Chu Uy bước ra khỏi hình ngục, đang định trở về phủ tư đồ, chợt nhớ tới lời Công Tôn Diễn, bất giác lại đánh xe thẳng tới cung thành. Bất luận Ngụy Vương thích nghe hay không, thân là thần tử, Chu Uy tự thấy mình nên bẩm báo mối nguy mà nước Ngụy sắp phải đối mặt với quân chủ.
Khi gần tới cửa cung, Chu Uy từ xa đã nhìn thấy hai người áo nâu đứng đó, một trong hai người đang đôi co với lính canh.
Hai người này chính là cự tử Mặc gia Tùy Sào Tử và đệ tử Tống Kiển. Họ đã đi suốt ngày đêm, thay liền mấy đôi dép cỏ mới tới được An Ấp. Hôm nay không phải ngày thiết triều, cửa cung khá yên tĩnh, tám tên lính mình mặc giáp trụ cầm kích lăm lăm đứng thành hai hàng trước cửa cung, khiến cửa cung vắng lặng tăng thêm vài phần uy vũ.
Tùy Sào Tử bước lại, trình bái thiếp, vòng tay vái đám lính gác cổng, nói: “Làm phiền quân sĩ bẩm báo lên Ngụy Hầu, nói là Tùy Sào Tử người Tề bái kiến!”
Đám lính canh cứ như không nghe thấy, cũng chẳng thèm nhìn, vẫn im phăng phắc, chống kích đứng trơ trơ như những chiếc đinh cắm xuống đất. Tùy Sào Tử hơi ngạc nhiên, đang định hỏi thêm thì nhìn thấy từ phía cửa cung, một người dáng vẻ giống như quân uý bước ra, săm soi Tùy Sào Tử và Tống Kiển một lượt từ đầu tới chân, thấy họ mặc áo vải nâu giản dị, chân đi dép cỏ mòn vẹt, cho rằng là tiện dân, bèn cất giọng ngạo mạn: “Này, lão già, có việc gì mà ồn ào thế?”
Tùy Sào Tử lại vòng tay vái một vái, từ tốn nói: “Tùy Sào Tử người Tề cầu kiến Ngụy Hầu, làm phiền quân uý thông báo!”
Quân uý trợn mắt, nghiêm giọng nạt nộ: “Lão già, muốn chết ư? Nói cho lão biết, ở đây không có Ngụy Hầu, chỉ có Ngụy Vương bệ hạ!”
Tống Kiển nổi giận, đang định xông lên thì Tùy Sào Tử giơ tay ngăn lại, quay sang quân uý, nói: “Làm phiền quân uý bẩm báo lên Ngụy Vương bệ hạ, nói rằng Tùy Sào Tử người Tề cầu kiến!” Nói xong, lại trình bái thiếp.
Quân uý chẳng buồn nhìn, đưa tay đẩy trả về, lại trợn mắt quát nạt: “Tùy Sào Tử gì cũng mặc? Lão già nhà quê như ngươi có biết bệ hạ là gì không? Bệ hạ chính là thiên tử, kẻ quê mùa như ngươi sao có thể nói muốn gặp là gặp?”
Tùy Sào Tử khẽ thở dài một tiếng, đang định quay người bỏ đi thì Chu Uy đã tới gần, sau khi nhìn Tùy Sào Tử từ đầu tới chân, bèn quay sang nói với quân uý: “Có chuyện gì?”
Quân uý hành đại lễ, bẩm báo: “Khởi bẩm tư đồ đại nhân, kẻ tiện dân này muốn bái kiến bệ hạ, hạ quan đang đuổi lão ta đi!” Rồi quay sang Tùy Sào Tử. “Lão già, còn không mau đi, ta lập tức bắt ngươi nhốt vào đại lao ba tháng!”
Chu Uy lừ mắt nhìn hắn, rồi quay sang Tùy Sào Tử, ôn tồn hỏi: “Xin hỏi lão trượng, lão từ đâu tới? Muốn gặp bệ hạ có việc gì?”
Tùy Sào Tử vái dài mà đáp: “Khởi bẩm đại tư đồ, Tùy Sào Tử người Tề nóng lòng muốn cầu kiến Ngụy Hầu!”
Quân uý nghe thấy hai chữ “Ngụy Hầu”, thì nổi giận đùng đùng: “Lão già nhà quê, muốn ăn đòn ư? Không phải là Ngụy Hầu, là bệ hạ!”
Chu Uy trừng mắt nhìn hắn, rồi quay sang nói với Tùy Sào Tử: “Lão tiên sinh hẳn là cự tử của Mặc gia?”
Tùy Sào Tử đáp: “Đúng là lão hủ!”
Chu Uy lập tức vái dài sát đất: “Tại hạ Chu Uy không biết tiền bối giá lâm! Thất lễ! Thất lễ!”
Quân uý thấy tư đồ đại nhân nhún nhường đến vậy, thì trố mắt ngạc nhiên.
Chu Uy lại vòng tay hành lễ với Tùy Sào Tử: “Cự tử, xin mời vào phòng trà ngồi chờ một chút, vãn bối Chu Uy lập tức vào cung tấu báo lên bệ hạ!” Rồi quay sang quân uý. “Lão tiên sinh đây chính là tiền bối cự tử Mặc gia Tùy Sào Tử, ngươi nhớ hầu hạ chu đáo!”
Quân uý lúc này mới định thần lại, luống cuống vòng tay vái, cung kính nói: “Hạ quan không biết Tùy Sào Tử đại nhân, xin lượng thứ!”
Tùy Sào Tử đáp lễ: “Lão hủ làm phiền quân uý!”
Lần này gặp Ngụy Hầu, Chu Uy tim đập chân run. Chu Uy hiểu tính khí của Ngụy Hầu, một khi đã say mê, chín trâu kéo cũng không lại. Hơn nữa Ngụy Hầu đã quá tin tưởng Tần Công và Công Tôn Ưởng, nếu bẩm báo Hà Tây có chuyện, dù có chết Ngụy Hầu cũng không chịu tin. Giờ đúng là trời chiều lòng người, Chu Uy đang không biết khuyên can Ngụy Hầu ra sao thì vừa hay gặp cự tử Mặc gia. Chu Uy đoán Tùy Sào Tử tới đây cũng là vì việc này. Tùy Sào Tử nổi danh khắp liệt quốc, Ngụy Huệ Hầu không thể không nghe.
Trong lòng nhen nhóm hy vọng, chân bước cũng nhẹ nhõm hơn. Chẳng mấy chốc, Chu Uy đã vào trong chính điện. Hỏi thái giám trực ở đó, được biết Ngụy Huệ Hầu đang đánh cờ với thượng khanh Trần Chẩn tại đình hóng mát trong ngự hoa viên.
Chu Uy biết ngôi đình hóng mát này, bèn sải bước tới đó, từ xa đã nhìn thấy Ngụy Huệ Hầu quả nhiên đang đánh cờ với Trần Chẩn, vội vã bước tới, quỳ xuống dưới bậc tam cấp của đình hóng mát.
Tỳ nhân nhìn thấy, quay sang bẩm báo với Ngụy Huệ Hầu: “Bệ hạ, Chu tư đồ cầu kiến!”
Ngụy Huệ Hầu “cạch” một tiếng đặt quân cờ xuống, chậm rãi nói: “Là Chu ái khanh ư? Mau mời vào!”
Tỳ nhân quay sang Chu Uy, dõng dạc truyền lệnh: “Bệ hạ có chỉ, truyền Chu tư đồ cầu kiến!”
Chu Uy đứng dậy, vội vã leo lên bậc tam cấp, quỳ xuống khấu đầu nói: “Vi thần khấu kiến bệ hạ!”
Ngụy Huệ Hầu cười vang mà nói: “Ái khanh bình thân! Lại đây, lại đây, lại xem cách cục này, quả nhân thắng chắc!”
Trần Chẩn cũng nói: “Chu tư đồ, mau lại cứu ta!”
Chu Uy đứng dậy, bước tới trước bàn cờ, nhìn kỹ một lượt, quả nhiên quân trắng đang bị bủa vây kín mít, như thể cá nằm trong chậu, hết đường giải cứu. Trần Chẩn có vẻ đã từ bỏ ý định kháng cự, bó tay chờ thua.
Ngụy Huệ Hầu đắc chí rung đùi, cười ha hả mà nói: “Trần ái khanh, đừng nói là Chu tư đồ, mà dù có là thần tiên lão tử cũng khó lòng giải cứu cho khanh!”
Trần Chẩn buông thõng hai tay, nét mặt lộ vẻ thất vọng, thở dài một tiếng mà nói: “Vi thần vốn có một đường sống, nhưng bệ hạ vừa hạ nước cờ này, đã cắt đứt đường sống của vi thần rồi!”
“Không giấu ái khanh, nhúm quân của khanh, quả nhân sớm đã thắng chắc rồi! Vốn định cho khanh sống thêm một lúc, nào ngờ khanh đường sống không đi, lại tự tìm đường chết, trách quả nhân sao được?”
Trần Chẩn lại thở dài, lời đầy ẩn ý: “Than ôi! Tình cảnh hiện tại của vi thần, nào có khác gì Cơ Tốc đâu?”
Ngụy Huệ Hầu bật cười lớn, gật đầu nói: “Phải lắm! Phải lắm! Ví von như vậy quả không sai! Nhắc tới Vệ Công, không biết tình hình hiện tại thế nào rồi?”
Trần Chẩn vòng tay đáp: “Khởi bẩm bệ hạ, thượng tướng quân dũng mãnh, quân Đại Ngụy tinh nhuệ thế như chẻ tre, không thể ngăn cản, liên tiếp công phá hơn mười thành ấp nước Vệ, Sở Khâu và Đế Khâu không bao lâu nữa cũng sẽ bị san bằng!”
“Tốt lắm!” Ngụy Huệ Hầu khen ngợi, “khanh hãy gửi thư cho thượng tướng quân, dặn thượng tướng quân chớ nên vội vã. Con chó già Cơ Tốc kia phải ninh nhừ trên lửa nhỏ ăn mới ngon! Quả nhân nghe nói, mấy con khỉ cũng đã nhảy khỏi hang rồi, có chuyện này chăng?”
“Theo vi thần được biết, Vệ Công đã phái sứ thần tới Triệu, Hàn, Tề cầu cứu. Ba nước này hiện xuất binh hay chưa, vi thần vẫn đang chờ tin!”
Ngụy Huệ Hầu mỉm cười nói: “Cứ để chúng xuất quân đi! Quả nhân cũng đang mong đợi điều này!” Quay sang Chu Uy, “Chu ái khanh, khanh bận trăm công nghìn việc, chắc hẳn không phải tới đây để xem đánh cờ!”
Chu Uy khấu lạy mà nói: “Bệ hạ thánh minh! Vi thần tới để tấu báo lên bệ hạ, cự tử Mặc gia Tùy Sào Tử cầu kiến ngoài cung!”
“Tùy Sào Tử?” Ngụy Huệ Hầu chau mày lại, quay sang Trần Chẩn, “lâu lắm rồi không nghe nhắc tới lão phu tử kia, sao hôm nay lại bất thình lình tới đây?”
“Bệ hạ!” Trần Chẩn đáp lời, “Mặc gia chủ trương kiêm ái, không thích chiến tranh. Vi thân đoán rằng, lần này Tùy Sào Tử tới, hẳn là làm thuyết khách cho Vệ Công!”
Ngụy Huệ Hầu gật gù nói: “Ta cũng đoán vậy! Lão phu tử kia thích nhúng mũi vào chuyện thiên hạ, lần này đến, kiểu gì cũng lại một phen lải nhải điếc tai!”
“Nếu bệ hạ không muốn gặp, vi thần sai người đuổi lão ta đi là được!”
Chu Uy lại dập đầu nói: “Vi thần cho rằng không nên! Mặc gia là học phái nổi tiếng hiện thời, sánh ngang với Nho gia, đệ tử đông khắp thiên hạ. Bệ hạ xưa nay vốn nổi danh bốn biển nhờ vào lễ hiền hạ sĩ, nay cự tử Mặc gia đích thân tới tận cửa cầu kiến, nếu bệ hạ tránh mặt không gặp, liệu có mang tiếng là thất lễ với hiền tài chăng?”
“Chu ái khanh nói rất phải!” Ngụy Huệ Hầu gật gù, “lão phu tử đã tới tận cửa, không gặp đúng là không nên, song sợ gặp mặt lại phải nhẫn nhịn những lời lải nhải của lão, bảo quả nhân làm thế nào mới phải?”
Trần Chẩn đảo con ngươi một vòng: “Bệ hạ, vi thần có một kế để ứng phó với lão phu tử!”
“Ồ, là kế gì?”
Trần Chẩn ghé sát tai Huệ Hầu, thì thầm một hồi, Huệ Hầu gật đầu lia lịa: “Được, cứ làm theo lời ái khanh!” Rồi quay sang Chu Uy, “Chu ái khanh, truyền cự tử Mặc gia vào thư phòng yết kiến!”
Chu Uy thoáng hồ nghi, nói khẽ: “Vi thần tuân chỉ!” Chu Uy biết chắc Trần Chẩn lại nghĩ ra trò quái quỷ gì, tuy nhiên, nghĩ lại, thấy chỉ cần Ngụy Huệ Hầu chịu gặp Tùy Sào Tử, dựa vào tài trí và đức hạnh của ông ta, hẳn Tùy Sào Tử dư sức ứng phó. Nghĩ tới đây, Chu Uy cảm thấy vững tin trong lòng, trở về phòng trà trước điện, dẫn Tùy Sào Tử vào ngự thư phòng của Ngụy Huệ Hầu.
Ngự thư phòng tọa lạc trong hậu hoa viên, là một toà viện năm dãy, bài trí tao nhã, tàng trữ sách vở vô số, có sử quan ngày đêm trông coi. Ngoài lúc lên triều, Ngụy Hầu thích nhất là xử lý việc triều chính ở đây. Gặp khách quan trọng, đặc biệt là hiền sĩ trong thiên hạ, Ngụy Hầu cũng thường triệu kiến tại nơi này. Trong lúc chuyện trò, một trong những sở thích của Ngụy Huệ Hầu là đích thân dẫn khách tham quan thư viện rộng lớn của mình. Nghe nói trong những thư viện trong thiên hạ, nổi tiếng nhất là Thái học viện của Chu thất ở Lạc Dương, Tắc Hạ học cung ở Lâm Truy, tiếp đến chính là thư phòng của Ngụy Hầu.
Nghe thấy tiếng bước chân từ xa vọng lại, Trần Chẩn đã mặt mũi tươi cười bước ra ngoài cổng nghênh đón, vòng tay vái dài mà nói: “Thượng khanh nước Ngụy Trần Chẩn cung nghênh cự tử đại giá!”
Tùy Sào Tử vòng tay đáp lễ: “Tùy Sào Tử người Tề bái kiến thượng khanh!”
“Cự tử, mời!”
“Thượng khanh, mời!”
Trần Chẩn nhất quyết nhường Tùy Sào Tử đi trước, sau khi khách đã yên vị, một cung nữ bước lại, bày trà thơm lên trên bàn khách.
Trần Chẩn bưng chén trà lên: “Cự tử, mời dùng trà!”
Tùy Sào Tử cũng nâng chén, nhấp một ngụm: “Tạ ơn trà thơm của thượng khanh!”
Trần Chẩn vòng tay nói: “Bệ hạ nghe nói cự tử tới, có nhã ý sắp xếp cho yết kiến ở đây, cự tử hãy đợi cho một lát! Chu tư đồ và vãn sinh đều có việc bận, không thể ở lại bồi tiếp lâu, mong cự tử lượng thứ!” Nói xong bèn đứng dậy, đưa mắt ra hiệu cho Chu Uy.
Chu Uy chưa kịp phản ứng, đã bị Trần Chẩn nói trước chặn họng, ngần ngừ một lát, đành phải đứng dậy, vòng tay thi lễ cáo biệt Tùy Sào Tử.
Tùy Sào Tử đứng dậy đáp lễ: “Thượng khanh, tư đồ không phải khách sáo!”
Sau khi hai người rời đi, trong phòng chi còn lại Tùy Sào Tử và cung nữ pha trà. Trà đã uống qua ba nước, mà vẫn không thấy Ngụy Huệ Hầu đâu. Trong phòng tĩnh lặng khác thường, nghe rõ tiếng đồng hồ nước giọt giọt.
Tùy Sào Tử thấy lạ, khẽ chau đôi mày, ngẩng đầu hỏi cung nữ: “Xin hỏi cô nương, lão hủ còn phải đợi bao lâu nữa?”
Cung nữ sợ sệt đáp: “Khởi bẩm trượng nhân, nô tỳ không biết!”
“Làm phiền cô nương bẩm báo một tiếng, nói là Tùy Sào Tử đợi ở đây đã quá lâu rồi!”
“Nô tỳ chỉ biết pha trà hầu khách, không dám vượt phận!”
Tùy Sào Tử trầm ngâm suy nghĩ, không nói gì thêm, hai mắt khép hờ, ngồi vận khí tức thần. Trà lại uống thêm hai tuần, vẫn không thấy cung nữ thay trà, nước đã nhạt nhẽo không còn hương vị.
Tùy Sào Tử đã bắt đầu sốt ruột, thì đột nhiên thấy tỳ nhân bước ra từ sau tấm bình phong, tiến về phía mình, vòng tay hành lễ, cung kính nói: “Đã để cự tử đợi lâu!”
Tùy Sào Tử đứng dậy đáp lễ: “Tùy Sào Tử bái kiến nội tể!”
Tỳ nhân tạ lỗi: “Bệ hạ có chỉ, cự tử là tông sư thiên hạ, không thể đối xử theo lễ thông thường. Để tỏ lòng cung kính, bệ hạ đang tắm gội xông hương ở hậu cung, sai tại hạ chuyển lời tới cự tử, xin cự tử đợi thêm chốc lát!”
Nghe nói đến tắm gội xông hương, Tùy Sào Tử ngẩn người kinh ngạc: “Ồ…”
Tỳ nhân vội giải thích: “Cự tử chớ vội, bệ hạ vô cùng kính trọng cự tử, nghe nói cự tử đến, nhất quyết đòi tắm gội xông hương rồi mới chịu tới gặp! Tắm mau thôi, giờ này hẳn đã xong rồi, chỉ là cần thêm chút thời gian xông hương. Cự tử đợi ở đây chắc cũng thấy nhàm chán, tại hạ mời cự tử thưởng thức một khúc nhã nhạc!”
Tùy Sào Tử còn chưa kịp nói gì, tỳ nhân đã vỗ tay bồm bộp. Đội nhạc đang chực sẵn sau bình phong lập tức bước ra, tiếng nhạc vang lên dìu dặt.
Dưới đình hóng mát cách đó không xa, Ngụy Huệ Hầu vẫn ngồi nguyên tại chỗ, lại bày ra một ván cờ mới với Trần Chẩn. Trên bàn cờ vây mới chỉ lác đác hơn chục quân cờ.
Tâm trí của Huệ Hầu đương nhiên không đặt vào bàn cờ. Ông ta ngồi tựa lưng trên chiếc ghế đu đan bằng trúc vô cùng tinh xảo, nhắm mắt thưởng thức tiếng nhã nhạc văng vẳng vọng lại từ phía thư phòng, chiếc ghế đu cũng đung đưa theo nhịp điệu. Một cung nữ tay cầm quạt đứng ở sau lưng, khẽ phe phẩy theo nhịp nhạc. Trần Chẩn ngôi xếp bằng đối diện, cũng nhắm nghiền hai mắt, hay tay đặt lên bàn cờ, đưa lên hạ xuống khe khẽ, như thể đang gõ nhịp.
Ngụy Huệ Hầu lắng nghe một lát, rồi từ từ mở mắt, liếc sang Trần Chẩn: “Nghe nói lão phu tử kia rất kiên nhẫn, kế này của ái khanh chưa chắc đã đuổi được lão đi!”
“Bệ hạ yên tâm!” Trần Chẩn ngẩng đầu lên, cười cười mà nói, “vi thần đã sắp xếp ổn thoả rồi, khúc nhạc này là ‘Dương xuân bạch tuyết’, lão ta có lẽ vẫn chịu nổi. Khúc sau là ‘Hạ lý Ba nhân’, nếu lão ta nghe hết được, mới coi là kiên nhẫn. Không giấu bệ hạ, vi thần đã dặn kỹ ban nhạc, biến tấu đi một chút, một khúc nhạc đánh liền ba lần. Ngoài ra, vi thần còn sai tỳ nhân điều thiếu nữ Ba Thục tới, cho phục sức loè loẹt, nhảy một vũ điệu kỳ quặc đất Ba Thục, kiểu gì cũng khiến lão ta phải chóng mặt hoa mắt. Theo như tâm trạng hiện tại của lão ta, dù có mười phần kiên nhẫn, cũng phải mất đi chín phần.”
Ngụy Huệ Hầu thở phào một tiếng, ngồi thẳng dậy, khẽ gật đầu nói: “Được, sắp xếp rất tốt! Lão phu tử là người thông minh, hẳn cũng hiểu rõ lẽ tiến thoái!” Rồi ánh mắt lại chiếu lên bàn cờ. “Ái khanh, tới lượt khanh phải không?”
Trần Chẩn vội nhìn vào bàn cờ: “Bệ hạ, tới lượt người!”
“Vậy ư?” Ngụy Huệ Hầu cẩn thận quan sát thế cờ, rồi chậm rãi nhấc một quân cờ lên.
Trong ngự thư phòng, một khúc nhạc đã tấu xong, tỳ nhân thấy Tùy Sào Tử vẫn khép hờ hai mắt, thì từ tốn nói: “Nghe nói cự tử tinh thông âm luật, xin mời dạy bảo!”
Tùy Sào Tử khẽ thở dài một tiếng, nói: “Âm vận tuyệt vời, chỉ là tấu không đúng thời!”
Tỳ nhân vội hỏi: “Ồ, sao lại tấu không đúng thời? Tại hạ muốn nghe cự tử chỉ giáo.”
Tùy Sào Tử nói một câu đầy ẩn ý: “Ngoài cung mặt trời rực rỡ, trong cung lại là ‘Dương xuân bạch tuyết’, sao có thể nói là hợp thời?”
Tỳ nhân nghe Tùy Sào Tử nói đúng tên ca khúc, lời lẽ vẫn ôn hoà, suy nghĩ một chốc, gật đầu khâm phục: “Cự tử kiến giải độc đáo, tại hạ kính phục! Nếu khúc nhạc này không hợp mùa, xin đổi sang khúc khác hợp mùa hơn!” Nói xong, lại vỗ tay, đổi sang khúc nhạc ‘Hạ lý Ba nhân’, tiết tấu rộn rã, chốc chốc còn đệm thêm tiếng chiêng trống rộn ràng. Trong tiếng nhạc thô lậu, xuất hiện chục cô gái đất Ba Thục, đầu tóc buông xoã, son phấn loè loẹt, trang phục kỳ dị, nửa kín nửa hở, xếp thành hàng dài, uốn éo tiến vào trong phòng, nhảy múa tưng bừng theo tiếng nhạc.
Tùy Sào Tử thở dài một tiếng, lại nhắm nghiền hai mắt, đôi mày chau lại. Tiếng nhạc mỗi lúc một phóng túng, Ba nữ càng múa càng hăng, đầu mày Tùy Sào Tử càng lúc càng chau tít.
Ba điệu múa đã kết thúc, tiếng nhạc ngừng bặt, các cô gái Ba Thục đứng lại trong thế múa. Tỳ nhân đưa mắt nhìn Tùy Sào Tử, miệng khẽ hỏi: “Xin hỏi cự tử, khúc này có hợp thời không?”
Tùy Sào Tử khẽ mở mắt, chậm rãi nói: “Tuy khúc này hợp thời, song chẳng tốt lành!”
Tỳ nhân thoáng ngạc nhiên: “Xin nghe lời chỉ giáo!”
Giọng Tùy Sào Tử chất chứa bi lương: “Ngoài cung trăm họ lầm than, dân chúng đói khổ. Trong cung tiếng nhạc hỗn loạn, Ba nữ múa may. Sao có thể tốt lành?”
Tùy Sào Tử nghe tiếng biết nhạc, nghe múa nhận người, không chỉ trí tuệ cao siêu, lại luôn đau đáu niềm bác ái với toàn thiên hạ, biết rõ người khác giễu cợt mình, song không hề tỏ ý trách cứ. Tỳ nhân lấy làm cảm động, càng cung kính bội phần, chỉnh trang y phục ngồi ngay ngắn, vòng tay mà nói: “Cự tử không hổ danh là tông sư trong thiên hạ, tại hạ xin thụ giáo!”
Tùy Sào Tử vòng tay đáp lễ, thong thả nói: “Xin hỏi nội tể, quân chủ hẳn đã xông hương xong rồi?”
Tỳ nhân có vẻ lúng túng: “Cự tử… xin hãy đợi thêm chút nữa. Hãy thưởng thức thêm điệu múa của người Hổ phương bắc, được chăng?”
Tùy Sào Tử nhìn tỳ nhân với vẻ hoài nghi, hồi lâu sau mới thở dài sườn sượt: “Than ôi! Đường đường là bậc quân chủ, nên quang minh chính đại mới phải, hà tất phải hao tổn tâm tư, bày trò trẻ nít. Thỉnh cầu nội tể chuyển lời tới bệ hạ của các người, Tùy Sào Tử xin cáo từ!”
Tỳ nhân phẩy tay, đám Ba nữ, nhạc công liền lui hết ra ngoài.
Tùy Sào Tử chậm rãi đứng dậy, vòng tay vái chào tỳ nhân, rồi quay người bước ra phía cổng. Tỳ nhân đáp lễ xong, tiễn đưa vài bước, tỏ vẻ thông cảm mà nói: “Cự tử đã có ý muốn về, tại hạ chỉ biết cung tiễn!”
Ra khỏi cửa viện, Tùy Sào Tử dừng bước, quay đầu nhìn thẳng vào tỳ nhân, lời đầy ẩn ý: “Tùy Sào Tử làm phiền nội tể bẩm báo lên quân chủ, nước Ngụy đã gần kề đại họa, Tùy Sào Tử tới đây, chính là vì chuyện này!”
Tỳ nhân giật mình sửng sốt, vội bước lên trước, đứng chắn trước mặt Tùy Sào Tử, cười mà nói: “Cự tử xin dừng bước! Giờ này hẳn là bệ hạ đã xông hương xong rồi!”
Tùy Sào Tử gượng cười một tiếng, khẽ lắc đầu, lại rảo bước đi. Tỳ nhân một lần nữa ngăn lại: “Cự tử từ xa nghìn dặm mà tới, bất luận thế nào, cũng nên gặp mặt bệ hạ! Mời cự tử đợi thêm một lát, tại hạ sẽ đi nghênh tiếp bệ hạ!”
Tùy Sào Tử thấy tỳ nhân có vẻ thành khẩn, bèn dừng bước. Tỳ nhân lật đật quay đi, bước vội vào sau tấm bình phong. Chỉ một lát sau, đã thấy có tiếng bước chân cấp tập lại gần, Ngụy Huệ Hầu từ phía sau bình phong rảo bước ra, sải chân vài cái đã vào trong sân, vòng tay tiến lại nói: “Để đại sư chờ đợi quá lâu, Ngụy Anh thật là thất lễ!”
Tùy Sào Tử cũng vòng tay vái chào: “Tùy Sào Tử người Tề bái kiến chúa thượng!”
Ngụy Huệ Hầu lại vái mà nói: “Ngụy Anh vui mừng hay tin cự tử đại giá, cảm thấy vô cùng vinh hạnh. Để nghe lời dạy dỗ vàng ngọc, Ngụy Anh đã tắm gội xông hương, rửa tai chờ nghe! Cự tử, mời!”
“Chúa thượng, mời!”
Hai người trở về thư phòng, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Ngụy Huệ Hầu lại vòng tay nói: “Ngụy Anh được tổ tiên phù hộ, có được một góc ở Trung Nguyên, nhiều lần muốn chấn hưng cơ nghiệp, song học vấn nông cạn, sức không đủ mạnh. Tiên sinh tới đây, hẳn là có kiến giải cao minh, xin chỉ giáo Ngụy Anh!”
Vừa phải trải qua cơn giày vò khổ sở, Tùy Sào Tử lòng đã giá băng, nên cũng chẳng vòng vo, mở miệng liền nói thẳng: “Nghe nói chúa thượng mở minh hội ở Phùng Trạch, quay mặt về nam xưng tôn, có chuyện này chăng?”
Ngụy Huệ Hầu thở dài một tiếng: “Chuyện này thực không phải ý của Ngụy Anh! Liệt quốc cứ khổ sở ép nài, Ngụy Anh cũng là vạn bất đắc dĩ!”
“Dù chúa thượng có mong muốn hay không, Tùy Sào Tử cũng cho rằng, hành động này của chúa thượng thực không sáng suốt!”
Ngụy Huệ Hầu biết lão phu tử chuẩn bị giáo huấn, lập tức nghiêm mặt nín thở, chậm rãi mà nói: “Ngụy Anh muốn nghe tường tận!”
“Phàm mọi việc đều có nhân quả. Tùy Sào Tử dám hỏi chúa thượng, dựa vào đâu mà xưng vương?”
Ngụy Huệ Hầu suy nghĩ một lát, quyết định không để Tùy Sào Tử lấn lướt, đồng thời cũng muốn nhanh chóng chặn họng, nên mặt sắt lại, nhìn thẳng vào Tùy Sào Tử, tự tin mà nói: “Thiên hạ là thiên hạ của người trong thiên hạ, không phải là thiên hạ của riêng nhà Chu. Người làm vương trong thiên hạ phải có đức có uy. Nay Chu đã thất đức, lại thất uy, xin hỏi tiên sinh, Ngụy Anh sao không thể quay mặt về nam xưng tôn?”
Tùy Sào Tử trầm giọng: “Tùy Sào Tử to gan dám hỏi, đức, uy của chúa thượng đã sánh được với Văn Hầu chưa?”
Ngụy Huệ Hầu sững lại, rồi lụng bụng trong miệng: “Không bằng tiên quân!”
“Thời Văn Hầu, thành tâm bái cao sĩ Bốc Tử Hạ, Đoàn Can Mộc, Điền Tử Phương làm thầy. Về văn, trọng dụng ba hiền tài Lý Khôi, Địch Hoàng, Ngụy Thành Tử, kiên quyết cải cách, biến pháp đồ cường. Về võ, trọng dụng hai danh tướng Nhạc Dương và Ngô Khởi, phía đông tiêu diệt Trung Sơn, phía tây đánh bại cường Tần, phía nam đẩy lùi Man Sở, mở rộng lãnh thổ nghìn dặm, bước chân vào Trung Nguyên…”
Nghe thấy Tùy Sào Tử kể ra công tích của tiên quân Ngụy thất, Ngụy Huệ Hầu trong lòng dào dạt tự hào, nở mày nở mặt, cất giọng sang sảng tiếp lời: “Tiên sinh nói rất phải, tiên quân uy phong lẫm liệt, thiên hạ không ai sánh bằng!”
Tùy Sào Tử lập tức đổi giọng: “Văn Hầu tuy gồm cả đức uy, lại từng chín lần tập hợp chư hầu, ba lần triều bái thiên tử, song trong suốt cuộc đời, đã có ngày nào xưng vương chưa?”
Ngụy Huệ Hầu nóng bừng mặt, song Tùy Sào Tử nói tới tiên quân, lại toàn những lời đúng đắn, nhất thời không biết đối đáp ra sao. Tùy Sào Tử đưa mắt nhìn Ngụy Hầu, tạm ngưng một lát, lấy lùi để tiến: “Tùy Sào Tử lỗ mãng, đã mạo phạm tôn giá!”
Ngụy Huệ Hầu trong lòng bực bội, nhưng không dám bộc lộ, chỉ biết gắng gượng kìm nén mà nói: “Ngụy Anh muốn nghe luận giải cao minh của tiên sinh!”
“Chúa thượng đã xưng vương, tất có đủ đức, uy của bậc vương giả. Tùy Sào Tử không biết, muốn nghe chúa thượng chỉ ra tường tận!”
Ngụy Huệ Hầu sao có thể mặt dày kể ra uy đức của mình, miệng mấp máy vài cái, song không thốt nổi một câu.
“Chắc hẳn chúa thượng khiêm tốn, không muốn khoe khoang uy đức. Tùy Sào Tử bất tài, liệu có thể nói thay chúa thượng được chăng?”
“Ngụy Anh muốn nghe!”
“Thiên hạ xưa kia, vì đức mà uy; thiên hạ ngày nay, vì uy mà đức. Thời Văn Hầu, thiên hạ đều yếu, chỉ có Ngụy sức mạnh siêu quần, chẳng khác gì hạc giữa bầy gà, Văn Hầu nhờ có uy mà thiên hạ nể phục. Tới thời chúa thượng, tình thế đã hoàn toàn khác xưa. Chưa nói đến Đại Sở, chỉ tính liệt quốc Trung Nguyên, Tần Công có Công Tôn Ưởng, Tề Công có Trâu Kỵ, Triệu Hầu có Phụng Dương Quân, Hàn Hầu có Thân Bất Hại. Bốn vị quân chủ này đều là minh quân đương đại, bốn vị triều thần này đều là tôi hiền đương thời. Bốn vị quân chủ đều sáng suốt, bốn vị triều thần đều tài giỏi, bốn nước nhờ thế mà yên bình, thế lực ngày một mạnh, bất cứ nước nào cũng có thể sánh ngang Đại Ngụy. Thiên hạ ngày nay, tuy thế lực của Ngụy rất mạnh, song đã không thể đứng đầu. Lượng thứ cho Tùy Sào Tử nói thẳng, uy của chúa thượng, sớm đã như mũi tên bay hết tầm bắn, sao có thể sánh với Văn Hầu?”
Tùy Sào Tử phân tích rành rọt, mỗi lời đều đánh trúng yếu huyệt, mỗi câu đều chắc nịch như sơn, đã vạch trần toàn bộ những mối nguy mà Ngụy Hầu sắp phải đối mặt. Huệ Hầu vô cùng bối rối, mặt đỏ phừng phừng, hơi thở hổn hển, hồi lâu sau mới nén được hoả khí xuống bụng, cố gắng không để mình thất thố, khoé miệng còn cố nặn ra một nụ cười: “Ngụy Anh đã biết mình không thể bằng tiên quân, tiên sinh có thể nói về chuyện khác chăng?”
Tùy Sào Tử có lẽ cũng thấy mình hơi nặng lời, khẽ thở dài một tiếng, gật đầu nói: “Không biết chúa thượng muốn nghe gì?”
Ngụy Huệ Hầu bỗng nhận ra Tùy Sào Tử tóc bạc đầy đầu, nếp nhăn ngang trán, trong đầu nảy ra một ý, bèn nói: “Quả nhân từ nhỏ đã nghe thấy đại danh của tiên sinh, cứ ngỡ là cổ nhân. Hôm nay được diện kiến, nhìn tướng mạo tiên sinh, có lẽ cũng đã đến tuổi thất thập cổ lai hi. Xin hỏi tiên sinh thọ bao nhiêu rồi?”
Tùy Sào Tử đáp: “Tùy Sào Tử này đã già cỗi khó kham, tám mươi sáu, có lẽ sắp nhập quan tài!”
Ngụy Huệ Hầu vô cùng kinh ngạc, lại đưa mắt nhìn Tùy Sào Tử, thực lòng cảm thán: “Ồ, tiên sinh đã tám chín mươi tuổi rồi mà vẫn mạnh khoẻ đến vậy. Ngụy Anh chưa tới ngũ tuần mà tự thấy thân tâm không còn như trước, chẳng khác gì một lão già!”
“Chúa thượng hà tất phải kiêm tốn!”
Ngụy Huệ Hầu nhoài người về phía trước: “Tiên sinh hưởng niên cao đến vậy, ắt có bí quyết trường thọ. Ngụy Anh bất tài, mong được tiên sinh chỉ giáo!”
Tùy Sào Tử thoáng ngẫm nghĩ một lát, rồi từ tốn nói: “Đạo trường thọ, không nằm ngoài dưỡng đức!”
Ngụy Huệ Hầu chau mày: “Ý tiên sinh là, đức của quả nhân không đủ trường thọ?”
“Người dựa vào đức để đứng trên thế gian, ắt mang tấm lòng trắc ẩn, ắt luôn tâm niệm từ bi, ắt ban nhân ái khắp thiên hạ. Chúa thượng vô duyên vô cớ thảo phạt nước Vệ yếu ớt, dung túng lính Ngụy tàn sát hiếp đáp, cướp bóc dân lành. Toàn bộ bách tính thành Bình Dương, bất luận già trẻ trai gái, tàn sát sạch không…”
Ngụy Huệ Hầu sắc mặt tím tái, không đợi Tùy Sào Tử nói hết câu, đã gầm lên: “Đừng nói nữa!”
Tùy Sào Tử dừng lời, từ từ khép hai mắt lại.
Ngụy Huệ Hầu đứng phắt dậy, phẩy ống tay áo đi luôn, tới phía trước tấm bình phong, quay người lại, gằn giọng nói với tỳ nhân: “Tiễn khách!” Rồi quay ngoắt người, khệnh khạng bỏ đi.
Tỳ nhân lòng rối như tơ vò, nhìn Tùy Sào Tử, vái sâu một vái, khẽ nói: “Cự tử…”
Tùy Sào Tử mở mắt, khẽ thở dài một tiếng, nói với tỳ nhân: “Tùy Sào Tử còn một lời nữa, muốn nhờ nội tể chuyển tới chúa thượng!”
Tỳ nhân do dự một lát: “Cự tử cứ nói!”
Tùy Sào Tử ngẫm nghĩ một lát: “Bọ ngựa bắt ve, chim sẻ rình sẵn! Chỉ vài hôm nữa thôi, đại họa sẽ giáng xuống Đại Ngụy!” Nói xong liền đứng dậy, vái dài một cái với tỳ nhân, “Tùy Sào Tử cáo từ!”
“Cự tử đi cẩn thận!”
Tiếng bước chân nặng nề của Tùy Sào Tử mỗi lúc một xa dần. Tỳ nhân dõi mắt nhìn theo Tùy Sào Tử, cho tới khi bóng lão khuất hẳn, lúc này mới lẩm bẩm: “Bọ ngựa bắt ve, chim sẻ rình sẵn! Chim sẻ rình sẵn… Chim sẻ?”. Đang lẩm bẩm, đột nhiên như sực nghĩ ra điều gì, bỗng chốc run bắn, chạy vội vào phía sau tấm bình phong, đuổi theo Huệ Hầu từ cửa bên.
Ngụy Huệ Hầu hằm hằm giận dữ, sải bước tới đình hóng mát ở hậu hoa viên. Trần Chẩn đã đón sẵn ở đó, nhìn thấy Ngụy Huệ Hầu sắc mặt khó coi, tím ngắt hệt như quả cà, biết là Ngụy Hầu đang tức giận lão già Tùy Sào Tử, vội quỳ xuống dập đầu gọi: “Bệ hạ…”
Ngụy Huệ Hầu thở hồng hộc bước thẳng lên đình hóng mát, mắt nhìn chằm chằm vào chiếc bàn trước mặt, rồi thình lình tung chân đạp mạnh. Chiếc bàn đổ nhào, quân cờ đen trắng bắn tung toé, lăn lóc đầy mặt đất.
Khi tỳ nhân đuổi kịp tới nơi, Ngụy Huệ Hầu đã ngồi trên chiếu, vuốt ngực thở phì phì. Tỳ nhân liếc nhìn Trần Chẩn, rồi thận trọng cầm quạt chạy lại quạt cho Huệ Hầu.
Ngụy Huệ Hầu đạp đổ bàn xong, cũng đã trút được cơn giận dữ: “Lão già chết tiệt, thật đáng băm vằm thành muôn mảnh!”
Trần Chẩn thận trọng thăm dò: “Bệ hạ, lão phu tử…”
Ngụy Huệ Hầu mặt đằng đằng sát khí, giận dữ nói: “Hừm, quả nhân kính lão ta là cự tử Mặc gia, muốn nghe lời chỉ bảo của lão, nào ngờ toàn nghe phải những lời thối tha! Tần, Tề, Triệu, Hàn cái nỗi gì? Bốn quân chủ anh minh, bốn triều thần tài năng cái nỗi gì? Quả nhân thấy bốn nước đó khác nào bầy khỉ nhố nhăng, thấy nước Vệ khác nào con gà rù, dựa vào đâu mà lão dám nói năng bậy bạ?”
Tỳ nhân bỗng dừng quạt, bật cười phì.
Trần Chẩn sửng sốt, trố mắt nhìn tỳ nhân. Khi Ngụy Huệ Hầu nổi giận, tốt nhất nên im lặng. Tỳ nhân vốn hiểu rõ Huệ Hầu đến chân tơ kẽ tóc, lúc này lại đột nhiên bật cười thành tiếng, quả là một chuyện khó tin.
Ngụy Huệ Hầu quả nhiên lừ mắt nhìn tỳ nhân, phẫn nộ quát: “Ngươi đang cười giễu quả nhân đấy ư?”
Tỳ nhân dập đầu sát đất: “Lão nô không dám!”
“Không dám, sao lại cười?”
Tỳ nhân từ tốn trả lời: “Lão nô nhớ tới một chuyện thú vị, nhất thời nhịn không nổi, mới bật cười thành tiếng!”
Trần Chẩn xưa nay vốn không thể đoán biết được suy nghĩ của lão cận thần bên cạnh Huệ Hầu, cho rằng đây là một cơ hội để lấy lòng tỳ nhân, bèn vội vàng giảng hoà: “Chuyện thú vị của nội tể, hẳn là rất tức cười!”
Ngụy Huệ Hầu cũng đã nguôi giận phần nào, song nét mặt vẫn khó đăm đăm: “Nếu là chuyện thú vị, mau nói cho quả nhân nghe!”
Tỳ nhân đứng dậy, lại cầm quạt lên, vừa quạt, vừa kể rành rọt: “Chuyện là thế này. Vài hôm trước, lão nô ở hậu hoa viên có gặp thái hậu, sau khi hỏi thăm người nhà lão nô, thái hậu kéo lão nô lại, kể về chuyện lễ hiền hạ sĩ của tiên quân Văn Hầu. Lão nô tranh cãi rằng, nếu nói về lễ hiền hạ sĩ, chẳng ai hơn được bệ hạ. Thái hậu nghe xong, không cho là đúng. Đợi lát nữa, nếu lão nô rảnh rỗi, nhất định sẽ kể chuyện hôm nay cho thái hậu nghe, xem người còn gì để nói.”
Ngụy Huệ Hầu sững người nhìn tỳ nhân: “Cái gì? Chuyện hôm nay?”
“Chính là chuyện lấy lễ đối đãi với người hiền! Lần trước, Bạch tướng gia đâm đầu vào cột ngay trong đại điện, bệ hạ đã không trị tội, lại còn cho phép tướng quốc cáo lão về quê, an hưởng tuổi già. Vừa rồi, Tùy Sào Tử thuyết khách cho Vệ Công, lời lẽ ngạo mạn, trách cứ bệ hạ thẳng thừng, bệ hạ đã không trách mắng, ngược lại còn tắm gội xông hương, đối đãi bằng lễ tông sư. Lão nô bạo miệng dám nói rằng, dù tiên quân còn tại thế, tấm lòng lễ hiền, hẳn cũng chỉ đến vậy mà thôi!”
Nghe tỳ nhân nói vậy, Ngụy Huệ Hầu chấn động trong lòng, cảm khái thốt lên: “Lời ngươi nói quả thật không sai! Kỳ thực quả nhân trong lòng đã hiểu, lão phu tử tới đây, chỉ là nói hộ cho con chó già Vệ Công vài lời, nhằm hoá giải nguy nan trước mắt, trong lòng không hề có ý xấu. Thế này vậy, ngươi hãy thay quả nhân tiễn chân lão phu tử, thưởng cho lão trăm lượng vàng. Còn nữa, hãy thưởng thêm cho lão hai đôi ngự hài. Quả nhân vừa rồi nhìn thấy lão ta đi dép cỏ. Đã tám chín mươi tuổi đầu rồi mà còn mang đôi dép cỏ mòn vẹt rong ruổi khắp nơi, thật là vất vả cho lão!”
Tỳ nhân phủ phục xuống đất bái lạy: “Lão nô thay cự tử khấu tạ long ân của bệ hạ! Song cự tử đã đi từ lâu, e rằng không đuổi kịp nữa!”
Ngụy Huệ Hầu thoáng ăn năn, khẽ thở dài một tiếng.
“Bệ hạ!” Tỳ nhân chớp thời cơ nói thêm. “Lúc cáo từ, lão nô tiễn cự tử một đoạn, cự tử đã tặng lão nô một câu, đó là ‘bọ ngựa bắt ve, chim sẻ rình sẵn’. Lão nô ngu muội, suy nghĩ mãi vẫn không hiểu ý. Bệ hạ trên thông thiên văn dưới tường địa lý, liệu có thể giải thích giúp lão nô chăng?”
Ngụy Huệ Hầu khép hờ hai mắt, lẩm nhẩm trong miệng: “Bọ ngựa bắt ve sầu, chim sẻ rình sẵn”, nhẩm đi nhẩm lại vài lần, bỗng kêu lên thất thanh: “Lão phu tử nói câu này không phải là tặng ngươi, mà là muốn nhắc nhở quả nhân đấy!”
Tỳ nhân làm bộ kinh hãi: “Sao cơ? Tùy Sào Tử nhắc nhở bệ hạ chuyện gì?”
Ngụy Huệ Hầu đắc ý nói: “Lão phu tử ví Vệ Công là ve, ví quả nhân là bọ ngựa, còn ba nước Tề, Hàn, Triệu là chim sẻ. Ha ha ha, lão phu tử tự cho rằng mình đoán sự như thần, song lão không ngờ được rằng, quả nhân không hề bận tâm tới ve, mà đang chờ đợi mấy con chim sẻ!”
Thấy Huệ Hầu vẫn u mê không tỉnh, tỳ nhân trong lòng lo lắng, song vẫn vờ ra vẻ thán phục mà nói: “Nghe bệ hạ nói vậy, lão nô đã hiểu ra phần nào. Không giấu bệ hạ, lão nô vừa rồi lại cứ nghĩ rằng, chim sẻ mà cự tử muốn nói là… là người Tần kia!”
Ngụy Huệ Hầu cười vang, ngẩng đầu nhìn tỳ nhân: “Ồ, sao ngươi lại nghĩ là người Tần?”
Tỳ nhân vò đầu bứt tai, cười ngô nghê: “Đầu óc lão nô quả thực chẳng khác gì cán mai, vốn cho rằng Tùy Sào Tử muốn ám chỉ tới chuyện khác, chính là người Tần nhân lúc ta đại chiến chư hầu ở biên giới Vệ, khởi binh tấn công đoạt lại Hà Tây!”
Ngụy Huệ Hầu chỉ tay vào tỳ nhân, cười ngất mà nói với Trần Chẩn: “Trần ái khanh xem kìa, còn nói gì được nữa! Đầu óc kẻ này quả đúng là cán mai, nếu muốn khai khiếu, chắc phải lấy rìu chẻ đôi!”
Trần Chẩn cũng cười ha hả, phụ họa: “Bệ hạ nói chí phải! Tần, Ngụy hiện nay thân thiết như người một nhà, làm gì có chuyện đánh lén Hà Tây? Tùy Sào Tử nếu có ý này, hẳn chỉ là dọa dẫm vu vơ mà thôi!”
Tỳ nhân trong lòng thầm rủa mắng Trần Chẩn, song ngoài mặt vẫn cười nói: “Lão nô nghĩ rằng, không sợ vạn điều, chỉ sợ vạn nhất, bệ hạ nên đề phòng thì hơn!”
Ngụy Huệ Hầu lại cười ha hả, rồi nói: “Nói đầu óc ngươi chẳng khác gì cán mai, ngươi lại càng làm tới! Được rồi, được rồi, quả nhân nghe ngươi, đề phòng vạn nhất!”
Tỳ nhân trong lòng mừng rỡ, vội hô: “Bệ hạ thánh minh!”
Ngụy Huệ Hầu quay sang Trần Chẩn, trầm tư nói: “Trần ái khanh, những điều lão già kia vừa nói, lại khiến quả nhân nghĩ tới một việc!”
“Vi thần xin nghe bệ hạ căn dặn!”
“Con ve nhỏ giờ đây sắp bị bọ ngựa nuốt chửng, đám chim sẻ hẳn cũng sắp hành động rồi. Nếu quả nhân đoán không sai, ba nước Tề, Triệu, Hàn có lẽ đã xuất quân.”
“Nếu đúng là vậy, ta nên chuẩn bị sẵn sàng!”
“Không phải nếu đúng là vậy, mà chắc chắn là vậy!”
Ngụy Huệ Hầu quay sang tỳ nhân, nói chắc như đinh đóng cột. “Truyền mật chỉ cho Long ái khanh, trong vòng ba ngày, dẫn năm vạn quân thiết giáp rời Hà Tây tới bảo vệ Đại Lương. Bất luận con chim sẻ nào dám tới, Long tướng quân sẽ lập tức bẻ gãy cánh!”
Tỳ nhân trợn trừng mắt kinh hãi, miệng há hốc, nói không thành tiếng: “Bệ… bệ hạ… người muốn điều… điều quân thiết giáp… ra khỏi Hà Tây?”
Ngụy Huệ Hầu lại cười vang nói: “Đúng vậy! Chẳng phải ngươi nói cần đề phòng vạn nhất ư? Đây chính là vạn nhất! Đối phó với ba nước lớn, nếu không có quân thiết giáp Hà Tây của Long tướng quân, làm sao có thể? Mau đi soạn chỉ!”
Tỳ nhân đứng đờ đẫn hồi lâu, mãi vẫn không chịu bước đi. Ngụy Huệ Hầu sốt ruột, trừng mắt quát: “Còn không đi mau?”
Tỳ nhân vẫn chưa hết sửng sốt: “Lão… lão nô tuân chỉ!”
Tỳ nhân quay người, vừa vào thư phòng soạn chỉ, bỗng thấy ngự sử đại phu vẫn chầu ở trước điện dẫn tham quân của công tử Ngang hấp tấp bước tới, quỳ xuống bậc tam cấp trước đình, khấu đầu mà nói: “Khởi tấu bệ hạ, thượng tướng quân có chiến báo hoả tốc!”
Tỳ nhân vội vã bước xuống, nhận chiến báo, trình lên Huệ Hầu. Huệ Hầu mở ra, liếc mắt đọc qua, đắc ý vung vẩy chiến báo mấy cái rồi đưa cho Trần Chẩn, nói: “Ái khanh xem đi, quả nhân đoán thực không sai, ba con chim sẻ quả nhiên đã bay thẳng tới biên giới nước Vệ!”
Trần Chẩn nhận thư, cẩn thận đọc xong, bái lạy mà nói: “Bệ hạ liệu sự như thần, vi thần tâm phục khẩu phục!”
Ngụy Huệ Hầu quay sang tỳ nhân, cất giọng sang sảng như chém đinh chặt sắt: “Sửa đổi mật chỉ của Long tướng quân, không phải trong vòng ba ngày, mà là lập tức xuất phát. Không phải di chuyển tới bảo vệ Đại Lương, mà là xuất chinh đến biên giới Vệ!”
Tỳ nhân “vâng” một tiếng, vội vã trở vào thư phòng.
Ngụy Huệ Hầu suy nghĩ một lát, quay sang Trần Chẩn: “Trần ái khanh, quả nhân xưng vương, liệt quốc đều tỏ ý bất mãn. Lần này ba nước cứu Vệ, là muốn ném đá dò đường, thăm dò thực hư của quả nhân. Nếu quả nhân nhún nhường, chúng ắt lấn tới! Lần này không những phải đánh, mà còn phải toàn thắng!”
“Bệ hạ yên tâm. Theo ý của vi thần, chỉ cần khai chiến, bệ hạ tất thắng!”
“Dựa vào đâu mà ái khanh nói vậy?”
“Trong ba nước, quân Tề đông nhất. Thế nhưng quân Tề xưa nay nhu nhược, không đáng sợ! Quân Triệu và quân Hàn tuy dũng mãnh, song cũng khó mà địch lại quân Đại Ngụy của ta! Lần này ba nước xuất binh là có ba dụng ý khác nhau, chẳng qua chỉ là một đám ô hợp mà thôi. Hơn nữa, đối với ba nước, ngoài phản đối chuyện bệ hạ xưng tôn, chúng chẳng được lợi gì, do vậy chưa chắc đã thực sự hết lòng vì Vệ Công.”
Ngụy Huệ Hầu ngẫm nghĩ một lát, chậm rãi nói: “Ái khanh chỉ biết một mà không biết hai. Quân Tề tuy nhu nhược, song tướng Tề Điền Kỵ lại giỏi dùng binh. Ba nước tuy không được ích lợi gì từ Vệ Công, song Vệ là miếng thịt béo, nếu bị quả nhân độc chiếm, Tề Công, Hàn Hầu, Triệu Hầu còn xơ múi được gì đây? Huống hồ, chiến trận lại ở nước Vệ, gần kề với Hàn, Tề, Triệu, quân chi viện nhanh thì ba ngày, mà chậm thì năm ngày là tới. Ngộ nhỡ ba nước liều đánh với quả nhân, quả nhân sao có thể toàn thắng!”
Ngụy Huệ Hầu suy xét thấu đáo, Trần Chẩn vô cùng thán phục: “Bệ hạ thánh minh, vi thần suy nghĩ thực quá nông cạn!”
“Trần ái khanh!” Ngụy Huệ Hầu quả quyết, “nếu muốn toàn thắng, còn cần ái khanh vất vả một chuyến!”
“Vi thần xin nghe!”
“Khanh mang hổ phù, trước hết tới phủ Long tướng quân ở Hà Tây tuyên ý chỉ của quả nhân, lệnh cho Long Giả lập tức xuất quân, gấp rút tới biên giới Vệ. Sau đó cấp tốc đi sứ sang Tần, yết kiến Tần Công, yêu cầu ông ta xuất ba vạn binh, chờ lệnh phạt nghịch!”
“Vi thần lĩnh chỉ!”
Trần Chẩn lập tức lĩnh ngự chỉ, cầm hổ phù điều binh. Một đoàn người ngựa rầm rập đi suốt ngày đêm thẳng tới Thiếu Lương, Hà Tây.
***
Trong thành Thiếu Lương, Công Tôn Diễn ruổi ngựa thẳng tới trước quận phủ Hà Tây, xoay người xuống ngựa, bước thẳng vào trong phủ. Quận thú Long Giả thấy Công Tôn Diễn đã tuần sát biên cương trở về, vội đứng dậy ra đón, hỏi luôn: “Biên cương có động tĩnh gì chăng?”
Công Tôn Diễn bước lại gần, cởi bỏ áo giáp, lẩm bẩm trong miệng: “Thật quái lạ!”
“Chuyện gì quái lạ?”
Công Tôn Diễn bước tới trước sa bàn quân sự, trầm ngâm một lát, chỉ vào sa bàn mà nói: “Long tướng quân, hãy nhìn xem, từ đây tới đây, là đường biên giới dài ba trăm dặm, từ đây đi sâu vào hai mươi dặm, quân Tần đã không phòng bị, thậm chí đến doanh trại vốn có cũng đã dỡ bỏ hết. Tại hạ còn phái vài trăm lính cải trang dân thường vào sâu vào trong nước Tần trăm dặm, cũng không hề phát hiện thấy bóng dáng quân Tần!”
Long Giả ngẫm nghĩ một lát: “Lẽ nào người Tần thực sự muốn kết liên minh?”
“Giấu đầu hở đuôi mà thôi!” Công Tôn Diễn khẽ lắc đầu, “người Tần càng như vậy, càng lộ rõ ý đồ bất trắc. Long tướng quân, không tính số tướng sĩ canh giữ ở các thành ấp, Hà Tây còn bao nhiêu võ binh có thể chiến đấu?”
“Năm vạn! Ngoài ra còn có hai vạn tân binh, là số quân mà tại hạ mới chiêu mộ nhờ khoản tiền quyên tặng của Bạch tướng quốc, hiện đang huấn luyện.”
Công Tôn Diễn mừng rỡ, vội hỏi: “Bao giờ có thể tham gia chiến trận?”
Long Giả trầm ngâm một lát: “Nhanh nhất cũng phải ba tháng!”
“Ba tháng?” Công Tôn Diễn ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng lên hỏi, “liệu có thể dạy họ học chém giết trong vòng một tháng không?”
Long Giả ngạc nhiên nhìn Công Tôn Diễn: “Trong vòng một tháng?”
“Nếu đúng như tại hạ dự tính, một tháng e rằng cũng đã muộn rồi.”
Long Giả vội vã sai tham tướng cho gọi một vị tướng quân lại, dặn dò hắn gấp rút huấn luyện lính mới, sau đó lập tức bàn chuyện bố trí phòng ngự với Công Tôn Diễn.
Trời sẩm tối, hai người vẫn đang ngồi bàn mưu tính kế. Trước phủ bỗng thấy huyên náo, rồi có người chạy vào bẩm báo Trần Chẩn phụng vương mệnh giá lâm. Công Tôn Diễn do không có quan chức trong triều, đành phải tạm lánh vào phòng bên. Long Giả mở cổng giữa, đích thân dẫn chư tướng Hà Tây nghênh đón đám Trần Chẩn vào phủ.
Vừa bước vào phủ, Trần Chẩn không kịp chào hỏi, đã vội vàng tuyên chiếu thư của Ngụy Huệ Hầu. Sau khi tuyên chiếu xong, Trần Chẩn trình hổ phù, lệnh cho Long Giả lập tức dẫn năm vạn quân giáp trụ Hà Tây phạt Vệ.
Long Giả bàng hoàng quá đỗi, đứng chết lặng hồi lâu không nói được gì.
Trần Chẩn đợi một lát, thấy Long Giả vẫn không lên tiếng, bèn lớn giọng hỏi: “Xin hỏi Long tướng quân, đại quân bao giờ xuất chinh?”
Long Giả giật mình, định thần trở lại, cẩn thận kiểm tra hổ phù, thấy đúng là thực, thì thở dài đánh sượt một tiếng, chậm rãi nói: “Khởi bẩm thượng khanh, điều động đến năm vạn đại quân, chậm nhất cũng cần ba ngày!”
“Quá chậm! Trước khi đi, bệ hạ còn dặn dò kỹ lưỡng, hễ tướng quân nhận được hổ phù, phải lập tức xuất chinh!”
Long Giả liếc xéo ông ta, giọng lạnh tanh: “Trần thượng khanh, ba quân xuất chinh không phải trò đùa, nói đi là đi ngay được! Năm vạn tướng sĩ phân bổ khắp đất Hà Tây, chỉ riêng thông báo khắp lượt, cũng mất một ngày. Ba quân chưa xuất, lương thảo đã phải lên đường trước, ít nhất cũng cần một ngày. Còn nữa…”
Trần Chẩn không đủ kiên nhẫn, cắt ngang lời Long Giả: “Tại hạ không hiểu việc quân, Long tướng quân bất tất phải giải thích dài dòng! Là bệ hạ yêu cầu tướng quân phải lập tức xuất chinh, tại hạ chẳng qua chỉ truyền chỉ mà thôi! Nếu tướng quân tuân chỉ, lập tức thông báo tới bộ tướng, muộn nhất sáng sớm mai lên đường! Nếu tướng quân kháng chỉ, tại hạ cũng không còn gì để nói!”
Long Giả lắp bắp: “Trần Chẩn, ông…”
Trần Chẩn khẽ vòng tay: “Long tướng quân, tại hạ có vương lệnh bên mình, cần tới Tần ngay trong đêm nay, xin cáo từ!” Nói xong, sải bước đi ra.
Trần Chẩn vừa ra khỏi cửa, Công Tôn Diễn vội vã bước ra, giống như Long Giả, nhìn trân trân vào hổ phù và chiếu thư đóng vương tỷ đặt trên bàn.
Long Giả giận dữ nện mạnh nắm đấm xuống mặt bàn, chỉ biết kêu lên một tiếng “Trời ơi!”
Công Tôn Diễn vầng trán chau tít.
Hai người ngồi rầu rĩ hồi lâu, Long Giả chợt ngẩng đầu lên nói: “Tiên sinh xem thế này được không? Trong số chư tướng trấn giữ Hà Tây, thiện chiến nhất là hai tướng Trương Mãnh, Lã Giáp. Tại hạ sẽ để hai người này lại, điều động hai vạn lính mới đi, lưu lại hai vạn võ binh, toàn bộ giao cho tiên sinh!”
Chỉ để lại hai vạn võ binh chống chọi với quân Tần hùng cường, đến bản thân Long Giả cũng thấy chùn lòng, giọng nói gần như không nghe rõ. Công Tôn Diễn trầm ngâm hồi lâu, gật đầu nói: “Đa tạ tướng quân!”
Long Giả quay sang tham quân, nói: “Truyền gọi hai tướng Lã, Trương tới gấp!”
Một lát sau, Lã Giáp, Trương Mãnh hấp tấp vào trong phủ, Long Giả chỉ vào Công Tôn Diễn nói: “Bệ hạ xuống chiếu, lệnh cho bản tướng xuất chinh phía đông, đến biên giới Vệ. Việc phòng thủ Hà Tây đều nghe theo sắp xếp của Công Tôn tướng quân!”
Hai người Lã Giáp, Trương Mãnh đưa mắt nhìn nhau, đồng thanh hô to: “Mạt tướng tuân lệnh!”
Tảng sáng hôm sau, từng đoàn võ binh Hà Tây toàn thân giáp trụ lần lượt rời khỏi Thiếu Lương. Trước phủ tướng quân, Long Giả lòng trĩu nặng, bước ra cổng phủ, mắt nhìn chăm chăm vào Công Tôn Diễn, Trương Mãnh, Lã Giáp và những tướng lĩnh khác đến đưa tiễn.
Một lát sau, Long Giả rút bội kiếm đeo bên thắt lưng, cùng với lệnh bài, ấn soái Hà Tây, giao hết cho Công Tôn Diễn, sau đó đưa mắt nhìn khắp lượt chư tướng, cất giọng uy nghiêm: “Kiếm ở đây, cũng như bản tướng ở đây! Công Tôn tướng quân, bất luận người nào, hễ không nghe lệnh, giết ngay không tha!”
Công Tôn Diễn hai tay đỡ lấy bội kiếm.
“Công Tôn tướng quân! Bạch tướng quốc vào lúc lâm chung, đã giao phó bảy trăm dặm giang sơn Hà Tây cho lão phu, không ngờ lão phu… Than ôi, biết nói gì nữa đây! Hà Tây… lão phu xin giao cả cho tiên sinh!” Long Giả nói xong, từ từ quỳ xuống trước mặt Công Tôn Diễn.
Công Tôn Diễn cũng quỳ xuống, giọng nói nghẹn ngào: “Lão tướng quân!”
Nhìn theo chiến xa của Long Giả dần dần khuất bóng, Công Tôn Diễn bỗng chốc cảm thấy gánh nặng đè trĩu trên vai, tựa hồ không thể trụ nổi. Với Công Tôn Diễn, trách nhiệm đè trên vai, không chỉ là lời uỷ thác của Bạch tướng quốc và Long Giả, mà còn ghi chép của sử gia. Thắng làm vua thua làm giặc, giành được Hà Tây là nhờ Ngô Khởi, ngày nay nếu để người Tần đoạt lại Hà Tây từ tay Công Tôn Diễn, thì cái tên Công Tôn Diễn hẳn sẽ lưu trong sử sách bên cạnh Ngô Khởi. Song khác ở chỗ, Ngô Khởi là người chinh phục, còn Công Tôn Diễn là kẻ thảm bại.
Công Tôn Diễn xưa nay vẫn ngầm so sánh mình với Ngô Khởi, tình thế đẩy đưa Công Tôn Diễn tới bước đường này, quả là nằm mơ cũng không ngờ tới. Nếu có Long tướng quân và năm vạn võ binh, may ra còn có thể chống chọi với quân Tần. Còn lúc này, biết làm thế nào đây? Công Tôn Diễn bất giác rùng mình ớn lạnh.
Ngoài sự chênh lệnh lực lượng quá lớn giữa hai bên, điều Công Tôn Diễn lo sợ nhất chính là mình không phải được quân chủ giao phó trọng trách, cũng không có bất cứ chức tước nào trong triều, duy có thanh bội kiếm tượng trưng do Long Giả để lại. Công Tôn Diễn mới chân ướt chân ráo đến nơi, giờ trong tay không chút thực quyền, chỉ có hai vạn võ binh không rõ có chịu phục tùng mệnh lệnh hay không, khó mà biết được. Khi đại địch áp sát, lòng quân không phục, là điều tối kỵ trong dùng binh.
Thế nhưng, sự thực lù lù ngay trước mắt, dù trời có sập xuống, Công Tôn Diễn cũng phải chống đỡ. Công Tôn Diễn quay trở về phủ, đứng trước sa bàn, trầm ngâm suy nghĩ, rồi sai người gọi các tướng lại, bố trí phòng ngự.
Hai canh giờ sau, các tướng lục tục kéo tới. Công Tôn Diễn ngồi ngay ngắn ở ngôi chủ tướng, đặt bội kiếm của Long Giả trên bàn. Trước mặt Công Tôn Diễn là hai hàng tướng lĩnh, ngồi đầu hàng bên trái là Trương Mãnh, bên phải là Lã Giáp.
Công Tôn Diễn hắng giọng, rồi cất tiếng sang sảng: “Chư vị tướng quân! Long tướng quân phụng chỉ đông chinh, trước khi ra đi, tướng quân giao phó trọng trách bảo vệ Hà Tây cho tại hạ. Tại hạ chân ướt chân ráo mới đến, mong được chư vị tướng quân ủng hộ.”
Các tướng đưa mắt nhìn nhau, hồi lâu vẫn không ai lên tiếng. Trước bầu im lặng nặng nề, Công Tôn Diễn lại đặng hắng lần nữa, đang định lên tiếng thì một tướng quân ngồi bên dưới Lã Giáp nói lớn: “Mạt tướng xin hỏi, chúng tôi nên gọi ông là tiên sinh hay là tướng quân?”
Ý tứ khiêu khích rất rõ ràng. Công Tôn Diễn đưa ánh mắt lạnh lùng nhìn khắp lượt tướng lĩnh, rồi dừng lại trên mặt người này, đưa một tay ra, nắm lấy ấn soái dưới bàn, đặt đánh “cạch” lên mặt bàn, lại quét mắt khắp lượt chư tướng, ngữ khí tuy chậm rãi, song chắc nịch như sơn: “Chư vị tướng quân! Chư vị có thể gọi tại hạ là tiên sinh, cũng có thể gọi tại hạ là tướng quân, có điều…” vừa nói vừa chậm rãi rút thanh bội kiếm của Long Giả ra, đưa tay vuốt theo lưỡi kiếm, rồi đột ngột gằn giọng, “nếu ai không nghe quân lệnh, để lỡ thời cơ, tại hạ tuyệt đối không dung! Không giấu chư vị, trước khi Long tướng quân ra đi, đã giao cho tại hạ quyền tiền trảm hậu tấu! Ai không tin, cứ hỏi hai vị tướng quân Lã Giáp và Trương Mãnh!”
Trương Mãnh gật đầu nói: “Chư vị tướng quân, Long tướng quân trước khi ra đi, quả thực đã giao toàn quyền bảo vệ Hà Tây cho Công Tôn tướng quân, mong chư vị phục tùng mệnh lệnh!”
Chư tướng đồng thanh hưởng ứng: “Mạt tướng xin nghe lệnh Công Tôn tướng quân!”
Công Tôn Diễn gật gật đầu, lại cất giọng sang sảng: “Chư tướng đã canh giữ Hà Tây bao năm, phòng ngự thế nào, bản tướng không cần nói nhiều. Chư vị tướng quân!”
Các tướng đồng loạt đứng dậy: “Có mạt tướng!”
“Chư vị đều đã biết, kẻ địch của chúng ta chỉ có một, chính là người Tần. Từ thời khắc này, bản tướng tuyên bố, Hà Tây tích cực phòng bị, sẵn sàng ứng chiến! Bất luận khi nào, hễ chiến sự xảy ra, mọi người phải lập tức bày trận chờ sẵn, lấy thủ làm công, không được ra khỏi thành nghênh địch, không được bỏ trận mà chạy. Ai không làm tròn bổn phận, chém!”
Các tướng đồng loạt đáp lời: “Mạt tướng nhận lệnh!”
Công Tôn Diễn quay sang Lã Giáp: “Lã tướng quân!”
“Có mạt tướng!”
“Bản tướng giao cho tướng quân một vạn người ngựa, trấn giữ tuyến trường thành, Lạc Thủy. Trường thành, Lạc Thủy là tuyến phòng thủ đầu tiên của ta, vô cùng quan trọng, mong tướng quân ngày đêm canh giữ cẩn mật, lính không được cởi giáp, ngựa không được tháo yên. Phát hiện thấy địch, lập tức đốt lửa hiệu!”
“Mạt tướng nhận lệnh!”
Công Tôn Diễn nhìn sang Trương Mãnh: “Trương tướng quân!”
“Có mạt tướng!”
“Ba nơi Âm Tấn, Lâm Tấn quan, Thiếu Lương là gốc của Hà Tây, không thể để mất! Bản tướng giao cho tướng quân năm nghìn người ngựa canh giữ Âm Tấn, năm nghìn người ngựa trấn thủ Lâm Tấn quan. Còn Thiếu Lương, bản tướng đích thân chỉ huy tướng sĩ giữ thành trấn thủ.”
“Mạt tướng nhận lệnh!”
Nghe xong quân lệnh, đám tướng kéo nhau ra khỏi phủ tướng quân. Vừa ra khỏi cửa, viên tướng vừa lên tiếng khiêu khích khi nãy nhổ toẹt ngay xuống đất mà nói: “Phì! Lấy lông gà làm lệnh tiễn, ra vẻ ta đây!”
Một tướng quân khác ca thán theo: “Lã tướng quân, hiện tại trời yên biển lặng, chẳng có chuyện quái gì, thế mà kẻ này… rõ ràng là muốn bày trò hành hạ chúng ta!”
Hai tướng này đều là thuộc hạ của Lã Giáp. Lã Giáp là tướng trấn thủ Hà Tây, rất được Long Giả trọng dụng. Lần này Long Giả phụng chỉ đông chinh, Lã Giáp vốn cho rằng Long Giả sẽ giao lại Hà Tây cho mình canh giữ, không ngờ từ trên trời rơi xuống một Công Tôn Diễn, khiến hắn vô cùng bực bội. Nghe thấy những lời gièm pha, hắn cũng gật đầu than thở: “Than ôi, một gia nô phủ tướng quốc cũng tới đây chỉ tay năm ngón, Đại Ngụy đúng là hết người rồi!”
Trương Mãnh vốn định trách móc hai vị tướng quân ăn nói càn quấy, song thấy Lã Giáp cũng nói vậy, đành dịu giọng: “Hiện Long tướng quân không có ở đây, Hà Tây trống rỗng, là thời khắc hệ trọng, tôi thấy Công Tôn tướng quân sắp xếp như vậy, tuyệt không phải hạng tầm thường. Chư vị tướng quân hãy lấy đại cục làm trọng, phục tùng mệnh lệnh, canh phòng cẩn mật mới là thượng sách!”
Đám Lã Giáp thấy Trương Mãnh lên tiếng, cũng thôi không nói gì nữa, nín giận bước về chỗ buộc ngựa, nhảy lên yên ngựa phi đi.
Sau khi chư tướng đi khỏi, Công Tôn Diễn càng nghĩ càng lo, bèn gọi một tham tướng, hai hộ vệ lại, trước hết đi tuần tra một vòng tình hình phòng ngự ở Thiếu Lương, sau đó phi ngựa tới vùng trọng ải Lâm Tấn tuần tra một lượt, rồi lại tiếp tục tới Lạc Thủy.
Ở đây mới là nơi trọng yếu nhất mực. Công Tôn Diễn trong lòng hiểu rõ, đối thủ thực sự chính là ở bờ bên kia.
Lúc này đang là tháng sáu âm lịch, mùa mưa đã tới, Lạc Thủy nước dâng cao đột ngột. Nghĩ tới nước sông cuồn cuộn, Công Tôn Diễn cũng thấy an tâm đôi chút. Trải qua vài chục năm xây dựng, hiện ở ven sông Lạc Thủy, quân Ngụy cứ cách ba dặm dựng một chòi gác, năm dặm xây một thành luỹ. Hiện tại, chỉ cần đề cao cảnh giác, canh phòng cẩn mật, tuy không thể cản bước quân Tần, song nếu phát hiện kịp thời quân địch ngay khi chúng vừa hành động, sẽ hỗ trợ được cho tuyến phòng ngự thứ hai là trường thành, tranh thủ được thời gian quý báu để chuẩn bị tác chiến.
Thế nhưng, khi Công Tôn Diễn rời khỏi Lâm Tấn quan, thúc ngựa dọc theo Lạc Thủy đi về phía tây, nhìn cảnh ven đường, trong lòng bất giác run sợ. Các chòi canh không một bóng người, các thành luỹ hầu như không thấy lính Ngụy.
Công Tôn Diễn nén giận trong lòng, tiếp tục tuần tra. Khi tới Đại Lệ quan, cơn giận đã bốc lên tới tận đỉnh đầu.
Đại Lệ quan là bến đò quan trọng của Lạc Thủy, cũng là cửa khẩu then chốt nối thông Tần Ngụy, việc buôn bán, qua lại giữa hai nước đều theo lối này. Chính vì vị trí của nó rất quan trọng, nên Long Giả đã xây dựng ở đây một cửa quan kiên cố, chưa nói đến thành cao tường dày, bên trong còn tích trữ một lượng lớn vật tư phục vụ chiến tranh, dù bị bao vây hoàn toàn, vẫn có thể cố thủ trong vòng một tháng.
Vậy mà, cảnh tượng đập vào mắt Công Tôn Diễn lúc này lại là, bên ngoài cửa quan đã trở thành một khu chợ tạm, nông dân gần xa tới đây bày bán đủ loại hàng hoá, người Tần nườm nượp từ bờ bên kia Lạc Thủy kéo sang, vượt qua cửa quan không người canh giữ, vào đến tận đây, hoặc mua hoặc bán, bận bịu luôn tay. Công Tôn Diễn nhớ rõ rành rành, chỉ vài ngày trước, nơi đây vẫn là thành luỹ nghiêm ngặt.
Công Tôn Diễn xoay người xuống ngựa, đưa dây cương cho thị vệ đi theo, sắc mặt lạnh tanh bước vào cửa quan.
Cửa quan mở toang, bên trong trống trải, không một bóng người. Phía sau là khu doanh trại, binh sĩ túm năm tụm ba thành từng nhóm, hoặc cười nói, hoặc uống rượu, hoặc chơi đùa dưới tán cây. Trên bãi cỏ rộng cắm rất nhiều cọc tre lộn xộn, giữa các cọc tre chăng dây thừng mảnh, phơi phóng đủ thứ chăn đệm. Một quân uý ôm hai tấm đệm trước ngực, ung dung bước ra khỏi cổng trại, tiến về phía bãi cỏ.
Công Tôn Diễn sắc mặt tối sầm, lớn giọng gọi quân uý: “Lại đây!”
Nhìn thấy Công Tôn Diễn toàn thân giáp trụ, quân uý lập tức quăng đệm, quỳ xuống: “Thủ uý Đại Lệ quan Lục Tam bái kiến tướng quân!”
Công Tôn Diễn liếc mắt nhìn hắn, nghiêm giọng hỏi: “Quan lệnh của các ngươi đâu?”
“Khởi bẩm tướng quân, quan lệnh vốn là Lý tướng quân, mấy ngày trước đã theo Long tướng quân đông chinh. Ba hôm trước, Lã tướng quân phái Triệu Lập tướng quân tạm thời canh giữ ở đây!”
“Triệu Lập đâu rồi?”
Lục Tam do dự một lát, rồi chỉ tay vào trong lều: “Khởi bẩm tướng quân, Triệu tướng quân uống rượu say, đang ngủ trong lều!”
Công Tôn Diễn sắc mặt lạnh tanh: “Gọi hắn ra đây!”
Lục Tam chạy vội vào trong lều, một lát sau, đã thấy bước ra, dẫn theo một kẻ còn ngái ngủ, khắp người nồng nặc mùi rượu, loạng choạng tiến lại phía trước mặt Công Tôn Diễn, chẳng buồn ngẩng đầu, lớn giọng quát nạt: “Ai muốn gặp bản tướng?”
Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn hắn, té ra chính là tay tướng quân từng cất lời khiêu khích trong buổi gặp mặt hôm trước, thì cười khẩy mà nói: “Ngươi là Triệu Lập, quan lệnh của Đại Lệ quan?”
Triệu Lập là một trong ngũ hổ tướng dưới quyền Lã Giáp, rất phục tùng Lã Giáp. Thấy Lã Giáp không phục Công Tôn Diễn, nên bản thân hắn cũng chưa từng coi viên thú thừa tạm thời này là gì, hôm nay lại uống say mèm, thái độ càng thêm ngạo mạn, chưa nói tới chuyện quần áo xộc xệch nghênh tiếp quan trên, mà khi gặp mặt cũng không bái lạy, còn ngửa cổ mà nói: “Mạt tướng bái kiến thú thừa tạm thời!”
Triệu Lập cố ý kéo dài hai chữ “tạm thời”. Công Tôn Diễn nét mặt vẫn lạnh lẽo, chỉ cười nhạt một tiếng, không biểu lộ thái độ gì: “Bản tướng hỏi ngươi, trong Đại Lệ quan có bao nhiêu quân sĩ?”
“Hồi bẩm thú thừa tạm thời, trong Đại Lệ quan vốn có ba nghìn quân sĩ, ba ngày trước Lý tướng quân dẫn hai nghìn quân theo Long tướng quân đông chinh, còn lại hơn nghìn. Lã tướng quân lại sai mạt tướng tăng cường một nghìn quân, hiện tại có tổng cộng hai nghìn quân.”
Công Tôn Diễn đổi ngay sắc mặt, nghiêm giọng hỏi: “Vẫn còn hai nghìn tướng sĩ, vì sao không bố trí canh phòng quan ải?”
Triệu Lập không chịu lép vế, đanh giọng vặc lại ngay: “Hồi bẩm thú thừa tạm thời, phía bờ bên kia, cửa quan bên Tần đã thôi canh phòng từ lâu, lính Tần cũng không thấy một mống, chúng tôi canh phòng, là canh phòng ai đây?”
Công Tôn Diễn gắng kìm lửa giận trong lòng: “Bản tướng hỏi ngươi, ai ra lệnh cho ngươi thôi canh phòng cửa ải?”
Triệu Lập gân cổ ngang tàng: “Không ai ra lệnh!”
Công Tôn Diễn cười nhạt: “Nói như vậy, là ngươi tự ý thôi canh phòng cửa ải?”
“Là bản tướng tự ý, thú thừa muốn thế nào đây?”
“Ta lại hỏi ngươi, theo luật pháp Đại Ngụy, tướng sĩ canh giữ cửa ải tự ý rời bỏ vị trí, xử tội thế nào?”
Triệu Lập khinh khỉnh không nói.
Công Tôn Diễn nhìn sang Lục Tam, nghiêm giọng hỏi: “Quân uý Lục Tam, ngươi biết chứ?”
Lục Tam liếc nhìn Triệu Lập, lắp bắp nói: “Bẩm… bẩm tướng quân, theo luật hiện thời… chém!”
“Người đâu, bắt Triệu Lập lại!”
Thị vệ đi theo Công Tôn Diễn xông tới, chẳng nói chẳng rằng túm lấy Triệu Lập, trói gô lại.
Triệu Lập giậm chân quát mắng: “Ngươi chỉ là một gia nô trong phủ tướng quốc, dám làm gì ông đây?”
“Không dám?” Sắc mặt Công Tôn Diễn sầm xuống, “mấy hôm trước, bản tướng đã nói, trước khi Long tướng quân xuất chinh, đã giao cho bản tướng quyền tiền trảm hậu tấu. Ngươi thân là quan lệnh, đã không trấn giữ cửa ải, còn tự ý bỏ canh phòng, phạm vào tội chết!” Quay sang Lục Tam, “đánh trống, triệu tập toàn thể tướng sĩ, cùng xem xử trảm Triệu Lập!”
Lục Tam “vâng” một tiếng, lập tức chạy về doanh trại. Loáng cái, đã nghe tiếng trống dồn dập. Một lúc sau, phó tướng và toàn thể binh lính của Đại Lệ quan giáp trụ chỉnh tề hộc tốc chạy tới, đứng chật kín cả thao trường bên trong Đại Lệ quan.
Triệu Lập đã sợ đến tỉnh rượu, sắc mặt trắng bệch, lao về phía một tham tướng, hét lên: “Lão Mục, mau, mau gọi Lã tướng quân cứu ta!”
Tham tướng vừa nhấc chân định đi, Công Tôn Diễn đã nghiêm giọng quát: “Đứng lại!”
Tham tướng hai chân run lẩy bẩy, đứng im tại chỗ không dám nhúc nhích.
Công Tôn Diễn nhìn Triệu Lập với ánh mắt khinh thường: “Triệu tướng quân, bản tướng nói cho ngươi biết, việc đã đến nước này, đừng nói là Lã tướng quân, dù bệ hạ giá lâm, cũng không cứu nổi ngươi đâu! Đao phủ!”
Hai đao phủ đồng thời bước ra, một trái một phải đứng bên Triệu Lập. Cho tới lúc này, Triệu Lập mới thấy kinh hoàng, vội quỳ thụp xuống đất, run rẩy van xin: “Công Tôn tướng quân, mạt… mạt tướng… bị oan!”
Công Tôn Diễn lạnh lùng nhìn hắn: “Nói đi, ngươi có gì oan uổng?”
Triệu Lập lết lên trước một bước, vội vàng bẩm báo: “Hồi bẩm Công Tôn tướng quân, mạt tướng vốn có bố trí canh phòng. Song chiều hôm kia, Trần thượng khanh đi sứ sang Tần, khi qua nơi này, thấy đám mạt tướng canh phòng vất vả, bèn nói nhỏ với mạt tướng rằng, ‘Ngụy Tần đã là một nhà, không cần thiết phải canh phòng nghiêm ngặt nữa. Tháng trước Tần Ngụy đã kết liên minh, người Tần bờ bên kia cũng đã bỏ canh gác.’ Mạt tướng thấy thượng khanh nói cũng có lý, mới hạ lệnh bỏ canh phòng, cho anh em nghỉ ngơi vài bữa.”
“Ngươi đúng là hạng chấp mê bất ngộ!” Nghe những lời này, Công Tôn Diễn càng thêm phẫn nộ. “Vài ngày trước, bản tướng đã ra lệnh ở Thiếu Lương rằng, Hà Tây tích cực phòng bị! Ở vùng quan khẩu, lính càng không được buông giáo mác, ngựa càng không được tháo yên cương. Ngươi thân là quan lệnh, không nghe quân lệnh, lại nghe lời vu vơ của triều quan qua đường, đã đáng xử tội chết! Tạm chưa tính đến tội này, theo luật pháp Đại Ngụy, lính ở quan khẩu không được uống rượu, ngươi không những uống rượu, mà còn say bí tỉ, lại là một tội. Ngươi thân là chủ tướng trấn giữ quan khẩu, biết luật pháp mà lại phạm pháp, coi thường quan trên, ăn nói phạm thượng, chết vẫn chưa hết tội, còn kêu oan nữa ư?”
Triệu Lập không còn lời phản bác, dập đầu mà nói: “Mạt tướng biết tội!”
Công Tôn Diễn cười nhạt: “Biết thì đã muộn!” Rồi quay sang đao phủ. “Hành hình!”
***
Trong lúc Công Tôn Diễn xử trảm quan lệnh Đại Lệ quan Triệu Lập, trong điện Di Tình cung Tần, lại diễn ra một cảnh tượng khác hẳn.
Điện Di Tình là nơi Tần Hiếu Công thượng triều xử lý chính sự, bài trí trần thiết hoàn toàn theo ý Hiếu Công. Trong điện, bên trái vốn là giá binh khí, bày đủ các loại binh khí mà Hiếu Công yêu thích. Hiếu Công từ nhỏ đã ham mê võ thuật, tuy võ nghệ không có gì nổi trội, song lúc nào cũng bày đủ mười tám loại binh khí, mà sưu tập binh khí trong thiên hạ cũng là một sở thích của Hiếu Công. Song không biết giá binh khí đã được âm thầm dỡ bỏ từ lúc nào, thay vào đó là sa bàn về tình hình Hà Tây của nước Ngụy.
Lúc này, Tần Hiếu Công đang cùng vài trọng thần đứng trước sa bàn, sắc mặt nghiêm nghị, nhìn quốc uý Xa Anh không chớp mắt.
Xa Anh tay cầm cây thước dài, chỉ lên sa bàn giảng giải: “Long Giả nhận được chiếu lệnh của Ngụy Vương, năm ngày trước đích thân dẫn năm vạn quân thiết giáp Hà Tây tiến về phía đông đến biên giới Vệ, Hà Tây hiện chỉ còn lại không tới hai vạn quân canh giữ. Một vạn quân trấn giữ Lạc Thủy, trường thành, thủ tướng là Lã Giáp; một vạn còn lại trấn giữ ở các thành ấp, cửa quan tại Hà Tây. Tướng sĩ ở cửa quan phía ta đã phụng mệnh đại lương tạo, lui về trăm dặm, quân trấn thủ Hà Tây thấy ta không có người phòng vệ, cũng tự ý rời bỏ vị trí. Thám mã vừa báo về, lính Ngụy ở Đại Lệ quan đã bỏ canh gác rồi!”
Nghe được tin này, quần thần phấn khởi ra mặt. Tần Hiếu Công gật gù, giọng hừng hực khí thế: “Hay lắm, quả nhân chỉ mong đợi chuyện này!”
Quần thần thấy Hiếu Công lên tiếng, lập tức đứng nghiêm trang, ánh mắt đều hướng về Hiếu Công. Hiếu Công đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, cất giọng sang sảng: “Chư vị ái khanh, mười tám năm trước, tiên quân và người Ngụy đại chiến Hà Tây, máu nhuộm Lạc Thủy. Mười tám năm qua, quả nhân ôm mối nhục này, biến pháp đồ cường, những mong có được trận chiến hôm nay!”
Quần thần đồng thanh đáp: “Mối thù Hà Tây, không đội trời chung, xin chúa thượng hạ chỉ!”
Tần Hiếu Công giọng càng ngân vang như chuông: “Chư vị ái khanh, báo thù rửa nhục, đã tới lúc rồi! Các khanh nghe lệnh!”
Quần thần mắt nhìn Tần Hiếu Công không chớp.
“Phong đại lương tạo Công Tôn Ưởng là chủ tướng phạt Ngụy, quốc uý Xa Anh là phó tướng phạt Ngụy, thái tử Doanh Tứ là giám quân, thượng đại phu Cảnh Giám phụ trách bang giao, thái phó Doanh Kiền phụ trách lương thảo. Dốc toàn quốc lực, quyết chiến một trận với Ngụy ở Hà Tây.”
Công Tôn Ưởng, Xa Anh, Doanh Tứ, Cảnh Giám và Doanh Kiền đồng thanh đáp: “Vi thần nhận mệnh!”
Chính vào lúc này, nội thần hộc tốc chạy vào, nói là ngũ đại phu Sư Lý Tật cầu kiến. Tần Hiếu Công liếc sang Công Tôn Ưởng, khẽ nói: “Truyền vào!”
Một lát sau, Sư Lý Tật vội vã bước vào, dập đầu tâu: “Khởi bẩm chúa thượng, sứ Ngụy là Trần Chẩn đang tới triều, cách Hàm Dương không đầy trăm dặm!”
“Trần Chẩn?” Tần Hiếu Công thoáng kinh ngạc, “hắn tới đây làm gì?”
Công Tôn Ưởng nghe thấy tin này, sắc mặt hớn hở, bước lên tấu rằng: “Khởi tấu chúa thượng, Trần Chẩn tới đây, hẳn là muốn hai tay dâng tặng Hà Tây cho chúa thượng!”
Tần Hiếu Công ngạc nhiên nhìn Công Tôn Ưởng: “Hai tay dâng tặng quả nhân?”
Công Tôn Ưởng gật đầu: “Ba nước Tề, Triệu, Hàn liên thủ cứu Vệ, Ngụy Anh tuy phái Long Giả đông chinh, song thực lực chưa đủ mạnh, lần này phái Trần Chẩn tới, hẳn là muốn chúa thượng xuất quân cứu viện!”
Tần Hiếu Công như chợt bừng tỉnh: “Ý ái khanh là, quả nhân có thể dùng kế Mượn đường diệt Quắc(1), mượn đường Hà Tây, một đòn chiếm gọn!”
Công Tôn Ưởng mỉm cười nói: “Trần Chẩn là khâm sai thượng quốc, chúa thượng nên hạ cố ra ngoài thành tiếp đón, đối xử với hắn theo nghi lễ thượng quốc!”
Tần Hiếu Công cười vang: “Ái khanh nói rất phải, khâm sai thượng quốc tới, quả nhân sẽ đích thân ra ngoài thành nghênh tiếp!”
Cờ quạt bay rợp, tiếng nhạc rộn ràng, Tần Hiếu Công dẫn theo văn võ bá quan ra tận ngoài thành ba mươi dặm cung kính chờ đón, đích thân nắm tay Trần Chẩn dẫn lên xe. Đoàn tuỳ tùng của Trần Chẩn cũng được đón tiếp long trọng, chia nhau lên xe của Công Tôn Ưởng, thái tử Tứ, Cảnh Giám, từ từ tiến vào Hàm Dương trong tiếng đàn sáo tưng bừng.
Trời vừa sẩm tối thì tới thành Hàm Dương. Tần Hiếu Công đích thân mở tiệc chiêu đãi Trần Chẩn. Trong bữa tiệc, Trần Chẩn nói rõ ý nguyện của Ngụy Vương, Tần Hiếu Công đồng ý ngay không hỏi thêm nửa lời. Trần Chẩn vui mừng khôn xiết, tối đó uống say túy lúy.
Sáng hôm sau, Trần Chẩn tỉnh rượu, lập tức cáo biệt Tần Công, về thẳng An Ấp, chưa kịp về phủ đã tới ngay cung cầu kiến Huệ Hầu, dập đầu nói: “Vi thần phụng chỉ đi sứ sang Tần, hôm nay đã trở về, không kịp hồi phủ, lập tức tới phục mệnh bệ hạ!”
Ngụy Huệ Hầu thấy Trần Chẩn mặt mày hớn hở, biết là được việc, cười ha hả mà nói: “Ái khanh bình thân!”
Trần Chẩn tạ ơn, đứng dậy ngồi vào chỗ. Ngụy Huệ Hầu nhân tiện hỏi thăm: “Tần Công bệnh tình đỡ chưa?”
Trần Chẩn ngẩn người, giờ mới nhớ hôm đại lễ ở Phùng Trạch, Tần Công cáo bệnh không tới, bèn cười nói:
“Khởi bẩm bệ hạ, Tần Công đã hồi phục rồi! Tần Công nghe vi thần phụng chiếu đi sứ, đích thân hạ cố ra tận ngoài thành ba mươi dặm nghênh đón, đối đãi với thần theo nghi lễ thượng quốc, vô cùng long trọng!”
Ngụy Huệ Hầu thoáng chút kinh ngạc: “Gì cơ? Doanh Cừ Lương ra ngoài thành ba mươi dặm nghênh đón?”
“Đúng vậy! Tần Công đích thân nắm tay vi thần, mời lên xe. Trên đường đi, Tần Công luôn miệng nhắc tới đại lễ ở Phùng Trạch, than thở hôm đó trời không chiều lòng người, khiến mình không thể tới Phùng Trạch chứng kiến sự uy nghiêm của bệ hạ, lấy làm tiếc nuối!”
Ngụy Huệ Hầu nghe xong, khẽ thở dài một tiếng, nói: “Không giấu ái khanh, trong buổi đại lễ Phùng Trạch, quả nhân không thấy Tần Công tới, trong lòng cảm thấy bực bội. Giờ đây, xem ra quả nhân đã hiểu lầm Tần Công rồi! Việc mượn binh lần này, Tần Công có khước từ không?”
Trần Chẩn mặt tươi hớn hở: “Vi thần vừa nhắc tới chuyện này, Tần Công đã đồng ý ngay, nói rằng Tần là nước phụ thuộc Đại Ngụy, bệ hạ chỉ đâu thì đánh đó. Tần Công còn nói, nước Tần hiện có tám vạn binh mã, ngoài ba vạn trấn giữ ở phía tây, năm vạn còn lại sẽ nghe theo sự sai khiến của bệ hạ. Tần Công tức tốc phong Công Tôn Ưởng làm chủ tướng, Xa Anh làm phó tướng, muốn vi thần bẩm lên bệ hạ, hễ bệ hạ có chỉ, lập tức xuất binh!”
Ngụy Huệ Hầu không ngớt cảm khái: “Hay lắm, hay lắm! Tần Công hiểu được đại cục, quả thực hiếm có! Trần ái khanh, theo ý khanh, người Tần nên xuất binh lúc nào là thích hợp?”
“Vi thần cho rằng, tạm thời hãy để người Tần vượt Lạc Thủy, đóng quân ở Hà Tây, nhằm quan sát chiến cục Sơn Đông. Nếu Long tướng quân thắng trận, quân Tần không cần xuất binh. Ngộ nhỡ Long tướng quân gặp nguy khốn, có thể phái quân Tần về đông trợ chiến, một đòn định cục thế Sơn Đông!”
Ngụy Huệ Hầu gật gù nói: “Cứ làm theo lời tấu của ái khanh, chiếu lệnh cho người Tần vượt Lạc Thủy phía bắc! Lại chiếu lệnh cho quân trấn thủ Hà Tây, để họ tiếp đón quân Tần chu đáo!”
“Vi thần lĩnh chỉ!”
Khi chiếu mệnh của Ngụy Huệ Hầu tới phủ tướng quân Hà Tây, Công Tôn Diễn hai mắt chết trân, mặt cắt không còn hạt máu, chỉ muốn khóc rống lên thành tiếng.
Công Tôn Diễn quả thực không hiểu nổi vị vua hồ đồ này, dường như thiên hạ Đại Ngụy không phải là của ông ta. Mấy ngày qua, Công Tôn Diễn đã lao tâm khổ tứ, chỉnh đốn lại tuyến phòng thủ Lạc Thủy và Đại Lệ quan, cũng đã giải thích với Lã Giáp về chuyện xử chém quan lệnh Triệu Lập. Về chuyện Triệu Lập phạm quân luật, Lã Giáp trong lòng cũng thấy khó chịu, song ngoài mặt không dám nói ra. Tuyến phòng thủ vừa hơi khởi sắc chút ít, lại thình lình nhận được chiếu lệnh của Ngụy Huệ Hầu, khác nào mọi nỗ lực của Công Tôn Diễn đều đổ xuống sông xuống biển.
Tham mưu đứng hầu bên cạnh sốt ruột nhìn Công Tôn Diễn.
Hồi lâu, Công Tôn Diễn mới ngẩng đầu lên, thở dài một tiếng, rút lấy thanh bảo kiếm mà Bạch Khuê ban tặng, vuốt nhẹ ngón tay theo lưỡi kiếm.
Tham quân khẽ hỏi: “Tướng quân, chúng ta phải làm thế nào đây?”
Công Tôn Diễn khẽ lắc đầu, gượng cười mà nói: “Trời làm mất Hà Tây, trời lấy mạng Công Tôn Diễn, ngươi bảo ta phải làm sao đây? Triệu tập các tướng vào trại nghe lệnh, tuyên đọc chiếu chỉ mở cửa Đại Lệ quan, nghênh tiếp người Tần chiếm đoạt Hà Tây!”
Tham mưu kinh ngạc: “Tướng quân?”
Công Tôn Diễn lại thở dài: “Đi đi! Hà Tây đã là của người Tần, chúng ta có đánh hay không, cục diện vẫn là như vậy!”
Tham mưu tuân lệnh, lê bước chân nặng nề đi ra.
Sau khi chư tướng đã tề tựu đông đủ trong trại, Công Tôn Diễn đọc qua chiếu thư, ra lệnh cho tướng canh giữ Đại Lệ quan mới bổ nhiệm mở cửa quan đón Tần, cho phép quân Tần đóng trại bên ngoài trường thành giữa Đại Lệ quan và Lâm Tấn quan đợi lệnh, chờ chiếu chỉ xuống sẽ qua Lâm Tấn quan vượt Hà Thuỷ.
Truyền xong chiếu thư, Công Tôn Diễn chỉ giữ lại Lã Giáp và Trương Mãnh, khẽ thở dài một tiếng, chậm rãi nói: “Hai vị tướng quân trấn giữ Hà Tây đã lâu, bản thân cũng hiểu rõ người Tần. Nếu tại hạ đoán không lầm, người Tần hẳn là đang dùng kế Mượn đường diệt Quắc, mục đích thực sự của họ không phải là đông chinh, mà là thôn tính Hà Tây của ta!”
Lã Giáp hừ mũi một tiếng, nói: “Tướng quân dựa vào đâu mà nói vậy?”
Công Tôn Diễn biết hắn không phục, đành giải thích rõ: “Lã tướng quân, nếu quân Tần thực sự muốn đánh về đông, cớ gì phải vượt Lạc Thủy lên phía bắc? Họ hoàn toàn có thể men theo phía nam Lạc Thủy, qua Âm Tấn về đông, ra khỏi Hàm Cốc, đi theo đường cũ Hào Hàm, vì đó là con đường gần Đại Lương nhất. Song người Tần lại muốn vượt Lạc Thủy lên phía bắc, qua Lâm Tấn quan vượt Hà Thuỷ sang phía đông, chuyện này phải giải thích thế nào đây?”
Lã Giáp, Trương Mãnh đều là người tinh thông quân sự, chuyện này liếc qua đã hiểu ngay, bởi vậy đưa mắt nhìn nhau, chẳng ai nói được lời nào.
Công Tôn Diễn lại nhìn hai người: “Lã tướng quân, bệ hạ đã ban bố chiếu thư này, tuyến phòng thủ Lạc Dương không cần nói đến nữa. Trước mắt cần chú trọng tới trường thành, mong tướng quân tăng cường phòng thủ, chú ý nhất cử nhất động của người Tần.”
Lã Giáp đáp một tiếng thờ ơ, rồi nói: “Công Tôn tướng quân nếu không dặn dò gì thêm, mạt tướng cáo lui!” Rồi không đợi Công Tôn Diễn nói thêm lời nào, tự động đứng dậy, sải bước ra khỏi cửa phủ.
Trương Mãnh kinh ngạc, đang định gọi Lã Giáp lại, thì Công Tôn Diễn xua tay, khẽ thở dài một tiếng: “Cứ để hắn đi! Đánh cũng thế, mà không đánh cũng thế, trường thành chẳng hy vọng giữ được nữa rồi!”
Trương Mãnh đưa ánh mắt ngờ vực nhìn Công Tôn Diễn, hồi lâu mới nói: “Công Tôn tướng quân, tại hạ chỉ hỏi một câu, tướng quân thực sự cho rằng người Tần tới đây là có âm mưu cướp đoạt Hà Tây của ta?”
Công Tôn Diễn gượng cười: “Trương tướng quân, tin hay không, tướng quân cứ tự mình quan sát! Có điều, tại hạ chỉ muốn nói với tướng quân một câu, dù Hà Tây có mất, thì hai nơi Lâm Tấn quan và Âm Tấn cũng không được để mất! Nếu Âm Tấn bị mất, người Tần sẽ lập tức cắt đứt tuyến đường Hàm Cốc của ta; nếu Lâm Tấn quan bị mất, người Tần lập tức chiếm lĩnh bến đò Hà Thuỷ, cắt đứt Hà Tây, Hà Đông. Tại hạ rất hiểu tướng quân, sở dĩ giao một vạn quân cho tướng quân, là vì rất coi trọng tướng quân, hy vọng tướng quân có thể kiên trì giữ vững hai thành, làm nơi bàn đạp để Long tướng quân thu phục Hà Tây. Mong tướng quân hết sức cẩn trọng, nếu không, tại hạ và tướng quân sẽ thành tội nhân thiên cổ!”
Trương Mãnh trầm ngâm một lát rồi nói: “Thiếu Lương chỉ có năm nghìn quân trấn giữ, tướng quân…”
Công Tôn Diễn khẽ thở dài: “Bạch tướng quốc giao Hà Tây cho Long tướng quân, Long tướng quân lại giao cho tại hạ. Nếu để mất Hà Tây, dù có sống sót, tại hạ cũng còn mặt mũi nào gặp lại tướng quân đây? Còn mặt mũi nào cúng tế vong linh của Bạch tướng quốc đây?”
Trương Mãnh nghe những lời này, trong lòng xúc động, bái lạy sát đất, nghẹn ngào nói: “Tướng quân yên tâm! Chỉ cần mạt tướng còn chút hơi tàn, cũng quyết bảo vệ Âm Tấn, Lâm Tấn quan. Còn tướng quân, cũng chớ nên coi thường tính mạng. Mạt tướng thấy tướng quân là nhân tài của xã tắc, triều đình Đại Ngụy có thể thiếu mạt tướng, song không thể thiếu tướng quân. Dù thế nào, tướng quân cũng hãy vì xã tắc mà bảo trọng!”
“Tướng quân xin đứng dậy!” Công Tôn Diễn vô cùng cảm động, đỡ Trương Mãnh đứng lên, chậm rãi nói, “nghe được lời này của tướng quân, trong lòng Công Tôn Diễn đã được an ủi phần nào! Tướng quân cũng nên thận trọng, Thiếu Lương thành cao hào sâu, lương thảo sung túc, dân cư đông đúc, lại còn có năm nghìn lính giữ thành, Công Tôn Ưởng muốn giết tại hạ, cũng không phải dễ dàng!”
Trương Mãnh nắm chặt tay Công Tôn Diễn: “Tướng quân bảo trọng, mạt tướng cáo từ!”
Trương Mãnh cáo biệt Công Tôn Diễn, cùng với hai hộ vệ thúc ngựa rời khỏi thành, thẳng tiến tới Lâm Tấn quan. Đi được một đoạn, Trương Mãnh sực nhớ ra một việc, vội ghì ngựa quay trở lại, phi thẳng về hướng đông bắc. Ba người ra roi thúc ngựa, chẳng mấy chốc đã tới một trấn nhỏ.
Trấn này gọi là Trương Ấp, ở phía đông bắc Thiếu Lương, cách Thiếu Lương khoảng ba mươi dặm, có gần trăm hộ. Thời Ngụy Văn Hầu, thuộc hạ của Ngô Khởi là tham tướng Trương Hoan do có công lao nên được phong đất ở đây. Sau Trương Hoan, con trai ông là Trương Diệu tuy không giỏi võ nghệ, song lại thạo kinh doanh, trải qua hai mươi năm, đã gây dựng được một cơ ngơi bề thế với hàng trăm thửa ruộng, trở thành một trong những hộ giàu có bậc nhất ở Thiếu Lương. Trương Diệu qua đời, truyền lại gia nghiệp cho con trai Trương Báo. Trương Báo kế thừa tư chất của ông nội, sinh ra đã thích múa gươm khua giáo. Năm mười tám tuổi, cùng với anh em kết nghĩa Trương Mãnh hưởng ứng lệnh nhập ngũ, trở thành võ binh của Đại Ngụy. Mười tám năm trước, Hiến Công chinh phạt Hà Tây, Trương Mãnh là bách phu trưởng, Trương Báo là tham quân của tả quân. Tần Ngụy đại chiến, Trương Báo xả thân vì nước, Trương phu nhân đau đớn tuyệt vọng, đang định treo cổ tự vẫn đi theo Trương Báo, thì vừa hay đứa con trai mới năm tuổi Trương Nghi miệng gọi mẹ chạy vào. Nhìn thấy con trai, Trương phu nhân mới từ bỏ ý định tuẫn thân theo chồng, từ đó một lòng nuôi nấng Trương Nghi khôn lớn. Dòng họ Trương vốn giàu có, lại được Trương Mãnh quan tâm, nên cuộc sống khá đủ đầy. Hiện nay, đại chiến đã tới gần, Trương Mãnh sực nhớ tới Trương gia, có ý muốn tới nhắc nhở một tiếng.
Ba người Trương Mãnh phi ngựa thẳng tới Trương Ấp, dừng lại bên ngoài cửa trạch viện họ Trương. Trương Mãnh để hai hộ vệ đứng đợi ngoài cửa, còn mình vội vã bước vào trong. Nghe thấy tiếng vó ngựa từ xa, lão quản gia Trương bá tức tốc chạy ra nghênh đón, nhận ra Trương Mãnh, bèn quỳ xuống khấu đầu nói: “Lão nô khấu kiến Trương tướng quân!”
Trương Mãnh bước lên, đỡ lão quản gia dậy: “Trương bá, mau đứng dậy!”
Trương Mãnh kéo Trương bá dậy, nhìn khắp một lượt: “Phu nhân đâu?”
“Sáng sớm đã tới Thiếu Lương, nói là mời thầy về dạy Nghi Nhi!”
Trương Mãnh ngạc nhiên hỏi: “Sao lại mời thầy? Ông thầy lần trước đâu rồi?”
Trương bá khẽ lắc đầu, thở dài: “Thiếu gia làm gì có thầy nào dạy nổi? Không giấu tướng quân, ba năm qua, phu nhân ít nhất cũng đã thay đến bảy, tám thầy rồi, chẳng có ai trụ nổi lấy một tháng! Nghi Nhi không ai quản giáo, coi trời bằng vung, đừng nói là ẩu đả đánh lộn, thậm chí cả chuyện trèo tường dỡ ngói nhà người ta cũng dám làm. Phu nhân vì chuyện này ăn không ngon, ngủ không yên. Lần này, nghe nói An Ấp có một ông thầy mới tới Thiếu Lương, học vấn uyên thâm, phu nhân rất ngưỡng mộ, sáng sớm nay lại khăn gói đi mời! Trương tướng quân hãy vào phòng khách ngồi chờ một lát, phu nhân có lẽ cũng sắp về rồi!”
Trương Mãnh đang có việc, còn tâm trí đâu mà ngồi đợi, bèn vòng tay nói: “Tại hạ có việc gấp phải đi ngay, có lời này muốn nhờ Trương bá truyền lại với phu nhân.”
“Tướng quân cứ nói!”
“Người Tần sắp đánh Hà Tây!”
Trương bá sửng sốt: “Chẳng phải bệ hạ vừa kết minh với Tần sao?”
“Đó chỉ là kế che mắt của người Tần mà thôi. Trương bá, lẽ nào ông còn không hiểu người Tần?”
Trương bá gật đầu: “Không giấu tướng quân, nghe nói Ngụy kết minh với Tần, Hà Tây ai cũng hoan hỷ, riêng già này luôn cảm thấy bất an. Hôm nay nghe tướng quân nói vậy, coi như đã sáng tỏ rồi. Xin hỏi tướng quân, lúc nào người Tần đánh tới?”
“Ngày nào thì chưa rõ, nhanh thì dăm ba ngày, mà chậm cũng không quá mươi, mười lăm hôm. Ông hãy nói lại với phu nhân, để phu nhân biết trước mà phòng bị!” Trương Mãnh nói xong, quay người cáo từ.
Trương bá nhìn theo một đoạn, quay trở vào trong sân, dựa lưng ngồi xuống một gốc cây, trầm tư suy nghĩ về biến cố trọng đại này. Ngẫm nghĩ một hồi, Trương bá vẫn chưa tìm ra cách nào, nghe thấy tiếng xe ngựa bên ngoài vọng lại, biết là Trương phu nhân đã về, Trương bá vội vã gọi mấy kẻ hầu lại, xếp hàng đón sẵn ở cửa.
Đám Trương bá vừa sắp xếp xong, xe của Trương phu nhân đã tới trước cổng. Kẻ hầu đã kê sẵn tấm gỗ giẫm chân, Trương phu nhân bước xuống xe, quay người lại, cung kính vái một vái dài vào trong xe, mỉm cười nói: “Tiên sinh, đã tới hàn xá, xin mời!”
Từ trên xe bước xuống một tiên sinh tầm tuổi trung niên. Tiên sinh sau khi đứng vững, cung kính đáp lễ Trương phu nhân: “Phu nhân, mời!”
Trương phu nhân và tiên sinh cùng bước vào cửa viện, tới sảnh đường, cùng ngồi xuống. Trương phu nhân chỉ Trương bá, nói với tiên sinh: “Đây là Trương bá, mọi việc lớn nhỏ trong nhà đều do một mình Trương bá lo liệu. Tiên sinh cần gì, cứ nói với Trương bá!”
Tiên sinh nhìn sang Trương bá, vòng tay cung kính: “Tại hạ xin chào lão quản gia, mọi việc từ nay về sau, còn nhờ lão quản gia giúp đỡ!”
Trương bá đáp lễ, nói: “Lão nô sẵn sàng hầu hạ tiên sinh!”
Trương phu nhân liếc mắt một vòng, quay sang Trương bá hỏi: “Nghi Nhi đâu?”
“Ăn sáng xong, thiếu gia đã đi đâu mất cùng với hai thằng nhỏ rồi, có lẽ cũng sắp về.”
Trương phu nhân khẽ chau mày, lắc đầu nói: “Nó mà tự về thì mặt trời mọc ở đằng tây. Trương bá, ông mau đi tìm, nói với nó rằng ta có việc gấp, gọi nó về ngay!”
Trương bá “vâng” một tiếng, bước ra khỏi cửa.
Nhìn theo bóng Trương bá vội vã chạy ra khỏi viện, Trương phu nhân thở dài một tiếng, hướng sang tiên sinh, cười buồn mà nói: “Nói ra tiên sinh chớ cười, cha của Nghi Nhi mất sớm, bỏ lại chúng tôi mẹ goá con côi. Vốn chỉ mong thằng bé được nên người, song tính khí của nó chẳng ai dạy dỗ nổi, từ sáng tới tối toàn gây chuyện phá phách, khiến ai cũng khiếp vía. Không giấu tiên sinh, trước tiên sinh, dân phụ đã mời về rất nhiều thầy, nhưng chẳng ai trụ nổi. Mong tiên sinh bớt chút sức lực dạy dỗ nó. Chỉ cần nó tiến bộ, dân phụ nguyện trả tiền công gấp đôi!”
Tiên sinh vội nói: “Chuyện của lệnh công tử, tại hạ đã nghe nói tới. Phu nhân yên tâm, khi ở An Ấp, con nhà ai bất luận nghịch ngợm tới đâu, chỉ cần tại hạ xuất hiện, chúng đều ngoan ngoãn nghe lời. Nếu không dạy nổi lệnh công tử, tại hạ đã không dám tới!”
Trương phu nhân lập tức vòng tay vái dài: “Nếu được như vậy, tiên sinh chính là có ân tái sinh với Nghi Nhi, dân phụ nhất định sẽ hậu đáp!”
Trương bá ra khỏi cửa, chưa đi được vài bước đã nhìn thấy một thằng hầu thở hổn hển chạy về. Trương bá chặn nó lại hỏi: “Tiểu Thuận, thiếu gia đâu?”
Tiểu Thuận dừng lại, vừa thở vừa nói: “Bẩm lão quản gia, nguy rồi!”
“Nguy gì, nói mau!”
“Thiếu gia và tiểu nhân đang chơi ở trong rừng phía tây thì thấy có kẻ dẫn theo hơn chục người tới, nói rằng muốn gặp thiếu gia. Tiểu nhân nhìn thấy tình thế bất thường, mới lén bỏ chạy về gọi người tới cứu!”
Trương bá nghi hoặc: “Các ngươi chơi gì ở trong rừng?”
Tiểu Thuận ngần ngừ một lát: “Không… không chơi gì cả! Thấy trên cành cây có một tổ ong vò vẽ lớn, thiếu gia suy tính đã mấy ngày nay, hôm nay định bụng gỡ xuống, còn chưa kịp gỡ, bọn người kia đã…”
Trương bá thở hắt ra một hơi: “Thiếu gia hiện ở đâu?”
Tiểu Thuận chỉ về phía xa: “Thiếu gia… họ đã đi tới bãi đập lúa rồi!”
Trương bá không nói thêm lời nào, cắm cổ chạy thẳng tới bãi đập lúa, Tiểu Thuận bám sát theo sau, giọng khẩn cầu: “Lão quản gia, bọn chúng đông người lắm, để tiểu nhân đi gọi thêm vài người, không thể để thiếu gia bị bắt nạt!”
Trương bá trừng mắt nhìn Tiểu Thuận: “Các ngươi quậy phá như thế chưa đủ, còn muốn gây thêm phiền phức cho phu nhân nữa ư?”
Tiểu Thuận sợ rúm người lại: “Tiểu nhân không dám!”
Tiểu Thuận lật đật chạy theo sau Trương bá, hướng về phía bãi đập lúa.
Khi hai người tới nơi, trên bãi đập lúa, người xem đã quây kín thành vòng, cười nói ồn ào. Ở chính giữa bãi đập lúa, hai thanh niên phục sức sang trọng đang hằm hè nhìn nhau, vẻ không ai chịu nhường ai. Người mặc áo trắng là Trương Nghi, còn người kia mặc áo tía, không biết là người ở đâu, song nhìn vào cách ăn mặc, có thể đoán người này cũng là công tử giàu có, lai lịch hẳn cũng không vừa. Phía sau hắn là hơn chục người hầu cao to lực lưỡng, mặt mũi bặm trợn, nhìn qua đã biết đứng đó để sẵn sàng ứng chiến.
Hai người hằm hè nhìn nhau một lát thì bắt đầu đi vòng tròn thăm dò. Đi được ba vòng, hai người đồng thời dừng lại, không hẹn mà gặp cùng lùi lại một bước, mắt nhìn đối phương chằm chằm không chớp.
Trương Nghi vẻ mặt khinh miệt, song lại vòng tay hành lễ, thủng thẳng nói: “Người anh em từ xa tới, tại hạ Trương Nghi có lời chào!”
Người mặc áo tía cũng vòng tay: “Tại hạ Ngô Thanh người Thiếu Lương, nghe nói Trương công tử văn võ song toàn, chấn động bốn biển, Ngô mỗ bất tài, tới xin chi giáo!”
“Ngô công tử quá lời rồi! Ngô công tử từ vùng đất lớn tới, nơi đây hoang vu hẻo lánh, nếu tại hạ tiếp đãi có gì sơ suất, mong Ngô công tử lượng thứ!”
“Trương công tử, chúng ta không vòng vo nhiều lời nữa. Bản công tử đã tới thỉnh giáo, mời Trương công tử ban chiêu!”
“Ngô công tử từ xa tới, tại hạ đương nhiên chủ chiều theo khách, muốn thỉnh chiêu nào, mong Ngô công tử lên tiếng. Cầm kỳ thi họa, cưỡi ngựa bắn cung, đánh xe săn bắn, thương đao kiếm kích, người anh em đây muốn chọn thứ nào, tại hạ xin sẵn sàng bồi tiếp.”
Ngô Thanh cười khẩy một tiếng: “Được! Trương công tử võ nghệ cao siêu, gan dạ can đảm, tại hạ cũng không khách khí!”
Trương Nghi cười hề hề nói: “Ngô công tử, xin ra đề!”
Ngô Thanh quay sang tên hầu: “Mang cung tên lại đây!”
Đã có người chuẩn bị sẵn cung tên, Ngô công tử đón lấy, lắp một mũi tên, hướng về phía hai con chim sẻ đang đậu trên đống rơm lúa mạch bên ngoài bãi đập trăm bước, nói khẽ: “Trương công tử, nhìn con bên trái!” Lời nói vừa dứt, mũi tên đã bay vụt đi, con chim sẻ bên trái lập tức rơi xuống, con bên phải hoảng hốt đập cánh bay đi.
Đám đông tận mắt nhìn thấy, reo hò không ngớt.
Ngô công tử đưa cung tên cho Trương Nghi, mỉm cười: “Trương công tử, mời!”
Trương Nghi cười cười, từ chối cung tên, lấy từ trong ống tay áo ra một chiếc ná, lắp sỏi, kéo căng dây, chờ một lát, thấy một bầy chim sẻ từ xa bay lại, sắp lướt qua đỉnh đầu, liền nói: “Ngô công tử, nhìn con cuối cùng!” Lời vừa dứt, hòn sỏi bay vụt đi. Quả nhiên con chim sẻ cuối cùng rớt xuống, lăn lông lốc trên đất, lại lăn tới đúng trước mũi chân Ngô công tử thì dừng lại.
Đám đông trợn mắt kinh ngạc, nhất thời chết lặng. Đợi đến khi con chim sẻ giãy giụa một hồi rồi nằm im bất động, đám đông mới hò reo vang dậy như sấm.
Ngô công tử bàng hoàng, liếc nhìn con chim sẻ chết lăn dưới đất, vòng tay nói: “Trương công tử tài nghệ cao siêu, tại hạ kính phục!”
Trương Nghi cũng vòng tay nói: “Tài thiện xạ của Ngô công tử cũng thật tuyệt, tại hạ và công tử kẻ tám lạng người nửa cân!”
Ngô công tử đảo con ngươi một vòng, lập tức vòng tay nói: “Trương công tử khách khí, tại hạ thực sự khâm phục! Nghe nói Trương công tử kỳ nghệ cao siêu, tại hạ muốn lĩnh giáo, không biết Trương công tử có chịu chỉ giáo chăng?”
Trương Nghi đáp: “Đương nhiên rồi. Tại hạ vừa nãy đã nói, cầm kỳ thi họa, cưỡi ngựa bắn cung, tại hạ xin chiều theo ý khách!”
Ngô công tử quay sang tên hầu: “Bày cờ!”
Phía sau lập tức bước ra hai thằng hầu, bày bàn cờ ngay tại chỗ. Ngô công tử cầm quân đen đi trước, Trương Nghi cầm quân trắng đối trận. Hai người hạ cờ vùn vụt, loáng cái hơn chục quân đã rời khỏi bàn, thế cờ đến hồi quyết liệt. Trương Nghi bỏ luôn năm quân bên trái, tập trung bao vây một con rồng lớn của quân đen giữa bàn cờ. Ngô công tử không biết là mưu kế, tới khi nhận ra, đã hết nước cứu vãn. Tận mắt thấy con rồng sống mà vô vọng, Ngô công tử đành cúi đầu nhận thua.
Trương Nghi đứng dậy, khẽ vái mà nói: “Ngô công tử nhận thua, tại hạ may mắn mà thắng, thật đáng hổ thẹn!”
Ngô công tử vốn kỳ nghệ cao cường, ở Thiếu Lương hiếm ai địch nổi, hôm nay thất bại, lại bị Trương Nghi châm chọc, mặt đỏ phừng phừng, đảo mắt nhìn một vòng, thấy ở bên cạnh có một trục lăn lúa dài bằng đá mà người nông dân thường dùng để nghiền lúa mạch, to cỡ thùng nước, trong lòng bỗng nảy ra một ý, bèn đứng dậy ôm quyền mà nói: “Cầm kỳ thi họa, cưỡi ngựa bắn cung tuy là thời thượng, song chỉ là tài vặt, không phải là công phu thực sự!”
Trương Nghi cười khẩy: “Đã nói như vậy, mời người anh em cho xem công phu thực sự thế nào!”
Ngô công tử mỉm cười: “Thiên hạ ngày nay, chỉ nhờ vào thực lực, chúng ta hãy thử so thực lực xem sao?”
Trương Nghi liếc nhìn Ngô công tử, thấy khổ người hắn cũng tương đương với mình, bèn dõng dạc nói: “Được! Nhưng thực lực phải so như thế nào, còn cần Ngô công tử nói rõ.”
Ngô công tử chẳng nói chẳng rằng, chạy thẳng tới phía trước trục lăn lúa, xắn ống tay áo, hai tay nắm chặt hai cán ở hai đầu trục, “hự” một tiếng thật lớn, nhấc bổng lên, rồi nâng hẳn lên cao, đặt lên vai phải, quay sang Trương Nghi: “Trương công tử, xem này!”
Ngô công tử vác trục lăn lúa trên vai, cứ thế chậm rãi đi vòng quanh bãi đập lúa. Đám người hầu của hắn và người xem reo hò cổ vũ như sấm động, có người còn đếm số vòng di chuyển, không khí trên bãi đập náo nhiệt khác thường.
Nhìn thấy vậy, Trương bá khẽ chau mày, liếc sang Trương Nghi, thấy Trương Nghi trợn tròn hai mắt, đứng ngây tại chỗ. Tiểu Thuận mặt mày biến sắc, thì thào với Trương bá: “Lão quản gia, gọi thiếu gia về đi!”
Trương bá lắc đầu: “Giờ gọi thiếu gia về, đời nào cậu ấy chịu?”
Khi mọi người đếm được ba mươi vòng, Ngô công tử vác trục lăn lúa tới trước mặt Trương Nghi, thở đánh “phù” một tiếng, rồi hạ trục lăn lúa xuống đất, sắc mặt có hơi thay đổi, tiếng thở có hơi hổn hển, song xem ra vẫn chưa vận hết sức. Rõ ràng, tuy Ngô công tử vóc hình không thật tráng kiện, song sức khoẻ quả thật kinh người. Thấy Trương Nghi mặt mày biến sắc, Ngô công tử vỗ tay vài cái, cười nói: “Trương công tử, mời!”
Tỏ ra kém thế trước chốn đông người hiển nhiên không phải là tính cách của Trương Nghi. Nhìn thấy Ngô công tử chiếm thế thượng phong, Trương Nghi cũng đánh liều một phen, lập tức nhổ một bãi nước bọt vào lòng bàn tay, vận động tay chân vài cái, cúi gập lưng xuống, mỗi tay nắm chắc một bên cán để ước lượng, trong lòng chợt thấy hơi căng thẳng. Tuy nhiên, sự việc đã tới nước này, cũng chẳng thể làm gì khác được, bèn hét to một tiếng, nghiến răng kèn kẹt, gắng hết sức bình sinh nhấc bổng trục lăn lúa lên cao quá đầu.
Trong tiếng reo hò cổ vũ của người xem, Trương Nghi đặt trục lăn lúa lên vai, cũng đi vòng quanh giống Ngô công tử. Người xem hò la ầm ĩ, đồng thanh đếm số vòng: “Một vòng, hai vòng, ba vòng, bốn vòng…”
Trương bá trong lòng lo lắng, lách đám đông chen lên phía trước, nhìn Trương Nghi không chớp mắt. Khi mọi người đếm tới vòng thứ mười, Trương Nghi đã mồ hôi như mưa, mặt đỏ phừng phừng, quai hàm nghiến chặt, chật vật lê từng bước về phía trước.
Nhìn thấy tình thế nguy cấp, Trương bá lao vụt tới phía sau Trương Nghi, hai tay đỡ lấy trục lăn lúa, quát lớn: “Nghi Nhi, buông ra ngay!”
Trương Nghi cũng không dám cố, vội vã bỏ tay ra, hai chân mềm oặt, ngồi phịch xuống đất. Trương bá nghiến răng đỡ lấy trục lăn lúa, Tiểu Thuận và một thằng hầu khác cũng chạy lại, ba người hợp sức hạ trục lăn lúa xuống đất.
Ngô công tử tiến lại, cười hỉ hả mà nói: “Trương công tử, có cần tại hạ giúp một tay không?”
Lời vừa nói dứt, Trương Nghi đã nhảy dựng lên như con cá chép, đứng phắt dậy. Ngô công tử bắt chước giọng điệu của Trương Nghi sau khi thủ thắng, ôm quyền mà nói: “Trương công tử khiêm nhường, tại hạ may mắn mà thắng, thật đáng hổ thẹn!”
Trương Nghi cũng ôm quyền nói: “Thần lực của Ngô công tử, tại hạ bái phục! Tiếp theo, nếu còn muốn tỉ thí, xin Ngô công tử ra đề!”
Ngô công tử đã biết bản lĩnh của Trương Nghi, nếu tiếp tục thi thố, ắt không thể chiếm thế thượng phong, bèn ôm quyền mà nói: “Được Trương huynh nhường nhịn, trận đấu hôm nay coi như đã hoà. Tại hạ có việc phải về Thiếu Lương, Trương công tử nếu muốn phân thắng thua, hãy tới Ngô phủ phố Đông Nhai tại Thiếu Lương tìm tại hạ, tại hạ lúc nào cũng cung kính chờ đợi!”
Trương Nghi cũng ôm quyền nói: “Được! Một tháng sau, tại hạ nhất định sẽ tới Thiếu Lương thăm đáp lễ Ngô công tử! Có điều, nếu tới Thiếu Lương, bản công tử xin được ra đề!”
Ngô công tử sững lại, ngẫm nghĩ một lúc, rồi cười nói: “Đương nhiên rồi. Dám hỏi công tử có dự tính gì?”
Trương Nghi cười cười nói: “Công tử đã có lời hỏi, tại hạ cũng xin nói trước với công tử, chẳng có gì phải ngần ngại!” Rồi đưa chân giẫm lên trục lăn lúa, “chính là cái cục đá này, thể thức thi đấu vẫn như cũ!”
Ngô công tử cười ha hả: “Hay, hay, hay! Trương công tử quả là hảo hán, tại hạ khâm phục!” Nói xong, dẫn đám người hầu nghênh ngang bước đi.
Thấy Ngô công tử đã đi xa, Trương bá vội chạy lại: “Thiếu gia, lưng có sao không?”
“Không sao!” Trương Nghi ngạc nhiên, “Trương bá, sao ông lại tới đây?”
“Phu nhân có việc, mời thiếu gia về ngay!”
Trương Nghi gật đầu, nhìn sang hai thằng hầu, quát: “Các ngươi lại đây!”
Tiểu Thuận và thằng hầu kia vội vã chạy lại: “Thiếu gia có gì sai bảo?”
Trương Nghi chỉ vào trục lăn lúa: “Khiêng vật này về nhà cho ta!”
Hai người xắn tay áo, mỗi người cầm một bên cán trục, lặc lè khiêng đi.
Trong chính đường Trương gia, Trương phu nhân vẫn đang ngồi nói chuyện với tiên sinh. Tiên sinh bắt đầu bồn chồn sốt ruột, Trương phu nhân cũng chẳng nhập tâm, tuy miệng nói, song tai vẫn nghe ngóng ngoài cửa.
Một lát sau, từ xa vọng lại tiếng xuýt xoa của Trương Nghi. Trương phu nhân ngạc nhiên, đứng dậy bước ra sân, đang định đi ra cổng xem có chuyện gì thì Trương bá đã dìu Trương Nghi vào trong cửa.
Trương phu nhân nhìn Trương Nghi kinh ngạc, ngẩn ra một lúc mới hỏi: “Nghi Nhi, con làm sao vậy?”
Lời vừa dứt, bọn Tiểu Thuận cũng đã bước vào, miệng thở hồng hộc, khiêng trục lăn lúa vào trong sân thả đánh “uỳnh” xuống đất.
Trương bá đỡ Trương Nghi ngồi xuống chiếc ghế dài, hai tay liên tục đấm bóp vai và lưng cho hắn. Trương Nghi luôn miệng rên rẩm, thở ngắn than dài ầm ĩ.
Tiên sinh thấy ngoài sân ồn ào, biết là học trò đã về, vội vã bước ra, đứng trên bậc cửa nhìn Trương Nghi. Trương Nghi thoáng nhìn qua, đã hiểu ngay là chuyện gì, lại càng rên rẩm dữ hơn nữa.
Trương phu nhân xót con, lại xoa đầu hắn vỗ về: “Nghi Nhi con ơi, chuyện này là thế nào?”
Trương Nghi nhắm tịt mắt, càng làm mình làm mẩy, rên lên hừ hừ: “Mẹ ơi, đau chết mất thôi! Trương bá, khẽ thôi, đấy, đấy, chỗ đấy, nhẹ hơn chút nữa đi, hừ hừ…”
Trương phu nhân quay sang Tiểu Thuận, nghiêm giọng hỏi: “Xảy ra chuyện gì? Có phải lại đi đánh nhau với người ta không?”
Tiểu Thuận quỳ thụp xuống: “Bẩm phu nhân, thiếu gia thi đấu tài nghệ với người ta ở bãi đập lúa, nâng…”
Chữ “nâng” vừa thốt ra, Trương Nghi đã ngưng ngay rên la, quắc mắt nhìn Tiểu Thuận quát lớn: “Cút… ra kia!”
Tiểu Thuận nhìn sang Trương phu nhân, thấy phu nhân cũng đang nghiêm khắc nhìn mình, lại định mở miệng thì Trương Nghi đã đứng bật dậy, co chân đạp mạnh vào mông hắn một cái: “Bảo ngươi cút ra kia, còn không đi mau!”
Tiểu Nhuận run bắn, vội lồm cồm bò dậy, chạy ra khỏi cửa, song cũng không dám đi xa, tay ôm mông đứng tựa vào khung cửa.
Thấy Trương Nghi không sao, Trương phu nhân chau tít đôi mày, quay sang nói với Trương bá: “Trương bá, cứ mặc kệ thiếu gia! Đã nói đừng có khoe sức mà không chịu nghe, giờ chịu đau một chút cũng là đáng đời!” Rồi quay sang Trương Nghi, “Nghi Nhi, lại đây, mẹ vừa mời thầy về cho con, mau vào trong dập đầu bái thầy đi!”
Trương Nghi thôi rên la, hất tay Trương bá ra, hai mắt khép hờ, lừ lừ tiến lại trước mặt tiên sinh, chẳng nói chẳng rằng, đi quanh tiên sinh ba vòng, hết đảo mắt sang trái lại sang phải, quan sát đối phương từ đầu tới chân, mắt nhìn chằm chằm khiến tiên sinh nổi da gà.
Đi hết ba vòng, Trương Nghi ngửa cổ lên cười một tràng rồi nói: “Tiên sinh, muốn bản thiếu gia dập đầu không khó, chỉ phiền tiên sinh làm cho một việc!”
Tiên sinh biết đây là ra đòn ra oai, mỉm cười mà nói: “Thiếu gia, mời!”
Trương Nghi vẫy tay về phía Tiểu Thuận đang đứng bên cửa: “Tiểu tử kia, lại đây, biểu diễn cho tiên sinh xem!”
Tiểu Thuận vội chạy lại: “Thiếu gia, biểu diễn gì đây?”
Trương Nghi chỉ vào trục lăn lúa, chửi ầm lên: “Đừng giả ngây nữa! Mau biểu diễn lại pha nâng vác lúc nãy của bản thiếu gia!”
Tiểu Thuận biết là không còn cách nào khác, đành tiến tới phía trước trục lăn lúa, bắt chước Trương Nghi nhổ nước bọt vào lòng bàn tay, mỗi tay nắm chặt một bên cán trục, rống lên một tiếng thật lớn, rồi gồng mình gắng sức nhấc lên, cả người loạng choạng, suýt nữa ngã nhào. Thằng hầu kia thấy vậy, vội chạy lại đỡ.
Tiểu Thuận cố gắng đứng vững, đặt trục lăn lúa lên vai, chỉ dám bước vài bước là dừng lại, quăng đánh “rầm” xuống đất, khiến cả một khoảnh sân rúng động. Tiểu Thuận mất đà, ngã bổ chửng ra phía sau.
Trương Nghi cười ầm ĩ, gật đầu tán thưởng: “Nhóc con giỏi lắm, không ngờ ngươi cũng hăng máu gớm! Đứng dậy đi, tối nay, bản thiếu gia sẽ thưởng cho ngươi hai cái phao câu gà!”
Tiểu Thuận liếm mép, lổm cổm bò dậy.
Trương Nghi quay đầu lại, nhìn tiên sinh, lừ lừ chỉ tay vào trục lăn lúa: “Tiên sinh đã nhìn rõ rồi chứ? Làm theo thằng nhóc kia, nhấc lên, đặt trên vai, vác đi vòng quanh gốc cây này ba mươi vòng. Chỉ cần tiên sinh đi đủ số vòng, bản thiếu gia lập tức dập đầu. Nếu như thiếu một vòng thì…” Trương Nghi dừng lại nửa chừng, bật cười ha hả.
Tiên sinh tuy kiến thức sâu rộng, cũng khó tránh khỏi lúng túng, đứng ngẩn tò te một lát, rồi giận dữ nói với Trương phu nhân: “Đây là hành vi của kẻ lỗ mãng, tại hạ dù gì cũng là văn nhân, làm sao…”
Trương phu nhân còn chưa kịp lên tiếng, Trương Nghi đã cười nhạt cắt ngang: “Được, tiên sinh là văn nhân, hẳn là học vấn uyên bác. Tiên sinh có kiến thức gì, nói ra nghe thử xem!”
Tiên sinh thấy Trương Nghi hỏi về học vấn, tinh thần phấn chấn hẳn lên, đầu lắc lư mà nói: “Được, thiếu gia nghe đây! Học vấn bách gia, tại hạ không gì không biết; cầm kỳ thi họa, không nghề gì không hay!”
“Tiên sinh có biết ‘Thi’ không?”
Tiên sinh càng tỏ ra đắc ý, cười vang mà nói: “Tại hạ tám tuổi đã đọc, mười tuổi đã thuộc làu.”
“Đã nói như vậy, tiên sinh thử đọc một bài xem sao!”
Tiên sinh ngẫm nghĩ một thoáng, ngẩng đầu hỏi: “‘Thi’ ba trăm bài, không biết thiếu gia thích bài nào?”
“Tiên sinh thuộc bài nào thì đọc bài đó!”
Tiên sinh trầm ngâm, thấy thằng oắt này ăn nói ngông cuồng, không thể để hắn xem thường, tạm đọc một bài vậy. Rồi khép mắt lại, đặng hắng lấy giọng, bắt đầu ngâm nga: “Cỏ nào không vàng úa, ngày nào chẳng lên đường? Người nào không bận rộn, ngang dọc khắp bốn phương, cỏ nào không xơ xác? Người nào không đơn côi? Thương ta thân chinh chiến, chẳng được giống con người. Không phải hổ, tê giác, kéo nhau đến đồng hoang. Thương ta thân chinh chiến, chiều tối chẳng an nhàn. Có con cáo lông xù, theo đám cỏ âm u. Có cỗ xe ngất ngư, đi theo con đường lớn.”(2)
Trương Nghi nghe xong, cười khinh khỉnh: “Tiên sinh đọc tuy không sai một chữ, song cũng chẳng nhằm nhò gì. Bản thiếu gia cũng đọc một lượt, tiên sinh nghe thử nhé: “Lớn đường con theo đi, ngư ngất xe cỗ có. U âm cỏ đám theo, xù lông cáo con có. Nhàn an chẳng tối chiều, chiến chinh thân ta thương. Hoang đồng đến nhau kéo, giác tê hổ phải không. Người con giống được chẳng, chiến chinh thân ta thương. Côi đơn không nào người, xác xơ không nào cỏ. Phương bốn khắp dọc ngang, rộn bận không nào người. Đường lên chẳng nào ngày, úa vàng không nào cỏ…”
Tiên sinh trợn mắt kinh ngạc: “Thiếu… thiếu gia có thể đọc… đọc ngược lưu loát vậy ư?”
Trương Nghi cười ha hả, bắt chước đúng giọng điệu của tiên sinh: “Tại hạ ba tuổi đọc ‘Thi’, sáu tuổi đã đọc ngược lưu loát, mười lăm tuổi tinh thông học vấn bách gia. Còn cầm kỳ thi họa, vẫn cần tiên sinh chỉ bảo từng thứ một.”
Tiên sinh nghe mà phục sát đất: “Tại… tại hạ… không dám!”
Trương Nghi giễu cợt: “Đã không dám, còn không dập đầu bái thầy, theo bản thiếu gia học vài năm?”
Tiên sinh xấu hổ, ngượng tím mặt: “Ngươi… đúng là tên tiểu tử ngông cuồng!”
Nói xong, giậm mạnh chân một cái, hằm hằm bước ra khỏi cửa.
Trương phu nhân vội vã đuổi theo, cất tiếng gọi: “Tiên sinh! Tiên sinh!”
Trương Nghi nhìn theo bóng tiên sinh xa dần, tựa như trút được gánh nặng, bật cười khoái trá.
Trương phu nhân đuổi theo một đoạn, thấy tiên sinh đã đi khuất, thở dài sườn sượt, quay trở về nhà. Bước vào trong cổng, nhìn thấy Trương Nghi đứng nghênh ngang đắc chí ở đó, thì tức nghẹn họng, trừng mắt nhìn hắn một cái, rồi phất ống tay áo bước vào nhà. Trương bá trong lòng có chuyện, đứng bần thần một lúc, cũng bước vào theo.
Trương phu nhân trở về phòng, khoanh chân ngồi xuống, nhìn đăm đăm vào bức chân dung của phu quân treo trên tường, càng nhìn càng đau lòng. Hai mắt cay xè, bất giác trào lệ.
Trương phu nhân đang buồn bã, nghe thấy tiếng bước chân bên ngoài, vội đưa ống tay áo lên lau nước mắt, quay người nhìn ra cửa sổ. Trương bá bước vào, thấy phu nhân hai mắt đỏ hoe, bèn tiến lên một bước, quỳ xuống, nghẹn ngào: “Phu nhân, là lão nô vô dụng, không thể hầu hạ tốt thiếu gia!”
Trương phu nhân quay lại, gượng cười: “Trương bá, ông nói những lời đó có ích gì? Mau đứng dậy đi!”
Trương bá đứng dậy, lom khom đứng sang một bên. Trương phu nhân chỉ vào chỗ ngồi đối diện: “Trương bá, ngồi đi!”
Trương bá vẫn khom lưng đứng đó: “Lão nô không dám! Phu nhân đừng đau buồn quá, xin hãy bảo trọng ngọc thể!”
Trương phu nhân thở dài: “Trương bá, ông cũng thấy rồi đó! Thằng Nghi này… theo ông thì…”
“Khởi bẩm phu nhân, theo ý kiến lão nô, Nghi Nhi đã đủ lông cánh, Trương Ấp lại quá chật hẹp, e rằng sẽ trói buộc tiền đồ của Nghi Nhi. Hơn nữa…” Trương bá định nói, song lại ngập ngừng.
“Trương bá, cứ nói đi đừng ngại!”
“Mấy ngày nay, Long tướng quân đích thân dẫn đại quân vượt qua Hà Thuỷ, phụng chiếu đông chinh. Long tướng quân đi rồi, Hà Tây không còn ai canh giữ. Tuy nói rằng hiện giờ Tần Ngụy hoà thuận, song trong lòng lão nô vẫn thấy bất ổn. Không giấu phu nhân, lão nô cảm thấy người Tần không đáng tin, Hà Tây có lẽ sắp bị đánh rồi!”
Trương phu nhân sửng sốt: “Ý ông là, người Tần sắp đánh Hà Tây?”
Trương bá gật đầu.
Trương phu nhân trầm ngâm một lát, rồi lắc đầu nói: “Không thể nào! Hôm nay ta tới Thiếu Lương, nghe nói người Tần muốn xuất binh vì bệ hạ, nói là chinh phạt Sơn Đông, muốn ta chuẩn bị lương thảo.”
Trương bá nghe vậy, đành nói thực: “Không giấu phu nhân, tướng quân Trương Mãnh hôm nay đã tới đây!”
Trương phu nhân ngạc nhiên: “Sao? Là Trương tướng quân nói vậy ư?”
Trương bá lại gật đầu.
Trương phu nhân trong lòng căng thẳng: “Trương tướng quân nói thế nào?”
“Trương tướng quân nói, bệ hạ đã bị lừa phỉnh. Tần Ngụy kết liên minh chỉ là giả, đánh chiếm Hà Tây mới là thực. Trương tướng quân còn nói, người Tần không những muốn đánh, mà còn muốn chiến sự diễn ra lập tức, nhanh thì dăm ba hôm, chậm thì mươi mười lăm hôm. Trương tướng quân dặn lão nô bẩm báo với phu nhân để sớm chuẩn bị. Lão nô vốn không định nói hết, vì sợ phu nhân lo lắng…”
Trương phu nhân cúi đầu, trầm ngâm suy nghĩ, hồi lâu mới ngẩng lên nói: “Trương bá, theo ý ông, chúng ta nên chuẩn bị những gì?”
“Nước mất nhà tan, tổ rớt há còn trứng lành? Lão nô đã nghĩ kỹ rồi, cũng chẳng phải chuẩn bị gì cả. Nhà cửa, ruộng vườn, đều không thể chuyển đi, lão nô…”
Thấy Trương bá ngập ngừng không nói, Trương phu nhân tiếp lời: “Trương bá, ta đã hiểu rồi. Ý ông là, nhà cửa, ruộng vườn đều không thể chuyển đi, song người có thể đi!”
“Lão nô cũng nghĩ vậy. Lão nô đang tính, phu nhân và Nghi Nhi hãy tạm thời đi lánh nạn, ngày mai lập tức lên đường. Mọi việc trong nhà, cứ để lão nô lo liệu!”
Bầu không khí chùng hẳn xuống. Một lát sau, Trương phu nhân ngẩng đầu lên nói: “Vừa nãy, Trương bá nói rất có lý, Nghi Nhi đã đủ lông đủ cánh, có lẽ cũng nên cho nó đi học chút bản lĩnh thực sự! Trương bá, theo ông, Nghi Nhi nên tới đâu học?”
Trương bá ngẫm nghĩ một lát: “Lão nô cho rằng, hãy để Nghi Nhi tới Chu thất. Chu thiên tử tuy đã suy vi, song vẫn là thiên tử. Có câu nói, Dưới chân thiên tử, tất có kỳ nhân. Nếu Nghi Nhi tới đó, ắt có kỳ nhân dạy dỗ.”
Trương phu nhân gật đầu: “Hay lắm! Nghi Nhi từ nhỏ không biết phép tắc, tới Thái học viện của Thiên tử học chút lễ nghi, có lẽ sẽ nên người! Trương bá hãy thu xếp, tối nay tế lễ tổ tiên, sáng mai đưa Nghi Nhi lên đường!”
Trương bá ngạc nhiên: “Phu nhân không đi ư?”
Trương phu nhân lại nhìn chân dung của Trương Báo, chậm rãi nói: “Hãy mau đi chuẩn bị! Còn chiến sự, đừng nói với Nghi Nhi!”
Trương bá biết phu nhân không nỡ rời xa lão gia, chẳng biết khuyên gì, đành gật đầu cáo từ.
Vào giờ Nhân định, trong từ đường Trương gia đèn thắp sáng trưng, trung đường bày đủ bài vị của liệt tổ liệt tông, Trương Nghi lần lượt bái lạy từng bài vị.
Chẳng phải tết nhất, cũng không phải ngày lễ mà lại cúng bái tổ tiên, Trương Nghi rất lấy làm lạ. Lẽ nào việc mình gây ra sáng nay là quá đáng? Trương Nghi suy đi nghĩ lại, tự thấy mình chẳng làm gì sai. Cái ông thầy kia tài cán nỗi gì, nhìn qua đã biết. Song dù thế nào đi nữa, đã gây ra chuyện, thôi cứ nhận lỗi đại đi rồi tính tiếp. Nghĩ là vậy, sau khi bái lạy hết lượt tổ tiên, Trương Nghi ngẩng đầu lên, nhìn mẹ mà nói: “Mẹ, chuyện hôm nay, Nghi Nhi sai rồi!”
Nhìn đứa con trai ngỗ ngược, nước mắt từ từ lăn chảy trên hai má Trương phu nhân. Bà cũng quỳ xuống, bái lạy liệt tổ liệt tông, rồi quay sang Trương Nghi: “Mẹ không trách con, con đã lớn rồi! Mẹ không dạy nổi con, Trương Ấp cũng quá chật hẹp với con. Mẹ suy đi tính lại, quyết định gửi con tới Thái học của Chu thất. Nghe nói ở đó nhân tài đông đảo, có lẽ sẽ dạy dỗ con nên người!”
Nghe nói mình sắp phải rời khỏi Trương Ấp, tới Lạc Dương, Trương Nghi vô cùng bất ngờ, quỳ thụp xuống đất nài nỉ: “Mẹ, Nghi Nhi không đi đâu hết, Nghi Nhi chỉ ở đây chăm sóc mẹ thôi!”
Trương phu nhân nghiêm mặt trách: “Nghi Nhi, con đã qua tuổi đội mũ, không thể cứ lông bông mãi như vậy được! Dòng dõi họ Trương, chỉ còn lại mình con. Nếu con không chịu tiến thủ, cứ mãi chơi bời lêu lổng, sau khi mẹ trăm tuổi, còn mặt mũi nào gặp cha con nữa? Đi đi, việc này mẹ đã tính toán cả rồi. Xe ngựa, hành lý, tiền bạc và những thứ cần thiết, Trương bá đều đã chuẩn bị xong xuôi. Hai thằng nhỏ kia, con hãy chọn lấy một, sáng mai giờ Kê minh(3), lập tức lên đường!”
Trương Nghi dập đầu sát đất, nước mắt lã chã: “Mẹ!”