Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 95
Rời Nghi Dương, Bạch Khởi trúng kế
Buồn vĩnh biệt, Trương Nghi bày cờ

❊ ❊ ❊

Trên núi Chung Nam, Thiên Hương bước từng bước vào Hắc Điêu đài, tiến thẳng tới động của kim điều.

Doanh Hoa ngồi ngay ngắn trên chiếu, nhìn nàng chăm chú.

Thiên Hương lẳng lặng quỳ xuống, một thân hiếu phục trắng toát.

“Thiên Hương,” rất lâu sau, Doanh Hoa mới lên tiếng, “ngươi trở về rồi.”

“Hồi bẩm kim điêu,” Thiên Hương ngữ khí bình thản, “Thiên Hương đã trở về.”

Ánh mắt Doanh Hoa dừng lại trên hiếu phục của nàng: “Áo này là vì Tô Tử ư?”

“Vì tất cả mọi người.”

Doanh Hoa thất kinh: “Chết bao nhiêu?”

“Chỉ còn Thiên Hương.”

Doanh Hoa giật mình kinh hãi, đưa tay ôm đầu, bật ra hai tiếng: “Nói đi!”

Thiên Hương bèn kể lại tường tận mọi việc xảy ra ở Lâm Truy, nhất là vào đêm hành thích Tô Tần. Giọng kẻ bình thản như không, tựa hồ câu chuyện chẳng mảy may liên quan tới mình. Qua lời kể của Thiên Hương, toàn bộ sự việc đêm đó được mô tả tường tận như hiển hiện trước mắt. Từ lúc hay tin Tuyết cung phái người tới đón Tô Tần, Thiên Hương hiểu rằng thời cơ đã tới, bèn chia bốn chục hắc điêu thành ba tốp, mười người ẩn phục ở đầu cầu phía đông, hai mươi người ẩn phục ở đầu cầu phía tây, còn nàng dẫn mười người tiếp ứng vòng ngoài. Nào ngờ hộ vệ cho Tô Tần đều là cao thủ, liều mạng kháng cự, khiến cả hai bên tử thương hầu hết. Cho đến khi nàng hạ sát được đối thủ cuối cùng, đuổi sang bên kia cầu, thì thấy có người đang kéo Tô Tần chạy về phía Tuyết cung, và từ phía đó đang có đông đảo cung vệ chạy tới tiếp ứng.

Nghe tới đây, Doanh Hoa nhìn xoáy vào Thiên Hương: “Kẻ cứu Tô Tần, hẳn là Thu Quả?”

“Phải, thưa kim điêu.” Giọng Thiên Hương trầm xuống. Rồi nàng kể tiếp đoạn kết cục, kể đến cuối cùng, nước mắt lã chã.

Doanh Hoa cũng rầu rĩ hồi lâu, rồi lệnh cho hắc điêu sắp xếp đàn tế, bày lên bài vị của tất cả những hắc điêu vừa bỏ mạng, chính giữa là bài vị của Tô Tần.

Cúng tế xong, Doanh Hoa đánh xe tới Hàm Dương, vào yết kiến Vũ Vương, báo tin Tô Tần đã chết.

“Hay! Hay! Hay lắm!” Vũ Vương lấy làm phấn chấn, khen liền ba tiếng, “Tô Tần không còn, hợp tung cũng không còn, để xem Hàn Vương kia có thể làm gì! Hừm!” Nói rồi đấm mạnh xuống án.

“Hồi bẩm đại vương,” Doanh Hoa vòng tay, “thần cho rằng, giết chết Tô Tần, tình thế không những không tốt hơn, mà càng bất lợi cho ta!”

“Ồ?” Vũ Vương nhìn sững vào Doanh Hoa.

“Để thực thi vương mệnh, thần đã phải đi bốn mươi tiểu điêu giỏi nhất.” Công tử Hoa giải thích, “song Tô Tần đã có để phòng, thị vệ đều là cao thủ. Tô Tần sang Tề, là để thỉnh cầu Tề Vương xuất viện binh. Tề Vương mở dạ yến tiếp đãi hắn, tức là đã đồng ý xuất binh. Để ngăn chặn Tô Tần vào cung, cũng là để thực thi vương mệnh, hắc điêu đã mai phục giữa đường hành thích, toàn bộ đều xả thân trong ác đấu, chỉ còn sót lại duy nhất một hắc điêu đâm chết Tô Tần, trở về phục mệnh. Chúng hắc điêu bỏ mạng ở Tề đô Lâm Truy, lại ngay ngoài cổng cung Tề, không chỉ khiến cung Tề kinh hoàng, mà còn chấn động toàn thiên hạ. Thần vừa nhận được mật báo từ cung Tề gửi tới, Tề Vương đã lệnh cho Khuông Chương dẫn năm vạn quân cứu viện nước Hàn!”

Vũ Vương kinh hãi.

“Còn nữa,” Doanh Hoa tiếp lời, “Tô Tần chết rồi, ti tung thân vẫn ở Đại Lương, do Công Tôn Diễn cai quản. Công Trọng Xỉ đã dẫn sáu vạn viện binh nước Hàn đóng tại Y Khuyết, cách Nghi Dương chưa đầy năm chục dặm, chỉ một ngày là tới nơi. Viện binh nước Sở đã rời khỏi Lỗ Quan, tiến vào đất Hàn, đóng tại Nhữ Xuyên.”

Vũ Vương ngẫm nghĩ một chốc, quay sang nội thần: “Có lời mời Tư Mã Thác cùng chú Tật, lập tức vào cung!”

Đợi hai người đến nơi, Doanh Hoa bèn kể lại đầu đuôi sự việc. Doanh Tật muốn rút quân về, song Tư Mã Thác hay tin Khuông Chương lại tới, lấy làm phấn chấn, nguyện dẫn quân đánh Tề.

Vũ Vương nhìn sang Doanh Hoa: “Ý chú thế nào?”

“Hồi bẩm đại vương,” Doanh Hoa vòng tay, “đại vương muốn nghe lời thực chăng, hay là…”

“Lời thực!”

“Chưa tính các cánh viện binh, chỉ so về thực lực hiện tại, Cam tướng quân có đánh ba năm nữa, e rằng cũng không hạ nổi Nghi Dương!”

“Gì kia?” Vũ Vương trợn trừng hai mắt.

“Giao chiến là ở tướng, không ở quân, cũng không ở thế hiểm. Người Hàn cố thủ Nghi Dương đã hơn năm tháng, duy chỉ nhờ vào một người, thủ uý Bạch Khởi. Theo thần được biết, Cam tướng quân đã dốc hết mưu kế thủ đoạn, song còn xa mới bằng được Bạch Khởi.”

Vũ Vương nhắm mắt hồi lâu, rồi quay sang nội thần: “Truyền chỉ Cam Mậu, lui binh.”

Ba ngày sau, có cấp báo từ Nghi Dương gửi về, là của Cam Mậu.

Vũ Vương mở ra xem, thấy chỉ vỏn vẹn hai chữ, “Tức Nhưỡng”.

Nhớ tới lời hứa cùng lời thề của mình hôm đó, Vũ Vương thở dài, lại triệu Doanh Hoa, đưa cho xem cấp báo của Cam Mậu, cười gượng mà nói: “Đều tại quả nhân, tuỳ tiện thể thốt! Giờ quả nhân tin chú, theo ý chú, liệu có kế sách lưỡng toàn nào chăng?”

“Chỉ còn một cách, đại vương hãy đánh cược một phen, chiếm lấy Nghi Dương trước khi hai quân Tề, Sở kịp tới!”

“Chiếm bằng cách nào?”

“Thứ nhất, tiêu diệt Bạch Khởi, thứ hai, dốc hết sức Tần, đánh tan Công Trọng Xỉ!”

“Được!” Vũ Vương ngả người lại, “việc này, quả nhân uỷ thác cho chú. Quả nhân sẽ giao lại cho chú Nhậm Bị, Ô Hoạch và năm vạn nhuệ binh, giúp sức cho chú!”

“Thần tuân mệnh.”

“Phải rồi,” Vũ Vương tiếp lời, “kẻ tên Bạch Khởi kia, chú có biết về hắn?”

“Là cháu nội của tiên tướng quốc nước Nguỵ Bạch Khuê, cha hắn là Bạch Hổ, từng nhiệm chức tư đồ nước Nguỵ, sau sang Hàn, vẫn làm tư đô. Nhà họ Bạch nhiều đời kinh thương, giàu có nức tiếng. Năm xưa thần tới Đại Lương, đã từng gặp mặt, lúc đó còn là đứa trẻ, nhận cả Tẫn, Bàng Quyên làm nghĩa phụ!”

Vũ Vương ngẫm nghĩ một hồi, nhìn sang Doanh Hoa: “Nghe chú nói vậy, thứ khiến quả nhân hào hứng lại phải là Nghi Dương nữa, mà là người này! Hãy tìm khiến hắn tới Hàm Dương, quả nhân sẽ đích thân đón!”

“Thần tuân mệnh!”

Doanh Hoa lĩnh mệnh, cấp tốc tới Nghi Dương, vào gặp Cam Mậu, bảo Cam Mậu truyền lệnh rút quân về Khúc Ốc, Hàm Cốc.

Cam Mậu theo lệnh lui binh. Thành Nghi Dương bị vây khốn suốt nửa năm trời, cuối cùng đã được thở phào nhẹ nhõm. Dân chúng Nghi Dương đều nghĩ rằng người Tần e sợ viện binh Tế, Sở cùng sáu vạn quân Hàn của Công Trọng Xỉ đang đóng tại Y Khuyết nên mới rút về. Thú thừa Hàn Lỗi lệnh cho Ngô Khởi dẫn năm nghìn quân thừa thắng truy kích, công phá ải Hiệp Thạch, quận Tần thất bại tháo chạy, người Hàn “thu phục” được ải Hiệp Thạch. Bạch Khởi cắt cử ba nghìn quân trấn thủ, dựng nhiều đài phong hoả để truyền tin.

Người Tần thoái lui một mạch ra ngoài ải Hiệp Thạch, đây quả là một chiến thắng trọng đại. Nước Hàn trong triều ngoài nội hân hoan, thành Nghi Dương lại mở rộng cổng, cho dân chúng đã bị giam chân suốt nửa năm trời được tự do ra vào. Bạch Hổ tức tốc dẫn theo nô bộc tới Dương Địch, đốc thúc sản xuất vũ khí để bổ sung cho phòng ngự Nghi Dương.

Cổng thành Nghi Dương mở cửa đến ngày thứ ba, Công Trọng Xỉ đích thân đi tuần ải Hiệp Thạch, tuần tra xong thì dẫn Bạch Khởi quay về Y Khuyết, nói rằng đêm nay sẽ triệu chư tướng tam quân bàn luận về cục thế cùng kế sách, để tấu báo lên Hàn Vương.

Giờ Ngọ hôm sau, Bạch Khởi quay về phủ, thấy mẫu thân Khởi Y cùng vợ con mình đều không có nhà, hỏi ra mới biết buổi chiều hôm qua, phu nhân thú thừa mời tới phủ, đến chập tối thì phu nhân nhắn tin về, rằng sẽ nghỉ lại qua đêm ở phủ thủ thừa, lúc này hẳn cũng sắp về.

Bạch Khởi vội vã tới phủ thú thừa, mới biết họ không hề tới đó.

Bạch Khởi lập tức hiểu ra gia quyến đã gặp chuyện bất trắc, vội bẩm lên Hàn Lỗi. Hàn Lỗi kinh hãi, liền điều binh lính tìm kiếm khắp nơi, song không thấy tung tích đâu cả.

Bạch Khởi một mặt tức tốc gửi thư tới Dương Địch báo tin cho Bạch Hổ, mặt khác tiếp tục lùng sục tìm kiếm khắp nơi.

Tới tối ngày thứ ba, Bạch phủ nhận được một bức thư, gửi đích danh Bạch Khởi. Bạch Khởi mở ra, là thư của bọn bắt người, song lời lẽ vô cùng lịch thiệp, nói rằng lão phu nhân, thiếu phu nhân cùng tiểu thư đều đang trong tay họ, vẫn bình yên vô sự, còn nói bọn họ xưa nay tôn kính Bạch phủ, nên sẽ không gây tổn thương đến gia quyến, chỉ bởi hiện tại có chuyện khó khăn, cần gấp ba mươi dật vàng cứu cấp, không còn cách nào khác mới phải dùng tới hạ sách này, mời quý quyến lên núi, muốn mượn tạm số vàng, đợi qua lúc gian nguy sẽ hoàn trả đủ số. Rồi hẹn Bạch Khởi trong vòng ba ngày hãy mang vàng lên núi Hùng Nhĩ, đi theo chỉ dẫn, có thể mang theo tuỳ tùng song không quá hai người, bằng không, tính mạng của gia quyến khó lòng đảm bảo… Bức thư văn từ trúc trắc, chữ viết nguệch ngoạc, còn có vài chữ viết sai hoặc không biết viết, đành khuyên vòng tròn thay thế, rõ ràng là chữ nghĩa của phường thảo khấu.

Núi Hùng Nhĩ là một ngọn núi lớn, cách Nghi Dương chừng hơn hai trăm dặm về phía thượng nguồn Lạc Thuỷ, xưa kia vốn là địa bàn nước Quắc, về sau nước Quắc bị Nguỵ thôn tính, đất này nhập vào ấp Khúc Ốc của Nguỵ. Sau nữa Khúc Ốc vào tay Tần, núi này cũng thuộc vào địa giới của Tần, song chân núi phía đông lại thuộc nước Hàn, quy về địa phận Nghi Dương. Núi Hùng Nhĩ cheo leo hiểm trở, cây cối rậm rạp, vắng dấu chân người, nhiều mãnh thú, nên ngoài thợ săn, cả người Tần và người Hàn đều ít sinh sống trên núi, bởi vậy địa bàn này gần như không nước nào cai quản. Mấy năm trước, Bạch Khởi thường cùng bằng hữu đi săn ở đó, vì thế khá thạo thế núi.

Thứ nhất là vì thời hạn ba ngày quá gấp gáp, không còn thời gian để cân nhắc đắn đo, hai nữa bởi là người học võ nên gan dạ hơn người, Bạch Khởi không chút chần chừ, lập tức sai quản gia đếm đủ ba mươi dật vàng, dẫn theo hai thuộc hạ giỏi võ, đánh chiến xa đi chuộc người.

Chiến xa lao băng băng trên đường lớn men theo bờ sông Lạc Thuỷ, khi còn cách núi Hùng Nhĩ vài chục dặm, không còn đường cho xe đi nữa, Bạch Khởi bèn dặn phu xe ở lại, còn mình cùng hai thuộc hạ đi bộ lên núi. Vừa tới chân núi, quả nhiên trông thấy có ám hiệu mũi tên màu đỏ dẫn đường. Ba người đi theo ám hiệu, lòng vòng trên núi hơn hai canh giờ thì tới một khe núi hẻo lánh.

Không nhìn thấy ám hiệu chỉ đường nào nữa.

Trong khe núi có một căn nhà xếp bằng đá, hẳn là nơi trú ngụ tạm thời của thợ săn trên núi, lúc này đã bỏ hoang. Bạch Khởi đẩy cửa nhìn vào, thấy không có ai, nhưng trên bàn đá giữa nhà có ám hiệu cuối cùng, không phải mũi tên, mà là một bình sử đậy nút. Bạch Khởi nhìn kỹ cái bình, thấy không có gì bất thường, bèn cầm lên xem, thấy đáy bình chặn lên một phiến lá khô, trên viết dòng chữ: “Hãy mở bình.”

Bạch Khởi bèn rút nắp bình ra, lập tức một luồng hương thơm xộc thẳng vào trước mặt, chốc đã nông nàn khắp gian phòng đá.

Cả ba người đầu óc váng vất, ngã lăn ra bất tỉnh.

Đến khi Bạch Khởi tỉnh lại, đã thấy mình đang ở trong một cỗ xe mui, cả tay lẫn chân đều bị trói nghiến.

Gần như cũng vào lúc đó, Bạch Hổ hay tin gia quyến bị bắt cóc, hối hả quay về Nghi Dương, giữa đường cũng bị đánh thuốc mê bắt đi.

Đúng lúc cả thành Nghị Dương đang ồn ào về chuyện nhà họ Bạch, đại quân Cam Mậu đang mai phục trên tuyến Hàm Cốc, Khúc Ốc bất đồ tập kích chiếm ải Hiệp Thạch, rồi đánh thẳng tới Nghi Dương. Cùng lúc đó, năm vạn nhuệ binh do Doanh Hoa thống lĩnh cũng men theo Lạc Thuỷ tiến về phía đông, thẳng tới Y Khuyết, vừa hay đụng độ đại quân của Công Trọng Xỉ vừa nhổ trại hành quân tới Nghi Dương tăng viện. Hai cánh quân, một bên vừa nhổ trại lên đường, một bên vừa vượt đường xa đánh tới, kịch chiến tại thung lũng sông Y Thuỷ. Phía quân Tần, Nhậm Bi, Ô Hoạch đi tiên phong, xông lên đầu trận, tay cầm binh khí nặng trăm cân, tả xung hữu đột như vào chỗ không người, quân Hàn hễ ai ngăn cản, lập tức mạng vong. Cuối cùng, quân Hàn tan vỡ, tháo chạy tán loạn.

Doanh Hoa không truy đuổi, mà dẫn quân lộn lại bao vây thành Nghi Dương tầng tầng lớp lớp. Nghi Dương không còn Bạch Khởi, cuống cuồng hoảng loạn, quân dân Nghi Dương đã thảnh thơi hơn chục hôm, tinh thần lỏng lẻo, giờ bị gần chục vạn quân Tần tấn công dồn dập từ bốn phía, cộng thêm khủng hoảng trước chiến bại ở Y Khuyết, không còn lòng dạ nào mà giữ thành nữa. Ô Hoạch dũng mãnh dẫn đầu, leo vùn vụt theo thang dây lên tới đầu thành, xông vào sát phạt đám quân Hàn đang hớt hải.

Nghi Dương thất thủ chỉ trong một ngày, thú thừa Hàn Lỗi bị bắt sống, chư tướng hoặc tử trận, hoặc bị bắt. Trong hai trận Y Khuyết, Nghi Dương, người Tần tàn sát đến hơn sáu vạn người Hàn, Công Trọng Xỉ chạy thoát.

Hay tin quân Hàn đại bại ở Y Khuyết, Nghi Dương thất thủ, quân Sở liền lui về phòng thủ Lỗ Quan, quân tung thân gần như đều án binh bất động. Cuộc chiến săn bắt con mồi lẻ đàn là nước Hàn đã tạm thời kết thúc bằng việc Tô Tần bị hành thích và nước Hàn bại trận Y Khuyết, thất thủ Nghi Dương. Hàn Vương phái Công Trọng Xỉ sang Tần giảng hoà, cắt nhượng cho Tần Nghi Dương cùng thung lũng sông Lạc Thuỷ.

Sau ba tháng trời lặn lội đường xa, công tử Tắc đã tới được Yên đô Kế Thành.

Công tử Tắc là đi theo sứ thần nước Yên tới điếu viếng Huệ Vương để đến Kế Đô, đi theo hộ vệ chính là cậu ruột Mị Nhung. Nhìn người em cùng cha khác mẹ tuổi còn thơ dại mà đã mất cha lìa mẹ, bị tân vương đày tới chốn xa xôi vài nghìn dặm, Yên thái hậu bất giác nhớ tới cảnh ngộ của mình năm xưa, trong lòng thương xót, ôm công tử Tắc vào lòng khóc lóc hồi lâu, sau đó giữ lại trong cung, tự tay chăm sóc, xin Yên Vương dành ra một phủ trạch khác cho Mị Nhung và thị vệ nước Tần ở.

Chuyện vui không chỉ có thế, còn chưa hết mừng vì gặp được công tử Tắc, Phi Phi cũng tới lúc làm lễ cập kê.

Suốt những năm qua gắn bó thân thiết, Yên Chiêu Vương ngày càng yêu thương Phi Phi, không muốn rời xa nàng lấy một chốc, nên quyết định vào lễ cập kê của Phi Phi sẽ đính hôn với nàng. Tuy nhiên, khi Yên Vương ngỏ ý với nàng, Phi Phi lại kiên quyết khước từ, nguyên do bởi nàng là Mặc giả, mà nhiệm vụ của Mặc giả là kiêm ái thiên hạ, chứ không phải chỉ cung phụng một người, do vậy, nàng không thể chấp nhận hôn sự này.

Yên Chiêu Vương lo lắng rối bời, cầu cứu thái hậu.

“Con cầu ta cũng vô ích,” thái hậu lắc đầu, rồi hất hàm về phía cung viện của tổ thái hậu, “người con nên cầu, là tổ thái hậu!”

Yên Chiêu Dương đứng bật ngay dậy, vội vã đến tìm Cơ Tuyết.

Cơ Tuyết vẫn sống trong cung viện của nàng trước đây, cung Cam Đường, giờ đã được sửa sang lại, cùng với “nghĩa nữ” Phi Phi. Tỳ nữ thân tín hầu hạ Cơ Tuyết vẫn là Xuân Mai.

Chiêu Vương hối hả tìm tới cung Cam Đường, Cơ Tuyết còn đang nghe Xuân Mai bẩm báo, Chiêu Vương đã chạy vào đến nơi, quỳ sụp xuống dưới chân Cơ Tuyết, bật khóc mà gọi: “Tổ hậu…”

“Đại vương, có chuyện gì vậy?” Cơ Tuyết vừa kịp đứng dậy nghênh đón, thấy vậy thì kinh ngạc hỏi.

Chiêu Vương bèn kể cho Cơ Tuyết chuyện Phi Phi khước từ thành hôn với mình, rồi cất giọng kiên định: “Tổ hậu, tôn nhi không thể sống thiếu Phi Phi. Không có Phi Phi, tôn nhi đời này không cần ai khác, nước Yên này, tôn nhi cũng không cần, tôn nhi sẽ theo Phi Phi làm Mặc giả!”

“Ối chao!” Thấy là chuyện này, Cơ Tuyết mỉm cười nói, “con chớ doạ dẫm tổ hậu như vậy! Chuyện tổ hậu đã kinh qua còn chưa đủ nhiều ư?”

“Tổ hậu,” Chiêu Vương vụt đứng dậy, lau nước mắt, rành rọt từng tiếng, “Chức Nhi đi đây! Yên Vương gì kia, con không làm nữa!” Rồi chực bước đi.

“Làm Mặc giả ư?” Cơ Tuyết lại cười, “e rằng con không chịu nổi nỗi khổ đó đâu!”

“Tổ hậu!” Chiêu Vương giậm chân, quay người, sải bước đi ra.

Cơ Tuyết để mặc cho Chiêu Vương đi. Chờ Chiêu Vương đi thật xa rồi, mới mỉm cười, vẫy tay về phía tấm rèm: “Phi Phi, ra đây!”

Hoá ra lúc Chiêu Vương cầu kiến, Phi Phi cũng đang kể cho mẹ nghe chuyện Chiêu Vương cầu hôn, còn chưa kể xong, đã nghe tiếng bước chân Chiêu Vương chạy vào, bèn nấp vội sau rèm.

Phi Phi bước ra, sà vào lòng Cơ Tuyết, khuôn mặt đỏ bừng.

“Sao mặt con lại đỏ thế kia?” Cơ Tuyết vuốt khẽ lên khuôn mặt xinh đẹp của Phi Phi, “người ta tìm tới tận nơi rồi, con xem, giờ phải làm thế nào đây?”

“Con… nhưng con là Mặc giả!”

“Tạm không nói đến Mặc giả, mẹ hỏi con, con có thích người vừa nãy không?”

“Thích!” Phi Phi lí nhí đáp.

“Thích đến độ nào?”

“Con không biết.”

“Con có muốn nghe mẹ thích một người là thích đến độ nào không?”

“Vâng!” Phi Phi gật đầu lia lịa.

Cơ Tuyết bưng lại một chiếc hộp gấm, mở ra tầng tầng gấm lụa bọc ngoài, cuối cùng lộ ra một chiếc hộp gỗ chạm khắc tinh xảo. Mở hộp gỗ ra, bên trong là một thanh kiếm, chuôi kiếm cẩn ngọc quý rực rỡ.

“Thanh kiếm đẹp quá!” Phi Phi kinh ngạc thốt lên.

“Con có thể rút ra xem!”

Phi Phi cầm chuôi kiếm rút kiếm ra, lại thấy lưỡi kiếm bên trong chỉ là gỗ thô đen kịt, cục mịch xấu xí, không chút trau chuốt, song mặt gỗ nhẵn bóng, hẳn là đã được cầm nắm ngắm vuốt suốt một thời gian dài.

“Ồ, một thanh kiếm gỗ mun!” Phi Phi cầm chắc trong tay, bắt đầu múa kiếm.

Cơ Tuyết chăm chú nhìn con gái, sắc mặt mơ màng. Phi Phi đi xong một bài kiếm thì dừng lại, ngắm nghía rồi nói: “Thanh kiếm đủ nặng, chất gỗ cũng tốt, nhìn thì đẹp đấy, song không thể làm binh khí. Nếu được làm bằng ô kim thì tốt quá.”

“Nó vốn dĩ không phải là binh khí!”

“Ồ, không phải binh khí, vậy là gì?”

“Là tâm!”

“Tâm?” Phi Phi ngơ ngác, “tâm gì kia?”

“Tâm mà mẹ con có thể nhìn ngắm mỗi ngày.”

“Ồ…” Phi Phi im lặng, chợt nhớ tới lời nói vừa rồi, thì khẽ hỏi, “kiếm này của tiên Yên Công tặng cho mẹ ư?”

Cơ Tuyết lắc đầu.

“Vậy thì là ai?”

“Nghĩa phụ của con.” Cơ Tuyết không chút giấu giếm.

“A?” Phi Phi kinh ngạc khôn xiết.

“Con có muốn nghe chuyện của mẹ và nghĩa phụ con?” Cơ Tuyết cười hỏi.

“Con muốn nghe.” Phi Phi vội đáp.

Cơ Tuyết bảo Phi Phi ngồi xuống bên cạnh, rồi từ tổn kể cho con gái nghe những chuyện khó quên trong ký ức tại nước Chu năm xưa, từ chuyện gặp gỡ Tô Tần, chuyện nàng xuất giá về Yên, chuyện Tô Tần đuổi theo xe dầu tặng kiếm, chuyện thanh kiếm đã bầu bạn cùng nàng qua những tháng năm cô đơn dằng dặc, cho tới một hôm Tô Tần đột ngột xuất hiện ở Kế Thành…

Từng câu chuyện đau thương, từng đoạn đường trắc trở, lần lượt được tái hiện qua giọng kể của Cơ Tuyết, Phi Phi nghe mà nước mắt ngắn dài.

Khi nghe kể tới cuộc gặp gỡ dưới biệt cung Vũ Dương, từ đó nghĩa mẫu còn sinh cho nghĩa phụ một cô con gái, Phi Phi kinh ngạc đến sững sờ.

“Đứa trẻ đó đâu rồi?” Phi Phi vội hỏi.

“Ở đây!” Cơ Tuyết dịu dàng đáp.

“Ở đâu kia?” Phi Phi sốt sắng hỏi, “mẹ hãy cho con gặp đi, con muốn nhận…” khẽ chau mày, “là chị hay em?”

“Ngốc ơi,” Cơ Tuyết xoa đầu Phi Phi, “đứa trẻ đó chính là con đấy!”

Phi Phi ngây ra như pho tượng.

Hồi lâu sau, nàng mới ôm chầm lấy Cơ Tuyết: “Mẹ… mẹ không nói dối con đấy chứ?”

“Mẹ đã bao giờ lừa dối con chưa?” Cơ Tuyết đáp, “nói xem, tên con là gì?”

“Phi Phi!”

“Trước Phi Phi còn hai chữ nữa, Cơ Tô, họ tên đầy đủ của con là Cơ Tô Phi Phi!”

“Cơ Tô… Phi Phi…” Phi Phi lẩm bẩm nhắc lại, mọi hồ nghi đã hoàn toàn sáng tỏ.

“Mẹ,” Phi Phi giãy ra khỏi vòng tay Cơ Tuyết, quỳ xuống, “từ nay con sẽ không gọi người là nghĩa mẫu nữa, con sẽ gọi người là mẹ!”

“Chẳng phải con vẫn gọi ta là mẹ đó ư!”

“Mẹ đó là mẹ nuôi, mẹ này là mẹ ruột!” Phi Phi cất giọng dứt khoát, “và cả nghĩa phụ nữa, từ giờ con cũng sẽ gọi người… là cha!”

“Con gái,” Cơ Tuyết kéo Phi Phi dậy, ôm vào trong lòng, khẽ nói, “con không thể gọi như vậy, cũng không bao giờ được phép gọi như vậy, bất kể lúc nào cũng không được gọi, mà chỉ có thể gọi nghĩa mẫu!”

“Vì sao, thưa mẹ?”

“Vì nước Yên.” Cơ Tuyết dừng lại một thoáng, rồi nhìn thẳng vào Phi Phi, “hãy quay lại chuyện hiện tại, Phi Phi, con có thích Cơ Chức?”

“Thích thì có thích, nhưng còn xa mới bằng được mẹ với cha!”

“Đồ ngốc,” Cơ Tuyết cười nói, “thế gian này không ai có thể bằng được!”

“Vì sao kia?”

“Bởi không ai còn trải qua những chuyện mẹ con từng trải, cũng không ai còn trải qua những chuyện cha con từng trải. Còn nữa, bởi trên thế gian này mẹ chỉ có một, cha con cũng chỉ có một mà thôi.”

“Con…” Phi Phi cắn môi.

“Này con gái,” Cơ Tuyết cười nói, “mỗi người đều trải qua một cuộc đời khác nhau. Con có cuộc đời của con, con có duyên phận của con, con phải đi trên con đường của con, không cần phải học theo người khác. Cơ Chức là người tốt, mẹ đã nhìn thấy, tấm lòng của Chức Nhi với con là thực. Nếu con cũng có lòng với nó, thì hãy nhận lời đi.” Trâm ngâm một thoáng, lại tiếp, “có điều, nếu con nhận lời Cơ Chức, về sau không thể gọi ta là nghĩa mẫu nữa, phải gọi là tổ mẫu, bằng không, vai vế trong cung sẽ loạn mất.”

“Con…” Phi Phi đỏ bừng mặt, “con là Mặc giả!”

“Mặc giả là chí khí, là tín niệm, chỉ cần trong lòng con có chí khí và tín niệm của Mặc giả, vậy là đủ rồi. Hơn nữa, con ở vương cung, sẽ có lợi cho Mặc giả. Mặc giả gặp nạn, con có thể ứng cứu, có thể bảo vệ cho họ.”

“Nhưng đã là Mặc giả thì không cưới gả với ai. Chị Mộc Hoa, anh Mộc Thực, và cả chú Trâu, đều không lập gia thất.”

“Mặc giả cũng không phải là không thành gia lập thất, theo như mẹ biết, trong Mặc giả vẫn có không ít người thành hôn, sinh con đẻ cái.” Cơ Tuyết cười, “nhớ năm xưa, chú Trâu suýt chút nữa đã thành hôn với dì Mai của con đấy!”

“Ồ?” Phi Phi sửng sốt, tò mò hỏi, “vậy tại sao lại không thành hôn nữa?”

“Mẹ cũng không biết. Nghe cha con nói, chú Trâu muốn hỏi cưới dì Mai, sau đó lại thôi, hẳn là đã có chuyện gì đó.”

“Lần sau gặp chú Trâu, nhất định con sẽ hỏi cho ra nhẽ. Mẹ nói con mới nhớ, đúng là dì Mai rất thích chú Trâu, hễ nghe thấy giọng chú là ánh mắt dì ngời sáng!” Rồi như sực nhớ ra điều gì, Phi Phi cười khúc khích, hạ giọng thì thào, “mẹ à, con còn biết một chuyện nữa!”

“Chú Viên Báo cũng thích dì Mai, nhưng dì Mai không để ý!”

“Thật ư?” Cơ Tuyết cười, “sao con biết được?”

“Lúc ở Hàm Đan con đã thấy rồi.” Phi Phi cười ranh mãnh, “hễ dì Mai xuất hiện là chú ấy không làm được việc gì, cứ nhìn dì ấy mãi, dì Mai nhờ việc gì là chú ấy rất vui. Chú còn hay tìm cách để bắt chuyện với dì Mai, nhưng dì rất hờ hững. Giờ con mới hiểu, thì ra trong lòng dì Mai đã có chú Trâu rồi.”

“Không nói chuyện của họ, giờ hãy nói chuyện của con đã. Con đã tới tuổi cập kê, có thể gả cho người ta được rồi. Có muốn thành thân với Yên Vương không?”

“Con thành thân rồi, Đỗ Hành thì sao?” Phi Phi vẫn băn khoăn.

“Nếu con không muốn rời con bé ấy, hãy để nó làm dắng nữ cho con!”

“Dắng nữ, là gì kia?”

“Tức là thị tỳ theo hầu con cùng gả cho Yên Vương!”

“Vâng.” Phi Phi hớn hở gật đầu, “giờ con sẽ nói với Đỗ Hành!”

Một ngày trước lễ cập kê, Phi Phi đã nhận lời cầu hôn của Yên Chiêu Vương. Chiêu Vương mừng lắm, quyết định đính hôn cùng Phi Phi ngay trong ngày lễ cập kê, lễ cập kê làm trước, rồi đến lễ đính hôn.

Chính vào lúc cung Yên bận rộn lo toan hỷ sự cho Yên Vương và Phi Phi, thái hậu sai người gọi Yên Vương tới. “Chức Nhi,” thái hậu sắc mặt điềm nhiên, “việc của con và Phi Phi, có cần tạm hoãn chăng?”

“Mẫu hậu, tại sao lại phải hoãn kia?”

“Bởi đã xảy ra một chuyện không vui.”

“Là chuyện gì?”

“Tô Tử chết rồi!”

“A!” Yên Chiêu Vương kêu lên kinh hãi.

“Đã bị hành thích ở Tề, chết ngay bên ngoài Tuyết cung, Tề Vương đang treo giải để bắt thích khách.”

“Chao ôi!” Yên Chiêu Vương quỳ sụp xuống, ngửa cổ lên trời bật khóc lớn.

“Tô Tử chết rồi,” thái hậu để yên cho Chiêu Vương khóc một lát, mới nói tiếp, “nên ta nghĩ, hôn sự này… hẳn không cần nữa.”

“Mẫu hậu?” Yên Chiêu Vương bàng hoàng, im bặt tiếng khóc, nhìn sững vào thái hậu.

“Vương hậu của Đại Yên, dứt khoát phải có lợi cho Yên.” Giọng thái hậu vẫn hết sức bình thản, “nước Yên giờ đã an định, tổ thái hậu không giúp được con thêm nữa. Người có thể giúp con, là Tô Tử, nào ngờ lại đã chết rồi. Con còn nhớ Huyền công chúa của cung Triệu chứ Giờ hẳn cũng đã tới tuổi cập kê. Mẫu hậu từng gặp mặt, xét về thông minh lanh lợi, không hề thua kém Phi Phi, nhan sắc cũng khá. Quan trọng nhất là, công chúa này do vương hậu Triệu thất sinh ra.”

Yên Chiêu Vương vẫn nhìn sững vào thái hậu, ánh mắt bàng hoàng như không tin nổi.

“Chức Nhi?” Thái hậu ngẩn người.

“Mẫu hậu,” Yên Chiêu Vương chợt đứng vụt dậy, “Chức Nhi đã thề với trời, không lấy ai khác ngoài Phi Phi, lẽ nào người muốn Chức Nhi dối trời ư?”

Lời vừa dứt, Chiêu Vương lập tức quay người, xông xộc đi ra.

“Chức Nhi!” Thái hậu gọi với theo sau.

Yên Chiêu Vương dừng bước, ngoảnh nhìn.

“Than ôi,” thái hậu thở dài, “nếu như con đã thề, vậy thì cứ thành hôn với con bé đi. Có điều, trước lễ đính hôn, dứt khoát không được hé lộ tin Tô Tử đã chết với bất kỳ ai. Bằng không, lễ đính hôn mà con mong mỏi sẽ không còn nữa!”

“Chức Nhi tuân mệnh.”

Lễ cập kê của Phi Phi cùng lễ đính hôn đã diễn ra suôn sẻ. Cung Yên qua nhiều năm động loạn, gần như không hề có chuyện vui, dù là lễ đăng cơ của Chiêu Vương cũng là cử hành trên đài tế dựng tạm ngoài đồng, người Yên chẳng tâm trí đâu mà chúc tụng. Giờ đây đất nước đã an định, Yên Vương đính hôn, cả nước rộn ràng. Yên Vương lại ban chiếu đại xá thiên hạ, phàm những ai vì nuôi cha mẹ con thơ mà phạm vào tội trộm cắp, đều được tha bổng. Ngay sau lễ đính hôn của Phi Phi, Cơ Tuyết nhận được tin dữ của Tô Tần.

Người báo tin cho nàng, chính là Chiêu Vương.

Chiêu Vương mời Cơ Tuyết tới thiên điện thái miếu, đuổi hết người khác ra ngoài, rồi quỳ xuống trước mặt Cơ Tuyết, bật khóc mà gọi: “Tổ hậu.”

“Đại vương, xảy ra chuyện gì ư?” Cơ Tuyết nhìn Chiêu Vương hiền từ, dịu giọng hỏi.

“Tô… Tô Tử…” Chiêu Vương nói không thành tiếng. Cơ Tuyết giật bắn mình kinh hãi: “Tô Tử làm sao?”

“Tô Tử… đã bị… đã bị hành thích…”

Cơ Tuyết đầu óc quay cuồng, bàn tay bấm chặt lấy áo. Chiêu Vương gục đầu vào hai gối Cơ Tuyết, bật khóc thảm thiết.

Cơ Tuyết không khóc, nàng vẫn ngồi yên đó, toàn thân cứng đờ như tượng.

Không biết bao lâu sau, Cơ Tuyết mới khẽ cử động bàn tay, vỗ nhẹ lên đầu Chiêu Vương, giọng bình thản hỏi: “Đại vương, hãy bình tĩnh kể cho ta nghe, Tô Tử chết như thế nào?”

Chiêu Vương bèn nghẹn ngào kể lại vắn tắt quá trình Tô Tần bị hành thích trước cung Tề.

“Là hắc điêu nước Tần!” Cơ Tuyết thốt lên khe khẽ. “Phải,” Chiêu Vương đáp lời, “nghe cung Tề đồn rằng, hôm đó bên ngoài Tuyết cung, có tới hơn sáu mươi người bỏ mạng, có nam có nữ, có hộ vệ của Tô Tử, cũng có thích khách. Xác Tô Tử nằm bên cạnh một người con gái, cung Tề điều tra, nàng ta là thư đồng của thái tử nước Sở hiện đang làm con tin ở Tề, chết vì một mũi phi tiêu xuyên vào trước ngực.”

“Là Thu Quả.” Cơ Tuyết nước mắt lã chã. Nàng hiểu, mũi phi tiêu trước ngực Thu Quả chính là đỡ cho Tô Tần.

“Tổ hậu,” Chiêu Vương lau nước mắt, nghiến răng mà nói, “chắc chắn là bởi Tô Tử tung thân sáu nước, người Tần lo sợ, mới làm ra chuyện vô sỉ này. Tô Tử là ân nhân của Chức Nhi, là tướng quốc của Yên thất, mối thù của Tô Tử…” siết chặt nắm đấm, “Chức Nhi phải trả!”

“Còn chuyện của Phi Phi…” Cơ Tuyết chợt hỏi.

“Tổ hậu,” không đợi Cơ Tuyết nói dứt câu, Chiêu Vương đã cắt lời, “Chức Nhi và Phi Phi, không ai có thể thiếu ai được. Vừa rồi, thái miếu lệnh tấu báo, ngày đại hỷ đã định, mồng sáu tháng sau, chỉ còn mười hai ngày nữa!”

“Tạ ơn đại vương.” Cơ Tuyết nhắm mắt lại, nàng đã hiểu, Chiêu Vương đã biết hết mọi chuyện, chỉ là không nói trắng ra mà thôi. Hồi lâu sau, nàng mới cất giọng sâu xa, “chuyện của Tô Tử, tạm thời chớ nói với Phi Phi, con bé cũng biết hết!”

Nghe thấy một chữ “cũng”, Chiêu Vương trong lòng sáng tỏ, xúc động đáp lời: “Chức Nhi tuân mệnh!”

“Tô Tử không nhìn nhầm người, đại vương!” Cơ Tuyết nói rồi đứng dậy, bước chân loạng choạng tiến ra khỏi điện.

Chiêu Vương vội bước theo ra, đỡ lấy Cơ Tuyết dìu đi.

Hôn lễ của Chiêu Vương được cử hành đúng ngày đã định, Nhạc Nghị làm mai, Trâu Diễn chủ trì điển lễ.

Nhìn Chiêu Vương sắc mặt hân hoan, cùng Phi Phi sóng đôi bước xuống vương xa, tiến vào tân cung, Cơ Tuyết hai mắt đẫm lệ.

Phi Phi xuất giá rồi, Cơ Tuyết gọi Xuân Mai lại, sắc mặt điềm tĩnh nhìn Xuân Mai chăm chú.

“Công chúa?” Thấy Cơ Tuyết cứ mãi im lặng, Xuân Mai hiểu nàng có lời muốn nói, bèn khẽ hỏi. Ngần ấy năm trôi qua, Xuân Mai vẫn không đổi cách xưng hô, vẫn giữ nguyên như hồi còn trong Chu thất.

“Xuân Mai,” Cơ Tuyết vẫn nhìn Xuân Mai đăm đăm hồi lâu, mới chậm rãi nói, “em sắp bốn mươi rồi nhỉ?”

“Vâng, thưa công chúa,” Xuân Mai mim cười, “thấm thoắt mà đã già rồi.”

“Không nghĩ tới chuyện kết hôn ư?”

“Công chúa…” Xuân Mai đỏ bừng mặt, nhìn đi chỗ khác, “Xuân Mai… chẳng mong gì khác, chỉ muốn theo công chúa tới già!”

“Ta hiểu em mong gì,” Cơ Tuyết thở dài thương cảm, “hãy quên hắn đi.”

“Công chúa?” Xuân Mai bối rối giậm chân, “em đâu có mong, em… em đã quên lâu rồi!”

“Xuân Mai,” Cơ Tuyết điềm đạm tiếp lời, “trong lòng em nghĩ gì, không giấu được ta đâu, chẳng qua ta không nói ra mà thôi!”

“Công chúa…” Xuân Mai bật khóc, quỳ sụp xuống, gục đầu vào hai gối Cơ Tuyết.

“Những năm qua, em theo ta, nếm trải đủ mùi khổ cực. Còn ta… lại không chăm lo được cho em…”

“Công chúa…” Xuân Mai càng khóc lớn.

“Trong lòng Phi Đao cũng có em đó, chỉ vì…” Cơ Tuyết khe khẽ vỗ về Xuân Mai, “Mặc giả có chỗ khó của Mặc giả, em và hắn có duyên không phận, không thể cưỡng cầu.” …

“Em hiểu, công chúa. Là em… không có phúc…” Xuân Mai nghẹn ngào.

“Phúc của em vẫn còn đấy…” Cơ Tuyết lau nước mắt trên mặt Xuân Mai, rồi cười nói, “em mau đi chuẩn bị, ta muốn xuất cung một chuyến.”

“Công chúa định đi đâu?”

“Phủ tướng quốc.”

Xuân Mai gọi xe tới. Cơ Tuyết cùng Xuân Mai ngồi chung một xe rời khỏi cung, đi thẳng tới phủ tướng quốc. Người trông nom trong phủ, là Viên Báo.

Hay tin tổ thái hậu giá đáo, Viên Báo ra cổng phủ đón, không mặc tang phục.

Viên Báo sớm đã nhận được tin dữ từ Lâm Truy, song Yên Vương đã bí mật truyền chỉ dụ, nghiêm cấm hé lộ ra ngoài, không được để tang, tất cả phải chờ hôn lễ kết thúc, rồi đợi vương mệnh. Hôn lễ đã xong, song vương mệnh chưa tới, Viên Báo buộc phải vờ như không biết chuyện gì.

Cơ Tuyết vào trong phủ, đi quanh một vòng, nhìn ngắm khắp lượt, rồi tới thư phòng của Tô Tần, ngồi xuống chiếu của Tô Tần, thấy trên án có mấy bó thẻ tre, thì cứ ngồi lặng mà nhìn ngơ ngẩn.

Viên Báo và Xuân Mai đứng chờ ngoài cửa. Viên Báo cảm giác thấy, Cơ Tuyết chắc hẳn đã biết được điều gì.

“Viên Báo, vào đây!” Cơ Tuyết chợt lên tiếng gọi.

Viên Báo vội đi vào, đứng lại trước mặt Cơ Tuyết: “Nương nương có gì căn dặn?”

Đã nhiều năm trôi qua, Viên Báo vẫn gọi Cơ Tuyết là nương nương như cũ.

“Ngồi đi.” Cơ Tuyết chỉ vào chiếu khách đối diện. Viên Bảo ngơ ngác ngồi xuống.

Cơ Tuyết nhìn thẳng vào Viên Báo: “Bản cung có vài chuyện muốn hỏi, ngươi phải trả lời thành thực!”

Viên Báo đoán ra nàng muốn hỏi chuyện gì, trong lòng run bắn, cố gắng trấn tĩnh mà nói: “Nương nương cứ hỏi, thần không dám giấu!”

“Ngươi bao nhiêu tuổi rồi?”

Viên Báo hết sức bất ngờ, không nghĩ Cơ Tuyết lại hỏi câu này, ngẩn ra mất một chốc mới đáp: “Hồi bẩm nương nương, thêm vài năm nữa là tới tuổi tri thiên mệnh!”

“Đại trượng phu ba mươi thì lập, Lập này, là thành gia lập thất. Bản cung hỏi ngươi, cớ sao bằng này tuổi rồi vẫn còn chưa lập?”

“Thần…” Viên Bảo lúng túng.

“Là vì không tìm được người thích hợp?”

“Vâng.”

“Nếu vậy, bản cung ban cho ngươi một người!”

“Không không không,” Viên Báo cuống quýt, gần như lạc giọng, “không phải vậy!”

“Ngươi có ý trung nhân rồi ư?” Cơ Tuyết nhìn xoáy vào Viên Báo.

Viên Báo ậm ờ một lúc rồi nghiến răng đáp: “Vâng.”

“Là ai?”

Viên Báo cúi đầu.

“Không thể nói ra?”

Viên Báo vẫn cúi đầu.

Cơ Tuyết quay ra ngoài gọi: “Xuân Mai?”

Xuân Mai bước vào, Cơ Tuyết bảo Xuân Mai ngồi xuống rồi hỏi: “Vừa rồi bản cung hỏi Viên Báo những gì, em đều đã nghe thấy rồi chứ?”

“Hồi bẩm công chúa, nô tỳ đã nghe thấy cả!”

“Những lời vừa hỏi Viên Báo, giờ bản cung cũng muốn hỏi em. Tuổi em cũng không còn trẻ, lẽ ra đã phải gả chồng lâu rồi. Em nói đi, phải chăng đã có ý trung nhân?”

“Hồi bẩm công chúa, nô tỳ không có.”

“Không có thì tốt.” Cơ Tuyết quay sang Viên Báo, “Sáng sớm nay, bản cung mơ thấy Tô Tử, Tô Tử nói vẫn thường lo nghĩ đến hôn sự của ngươi. Bản cung sớm cũng đã nghĩ đến chuyện này, nên quyết định ban cho người một nữ tử, mong ngươi hãy đối xử tốt với nàng ấy đến đầu bạc răng long!”

“Nương nương… chúa công…” Vừa nghe nhắc tới Tô Tần, Viên Báo không nén nổi đau đớn mà bật khóc.

“Bản cung ban phu nhân cho ngươi, sao ngươi lại khóc?” Viên Báo dường như cũng đã đoán ra điều gì, vội kìm tiếng khóc, đưa ống tay áo lên lau nước mắt.

Cơ Tuyết nhìn thẳng vào Viên Báo: “Từ Lạc Dương tới cung Kế, Xuân Mai lúc nào cũng theo sát bản cung, như viên ngọc không tỳ vết. Ngươi là quản gia của phủ Tô Tử, Tô Tử hiểu ngươi. Xuân Mai là thị nữ của bản cung, bản cung hiểu Xuân Mai. Bản cung và Tô Tử sớm đã có ý xe duyên cho ngươi và Xuân Mai, hôm nay cơ duyên đã tới, bản cung quyết định gả Xuân Mai cho ngươi, ngươi có muốn cưới Xuân Mai làm thê tử chăng?”

“Nương nương…” Viên Báo đổi ngồi thành quỳ, dập đầu mà khóc.

“Ngươi hãy trả lời bản cung, có muốn hay không?” Cơ Tuyết chợt nghiêm giọng hỏi.

“Hồi bẩm… nương nương…” Viên Báo nghẹn ngào đáp, “thật ra… ý trung nhân của thần, chính là… chính là Xuân Mai… Nương nương! Trong lòng thần… không có ai khác…”

“Xuân Mai,” Cơ Tuyết nhìn sang Xuân Mai, “em đã nghe thấy rồi chứ?”

Xuân Mai sụt sùi nhỏ lệ.

Cơ Tuyết nắm lấy tay Xuân Mai, rồi tay kia với lấy tay Viên Báo, đặt tay hai người vào nhau.

Cả hai người đều khóc nức nở, cùng quỳ xuống, dập đầu trước Cơ Tuyết.

“Ngày đẹp cho hai ngươi, bản cung cũng đã xem xong,” Cơ Tuyết nói, “chính là ngày kia. Tân phòng sẽ là trạch viện này, kể từ hôm nay, nó thuộc về hai ngươi, bản cung đã thỉnh cầu đại vương ấn chuẩn rồi! Viên Báo…”

“Có thần…!” Viên Báo giọng run rẩy.

“Ngươi có hai ngày để sắp xếp tân phòng,” Cơ Tuyết nói tiếp, “người mai mối cho hai ngươi, chính là bản cung. Khách mừng hôn lễ, sẽ có thái hậu, đại vương và vương hậu! Của hồi môn cho tân nương, bản cung cũng đã chuẩn bị xong!”

Cả hai người cùng khóc lớn.

Dưới sự đôn đốc của tổ thái hậu Cơ Tuyết, lễ thành hôn giữa lão thần nước Yên Viên Bảo cùng thị nữ của tổ thái hậu Xuân Mai đã được cử hành trang trọng, đúng như lời Cơ Tuyết đã nói, cả thái hậu, Yên Vương và vương hậu đều tới chúc mừng.

Ba ngày sau hôn lễ, Viên Báo phụng chỉ lên triều, Yên Vương tuyên chiếu, khen thưởng công trạng của Viên Báo, tấn phong tước thượng đại phu, ban cho một toà trạch phủ, chính là phủ tướng quốc của Tô Tần mà Viên Báo vẫn trông nom.

Lại qua ba ngày nữa, tổ thái hậu nước Yên Cơ Tuyết tâu rõ với Yên Chiêu Vương, sau đó để lại cho Phi Phi, Xuân Mai mỗi người một bức thư, căn dặn hai người hãy chăm sóc lẫn nhau, còn mình lên xe do lão cung chính của cung Cam Đường đánh ngựa, lặng lẽ rời khỏi Kế Thành.

Bạch Khởi bị giam trong Hắc Điêu đài trên núi Chung Nam đã hai tháng.

Đương nhiên, Bạch Khởi không biết nơi đây là núi Chung Nam, cũng không thể biết là Hắc Điêu đài, chi biết mình bị giam dưới địa lao trong núi.

Thực chất cũng không hẳn là địa lao, mà là một căn phòng kín như bưng, nóc nhà rất cao, ánh nắng có thể chiếu vào. Cửa cực kỳ kiên cố, được khoá kín bởi một ổ khoá lớn, bị nhốt ở nơi này, tẩu thoát là hoàn toàn không thể. Không bị gông cùm, không bị xiềng xích, cơ thể Bạch Khởi hoàn toàn tự do. Căn phòng cũng đủ rộng, đồ dùng đầy đủ, lúc buồn chán có thể đánh võ đi quyền thoải mái, cứ cách ba ngày lại có người mang nước nóng cho tắm rửa.

Không chỉ có vậy, Bạch Khởi còn có người hầu hạ chu đáo, mỗi ngày mang cơm ba lần, cơm nước khá thịnh soạn, bữa tối còn có thêm cút rượu.

Điều khó chịu nhất ở đây chính là cô đơn. Không một ai trò chuyện với Bạch Khởi một lời, toàn bộ đám lính canh và người hầu cứ như thể một lũ câm.

Sáng nay, sau hai tháng trời bị cầm tù, dùng xong bữa sáng, cánh cửa thình lình bật mở, hai người một nam một nữ bước vào, chính là Doanh Hoa và Thiên Hương.

“Bạch tướng quân,” Doanh Hoa vòng tay nói, “tại hạ tới muộn, để tướng quân phải chịu khổ rồi.”

Bạch Khởi ngồi trước án, đưa mắt liếc nhìn, cất giọng lạnh lẽo: “Ngươi là ai?”

“Tướng quân hãy xem cái này!” Doanh Hoa ra hiệu, Thiên Hương bèn đưa lại một bức mật thư.

Bạch Khởi mở ra xem, chính là thư của bọn bắt cóc mà mình đã nhận được ở Nghi Dương.

Vậy thì, không nghi ngờ gì nữa, hai kẻ này chính là bọn bắt cóc.

“Ba mươi dật vàng của tướng quân, tại hạ đã nhận đủ!” Doanh Hoa vòng tay nói, “tạ ơn công tử đã cứu nguy!”

Bạch Khởi “hừm” một tiếng khinh bỉ: “Ngươi hết nguy rồi, vậy người nhà của ta đâu?”

“Tướng quân hãy đi theo tại hạ!” Doanh Hoa chìa tay mời, rồi bước ra khỏi cửa trước.

Bạch Khởi ngần ngừ một thoáng, rồi cũng đứng dậy đi theo. Thiên Hương đi ra sau cùng.

Ba người rời khỏi địa lao, men theo con đường lát đá trong núi, quanh co một hồi thì tới trước một khu nhà trông rất trang nhã lịch sự.

Doanh Hoa dừng bước, chìa tay về phía cổng: “Bạch thiếu gia, mời!”

Bạch Khởi liếc Doanh Hoa một cái, rồi sải bước vào trong cổng.

Trong sân không có ai, chỉ thấy một bé gái chừng hơn hai tuổi đang mải mê nghịch cát. Không phải ai khác, chính là cô con gái nhỏ của Bạch Khởi, Bạch Vi.

Bạch Khởi trong lòng kinh ngạc, vội bước lại gần, ngồi xuống bên cạnh.

Cô bé ngẩng đầu lên nhìn, rồi mừng rỡ reo lên: “Cha!” Vừa gọi vừa lao vào lòng Bạch Khởi.

Bạch Khởi bế bổng con gái lên, nước mắt ứa ra. Qua màn nước mắt, nhìn thấy có người đang đứng trước cửa, chính là mẫu thân của Bạch Khởi, Khởi Y.

Khởi Y đứng sững sờ như không dám tin vào mắt. Bạch Khởi bế con gái bước lại, quỳ xuống trước mặt mẹ, nghẹn ngào: “Mẫu thân!”

“Khởi Nhi…” Khởi Y ôm lấy Bạch Khởi, mừng rơi nước mắt.

Phu nhân Bạch Khởi lúc này cũng chạy ra, khựng lại trước cửa, nhìn chồng mà nước mắt giàn giụa.

Sau hoạn nạn lại được trùng phùng, cả nhà mừng vui khôn xiết.

Sau một hồi xúc động, Bạch Khởi trao con cho mẹ, sải bước ra khỏi cổng. Doanh Hoa và Thiên Hương vẫn đứng chờ ở đằng xa.

“Cha ta đâu?” Bạch Khởi nhìn xoáy vào hai người, “phải chăng cũng đang ở đây?”

Doanh Hoa vỗ tay, không lâu sau, hai hắc điêu dẫn một người tiến lại. Chính là Bạch Hổ.

Bạch Khởi vội chạy lại đón, còn Bạch Hổ đứng ngày tại chỗ, nhìn sững vào Bạch Khởi.

“Cha!” Bạch Khởi lên tiếng gọi.

“Khởi Nhi,” Bạch Hổ giờ mới định thần, “sao con lại ở đây?”

Bạch Khởi kể lại vắn tắt đầu đuôi sự việc, Bạch Hổ lập tức sáng tỏ, rầu rĩ ngồi thụp xuống, hai tay ôm đầu.

“Cha?” Bạch Khởi cũng ngồi xuống bên cạnh, ánh mắt dò hỏi.

“Khởi Nhi, chúng ta… trúng kế rồi!” Bạch Hổ cất giọng trầm nặng, “kẻ lừa ta tới đây, không phải kẻ cướp, mà là người Tần!”

“Trời ơi, Nghi Dương!” Bạch Khởi kinh hãi kêu lên. “Hồi bẩm hai vị Bạch thiếu gia,” Doanh Hoa chậm rãi tiến lại, vòng tay nói, “Nghi Dương đã thuộc về Tần!”

Bạch Hổ đứng dậy, nhìn sang Doanh Hoa, rõ ràng cũng chỉ mới gặp lần đầu, nên nhìn chăm chú một hồi rồi vòng tay hỏi: “Vị này là…”

“Bạch thiếu gia không biết tại hạ, song hẳn có biết người này!” Doanh Hoa vỗ tay.

Thiên Hương khoan thai bước tới, dừng lại trước Bạch Hổ khom lưng vái một vái thật sâu: “Tiểu nữ bái kiến… thiếu gia…”

Bạch Hổ sửng sốt đến há hốc miệng.

Nên biết, năm xưa ở An Ấp, Thiên Hương là hoa khôi của lầu Miên Hương, mà lầu Miên Hương cũng là tài sản của nhà họ Bạch, vậy nên Thiên Hương không chỉ hầu hạ thái tử Thân, mà cũng phải cung phụng Bạch Hổ. Chuyện Thiên Hương là hắc điêu nước Tần, mãi sau này Bạch Hổ mới biết qua lời Công Tôn Diễn.

Nhìn kỳ nữ lẫy lừng liệt quốc vẫn phong tư kiều diễm, yểu điệu đa tình như xưa, Bạch Hổ từ từ nhắm nghiền mắt lại.

Mặc dù người ở Hàm Dương cố tìm mọi cách giấu giếm Trương Nghi về cái chết của Tô Tần, song hung tin vẫn cứ lọt tới tai Trương Nghi.

Trương Nghi nghe được tin dữ từ phố Sĩ Tử. Phố Sĩ Tử vẫn còn, sĩ tử liệt quốc, nhất là học tử Tắc Hạ, vẫn nườm nượp tìm tới Hàm Dương tìm kiếm cơ may.

Sau trận chiến Nghi Dương, Trương Nghi không còn hỏi han đến chuyện trong cung nữa, hầu hết thời gian chỉ ở yên trong phủ vui chơi bên con gái. Hôm nay rảnh rỗi, cảm thấy chán bèn ra phố Sĩ Tử tha thẩn dạo quanh. Do hôm nay không mặc quan phục, vả lại Trương Nghi cũng hiếm khi lộ diện ngoài phố, vậy nên trên phố Sĩ Tử không ai nhận ra Trương Nghi.

Cứ thế đi tha thẩn một hồi, Trương Nghi vô tình bước tới trước quán trọ mà Tô Tần từng ở năm xưa.

Đã bao năm trôi qua, quán trọ đó vẫn còn, chỉ có điều đã được sửa sang khác hẳn, bốn chữ “Vận Lai khách sạn” trông lại càng nổi bật hơn xưa. Chính đường của quán trọ là một đại sảnh, là nơi khách trọ tụ tập bàn luận. Trương Nghi tiến vào, thấy trong sảnh rất đông người, đều là thiếu niên, người trung niên như Trương Nghi hầu như không có mấy, nên vừa bước vào đã thu hút không ít ánh nhìn.

Trương Nghi cũng chẳng buồn để tâm, tìm đại một chỗ ngồi xuống.

Chúng sĩ tử đang bàn luận đủ chuyện cổ kim, cùng những tin sốt dẻo trong thiên hạ. Khi trong sảnh yên ắng trở lại, mọi ánh mắt lại đổ dồn vào một thư sinh trẻ tuổi ngồi chính giữa. Thư sinh kia đằng hắng một tiếng lấy giọng, tiếp tục câu chuyện đang nói dở, về một cuộc mưu sát kinh thiên động địa ở Lâm Truy vài tháng trước.

Dẫu câu chuyện đã về cuối, song vẫn khiến Trương Nghi bàng hoàng chết lặng. Vừa nghe hai tiếng “Tô Tần”, Trương Nghi đã thấy hai tai ù đặc, mọi âm thanh xung quanh bỗng trở nên lùng bùng hỗn loạn, không còn nghe thấy gì nữa.

Trương Nghi không biết mình đã rời khỏi quán trọ, quay về phủ trạch như thế nào.

Trương Nghi ngồi bất động trong thư phòng cho tới tận khi tối mịt. Rồi đứng dậy, nhấc lấy bội kiếm treo trên tường, rút lưỡi kiếm ra nhìn đờ đẫn một lát, lại tra kiếm vào bao, đeo sau lưng, không gọi xe, mà chệnh choạng bước ra khỏi cổng.

Đi một chốc, bước chân Trương Nghi mỗi lúc một dứt khoát, mỗi lúc một kiên định, cứ thế đi thẳng tới phủ của Doanh Hoa.

Thấy là Trương Nghi, thị vệ gác cổng vội vái chào. Trương Nghi không nhìn đến họ, mà đi thẳng vào trong. Doanh Hoa đang ở trong phủ, ngồi đối diện là Thiên Hương, đang cùng bàn bạc chuyện gì.

Trương Nghi đã hiểu, kẻ hành thích Tô Tần chính là hai người này.

Vừa hay họ đều có mặt!

Trương Nghi đặt tay lên đốc kiếm, hai mắt toé lửa, rọi qua lại giữa hai người.

“Trương huynh?” Doanh Hoa kinh ngạc hỏi.

“Hừ, Trương huynh ư?” Trương Nghi cười nhạt, rút kiếm cầm tay, ánh mắt lạnh lẽo chiếu thẳng vào Doanh Hoa, “nghe ta hỏi đây, Tô Tần có phải đã chết trong tay các ngươi?”

Doanh Hoa đã hiểu rõ ngọn nguồn, cười gượng một tiếng, nhìn sang Thiên Hương. Thiên Hương ngoảnh mặt đi chỗ khác.

“Vậy là các ngươi đã thừa nhận!” Trương Nghi nghiến răng kèn kẹt, gằn giọng mà nói, “Doanh Hoa, dạng tiểu nhân bỉ ổi như ngươi, chết đi!”

Lời vừa dứt, mũi kiếm trên tay Trương Nghi đã đâm thẳng về phía Doanh Hoa.

Bỗng thấy ống tay áo phất lên như gió cuốn, Thiên Hương đã bật người lao tới, áp sát Trương Nghi. Trương Nghi chợt thấy cổ tay tê dại, trường kiếm rời tay, chuỗi kiếm nháy mắt đã nằm gọn trong tay Thiên Hương.

Tốc độ nhường này, Trương Nghi mới chỉ nhìn thấy một lần trên đài Lang Nha của Việt Vương Câu Tiễn.

Thiên Hương tay cầm kiếm, đứng dẹp sang bên cạnh. Doanh Hoa chỉ vào chỗ Thiên Hương vừa ngồi: “Trương huynh, hãy ngồi xuống đã!”

Trương Nghi lúc này cũng đã trấn tĩnh lại vài phần, bèn ghìm cơn giận mà lầm lì ngồi xuống.

“Tướng quốc đại nhân,” Thiên Hương hai tay nâng thanh kiếm, chậm rãi tiến lại trước mặt Trương Nghi, “oan có đầu, nợ có chủ, Tô đại nhân là do Thiên Hương sát hại, không liên quan tới kim điều. Tối hôm đó, chính Thiên Hương đã rút dao trong người Thu Quả đâm vào sau lưng Tô Tần. Đại nhân nay muốn báo thù, hãy cứ giết Thiên Hương!” Nói rồi quỳ xuống, ngửa mặt lên trời mà lầm nhầm, “Tô đại nhân, Thiên Hương thực không muốn giết đại nhân, song lại buộc phải giết ngài. Thiên Hương nợ ngài một mạng, hôm nay xin trả!”

Nói rồi Thiên Hương xoay chuôi kiếm chìa lại cho Trương Nghi, mũi kiếm chĩa thẳng vào tim mình, nhắm mắt lại.

Trương Nghi tiếp lấy chuôi kiếm, nhìn trừng trừng vào Thiên Hương.

Thiên Hương vẫn nhắm mắt, ngồi yên chờ đợi.

Chốc sau, bàn tay cầm kiếm của Trương Nghi bắt đầu run lên, lồng ngực phập phồng dữ dội.

Trương Nghi vẫn chưa hành động.

“Tướng quốc đại nhân,” giọng Thiên Hương hết sức bình thản, “hãy ra tay đi, Thiên Hương chờ thời khắc này đã lâu rồi!

“A a a!” Trương Nghi chợt gầm lên một tiếng như điên dại, thanh kiếm trong tay xé gió lao đi, song không đâm vào Thiên Hương, mà vuột khỏi tay Trương Nghi, cắm phập vào cây cột gỗ, sâu đến cả tấc. Xung lực dữ dội khiến thân kiếm rung lên bần bật, phát ra tiếng u u.

“Tướng quốc đại nhân…” Thiên Hương bật khóc. “Người đâu!” Doanh Hoa lớn tiếng gọi.

Có người chạy vào.

“Mau mới Phạm Trù!” Doanh Hoa ra lệnh.

Một lát sau, Phạm Trù hớt hải chạy tới, trong tay còn cầm nguyên bàn sạn.

“Chúa công có điều gì sai bảo?” Phạm Trù vừa thở phì phò vừa khom lưng hỏi.

“Phạm huynh, bản công cầu một bình gia tửu, vào đêm nay!” Doanh Hoa vái một vái mà nói.

“Chữ cầu này, tiểu nhân không dám nhận, tiểu nhân sẽ mang lại ngay!” Phạm Trù không hỏi thêm một lời, lập tức đứng vụt dậy toan đi.

“Phạm huynh,” Doanh Hoa gọi với theo, “hãy làm thêm vài món hảo hạng, bản công muốn cùng tướng quốc say một cuộc quên đời.”

“Vâng!” Phạm Trù miệng đáp, chân vẫn tiếp tục chạy. Trương Nghi biết rõ rượu này. Năm đó Phạm Trù theo Doanh Hoa tới Hàm Dương, Doanh Hoa mua một toà trạch viện hai dãy cách phủ đệ của mình không xa, tặng lại khế nhà cho Phạm Trù. Phạm Trù đào hầm trong nhà, chôn xuống đó chum rượu gia truyền mà ông ta coi như sinh mạng, từ đó làm đầu bếp cho phủ Doanh Hoa. Tuy nói Doanh Hoa có ơn với Phạm Trù, song hũ rượu tôn nghiêm ủ bằng mạng sống của nhiều thế hệ Phạm gia, Doanh Hoa không phải muốn lấy là lấy. Bao nhiêu năm qua, Doanh Hoa mới cầu Phạm Trù mở hũ có ba lần, mỗi lần chỉ một chén tước, một chén cho tiên vương Doanh Tứ, chén thứ hai cho phụ thân Doanh Kiền, chén thứ ba tặng Trương Nghi vì em gái Tử Vân.

Cả ba chén ấy, Doanh Hoa chưa từng nếm một giọt. Lần này, Doanh Hoa không chỉ muốn uống, hơn nữa còn thỉnh cầu những một bình, quả nhiên đã dốc hết gan ruột với Trương Nghi. Là kẻ sành rượu, Trương Nghi hiểu, một chum rượu có lớn đến mấy cũng không được vài bình.

Trương Nghi cũng hiểu, rượu này không phải để mình say. Đừng nói một bình, dù là cả chum, Trương Nghi cũng không thể nào say nổi.

Rượu này, là dâng cho một người khác, một người mà cả Doanh Hoa và Thiên Hương đều không muốn giết nhưng lại không thể không giết.

Quả nhiên.

Đêm đã về khuya.

Đàn tế đã dựng.

Rượu đã dọn lên.

Trên đàn bày hai bài vị, một là của cộng tướng sáu nước hợp tung chế Tần, Tô Tần, một là của hắc điêu nước Tần, nghĩa nữ của Tô Tần, đã hai lần muốn giết rồi cả hai lần lại cứu, cuối cùng vì Tô Tần mà bỏ mạng, Thu Quả.

Bình rượu Phạm Trù mang đến được Doanh Hoa rót vào hai bát sứ lớn màu đen, bày trước hai bài vị.

Trong khói hương vấn vít, Trương Nghi, Doanh Hoa ngồi im lặng, lắng nghe Thiên Hương mắt ngấn lệ chậm rãi kể lại toàn bộ sự việc xảy ra vào tối đó. Thiên Hương thủ thực, chiếu mệnh ban xuống, Tô Tần không chết thì toàn bộ hắc điêu nhận nhiệm vụ này phải chết. Thiên Hương kể rằng, vào thời khắc cuối cùng, khi Thu Quả đỡ cho Tô Tần mũi phi tiêu đoạt mạng, cả bốn mươi hắc điêu tham chiến đều đã chết, chỉ còn một mình nàng ta, Tô Tần vốn dĩ có thể chạy thoát, Thiên Hương đã quyết định buông tay, bởi tất cả những hắc điêu khác đều đã chết cả rồi. Nào ngờ đâu Tô Tần lại vòng trở lại, ôm lấy xác Thu Quả, ngồi quay lưng lại phía nàng ta, bình thản nói rằng hãy ra tay đi. Thiên Hương kể rằng, khi nàng ta rút lấy lưỡi dao của Thu Quả, đã nghĩ rằng sẽ đâm mũi dao ấy vào ngực mình, nhưng… vào khoảnh khắc cuối cùng, nàng ta sực nghĩ tới kim điêu, nghĩ tới Hắc Điêu đài, nghĩ tới nước Tần, nghĩ tới lời thề độc, nàng ta buộc phải giữ lời thề…

Thiên Hương đã kể xong, nghẹn ngào không dứt.

Doanh Hoa cầm lấy hai ngọn đuốc, một đưa cho Trương Nghi, một cầm trên tay.

Hai ngọn đuốc đồng thời châm vào hai bát rượu.

Rượu trong bát lập tức cháy bừng bừng, toé ra ánh sáng ngũ sắc rực rỡ.

Đây là rượu tương sinh tương sát, an ủi linh hồn, lấy từ một chum rượu ủ qua bao nhiêu năm tháng, chứa đựng trong mình sự tôn nghiêm, bất khuất và hàm ơn.

Toàn bộ đàn tế, toàn bộ trạch viện, mà không, dường như toàn thành Hàm Dương, vào thời khắc linh thiêng này, như thể đều đắm chìm trong hương rượu thâm trầm mê mị.

Đêm đó, Trương Nghi không về nhà, mà ở lại trong phủ Doanh Hoa.

Hôm sau là ngày đại triều.

Trời vừa tảng sáng, Trương Nghi sai người về phủ mang triều phục lại, rồi ăn mặc chỉnh tề, cùng Doanh Hoa vào triều.

Thời Huệ Vương, cung Tần cách một ngày tiểu triều, cứ ba tiểu triều lại đến một đại triều. Tiểu triều chỉ triệu tới một bộ phận triều thần, do nội thần thông báo trước, còn đại triều, toàn bộ quan viên từ cấp trung đại phu trở lên sống ở Hàm Dương đều phải vào chầu, chừng hơn hai trăm người, đứng kín cả cung điện.

Vũ Vương không thích lên triều, tiểu triều từ cách ngày đổi thành cách hai ngày, đại triều từ cách ba tiểu triều đổi thành cách năm tiểu triều. Mỗi tháng vốn dĩ có năm buổi đại triều, sau khi thay đổi, chỉ còn lại hai buổi, một buổi giữa tháng, một buổi cuối tháng.

Tuy nhiên, phàm gặp đại triều, nếu không có việc khẩn cấp hoặc lâm trọng bệnh, triều thần đều không dám vắng mặt.

Buổi đại triều hôm nay, triều đường chật kín quan viên, hầu như không thiếu một ai.

Chỗ của Trương Nghi vẫn là trên đầu hàng ngũ triều thần. Nhậm Bi và Ô Hoạch vốn được ngồi cao hơn Trương Nghi hiện giờ không còn ở Hàm Dương. Do thắng Hàn lập công, hai người đều được ban quan tước, Nhậm Bỉ được làm quận thú Hán Trung, cai quản đất Tân Trịnh cùng các thành ấp Hán Trung mới cắt lấy từ đất Sở; Ô Hoạch cai quản đất Thương thay cho Nguỵ Chương đã cáo lão từ quan. Để hai kẻ lỗ mãng trấn giữ hai vùng trọng địa Hán Trung, Thương Thành, triều thần đều lấy làm lo sợ. May sao người Sở khá hài lòng với cách xử trí của Tô Tần và Trương Nghi, nên biên giới vẫn tạm bình yên.

“Các khanh,” Vũ Vương ánh mắt uy mãnh, quét qua khắp lượt triều thần, “đại triều hôm nay, có ai có tấu?”

Quần thần đưa mắt nhìn nhau, không ai lên tiếng. Ở nước Tần, thường thì đại triều xử lý chuyện nhỏ, tiểu triều xử lý chuyện lớn. Trong đại triều, tất cả bề tôi vào chầu đều được phép dâng tấu, vậy nên thường là những việc lặt vặt cụ thể. Những việc đó, phần lớn đều đã được xử trí cả rồi, chủ yếu là để Tần Vương khích lệ răn dạy vài câu, hoặc xử lý một vài ngoại sự trọng đại, cần triều thần có mặt đông đủ để hiển lộ quốc uy.

Vũ Vương đợi một lát, thấy quần thần không ai dâng tấu, bèn đằng hắng một tiếng, đang định nói vài câu giáo huấn như thường lệ, thì thình lình thấy Trương Nghi bước ra khỏi hàng, tiến lại phía trước, vòng tay dõng dạc: “Thần có tẩu!”

“Trương tướng quốc muốn tấu việc gì?” Vũ Vương liếc mắt nhìn sang, sắc diện không lấy gì làm vui vẻ.

“Thần tấu ba việc,” Trương Nghi ung dung nói, “thứ nhất, thần tấu thỉnh đại vương hãy lựa theo tài mà dùng người, kiêm cả văn võ, để người Đại Tần đều có thể thi triển tài năng, chớ vì yêu mến riêng tư mà nuôi mầm tại hoạ. Thứ hai, thần tấu thỉnh đại vương hãy thận trọng trong xử trí việc bang quốc, tôn trọng nghi lễ bang giao, hành sự quang minh lỗi lạc, chớ để Đại Tần kết oán với thiên hạ mà nuôi mầm tại hoạ. Thứ ba, thần tấu thỉnh đại vương…

“Trương Nghi!” Vũ Vương vỗ án đánh chát, quát lớn cắt lời, “hãy nói cho rõ, cái gì mà kiêm cả văn võ? Cái gì mà lựa theo tài mà dùng? Cái gì mà yêu mến riêng tư nuôi mầm tai hoạ?”

Vũ Vương sức khoẻ phi thường, lại thêm mặt án cứng rắn, một tiếng vỗ một tiếng quát kinh động, khiến chúng triều thần thảy đều giật mình khiếp vía. Mấy viên quan nhỏ nhát gan ở hàng sau cùng thậm chí còn ngã lăn ra đất, lập cập một lát mới ngồi dậy được.

“Hồi bẩm đại vương,” Trương Nghi đường hoàng nói tiếp, “Nhậm Bi, Ô Hoạch đều là kẻ võ biền, làm tướng tiên phong, xông pha trận mạc còn được, chứ không thể cai quản một phương, đặc biệt lại là hai trọng địa Hán Trung, Thương Thành!”

“Còn điều thứ hai?” Vũ Vương giọng tựa sấm rền, sắc mặt đỏ bầm như gan lợn, “quả nhân có chỗ nào không giữ lễ nghi bang giao? Quả nhân có chỗ nào không quang minh lỗi lạc?”

“Thần nghe nói, mới vài tháng trước, tướng quốc sáu nước, danh sĩ thiên hạ Tô Tần đã bị hành thích ngay ngoài cổng cung Tề, người Tề đếm được cả thảy bốn mươi xác thích khách, sau khi điều tra, xác thực toàn bộ đều là người Tần. Bang giao kiểu này, tự cổ chí kim chưa từng nghe thấy!”

“Ngươi…” Vũ Vương ngón tay run bần bật, “im ngay!”

“Đại vương,” Trương Nghi không chút kinh sợ, vẫn đứng hiên ngang mà nói, “thần còn chưa tấu xong!”

“Nói!” Vũ Vương rít qua kẽ răng.

“Thứ ba, thần tấu thỉnh đại vương, tiếp tục dùng sách lược liên hoành chế tung của tiên vương làm quốc sách lâu dài của nước nhà, dựa vào đó để xử trí việc bang quốc.” Trương Nghi điềm nhiên nói tiếp.

“Tấu xong chưa?” Vũ Vương ánh mắt hung hãn.

“Thần đã tấu xong.”

“Hừm,” Vũ Vương cười nhạt, “quả nhân còn ngỡ người sẽ tấu lên diệu kế gì, té ra vẫn là liên hoành!” Rồi đưa tay chỉ mặt Trương Nghi, “nếu là liên hoành, quả nhân sẽ không thể thiếu được Trương Nghi ngươi, phải chứ.”

“Thần không cho là vậy.” Trương Nghi vòng tay, càng tỏ ra khiêm nhường cung kính, “thần tấu thỉnh đại vương, trước khi từ bỏ liên hoành, trước tiên cũng cần hiểu rõ thế nào là liên hoành.”

“Trương Nghi!” Vũ Vương lại vỗ án chát chúa, “ngươi cho rằng quả nhân không hiểu thế nào là liên hoành ư?” Đưa tay vạch ngang không trung, “hồi quả nhân mới bằng này đã nghe ngươi ra rả về liên hoành trước mặt tiên vương, nghe đi nghe lại suốt từng ấy năm đã mòn cả tại rồi!”

“Vậy thì, thế nào là liên hoành, xin đại vương hãy chỉ giáo cho thần!” Trương Nghi hào hứng hỏi.

“Liên hoành,” Vũ Vương cười khẩy, “chẳng phải là để đối phó với hợp tung của Tô Tần ư? Tô Tần hợp tung sáu nước, đánh đến tận ải Hàm Cốc, ngươi mới đưa ra sách lược liên hoành, nào là thân Yên, nào là kết Nguỵ, nào là hoành Hàn, xoay xở đủ trò.” Cao giọng, “kết quả thì sao?” Đổ người về trước, lại chỉ mặt Trương Nghi mà tiếp, “tung quân sáu nước là bị liên hoành của ngươi đánh lui sao? Ngươi liên hoành với Yên, Yên bị soán ngôi; ngươi liên hoành với Nguỵ, Nguỵ suy bại; vì liên hoành Nguỵ mà ngươi phái Tư Mã tướng quân phạt Tề, bắt bẻ tướng quân phải giữ lễ nghĩa, cái gì mà kẻ nào nhổ một cọng cỏ trên mộ Liễu Hạ Huệ, tru di cửu tộc, kết quả thì sao? Thiết quân Đại Tần ta trở thành trò hề cho thiên hạ! Rồi ngươi lại liên hoành bốn nước phạt Sở, phạt rồi lại phạt, ta thiệt hại hai chục vạn quân, có được lợi gì?” Đấm mạnh xuống án, “không được gì hết! Trong khi nước Hàn kia, không bỏ chút hơi sức mà ung dung có được Phương Thành, Uyển Thành!”

Trương Nghi nghe xong, bỗng phá lên cười ha hả.

“Ngươi…” Vũ Vương giận đến nghiến răng ken két, rít lên, “đang giễu cợt quả nhân?”

“Thần không dám!” Trương Nghi thu lại nụ cười, vòng tay đáp.

“Vậy ngươi cười gì?” Hai mắt Vũ Vương toé lửa.

“Là cười Trương Nghi thần!”

“Cười ngươi cái gì?”

“Cười thần có mắt như mù, cười thần lòng dạ mềm yếu!”

“Nếu không mù, không mềm yếu thì sao?”

“Thì thần đã ở lại nước Hàn, không về Tần nữa!”

Vua tôi hai người đấu khẩu kịch liệt ngay giữa triều đường, quả là chuyện xưa nay chưa từng có ở cung Tần.

Các triều thần từ từ hiểu ra, không ai không toát mồ hội lo cho Trương Nghi. Phần lớn các đại thần như Doanh Hoa, Doanh Tật, Tư Mã Thác, Xa Vệ Tần đều thấu hiểu Trương Nghi, lúc này đều âm thầm tiến lại gần.

Hiển nhiên là Vũ Vương không thể ngờ Trương Nghi sẽ đối đầu với mình ngang nhiên và quyết liệt tới nhường này, nhất thời bị dồn đến chân tường, không biết phải xử trí ra sao trước đông đảo triều thần.

“Nói hay lắm!” Vũ Vương cười nhạt một tiếng, chỉ vào Trương Nghi, gằn mạnh từng tiếng, “ngươi thân là bề tôi nước Tần, lại một dạ hai lòng, giữa triều đường lớn tiếng sỉ nhục bản vương,” quay sang ngự sử Xa Vệ Quân, “theo Tần pháp, nên xử tội gì?”

Bị hỏi thình lình, Xa Vệ Quân nhất thời chết lặng, không biết trả lời ra sao.

“Thần xin tấu giúp.” Trương Nghi thong thả đáp, “theo Tần pháp, chỉ một tội khi quân, đáng tru di cửu tộc!”

“Trương Nghi, chính miệng ngươi nói đó!” Vũ Vương gầm lên, “người đâu, bắt lấy nghịch tặc, xử tru di cửu tộc!”

Lập tức có hai vệ sĩ ập vào, bắt giữ lấy Trương Nghi.

Sự biến quá đỗi đường đột. Chỉ sau vài câu tranh luận ngắn ngủi, đường đường là tướng quốc lẫy lừng thiên hạ nháy mắt đã biến thành nghịch tặc khi quân bị khép tội tru di cửu tộc, ngay cả những triều thần tận mắt chứng kiến cũng không dám tin là thật.

Nhưng Trương Nghi vẫn phá lên cười lớn.

“Nhốt vào tử lao, tru di cửu tộc!” Vũ Vương thét lớn, môi miệng run rẩy.

Hai tên vệ sĩ áp giải Trương Nghi đi trong tiếng cười không dứt.

“Bãi triều!” Vũ Vương rít lên hai tiếng qua kẽ răng, đứng vụt dậy, phất tay áo bỏ đi.

Hết thảy triều thần vẫn ngây người bất động, như thể bị đóng đinh xuống chiếu.

Doanh Hoa đứng lên đầu tiên, kéo Doanh Tật dậy, cùng đi ra ngoài, theo sau là Tư Mã Thác, Cam Mậu, rồi đến toàn bộ triều thần.

Ra tới ngoài điện, Doanh Hoa hạ giọng hỏi Doanh Tật: “Làm thế nào đây?”

“Về nhà thôi!” Doanh Tật nhún vai.

Doanh Hoa không về nhà mình, mà đi theo về phủ Doanh Tật.

Doanh Hoa hiểu, trong số các công tử vương thất, mưu trí nhất chính là Doanh Tật.

Vào trong phủ, hai người ngồi đối diện nhau, không ai nói một lời. Cứ thế ngồi im lìm gần nửa canh giờ, ngoài cửa bỗng nghe có tiếng xôn xao, rồi Tử Vân ào vào như một cơn gió, than khóc thảm thiết.

Doanh Hoa để yên cho nàng khóc một hồi, mới đứng lên đỡ dậy.

Tử Vân ghìm tiếng khóc, mắt đỏ hoe nhìn Doanh Tật: “Anh nói đi!”

Doanh Tật nhún vai: “Nói gì kia?”

“Được thôi!” Tử Vân quay người, chạy lao ra ngoài. Doanh Hoa mắt tinh tay lẹ, giữ được nàng lại. Tử Văn lại bật khóc nức nở.

Doanh Tật nhìn Tử Vân, thản nhiên hỏi: “Em khóc cái gì?”

“Em rể của anh sắp bị kẻ hung hãn kia giết chết, còn không khóc được ư?”

“Hắn có thể giết?” Doanh Tật hỏi ngược lại.

Câu hỏi này khiến cả Doanh Hoa và Tử Vân đều sững sờ.

“Đăng Nhi đang cơn giận dữ, chỉ định tội bừa mà thôi!” Doanh Tật giải thích, “tru di cửu tộc, có thể được ư? Theo như Tần pháp, thì cửu tộc của Trương Nghi gồm cả anh em chúng ta, cũng gồm cả người định tội nữa.”

Doanh Hoa, Tử Vân lúc này mới bình tĩnh nghĩ lại, quả thực, nếu tính theo vai vế, Trương Nghi là chú rể của Doanh Đãng, nên cũng nằm trong cửu tộc.

“Thảo nào Trương Nghi vẫn cười hăng thê!” Doanh Hoa mặt mày nhăn nhó.

“Còn nữa,” Doanh Tật nhìn sang Tử Vân, “tấm kim bài của em cứ cất mãi trong nhà làm gì?”

“Kim bài? Kim bài gì kia?” Tử Vân ngẩn người.

“Tấm kim bài miễn tử mà tiên công phụ ban cho em đó!” Doanh Hoa kêu lên, “không có em, sẽ không có chiến thắng Hà Tây. Không có chiến thắng Hà Tây, sẽ không có Đại Tần ta hôm nay. Kim bài đó, Đãng Nhi không thể không thừa nhận!”

“Chao ôi, không biết nó ở đâu rồi, em về tìm ngay!” Tử Vân quay người chạy đi ngay, cũng nhanh như lúc đến.

Tử Vân về phủ, lục tung rương hòm, xáo tung phòng ngủ, tìm kiếm rất lâu, cuối cùng cũng tìm thấy tấm kim bài trong một rương của hồi môn, bèn gói lại hối hả chạy tới phủ Doanh Tật, lôi ngay hai người vào cung.

Nhìn thấy kim bài miễn tử, Doanh Đãng không thể không thả Trương Nghi, song ra một điều kiện, Trương Nghi phải rời Tần trong vòng hai hôm.

Ngay chiều hôm đó, Trương Nghi ra khỏi tử lao. Tử Vân đã chờ sẵn bên ngoài.

Hai người vừa về tới phủ, Tử Vân đã xăm xắn hô hào chúng nô bộc thu dọn đồ đạc.

“Phu nhân, nàng định làm gì?” Trương Nghi điểm tĩnh nhìn nàng hỏi.

“Đại vương lệnh cho chúng ta phải rời Tần trong vòng hai ngày!” Tử Vân mỉm cười đáp.”

“Chỉ dụ của đại vương như thế nào?” Trương Nghi nhìn nàng chăm chú.

Tử Vân đáp: “Là khẩu dụ, đại khái nói rằng, người, quả nhân có thể không giết, song phải rời Tần trong vòng hai ngày, đừng để quả nhân phải nhìn thấy hắn nữa!”

“Nàng nghe rõ chưa?” Trương Nghi nhún vai, “người mà đại vương không muốn nhìn thấy nữa là Nghi, không phải nàng, cũng không phải Tường Nhi!”

Trương Nghi nói rồi nhìn sang con gái Doanh Tường. Doanh Tường đang đứng tựa cửa, nhìn Trương Nghi đăm đăm, trong mắt không hề vương một ngấn lệ.

Chuyện trong nhà, Doanh Tường đã thấy nhiều, đã hiểu nhiều, vào thời khắc này, không còn khóc nổi.

“Tường Nhi!” Trương Nghi vẫy tay với con gái.

Doanh Tường tiến lại, ngước mắt nhìn Trương Nghi, giọng nói trịnh trọng: “Cha, Tường Nhi đi theo cha!”

Trương Nghi đưa tay vuốt nhẹ mái tóc của con gái: “Con không đi được, con phải ở lại Hàm Dương chăm sóc cho mẹ!”

“Vì sao, thưa cha?”

“Không vì sao cả, con là người Tần!”

“Nhưng con họ Trương, cha đã cho con mang họ Trương rồi mà!” Doanh Tường kêu lên.

“Con họ Trương, nhưng dòng máu của con là người Tần, con thuộc về nước Tần!” Trương Nghi nhìn sang Tử Vân, “cũng giống như mẹ của con, mãi mãi mang dòng máu người Tần, cũng mãi mãi thuộc về nước Tần!”

“Cha, còn cha thì sao?”

“Cha thuộc về thiên hạ!” Trương Nghi chỉ về phía xa, lại chỉ về trước mặt, “thiên hạ cũng gồm cả nước Tần.” Vừa dứt lời, đã sải bước đi ngay.

“Trương Nghi…” Tử Vân vội vã đuổi theo, “hãy nghe thiếp, thiếp đã quyết định rồi, chàng đi đâu, thiếp và Tường Nhi theo tới đó!”

“Ta đi đến chỗ chết thì sao?” Trương Nghi hỏi.

Tử Vân ôm chầm lấy Trương Nghi, bật khóc. “Phu nhân, nàng đừng như vậy!” Trương Nghi vỗ nhẹ vào vai Tử Vân, “phu quân của nàng sẽ không chết đâu, hắn cũng không muốn chết. Hắn còn đại nghiệp phải hoàn thành, rồi sẽ trở về. Trước mắt thời vận trắc trở, nên hắn buộc phải phiêu bạt một thời gian. Hắn thuộc về thiên hạ, hắn nhất định phải bôn tẩu liệt quốc. Nàng và Tường Nhi cứ ở Hàm Dương, ở trong phủ này, chờ ta!”

Lời vừa dứt, Trương Nghi liền đẩy Tử Vân ra, bước xuống sân, nhảy lên xe, hô phu xe lên đường.

Phu xe ra roi thúc ngựa, cỗ xe lăn bánh lộc cộc, nhanh chóng khuất khỏi tầm mắt.

Trong sân, mẹ con Tử Vân ôm nhau khóc nức nở.

Trương Nghi đánh xe một mạch tới thẳng nước Hàn, dừng lại trước phủ Lãnh Hướng, dặn phu xe trở về Hàm Dương phục mệnh với Tử Vân.

Chập tối, Trương Nghi từ biệt Lãnh Hướng, âm thầm ra về.

Nơi đến là một toà trạch viện kín đáo yên tĩnh giữa kinh đô Trịnh Thành, gồm năm dãy nhà, rộng đến vài mẫu, còn có một vườn hoa rất đẹp, cũng là một phủ trạch khang trang.

Trương Nghi vừa tới cổng, suýt nữa đâm sầm vào hai người, một là con trai Khai Địa, một là con trai thứ ba của Tiểu Thuận Trương An. Khai Địa đã cao gần bằng Trương Nghi, Trương An cũng chỉ thấp hơn một cái đầu.

Thì ra vừa ăn tối xong, hai cậu bé rủ nhau ra ngoài chơi một lát.

Nhận ra cha mình, Khai Địa quên cả đi chơi, sung sướng kéo Trương Nghi chạy phăm phăm vào trong cổng, vừa chạy vừa gọi: “Mẹ, cha về rồi, cha về rồi!”

Hương Nữ cùng vợ chồng Tiểu Thuận và hai đứa nhỏ đang ăn cơm trong dãy nhà thứ hai, nghe thấy tiếng thì lập tức bỏ bát đũa chạy ra. Cả nhà Tiểu Thuận dập đầu sát đất, mừng rơi nước mắt.

Hương Nữ cũng chạy ra, đứng lặng bên cửa.

Trương Nghi lần lượt đỡ cả nhà Tiểu Thuận dậy, rồi tiến lại trước mặt Hương Nữ, nắm lấy tay nàng.

“Mấy hôm nay, thiếp biết thế nào chàng cũng về!” Hương Nữ cũng nắm chặt tay Trương Nghi, khẽ nói.

“Ta biết là nàng biết!” Trương Nghi cười.

“Sao chàng biết được?” Hương Nữ hỏi.

“Trong lúc mơ màng trên xe,” Trương Nghi đáp, “ta nhìn thấy nàng!”

“Thiếp cũng vậy, trong lúc luyện công, thiếp chợt thấy chàng đang ngồi trong xe, qua ải Hổ Lao.”

Trương Nghi dắt tay nàng tới gian chính của dãy nhà thứ ba, ôm nàng ngồi xuống.

“Chàng trở về, hẳn vì chuyện của Tô huynh?” Hương Nữ khẽ giọng hỏi, “khắp Trịnh Thành đồn đại xôn xao chuyện Tô huynh bị hành thích, đều nói là người Tần gây ra.”

“Phải!” Trương Nghi đáp, “ta sẽ ở lại với mẹ con nàng ba ngày, rồi đi phúng viếng Tô huynh. Lá rụng về cội, ta muốn đưa Tô huynh về an táng tại Lạc Dương.”

“Thiếp đi cùng được chăng?” Hương Nữ hỏi.

“Tiểu Thuận sẽ cùng đi.”

Ba ngày tiếp theo, Trương Nghi không đi đâu cả, chỉ ở yên trong nhà, đóng chặt cổng cửa, vui vầy sum họp cùng Hương Nữ và Khai Địa.

Sáng sớm ngày thứ tư, Tiểu Thuận đánh xe, chở Trương Nghi đi về phía đông.

Lúc này đã qua tháng Chạp, trời đất hồi xuân, song trong Quỷ Cốc, núi non vẫn phủ dày tuyết trắng.

Trong sơn động, tiểu đồng đang ngồi nhập định, Ngọc Thiên bước vào, ngồi xuống đối diện.

Đồng tử xuất định, mở mắt nhìn Ngọc Thiền.

“Sư huynh, Ngọc Thiền vừa thấy phụ vương!” Ngọc Thiền sắc mặt đầy đau xót.

“Sư tỷ muốn về thăm phụ vương ư?” Tiểu đồng hỏi thay lời đáp.

“Phải!”

“Đi thôi!” Tiểu đồng đứng ngay dậy.

Hai người rời sơn động, đạp tuyết mà đi, ra khỏi Quỷ Cốc, băng qua vài hẻm núi, rồi men theo sông Nhữ Thuỷ đã bắt đầu tan băng, cứ thế đi miết về phía Lạc Dương.

Đến khi cổng vương thành hiện ra trước mặt, Ngọc Thiền hai mắt nhoà lệ.

“Sư tỷ vào đi, tiểu đồng đợi bên ngoài.” Tiểu đồng nói. Ngọc Thiền không nói một lời, đưa tay áo lau nước mắt, rồi nắm tay tiểu đồng, đi về phía cổng thành.

Trước cổng có vài giáp sĩ đứng canh, trong đó có một người đã rất già nua.

Thấy hai người tiến lại, hai viên giáp sĩ trẻ tuổi chĩa ngang trường kích, chặn trước mặt họ. Ngọc Thiên nhìn sang người lính già, vòng tay nói: “Tôi nhận ra ông, nhà ông ở phố Nam.”

Người này thoạt tiên ngỡ ngàng, nhìn sững vào nàng hồi lâu, dụi mắt mấy cái mới nghi hoặc thốt lên: “Đây có phải là… Vũ công chúa?”

Ngọc Thiền gật đầu.

“Ối chao ôi!” Giáp sĩ già quỳ sụp xuống, dập đầu liên hồi mà bật khóc.

Ngọc Thiền đỡ ông dậy, cảm tạ rồi lại nắm tay tiểu đồng bước vào trong cung.

Đây là cung thành từng thuộc về nàng, từng ngóc ngách nơi đây, nàng thuộc như in.

Song nàng không còn tâm trí nào để nhìn ngắm chốn xưa nữa.

Có lão cung nhân vẫn nhận ra nàng, bèn đưa hai người vào thẳng tẩm thất của Chu Hiển Vương, cung Tịnh An nơi mẫu hậu nàng từng ở.

Nghênh đón họ trước tẩm thất vẫn là lão cung chính của cung Tịnh An năm xưa, tóc đã bạc trắng. Nhận ra công chúa, lão cung chính chệnh choạng chạy lại bên giường Hiển Vương, ghé sát tai nghẹn ngào báo tin: “Bệ hạ, bệ hạ, bệ hạ, là công chúa… Vũ công chúa… đã trở về.”

Hiển Vương tỉnh giấc, chầm chậm mở mắt, nhìn sang Ngọc Thiền đang đứng bên giường.

Ngay tức khắc, Hiển Vương hai mắt sáng rỡ, thân thể rung lên bần bật, dường như muốn ngồi dậy.

Ngọc Thiền đặt tay lên vai Hiển Vương cho ông nằm yên, rồi nắm lấy tay Hiển Vương khẽ gọi: “Phụ vương…”

“Vũ… Vũ Nhi.” Hiển Vương cất giọng run rẩy, từng giọt lệ ứa ra bên khoé mắt già nua.

Ngọc Thiền từ từ quỳ xuống bên giường, mắt nhìn đăm đăm vào Hiển Vương trong cơn trọng bệnh, nước mắt lã chã. Phải, không cần bắt mạch, chỉ mới nhìn qua, nàng đã biết phụ vương nàng đã nguyên khí cạn kiệt, sinh mệnh sắp đến hồi tàn.

Hiển Vương gắng gượng nâng bàn tay run rẩy, vuốt qua khuôn mặt Ngọc Thiền: “Vũ Nhi, chị… con đâu? Chị con… khoẻ chứ?”

“Thưa phụ vương, chị vẫn khoẻ.”

“Nghe… nghe nói… nước Yên… sinh loạn…”

“Chị ấy không còn ở nước Yên nữa!”

“Ở đâu?”

“Ở Lâm Truy, trên núi Tắc Sơn.”

“Tới đó… làm… làm gì?”

“Tới đó… để ở bên người tri kỷ.”

“Là… là ai?” Hiển Vương lộ vẻ kinh ngạc.

“Vũ Nhi sẽ kể cho người nghe!” Ngọc Thiên nắm chặt tay Hiển Vương, rồi dịu dàng kể cho cha nghe từ đầu đến cuối câu chuyện thật dài của Cơ Tuyết và Tô Tần. Cho đến sau cùng, vào một tháng trước, hay tin Tô Tần bị người Tần hành thích, Cơ Tuyết rời cung Yên tới Tắc Sơn ngoài thành Lâm Truy nước Tề, và rồi ở lại bên Tô Tần vĩnh viễn.

Hiển Vương nhắm nghiền mắt lại.

Lệ đục lại ứa ra ròng ròng bên khoé mắt Hiển Vương, giọng ông thổn thức: “Tuyết Nhi… Tuyết Nhi… Quả nhân có lỗi… với con.”

“Phụ vương,” Ngọc Thiên nói, “đường của chị con, là do chị chọn. Được ở bên Tô Tử, chị ấy coi như không sống uổng kiếp này!”

“Phải,” Hiển Vương vẫn nhắm mắt, giọng đã gần như thều thào, “Vũ Nhi, quả nhân… đã nhìn thấy mẫu hậu của con, vừa lúc nãy thôi… Quả nhân… rất nhớ nàng… Giọng chợt hốt hoảng, “nàng đâu rồi… Nàng đã đi đâu… mất rồi?”

“Phụ vương,” Ngọc Thiền vỗ về trấn an, “Vũ Nhi sẽ đưa người đến gặp mẫu hậu!” Nói đoạn mở hộp kim bạc mang theo, châm vào ba huyệt vị trên cơ thể, rồi nắm chặt bàn tay Hiển Vương, nhắm mắt tĩnh thần, bước vào nhập định.

Hiển Vương cũng bình tĩnh trở lại. Nằm im một lúc, khuôn mặt Hiển Vương từ từ giãn ra, môi ông run run như muốn nở một nụ cười, rồi khẽ mấp máy tựa nói mê: “Tiếng đàn… tiếng đàn tuyệt diệu… Tử đồng… Tử đồng…”

Giọng ông nhỏ dần, nhỏ dần, rồi thành một tiếng thở hắt kéo dài.

“Phụ vương…” Cơ Vũ nắm chặt bàn tay Hiển Vương, rồi từ từ cúi xuống, áp mặt mình vào đó.

Chu Vương băng hà, thiên hạ không chút xôn xao.

Tiểu Thuận đánh xe cho Trương Nghi, chở theo đồ cúng tế tới Lâm Truy, tìm đến lăng mộ của Tô Tần nằm sâu trong Tắc Sơn.

Từ lúc tới Tề, Tô Tần luôn ở trong Tắc Hạ, tuy không phải là Tắc Hạ tiên sinh, song nghiễm nhiên được coi là một thành viên của Tắc Hạ, thuộc môn phái Quỷ Cốc. Vậy nên sau khi bị hành thích, tang lễ của Tô Tần do cung Tề lo liệu, tế tửu Tắc Hạ Tuân Tử đích thân làm chủ tang.

Trong Tắc Sơn có một khu lăng mộ rộng lớn dành riêng cho người của Tắc Hạ. Tắc Hạ người đến người đi liên tục, hầu hết lại là người trẻ, nên từng ấy năm qua, khu mộ địa vẫn rất thưa thớt, cả một vạt lăng mộ dựng sẵn vẫn trống không.

Lăng mộ của Tô Tần nằm chính giữa khu mộ địa, bên cạnh là lăng của Thuần Vu Khôn, phía trước là lăng của tiên tế tửu Bành Mông. Quy cách lăng mộ là cấp tế tửu Tắc Hạ, tiên sinh bình thường không được hậu đãi nhường đó.

Tô Tần chết bất đắc kỳ tử, theo tập tục đất Tề, sau ba năm mới được đưa vào địa thất, vậy nên Tắc Hạ dựng tạm trên lăng một gian nhà hình mộ, treo quan tài lơ lửng bên trong đó. Trâu Phi Đao, Mộc Hoa, Mộc Thực, Thu Quả và toàn bộ những người bỏ mạng trong đêm đó, không phân ta địch, đều được Mặc giả cùng người của cung Tề tìm nơi chôn cất tử tế.

Lúc này, trời vừa ấm lại, cây cỏ bắt đầu đâm chồi nảy lộc xanh tươi.

Trương Nghi đứng lặng trước mộ Tô Tần, nhìn đăm đăm vào bia mộ hồi lâu.

“Tô đại nhân ôi là Tô đại nhân, ối Tô đại nhân của tôi ơi!” Không trầm lặng như Trương Nghi, Tiểu Thuận buộc ngựa xong liền chân thấp chân cao chạy xộc lại, quỳ phịch xuống đất, vừa dập đầu lia lịa vừa gào khóc inh ỏi, “đại nhân còn nhớ Tiểu Thuận ở Lạc Dương năm xưa không? Nay Tiểu Thuận đưa chúa công tới viếng đại nhân đây… Than ôi, vừa mới năm nào cùng nhau ở Lạc Dương, mà giờ đã âm dương vĩnh quyết, ối Tô đại nhân ôi!”

“Thằng ranh này, ồn ào quá, ngươi ngậm miệng lại một chốc được không?” Trương Nghi đang mặc niệm, nghe vậy thì nhịn không nổi, đạp vào mông Tiểu Thuận gắt lên.

Tiểu Thuận đang lúc thương cảm, tuy bị Trương Nghi nạt nhưng vẫn không nín ngay được, hai tay bưng miệng, tiếng khóc lục cục trong cổ như mắc nghẹn.

Trương Nghi dịu giọng nói: “Tiểu Thuận, Tô huynh không thích nghe tiếng khóc, ngươi mau ra xe mang đô cúng lại đây, ta muốn uống vài chén với Tô huynh!”

Tiểu Thuận vâng dạ, lủi thủi đi ngay.

Tiểu Thuận vừa đi khỏi, bỗng thấy một người chậm rãi tiến lại, mình mặc hiểu phục, trông chừng tuổi ngoại tứ tuần.

Trương Nghi đưa mắt nhìn ông ta, đang lấy làm hiếu kỳ, thì người kia đã khom lưng vái mà nói: “Xin hỏi đại nhân đây là…”

“Tại hạ Trương Nghi, còn các hạ là…” Trương Nghi đáp lễ, nhìn ông ta dò hỏi.

Nghe thấy hai tiếng “Trương Nghi”, người kia chầm chậm quỳ xuống, dập đầu mà nói: “Cung chính cung Cam Đường nước Yên khấu kiến Trương đại nhân!”

“Cung Cam Đường? Cung chính?” Trương Nghi ngỡ ngàng hỏi lại.

“Chính là cung của tổ thái hậu nước Yên, tiểu nhân là người hầu hạ tổ thái hậu!”

Tổ thái hậu nước Yên, trưởng công chúa Cơ Tuyết của Chu thất! Trương Nghi nhìn vào hiếu phục trên người ông ta, trong lòng giật thột, vội hỏi: “Thân là cung chính, không ở trong cung hầu hạ tổ thái hậu, tới đây làm gì?”

“Hồi bẩm đại nhân,” cung chính chầm chậm ngoảnh nhìn ngôi mộ, rồi chảy nước mắt nghẹn ngào, “tổ thái hậu đã… đã…”

Trương Nghi bừng hiểu ra, bất giác hít sâu vào một hơi, rồi từ ngồi xuống, đối diện với cung chính, nhìn thẳng vào ông ta, điểm đạm lên tiếng: “Trương Nghi hôm nay tới đây là để tế bái Tổ đại nhân, thật không ngờ nơi này lại có thêm một tổ thái hậu nữa. Cung chính, ông hãy nói ta nghe, chuyện là thế nào?”

“Tiểu nhân không thể nói!” Cung chính dập đầu đáp. “Người trong mộ kia,” Trương Nghi chỉ vào lăng mộ, “đều là bằng hữu của tại hạ. Tô đại nhân là huynh đệ sinh tử của tại hạ. Còn chủ nhân của ông, tổ thái hậu, tại hạ biết người từ hồi còn là công chúa của Đại Chu!”

“Vâng!” Cung chính gật đầu đáp, “đôi lúc ôn lại chuyện cũ Lạc Dương, tổ thái hậu vẫn nhắc tới tên đại nhân.”

Đúng lúc này, Tiểu Thuận khệ nệ gánh đồ lễ lại. Trương Nghi lập tức xua Tiểu Thuận đi cho ngựa ăn, rồi quay nhìn cung chính: “Ông hãy kể đi!”

Cung chính cũng biết rõ mối giao tình giữa Trương Nghi và Tô Tần, nên không dè dặt nữa, bèn đổi quỳ thành ngồi, đem những chuyện riêng tư giữa tổ thái hậu và Tô Tần mà mình biết được kể rõ đầu đuôi, đoạn sụt sùi mà nói: “Mười hôm trước, tiểu nhân đánh xe đưa tổ thái hậu tới đây. Tổ thái hậu không hề than khóc, chỉ sai tiểu nhân trang điểm cho người thật đẹp, thay xiêm y tân nương, rồi ôm cây kiếm gỗ mà Tô Tử tặng năm xưa, ngồi ở chỗ này, cứ thế ngồi lặng lẽ suốt một ngày một đêm. Tiểu nhân ngồi cùng tổ thái hậu, sau đó mệt quá thiếp đi một lát, đến lúc mở mắt ra, đã thấy tổ thái hậu… nằm trước tấm bia, mũi kiếm gỗ đâm xuyên qua tim…”

Trương Nghi nghe mà ứa nước mắt.

Con người cương liệt ấy, đã chọn một cách thế này để đi theo Tô Tần.

“Tiểu nhân sợ đến mất hồn,” cung chính vẫn nghẹn ngào kể tiếp, “nhưng tiểu nhân… hiểu lòng tổ thái hậu, bèn mở mộ của Tô đại nhân ra, mở nắp quan tài, đặt tổ thái hậu vào bên cạnh…” Rồi không nén nổi thương tâm, bật khóc thảm thiết.

“Đã từng ấy ngày, sao ông còn ở đây?” Trương Nghi lau nước mắt, nhìn cung chính hỏi.

“Hồi bẩm Trương đại nhân,” cung chính đáp lời, “tổ thái hậu không còn nữa, tiểu nhân… không có chốn về, nên đã nhờ người dựng một túp lều gần đây, ở lại trông nom lăng mộ cho Tô đại nhân và tổ thái hậu!”

“Quả là nghĩa bộc!” Trương Nghi cảm khái thốt lên, rồi nhìn thẳng vào cung chính căn dặn, “chuyện này, không được nói cho bất kỳ ai khác, sẽ bất lợi cho Yên thất. Lá rụng về cội, Tô đại nhân và tổ thái hậu đều là người Chu, mai táng ở đây, không phải sở nguyện của họ. Vậy nên tại hạ muốn đưa họ về Lạc Dương, cho vong hồn được gửi gắm nơi cố quốc. Ông hãy cùng Tiểu Thuận vào thành Lâm Truy, đặt một cỗ quan tài phu thê. Nơi này, hãy coi như mộ y quan của Tô Tử!”

“Việc đó thực hay!” Cung chính tấm tắc khen phải. Trương Nghi gọi Tiểu Thuận lại căn dặn, hai người liền tới Lâm Truy.

Dù chuyến đi của Trương Nghi rất âm thầm, song tin vẫn đến tai Khuông Chương.

Khuông Chương đánh xe tới tận nhà trọ của Trương Nghi tìm gặp, trao tận tay một hộp gỗ.

Trương Nghi nhìn hộp gỗ, thấy trên đề năm chữ “Khuông tướng quân thân khải”, thì ánh mắt ngỡ ngàng nhìn Khuông Chương.

“Trương Tử cứ mở ra sẽ hiểu!” Khuông Chương mim cười nói.

Trương Nghi mở hộp, thấy bên trong có vài bó thẻ tre.

Trên các bó thẻ tre, còn có vài thẻ tre rời, viết dày đặc những chữ, là thủ bút của Tô Tần: “Nghi đệ, vật trong hộp này, đều là giáo huấn của tiên sinh, Tần từ lâu đã muốn soạn lại thành sách, lưu lại khổ tâm của tiên sinh, thành tựu cho đạo tung hoành, song vì lực bất tòng tâm, lĩnh ngộ chưa thông, nên vẫn chần chờ chưa dám động bút. Chẳng dè thích khách tìm tới, rình rập xung quanh, Tần biết không còn thời gian nữa, đành phải miễn cưỡng cầm bút, viết vội thành sách. Nào ngờ sách chưa viết xong, Tề Vương triệu vời, Tần buộc phải dừng bút khoá hộp, nghe theo thiên mệnh. Chỗ nào còn thiếu, kính mong hiền đệ bổ sung. Chương nào đã thành, song còn sơ sót, cũng mong hiền đệ sửa giúp. Khẩn thiết. Ngu huynh Tô Tần.”

“Sau khi Tô Tử bị mưu sát,” Khuông Chương giải thích, “tại hạ đến kiểm tra phủ trạch của Tô Tử, tìm được hộp này, thấy đề tồn tại hạ, mới mở ra xem, nào ngờ những thứ bên trong đều là nhờ tại hạ chuyển cho Trương Tử!”

Trương Nghi mở các bó thẻ tre, cả thảy bốn cuốn, một là Âm phù kinh do tiên sinh tặng cho Tô Tần khi xuống núi, Trương Nghi cũng có, song cuốn này dày đặc chú giải của tiên sinh. Ba cuốn còn lại, đều do Tô Tần tự soạn, đề là Quỷ Cốc Tử, gồm có sáu chương Bài hạp, một chương Trung kinh, một chương Phù ngôn, bảy chương Âm phù. Trong đó bảy chương Âm phù là do Tô Tần chép lại những lời bình chú của tiên sinh. Phía sau sáu chương Bài hạp, còn có năm chương nữa, song Tô Tần mới chỉ viết tên chương, lần lượt là Suỷ, Ma, Quyền, Mưu, Quyết, còn nội dung không có chữ nào.

Rõ ràng là Tô Tần chưa kịp viết xong đã bị hành thích bất ngờ, hơn nữa trước lúc vào cung, đã đoán được chuyến đi này lành ít dữ nhiều.

Trương Nghi buồn thương rơi lệ.

Tiễn Khuông Chương đi rồi, Tiểu Thuận cũng quay về, nói rằng quan tài đã đặt xong. Trương Nghi bèn cất hộp gỗ lên xe, dặn Tiểu Thuận đi tới chỗ bán quan tài, bảo họ khiêng quan tài lên xe mui, phủ lên một tấm vải đen, rồi đợi khi trời tối, lên xe chở quan tài đi thẳng lên Tắc Sơn.

Trong đêm đen mù mịt.

Ba người Trương Nghi, Tiểu Thuận và cung chính lặng lẽ mở mộ Tô Tần, bật nắp quan tài, đưa Tô Tần ra. Tô Tần chết đã vài tháng nên tuy vẫn mùa đông, thi thể cũng bị huỷ hoại ít nhiều, may sao cung chính khéo tổ vẽ trang điểm, nên chỉ một chốc, diện mạo Tô Tần đã sáng sủa hơn hẳn.

Trương Nghi gỡ mũ áo cũ của Tô Tần ra, mặc cho áo mũ tân lang, rồi ba người hợp sức khiêng xác Tô Tần vào trong áo quan trên xe. Sau đó, Trương Nghi và cung chính lại đưa Cơ Tuyết ra, đặt vào cạnh Tô Tần. Cỗ quan tài phu thể rộng rãi, hai người không còn phải chịu cảnh chật chội như trước. Trương Nghi cho hai người gối chung một gối, tay đặt vào tay, rồi đặt ngang thanh kiếm gỗ trên đầu, sau đó mới đóng nắp quan tài. Tiểu Thuận lấy đinh và búa đóng chắc, dùng sáp trét kín các kẽ hở, xong xuôi lại phủ tấm vải đen trùm kín, để tránh mắt nhìn. Sau đó, Trương Nghi bỏ mũ áo cũ của Tô Tần vào trong cỗ quan tài cũ, trả vào trong mộ, cẩn thận đóng kín như cũ, xoá hết dấu vết, để không ai có thể nhận ra.

Xong xuôi từng ấy việc, trời đã tờ mờ sáng. Trương Nghi lên cỗ xe mui sang trọng của cung chính, đi trước dẫn đường, Tiểu Thuận đánh cỗ xe chở quan tài đi theo sau. Ba người hai xe lộc cộc tiến về phía tây.

Khi xe qua Đại Lương, Trương Nghi dõi mắt nhìn cổng thành Đại Lương phía xa xăm, nhìn về phía đồ thành đã từng quen thuộc mà giờ thành xa lạ, trong lòng bỗng dấy lên một nỗi bùi ngùi chua chát, bất giác cũng cảm thấy, mình không thể đưa Tô Tần quay về Hiên Lý một cách lặng lẽ thế này, để Tô Tần phải âm thầm tiêu biến khỏi nhân gian.

Nghĩ là vậy, Trương Nghi bèn bảo cung chính đổi hướng, vào thành.

Không trong thời chiến, cổng thành Đại Lương mở rộng suốt ngày đêm, cho người qua kẻ lại tự do không ai tra xét. Hai cỗ xe thong dong băng qua phố lớn Đại Lương, thẳng tiến về phía nha phủ ti tung thân liệt quốc.

Trương Nghi dừng ngựa trước nha phủ, nhìn đăm đăm một hồi, rồi lấy ra một túi gấm đưa cho cung chính, bảo ông ta hãy đưa cho môn uý, sau đó mới đánh xe rời thành, lại tiến về tây.

Môn uý nhận lấy túi gấm, thấy đã niêm phong, trên đề bốn chữ, “Tê Thủ thân khải”, thì không dám chần chừ, vội trình lên Công Tôn Diễn. Công Tôn Diễn mở túi gấm, thấy bên trong có một mảnh da dê, viết một hàng chữ nhỏ: “Vào ngày hối sóc tháng này, an táng Tô huynh tại quê cũ Lạc Ấp, có thể tới rót bát rượu vàng tiễn biệt chăng?” Không thấy có lạc khoản.

Hối là ngày cuối tháng, sóc là ngày đầu tháng tới, hối sóc tháng này, tức lúc giao thời giữa tháng Giêng Hai, chính xác là nửa đêm giờ Tý.

Hai ngày hối sóc, nhật nguyệt giao hội, trăng khuyết tàn, trăng non mọc.

Từ giờ tới lúc đó, còn mười sáu ngày.

Công Tôn Diễn mang thư tới gặp Trần Chẩn và Lãnh Hướng. Sau khi trở về từ tang lễ Tô Tần ở Lâm Truy, do Công Tôn Diễn thỉnh cầu, Trần Chẩn chưa vội về Hàm Đan mà lưu lại trong ti tung thân, nhận uỷ thác của Triệu Vương mà vào ti phủ nước Triệu, thay Tô Tần xử trí việc liệt quốc phạt Tần.

Trần Chẩn, Lãnh Hướng nhìn vào nét chữ, đều nhận ra là thủ bút của Trương Nghi.

Trong thiên hạ này, cũng chỉ có Trương Nghi mới dám dời mộ Tô Tần.

Huyên náo qua đi, hoang tàn ở lại.

Kể từ hồi Tô Tần áo gấm vinh quy, từ sau lễ tang cha long trọng, nhất là từ sau khi Tô Tần rời quê lần nữa, thôn Hiên Lý lại quay về với vẻ đìu hiu, mỗi năm lại càng thêm lặng lẽ tiêu điều, cho tới hôm nay, khi Trương Nghi hộ tống linh cữu Tô Tần quay về quê cũ.

Chu Hiển Vương băng hà chẳng khiến thiên hạ xôn xao, song Tô Tần quy táng cố hương, lại khiến thiên hạ nhà Chu một phen chấn động.

Linh cữu đưa về được ba ngày, cũng tức một hôm trước ngày hối tháng đó, Công Tôn Diễn, Trần Chẩn, Lãnh Hướng đã kịp tới Lạc Ấp, đi cùng họ còn có cả đoàn đặc sứ cùng tuỳ tùng trong ti tung thân sáu nước, mang theo vô số đồ cúng tế.

Nơi an táng Tô Tần do Trương Nghi lựa chọn, nằm bên bờ Lạc Thuỷ ở phía bắc thôn, gần kề bên miếu của lão cầm sư. Vào ngày nhập lăng, tang lễ vô cùng long trọng, thôn Hiên Lý lại một lần nữa đông nghịt những người, dân chúng trong vòng mười dặm vuông, thậm chí có thể nói là toàn bộ người Lạc Dương, ai tới được đều tìm tới cả.

Tô Diêu thị đã mất từ lâu, táng cùng huyệt với Tô Hổ. Tô Lệ nối nghiệp nhà, vẫn làm ruộng như cũ, song bà vợ đã mù cả hai mắt, điếc một bên tai. Người quán xuyến Tô gia, đương nhiên không là ai khác ngoài con dâu cả của Tô Lệ, Tô Lưu thị. Tô Lưu thị chính là cháu của Lưu Quyền, lý chính thôn Y Lý năm xưa.

Tiểu Hỷ vẫn vò võ một mình. Sau khi Tô gia phát đạt, Tô Đại muốn dựng nhà lớn cho Tiểu Hỷ, song Tiểu Hỷ dứt khoát không chịu, vẫn ở trong căn nhà nhỏ năm xưa. Đó là hôn phòng của Tiểu Hỷ.

Qua những câu chuyện đồn thổi mỗi ngày một nhiều thêm, Tiểu Hỷ đã biết được một sự thực cay đắng: trong quan tài của Tô Tần còn có một người đàn bà khác, chính là Tuyết công chúa của Đại Chu thiên tử. Năm xưa, Tuyết công chúa xuất giá cũng là một giai thoại mà người quanh kinh thành không ai không biết, Tiểu Hỷ cũng không ít lần thương xót cho nàng. Lúc này, Tiểu Hỷ lại bởi nàng mà rơi nước mắt, nhưng vì thương xót cho mình.

Trong lễ tang Tô Tần, ai cũng bận rộn lo toan, chẳng còn ai để ý tới Tiểu Hỷ.

Tiểu Hỷ tập tễnh tìm tới bên mộ Tô Hổ. Cạnh mộ lớn của Tô Hổ có một mô đất nhỏ, là nơi chôn con chó Mực của Tô Tần.

Con Mực đã chết từ mười năm trước. Lúc sắp chết, nó đi tới một sườn đất bên bờ Lạc Thuỷ, ánh mắt buồn bã nhìn sang phía bờ kia như chờ đợi. Tiểu Hỷ biết nó sắp chết, cũng biết nó đang đợi gì, bèn ôm nó vào lòng, cùng ngồi đó cho tới khi nó chết. Sau đó tự tay chôn nó tại đây.

Lúc này, trái tim Tiểu Hỷ đã tan nát hoàn toàn.

Tiểu Hỷ cứ ngồi bên mô đất nhỏ của con chó trung thành, từ trời sáng tới khi trời tối, rồi lại từ trời tối đến khi trời sáng.

Tiểu Hy không khóc thêm tiếng nào nữa. Tiểu Hỷ hiểu, đó là số mệnh của mình.

Trời lại tối thêm lần nữa.

Bên tại Tiểu Hỷ bất chợt văng vẳng tiếng gọi của Tô Tần năm xưa: “Nàng ơi… hãy nghe đây, Tô Tần kiếp này nợ nàng, kiếp sau sẽ trả!”

Tiểu Hỷ bật khóc thành tiếng.

Rồi vừa khóc, Tiểu Hỷ vừa dùng hai tay bởi đất, cứ bởi từng chút một, cho tới khi thành một hố nhỏ, nắm xương của con Mực lộ ra. Tiểu Hỷ vẫn tiếp tục đào nữa, đào nữa, cho tới khi cái hố đủ rộng cho nàng nằm lọt, rồi đưa tay gạt những đất mới đào phủ lấp lên người mình.

Ngày thứ ba sau khi an táng Tô Tần, ba người Công Tôn Diễn, Trần Chẩn, Lãnh Hướng lại cùng ra lăng mộ. Phía trước lăng mới, Trương Nghi xoã tóc, đang ngồi ngoảnh mặt vào lăng.

Trước mặt Trương Nghi, bày một bàn cờ.

Ba người đưa mắt nhìn nhau.

Là sĩ tử, chơi cờ là chuyện thường tình, song bàn cờ họ vẫn chơi đều có hình vuông, hai chiều ngang dọc hoặc là chín đường, hoặc là mười một đường, hoặc là mười ba đường. Nhưng bàn cờ trước mặt Trương Nghi lúc này lại hình tròn, có ba chân như chân vạc, mặt bàn tròn gồm mười chín đường kết thành hình vuông, lọt trong hình tròn, ngang dọc đan xen, giống như thiên hạ Đại Chu với phép tinh điền.

Cuộc cờ đang hồi gay cấn, hai quân đen trắng sát phạt kịch liệt, đen lẫn trong trắng, trắng lẫn trong đen, không thể nhìn ra thế thua thế thắng.

Ba người hiểu, Trương Nghi đang đánh cờ, đối thủ là Tô Tần.

Trương Nghi cười, lên tiếng: “Ba vị tới xem cờ ư?” Chỉ vào bàn cờ, “mời ngồi.”

“Trương huynh,” Công Tôn Diễn vòng tay, “chúng tại hạ tới đây không phải để xem đánh cờ, mà tới để thỉnh cầu Trương huynh!”

“Thỉnh cầu việc gì?”

“Đánh cờ!” Công Tôn Diễn chỉ vào bàn cờ, “cuộc cờ đang lúc giao tranh gay cấn, Trương huynh từ lúc bày cờ tới nay, đã ba ngày liền, vẫn chưa hạ được một quân, lẽ nào không muốn kết thúc ván cờ?”

“Đánh thế nào đây?” Trương Nghi nhún vai, cười hỏi. “Diệt Tần!” Công Tôn Diễn bật ra hai tiếng, chỉ vào lăng mộ, “để báo thù cho Tô Tử!”

“Diệt thế nào?” Trương Nghi lại cười hỏi.

“Hợp tung thiên hạ, trừ diệt bạo Tần.” Công Tôn Diễn chỉ vào Trần Chẩn, Lãnh Hướng, “chúng tại hạ đều tán đồng Tô Tử, Tần pháp không trừ, dứt khoát sẽ gây hoạ cho thiên hạ. Tần pháp vốn ác nghiệt, Tần Vương mới đăng cơ lại càng bạo ngược, hành thích Tô Tử, xua đuổi Trương huynh, đánh nước kết minh, không từ thủ đoạn, bất tín thất nghĩa. Sát hại Tô Tử, thiên hạ thảy đều phẫn nộ; xua đuổi Trương huynh, sĩ tử quay lưng với Tần; đánh nước kết minh, liệt quốc đồng tâm hiệp lực. Vua của sáu nước tung thân Sở, Tề, Triệu, Hàn, Nguỵ, Yên đều đồng lòng nhất trí, tập hợp nghĩa quân, trừ diệt bạo Tần. Đây là cơ duyên trời ban, chúng tại hạ mong Trương huynh ra mặt chủ trì, dẫn dắt liệt quốc, vì Tô Tử, vì người Tần, vì thiên hạ, phù trợ chính nghĩa, diệt trừ Tần bạo, phế bỏ ác pháp, tạo phúc mai sau!”

“Hay, hay, hay lắm!” Trương Nghi khen liền ba tiếng, chỉ vào bàn cờ, “thế cờ này do Quỷ Cốc tiên sinh bày ra.” Rồi thò tay xuống dưới bàn cờ, lấy ra bốn cuộn thẻ tre, viết ở trong đây, đều là những gì Quỷ Cốc tiên sinh truyền dạy từ hồi trên núi, được Tô huynh soạn lại thành sách. Tô huynh thời gian vội vã, chưa kịp hoàn thành, mấy hôm nay tại hạ đã bổ sung vào chỗ thiếu. Chư vị tình sâu nghĩa nặng, tại hạ không có gì báo đáp, kính cẩn tặng lại sách này, chư vị có thể tự sao chép cho mình một bản.” Nhìn sang Trần Chẩn, “phải rồi, Trần huynh, phiền huynh sao thêm hai bản, một bản mang tới Quỷ Cốc, giao cho đại sư huynh của tại hạ, một bản tặng cho Tô Lệ. Sao chép xong rồi, những sách này hãy giao lại cho Tiểu Thuận.”

Mọi người ghé lại nhìn, thấy bốn cuốn thẻ tre được buộc lại thành một bó, trên cuốn đầu tiên, đập vào mắt rành rành ba chữ, “Quỷ Cốc Tử”.

Công Tôn Diễn nhận lấy, lần lượt mở đọc lướt qua.

“Trương huynh?” Trần Chẩn nghe ra ẩn ý, lo lắng hỏi. “Ba vị nhân huynh, hãy đi đi.” Trương Nghi vòng tay, chỉ vào bàn cờ, khẽ cười mà nói, “ván cờ của tại hạ và Tô huynh đang đến hồi gay cấn!” Rồi sửa lại vạt áo ngồi ngay ngắn, nhắm mắt lại.

Một ngày trôi qua, Trương Nghi không mảy may nhúc nhích.

Hai ngày trôi qua, Trương Nghi không mảy may nhúc nhích.

Trương Nghi đã ngồi bất động tới chập tối ngày thứ ba, Công Tôn Diễn lấy làm sốt ruột, bèn sai Tiểu Thuận đi lôi về cho bằng được.

Tiểu Thuận tới trước lăng, quỳ xuống bên cạnh Trương Nghi, giật ống tay áo mà nài nỉ: “Chúa công cơm không ăn, nước không uống, định ngồi thế tới bao giờ. Đi đã nhiều ngày, chúng ta cũng nên về nhà thôi, kẻo chúa mẫu lo lắng chết mất!”

“Về nhà… ha ha ha… Về nhà… ha ha ha ha…” Trương Nghi thình lình phá lên cười từng tràng ha hả.

Tiếng cười của Trương Nghi, phóng đãng, ma quái, như không phải phát ra từ mũi miệng, mà từ thẳm sâu trong phế phủ, không vui, không giận, không thù, không oán, không tiếc, không thương, không buồn, không tủi…

Trương Nghi cứ cười, cười mãi, cười mãi, cho tới khi toàn bộ hơi khí trong lục phủ ngũ tạng bị rút cạn kiệt, không còn sót lại chút nào.

Vầng nhật xế tây, núi xa mờ mịt.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử