Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 11
Phải ôn dịch, nước Vệ thêm tang thương
Gặp Cự Tử, Tôn Tân được chỉ dẫn

❊ ❊ ❊

Có câu, hoạ vô đơn chí.

Khi Tuỳ Sào Tử và đệ tử Tống Kiển vẫn còn trong núi Vân Mộng, dự cảm của Tuỳ Sào Tử đã ứng nghiệm. Nước Vệ vừa trải qua cơn chiến hoạ kinh hoàng, thôn xóm còn chưa kịp hồi phục, thì một tai ương khủng khiếp hơn nữa đã âm thầm giáng xuống đầu họ.

Sự việc xảy ra ở thôn Thạch Niễn Tử ở ngoại ô thành Bình Dương. Nghe tên đã biết người trong thôn chuyên làm nghề đẽo cối đá. Trong thôn có hơn trăm hộ, đàn ông trong hầu hết các hộ đều là thợ đá, thành thạo nghề đẽo đá làm cối. Mỗi khi mùa màng xong xuôi, họ lại mang theo công cụ, đi khắp mọi nơi để đẽo cối đá cho người khác.

Cơn tai ương này cũng là khó tránh. Sau khi công tử Ngang thảm sát toàn thành, Bình Dương đã hoá ra một toà thành trống rỗng, tất cả những xác chết có thể tìm thấy trong thành đều được đệ tử Mặc gia tập hợp các tráng đinh xa gần mang ra ngoài đồng an táng.

Một người thợ cối trong thôn Thạch Niễn Tử trong khi chuyển xác chết, vô tình nhìn thấy trong sân một nhà phú hộ có một chiếc cối đá cổ, thấy rất thích. Lúc đó, do đang bận rộn thu dọn xác chết, nên người thợ cối không có thời gian để nhìn đến cái cối. Một tháng sau, trong lúc rảnh rỗi, người thợ cối sực nhớ tới chuyện này, nên một hôm nọ dậy từ rất sớm, cầm theo bút mực, ván gỗ, định đến phác lại cối đá và hoa văn tạc trên đó, tìm hiểu về kiểu cách đẽo cối của người xưa.

Người thợ cối vừa bước vào trong sân, đã ngửi thấy một thứ mùi rữa nát khó chịu. Hồi trước, khi đi dọn dẹp xác chết, anh ta đã quen với mùi này nên cũng không lấy làm sợ, cứ thế đi thẳng tới trước cối đá, quan sát thật kỹ càng. Sau nửa canh giờ, người thợ cối đã phác lại toàn bộ hình chạm khắc trên cối đá lên tấm gỗ mang theo. Cuối cùng, anh ta ngồi thụp xuống, muốn quan sát phần đáy cối, xem cổ nhân có chạm khắc gì ở đó hay không.

Đúng lúc đó, người thợ cối bỗng rú lên một tiếng kinh hoàng, ngã phệt mông xuống đất. Bên dưới chiếc cối đá có hai xác chết thối rữa nằm cuộn tròn, hiển nhiên là người nước Vệ chui vào trốn trong cối đá, bị quân Ngụy dùng thương đâm chết. Do quá lâu ngày, hai xác chết đã rữa nát, mùi xú uế khi nãy chính là bốc ra từ đây.

Có lẽ do kinh sợ quá độ nên người thợ đá muốn đứng dậy mà hai chân mềm nhũn, khó khăn lắm mới lết được về phía sau vài bước, rồi chuệnh choạng đứng dậy, cắm đầu cắm cổ chạy thẳng về nhà. Ngày hôm đó vẫn chưa có chuyện gì bất thường, đến sáng hôm sau, anh ta chợt thấy toàn thân lạnh toát, vội gọi vợ nấu cho bát canh gừng, uống rồi nhưng vẫn không thuyên giảm. Người vợ thấy chồng sắc mặt xanh tái, trong xanh lại có pha sắc tím bầm, mắt loé ánh xanh, cảm thấy quái lạ, nên gặng hỏi đã xảy ra chuyện gì, song anh ta chỉ lắc đầu. Có lẽ e sợ làm chị vợ kinh hãi, nên anh ta không dám hé răng về hai cái thây ma chết thối trong cối đá.

Vào đêm hôm ấy, người thợ cối chưa đợi được đến bình minh đã tắt thở. Thấy chồng đang khoẻ mạnh bỗng thình lình đột tử trong đêm, người vợ trẻ đau xót tột cùng, khóc đến chết đi sống lại. Hàng xóm và người thân của anh ta đều vô cùng bàng hoàng, thảy đều đến nhà đưa tiễn. Thấy người thợ cối toàn thân xanh tái, mọi người đều không biết anh ta mắc chứng bệnh quái lạ gì, có người nói là bị ma bắt, có người nói là bị Diêm Vương bắt, không ai nói ra được một lý do dễ nghe. Người nhà cũng cảm thấy hình thù người chết khó coi, vội vàng kiếm quần áo liệm cho anh ta. Vừa hay ông già hàng xóm có một cỗ quan tài gỗ ngô đồng làm sẵn, người nhà bèn bỏ tiền mua lại, nhanh chóng nhập quan.

Theo tập tục, sau khi dân thường chết, phải quàn trong quan tài ba ngày rồi mới được chôn. Người trong thôn cho quàn anh ta hai đêm, đến chập tối ngày thứ ba thì kèn trống nỉ non đưa anh ta đến bãi tha ma phía nam thôn chôn cất.

Trên đường đưa đám, một đoàn người dài dằng dặc mình mặc áo tang, than khóc ai oán.

Vì quan tài làm bằng gỗ ngô đồng không nặng, thợ cối trong thôn lại có sức khoẻ hơn người, nên chỉ cần bốn người khiêng. Trong số bốn người khiêng quan tài, đi phía sau là hai người hàng xóm của người chết, cũng là hai chú cháu. Khi gần đến mộ, đứa cháu nói nhỏ với người chú: “Chú sáu ơi, hôm trước khi nhập liệm, cháu nhìn thấy người trong quan tài sắc mặt xanh đen, trông mà chết khiếp!”

Người chú nghe vậy, trán vã mồ hôi, người hơi lảo đảo, phải gắng gượng để đứng vững, nhưng vẫn trợn mắt lừ đứa cháu: “Đừng nói linh tinh, cẩn thận để hắn nghe thấy về bắt mất hồn mày đấy!”

Đứa cháu làm mặt hề, đang định cười trêu người chú nhát gan, thì đột nhiên miệng há hốc, hai mắt trợn trừng nhìn vào người chú, kêu lên: “Chú sáu, mặt chú… mặt chú sao cũng tái xanh thế kia!”

Lời vừa nói dứt, người chú không thể gượng thêm được nữa, hai chân mềm nhũn, người đổ vật sang một bên. Quan tài thình lình mất một điểm tựa, văng luôn xuống đất.

Đứa cháu vội đặt đòn khiêng xuống, khóc toáng lên: “Chú ơi! Chú ơi!”

Mọi người nghe tiếng, vội vàng xúm lại.

Đứa cháu xốc người chú dậy, kéo sang vệ đường. Sắc mặt người chú mỗi lúc càng thêm xanh lét, một tay bấm chặt cổ họng, một tay chỉ vào quan tài, dốc hết sức tàn mà nói: “Là… là hắn…”

Đứa cháu như sực nhớ ra, hai mắt dại đi, rú lên thảm thiết: “Ma, có ma, ma đến bắt người!” Rồi vùng chạy đi như phát điên.

Mọi người đều khiếp đảm, đang ngơ ngác nhìn nhau, thì trong đám người mặc đồ tang, lại có một người sắc mặt xanh đen, ngã gục xuống đất. Ngoảnh lại nhìn, chính là người vợ trẻ của anh thợ cối vừa chết.

Mọi người đều chết sững tại chỗ. Có một người bỗng rú lên khiếp đảm, mọi người lúc này mới hồn vía lên mây, mạnh ai nấy chạy tản đi tứ phía.

Mấy ngày sau đó, trong thôn liên tục có người chết. Trên đường, ven ruộng, đâu đâu cũng nhìn thấy những xác chết xanh đen. Những người còn sống đều sợ hãi trốn kỹ trong nhà, không ai dám đi chôn cất người chết. Dưới một gốc cây lớn ở đầu thôn, mấy người dân bị ma bắt đang co quắp ngồi chờ chết, trong đó có một người quỳ trên đất, dường như đang cầu khẩn trời xanh.

Bệnh dịch nhanh chóng lan rộng, chỉ sau mấy ngày, đã lan tới Sở Khâu. Quan thú thừa Sở Khâu là Lật Bình nghe tin, biết là ôn thần đã đến, lập tức phái người hoả tốc báo tới phủ tướng quốc.

Hôm nay là ngày thiết triều, lão tướng quốc Tôn Cơ bị đau bụng tiêu chảy mấy ngày liền, vừa hay cáo bệnh không lên triều, ở trong phủ dưỡng bệnh. Nhận được cấp báo, Tôn Cơ vội vàng đọc qua, sắc mặt lập tức tái mét, bất chấp cơ thể đau bệnh, vội vàng hô quản gia đóng xe, đánh thẳng tới cung Vệ.

Xe kiệu dừng ngay trước cổng cung Vệ. Tôn Cơ được quản gia đỡ xuống xe, tay nâng cấp báo, chuệnh choạng bước lên bậc thềm trước đại điện. Do tâm trí hoảng loạn, cộng thêm cơ thể hư nhược, chân nhấc không kịp, nên vấp thẳng cánh vào bậc đá. Quản gia thấy vậy, vội lao lên đỡ.

Thấy tình cảnh như vậy, quản gia cũng bất chấp lễ tiết gia nhân không được thượng triều, bèn đỡ lấy Tôn Cơ, bước từng bước lên bậc thềm.

Trong chính điện, các đại thần đang dâng tấu lên Vệ Thành Công, đột nhiên thấy Tôn Cơ tới, tất cả đều ngạc nhiên. Tôn Cơ chạy lên vài bước, quỳ xuống khấu lạy, tay nâng cấp báo: “Khởi bẩm chúa thượng, Lật tướng quân ở Sở Khâu cấp báo, Bình Dương, Sở Khâu đều có ôn dịch, người mắc dịch toàn thân xanh tím, nặng thì chết ngay lập tức, nhẹ thì thoi thóp vài ngày rồi chết. Hiện số người chết đã tới hàng ngàn, bách tính khiếp sợ, lòng dân hoang mang…”

Nghe thấy hai chữ “ôn dịch”, toàn bộ các quan văn võ trong triều đều cả kinh, nhìn nhau hốt hoảng.

Nội thần vội vàng bước tới, nhận lấy cấp báo từ tay Tôn Cơ, hai tay trình lên Vệ Thành Công. Vệ Thành Công tay run run nhận lấy, đưa mắt liếc quanh một lượt, thân sắc có phần đờ dại.

Tôn Cơ hạ giọng bẩm tấu: “Chúa thượng…”

Vệ Thành Công sực tỉnh, thở dài một tiếng: “Than ôi, đúng là hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai. Hoạ binh đao vừa dứt, nay ôn dịch lại ập đến, lẽ nào là ông trời muốn diệt nước Vệ ta?” Nói đoạn, quay sang Tôn Cơ. “Lão ái khanh, có cách nào trừ ôn dịch chăng?”

Tôn Cơ lắc đầu nói: “Theo sách sử ghi chép, thời vua Vũ, nước lũ dâng cao, Ung Châu gặp ôn dịch, trải qua ba tháng, xác chết đầy đồng, người chết đến hơn mười vạn. Thời Vũ Vương phạt Trụ, đất An gặp ôn dịch, người chết nhiều không đếm xuể, quốc đô không còn quân để chống địch… Chúa thượng, dịch hoạ còn đáng sợ hơn cả binh hoạ. Binh đến còn có tướng chống đỡ, còn ôn dịch thì…”

Vệ Thành Công giọng nói run rẩy, đưa mắt nhìn khắp lượt triều thần: “Việc này… phải làm thế nào đây?”

Thái sư mắt bỗng vụt sáng, đảo con ngươi mấy vòng, bước sấn lên trước một bước: “Thần có tấu!”

Vệ Thành Công vội đưa mắt nhìn thái sư, hỏi gấp: “Nói mau, ái khanh có diệu kế gì?”

Thái sư chậm rãi nói: “Theo thần được biết, ôn dịch là hoạ thiên sát, vô phương cứu chữa!”

Vệ Thành Công sững người: “Ý ái khanh là, quả nhân đã đắc tội với trời?”

Thái sư liếc xéo Tôn Cơ, lời đầy ẩn ý: “Chúa thượng có đắc tội với trời hay không, thần không dám nói bừa. Song hiện giờ thiên hạ gặp ôn dịch lại là chuyện có thực!”

Vệ Thành Công suy nghĩ một chốc, rồi từ từ đưa mắt nhìn sang Thái miếu lệnh: “Ái khanh làm chủ việc tế lễ, hãy thay quả nhân hỏi thử, quả nhân đã làm gì khiến trời cao nổi giận, mà giáng hoạ xuống nước Vệ?”

Thái miếu lệnh bước lên một bước: “Khởi bẩm chúa thượng, xin lượng thứ vi thần to gan nói thực, lần trước sát khí bốc lên, đuôi sao chổi quét qua sao Canh, đó là trời cao cảnh báo. Vi thần đã đem lời cảnh báo của trời tấu báo trước triều đình, nhưng triều đình lại bỏ qua điềm báo của trời cao, đáng lẽ không nên đánh mà lại đánh, khiến cho Bình Dương toàn thành gặp thảm sát, Sở Khâu, Đế Khâu đều bị bao vây. Chiến sự kết thúc, triều đình lại không kịp thời tế trời cúng quỷ, hóa tán sát khí, nên mới gặp hoạ này!”

Thái miếu lệnh lời lời dõng dạc, không nói quân chủ, chỉ nói triều đình, rõ ràng là nhắm mũi giáo vào tướng quốc Tôn Cơ. Vệ Thành Công hiểu ý, ngồi lặng một hồi lâu không lên tiếng, cuối cùng thở dài sườn sượt: “Than ôi, sau khi chiến tranh kết thúc, đúng ra phải tế trời cúng quỷ, quả nhân bận quá nên quên khuấy đi mất. Ôn thần trừng phạt nước Vệ, là lỗi của quả nhân!” Dừng một lát, lại ngẩng nhìn Thái miếu lệnh. “Ái khanh hãy thay mặt quả nhân khẩn cầu trời xanh, cầu xin triệu hồi ôn thần về trời, hoá giải tai ương được chăng?”

Thái miếu lệnh đáp: “Khởi bẩm chúa thượng, vi thần không có tài này. Nhưng theo vi thần được biết, đại vu chúc có thể thân du lên trời, giao tiếp với quỷ thần, chúa thượng sao không truyền đại vu chúc?”

Vệ Thành Công hai mắt rực sáng: “Mau, cho mời đại vu chúc!” Vừa dứt lời, lại đổi ý. “Khoan! Chuẩn bị xe, quả nhân sẽ đích thân đi thỉnh cầu!”

Thái miếu nước Vệ nằm cách phía đông nam cung thành khoảng ba dặm, nhìn từ địa thế, đây là điểm cao nhất trong thành Đế Khâu. Thái miếu vô cùng cổ kính, được xây dựng từ hơn ba trăm năm về trước, là công trình đầu tiên được xây sau khi Vệ Công dời đô về đông đến Đế Khâu, xét về quy mô kiến trúc hay mức độ tráng lệ xa hoa, đều vượt xa cung thành được xây dựng sau đó. Nhưng cung thành đã mấy lần tu sửa, còn Thái miếu từ sau khi xây dựng, lại chưa được sửa sang lần nào, vì vậy từ lâu đã không thể sánh được với cung thành nữa. Cho dù là như vậy, nhưng thoạt nhìn, vẻ tôn quý, điển nhã của Thái miếu vẫn chưa hề phai nhạt.

Kể từ khi Thái miếu được xây dựng, mọi chuyện lớn nhỏ trong nước, từ bổ nhiệm miễn nhiệm quan lại đến việc dân sự bang giao, phàm gặp chuyện gì không thể giải quyết, các đời Vệ Công đều đến miếu này tìm đại vu chúc bói quẻ.

Điều này cũng khiến Thái miếu thay đổi tính chất, trên danh nghĩa là nơi thờ cúng của Vệ thất, nhưng thực chất lại là trung tâm quyền lực của nước Vệ, nơi đưa ra quyết định sau cùng đối với các quyết sách trọng đại của đất nước. Cũng chính vì vậy mà Thái miếu lệnh cai quản Thái miếu có quyền lực rất lớn trong triều. Mà theo chế độ, từ xưa đến nay, Thái miếu thuộc quyền quản lý của thái sư; người quyết định việc lựa chọn Thái miếu lệnh, đại vu chúc đương nhiên cũng là thái sư. Vì vậy, quyền lực của thái sư trong triều có thể nói là nhất ngôn cửu đỉnh, dưới một người trên vạn người, không ai không kính sợ.

Vậy mà, Vệ Thành Công kế vị chưa được bao lâu, đã trọng dụng Tôn Cơ làm tướng quốc, vai trò của Thái miếu cũng nhanh chóng giảm sút, vì mọi việc quốc gia đại sự, cho dù khó khăn đến mấy, Tôn Cơ cũng đều có cách ứng phó, và phần lớn đều giải quyết ổn thoả. Lâu dần, Vệ Thành Công gặp chuyện gì cũng tìm Tôn Cơ bàn bạc, chỉ vào dịp lễ tết cúng tế, hôn tang cưới gả, mới đến Thái miếu lễ bái. Quyền lực của Thái miếu đã sụt giảm nghiêm trọng, thái sư đương nhiên cũng không còn uy phong như trước. Lần trước quân Ngụy đánh đến, thái sư đã nhận ra tình thế, cực lực chủ hoà, không ngờ Tôn Cơ một lòng quyết chiến, khiến ông ta phải mất mặt trước bá quan văn võ toàn triều. Thái sư vốn gửi gắm hy vọng vào kết cục của cuộc chiến, không ngờ sự việc lại ngoài dự liệu, người Tần đột ngột tấn công Hà Tây, người Ngụy chủ động lui binh, Tôn Cơ liều chết ngự địch, không ngờ đã bảo vệ được xã tắc. Thái sư, Thái miếu lệnh, đại vu chúc vô cùng thất vọng, đang lúc khổ sở không tìm ra được cách hay, thì ôn thần lại hạ phàm trợ giúp!

Trong lúc Vệ Thành Công xa giá đến Thái miếu, đại vu chúc đang ngồi ngay ngắn trước điện, hai mắt nhắm hờ, giống như đã nhập định. Tiểu vu chúc vội vã chạy vào thì thầm bên tai ông ta. Đại vu chúc toàn thân giật bắn, hai mắt trợn tròn, nhãn quang sáng rực: “Ồ, ôn thần hạ xuống Bình Dương, Sở Khâu, chúa thượng đích thân đến khẩn cầu? Ý thái sư thế nào?”

“Thái sư có dặn, tướng quốc Tôn Cơ xưa nay không kính trời thờ quỷ, xúi giục chúa thượng lấy yếu chống mạnh, trời cao nổi giận, nên mới phái ôn thần hạ phàm, trừng phạt người Vệ. Thái sư lệnh cho thượng tiên làm phép tế trời, thương lượng với ôn thần, cầu ôn thần đừng xâm phạm Đế Khâu, giáng hoạ đến đô thành, còn nhờ thượng tiên truyền lại ý trời, nhân cơ hội này bắt chúa thượng phải kính trời thờ quỷ, không nghe theo lời xúi giục của Tôn Cơ nữa!”

Đại vu chúc ngẫm nghĩ một lát, thu lại ánh nhìn, hai mắt nhắm nghiền, tựa như lại đã nhập định, miệng lẩm bẩm: “Bẩm lên thái sư, nói rằng tiểu tiên trong lòng đã có chủ ý!”

Hoàng hôn hôm ấy, sau khi Vệ Thành Công đến Thái miếu được hơn hai canh giờ, mười mấy cung nhân trang phục đen tuyền, tay cầm lệnh tiễn, hối hả ra khỏi Thái miếu, đều lên ngựa khoẻ, chia đường tiến về các nẻo khác nhau trong nước. Trong đó, hai con ngựa chạy nhanh nhất lao về phía cổng tây thành Đế Khâu; một con ngựa xuất thành, phóng như bay về phía Sở Khâu; một con ngựa khác dừng lại ngoài cổng thành, người áo đen trên lưng ngựa ghìm chặt dây cương, hô lớn với viên thành môn úy(1): “Thành môn uý nghe chỉ!”

Thành môn uý lập tức khấu đầu: “Mạt tướng tiếp chỉ!”

Người áo đen nói lớn: “Bình Dương, Sở Khâu ôn dịch hoành hành. Chúa thượng có chỉ, bắt đầu từ hôm nay, mọi việc phải làm theo lời đại vu chúc!”

“Mạt tướng tuân chỉ!”

“Truyền lệnh của đại vu chúc, sau khi tiếp lệnh này, đóng chặt cổng thành, chỉ cho ra không cho vào. Ai trái lệnh, chém!”

Nói xong, người áo đen ném một lệnh tiễn xuống đất.

Thành môn uý nhặt lệnh tiễn lên, hô lớn: “Mạt tướng tuân lệnh!”

Người áo đen không nói thêm câu nào, quay ngựa phóng về phía một thành khác.

Đứng nhìn theo bóng người áo đen xa dần, thành môn uý quay sang hô lớn với quân lính: “Mau đóng cổng thành!”

Tám binh lính vụt một cái đã kéo cầu treo kêu, cổng thành lập tức đóng kín.

Người áo đen phóng ra từ cổng thành phía tây, thúc ngựa lao như tên bắn, chưa đầy ba canh giờ sau đã đến thành Sở Khâu cách đó trăm dặm, xuống ngựa trước phủ thú thừa. Mặc dù lúc này đã nửa đêm, nhưng vì chuyện ôn dịch nên trong phủ vẫn đèn thắp sáng trưng, thú thừa Lật Bình đang triệu tập các trưởng lão trong thành và thuộc hạ đến bàn bạc cách đối phó ôn dịch, nghe nói có sứ thần của chúa thượng tới, liền vội vàng ra ngoài nghênh tiếp, khấu đầu dưới đất chờ nghe tuyên chỉ.

Người áo đen đứng giữa chính đường, tuyên chiếu: “Truyền lệnh của đại vu chúc, người sống không được đi lại, người chết chôn sâu xuống đất. Phàm những nhà gặp ôn dịch, đều là do trời trừng phạt, không được cứu chữa. Niêm phong cổng cửa, đợi sau khi ôn thần trừng phạt xong sẽ thiêu cháy cả nhà, hoả tống ôn thần! Ai trái lệnh, chém!”

Lật Bình sững người, ngần ngừ một lát mới khấu đầu nói: “Mạt tướng tuân chỉ!”

Có thể do khiếp sợ ôn thần nên người áo đen vội vàng trao chiếu thư, lệnh tiễn, không quản đêm khuya đường sá xa xôi, lập tức phóng như bay trở về.

Tiễn sứ thần xong, Lật Bình ngồi một mình trong chính đường trầm ngâm suy nghĩ, rồi cho triệu các thuộc tướng đến, truyền đạt ý chỉ của chúa thượng, sắp xếp họ thực hiện mệnh lệnh của đại vu chúc.

Trời vừa tờ mờ sáng, các tướng sĩ toàn thân giáp trụ, chia thành nhiều ngả, trấn giữ tại các đoạn đường quan trọng, không cho dân chúng di chuyển. Có người sao chép chiếu thư của Vệ Thành Công và mệnh lệnh của đại vu chúc thành cáo thị, mang dán khắp nơi. Với những vùng nhiễm ôn dịch, thì phái người thông báo cho toàn thể thần dân được biết.

Chẳng mấy chốc, Bình Dương, Sở Khâu đã trở thành một vùng đất chết. Ngoài những binh sĩ thiết giáp cầm thương giương mác giữ thành, căn bản không còn nhìn thấy người sống đi lại. Dù là dân chúng hay binh sĩ, ai nấy đều như bị phủ trùm trong bóng đen chết chóc, không ai dám lớn tiếng nói năng, ngay cả tiếng khóc than cũng rất khó nghe thấy.

Một đoàn quân đông nghịt rầm rập giống như xung trận tiến về phía thôn Thạch Niễn Tử, nơi khởi phát của ôn dịch, bao vây từng nhà, bất kể người trong nhà còn sống hay đã chết, nhất loạt dùng thanh gỗ, đinh sắt phong kín cổng cửa.

Hai binh sĩ tiến vào một khu nhà, không nói một lời, lập tức lùa tất cả mọi người vào hết bên trong, đóng chặt cửa lại, rồi khoá trái từ bên ngoài, đóng đinh niêm phong kín mít. Từ trong nhà vọng ra tiếng đập cửa rầm rầm, rồi giọng một người đàn bà gào thét cầu xin: “Quan gia, cả nhà chúng tôi lớn bé đều khoẻ mạnh, không làm chuyện gì có tội với trời cao, cầu xin quan gia hãy thả chúng tôi ra, ôn thần không hề đến nhà chúng tôi, cầu xin quan gia, làm ơn thả chúng tôi ra… Ông trời ơi, ông hãy mở mắt ra đi, làm ơn cứu chúng tôi!”

Cùng với tiếng khóc lóc cầu khẩn của người phụ nữ là giọng nói non nớt của một bé trai: “Chị ơi, em khát nước!”

Sau đó là giọng một bé gái: “Em đừng khóc, chị sẽ đi lấy nước cho em!”

Người lính đang đóng đinh lên cửa nghe thấy vậy thì thương xót, ngần ngừ một chốc rồi nhìn người lính kia: “Có vẻ nhà này không có dịch, hay là hãy chừa cho họ một con đường sống?”

Người lính kia trợn mắt: “Ngươi muốn chết ư? Đóng mau lên!”

Tiếng đóng đinh lại tiếp tục vang lên chí chát.

Ở thành đô Đế Khâu, trời vừa chập tối, trên phố đã không một bóng người. Cách đó không xa, một binh sĩ trực gác vừa gõ chiêng vừa hô lớn: “Đại vu chúc có lệnh, toàn thành giới nghiêm, tất cả thần dân không được đi lại. Ai trái lệnh, chém!”

Một đội lính gác lăm lăm thương nhọn đi tuần trên phố. Một con ngựa phóng vút qua bên cạnh đám lính, rồi dừng lại trước cổng phủ tướng quốc cách đó không xa, thú uý Đế Khâu là Tôn Tân một thân giáp trụ xuống ngựa, đi thẳng vào cổng, lập tức có người hầu chạy ra dắt ngựa.

Tôn Tân đi vào đại sảnh, một người hầu gái ra đón: “Thiếu gia đã về!” Rồi lại đến giúp tháo bỏ áo giáp.

Tôn Tân đi đến bên giá treo áo, tự mình thay trang phục. Người hầu gái vừa treo áo giáp lên giá, vừa nói: “Thiếu gia, lúc nãy lão gia có dặn, thiếu gia hãy tới từ đường!”

Tôn Tân ngẩn ra một thoáng, rồi lập tức rảo bước về phía từ đường.

Từ đường của nhà họ Tôn xây bên cạnh hậu hoa viên của phủ tướng quốc, trên tường treo một dãy chân dung, bức ở chính giữa vẽ một người mình mặc áo giáp, vẻ mặt hiền từ, phía dưới là tấm bài vị viết: “Tiên tổ Tôn Vũ Tử chi linh”. Hai bên lần lượt là bài vị của liệt tổ liệt tông, bài vị của tiên phụ Tôn Tân là Tôn Thao, tiên thúc phụ là Tôn An được xếp ở ngoài cùng. Bên cạnh bài vị của Tôn An lại bày ba bài vị khác, một là vợ của Tôn An, hai bài vị còn lại là con trai con gái của họ.

Quản gia bày đồ cúng, thắp hương châm nến, rồi từ từ lui ra. Tôn Cơ tay chống gậy, chậm rãi bước tới trước bài vị của Tôn Vũ Tử, đặt gậy sang một bên rồi quỳ xuống, ngẩng đầu nhìn bức chân dung.

Tôn Cơ nhắm mắt lại, khẽ mấp máy môi, lầm rầm như tự nhủ. Ánh nến hắt lên khuôn mặt già nua, chòm râu trắng phơ phơ cũng khẽ rung động theo nhịp mấp máy.

Tôn Tân đứng ngoài cửa, im lặng nhìn ông nội.

Tôn Cơ cảm giác có người đến, chưa ngẩng đầu lên đã hỏi: “Có phải Tân Nhi không?”

Tôn Tân bước đến, quỳ xuống bên cạnh Tôn Cơ: “Thưa ông, là Tân Nhi đây!”

“Tân Nhi, lại đây, cùng ông nội cầu khấn liệt tổ liệt tông trên trời linh thiêng phù hộ cho người Vệ!”

Hai người cùng dập đầu lễ bái trước linh vị của liệt tổ liệt tông, nhắm mắt cầu khấn. Một lát sau, Tôn Tân mở mắt nhìn Tôn Cơ: “Ông nội, chúng ta không thể thoát được hoạ ôn dịch lần này ư?”

Tôn Cơ thở dài: “Có thoát được hay không, còn phải xem ý trời!”

Tôn Tân mắt rực sáng: “Ý trời? Ý ông nội là chúng ta vẫn còn cách giải cứu?”

Tôn Cơ gật đầu: “Đúng vậy! Trời không tuyệt đường người! Nghe nói cự tử Mặc gia Tuỳ Sào Tử có cách chống ôn dịch. Nếu như ông ta đến, người Vệ có lẽ sẽ được cứu!”

Tôn Tân vội nói: “Tân Nhi sẽ đi tìm Tuỳ Sào Tử, xin ông nội cho phép!”

“Ta gọi cháu đến đây cũng là có ý này. Có điều Tuỳ Sào Tử phiêu du khắp nơi, cháu biết tìm ông ta ở đâu?”

“Ông nội yên tâm, cho dù ông ấy ở chân trời góc biển, Tân Nhi cũng sẽ mời về bằng được!”

“Tân Nhi,” Tôn Cơ thở dài, “tình thế trước mắt vô cùng cấp bách, chứ không phải là chuyện chân trời góc biển. Không lâu trước đây, đã có người nhìn thấy Tuỳ Sào Tử ở Lạc Dương, cháu hãy đến Lạc Dương tìm thử xem sao. Đồng thời, hãy loan tin nước Vệ gặp ôn dịch cho thiên hạ biết, với tính cách của Tuỳ Sào Tử, nếu biết sự tình, chắc chắn ông ta sẽ tự tìm đến. Chưa biết chừng hiện giờ ông ta đang trên đường đến đây!”

Tôn Tân đứng dậy: “Ông nội bảo trọng, Tân Nhi đi đây!”

Tôn Cơ cũng đứng dậy, lưu luyến nhìn cháu: “Tân Nhi, đi đi, ta ở Sở Khâu đợi cháu!”

Tôn Tân ngạc nhiên hỏi lại: “Ông nội, ông muốn tới Sở Khâu ư?”

“Phải!” Tôn Cơ đáp. “Mấy ngày nay, cháu cũng thấy rồi đấy! Đại vu chúc chống ôn dịch kiểu này, e rằng bách tính ở vùng ôn dịch càng như lửa đổ thêm dầu. Ta đi tới đó một chuyến, tâm tư của họ cũng được an ủi phần nào!”

Tôn Tân quỳ xuống trước mặt Tôn Cơ, nói: “Ông, nhưng ông đang mắc bệnh kia mà!”

Tôn Cơ nắm tay Tôn Tân: “Đi đi, nắm xương già của ông nội vẫn còn cứng cáp lắm!”

Tôn Tân lại lạy thêm mấy lạy, khóc mà nói: “Ông nội… ông hãy bảo trọng!”

Rồi quay người lui trở ra đại sảnh, đến tàu ngựa dắt chiến mã, lập tức phóng về phía cổng tây.

Tại thôn Thạch Niễn Tử, tất cả mọi nhà đều bị binh lính niêm phong kín cổng cửa, vài ngôi nhà đã bị đốt cháy, từ xa nhìn lại, chỉ thấy khói bốc ngút trời.

Ba tên lính tay cầm đuốc, đi đến gần một khu nhà đã bị niêm phong, vừa đẩy cánh cổng ra định tiến vào, thì nghe thấy trong nhà vẳng ra tiếng khóc lóc. Một người lính ghé tai lắng nghe một lát rồi quay ra nói: “Là ông lão đang khóc, chắc bà lão vừa mới chết!”

Một người lính khác tiếp lời: “Ông lão này cũng thật quái lạ, hôm qua con trai chết nhưng chỉ nghe thấy tiếng bà lão khóc, ông ta không khóc; hôm nay bà lão chết thì lại khóc. Từ đó có thể thấy, vợ quan trọng hơn con cái!”

Người lính thứ ba cãi: “Ngươi thì hiểu cái quái gì! Chưa nghe thấy câu ‘tiếng to như sấm mà dường vô thanh’ hay sao? Người ta lúc đau đớn quá mức sẽ không thể khóc nên lời! Con trai chết không khóc, đến khi vợ chết lại khóc, chứng tỏ con cái quan trọng hơn vợ!”

Gã cầm đầu lừ mắt nhìn bọn họ: “Đây là nơi để cãi cọ ư? Trước mặt còn mười mấy nhà nữa, nếu lần chần ở lâu, cẩn thận ôn thần bắt cổ luôn các ngươi đi đấy! Đã nghe chưa, trong mấy ngày hôm nay, chỉ tính riêng đội quân trăm người của chúng ta thôi đã nghẻo mất mười mấy mạng rồi! Lẽ nào các ngươi cũng muốn…” Nói đến đây thì dừng lại, lùi ra khỏi cổng, tiến sang một nhà khác.

Hai binh lính sợ hãi không dám nói năng gì nữa, lặng lẽ bám theo người này. Ba người lại đẩy cổng tiến vào một căn nhà tiếp theo. Gã cầm đầu gọi lớn: “Này, trong nhà có ai không?”

Không có tiếng trả lời.

Gã cầm đầu lại gọi mấy tiếng nữa, nhưng vẫn không có tiếng đáp, liền quay sang nói với hai tên lính: “Nhà này không còn ai nữa, đốt đi!”

Hai tên lính không nói một lời, lập tức chạy đến đống củi giữa sân, ôm củi cỏ đến, chất tại cổng chính, cửa sổ trước sau và dưới mái hiên, rồi cầm đuốc châm lửa. Một lát sau, khói đen bốc lên ngùn ngụt, toàn bộ ngôi nhà chìm trong biển lửa.

Ở phía nam thôn, một cỗ xe ngựa từ từ leo lên dốc cao, rồi dừng lại trên đỉnh dốc. Lão quản gia ngồi trước đánh xe quay đầu lại nói: “Chúa công, đã đến thôn Thạch Niễn Tử, nghe nói ôn dịch phát tán từ đây!”

Tôn Cơ chậm chạp bước xuống xe, đứng trên đỉnh dốc, nhìn khói lửa bốc lên cuồn cuộn trong thôn, hai hàng lông mày chợt chau lại. Một lát sau, Tôn Cơ thở dài: “Than ôi! Sinh linh lầm than!”

Lão quản gia gạt nước mắt, quay sang nói với Tôn Cơ: “Chúa công, lên xe thôi, phía trước chính là Sở Khâu!”

Tôn Cơ không nói gì, chỉ sải bước tiến về phía thôn. Lão quản gia cuống quýt gọi theo: “Chúa công!”

Tôn Cơ dừng bước, ngoái lại nói: “Ngươi hãy ở đây đợi, ta vào thôn xem sao!”

Lão quản gia vội cản: “Chúa công, muốn xem thì đứng đây xem cũng được. Đợi lát nữa gặp Lật thú thừa, chúa công sẽ biết rõ sự tình!”

“Không sao, ta đi một lát sẽ về!”

Tôn Cơ nói xong liền đi thẳng xuống dốc.

Trong thôn, ba người lính lúc nãy lại đi đốt thêm hai nhà khác, rồi đi đến khu nhà hôm trước có tiếng đàn bà kêu cứu. Gã cầm đầu theo lệ mở cổng ra, đứng giữa sân gọi lớn: “Này, trong nhà có ai không?”

Không có tiếng trả lời.

Gã cầm đầu do dự một lát, rồi đi tới trước cửa, gõ liền mấy cái: “Này, trong nhà có ai không?”

Vẫn không có tiếng trả lời.

Gã cầm đầu quay trở ra sân, giục: “Đem củi vào đây!”

Hai tên lính chạy đến phòng củi, ôm rơm củi đến, nhanh chóng chất thành từng đống. Đang định châm lửa, bên trong cửa sổ bỗng có tiếng lạch cạch, rồi một bàn tay nhỏ xíu thò ra từ lỗ hổng trên cánh cửa đã được niêm phong chắc chắn.

Bàn tay nhỏ khẽ vẫy mấy cái, rồi từ bên trong vọng ra vài tiếng kêu khản đặc của bé gái: “Chú ơi… Chú ơi…”

Mấy tên lính giật bắn mình, đứng đực ra nhìn nhau.

Tiếng gọi của cô bé mỗi lúc một yếu ớt: “Nước… chú ơi, nước… nước…”

Một tên lính đưa mắt nhìn gã cầm đầu: “Có đốt không?”

Gã cầm đầu trừng mắt nhìn hắn: “Đốt đốt, đốt cái đầu ngươi, vẫn còn người sống! Mau đi thôi, ngày mai quay lại!”

Đám lính quay người, đang định rời đi thì nhìn thấy Tôn Cơ đứng ngay giữa cổng, cả ba cùng khựng lại. Tôn Cơ nhìn cánh tay đang chới với tuyệt vọng, không kịp trách móc bọn lính, mà vội vàng bước tới trước cửa, lấy túi nước của mình đưa cho cô bé.

Nhưng do lỗ hổng trên cánh cửa quá nhỏ, cửa lại bị đóng quá chặt, nên không thể kéo túi nước vào trong. Tôn Cơ liền ráng sức bẻ gãy một thanh gỗ niêm phong, làm bật ra một lỗ hổng lớn.

Cô bé đôi tay run rẩy cầm lấy túi nước, mở ra, uống một ngụm nhỏ, sau đó cất giọng khản đặc mà nói: “Đa tạ ông!”

“Cháu gái!” Tôn Cơ chảy nước mắt mà hỏi. “Chỉ còn một mình cháu sống ư?”

Cô bé nghẹn ngào, nói không thành tiếng: “Còn có mẹ và em trai cháu nữa. Ông ơi, làm ơn hãy cứu chúng cháu, làm ơn cứu mẹ, cứu em cháu! Đã mấy ngày nay chúng cháu không có gì ăn, nước uống cũng hết rồi…”

Tôn Cơ giọng run rẩy: “Cháu gái, ta sẽ cứu các người ra khỏi đây!”

Sau đó quay người quát mấy tên lính: “Cô bé này không có bệnh tật gì, tại sao lại nhốt họ lại?”

Ba tên lính đưa mắt nhìn nhau, rồi gã cầm đầu bước lên trước một bước, hai mắt trợn trừng nhìn Tôn Cơ: “Ta còn chưa hỏi ông, ông lại quát mắng gì thế? Nói cho ông biết, đại vu chúc có lệnh, ai dám tự ý gỡ niêm phong, nhất loạt xử trảm! Niệm tình ông tuổi tác đã cao, lại xuất phát từ lòng tốt, nên quân gia tạm thời không tính toán với ông, cũng sẽ không truy hỏi ông là ai, từ đâu đến. Lão tiên sinh, xin đừng nhiều chuyện, hãy mau đi đi!”

Tôn Cơ không những không đi, ngược lại còn chỉ tay lên tấm gỗ niêm phong trên cửa: “Gỡ mau!”

Gã cầm đầu khựng lại, quan sát Tôn Cơ từ đầu tới chân, hai mắt gườm gườm: “Cái ông già kỳ quặc này, quân gia có ý tha cho ông một con đường sống, ông lại không chịu đi! Như thế gọi là gì? Gọi là không biết điều! Các anh em, bắt lão già này nhốt vào phòng củi!”

Hai tên lính lập tức tiến lên, mỗi tên một bên chụp lấy Tôn Cơ, đang định bắt lại, chợt ngoài cổng có tiếng xe ngựa lộc cộc, quản gia vội vã chạy vào, quát lớn: “Dừng tay!”

Ba tên lính ngạc nhiên nhìn nhau, chưa kịp lên tiếng thì quản gia lại quát: “Còn không buông tướng quốc đại nhân ra?”

Ba tên lính nghe tiếng, giật mình chết lặng.

Một tên lính lắp bắp hỏi: “Tướng quốc đại nhân? Tướng quốc đại nhân nào?”

Quản gia quát: “Còn tướng quốc đại nhân nào? Đây chính là Tôn tướng quốc, lũ các ngươi mù hết rồi ư?”

Danh tiếng của Tôn Cơ không ai không biết, ba tên lính vừa nghe thấy tên Tôn tướng quốc thì hết cả hồn vía, vội vàng quỳ sụp xuống, dập đầu lia lịa. Tên lính cầm đầu lắp bắp không thành tiếng: “Tiểu… tiểu nhân mạo… mạo phạm tướng quốc đại nhân, xin tướng quốc đại nhân trị tội!”

Tôn Cơ khẽ thở dài, chỉ tay về phía cửa rồi nói: “Gỡ niêm phong xuống!”

Ba tên lính vội vàng đứng dậy, loáng cái đã gỡ sạch đinh gỗ niêm phong. Tôn Cơ vội vã đi vào trong nhà, bế đứa trẻ đói khát nằm lả trên giường ra. Ba tên lính thấy tướng quốc không sợ chết, đâu dám nói thêm lời nào, bèn theo nhau chạy vào, hai người khiêng một người đàn bà trung niên, người còn lại bế đứa bé gái, cùng chuyển họ ra sân.

Tôn Cơ gọi lão quản gia: “Mau, đem lương khô lại đây!”

Lão quản gia vội chạy trở lại xe, lấy xuống mấy miếng lương khô. Tôn Cơ đưa một miếng vào miệng nhai nát, sau đó mớm cho thằng bé. Mấy tên lính nhìn thấy vậy, vội đi tìm một cái bát lớn, lấy nước ngâm lương khô vào trong bát, rồi bón cho người đàn bà.

Cô bé vẫn tỉnh táo, quỳ ở bên cạnh Tôn Cơ, vừa uống nước, vừa cắn từng miếng lớn lương khô, đôi mắt to tròn nhìn Tôn Cơ không chớp.

Tôn Cơ nhìn cô bé: “Cháu gái, cháu tên gì?”

“Cháu tên là Hoa!”

“Cha cháu đâu?”

“Cha đi làm cối đá cho người ta, trong nhà chỉ còn mấy mẹ con. Nghe nói có ôn dịch, mẹ không cho chúng cháu ra ngoài, còn dùng lửa sấy nhà. Ba mẹ con chúng cháu đang sống khoẻ mạnh, tự dưng có mấy vị quân gia kéo đến, nhốt luôn chúng cháu lại, còn đóng đinh bên ngoài. Cả nhà cháu không có cơm ăn, không có nước uống, mẹ và em trai đói khát quá nên đã lả đi. Ông ơi, nếu không có ông, thì chúng cháu đã bị thiêu sống trong nhà mất rồi!”

Tôn Cơ đưa tay xoa đầu cô bé: “Cháu gái, đừng khóc, đừng khóc, có ông ở đây, sẽ không sao hết!” Rồi quay sang hỏi tên lính cầm đầu. “Còn có bao nhiêu nhà bị niêm phong?”

“Bẩm tướng quốc đại nhân, đại vu chúc nói, thôn này phạm tội lớn, nên mới bị ôn thần trừng phạt, tất cả mọi nhà đều bị niêm phong!”

“Hoang đường!” Tôn Cơ nổi giận. “Các ngươi mau đi kiểm tra khắp lượt, thả hết những người còn sống ra, lấy nước và thức ăn cho họ!”

Gã cầm đầu do dự: “Việc này…”

“Còn chần chừ gì nữa?” Lão quản gia quát. “Tướng quốc đại nhân bảo ngươi đi thả người, còn không mau đi!”

“Tiểu nhân tuân lệnh!”

Tên cầm đầu vừa dứt lời, cả ba liền vội vàng chạy đi.

Trong thành Đế Khâu, Tôn Cơ vừa rời đi, lập tức có người đến báo cho Thái miếu lệnh. Thái miếu lệnh vội vã đến phủ thái sư, bẩm báo lại chuyện hai ông cháu Tôn Cơ, Tôn Tân lần lượt xuất thành.

Thái sư chau màu ngẫm nghĩ một lát, rồi chậm rãi nói: “Theo tính khí của Tôn Cơ, lúc này xuất thành, chắc chắn sẽ đến vùng ôn dịch!”

“Đến vùng ôn dịch, chẳng phải tự tìm cái chết hay sao?”

Thái sư đưa tay vuốt râu: “Như vậy cũng tốt! Nếu ông ta chết thực, cũng bớt đi một mối lo! Mấy ngày hôm nay có thấy đại vu chúc không?”

“Hạ quan vừa đến chỗ thượng tiên về.”

“Ông ta có nói khi nào có thể tiễn ôn thần hay không?”

“Bẩm thái sư, thượng tiên đã lên đến thiên cung, yết kiến thiên đế. Thiên đế nói, người Vệ phải chịu trăm ngày ôn dịch, đợi ôn thần trừng phạt đủ rồi, sẽ tự quay về trời!”

“Một trăm ngày?” Thái sư sợ hãi. “Trừng phạt lâu như vậy, sẽ phải chết thêm bao nhiêu người đây? Hơn nữa, lỡ chúa thượng mất kiên nhẫn, sự việc há chẳng tồi tệ hơn ư?”

Thái miếu lệnh suy nghĩ một lát, rồi nói nhỏ: “Bẩm thái sư, thượng tiên nói, một khi ôn thần đã trừng phạt, chưa đủ trăm ngày sẽ không chịu thôi. Còn về việc sẽ chết bao nhiêu người, thượng tiên cũng đã nói, chỉ cần khoá chặt các con đường, không cho mọi người đi lại, như vậy cũng giống như xích chặt hai chân của ôn thần, nhốt ngài ở hai thành Bình Dương và Sở Khâu, như vậy sẽ không xảy ra đại loạn. Hơn nữa, Tôn Cơ xúi giục chúa thượng không thờ thần cúng quỷ, mấy kẻ đó chết cũng là đáng!”

Thái sư cúi đầu trầm ngâm hồi lâu rồi gật gù nói: “Đã là như vậy, hãy làm theo lời ông ta!” Rồi chau mày nói. “Nhắc đến Tôn Cơ, ta chợt nhớ ra một chuyện, hai ông cháu họ đã xuất thành, tại sao lại không đi cùng một đường?”

“Điều này… hạ quan cũng không rõ!”

“Phái người theo dõi! Lần này cơ hội hiếm có, tuyệt đối không được để hai ông cháu họ làm hỏng đại sự!”

“Hạ quan đã hiểu!”

Sau khi Thái miếu lệnh cáo từ, thái sư ngồi ngẫm nghĩ một lát, sau đó sai đánh xe ngựa, đi thẳng vào cung khấu kiến Thành Công. Nghe báo thái sư cầu kiến, Vệ Thành Công khác hẳn mọi ngày, không những ra tận cửa cung đón, mà còn dắt tay vào trong, miễn quỳ lạy, còn cho ông ta ngồi xuống trước.

Thái sư được sủng ái quá đâm ra lo sợ: “Chúa thượng trịnh trọng đến vậy, thần đệ thật không dám nhận!”

“Lần này ái khanh đến, chắc chắn có chuyện muốn nói với quả nhân!”

“Thưa phải!” Thái sư vòng tay nói. “Khởi bẩm chúa thượng, vừa nãy thần đệ được tin, hôm qua tướng quốc đã xuất thành!”

“Xuất thành?” Vệ Thành Công mặt biến sắc. “Tại sao lại xuất thành vào lúc này?”

“Nghe nói là đi Sở Khâu, Bình Dương thăm ôn thần!”

Vệ Thành Công giật bắn mình, đứng bật ngay dậy, quay sang nói với nội thần: “Đúng là lão già hồ đồ, mau, đuổi theo gọi về, nói quả nhân có việc gấp cần bàn!”

Nội thần đang định quay đi, thái sư liền xua tay ngăn cản, rồi quay sang nói với Vệ Thành Công: “Khởi bẩm chúa thượng, lão thần được biết tướng quốc xuất thành, nên đã phái người đi tìm!”

“Vậy thì tốt!” Vệ Thành Công thở phào nhẹ nhõm. “Có tin gì của tướng quốc, lập tức báo với quả nhân!”

“Lão thần tuân chỉ!”

Tiểu vu chúc dẫn mấy thầy cúng đi đến phủ thú thừa của thành Sở Khâu, tra hỏi một hồi, thấy mệnh lệnh của đại vu chúc được thực hiện nghiêm chỉnh nên rất hài lòng, khen ngợi vài câu, liền chuyển sang chuyện chính: “Lật tướng quân, nghe nói Tôn tướng quốc đã đến Sở Khâu, tại sao không thấy đâu?”

Lật Bình ngạc nhiên hỏi: “Ồ, tướng quốc đại nhân đã đến đây ư? Lật Bình chưa từng gặp mặt!”

Tiểu vu chúc kinh ngạc: “Vậy… Tôn Tân đâu?”

“Cũng chưa gặp!”

Tiểu vu chúc nhìn Lật Bình chằm chằm, biết ông ta không nói dối, thì băn khoăn lẩm bẩm: “Thật kỳ lạ. Hai ông cháu họ xuất thành, giờ chưa đến đây, vậy thì đi đâu?”

Lật Bình trầm ngâm một thoáng: “Xin hỏi thượng tiên, ông dám khẳng định tướng quốc đại nhân và Tôn tướng quân đến thành Sở Khâu?”

Tiểu vu chúc hỏi vặn lại: “Không đến đây thì họ xuất thành làm gì?”

Nghĩ cũng đúng, nước gặp đại nạn, người trong triều thực lòng quan tâm tới nỗi khổ của bách tính, cũng chỉ có tướng quốc. Lật Bình liền lớn giọng gọi: “Người đâu!”

Một tham tướng vội vàng chạy vào.

“Tìm kiếm tất cả các thôn xóm xung quanh, xem có thấy tướng quốc đại nhân và Tôn tướng quân không!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Tham tướng vội dẫn người đi các thôn kiểm tra, quả nhiên gặp Tôn Cơ đang ở trong thôn Thạch Niễn Tử. Những người còn sống sót đã được Tôn Cơ ra lệnh thả ra sân, quân lính theo lời Tôn Cơ, đang mang nước và thức ăn cho họ.

Tham tướng vô cùng kinh sợ, không kịp cả lạy chào, vội vàng đánh ngựa phi về thành Sở Khâu, bẩm báo lại toàn bộ tình hình.

Lật Bình, tiểu vu chúc nghe tin tướng quốc đã tháo niêm phong, liền vội vàng đến thôn Thạch Niễn Tử, được biết Tôn Cơ đang cứu dân trong sân một nhà, liền lật đật tìm đến. Tôn Cơ thấy Lật Bình, đang định đứng dậy đón thì đột nhiên hoa mắt chóng mặt, lảo đảo suýt chút nữa ngã lăn xuống đất.

Lật Bình thấy vậy, vội chạy lại đỡ Tôn Cơ: “Tướng quốc đại nhân, tướng quốc đại nhân, có sao không?”

Tôn Cơ trên trán lấm tấm mồ hôi, được Lật Bình dìu đến ngồi tựa vào một gốc cây: “Nước!”

Một người vội mang túi nước đến. Tôn Cơ uống liền mấy hớp, thở hổn hển mấy hơi rồi cười nói với Lật Bình: “Thân già này mấy ngày trước bị tiêu chảy, mới thành ra yếu ớt thế này!”

Lật Bình quỳ xuống đất khấu đầu nói: “Tướng quốc đại nhân đến Sở Khâu, mạt tướng vừa nãy mới hay tin, đã tiếp đón chậm trễ!”

Tôn Cơ chỉ vào những người dân trong sân: “Trong số những người dân này, có người bị bệnh, nhưng cũng có người còn khoẻ mạnh. Hành sự không phân biệt trắng đen, nhất loạt niêm phong, sao có thể như thế được?”

Lật Bình liếc nhìn tiểu vu chúc: “Bẩm tướng quốc đại nhân, mạt tướng cũng là bất đắc dĩ, phụng mệnh hành sự mà thôi!”

Tiểu vu chúc thấy Tôn Cơ liếc mắt nhìn mình, biết không còn chỗ trốn tránh, nên đành phải bước lên, vòng tay nói: “Tiểu tiên khấu kiến tướng quốc đại nhân!” Sau đó chỉ tay vào những người dân và những thanh niêm phong bị tháo ra, nói. “Tướng quốc đại nhân tự ý tháo dỡ niêm phong, phóng thích tội dân, là làm trái lệnh quân chủ! Tiểu tiên khuyên tướng quốc đại nhân, tuyệt đối không nên hành động tuỳ tiện, làm hại thanh danh một đời của đại nhân!”

Tôn Cơ đâu thèm đếm xỉa đến hắn, lại thở dốc mấy cái rồi trầm giọng nói: “Đều là bách tính, tội dân ở đâu ra? Ngươi hãy quay về báo với đại vu chúc, bảo ông ta bẩm với thái sư, truyền lại lời bản tướng, trị ôn dịch kiểu này, không những không đuổi được ôn thần, cho dù có đuổi được, cũng làm hại đến dân lành. Trong thiên hạ, quý nhất chính là tính mạng, nếu chỉ vì ích kỷ cá nhân mà coi thường nhân mạng, thực chẳng phải hành động của người có trí!”

Tôn Cơ nghĩa chính lời nghiêm, tiểu vu chúc cứng họng, há miệng mà không thốt được một lời phản bác, mặt đỏ đến tía tận tai: “Tướng quốc đại nhân, ông… ông hãy đợi đấy, tiểu tiên sẽ trở về bẩm báo với thượng tiên!”

Tiểu vu chúc quay phắt người, đi ra khỏi cổng, nhảy lên ngựa rồi lao thẳng về phía thành Đế Khâu.

Lật Bình nhìn Tôn Cơ đang thở hổn hển, lo lắng hỏi: “Tướng quốc đại nhân, sức khoẻ là quan trọng, hay là hãy đến phủ mạt tướng nghỉ ngơi một đêm?”

Tôn Cơ xua tay nói: “Các ngươi đi đi, lão hủ chỉ muốn ở lại trong thôn để trò chuyện cùng bách tính!”

Lật Bình vội nói: “Việc này… làm sao có thể?”

Tôn Cơ suy nghĩ một lát, rồi chậm rãi nói: “Lật tướng quân, bản tướng hỏi ngươi, rốt cuộc đã có bao nhiêu người nhiễm dịch?”

Lật Bình trả lời: “Từ Bình Dương đến Sở Khâu, ôn thần hoành hành trong vòng trăm dặm. Theo mạt tướng được biết, tính đến nay đã có tám thôn bị niêm phong toàn bộ giống như thôn Thạch Niễn Tử, tổng cộng một nghìn hai trăm hộ, ngoài ra còn hơn ba trăm hộ lẻ tẻ khác bị niêm phong. Người dân nghe nói, trong nhà có người mắc dịch sẽ phải niêm phong cổng cửa, nên nhà có người bệnh cũng không dám báo, nhà có người chết cũng chỉ âm thầm chôn cất, đến khóc cũng không dám. Vì vậy, hiện giờ rốt cuộc có bao nhiêu người nhiễm dịch, số người chết là bao nhiêu, quả thực mạt tướng cũng không được rõ!”

Tôn Cơ chau tít đôi mày, hồi lâu sau mới thở dài sườn sượt: “Thiên hoạ nghiêm trọng, nhưng nhân hoạ còn đáng sợ hơn thiên hoạ! Lần trước người Ngụy thảm sát toàn thành, bách tính Bình Dương đã chẳng còn lại bao nhiêu, lại thêm lần này, Sở Khâu cũng sắp trở thành thành trống. Trăm dặm nhân đinh hưng vượng, dân cư trù phú, đã sắp thành chốn không người!”

Lật Bình cũng buồn bã nói: “Nhưng… ý chỉ của chúa thượng như vậy, biết làm sao được?”

Tôn Cơ lại thở dài: “Than ôi, chúa thượng sợ hãi ôn dịch mà thành ra hồ đồ mất rồi! Không có bách tính, thì còn đâu quốc gia? Không có quốc gia, thì lấy đâu xã tắc? Lật tướng quân…”

“Có mạt tướng!”

“Quốc gia đại loạn, mới biết trung thần! Hiện giờ chúa thượng hồ đồ, gian thần ngang ngược, tướng quân là quan phụ mẫu ở đất này, tuyệt đối không được rối loạn tinh thần!”

Lật Bình khấu đầu, khóc mà nói: “Mạt tướng biết tội! Thế nhưng… phải chống ôn dịch ra sao, quả thực mạt tướng không biết. Nếu tướng quốc đại nhân có cách, mạt tướng nguyện làm theo!”

“Nghe nói Mặc gia có cách hay chống ôn dịch, nếu như cự tử Mặc gia đến đây, chắc chắn có thể chống được dịch này! Ta đã phái Tôn Tân đi tìm. Tướng quân cũng hãy phái người thăm dò khắp nơi, đợi tin Tôn Tân! Nếu họ tìm đến, trước tiên hãy dẫn họ đến thôn này! Đánh giặc phải bắt tướng giặc, chữa bệnh phải chữa tận gốc. Ôn dịch xuất phát từ đây, thì phải bắt đầu chữa từ đây!”

Lật Bình nói lớn: “Mạt tướng tuân lệnh!”

Tiểu vu chúc phi ngựa một mạch về thành Đế Khâu, bẩm báo lại toàn bộ chuyện xảy ra ở thôn Thạch Niễn Tử, cuối cùng nói thêm một câu: “Tôn Cơ còn dặn tiểu nhân chuyển lời cho thái sư!”

Thái sư vội hỏi: “Ồ, ông ta nói gì?”

“Tôn Cơ nói, trị ôn dịch kiểu này, không những không đuổi được ôn thần, cho dù có đuổi được, cũng làm hại đến dân lành. Trong thiên hạ, quý nhất vẫn là tính mạng, nếu chỉ vì ích kỷ cá nhân mà coi thường nhân mạng, thực chẳng phải hành động của người có trí!”

Thái sư nghe vậy, yên lặng hồi lâu không lên tiếng.

Thái miếu lệnh vội nói xen vào: “Tôn Cơ là chó cùng rứt giậu, đại nhân chớ nghe lời xằng bậy của lão!”

Thái sư thở dài: “Ngươi thì hiểu cái gì? Tôn Cơ nói những lời này, quả thực là người thấu suốt. Ông ta chỉ có một điều không thấu suốt, đó chính là, người không vì mình, trời tru đất diệt. Tôn Cơ bận rộn tối ngày, tuy không vì lợi, nhưng lại vì danh. Vì danh cũng vậy, vì lợi cũng vậy, chẳng phải đều là vì mình hay sao?”

“Thái sư nói chí phải!” Thái miếu lệnh phụ hoạ. “Lần trước người Ngụy đến đánh ta, họ Tôn đã anh dũng chiến đấu, danh tiếng lẫy lừng thiên hạ, không ngờ lại là làm hại người Vệ, thành Bình Dương máu chảy thành sông, toàn thành bị thảm sát!”

Thái sư thở dài, quay sang hỏi tiểu vu chúc: “Lão tướng quốc có khoẻ không?”

Tiểu vu chúc vội bước lên, nói nhỏ vài câu, cuối cùng nói thêm: “Nếu không phải Lật tướng quân kịp thời đến đỡ, ông ta đã ngã lăn xuống đất rồi!”

Lão thái sư nhướng mày, quay sang đại vu chúc: “Xin hỏi thượng tiên, xem triệu chứng này, phải chăng lão tướng quốc đã khiến ôn thần nổi giận?”

Đại vu chúc quay sang hỏi tiểu vu chúc: “Phải chăng trên trán lão tướng quốc đổ mồ hôi?”

Tiểu vu chúc đáp: “Đúng thế!”

“Tướng quốc thở hổn hển?”

“Vâng!”

“Tướng quốc sắc mặt xanh xao, toàn thân run rẩy?”

“Đúng vậy!”

Đại vu chúc quay sang nói với thái sư: “Bẩm thái sư, Tôn tướng quốc tự tiện dỡ niêm phong, thả tội dân, đã đắc tội với ôn thần. Nhìn vào triệu chứng này, có lẽ là ôn thần đang trừng phạt ông ta!”

Thái sư trầm tư một lát, rồi căn dặn đại vu chúc: “Lão tướng quốc là viên ngọc quý của nước Vệ, không thể mất đi, làm phiền thượng tiên đi bẩm với ôn thần, xin ôn thần lưu tình, tha cho lão tướng quốc. Ta sẽ đi bẩm với chúa thượng!”

“Thái sư yên tâm, tiểu tiên sẽ đi cầu ôn thần!”

Thái sư dặn quản gia chuẩn bị xe ngựa vào cung. Thành Công vừa thấy ông ta đến, vội hỏi: “Đã có tin gì của Tôn ái khanh hay chưa?”

Thái sư rặn ra mấy giọt nước mắt, nói: “Bẩm chúa thượng, thần đệ đến cũng chính vì chuyện này!”

Thành Công thấy vậy, tim nảy lên một cái: “Ái khanh nói mau, Tôn ái khanh sao rồi?”

Thái sư thở dài: “Tôn tướng quốc thương dân như con, nhưng đã dối trên lừa dưới, không coi lệnh vua ra gì, đã cùng gia nhân đến thôn Thạch Niễn Tử, bắt quân lính tháo dỡ niêm phong, thả tội dân của ôn thần ra. Việc này quả nhiên đã làm ôn thần nổi giận, ôn thần…” Rồi nói không nên lời, hai hàng nước mắt chảy xuống dầm dề.

Vệ Thành Công sững sờ, một hồi lâu sau mới nói: “Lão ái khanh muốn nói, Tôn ái khanh… đã mắc ôn dịch rồi ư?”

Thái sự rầu rĩ gật đầu.

Vệ Thành Công ngồi phịch xuống đất, lặng đi một hồi, mới quay sang nói với thái sư: “Lão ái khanh, có… có cách cứu không?”

“Thần đệ nhận được tin báo, đã lập tức đến gặp đại vu chúc, bảo ông ta lên trời khẩn cầu ôn thần, may ra có thể cứu được!”

Vệ Thành Công vội nói: “Mau, mau mời đại vu chúc!”

Một lát sau, đại vu chúc đã nhập cung khấu bái: “Tiểu tiên khấu kiến chúa thượng!”

“Thượng tiên miễn lễ!”

Đại vu chúc tạ ơn, đứng dậy rồi ngồi vào chỗ.

Vệ Thành Công vòng tay nói: “Tôn tướng quốc thương dân như con, đã vô tình đắc tội với ôn thần, nên bị ôn thần trừng phạt. Lúc nãy nghe thái sư nói, thượng tiên đã đi thỉnh cầu ôn thần, quả nhân muốn biết chỉ ý của ôn thần ra sao?”

“Khởi bẩm chúa thượng, lúc nãy tiểu tiên đã lên thiên cung, khấu kiến ôn thần. Ôn thần nói, tướng quốc đại nhân làm trái lệnh quân chủ, tự tiện đi vào vùng ôn thần cai quản, phóng thích tội dân, tức đã phạm vào tội chết!”

Vệ Thành Công kinh sợ: “Bên cạnh quả nhân không thể không có Tôn ái khanh! Thượng tiên hãy lên trời cầu xin ôn thần, bằng bất cứ giá nào cũng phải tha cho Tôn ái khanh!”

“Khởi bẩm chúa thượng, lúc nãy tiểu tiên cũng thỉnh cầu như vậy. Tiểu tiên đã nói hết nước hết cái, cuối cùng ôn thần cũng khai ân, nói là chỉ có duy nhất một cách, may ra có thể cứu được tướng quốc đại nhân!”

“Là cách gì, thượng tiên mau nói!”

“Ôn thần nói, chúa thượng phải trả lại tội dân của ôn thần lại cho ôn thần, xử tội nghiêm minh những tên lính đã tháo dỡ niêm phong, làm trái quân lệnh, để cảnh cáo mọi người!”

“Được, quả nhân chấp thuận!”

“Ôn thần còn nói, tướng quốc đại nhân đã lấy mất của ôn thần một bé trai và một bé gái, cần phải hiến tế trở lại!”

Vệ Thành Công ngẫm nghĩ một lát, rồi phẩy tay nói: “Được, được, tất cả đều làm theo lời ôn thần! Quả nhân phiền thượng tiên đi một chuyến, nhanh chóng hiến tế, mau cứu Tôn ái khanh khỏi tay ôn thần!”

Đại vu chúc vòng tay nói: “Tiểu tiên tuân lệnh!”

Đại vu chúc phụng mệnh Vệ Công, dẫn theo tiểu vu chúc và hơn mười vu nữ, cùng với nội thần, Thái miếu lệnh, khua chiêng gõ trống, đốt lửa hun khói, đi thẳng về phía Sở Khâu. Nội thần tuyên chiếu thư của vua, Lật Bình tiếp chỉ, dẫn theo quân lính đến thôn Thạch Niễn Tử.

Tôn Cơ đã quá thất tuần, vốn dĩ tuổi cao sức yếu, từ khi chống Ngụy đến nay, chưa được nghỉ ngơi ngày nào, mấy hôm trước còn bị tiêu chảy kéo dài, nay lại đi đến vùng ôn dịch, nhiễm phải ác khí khiến khí huyết tổn thương, lúc này đã không thể chịu đựng thêm được nữa, ngã xuống bất tỉnh nhân sự. Quản gia vội đỡ ông lên xe ngựa, đi lên đỉnh dốc cao ở phía nam thôn để tránh xa ác khí trong thôn.

Khi đám đại vu chúc đến nơi, Tôn Cơ đã chìm vào hôn mê, sắc mặt xanh xao nhợt nhạt.

Đại vu chúc vừa đến, lập tức lệnh cho binh lính lùa tất cả dân chúng vào lại trong nhà, niêm phong như cũ, rồi phái người gom thật nhiều củi khô, chất thành một đống lớn trên bãi đất trống trước thôn, lập đàn cúng tế trước đống củi, mang chị em A Hoa đi tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo trắng, trói chặt tay chân, đặt trên đỉnh đống củi. Hai đứa trẻ toàn thân run rẩy, khóc thất thanh.

Ba tên lính đã giúp Tôn Cơ thả người cũng bị trói lại, bắt quỳ phía trước đống củi. Phía sau họ là một hàng vu nữ, phía sau đám vu nữ là tiểu vu chúc, phía sau tiểu vu chúc là đại vu chúc, phía sau đại vu chúc không xa là Lật Bình, nội thần và hơn trăm binh lính. Phía sau nữa là đỉnh dốc cao, cỗ xe của Tôn Cơ đang dừng trên đỉnh dốc.

Một lát sau, nhạc tế vang lên, đám vu nữ tay cầm đuốc, chân giậm nhịp, vừa hát vừa nhảy múa, chuẩn bị hiến tế ôn thần. Lật Bình đứng ngồi không yên, dường như đang sốt ruột chờ đợi gì đó.

Trên quãng đường lớn cách đó không xa, một quân uý và Tôn Tân đang cưỡi ngựa phi nhanh đến, theo sát phía sau là hơn mười người áo nâu, lưng đeo sọt, trong đó có Tuỳ Sào Tử, Cáo Tử, Tống Kiển.

Quân uý chỉ tay về thôn xóm không xa phía trước, nói với Tôn Tân: “Tôn tướng quân, phía trước chính là thôn Thạch Niễn Tử, nghe nói ôn dịch bắt đầu phát tác từ đó. Tướng quốc đại nhân nói, sẽ ở trong thôn đợi tướng quân!”

Tôn Tân sốt sắng muốn gặp Tôn Cơ, liền quay sang nói với Tuỳ Sào Tử: “Tuỳ Sào Tử tiền bối, vãn bối xin đi trước!”

Tuỳ Sào Tử gật đầu, Tôn Tân dặn dò quân uý mấy câu, rồi thúc ngựa lao như vây về phía thôn Thạch Niễn Tử.

Ở đầu thôn, tiếng trống mỗi lúc một vang rền, đám vu nữ càng múa càng hăng.

Tôn Cơ nằm trong xe, sắc mặt xanh tím, hôn mê bất tỉnh. Quản gia đứng canh bên cạnh, đưa ánh mắt lo lắng nhìn về đàn tế phía dưới chân dốc, dường như đang hy vọng sau khi đại vu chúc cúng tế xong, tướng quốc đại nhân có thể tỉnh lại.

Một hồi trống gấp rút vọng lại, đầu Tôn Cơ khẽ nhúc nhích, ánh mắt hơi hé mở. Quản gia thấy vậy, vội vàng cúi xuống, mừng rỡ reo lên: “Chúa công, chúa công, người đã tỉnh rồi!”

Tôn Cơ cất giọng yếu ớt, ngắt quãng mà hỏi: “Tiếng… tiếng trống… ở đâu?”

“Bẩm chúa công, chúa thượng vì muốn cứu chúa công, nên đã hạ chỉ cho đại vu chúc cúng tế ôn thần. Hiện giờ đang thực hiện nghi lễ hiến tế!”

Tôn Cơ hỏi gấp gáp: “Hiến… tế? Hiến tế… thứ gì?”

Quản gia do dự một lát, rồi lắp bắp: “Là… là hai chị em A Hoa!”

“Hoang đường!” Tôn Cơ gắng gượng nhổm người dậy, quản gia vội vàng đỡ lấy ông. Tôn Cơ chỉ tay về phía đàn tế. “Mau, dìu ta… đến đó!”

Quản gia khóc mà nói: “Chúa công, chúa công đang thế này, tuyệt đối không được cử động!”

“Mau… mau bảo họ thả… hai chị em… ra…” Lời còn chưa nói dứt, Tôn Cơ đã ngoẹo đầu sang một bên, tắt thở.

Quản gia khóc lớn: “Chúa công… chúa công…”

Phía trước đàn tế, tiếng nhạc tế thình lình im bặt, đám vu nữ tay cầm đuốc, dàn hàng phía trước đống củi.

Tiếng nhạc vừa dừng, tiếng kêu khóc của quản gia đột nhiên vọng lại rõ mồn một. Mọi người giật mình cả kinh, cùng ngoảnh lại nhìn. Lật Bình vội chạy đến trước xe, hỏi lớn: “Lão tướng quốc sao rồi?”

Lão quản gia khóc lóc: “Chúa công quy… quy tiên rồi!”

Lật Bình mắt trợn trừng, dường như không dám tin: “Làm sao… làm sao có thể như vậy được?”

Quản gia nói trong nước mắt: “Chúa công trước lúc lâm chung có trăng trối, muốn huỷ bỏ hiến tế, thả hai đứa trẻ ra!”

Lật Bình vội vàng quay lại, bước nhanh tới trước mặt đại vu chúc, đau đớn lên tiếng: “Tướng quốc đại nhân đã quy tiên rồi!”

Đại vu chúc nhắm nghiền hai mắt, đầu lắc lư tít mù, ngửa mặt lên trời lảm nhảm một tràng, không biết đang rì rầm những gì.

Lật Bình cao giọng nói lớn: “Tướng quốc trăng trối, huỷ bỏ hiến tế, thả hai đứa trẻ ra!”

Đại vu chúc dường như vẫn không nghe thấy, miệng vẫn lảm nhảm liên hồi, một lát sau, đột nhiên hú lên một tiếng, bắt đầu nhảy múa điên loạn giống như ma quỷ nhập hồn, vừa nhảy vừa nói: “Ta là ôn thần trên trời hạ phàm, các ngươi còn không mau quỳ xuống?”

Tiểu vu chúc và đám vu nữ vừa nghe thấy vậy, vội vàng quỳ cả xuống. Nội thần và đám binh lính nhất thời sững lại, sau đó lần lượt quỳ xuống. Lật Bình do dự một lát, rồi cũng quỳ theo.

Đại vu chúc vừa nhảy múa điên cuồng, vừa nói lớn: “Các ngươi nghe đây, tội nhân Tôn Cơ nhiều lần miệt thị bản thần, vi phạm lệnh cấm, bản thần mới phải bắt ông ta về hỏi tội. Từ ngày hôm nay, bất kể là ai to gan mạo phạm bản thần, làm trái lệnh cấm, ta sẽ khiến nước Vệ nghìn dặm gà chó không yên! Ha ha ha ha…”

Trong tiếng cười rú điên cuồng, đại vu chúc xoay tít một vòng, rồi ngã gục xuống đất. Tiểu vu chúc vội vàng đứng dậy, chạy đến đỡ đại vu chúc. Đại vu chúc lờ đờ tỉnh lại, đưa ánh mắt ngạc nhiên nhìn mọi người: “Tại sao các ngươi lại quỳ ở đây?”

Tiểu vu chúc bèn đáp: “Bẩm thượng tiên, lúc nãy ôn thần hạ phàm, chúng tôi quỳ xuống lễ bái!”

“Ồ!” Đại vu chúc mặt đầy kinh sợ. “Ôn thần hạ phàm ư? Ôn thần đã nói gì?”

Một vu nữ đáp: “Ôn thần nói đã bắt tướng quốc đại nhân về hỏi tội. Ôn thần còn nói, từ nay về sau ai dám làm trái lệnh cấm, sẽ khiến nước Vệ nghìn dặm gà chó không yên, xương trắng đầy đồng!”

Đại vu chúc giả bộ hoảng sợ: “Mau, mau tế ôn thần!”

Đám vu nữ đồng thanh vâng dạ, sau đó cầm đuốc ném rào rào vào đống củi, ngọn lửa lập tức bùng lên, cộng thêm có gió đông nam, nên lửa nhanh chóng bốc lên dữ dội. Hai đứa trẻ khóc thét, gào lên lạc giọng kêu cứu. Đám binh lính đều không nỡ nhìn, vội quay mặt đi hướng khác.

Đúng vào lúc đó, một con ngựa lao vụt đến như tên bay. Con ngựa hí lên một tiếng rền rĩ, phóng vút qua trước đống lửa. Vào lúc ngựa băng qua đống lửa, một thân người bỗng vọt lên không hệt như tia chớp, hạ xuống trên đỉnh đống củi cao hơn trượng. Mọi người còn chưa hiểu chuyện gì xảy ra, thì người này đã mỗi tay xách lấy một đứa trẻ, tung mình nhảy xuống đất nhẹ nhàng như chiếc lá rụng.

Sự việc xảy ra quá ư đột ngột và chóng vánh, chớp mắt đã kết thúc, tựa như có thần linh trợ giúp. Mọi người đều kinh ngạc đến ngây người, trợn mắt há miệng, không ai nói được lời nào.

Đại vu chúc kinh hãi nhìn người mới đến, chính là Tôn Tân: “Tôn tướng quân?”

Tôn Tân không đếm xỉa đến lão ta, nhẹ nhàng đặt hai đứa trẻ đã chết ngất vì sợ hãi và sặc khói xuống đất, vừa dập những ngọn lửa bén trên quần áo chúng, vừa quát đám lính đứng đó không xa: “Mau mang nước lại đây!”

Đám lính cùng đưa mắt nhìn Lật Bình. Lật Bình trợn mắt quát: “Còn đứng đấy? Mau lấy nước!”

Một tên lính hấp tấp mang thùng nước đến, Tôn Tân vẩy nước lên mặt hai đứa trẻ. Hai đứa bị nước lạnh táp vào mặt, lập tức tỉnh dậy. A Hoa đưa mắt nhìn quanh, không dám tin mình vẫn còn sống, hai chị em lại khóc toáng lên.

Đại vu chúc dường như cũng đã kịp định thần, hắng giọng liền mấy tiếng, mắt loé ra những tia lạnh lẽo, bước lên trước một bước, sầm mặt quát ré lên: “Tôn Tân to gan, bản tiên phụng chỉ ý của chúa thượng, kính trời thờ quỷ, cúng tế ôn thần, cứu giúp người Vệ. Ngươi dám phá hoại lễ tế, nghịch thiên phạm thượng, tội không thể tha! Người đâu, bắt lấy tội nhân Tôn Tân!”

Đám binh lính không ai phản ứng.

Đại vu chúc lại quát: “Còn không mau bắt lấy tội nhân Tôn Tân?”

Đám binh lính nhất loạt đưa mắt nhìn Lật Bình. Đại vu chúc cũng quay đầu lại, mắt nhìn chòng chọc vào Lật Bình, gằn giọng nói: “Lật tướng quân, ông muốn kháng chỉ ư?”

Lật Bình quay sang nhìn nội thần, nội thần khẽ thở dài, rồi gật đầu. Lật Bình không còn cách nào khác, đành từ từ nhắm mắt lại, lệnh cho binh lính: “Bắt lấy Tôn Tân!”

Mấy tên lính bước lên, bắt lấy Tôn Tân và hai chị em A Hoa. A Hoa sợ hãi bám chặt lấy cổ Tôn Tân, còn đứa em trai thì khóc thét lên.

Đại vu chúc hừ mũi một tiếng, quát lớn: “Mau đem ba tội nhân này, cộng với ba tên lính, ném vào đống lửa, hiến tế ôn thần!”

Nghe thấy ngay cả Tôn Tân cũng bị ném vào biển lửa, đám lính kinh hãi nhìn nhau, rồi lại ngoảnh nhìn Lật Bình.

Lật Bình từ từ quỳ xuống trước mặt đại vu chúc: “Mạt tướng khẩn cầu thượng tiên đại từ đại bi, tha cho Tôn tướng quân một lần!”

Đại vu chúc thở dài một tiếng, buông giọng chậm rãi: “Lật tướng quân, không phải tiểu tiên không khoan dung, mà là do Tôn Tân tự chuốc lấy tội! Tướng quân cũng đã thấy rồi, Tôn Tân thân là thú uý Đế Khâu, nhưng lại làm trái ý chỉ của chúa thượng, không đếm xỉa tới hàng vạn sinh linh nước Vệ, ngang nhiên mạo phạm ôn thần, tội không thể tha! Lật tướng quân, lời của ôn thần, hẳn ông cũng đã nghe thấy, lẽ nào ông thực sự muốn nước Vệ xác chất đầy đồng ư?”

Lật Bình từ từ ngẩng đầu lên, nhìn nội thần cầu cứu. Song nội thần không nhìn ông ta, mà quay đầu sang hướng khác. Lật Bình bước tới trước mặt Tôn Tân, nhìn thẳng vào Tôn Tân. Tôn Tân thần thái điềm tĩnh, khẽ đưa mắt cho Lật Bình, ra hiệu hãy tìm cách kéo dài thời gian. Lật Bình vừa nhìn đã hiểu, cố ý chậm chạp bước từng bước về phía đại vu chúc, từ từ quỳ xuống, tiếp tục cầu xin: “Lật Bình và cha của Tôn Tân là Tôn Thao tướng quân có nghĩa kết bái, Tôn Thao tướng quân tử nạn vì nước, cả dòng họ Tôn nay chỉ còn lại một mình Tôn tướng quân. Nay Tôn Tân tội đã không thể dung tha, Lật Bình không dám cầu xin gì khác, chỉ muốn được dùng chén rượu nhạt đưa tiễn Tôn tướng quân, khẩn cầu thượng tiên ân chuẩn!”

Các tướng sĩ đều là thuộc hạ của Lật Bình, nên thấy Lật Bình nói đến nước này, đại vu chúc cũng không dám tuyệt tình từ chối, liếc mắt nhìn đống lửa đang bốc cháy rừng rực, nghĩ rằng Tôn Tân cũng chẳng còn đường thoát, liền gật đầu nói: “Được! Lật tướng quân đã khẩn cầu như vậy, bản tiên sẽ dành cho một khắc!”

Lật Bình đa tạ, rồi quay sang lệnh cho quân lính: “Mau, mang rượu đến đây!”

Một tên quân uý dẫn theo hai tên lính chạy vụt đi, một lát sau, quả nhiên đã khiêng theo một hũ rượu cấp tập chạy về. Lật Bình rót đầy hai bát, một bát đưa cho Tôn Tân, một bát dành cho mình, nâng lên nói: “Tôn tướng quân, tại hạ xin đưa tiễn tướng quân!”

Nói xong, liền một hơi uống cạn.

Tôn Tân đưa mắt nhìn về một phía, xa xa đã thấy đám Tuỳ Sào Tử đang lao như bay đến gần, thì thở phào một tiếng, một hơi uống cạn bát rượu, phong thái vô cùng hào sảng, rồi đập bát xuống đất vỡ tan tành.

Đại vu chúc bèn cao giọng hô lớn: “Đã đến giờ, mau ném tội nhân vào lửa, hiến tế ôn thần!”

Tướng sĩ lại nhìn Lật Bình.

Lật Bình bình tĩnh phát lệnh: “Làm theo lời thượng tiên, ném tội nhân vào lửa, hiến tế ôn thần!”

Lập tức có mười mấy binh lính bước ra, tiến lại gần Tôn Tân và ba tên lính bị trói, hai người xô đẩy Tôn Tân, hai người xách chị em A Hoa lên, mấy người còn lại lôi kéo ba tên lính, từng bước tiến về phía biển lửa.

Đống củi đã bén cháy toàn bộ, lửa mượn thế gió, đang lúc hung hãn cực độ, đứng từ xa đã thấy từng đợt sóng lửa hừng hực táp lại bỏng rát. Đám lính đã áp sát đống lửa, vừa nhấc Tôn Tân và mấy người kia lên, bỗng một giọng nói tràn đầy nội lực từ xa vọng đến: “Khoan đã!”

Đám lính vốn dĩ không hề muốn làm công việc thất đức hại người này, nên vừa nghe thấy tiếng gọi, lập tức dừng tay. Trong nháy mắt, Tùy Sào Tử mình mặc áo nâu, râu tóc bạc trắng đã phi thân lao tới, lập tức cướp lấy hai chị em A Hoa trong tay hai tên lính vẫn đứng ngây như phỗng. Bốn tên lính đang giữ Tôn Tân thấy vậy cũng tự bỏ tay ra, dạt sang hai bên.

Mọi người chưa kịp định thần, thì một đoàn gồm mười mấy người trang phục một màu nâu sồng đã lao tới như cơn lốc, đứng lại ngay ngắn bên cạnh Tuỳ Sào Tử, vừa hay mặt đối mặt với đám vu nữ trang phục trắng toát.

Hai đứa trẻ lại vừa thoát chết trong gang tấc, khiếp đảm cùng cực, ôm chặt lấy cổ Tuỳ Sào Tử.

Đại vu chúc kinh sợ lùi lại phía sau một bước: “Ông… ông là ai?”

Tuỳ Sào Tử trầm giọng đáp: “Tuỳ Sào Tử!”

Đại vu chúc đã kịp trấn tĩnh: “Ông chính là cự tử Mặc gia nức tiếng thiên hạ?”

Tuỳ Sào Tử giao hai chị em A Hoa cho Cáo Tử và Tống Kiển đứng bên cạnh, mắt nhìn thẳng vào đại vu chúc: “Chính là lão hủ!”

Đại vu chúc đảo mắt một cái, rồi vái dài một lễ: “Tiểu vu bái kiến cự tử. Tiểu vu phụng ý chỉ của Vệ Công, tiến hành hiến tế ôn thần tại đây, để cứu người nước Vệ, mong cự tử tác thành!”

Tuỳ Sào Tử đáp lễ: “Tuỳ Sào Tử đã thấy cả rồi. Tuỳ Sào Tử xin đại vu chúc hãy quay về bẩm lại với Vệ Công, nói rằng Tuỳ Sào Tử có giao tình sâu sắc với ôn thần, từ lâu đã là bạn tốt, về việc cúng tế, Tuỳ Sào Tử tình nguyện đảm đương!”

“Việc này…” Đại vu chúc chần chừ một lát, rồi đưa mắt nhìn nội thần.

Lần trước người Ngụy xâm phạm biên cương, chưa nói đến chuyện Mặc gia trợ giúp giữ thành, chỉ riêng việc tổ chức người Vệ chôn cất người chết, cứu giúp người bị thương, cũng đã có ơn lớn với nước Vệ, nội thần đương nhiên hiểu rõ sự tình. Lúc này nhìn thấy họ, nội thần biết rõ họ vì chuyện ôn thần mà đến, nên không giấu được vẻ vui mừng, liên tiếp gật đầu đồng ý. Đại vu chúc thấy Lật Bình và đám binh lính ai nấy đều mặt mày hớn hở, nội thần cũng không đứng về phía mình, nên đành nói: “Cự tử đã nói như vậy, tiểu vu sẽ về bẩm lại với chúa thượng!”

Đại vu chúc quay người lại, nói với tiểu vu chúc và đám vu nữ: “Đi thôi!”

Tuỳ Sào Tử vòng tay nói: “Tuỳ Sào Tử xin tiễn đại vu chúc!”

Thấy đại vu chúc đã đi xa, Lật Bình vội vòng tay hành lễ với Tuỳ Sào Tử: “Vãn bối Lật Bình bái kiến cự tử!”

Tuỳ Sào Tử đáp lễ: “Tuỳ Sào Tử chào Lật tướng quân!”

“Xin hỏi cự tử, phải cúng tế ôn thần thế nào?”

“Tướng quân hãy mau làm hai việc. Một là tìm đá vôi, lưu huỳnh, cỏ ngải, càng nhiêu càng tốt. Hai là tập hợp dân chúng trong vùng ôn dịch lại, người nhiễm dịch tập trung một chỗ, người chưa lây nhiễm tập trung một chỗ!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Tôn Tân vừa nãy nghe thấy Lật Bình nói “cả dòng họ Tôn nay chỉ còn một mình Tôn tướng quân” trong lòng đã sinh nghi, lúc này vội hỏi: “Lật tướng quân, ông nội ta đâu?”

Lật Bình chậm chạp quay người, chỉ tay về phía cỗ xe trên đỉnh dốc, bỏ mũ trụ xuống, nước mắt ròng ròng.

Tôn Tân hiểu ra mọi chuyện, lập tức chạy lao về phía cỗ xe, khóc lớn: “Ông ơi… ông!”

Dưới sự sắp xếp của Tuỳ Sào Tử và đệ tử Mặc gia, quân dân ở vùng bệnh dịch đồng lòng hợp sức chống lại ôn thần. Tất cả các thôn, khói bốc nghi ngút, khắp vùng nhiễm dịch nồng mùi lưu huỳnh, cỏ ngải. Binh sĩ và những người dân chưa nhiễm ôn dịch chia nhau đi rải bột đá vôi khắp nơi, ngoài đường, trong sân, sau nhà, vườn ruộng, chỗ nào cũng trắng xoá, giống như trời vừa đổ tuyết.

Đầu thôn Thạch Niễn Tử, trên khoảng đất trống mà hôm trước đại vu chúc lập đàn cúng tế ôn thần, lúc này bắc hai chiếc nồi cỡ lớn, trong hai nồi đều nấu đầy thảo dược, một nồi dành cho người nhiễm dịch uống, một nồi dành cho người bình thường. Các đệ tử Mặc gia múc thuốc chia cho mọi người, binh lính, dân chúng xếp thành hai hàng dài, đợi đến lượt mình lấy thuốc. Tuỳ Sào Tử, Cáo Tử, Tống Kiển và mấy đệ tử áo nâu am hiểu y thuật, tay cầm kim bạc, nhanh nhẹn trích máu hoặc châm cứu cho những người bệnh nặng.

Chưa đến mười ngày, dịch bệnh đã được khống chế, người mắc bệnh giảm rõ rệt, ngoài những người thể chất quá hư nhược không đủ sức cầm cự, phần lớn người bệnh đều được cứu sống. Vệ Thành Công nhận được tin báo, vui mừng khôn xiết, phái nội thần mở ngân khố chuyển ba trăm lượng vàng cùng một lượng lớn lương thực, vải vóc ban tặng. Tuỳ Sào Tử nhờ Lật Bình mang toàn bộ số tiền của đó giúp đỡ những người bị nạn.

Tôn Tân làm theo lời lão quản gia, mai táng Tôn Cơ trên đỉnh dốc phía nam thôn Thạch Niễn Tử. Vào xế chiều ngày thứ mười, Tôn Tân mang theo rất nhiều đồ cúng, bày trước mộ Tôn Cơ.

Tôn Tân quỳ xuống, lạy liền mấy lạy, nghẹn ngào nhìn tấm bia đá, nói: “Ông nội, Tân Nhi đến báo cho ông một tin vui, ôn thần đã đi rồi, ôn thần đã bị tiền bối Tuỳ Sào Tử đuổi đi rồi! Ông nội… ông đã có thể yên nghỉ!” Nói đoạn, lại lạy thêm vài lạy.

Tuỳ Sào Tử chậm rãi bước lại gần, đứng sau lưng Tôn Tân, nhìn vào bia mộ của Tôn Cơ, khẽ thở dài: “Than ôi, nếu lão hủ đến sớm hơn nửa ngày, đã có thể cứu được Tôn tướng quốc!”

“Xin tiền bối đừng tự trách mình, ông nội nếu biết đã cứu được nhiều người như vậy, hẳn sẽ rất vui mừng!”

Tuỳ Sào Tử nhìn tấm bia mộ hồi lâu, lại thở dài sườn sượt: “Chỉ e ông nội của tướng quân chưa chắc đã thấy vui!”

Tôn Tân ngoái nhìn Tuỳ Sào Tử: “Xin hỏi tiền bối, ôn dịch đã hết, tại sao ông nội lại không vui?”

“Ôn dịch tuy đã rút đi, nhưng mầm bệnh vẫn còn đó, lão tướng quốc sao có thể vui nổi?”

“Mầm bệnh?” Tôn Tân ngẩn người, nhìn thẳng vào Tuỳ Sào Tử mà hỏi. “Ôn dịch vẫn còn mầm bệnh ư?”

Tuỳ Sào Tử ngẩng đầu, ánh mắt dõi về phía xa xăm: “Đúng thế, có quả tất có nhân, vạn vật đều có căn nguyên!”

Tôn Tân trầm tư một chốc, rồi ngẩng đầu lên hỏi: “Xin hỏi tiền bối, mầm bệnh nằm ở đâu?”

“Chiến loạn!”

“Vậy, mầm mống của chiến loạn nằm ở đâu?”

“Lợi hại!”

“Mầm mống của lợi hại?”

“Tư dục!”

Tôn Tân lại trầm ngâm suy nghĩ, một lúc sau, dường như đã ngộ ra điều gì, liền ngẩng đầu nói: “Ý tiền bối muốn nói, nếu muốn trừ tận gốc ôn dịch, cần phải trừ bỏ chiến tranh; muốn trừ bỏ chiến tranh, cần phải loại trừ lợi hại; muốn loại trừ lợi hại, phải tiêu trừ tư dục?”

Tuỳ Sào Tử gật đầu.

Tôn Tân lại suy nghĩ một lát, rồi hỏi tiếp: “Xin hỏi tiền bối, làm thế nào mới có thể tiêu trừ tư dục?”

“Thiên hạ kiêm ái!”

“Vậy… phải làm thế nào mới khiến thiên hạ kiêm ái?”

Tuỳ Sào Tử thu ánh mắt lại, chậm rãi xoay người sang, nhìn thẳng vào Tôn Tân, một hồi lâu, mới than rằng: “Điều mà tướng quân hỏi, cũng chính là điều Tuỳ Sào Tử cả đời tìm kiếm!”

Tôn Tân quay đầu lại, đưa mắt nhìn đăm đăm vào tấm bia trên mộ ông nội.

Ngày hôm sau, trong sân nhà A Hoa, Tuỳ Sào Tử ngồi trên ghế đẩu, cậu em trai của A Hoa ngồi trên gối Tuỳ Sào Tử, mở đôi mắt tròn xoe nhìn ông chăm chú.

A Hoa bưng một bát nước đặt lên bàn đá bên cạnh: “Ông ơi, mời ông uống nước.”

Tuỳ Sào Tử mỉm cười, bưng bát nước lên, uống một ngụm, rồi cúi đầu nhìn cậu bé, hỏi: “Ồ, lúc nãy ta kể đến đâu rồi nhỉ?”

Cậu bé vội nói: “Ông vừa kể đến đoạn con sói xám muốn ăn thịt chú dê con, dê con co cẳng chạy, nhưng lại bị sói xám chặn đường. Sói xám há miệng định cắn vào cổ dê con, bỗng nhiên phía trước có một con nhím bò đến…”

Tuỳ Sào Tử mỉm cười, gật gù: “Đúng rồi, ta đang kể đến đoạn đó!” Rồi lại uống thêm một ngụm nước, đang định kể tiếp, bỗng ngoài cổng có tiếng bước chân vọng lại. Cáo Tử, Tống Kiển, Tôn Tân ba người cùng đi đến, song lạ là ở chỗ Tôn Tân khoác theo tay nải trên vai.

Cáo Tử bước lên trước một bước, vòng tay vái mà nói: “Khởi bẩm cự tử, Tôn tướng quân có việc đến tìm.”

Tuỳ Sào Tử đưa mắt nhìn Tôn Tân.

Tôn Tân đặt tay nải xuống, đi đến trước mặt Tuỳ Sào Tử, quỳ xuống khấu đầu sát đất: “Cự tử ở trên, xin hãy nhận của Tôn Tân một lạy!”

“Cớ sao Tôn tướng quân phải hành đại lễ nhường vậy?”

“Khởi bẩm cự tử, vãn bối quyết chí theo hầu cự tử, cầu học đạo kiêm ái, mong cự tử thu nhận!”

Tuỳ Sào Tử mỉm cười: “Nước Vệ là nơi giàu có trong thiên hạ, hiện tướng quân đã làm tới chức thú uý thành Đế Khâu, tiền đồ rộng mở, tại sao lại muốn vứt bỏ vinh hoa phú quý, theo lão già vô dụng này phiêu bạt khắp đông tây?”

Tôn Tân lại khấu lạy: “Vãn bối ngu muội, chỉ thấy khổ nạn trong thiên hạ, mà không hề nhìn thấy tiền đồ phú quý. Cự tử một lòng vì khổ nạn của thiên hạ, vãn bối vô cùng kính phục, thành tâm muốn được cùng bôn tẩu suốt quãng đời còn lại!”

Tuỳ Sào Tử khẽ gật đầu: “Tướng quân có thể thấy được khổ nạn của thiên hạ, đủ thấy tướng quân có lòng từ bi. Có điều khổ nạn của thiên hạ, chỉ dựa vào lòng từ bi sẽ không thể loại trừ, đây cũng chính là lý do khiến đệ tử Mặc gia mỗi người đều có sở trường, tinh thông trăm nghề. Xin hỏi Tôn tướng quân có sở trường gì?”

Tôn Tân ngẩn người, sắc mặt bỗng đỏ bừng: “Vãn bối tư chất ngu muội, không có sở trường gì cả!”

“Vậy, có sở thích gì?”

Tôn Tân ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng đầu nói: “Vãn bối từ nhỏ đã luyện cung kiếm đao thương, đam mê binh pháp chiến trận, thời thiếu niên cũng đã từng có hoài bão, muốn cả đời chuyên tâm rèn tập binh pháp.”

Tuỳ Sào Tử thuận miệng hỏi: “Binh pháp chỉ dùng trong chiến tranh, chiến tranh là cội nguồn của khổ nạn, không phải là đạo kiêm ái. Tướng quân đã có ý tìm đạo kiêm ái, nhưng trong lòng lại không dứt bỏ được thuật dụng binh, điều này chẳng phải là tự mâu thuẫn ư?”

“Vãn bối học tập binh pháp, tuyệt đối không phải để gây chiến, mà để ngừng chiến!”

“Ồ!” Tuỳ Sào Tử trong lòng chấn động. “Đây gọi là lấy chiến ngừng chiến, lấy độc trị độc, đó chính là cái đạo của võ học! Vậy tướng quân hãy nói xem, tướng quân sẽ làm cách nào để lấy chiến ngừng chiến?”

Tôn Tân suy nghĩ một lát rồi đáp: “Hổ báo dù hung dữ, nhưng không thể bắt được nhím. Rào giậu chuồng dê nếu kín kẽ, lang sói sẽ không có cơ hội tấn công!”

“Ồ!” Tuỳ Sào Tử lại gật đầu, cất lời khen ngợi. “Đây gọi là không đánh mà người chịu khuất, Tôn tướng quân không hổ danh là hậu duệ của Tôn Vũ Tử.” Rồi chợt đổi giọng. “Đáng tiếc lão hủ không giỏi binh thuật, không thể thu nhận tướng quân làm đệ tử.”

Tôn Tân lại khấu đầu, khẩn cầu: “Cự tử…”

Cáo Tử cũng quỳ xuống: “Cự tử, xin cự tử hãy thu nhận Tôn tướng quân. Đệ tử nguyện dạy Tôn tướng quân thuật phòng thủ. Với tài trí của Tôn tướng quân, tương lai chắc chắn sẽ vượt qua đệ tử.”

Tuỳ Sào Tử khẽ thở dài, đưa mắt nhìn Cáo Tử: “Cáo Tử, giỏi thuật phòng thủ có thể giúp một thành thoát khỏi tai hoạ nhất thời, đó vốn chỉ là thuật bất đắc dĩ, há có thể là cái đạo vĩnh cửu?” Trầm ngâm một lát, rồi quay sang nói với Tôn Tân. “Tôn tướng quân, ta thấy tướng quân dòng dõi chính nghĩa, có lòng từ bi, có tâm tế thế, nên giới thiệu cho tướng quân đến một nơi. Theo căn khí của tướng quân, hoặc giả có thể tu học thành tựu.”

Tôn Tân bái lạy: “Tôn Tân nguyện nghe cự tử chỉ bảo.”

“Tướng quân hãy đến khe Quỷ Cốc trong núi Vân Mộng, bái Quỷ Cốc tiên sinh làm thầy. Quỷ Cốc tiên sinh là người đắc đạo, học vấn trong thiên hạ không gì không biết. Tướng quân nếu có thể cầu tiên sinh làm thầy, chắc chắn có thể thành tựu nghiệp lớn.”

“Vãn bối đa tạ cự tử chỉ bảo!”

Tôn Tân bái biệt Tuỳ Sào Tử, lại đến phần mộ Tôn Cơ từ biệt ông nội, đang định lên đường thì thấy Tuỳ Sào Tử dẫn theo Cáo Tử, Tống Kiển đến đưa tiễn.

Mấy người cùng đi một đoạn đường, rồi Tôn Tân quay người, vòng tay vái sâu một lễ: “Tiền bối hãy dừng bước, vãn bối xin từ biệt tại đây!”

“Tôn tướng quân, Tuỳ Sào Tử còn có một câu muốn dặn dò!”

“Xin tiền bối chỉ bảo!”

Tuỳ Sào Tử chậm rãi lấy ra một túi gấm từ trong tay áo: “Sau khi vào Quỷ Cốc, nếu gặp phải chuyện không như ý, tướng quân hãy mở túi gấm này ra!”

Tôn Tân đưa hai tay nhận lấy túi gấm, cất vào tay áo, rồi quỳ xuống khấu lạy: “Vãn bối đa tạ cự tử!”

Tuỳ Sào Tử mỉm cười nói: “Tôn tướng quân, tướng quân có thể đi rồi!”

Tôn Tân lạy xong, đứng lên, lại quay sang vòng tay từ biệt Cáo Tử, Tống Kiển, sau đó quay người cất bước lên đường. Ba người Tuỳ Sào Tử đứng trên đỉnh dốc, nhìn theo bóng Tôn Tân xa dần, đến khi chỉ còn là một chấm đen nhỏ xíu.

Tống Kiển băn khoăn hỏi: “Tiên sinh đã quyến luyến Tôn Tân đến vậy, tại sao không thu nhận làm đệ tử, mà lại tiến cử tới Quỷ Cốc?”

Tuỳ Sào Tử khẽ thở dài: “Không phải ta không muốn thu nhận Tôn Tân. Quả thực Tôn Tân bản tính thuần hậu, rất có huệ căn, là nhân tài tu đạo trời sinh, ta không phải người thích hợp để làm thầy!”

Tống Kiển đột nhiên tỉnh ngộ: “Đệ tử hiểu rồi!”

Tuỳ Sào Tử quay sang hỏi: “Ồ, con hiểu chuyện gì?”

“Quỷ Cốc tiên sinh không xem trọng khổ nạn trong thiên hạ, song lại xem trọng nhân tài tu đạo. Nếu như nhìn thấy đạo khí nhường này, Quỷ Cốc tiên sinh ắt sẽ vui mừng thu nhận. Nếu Tôn Tân được Quỷ Cốc tiên sinh chỉ dạy, sẽ trở thành nhân tài trong thiên hạ. Dựa theo tính cách của Tôn Tân, nếu như thành tựu, chắc chắn sẽ có lợi cho thiên hạ!”

Tuỳ Sào Tử đưa mắt nhìn Tống Kiển, không nói lời nào, chỉ thở dài một tiếng rồi quay người bước đi.

***

Núi Vân Mộng nằm ở đất Triều Ca, nơi tiếp giáp giữa ba nước Ngụy, Triệu, Vệ, phía tây liền với núi Vương Ốc, phía bắc giáp với núi Đại Hình. Nơi đây núi cao rừng thẳm, dân cư vốn dĩ thưa thớt. Từ sau khi nhà Ân Thương diệt vong, nơi đây hầu như không một bóng người, vì vậy ba nước Ngụy, Triệu, Vệ không nước nào đặt quan xếp sứ ở đây, khiến vùng núi Vân Mộng trở thành vùng đất hoang sơ không người ở.

Tôn Tân từ biệt Tuỳ Sào Tử, đi qua địa giới Bình Dương rồi tiến thẳng về phía tây, chưa đến hai ngày đã đến được cửa Túc Tư ở cổ trấn Hà Khẩu. Từ nơi đây đi đò qua Hà Thuỷ, chính là địa giới Triều Ca. Chỉ cần vượt qua sông Kỳ Thuỷ, sẽ đến núi Vân Mộng.

Núi Vân Mộng đã ở ngay trước mắt, vì vậy Tôn Tân không vội vã, mà nhẩn nha dạo bước trên những con phố cổ xưa ở cửa Túc Tư.

Nghe nói ba trăm năm trước, vào thời Chu Định Vương, nước Hà Thuỷ dâng lụt, đã vỡ bờ tại đây, sau đó bắt đầu đổi dòng, chảy qua cửa Bạch Mã đến Đốn Khâu, sau đó chảy về phía bắc, hợp dòng với sông Chương Thuỷ, đến Chương Vũ rồi đổ ra biển.

Cửa Túc Tư là cửa sông lớn nhất của sông Hà Thuỷ trong vòng một trăm dặm quanh đây, cũng là bến đò trọng yếu nối liền giữa ba nước Ngụy, Triệu, Vệ, khách buôn lên bắc xuống nam qua lại như mắc cửi, vào thời cực thịnh, có khoảng hơn một vạn người sinh sống tại đây, chỉ riêng tiền thuế quan đã là một khoản thu lớn. Nơi này vốn thuộc nước Vệ, vì bị hai nước Ngụy, Triệu chèn ép, nên người Vệ đã vứt bỏ từ hơn trăm năm trước. Sau khi người Vệ rời đi, nơi đây nhanh chóng trở thành vùng đất tranh giành giữa Triệu và Ngụy. Thời Ngụy Vũ Hầu, Triệu, Ngụy liên tiếp ba lần xung đột tại đây, tử thương tới hơn vạn người. Mãi đến khi tướng Ngụy là Ngô Khởi xuất binh, cửa Túc Tư mới trở thành vùng đất của người Ngụy.

Cửa Túc Tư cứ vào ngày năm hàng tháng lại họp chợ, một tháng ba lần, mười lăm là phiên chợ lớn, mồng năm và hai lăm là phiên chợ nhỏ. Hiện giờ đã quá hè, chính là lúc nông nhàn, hôm nay lại đúng ngày mười lăm, nên người dân trong vòng trăm dặm vuông đều đến đây họp chợ. Trên phố người đi kẻ lại tấp nập, tiếng người ồn ào, tiếng rao bán mặc cả không ngớt bên tai.

Đây là lần đầu tiên Tôn Tân đến đây, lập tức bị hấp dẫn bởi sự náo nhiệt của vùng cổ trấn, hai mắt mở to, nhìn ngắm những sạp hàng, nhà cửa, quán xá ở hai bên phố với vẻ hiếu kỳ.

Trên một đài cao, có ba gã trai tráng đang ngồi chơi nhàn, ánh mắt không ngừng sục sạo trong dòng người đông đúc. Trong đó, một kẻ đã để mắt tới Tôn Tân, mình mặc trang phục nước Vệ, mặt mũi có vẻ ngơ ngác, bèn vội hích hai đồng bọn, dẩu mỏ về phía Tôn Tân. Hai gã này hiểu ý, chỉ gật đầu rồi lập tức lỉnh xuống, lẫn vào đám đông.

Đoạn đường phía trước còn đông đúc hơn nữa. Hai gã trai chen đến trước mặt Tôn Tân, một trái một phải, kẹp Tôn Tân vào giữa, kẻ kéo người đẩy, kẻ chèn người ép. Tôn Tân cũng không để ý, hai mắt vẫn mải mê nhìn ngược nhìn xuôi. Gã phát hiện ra Tôn Tân đầu tiên bám sát ngay sau lưng chàng, một tay nhanh như chớp thò vào trong tay nải, mò được một túi vải nặng trịch. Gã lui lại mấy bước, rồi huýt sáo thật vang. Hai gã kia biết đồng bọn đã thành công, lập tức tản đi.

Tôn Tân vẫn không hay biết chuyện gì đã xảy ra. Đến khi đi qua quãng phố đông, Tôn Tân mới thở phào một tiếng, ngước mắt nhìn lên, thấy bến đò đã ở ngay trước mặt. Tôn Tân tinh thần phấn chấn, rảo bước đi nhanh về phía bến đò. Đến nơi, hỏi ra mới biết con đò mới vừa đi khỏi, phải đợi nửa canh giờ nữa mới có chuyến tiếp theo.

Tôn Tân đứng bên bờ sông, mắt nhìn đăm đăm vào dòng nước Hà Thuỷ, một lát sau, lại quay trở về phố đông. Thấy bên đường có một quán ăn, Tôn Tân cũng đã cảm thấy đói bụng, nên đi vào trong quán, tìm một bàn gần cửa sổ, ngồi xuống, gọi hai đĩa đồ nhắm, một đĩa thịt bò và một vò rượu, vừa ăn uống vừa ngắm cảnh tấp nập trên phố.

Tôn Tân vừa ngồi xuống chưa được một khắc, từ ngoài cửa lại đi vào một người thanh niên đầu sùm sụp nón lá, ngoái đầu liếc ra bên ngoài một cái rồi mới bước vào trong quán, ngồi xuống bàn phía trước mặt Tôn Tân, kéo vành nón sụp xuống thêm chút nữa, gần như che khuất cả đôi mắt, lúc này mới gọi tiểu nhị: “Tiểu nhị, cho hai cân thịt bò, hai đĩa thức ăn và một vò rượu lâu năm.”

Tiểu nhị đáp “có ngay”, rồi lập tức đi chuẩn bị rượu thịt. Do đã quá trưa, không phải giờ ăn cơm, nên trong quán chẳng còn ai khác. Người này liếc mắt nhìn Tôn Tân, vừa hay bắt gặp ánh mắt Tôn Tân nhìn sang. Tôn Tân mỉm cười, gật đầu. Người này không phản ứng gì, chỉ quay mặt đi, mắt nhìn chăm chăm ra ngoài cửa sổ.

Một lát sau, tiểu nhị cũng mang rượu thịt lên cho người đó. Sau khi bày xong đồ ăn, tiểu nhị quay người đi, vô tình va phải nón lá, khiến chiếc nón rơi luôn xuống đất. Tiểu nhị vội vã nhặt lên, khom người xin lỗi: “Xin lỗi khách quan!” Người này lừ mắt nhìn tiểu nhị, nhưng không nói gì, chỉ đội lại nón lên đầu, cứ như vẫn đang ngồi dưới nắng. Tiểu nhị lấy làm lạ, nhưng cũng không nói gì, quay người đi luôn.

Người này, chính là Bàng Quyên.

Bàng Quyên chạy khỏi An Ấp, đến đất Hàn trốn tránh một thời gian. Nhân lúc Hà Tây đại chiến, người Ngụy không còn rảnh rang để tâm đến chuyện khác, nên đã thay tên đổi họ, âm thầm đến Đại Lương tìm kiếm thúc phụ Bàng Thanh. Bàng Quyên dựa theo những điều cha từng kể khi còn sống, tìm kiếm nhiều ngày ở Đại Lương, song mọi người đều nói không biết người này. Bàng Quyên đang lúc sốt ruột lo lắng, thì gặp được một ông già biết rõ sự tình, nói rằng Bàng Thanh mười mấy năm về trước đã dắt díu cả nhà bỏ đi, nghe nói là chuyển về cửa Túc Tư. Bàng Quyên hay tin mừng rỡ, lập tức rời khỏi Đại Lương, nhanh chóng tìm đến cửa Túc Tư, song đã tìm kiếm tất cả mọi quán xá, mà không thấy có một ai mang họ Bàng. Bàng Quyên trong lòng rầu rĩ, vắt óc suy nghĩ mà không biết phải đi về đâu. Nhìn thấy bến đò, Bàng Quyên bỗng nảy ra một ý, muốn vượt qua Hà Thuỷ, đi đến nước Triệu, tạm thời ẩn náu tại đó, tìm kiếm cơ hội phục thù. Nhưng khi đến nơi, cũng giống như Tôn Tân, đò vừa đi mất. Và tương tự, cũng quay trở lại, cũng nhìn thấy quán ăn, liền vào gọi rượu thịt, vừa ăn vừa đợi đò.

Thấy rượu thịt đã dọn lên, Bàng Quyên nâng vò rượu, rót đầy một bát, cầm đũa gắp một miếng thịt bò cho vào miệng, rồi bưng bát rượu lên uống một hơi cạn sạch.

Tôn Tân, Bàng Quyên đều tự nhiên ăn uống, không ai trò chuyện với ai. Một lát sau, Tôn Tân đã ăn no, bèn gọi tiểu nhị: “Tiểu nhị, tính tiền!”

Tiểu nhị hô “đến ngay”, sau đó cầm ra một thẻ tre, đưa tới trước mặt Tôn Tân, tươi cười mà nói: “Mời khách quan xem, đây là thức ăn đã gọi, tổng cộng năm đồng tiền bố!”

Tôn Tân chẳng buồn nhìn, chỉ nói “Được!”, sau đó với lấy tay nải, thò tay vào tìm. Sờ lần một lúc, Tôn Tân bỗng giật nảy mình, vội đặt cả tay nải lên mặt bàn, dỡ tung ra tìm kiếm. Bên trong, ngoài mấy bộ quần áo thay đổi, không còn lấy một đồng xu.

Tôn Tân kinh hãi, lại vội vã sờ lần khắp người và trong tay áo, nhưng vẫn không tìm được đồng nào. Tôn Tân sững sờ, ngồi ngây tại chỗ, vò đầu bứt tóc, dường như đang cố nhớ xem đã xảy ra chuyện gì.

Nụ cười trên khuôn mặt tiểu nhị từ từ biến mất, thấy Tôn Tân không có tiền trả, liền chõ miệng về phía quầy gọi lớn: “Ông chủ, mau đến đây!”

Chủ quán cảm thấy có chuyện bất thường, lập tức hằm hằm bước tới. Tiểu nhị chỉ tay vào Tôn Tân, nói: “Ông chủ, người này hình như định ăn quỵt!”

Ông chủ vung tay tát tiểu nhị một cú thẳng cánh: “Ngu xuẩn, đúng là mắt chó không biết nhìn người. Vị tráng sĩ này mà giống kẻ ăn quỵt ư? Nhìn người ta áo mũ lịch sự nhường kia, chẳng nhẽ không trả nổi tiền cơm?”

Tôn Tân sắc mặt càng thêm bối rối: “Tại hạ… tại hạ vốn dĩ có mang theo tiền, sáng nay rõ ràng vẫn còn hai mươi lượng vàng trong túi…”

Ông chủ lừ mắt lườm tiểu nhị: “Đã nghe thấy chưa? Trong túi sáng nay có những hai mươi lượng vàng! Tên ngu xuẩn kia, ngươi đã bao giờ nhìn thấy hai mươi lượng vàng chưa?” Nói xong quay sang nhìn Tôn Tân, giọng đầy nhạo báng. “Ha ha ha, này khách quan, có muốn nói khoác thì cũng phải nói cho lớn một chút chứ, hai mươi lượng vàng thì ít quá, chí ít cũng phải là năm mươi lượng!”

Tôn Tân càng nghe càng luống cuống chân tay: “Tại hạ… tại hạ… quả thực…”

Ông chủ càng miệng lưỡi chua ngoa, lắc lư người mà nói: “Nhìn bộ dạng lịch sự nho nhã thế kia, dù tại hạ là người lịch duyệt già đời, mà suýt chút nữa cũng bị qua mắt! Được rồi, khách quan không có tiền cũng không sao! Tiểu nhị, khách quan nợ tổng cộng bao nhiêu tiền?”

“Tổng cộng là năm đồng tiền bố!”

“Năm đồng bố?” Ông chủ khẽ đảo con ngươi. “Khách quan, thế này nhé, chúng ta trao đổi, một đồng bố là một cái dập đầu, ngươi chỉ cần dập đầu trước ta năm cái, coi như không ai nợ ai!”

Ông chủ nói xong, tiện tay kéo một chiếc ghế lại, phất áo ngồi luôn xuống đó, như chuẩn bị nhận lễ.

Tôn Tân chưa bao giờ phải chịu nỗi ô nhục nhường này, mặt đỏ như gấc, đưa tay chỉ mặt ông chủ: “Ông… ông… chỉ có năm đồng bố thôi, tại sao lại ức hiếp người ta đến thế?”

Ông chủ cười ha hả: “Ha ha ha, chỉ có năm đồng bố? Ta ức hiếp người? Ta mở quán ăn, ngươi đến ăn quỵt, lại còn nói ta ức hiếp người? Ta nói cho ngươi biết, ông ngươi ngày ngày mở hàng làm ăn ở đây, người đến kẻ đi đều là khách qua đường, có hạng người nào chưa từng gặp. Dập đầu đi, dập một cái gọi một tiếng ông nội, rồi đợi ông đây đáp lời, mới được dập tiếp. Nếu không, có dập đầu cũng không được tính!”

Tôn Tân chỉ vào tay nải trên bàn, nói: “Tay nải này, cộng với số quần áo bên trong, tạm đổi lấy năm đồng bố, thế nào?”

Chủ quán liếc nhìn tay nải mở toang đặt trên bàn, lại người nhạt: “Ngươi coi ta là quân nhặt rác ư!”

Tôn Tân sốt ruột tháo luôn thanh kiếm đeo ngang hông ra, đặt lên bàn, lạnh lùng nói: “Thanh kiếm này chí ít cũng đáng giá mười lượng vàng, tạm đổi lấy năm đồng bố, thế nào?”

Chủ quán càng lên mặt làm già, lắc lư cái đầu mà nói: “Ông đây làm ăn buôn bán, cần kiếm làm gì?”

Tôn Tân giận dữ: “Vậy ông cần gì?”

Ông chủ lại lắc lư thân người, nhếch mép cười: “Ta à? Không giấu gì ngươi, cả đời ta phục vụ người khác, cả đời gọi người khác bằng ông, nay chẳng cần gì cả, chỉ muốn nghe thử được gọi một tiếng ông nghe nó ra sao! Đừng nói là cái tay nải kia, đừng nói là thanh kiếm gỉ của ngươi, cho dù ngươi có lột toàn bộ đồ trên người xuống, ông đây cũng chẳng thèm! Đối với phường ăn không uống quỵt như ngươi, ông đây chỉ có một cách: hoặc là trả năm đồng bố, hoặc là dập đầu năm cái, ngươi chọn đi!”

Tôn Tân đứng lặng người, mặt lúc đỏ lúc tái, đang khi luống cuống không biết phải làm gì, bỗng một đĩnh vàng sáng loá bay vèo tới, rơi đánh “cạch” lên mặt bàn của Tôn Tân, không chệch một ly. Thỏi vàng nảy lên, lăn xuống nền nhà, lại nảy lộp cộp mấy cái nữa mới chịu nằm yên.

Chủ quán giật mình kinh ngạc, quay đầu lại nhìn, lập tức chạm phải ánh mắt sắc lạnh của Bàng Quyên. Bàng Quyên gằn giọng nói: “Ông chủ, xem đĩnh vàng này có đáng giá năm đồng bố hay không?”

Chủ quán biết gặp phải người rắn mặt, vội vã đáp liền: “Đủ! Đủ! Đủ!”

“Nếu như đủ, tạm đổi lấy năm đồng bố, trả tiền cơm cho vị tráng sĩ đây!”

Chủ quán vốn trong lòng khiếp nhược, giờ lại gặp phải kẻ đáng gờm, đành phải cố rặn ra bộ mặt tươi cười, đon đả: “Cha chả, ông lớn đây quả thực là người hào hiệp!” Rồi quay sang đanh giọng quát tiểu nhị. “Còn không mau nhặt lấy năm đồng bố ông lớn kia trả giúp!”

Tiểu nhị cúi người định nhặt, nhưng Bàng Quyên lập tức đưa tay chặn lại, từ từ đứng dậy, đi đến trước đĩnh vàng, kéo sụp nón xuống: “Này ông chủ, đây là năm đồng bố lớn, tiểu nhị thân phận thấp hèn, làm sao nhặt nổi?”

Chủ quán thấy Bàng Quyên mặt mày dữ tợn, thì liên tục khom lưng mà nói: “Ông lớn nói đúng, để tại hạ nhặt! Để tại hạ nhặt!”

Chủ quán cúi xuống nhặt, song ngón tay vừa chạm vào đĩnh vàng, đã bị Bàng Quyên đưa chân giẫm chặt. Bàng Quyên hừ mũi một tiếng, cười nhạt mà nói: “Này ông chủ, những kẻ điêu ngoa quá quắt, tại hạ đã gặp không ít, nhưng đểu giả đến mức như ngươi, thực là lần đầu tiên nhìn thấy! Chỉ vì vỏn vẹn năm đồng bố mà ngươi tìm đủ cách lăng nhục tráng sĩ đây. Giờ nhìn thấy vàng, lẽ nào ngươi nghĩ cứ nhặt lấy là xong chuyện?”

Lời vừa nói dứt, Bàng Quyên ngấm ngầm vận lực xuống chân, giậm mạnh xuống. Chủ quán đau đến nghiến răng trèo trẹo, nhưng không dám kêu, chỉ ngửa mặt lên gượng cười nịnh nọt mà nói: “Ông lớn nói phải lắm, tại hạ sẽ hành lễ tạ lỗi với tráng sĩ đây!”

Bàng Quyên nới lỏng bàn chân, chủ quán lập tức rút ngón tay ra, đưa lên miệng thổi phù phù mấy cái, rồi vội vã đi đến trước mặt Tôn Tân, đang định khom lưng hành lễ, lại nghe thấy giọng nói lạnh lùng của Bàng Quyên: “Tạ lỗi mà như thế ư?”

Chủ quán hoang mang hỏi: “Ông lớn ơi, ông… ông muốn tại hạ phải tạ lỗi thế nào?”

“Chẳng phải ngươi chỉ chăm chăm nghĩ đến năm cái dập đầu ư? Vậy thì hãy dập đầu năm cái luôn đi! Theo như cách mà ngươi nói lúc nãy, dập đầu trước vị tráng sĩ này một cái, thì gọi một tiếng ông nội. Nếu như ông lớn kia không tính toán với ngươi, dập đầu xong năm cái, chuyện hôm nay coi như xong!”

Chủ quán đứng ngây ra tại chỗ, đang cuống quýt nghĩ cách ứng phó, thì Bàng Quyên đã vung nắm đấm nện đánh rầm xuống mặt bàn: “Chẳng phải lúc nãy ngươi vừa nói cả đời phải gọi người khác là ông ư? Giờ gọi thêm vài tiếng cũng không chịu ư?”

Chủ quán giật bắn mình, lắp bắp: “Tôi dập đầu! Tôi dập!”

Chủ quán đi tới trước mặt Tôn Tân, đang định quỳ xuống thì Tôn Tân đã đưa tay ngăn lại: “Ông chủ, hãy nhớ phải làm người cho hậu đạo, năm cái dập đầu, ta không cần đâu!”

Chủ quán còn chưa kịp lên tiếng, Bàng Quyên đã nói: “Tráng sĩ xin hãy cứ ngồi xuống! Hôm nay, năm cái dập đầu, hắn muốn dập cũng phải dập, không muốn dập cũng phải dập!” Rồi quay sang chủ quán. “Đã nghe thấy chưa? Ngươi làm nhục tráng sĩ đây đến mức ấy, mà tráng sĩ lại lấy đức báo oán, nói tốt cho ngươi! Nể mặt tráng sĩ đây, ta sẽ giảm cho ngươi còn bốn cái dập đầu!”

Chủ quán run bắn, vội quỳ xuống khấu đầu: “Tráng sĩ, lúc nãy tiểu nhân có mắt như mù, đã đắc tội với tráng sĩ, xin được hành lễ tạ lỗi!” Song không đợi Tôn Tân lên tiếng, đã đứng ngay dậy, phủi bụi trên đầu gối, rồi mặt mũi sa sầm đi về phía quầy.

Tiểu nhị bám theo sau, vừa đi được mấy bước thì chủ quán đã ngoảnh lại quát lớn: “Mày chạy rối đi đâu thế? Còn không nhặt năm đồng bố lên?”

Tiểu nhị khựng lại, vội quay người nhặt lấy đĩnh vàng, khép nép đi về phía quầy.

Đúng lúc này, đầu bếp từ trong sau nhà đi ra: “Ông chủ, hết muối rồi!”

Chủ quán một tay giật lấy đĩnh vàng tiểu nhị vừa đưa, một tay lần lấy hai xu tiền đồng từ trong tay áo, ném cho tiểu nhị: “Đi mua muối!”

Tiểu nhị “dạ” một tiếng, cun cút chạy đi. Thấy tiểu nhị đã ra khỏi cửa, Bàng Quyên mới quay sang mỉm cười với Tôn Tân: “Nhân huynh, có thể đi rồi!”

Nói xong liền quay trở lại bàn mình, tiếp tục bưng bát rượu lên uống.

Tôn Tân đứng dậy, vòng tay vái Bàng Quyên một vái dài: “Ân công ở trên, xin nhận của Tôn Tân nước Vệ một lễ!”

Bàng Quyên vội đứng dậy, vái đáp lễ: “Chỉ là chút tiền mọn, Tôn huynh bất tất phải gọi là ân công.”

Tôn Tân lại vái mà nói: “Một chút tiền nhỏ, đáng giá trăm vàng. Nghĩa cử của ân huynh, Tôn Tân mãi mãi không quên! Xin hỏi tôn tính đại danh của ân huynh?”

Bàng Quyên suy nghĩ một thoáng rồi đáp: “Tại hạ họ Long tên Thuỷ, là người Đại Lương!” Rồi cười hào sảng. “Tôn huynh chớ mở miệng là gọi ân huynh, lời này nghe thật đáng thẹn!”

Tôn Tân cũng cười: “Vậy thì… tại hạ sẽ gọi là Long huynh. Chuyện ngày hôm nay, nếu không có Long huynh giúp đỡ, quả thực tại hạ chẳng biết phải làm sao!”

Bàng Quyên lại cười lớn: “Tôn huynh, từ nay về sau đừng nhắc đến chuyện này nữa! Nếu như Tôn huynh chưa vội đi, chúng ta hãy cùng uống một bát rượu, được chăng?” Bàng Quyên nhường Tôn Tân ngồi xuống trước, rồi đi sang bàn Tôn Tân để lấy bát đũa, mang trở về bàn, rót đầy một bát đưa cho Tôn Tân, tiện tay rót luôn vào bát của mình, nâng bát lên nói: “Tôn huynh, mời!”

Tôn Tân cũng nâng bát lên: “Đa tạ Long huynh!”

Hai người cùng vui vẻ uống rượu.

Tiểu nhị đi đến hàng muối, mua một túi muối nhỏ rồi vội vàng quay về quán. Đến bên cây cầu gỗ nhỏ, thấy có một đám đông đang xúm xít đọc tờ cáo thị dán trên tường, tiểu nhi hiếm khi được ra ngoài, lại thấy còn sớm, trong quán cũng không đông khách, nên len vào đám đông xem thử. Tiểu nhị đọc liền mấy tờ, rặt là phường giết người cướp của, không có gì đặc biệt. Đang định bỏ đi, tiểu nhị bỗng liếc thấy phía trên hình như còn có một bức vẽ. Lòng hiếu kỳ nổi lên, tiểu nhị liền tiến lại gần xem cho kỹ, vừa nhìn đã giật nảy mình, vì người trong bức vẽ giống hệt người đội nón trong quán. Vội nhờ người đọc giúp mấy dòng chữ phía dưới, biết được người này tên gọi Bàng Quyên, là khâm phạm bỏ trốn đã giết liền mấy mạng, nếu ai báo tin sẽ được trọng thưởng năm lượng vàng.

Tiểu nhị tim đập thình thịch, nhớ lại vẻ hung hãn của Bàng Quyên khi nãy, thì đoán chắc chắn là người này. Tiểu nhị định chạy đi báo quan lĩnh thưởng, nhưng lại sợ không may nhìn nhầm, không những không nhận được tiền thưởng, không chừng còn mất mạng như chơi. Băn khoăn một lát, tiểu nhị quyết định quay về nói lại với chủ quán, xem ông ta xử trí thế nào.

Tiểu nhị hấp tấp chạy về, đưa muối cho chủ quán, rồi ghé tai thì thầm một hồi. Chủ quán liếc nhìn Bàng Quyên, Tôn Tân, thấy hai người vẫn đang uống rượu, nên để tiểu nhị trông quán, còn mình đích thân chạy đến đầu cầu đọc cáo thị, chắc chắn mười mươi người kia đích thị là Bàng Quyên. Nghĩ lại nỗi ô nhục khi nãy, chủ quán nhếch mép cười nhạt, rồi chạy thẳng tới quan phủ.

Chưa đầy một khắc, chủ quán đã cùng hai mươi mấy tên lính rầm rập chạy về, dẫn đầu là một tên quân uý. Chủ quán vừa chạy vừa chỉ đường.

Khi bọn họ đến nơi, Bàng Quyên, Tôn Tân đã uống hết sạch vò rượu lâu năm. Tôn Tân vừa cười nói với Bàng Quyên, vừa gói ghém lại tay nải đã mở tung ra khi nãy.

Chủ quán đứng chặn trước cửa, tay chỉ vào Bàng Quyên, nói lớn: “Quan gia hãy xem, chính là tên đội nón kia!”

Quân uý mở bức chân dung cầm trong tay ra xem, rồi lại ngẩng nhìn Bàng Quyên, song chỉ thấy nón lá sùm sụp, không nhìn rõ mặt, bèn quát lớn: “Tên kia, bỏ nón xuống!”

Bàng Quyên lạnh lùng liếc xéo quân uý, rồi quay đầu sang tiếp tục nhìn Tôn Tân đang gói ghém hành lý. Quân uý chưa từng gặp người nào ngang ngược như vậy, lại quát lớn: “Các anh em, bắt lấy hắn!”

Bàng Quyên đặt tay lên chuôi kiếm, ánh mắt đầy vẻ khinh thường. Đám lính thấy trong tay đối phương có kiếm, lập tức rút vũ khí lăm lăm, nhưng chẳng ai dám xông lên.

Tôn Tân giật nảy mình, nhìn Bàng Quyên hỏi: “Long huynh… chuyện gì thế?”

Đám lính từ từ bao vây lại gần.

Bàng Quyên cười nhạt, rồi nhanh như chớp rút thanh bảo kiếm ra khỏi vỏ, vòng tay về phía Tôn Tân: “Tôn huynh, mau đi trước, chuyện này không liên quan đến huynh!”

Tôn Tân không nói một lời, lập tức rút kiếm: “Long huynh có chuyện, Tôn Tân há có thể ngồi nhìn? Đi, chúng ta cùng xông ra!”

Bàng Quyên vung bảo kiếm, hét lớn một tiếng, xông thẳng ra cửa chính. Đám lính vốn một phường giá áo túi cơm, hống hách đã quen, nay gặp Bàng Quyên khí thế hùng hổ, giọng quát như sấm, nên chẳng kẻ nào dám tiếp chiêu, vội vàng lùi liền mấy bước. Chủ quán sợ hãi, đang định bỏ chạy, thì Bàng Quyên đã vọt lên nhanh như ánh chớp, chụp được hắn ngay tại cửa chính, tiện tay đưa một kiếm cứa ngang yết hầu. Đám lính thấy Bàng Quyên giết người ngay giữa phố, ai nấy thất kinh, vội dạt cả ra.

Tôn Tân cũng vung kiếm xông ra, hai người vai kề vai lao ra ngoài phố, rồi lưng dựa lưng, đâm chém vùn vụt. Đám lính vốn dĩ đã không phải là đối thủ của hai người, lại do không chuẩn bị trước, chẳng ai mang theo cung tên, nên chẳng tên nào dám xông lại gần, chỉ dám bao vây hai người từ phía xa. Chưa đến một khắc, trong đám đã có vài kẻ ngã gục dưới kiếm của Bàng Quyên. Tôn Tân múa kiếm tít mù, chém gãy liền mấy mũi thương. Những kẻ mất thương sợ đến tái mét mặt mày, vội lùi cả lại.

Bàng Quyên thấy có khoảng trống, liền hô lớn, hai người bèn nhất tề xông lên, mở ra một con đường máu, chạy ngoặt vào một ngõ nhỏ. Đám lính không dám lại gần, nhưng cũng không dám không đuổi theo, vừa đuổi vừa hò hét ầm ĩ, song vẫn giữ một khoảng cách khá xa. Chạy được một đoạn, hai người cùng tung người nhảy vọt lên tường, phóng lên mái nhà. Khi đám lính hè nhau đuổi tới nơi, đã không thấy bóng dáng họ đâu nữa.

Đã xảy ra chuyện ầm ĩ, hai người không dám trở lại bến đò, chỉ có thể chạy theo đường mòn, bỏ trốn vào một cánh rừng. Đi một mạch hơn hai mươi dặm, hai người mới dừng bước nghỉ chân, ngồi tựa vào gốc cây thở phì phò.

Thở một lúc, Bàng Quyên đưa mắt nhìn Tôn Tân, vòng tay cất giọng cảm phục: “Thường có câu, chân nhân không lộ tướng. Tại hạ vốn cứ nghĩ Tôn huynh là kẻ sĩ nho nhã, không ngờ lại mang công phu tuyệt diệu trong mình!”

Tôn Tân cũng vòng tay đáp lễ: “Long huynh quá khen. Nói thực, võ công của Long huynh còn vượt xa Tân, Tân thực lòng thán phục!”

“Hay lắm!” Bàng Quyên cười lớn. “Không nói chuyện này nữa. Hôm nay thật thú vị. Đầu tiên là tại hạ giúp Tôn huynh hả giận, sau đó Tôn huynh lại giúp tại hạ giải vây, coi như chúng ta có duyên gặp mặt, không ai nợ ai!”

“Long huynh nói sai rồi!” Tôn Tân lắc đầu nói. “Không có Tôn Tân, với võ công của Long huynh, việc thoát thân cũng dễ như trở bàn tay. Còn nếu không có Long huynh, cho dù Tôn Tân có ba đầu sáu tay, cũng khó thoát khỏi cảnh trớ trêu, ơn năm đồng bố, Tôn Tân suốt đời không dám quên, sao có thể nói không ai nợ ai được?”

Bàng Quyên ngẩn người, thở dài một tiếng rồi gật đầu: “Người thuần hậu trong thiên hạ, không ai hơn được Tôn huynh!” Nói đoạn, lấy ra một đĩnh vàng, đưa cho Tôn Tân. “Tôn huynh hãy cầm lấy, tại hạ xin cáo từ!”

Tôn Tân sững lại, rồi vội đẩy trả vàng cho Bàng Quyên: “Long huynh, việc này sao có thể được?”

Bàng Quyên đẩy lại, bật cười mà nói: “Sao lại không được? Tiền nong chẳng qua cũng chỉ như bãi phân chó, song ở bên ngoài, không có bãi phân chó này thì không được! Tại hạ chỉ muốn nhắc nhở Tôn huynh một câu, sau này phải cẩn thận một chút, dù sao thiên hạ ngày nay, người tốt thì ít mà kẻ xấu lại nhiều!”

Tôn Tân chưa bao giờ gặp người nào hào hiệp đến vậy, tay nhận lấy vàng, trong lòng cảm động: “Long huynh…”

Bàng Quyên lại cười sảng khoái: “Nhìn kìa, đại trượng phu hành sự, sao cứ như đàn bà thế? Hãy hào sảng lên nào, hai chúng ta tụ tán có duyên, giờ xin từ biệt!” Nói đoạn, liền vòng tay cáo từ.

Tôn Tân xúc động, cũng vòng tay hỏi: “Dám hỏi Long huynh, định đi về đâu?”

Bàng Quyên ngần ngừ: “Việc này… Tôn huynh còn có chuyện gì chăng?”

“Tại hạ không hề có ý gì khác, chỉ là tại hạ cảm thấy, Long huynh dường như còn có điều gì phiền muộn?”

Bàng Quyên trầm ngâm chốc lát, rồi gật đầu nói: “Tôn huynh nếu đã nhận ra, tại hạ cũng không giấu nữa. Thực ra, tại hạ không phải họ Long, cũng không phải người Đại Lương. Tại hạ họ Bàng tên Quyên, nhà ở An Ấp, gần đây đã kết oan gia với gian tặc Trần Chẩn!”

“Gian tặc Trần Chẩn?” Tôn Tân kinh ngạc. “Người mà Bàng huynh vừa nhắc đến, phải chăng là thượng đại phu nước Ngụy Trần Chẩn?”

“Chính là tên gian tặc đó!” Bàng Quyên nghiến răng kèn kẹt. “Gian tặc này nham hiểm độc ác, ghen ghét hiền tài, hãm hại trung lương, khiến Đại Ngụy ta phải chịu mối nhục Hà Tây, hắn chính là đại gian thần của nước Ngụy. Đây là việc nước, tạm chưa nói tới. Mấy tháng trước, tên cẩu tặc này đã cấu kết với Công Tôn Ưởng nước Tần, ra sức xúi bẩy chúa thượng xưng vương. Nghe nói gia phụ từng là thợ may của Chu thất, biết may vương phục, tên cẩu tặc này đã phái người tìm đến nhà tại hạ. Gia phụ lấy lý do không hợp với vương chế, kiên quyết không nghe. Tên cẩu tặc này thẹn quá hoá giận, đã bắt nhốt gia phụ, ép gia phụ may vương phục. Tại hạ đi cứu gia phụ, hắn lại ngầm mai phục, hãm hại tại hạ. May mà có người bạn La Văn xả thân cứu giúp, tại hạ mới thoát được kiếp nạn! Tên cẩu tặc này vẫn chưa chịu buông tha, lại vu cho tại hạ tội giết người, lệnh cho quan phủ truy nã khắp nơi, quyết trừ cho được hậu hoạn!”

“Nghe Bàng huynh kể, Trần Chẩn quả thực đáng hận! Dám hỏi Bàng huynh, bước tiếp theo định làm gì?”

Bàng Quyên thở dài: “Tại hạ vốn định từ đây qua sông sang nước Triệu, không ngờ gặp phải chuyện này. Lúc nãy tại hạ đã nghĩ kỹ, cứ lẩn trốn mãi cũng chẳng phải cách hay! Hơn nữa, gia phụ vẫn nằm trong tay gian tặc, sống chết chưa biết ra sao. Vì nước vì nhà, vì trung vì hiếu, tại hạ phải quay lại An Ấp! Không trừ gian tặc, nước Ngụy sẽ nguy. Lần này tại hạ trở về, nhất định phải trừ khử cẩu tặc Trần Chẩn!”

Tôn Tân gật đầu nói: “Trừ khử gian tặc là chuyện nhỏ, cứu lệnh tôn đại nhân mới là cấp bách. Bàng huynh nếu không chê, Tân nguyện cùng trở về, giúp huynh một tay!”

Bàng Quyên nắm chặt hai tay Tôn Tân: “Tôn huynh…”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử