩ ra được. Việc tốt không đến trong vội vàng, dù sao đường cũng đã làm xong, có vội cũng không phải vội một lúc này.”

Huệ Vương bật cười mấy tiếng: “Hai khanh không vội, nhưng quả nhân thì lại vội đấy!”

“Vi thần hiểu rồi!” Tư Mã Thác nghe ra ẩn ý, liền ghé sát lại. “Chúa thượng hẳn đã có cẩm nang diệu kế?”

“Không có diệu kế, song cẩm nang thì có một cái đây!” Lời vừa dứt, quả nhiên Huệ Vương rút từ trong tay áo ra một túi gấm, đặt lên mặt bàn phía trước. “Túi gấm này là do một người từ Sính Đô gửi ngựa hoả tốc mang về, nói là người Sở nghe chuyện Ba, Thục có trâu thần vãi phân vàng, cũng muốn đi cướp giật một con. Nếu không nằm ngoài dự liệu của quả nhân, giờ này đại quân nước Sở đã trên đường phạt Ba rồi!”

Lời này khác nào sét đánh giữa trời quang, Trương Nghi, Tư Mã Thác đều bàng hoàng chấn động, đưa mắt nhìn nhau. Chỉ riêng việc chinh phạt Ba, Thục đã chẳng phải chuyện dễ dàng, nếu người Sở lại nhúng tay vào, há chẳng phải…

Đặc biệt là Trương Nghi, cơn chấn động trong lòng thực không phải bình thường. Trương Nghi biết rõ, qua lại nhiều nhất với Ba, Thục không ai hơn người Sở. Trong gần trăm năm lại đây, người Sở ngược theo Giang Thủy mà lên, đã công chiếm Bồi Lăng, hoàn toàn khống chế đường sông từ Sở vào Thục, chiếm lấy Ba, Thục chỉ là chuyện sớm chiều. Người Sở đã chiếm Ngô, Việt, nếu tiếp tục chiếm được Ba, Thục, sẽ trở thành một con thú khổng lồ, nước Tần nếu muốn đối kháng với họ, khó khăn nhường nào không nói cũng biết. Sở không thể bình định, sao có thể bình định thiên hạ? Mà đời người chỉ mấy chục năm. Sống lưng Trương Nghi bỗng chốc lạnh toát, không dám nghĩ thêm nữa.

“Ồ, hai khanh sao lại đờ mặt ra thế?” Huệ Vương không những không lo lắng, ngược lại còn tỏ ra hớn hở. “Chuyện Ba Thục sôi động như vậy, khiến quả nhân khá là hào hứng!”

“Chúa thượng!” Tư Mã Thác giáng mạnh nắm đấm xuống mặt bàn. “Chúng ta hãy lập tức phát binh! Chỉ đánh Ba, Thục, mạt tướng thấy không tận hứng. Đại chiến một trận với người Sở mới thực sự sảng khoái!”

“Còn để ái khanh phải nói ư, quả nhân cũng thấy vậy!”

“Chúa thượng!” Trương Nghi đã định thần trở lại, khoé mắt liếc nhìn túi gấm. “Người gửi túi này là…” Rồi ngập ngừng, ánh mắt như dò hỏi.

Huệ Vương bật cười vui vẻ: “Chính là bạn cũ của khanh, Trần Chẩn!”

Trương Nghi hít ngược vào một hơi dài.

Túi gấm này đích xác là do Trần Chẩn gửi về nước Tần.

***

Tung thân phạt Tần thất bại, người có công với Tần là Trần Chẩn lại bị Trương Nghi đẩy ra khỏi Tần, tiếp tục đi sứ nước Sở với tâm trạng đầy u uất, lại phải tìm đến nhờ vả Chiêu Dương. Ở nước Sở, e rằng cũng chỉ có một mình Chiêu Dương hiểu ông ta, tin ông ta, chịu thu nạp ông ta.

Hai người gặp nhau, vài lời khách sáo còn chưa nói xong, Chiêu Dương đã than phiền với Trần Chẩn về chuyện chinh phạt Ba.

“Chinh phạt Ba?” Trần Chẩn hết sức kinh ngạc. “Ai chinh phạt Ba?”

“Họ Khuất!” Chiêu Dương hừ mũi một tiếng, rồi hậm hực nói. “Dòng họ Khuất đúng là đã chẳng còn ai nữa, nên hy vọng một tên nhãi ranh miệng còn hơi sữa đi đào núi lấp biển, há chẳng phải vọng tưởng hay sao?”

“Tên nhãi ranh miệng còn hơi sữa nào kia?”

“Khuất Bình!” Chiêu Dương nhếch mép khinh bỉ. “Con trai của Khuất Bá Dung, cháu đích tôn của Khuất Nghi Cữu.”

“Nhãi ranh? Hắn bao nhiêu tuổi rồi?”

“Không biết, nghe nói là mười lăm mười sáu gì đó.”

“Ha ha ha!” Trần Chẩn bật cười mấy tiếng. “Đúng thực là một thằng nhãi ranh miệng còn hơi sữa! Dám hỏi đại nhân, sao lại phải tức giận với một thằng nhãi ranh?”

“Thượng khanh có điều không biết,” Chiêu Dương khẽ chau mày. “Đừng coi thường hắn nhỏ tuổi, hắn xảo quyệt vô cùng, nghe nói cũng có tài hoa, rất được điện hạ xem trọng. Lần trước được điện hạ tiến cử, làm phó sứ hợp tung của nước Sở, đi theo công tử Như.”

“Chẳng qua là điện hạ muốn tôi luyện hắn mà thôi.”

“Là tôi luyện!” Chiêu Dương dừng lại một chút, rồi nói tiếp. “Tuy nhiên, nghe công tử Như nói rằng, lời thề kết minh lần đó là do kẻ này thảo ra, ngay cả Tô Tần cũng phải nhìn hắn bằng con mắt khác!”

Trần Chẩn hít ngược một hơi dài, rồi từ từ thở ra, một lúc sau thì khẽ gật đầu, vòng tay chúc mừng: “Nước Sở có đại tài nhường đó, xin chúc mừng, chúc mừng!”

“Đại tài cái nỗi gì?” Chiêu Dương cười nhạt một tiếng, đập bàn nói. “Hãy xem ta…” Không biết nghĩ thế nào, lại gắng gượng nén mấy chữ “xử lý hắn thế nào” xuống cổ, nhưng trong bụng vẫn ấm ức sôi sục, hơi thở bất giác trở nên phì phò.

“Dám hỏi đại nhân,” Trần Chẩn vẫn truy hỏi đến cùng, “người này có liên quan gì đến việc chinh phạt Ba?”

“Nói đến chuyện này, tại hạ lại muốn hỏi thượng khanh!”

“Đại nhân cứ hỏi!”

“Nghe nói người Tần các vị muốn tặng cho Thư Hầu năm con trâu thần biết vãi phân vàng, có chuyện này chăng?”

Trần Chẩn phá lên cười ngặt nghẽo: “Trâu thần cái gì? Hoang đường hết sức! Toàn bộ là do tay Trương Nghi kia bịa đặt ra.”

“Trương Nghi?” Chiêu Dương chột dạ. “Nghe nói người này đã làm quan bái tướng tại Tần, có thật chăng?”

Trần Chẩn gật đầu.

“Than ôi!” Chiêu Dương sắc mặt u uất, thở dài một tiếng, nửa như tự nhủ, lại nửa như trách cứ Trần Chẩn. “Nhớ ban xưa, thật không nên…” Tuy không nói toẹt ra, nhưng rõ ràng là hối hận đã nghe theo lời Trần Chẩn, thả Trương Nghi đi.

“Đúng vậy!” Trần Chẩn cũng gật đầu. “Kẻ này không trừ, tất sẽ thành hậu họa lớn của ta!”

“Được rồi.” Chiêu Dương đổi sang chuyện khác. “Chúng ta hãy nói về người Thư! Người Thư vì chuyện này mà phá núi mở đường, lẽ nào đã trúng kế của người Tần?”

Trần Chẩn không trả lời mà hỏi ngược lại: “Trâu thần vãi phân vàng, đại nhân có tin không?”

Chiêu Dương trầm tư một hồi, rồi lắc đầu.

“Đừng nói là đại nhân, ngay cả đứa trẻ ba tuổi cũng chẳng tin. Nếu nước Tần thực sự có trâu thần vãi phân vàng, liệu Tần vương có nỡ mang cho người khác không? Đổi lại là nước Sở, cho dù Sở Vương bệ hạ đồng ý tặng cho người khác, đại nhân có chịu đồng ý không?”

“Nếu nói như vậy,” Chiêu Dương nhìn thẳng vào Trần Chẩn, “lời của thằng nhãi kia, thật sự không thể coi thường!”

“Dám hỏi đại nhân, hắn nói như thế nào?”

“Lời của tên nhãi ranh đó không khác gì lời của thượng khanh. Trâu vàng chẳng qua là mồi nhử, người Tần muốn mượn sức của người Thư để phá núi mở đường, sau đó sẽ mượn con đường này để chinh phạt Ba, Thục.”

Trần Chẩn khẽ gật đầu: “Ý đại nhân thế nào?”

“Than ôi!” Chiêu Dương thở dài một tiếng. “Nghe tên nhãi ranh đó nói vậy, tại hạ đã phủ định thẳng thừng. Nào ngờ điện hạ không chịu, liền tới đài Chương Hoa làm ầm lên, bệ hạ đã nghe theo lời điện hạ, thật khiến tại hạ…” Dừng lại nửa chừng, thần sắc ủ ê, một lúc sau, bỗng ngẩng phắt đầu, nhìn thẳng vào Trần Chẩn. “Thượng khanh đến thật đúng lúc, hãy mau nghĩ cách giúp tại hạ!”

“Đại nhân không muốn chinh phạt Ba, lẽ nào không có hứng thú với Ba, Thục?”

“Thượng khanh có điều không biết, người Thục vốn là người Kinh, Thục và Kinh hơi thở tương thông, tập tục gần giống, hai nước hoà thuận đã lâu. Đất Thục cách Sở xa xôi, do người Thục chiếm cứ, cũng chẳng khác gì do người Kinh chiếm cứ. Còn về đất Ba, toàn là chốn sơn cùng thủy tận, chiếm cũng có ích lợi gì?”

“Suối muối của người Ba, há chẳng phải là đại lợi?”

“Suối muối của người Ba phần lớn đã nằm trong tay ta, chỉ còn lại hai suối, đường đi hiểm trở, đều cách Giang Thủy rất xa xôi, tranh đoạt rất tốn công. Hơn nữa, người Ba đời đời ở trong núi Ba, đã chẳng thể đuổi cùng giết tận, vậy tại sao không để lại cho người ta một con đường sống?”

“Dám hỏi đại nhân, nếu đã không có hứng thú với đất Ba, vậy thì cứ để cho người Tần là được rồi!”

Chiêu Dương vội liếc nhìn ông ta.

“Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ,” Trần Chẩn liếc xéo Chiêu Dương một cái, lắc lư cái đầu. “Đường đã làm xong, người Tần chắc chắn sẽ kiếm cớ xuất binh, đồng thời người thành tựu được đại công này, chắc chắn là tướng quốc nước Tần Trương Nghi!”

Chiêu Dương kinh ngạc.

“Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ,” giọng Trần Chẩn càng thêm trầm trọng, “dã tâm của Trương Nghi không ở đất Thư, không ở đất Ba, cũng không ở đất Thục!”

“Dã tâm của người này ở đâu?”

“Kinh Sở!”

“Đây cũng chính là lời của thằng nhãi ranh đó!” Chiêu Dương buột miệng thốt lên.

“Vậy ư?” Trần Chẩn gật gù. “Nên tại hạ xin chúc mừng, Đại Sở có được một thiếu niên sáng suốt đến vậy, thật đáng mừng! Lần này Trương Nghi dụ dỗ người Thư mở đường, chí của họ không ở đất Thư, mà là Ba, Thục. Nếu Trương Nghi có được Ba, Thục, tất sẽ mưu đồ Hán Trung ở phía bắc, mưu đồ Kiềm Trung ở phía nam. Đại nhân thử nghĩ xem, người Tần đã có được Thương Ư, nếu lại có được Hán Trung, Ba, Thục và Kiềm Trung, đứng ở trên cao nhìn xuống, các đường đều hướng đến Sở, vậy Sính Đô có còn an toàn được không?”

Chiêu Dương hít vào một hơi dài, nghi hoặc nhìn Trần Chẩn: “Trương Nghi có dã tâm lớn đến vậy ư?”

Trần Chẩn cười gượng mấy tiếng, khẽ lắc đầu: “Đại nhân có còn nhớ, người này sau khi xuống núi đã tiêu diệt nước Việt, giúp Đại Sở mở rộng hơn ba nghìn dặm đất, dã tâm của hắn còn nhỏ được ư?”

Chiêu Dương lại hít vào một hơi dài.

“Đại nhân, vùng đất Ba, Thục không dưới mấy nghìn dặm, dồi dào ngũ cốc và muối, không hề thua kém Đại Sở, còn về kỳ trân rừng núi…”

Chiêu Dương vung tay ngắt lời Trần Chẩn, cất giọng oang oang: “Nếu là xuất binh chống Tần, thượng khanh có kế sách gì chăng?”

“Người có thể chế ngự được Tần, ngoài Khuất tướng quân ra, không còn ai khác!” Trần Chẩn ý chỉ Khuất Vũ.

Chiêu Dương đời nào có thể chấp nhận nhà họ Khuất, nên lời Trần Chẩn còn chưa nói dứt, sắc mặt Chiêu Dương đã tối sầm lại.

“Xin hỏi đại nhân,” Trần Chẩn lại như nhất quyết tiến cử Khuất Vũ, “trong số các trụ quốc của nước Sở, người am hiểu chiến thuật chiến lược của người Tần nhất là người nào? Người thông thạo sông nước Thục, Ba nhất là ai?”

Lời Trần Chẩn đã đánh trúng yếu huyệt. Nhiều năm nay, thân là hai đại tướng quân trụ quốc của nước Sở, dòng họ Chiêu chủ yếu là đông chinh bắc chiến, đối kháng với Ngô, Việt và liệt quốc Trung Nguyên, còn dòng họ Khuất lại đảm đương chinh phạt phía tây, chủ yếu là đối kháng với Ba, Thục và Tần. Nếu như tây chinh, Khuất Vũ quả thực là lựa chọn đầu tiên.

Chiêu Dương đăm chiêu suy nghĩ hồi lâu, Trần Chẩn cũng khép mắt lại.

“Trần huynh!” Chiêu Dương bỗng ngẩng phắt đầu lên, thình lình buông một câu hỏi. “Theo lý mà nói, huynh là sứ thần nước Tần, phải nói giúp cho Tần mới đúng, cớ sao lại quay sang giúp nước Sở?”

“Tại hạ thân là khách khanh,” Trần Chẩn vòng tay nói, “ở đâu cũng là khách, ở Tần là khách của Tần, nên mưu cho Tần, ở Sở là khách của Sở, nên mưu cho Sở. Nay đến phủ của đại nhân, nên mưu cho đại nhân!”

Chiêu Dương phá lên cười một tràng dài: “Rốt cuộc thượng khanh mưu cho ai, trong lòng tại hạ hiểu rõ rành rành. Nói đi, tại sao lần này lại đi sứ tới Sở, thực lòng hiến mưu cho Sở?”

“Than ôi!” Trần Chẩn thở dài buồn bã. “Đại nhân cứ cố chấp ý này, tại hạ cũng không thể giải thích được nữa. Kỳ thực, đại nhân cũng không ngờ oan cho tại hạ, lần này khuyên đại nhân tiến về tây mưu đồ Ba, Thục, cũng là có chút oán thù riêng.”

“Có oán thù gì riêng?”

“Chính là Trương Nghi kia! Tần Công xưng vương, tin theo lời hắn, dùng hắn làm tướng quốc. Không hiểu sao hắn lại biết được tất cả những khổ nhục đã phải hứng chịu ở nước Sở đều là do kế của tại hạ, nên rất bất mãn với tại hạ. Tại hạ không thể giải thích cho rõ ràng, ở Tần lại thế nhỏ lực yếu, nên đành phải tránh mặt hắn. Còn về việc giương cờ hiệu chữ ‘sứ’, chẳng qua chỉ là để qua biên ải được thuận lợi mà thôi. Lần này Trần Chẩn đến đây, là mong muốn được nương nhờ đại nhân, mong đại nhân đừng chối bỏ!”

“Ồ…” Chiêu Dương kinh ngạc. “Doanh Tứ cũng không giữ huynh ư?”

“Một con trâu già, giữ lại có ích gì?” Trần Chẩn lại thở dài sườn sượt, cúi rũ đầu, bộ dạng rất đỗi đau thương.

“Trần huynh chính vì điều này mà không muốn Trương Nghi được toại nguyện chuyện Ba, Thục, có đúng chăng?”

“Cứ coi là vậy!” Trần Chẩn đáp, rồi ngẩng đầu nhìn Chiêu Dương, ánh mắt khẩn thiết. “Lệnh doãn đại nhân, Chiêu huynh, lần này tại hạ đến, là thực lòng muốn nương nhờ đại nhân, nương nhờ nước Sở, coi như để hiến mưu lược cho đại nhân, mưu lược cho Đại Sở. Đại Sở không thể không có Ba, Thục, nay Ba, Thục nội tranh, là thời điểm suy yếu nhất, chẳng thà ta chiếm trước, còn hơn để người Tần chiếm lấy!”

“Tại hạ hiểu rồi!” Chiêu Dương ôm quyền vái sâu một vái, trịnh trọng gật đầu.

Tuy nhiên, Chiêu Dương lại không hề nghe theo lời tiến cử của Trần Chẩn.

Cân nhắc đi cân nhắc lại, Chiêu Dương đã tiến cử lên Uy Vương, phong quận thú Kiềm Trung Trang Kiều làm chủ tướng, con của Khuất Vũ là Khuất Cái làm phó tướng, đưa ra kế sách chế Tần bằng hai lộ giáp kích, một lộ do đích thân Trang Kiều dẫn quân, xuôi theo dòng Ô Giang mà xuống, trực tiếp chiếm lấy Bồi Lăng; lộ còn lại do Khuất Cái đích thân thống lĩnh, xuất quân từ Ngư Phục tiến về phía tây, dọc theo Giang Thủy và đường núi hai bờ Giang Thủy, chia thành hai quân thủy, lục đồng thời tiến công, mục tiêu cũng là Bồi Lăng.

Tiến cử này của Chiêu Dương cũng là thượng sách. Trang Kiều vốn là mãnh tướng, cai quản quận Kiềm Trung đã gần hai mươi năm, thường xuyên đối đầu với người Ba. Từ Kiềm Trung đi xuôi theo Ô Giang về phía bắc, có thể trực tiếp đến được Bồi Lăng, thuận lợi hơn rất nhiều so với từ Ngư Phục đi ngược dòng về phía tây. Để tranh giành suối muối ở núi Phục Ngưu bên bờ nam Giang Thủy, Trang Kiều từng nhiều lần phái quân xuôi dòng Ô Giang mà xuống, mấy đợt tiến quân sát sạt Bồi Lăng. Không những thế, để chiếm được thế thượng phong trong giao chiến với người Ba, Trang Kiều còn chú trọng quan hệ giao hảo với Thục, kết mối tư giao thân thiết với Thục Vương, con trai trưởng của ông ta là Trang Thắng lấy con gái thứ của Thục Vương làm vợ, còn con gái trưởng của ông ta là Trang Sắc cũng được gả cho con trai trưởng của tướng quốc nước Thục, kết tình thông gia với cả cặp đôi quân thần quyền lực nhất nước Thục.

Muốn chế ngự được người Tần, trước tiên cần phải chế ngự được Ba. Mà vùng đất yết hầu của người Ba, lại chính là Bồi Lăng.

Đất Ba rộng lớn, nhưng kỳ thực chỉ có bốn vùng đất trọng yếu, Bồi Lăng nằm ở chỗ giao nhau giữa Ô Giang và Giang Thủy, là vùng đất đứng mũi chịu sào. Thứ hai là Giang Châu, khống chế Giang Thủy và Tiềm Thủy. Tiếp theo là Điếm Giang, khống chế Tiềm Thủy, Bồi Thủy và Ba Thủy. Địa điểm an toàn nhất chính là Lang Trung, nằm bên bờ Tiềm Thủy, đông có Ba Thủy, tây có Bồi Thủy, bắc có nước Thư, nam có Điếm Giang, đây là vùng đất gan ruột của nước Ba, nên Ba Vương mới cho xây dựng cung điện tại đây.

Là nơi an táng tiên quân của người Ba, Bồi Lăng tuyệt đối không được mất, vì vậy người Ba đã đặt trọng binh phòng thủ tại đây. Nếu như Bồi Lăng thất thủ, không những huyết mạch của người Ba sẽ bị cắt đứt, mà toàn bộ những người dân Ba sống dựa vào thuyền bè ở lưu vực Ô Giang cũng sẽ mất đi chỗ dựa, phải phụ thuộc vào người Sở.

Chính vì điều này, Ba Vương đã cho người con thiện chiến kiêu dũng nhất của mình là trưởng nam Vận Yểm cầm hai vạn bộ binh trấn thủ ở đây, ngoài ra còn bố trí ba trăm thuyền bè yểm hộ. Trọng trấn Giang Châu cách đấy không xa do con trai thứ của Ba Vương là Thố Cừu trấn giữ, nắm trong tay một vạn năm nghìn hùng binh, dựa vào ưu thế thượng nguồn, có thể đến viện trợ bất cứ lúc nào.

Người Ba anh dũng thiện chiến, lại có được ưu thế thượng nguồn, nếu nóng vội sẽ khó lòng chinh phục. Trong khi tình hình ở Xuyên Trung đã cấp bách như nước lửa, không thể kéo dài thêm một ngày. Chiêu Dương đích thân đến quận Kiềm Trung cùng bàn mưu với Trang Kiều, quyết định sẽ hợp tác với người Thục. Chỉ cần Sở, Thục liên thủ, mau chóng khuất phục người Ba, Thư trước khi người Tần đến, màn kịch tiếp theo sẽ thuận lợi hơn nhiều.

Màn kịch lớn này cần một điều kiện tiền đề, đó là người Sở buộc phải đánh thắng được người Ba trước khi người Tần đến, người Thục cũng cần phải đánh bại người Thư trước khi người Tần đến, khống chế “con đường trâu thần” mới được mở thông.

Chỉ cần người Tần không vào được đất Xuyên, thế cục Ba, Thục sẽ hoàn toàn bị người Sở khống chế.

Binh quý ở thần tốc.

Trang Kiều nhận được mệnh lệnh, lập tức dốc toàn lực tiến quân. Hai lộ năm vạn đại quân giống như một gọng kìm, mở toang miệng máu kẹp về phía Bồi Lăng.

Đồng thời, vợ chồng trưởng nam của Trang Kiều là Trang Thắng cũng cải trang thành thương nhân bán muối, lên một con thuyền chở muối lớn, dọc theo Ô Giang vùn vụt tiến về phía bắc, từ Bồi Lăng đi ngược dòng về phía tây đến Giang Châu, sau đó bỏ sông lên bờ, tập hợp thành một đoàn xe chở muối khí thế rầm rộ, tiến thẳng đến Thành Đô của nước Thục.

Ngồi trong cỗ xe kiệu đi giữa đoàn người là một vị thương nhân mang dáng dấp người Ba đang ngồi nghiêm khép mắt, thần thái an nhàn.

Tuy nhiên, người tinh mắt vừa nhìn là phát hiện ra ngay, người Ba này vẫn chưa quen với phục sức trên người, đặc biệt là bộ dạng béo trắng, văn nhã của ông ta, còn cả cái bụng to chảy xệ do lâu ngày ăn trắng mặc trơn, biếng lười vận động, khác hẳn với dáng dấp gầy đen săn chắc, linh hoạt nhanh nhẹn của người Ba sống trên núi rừng.

“Người Ba” này chính là vị tiên sinh trông nom sổ sách mà “nhà buôn muối lớn” Trang Thắng mới mời về - Trần Chẩn.

Một vùng Thành Đô yên bình an thái.

Thành Đô là đô thành cuối cùng của vương triều Khai Minh nước Thục, mà nước Thục lại luôn được nhắc đến cùng với nước Ba, nếu truy nguyên đến ngọn nguồn, có thể tính đến đời Phục Hy thị. Thời Hoàng Đế, con trai của Hoàng Đế là Xương Ý lấy con gái nước Thục (con gái của Thục Sơn thị), sinh ra Cao Dương, cũng chính là Đế Cốc. Đế Cốc phong cho con thứ của mình đất Thục, ban tước hầu bá, trải qua ba triều Hạ, Thương, Chu. Khi Vũ Vương phạt Trụ, nước Thục và nước Ba cùng tham gia, đều được phong làm tử quốc. Đất Thục đông giáp với Ba, nam giáp với Việt, bắc giáp với Tần, tây đến Nga Bà, gọi là thiên phủ.

Thục Vương bắt đầu từ Tàm Tùng, sau đó là Bách Quán, sau nữa là Ngư Phù. Tương truyền Ngư Phù đắc đạo thành tiên, kế thừa ngôi vị của ông là Đỗ Vũ. Đỗ Vũ thấy nước Ba xưng vương, không chịu đứng ngang hàng, liền xưng đế, hiệu là Vọng Đế. Thời đó thủy tai liên miên, dân chúng khốn đốn, Vọng Đế liền phong Biết Linh người Kinh làm tướng quốc, khơi núi Ngọc Luỹ để dẫn nước, khiến nước từ có hại thành có lợi, được người dân Thục hết sức kính phục. Vọng Đế học theo cái nghĩa của Nghiêu Thuấn, đã nhường lại đế vị cho Biết Linh.

Biết Linh kế ngôi, xây dựng Tân Đô, đổi quốc hiệu là Khai Minh, tự xưng là Tùng Đế. Trong thời gian Tùng Đế và con trai của ông ta là Lư Đế trị vì, chú trọng thủy lợi, phát triển nông nghiệp, chính trị trong sáng, khai hoá chữ viết, học theo Trung Nguyên thiết lập chế độ đinh dịch, cứ năm hộ là một đội, mỗi hộ xuất một tráng đinh, các tráng đinh lại được phân chia theo chủng loại công việc, chia thành thổ đinh, thủy đinh, mộc đinh, thạch đinh và kim đinh, gọi chung là ngũ đinh, chia ra thì ai theo nghề nấy, hợp lại thì dời núi vỡ non, mở mang bờ cõi. Nhờ cách cai trị như vậy, vương triều Khai Minh quốc lực hùng mạnh, biên cương được mở rộng, đông vượt quá Tiềm Thủy, bắc bá chiếm Bao Hán (đất Hán Trung), tây chinh phạt Thanh Y (nước Khương), nam khuất phục các nước Di vùng tây nam.

Sau thời Lư Đế, triều Khai Minh lại trải qua chín đời Bao Tử Đế, Thanh Đế, Xích Đế, Hoàng Đế, Bạch Đế, Hắc Đế, Thánh Đế. Trong thời gian đó, Tân Đô lại gặp thủy tai, nên dời đến Quảng Đô. Đến triều Khai Minh thứ mười, Khứ Đế xưng vương, đô thành lại được chuyển từ Quảng Đô đến Thành Đô. Từ sau đó cho đến nay, vương triều Khai Minh lại trải qua ba đời, Thành Đô dần dần trở thành đô thị của đất Thục với hơn ba vạn hộ dân, hơn mười vạn nhân khẩu. Phóng mắt nhìn ra, đúng là một vùng quần cư trù phú, mặc dù không thể sánh được với sự phồn hoa của Sính Đô, nhưng đã được coi là giàu có.

Đoàn xe chở muối từ xa rầm rộ tiến về, cuốn bụi đường tung bay mù mịt, tiến thẳng vào một khu vực phồn hoa. Hai bên đường, quán rượu, quán trọ mọc lên dày đặc, bên đường người đi chen vai thích cánh, mỗi người một nghề, ai làm việc nấy. Rõ ràng, nơi này đã trở thành chốn đô thành náo nhiệt.

Trần Chẩn rất đỗi ngỡ ngàng, hai mắt mở to, dường như đang tìm kiếm thứ gì đó.

“Đại nhân!” Gã thanh niên người Ba đã đi theo ông ta suốt dọc đường thấy ông ta chăm chú đến vậy, liền khẽ giọng hỏi. “Đại nhân đang nhìn gì vậy?”

“Đã đến đâu rồi?” Trần Chẩn tò mò hỏi.

“Thành Đô!” Gã người Ba chỉ về phía trước. “Trước mặt chính là vương cung.”

“Ồ!” Trần Chẩn càng thêm kinh ngạc. “Tại sao không qua cổng thành, cũng không thấy tường thành?”

“Đại nhân có điều không biết, Thành Đô không có tường thành, cũng không có cổng thành!”

“Ồ…” Trần Chẩn kinh ngạc hỏi. “Nếu kẻ địch đánh tới thì sao?”

“Lấy đâu ra kẻ địch đánh tới?” Người Ba cười nói. “Đất này bốn bề đều là núi non, cả trăm nghìn năm nay, người Thục hầu như không có đối thủ.”

“Không phải còn có người Ba các vị hay sao?”

“Người Ba và người Thục không phải là đối thủ. Người Ba quanh năm sinh sống trên vùng núi Xuyên Đông, không quen đường bằng phẳng, không thích trồng trọt, không có hứng thú với Thành Đô. Người Thục cũng chẳng có hứng thú với vùng núi non của chúng tôi, vì vậy Ba, Thục nước sông không phạm nước giếng, ai làm việc nấy, ngoài việc buôn bán giao thương, còn ít khi qua lại. Hơn nữa, người Thục cũng đã bố trí phòng thủ ở biên cương, dọc tuyến Bồi Thủy đều có ngũ đinh, người Ba hơi có động tĩnh, nước Thục lập tức biết ngay, cho dù muốn đánh cũng chẳng phải dễ.”

“Nhưng sao ta lại nghe nói, mới mấy năm trước, Ba, Thục từng có chiến sự?”

“Đúng thế!” Gã người Ba đáp. “Đó là vì Thư Hầu. Thư Hầu bất mãn với việc Thục Vương lạm dụng ngũ đinh, liền mượn binh của người Ba để hỏi tội, thật không ngờ chưa đến Thành Đô đã bị tướng quốc dẫn binh đánh bại!”

“Hỏi tội?” Trần Chẩn kinh ngạc hỏi. “Thư Hầu là vương đệ, hưng binh phạt Thục, đó là tội mưu phản mới đúng, sao có thể nói là hỏi tội?”

“Nói đến chuyện này thì dài lắm.” Người Ba đang định kể lể, bỗng vội ngẩng đầu, cười nói. “Đại nhân hãy nhìn xem, đã đến cung thành rồi!”

Trần Chẩn đưa mắt nhìn, quả nhiên, một toà cung thành nguy nga hoa lệ đã hiện ra ngay trước mặt.

Trần Chẩn đang định xuống xe, thì Trang Thắng cùng phu nhân xuống xe từ trước đã tiến lại gần, đích tay đặt ghế kê chân cho ông ta, đỡ xuống xe, vòng tay nói: “Trần đại nhân, đã đến cung thành. Thuyết phục đại vương như thế nào, đều phải dựa vào đại nhân đây!”

“Không đúng, không đúng!” Trần Chẩn đáp lễ, rồi quay sang phu nhân của Trang Thắng, tức thứ công chúa của nước Thục, lại vòng tay, khẽ mỉm cười nói. “Có thể thuyết phục được đại vương hay không, còn phải trông vào thể diện của tôn phu nhân đây!”

“Phụ vương…” Trang Thắng phu nhân mắt đỏ hoe, ngập ngừng một lúc, rồi đưa tay áo lau nước mắt, sắc mặt buồn bã, “có thể thuyết phục được hay không, đại nhân cứ vào cung sẽ biết!” Nói đoạn, không thèm đáp lễ Trần Chẩn, lập tức quay phắt người, đi thẳng một mạch vào cửa cung.

Thấy công chúa nói năng như thế, lại buồn rầu đến vậy, Trần Chẩn không khỏi sững sờ, bất giác quay sang nhìn Trang Thắng.

Trang Thắng cười gượng một tiếng, chìa tay nói: “Đại nhân, mời!”

Trần Chẩn, Trang Thắng rảo bước theo sau công chúa tiến vào cung thành.

Vừa vào cửa cung, một bầu không khí ngột ngạt lập tức ập thẳng tới trước mặt.

Không chỉ là ngột ngạt.

Hoàn toàn khác với cảnh tượng ồn ào náo nhiệt bên ngoài, bên trong cung thành nặng nề tử khí. Đoàn người của Trần Chẩn đi theo cung nhân túc trực vào trong, suốt dọc đường đi, đừng nói là người sống, ngay cả vật sống cũng không hề trông thấy.

Cung nhân túc trực đưa họ vào thiên điện, sắp xếp chỗ ngồi, pha trà mời, sau đó lặng lẽ đứng hầu bên cạnh.

Trần Chẩn cảm thấy quái lạ, liếc nhìn công chúa một cái, rồi quay sang Trang Thắng hỏi nhỏ: “Này, Trang tướng quân, tại sao lại không dẫn đến yết kiến đại vương?”

Trang Thắng nhìn về phía cung nhân.

“Xin khách nhân hãy kiên nhẫn đợi cho một lát!” Cung nhân khom lưng đáp. “Đại vương và toàn bộ triều thần đều đã lên triều.”

“Lên triều càng tiện bẩm chuyện!” Trần Chẩn cười nói.

“Cảm phiền chuyển tấu với đại vương, nói rằng có đặc sứ của Sở Vương là Trần Chẩn cầu kiến.”

Cung nhân còn chưa kịp đáp lời, thình lình có tiếng nhạc bi ai mơ hồ tựa như từ trên trời vẳng xuống, âm thanh rất khẽ, nhưng trong bầu tĩnh mịch nặng nề nhường này, lại như xuyên thẳng vào trong màng nhĩ.

Trần Chẩn bất giác ớn lạnh sống lưng, nghiêng tai lắng nghe.

Tiếng nhạc bỗng lớn hơn, đã xen lẫn dư âm chuông khánh. Trần Chẩn từ nhỏ đã thông thạo âm luật, sau lại được hầu hạ Ngụy Vương, kết giao với công tử Ngang, lại càng am hiểu hơn nữa, vậy mà nghe thấy khúc nhạc này, sắc mặt lại lộ vẻ ngơ ngác, ngẩng nhìn công chúa và Trang Thắng, thấy cả hai người đều cúi gục đầu, trông rất mực đau thương, bèn quay sang hỏi cung nhân: “Là nhạc gì vậy?”

“Hồi bẩm đại nhân, là tiếng nhạc thượng triều của đại vương!”

“Ồ…” Trần Chẩn kinh ngạc. “Thượng triều sao lại tấu nhạc bi ai nhường vậy?”

“Trần đại nhân!” Công chúa lên tiếng. “Chẳng phải đại nhân muốn xem đại vương nước Thục thượng triều như thế nào ư?”

Trần Chẩn gật đầu.

“Trần đại nhân, vậy thì xin mời!” Công chúa đứng dậy, cũng chẳng buồn nhìn mọi người, lập tức cất bước đi luôn.

Vương thành Khai Minh rộng lớn mênh mông, mặc dù bề ngoài cũng mô phỏng theo vương cung Trung Nguyên, nhưng phòng ốc lại rất thưa thớt, không có cái vẻ quý đất như vàng, tầng tầng san sát như vương cung ở Trung Nguyên. Đoàn người đi hết nửa tuần hương mới băng qua được khu cung điện, bước vào khu vườn ở góc tây bắc, nơi đây cây cối rậm rạp, hoa nở rực rỡ, nếu ở Trung Nguyên, khu vườn này xứng đáng được gọi là vườn ngự lâm.

Trần Chẩn đang lúc hồ nghi, thì tại góc phía bắc của khu vườn, nơi có thể nhìn thấy bức tường cung điện, thình lình hiện ra một đám cung nhân, có nam có nữ, có già có trẻ, thoạt nhìn không dưới nghìn người, tất cả đều vận y phục trắng toát, cùng quỳ dưới đất, ánh mắt chằm chằm nhìn lên một đài đất.

“Thì ra là vậy!” Trần Chẩn lẩm bẩm. “Chẳng trách trong cung không thấy bóng người!”

Công chúa đi đầu tiên đã dừng lại dưới một gốc cây lớn phía xa, ánh mắt đau thương nhìn về phía đài đất. Đám Trang Thắng, Trần Chẩn… đứng ở bên cạnh. Một cung nhân dẫn đường đi tới, tiến lại quỳ xuống trước mặt mọi người.

Đài đất rộng chừng ba mẫu, cao chừng bảy thước, có hình lục giác. Trên đỉnh đài có một bãi trống rộng chừng một mẫu, trông hơi giống như sân khấu hý kịch trong dân gian Trung Nguyên, hai bên đài mỗi bên có sáu mươi tư vị nhạc sư đang quỳ, tay cầm chuông, khánh, vu, tiêu, sênh, sáo, ai nấy thần tình chuyên chú, đang hợp tấu một khúc nhạc tang tóc bi thảm.

Đột nhiên, tiếng nhạc trở nên gấp gáp, sáu mươi tư vu nam vu nữ mặc y phục đồng cốt đủ màu rực rỡ chia thành hai đường tiến lên đài, nhảy múa cuồng loạn. Tiếp sau đó, đại vu chúc đăng đài, dẫn đầu nhảy múa.

Điệu múa kết thúc, tiếng nhạc ngừng bặt, đám vu nam vu nữ lui sang hai bên, biến thành hai bức tường người. Đại vu chúc quay mình, nghênh đón một hán tử thân hình vạm vỡ mặc y phục trắng.

Chẳng cần hỏi nhiều, hán tử áo trắng kia hẳn là Khai Minh Vương Lư Tử.

Xung quanh lặng phắc, không khí ngưng trệ.

Khai Minh Vương đứng sững trên đài, bái lạy trời đất tứ phương mỗi phương một lạy, sau đó ngồi lên vương vị đã được bày sẵn ở chính giữa.

Đại vu chúc đi tới trước đài, quay mặt xuống dưới cất giọng sang sảng: “Khai Minh Vương giá lâm, quần thần thượng triều!”

Dưới đài rậm rịch tiếng bước chân, quần thần chia thành hai hàng, thảy đều mang tang phục trắng, nối nhau đi ra, chia thành hai hàng, quỳ xuống đối diện với Khai Minh Vương, đồng thanh hô vang: “Chúng thần bái kiến Khai Minh Vương, bái kiến Khổng Tước vương phi!”

Khai Minh Vương giơ hai tay lên cao, sau đó phẩy xuống: “Chúng khanh bình thân!”

“Tạ ơn đại vương, tạ ơn vương phi!” Quần thần lại bái tạ, rồi đổi quỳ thành ngồi.

“Khổng Tước vương phi?” Trần Chẩn lẩm bẩm nhắc lại, rồi hạ giọng hỏi Trang Thắng. “Sao không thấy đâu?”

“Đại nhân sẽ thấy ngay thôi!” Trang Thắng hất hàm về phía đài.

Lời vừa dứt, đại vu chúc đã bước đến giữa đài, hai tay giơ lên, cất giọng hùng hồn: “Nổi nhạc, ‘Về lũng’…” Chữ “lũng” phía sau kéo dài lê thê. Khi tiếng hô kết thúc, hai tay chợt vung thật mạnh.

Tiếng nhạc lại nổi lên trầm hùng.

Đám vu nam vu nữ lại nhảy nhót theo tiếng nhạc. Đại vu chúc đi sang bên cạnh, vén một bức rèm cao rộng ra, để lộ một khối đá cao lớn lừng lững, đường kính chừng năm thước, cao chừng ba trượng.

Trên tấm bia khắc rành rọt một hàng đại tự: “Nơi an nghỉ của ái phi Khổng Tước của Khai Minh Vương Lư Tử”.

Nhịp âm nhạc trở nên chậm rãi, dìu dặt.

Trong tiếng nhạc, Khai Minh Vương chậm chạp đứng dậy, quay người lại, đưa ánh mắt chan chứa thâm tình nhìn sững vào tấm bia lớn.

Đại vu chúc nhảy múa một điệu vũ quái dị trước tấm bia, vừa nhảy vừa di chuyển về phía sau tấm bia. Đến khi đại vu chúc xuất hiện từ phía bên kia của tấm bia, đi theo sau có thêm bốn người nữa, một ông già, một người đàn bà, một thanh niên, và cuối cùng là một nam thiếu niên xinh đẹp.

Bốn người cùng bước ra, vừa đi vừa ngoảnh đầu nhìn lại phía sau. Đặc biệt là thiếu niên xinh đẹp, cứ ba bước lại ngoái nhìn một lần, vừa nhảy múa, vừa khóc, từ từ tiến ra giữa đài.

Cùng lúc đó, đại vu chúc cao giọng ngâm nga:

“Phượng non rời lũng chừ, Vũ Đô đất Xuyên.

Tóc mây mày liễu chừ, má hồng thiền quyên,

Cha anh mưu lớn chừ, mùa xuân về nam.

Mình ngọc áo dày chừ, bụi phủ hồng nhan.”

Sáu mươi tư vu nam vu nữ đồng thanh hợp xướng: “Hồng nhan, hồng nhan…”

Đại vu chúc tránh sang một bên, bốn người kia đi tới giữa sân khấu, thiếu niên xinh đẹp khóc sụt sùi, hát rằng:

“Ngoái nhìn bịn rịn chừ, lưu luyến vườn xưa.

Lũng Sơn không thấy chừ, quê nhà xa ngái.

Tháng năm đến Thục chừ, tháng bảy gặp vua.

Ngồi xe nhập cung chừ, giường ngọc ân ái.”

Thiếu niên vừa hát, vừa từ từ đi về phía Khai Minh Vương, cầm lấy tay nhà vua, hai người nhìn nhau, ý tình tha thiết, rồi cùng nhảy múa trong tiếng nhạc, sắc mặt tràn đầy đau thương u uất.

Thiếu niên hát xong, bèn cùng Khai Minh Vương đi ra phía sau tấm bia, đám nam vu nữ vu lại cùng hợp giọng hát lên: “Ân ái, ân ái…”

Tiếng nhạc tiếp tục, giai điệu càng thêm thảm sầu. Chốc sau, một mỹ nữ tuyệt thế, cũng chính là Khổng Tước vương phi, cùng với Khai Minh Vương đi ra từ phía sau tấm bia. Khổng Tước vương phi dựa cột nhìn về phía bắc, rất đỗi đau buồn.

Khai Minh Vương nhìn mỹ phi đắm đuối, đau đớn tột cùng, cũng mở miệng ngâm:

“Đông đi xuân đến chừ, nhạn bay về bắc.

Dựa cột ngóng quê chừ, ái phi buồn thương.

Giọng oanh nức nở chừ, lòng vua quặn thắt.

Dựng đài Đông Bình chừ, an ủi lòng nàng.”

Trong tiếng hợp xướng của đám vu chúc, Khổng Tước vương phi bất tỉnh trong lòng Khai Minh Vương. Khai Minh Vương bế bổng vương phi lên, từ từ bước về sau tấm bia. Các quan ở dưới đài ai nấy đều đầm đìa nước mắt, khóc lóc đau thương.

Tiếng nhạc càng bi thiết đứt ruột, năm tráng đinh trong bộ dạng lực sĩ gánh đất, lưng uốn cong, nhích từng bước một, ra vẻ khó nhọc đi qua đi lại trên đài, luôn miệng bật ra những tiếng kêu: “Hầy dô… Hầy dô…”

Tiếng hò dô nhỏ dần, đại vu chúc lại hát:

“Lòng nàng chẳng khuây chừ, hồn phách ly tán.

Ý vua không đôi chừ, ngũ đinh gánh nặng.

Gánh đất trong lũng chừ, xây mộ cho nàng.

Ba năm mộ thành chừ, thân phượng về lũng.”

Năm tráng đinh đặt quang gánh xuống, rớt nước mắt hát theo: “Về lũng, về lũng…”

Năm tráng đinh từ từ vòng ra sau tấm bia trong tiếng hát.

Điệu nhạc càng thêm lê thê sâu oán, Khai Minh Vương chậm chạp bước ra từ sau tấm bia, trông như một kẻ mất hồn, cơ thể dật dờ trên đài đất, hệt kẻ mộng du.

Dưới đài rộ lên tiếng khóc thảm thương.

Đại vu chúc hoa chân múa tay, giọng điệu rền rĩ, tiếng ngâm kéo dài run rẩy:

“Thân phượng về thung chừ, đại vương thương tiếc.

Sênh khánh ngâm rền chừ, tình ý tha thiết.

Âm dương hai ngả chừ, tái ngộ mong gì?

Mộng hồn quanh quẩn chừ, chỉ vì ái phi.”

“Trời xanh ơi…” Khai Minh Vương quỳ sụp xuống đất, ngửa mặt lên trời, hai tay giơ cao, cất giọng khàn đặc mà thống thiết. “Ái phi ơi…”

Tiếng gọi bi thương vừa dứt, tất cả mọi người trên đài, bao gồm cả đại vu chúc, cùng cất giọng hợp xướng: “Ái phi, ái phi…”

Lời hợp xướng đứt gan đứt ruột từ từ lắng xuống, nhưng dư âm vẫn như văng vẳng. Tiêu sáo đồng thanh nổi lên, thê lương rền rĩ.

“Trời xanh ơi…” Mấy nghìn người ở dưới đài dường như cũng bị bao trùm trong bầu không khí bi thảm lớn lao kia, cùng đồng thanh ngâm nga, dập đầu sát đất, cảnh tượng vô cùng choáng ngợp.

Sau đó, nghi thức “lên triều” bước sang đoạn truy điệu còn bi thiết thảm sầu hơn nữa. Khai Minh Vương đứng đối diện với tấm bia, đích thân ngâm khúc “Du nha ca” trong tiếng nhạc bi ai:

“Than ôi, than ôi,

Chim công bay rồi!

Than ôi, than ôi,

Bỏ ta đi rồi!

Than ôi, than ôi!

Xa tít tận trời!

Than ôi, than ôi!”

Nghi thức truy điệu kéo dài tới hai canh giờ, cho đến khi những người có mặt đều phải tan nát cõi lòng trong tiếng nhạc ai điếu. Khi nghi thức kết thúc, Khai Minh Vương đã như một người ngây dại, gần như bất tỉnh nhân sự, được đám cung nhân khiêng về tẩm cung.

Mặc dù Trần Chẩn đi nam về bắc, hiểu nhiều biết rộng, nhưng cũng phải mắt tròn mắt dẹt trước cảnh tượng này, bèn quay sang Trang Thắng muốn hỏi rõ đầu đuôi. Song Trang Thắng liếc nhìn công chúa, không muốn nói nhiều.

Rõ ràng, tình trạng hiện tại của Khai Minh Vương không hề thích hợp để bàn quốc sự.

Sau khi nghi thức kết thúc, công chúa vào cung vấn an mẫu thân, Trang Thắng đi cùng Trần Chẩn đến dịch quán nghỉ ngơi.

Tất cả đã được sắp đặt ổn thoả, Trang Thắng thấy Trần Chẩn có vẻ mệt, liền cáo từ: “Đại nhân đi đường vất vả, hãy nghỉ ngơi cho sớm. Sáng mai thức dậy, tại hạ sẽ đến thăm đại nhân, cùng bàn đại sự.”

“Cũng được, cũng được!” Trần Chẩn mỉm cười, ra vẻ bình thản. “Mời tướng quân ngồi một lát, tại hạ có điều muốn thỉnh giáo.”

“Thỉnh giáo thì không dám!” Trang Thắng vòng tay. “Đại nhân cứ nói!”

“Không giấu tướng quân, về chuyện nam nữ, tại hạ trước nay không mấy để tâm. Thế nhưng hôm nay, tại hạ đã vô cùng cảm động. Mối tình cách trở âm dương giữa đại vương và Khổng Tước vương phi, thật khiến đất trời đau xót, quỷ thần nhỏ lệ, nếu không được tận mắt chứng kiến, tại hạ hẳn ngỡ là chuyện đùa.”

Trang Thắng thở dài một tiếng, coi như trả lời.

“Tấm si tình của đại vương, tuy đã thổ lộ qua màn múa hát, nhưng vẫn chỉ là sơ lược. Tại hạ là người hiếu kỳ, rất muốn biết rõ sự tình chi tiết bên trong, mong tướng quân chớ tiếc lời chỉ giáo!”

“Ờ…” Trang Thắng do dự một lát rồi đáp. “Đại vương là cha vợ của tại hạ, việc của trưởng bối, vãn bối không tiện nói nhiều. Nếu đại nhân muốn hiểu tường tận, có thể gặp một người.”

“Người nào?”

“Trước tiên đại nhân hãy nghỉ ngơi một đêm, đợi sáng mai thức dậy, tại hạ sẽ dẫn đại nhân đi gặp!”

“Tại hạ không hề mệt mỏi!” Lòng hiếu kỳ của Trần Chẩn đã bị Trang Thắng khơi dậy, liền đứng vội dậy mà nói. “Phiền tướng quân hãy dẫn đi gặp ngay bây giờ!”

Thấy Trần Chẩn khăng khăng cố chấp, Trang Thắng không tiện từ chối. Hai người thay đổi y phục, đi thẳng ra khỏi dịch quán, tiến về phía đông. Hai người vừa đi vừa trò chuyện, chưa được mấy câu đã đến nơi.

Trước mặt họ là một phủ trạch trang nghiêm, có hai vệ sĩ cầm kích đứng canh ngoài cổng.

Hai người đứng đợi một lúc, thì một cặp vợ chồng trẻ tuổi đi ra nghênh đón. Thiếu phụ gọi một tiếng “Anh ơi”, rồi chạy như bay tới, níu lấy cánh tay Trang Thắng. Còn người nam thì khom lưng vòng tay vái chào: “Nghe nói đại ca, đại tẩu đã đến, tại hạ đang định cùng Sắc Nhi tới thăm hai người!”

“Đa tạ em rể!” Trang Thắng đáp lễ, rồi chỉ vào Trần Chẩn nói. “Vị này là Trần đại nhân, đặc sứ của Sở Vương.”

“Bách Thanh xin chào đặc sứ đại nhân!” Người này khom lưng vòng tay vái chào, rồi chìa tay mời. “Đặc sứ đại nhân, mời!”

Mọi người bước vào trong phủ, ngồi được một lúc thì một ông già tuổi chừng sáu chục nhưng tinh khí thần sung mãn được Trang Sắc dìu đỡ, chậm rãi tiến vào cửa phòng.

Chào hỏi xong xuôi, mọi người chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Biết được người trước mặt là đặc sứ của Sở Vương, đôi mắt chim ưng của ông già bỗng rọi ra hai luồng nhãn quang sáng rực, chiếu thẳng vào mặt Trần Chẩn. Trần Chẩn cũng chẳng hề sợ hãi, nheo đôi mắt hí, nhìn lại ông già.

Ông già thu ánh mắt lại, khẽ gật đầu, cất giọng ôn tồn: “Lão hủ Bách Quán xin chào đặc sứ đại nhân!”

Thì ra ông già ngồi trước mặt họ chính là lão tướng quốc Bách Quán, nhân vật quyền thế khuynh đảo triều nội trong triều Khai Minh! Trần Chẩn thầm giật nảy, vội vàng đứng dậy, vòng tay mà nói: “Vãn sinh Trần Chẩn bái kiến tướng quốc!”

“Đặc sứ bất tất phải khách khí.” Bách Quán xua tay, chỉ xuống chiếu. “Mời ngồi!”

Đợi Trần Chẩn yên vị, Bách Quán không còn khách sáo nữa, đi thẳng vào đề: “Đặc sứ không ngại vất vả, trèo núi băng sông, đến tận nơi hoang vu hẻo lánh này, không biết có điều gì chỉ bảo?”

“Chỉ bảo thì không dám!” Trần Chẩn vòng tay đáp. “Lần này vãn sinh đến, là phụng chỉ ý của Sở Vương, chuyển thư cấp báo đến đại vương và tướng quốc.”

“Ồ?” Bách Quán thoáng giật mình. “Thư cấp báo ở đâu?”

Trần Chẩn rút từ trong tay áo ra một bức thư do đích thân Chiêu Dương viết, có đóng tỷ ấn, hai tay giao cho Bách Quán.

Bách Quán mở thư xem xong, hít sâu một hơi dài, chìm vào suy tư, hồi lâu mới quay sang Bách Thanh: “Đi, mời thái tử điện hạ!”

Một lát sau, thái tử Tu Ngư giá lâm, vội vã đọc qua bức thư, sững lại một thoáng: “Người Tần muốn mưu đồ ta? Không thể nào!”

“Không phải mưu, mà là diệt nước!” Trần Chẩn trầm giọng nói.

Có lẽ bị chấn động trước hai chữ “diệt nước”, Tu Ngư chết lặng mất một lúc mới bừng tỉnh, rồi thình lình phá lên cười một tràng dài: “Ha ha ha ha! Diệt Đại Thục của ta ư?” Lại cười lớn mấy tiếng, quay sang Bách Thanh. “Bách tướng quân, tướng quân có nghe rõ không? Người Tần muốn mưu đồ ta! Người Tần muốn tiêu diệt triều Khai Minh của ta! Ha ha ha ha! Dựa vào sức của người Tần ư?” Rồi liên tiếp lắc đầu. “Không phải người Sở đã bị người Tần dọa cho sợ vỡ mật rồi đấy chứ?”

“Điện hạ!” Bách Thanh hạ giọng bẩm báo. “Theo thần được biết, Thư, Ba đã làm xong con đường núi rộng năm thước, thẳng đến Bao Hán. Từ Bao Hán đến Thổ Phí, nếu đi nhanh thì chỉ hai mươi ngày là đến!”

“Đến thì đã sao?” Tu Ngư cười nhạt một tiếng. “Thời tiên đế đã đánh vài trận với người Tần, người Tần không lần nào không nghe danh mà tan tác, suýt nữa còn đánh mất cái tổ cũ Dung Đô! Đến thời phụ vương, người Tần khinh khi phụ vương nhỏ tuổi mới lên ngôi, tranh cướp Bao Hán của ta, lại giao chiến, kết quả thế nào? Người Tần lại toàn quân tan vỡ, ha ha ha ha! Lần đó chính lão tướng quốc đây tự tay cầm quân!” Rồi quay sang nhìn Bách Quán, vẻ vô cùng đắc ý. “Có phải vậy không, tướng quốc?”

“Phải, điện hạ!” Bách Quán dõng dạc đáp, trên mặt lộ nét cười nhạt. Trận chiến Bao Hán là chiến công lừng lẫy nhất trong cuộc đời ông ta, giờ vẫn thường được người ta nhắc đến, chính là niềm tự hào của Bách Quán.

Tu Ngư lại phá lên cười chế nhạo: “Người Tần bị lão tướng quốc đánh cho tan tác, Tần Công bất đắc dĩ phải cùng phụ vương mở hội thề tại Bao Hán, không những tự nguyện xưng thần, còn cống nạp trăm dật vàng và vô số bảo bối. Đặc sứ đại nhân hãy thử đoán xem, phụ vương đã dùng vật gì để đáp lễ Tần Công?”

Trần Chẩn nheo nheo hai con mắt ti hí, khẽ lắc đầu.

“Ha ha ha ha!” Tu Ngư phá lên cười sặc sụa. Cười xong, ném toẹt bức thư lên mặt bàn, khinh khỉnh mà nói. “Ta biết đại nhân không thể đoán ra đâu! Phụ vương nhận được đồ cống nạp của Tần, tiện tay bốc lấy một nắm đất, cho vào trong hộp rỗng, tiện tay tặng lại! Ha ha ha ha, một nắm đất, một nắm đất bùn! Mối nhục nhường này, nếu Tu Ngư là Tần Công, chắc chắn sẽ đập đầu chết ngay tại núi Chung Nam cho rồi!” Quay sang Bách Quán. “Tướng quốc, lời của Tu Ngư, có chỗ nào không đúng chăng?”

“Điện hạ nói rất đúng!” Bách Quán nói thêm. “Chỉ có một chi tiết hơi khác một chút so với sự thực khi đó. Lúc đó, đại vương nhận được hậu lễ của Tần, nhất thời không có bảo bối gì thích hợp để đáp lễ. Lão thần đang lúc băn khoăn, đại vương liền nhanh trí, dặn nội thân lấy một đống đất bùn, trộn đều với nước, vôi, sau đó đích thân nặn thành nhiều món báu vật, tô thêm màu sắc, đúng là dùng giả thay thật. Ha ha ha, lão thần thật không thể ngờ đại vương lại khéo tay đến vậy.”

“Vẫn là tướng quốc kể chuyện hay!” Tu Ngư nhìn sang Trần Chẩn, ánh mắt đầy khiêu khích. “Đặc sứ của Sở Vương, ông đã nghe rõ cả rồi chứ?”

Trần Chẩn nghe đã rõ ràng, liền phá lên cười còn vang hơn cả Tu Ngư, cơ thể phốp pháp cũng rung lên bần bật theo tiếng cười.

“Ồ, ông cười gì thế?” Tu Ngư ngẩn người hỏi.

“Cười Đại Thục các vị!” Trần Chẩn lại cười thêm mấy tiếng nữa mới dừng lại, nhìn vào Tu Ngư. “Đất Thục của các vị có nhiều chuyện nực cười đến vậy, tại hạ sao có thể không cười?”

“Có chuyện gì nực cười, ông hãy nói xem!” Tu Ngư mặt hơi biến sắc, trầm giọng hỏi.

“Chỉ với những gì hôm nay được biết, đã có ba điều đáng cười. Thứ nhất, vua dại. Thứ hai, chúa cuồng. Thứ ba, tôi ngu dốt!” Trần Chẩn không chút nể mặt, một đòn phủ đầu.

Vua thì không cần nói, chúa là chỉ thái tử Tu Ngư, còn bề tôi…

Tu Ngư, Bách Quán, Bách Thanh ba người đưa mắt nhìn nhau, ai nấy đều lộ vẻ tức giận.

Trang Thắng hốt hoảng, đang định tìm lời chữa cháy thì Trần Chẩn đã đưa tay ngăn lại, dõng dạc nói: “Nước lớn bang giao, vốn dĩ phải vô cùng thận trọng, nhưng vua lại nặn đất làm vật cống, coi như trò hề, há chẳng phải dại? Vua lấy đất của nước mình tặng cho người khác, là điềm báo chẳng lành, bề tôi không khuyên ngăn, ngược lại còn hả hê trong dạ, vênh vang đến tận ngày nay, há chẳng phải ngu? Điện hạ ngông cuồng tự đắc, kiêu căng khinh người, há chẳng phải cuồng? Vua tôi ngồi đáy giếng nhìn trời, chân không ra khỏi đất Thục, không biết đến thay đổi bên ngoài, cứ khư khư ôm chuyện cũ, ngày mất nước đã sờ sờ ngay trước mắt mà không tự biết, há chẳng phải dốt?”

Trần Chẩn một mạch chỉ ra từng sai lầm của vua tôi đất Thục, khiến những người có mặt, đặc biệt là lão tướng quốc Bách Quán xưa nay vẫn luôn nói đâu chắc đấy, bị mất mặt trước điện hạ và con cái, thể diện bị bóc sạch trơn, giận dữ đến hai mắt trợn trừng, nhưng lại không thể phản bác, vì lời Trần Chẩn thoạt nghe câu nào cũng đều có lý.

Không khí nhất thời căng thẳng.

“Điện hạ, tướng quốc đại nhân, và Bách tướng quân!” Trần Chẩn khẽ thở dài một tiếng, vòng tay nói. “Không phải tại hạ dùng lời bức bách, nói quá để dọa dẫm, mà thực sự là tình thế thúc ép, thời cơ không đợi ta!”

“Dám hỏi đặc sứ,” lão tướng quốc là người đầu tiên định thần, sắt mặt lại mà hỏi, “xin hãy nói xem, ngoài núi đã thay đổi thế nào?”

“Thay đổi ở ngoài núi, không đâu lớn hơn nước Tần!” Trần Chẩn đáp. “Hai mươi năm trước, Tần Công dùng biến pháp của Thương Ưởng, khiến quốc lực hùng mạnh, trong trận chiến Hà Tây đã đánh bại võ binh Đại Ngụy, chém đầu tám vạn binh sĩ. Sau đó lại cùng người Sở giao chiến ở Thương Ư, chém đầu ba vạn quân Sở, chiếm được Thương Ư. Liệt quốc Trung Nguyên đều chống lại Tần, kết minh hợp tung, vào năm ngoái, bốn mươi vạn đại quân sáu nước chia thành nhiều lộ, chiếm ải đánh Tần, quân Tần và liên quân sáu nước kịch chiến suốt mấy tháng trời, đại phá quân hợp tung, chém đầu vô số. Sáu nước không dám tiếp tục tiến về phía tây, người Tần liền rảnh tay tập kết đại quân, mài đao tuốt kiếm, vào một ngày gần đây sẽ công chiếm Ba, Thục. Tại hạ… than ôi…” Nói đoạn, thở dài sườn sượt, khẽ lắc đầu.

“Người Tần ghê gớm đến vậy ư?” Bách Thanh hai mắt mở trừng, rõ ràng không chịu tin.

“Người Tần có ghê gớm hay không, đến khi giao chiến sẽ rõ ngay thôi!”

“Đa tạ đặc sứ!” Lão tướng quốc tâm phục khẩu phục, liền đổi sắc mặt, vòng tay vái mà nói. “Lão hủ được thụ giáo rồi! Lão hủ muốn hỏi thêm một câu, tại sao đặc sứ lại biết người Tần sắp mưu hại ta?”

“Hồi bẩm tướng quốc!” Trần Chẩn vòng tay đáp lễ. “Vì tại hạ vừa mới đến Tần. Đáng buồn cho người Thư, còn làm sẵn đường núi cho người Tần xuất chinh, hiện đã hoàn tất cả rồi!”

“Người Thư làm đường là để đón trâu thần!” Tu Ngư thật thà giải thích.

“Than ôi!” Trần Chẩn thở dài một tiếng, quay sang thái tử. “Điện hạ, lẽ nào điện hạ thực sự tin rằng người Tần có trâu thần ư?”

“Ồ!” Tu Ngư kinh ngạc. “Thông Quốc đã tận mắt nhìn thấy, tận tay sờ thử, còn có thể là giả được ư?”

“Điện hạ đã hỏi về chuyện này, vậy tại sẽ kể cho mọi người rõ về chuyện trâu thần.”

Lúc này, Trần Chẩn mới đem chuyện mấy năm về trước Trương Nghi mưu tính phạt Ba, Thục, thêu dệt nên chuyện trâu thần để lừa thái tử nước Thư Thông Quốc như thế nào, để Thông Quốc kiểm tra trâu thần ra sao, xúi bẩy Thông Quốc phá núi làm đường thế nào, thái tử Thông Quốc tin tưởng như ra sao, cứ thế kể lại tỉ mỉ một lượt, khiến cho mấy người nghe mà há miệng trợn mắt.

“Ông trời ơi!” Tu Ngư tặc lưỡi nói. “Không lâu trước đây bản cung đã đòi Thông Quốc phải tặng mấy con trâu thần, Thông Quốc tuy đau xót, nhưng lại không dám không cho, cứ kỳ kèo thêm bớt mãi với bản cung, thực không ngờ…”

“Nếu đúng như lời của đặc sứ…” lão tướng quốc lúc này cũng đã nhận ra sự tình nghiêm trọng, không còn để tâm đến lễ tiết quân thần, lên tiếng ngắt lời Tu Ngư, nhìn thẳng vào Trần Chẩn, “Ba, Thục tình thế đã rất nguy cấp. Dám hỏi đặc sứ, lần này đến chỉ là để đưa thư cấp báo thôi ư?”

“Không phải!” Trần Chẩn đáp. “Lần này tại hạ đến, một là để đưa thư cấp báo của lệnh doãn đại nhân, hai là thay mặt Sở Vương bệ hạ thực hiện một cuộc trao đổi với Khai Minh Vương bệ hạ.”

“Trao đổi thế nào?”

“Trước lúc lên đường, Sở Vương nắm chặt tay tại hạ, dặn đi dặn lại rằng, Kinh, Thục thân như một nhà, người Kinh sẽ không giương mắt nhìn người Tần nhập Xuyên, hủy diệt tông miếu người Thục. Chỉ cần Khai Minh Vương có lòng thành, người Sở nguyện giúp một tay.”

Bách Quán nheo nheo đôi mắt già nua: “Thân tình là chuyện thân tình, vậy còn điều kiện trao đổi?”

“Sở giúp Thục chống Tần, Thục giúp Sở diệt Ba. Sau khi thành công, Thục, Sở chia đều đất Ba, lấy ranh giới là Tiềm Thủy, Giang Châu. Phía đông Tiềm Thủy thuộc Sở, phía tây Tiềm Thủy thuộc Thục!”

Kinh đô nước Ba là Lang Trung nằm ở đoạn trung du của Tiềm Thủy, mấy năm nay thế lực của người Ba dịch chuyển về phía tây, đã mở rộng đến Bồi Thủy. Những vùng núi non khác ở phía đông bắc nước Thục lại do người Thư chiếm cứ. Là một trong những người ủng hộ Khai Minh Vương Lư Tử, Bách Quán hiểu rõ hơn ai hết về cuộc tranh giành giữa Thư Hầu Hà Manh và đại vương của mình. Hà Manh có nằm mơ cũng muốn trở lại Thành Đô, ngồi lên vương vị, lần trước mượn binh của người Ba mưu phản, nay lại cấu kết với người Tần, tiếp tục dẫn quân Tần tác loạn, thật là mối hiểm họa khôn lường của triều Khai Minh. Từ lâu Bách Quán đã muốn trừ mối họa này, tuy nhiên, một là đại vương Lư Tử niệm đến tình thân huynh đệ, nên không đành lòng; hai là Thư Hầu và Ba Vương gả con cái để kết tình thân, lập giao ước công thủ đồng minh, nước Thục giờ lại vì xây dựng lăng mộ cho Khổng Tước vương phi mà quốc lực kiệt quệ, trong lúc gấp gáp, có muốn mưu đoạt cũng không được. Điều kiện trao đổi mà Trần Chẩn vừa đưa ra, chưa tính đến chuyện có được đất của người Ba, chỉ riêng việc người Sở giúp Thục diệt trừ Thư Hầu, đối với Bách Quán cũng đã là mong còn chẳng được.

Tuy nhiên, Bách Quán dù sao cũng vẫn là Bách Quán, đôi mắt già nua đảo nhanh một vòng, rồi chậm rãi nói: “Sở Vương đã nói chia đều đất Ba, đất Ba rộng lớn, nếu chiếu theo ranh giới đặc sứ vừa nói, hẳn không phải là chia đều!”

“Theo lời của tướng quốc, nên chia như thế nào?”

“Lấy Ba Thủy làm ranh giới. Vùng núi non ở phía đông Ba Thủy quy về Sở, vùng đất Lăng ở phía tây quy về Thục.”

“Vậy hãy làm theo lời tướng quốc, nhưng Giang Châu phải quy về Sở!”

Bách Quán nhìn sang Tu Ngư, khẽ gật đầu với hắn.

“Sẽ phân chia như vậy!” Tu Ngư quyết định dứt khoát.

“Không giấu chư vị,” Trần Chẩn vòng tay, nói thẳng ra mục đích, “sở dĩ tại hạ gấp gáp đến đây, là vì thời gian không cho phép chần chừ. Quân Tần chỉ ít ngày nữa sẽ đến, Sở Vương đã lệnh cho Trang Kiều làm chủ tướng chinh phạt nước Ba, dẫn theo năm vạn quân, chia thành hai lộ cùng đánh Bồi Lăng, tấn công nước Ba. Nhưng nước Sở xuất binh chỉ là hô ứng, theo tình thế trước mắt, đối thủ lớn nhất của chúng ta không phải người Ba, không phải người Thư, mà là người Tần. Chiến lược không phải ở Bồi Lăng, mà ở mấy trăm dặm đường Thục dẫn đến Bao Hán, nhưng đường Thục lại nằm trong tay người Thư. Binh quý ở thần tốc, Trang tướng quân hy vọng quý quốc hãy nhanh chóng khởi binh, sớm ngày đoạt lấy đường Thục. Chỉ cần chúng ta khống chế được con đường này, người Tần cho dù hung hãn đến mấy, cũng khó lòng xâm nhập. Không có người Tần, người Ba khác nào ba ba trong hũ!”

Nghe thấy muốn nước Thục lập tức xuất binh, Bách Quán, Tu Ngư, Bách Thanh đều đưa mắt nhìn nhau.

“Than ôi!” Bách Quán thở dài một tiếng. “Không giấu gì đặc sứ, người Thư là mối họa đã lâu, lão hủ sớm đã muốn diệt trừ. Chỉ là, điều binh khiển tướng, chinh phạt thảo nghịch, không có ý chỉ của đại vương thì tuyệt đối không thể, mà đại vương lại…” Thở dài buồn bã. “Bao nhiêu năm rồi, lòng dạ vẫn mãi đắm đuối với người đàn bà kia, không màng tới bất cứ chuyện gì khác!”

“Người đó phải chăng là Khổng Tước vương phi?” Trần Chẩn hỏi.

“Đúng vậy!”

“Vãn sinh mạo muội muốn hỏi kỹ hơn.”

“Nói ra thì dài lắm!” Lão tướng quốc khép hờ đôi mắt, chậm rãi kể lại đầu đuôi. “Lư Tử đại vương nằm mơ thấy một thiếu niên xinh đẹp, sau đó thiếu niên biến thành thiếu nữ tuyệt sắc, cùng đại vương quấn quýt ân ái. Đại vương si mê nàng ấy, song nàng ấy lại biến thành chim công bay đi mất. Đại vương nhờ vu chúc giải mộng, rồi nghe theo lời giải của vu chúc, mặc thường phục đi vi hành, gặp được thiếu niên trong mơ trong phiên chợ. Thiếu niên làm theo cách thức trong mơ, đã biến thân thành mỹ nữ, đại vương liền nạp nàng làm Khổng Tước vương phi, bỏ bẵng cả vương hậu và tam cung lục viện, chỉ sủng ái một mình phi tử này. Khổng Tước vương phi yếu ớt nhiều bệnh, lại nhớ nhung quê nhà, đại vương bèn cho xây dựng đài Đông Bình trong cung mô phỏng theo nhà cửa ở quê hương của nàng, làm ra khúc ‘Đông Bình ca’ nhằm ca múa giúp nàng khuây khoả. Song Khổng Tước vương phi bệnh không thuyên giảm, cuối cùng đã quy tiên, lúc lâm chung trăng trối rằng muốn an táng ở Lũng Sơn. Đại vương rất đỗi đau buồn thương tiếc, bất chấp sự phản đối của triều thần, chiếu lệnh cho ngũ đinh trong cả nước đến Lũng Sơn vận chuyển đất đá từ quê cũ của Khổng Tước vương phi về xây mộ cho nàng…”

Cả câu chuyện kể xong, cũng mất đến hơn một canh giờ, khiến cho Tu Ngư, Bách Thanh, Trang Thắng ba người nghe mà cũng thấy đau thương, Trần Chẩn lại càng xuýt xoa luôn miệng, thở vắn than dài.

“Than ôi!” Lão tướng quốc thở dài buồn bã. “Gần mười năm rồi, chỉ vì một giấc mộng, chỉ vì một người đàn bà mà đại vương đã cứ mãi giày vò như vậy, đừng nói là triều thần, ngay cả ngũ đinh bách tính cũng mệt mỏi vô cùng, chỉ có điều giấc mơ của đại vương đến nay vẫn chưa tỉnh!”

“Ồ…” Trần Chẩn băn khoăn. “Với uy vọng của tướng quốc, với sự tôn quý của điện hạ, lẽ nào cũng không khuyên được hay sao?”

Lão tướng quốc lắc đầu.

“Ngũ đinh lặn lội suốt nghìn dặm đường đến tận Lũng Sơn, chỉ là để gánh về từng gánh đất đá, lẽ nào lại… lại không hề oán hận hay sao?” Trần Chẩn lại hỏi.

“Sao lại không?” Lão tướng quốc cười nhăn nhó. “Người Thư thì không chịu nghe theo. Là thuộc quốc của Khai Minh, đại vương muốn Thư Hầu cũng phải điều động ngũ đinh, Thư Hầu không những không nghe, ngược lại còn cấu kết với người Ba, lấy cớ là đại vương lao dịch dân chúng quá nặng, hoang đường vô lý, mà hưng binh hỏi tội. May sao đại vương nổi giận, người Thục dũng mãnh, nên đã đánh tan được quân Thư, Ba.”

“Theo lý mà nói,” Trần Chẩn cảm thấy khó hiểu, “lời của Thư Hầu cũng chính là điều mà người Thục nghĩ, người Thục đáng ra phải hưởng ứng mới đúng chứ!”

“Đặc sứ có điều không biết, người Thục bản tính nặng tình trọng nghĩa. Theo lời của đại vu chúc, đại vương là do dương thần ở núi Nga Mi hoá sinh, Khổng Tước phi là do âm tinh ở núi Lũng Sơn hoá sinh, hai núi nhìn nhau, âm dương cách trở, không biết đã bao năm mới được tương hợp vào lúc này, giữa vương phi và đại vương có một mối tình không tiền khoáng hậu cũng là phải lẽ. Thấy đại vương đau thương đến vậy, tất cả người Thục đều động lòng, ngũ đinh hăng hái, vận chuyển đất đá ba năm mới xây xong mộ. Khi vận chuyển đất đá, đại vương đích thân gánh đòn chuyển đất, lại xây dựng đài Vọng Phụ trên đỉnh Ma Thiên Lĩnh, để lên cao phóng mắt nhìn xa. Mộ xây xong, lại viết bài ‘Về lũng’, do đại vu chúc phổ nhạc, cứ ba ngày lại hành lễ gặp mặt, lâu dần thành ra thông lệ, đại vương cũng coi đó là lễ lên triều.”

“Vậy… còn quốc sự? Triều thần bẩm tấu như thế nào?”

“Ngoài việc chinh phạt, triều Khai Minh không còn bất cứ quốc sự nào khác. Còn về những việc bình thường, lãnh chúa, hữu ti, thổ ti ở các nơi đều biết tự xử lý, tới chỗ điện hạ đây coi như là đã lên đến tối cao rồi. Trước mắt phạt Thư cũng vậy, ngự Tần cũng vậy, đều là phát động cả nước chinh chiến. Cả nước chinh chiến, thì phải dùng đến ngũ đinh, mà theo luật pháp của triều Khai Minh, nhất thiết phải bẩm báo với đại vương, do đại vương đích thân hạ ngự chỉ, nếu không sẽ là mưu phản! Đừng nói là lão hủ, cho dù là điện hạ cũng không dám tuỳ tiện!”

Rõ ràng, vấn đề trước mắt đã gặp phải bế tắc: nước Thục hưng binh, nhất thiết phải do đại vương hạ chỉ, mà trong lòng đại vương hiện chỉ có một chữ tình!

Mọi người đều im lặng.

Trần Chẩn nhắm mắt hồi lâu, trong đầu đột nhiên nảy ra một ý, liền ngẩng lên nhìn Bách Quán: “Tướng quốc đại nhân, vãn sinh có một chuyện muốn hỏi!”

“Đặc sứ cứ nói!”

“Khổng Tước vương phi có bức chân dung nào không?”

“Có! Ở trong cung của đại vương, đại vương coi như báu vật, ngày đêm giữ rịt bên mình.”

“Là người nào vẽ?”

“Họa sư trong cung.”

“Là nam hay nữ?”

“Vẽ hình cho vương phi, đương nhiên là nữ.”

“Tại hạ có thể gặp vị họa sư đó không?”

Tướng quốc nhìn sang Tu Ngư, Tu Ngư không chút đắn đo, bèn quay sang nói với Bách Thanh: “Đi, mời họa sư đến!”

Một lát sau, họa sư đã đến, Trần Chẩn lập tức đi thẳng vào chuyện: “Xin hỏi họa sư, trên mình Khổng Tước vương phi có mụn, bớt gì không?”

“Có một vết chàm, có điều…” Họa sư khựng lại, ngượng ngập liếc nhìn mấy người đàn ông.

“Không được giấu giếm!” Tu Ngư đanh giọng. “Bất kể là gì, đều phải nói hết cho vị tiên sinh này!”

Họa sư do dự một lát, rồi đi tới bên cạnh Trần Chẩn, ghé sát tai nói nhỏ mấy câu.

“Tốt lắm!” Trần Chẩn trầm ngâm một lát, rồi gật đầu hỏi. “Có thể dựa vào trí nhớ vẽ thêm một bức không?”

“Chuyện này…” Họa sư tỏ ra lúng túng.

“Bức họa này có liên quan đến đại vương, liên quan đến điện hạ, liên quan đến tướng quốc, liên quan đến tám mươi vạn dân Thục, cũng liên quan đến tính mạng của cả nhà ngươi đó!”

Họa sư quay sang nhìn Tu Ngư và Bách Quán, thấy hai người đều gật đầu thì mới yên tâm, lại quay sang Trần Chẩn hỏi: “Đại nhân muốn vẽ một bức giống y hệt ư?”

“Để ta suy nghĩ xem!” Trần Chẩn đảo mắt một hồi, rồi căn dặn họa sư. “Vẽ một bức mô cả cảnh mỹ nữ tắm trong khe suối, gọi là vương phi tắm, phải có sơn có thủy, thêm chút sương mù, tốt nhất là trông phải mờ mờ ảo ảo, ẩn hiện thấp thoáng, nhưng vết chàm kia thì tuyệt đối không được thiếu!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Còn nữa, vương phi phải thần tình u uất, hai mắt ứa lệ, cổ chân bị xích bởi một dây xích lớn, dây xích gắn chặt vào một tảng đá lớn. Còn về hoa cỏ chim muông, ngươi có thể vẽ vời tuỳ ý, chỉ cần vẽ sao cho toát lên vẻ sầu bi là được!”

Tất cả mọi người đều ngạc nhiên.

Thấy họa sư vẫn đứng trơ trơ tại chỗ, Trần Chẩn bèn hỏi: “Có vẽ được không?”

Họa sư gật đầu: “Vẽ cho giống không khó, chỉ có điều…”

“Vậy thì đi đi, cứ vẽ theo lời ta nói, không được thiếu sót chỗ nào!”

Lão tướng quốc hất hàm, Bách Thanh bèn gọi phu nhân đi giúp họa sư chuẩn bị đồ vẽ.

Sau khi đám họa sư đi rồi, Bách Quán, Tu Ngư và Trang Thắng đều nhìn Trần Chẩn, băn khoăn không hiểu ông ta có ý gì.

“Điện hạ, tướng quốc!” Trần Chẩn vòng tay nói với Bách Quán, Tu Ngư. “Sáng sớm mai, phiền hai vị hãy dẫn tại hạ đến yết kiến đại vương, nói rằng có tiên nhân núi Nữ Kỷ là Không Động Tử cầu kiến.”

Sáng sớm hôm sau, Trần Chẩn mình mặc tiên bào, phục sức kỳ quặc đi theo tướng quốc Bách Quán, thái tử Tu Ngư tiến vào cung Thục, yết kiến Khai Minh Vương Lư Tử.

Đại vu chúc ngồi hầu bên cạnh nhà vua.

Khai Minh Vương Lư Tử mở trừng hai con mắt, nhìn Trần Chẩn khắp một lượt từ trên xuống dưới hồi lâu, rồi lại quay sang nhìn đại vu chúc. Hai con mắt sắc bén của đại vu chúc cứ nhìn chằm chằm vào cái bụng mỡ của Trần Chẩn.

Trần Chẩn hai mắt khép hờ, chỉ hé ra hai khe hở rất hẹp, không nhìn đại vu chúc, chỉ liếc xéo Lư Tử.

“Nghe nói tiên nhân là Không Động Tử ở núi Nữ Kỷ?” Lư Tử cất tiếng hỏi.

“Đúng vậy!”

“Dám hỏi tiên nhân đã thọ bao nhiêu?”

“Thọ thì không dám. Tiểu tiên chẳng qua mới trải ba trăm hai mươi lăm cái xuân thu!”

“Ồ!” Lư Tử trợn tròn hai mắt. “Ý tiên nhân là, đã ba trăm hai mươi lăm tuổi?”

“Chính phải!”

Lư Tử hít vào một hơi dài, quay sang đại vu chúc. Đại vu chúc lúc này mới rời mắt khỏi cái bụng của Trần Chẩn, nhìn thẳng vào mắt Trần Chẩn, rồi đột nhiên lên tiếng, giọng nói sắc lẹm: “Thượng tiên phải chăng sống ở núi Nữ Kỷ?”

“Đúng vậy!”

“Thượng tiên đã sống ở núi Nữ Kỷ, vậy cớ sao lại gọi là Không Động Tử?”

“Chuyện này nói ra dài lắm!” Trần Chẩn bèn phỏng theo câu chuyện của Thương Ngô Tử ở Sính Đô, thêm thắt phóng đại vào mà thao thao kể. “Tiểu tiên vốn là người ở Kinh Sơn, vào năm sinh ra, đúng là năm Sở Trang Vương mới lên ngôi. Năm năm sau, phụ mẫu đều mất, tiểu tiên đau khổ tột cùng, khóc suốt mười ngày, tiếng khóc vang vọng đồng hoang, làm kinh động tới một dị nhân, đó chính là tiên sư, chân nhân núi Nữ Kỷ. Chân nhân dẫn theo tiểu tiên đi về phía tây, đến nơi sâu thẳm trong núi Nữ Kỷ, luyện đạo tu tiên, học được diệu thuật dưỡng sinh. Trải qua hai vòng hoa giáp là một trăm hai mươi cái xuân thu, chân nhân cưỡi gió bay đi, tiểu tiên công lực chưa đủ, không thể bay cùng, sau đó cứ lần theo địa mạch đi theo khí của tiên sư, đến tận núi Không Động, đến chỗ chân khí của tiên sư biến mất liền kết cỏ thành lều mà sống, lại trải qua một trăm mùa xuân thu nữa.”

“Quả là chân nhân!” Lư Tử thở dài một tiếng, lại hít vào một hơi dài, hai mắt nhìn Trần Chẩn không chớp, vẻ đầy thán phục.

“Nhưng trong mắt của bản vu,” đại vu chúc không động thanh sắc, quyết không buông tha, “thượng tiên tại sao trông lại không hề giống tiên nhân?”

“Dám hỏi vu chúc, sao lại nói vậy?”

Đại vu chúc bật ra một tiếng cười nhạt: “Người tu tiên ai nấy đều tiên phong đạo cốt, đói thì ăn tinh khí của vũ trụ, khát thì uống sương ngọt của đất trời. Ngược lại nhìn thượng tiên, toàn thân tục khí, khắp người mỡ màng, căn bản không phải tiên nhân!” Giọng nói đột nhiên trở nên đanh thép, đưa tay đập bàn. “Điêu dân to gan, dám mạo nhận là thượng tiên, lừa dối đại vương, là khinh Đại Thục ta không có người ư?”

Trần Chẩn nghe vậy, phá lên cười lớn, đưa tay vỗ vào cái bụng phệ, rồi quay sang tướng quốc và thái tử, nhún vai mà nói. “Xem ra Đại Thục đúng là chẳng còn người nữa rồi!”

“Nói vậy là có ý gì?” Đại vu chúc đanh giọng quát lớn.

“Trời đất rộng lớn, vũ trụ bao la, tất cả đều nằm trong một chữ Dịch. Dịch, tức là biến; biến, tức là hoá; hoá, chính là đạo của trời đất. Đạo vốn là một, một chia thành hai thể âm dương, hai thể hoá thành tứ tượng, tứ tượng xuất hiện mà sinh ra bát quái, bát quái xuất hiện mà diễn ra sáu mươi tư quẻ, mỗi quẻ đều là nhân là quả của nhau, biến hoá lẫn nhau, nên mới tạo ra trời đất rộng lớn, vũ trụ bao la. Còn về đạo người tu tiên, tự nhiên cũng tương hợp với trời đất. Trời đất đã có thiên biến vạn hoá, đạo người tại sao lại không? Đạo người đã có thiên biến vạn hoá, đạo tiên tại sao lại không?”

Trần Chẩn trong nháy mắt đã tìm ra được cái lý này, đừng nói là đám Lư Tử, cho dù là đại vu chúc cũng cảm thấy chấn động, sững sờ mất một lúc, rồi ôm quyền, giọng điệu cũng đã hoà hoãn ít nhiều: “Cái đạo tu tiên, tổng cộng có bao nhiêu?”

“Đạo, là đường đi. Theo tiểu tiên được biết, tiên có ba loại là thiên tiên, địa tiên và nhân tiên, mỗi loại lại có ba vạn sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đạo nhập môn.” Trần Chẩn giọng điệu khẳng định chắc nịch, tuyệt không cho phép nghi ngờ.

“Ờ…” Lúc này lại biến thành đại vu chúc kiến thức hẹp hòi, nghe mà ngây thộn, miệng lắp bắp. “Dám hỏi thượng tiên tu tiên nào, theo đạo nào?”

“Tiểu tiên mới đầu tu địa tiên, nhập môn từ khí đạo, sau đó tu nhân tiên, nhập môn từ cốc đạo.”

Trần Chẩn tuy nói bừa đáp đại, song lại kín kẽ không chút sơ hở. Đại vu chúc chau mày một lúc, lại ngẩng đầu hỏi: “Thế nào là cốc đạo?”

“Chính là cái này!” Trần Chẩn vỗ vào cái bụng của mình. “Ăn ngũ cốc, uống rượu ủ.”

Ăn gạo uống rượu, đối với tiên đạo là điều hoàn toàn không thể, nhưng lúc này nói ra từ miệng của Trần Chẩn, ý nghĩa lại khác hẳn. Đại vu chúc mắt mũi mồm miệng chẳng chỗ nào chịu tin, song không thể cãi nổi Trần Chẩn, tức giận đến nỗi trợn trừng hai mắt, nhưng lại không nghĩ ra lời gì thích hợp để vặc lại.

“Thượng tiên lần này đến tệ bang,” Khai Minh Vương rõ ràng đã hoàn toàn tin tưởng, chân thành vòng tay mà nói, “quả thực là điều may mắn của tệ bang. Lư Tử thô lỗ, dám hỏi thượng tiên, có điều gì chỉ bảo chăng?”

“Tiểu tiên không dám!” Trần Chẩn vòng tay đáp lễ. “Chỉ là tiểu tiên gần đây đi ngao du, từ xa nhìn thấy một đỉnh núi được mây lành bao phủ, chim chóc lượn quanh, rất lấy làm lạ, bèn đến gần xem, quả nhiên đã gặp được một nữ tử kỳ lạ bên khe suối…”

“Ồ?” Khai Minh Vương ngả người về trước hỏi. “Thượng tiên hãy nói xem, nàng ấy đang làm gì?”

“Nàng ấy đang tắm dưới suối.”

“Thượng tiên đã nhìn thấy?”

“Không những nhìn thấy, mà còn vẽ lại được hình hài của nàng ấy.”

Khai Minh Vương hít vào một hơi dài: “Khi thượng tiên vẽ, nàng ấy không biết hay sao?”

“Biết chứ, biết chứ, là nàng ấy chủ động xin tiểu tiên vẽ.”

“Ồ!” Khai Minh Vương ngạc nhiên. “Nàng ấy không xấu hổ ư?”

“Ở cõi người có xấu hổ, còn ở cõi tiên của chúng tôi, không có xấu hổ.”

“Sau đó thì sao?” Khai Minh Vương rõ ràng là đã bị câu chuyện này lôi cuốn.

“Đợi tiểu tiên vẽ xong, nàng ấy cầu xin tiểu tiên mang bức họa này đến Thành Đô, tiểu tiên chính vì chuyện này nên mới đến yết kiến đại vương.”

“Vậy…” Khai Minh Vương hơi thở trở nên dồn dập, “bức họa đâu?”

Trần Chẩn liếc mắt nhìn mọi người xung quanh, Lư Tử biết ý, bèn bảo tướng quốc, thái tử và cung nhân bên cạnh lui hết ra ngoài, chỉ còn đại vu chúc vẫn ngồi bất động.

“Nơi này không có người ngoài, mời thượng tiên hãy cho xem bức hoạ!”

Ánh mắt của Trần Chẩn liếc về phía đại vu chúc.

Khai Minh Vương thoáng do dự, rồi vòng tay nói với đại vu chúc: “Cũng xin mời thần vu hãy tạm lánh mặt!”

Đại vu chúc trừng mắt nhìn Trần Chẩn, sau đó cất bước rời đi.

Thấy trong điện không còn ai khác, Trần Chẩn liền rút lấy bức họa từ trong tay áo, đứng dậy, mở ra, lấy thân làm giá, mở bức họa ra ngay trước mặt Khai Minh Vương.

“Trời ơi!” Khai Minh Vương đã nhìn rõ rành rành, hai mắt trợn trừng, hồi lâu sau mới định thần lại được, quỳ sụp xuống đất, đưa tay ve vuốt bức tranh, nước mắt ròng ròng, nói không thành tiếng. “Là… là… ái phi Khổng Tước của ta, trời ơi!”

Khai Minh Vương khóc nức nở một thôi một hồi, rồi thình lình giật lấy bức tranh, lau sạch nước mắt, nhìn kỹ một lượt, thất kinh kêu lên: “Thượng tiên, ái phi nàng… nàng đang khóc! Nhìn chân của nàng… tại sao lại có sợi dây xích ở đây?”

“Than ôi!” Trần Chẩn thở dài một tiếng trầm bổng du dương, vuốt bộ râu giả trắng như tuyết, giọng nói trầm xuống. “Nói ra thì dài lắm. Nàng ấy vừa nhìn thấy tiểu tiên đã nước mắt đầm đìa, khóc lóc kể lại thân thế với tiểu tiên, nói rằng nàng vốn là con gái của sơn thần ở núi Lũng Sơn, hoá thân thành chim công. Khi đại vương còn trẻ, có lần đi qua núi Lũng Sơn, nàng ấy vừa hay bay lướt qua đầu đại vương. Có lẽ thấy đại vương uy nghi bất phàm, nên chim công đã lượn vòng quanh đầu đại vương, suốt dọc đường bám theo đại vương, càng nhìn càng ái mộ, trong lòng sinh tình quyến luyến. Sau đó, đại vương rời khỏi Lũng Sơn, chim công bèn cầu xin sơn thần phụ vương tác thành cho tâm nguyện của nàng, song sơn thần nhất quyết không chịu. Không còn cách nào khác, chim công bèn khóc lóc cầu xin mẫu thân. Mẹ nàng chỉ có một cô con gái độc nhất, nên đành nuốt nước mắt nói rõ sự tình, không phải là phụ vương không chịu tác thành, mà là nàng không thể gả cho Thục Vương. Nàng hỏi lý do, người mẹ bèn nói, nàng là tinh tuý của núi Lũng Sơn, nếu không được thủy thổ Lũng Sơn nuôi dưỡng, sẽ không thể sống được. Chim công nghe vậy, trong lòng đau khổ, từ đó mắc bệnh tương tư. Sơn thần đã vận đủ mọi phép, nhưng bệnh tình của nàng vẫn ngày càng trầm trọng. Thấy chim công chỉ còn thoi thóp hơi tàn, sơn thần đành phải đồng ý, thi triển phép thuật khiến nàng biến thành một thiếu nữ dân gian, phái một số thần linh hộ tống nàng đến Thành Đô, bắt nàng phải thề, trong vòng một năm buộc phải trở về Lũng Sơn, nếu như không về, nàng sẽ bị phát bệnh, chết ở nơi đất khách, không bao giờ được trở về Lũng Sơn nữa. Chim công đã đồng ý. Còn những chuyện sau này, đại vương đều đã rõ cả rồi.”

So với lời của đại vu chúc, câu chuyện tiền thân của Khổng Tước vương phi được kể qua miệng Trần Chẩn nghe ra sống động chân thực, hợp tình hợp lý hơn nhiều, Khai Minh Vương càng nghe càng tin phục, càng sầu thảm: “Khổng Tước nàng ơi, ái phi của ta ơi!” Cứ thế kêu gọi liên hồi, khóc than vật vã.

“Đại vương!” Trần Chẩn để mặc cho ông ta than khóc đau thương một hồi, rồi mới đi vào chuyện chính. “Đại vương có muốn biết hiện giờ Khổng Tước vương phi đang ở nơi nào, vì sao lại khóc, chân vì sao lại bị xiềng xích không?”

Một lời như đã thức tỉnh Khai Minh Vương, Lư Tử lập tức thôi khóc, nuốt lệ giục giã: “Tiên nhân mau nói!”

“Sau khi Khổng Tước vương phi qua đời, linh hồn liền rời khỏi xác thịt, dật dờ bay lên không trung, thẳng về Lũng Sơn. Bay đến sông Bạch Long, vương phi khát nước, muốn xuống uống nước sông, không ngờ gặp phải Bạch Long thủy quái. Con yêu quái đó mê mẩn dung nhan mỹ miều của nàng, đã cướp đoạt lấy nàng, rồi giam ở…” Trần Chẩn lại dừng lời, khe khẽ lắc đầu.

“Giam ở nơi nào?” Khai Minh Vương cuống lên hỏi.

“Giam ở nơi mà tiểu tiên vẽ tranh này. Gần đó có một đầm sâu, dưới đầm có một cung điện, Bạch Long thủy quái nhốt nàng ở đó, ngày ngày bức ép nàng thành thân, nhưng vương phi chỉ một lòng quyến luyến đại vương, thà chết không chịu. Bạch Long thủy quái bực bội, nên đã dùng dây xích xích nàng bên đầm, phái quân tôm tướng cua ngày đêm canh giữ, không cho nàng đi đâu một bước.”

“Ôi, ái phi… ái phi của ta…” Khai Minh Vương giậm chân đấm ngực, khóc lớn.

“Đại vương!” Trần Chẩn lại đổ thêm dầu vào lửa. “Khổng Tước vương phi phải chịu khổ nạn trong đầm nước, ngày dài dằng dặc như năm, không lúc nào là không tưởng nhớ đến đại vương!”

Khai Minh Vương đưa tay lau nước mắt, chụp cứng lấy cánh tay Trần Chẩn: “Xin hỏi thượng tiên, có nhớ nơi đó ở đâu không?”

“Nhớ chứ, nhớ chứ, tiểu tiên đã ghi nhớ kỹ càng trong tâm khảm.”

“Vậy hãy dẫn bản vương đi, bản vương… sẽ phá tan cung điện, bắt sống quái vật, lột da rút gân nó!”

“Được thì có được, thế nhưng…”

“Còn nhưng cái gì?”

“Muốn đến nơi đó, nhất thiết phải đi qua nước Thư, thế nhưng Thư Hầu…”

Khai Minh Vương hai mắt trợn trừng, siết nắm đấm giáng thẳng xuống mặt bàn: “Thư Hầu cái gì? Hắn là do bản vương phong, bản vương muốn đi đâu, xem hắn có dám nói nửa câu không?”

“Than ôi, đại vương có điều không biết!” Trần Chẩn lắc đầu than thở. “Nếu là trước đây, đại vương mượn đường, Thư Hầu còn không dám không nghe, nhưng bây giờ thì không được nữa rồi. Nghe lão tướng quốc nói, Thư Hầu vì chuyện vương vị mà oán hận đại vương đã lâu, mấy năm trước đại vương sai người đến Lũng Sơn gánh đất, Thư Hầu không những không nghe lệnh, ngược lại còn cấu kết với người Ba, phản công đại vương.” Hạ thấp giọng. “Điều này tạm chưa nói đến, theo tiểu tiên được biết, Thư Hầu còn cấu kết với Bạch Long thủy quái. Bạch Long thủy quái biết rõ mối thâm tình giữa đại vương và vương phi, lo sợ đại vương sẽ dẫn quân đến cứu, nên đã báo mộng cho Thư Hầu, bảo ông ta tuyệt đối không được để đại vương đi qua, nếu không sẽ dẫn binh tôm tướng cua đến tiêu diệt đất nước của ông ta. Thư Hầu một là sợ hãi, hai là bất mãn với đại vương, nên đã cùng lập minh ước với thủy quái rồi.”

“Hà Manh!” Khai Minh Vương giọng rít qua kẽ răng. “Ngươi là phường vong ân phụ nghĩa, bản vương nể mặt phụ vương, mẫu hậu, nhún nhường ngươi hết lần này đến lần khác, nhưng ngươi lại được đằng chân lân đằng đầu, ăn cây táo rào cây sung!” Lại đập mạnh tay xuống bàn, quay ra ngoài quát lớn. “Người đâu!”

Thái tử Tu Ngư, tướng quốc Bách Quán nghe tiếng liền bước vào.

“Nghe chiếu!” Khai Minh Vương nói rành rọt từng chữ. “Thư Hầu Hà Manh coi thường bản vương, ngầm cấu kết với thủy quái ức hiếp ái phi của ta, bản vương không thể nhẫn nhịn, từ hôm nay phế bỏ phong hiệu Thư Hầu của Hà Manh, khởi mười vạn ngũ đinh, san phẳng đất Thư, ứng cứu ái phi!”

Tu Ngư, Bách Quán cùng hít vào một hơi dài, nhìn Trần Chẩn vẻ vô cùng thán phục, rồi khấu đầu hô lớn: “Vi thần tuân chỉ!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử