Bàng Quyên từ cửa Túc Tư đi đò qua Hà Thuỷ, mấy ngày sau đã đến được tân đô Đại Lương của nước Ngụy. Đại Lương vốn là biệt đô của nước Ngụy, nhân khẩu đông đúc, sản vật dồi dào, buôn bán tấp nập, bây giờ lại trở thành đô thành, đương nhiên càng thêm náo nhiệt. Bàng Quyên sau khi hỏi thăm nhiều người, đã tìm đến được phủ của Bạch Hổ, tiến lại gõ cổng. Người mở cửa chính là lão quản gia.
Để tránh chuyện chẳng lành, Bàng Quyên đầu vẫn đội nón sùm sụp. Lão quản gia nhìn một lúc vẫn không nhận ra ai, ngạc nhiên hỏi: “Tiên sinh là…”
Bàng Quyên bỏ nón xuống, cười nói: “Lão quản gia, ông nhìn xem!”
Lão quản gia lại nhìn một lúc, vẫn lắc đầu. Bàng Quyên mỉm cười, lấy ra một bộ râu quai nón từ trong tay áo, đeo lên mặt. Nhìn thấy bộ râu quai nón, lúc này lão quản gia mới kêu lên: “Chao ôi, cặp mắt già của ta làm sao thế này, ngay cả ân công cũng không nhận ra! Ân công, mau, xin mời vào phủ!”
Lão quản gia dẫn Bàng Quyên đi vào trong phủ, vừa đi vừa gọi: “Thiếu phu nhân, mau ra đây, phu nhân hãy đoán xem là ai đến?”
Khởi Y nghe thấy tiếng, vội vàng bước ra, thấy là Bàng Quyên thì vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, lập tức quỳ xuống sân, khấu đầu nói: “Tiện thiếp bái kiến ân công!”
Bàng Quyên vòng tay đáp lễ: “Em dâu mau đứng dậy!”
Khởi Y đứng dậy, đưa tay về phía đại sảnh: “Ân công, xin mời vào trong!” Rồi quay sang lão quản gia. “Gia lão, mau gọi phu quân về!”
Lão quản gia vâng lệnh, lập tức đi ra khỏi phủ.
Khởi Y bưng trà lên mời: “Ân công, mời dùng trà!”
Bỗng thấy một đứa trẻ chưa đầy ba tuổi chạy vào, đứng bên cạnh Khởi Y, hai mắt mở to dè dặt nhìn Bàng Quyên.
Khởi Y khẽ xoa đầu đứa trẻ: “Mau, đây là ân công của nhà chúng ta, con mau khấu đầu trước ân công!”
Đứa bé đưa mắt nhìn khắp người Bàng Quyên, rồi bước lại gần, quỳ xuống khấu đầu trước mặt Bàng Quyên.
Khởi Y giục: “Mau gọi ân công.”
Đứa bé bèn lí nhí: “Ân công!”
Bàng Quyên bước lại, bế đứa bé dậy, cười vang nói: “Không cần hỏi cũng biết, thằng bé này chắc chắn là Bạch tiểu thiếu gia rồi! Nói cho bá phụ nghe, cháu tên gì?”
“Bạch Khởi!”
Bàng Quyên nhắc lại: “Bạch Khởi?”
Khởi Y tiếp lời: “Là ông nội trước lúc lâm chung đã đặt tên cho cháu!”
Bàng Quyên gật gù: “Khởi, tức là tự lập tự cường. Quả là tên hay!”
Hai người đang trò chuyện, Bạch Hổ đã lao như bay vào trong sân, chạy vào phòng khách, sụp xuống bái lạy mà nói: “Bạch Hổ khấu kiến ân công!”
Thấy Bạch Hổ trở về, Khởi Y liền vòng tay lạy Bàng Quyên một lạy, rồi dẫn Bạch Khởi ra ngoài.
Bạch Hổ, Bàng Quyên ngồi đối diện với nhau, vừa uống trà, vừa kể cho nhau nghe những chuyện sau khi chia tay. Đang lúc trò chuyện, Khởi Y bưng mấy món ăn lên, lão quản gia mang đến một vò rượu ngon, bày cả lên bàn.
Khởi Y cười nói: “Mấy món này dù sơ sài, nhưng là do tiện thiếp tự tay làm, vò rượu này cũng là do tiện thiếp tự tay ủ, mời ân công nếm thử.”
Bàng Quyên vòng tay nói: “Bàng Quyên đến đây đã khiến em dâu phải vất vả, thực áy náy.”
Khởi Y đáp lễ: “Đại ơn của ân công, tiện thiếp dù có tan xương nát thịt cũng không đủ báo đáp. Ân công xin hãy dùng bữa, tiện thiếp cáo lui!” Nói đoạn, vòng tay, cúi người lui ra.
Bạch Hổ rót đầy một chén rượu, đưa cho Bàng Quyên, lại rót đầy chén của mình, nâng lên nói: “Ân công, mời!”
Hai người uống cạn một chén, Bạch Hổ nói tiếp: “Ân công, tình thế triều đình về cơ bản là như vậy. Ba năm nay, bệ hạ độc đoán chuyên quyền, chỉ tin tưởng công tử Ngang, Trần Chẩn, không nghe lời trung thần, ép Công Tôn Diễn phải chạy sang Tần. Quần thần nước Ngụy chẳng ai hơn được Công Tôn Diễn. Người hiểu nước Ngụy, cũng chẳng ai hơn được Công Tôn Diễn. Nay Công Tôn Diễn mưu đánh Ngụy, ba nước Tần, Triệu, Hàn kết minh, nước Ngụy nguy trong sớm tối.”
Nhưng Bàng Quyên lại đổi sang chuyện khác, chau mày hỏi: “Hình như Trần Chẩn hiện không có ở Đại Lương?”
“Đúng vậy!” Bạch Hổ gật đầu xác nhận. “Nửa tháng trước, hắn đã sang Tề. Bệ hạ nghe theo lời tướng quốc Huệ Thi, định kết giao với Tề, cùng xưng vương. Trần Chẩn chủ động xin được đi sứ Tề.”
Bàng Quyên gật gù nói: “Mưu của Huệ Thi, quả thực cao thâm!”
Nhưng Bạch Hổ lại lo lắng: “Tề, Ngụy trước nay bất hoà, ân công thử nói xem, liệu Tề Công có đến Tề Châu cùng xưng vương không?”
Bàng Quyên cười mà nói: “Nếu không chắc chắn, hạng người như Trần Chẩn có thể chủ động xin đi ư?”
Bạch Hổ thở phào nhẹ nhõm: “Nói như vậy là nước Ngụy được cứu rồi!”
Bàng Quyên mỉm cười: “Nước Ngụy không những được cứu mà còn có thể hùng bá thiên hạ.”
“Ân công nói đùa rồi!” Bạch Hổ không cười nổi. “Trong tình thế hiện nay, có thể giữ được nước đã là đại phúc của người Ngụy!”
Bàng Quyên bật cười, nhấc vò rượu lên, rót đầy hai chén: “Nào, Bạch huynh đệ, chúc mừng nước Ngụy hùng bá thiên ha, cạn chén!”
Hai người cùng cạn, rồi Bạch Hổ đặt chén xuống, vòng tay nói: “Theo tại hạ được biết, hiện nay bệ hạ đang thiếu nhân tài dùng binh, đang chiêu mộ hiền tài khắp nơi cũng là vì lẽ đó. Ân công lên núi tu luyện binh học, học được bản lĩnh hơn người, nếu yết kiến Ngụy Vương, chắc chắn sẽ được trọng dụng.”
Bàng Quyên hỏi vặn lại: “Chẳng phải Công Tôn Diễn cũng có bản lĩnh hơn người đó ư?”
“Ân công nói phải!” Bạch Hổ cười gượng. “Thế nhưng nay đã khác xưa, tại hạ có thể tiến cử ân công với Chu tư đồ, rồi để Chu tư đồ tiến cử với Huệ tướng quốc. Nếu Huệ tướng quốc chịu tiến cử, bệ hạ chắc chắn sẽ trọng dụng ân công”.
“Nếu Huệ tướng quốc không chịu tiến cử thì sao?”
Bạch Hổ ngẩn người: “Huệ tướng quốc gặp được ân công, sẽ không thể không tiến cử.”
“Bạch huynh đệ!” Bàng Quyên lắc đầu nói. “Ý tốt của huynh đệ, tại hạ xin nhận. Nhưng lần này tại hạ đến đây, tuyệt đối không phải muốn xin bệ hạ một chức quan.”
Bạch Hổ hết sức ngạc nhiên: “Ân công đến Đại Lương, không phải muốn chức quan, vậy thì muốn điều gì?”
“Nước Tề!”
“Nước Tề?” Bạch Hổ kinh ngạc. “Lẽ nào ân công không muốn góp công sức cho Ngụy?”
“Muốn giúp mạnh thêm, phải cho suy yếu!”
“Muốn giúp mạnh thêm, phải cho suy yếu!” Bạch Hổ nhẩm lại mấy lần, vẻ vẫn mơ hồ. “Ân công, câu này có nghĩa là gì?”
Bàng Quyên phá lên cười lớn. “Đây là lời căn dặn của tiên sinh trước khi từ biệt, tại hạ suốt dọc đường ngẫm nghĩ, càng nghĩ càng cảm thấy kỳ diệu, kỳ diệu không thể nói thành lời.”
“Ân công?”
“Không nói tới chuyện này nữa!” Bàng Quyên xua tay. “Bạch huynh đệ, lần này tại hạ đến đây, đúng là có việc cần nhờ cậy.”
“Ân công xin cứ nói.”
Bàng Quyên nghiến răng kèn kẹt, gằn mạnh từng chữ: “Đợi sau khi Trần Chẩn trở về, hãy giúp tại hạ trông chừng hắn, không được để hắn chạy trốn!”
Bạch Hổ đầy bụng hoài nghi, nhưng vẫn gật đầu đồng ý: “Ân công yên tâm, việc này không khó!”
“Vậy thì tốt!” Bàng Quyên lại rót hai chén, từ từ nâng lên. “Đại nạn nước Ngụy, không thể không cứu! Mối thù giết cha, không thể không báo! Bạch huynh đệ, vì hai việc lớn này, hãy cạn chén!”
***
Trên con đường cái quan giữa đô thành Lâm Truy nước Tề, một cỗ xe ngựa đang lao vùn vụt về phía phủ tướng quốc. Trần Chẩn ngồi trong xe, hai mắt nhắm hờ, dáng điệu ung dung. Thích Quang ngồi đối diện, mặt mày ủ rũ.
“Chúa công,” Thích Quang cuối cùng không nhẫn nhịn được thêm, thấp thỏm hỏi, “liệu Trâu tướng quốc có chịu gặp chúng ta không?”
Trần Chẩn mở mắt, phá lên cười đắc ý: “Chúng ta mang tặng lễ vật hậu hĩnh, sao ông ta có thể không gặp?”
“Lão nô đã thăm dò, Trâu tướng quốc không phải hạng tham tiền!”
“Ông ta không tham tiền, nhưng lại tham thứ khác. Yên tâm, không chắc chắn, sao ta dám nhận đi sứ lần này!”
Xe ngựa đi tới trước cổng phủ tướng quốc, Thích Quang xuống xe, đưa danh thiếp đã viết sẵn cho môn nhân gác cổng, tiện tay nhét vào túi hắn một thỏi vàng. Môn nhân đương nhiên không dám chậm trễ, lập tức ba chân bốn cẳng chạy vào bẩm báo.
Một lát sau, Trâu Kỵ đi ra gặp Trần Chẩn, mời vào phòng khách, cùng ngồi xuống.
Trâu Kỵ mở miệng liền nói thẳng: “Lần này thượng khanh đến, không biết có gì chỉ giáo?”
“Không dám không dám!” Trần Chẩn đáp lời. “Lần này tại hạ đến đây, chỉ là muốn tặng tướng quốc đại nhân một món hậu lễ.”
“Là hậu lễ gì?”
“Một công lao!”
Trâu Kỵ không hiểu, chau mày: “Xin hỏi thượng khanh, là công lao gì?”
“Theo tại hạ được biết, Tề Công trong mơ cũng tưởng đến nước Tống. Nước Tống nằm ở lưu vực sông Tứ, đất đai màu mỡ, nhân khẩu đông đúc, nên nước Sở không lúc nào thôi nhòm ngó.”
Trong số mười hai nước nhỏ ở lưu vực sông Tứ, chỉ có Tống, Vệ là giàu có nhất. Vệ thân với Tề, còn Tống lại thân với Ngụy. Suốt bao năm nay, Tề, Sở đều muốn chiếm nước Tống, nhưng vì e sợ nước Ngụy nên không nước nào dám động binh.
Trâu Kỵ dường như cũng đã hiểu ra, gật gù nói: “Đúng là chúa thượng có nói với tại hạ về việc nước Tống, Trâu Kỵ thực sự muốn biết, lời này của thượng khanh có ẩn ý gì?”
“Lần này tại hạ đến đây, là muốn dâng nước Tống cho Tề Công, nếu tướng quốc đại nhân tác thành được việc này, chẳng phải đã lập được đại công hay sao?”
Trâu Kỵ trong lòng chấn động, mỉm cười nói: “Thượng khanh quá lời rồi! Trâu Kỵ đã làm tới chức tướng, còn tham công gì nữa? Nhưng Trâu Kỵ rất có hứng thú với nước Tống. Chỉ có điều, nước Tống là miếng thịt ngon lành, Ngụy Vương há lại dễ dàng nhả ra?”
“Chỉ cần Tề Công đồng ý một việc, bệ hạ nhất định sẽ buông tay!”
“Việc gì?”
“Xưng vương!”
Trâu Kỵ tim nảy lên một nhịp, rồi nhắm mắt suy nghĩ. Một lúc sau, Trâu Kỵ mở mắt ra, vòng tay với Trần Chẩn: “Được thôi, đại lễ của thượng khanh, Trâu Kỵ tạm thời xin nhận. Thượng khanh còn có chuyện gì chăng?”
Trần Chẩn cũng vòng tay nói: “Đa tạ tướng quốc đại nhân đã thành toàn! Tại hạ cáo lui!”
Ngày hôm sau, Trần Chẩn lên triều với thân phận là sứ giả nước Ngụy, dâng quốc thư lên Tề Uy Công, bẩm rõ việc Ngụy Vương có ý tôn Tề Công làm vương. Nếu Tề Công chấp thuận, hai nước sẽ kết liên minh, cùng chia vương vị.
Quốc sự xong xuôi, Trần Chẩn cáo lui.
Nhìn Trần Chẩn từ từ lui ra, rồi khuất dạng ngoài cửa điện, Tề Uy Công phá lên cười mấy tiếng, rồi quay sang nói với quần thần: “Chư vị ái khanh, Ngụy Anh ngồi trên vương vị, xem ra đã cháy xém mông rồi, bị người Tần bức bách, trước thì mất Hà Tây, sau lại phải dời đô. Nhưng người Tần vẫn không chịu buông tha, nghe nói gần đây lại kết minh với Hàn, Triệu, ba mặt phạt Ngụy. Ngụy Anh lo lắng, mới phái Trần Chẩn đi sứ nước ta, mưu đồ tôn quả nhân làm vương, cùng kéo quả nhân xuống vũng lầy một thể. Các khanh nói xem, quả nhân có nên ngụp xuống vũng bùn này này không?”
Điền Kỵ bước lên trước một bước, bẩm tấu: “Khởi bẩm chúa thượng, việc xưng vương, tuyệt đối không thể được!”
“Điền ái khanh hãy nói xem, tại sao lại không thể?”
“Khi nước Ngụy cường thịnh, họ coi ta là địch, nay thất thế, lại đến xin kết minh với ta, đây là khát mới đào giếng, không phải thực lòng. Hơn nữa, Ngụy Hầu xưng vương là việc ngông cuồng trái đạo, nên hiện giờ mới bị thiên hạ quay lưng, liệt quốc ghét bỏ. Lần này Ngụy Vương tôn chúa thượng làm vương, chắc chắn không có ý tốt, chúa thượng tuyệt đối không được mắc lừa!”
Tề Uy Công gật đầu, đưa mắt nhìn sang Trâu Kỵ: “Điền ái khanh cho rằng Ngụy Vương đợi khát mới đào giếng, lại có ý hại quả nhân, ý ái khanh thế nào?”
Điền Kỵ vốn là danh tướng nước Tề, lại là ruột thịt của Tề Công, chưa từng coi Trâu Kỵ ra gì. Trâu Kỵ tuy ngoài mặt không so đo, nhưng trong lòng vẫn thấy căm tức. Lúc này thấy Điền Kỵ phản đối, lại bị Trần Chẩn xúi giục, Trâu Kỵ bèn quả quyết bước lên tấu: “Khởi bẩm chúa thượng, vi thần cho rằng, chúa thượng có thể chấp thuận thỉnh cầu của Trần Chẩn, cùng xưng vương với Ngụy!”
Tề Công hai mắt vụt sáng: “Ái khanh mau nói rõ!”
Trâu Kỵ dõng dạc: “Ta đông giáp biển lớn, tây giáp Tam Tấn, bắc có Yên, nam là mười hai nước lưu vực sông Tứ. Đất Yên giá rét, đất đai cằn cỗi, xâm chiếm cũng chẳng có ích lợi gì. Tam Tấn đều là nước lớn, phía tây lại có nước Tần cường thịnh, không thể xâm chiếm. Chỉ có mười hai nước lưu vực sông Tứ, đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc, nước nhỏ binh yếu, là nơi có thể xâm chiếm. Vùng đất Tam Tấn, Ngụy nằm ở giữa. Nếu ta liên minh với Ngụy, bắc có thể chế Triệu, nam có thể chế Hàn. Có Tam Tấn thì chẳng cần lo gì nước Tần nữa. Chỉ cần phía tây vững chắc, ta có thể toàn lực đánh xuống phía nam, cùng tranh đoạt vùng lưu vực sông Tứ với Sở.”
Kỳ thực, khi Ngụy Huệ Vương xưng vương, Tề Công trong lòng rất đỗi bất bình, từ lâu đã có ý xưng vương để ngang bằng địa vị, chỉ có điều vẫn e ngại đạo nghĩa thiên hạ, không thể mở miệng. Giờ đối diện với chiếc thang mà Ngụy Vương đã bắc sẵn, lời của Trâu Kỵ lại hợp với tâm ý, Tề Uy Công liên tiếp gật đầu: “Phải, Trâu tướng quốc nói rất đúng. Có điều… nếu quả nhân cũng xưng vương như Ngụy Vương, há chẳng phải thiên hạ có hai vương, quả nhân cũng sẽ trở thành mục tiêu công kích ư?”
“Chúa thượng!” Trâu Kỵ vội nói. “Cương thường sớm đã rối loạn, thiên hạ hai vương đã không còn là chuyện lạ lùng. Ngay từ đầu thời Xuân Thu, Kinh Sở đã xưng vương. Cho đến ngày nay, liệt quốc xưng vương đã trở thành đại thế, Ngụy Vương chẳng qua là hành động trước một bước mà thôi. Kinh Sở có thể xưng vương, Ngụy Hầu có thể xưng vương, vậy cớ sao chúa thượng không thể xưng vương?”
Tề Uy Công đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần: “Chư vị ái khanh, Trâu tướng quốc tấu xin quả nhân quay mặt về nam xưng vương, các khanh có ý kiến gì chăng?”
Thượng đại phu Điền Anh bước lên tâu: “Vi thần tán thành chúa thượng xưng vương!”
Tề Uy Công quay nhìn Điền Anh: “Ái khanh nói xem, tại sao lại tán thành?”
“Vi thần cho rằng,” Điền Anh nói tiếp, “Hàn Hầu, Triệu Hầu vốn dĩ ngang hàng với Ngụy Hầu, nay lại thành ra thấp hơn một bực, trong lòng tức tối, nên mới hùa theo Tần Công phạt Ngụy. Ngụy Vương trước nay cố chấp cương cường, một khi đã ngồi lên vương vị, sẽ không bao giờ bước xuống. Vì vậy, vi thần cho rằng, nếu không ngoài dự đoán, Triệu Hầu, Hàn Hầu cũng muốn có được địa vị ngang bằng, không lâu nữa sẽ xưng vương. Mấy năm sau sẽ là thời đại liệt quốc cùng xưng vương. Chúa thượng đi trước một bước, một là đã ban cho Ngụy Vương một món nợ ân tình, hai là để thiên hạ thấy chúa thượng biết nắm bắt cục thế thiên hạ, ba là có thể chế ngự Hàn, Triệu.”
Tề Uy Công đưa mắt sang nhìn thái tử: “Tích Cương, con hãy nói xem!”
“Nhi thần cho rằng, cho dù công phụ quyết định xưng vương, cũng không nên dễ dàng nhận lời với Trần Chẩn.”
“Vi thần đồng ý với lời của điện hạ!” Trâu Kỵ tiếp lời. “Hiện giờ là lúc Ngụy Vương cần tới chúa thượng, cớ sao chúa thượng không đòi ông ta một thứ?”
Tề Uy Công vội hỏi: “Đòi thứ gì?”
“Ép ông ta nhường cho nước Tống!”
“Hay!” Tề Uy Công lập tức vỗ bàn, quay sang Điền Anh. “Điền ái khanh, hãy đi thăm dò Trần Chẩn, nếu Ngụy Anh đồng ý với với yêu cầu của Trâu tướng quốc, quả nhân sẽ cùng xưng vương với ông ta.”
Điền Anh vâng lệnh: “Vi thần tuân chỉ!”
Mấy ngày sau đó, Trần Chẩn và Điền Anh nhiều lần bàn bạc, cùng ước định một tháng sau Tề Công sẽ xưng vương, và đến Từ Châu hội minh với Ngụy Vương, cùng tôn vương vị của đối phương.
Trần Chẩn lần này đi sứ nước Tề, không những giúp Tề Công có được vương vị vốn đã ao ước từ lâu, lại khiến Ngụy Vương hai tay dâng cho nước Tống, đối với Uy Công mà nói, thực là song hỷ lâm môn. Vì vậy, Uy Công đặc biệt mở tiệc khoản đãi Trần Chẩn, tặng ông ta vàng bạc châu báu, lụa là gấm vóc, lại lựa chọn ra mười mỹ nữ, cùng nhiều đặc sản, gửi tặng Huệ Vương.
Trần Chẩn đi sứ thành công, mang theo mỹ nữ trở về, dọc đường xe ngựa rầm rập, cờ quạt tưng bừng.
Xe ngựa đi tới biên giới nước Tề, quan trấn ải kiểm tra quan văn của Trần Chẩn và những người khác, rồi xua tay cho đi. Thích Quang đánh xe ngựa, vừa mới đi qua cửa quan, đột nhiên hai mắt trợn tròn, bộ dạng cực kỳ kinh hãi.
Trần Chẩn ngạc nhiên hỏi: “Sao thế?”
Thích Quang chỉ tay về phía cửa quan, hãi hùng nói: “Chúa công mau nhìn xem, là hắn!”
Trần Chẩn nhìn theo hướng Thích Quang chỉ, thấy một người đầu đội nón rộng, khoác tay nải trên vai, cũng đang qua cửa quan, nhất thời không nhớ ra được là ai, vội hỏi: “Hắn là ai?”
“Bàng Quyên!”
Trong lúc đó, Bàng Quyên đã đi qua cửa quan, bỏ vành nón xuống, quay đầu lại, đưa đôi mắt rừng rực như lửa đuốc nhìn thẳng vào Trần Chẩn và Thích Quang, ánh mắt hung hãn, khoé miệng nhếch lên như cười mà không phải cười, như giận mà không phải giận, rõ ràng là đang thách thức hai người.
Nhìn trừng trừng một lúc, Bàng Quyên lại quay đi, sải bước dọc theo con đường cái quan, nhanh chóng xa dần.
Trần Chẩn định thần lại, đưa tay áo lau mồ hôi, gật đầu nói: “Ừm, chính là hắn! Kẻ này hẹn sau ba năm quay trở lại báo thù, thời hạn ba năm cũng đã đến. Nhưng mà…” khẽ chau mày, “nếu kẻ này trở lại báo thù, phải tới Đại Lương mới đúng, cớ sao lại sang nước Tề?”
“Chúa công,” Thích Quang chưa kịp suy nghĩ đã nói ngay, “kẻ này là khâm phạm triều đình, nước Ngụy nơi nơi đều truy nã, hắn làm sao dám đến?”
Trần Chẩn lừ mắt nhìn ông ta: “Tên này là kẻ liều mạng, có nơi nào không dám đến?”
“Chúa công dạy chí phải!” Thích Quang lắp bắp. “Lần này trở về, tiểu nhân sẽ tăng cường phòng bị, đồng thời báo lên tư đồ đại nhân, để quan phủ cùng truy nã.”
“Hừ!” Trần Chẩn liếc xéo hắn. “Còn có thể nhờ cậy được phủ tư đồ hay sao? Lần trước chính Chu Uy đã thả hắn ra chứ còn ai? Ngươi hãy phái thêm tay chân, tiền trảm hậu tấu. Còn nữa, bảo với Đinh Tam, nói bản phủ treo thưởng, ai lấy được đầu Bàng Quyên, trăm lượng vàng mà mấy ngày trước Tề Vương ban tặng cho bản công sẽ thuộc về người đó.”
“Tiểu nhân tuân lệnh!”
Từ khi có được sáu chương “Ngô Khởi”, Bàng Quyên ngày ngày lấy ra đọc kỹ, và cũng có nhiều lĩnh ngộ. Lần này xuống núi, Bàng Quyên cho rằng trong thiên hạ đã không còn đối thủ, nên rất đỗi tự tin. Nghĩ đến lời tặng của Quỷ Cốc Tử trước khi từ biệt, Bàng Quyên suy tính kỹ lưỡng tình thế của liệt quốc, quyết định đến nước Tề để đi nước cờ mạo hiểm đầu tiên.
Bước vào địa giới nước Tề, Bàng Quyên không phải lo lắng gì nữa, chỉ mấy ngày đã đến được đô thành Lâm Truy.
Nước cờ mạo hiểm này chính là yết kiến Tề Công. Bàng Quyên tìm đến một nhà trọ cách cung thành khá gần, thay đổi y phục, rồi đi thẳng về phía Tề cung. Vừa đến cửa cung, đã bị đám lính canh hùng hổ chặn lại.
Một quân uý đi ra. Bàng Quyên vòng tay, trình lên danh thiếp: “Xin quân uý hãy trình lên chúa thượng, nói rằng có danh sĩ Bàng Quyên cầu kiến.”
Quân uý nhận lấy danh thiếp, kiểm tra qua loa rồi trả lại Bàng Quyên, vòng tay nói mỉa: “Bàng sĩ tử, người như sĩ tử đây nên đến học cung Tắc Hạ thì hơn!”
Bàng Quyên vội nói: “Bẩm quân uý, tại hạ vì chuyện quốc sự cấp bách, nhất định phải gặp mặt chúa thượng để bẩm tấu.”
“Bàng sĩ tử,” quân uý khinh khỉnh đáp, “chúa thượng có chỉ, phàm là sĩ tử đến nước Tề, đều phải đến học cung luận học vấn. Nếu Bàng sĩ tử có chân tài thực học, sẽ được quan tế tửu và học cung lệnh tiến cử vào cung yết kiến chúa thượng.”
“Ha ha ha ha!” Bàng Quyên cười lớn một tràng. “Tắc Hạ chẳng qua chỉ nuôi được một đám ô hợp mà thôi, sao có thể luận học vấn cùng Bàng Quyên ta được?”
Quân uý giận dữ chau mày: “Ngươi đúng là không biết điều, bản uý thành tâm khuyên ngươi, nhưng ngươi lại không coi ai ra gì, khinh thường học cung Tắc Hạ của chúng ta. Cút mau, cút chậm một bước, ta sẽ bắt ngươi tống vào ngục!”
Bàng Quyên liếc nhìn khinh bỉ, lại cười lớn rồi bước đi.
Mấy ngày sau đó, Bàng Quyên phát hiện lời quân uý nói không hề sai, phàm là sĩ tử đến nước Tề, đều phải qua ải Tắc Hạ, nếu không, Tề Công sẽ không chịu gặp mặt. Bàng Quyên biết vậy, nhưng trong học cung có đến hàng ngàn học tử, danh sĩ vô số, đừng nói đến chúa thượng, đến quan tế tửu hay học cung lệnh cũng khó lòng gặp được. Hơn nữa, nghĩ đến việc phải tranh biện suốt ngày với đám học sĩ giá áo túi cơm, Bàng Quyên đã thấy khó chịu trong lòng.
Đúng lúc Bàng Quyên đang bó tay hết cách, chủ quán trọ liền mách cho một ngoại lệ: nếu được tướng quốc Trâu Kỵ tiến cử, Tề Công sẽ phá lệ triệu kiến.
Bàng Quyên suy nghĩ hồi lâu, quyết định đến phủ tướng quốc thử vận may. Trâu Kỵ nổi tiếng khắp liệt quốc, nước Tề có được ngày hôm nay cũng là nhờ công lớn của người này. Nếu gặp được tướng quốc, nói rõ lợi hại với ông ta, chắc chắn Trâu Kỵ sẽ dẫn Bàng Quyên tới gặp quân chủ.
Bàng Quyên tới phủ tướng quốc, đưa danh thiếp cho môn nhân canh cửa. Phủ tướng quốc quả là nơi quy củ, môn nhân cũng rất hoà nhã, xem xong danh thiếp, liền vòng tay hành lễ với Bàng Quyên: “Bàng sĩ tử xin đợi một lát, tiểu nhân sẽ vào trong bẩm báo!”
Một lát sau, một người dáng dấp quản gia đi cùng môn nhân trở ra.
Bàng Quyên bước lên trước, vòng tay vái chào: “Sĩ tử nước Ngụy Bàng Quyên xin chào gia lão.”
Lão quản gia đáp lễ: “Tại hạ xin chào Bàng sĩ tử. Nghe nói Bàng sĩ tử muốn gặp chúa công, xin hỏi có việc gì?”
“Việc này…” Bàng Quyên do dự một lát, “có liên quan đến an nguy của nước Tề, tại hạ chỉ có thể nói trực tiếp với tướng quốc đại nhân.”
Quản gia ngây ra một thoáng, lại vái Bàng Quyên: “Bàng sĩ tử xin đợi một lát, tại hạ sẽ vào bẩm với chúa công!”
Bàng Quyên đáp lễ: “Đa tạ gia lão!”
Trâu Kỵ đang ở trong thư phòng duyệt đọc tấu báo, thấy quản gia đi vào, liền ngẩng lên hỏi: “Có việc gì ư?”
“Khởi bẩm chúa công, có sĩ tử nước Ngụy Bàng Quyên cầu kiến!”
“Sĩ tử nước Ngụy?” Trâu Kỵ thoáng ngạc nhiên. “Chẳng phải đã có Tắc Hạ hay sao, hắn đến đây làm gì? Nói với hắn, Tắc Hạ mới là nơi sĩ tử nên đến!”
“Tiểu nhân cũng đã nói như vậy, nhưng người này nói có việc lớn cần cầu kiến tướng gia.”
“Là việc lớn gì?”
“Tiểu nhân có hỏi, người này nói, là việc liên quan đến an nguy của nước Tề, nhất định phải gặp tướng gia.”
“Việc liên quan đến an nguy của nước Tề?” Trâu Kỵ chau mày, suy nghĩ một lát rồi quay sang nhìn quản gia. “Nước Tề hiện tại chẳng có vấn đề an nguy gì cả, hãy tìm cớ đuổi hắn đi!”
“Tiểu nhân tuân lệnh!”
Sau khi quản gia lui ra, Trâu Kỵ khẽ thở dài, lắc đầu lẩm bẩm: “Cái gì mà an nguy của nước Tề? Muốn vào phủ của ta cũng phải biết tìm lý do cho hay một chút chứ!” Rồi tiếp tục cúi xuống đọc tấu chương.
Bàng Quyên lại bị xua đuổi, trong lòng vô cùng tức giận, tiếp tục ở lại quán trọ thêm vài ngày, thấy thời hạn xưng vương ở Từ Châu ngày càng đến gần, mà nước cờ đầu tiên vẫn chưa đi được, khó tránh ruột gan như lửa đốt.
Buổi trưa hôm nay, gần đến giờ Thân, Bàng Quyên rầu rĩ ủ ê đi trên con đường lớn trước cung thành. Đi một lúc thì nhìn thấy phía trước có một quán rượu, lúc này Bàng Quyên cũng cảm thấy đói, liền tạt vào quán, gọi tiểu nhị dọn lên hai đĩa thức ăn, một vò rượu, vừa uống vừa vắt óc nghĩ cách tìm gặp quân chủ. Đang uống rượu, bỗng đường phố náo loạn. Bàng Quyên thò đầu nhìn ra, thấy một toán kỵ binh đang đi dẹp đường.
Bàng Quyên ngạc nhiên, gọi: “Tiểu nhị, lại đây!”
Tiểu nhị chạy đến: “Khách quan, ngài gọi tiểu nhân?”
Bàng Quyên chỉ ra phía ngoài: “Có chuyện gì thế, sao ồn ào đến vậy?”
“Chắc khách quan không biết, lúc nãy chúa thượng đến Thái miếu xem quẻ, giờ đang trở về!”
“Đến Thái miếu xem quẻ?” Bàng Quyên tim đập thình thịch, ngẫm nghĩa một lát rồi móc ra mấy đồng tiền bố đặt lên bàn, nói: “Trả tiền, còn thừa cho ngươi!” Nói đoạn đặt luôn đũa xuống, hai mắt nhìn không chớp ra ngoài cửa sổ.
Quả không ngoài dự liệu, chốc lát sau, một đội xe ngựa hộ tống xe kiệu của Tề Công từ từ đi tới. Các trọng thần triều đình gồm thái tử Tích Cương, tướng quốc Trâu Kỵ, thượng tướng quân Điền Kỵ, thượng tướng quân Điền Anh… đều cưỡi trên lưng ngựa, đi ở hai bên trái phải xe kiệu của Tề Công.
Bàng Quyên nhìn thấy rõ ràng, mắt thấy xe kiệu của Tề Công đang từ từ tiến tới, liền thình lình hành động, lao vụt ra khỏi quán trọ nhanh như chớp xẹt, quỳ sụp xuống giữa đường. Đám vệ sĩ được một phen kinh hoảng, lập tức xúm xít lại bắt lấy Bàng Quyên.
Tự ý lao vào đoàn xa giá của quân chủ sẽ phải chịu tội chết, đây là điều ai ai cũng biết.
Sau khi cơn rối loạn đã qua, Tề Uy Công thò đầu ra ngoài cửa xe, hỏi Điền Tích Cương: “Là người nào chặn xe của quả nhân?”
Điền Tích Cương bẩm báo: “Bẩm công phụ, là một sĩ tử, nhìn bộ dạng không giống thích khách!”
“Giải hắn tới đây!”
Điền Tích Cương truyền lệnh, mấy tên giáp sĩ liền áp giải Bàng Quyên lại gần. Bàng Quyên quỳ dưới đất, vì hai tay đã bị trói nên không thể khấu đầu, chỉ cúi đầu ba cái tượng trưng, rồi dõng dạc nói: “Sĩ tử nước Ngụy Bàng Quyên khấu kiến chúa thượng!”
Tề Uy Công đưa mắt quan sát một lượt: “Bàng Quyên, ngươi có biết chặn xa giá của quả nhân sẽ phải chịu tội chết?”
“Khởi bẩm chúa thượng, Bàng Quyên biết!”
“Ngươi đã biết sẽ chết, vậy tại sao còn chặn?”
“Nếu như có thể cứu được đại nạn của nước Tề, Bàng Quyên đâu có tiếc cái mạng này?”
“Đại nạn của nước Tề?” Tề Uy Công sững người. “Đại nạn gì, cớ sao quả nhân không hề nghe nói?” Rồi quay sang phía Trâu Kỵ. “Trâu ái khanh, Tề có đại nạn gì?”
“Khởi bẩm chúa thượng!” Lúc này Trâu Kỵ cũng nhớ ra chuyện mấy ngày trước, vòng tay bẩm tấu. “Vi thần nhớ ra rồi, mấy ngày trước kẻ này cũng từng đến phủ của vi thần, cũng nói lời ngông cuồng như vậy, nên đã bị vi thần đuổi đi. Không ngờ kẻ này thật gan to tày trời, dám mạo phạm chặn xa giá của chúa thượng!”
Bàng Quyên cười lớn: “Ngay cả tướng quốc đại nhân uy danh lẫm liệt cũng nói ra những lời này, đúng là nước Tề đã không còn người nữa!”
“To gan!” Trâu Kỵ giận dữ. “Ngươi chết đến nơi, còn dám nói xằng?”
Nhưng Tề Công lại thấy rất hiếu kỳ, nhìn Bàng Quyên chăm chú một hồi rồi hỏi: “Bàng Quyên, quả nhân hỏi ngươi, hiền học trong thiên hạ đều ở Tắc Hạ, kẻ viết sách lập thuyết đông đến hàng trăm, sĩ tử có tới hàng ngàn, đúng là nơi nhân tài đông đúc, tại sao ngươi lại bảo nước Tề ta không còn người?”
Quần thần tuỳ tùng cũng đều giận dữ nhìn Bàng Quyên.
“Khởi bẩm chúa thượng!” Bàng Quyên đáp rành rọt. “Xem thường tình thế thiên hạ, đối địch với ba nước Triệu, Hàn, Tần là thiếu sáng suốt; cùng kết giao xưng vương với nước Ngụy sắp chết mà bỏ đi miếng thịt ngay bên miệng là thiếu khôn ngoan. Nước Tề vừa không sáng suốt lại thiếu khôn ngoan, quần thần không ai khuyên giải, nên mới nói không còn người!”
Nghe nói đến miếng thịt ngay bên miệng, Tề Uy Công hít vào một hơi thật sâu, quay sang nói với đám giáp sĩ: “Cởi trói cho Bàng Tử, dẫn về cung!”
Nơi này cách cửa cung không xa, chỉ một lát sau, đoàn người ngựa đã về tới cung. Tề Uy Công ngồi trên điện, nói với thuộc hạ: “Mời Bàng Tử!”
Lập tức có cung nhân dẫn Bàng Quyên lên điện.
Bàng Quyên dập đầu sát đất: “Bàng Quyên người Ngụy khấu kiến chúa thượng!”
“Bàng Tử miễn lễ!” Tề Uy Công khẽ phất tay, nghiêng người về phía trước mà nói. “Lúc nãy quả nhân vẫn chưa hiểu hết lời Bàng Tử, xin Bàng Tử hãy nói rõ hơn.”
Bàng Quyên đưa mắt liếc nhìn quần thần hai bên: “Chúa thượng có thể cho mọi người lui ra chăng?”
“Chư vị ái khanh!” Tề Uy Công quay sang phía quần thần. “Bãi triều!” Rồi quay sang Điền Tích Cương. “Cương Nhi, dừng bước!”
Mặc dù Trâu Kỵ và quần thần đều không hài lòng, nhưng cũng buộc phải lĩnh chỉ lui đi. Điền Tích Cương đi lại gần Uy Công, đứng ở bên cạnh.
“Bàng Tử,” Tề Uy Công quay sang Bàng Quyên, “có thể nói được rồi!”
“Chúa thượng,” Bàng Quyên vòng tay nói, “thiên hạ ngày nay, là chiến hay hoà đều được quyết định nhờ thực lực. Bàng Quyên to gan dám hỏi chúa thượng, thực lực của Ngụy so với Triệu thì thế nào?”
Thân là một sĩ tử tầm thường, nhưng Bàng Quyên mở miệng lại lập tức chất vấn quân chủ, đây là phạm thượng. Tích Cương mắt hổ trợn trừng, đang định trách mắng thì Uy Công xua tay, hoà nhã nói: “Trước trận chiến Hà Tây, Ngụy mạnh Triệu yếu, sau trận chiến, không còn chênh lệch nhiều nữa!”
“Xin hỏi chúa thượng, thực lực của Triệu so với Hàn thì thế nào?”
“Nước Hàn vốn không bằng Triệu, nhưng từ khi Thân Bất Hại làm tướng, nước Hàn đại trị, hiện giờ thực lực có thể ngang bằng.”
“Lời của chúa thượng mới chỉ nói về sức chiến đấu!” Bàng Quyên không hề khách sáo, nói thẳng vào điểm yếu của Uy Công. “Thực lực của một nước không hoàn toàn chỉ là sức chiến đấu, còn bao gồm cả vật lực và trí lực. Trong trận chiến Hà Tây, nước Tần không phải thắng trong chiến trận, mà là thắng ở vật lực và trí lực. Công Tôn Ưởng biến pháp mười năm, nước Tần quốc khố dồi dào, sức nước vững chãi, cộng thêm Công Tôn Ưởng mưu trí hơn người, nên mới thủ thắng. Lại nhìn nước Ngụy, trước trận chiến đã xây Hồng Câu, dựng vương cung, chinh phạt Vệ, khiến cho tài lực cạn kiệt, binh tướng mệt mỏi. Những điều này vẫn chưa quan trọng, quan trọng là Ngụy Vương không biết dùng người, nên mới phải đại bại.”
Lời của Bàng Quyên, Tề Uy Công đương nhiên trong lòng hiểu rõ. Câu trả lời của Uy Công khi nãy, chẳng qua chỉ là lời nói bề ngoài, hoặc là cố ý dẫn dụ, để nhử đối phương phải nhả ngọc ra. Nghe Bàng Quyên nói một mạch, Uy Công không còn dám tiếp tục coi thường, nghiêng người về phía trước, giục giã: “Bàng Tử, nói tiếp đi!”
“Chúa thượng!” Bàng Quyên tiếp tục dõng dạc. “Tần có Công Tôn Ưởng, nước đại trị. Hàn có Thân Bất Hại, nước đại trị. Triệu mặc dù không trị, nhưng người Triệu quật cường, những năm gần đây không xảy ra đại chiến, thực lực chỉ tăng không giảm. Chỉ có nước Ngụy, nước không có tôi giỏi, kho không trữ lương thực, quân không có chí khí, Ngụy Vương lại không nhận ra những điều đó, liền năm gây chuyện binh đao, thực chẳng khác nào một người bệnh, thân mắc chứng nan y mà không tự biết, vẫn tửu sắc chơi bời, buông tuồng phóng túng. Gần đây lại xây dựng bừa bãi, di chuyển đô thành, dựng vương cung theo chế độ nhà Chu, không những bắt dân phu dịch không đúng lúc, lại thu thuế nặng nề, dân không sống nổi. Chúa thượng, tình thế nước Ngụy ngày nay, đừng nói là nước Tần muốn xâm chiếm, mà chỉ cần Hàn, Triệu liên minh, người Ngụy đã không thể chống đỡ. Lẽ nào chúa thượng không nhìn thấy những điều này?”
Tề Uy Công trán rịn mồ hôi, rút khăn lau vội: “Quả nhân có biết một hai.”
“Chúa thượng đã biết, vậy cớ sao lại muốn mạo hiểm trở mặt với Hàn, Triệu, mà kết giao với kẻ sắp chết là Ngụy?”
Tề Uy Công không biết nói gì, liền quay sang nhìn Tích Cương, thấy thái tử cũng hai mắt trợn tròn, mặt đầy kinh hãi.
“Theo ý Bàng Tử, quả nhân nên ứng phó thế nào?”
“Bỏ Ngụy!”
“Bỏ Ngụy?” Tề Uy Công đưa tay chống cằm, hai mắt khép hờ, chìm trong suy nghĩ hồi lâu, mới mở mắt ra nói: “Lúc nãy nghe Bàng Tử nói tới miếng thịt ngay bên miệng, xin hỏi Bàng Tử, miếng thịt này phải chăng là nước Tống?”
“Với thế của chúa thượng, nước Tống chẳng qua chỉ là một con tép nhỏ mà thôi!”
Coi nước Tống màu mỡ là một con tép, cha con Tề Công đều kinh ngạc, đưa mắt nhìn nhau, rồi lại cùng quay sang nhìn Bàng Quyên.
“Xin hỏi Bàng Tử,” Uy Công hỏi thẳng, “miếng thịt này không phải là nước Tống, vậy là nước nào?”
“Nước Ngụy!”
“Hả?” Tề Uy Công buột miệng kêu lên. “Bàng Tử… Bàng Tử nói bừa gì thế? Lạc đà dù gầy vẫn lớn hơn ngựa, mặc dù nước Ngụy đã suy yếu hơn trước, nhưng võ binh vẫn còn, dân cư đông đúc, kẻ trung dũng đầy ở hương thôn, cho dù là người Tần cũng không dám manh động, vẫn phải kết minh với hai nước Hàn, Triệu!”
Bàng Quyên nghe vậy, phá lên cười lớn một tràng.
“Bàng Tử đang cười quả nhân ư?”
“Đúng vậy!” Bàng Quyên thu nụ cười lại, vòng tay nói.
Uy Công cảm thấy bẽ mặt, lạnh lùng hỏi: “Quả nhân đáng cười ở điểm nào?”
“Cười chúa thượng đã quá lời rồi!” Bàng Quyên hạ giọng. “Thường có câu, nay chẳng phải xưa. Thời thế đã thay đổi, nước Ngụy ngày nay đã không còn là nước Ngụy ngày trước nữa. Nước Ngụy thế nào, thân là người Ngụy, thảo dân chắc chắn sẽ hiểu rõ hơn chúa thượng.”
“Bàng Tử nói mau!” Uy Công lại ngả người về phía trước.
Bàng Quyên lại vòng tay nói: “Nội tình nước Ngụy, một là giống như những điều Bàng Quyên vừa nói. Điều mà Quyên chưa nói, chính là sức quân. Khiến liệt quốc sợ hãi, chẳng qua là võ binh của Đại Nguy. Số võ binh Đại Ngụy trang bị đầy đủ, hùng dũng thiện chiến không hơn tám vạn. Trong trận chiến Hà Tây, tám đã mất đến sáu, nay chỉ còn lại hai vạn, tất cả đều trấn thủ ở Hàm Cốc, Hà Đông phòng bị người Tần, chẳng còn hơi sức đâu để nhìn đến chỗ khác. Số binh sĩ còn lại tuy nhiều, nhưng phần lớn đều là đám ô hợp, giữ thành còn khó khăn, nói gì đến hành quân chiến đấu. Nhưng quan trọng hơn cả không phải là binh lính, mà là người cầm binh. Với tài của Long Giả, nếu ở nước Tề chỉ có thể là một chiến tướng bình thường, nhưng ở nước Ngụy lại chẳng ai hơn được. Dẫu là vậy, Ngụy Vương cũng không trọng dụng Long Giả, cho đồ bị thịt là công tử Ngang cầm quân, để tên nịnh thần Trần Chẩn trị chính, khiến cho trong triều chẳng còn ai, ngôn luận không thông, kho không hạt thóc, quân không ý chí, hiền sĩ bỏ đi, người người quay lưng cô lập. Nước Ngụy ngày nay khác nào cá nằm trên thớt, thịt bày trong đĩa, chỉ còn đợi xem ai ra tay nhanh mà thôi!”
Bàng Quyên nói liền một mạch, Tề Uy Công, Điền Tích Cương nghe mà chấn động. Nói thực, họ chẳng qua mới chỉ để mắt đến các nước vùng lưu vực sông Tứ, cho dù trong mơ cũng chưa từng có chủ ý đánh Ngụy. Tuy nhiên, trong thời chiến quốc loạn lạc, chẳng có điều gì không thể. Người Tần vừa đánh đã lấy được bảy trăm dặm đất Hà Tây, ép Ngụy dời đô về phía đông. Hùng phong của Đại Ngụy, quả thực đã không còn nữa. Nếu như có thể chớp thời cơ chiếm lấy nước Ngụy, không những nước Tống sẽ trở thành vật trong túi, mà con đường tiến về tây cũng được khai thông.
Nghĩ đến đây, Uy Công hít sâu một hơi, vòng tay mà nói: “Lời của Bàng Tử thực chẳng tầm thường. Có điều, mặc dù liệt quốc tranh chấp đã mấy chục năm, nhưng Tề, Ngụy vẫn luôn hoà mục, quả nhân và Ngụy Anh không qua lại nhiều, cũng chưa từng có xung đột. Lần trước Trần Chẩn đi sứ, thành ý tôn quả nhân làm vương, quả nhân đã nhận lời với Ngụy Anh, mấy hôm nữa sẽ đến Từ Châu gặp mặt. Quân tử nhất ngôn cửu đỉnh, quả nhân đức mỏng, song đời này chưa từng nuốt lời. Lời Bàng Tử tuy hay, nhưng e rằng quả nhân khó lòng làm được.”
“Chỉ cần chúa thượng muốn, thiên hạ chẳng có việc gì không thể làm được!”
“Bàng Tử có kế sách vẹn toàn chăng?”
“Đại thế trong tương lai, liệt quốc chắc chắn sẽ tới thời đại cùng xưng vương. Đức của chúa thượng vượt trội Ngụy Vương, Ngụy Vương có thể xưng vương, chúa thượng đáng lý cũng phải làm vương. Theo ý thảo dân, chúa thượng vẫn có thể giữ đúng lời hứa, quay mặt về nam xưng vương, đến Từ Châu hội kiến Ngụy Vương. Ngụy Vương tính tình hiếu thắng, trong buổi hội minh, chắc chắn sẽ khoe khoang những báu vật của mình với chúa thượng, chúa thượng có thể nhân cơ hội ấy, chế nhạo ngay trước mặt đám đông.”
“Ồ?” Tể Uy Công hào hứng. “Quả nhân phải chế nhạo thế nào?”
Bàng Quyên hạ giọng đáp: “Báu vật của Ngụy Vương, chẳng qua chỉ là những món đồ chơi lạ mắt trong thiên hạ. Nhưng báu vật của chúa thượng lại là hiền tài trị quốc. Ngụy hùng bá đã lâu, ngạo khí ngày càng khuếch trương, khiến tiểu nhân lấn át người hiền, quân chủ bị che mắt, trước không dùng Công Tôn Ưởng, sau lại không nghe lời Bạch Khuê, không cất nhắc Công Tôn Diễn, mà dẫn đến suy yếu ngày nay. Nhưng chúa thượng thì ngược lại, tôn quý danh sĩ, trọng dụng hiền tài, khiến kẻ có tài trong thiên hạ đều đổ về Tắc Hạ, lại có những trung thần lương tướng như hiền tướng Trâu Kỵ, lương tướng Điền Kỵ, hiền đại phu Điền Anh… chắc hẳn sẽ có ngày lớn mạnh. Trong buổi hội vương, chúa thượng có thể lấy bảo bối nhân tài để chế giễu Ngụy Vương. Nếu Ngụy Vương chịu nghe theo lời khuyên răn của chúa thượng, từ đó trọng dụng nhân tài, chú trọng trị quốc, chứng tỏ nước Ngụy vẫn còn ý chí chấn hưng, chúa thượng có thể kết minh với họ. Nếu Ngụy Vương hổ thẹn giận dữ, không biết tự hối cải, thì nước Ngụy chỉ còn nước đợi ngày diệt vong. Chúa thượng không những không thể kết minh, mà ngược lại cần phải đi trước một bước, đừng bỏ Ngụy cho ba nước Tần, Hàn, Triệu chia nhau.”
Bàng Quyên nói xong, Tề Uy Công lại liên tiếp gật đầu: “Lời của Bàng Tử sắc sảo chí lý, sâu xa thiết thực, quả nhân nghe mà ngỡ như lời của thánh hiền.”
Bàng Quyên dập đầu: “Chúa thượng quá khen, thảo dân hổ thẹn không dám nhận!”
“Có điều, quả nhân có một chuyện không hiểu, muốn hỏi Bàng Tử.”
“Thảo dân nếu biết sẽ không dám giấu!”
“Bàng Tử thân là người Ngụy, cớ sao lại không giúp Ngụy, mà lại đến giúp quả nhân?”
“Chúa thượng hẳn đã nghe chuyện Công Tôn Diễn bỏ Ngụy theo Tần?”
Tề Uy Công gật đầu.
“Xin hỏi chúa thượng, sĩ tử ở Tắc Hạ không dưới ba nghìn, nhưng có phải đều là người nước Tề? Từ xưa đến nay, chim khôn chọn cành mà đậu. Thân là người Ngụy, nhưng tấm lòng phò Ngụy của thảo dân đã nguội lạnh từ lâu, nên mới bỏ Ngụy đến Tề, nương nhờ chúa thượng.”
“Nói hay lắm!” Tề Uy Công cười lớn mà nói. “Trời cao đã ban Bàng Tử cho Tề, đúng là điều may mắn của quả nhân. Quả nhân xin bái Bàng Tử làm thượng khanh, sớm tối phò tá bên cạnh, chỉ giáo quả nhân, không biết ý Bàng Tử thế nào?”
Bàng Quyên đứng dậy bái lạy: “Thảo dân khẩn cầu chúa thượng thu hồi mệnh lệnh!”
“Ồ?” Tề Uy Công hơi ngạc nhiên. “Lẽ nào chức thượng khanh cũng không giữ được Bàng Tử ư?”
“Chúa thượng quá lời rồi!” Bàng Quyên vòng tay nói. “Tề là nước lớn, chúa thượng là hiền quân, thượng khanh là chức vị cao, Bàng Quyên chỉ là thảo dân, chỉ bằng vài lời nói suông đã được ân sủng như vậy, cho dù có chết chín lần cũng không đủ báo đáp, sao dám chê chức vị nhỏ bé?”
“Nếu đã như vậy, Bàng Tử còn vướng mắc điều gì?”
“Thảo dân còn có một số việc riêng chưa làm xong, thỉnh cầu chúa thượng khai ân!”
“Dám hỏi là việc riêng gì vậy?” Tề Uy Công hỏi.
“Mối thù giết cha!” Bàng Quyên nước mắt ầng ậc. “Thảo dân sống ở An Ấp, tiên phụ từng là phùng nhân của Đại Chu, thượng đại phu nước Ngụy là Trần Chẩn xúi giục Ngụy Vương xưng vương, ép gia phụ phải may vương phục, gia phụ không nghe nên đã bị Trần Chẩn sát hại. Ba năm trước, thảo dân đã lập lời thề, nhất định phải giết chết gian tặc Trần Chẩn, báo thù cho gia phụ. Đợi sau khi thảo dân báo được thù này, sẽ đến báo đáp hậu ân của chúa thượng!”
“Thì ra là vậy!” Uy Công thở dài, liên tiếp gật đầu. “Bàng Tử đã có mối thù không đội trời chung với Trần Chẩn, vậy quả nhân cũng không miễn cưỡng nữa. Người đâu!”
Nội thần bước vào: “Có nô tài!”
“Thưởng cho Bàng Tử một trăm lượng vàng, một cỗ xe ngựa!”
Bàng Quyên lại khấu bái: “Thảo dân to gan, xin chúa thượng hãy thu hồi mệnh lệnh!”
“Ồ…” Tề Uy Công ngỡ ngàng nhìn Bàng Quyên. “Tước vị không muốn, vàng cũng không nhận, bảo quả nhân phải thưởng Bàng Tử thế nào?”
“Thảo dân chặn đường đã phạm phải tội chết, chúa thượng không trách tội đã là ân điển lớn nhất với thảo dân!”
Tể Uy Công bật cười, khen: “Bàng Tử thực là nhã sĩ, quả nhân lại thành ra thô tục rồi! Đêm nay trăng thanh gió mát, quả nhân có chuẩn bị một bàn rượu nhạt, mời Bàng Tử cùng ở lại thưởng trăng, có được chăng?”
Bàng Quyên lạy liền ba lạy: “Có thể cùng thưởng trăng với hiền quân của thiên hạ, đây là ý nguyện một đời của thảo dân!”
Tề Uy Công liền đứng dậy, dắt tay Bàng Quyên: “Bàng Tử, mời!”
Mấy ngày sau đó, Tề Uy Công cùng với các trọng thần Trâu Kỵ, Điền Kỵ, Điền Anh cùng nhau phân tích hiện trạng của nước Ngụy và tình thế của liệt quốc, cảm thấy kiến nghị của Bàng Quyên không phải là không thể thực thi. Đặc biệt là Điền Kỵ, đã năm năm liền không đánh trận lớn, đang nóng lòng được một phen phân cao thấp với binh tướng nước Ngụy.
Việc hội vương tại Từ Châu cũng được chuẩn bị chu đáo.
Năm ngày sau, Tề Uy Công bố cáo thiên hạ, xưng vương ở Lâm Truy. Lại ba ngày nữa, theo như ước hẹn, cùng đến Từ Châu bên sông Tứ Thuỷ, hội vương với Ngụy Vương.
Từ Châu nằm trong lãnh thổ nước Tống, nước Tống cũng chính là vật trao đổi của Ngụy, Tề trong lần hội minh này. Trước việc quân vương của hai nước lớn gặp mặt trong lãnh thổ của mình, Tống Công Yển mừng quá hoá sợ, gần như điều động toàn bộ quốc lực, sắp đặt buổi hội vương rất mực chu toàn. Tống Công Yển chủ động như vậy là do hai nguyên nhân, một là không biết mình đã bị biến thành lễ vật trao tặng, hai là bản thân ông ta cũng có dã tâm, muốn nhân cơ hội Tề, Nguỵ xưng vương mà được hưởng lây ngôi vị chí tôn. Theo ý ông ta, đã là hội vương, thì chỉ cần có mặt tại hiện trường, sẽ được làm vương. Vì vậy, Tống Công cũng chuẩn bị sẵn vương phục vương miện, định đợi đến khi hội vương sẽ mặc.
Tề Uy Công đến trước ba ngày, ở tại hành dinh đã được dựng sẵn bên bờ sông Tứ Thuỷ. Buổi trưa ngày thứ ba, người Ngụy cũng đến, thống nhất tối hôm đó sẽ do Tề Vương làm chủ, tổ chức yến tiệc tẩy trần cho Ngụy Vương, Tống Công Yển bồi tiếp.
Trời vừa chập tối, Huệ Vương và thượng khanh Trần Chẩn, An Quốc Quân công tử Ngang chậm rãi đi tới hành dinh của nước Tề, sáu mươi tư nhạc công nước Tề ngồi bên ngoài, đội ngũ hùng hậu, cùng tấu lên khúc nhạc đón thiên tử. Tề Uy Vương đầu đội vương miện, cùng với những người đã đến từ trước bồi tiếp như Tống Công Yển, thượng đại phu Điền Anh, thượng tướng quân Điền Kỵ… bước ra ngoài cửa hành dinh, cùng hành lễ với Ngụy Vương, sau đó dắt tay đi vào trong trướng. Tống Công Yển không dám mặc vương phục, dự tính sau khi hai vương cơm no rượu say, đắc chí hài lòng sẽ nhân hứng đề cập đến chuyện này, làm bước đệm cho đại lễ hội vương.
Buổi tiệc bắt đầu. Tề Uy Vương, Ngụy Huệ Vương cùng ngồi trên ngai vàng, Tống Công ngồi dưới, các đại thần của Tề, Ngụy chia làm hai hàng, ngồi theo cấp bậc. Trước mặt mỗi người đều bày một bàn thấp, trên bàn bày rượu và đủ món sơn hào hải vị.
Uy Vương nâng chén, nói: “Ngụy Vương từ xa đến đây, Điền Nhân Tề có chuẩn bị một bàn rượu nhạt để tẩy trần cho Ngụy Vương. Điền Nhân Tề xin cạn trước để tỏ lòng tôn kính!” Rồi ngẩng đầu, một hơi uống cạn.
Tống Công Yển và các đại thần nước Tề cùng cạn chén.
Thị nữ rót rượu, Ngụy Huệ Vương cũng nâng chén nói: “Tề Vương thuận theo ý trời lòng dân, quay mặt về nam xưng vương, thật đáng chúc mừng. Ngụy Anh hôm nay xin mượn rượu ngon của Tề Vương, thành tâm chúc mừng Tề Vương, chúc mừng nước Tề!” Rồi một hơi uống cạn.
Tống Công Yển và các đại thần nước Ngụy lại cạn chén.
Tề Uy Vương vỗ tay, nhạc công liền tấu lên khúc nhã nhạc nước Tề. Nhạc dứt, Tề Uy Vương quay sang Huệ Vương, cười mà hỏi: “Xin hỏi Huệ Vương, nhạc nước Tề thế nào?”
Ngụy Huệ Vương lập tức đáp lời: “Nghe nói Khổng Tử nghe nhạc Tề, ba tháng không biết đến mùi thịt, hôm nay ta đã tin rồi!”
Tề Uy Vương mỉm cười, lại vỗ tay. Tiếng nhạc lại dìu dặt vang lên, sáu mươi tư mỹ nữ tiến vào, nhảy múa theo tiếng nhạc. Múa xong một khúc, mỹ nữ lui ra, Tề Uy Vương lại quay sang Ngụy Vương: “Xin hỏi đại vương, nữ nhi nước Tề thế nào?”
Ngụy Huệ Vương hết lời khen ngợi: “Nghe nói đất Tề sinh mỹ nữ, hôm nay ta đã tin rồi!”
Tề Uy Vương phá lên cười lớn một tràng.
Ngụy Huệ Vương không hiểu, ngạc nhiên nhìn Tề Uy Vương: “Xin hỏi Tề Vương cười gì?”
Tề Uy Vương lại cười thêm một hồi, cười xong mới nói: “Nghe nói đại vương biết đẹp mà không hiểu nhạc, nay Điền Nhân Tề đã tin rồi!”
Bị nói khích ngay trước mặt Tống Công, Huệ Vương thoáng đỏ mặt, cố kìm cơn giận dữ, hơi vòng tay mà nói: “Xin hỏi Tề Vương, lời này phải giải thích thế nào?”
Tề Uy Vương cười đáp: “Trọng Ni đến Tề nghe nhạc mà không biết đến mùi thịt, đúng là có chuyện này, nhưng thứ mà Khổng Tử nghe là nhạc ‘Thiều’, không phải là nhạc của nước Tề. Khúc đại vương nghe lúc nãy là nhạc của nước Tề, âm thanh uỷ mị, sao có thể sánh được với nhạc ‘Thiều’? Từ đó mà Điền Nhân Tề biết được, đại vương biết đẹp nhưng không hiểu nhạc.”
Ngụy Huệ Vương nghĩ lại, thấy đúng là mình chưa suy nghĩ kỹ đã buột miệng nói bừa, vô cùng hổ thẹn, sắc mặt lúng túng, nhất thời không thể tìm được lời nào thích hợp để đáp trả, đành phải gượng cười khan mấy tiếng.
Tề Uy Vương tiếp tục nâng chén: “Điền Nhân Tề kính đại vương một chén, chúc mừng Tề, Ngụy hai nhà hoà mục hữu hảo!” Rồi nâng chén uống cạn.
Tất cả những người có mặt đều cạn chén.
Thị tửu lại rót đầy rượu, Ngụy Huệ Vương cũng nâng chén nói: “Ngụy Anh kính Tề Vương, chúc mừng Tề, Ngụy cùng xưng vương thiên hạ!” Rồi một hơi uống cạn.
Tống Công Yển và chư thần nước Ngụy cũng đều cạn.
Thấy mọi người đều đã uống cả, Tề Uy Vương lại chậm rãi đặt chén xuống bàn. Đám đại thần nước Tề cũng đều đặt chén rượu xuống.
Ngụy Huệ Vương trong dạ hoang mang: “Xin hỏi Tề Vương, tại sao lại không uống?”
Tề Uy Vương hạ giọng đáp: “Vì lời của đại vương không thực, Điền Nhân Tề không thể uống!”
“Xin hỏi Tề Vương,” Ngụy Huệ Vương vừa bẽ bàng vừa kinh ngạc, “lời của Ngụy Anh có chỗ nào không thực?”
“Thiên hạ ngày nay, cùng xưng vương có bốn nước Chu, Sở, Ngụy, Tề, không chỉ có hai nhà Tề, Ngụy xưng vương.”
“Điều này…” Ngụy Huệ Vương lại cứng họng, càng thêm xấu hổ, mặt đỏ phừng phừng, đành phải rót một chén rượu, nâng lên. “Được, Ngụy Anh sẽ vì Chu, Sở, Ngụy, Tề cùng xưng vương, cạn chén!” Rồi tiếp tục uống cạn.
Lúc này, Tề Uy Vương và chúng thần nước Tề mới cùng nâng chén.
Ngụy Huệ Vương liên tiếp bị châm chọc, trong lòng không vui, sầm mặt ngồi yên, không nói chuyện, cũng chẳng uống rượu. Quần thần nước Ngụy cũng chẳng lấy gì làm vui vẻ, sắc mặt ai cũng khó đăm đăm. Chỉ có Tề Uy Vương mặt mũi tươi cười, vui vẻ chúc rượu chúng khanh.
Tống Công Yển vốn muốn nhắc tới chuyện cùng xưng vương, song lúc này, thấy tình thế như vậy, đành im miệng.
Ngồi được một lúc, Ngụy Huệ Vương quyết định phải lấy lại thể diện, bèn ngẩng lên nói: “Nghe nói nước Tề trù phú, có nhiều kỳ trân dị bảo, Ngụy Anh vô cùng ngưỡng mộ. Hôm nay cao hứng, Tề Vương có thể cho xem một hai thứ, để Ngụy Anh được mở rộng tầm mắt hay chăng?”
Tề Uy Vương vòng vo nãy giờ cũng là để chờ đợi câu này, lập tức quay sang, ôm quyền cười nói: “Nước Tề báu vật nhiều không kể xiết, không biết Ngụy Vương muốn xem báu vật gì?”
Ngụy Huệ Vương liền hỏi luôn: “Có hạt châu đường kính một tấc không?”
Tề Uy Vương lắc đầu.
“Có bảo thạch dạ quang không?”
Tề Uy Vương lắc đầu.
“Có bảo tháp ngà voi không?”
Tề Uy Vương lắc đầu.
“Có nhũ ngọc Thiên Sơn không?”
Tề Uy Vương lại lắc đầu. Thấy Ngụy Huệ Vương không hỏi nữa, Tề Uy Vương liền nhổm người về phía trước, hỏi khẽ: “Những thứ này, Ngụy cũng có chăng?”
Ngụy Huệ Vương chờ đợi cũng là câu này, lập tức hơi ngả người ra sau, vuốt bộ râu cắt tỉa gọn gàng, đắc ý nói: “Nước Ngụy dù nghèo nàn, nhưng lại không thiếu những thứ đó. Trong cung có mười hạt châu đường kính một tấc, Ngụy Anh dùng để nghịch chơi; năm viên bảo thạch dạ quang, Ngụy Anh dùng soi thay nến; có hai bảo tháp ngà voi, Ngụy Anh dùng để chặn sách; có một nhũ ngọc Thiên Sơn, Ngụy Anh dùng để gối đầu.”
Tề Uy Vương nghe xong liền mỉm cười: “Những món này, quả thật Điền Nhân Tề chẳng có thứ gì!”
Ngụy Huệ Vương phá lên cười sảng khoái, giọng nói pha chút chế giễu. “Đây chỉ là những món tầm thường, báu vật của Tề Vương, hẳn còn quý hiếm hơn nhiều.”
Tề Uy Vương thu lại nụ cười, chỉnh đốn y phục ngồi ngay ngắn, rồi chậm rãi nói: “Báu vật của Điền Nhân Tề, quả thực không giống với báu vật của đại vương!”
Ngụy Huệ Vương không giấu nổi ngạo mạn: “Xin hỏi có điểm gì khác?”
“Xin đại vương hãy nghe!” Tề Uy Vương rất mực nghiêm trang đáp lời. “Điền Nhân Tề có hiền thần tên Đàn Tử, trấn thủ biên giới phía nam hai mươi tám năm, người Sở không dám xâm phạm; có hiền thần tên Phán Tử, trấn thủ biên giới phía tây hai mươi lăm năm, người Triệu không dám vượt qua ranh giới nửa bước; có hiền thần tên Kiềm Phu, trấn thủ biên giới phía bắc hai mươi hai năm, người Yên thấy mà khiếp sợ; có hiền thần tên Trọng Thủ, trị dân mười chín năm, người Tề đi đường gặp của rơi không nhặt, đêm ngủ không cần cài cửa; có hiền tướng tên Điền Kỵ, mười sáu năm tung hoành chiến trường, kinh qua mười hai trận chiến, thắng mười một hoà một, không bại trận nào; có hiền tướng tên Trâu Kỵ, mười ba năm quản lý quốc sự, nước Tề ngân khố đầy ắp, lương thực tích luỹ đủ dùng mười năm, trong triều không có án lưu; có hiền đại phu tên Điền Anh, mười hai năm quản lý học cung Tắc Hạ, thu nạp ba ngàn sĩ tử trong thiên hạ, kẻ viết sách lập thuyết nhiều không đếm xuể!” Dừng lại một chút, đưa mắt nhìn Huệ Vương, rồi nhấn nhá từng chữ. “Điền Nhân Tề vốn là kẻ bất tài, chỉ vì coi hiền tài là báu vật, nên mới ngày ngày thấy cảnh thái bình, đêm đêm kê cao gối ngủ.”
Từng câu từng chữ của Tề Uy Vương như những lưỡi dao sắc bén, gọt bóc từng lớp da mặt của Ngụy Huệ Vương. Huệ Vương mặt đỏ phừng phừng, hơi thở hổn hển, cả người run lên bần bật. Quần thần nước Ngụy đưa mắt nhìn nhau.
Xung quanh lặng phắc, không khí tựa như đóng băng.
Thình lình, Ngụy Huệ Vương đứng phắt dậy, ném vụt chén rượu trong tay xuống đất, không thèm nhìn Tề Uy Vương, lập tức phẩy tay áo bước đi. Công tử Ngang, Trần Chẩn đưa mắt nhìn nhau, rồi cũng vội vàng đi theo sau.
Thấy người Ngụy đều đã bỏ đi, Tống Công Yển ngần ngừ chốc lát, rồi cũng vòng tay nói: “Tề Vương bệ hạ, cũng không còn sớm nữa, Tống Yển xin cáo lui!”
Tề Vương xua tay, nhìn Tống Công và đám bề tôi của ông ta lần lượt lui đi, đột nhiên phá lên cười lớn. Điền Anh, Điền Kỵ… cũng cười theo, âm thanh chấn động màn đêm.
Tiếng cười vừa dứt, Tề Uy Vương quay sang Điền Kỵ: “Điền tướng quân, trong lúc gấp rút, có thể chọn được bao nhiêu lính thiện chiến?”
Điền Kỵ nói lớn: “Khởi bẩm bệ hạ, khoảng năm vạn tinh binh!”
“Nếu hưng binh chinh phạt, bao lâu có thể xuất chiến?”
“Nếu là phạt Sở, Điền Kỵ cần chuẩn bị ba mươi ngày; phạt Triệu, cần chuẩn bị hai mươi ngày; phạt Hàn, cần chuẩn bị mười tám ngày; phạt Yên, cần chuẩn bị mười lăm ngày…”
“Vậy còn phạt Ngụy?”
“Chỉ cần mười ngày là đủ!”
Tề Uy Vương nhắm mắt, chìm vào suy tư.
Ngụy Huệ Vương giận dữ trở về hành dinh, vừa thở dốc, vừa hùng hục đi đi lại lại trong trướng, bên tai vẫn như văng vẳng tiếng cười của quân thần nước Tề. Đi đi lại lại một lúc, cuối cùng Ngụy Huệ Vương cũng bộc phát, quăng ném, đập phá tất cả đồ đạc bên cạnh. Công tử Ngang, Trần Chẩn quỳ mọp dưới đất, không dám ho he nửa tiếng.
Sau khi đập phá đã tay, Ngụy Huệ Vương cũng từ từ bình tĩnh trở lại, ủ rũ đi tới trước bàn, rồi chuyển ánh mắt sang Trần Chẩn, gằn giọng hỏi: “Trần Chẩn, chuyện này là thế nào?”
Trần Chẩn dập đầu bình bịch như giã tỏi: “Bệ hạ, vi… vi thần không biết! Khi vi thần đi sứ Tề, tất cả đều đã thoả thuận xong xuôi, Tề Vương hết sức vui vẻ, còn thưởng cho vi thần rất nhiều tiền bạc. Tại sao… sao… sao lại ra thế này?”
“Quả nhân hiểu rồi!” Ngụy Huệ Vương siết chặt nắm tay, rít qua kẽ răng. “Điền Nhân Tề cố ý làm nhục quả nhân. Ngang Nhi!”
Công tử Ngang dập đầu đáp: “Có nhi thần!”
“Truyền chỉ, nhổ trại về Ngụy!”
Công tử Ngang quay sang nhìn Trần Chẩn.
Trần Chẩn cuống quýt, lại khấu đầu: “Bệ hạ, đại lễ hội vương còn chưa cử hành!”
“Hội vương cái gì?” Ngụy Huệ Vương nhếch mép cười nhạt một tiếng, đập tay mạnh xuống bàn. “Lẽ nào khanh thấy quả nhân chịu nhục như thế vẫn còn chưa đủ?”
Trần Chẩn nước mắt ròng ròng: “Bệ hạ…”
Ngụy Huệ Vương quay sang công tử Ngang, quát: “Còn chưa truyền chỉ?”
“Nhi thần lĩnh chỉ!”
Trần Chẩn trở về tới trại của mình, ngồi bần thần một lúc, rồi quay sang nói với Thích Quang: “Thái độ của Tề Vương quay ngoắt như vậy, bên trong nhất định có điều khuất tất. Ngươi đến nước Tề, điều tra xem khuất tất ở chỗ nào, còn ta hộ tống bệ hạ về Ngụy.”
Thích Quang gật đầu.
Sáng sớm hôm sau, khi trời còn chưa kịp sáng, Ngụy Huệ Vương và năm nghìn nhân mã tuỳ tùng đã nhổ trại về Ngụy, không lời từ biệt.
Đến giữa trưa, Tề Uy Vương cũng truyền lệnh nhổ trại về Tề, sau đó lấy lý do Ngụy Huệ Vương bội ước, lệnh cho Điền Kỵ dẫn năm vạn binh phạt Ngụy, đồng thời truyền hịch cho thiên hạ, liên minh ba nước Triệu, Hàn, Tần, cùng chinh phạt nước Ngụy bất đạo.
Bàng Quyên chỉ bằng sức của một người đã khuấy động lên một trường đại chiến giữa liệt quốc, sau đó, giống như lúc đến, lại lưng mang tay nải, hông đeo bảo kiếm, đứng trên núi Tắc Sơn cách thành Lâm Truy mười dặm về phía tây nam, từ xa quan sát ba quân nước Tề hàng ngũ tề chỉnh ra khỏi đô thành Lâm Truy, tiến thẳng tới biên giới nước Ngụy, khoé miệng thấp thoáng một nụ cười mơ hồ.
Tính cho đến nay, sau khi xuống núi, nước cờ đầu tiên theo kế của Quỷ Cốc Tử đã đi xong.
Nhưng Bàng Quyên cũng biết, nước cờ tiếp theo mới là khó khăn thực sự. Bàng Quyên đã biết phải hạ cờ ở chỗ nào, nhưng hạ lúc nào, hạ thế nào, nhịp điệu hạ và mức độ nặng nhẹ ra sao, tất cả những điều đó đều vô cùng hệ trọng, chỉ cần sơ suất một chút, sẽ khiến cho cả ván cờ đại bại.
***
Tại Đại Lương nước Ngụy, trong vương cung vừa mới khánh thành, không khí vẫn còn phảng phất mùi thơm của vôi gỗ.
Đêm đã về khuya, nhưng Ngụy Huệ Vương vẫn chưa ngủ được, một mình ngồi trong ngự thư phòng, hai mắt đờ đẫn nhìn vào mặt bàn phía trước. Trên bàn bày chiếc đĩa hoàng ngọc, đựng một viên dạ minh châu to bằng quả trứng gà, tinh xảo tuyệt luân.
Ngụy Huệ Vương nhìn chằm chằm vào viên dạ minh châu, tựa như muốn xuyên thấu qua nó. Không biết đã bao lâu, Ngụy Huệ Vương mới chậm chạp cầm viên dạ minh châu lên, nắm trong lòng bàn tay, nâng lên trước mặt, nhẹ nhàng vuốt ve. Bên tai Ngụy Huệ Vương lại văng vắng tiếng cười của quân thần nước Tề. Những tiếng cười cuồng loạn cứ nối tiếp nhau, oang oang không dứt. “Ha ha ha ha… ha ha ha ha…”
Mặt Ngụy Huệ Vương mỗi lúc một đỏ rần, rồi thình lình vung mạnh cánh tay, ném thẳng viên dạ minh châu xuống đĩa, chỉ nghe “choang” một tiếng, chớp mắt, cả viên dạ minh châu quý hiếm và đĩa đã vỡ tan tành.
Ngụy Huệ Vương quát: “Người đâu!”
Động tác bất thường của Ngụy Huệ Vương khiến tỳ nhân kinh hoàng luống cuống, hốt hoảng chạy tới: “Bệ hạ, có lão nô!”
Ngụy Huệ Vương nói rành rọt từng chữ: “Triệu Huệ Thi, Chu Uy lập tức yết kiến!”
“Lão nô lĩnh chỉ!”
Khi Huệ Thi, Chu Uy vội vàng tới ngự thư phòng, hoả khí của Ngụy Huệ Vương đã giảm hẳn, đang nheo mắt nhìn đám mảnh vỡ trên bàn. Nhìn thấy hai vị trọng thần khấu đầu trước mặt, Ngụy Huệ Vương khẽ ngẩng lên nói: “Hai vị ái khanh, bình thân!”
Huệ Thi, Chu Uy tạ ơn xong, vẻ lo lắng bất an, ngồi sang hai bên.
Ngụy Huệ Vương từ tốn hỏi: “Có nhìn thấy những mảnh vỡ này chăng?”
Hai người gật đầu.
Ngụy Huệ Vương thở dài: “Than ôi, đều do chúng đã hại quả nhân!”
Huệ Thi, Chu Uy đưa mắt nhìn nhau, nhưng không ai lên tiếng.
Ngụy Huệ Vương nói: “Từ khi quả nhân đến thế gian, chỉ biết làm nhục người khác, chưa từng bị người khác làm nhục. Lần này đến Từ Châu, đã được lĩnh giáo rồi! Bây giờ nghĩ lại, Điền Nhân Tề sỉ nhục hay lắm, giấc mộng mà quả nhân đã mơ suốt hơn hai mươi năm nay, thoáng chốc đã bị lời sỉ nhục của hắn làm cho thức tỉnh!”
Huệ Thi nói: “Bệ hạ, mất bò mới lo rào chuồng, chưa hẳn đã muộn.”
“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài. “Đã muộn thế này rồi, nhưng quả nhân vẫn không sao ngủ được, ngồi ở đây suy đi nghĩ lại, cuối cùng cũng đã hiểu ra một điều: sai lầm không đáng sợ, sợ là không chịu nhận sai. Bao nhiêu năm nay, quả nhân đã sai lầm quá nhiều, nhưng lại luôn sĩ diện, không chịu nhận sai, cuối cùng mới tạo thành cái sai lớn như hiện tại. Buổi tối hôm nay, quả nhân không có việc gì khác, chỉ muốn đối mặt với những mảnh vỡ này, nhận sai với thiên hạ, mời hai vị ái khanh đến chỉ là để chứng giám.”
Huệ Thi, Chu Uy nghe thấy lời này, cùng quỳ xuống đất, khóc mà nói: “Bệ hạ…”
“Huệ ái khanh nói đúng lắm, mất bò mới lo rào chuồng chưa hẳn đã muộn. Quả nhân triệu hai vị đến còn vì một chuyện, đó là rào lại cái chuồng rách nát này. Hai vị ái khanh!”
Huệ Thi, Chu Uy đồng thanh đáp: “Có vi thần!”
“Bản điều trần về cải chế mà các khanh soạn ra, quả nhân đã xem xong, cũng đã đóng triện, giờ hãy làm đi! Ngày trước Câu Tiễn nếm mật nằm gai, mười năm chịu nhục, quả nhân không bằng Câu Tiễn, nhưng hai mươi năm cũng đã quá đủ rồi!”
Huệ Thi khóc mà nói: “Bệ hạ có chí này, nước Ngụy không được trị thì đâu còn thiên lý!”
Lời vừa dứt, tỳ nhân đã vội vã đi vào, dâng lên Ngụy Huệ Vương một bản cấp báo từ biên ải: “Bệ hạ, biên ải cấp báo quân tình!”
Ngụy Huệ Vương đọc xong, mặt dần biến sắc.
Huệ Thi, Chu Uy đưa mắt nhìn nhau.
Ngụy Huệ Vương đưa cho Huệ Thi. Huệ Thi đọc xong, sắc mặt cũng sa sầm, tiện tay đưa cho Chu Uy.
“Điền Nhân Tề!” Ngụy Huệ Vương đập mạnh tay xuống bàn, rít qua kẽ răng. “Ngươi… ngươi ép quả nhân quá lắm!”
Huệ Thi lo lắng: “Bệ hạ…”
Ngụy Huệ Vương quay sang tỳ nhân, dằn từng tiếng: “Quân địch tấn công bờ cõi, đi đánh chuông cảnh báo, thông báo bá quan, khẩn cấp lên triều!”
“Lão nô tuân chỉ!”
Một lát sau, tiếng chuông cảnh báo quân địch tấn công dội lên từng hồi từ trong cung Ngụy, vang vọng khắp bầu trời Đại Lương. Trong thành Đại Lương một phen kinh loạn, bá quan giật mình tỉnh mộng, vội vã mặc áo đội mũ, cấp tập chạy tới vương cung.
Vào lúc canh ba, bá quan đều đã đến đủ, Ngụy Huệ Vương sắc mặt lạnh tanh, ánh mắt sắc lẹm nhìn khắp quần thần mấy lượt, giọng nói hơi khàn đi: “Các vị ái khanh, có nghe thấy tiếng chuông chăng?”
Bá quan văn võ đồng thanh đáp: “Có nghe thấy!”
Ngụy Huệ Vương cất giọng chậm rãi, nhưng tràn đầy cảm xúc: “Đây là tiếng chuông cảnh báo quân địch xâm phạm biên cương! Quả nhân từ khi kế thừa vương vị, lập chính hai mươi hai năm, tiếng chuông chinh phạt đã nghe không biết bao nhiêu lần, nhưng chỉ có hai lần nghe tiếng chuông cảnh báo quân địch xâm lăng. Lần đầu là người Tần, đến từ phía tây! Lần này là người Tề, đến từ phía đông!”
Khắp đại điện lặng im phăng phắc.
Giọng Ngụy Huệ Vương vẫn rất chậm rãi: “Chư vị ái khanh, quả nhân tuổi ngày một cao, cuộc sống của bách tính ngày một khổ sở, nước Ngụy không muốn chiến tranh nữa. Nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Điền Nhân Tề tự phong làm vương, nhiệt tình mời mọc quả nhân. Để cầu hoà mục, quả nhân đã bất chấp thân phận, hạ mình nhận lời đến Từ Châu gặp mặt, không những không được đối đãi tử tế, còn bị hắn làm nhục trước mặt mọi người. Quả nhân còn chưa tìm hắn tính sổ, mà hắn đã dẫn quân đánh đến tận trước cửa nhà quả nhân!”
Quần thần đều quay mặt nhìn nhau.
Ngụy Huệ Vương đột ngột cao giọng: “Điền Nhân Tề làm nhục quả nhân, quả nhân có thể nhẫn nhịn. Điền Nhân Tề hưng binh xâm phạm, làm nhục Đại Ngụy ta, các khanh hãy nói, quả nhân có thể nhẫn nhục được chăng?”
Quần thần kích động vạn phần, đồng thanh hô lớn: “Thề chống quân Tề, rửa nhục cho bệ hạ!”
Ngụy Huệ Vương giọng như chuông đổ: “Không phải rửa nhục cho quả nhân, mà là rửa nhục cho bản thân các khanh! Rửa nhục cho Đại Ngụy! Chư vị ái khanh, bất kỳ kẻ địch nào đến xâm phạm, cho dù là người Tần, người Tề, người Triệu hay người Hàn, đều là kẻ địch của quả nhân, cũng là kẻ địch của Đại Ngụy. Quả nhân muốn dốc hết quốc lực, cho dù có phải tan xương nát thịt, cũng không chịu làm nô lệ mất nước!”
Bá quan đồng thanh: “Chúng thần thề chết đi theo bệ hạ, quyết giữ nhà giữ nước!”
Ngụy Huệ Vương quay sang nhìn Chu Uy: “Chu tư đồ, ngoài quân trấn thủ các nơi, còn có thể điều động bao nhiêu binh mã?”
Chu Uy bước lên trước một bước, nói lớn: “Khởi bẩm bệ hạ, có thể điều động một vạn kỵ binh, bốn vạn võ binh, ngoài ra còn có mười vạn dân binh có thể trưng dụng!”
“Tốt lắm!” Ngụy Huệ Vương vung quyền nói lớn. “Chư vị ái khanh, tướng Tề là Điền Kỵ dẫn năm vạn binh đến đánh, quả nhân cũng có năm vạn tinh binh. Vị ái khanh nào đồng ý dẫn binh ứng chiến, rửa nỗi nhục cho quả nhân?”
Công tử Ngang đưa khuỷu tay huých Trần Chẩn, Trần Chẩn do dự một lát, rồi bước ra khỏi hàng bẩm tấu: “Bệ hạ, vi thần tiến cử một người, có thể nghênh chiến với quân Tề!”
Ngụy Huệ Vương liếc mắt nhìn ông ta: “Ái khanh tiến cử người nào?”
“An Quốc Quân!”
Mọi ánh mắt trong triều đường đều đổ dồn vào công tử Ngang.
Công tử Ngang phấn chấn tinh thần, bước ra khỏi hàng bẩm tấu: “Khởi tấu phụ vương, nhi thần nguyện treo ấn soái xuất chinh, thay phụ vương dạy cho người Tề một bài học!”
Ngụy Huệ Vương chẳng thèm nhìn đến, quay sang phía quần thần: “Còn ai đồng ý dẫn binh nghênh địch không?”
An Quốc Quân đã lên tiếng, chúng thần ai dám tranh giành, chỉ cúi đầu không nói.
Ngụy Huệ Vương quay sang công tử Ngang: “An Quốc Quân nghe chỉ!”
“Có nhi thần!”
“Phong An Quốc Quân làm đại tướng quân, Trương Mãnh làm phó tướng, dẫn năm vạn quân, nghênh chiến quân Tề!”
“Nhi thần lĩnh chỉ!”
“Bệ hạ!” Chu Uy lo lắng, vội vã bước lên. “Trương Mãnh đang trấn thủ Tây Hà, vậy người Tần…”
Ngụy Huệ Vương liếc nhìn Chu Uy: “Chẳng phải người Tần vẫn chưa đến ư?”
Chu Uy đang định tấu tiếp, Huệ Thi liền kéo tay áo ngăn lại.
“Ngang Nhi!” Ngụy Huệ Vương nhìn công tử Ngang. “Quân tình gấp rút, con mau đi chuẩn bị, giờ Thìn điểm binh, giờ Mão xuất chinh!”
“Nhi thần lĩnh chỉ!”
“Còn nữa!” Ngụy Huệ Vương suy nghĩ một thoáng, rồi dặn dò. “Điền Kỵ tinh thông trận pháp, dùng binh gian trá, con phải cẩn thận bố trận, giữ chắc thành trì, tuyệt đối không được manh động xuất kích!”
“Nhi thần ghi nhớ!”
Sau khi bãi triều, bá quan lục tục ra khỏi cửa cung.
Chu Uy vội bước lên mấy bước, đuổi kịp Huệ Thi, hỏi: “Tướng quốc, bệ hạ để An Quốc Quân làm tướng, ngài… tại sao ngài không nói lấy một tiếng?”
Huệ Thi hỏi vặn lại: “Không để hắn làm, ngài nói xem, còn ai có thể làm?”
“Trương Mãnh!”
Huệ Thi lắc đầu quầy quậy: “Trương Mãnh là mãnh tướng, có thể làm tiên phong, giờ được làm phó tướng cũng là coi trọng lắm rồi!”
Chu Uy suy nghĩ một lát, không biết nói gì thêm, bèn khẽ nói: “Nhưng… tướng quốc đại nhân, Điền Kỵ là danh tướng, công tử Ngang làm sao có thể là đối thủ của ông ta?”
“Than ôi!” Huệ Thi thở dài một tiếng. “Nếu như có đối thủ, thì Tề Vương lại dám điều binh gấp rút đến vậy ư?”
Trong trận chiến Hà Tây, công tử Ngang đã chuốc lấy thất bại to lớn đầu tiên trong đời, mất hết mặt mũi trước liệt quốc. Lần này người Tề xâm phạm biên cương, đúng là cơ hội để lấy lại thể diện. Giờ Thìn điểm binh, vừa đến giờ Mão, công tử Ngang đã sốt ruột truyền lệnh cho ba quân, nhổ trại nghênh chiến Điền Kỵ.
Quân Tề đi dọc theo sông Tế Thuỷ, băng đầm Đại Dã, mượn đường qua Vệ để đánh thẳng đến đất Ngụy. Công tử Ngang do thám biết rõ, bèn dẫn ba quân men theo sông Tế Thủy ứng chiến, đụng đầu quân Tề ở Chử Táo, liền cho quân hạ trại.
Phó tướng Trương Mãnh nhận được chiếu lệnh, ngay trong đêm đó, lập tức sắp đặt ổn thoả việc phòng thủ tuyến Tây Hà, dẫn theo mấy nghìn kỵ binh, gấp rút tiến thẳng về Chử Táo.
Công tử Ngang vừa hạ trại xong, chiến thư của Điền Kỵ đã tới, hẹn ba ngày sau đấu trận. Công tử Ngang thuộc lòng binh thư, nghiên cứu nhiều trận pháp, biết được Điền Kỵ giỏi đấu trận pháp, từ lâu đã muốn so tài cao thấp với Điền Kỵ, lập tức gửi lại chiến thư.
Trên cánh đồng hoang phía ngoài Chử Táo, hai quân Ngụy, Tề cùng bày trận. Điền Kỵ giục ngựa giương thương, xông lên khiêu chiến. Công tử Ngang nhận ra được trận thế, lập tức dẫn binh xông vào. Không ngờ quân Tề thình lình biến trận, bao vây chém giết. Công tử Ngang đại bại, chết mất mấy nghìn quân.
Hôm sau, Điền Kỵ tiếp tục bày trận, công tử Ngang tự cho rằng mình đã hiểu rõ, tiếp tục dẫn binh xông vào. Kết quả lại đại bại, mất thêm mấy nghìn quân nữa.
Công tử Ngang lo cuống lên, bèn bày ra một trận trong trận, cố ý hoán đổi vị trí cửa sinh cửa tử, dụ Điền Kỵ vào trong trận. Điền Kỵ nhanh chóng nhận ra, biết rõ điểm yếu, liền điều hai viên mãnh tướng đánh vào từ cửa tử, làm loạn thế trận quân Ngụy. Điền Kỵ thừa thế xông lên chém giết, công tử Ngang vỡ trận, nháo nhác lui quân.
Quân Ngụy lui tới Bình Khâu, lúc này phó tướng Trương Mãnh mới kịp đến nơi. Hai bên hợp binh một chỗ, ổn định thế quân. Công tử Ngang điểm lại binh, thấy đã tử trận đến hai vạn quân và hơn mười viên tướng từ cấp thiên tướng trở lên.
Công tử Ngang không dám tiếp tục giấu giếm quân tình, khẩn cấp hồi báo cho Ngụy Vương, thỉnh cầu hoả tốc tăng binh.
Ngụy Huệ Vương hay tin, kinh hoàng thất sắc, vội triệu Huệ Thi, Chu Uy tới, đập bàn giận dữ nói: “Không cho nó đánh trận, nó nhất quyết không nghe, đánh ba trận bại cả ba, chết mất hai vạn quân, vậy mà còn mặt mũi đòi quả nhân tăng quân?”
“Bệ hạ bớt giận!” Huệ Thi bẩm tấu. “Trước mắt quân tình gấp rút, có thể tạm điều động hai vạn quân phòng thủ gần đấy đến Bình Khâu tiếp viện, sau đó tiếp tục chiêu binh bổ sung cho quân phòng thủ!”
“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài não nề. “Với thằng ranh này, có cho bao nhiêu binh mã cũng vô dụng! Huệ ái khanh, truyền chỉ, triệu nó về!”
“Bệ hạ!” Chu Uy lo lắng. “Ba quân không thể không có chủ tướng!”
Ngụy Huệ Vương ngẫm nghĩ một lát, quyết định: “Tạm thời để phó tướng Trương Mãnh làm chủ tướng!” Một lát sau, siết chặt bàn tay, giọng đầy căm giận. “Điền Nhân Tề đúng là khinh thường trong triều của quả nhân không còn người nữa!”
Chu Uy tấu: “Thần tiến cử một người, có thể chống lại Điền Kỵ!”
Ngụy Huệ Vương hai mắt vụt sáng: “Ái khanh tiến cử người nào?”
“Long lão tướng quân!”
Hai mắt Ngụy Huệ Vương tối sầm trở lại, hồi lâu mới nói: “Long lão tướng quân mặc dù có thể đối địch, nhưng đã quá già rồi!”
“Bệ hạ!” Chu Uy vẫn kiên trì. “Có Long lão tướng quân trấn thủ, lòng quân ắt định; lòng quân đã định, thì quân Tề ắt sẽ không dám đánh. Người Tề đi đường xa tới, khó lòng tiếp viện. Tề không dám đánh ta, lòng quân tự loạn, lâu ngày chắc chắn sẽ phải lui quân!”
Ngụy Huệ Vương quay sang nhìn Huệ Thi, thấy ông ta cũng gật đầu, liền nói: “Được thôi, vậy hãy để Long lão tướng quân xuất mã!”
Chu Uy nhận lệnh, đứng dậy định đi, thì Ngụy Huệ Vương lại giơ tay: “Khoan đã!”
“Bệ hạ?”
“Quả nhân sẽ đích thân đi mời!”
Trong trạch viện của Long lão tướng quân, chính đường đã được chuyển thành linh đường, mấy người đàn bà quỳ trên đất khóc sùi sụt.
Một đứa bé trai tuổi chừng mười hai, mười ba, trong mắt không một ngấn lệ, mở to đôi mắt nhìn chằm chằm vào thanh bảo kiếm và chiếc mũ trụ hoen đầy vết máu đặt trên bàn thờ.
Đột nhiên, đứa trẻ lao vụt vào linh đường, với lấy mũ trụ và bảo kiếm, nhanh chóng đội mũ trụ lên đầu, rồi cầm lấy bảo kiếm chạy như bay ra cổng.
Cảnh tượng này đã bị lão quản gia đứng ở cách đó không xa nhìn thấy, liền hét lớn: “Trời ơi, thiếu gia lấy kiếm chạy đi rồi!”
Mấy người đàn bà đang phủ phục khóc lóc nghe thấy vậy, vội ngẩng lên nhìn, đã không thấy bảo kiếm và mũ trụ đâu nữa, thảy đều chết sững. Một người đàn bà hét lớn: “Hổ Nhi!” Rồi lăn ra đất chết giấc.”
Một người đàn bà khác vội vàng đuổi theo ra cổng, vừa đuổi vừa gọi lớn: “Hổ Nhi, Hổ Nhi, quay lại mau!”
Hổ Nhi tay cầm bảo kiếm đã chạy ra ngoài cổng, bất ngờ va phải Ngụy Huệ Vương vừa mới xuống xe đang chuẩn bị đi vào. Chu Uy nhanh tay nhanh mắt, bước vội lên trước, ôm lấy ngang lưng đứa bé. Nhìn thấy đứa bé mang theo bảo kiếm và mũ trụ hoen máu, Ngụy Huệ Vương sắc mặt trắng bệch, trán vã mồ hôi lạnh.
Nhận ra là Hổ Nhi, Chu Uy vội hỏi: “Hổ Nhi, cháu sao thế?”
Hổ Nhi giãy giụa mà nói: “Chu bá phụ, đừng cản con! Con muốn đi giết người Tề, báo thù cho tiên phụ!”
“Tiên phụ?” Chu Uy giật mình. “Cha cháu…”
Hổ Nhi khóc nấc: “Chu bá phụ, tiên phụ… tiên phụ ở Chử Táo…”
Ngụy Huệ Vương đã kịp định thần, vội đưa tay áo lên lau mồ hôi: “Chu ái khanh, đây là con cái nhà ai?”
Qua lời nói của Hổ Nhi, Chu Uy đã hiểu ra mọi chuyện, nước mắt đầm đìa mà đáp: “Bẩm bệ hạ, đây là cháu nội của Long lão tướng quân. Con trai của Long lão tướng quân là Long Thái, tiên phong của tả quân, hẳn đã hy sinh ở Chử Táo rồi!”
Ngụy Huệ Vương cũng rơi nước mắt, bước lên kéo tay Hổ Nhi: “Con trai, lại đây, cùng quả nhân đi tìm ông nội của con!”
Ngụy Huệ Vương, Chu Uy cùng Hổ Nhi đi tới bãi luyện võ ở sân sau, thấy có một cây thương dài trượng tám cắm trên bãi cỏ, dưới cây thương, Long Giả râu tóc bạc phơ đang ngồi xếp bằng trên đất, hai mắt nhắm nghiền.
Chu Uy bước lên trước: “Long tướng quân, ông xem ai đến đây?”
Long Giả vẫn ngồi bất động.
“Long tướng quân, là bệ hạ, bệ hạ đến thăm ông!”
Long Giả vẫn nhắm chặt hai mắt, một lúc lâu sau, hai hàng lệ từ từ lăn xuống, rồi ông chậm rãi nói: “Chu tư đồ, đừng đùa nữa, lão hủ chỉ muốn được yên tĩnh một lát!”
“Long tướng quân!” Chu Uy giọng nghẹn ngào. “Chu Uy đâu dám nói đùa trong lúc này? Ông hãy mở mắt ra xem, đúng là bệ hạ đã đến thăm ngài!”
“Bệ hạ sẽ không đến đâu!” Long Giả lắc đầu. “Long Giả già rồi!”
Chu Uy đang định nói tiếp, Ngụy Huệ Vương đã xua tay ngăn lại, rồi khoanh chân ngồi xuống đối diện với Long Giả: “Long tướng quân, Ngụy Anh có lỗi với ông!”
Long Giả giật nảy mình, hai mắt mở choàng, thấy quả nhiên là Ngụy Vương, lập tức quỳ xuống bái lạy: “Bệ hạ…”
Ngụy Huệ Vương đứng lên, đỡ Long Giả dậy: “Lão tướng quân miễn lễ!”
Long Giả nấc nghẹn: “Bệ hạ… bệ hạ, đúng là bệ hạ…”
Ngụy Huệ Vương đưa tay áo lau nước mắt: “Lão tướng quân, lệnh lang hy sinh vì nước, là lỗi của quả nhân!”
Long Giả khóc không thành tiếng: “Bệ hạ…”
“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài. “Dọc đường, lắng nghe lời Chu ái khanh nói lại, quả nhân mới biết chân tướng của trận chiến Hà Tây. Tám vạn tinh binh, mấy trăm dặm Hà Tây, tâm huyết suốt bao năm của quả nhân, chỉ trong mấy ngày đã bị huỷ hoại trong tay đứa con vô dụng. Nhưng quả nhân lại không hề hay biết, tin theo lời thằng ranh đó mà trút giận lên lão tướng quân. Long lão tướng quân, quả nhân phải chịu nỗi nhục ngày hôm nay, thực đáng đời lắm!”
“Nghe bệ hạ nói vậy, Long Giả có chết chín lần cũng không oán trách. Lão thần có một lời, từ lâu đã muốn được nói cho bệ hạ nghe!”
“Hôm nay quả nhân đến, chính là muốn được nghe lời nói của lão tướng quân!”
“Ngụy là vùng đất bốn bề công chiến, kẻ địch bốn phía đều mạnh, không được tuỳ tiện động binh đao. Bệ hạ, lão thần trấn thủ biên cương nhiều năm, chỉ hiểu ra được một sự thực: kẻ địch của Ngụy không phải người Tề, không phải người Triệu, càng không phải người Hàn, mà chính là người Tần!”
“Huệ tướng quốc cũng nói như vậy. Quả nhân nghe theo lời tướng quốc, đích thân đến Từ Châu, vốn muốn kết thân với Tề để cùng chống lại người Tần, không ngờ lại tự mình chuốc lấy nhục nhã. Điền Nhân Tề hưng binh xâm phạm ta, quả nhân sao có thể nhẫn nhịn cho được?”
“Cho dù là chống Tề, cũng không được để An Quốc Quân làm tướng!”
“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài. “Chuyện đã đến nước này, đừng nhắc tới nó nữa. Lão tướng quân, chiến sự ở tiền phương phải giải quyết thế nào?”
Long Giả nói lớn: “Lão thần bất tài, nguyện gánh vác cùng bệ hạ!”
“Lão tướng quân, nếu như quả nhân nhớ không nhầm, tuổi ông cũng đã sáu mươi rồi!”
“Lão thần vừa tròn một hoa giáp!”
“Quả nhân nên để ông an dưỡng tuổi già mới đúng, thế nhưng…”
Lời vừa nói dứt, quản gia dẫn theo một viên quân uý vội vàng đi vào.
“Báo, biên ải hoả tốc báo quân tình!” Quân uý hai tay trình lên ba bản cấp báo.
Ngụy Huệ Vương lần lượt mở ra đọc, đọc một bản, vứt một bản, thần sắc đại biến.
Chu Uy nhặt bản cấp báo từ dưới đất lên, vội vàng đọc qua, nói với Long Giả: “Quân Tần trong đêm đã tấn công Hàm Cốc. Hàm Cốc thất thủ, quân trấn thủ ở Âm Tấn quay trở lại cứu, đã bị phục kích ở Đồng Quan, Âm Tấn cũng thất thế theo, tám nghìn quân trấn thủ ở Âm Tấn, năm nghìn quân trấn thủ ở Hàm Cốc toàn bộ tuẫn thân vì nước. Ở tuyến phía nam, hai vạn quân Hàn tấn công Vũ Dương; phía bắc, ba vạn quân Triệu tấn công Triều Ca, quân trấn thủ đều đang dốc kiệt sức lực chống trả. Long tướng quân, chúng ta đang bị tấn công bốn phía!”
Long Giả thốt lên: “Đây chính là điều mà Long Giả lo lắng! Bệ hạ…”
Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn Long Giả: “Lão tướng quân cứ nói!”
“Còn có thể chiêu mộ được bao nhiêu binh mã?”
Ngụy Huệ Vương quay sang Chu Uy: “Chu ái khanh?”
Chu Uy do dự một lúc: “Nhiều nhất là bốn vạn!”
“Bệ hạ!” Long Giả quay sang Huệ Vương. “Hãy giao bốn vạn quân này cho lão thần!”
Ngụy Huệ Vương gật đầu, chỉnh trang y phục ngồi xuống: “Long Giả nghe chỉ!”
Long Giả quỳ xuống khấu đầu: “Có lão thần!”
“Phong Long Giả làm đại tướng quân, thống lĩnh toàn bộ binh mã của cả nước! Miễn chức đại tướng quân của công tử Ngang, áp giải về Đại Lương hỏi tội!”
“Lão thần lĩnh chỉ!”
Nhận mệnh trong lúc nguy nan, Long Giả lập tức điểm bốn vạn binh mã, chia làm ba lộ, một vạn quân tới cứu viện Hào Quan, một vạn quân tới cứu viện Triều Ca, năm ngàn quân tới cứu viện Vũ Dương, đích thân Long Giả dẫn một vạn năm nghìn quân tới Bình Khâu. Đồng thời, Ngụy Huệ Vương phái tỳ nhân đích thân tới Bình Khâu, đóng công tử Ngang vào xe tù, áp tải về Đại Lương.
Long Giả và Trương Mãnh cùng hợp binh, dựa vào địa thế để hạ trại, mặc cho quân Tề ngày ngày khiêu chiến, chỉ cố thủ mà không đánh.
Điền Kỵ vốn chỉ mang theo năm vạn người ngựa, trải qua mấy trận chiến, số quân tử trận cũng đến gần vạn. Do gấp rút chinh phạt, việc cung ứng lương thảo phía sau không được chuẩn bị chu đáo, nên ngày càng thất thế. Điền Kỵ đang trong lúc hoang mang thì Tề Uy Vương tiếp viện thêm cho ba vạn quân và một lượng lớn quân nhu.
Điền Kỵ nhận được tiếp viện, liền phát động tấn công dữ dội. Long Giả chống trái đỡ phải, cuối cùng không thể cầm cự nổi nữa, toàn tuyến quân Ngụy tan vỡ, phải rút lui. Long Giả phóng ngựa múa thương, đích thân đoạn hậu, song bị quân Tề cắt đứt đường lui, bao vây tầng tầng lớp lớp.
Bốn phía trùng trùng tiếng hô xung sát. Long Giả tả xung hữu đột, liền tay đâm chém, trên người cũng đã nhiều chỗ bị thương, tình thế vô cùng nguy ngập. Đúng vào lúc Long Giả đang định rút kiếm tự sát, thì ở phía tây nam vang lên tiếng hô giết dậy trời, Trương Mãnh cũng các mãnh tướng liều chết xông vào, cứu lấy Long Giả, mở được một con đường máu để thoát ra, gấp rút tháo chạy.
Trong trận đại chiến này, quân tướng hai bên đều hăng hái liều mạng, chém giết kịch liệt thẳng tay.
Bàng Quyên đứng trên một đỉnh núi ở gần đó, nhìn cảnh tượng đám Long Giả quất ngựa bỏ chạy thục mạng, quân Tề hô hoán đuổi sát phía sau, thì khẽ lắc đầu than thở: “Than ôi, Long lão tướng quân, ông già thật rồi!”
Trương Mãnh dẫn chúng tướng bảo vệ Long lão tướng quân lui về tới Hoàng Trì, dựng trại ở bờ nam sông Tế Thuỷ, phái người cấp tốc về Đại Lương báo tin chiến sự.
Trong ngự thư phòng, Ngụy Huệ Vương hai mắt đờ đẫn nhìn bản chiến báo, hồi lâu sau mới ngẩng đầu lên nhìn Huệ Thi, Chu Uy, Trần Chẩn, thái tử Thân, thở dài sườn sượt, cất giọng đau thương: “Than ôi, các vị ái khanh, lẽ nào quả nhân thực sự đã đến bước sơn cùng thuỷ tận, phải cắt đất cầu hoà hay sao?”
Mấy người quay mặt nhìn nhau.
Trần Chẩn thấy không ai nói gì, liền bước lên bẩm tấu: “Bệ hạ, vi thần mới gặp được một dị nhân, nói rằng có cách phá địch!”
“Mau!” Ngụy Huệ Vương giục gấp. “Truyền người đó vào yết kiến!”
Trần Chẩn vỗ tay, tỳ nhân bèn dẫn theo một vu sư bước vào, quỳ xuống bái lạy Huệ Vương: “Thảo dân khấu kiến bệ hạ!”
Ngụy Huệ Vương đưa mắt quan sát một lát: “Nghe nói thượng tiên có cách phá địch, có thể nói ra chăng?”
“Khởi bẩm bệ hạ,” vu sư chậm rãi nói, “nước Ngụy đào Hồng Câu, cắt đứt long mạch, ám khí xung tới tận trời, phạm tới sao Chiến tinh, bị Chiến tinh giáng tội, nên nước Ngụy đánh đâu thua đấy.”
Chu Uy nổi giận đùng đùng, đang định quát mắng, song thấy Huệ Thi vẫn hai mắt khép hờ, khuôn mặt không chút biểu cảm, Chu Uy bèn cố gắng nhẫn nhịn, quay nhìn Huệ Vương, thấy Huệ Vương không những không có vẻ giận, mà còn chăm chú lắng nghe, liên tiếp gật gù mà nói: “Ừm, lời của thượng tiên rất hữu lý. Võ binh Đại Ngụy hơn chục năm nay đánh đâu thắng đấy, nhưng từ khi đào Hồng Câu đến nay, đúng là đánh trận nào thua trận đấy. Xin hỏi thượng tiên, có cách gì phá giải chăng?”
“Thảo dân có một cách, may ra có thể phá giải!”
“Thượng tiên mau nói!”
“Trước ngày xuất chiến, bệ hạ hãy dùng máu sơn dương đen tế cờ, sẽ khiến võ binh Đại Ngụy lại có được thần uy, xoay ngược chiến cục.”
“Chu ái khanh!” Ngụy Huệ Vương vui mừng khôn xiết, quay sang Chu Uy. “Mau đi tìm sơn dương đen về đây!”
“Khởi bẩm bệ hạ,” Chu Uy chau mày, nói. “Ở vùng Trung Nguyên, tất cả sơn dương đều có màu trắng, vi thần chưa từng nghe nói có sơn dương màu đen.”
“Làm gì có chuyện đó!” Ngụy Huệ Vương quả quyết. “Truyền chỉ, bố cáo thiên hạ, bất kỳ người nào dâng sơn dương đen đều được thưởng trăm lượng vàng!”
Một con sơn dương đen mà thưởng đến trăm lượng vàng, Chu Uy nghe mà trơn mắt há miệng.
“Bệ hạ…” Huệ Thi lúc này mới từ từ mở mắt.
“Tướng quốc cứ nói!”
“Bệ hạ đã có thể treo thưởng trăm lượng vàng cho một con sơn dương, sao không thể thưởng thêm mấy lượng cho con người?”
“Huệ ái khanh nói đúng lắm!” Ngụy Huệ Vương tiếp tục hạ chỉ. “Tiếp tục bố cáo, bất kỳ người nào có thể đánh đuổi được kẻ địch, quả nhân không xét tới thân phận, lập tức sách phong chức đại tướng quân, thực ấp vạn hộ!”
Trần Chẩn và vu sư quay trở về tới phủ, vừa ngồi xuống đã nghe thấy tiếng xe ngựa dừng lại trước cổng, rồi Thích Quang đầy mình bụi bặm hộc tốc chạy vào trong.
Trần Chẩn vội đi ra, vừa gặp đã mắng phủ đầu: “Sao bây giờ mới về?”
“Khởi bẩm chúa công!” Thích Quang quỳ xuống bẩm báo. “Hai nước giao chiến, người Tề kiểm tra rất gắt, tiểu nhân phải vòng sang nước Hàn mới có thể trở về được!”
“Đã điều tra được nguyên nhân chưa?”
“Điều tra được rồi, chính là do tên họ Bàng kia! Hắn đã chặn xe kiệu của Tề Vương, không biết đã nói những gì khiến cho Tề Vương đột ngột đổi ý.”
“Là Bàng Quyên?” Trần Chẩn nhíu mày. “Hiện hắn đang ở đâu?”
“Nghe nói Tề Vương phong hắn làm thượng khanh, nhưng hắn lại từ chối. Tặng hắn trăm lượng vàng, hắn cũng kiên quyết không nhận!”
“Cái gì?” Trần Chẩn kinh ngạc. “Từ chối chức thượng khanh, không nhận trăm lượng vàng? Kẻ này có bản lĩnh gì mà ngông nghênh đến vậy?”
“Tiểu nhân đã điều tra được, ba năm về trước, Bàng Quyên đã lên núi Vân Mộng, bái một dị nhân làm thầy, chắc hẳn có học được chút ít bản lĩnh.”
“Dị nhân? Là dị nhân nào?”
“Tiểu nhân không biết!”
“Núi Vân Mộng?” Trần Chẩn lẩm nhẩm một hồi, rồi quay sang vu sư. “Thượng tiên có biết dị nhân nào ở trong núi đó không?”
Vu sư ngẫm nghĩ một lúc, rồi ngẩng lên nói: “Lẽ nào là Quỷ Cốc Tử?”
“Quỷ Cốc Tử?” Trần Chẩn ngây người. “Tại hạ chưa từng nghe nói. Thượng tiên có biết người này không?”
“Có nghe nói qua.” Vu sư khẽ gật đầu. “Nhiều năm trước, từng nghe gia sư nhắc tới, nói rằng người này đã đắc đạo, bản lĩnh tuyệt đỉnh.” Lại suy nghĩ một lát, có vẻ băn khoăn. “Theo lời gia sư nói, Quỷ Cốc Tử không màng thế sự, không nhận môn sinh, giờ sao đột nhiên lại nhận đệ tử?”
Xem ra tình thế đã nghiêm trọng hơn dự tính. Trần Chẩn mặt biến sắc, nhìn sang Thích Quang: “Kẻ đó không ở nước Tề làm quan, cũng không nhận trăm lượng vàng của Tề Vương, chắc chắn sẽ đến báo thù. Thích Quang…”
“Có tiểu nhân!”
“Mau đi sắp xếp, phái thêm người điều tra tên này, trong phủ phải canh chừng cẩn mật!”
“Chúa công yên tâm!” Thích Quang nghiến răng nói. “Chỉ cần tên này dám đến Đại Lương, tiểu nhân nhất định sẽ khiến hắn đầu lìa khỏi cổ!”
Tại khu phố náo nhiệt của Đại Lương, hai tờ cáo thị được dán song song trên tường, một tờ cầu dê núi, một tờ cầu hiền tài. Dê thưởng trăm lượng vàng, hiền tài phong đại tướng quân. Hai bên cáo thị, mỗi bên có bốn tên lính đứng canh, người đến xem đông như kiến.
Trong đám đông, Bàng Quyên cải trang thành thương nhân, đầu đội mũ lông chiên chen lên phía trước, đọc kỹ cáo thị, thầm kinh hãi trong lòng: “Trước lúc đi, tiên sinh đã dặn ‘gặp dê thì vinh’, nay dê quả thực đã xuất hiện! Ồ, nếu như đã có lời này, vậy ta không cần vội xé cáo thị, đợi thêm một lúc nữa xem có sơn dương đen xuất hiện hay không?”
Đúng vào lúc này, Thích Quang dẫn theo một đám người mặt mày hung tợn rầm rập đi tới. Khi gần đến nơi, Thích Quang bèn hô dừng lại, đám hung đồ nhanh chóng túa vào đám đông kiểm tra.
Bàng Quyên liếc mắt nhìn thấy, khoé miệng lộ một nét cười nhạt.
Trước bản cáo thị, mọi người chen lấn xô đẩy, người hô kẻ réo, ồn ào hỗn loạn.
“Đây không biết chữ, nghe nói treo thưởng trăm lượng vàng, bệ hạ muốn tìm báu vật gì thế?”
“Sơn dương đen, nhà anh có không?”
“Sơn dương đen? Thiên lý mã mới đáng giá trăm lượng vàng, chứ một con dê núi sao lại đáng trăm lượng vàng được?”
“Này, ông anh, ông nghe cho kỹ đi đã, có cần dê trắng không? Đây có tới năm mươi con dê trắng!”
“Trên cáo thị viết là dê đen, nếu là dê trắng, còn cần treo cáo thị ư?”
Mọi người cười ầm lên.
Một cụ già râu tóc bạc phơ đứng bên cạnh nghe thấy, liền bước lại gần, thẳng tay giật tờ cáo thị tìm dê xuống. Đám đông cùng ồ lên, bốn tên lính đứng canh bảng cầu sơn dương lập tức tiến lại.
Một tên lính hỏi: “Lão trượng, nhà ông có sơn dương đen không?”
“Anh nói cái gì thế?” Ông già trừng mắt nhìn hắn. “Nếu như không có, già này đâu có gan gỡ cáo thị của bệ hạ? Nhà ta có con sơn dương đen đẻ vào năm ngoái, người trong thôn đều nói dê đen không cát lợi, mang lên phố bán cũng chẳng ai thèm mua. Đến tết, ta vốn định giết thịt nó, nhưng lại sợ phạm phải cấm kỵ, nên đành tha cho nó, cứ thế nuôi tới tận hôm nay. Nếu bệ hạ muốn, các người hãy đi theo ta!”
Bốn tên lính cả mừng, lập tức theo ông già đi bắt dê đen.
Thấy ông già và đám lính đã đi xa, Bàng Quyên tự nhủ: “Xem ra, ta cũng nên gỡ bảng rồi!”
Bàng Quyên bước lên phía trước, đang định giật lấy tờ cáo thị còn lại, đột nhiên có một tên tay sai nhận ra Bàng Quyên, hét lớn: “Mau, hắn ở đây!”
Đám hung đồ nghe thấy tiếng hét, lập tức chạy đến, tản thành hình rẻ quạt, vây lấy Bàng Quyên.
Đám đông sợ hãi, lập tức chạy tán loạn.
Bàng Quyên giờ đã khác xưa, đâu có coi mấy tên ô hợp ra gì, đến nhìn cũng chẳng thèm nhìn, cứ thế đi thẳng tới trước bảng cáo thị. Tên cầm đầu rút kiếm lao tới, mắt thấy đã sắp đâm trúng Bàng Quyên, Bàng Quyên nhanh như chớp giật rút ngay bảo kiếm, vừa né mình sang bên, một luồng sáng trắng đã xẹt ngược trở lại, tên kia còn chưa kịp kêu, đã đầu một nơi thân một nẻo. Đám hung đồ thấy vậy, vừa quay người định tháo chạy, Bàng Quyên đã đuổi tới nơi, chỉ hai kiếm xé gió, đã thêm hai tên ngã lăn xuống đất.
Tất cả chỉ diễn ra trong nháy mắt, bốn tên lính đứng canh cáo thị nhìn mà trợn mắt há miệng, đang đứng chết trân thì Bàng Quyên đã chạy như bay tới trước tờ cáo thị, vươn tay giật xuống.
Lính canh đã kịp định thần, lập tức vây cả lại. Bàng Quyên ném đánh “cạch” thanh kiếm xuống đất. Bốn tên lính nhất tề xông lên bắt lấy Bàng Quyên, xúm xít giải vào vương cung. Gần đó, Thích Quang đứng như trời trồng, đâu còn hồn vía nào để đến gần, thấy họ đã đi xa, lúc này mới như choàng tỉnh mộng, co giò chạy trối chết về phủ.
Lính canh áp giải Bàng Quyên vào tới vương cung, ông già dắt dê cũng vừa đi tới. Đã có người báo tin từ trước, Ngụy Huệ Vương hay tin cả hai tờ cáo thị đều đã có người gỡ, vui mừng khôn xiết, lập tức truyền hai người vào điện. Quân lính dẫn hai người vào trong, Trần Chẩn nhận ra Bàng Quyên, trong lòng giật thót. Bàng Quyên quét mắt qua Trần Chẩn, lại liếc nhìn con sơn dương đen mà ông già dắt theo, rồi nhếch mép cười nhạt.
Hai người đi tới trước điện, bái lạy: “Thảo dân khấu kiến bệ hạ!”
Huệ Vương nhìn con sơn dương đen, sung sướng khôn xiết, liên tiếp gật gù: “Ha ha ha, quả nhiên là một con sơn dương đen! Người đâu, thưởng cho lão trượng trăm lượng vàng!”
Ông lão bái tạ: “Thảo dân đa tạ long ân của bệ hạ. Thảo dân một thân một mình sống nơi hoang dã, có trăm lượng vàng cũng chẳng để làm gì, xin bệ hạ hãy thu hồi mệnh lệnh.”
Ông già không chịu nhận trăm lượng vàng khiến Huệ Vương kinh ngạc: “Lão trượng bất tất phải khách khí, quả nhân đã treo thưởng, sao có thể nói mà không giữ lời?”
Ông già tiếp tục khấu lạy: “Bệ hạ nói được làm được, thảo dân trong lòng ghi nhận. Nếu bệ hạ nhất định muốn thưởng vàng, vậy thảo dân nguyện dành số vàng đó thưởng cho những dũng sĩ giết địch ở tiền phương!”
“Tốt lắm! Tốt lắm!” Ngụy Huệ Vương cảm động, hết lời khen ngợi. “Quả nhân thay mặt tướng sĩ ở tiền phương đa tạ lão trượng đã ban tặng! Ngự sử đại phu!”
Ngự sử bước lên trước: “Có vi thần!”
“Ghi lại nghĩa cử trung quân ái quốc của lão trượng vào sử sách, hiểu dụ cho thần dân cả nước!”
“Vi thần tuân chỉ!”
Ông già lại khấu lạy: “Bệ hạ, thảo dân xin cáo lui!”
Ngụy Huệ Vương đứng dậy, vòng tay nói với ông già: “Ngụy Anh cung tiễn lão trượng!”
Ngự sử ra hiệu, hai tên lính liền dẫn ông già và con dê đen từ từ lui ra.
Vừa có được dê đen, lại có được thần dân tốt, Ngụy Huệ Vương phấn khởi không để đâu cho hết, sắc mặt hớn hở quay sang Bàng Quyên: “Xin hỏi hiền sĩ tôn tính đại danh là gì, quê nhà ở đâu?”
“Khởi bẩm bệ hạ,” Bàng Quyên khấu đầu, “thảo dân họ Bàng tên Quyên, nhà ở An Ấp!”
“Tốt lắm!” Ngụy Huệ Vương càng hoan hỷ. “Bàng Tử vốn là con dân của quả nhân, đúng là trời đã giúp Đại Ngụy ta! Quân Tề xâm phạm biên cương, khí thế hung hãn, quả nhân treo bảng cầu hiền tài ngự địch. Bàng Tử dám gỡ cáo thị, chắc hẳn có kế hay để đẩy lui quân địch, quả nhân xin rửa tai lắng nghe!”
“Khởi bẩm bệ hạ, đừng nói là đẩy lui quân Tề, cho dù bệ hạ muốn san bằng thiên hạ, với Bàng Quyên cũng là chuyện bình thường!”
Nghe thấy lời lẽ bạo gan của Bàng Quyên, ngay cả Ngụy Huệ Vương cũng ngây người kinh ngạc: “Ồ?”
Trần Chẩn nôn nóng, vội bước ra tấu: “Bệ hạ, vi thần có tấu!”
“Ái khanh cứ nói!”
“Kẻ này là gian tế, bệ hạ tuyệt đối không được tin dùng!”
“Ồ?” Ngụy Huệ Vương hít vào một hơi dài, mắt nhìn chằm chằm vào Bàng Quyên, rồi lại quay sang Trần Chẩn.
“Vi thần đã điều tra rõ, chính kẻ này đã hiến kế cho Tề Vương, nên mới khiến Tề Vương trở mặt, làm nhục bệ hạ!”
Ngụy Huệ Vương thất kinh: “Có thực là vậy chăng?”
“Tuyệt đối chính xác, bệ hạ!” Trần Chẩn cướp được cơ hội nói, lập tức thao thao bất tuyệt. “Kẻ này vốn là một tên vô lại ở An Ấp, tính khí hung bạo, ba năm trước đã từng giết chết ngư phủ và tiều phu mà bệ hạ triệu kiến, cướp mất ba mươi lượng vàng mà bệ hạ ban thưởng, vô tình bị gia nhân của vi thần phát hiện, hắn đã giết luôn người của vi thần, sau đó bỏ trốn. Mấy tháng sau, kẻ này lại lẻn vào phủ của vi thần, tiếp tục mưu đồ đen tối, đã bị vi thần bắt được giải lên quan, không ngờ hắn ta trốn thoát khỏi hình ngục, không biết đã đi đâu. Vi thần phụng chiếu đi sứ Lâm Truy, trên đường trở về đã chính mắt nhìn thấy hắn đi sang nước Tề. Trong cuộc hội vương ở Từ Châu, Tề Vương trở mặt, vi thần đã thấy nghi ngờ, nên đã phái người đến Lâm Truy thăm dò, cuối cùng đã điều tra rõ chân tướng, chính kẻ này đã chặn xe kiệu của Tề Vương, được Tề Vương dẫn vào trong cung, bàn mưu nhiều ngày. Tề Vương đã phong hắn làm thượng khanh, nhưng hắn từ chối. Sau đó, Tề Vương lại thưởng cho hắn trăm lượng vàng, hắn cũng không nhận. Mấy ngày sau đó, kẻ này tiếp tục ở lại vương cung, ngày đêm gặp gỡ Tề Vương. Tề Vương quay mặt lật lọng, chắc chắn là do kẻ này xúi bẩy!”
Trần Chẩn nói liền một mạch, đừng nói là Ngụy Huệ Vương, ngay cả các triều thần như Chu Uy, Huệ Thi… cũng phải kinh ngạc sững sờ, tất cả cùng đưa mắt nhìn Bàng Quyên như nhìn một kỳ nhân.
“Cuồng đồ to gan!” Ngụy Huệ Vương đập bàn quát lớn. “Chẳng trách quả nhân phải chịu nhục ở Từ Châu! Người đâu, mau bắt lấy nghịch tặc!”
Đám thị vệ tiến lên bắt lấy Bàng Quyên, không nói một lời, lập tức trói nghiến lại.
Vì đã có lời đoán “gặp dê thì vinh” của Quỷ Cốc Tử, lại trải qua ba năm khổ luyện trong Quỷ Cốc, Bàng Quyên chẳng những không sợ hãi, mà còn ngửa cổ bật cười vài tiếng.
“Nghịch tặc,” Ngụy Huệ Vương kinh ngạc, “ngươi chết đến nơi rồi, còn cười được ư?”
“Bàng Quyên đang cười nước Ngụy!” Bàng Quyên lớn giọng đáp lại. “Trong triều chẳng có tôi giỏi, trong nước không có tướng tài, tiểu nhân ngang ngược, hiền thần chịu lép, bốn bề gặp địch, tồn vong chỉ trong gang tấc. Bàng Quyên đến đây muốn trợ giúp, nhưng lại rước phải hoạ sát thân. Một nước như vậy, há chẳng đáng cười?”
“Cuồng đồ to gan!” Trần Chẩn quát lớn. “Giết người vượt ngục đã là tội chết. Bán Ngụy cầu vinh, thông đồng với địch, là tội diệt môn. Làm rối triều đình, cười nhạo bệ hạ, đáng tội tru di cửu tộc!” Rồi quay sang Ngụy Huệ Vương, vòng tay nói. “Vi thần tấu xin bệ hạ, nhanh chóng giải kẻ này ra Ngọ Môn, xử tội lăng trì để răn đe kẻ khác!”
“Chuẩn tấu!” Ngụy Huệ Vương phẩy tay. “Đưa nghịch tặc Bàng Quyên ra Ngọ Môn, xử lăng trì!”
Bàng Quyên lại cười lớn, cao giọng nói: “Nước Ngụy trên dưới ngu muội, diệt vong chỉ là chuyện sớm chiều!”
Ngụy Huệ Vương càng thêm giận dữ, quát lớn: “Mau giải nghịch tặc đi!”
Đám thị vệ lập tức kéo tuột Bàng Quyên đi, khi sắp bị lôi ra khỏi cửa điện, phía sau bỗng có tiếng nói vang lên: “Khoan đã!”
Thị vệ liền dừng bước.
Huệ Thi bước ra, chậm rãi nói: “Bệ hạ, vi thần có tấu!”
Ngụy Huệ Vương hơi bình tâm lại: “Nói đi!”
“Bệ hạ treo bảng cầu hiền, Bàng Quyên gỡ bảng hưởng ứng, là hợp tình hợp lý. Nếu bệ hạ giết người này, chỉ e kẻ hiền sĩ trong thiên hạ biết được sẽ nguội lòng!”
“Ồ…” Ngụy Huệ Vương nhất thời không biết nói gì.
“Bệ hạ, dựa theo hình luật của Đại Ngụy, Bàng Quyên có tội hay không, phải do phủ tư đồ điều tra xong mới có thể định đoạt. Đừng nói là một sĩ tử gỡ cáo thị, cho dù là thường dân trăm họ, thì chuyện lớn sống chết, khốc hình lăng trì, cũng không thể căn cứ vào lời nói của một bên mà vội vàng quyết định.”
Lời Huệ Thi thấu tình đạt lý, điềm tĩnh thung dung, quần thần nghe thấy vậy, đều gật gù đồng ý.
“Bệ hạ!” Trần Chẩn càng nôn nóng. “Bàng Quyên thân mang nhiều tội, là kẻ đại ác không thể dung tha, theo luật nên chém. Nếu thả hắn, chẳng khác nào thả hổ về rừng!”
“Xin hỏi Trần thượng khanh,” Huệ Thi đột nhiên quay sang Trần Chẩn, không còn vẻ ôn tồn hoà nhã thường ngày, lời nói trở nên vô cùng nghiêm nghị, “nếu như Bàng Quyên bán Ngụy cầu vinh, vậy tại sao lại từ chối chức thượng khanh mà nước Tề ban tặng? Thượng khanh đi sứ nước Tề, được thưởng trăm lượng vàng còn vui vẻ nhận lấy, Bàng Quyên thân là sĩ tử tầm thường, nhưng lại coi trăm lượng vàng như cỏ rác, vậy phải giải thích thế nào đây? Quân Tề đánh đâu thắng đấy, quân Ngụy đánh đâu thua đấy, nếu Bàng Quyên thực lòng bán Ngụy cầu vinh, cớ sao không đến trợ giúp quân Tề, mà lại gỡ bảng xin đánh địch?”
Trần Chẩn mặt đỏ phừng phừng: “Ông…”
“Trần thượng khanh!” Huệ Thi nhấn mạnh từng chữ. “Đất nước có nạn, chúng ta thân là trọng thần triều đình, cần phải lo toan giúp cho bệ hạ, không thể đố kỵ hiền tài, hại nước hại dân!”
Huệ Thi lời lẽ sắc bén, từng chữ thốt ra khác nào từng nhát búa đập xuống, Trần Chẩn chỉ cảm thấy từng cơn ớn lạnh dội trong xương cốt, lập tức quỳ sụp xuống đất, khóc mà nói: “Bệ hạ, vi thần… vi thần, tấm lòng trung thành của vi thần, trời đất có thể chứng giám!”
Đến lúc này, Ngụy Huệ Vương dường như cũng đã nhận ra chỗ bất thường bên trong, bèn xua tay mà nói: “Trần Chẩn, ngươi lui ra đi!”
Trần Chẩn lại khấu lạy, khóc lóc: “Vi thần cáo lui!”
Thấy Trần Chẩn đã lui ra khỏi cửa điện, Ngụy Huệ Vương quay sang Bàng Quyên: “Cởi trói cho Bàng sĩ tử!”
Thị vệ lập tức cởi trói.
Bàng Quyên bước lên trước điện, dập đầu mà nói: “Bàng Quyên tạ ơn bệ hạ tha mạng!”
“Đã khiến Bàng Tử phải sợ hãi!” Ngụy Huệ Vương từ tốn nói. “Kẻ địch lớn ngay trước mặt, Bàng Tử có kế hay nào đẩy lui kẻ địch, có thể nói cho quả nhân biết chăng?”
Bàng Quyên đưa mắt nhìn khắp lượt triều đường: “Bệ hạ có thể cho mọi người lui ra không?”
“Chư vị ái khanh, bãi triều!”
Chúng thần lập tức lui ra.
Ngụy Huệ Vương quay sang Huệ Thi, Chu Uy: “Huệ ái khanh, Chu ái khanh dừng bước!” Nói đoạn, dẫn ba người đi vào ngự thư phòng gần hậu hoa viên.
Huệ Vương ngồi xuống, Bàng Quyên quỳ dưới đất, dập đầu nói: “Thảo dân Bàng Quyên khấu kiến bệ hạ!”
“Bàng Tử hãy bình thân!” Ngụy Huệ Vương khẽ xua tay. “Chỗ này không có người ngoài, Huệ tướng quốc, Chu ái khanh đều là cánh tay trái phải của quả nhân, Bàng Tử có gì xin cứ nói thẳng.”
“Đa tạ bệ hạ!”
Bàng Quyên đứng dậy, vòng tay vái Huệ Thi một vái: “Bàng Quyên đa tạ tướng quốc đại nhân!”
Huệ Thi cũng đáp lễ, hỏi: “Xin hỏi Bàng Tử, Bàng Tử và thượng khanh có hiềm khích gì chăng?”
“Hồi bẩm đại nhân,” Bàng Quyên đáp, “tiên phụ vốn là thợ may của Chu thất, ba năm trước Trần Chẩn mời tiên phụ vào may vương phục cho bệ hạ, tiên phụ cho rằng không hợp với lễ chế nên kiên quyết không nghe, Trần Chẩn đã bắt nhốt tiên phụ vào nhà lao. Bàng Quyên đi cứu tiên phụ, không ngờ đã bị trúng kế mai phục, phải liều mạng mới thoát ra được. Sau khi lang bạt bên ngoài mấy tháng, Bàng Quyên lại quay về, muốn cứu tiên phụ, Trần Chẩn lấy tính mạng tiên phụ ra trao đổi để bắt Bàng Quyên, sau đó lại không giữ lời, đã giết chết tiên phụ, nhốt Bàng Quyên vào đại lao. Bàng Quyên không chịu, nên đã vượt ngục bỏ trốn, lên núi bái sư học nghệ…”
Nghe Bàng Quyên nói vậy, Ngụy Huệ Vương kinh ngạc đến sững sờ, một lúc lâu sau mới định thần lại được: “Chẳng trách Trần Chẩn muốn đẩy Bàng Tử đến chỗ chết, thì ra là vậy!”
“Khởi bẩm bệ hạ,” Chu Uy thấy thời cơ đã đến, vòng tay bẩm tấu, “vi thần đã điều tra rõ, vụ án diệt môn ở lầu Miên Hương, thực chất là do Trần Chẩn gây ra, sau đó lại đổ vấy cho Công Tôn Diễn, ép Công Tôn Diễn phải tháo chạy sang Tần.”
Ngụy Huệ Vương giận dữ tột độ, đấm mạnh tay xuống bàn, nghiến răng kèn kẹt mà nói: “Nghịch tặc Trần Chẩn! Quả nhân đối xử với hắn không tệ, nhưng hắn lại nhiều lần hãm hại quả nhân, tội không thể dung tha! Chu ái khanh, lập tức bắt cả nhà Trần Chẩn nhốt vào tử lao, tịch thu toàn bộ gia sản!”
Chu Uy tiếp nhận ý chỉ, lập tức đi sắp đặt việc bắt Trần Chẩn.
Ngụy Huệ Vương quay sang Bàng Quyên, vòng tay vái một vái: “Quả nhân bị kẻ gian bưng mắt, suýt chút nữa đã giết hại trung lương, mong Bàng Tử bớt giận.”
Bàng Quyên khóc mà nói: “Bệ hạ điều tra ra gian tặc, đã báo mối thù giết cha cho Bàng Quyên, cũng giống như cha mẹ tái sinh của Bàng Quyên. Bắt đầu từ hôm nay, cái mạng của Bàng Quyên sẽ thuộc về bệ hạ. Chỉ cần bệ hạ lên tiếng, Bàng Quyên cho dù phải nhảy vào dầu sôi lửa bỏng cũng không dám từ nan!”
Ngụy Huệ Vương đứng dậy, đưa tay đỡ Bàng Quyên: “Bàng Tử có lòng trung thành, đúng là điều may mắn của quả nhân! Nước Ngụy hôm nay nguy trong sớm tối, Bàng Tử có cách gì đối phó hay chăng?”
“Nguy trong sớm tối?” Bàng Quyên nhắc lại, rồi ngây ra một lát, làm ra vẻ kinh ngạc. “Sao bệ hạ lại nói vậy?”
“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài một tiếng, khẽ lắc đầu. “Bàng Tử cũng đã thấy cả rồi, nước Tề đánh đến từ phía đông, Tần đến từ phía tây, Triệu đến từ phía bắc, Hàn đến từ phía nam, nước Ngụy bốn bề ngự địch, quả nhân vừa không có quân lính thiện chiến, lại càng không có tướng tài cầm quân, há chẳng phải nguy trong sớm tối?”
“Bệ hạ quá lo lắng rồi!” Bàng Quyên vòng tay nói. “Theo thế cục hiện nay, nước Ngụy không những không nguy trong sớm tối, ngược lại còn đang gặp được thời cơ tốt, là chuyện đáng mừng!”
Thấy Bàng Quyên nói vậy, ngay cả Huệ Thi cũng kinh ngạc, hai mắt chằm chằm nhìn vào Bàng Quyên.
Ngụy Huệ Vương càng nghe càng mơ hồ, hỏi dồn: “Gì kia? Quả nhân gặp thời cơ tốt, là chuyện đáng mừng?”
“Chính phải!” Bàng Quyên khẽ gật đầu. “Ngày trước trong thời Văn Hầu, tây có Tần lớn mạnh, nam có Sở hung bạo, bắc có Triệu hung hãn, đông có Tề dũng mãnh, bốn bề nhòm ngó, tình thế chẳng khác gì ngày nay. Vậy mà Văn Hầu hô một tiếng, Nhạc Dương vung thương mà thiên hạ hoảng kinh, Ngô Khởi giương kích mà chư hầu khiếp sợ. Đại Ngụy trải qua ba đời, mở rộng đất đai, đông chinh tây chiến, gây dựng được bá nghiệp mấy chục năm, thiên hạ có kẻ nào dám không phục tùng.”
Nghe Bàng Quyên nhắc lại sự nghiệp hiển hách của tiên quân, Ngụy Huệ Vương trong lòng cảm động, lại nghĩ tới tình cảnh hiện tại của mình, bất giác âm thầm đau xót, lắc đầu mà nói: “Than ôi, đều là những chuyện trong quá khứ. Hiện giờ cường địch xâm phạm, quả nhân…” Rồi liên tiếp lắc đầu, không nói thêm được lời nào nữa.
Bàng Quyên nói lớn: “Bệ hạ, trong mắt thảo dân, không hề có cường địch!”
Ngụy Huệ Vương ngẩng nhìn Bàng Quyên, bất giác buột miệng “Ồ” lên một tiếng, rồi đưa mắt nhìn Huệ Thi đang ngồi bên trái, không giấu nổi vẻ nghi hoặc. Huệ Thi hai mắt khép hờ, dường như không nhận ra sự nghi hoặc của Huệ Vương, cũng không nghe thấy những lời Bàng Quyên vừa nói.
Bàng Quyên bưng chén trà đặt ở trên bàn trước mặt lên, chậm rãi nhấp lấy một ngụm, rồi ngẩng nhìn Huệ Vương, nói dõng dạc: “Trong mắt của thảo dân, thứ cường địch mà bệ hạ vừa nói, chẳng quả chỉ là một đám bị thịt vô dụng, không đỡ nổi một đòn!”
Ngụy Huệ Vương thấy Bàng Quyên nói năng càng lúc càng bạo miệng, trong lòng càng cảm thấy ngờ vực, lại “Ồ” lên một tiếng nữa, hơi ngả người về phía sau, hai mắt cũng khép lại giống như Huệ Thi.
Bàng Quyên không vội nói tiếp, lại bưng chén trà lên, nhấp thêm ngụm nữa, uống xong, từ từ đặt chén xuống: “Xin bệ hạ hãy bình tâm tĩnh trí, nghe thảo dân nói vài lời!”
Ngụy Huệ Vương chẳng buồn động đậy mí mắt: “Nói!”
“Thảo dân cho rằng,” Bàng Quyên nói rành mạch, “hiện giờ bốn nước láng giềng xâm phạm ta, nhưng không có phía nào đáng sợ. Triệu, Hàn và Ngụy cùng là Tam Tấn, chắc chắn họ hiểu rõ đạo lý môi hở thì răng lạnh. Lần này xuất binh, chẳng qua là muốn ép bệ hạ từ bỏ vương hiệu, tuyệt đối không có ý diệt Ngụy. Người Tần chỉ muốn thông đường tiến về phía đông, nên có được Hàm Cốc, Âm Tấn đã mãn nguyện rồi, sẽ không tiếp tục đánh nữa. Chỉ có Tề Công không biết thời thế, khinh Ngụy không có người tài, coi ta như cá nằm trên thớt, muốn ăn tươi nuốt sống. Bệ hạ chỉ cần đánh đuổi được Điền Kỵ, ba nước khác ắt sẽ không chiến mà tự lui.”
“Lời của Bàng Tử rất đúng, nhưng…” Ngụy Huệ Vương ngước mắt nhìn Bàng Quyên, “làm thế nào mới đánh thắng được Điền Kỵ, đây chính là mối lo của quả nhân.”
“Thảo dân bạo gan hỏi bệ hạ, muốn bắt sống Điền Kỵ hay muốn lấy đầu hắn?”
Ngụy Huệ Vương hai mắt trợn tròn, kinh hãi nhìn Bàng Quyên: “Bàng Tử…”
“Bệ hạ!” Bàng Quyên thần thái trịnh trọng. “Thảo dân đang đợi ý chỉ của bệ hạ?”
“À… đương nhiên là bắt sống!”
“Nếu bệ hạ tín nhiệm thảo dân, thảo dân hẹn trong vòng một tháng sẽ trói hắn dẫn tới trước điện, để bệ hạ tuỳ nghi xử tội!”
Ngụy Huệ Vương há hốc miệng, trợn mắt nhìn Bàng Quyên, rồi lại quay sang nhìn Huệ Thi.
Huệ Thi mở mắt, nhìn Bàng Quyên: “Xin hỏi Bàng Tử theo học thầy nào?”
“Khởi bẩm tướng quốc,” Bàng Quyên nói lớn, “sau khi vượt ngục, Bàng Quyên đã đến núi Vân Mộng học binh pháp, được Quỷ Cốc tiên sinh đích thân truyền thụ.”
Huệ Thi thất kinh: “Phải chăng là Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng?”
“Chính là ân sư!”
“Bệ hạ!” Huệ Thi quay sang Huệ Vương. “Theo vi thần được biết, Quỷ Cốc Tử trong núi Vân Mộng là kỳ nhân số một trong thiên hạ, văn thao võ lược rất mực tinh thông, Bàng Quyên có thể bái Quỷ Cốc Tử làm sư, ắt có thành tựu. Những lời vừa tấu, hẳn không phải nói bừa!”
Ngụy Huệ Vương cười lớn, nói: “Điền Nhân Tề nhường cho chức thượng khanh mà không có được Bàng Tử. Quả nhân có được, đúng là may mắn lớn của Đại Ngụy ta. Xin hỏi Bàng Tử, nếu phá quân Tề, cần bao nhiêu binh mã?”
“Ba vạn là đủ!”
“A…” Ngụy Huệ Vương kinh ngạc. “Tề có bảy vạn đại quân, Điền Kỵ lại là danh tướng liệt quốc, Bàng Tử…”
“Việc quân không thể nói đùa!”
“Được! Đại Lương hiện có ba vạn tinh binh giữ thành, quả nhân sẽ giao toàn bộ cho Bàng Tử!”
Bàng Quyên đứng dậy, lạy ba lạy rồi chậm rãi nói: “Thảo dân đa tạ bệ hạ ban ơn, có điều…”
“Bàng Tử có yêu cầu gì, hãy cứ nói ra!”
“Quân giữ thành ở Đại Lương còn phải bảo vệ sự an toàn cho bệ hạ, thảo dân không dám lấy dùng.”
“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài. “Không giấu Bàng Tử, ngoài số binh này ra, quả nhân đã chẳng còn binh lính để điều động nữa rồi.”
“Chẳng phải ở chỗ Long tướng quân còn có mấy vạn hùng binh hay sao?”
Ngụy Huệ Vương lắc đầu: “Ở chỗ Long tướng quân chỉ có chưa đầy bốn vạn nhân mã, lại bại trận liên miên, sĩ khí suy sụp, không thể đánh trận lớn được nữa!”
Bàng Quyên mỉm cười, vòng tay nói: “Thảo dân khẩn cầu bệ hạ, hãy tạm điều ba vạn binh mã từ chỗ Long tướng quân cho thảo dân!”
“Ý Bàng Tử là…” Ngụy Huệ Vương kinh ngạc, “dùng lại số bại binh của Long tướng quân?”
“Trong mắt của thảo dân, không có bại binh!”
“Tốt lắm!” Ngụy Huệ Vương suy nghĩ một lúc, quay sang nói với tỳ nhân. “Truyền chỉ, phong Bàng Tử làm tiên phong ngự địch trước trướng của Long tướng quân, giao cho thống lĩnh ba vạn binh. Sau khi phá địch, sẽ phong thưởng tiếp!”
Trần Chẩn hộc tốc trở về đến phủ, Thích Quang lập tức chạy ra đón, đang định bẩm báo lại sự việc Bàng Quyên, đã nghe thấy Trần Chẩn vội vã sai bảo: “Mau, mang mấy hòm vàng tới đây!”
Thích Quang thấy chủ nhân thần sắc kinh hoàng, biết đã xảy ra chuyện lớn, nên không dám nhiều lời, lập tức đi vào kho vàng, phái người khiêng mấy hòm vàng bạc châu báu ra, chất lên hai cỗ xe ngựa, đặt sẵn ghế kê chân, rồi khẽ hỏi: “Chúa công định đi đâu?”
Trần Chẩn nhảy lên xe: “Trước tiên hãy tới nước Hàn. Mau đi thôi!”
Thích Quang ngẫm nghĩ một thoáng, rồi nhảy lên cỗ xe chở vàng, quay sang nói với Đinh Tam hộ tống bên cạnh: “Chúa công đi sứ nước Hàn, ta cũng đi theo. Mọi việc trong nhà, giao lại cho ngươi!”
Đinh Tam đáp: “Thích gia yên tâm!”
Thích Quang giật mạnh dây cương, vung roi hô lớn, xe ngựa lao thẳng ra cổng thành phía nam.
Hai người đi chưa được nửa canh giờ, Bạch Hổ đã dẫn quân binh rầm rập xông tới, vây kín quanh phủ thượng khanh, phá cổng xông vào. Đinh Tam vội dẫn gia đinh chạy ra, nhìn thấy cảnh này, hốt hoảng kêu lên: “Bạch thiếu gia!”
Bạch Hổ quát lớn: “Bắt lại!”
Quân lính không nói nửa lời, ùa cả lại bắt lấy Đinh Tam và đám gia đinh. Đinh Tam vừa giãy giụa, vừa hét lớn: “Phản rồi! Phản rồi! Các ngươi hãy mở to mắt ra xem, đây là phủ thượng khanh, các ngươi muốn mất mạng ư?”
Bạch Hổ cười nhạt một tiếng: “Ta đến chính là để bắt thượng khanh! Trói lại, không được để sót tên nào!”
Quân lính đồng thanh dạ ran, sau đó tản ra bốn phía bắt người. Một lát sau, toàn bộ già trẻ lớn bé trong phủ thượng khanh đã bị bắt trói giải ra.
Một quân uý bẩm báo: “Báo, tất cả nhân đinh trong phủ đều đã ở đây, song không thấy Trần Chẩn, Thích Quang đâu cả!”
Bạch Hổ đi tới trước mặt Đinh Tam: “Trần Chẩn đâu?”
Đinh Tam cứng đầu cứng cổ, thà chết không nói. Bạch Hổ liếc xéo hắn một cái, rồi quay sang một tên gia đinh. Gia đinh hai chân run lẩy bẩy, lắp bắp nói: “Nửa canh giờ trước…đã… đã đi rồi!”
Bạch Hổ gằn giọng hỏi: “Đi đâu?”
“Nói là… đi sứ nước Hàn.”
Bạch Hổ quay sang quân uý: “Mau, không được để hắn chạy thoát!”
“Hạ quan tuân lệnh!” Quân uý nói xong, lập tức dẫn theo mười mấy kỵ binh lao ra cổng thành nam.
Bạch Hổ quát đám lính vẫn còn đứng nguyên tại chỗ: “Còn đứng đấy? Tịch biên gia sản!”
Quân lính lập tức dạ ran, tản ra bốn phía.
Trần Chẩn, Thích Quang phóng xe ra khỏi cổng thành phía nam, đi được mấy dặm thì gặp một ngã tư, Trần Chẩn hai mắt khẽ đảo: “Ta sực nhớ ra một chuyện, giờ phải đi Hàm Đan ngay. Ngươi mang theo số vàng bạc châu báu này sang đất Hàn rồi đến Lạc Dương, tìm lấy một quán trọ ở đó nghỉ chân. Ta làm xong việc, sẽ đến Lạc Dương tìm ngươi.”
Thích Quang vâng lời.
Trần Chẩn nhảy lên cỗ xe phía sau, rẽ về phía đông.
Trần Chẩn đánh xe bỏ đi chưa đầy nửa canh giờ, phía sau đã nghe có tiếng vó ngựa dồn dập theo sau. Thích Quang ngoảnh đầu lại nhìn, chỉ thấy bụi bay mù mịt, mười mấy kỵ binh đang thúc ngựa đuổi tới. Thích Quang mặt biến sắc, đánh xe chạy như bay. Chạy được mấy dặm, viên quân uý của phủ tư đồ đã dẫn người đuổi kịp, bao vây lấy Thích Quang, bắt lại rồi áp giải về Đại Lương.
Bạch Hổ trở về bẩm báo với Chu Uy. Phủ tư đồ liền phát quan văn, truy nã Trần Chẩn khắp nơi.
***
Sông Tế Thuỷ tựa như chiếc đai bạc khổng lồ, uốn thành một vòng cung ở phía bắc Hoàng Trì, rồi chảy về phía đông nam. Hai bờ Tế Thuỷ, quân Ngụy rải quân dọc bờ nam, quân Tề hạ trại dọc bờ bắc, cả hai bên đều dàn quân thành hình chữ nhất.
Phía trước trận quân Tề, tiên phong Triệu Xung dẫn theo mấy ngàn quân đánh trống khiêu chiến. Phía trước doanh trại quân Ngụy, một lá cờ lớn viết chữ “Long đại tướng quân” bay lộng trong gió. Dưới lá cờ, một thẻ bài miễn chiến màu xanh đen được treo lên cao, phó tướng quân Ngụy Trương Mãnh hai mắt lãnh đạm, cây trường thương trong tay bắt sáng loang loáng dưới ánh mặt trời. Một hàng tướng sĩ vũ trang đủ bộ, tay cầm cung tên, toàn thần chuyên chú quan sát quân Tề ở bờ sông đối diện.
Vào lúc chập tối, Trương Mãnh nhìn thấy quân Tề thu binh, đang định quay về doanh trại thì thấy một toán kỵ binh phi nước đại tới, dừng ngựa ngay trước cổng doanh trại. Trương Mãnh nhận ra một người trong đó là tỳ nhân, vội gọi mở cửa. Một lát sau, tỳ nhân dẫn theo Bàng Quyên tiến vào cổng doanh trại, đi thẳng tới trướng trung quân.
Trong trướng trung quân, Long Giả thân mang trọng thương đang nằm trên giường, mấy thầy lang đứng hầu bên cạnh, thận trọng rửa ráy vết thương cho ông. Long Giả sắc mặt vàng ệch, trán vã mồ hôi, dường như đang phải chịu đựng nỗi đau đớn kịch liệt về xác thịt.
Trương Mãnh đi vào, đến trước mặt Long Giả, nói khẽ: “Long tướng quân, bệ hạ phái nội tể đến thăm tướng quân!”
Chưa dứt lời, tỳ nhân đã đi vào trướng.
Long Giả gắng gượng muốn ngồi dậy, tỳ nhân vội bước lại gần, giữ lấy ông: “Long tướng quân, mau nằm xuống!”
Long Giả nằm xuống, thở hổn hển mà nói: “Long Giả đã phụ… sự uỷ thác của bệ hạ, thật… hổ thẹn!”
Tỳ nhân an ủi: “Long tướng quân, bệ hạ đã đặc phái hạ quan đến hỏi thăm tướng quân đây!”
Long Giả nước mắt ròng ròng: “Than ôi, già rồi, Long Giả già rồi. Long Giả có lỗi với bệ hạ!”
“Long tướng quân hãy chú ý dưỡng thương!” Tỳ nhân nói đoạn, rút từ trong tay áo ra chiếu thư và hổ phù điều binh. “Bệ hạ đã phái một tiên phong đến tương trợ. Đây là chiếu thư và hổ phù, bệ hạ muốn tướng quân tạm thời điều động ba vạn binh mã dưới cờ cho tiên phong Bàng Quyên, để Bàng tướng quân tiên phong phá Tề.”
Long Giả sững người, rồi nuốt lệ nói: “Mạt tướng lĩnh chỉ! Vậy Bàng tiên phong đâu?”
“Đang ở ngoài trướng!”
Long Giả hổn hển mấy hơi, rồi nói với Trương Mãnh: “Mời… mời tiên phong tướng quân vào… vào trướng.”
Trương Mãnh quay ra ngoài trướng, nói lớn: “Đại tướng quân mời tiên phong vào trướng!”
Bàng Quyên thân mặc nhung phục, đi vào trong trướng, dập đầu trước giường: “Mạt tướng Bàng Quyên khấu kiến đại tướng quân!”
Long Giả thở dốc mấy hơi rồi nói: “Bàng… Bàng tướng quân, miễn… miễn lễ!”
Bàng Quyên vẫn quỳ dưới đất: “Mạt tướng đa tạ đại tướng quân hậu ái!”
Long Giả quay sang Trương Mãnh: “Trương tướng quân, hãy nói qua về tình thế hai quân!”
Trương Mãnh vâng lời, quay sang Bàng Quyên nói: “Bàng tướng quân, Điền Kỵ có bảy vạn đại quân, hạ trại dọc theo bờ bắc sông Tế Thuỷ. Quân ta đã bại liên nhiều trận, sĩ khí tổn thương nặng nề. Hiện giờ, mặc dù là mùa lũ, nhưng lòng sông rất rộng, dòng nước chảy chậm, sâu không quá ngực, quân Tề có thể lội qua sông. Tình thế trước mắt…”
Bàng Quyên ngắt lời: “Trương tướng quân bất tất phải nói nhiều, tình thế trước mắt, tại hạ đã biết cả rồi!”
Trương Mãnh sững người, quay sang nhìn Long Giả.
Long Giả khẽ chau mày, thở hổn hển mà nói: “Trương tướng quân, điểm ba vạn binh giao cho Bàng tướng quân!”
Trương Mãnh do dự một lát: “Bẩm tướng quân, trừ đi số quân bị thương, quân sĩ có thể chiến đấu còn lại chưa đầy ba vạn!”
Long Giả khẽ thở dài, hai mắt khép lại: “Nếu đã như vậy, hãy giao toàn bộ cho Bàng tướng quân!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Bàng Quyên lại bái lạy Long Giả: “Mạt tướng đa tạ Long tướng quân đã tin tưởng! Long tướng quân hãy yên tâm dưỡng thương, Bàng Quyên thề trong vòng vài ngày sẽ bắt trói Điền Kỵ về cho đại tướng quân xử lý!”
Nghe Bàng Quyên nói vậy, Long Giả hai mắt mở choàng, chăm chú nhìn Bàng Quyên một hồi, rồi chậm rãi nói: “Bàng tướng quân, lão hủ mệt rồi!”
“Long tướng quân hãy tĩnh tâm dưỡng thương! Bàng Quyên cáo lui!” Bàng Quyên lạy xong, liền từ từ lui ra.
Nhìn theo Bàng Quyên, Long Giả khẽ lắc đầu: “Than ôi, nếu là Công Tôn Diễn nói ra những lời này, lão hủ còn tin!”
Ngoài trướng tiên phong, trong tiếng quân nhạc, hai tên lính từ từ giương lá cờ lớn màu xanh đen có chữ “Bàng tiên phong” lên cao.
Thấy cờ đã giương lên, Bàng Quyên quay sang nói với tham quân đang bên cạnh: “Lập một đàn tế dưới lá cờ.”
Tham quân vâng lệnh, chỉ huy quân lính dựng một đàn tế đơn giản bên dưới lá cờ, Bàng Quyên sai người dắt con sơn dương đen đến, buộc nó dưới đàn tế.
Thấy con sơn dương đã được buộc chắc chắn, Bàng Quyên ngẫm nghĩ một lát, rồi đi tới doanh trại của phó tướng tam quân Trương Mãnh, quỳ một gối xuống, nói lớn: “Bẩm báo tướng quân, mạt tướng đã chuẩn bị sẵn sàng, có thể điểm tướng được rồi!”
Trương Mãnh gật đầu, truyền lệnh cho các tướng đến trước trướng của tiên phong điểm danh. Một lát sau, tướng lĩnh ba quân lũ lượt kéo tới trước trướng tiên phong, người nào người nấy mặt đầy nghi hoặc, đi vào trong trướng.
Phó tướng Trương Mãnh ngồi ở vị trí chủ, Bàng Quyên ngồi bên cạnh. Sau một hồi trống, Trương Mãnh cầm lấy bản danh sách điểm tướng, điểm danh xong, bèn lớn giọng nói: “Chư vị tướng quân, truyền lệnh của đại tướng quân!”
Chư tướng đồng loạt đứng dậy, quỳ một gối xuống.
Trương Mãnh nói lớn: “Đại tướng quân có lệnh, bắt đầu từ hôm nay, tướng sĩ ba quân đều phải nghe theo lệnh điều động của tiên phong Bàng Quyên. Ai trái lệnh, chém!”
Chư tướng đều giật mình kinh ngạc, đưa mắt nhìn sang Bàng Quyên.
Bàng Quyên đứng lên, liên tiếp vòng tay vái chư tướng: “Tiên phong Bàng Quyên xin chào chư vị tướng quân!”
Các tướng quay mặt nhìn nhau, rồi lại cùng quay sang nhìn Trương Mãnh, chẳng ai để ý tới Bàng Quyên. Bàng Quyên đang lúc lúng túng, thì Trương Mãnh chậm rãi rời khỏi ghế chủ, đi tới trước mặt chư tướng, đứng ở đầu hàng, quỳ một gối xuống: “Mạt tướng Trương Mãnh khấu kiến tiên phong tướng quân, mời tướng quân phát lệnh!”
Chư tướng thấy vậy, đành phải đồng thanh hô: “Mạt tướng khấu kiến tiên phong tướng quân, mời tướng quân phát lệnh!”
Bàng Quyên bước tới, đỡ Trương Mãnh lên, rồi lại lần lượt đỡ các tướng dậy, vòng tay vái một vái trước các tướng, nói lớn: “Bàng Quyên đa tạ các vị tướng quân coi trọng!”
Các tướng đồng thanh hô: “Mời tiên phong tướng quân phát lệnh!”
Bàng Quyên nói lớn: “Tiên phong Bàng Quyên muốn hỏi các vị tướng quân một câu!”
Các tướng lại cùng nói: “Xin tướng quân cứ hỏi!”
Bàng Quyên sắc mặt nghiêm nghị: “Chư vị tướng quân, có muốn đánh thắng trận không?”
Mấy năm nay, quân Ngụy hầu như đánh trận nào thua trận đấy, chư tướng ba quân đều âm ỉ lửa hận trong lòng, có ai không muốn thắng trận? Nhưng thắng hay bại, không phải cứ muốn là được. Bởi vậy, đối với chư tướng, câu hỏi của Bàng Quyên thật nực cười, vì vậy chẳng ai chịu lên tiếng.
Thấy không có ai lên tiếng, Bàng Quyên lại hỏi: “Lẽ nào chư vị tướng quân không muốn thắng trận?”
Lại là một bầu câm lặng.
Đang lúc khó xử, một vị tướng trẻ tuổi đứng ở giữa cất giọng lạnh nhạt: “Hồi bẩm tiên phong tướng quân, ở đây chẳng có ai muốn bại trận!”
“Tốt!” Bàng Quyên nhìn người đó, nói lớn. “Đã không có ai muốn bại trận, vậy thì bắt đầu từ hôm nay, Bàng Quyên nhất định sẽ cùng các vị chỉ luôn đánh thắng trận!”
Lời này quả thật là khoác lác tận trời, chư tướng lại tiếp tục ngậm tăm im lặng. Một lúc sau, chủ tướng hữu quân cười khẩy mà nói: “Tiên phong tướng quân, nếu như chỉ luôn đánh thắng trận, e rằng mọi người có nằm mơ chắc cũng phải bật cười tỉnh giấc.”
Nghe thấy lời này, các tướng bắt đầu ghé tai xì xầm, lời lẽ, sắc mặt đều lộ vẻ dè bỉu.
Bàng Quyên liếc xéo người này, rồi chậm rãi nói: “Bàng Quyên xin bảo đảm với trời xanh, các vị nhất định sẽ bật cười tỉnh dậy từ trong mơ.”
Chủ tướng hữu quân tiếp tục chế giễu: “Mạt tướng xin hỏi, tiên phong tướng quân lấy gì để bảo đảm?”
Bàng Quyên đưa tay lên, chỉ vào đầu mình: “Cái này!”
Các tướng thấy Bàng Quyên lấy đầu ra bảo đảm, chẳng ai dám nói nữa.
Bàng Quyên suy nghĩ một lát, rồi chậm rãi nói: “Chư vị tướng quân, có lẽ các vị cũng đã nghe thấy, không lâu trước đây, bệ hạ đã dán cáo thị ở Đại Lương để chiêu mộ người phá địch. Tại hạ bất tài, đã to gan gỡ cáo thị, lại may mắn được bệ hạ ân sủng, bổ nhiệm làm tiên phong, nhận lệnh phá địch.” Rồi chỉ tay lên đầu mình. “Chư vị tướng quân, ngay từ khi tại hạ gỡ cáo thị xuống, là đã mang cái này ra để bảo đảm!”
Chuyện cáo thị sớm đã được người ta bàn tán ồn ào, chư tướng đều biết rõ. Gỡ cáo thị mà không thể phá địch, cho dù không chết trận, thì kết cục cũng chỉ có một, điều này chư tướng cũng đều hiểu.
Các tướng vẫn không ai nói lời nào, Bàng Quyên khẽ đặng hắng một tiếng, rồi lại nói tiếp: “Chư vị tướng quân hẳn đều muốn biết, tại hạ vốn chỉ là một thảo dân, có tài đức gì mà dám liều mạng gỡ cáo thị?”
Đây quả nhiên chính là điều mà các tướng nóng lòng muốn biết, vì vậy tất cả đều mở to mắt nhìn Bàng Quyên.
Bàng Quyên nhìn khắp lượt mọi người: “Không giấu các vị, một tháng trước, tại hạ đi qua cửa Túc Tư, cảm thấy mệt nên đã nằm nghỉ dưới một gốc cây. Vừa nằm xuống, trong lúc mơ mơ màng màng, tại hạ bất chợt nhìn thấy một người từ trên trời bay xuống, đang lúc kinh ngạc, thì người đó đã bay tới trước mặt tại hạ, ngồi ngay ngắn dưới đất, chậm rãi nói: ‘Bàng Quyên, nghe nói ngươi luôn kính phục bản tướng, hôm nay gặp mặt, còn không bái lạy?’ Tại hạ mở to mắt nhìn, hoá ra người đó không phải ai khác, chính là Ngô Khởi tướng quân, người khiến tại hạ ngưỡng mộ nhất trên đời, lập tức sụp xuống khấu bái, Ngô Khởi tướng quân lại nói: ‘Bàng Quyên, nước Ngụy có nạn, mấy ngày nữa Huệ Vương sẽ ra cáo thị chiêu mộ hiền tài phá địch. Bản tướng nhận lệnh của trời, đến bảo ngươi đi gỡ cáo thị, phò tá Ngụy Vương bệ hạ, chấn hưng uy phong Đại Ngụy.’ Tại hạ khấu đầu nói: ‘Ngô Khởi tướng quân, vãn bối vô tài vô đức, sao dám gỡ cáo thị?’ Ngô Khởi tướng quân bèn nói: ‘Bàng Quyên chớ lo, bản tướng tặng cho ngươi một cuốn sách, đảm bảo ngươi đánh đâu thắng đấy!’ Ngô Khởi tướng quân nói xong, liền lấy từ trong tay áo ra một cuốn sách, quăng trên mặt đất. Tại hạ nhặt lấy, vừa nhìn, đã nhận ra là sách quý, hết sức vui mừng, lại dập đầu liên tiếp. Tại hạ khấu đầu xong, ngẩng lên thì đã thấy Ngô Khởi tướng quân bay đi xa rồi. Tại hạ còn có rất nhiều điều muốn hỏi tướng quân, thấy tướng quân bay đi, trong lòng cuống quýt, liền hét lớn lên, không ngờ vừa hét đã tỉnh dậy. Tại hạ ngỡ mình đang nằm mơ, nhưng cúi xuống nhìn thì quả thật trong lòng có một cuốn thẻ tre. Các vị tướng quân hãy xem!”
Bàng Quyên lấy ra một cuốn thẻ tre từ trong tay áo, đặt lên mặt bàn.
Các tướng nghe thấy có thần xuất hiện, lại thấy Bàng Quyên lấy ra một cuốn sách, thảy đều mở to mắt nhìn. Bàng Quyên từ từ mở cuộn thẻ tre ra, trên đầu có viết bốn chữ lớn: “Binh pháp Ngô Tử”.
Bàng Quyên trải toàn bộ cuốn sách ra, rồi chậm rãi cuộn lại: “Chư vị tướng quân, Ngô Khởi tướng quân những năm cuối đời quả thực có viết một cuốn binh thư, giấu kín không cho ai biết. Trước lúc lâm chung, tướng quân lo lắng sách này sẽ rơi vào tay kẻ xấu, nên đành cắn răng đốt bỏ, vì vậy người đời không biết. Nay nước Ngụy có nạn, Ngô Khởi tướng quân đã ban sách này cho Bàng Quyên, là muốn tại hạ phò tá bệ hạ, trùng hưng bá nghiệp.”
Cửa Túc Tư có cây Ngô Khởi, người Ngụy không ai không biết. Bàng Quyên kể chuyện sinh động như thật, lại có được cuốn sách làm chứng, nên các tướng đều tin là thực.
Vị tướng quân trẻ tuổi lúc nãy cất lời than thở thực lòng: “Than ôi, Bàng tướng quân, suốt mấy năm nay chúng tôi đánh đâu thua đấy, thực là uất hận! Nếu tướng quân có thể chỉ huy mạt tướng đánh thắng một trận, mạt tướng cho dù tan xương nát thịt, chết cũng không tiếc!”
Các tướng đồng thanh phụ hoạ.
“Chư vị tướng quân!” Bàng Quyên vòng tay nói. “Sau khi trở về doanh trại, các vị hãy nói lại với mỗi vị dũng sĩ rằng, bắt đầu từ hôm nay, thiết quân của Đại Ngụy sẽ đánh đâu thắng đấy, vì có linh hồn của Ngô Khởi tướng quân trên trời phù hộ chúng ta!”
Các tướng đồng thanh: “Mạt tướng thề chết đi theo tướng quân, chấn hưng uy danh Đại Ngụy!”
Bàng Quyên giơ tay thề: “Bàng Quyên nguyện cùng sống chết với chư tướng, có phúc cùng hưởng, có nạn cùng chia!”
Chư tướng cũng đồng thanh thề: “Chúng tôi nguyện đi theo tướng quân, nguyện cùng sống chết, có phúc cùng hưởng, có nạn cùng chia!”
Bàng Quyên nhìn khắp lượt chư tướng, giọng đầy uy nghiêm: “Chư vị tướng quân, tại hạ đã thảo một bức chiến thư, ba ngày sau sẽ cùng đấu trận với Điền Kỵ ở bãi sông!”
Nghe thấy Bàng Quyên nói muốn đấu trận, các tướng đưa mắt nhìn nhau.
Chủ tướng tả quân do dự một lát, rồi bước lên trước nói: “Khởi bẩm tiên phong tướng quân! Điền Kỵ tinh thông trận pháp, lần trước đại tướng quân đấu mấy trận với ông ta, nhưng chưa từng thắng được trận nào. Trận mà Long đại tướng quân bày ra cũng bị Điền Kỵ phá tan. Bàng tướng quân lại muốn đấu trận với ông ta, liệu có được chăng?”
“Chư vị yên tâm!” Bàng Quyên vung tay. “Ngô Khởi tướng quân đã đích thân truyền dạy cho tại hạ kỳ trận để bắt Điền Kỵ! Các tướng nghe lệnh!”
Nghe thấy Ngô Khởi tướng quân đích thân truyền dạy, các tướng đều ít nhiều hưng phấn, bước lên một bước: “Mạt tướng nghe lệnh!”
Bàng Quyên thần thái uy nghiêm, nói lớn: “Ra ngoài trướng tế cờ!”
“Cái gì, ngươi nói Bàng tướng quân gửi chiến thư cho Điền Kỵ, chủ động khiêu chiến?” Long Giả hốt hoảng, gắng gượng muốn ngồi dậy, Trương Mãnh vội đưa tay đỡ.
“Long tướng quân,” Trương Mãnh dìu Long Giả nằm xuống, “tướng quân không nên cử động!”
Long Giả thở dốc mấy hơi, hai mắt nhìn chằm chằm vào Trương Mãnh.
Trương Mãnh do dự một lát, nói tiếp: “Bàng tướng quân không những gửi chiến thư cho Điền Kỵ, mà còn hẹn ba ngày sau sẽ đấu trận trên bãi sông.”
Nghe thấy hai chữ “đấu trận”, Long Giả thở dài, nhắm mắt lại, nghẹn ngào: “Than ôi, lại một công tử Ngang nữa!”
Trương Mãnh cũng thở dài, không nói thêm gì.
Một lúc sau, Long Giả mở mắt ra nhìn Trương Mãnh: “Biết hắn định bố trận gì không?”
Trương Mãnh lắc đầu: “Sau khi điểm danh, Bàng tướng quân lấy ra cuốn ‘Binh pháp Ngô Tử’, nói là do Ngô Khởi tướng quân ban tặng trong mơ, rồi dặn Bàng tướng quân gỡ cáo thị ngự địch. Sau đó… đã dẫn các tướng ra ngoài trướng, dùng máu sơn dương đen tế cờ. Tế cờ xong, tướng quân không nói một lời, cho các tướng trở về doanh trại đợi lệnh.”
Long Giả kinh ngạc: “Ba ngày sau đấu trận, mà hắn… chẳng lẽ hắn không chuẩn bị gì ư?”
Trương Mãnh gật đầu nói: “Hiện giờ vẫn chưa thấy động tĩnh gì.”
Long Giả ngẫm nghĩ một hồi, căn dặn: “Nếu Bàng tướng quân có động tĩnh gì, hãy lập tức báo lại cho ta!”
“Mạt tướng đã căn dặn thuộc hạ rồi!”
Lời vừa dứt, tham tướng trung quân chạy vội vào bẩm báo: “Báo, Bàng tướng quân đã truyền lệnh!”
Trương Mãnh vội hỏi: “Truyền lệnh gì?”
“Truyền lệnh cho Lý tướng quân quản lý lương thảo, đổ hết quân lương vào kho, lấy ra một vạn bao tải chờ sẵn.”
“Cái gì?” Trương Mãnh hoảng hốt. “Tướng quân muốn đổ lương thực xuống đất?”
“Đúng thế!” Tham tướng trung quân nói tiếp. “Không những vậy, Bàng tướng quân còn trưng dụng hai mươi xe bột đá vôi khô, một nghìn xẻng gỗ, một vạn tấm sa…”
Trương Mãnh quay sang nhìn Long Giả, lẩm bẩm: “Hai mươi xe bột đá vôi khô, một nghìn xẻng gỗ, một vạn tấm sa…” rồi quay sang nhìn tham quân, “còn lệnh gì nữa?”
“Bàng tướng quân còn…” tham quân thoáng do dự, “còn cần một nghìn thùng nước phân.”
“Cái gì, một nghìn thùng nước phân?” Trương Mãnh lại càng khó hiểu, ngây người ra một lát, rồi ngẩng lên hỏi. “Tướng quân còn muốn gì nữa?”
Tham quân lắc đầu.
“Đại tướng quân!” Trương Mãnh quay sang Long Giả. “Bàng tướng quân cần những thứ này, là có ý gì?”
Long Giả nhắm mắt lại, trầm ngâm suy nghĩ, một lúc sau, mở mắt ra nhìn tham quân: “Thế còn các vị tướng quân?”
“Khởi bẩm đại tướng quân, các tướng sau khi nhận được lệnh đều thấy hoang mang, nên đã phái mạt tướng đến xin ý chỉ của đại tướng quân.”
“Nói với các tướng,” Long Giả chậm rãi nói, “ba quân đã trao cho Bàng tướng quân, phải nghe theo mệnh lệnh của Bàng tướng quân!”
Trương Mãnh vội nói: “Long tướng quân…”
Long Giả lại nhắm mắt lại: “Đi đi!”
Trương Mãnh quay sang tham quân: “Truyền lệnh cho các tướng, tất cả đều phải nghe theo lệnh Bàng tướng quân!”
“Mạt tướng tuân lệnh!” Tham tướng lập tức lui ra.
Thấy tham tướng đã đi xa, Trương Mãnh ngạc nhiên nhìn Long Giả: “Long tướng quân, Bàng tướng quân…”
Long Giả có vẻ nghĩ ngợi: “Sắp xếp như vậy quả thực rất lạ lùng, lẽ nào Bàng tướng quân có kỳ mưu gì chăng?” Dừng lại một lát, khẽ lắc đầu. “Dùng ba vạn quân đã suy sụp để đấu lại với bảy vạn đại quân của Điền Kỵ, cho dù có kỳ mưu cũng rất nguy hiểm. Trương tướng quân!”
“Có mạt tướng!”
“Nhanh chóng bẩm tấu lại cho bệ hạ cách dùng binh của Bàng tướng quân, để bệ hạ gia cố phòng ngự ở Đại Lương, đề phòng bất trắc. Ngoài ra, tướng quân hãy chuẩn bị ba ngàn cung thủ, mai phục ở rừng cây phía ngoài cửa bắc Hoàng Trì. Nếu Bàng tướng quân bại trận, hãy yểm trợ cho tướng quân vào thành!”
Trương Mãnh vâng lệnh, lập tức bước ra khỏi trướng.
Mật tấu ở tiền phương được truyền về cung, Ngụy Huệ Vương đọc xong, thẳng tay ném toẹt xuống bàn, hét lớn: “Dám đùa giỡn quả nhân!”
Huệ Thi sững người, vội vàng nhặt bản mật tấu lên đọc.
Ngồi ngây một lúc, Ngụy Huệ Vương buồn bã lắc đầu, thất vọng than vãn: “Than ôi, cái gì mà sơn dương đen? Cái gì mà cao đồ của Quỷ Cốc Tử? Trời diệt quả nhân rồi. Huệ ái khanh!”
Huệ Thi đã đọc xong bản mật báo, vội dập đầu sát đất, khẽ bẩm tấu: “Bệ hạ…”
Huệ Vương không thèm nghe giải thích, xua tay ngăn cản: “Huệ ái khanh, không cần nói nữa!” Rồi quay ra ngoài hét lớn. “Người đâu!”
Tỳ nhân vội chạy vào: “Có lão nô!”
Huệ Vương dằn mạnh từng chữ: “Mang chiến bào của quả nhân lại đây!”
Tỳ nhân hoảng sợ, hai mắt nhìn sững vào Huệ Vương.
“Còn đứng đấy!” Huệ Vương trợn trừng mắt, quát. “Còn không mau đi?”
Tỳ nhân giật nảy mình, đang định lui ra thì Huệ Vương lại nói: “Còn nữa…”
Tỳ nhân dừng bước.
“Nổi trống rung chuông, bố cáo với thần dân Đại Ngụy, bất kể già trẻ nam nữ, tất cả lên thành! Quả nhân cho dù máu nhuộm chiến bào, cũng quyết tử chiến với Điền Nhân Tề!”