Mượn được đại binh, Tô Tần vẫn một xe một ngựa, do Trâu Phi Đao đánh xe trở về. Vì sự việc cấp bách, Tô Tần đi liền không nghỉ, qua Tống tới Vệ, sau mười ngày thì đến ngoại ô Hàm Đan, lại bị lính Ngụy chặn đường, dẫn vào trong đại trướng trung quân.
Bàng Quyên tươi cười bước ra đón, bày sẵn trà thơm. Tô Tần không uống, hai mắt nhìn thẳng vào Bàng Quyên.
Bàng Quyên nhìn vào mắt Tô Tần, thấy không có ý thù hận, không có vẻ khinh bỉ, không có nỗi tuyệt vọng, chỉ thấy thấp thoáng nét đau thương, song nét đau thương này đã có phần khác biệt so với hồi ở Quỷ Cốc. Hồi ở Quỷ Cốc, trong nét đau thương còn thấp thoáng vẻ đôn hậu và tự ti, còn nỗi đau thương bây giờ, vẻ đôn hậu vẫn còn, song không thấy tự ti đâu nữa, mà thay vào đó là… một cảm giác kỳ lạ mà Bàng Quyên không tài nào nói rõ.
“Tô huynh, ánh mắt của huynh rất lạ, phải chăng đang bất lực?” Bàng Quyên khẽ nhướng mày, cười hỏi.
“Là thương xót.” Tô Tần thu ánh nhìn về, bình thản đáp lời.
“Phải phải phải, chính là cảm giác này!” Bàng Quyên lập tức reo lên. “Tô huynh nói thử xem, là thương xót cho người Triệu, hay là người Tề? Hay là người Sở, người Hàn, người Yên?”
“Chính là thương xót cho Bàng huynh đó!”
“Sao kia?” Bàng Quyên thoạt tiên ngỡ ngàng, tiếp đó bật lên một tràng cười lớn. “Ha ha ha, Tô huynh được lắm, huynh thương hại tại hạ! Huynh thương hại Bàng Quyên tại hạ!” Lại chỉ vào Tô Tần cười ngặt nghẽo. “Tô huynh Tô huynh Tô huynh, Tô huynh được lắm! Nào nào nào, dùng trà!” Rồi rót đầy một chén. “Đây là trà thượng hạng, tại hạ đặc biệt sai người vào tận Quỷ Cốc hái về, chính là ở cái khe mà tiểu đồng đã từng dẫn chúng ta tới năm xưa!”
“Là đại sư huynh!” Tô Tần sửa lại.
“Phải phải phải, là đại sư huynh!” Bàng Quyên cười nói. “Ôi đầu óc của tại hạ, vừa xuống núi là quên béng chẳng còn nhớ gì nữa. Sao, lần này tới Tề, có mượn được binh cho người Triệu không?”
“Bàng huynh,” Tô Tần vòng tay, “tại hạ có một khẩn cầu, xin hãy lắng nghe!”
“Chúng ta là đồng học nhiều năm, hà tất phải dùng hai chữ khẩn cầu? Tô huynh có điều gì, cứ nói đừng ngại!”
“Biết đủ là dừng, thu binh thôi!”
“Tô huynh khẩn cầu điều này?” Bàng Quyên thoáng kinh ngạc.
“Hiện tại lui binh, may ra vẫn còn kịp!”
“Chuyện này ư, hãy cho phép tại hạ suy nghĩ chút ít.” Bàng Quyên hít sâu một hơi, làm bộ nhắm mắt ngẫm nghĩ, hồi lâu sau, mới mở mắt ra nói. “Tại hạ nghĩ thông rồi, Tô huynh bất tất phải khẩn cầu, tại hạ sẽ mau chóng lui binh!”
“Mau chóng là bao lâu?”
“Chính là đến khi đánh hạ Hàm Đan, bắt sống được thằng oắt họ Triệu.”
Tô Tần thở dài một tiếng, khép mắt lại.
“Phải rồi!” Bàng Quyên ngả người sang. “Hình như Tô huynh vẫn chưa trả lời câu hỏi vừa rồi của tại hạ?”
“Câu hỏi nào kia?”
“Chính là chuyện mượn binh! Tô huynh hăm hở tới Tề mượn binh, không biết đã mượn được… hay chưa?”
“Tề Vương đã phát đại binh, chẳng mấy mà tới!”
“Ái chà!” Bàng Quyên vỗ khẽ lên ngực, giả bộ kinh hãi. “Tại hạ sợ quá đi mất! Dám hỏi Tô huynh, Tề Vương phải chăng phát mười hai vạn đại binh, Điền Kỵ làm chủ tướng, Điền Anh làm phó tướng, Khuông Chương làm tả quân, Mâu Tân làm hữu quân?”
“Quả là nhanh nhạy!” Tô Tần cười gượng một tiếng. “Chỉ là vẫn tính thiếu tám vạn. Theo như lời Tề Vương nói, thì là hai mươi vạn quân!”
“Ha ha ha!” Bàng Quyên cười vang. “Hai mươi vạn kia à! Thật không ngờ lão khọm Tề Vương cũng dốc sạch vốn liếng ra rồi đấy. Phải rồi, lão khọm Tề Vương lần này điều binh khiển tướng, chặt chẽ trăm bề mà vẫn còn một sơ hở.”
“Sơ hở gì?”
“Sau trận Hoàng Trì lần trước, hắn sai Điền Anh tới chuộc Điền Kỵ về. Lần này bổ nhiệm Điền Anh làm phó tướng, vậy biết lấy ai tới chuộc Điền Kỵ về đây?”
Tô Tần thở dài một tiếng, khép mắt lại.
“Tô huynh, huynh đi chuyến này cũng gần hai tháng, hẳn là không phải chỉ ở lì nước Tề mượn binh đấy chứ? Thế nào chẳng tới chỗ người Sở, người Hàn, cả người Yên nữa, có tin vui gì chia sẻ với tại hạ chăng?”
“Tại hạ đã báo cho nước Sở, nước Hàn và nước Yên, tin rằng đã không khiến Bàng huynh thất vọng!”
Bàng Quyên lại rú lên cười sằng sặc: “Tốt quá rồi! Tại hạ xưa hay hiếu khách, bất luận là tân khách tới từ phương nào, tại hạ cũng sẽ bày trận dưới chân thành Hàm Đan cung kính nghênh tiếp!” Rồi quay ra phía ngoài trướng, dõng dạc hô. “Người đâu, tiễn khách!”
Xe ngựa của Tô Tần lao thẳng tới chân thành Hàm Đan, từ xa đã có người nhìn thấy Tô Tần, cổng thành rộng mở, một đoàn binh mã long trọng tiến ra nghênh đón, đưa Tô Tần thẳng tới cung thành. Tân vương Triệu Ung đi chân trần ra tận dưới thềm điện ngoài cung nghênh đón, đỡ Tô Tần lên điện, đưa tới chiếu ngồi.
“Nhìn thần sắc của Tô Tử, người Tề hẳn đã đồng ý xuất binh?” Sau một hồi hàn huyên, Triệu Ung mới nín thở hỏi.
“Đã xuất binh rồi!” Tô Tần đáp lời. “Tề Vương còn uỷ thác thần chuyển tới đại vương vài câu khẩu dụ.”
“Cứ nói!”
Tô Tần bắt chước giọng Tề Vương, ngữ điệu chậm rãi, rành rẽ từng lời: “Hai nước Triệu, Tề chỉ cách một sông, gắn bó như môi với răng, quả nhân cùng Triệu Ngữ qua lại đã nhiều năm, vừa là bạn cũ, vừa là huynh đệ. Nay huynh đệ xương tàn còn chưa lạnh, đất nước đã gặp nạn lớn, quả nhân không đành lòng ngồi nhìn, đã hạ chiếu cho Điền Kỵ làm tướng, khởi hai mươi vạn đại binh tới cứu Hàm Đan, bảo Triệu Vương cứ an tâm mà chờ!”
Nghe nói Tề Vương phát hai mươi vạn đại binh, quân thần ai nấy sắc mặt hoan hỷ.
“Chư vị ái khanh, khẩu dụ của Tề Vương các khanh đã nghe rõ cả chưa?” Triệu Ung dõng dạc hỏi.
“Nghe rõ cả rồi!” Quần thần đồng thanh đáp lời.
“Truyền chỉ của quả nhân!” Triệu Ung thình lình đứng vụt dậy, siết chặt nắm tay, nhấn mạnh từng chữ. “Viết khẩu dụ của Tề Vương thành chiếu thư, hiểu dụ cho toàn bộ binh sĩ, thần dân trong thành Hàm Đan, hiểu dụ cho toàn bộ binh sĩ, thần dân các quận ấp khác trong toàn nước Triệu, không được thiếu một chữ!”
“Tuân chỉ!” Quần thần đồng loạt đáp lời.
“Lập tức đi truyền chỉ!”
Thấy quần thần đã lui ra hết, Triệu Ung lập tức cầm tay Tô Tần dẫn tới ngự hoa viên, dẹp hết tả hữu, hạ thấp giọng hỏi: “Tô Tử, khanh hãy nói thực, Tề Vương nhận lời xuất binh thật ư?”
“Phải!” Tô Tần gật đầu.
“Thực xuất bao nhiêu?”
“Mười hai vạn!”
“Sở, Hàn thế nào?”
“Nước Sở tăng quân tới Phương Thành, phao tin tiến đánh Hình Sơn. Nước Hàn cũng nhận lời xuất hai vạn binh, hai nước đều đã sai sứ thần tới Đại Lương rồi.”
“Tốt quá!” Triệu Ung vỗ xuống mặt bàn đá trong ngự hoa viên. “Đợi ta hồi phục quốc lực, nhất định sẽ tới Đại Lương, đích thân chém chết con chó già Ngụy Anh!”
“Đại vương!” Tô Tần muốn nói lại thôi.
“Tô Tử cứ nói!”
“Khi thần ở Tề, đã bàn mưu tính kế với Tôn Tẫn rất lâu, Tôn Tẫn cho rằng, Bàng Quyên hiện nay đã không còn giống trước đây, dụng binh tài khéo hơn nhiều, võ binh Ngụy so với thời Ngô Khởi, chỉ có hơn mà không có kém. Người Tề tuy đông, song không thể chắc thắng, trước mắt sẽ là một cuộc chiến cam go! Còn nữa, Sở, Hàn không đáng tin cậy!”
“Quả nhân hiểu!” Triệu Ung nghiến răng, mắt toé lửa giận. “Không giấu ái khanh, quả nhân sớm đã nhìn thấu, lần này người Ngụy dựa vào sức mạnh của Tần, muốn một miếng mà nuốt chửng Triệu, quả nhân đã không còn đường lui nữa. Dù người Tề không tới, quả nhân cũng thề quyết một trận sống mái với Ngụy, ngọc đá cùng tan, cùng lắm là một chết!”
“Đại vương ôm lòng quyết tử vì nước, đáng mừng, nhưng cũng đáng lo!”
“Ồ?” Triệu Ung nhìn sang. “Đáng lo chỗ nào kia?”
“Lo là lo cho bách tính Hàm Đan, bao nhiêu đàn bà trẻ nhỏ, bao nhiêu dân thường lương thiện, hẳn sẽ phải chết oan uổng chỉ vì suy nghĩ liều mạng của đại vương!”
“Ồ…” Triệu Ung ngỡ ngàng, hồi lâu sau mới hỏi. “Theo ý ái khanh, quả nhân nên làm thế nào?”
“Toàn lực chống cự, dựa vào tình hình mà tiến lui.”
“Được!” Triệu Ung trầm ngâm một hồi, rồi khẽ vòng tay. “Triệu Ung kính cẩn nghe theo Tô Tử!”
***
Tiễn Tô Tần đi rồi, Bàng Quyên không dám chậm trễ, triệu tập hơn chục viên tướng của ba quân tới đại trướng trung quân, nói: “Chư vị tướng quân, Hàm Đan bị vây khốn hơn hai tháng, lại thêm bách tính từ các ấp xung quanh đổ về, lương thảo tích trữ trong thành nhiều nhất cũng chỉ cầm cự được một năm. Các vật tư thiết yếu như muối, thuốc, cung, nỏ do không thể bổ sung, nên ngày càng hao hụt, chẳng mấy mà cạn kiệt. Sở dĩ ta bao vây không tấn công, thứ nhất là để làm nản lòng đối phương, thứ hai là công kích quân chi viện, thứ ba là chờ đợi một vị khách quý. Hôm nay đã có thể khẳng định, vị khách quý này sẽ tới!”
Chư tướng không biết vị khách quý này là ai, nhất loạt ngỏng cổ, nín thở chờ đợi, như thể vị khách quý này đã ở bên ngoài trướng.
“Vị khách quý này chính là,” Bàng Quyên gằn mạnh từng tiếng, “Điền Kỵ!”
Chư tướng ai nấy thở phào. Có người làm bộ ưỡn ẹo vuốt tóc, ỏn à ỏn ẻn như kiểu đàn bà, khiến mọi người cười rộ lên.
“Chư vị có biết người này cớ sao lại tới?” Bàng Quyên đưa mắt nhìn khắp lượt chư tướng, cất tiếng sang sảng.
“Tới trận Con Rùa của ta để ăn phân đấy mà!” Không biết là ai cất giọng châm chọc.
Chư tướng lại phá lên cười ầm ĩ.
“Không phải!” Bàng Quyên không những không cười, mà còn dứt khoát xua tay, sắc mặt nghiêm túc. “Người này tới đây để phục thù! Sau trận Hoàng Trì, người này phải chịu mối nhục làm đàn bà giữa chốn triều đường của đại vương ta, đã toan đâm đầu vào cột trụ tự vẫn, may có thượng đại phu nước Tề Điền Anh kịp thời giữ lấy mới thoát chết. Tại hạ nể hắn là một viên hổ tướng, lấy câu nói ‘quân tử báo thù mười năm chưa muộn’ để khích hắn biết quý trọng sinh mệnh, thật không ngờ người này quá ư nôn nóng, chưa tới mười năm, đã muốn báo thù rồi!”
Bàng Quyên vừa dứt lời, trong trướng như thể nổ tung: “Cứ để hắn tới, chúng ta sẽ chờ hắn tới!”
“Mẹ kiếp, lần này mà bắt được, lột truồng hắn mang diễu phố.”
“Lột truồng còn nhẹ, cắt phăng cái của quý của hắn đi cho làm quan hoạn, đưa vào hậu cung gấp chăn trải đệm cho đại vương ta!”
“Thế vẫn còn nhẹ, theo tôi thì cứ treo hắn lên lầu cổng thành, phơi nắng bảy tháng, khát thì cho uống nước tiểu, đói thì cho ăn phân!”
“Chư vị nghĩ rất hay, song đều chỉ là một phía mà thôi!” Đợi tiếng ồn ào lắng xuống, Bàng Quyên mới lên tiếng, giọng nói càng thêm nghiêm khắc. “Điền Kỵ không phải là phường giá áo túi cơm. Lần trước đại bại, không phải là Điền Kỵ thua chư vị, cũng không phải là thua Bàng Quyên, mà chỉ là thua chính bản thân mình. Kiêu binh ắt bại, nên chư vị tướng quân, nay thấy chư vị nói như vậy, tại hạ đã biết trước kết cục rồi!”
Thấy Bàng Quyên cất lời trấn áp, chư tướng không dám cuồng ngạo nữa, người nào người nấy hoặc mặt mũi sượng sùng, hoặc cúi đầu im lặng, hoặc gượng cười, hoặc nhăn mặt.
“Chư vị tướng quân, nếm mật nằm gai, mười năm mài kiếm, dù là một kẻ thô lỗ chốn quê mùa, ắt cũng học được mười vạn bản lĩnh, huống hồ là danh tướng liệt quốc Điền Kỵ. Tạm chưa nói tới chuyện này, cùng đến với hắn, còn có mười hai vạn quân năm đô! Chư vị tướng quân, mười hai vạn, dù toàn bộ đều là lợn, mặc cho các vị tha hồ chém giết, cũng đủ khiến các vị mệt bở hơi tai, huống hồ tên nào tên nấy đều là nhuệ binh dũng sĩ thiện chiến.”
Trước một loạt những cảnh cáo của Bàng Quyên, hơn chục viên chiến tướng đã tắt ngấm ngọn lửa kiêu mạn, ai nấy cum cúp cúi gằm đầu.
Trong trướng trung quân lặng ngắt như tờ.
“Chư vị tướng quân!” Giọng Bàng Quyên đã hoà hoãn trở lại. “Tại hạ nói vậy, không phải là khuếch đại chí khí của người Tề, hạ thấp uy phong của ta, mà là muốn trịnh trọng tuyên bố với chư vị, kẻ thù thực sự đã tới!”
“Chúa công!” Thanh Ngưu nãy giờ vẫn lặng im trong góc bỗng lên tiếng. “Chúa công hãy nói xem, chúng ta nên nghênh địch thế nào?”
“Phải, chúng ta nên nghênh địch thế nào?” Chư tướng đồng loạt hùa theo.
“Chư vị hãy đi theo tại hạ!” Bàng Quyên bước tới trước sa bàn, nhận lấy cây thước tre từ tay quân uý, chỉ vào cửa Túc Tư nơi Hà Thuỷ phân đôi, nói. “Nếu người Tề tới, ắt sẽ vượt sông từ đây.”
“Chúng ta dời toàn bộ thuyền qua sông sang phía này, xem thử hắn vượt sông bằng cách nào?” Có người nói.
“Không, chúng ta sẽ để lại toàn bộ thuyền bên kia bờ, hơn nữa, thay lái thuyền bằng binh sĩ của ta, trợ giúp người Tề từ từ vượt sông!” Bàng Quyên mỉm cười, chỉ vào con đường phía tây Hà Thuỷ thông tới Hàm Đan. “Người Tề sau khi vượt sông, ắt sẽ men theo đường này tới Hàm Đan, tìm ta quyết chiến, một là giải vây cho Hàm Đan, hai là mong muốn trong ứng ngoài hợp. Chúng ta cứ để chúng đi, bố trí sẵn phục binh trong núi Vân Mộng, đợi kẻ địch tới Chương Thuỷ, lập tức chặn đường rút lui, giành lấy thuyền cho ta dùng. Lúc này, người Tề phía đông là Hà Thuỷ, phía tây là núi lớn, phía nam có kỳ binh ta mai phục, hơn nữa còn ở giữa đất Đại Ngụy ta, không có đường lui, chỉ có thể tiến lên phía bắc, quyết chiến với chủ lực của ta!”
Thấy kế sách lớn lao đến vậy, hết thảy chư tướng hai mắt đều sáng rực.
“Chư vị tướng quân, liệu chư vị có dám quyết chiến giáp lá cà với lính Tề?” Bàng Quyên lớn giọng hỏi.
“Dám!” Chư tướng đồng thanh hô lớn.
“Chư vị có dám lấy một chọi ba không?” Bàng Quyên lại hỏi.
“Dám!” Chư tướng cất giọng hùng hồn.
“Được!” Bàng Quyên chọc thẳng thước tre vào Hàm Đan. “Người Tề vẫn chưa tập hợp, nhiệm vụ trước mắt của chư vị vẫn là nơi này, Hàm Đan, hãy bao vây chặt chẽ, cảnh giới nghiêm ngặt, tăng cường kiểm tra gắt gao người ra vào, một con ruồi cũng không được bỏ qua!”
“Tuân lệnh!”
***
Con đường lớn từ kinh đô Tề thông tới Trung Nguyên sau khi ra khỏi Lâm Truy chưa lâu, liền men theo đồng bằng Tế Thuỷ dưới chân núi Thái Sơn chạy lên phía tây, tới bờ Bộc Thuỷ, lại ngược dòng đi lên, tới Chân Ấp thì chia thành hai ngả, một ngả dọc theo Bộc Thuỷ xuống phía tây, qua biên giới Vệ chạy tới đường cái quan Ngụy, Triệu, qua cửa Túc Tư thẳng tới kinh đô Hàm Đan nước Triệu; một ngả rẽ về phía tây nam, men theo Tế Thuỷ xuống phía tây, tại mé tây đầm Đại Dã thì đi qua Tống vào Ngụy, tới Đại Lương và kinh đô Lạc Dương nước Chu.
Chủ tướng Điền Kỵ dẫn trung quân nước Tề men theo con đường này tiến về phía tây, qua hơn mười ngày hành quân gấp rút, vào một buổi chiều tà đã tới Chân Ấp.
Trong hàng ngũ hành quân, có một cỗ xe che kín mui trông không hề bắt mắt, chở theo Tôn Tẫn trong trang phục quân sư nước Tề. Chân Ấp là bản quán của Tôn Tẫn, Điền Kỵ cố tình hạ trại nơi đây, một là vị trí thích hợp, hai là để Tôn Tẫn trở về thăm nhà một chuyến, bái tế tổ tiên, thỉnh cầu tổ tiên linh thiêng phù hộ.
Khi trung quân tới nơi, binh mã bốn đô đã có ba đô tề tựu, phóng mắt nhìn xa, cờ xí rợp trời, binh mã trùng trùng điệp điệp, hai bờ Bộc Thuỷ, doanh trại quân Tề san sát.
Trời đã nhá nhem, Tôn Tẫn trèo lên xe cao, sau khi quan sát doanh trại các quân, bèn nói với Điền Kỵ: “Tướng quân có thể hạ lệnh, tam quân nghỉ ngơi tại chỗ, chọn nơi ẩn khuất, tích cực rèn tập cưỡi ngựa. Doanh trại tam quân hãy phân tán thêm nữa, treo thêm cờ quạt, hư trương thanh thế, trước sau đồng loạt rêu rao là hai mươi vạn hùng binh!”
Điền Kỵ theo lời Tôn Tẫn, ban bố mệnh lệnh, bán kính hạ trại của quân Tề chớp mắt đã mở rộng thêm gần mười dặm, lều trại ven sông tăng gần một nửa, trong khu hạ trại, trạm gác san sát, đặc biệt nơi huấn luyện kỵ binh, canh phòng cực kỳ nghiêm ngặt, trong phạm vi ba mươi dặm, người bình thường không được phép lai vãng.
Qua mười ngày, nhìn thấy ba vạn kỵ binh đã có thể lên xuống lanh lẹ, phi ngựa như bay, Điền Kỵ cười hớn hở bước vào trong trướng, phấn khởi báo tin: “Khởi bẩm quân sư, ba vạn kỵ binh đã huấn luyện thành thục, lương thảo đã chuẩn bị đầy đủ, dám hỏi tam quân đã có thể xuất phát hay chưa?”
“Đã có thể!” Tôn Tẫn gật đầu. “Có điều, dám hỏi tướng quân, xuất phát tới đâu?”
“Ồ, lẽ nào không phải Hàm Đan?” Điền Kỵ lấy làm kinh ngạc.
“Không phải!” Tôn Tẫn trả lời dứt khoát.
“A!” Điền Kỵ cuống lên. “Hàm Đan nguy trong sớm tối, đại vương muốn ta cứu Triệu, quân sư không tới Hàm Đan, vậy muốn tới đâu?”
“Đất Tống!”
“Đất Tống?” Điền Kỵ càng thêm kinh ngạc. “Bàng Quyên ở Hàm Đan, tới đất Tống để làm gì? Lẽ nào…”
“Lẽ nào gì kia?” Tôn Tẫn hỏi lại.
“Đánh Tống!” Giọng Điền Kỵ thì thà thì thào, như thể đang tiết lộ một bí mật tày trời.
Tôn Tẫn lắc đầu.
“Ồ, không phải đánh Tống, vậy chúng ta tới Tống làm gì?”
“Cứu Triệu!”
Điền Kỵ chau tít đôi mày, trầm ngâm hồi lâu, rồi mặt mũi nhăn nhó, giọng như thể cầu khẩn: “Quân sư ơi, xin hãy nói thẳng ra đi, tới đất Tống rốt cuộc thì có liên quan gì đến cứu Triệu?”
Tôn Tẫn hất hàm về phía búi tơ tằm dùng để lau chùi đặt trên bàn, nói: “Xin hãy cầm lên.”
Điền Kỵ bèn cầm búi tơ rối lên.
“Tướng quân có thể gỡ được búi tơ này chăng?”
Điền Kỵ hai tay hí hoáy lôi kéo một hồi, búi tơ không những không gỡ được, mà còn càng gỡ càng rối, bực bội ném toẹt luôn xuống đất, vừa hay rơi xuống bên chân Tôn Tẫn: “Thứ này dùng để lau bàn, gỡ làm cái gì?”
Tôn Tẫn cười ha hả, nhặt búi tơ lên, lần tìm một đầu sợi tơ, rồi rút ra từng tí một.
Điền Kỵ thấy vậy thì càng sốt ruột, đưa tay giật phăng búi tơ, nghiến răng vò đại mấy cái, rồi ném xuống đất, đưa chân giẫm lên bành bạch, hai mắt nhìn thẳng vào Tôn Tẫn: “Tôn huynh ơi là Tôn huynh, hẳn là huynh cố tình bắt người ta phải sốt ruột đến chết phải không?”
“Muốn tháo gỡ tơ rối, không thể dùng nắm đấm. Muốn can ngăn ẩu đả, không thể bị cuốn vào.”
“Ồ…” Điền Kỵ nửa hiểu nửa không, gãi đầu gãi tai. “Về lý mà nói, muốn can ngăn ẩu đả, đúng là không nên để mình bị cuốn vào. Nhưng chúng ta thì khác hẳn, chúng ta đi cứu người. Đối phó với cường đạo, nói lý là vô dụng, chỉ có thể dùng vũ lực!”
“Đúng là cần dùng vũ lực, song ý của tại hạ là không được cuốn vào chiến sự, mà là tấn công vào chỗ trống trải, chọc thẳng vào chỗ hiểm yếu, đánh vào chỗ buộc phải cứu!”
“Đánh vào chỗ buộc phải cứu?” Điền Kỵ vẫn không hiểu. “Lẽ nào nước Tống là chỗ buộc phải cứu?”
“Không phải nước Tống, chính là nước Ngụy! Bàng Quyên phạt Triệu, tất dốc hết quân tinh nhuệ toàn quốc, trong nước sẽ trống trải. Ta tránh thực đánh hư, người Ngụy thấy nguy, Bàng Quyên ắt bỏ Triệu quay về giải cứu, Hàm Đan tự khắc sẽ được giải vây!”
Điền Kỵ đã bừng tỉnh ngộ, tay đấm mạnh xuống mặt bàn: “Quân sư, quả là diệu kế, thằng giặc họ Bàng đã bắt được rồi!” Lại khẽ chau mày lại. “Có điều, chỗ Tống Yển…”
“Chẳng qua chúng ta chỉ mượn đường mà thôi, Tô huynh đã giao hẹn với Tống Vương rồi. Hơn nữa, lần này tới Tống, chúng ta cũng giúp Tống thu hồi đất đai đã mất!”
“Giúp Tống thu hồi đất đai đã mất?” Điền Kỵ lại một phen sửng sốt.
“Giúp Tống thu hồi Tương Lăng! Tương Lăng vốn là nơi chôn cất tiên tổ Tương Công của nước Tống, nay bị người Ngụy chiếm cứ, người Tống không ai không đau đầu trong lòng. Nay nhờ vào sức của ta mà thu hồi được, Tống Công mừng còn chẳng kịp!”
Điền Kỵ lại đấm mạnh xuống bàn, hào hứng reo lên: “Hay lắm!”
“Tại hạ còn một câu hỏi!” Tôn Tẫn vẫn chưa thôi.
“Quân sư cứ nói!”
“Tướng quân thực phát bao nhiêu binh lực vào Tống?”
“Mười hai vạn!”
“Giảm đi. Phàm là già, non, bệnh tật, loại hết!”
“Những tướng sĩ này đều đã qua tuyển chọn, là binh sĩ hạng nhất cả!”
“Rà soát lại danh sách, phàm binh sĩ chưa tới tuổi đội mũ hoặc đã qua bốn chục, không được xuất chinh!”
“Loại bỏ như vậy, e là bớt mất hai vạn!”
“Phàm người ốm yếu bệnh tật, nhát gan sợ chiến, loại bỏ toàn bộ!”
“A… e là lại bớt đi hai vạn nữa!”
“Tướng quân có tám vạn binh sĩ thiện chiến, thế đã đủ rồi!” Tôn Tẫn vô cùng quả quyết. “Truyền lệnh ba quân, sau khi sàng lọc, cởi bỏ giáp trụ nặng nề, vận trang phục gọn nhẹ, vứt bỏ xe chiến, trong năm ngày đêm hành quân tới Định Đào nước Tống. Những tướng sĩ bị loại, vẫn đóng quân tại chỗ, canh giữ quân nhu, bảo đảm hậu cần!”
“Mạt tướng tuân lệnh!” Điền Kỵ vui vẻ phục tùng, rồi hướng ra ngoài trướng gọi lớn: “Người đâu, truyền lệnh!”
***
Ở ngoại ô Hàm Đan, trong trướng trung quân Ngụy, thám mã về bẩm báo quân năm đô của người Tề đã lũ lượt kéo tới Chân Ấp, hạ trại dọc theo bờ bắc Bộc Thuỷ dài tới hơn ba mươi dặm, trạm gác được bố trí vô cùng nghiêm ngặt, thám mã không thể tiếp cận, chỉ có thể quan sát tình hình từ xa. Nhìn vào số lượng lều trại bên bờ đối diện, tính sơ qua, tam quân không dưới hai mươi vạn.
“Hai mươi vạn quân?” Bàng Quyên lẩm bẩm một tiếng, nhắm mắt tính toán.
Quân năm đô của người Tề, nếu xuất ra hai mươi vạn, mỗi đô trung bình là bốn vạn, chuyện này gần như là không thể. Bàng Quyên đã cho người dò la kỹ càng, hai đô phía tây là Bình Lục và Cao Đường, được gọi là trọng trấn vùng biên ải nước Tề, toàn bộ binh sĩ có thể chiến đấu, gộp lại cũng không quá năm vạn. Tức Mặc là đô ấp phía đông, do không cần coi trọng phòng ngự, nên quân đóng tại đó cũng chỉ hơn một vạn, có thể điều động một vạn đã không phải chuyện dễ dàng. Quân đội đóng ở Cử Thành không dưới bốn vạn thật, song một ngày cũng không thể lơ là phòng bị người Sở, dám xuất ra hai vạn đã là quá mức rồi, còn trung quân ở kinh đô Lâm Truy nước Tề, kiểu gì cũng không quá ba vạn, cộng tất cả lại, không thể quá mười hai vạn mới phải, mà nay thám mã lại báo những hai mươi vạn, phù hợp với lời Tô Tần nói khi từ Tề trở về, thực khiến người ta phải đau đầu. Ngẫm đi ngẫm lại, Bàng Quyên tin chắc người Tề không thể dốc hết toàn lực chỉ vì một thành Hàm Đan, phô trương như vậy, hẳn là chỉ khoa trương thanh thế, doạ dẫm quân Ngụy mà thôi.
Bàng Quyên nghĩ đã thông, liền dò hỏi kỹ càng tình hình doanh trại quân Tề, biết được người Tề cắm trại qua loa thưa thớt, một số trại có vẻ như chỉ mới mọc lên qua một đêm, lại càng chắc chắn quân Tề dùng kế nghi binh, bèn ra lệnh tăng cường thám mã, theo dõi sát sao mọi động tĩnh của quân Tề, đồng thời tăng cường bố trí, điều động lực lượng, hơn nữa theo như âm mưu đã định, thay đổi toàn bộ lái thuyền ở cửa Túc Tư thành quân Ngụy, lại phái tướng quân đắc lực dẫn một vạn võ binh bí mật phục trong núi Vân Mộng, địa điểm cũng do đích thân Bàng Quyên lựa chọn, ở trong một khe núi nối từ Quỷ Cốc đến cửa Túc Tư, nếu không có sương mù dày đặc thì không được phép nổi lửa nấu cơm.
Tam quân vừa mới bố trí xong xuôi, quân uý phụ trách thám mã đã cuống quýt chạy vào, báo rằng quân Tề sáng nay đã nhổ hết doanh trại, song không tiến về tây, mà băng qua Bộc Thuỷ, rầm rộ tiến xuống phía nam rẽ về hướng đầm Đại Dã.
“Đầm Đại Dã?” Bàng Quyên vô cùng kinh ngạc, vội vã tiến lại trước sa bàn, nhìn về phía đầm Đại Dã, ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi lẩm bẩm một mình. “Quái lạ, người Tề không tới Hàm Đan, lại tiến về đầm Đại Dã, lẽ nào…” Rồi bỗng giật nảy mình, vội vàng bước trở lại, dặn dò quân uý. “Phái thêm thám mã, theo dõi sát sao động tĩnh quân Tề!”
Hai ngày trôi qua, quân uý báo về, toàn bộ quân Tề đã vượt qua Tế Thuỷ, tiến vào đất Tống, thẳng tới Định Đào.
Bàng Quyên ngỡ ngàng cực độ.
Quân Tề tiến vào đất Tống, đã lập tức khiến cho kế hoạch tiêu diệt mà Bàng Quyên dày công sắp đặt phải tan tành như bọt bể. Người Tề tới Tống với mục đích gì, lại càng khiến Bàng Quyên phải nát óc suy nghĩ. Người Tề tới Tống, chỉ có thể có hai kết cục, thứ nhất là nhân lúc Ngụy phạt Triệu, lơ là mất cảnh giác mà diệt Tống; thứ hai là từ Tống xuất kích, tiến thẳng vào đất Ngụy, cắt đứt đường rút lui của Ngụy, chặn đứng quân Ngụy ở phía tây Hà Thuỷ. Kết cục thứ hai gần như là không thể, bởi lẽ nếu người Tề muốn cắt đứt đường rút lui của Ngụy, về cơ bản không cần thiết phải tiến quân vào Tống, chỉ cần từ Chân Ấp tiến về phía tây, qua biên giới Vệ, bịt kín cửa Túc Tư là được.
Bàng Quyên đang trầm ngâm suy nghĩ, từ bên ngoài bỗng vọng vào tiếng huyên náo, là Trương Nghi đã từ Trung Sơn trở về. Bàng Quyên vui mừng quá đỗi, vội nghênh đón vào trong trướng trung quân, chẳng kịp cả hàn huyên thăm hỏi, vừa mở miệng đã nói ngay tới tình hình quân Tề.
Thấy Bàng Quyên phán đoán quân Tề cắt đường rút lui của quân Ngụy, Trương Nghi khẽ lắc đầu.
“Nếu không phải là cắt đường lui của ta, thì ắt là muốn đoạt Tống?” Bàng Quyên gần như khẳng định.
Trương Nghi vẫn lắc đầu.
“Ồ, đã không đoạt Tống, cũng không cắt đứt đường lui của ta, vậy hành động của người Tề là có mục đích gì?”
“Đánh vào sào huyệt của ta!” Trương Nghi gằn mạnh từng tiếng, sải vài bước tới trước sa bàn, chỉ vào hình thế giải thích. “Bàng huynh hãy nhìn xem, đây là nước Tống. Người Tề trong thời khắc cam go này, không thể mưu đoạt Tống. Nếu người Tề muốn đoạt Tống, người Sở ắt không chịu ngồi nhìn, Tề, Sở sẽ giao chiến. Dù Tề, Sở có giao chiến, dứt khoát cũng không thể vào lúc này. Người Tề vào Tống, hẳn là nhằm vào Ngụy, từ Tống đánh Ngụy, Đại Lương nguy rồi!”
Bàng Quyên sắc mặt trắng bệch, nhìn trân trối vào sa bàn hồi lâu, mãi mới thốt nổi nên lời: “Trương huynh nói rất đúng! Nếu người Tề từ Tống đánh sang Ngụy, quả thực nằm ngoài dự liệu của tại hạ.”
“Có điều,” Trương Nghi lại nói, “người Tề vào Tống, mục đích là gì, còn cần quan sát kỹ lưỡng, Bàng huynh không thể vội vàng.”
“Binh quý ở thần tốc!” Bàng Quyên siết chặt nắm đấm. “Địch vừa có biến, ta cũng phải lập tức quyết đoán!”
“Ý Bàng huynh là, vượt sông quyết chiến với Tề?”
“Không!” Bàng Quyên gằn giọng. “Mau chóng chiếm lấy kinh đô nước Triệu, Hàm Đan!”
***
Ngoài thành Đại Lương, trong nhà Công Tôn Diễn, Chu Uy nôn nóng nhìn chằm chằm vào Công Tôn Diễn. Còn Công Tôn Diễn nửa quỳ nửa ngồi, nền nhà trước mặt vạch vẽ chằng chịt những đường kẻ trắng miêu tả địa thế dòng chảy, cửa ải thành ấp, đặt bên cạnh là viên đá vôi dùng để vẽ.
Công Tôn Diễn đang nhắm mắt suy tư.
Toàn bộ khu nhà đất yên ắng đến đáng sợ.
“Dù người Tề có vượt sông, cũng làm được gì? Cho dù thế nào, xét về tài cầm quân, Điền Kỵ cũng không phải là đối thủ của Bàng Quyên!” Chu Uy không thể nhẫn nhịn thêm được nữa, phá vỡ bầu yên lặng.
“Nếu người Tề không vượt sông thì sao?” Công Tôn Diễn bình thản đáp lại.
“Ồ, nếu không vượt sông, thì cứu Triệu thế nào?” Chu Uy ngẩn người.
Lời nói vừa dứt, bỗng có tiếng xe ngựa từ xa lại gần, rồi dừng bên ngoài cổng. Một người nhảy xuống khỏi xe, hấp tấp bước vào bên trong.
Là Bạch Hổ.
“Quả nhiên đều ở cả đây!” Bạch Hổ cất giọng gấp gáp. “Biên ải báo về, đại quân nước Tề đã tiến vào nước Tống!”
Chu Uy bàng hoàng nhìn sang Công Tôn Diễn.
Công Tôn Diễn mắt trợn trừng kinh hãi.
Bạch Hổ lấy ra cấp báo từ biên ải, đưa cho Chu Uy, Chu Uy tiện tay đẩy sang Công Tôn Diễn.
Công Tôn Diễn đặt cấp báo sang một bên, trợn mắt hỏi: “Tương Lăng do ai canh giữ?”
“Trịnh tướng quân!” Chu Uy đáp, lại bổ sung thêm. “Trịnh Khắc.”
“Trịnh Khắc? Đại nhân có biết người này?”
“Người này là hậu duệ của công thất nước Trịnh đã bị diệt vong, ông của người này là Trịnh U Công đã bị Hàn Ai Hầu tiêu diệt, cha của người này là Trịnh Sảng chạy trốn khỏi nước Hàn, tỵ nạn tại Đại Lương, được đại vương ta trọng dụng, cho làm đại phu, đổi họ Cơ thành họ Trịnh, để tưởng nhớ nước cũ. Tới thời Trịnh Khắc, rất thân thiết với tại hạ, thấy hắn cũng hiểu chút văn trị võ công, bèn tiến cử hắn làm đô uý Tương Lăng. Mấy năm trước, Bàng Quyên giao chiến với Sở, Trịnh Khắc lập công, được đại vương bổ làm Tương Lăng lệnh.” Chu Uy kể vanh vách lai lịch Trịnh Khắc, rồi quay sang Công Tôn Diễn. “Công Tôn huynh sao lại chú ý tới hắn?”
“Quân Tề vào Tống, Tương Lăng nguy rồi!” Công Tôn Diễn kêu lên.
Chu Uy, Bạch Hổ đều giật mình kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau, không hẹn mà cùng nhìn sang Công Tôn Diễn.
“Hai vị hãy nhìn đây!” Công Tôn Diễn cầm viên đá vôi lên, vẽ một vòng tròn nhỏ dưới đất. “Đây chính là Tương Lăng. Quân Tề vào Tống, người Tống không ngăn cản, chứng tỏ hai nước đã giao ước ngầm với nhau. Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ, giao ước ngầm này có lẽ là Tương Lăng!”
“Ý Công Tôn huynh là, người Tề muốn trợ giúp Tống Công thu hồi Tương Lăng?” Chu Uy trợn tròn mắt.
“Đúng vậy.”
“Vì sao?” Chu Uy càng không hiểu.
“Chư vị hãy nhìn đây!” Công Tôn Diễn chỉ vào Tương Lăng. “Tương Lăng với Tống thất, là nỗi đau khôn nguôi, trong mơ họ cũng muốn thu hồi. Tương Lăng với Ngụy thất, là vùng chiến lược trọng yếu, tiến có thể uy hiếp lưu vực sông Tứ, bức Tống chế Sở, lùi có thể hình thành thế ỷ giốc với Đại Lương, nên là vùng đất không thể mất.”
“Ý Công Tôn huynh là, người Tề tấn công Tương Lăng, là để ép Bàng Quyên rút quân về?”
“Đúng vậy!”
Chu Uy giờ đã hiểu ra, đứng dậy nói: “Tại hạ sẽ lập tức tấu thỉnh đại vương, gấp rút chi viện Tương Lăng!”
“Đại nhân bất tất phải mất công!” Công Tôn Diễn chậm rãi đứng dậy. “Nếu tại hạ đoán không nhầm, mục đích thực sự của người Tề chính là Đại Lương, đại vương e là đến tính mạng cũng khó bảo toàn!” Nói đoạn, thong thả quay bước trở về nhà cỏ.
Chu Uy mặt trắng bệch, đờ đẫn nhìn sang Bạch Hổ.
Hai người đang ngây thộn nhìn nhau, thì Công Tôn Diễn đã bước trở ra, trong tay cầm thanh bội kiếm năm xưa Bạch Khuê đã tặng: “Xem ra không thể cày cuốc được nữa rồi, tại hạ phải tới Tương Lăng một chuyến!”
***
Đất Tống, ngoài thành Định Đào, trong đại doanh quân Tề, Tôn Tẫn lần đầu lộ diện trong trướng trung quân, ngồi ở bên trái Điền Kỵ, hội kiến chư tướng tam quân.
“Chư vị tướng quân!” Điền Kỵ nói rõ tình thế, rồi cất giọng sang sảng hỏi rằng. “Trận đầu đánh Tương Lăng, vị nào muốn đoạt công này?”
“Có mạt tướng!” Điền Kỵ vừa dứt lời, Mâu Tân đã bước lên trước đáp liền.
“Được!” Điền Kỵ lấy lệnh tiễn ra. “Chủ tướng Tương Lăng Trịnh Khắc, có tám nghìn quân trấn thủ, bản tướng lệnh cho tướng quân điểm đủ binh mã bộ thuộc, lập tức xuất chinh!”
“Mạt tướng tuân mệnh!”
Mâu Tân đỡ lấy lệnh tiễn, quay người định đi, sau lưng bỗng vang lên giọng nói: “Tướng quân hãy khoan!”
Là Tôn Tẫn.
Mâu Tân quay lại, nhìn về phía Tôn Tẫn.
“Tướng quân đi lần này, hẳn đã biết phải tấn công Tương Lăng thế nào?”
Đường đường là tướng quân vùng trọng ấp biên giới Đại Tề, đã kinh qua bao trận mà còn không biết đánh thành thế nào ư? Mâu Tân thoạt tiên ngỡ ngàng, tiếp đó cười nhạt, cất giọng có phần châm chọc: “Mạt tướng không biết, dám mong quân sư chỉ giáo!”
“Tương Lăng dễ phòng khó đánh, tướng quân không thể dùng sức mạnh. Nên cắm nhiều trại, làm rối loạn thế trận, bố trí phục binh trong rừng rậm phía ngoại ô, dụ địch ra khỏi thành, bày mai phục mà tiêu diệt!”
“Nếu kẻ địch không chịu ra khỏi thành thì làm thế nào?” Giọng Mâu Tân vẫn đầy khiêu khích.
“Vây thành, đánh viện binh, tuỳ cơ hành động.”
“Mạt tướng tuân lệnh!” Mâu Tân hơi ôm quyền đáp lời, rồi quay phắt người, sải bước rời đi.
Trở về doanh trại, Mâu Tân ngồi xuống, khó khăn lắm mới đè nén được cơn giận âm ỉ trong lòng, sai người mời tiên phong Trâu Hạo tới, nói: “Tướng quân có tin vui rồi!”
“Tin vui ở đâu ra?” Trâu Hạo nôn nóng hỏi.
“Chủ tướng truyền lệnh, trận đầu đánh Tương Lăng. Tại hạ vì tướng quân mà thỉnh cầu đi lập công đầu, mở màn may mắn rồi hãy bàn tiếp!”
“A…” Trâu Hạo không cho là vui, ngược lại lo lắng nói. “Trận chiến này là thế nào vậy? Điền Kỵ tướng quân vì sao không chọc thẳng vào cửa Túc Tư, cắt đứt đường lui của Ngụy, sau đó vượt sông, cùng người Triệu giáp công từ hai phía, bao vây tiêu diệt Bàng Quyên ở thành Hàm Đan?”
“Than ôi!” Mâu Tân vốn định nổi nóng, lại cảm thấy không thoả, bèn thở dài thườn thượt, xua tay nói. “Hạo đệ có điều không biết, kiểu đánh này tại hạ cũng vô cùng khó hiểu. Đừng nói là tại hạ, dù là tướng quân Khuông Chương cũng có điều dị nghị, thế nhưng…” Lại thở dài một tiếng, lắc đầu nặng nề.
“Hẳn là Điền Kỵ tướng quân bị Bàng Quyên đánh cho mất mặt, đã khiếp nhược rồi, không dám giao tranh trực diện, nên mới nghĩ ra kế sách mạt hạng này, mềm nắn rắn buông, chọn bóp quả hồng nhũn cho xong chuyện với đại vương!” Trâu Hạo hậm hực nói.
“Thôi bỏ đi, không nói chuyện này nữa. Tướng ở bên ngoài, phục tùng mệnh lệnh là thiên chức. Đại vương đã trao quyền cho chủ tướng, thân là thuộc hạ, chúng ta chỉ biết phục tùng.” Mâu Tân cười gượng, rồi lôi từ dưới bàn ra một tấm bản đồ hình thế vẽ trên da dê, chỉ vào Tương Lăng nói. “Đây chính là Tương Lăng, bên phải là Tuy Thuỷ, bên trái là Tuế Thuỷ, giống như một chiếc sừng từ nước Ngụy chọc thẳng vào trung tâm lưu vực sông Tứ. Có hai thành ấp của Ngụy gần Tương Lăng nhất, một là Thừa Khuông, có năm nghìn quân trấn thủ; hai là Ung Khâu, có bảy nghìn quân trấn thủ. Thừa Khuông tuy gần, song ngăn cách bởi Tuế Thuỷ, Tuế Thuỷ không rộng nhưng sâu, vượt qua rất khó, nên không phải lo lắng. Điều khiến Hạo đệ lo lắng, hẳn là Ưng Khâu. Giờ sẽ giao cho Hạo đệ hai vạn bộ binh, còn bản tướng đích thân dẫn năm nghìn kỵ binh chọc thẳng tới chỗ này, cắt đứt đường viện binh của địch. Một khi tuyệt đường viện trợ, Tương Lăng sẽ là toà cô thành, tám nghìn quân lính trong thành, cứ tuỳ Hạo đệ chém giết.”
“Hai vạn bộ binh?” Trâu Hạo hào khí tràn trề, cất giọng kiêu mạn. “Trâu Hạo chỉ dẫn năm nghìn binh mã thuộc hạ, trong vòng ba ngày, nhất định sẽ mời tướng quân vào thành vỗ yên dân chúng!”
“Năm nghìn binh mã? Trong vòng ba ngày?” Mâu Tân nghe vậy thì thoáng sững sờ, rồi cười gượng một tiếng, hạ giọng nhắc nhở. “Hạo đệ, Tương Lăng là trọng trấn vùng biên giới Ngụy, thành cao hào sâu, dễ phòng khó đánh. Đừng nói là năm nghìn, dù có một vạn, cũng khó mà phục mệnh. Khi thụ mệnh, quân sư đã đặc biệt căn dặn, chúng ta phải bao vây chứ không được tấn công, rồi dụ địch ra khỏi thành, tiêu diệt chúng ở bên ngoài cổng thành!”
“Kẻ bị tẫn hình cũng ban phát hiệu lệnh cơ đấy!” Trâu Hạo chẳng biết nông sâu, đưa tay vỗ mạnh xuống bàn. “Chỉ vỏn vẹn có tám nghìn quân, mà bắt chúng ta phải diệt giặc ngoài thành, chuyện này mà đồn ra ngoài, chẳng phải mất hết uy danh của Đại Tề ta ư? Nếu một vạn cũng không đủ, thì được, Trâu Hạo thỉnh cầu một vạn tinh binh, lại thêm ba nghìn kỵ binh, bắt sống thằng giặc họ Trịnh kia trên lầu cổng thành, tướng quân chỉ cần ngồi chờ tin chiến thắng là được!”
Trâu Hạo dẫn một vạn bộ binh, ba nghìn kỵ binh, lên đường ngay trong đêm, cắt ngang lãnh địa nước Tống, tảng sáng thì tới chân thành Tương Lăng, bày trận ở vùng đất rộng lớn bên ngoài cổng bắc, dựng thương khiêu chiến.
Cổng thành chưa mở, trên lầu cổng thành náo loạn một hồi, chốc lát trên thành đã cờ xí như rừng, loáng thoáng có bóng người lố nhố. Trâu Hạo đợi tới tận trưa, cổng thành vẫn đóng im ỉm, không một người đáp lời, cứ như thể là toà thành ma. Trâu Hạo lửa giận ngút trời, hạ lệnh công thành.
Người Tề nghìn nghịt như kiến cỏ, loáng cái đã lấp bằng hào nước quanh thành, bắc thang mây, chia thành nhiều ngả trèo lên tường thành. Khi sắp lên được mặt thành, người Ngụy bất ngờ xuất hiện, vạn nỏ cùng bắn, đá lăn túi bụi, khiến quân Tề rào rào rơi khỏi thang mây, tử thương vô số, tiếng gào rú không dứt bên tai. Trâu Hạo đùng đùng nổi giận, càng dốc sức tấn công. Mâu Tân ngồi chờ trong trại sốt ruột, cuối cùng không thể yên tâm, phóng ngựa đến tận nơi xem xét, mắt thấy tình thế như vậy, vội vã hạ lệnh khua chiêng lui quân. Quân Tề rút lui năm dặm hạ trại, điểm lại quân số, đã tổn thất đến vài trăm.
Trâu Hạo nếm mùi thất bại, cũng biết an phận, hai ngày sau, chỉ khiêu chiến cách cổng thành một tầm tên bắn, không dám công thành nữa. Quân Ngụy treo cao thẻ miễn chiến, kiên quyết cố thủ không ra. Cứ thế hai ngày trời, quân Tề vẫn giậm chân tại chỗ. Trâu Hạo nghĩ ra một kế, lệnh cho binh sĩ thay nhau chửi bới nhục mạ khiêu chiến dưới chân thành.
Đến buổi chiều ngày thứ ba, trong lúc quân Tề vẫn đang chửi bới hăng say, từ trên lầu cổng thành bỗng vọng xuống tiếng trả lời, nói là chủ tướng Trịnh Khắc không chịu nổi lăng mạ, đồng ý nhận lời thách chiến của tướng Tề. Trâu Hạo mừng rơn, dẫn quân bày trận. Chỉ một lát sau, cổng thành mở toang, tướng Ngụy Trịnh Khắc một xe lao vọt ra, theo sau là ba mươi cỗ xe chiến, ba nghìn binh sĩ, dàn trận đối đầu.
Trâu Hạo tuy thông trận pháp, song chưa tham chiến thực sự bao giờ, bèn đánh xe lên khiêu chiến đúng theo lễ nghi học trong sách vở. Trịnh Khắc đánh xe lên đón đầu, chẳng nói chẳng rằng, vừa gặp đã đánh liền. Hai tướng giao chiến trước trận quân, được vài hiệp, Trịnh Khắc cố tình sẩy tay, để Trâu Hạo hất bay trường thương xuống đất, rồi làm ra vẻ hốt hoảng kinh hãi, cuống cuồng lao chéo xe bỏ chạy. Ba nghìn quân Ngụy thấy chủ tướng thất bại, sợ hãi cuống cuồng, đội hình lập tức tán loạn, nháo nhác tranh nhau chạy ùa theo sau, men theo bên ngoài hào nước mà chạy trối chết. Trên lầu cổng thành, quân Ngụy thấy tình hình bất ổn, tức tốc kéo cầu treo lên, đóng chặt cổng thành, đề phòng quân Tề cướp thành.
Trâu Hạo không biết là kế, lập tức truyền lệnh bắt sống Trịnh Khắc.
Bại quân phía Trịnh Khắc chạy hùng hục khoảng hai dặm dọc theo hào nước rồi rẽ vào cánh đồng hoang, lại chạy thêm chừng mười dặm nữa, thì chui tọt vào trong một vạt rừng thưa. Trâu Hạo một xe dẫn đầu, đuổi sát theo sau, vừa vào trong rừng không lâu, bỗng một hồi tù và rúc lên rền rĩ, hai bên đường vạn nỏ cùng bắn như mưa, lính Tề trúng tên ngã như ngả rạ. Trâu Hạo giờ mới biết là trúng kế, vội hô quân rút lui, song đã muộn rồi, đường lui sớm đã bị Công Tôn Diễn cắt đứt. Trịnh Khắc đang chạy ở phía trước cũng lộn lại chém giết. Quân Tề bốn phía gặp địch, trong rừng lại không thể triển khai trận hình, chỉ biết giơ đầu chịu báng, tiên phong Trâu Hạo bị quân Ngụy vây bủa trùng trùng. May mà Mâu Tân dẫn quân tới cứu nguy kịp thời, mở ra một con đường máu, cứu hắn thoát khỏi vòng vây, lui quân ngoài năm mươi dặm, mới ổn định được thế trận.
Mâu Tân điểm lại binh mã, không tính số bị thương, đã thiệt hại đến hơn năm nghìn.
Hoá ra, Trịnh Khắc sớm đã bày mưu với Công Tôn Diễn, bên này Trịnh Khắc giả vờ thua trận dụ địch, bên kia Công Tôn Diễn mượn quân từ Ung Khâu, mai phục trong cánh rừng ở ngoại ô phía nam, dụ Trâu Hạo mắc lừa.
Hai trận đều bại, tổn thất nặng nề. Mâu Tân không dám giấu giếm, một mặt an ủi Trâu Hạo vào trướng nghỉ ngơi, một mặt gửi ngay chiến báo, nói tướng quân tiên phong hữu quân Trâu Hạo tuân theo chiến thuật của quân sư, dụ địch ra ngoài thành, đang bao vây chém giết, nào ngờ quân Ngụy ở Ung Khâu tới chi viện, số lượng kinh người, tướng quân tiên phong Trâu Hạo chiến đấu dũng mãnh, giết địch vô số, song ngặt nỗi quân địch thế mạnh, đành khua chiêng thu quân, điểm lại quân số, tổn thất gần năm nghìn.
Mới qua vài ngày, Tương Lăng vẫn trơ trơ, mà đã tổn thất tới năm nghìn binh mã, đấy mới chỉ là tính sơ bộ. Điền Kỵ đọc chiến báo, kinh hãi rụng rời, cấp tốc phi ngựa tới nơi, thấy tướng sĩ quân Tề ai nấy ủ rũ cúi gằm, không chút sinh khí, binh lính bị thương kêu rên chửi bới om sòm, lập tức xuống ngựa hỏi han. Trông thấy chủ tướng, có kẻ bạo dạn đã bất chấp tất cả, kể lại tuốt một một lượt tình hình chiến trận mấy ngày qua không sót một từ. Điền Kỵ đùng đùng nổi giận, hạ lệnh bắt trói tướng tiên phong Trâu Hạo vẫn đang ngủ khò khò trong trướng, áp giải thẳng về đại trướng trung quân.
Mâu Tần hãi hùng, tới lúc định thần lại, vội vàng thảo một bức thư, sai lính phi ngựa tức tốc mang về Lâm Truy, đồng thời đánh xe chiến, chạy như điên thẳng tới Định Đào, đến bên ngoài trướng trung quân, vừa hay gặp ngay mấy tướng sĩ chấp pháp đang lôi Trương Hạo bị trói gô ra ngoài cửa trướng. Một tay đao phủ sải bước huỳnh huỵch theo sau.
Nhìn thấy Mâu Tân, Trâu Hạo như gặp cứu tinh, giãy giụa gào thét om sòm: “Đại ca cứu đệ, đại ca cứu đệ! Hạo đệ xả thân tắm máu, chưa lập công lao song cũng dốc hết sức rồi, mà Điền Kỵ kia không biết phải trái, không hỏi nguyên do đã lôi Hạo đệ ra trảm, rõ ràng muốn lợi dụng việc công báo thù tư, đại ca!”
“Đao hạ lưu tình!” Mâu Tân nhảy phốc xuống khỏi xe, quát đám quân sĩ chấp pháp tạm khoan hành hình, lệnh cho thuộc hạ trói mình lại, để lưng trần, cắm cành gai, lê gối vào trong trướng, nhìn thấy Điền Kỵ mặt mũi tím bầm, đang thở hồng hộc giận dữ, quân sư Tôn Tẫn ngồi bên cạnh, sắc mặt trầm ngâm, hiểu rằng Trâu Hạo hẳn đã không biết phải trái trắng đen mà buông lời xúc phạm.
“Tướng quân, tướng quân, đao hạ lưu tình!” Mâu Tân quỳ sụp dưới đất, cất giọng nghẹn ngào.
“Mâu Tân!” Điền Kỵ ấn tay xuống bàn, giọng rít qua kẽ răng.
“Tướng quân!” Mâu Tân dập đầu bình bịch. “Trâu Hạo không thể giết được!”
“Vì sao lại không thể giết?” Điền Kỵ cười nhạt, gằn giọng hỏi.
“Tướng quân!” Mâu Tân nước mắt đầm đìa. “Tất cả đều là lỗi của Mâu Tân, Mâu Tân xin chịu tội chết, chỉ mong tướng quân tha cho Trâu Hạo, hắn… hắn…”
“Hắn làm sao?”
“Hắn là con trai độc nhất của tướng quốc đại nhân!”
Điền Kỵ, Tôn Tẫn vô cùng kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau.
“Cha chả!” Điền Kỵ thình lình bật ra một tiếng cười lạnh tanh. “Thảo nào kẻ này ăn nói ngang tàng! Thảo nào kẻ này ngạo mạn đến thế! Bản tướng cứ tưởng là thần thánh phương nào giáng trần, hoá ra là cậu ấm nhà tướng quốc đại nhân!” Rồi đấm xuống mặt bàn đánh chát. “Vương tử phạm pháp, tội như thứ dân, huống hồ quân lệnh như sơn!” Đoạn quay ra ngoài trướng quát lên như sấm. “Mau giải tội nhân ra ngoài doanh trại, chém đầu thị chúng!”
Bên ngoài trướng vọng vào tiếng chửi rủa của Trâu Hạo, tiếng chân bước cấp tập mỗi lúc một xa.
“Tướng quân!” Mâu Tân gào lên một tiếng, lết tới vài bước, lại dập đầu bình bịch, khóc không thành tiếng. “Xin hãy lưu tình, tướng quân, Mâu Tân cầu xin tướng quân, đao hạ lưu tình!”
“Mâu Tân!” Điền Kỵ rút phắt quân báo, đập bàn chan chát. “Ngươi tới cũng đúng lúc lắm, bản tướng đang có chuyện muốn hỏi ngươi! Cái gì mà dụ địch ra khỏi thành? Rõ ràng là tướng địch bày mai phục dụ ta, mà ngươi lại giấu giếm quân tình, đáng tội gì đây? Ngươi tự tiện bổ nhiệm một cậu ấm chưa từng kinh qua chiến trận làm tướng tiên phong, không những giấu nhẹm không báo cáo, lại còn phóng tay cho hắn vượt phận tiên phong, thống lĩnh hơn vạn tướng sĩ, tham công liều lĩnh, là tội gì đây? Quân sư căn dặn không được công thành, ngươi lại nhắm mắt làm ngơ, để mặc Trâu Hạo làm liều, hai trận giao tranh mất không của ta sáu nghìn tướng sĩ, là tội gì đây? Người đâu, lôi Mâu Tân ra ngoài cổng doanh trại, chém đầu thị chúng!”
“Tướng… tướng quân…” Mâu Tân nhũn ra dưới đất.
“Chủ tướng hãy nguôi giận!” Tôn Tẫn kịp thời lên tiếng. “Hai quân chưa chiến, đã chém đại tướng, là không may mắn.”
“Nể tình quân sư cầu xin, miễn cho ngươi tội chết, ghi tội lớn một lần, cách chức chủ tướng hữu quân, giáng cấp thành phó tướng, cai quản lương thảo, chờ ngươi lập công chuộc tội.”
Sai lầm ở Tương Lăng không chỉ khiến quân Tề chết oan sáu nghìn binh sĩ, mà còn làm đảo lộn chiến lược của Tôn Tẫn. Tô Tần phải đánh đổi điều kiện đoạt lấy Tương Lăng mới khiến Tống Vương Yển chịu cho mượn đường và đóng quân. Do Tương Lăng vị trí trọng yếu, là nơi quân Ngụy ắt phải cứu, Tôn Tẫn muốn dựa vào đó để ép Bàng Quyên quay về Ngụy quyết chiến, nên mới nghĩ ra sách lược chỉ vây không đánh, dụ địch khỏi thành, nào ngờ lại bị một kẻ lỗ mãng ngu si làm hỏng việc.
Trận đầu thất bại, đã ảnh hưởng nặng nề tới sĩ khí quân Tề, đặc biệt là hữu quân tới từ Cao Đường, Bình Lục. Điền Kỵ tấu báo tường tận lên trên toàn bộ quá trình dụng binh sai lầm của Mâu Tân, đề bạt phó tướng hữu quân, Bình Lục lệnh Trần Đà làm chủ tướng hữu quân, chọn ra sáu nghìn binh lính từ số quân bị loại bỏ bổ sung vào chỗ thiếu hụt, lại trở về vây khốn Tương Lăng, quấy nhiễu các thành ấp xung quanh, để yên lòng người Tống.
Cùng lúc này, Tôn Tẫn lưu lại Định Đào, chủ tướng Điền Kỵ đích thân dẫn vài trăm cỗ xe chiến và hai vạn kỵ binh cờ quạt rợp trời tiến thẳng tới Đại Lương. Điền Kỵ đủng đỉnh không chút vội vàng, ban ngày dẫn quân chậm rãi đi theo con đường cái quan từ Tống đến Ngụy, cờ xí rợp trời, vừa đến tối, liền sai kỵ binh chia đường quấy nhiễu, hoặc chiếm thành ấp, hoặc đốt rơm cỏ, nhà trống ở giữa đồng, rối loạn đến cả trăm dặm vuông, trước khi trời sáng liền quay về doanh trại, lại theo đại quân đủng đỉnh tiến tới Đại Lương. Chốc lát, các ấp phía đông nước Ngụy tứ bề chiến hoả, lửa khói ngút trời, nơi nơi náo loạn, trong lúc hoang mang, không biết người Tề kéo đến bao nhiêu binh mã. Phần lớn nhuệ binh nước Ngụy đã được Bàng Quyên đưa đến nước Triệu, lính giữ thành ở lại đa phần già yếu bệnh tật, kinh hãi sợ sệt, hoặc đóng cổng không ra, hoặc địch chưa đến đã chạy, bỏ lại thành trống và thôn xóm cho người Tề. Các nhà giàu có, phú thương, lão thần Ngụy thất lại càng hoang mang kinh hãi, dắt díu cả nhà ôm theo tiền của chạy tới Đại Lương lánh nạn.
Không tới năm ngày, đại doanh quân Tề đã áp tới sát ngoại ô Đại Lương. Từ trên thành Đại Lương nhìn xuống, xa gần hơn mười dặm, dày đặc toàn là doanh trại Tề, nhìn vào cờ quạt, nhẩm tính không dưới mười vạn.
Thành Đại Lương bày sẵn thế trận chờ đợi. Ngụy Huệ Vương đầy mình giáp trụ, lê tấm thân già, bỏ ra ba ngày trời đi tuần một vòng men theo tường thành, động viên binh sĩ thủ thành. Một lực sĩ theo sát phía sau, vác theo cây thương vàng trượng tám mà năm xưa Huệ Vương từng múa tít chốn sa trường, nhưng nay vác lên đã thấy hụt hơi, theo sau nữa là lão thần thân cận và vài trăm cung vệ.
Song quân Tề lại chưa công thành ngay, chỉ chiếm cứ toàn bộ thành trì trống trải của các ấp xung quanh Đại Lương, cung ứng tại chỗ, đủng đỉnh cắm trại ở khắp ngoại ô thành Đại Lương, vây thành kín mít, tra xét người qua lại nghiêm ngặt. Ban ngày, vô số chiến mã hoặc rong ruổi ra vào trong cánh rừng ngoài thành, hoặc vùn vụt ngược xuôi trên đường lớn, bánh xe rầm rập, cát bụi tung mù. Đêm xuống, hàng nghìn hàng vạn kỵ mã ngựa không dừng vó, quấy nhiễu khắp nơi. Trên khắp đất Ngụy rộng lớn, chỗ nào cũng rậm rịch tiếng vó ngựa quân Tề, đặc biệt trong đêm khuya thanh vắng, tiếng vó ngựa càng khiến người ta giật mình thon thót.
Nếu tính theo lệ thường, có ngựa thì có xe, có xe thì có lính, tiếng vó ngựa dồn dập bốn phía cho thấy số lượng quân Tề đông không kể xiết. Khi trọng ải Hình Sơn bên ngoài vài trăm dặm cũng truyền về tin cấp báo người Tề tập kích, không rõ số lượng binh mã, Ngụy Huệ Vương nghe mà thất kinh.
Đáng sợ hơn là sứ thần hai nước Sở, Hàn cứ như đã hẹn sẵn từ trước, vào cùng một ngày, nhất tề tiến vào Đại Lương hỏi tội, trình lên quốc thư, lời lẽ nghiêm khắc, khiển trách Ngụy bội ước hợp tung, muốn Ngụy lập tức rút quân khỏi Triệu, nếu không, quân “chính nghĩa” Sở, Hàn sẽ nhanh chóng tới nơi. Sở, Hàn đều là nước láng giềng, chỉ riêng thủ quân thường bị tại trọng trấn Phương Thành nơi biên giới Sở cũng đã hơn sáu vạn, nếu họ thừa cơ “thu hồi” các ấp Hình Sơn, nước Ngụy đúng là mất nhiều hơn được.
Trong lúc hoạ ngoài rình rập, nội loạn lại càng khiến Huệ Vương lo lắng không yên. Trưởng lão, quý tộc các ấp xa gần chạy vào Đại Lương trốn tránh quân Tề lũ lượt tìm tới vương cung, đàn ông khóc trước điện, đàn bà khóc ở hậu cung, tất thảy đều mong Huệ Vương mau chóng điều đại quân phạt Triệu trở về, đánh đuổi quân Tề. Vừa hay hai kẻ khởi sự là Trương Nghi và Bàng Quyên đều không có ở bên tả hữu, những triều thần ủng hộ phạt Triệu đa phần đều đang ở Triệu, quần thần còn lại trong triều phần lớn đều theo Huệ Thi, không tán thành phạt Triệu, khi Huệ Vương triệu kiến vào triều bàn bạc, thì trên từ thái tử, dưới đến đại phu đều tán thành Bàng Quyên rút binh. Tấu chương hặc tội Bàng Quyên tới tấp gửi về, bị tỳ nhân cố tình xếp thành một chồng cao ngất ngưởng, đặt trên ngự án của Huệ Vương, khiến Huệ Vương nhìn mà hoang mang rối bời, không biết phải làm gì. Nghe nói Chu Uy giám sát lương thảo vừa từ cửa Túc Tư trở về, vội vàng triệu kiến ngay trong đêm.
“Chúa thượng, rút quân thôi!” Chu Uy mở miệng nói liền, tiếp đến chỉ vào chồng tấu chương chất cao trên bàn, giải thích. “Những bề tôi này đều là người trung nghĩa, không hề sợ chết, sở dĩ họ lời lẽ gay gắt, là vì nghĩ cho xã tắc. Ba nhà Ngụy, Triệu, Hàn đều từ một Tấn, mấy trăm năm qua, ba nhà tuy có tranh chấp, song về cơ bản vẫn cùng chung hoạn nạn. Nay Tần cấu kết với ta diệt Triệu, là phá hợp tung. Dù chúa thượng không mấy hài lòng về hợp tung, song lại chưa chính thức chiếu cáo liệt quốc, huỷ bỏ tung ước. Tung ước chưa huỷ, mà đã thảo phạt nước khởi xướng hợp tung, là ta thất nghĩa. Thất nghĩa, tức là cho liệt quốc cơ hội. Người Tề và ta có mối thù Hoàng Trì, cứu Triệu là giả, chiếm ta mới là thực. Người Tề trận đầu đã đánh Tương Lăng, mà Tương Lăng vốn là đất Tống, nếu Tề hạ được Tương Lăng, nước Tống sẽ trở thành phúc địa của người Tề. Người Sở và ta có tranh chấp Hình Sơn, nếu chớp thời cơ này xuất binh tới Phương Thành, thì Hình Sơn nguy mất. Hơn nữa, người Tần lại không đáng tin, từ đầu bảo chúng ta tấn công Hàm Đan, còn người Tần đoạt Tấn Dương, chiếm đất Đại, thế nhưng sự thực thì sao? Theo thần được biết, người Tần chẳng qua chỉ xuất năm vạn binh, khua chiêng gõ trống ồn ào dưới chân thành Tấn Dương, đừng nói là đất Đại, đến đầu thành Tấn Dương hình thù ra sao còn khó lòng nhìn thấy. Bàng tướng quân muốn rửa mối hận bại trận Hàm Cốc, đã nghe lời Trương Nghi, cực lực chủ trương kết minh với Tần, đó không phải là thượng sách, chúa thượng!”
Chu Uy tấu liền một mạch khiến Huệ Vương nghe mà toát mồ hôi lạnh.
“Còn nữa!” Chu Uy hạ thấp giọng. “Điền Kỵ không đi cứu Triệu, mà lại tấn công Đại Lương, có lẽ là theo ý chỉ của Tề Vương. Thần quan sát quân Tề, doanh trại liên miên, xung quanh Đại Lương, khói lửa ngút trời, hẳn không dưới mười vạn quân. Trong khi nhuệ binh của ta đều ở đất Triệu, Đại Lương trống trải, ngộ nhỡ thành bị phá…”
“Soạn chiếu!” Huệ Vương không dám chậm trễ thêm, lập tức quay sang tỳ nhân. “Lệnh cho Bàng Quyên hoả tốc quay về cứu Đại Lương, quyết chiến với Tề!”
***
Ngoài thành Hàm Đan, trong trại trung quân Ngụy, Bàng Quyên bước chân nặng nề, đi đi lại lại.
Trên bàn, chiếu chỉ rút quân, hổ phù điều binh và vài cây kim tiễn bày thành một dãy. Rõ ràng, kim tiễn liên tiếp được gửi tới thúc giục sau chỉ lệnh tới nơi.
Bàng Quyên dừng bước, trong trí não bỗng hiện lên cảnh tượng ở Quỷ Cốc năm xưa. Giọng Quỷ Cốc Tử vang lên: “Giả dụ con đã có đủ cả ba điều đó, đại quân cũng đã bao vây đô thành của nước đó, đang lúc con định tấn công thì nhận được lệnh lui quân của quân chủ, lúc đó, con sẽ xử trí ra sao?”
Rồi giọng Bàng Quyên: “Việc này thì… tướng ở bên ngoài, có thể không theo lệnh quân chủ!”
Giọng Quỷ Cốc Tử: “Con có thể không theo lệnh quân chủ, nhưng quân chủ vẫn khăng khăng không chịu, liên tiếp phát chiếu thư lui quân, lúc này, con còn dám không nghe lệnh chăng?”
“Vậy… tại sao quân chủ nhất định muốn lui quân?”
Giọng Quỷ Cốc Tử: “Ta không biết, con phải đi hỏi quân chủ mới đúng!”
Bàng Quyên bất giác rùng mình ớn lạnh, nhưng thoáng chốc, một luồng khí cương nghị lập tức cuồn cuộn trong lòng, trên mặt lộ ra một nét cười khinh miệt, thầm nghĩ: “Tiên sinh, đến chuyện này người cũng đã lường trước được, nhưng đệ tử nhất quyết không tin cái chuyện tà quái này, giờ sẽ cho tiên sinh mở mắt!”
Trương Nghi cầm chiếu thư lên, đang đọc đi đọc lại, chợt thấy công tử Ngụy Tự mình mang nhung phục sải bước tiến vào, bèn tiện tay đưa cả chiếu thư và hổ phù cho công tử Tự.
“A…” Công tử Tự vội vã đọc lướt qua, rồi cuống lên. “Phụ vương đúng là hồ đồ mất rồi, vào thời khắc này, sao lại liên tiếp hạ chỉ bắt chúng ta rút quân kia chứ?”
“Công tử!” Bàng Quyên đã lấy lại bình tĩnh, quay sang Ngụy Tự. “Tình hình dưới chân thành thế nào rồi?”
“Cổng nam đột phá được một lần,” Ngụy Tự tiếc nuối đáp, “tiếc là lại bị quân Triệu phong kín, chúng đã dùng một loại xe phòng ngự kiểu mới.”
“Xe phòng ngự kiểu mới?” Bàng Quyên hít ngược vào một hơi dài. “Xe phòng ngự như thế nào?”
“Trên xe bọc một lớp đồng thau, cả bánh xe cũng vậy, rưới dầu đốt cũng không cháy. Mặt trước xe và nóc xe cắm chi chít trường mâu, vừa hay bịt kín cổng thành! Tại hạ dò la biết được, loại xe phòng ngự này do đệ tử Mặc gia gần đây mới chế tạo nên, đặc biệt những ngọn trường mâu kia có thể tự động đâm ra thu vào, cán thương cũng đều được đúc bằng đồng thau, lực sát thương cực mạnh.”
“Đệ tử Mặc gia?” Bàng Quyên thoáng sững sờ. “Chẳng phải họ đang giúp người Trung Sơn giữ thành ư? Sao thoáng chốc đã chạy tới Hàm Đan rồi?”
“Vì họ không muốn giúp người Trung Sơn nữa!” Trương Nghi tiếp lời.
“Tại sao?” Ngụy Tự không hiểu.
“Bởi đệ tử Mặc gia giúp yếu không giúp mạnh. Nước Trung Sơn nằm lọt thỏm giữa các nước mạnh, phía nam kháng Triệu, phía bắc kháng Yên, phía đông kháng Tề, thế yếu, nên đệ tử Mặc gia mới tụ tập tới đó, trợ giúp phòng ngự. Nay Trung Sơn kết thân Ngụy, liên minh Tần, giáp công nước Triệu, thế đã thành mạnh, đệ tử Mặc gia tự khắc muốn trợ giúp Triệu.”
“Đúng là quân phản phúc, không đáng nhắc đến!”
Bàng Quyên thấy Ngụy Tự lại muốn hỏi, bèn xua tay ngăn lại, nhìn sang Trương Nghi, hất hàm về phía chiếu thư và hổ phù. “Trương huynh, vương mệnh như sơn, rút lui, hay là không?”
“Ý Bàng huynh thế nào?” Trương Nghi hỏi lại.
“Tại hạ cho rằng,” Bàng Quyên kiên quyết, “quân Tề chẳng qua chỉ là hư trương thanh thế, không đáng lo ngại! Quân Sở, Hàn, nếu muốn xuất binh thì đã xuất rồi, sở dĩ không xuất, là muốn toạ sơn quan hổ đấu, theo dõi trận chiến Hàm Đan. Nếu ta thắng, bọn chúng sẽ cúp đuôi mà chạy. Nếu ta thua, bọn chúng sẽ thừa cơ xuất binh!”
“Bàng huynh nói chí phải!” Trương Nghi tán thưởng một câu, rồi lo lắng nói tiếp. “Có điều, theo tại hạ đoán, người Tề cũng không hoàn toàn chỉ là hư trương thanh thế.”
“Ồ?”
“Nhìn vào mọi mặt, lần này người Tề cứu Triệu song không tới Triệu, mà lại bao vây Đại Lương, thực đúng là thần diệu.”
“Diệu ở chỗ nào?” Ngụy Tự hỏi.
“Công tử hãy xem!” Trương Nghi vừa chỉ trỏ vừa nói. “Đại quân ta ở đất Triệu, nếu người Tề muốn vượt sông cứu Triệu, là lấy thực đối thực, hai quân tất giao chiến, ai thắng ai thua còn chưa đoán được, vòng vây Hàm Đan lại càng khó phá. Người Tề uy hiếp Đại Lương, ép ta rút quân, là lấy thực đối hư, vòng vây Hàm Đan có thể không chiến mà tự giải.”
“Vậy… nếu chúng ta kiên trì không rút thì sao?” Ngụy Tự hỏi tiếp.
“Đó chính là đi nước cờ hiểm!” Trương Nghi đáp lời. “Luận theo tình thế, đừng nói người Tề xuất hai mươi vạn binh, dù chỉ xuất mười vạn, Đại Lương cũng nguy trong sớm tối, dù sao đất Ngụy giờ đây không có cường binh, chịu không nổi một đòn.”
“Mẹ kiếp!” Bàng Quyên cười gằn. “Chỉ mấy năm không lộ diện, mà Điền Kỵ kia đã tiến xa đến thế!”
“Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ,” Trương Nghi tiếp lời, “trong doanh trại Tề còn có cao thủ khác, trí tuệ người này hẳn không thua kém Bàng huynh!”
“Ý Trương huynh là,” Bàng Quyên hít ngược một hơi khí lạnh, “chính là Tôn Tẫn?”
“Không thể!” Ngụy Tự ngắt lời. “Tôn Tẫn đã chết lâu rồi, hơn nữa, nếu người này ở Tề, bao nhiêu năm trời như thế, chẳng nhẽ không hé lộ chút phong thanh?”
“Là ai thì khó đoán, nhưng theo tại hạ biết, dựa vào tác phong của Điền Kỵ, hẳn sẽ không đi nước cờ này!”
Bàng Quyên ngồi xuống chiếu, khép hờ hai mắt, chìm trong suy nghĩ.
“Nhưng người Tề mới chỉ quấy nhiễu, vẫn chưa công thành!” Ngụy Tự nhìn sang Trương Nghi, rõ ràng nghi ngờ phán đoán của hắn.
“Bởi lẽ người Tề không muốn công phá Đại Lương, chỉ muốn chúng ta rút về!”
Ngụy Tự đang muốn hỏi nữa, thì Bàng Quyên đã mở mắt hỏi: “Trương huynh, theo ý huynh, ta nên làm thế nào?”
“Quay về cứu Đại Lương!” Trương Nghi lời lẽ chắc nịch, rõ ràng đã suy nghĩ từ trước.
“Về cứu thế nào?”
“Quay về theo cách của người Tề.”
“Ý Trương huynh là,” Bàng Quyên ngập ngừng, “đánh thẳng vào Lâm Truy?”
“Chính phải!” Trương Nghi đứng dậy, sải bước tới trước sa bàn, đợi Bàng Quyên, Ngụy Tự tiến lại gần, thì chỉ vào sa bàn mà nói. “Chúng ta có thể cho kỳ binh vượt sông từ đây, đi qua Hà Gián, lại vượt Hà Thuỷ, chọc thẳng vào Lâm Truy, đánh cho người Tề một đòn trở tay không kịp. Đợi quân Tề hốt hoảng quay về chi viện, sẽ tìm cơ hội quyết chiến giữa đường.”
“Tướng quốc, diệu kế!” Ngụy Tự vui mừng ra mặt.
“Quả là diệu kế!” Bàng Quyên tiếp lời. “Chỉ là quá ư mạo hiểm, không dễ thực thi.”
“Mạo hiểm ở đâu?” Ngụy Tự không hiểu.
“Thứ nhất, đại quân vượt Hà Thuỷ không phải là chuyện dễ dàng, hai lần vượt sông lại càng khó khăn. Thứ hai, mùa hè đã tới, Hà Thuỷ nước lên, Hà Gián phần nhiều lầy lội, bất lợi cho xe qua, chỉ có thể đi bộ. Thứ ba, võ binh ta đều trang bị giáp trụ hạng nặng, nếu lội bộ đường trường tới Lâm Truy, không chiến cũng tự rệu rã. Thứ tư, lương thảo tiếp tế thế nào?”
Bàng Quyên một mạch nêu ra bốn điều bất lợi, khiến Ngụy Tự cứng lưỡi.
“Vẫn là Bàng huynh suy nghĩ chu toàn.” Trương Nghi cũng cảm thấy kế này mạo hiểm, tán thưởng một câu, lại nói tiếp. “Tuy nhiên, người Tề đánh vào chỗ trống của ta, cắt đứt đường lương thảo của ta, ta không thể ở đây lâu được. Nếu Đại Lương có gì sơ sảy, chúng ta sẽ không gánh nổi tội đâu!”
“Tại hạ lo lắng, cũng chính là chuyện này.” Bàng Quyên đáp lời.
“Phải rồi!” Trương Nghi đảo con ngươi một vòng, chỉ vào cửa Túc Tư nói. “Ta có thể vượt sông từ đây, tiến quân vào Vệ, cắt ngang đường lui của quân Tề, vây khốn Điền Kỵ trong lãnh thổ của ta. Đại Lương nhất thời khó lòng công chiếm, đường lui, đường lương đều bị cắt đứt, quân Tề ắt không chiến mà loạn, lúc đó, ta có thể tìm thời cơ quyết chiến với địch, một trận mà thắng.”
“Tại hạ cũng có mưu này.” Bàng Quyên trịnh trọng gật đầu. “Có điều, trước khi quyết chiến với người Tề, ta hãy chiếm lấy Hàm Đan trước rồi hãy tính!” Quay sang Ngụy Tự. “Công tử, truyền lệnh chư tướng tam quân, tới trướng trung quân nghe lệnh!”
Thấy chư tướng tam quân đã tề tựu đông đủ, Bàng Quyên lấy ra tờ quân lệnh trạng đã viết sẵn tên mình ra, nói: “Triệu tập chư vị tới đây, là muốn chư vị cùng tại hạ ký tên vào một bức thư sinh tử. Trong vòng ba ngày, nếu chư vị hạ được Hàm Đan, tại hạ sẽ thỉnh công luận thưởng cho chư vị. Nếu không hạ được Hàm Đan, tại hạ sẽ tự sát ngay trong trướng trung quân này, để tạ vương mệnh!”
Thấy Bàng Quyên lập ra tờ quân lệnh trạng thế này, chư tướng đều sụt sùi rơi lệ, uống máu ăn thề trong trướng trung quân, rồi hừng hực khí thế ra về.
Quân lệnh trạng của Bàng Quyên mau chóng lan truyền khắp tam quân nước Ngụy, võ binh ai nấy mắt đều ngấn lệ, sôi sục căm phẫn xông thẳng tới bên thành. Trải qua nhiều ngày tấn công, tường thành Hàm Đan đã lở vỡ nham nhở, quân Ngụy lại như phát cuồng, khiến người Triệu chống cự không xuể, hai chỗ tường thành và một cổng thành bị công phá, sau đó đội vệ binh của Triệu Ung hay tin vội vàng xông tới, xả thân máu thịt chặn lại, đệ tử Mặc gia trợ giúp giữ thành cũng lũ lượt xông lên, liều mạng chống trả, đến Trâu Phi Đao không lúc nào rời khỏi Tô Tần nửa bước cũng xông lên tường thành, vùn vụt phóng ra những mũi phi đao đoạt mạng.
Thấy hai bên đều liều mình như chẳng có, Tô Tần ruột gan như lửa thiêu.
Đêm xuống, tướng sĩ hai bên sau một ngày quần thảo đều mệt mỏi rã rời, trong ngoài thành Hàm Đan cuối cùng đã yên ắng trở lại, chỉ thi thoảng nghe thấy tiếng kêu rên của binh lính bị thương vẳng lên từ một nơi nào đó.
Trong đài Hồng Ba, đám trọng thần Tô Tần, Triệu Thành, Lâu Hoãn sắc mặt trầm trọng nhìn về Triệu Ung.
Triệu Ung cắn môi tới bật cả máu tươi bên khoé miệng.
“Chúa thượng!” Triệu Thành lên tiếng. “Lời thỉnh cầu của Tô Tử, không phải không thể thực thi, nếu cứ tiếp tục giữ thành, e là…” Khẽ thở dài, quay mặt đi chỗ khác.
“Muốn đi, các khanh cứ việc đi. Ngày mai quả nhân đích thân lên lầu thành, cùng sinh tử với cổng thành.”
“Chúa thượng!” Tô Tần từ từ đứng dậy, quỳ xuống trước mặt Triệu Ung. “Tô Tần khẩn cầu chúa thượng!”
“Tô Tử?” Thấy Tô Tần quỳ xuống, Triệu Ung giật mình kinh ngạc.
Tô Tần phủ phục sát đất, cứ thế im lìm bất động.
Triệu Thành chần chừ một lát, cũng tiến lại, quỳ xuống bên cạnh Tô Tần. Mấy vị trọng thần khác, chẳng nói chẳng rằng, cũng lần lượt quỳ xuống theo sau.
“Các… các khanh…” Triệu Ung ngón tay run rẩy, “thực sự không còn lưu luyến cung thành này nữa ư? Thực sự không còn lưu luyến bách tính già trẻ trong thành này nữa ư? Còn nữa… Triệu thất… đã bồi đắp mấy trăm năm, cơ đồ cũng chỉ có nhường này, các khanh… các khanh sao có thể giương mắt đứng nhìn tất cả mọi thứ phải huỷ trong tay quả nhân…” Nói đoạn, tức uất nghẹn lời.
“Chúa thượng, xin hãy nghe thần nói một câu.” Tô Tần mắt ngấn lệ, giọng nói nghẹn ngào. “Nếu như cố giữ, thì thành này, cung này, và tất cả những thứ trong thành này, cung này, sẽ bị huỷ hoại thực sự! Chúa thượng bỏ thành, ngược lại sẽ mở ra đường sống cho tất cả!”
“Khanh… hãy nói rõ nguyên do!” Giọng Triệu Ung rít qua kẽ răng.
“Bởi lẽ người Ngụy đã khát máu cực độ. Nếu phá được thành, ắt sẽ thẳng tay chém giết! Thảm án Bình Dương, không thể không lấy làm gương!”
Nghe tới bốn chữ “thảm án Bình Dương”, quần thần và cả Triệu Ung bất giác đều rùng mình ớn lạnh.
“Chúa thượng!” Tô Tần tiếp lời. “Quân Tề phạt Ngụy, mục đích là điều động Bàng Quyên về cứu, mà Bàng Quyên không chiếm được Hàm Đan, ắt không cam lòng. Chúng ta bỏ thành, đồng nghĩa với mở ra một lối thoát cho Bàng Quyên, khiến hắn vẫn còn thể diện mà hồi triều. Thần rất hiểu Bàng Quyên, tuy hiếu chiến song không phải kẻ lỗ mãng, cũng không phải phường tàn bạo, sẽ không gây chuyện hồ đồ!”
“Tô Tử!” Thái độ của Triệu Ung đã có phần hoà hoãn, song chưa hết lo âu. “Chúng ta ở trong thành, có thể dựa vào địa thế hiểm trở mà cố thủ, hoặc giả vẫn còn cơ hội sống. Giờ nếu bỏ thành, chúng ta sẽ không còn biết dựa vào đâu, Bàng Quyên nếu thừa cơ bao vây tiêu diệt, chúng ta chẳng phải… chết không có chỗ chôn ư?”
“Giặc cùng đường không đuổi, đây là đạo dụng binh bất di bất dịch xưa nay, huống hồ hiện giờ, người Ngụy tâm không còn để vào người Triệu, mà là quay về cứu Đại Lương, tin chắc Bàng Quyên sẽ không tham đánh, để người Ngụy thiệt mạng oan uổng nơi đây.”
“Vậy bao giờ thì đột phá vòng vây?”
“Sự việc không thể chậm trễ, phải hành động ngay trong đêm nay trước khi trời sáng.”
“Được, quả nhân nghe theo Tô Tử.” Triệu Ung quay sang quần thần. “Đột phá vòng vây thế nào, sẽ do chư vị ái khanh lo liệu.” Nói xong, cất bước nặng nề trở về hậu cung, sắp xếp gia sự.
Nhận được ý chỉ, Tô Tần phái anh em Mộc Thực, Mộc Hoa nhân lúc đêm tối thả dây tụt xuống chân thành, tức tốc tới Vũ An, thông báo cho Phì Nghĩa dẫn quân tiếp ứng. Tảng sáng, khi quân Ngụy đang say giấc nồng, cổng thành ở hai hướng bắc và tây Hàm Đan đồng loạt mở toang, binh lính và thanh niên trai tráng trong thành tầng tầng lớp lớp bảo vệ Triệu Vương cùng đám hậu phi quý tộc, ào ào tràn ra như ong vỡ tổ, khí thế tựa nước vỡ bờ không gì cản nổi, đột phá được mấy ngả đường, cuốn bụi mà đi.
Quả như dự đoán của Tô Tần, Bàng Quyên hay tin mừng vui khôn xiết, căn dặn tướng sĩ không được đuổi đánh, thậm chí còn cố ý mở lối, thả cho người Triệu một con đường sống. Quân Phì Nghĩa bên ngoài thành cũng đã tới điểm hẹn, người Triệu các ngả tập kết tại một chỗ, tuần tự vượt qua Minh Thuỷ, tiến vào vùng đất an toàn.
Mặt trời lên đến đầu sào, Bàng Quyên dẫn theo ba quân chỉnh tề nhập thành, sai người kiểm kê vàng bạc, kho tàng, lấy danh nghĩa Ngụy Vương khao thưởng ba quân, chuẩn bị đầy đủ lương thảo, hạ lệnh nghiêm cấm cướp bóc, quấy nhiễu dân thường, chỉ đưa hết đám cung nữ trong cung Triệu và đám tỳ nữ, thiếp nô của các nhà đại phu, quý tộc ra ngoài thành, phân phát cho ba nghìn lính hổ bôn và hai vạn võ binh.
Sáng sớm hôm sau, trời vừa tinh mơ, hai vạn võ binh và ba nghìn lính hổ bôn sau một đêm no say nữ sắc, tinh thần sảng khoái, hăm hở tiến về phía cửa Túc Tư dưới sự chỉ huy của Bàng Quyên.
Kế sách của Bàng Quyên là từ cửa Túc Tư vượt Hà Thuỷ, tới Quế Lăng, qua Vệ vào Tống, chọc thẳng vào con đường cái quan nối liền Tề, Ngụy nằm giữa Tế Thuỷ và Bộc Thuỷ, cắt đứt đường rút lui của quân Tề. Số quân còn lại, chỉ lưu một bộ phận binh lính theo Trương Nghi ở lại Hàm Đan thu xếp, còn đại bộ phận do công tử Tự chỉ huy, theo con đường cái quan giữa Tề về Ngụy tiến thẳng về Đại Lương, hội tụ cùng với quân Ngụy ở Đại Lương, cùng cánh quân của Bàng Quyên ba lộ giáp công, quyết chiến một trận với Điền Kỵ ngoài ngoại ô Đại Lương.
Binh quý ở thần tốc, từ Hàm Đan tới cửa Túc Tư, gần ba trăm dặm đường, võ binh Đại Ngụy chỉ đi mất một ngày một đêm, rạng sáng hôm sau đã tới bến đò, bình minh thì vượt sông.
Ba nghìn lính hổ bôn vượt sông đầu tiên, tiến thẳng tới Tế Thuỷ. Còn chưa hành quân tới Bộc Thuỷ, ba nghìn quân hổ bôn đã trúng phải ổ mai phục của vô số lính nỏ trong rừng rậm ngay mé tây Quế Lăng. Quân hổ bôn tuy dũng mãnh, song do bất ngờ ứng chiến, cộng thêm hành quân quá gấp, mồ hôi đẫm lưng, nên đa phần đều đã cởi mũ bỏ giáp, dùng thương gánh trên vai mà đi, quân Tề lại bắn tên ở cự ly rất gần, chỉ trong khoảnh khắc, đoàn quân hổ bôn đã gục ngã quá nửa.
Số lính hổ bôn còn lại đùng đùng giận dữ, không kịp cả mặc áo giáp, bất chấp cơn mưa tên, cứ thế xông thẳng vào trong rừng. Lính nỏ của quân Tề bị bất ngờ, không kịp rút lui, bị chém giết không ít. Đội trường thương quân Tề hối hả xông lên, yểm hộ cho lính nỏ, vây chặt lấy lính hổ bôn.
Thanh Ngưu khua chiêng thu quân, lính hổ bôn mở một con đường máu quay về, đang lúc kịch chiến, quân Ngụy ở phía sau đã kịp xông lên, lính Tề buộc phải rút lui.
Bàng Quyên điểm lại quân số, thấy thiệt hại mất tám phần, ba nghìn lính hổ bôn giờ chỉ còn chưa đây năm trăm, chưa kể rất nhiều người bị thương nặng nhẹ khác nhau, Thanh Ngưu cũng bị trúng tên ở cánh tay trái, may mà vết thương không nặng, đã được thầy lang băng bó kịp thời.
Ba nghìn lính hổ bôn bị phục kích, lại tử vong quá nửa, sau giây phút bàng hoàng chấn động, Bàng Quyên vẫn cho rằng chỉ là một toán quân Tề hay tin tới cản đường, liền xua đại quân tiến lên vây đánh, hòng diệt gọn toàn bộ, nào ngờ lại đụng đầu với cả vài vạn lính Tề, hơn nữa lính Tề sớm đã chiếm cứ dải đồi thấp hai bên Quế Lăng và con đường chật hẹp ở giữa, bày trận chờ sẵn, chẹn cứng cả con đường cái quan dành cho xe đi.
Trên đỉnh ngọn đồi nhỏ, một lá cờ chủ tướng bay phấp phới, bên trên viết rành rành một chữ “Điền” thật lớn. Bàng Quyên thuận đà nhìn xuống, thấy đứng dưới lá cờ, quả nhiên là Điền Kỵ.
Bàng Quyên hít ngược một hơi thật sâu. Theo quân tình mà Bàng Quyên biết được, Điền Kỵ và quân chủ lực Tề hiện vẫn bao vây Đại Lương. Rõ ràng, bản thân hắn đã quá ư tự tin và sơ suất. Nếu trước khi ba quân lên đường, phái đi vài lộ thám mã, thì đâu đến nỗi sa vào tình thế quẫn bách này.
Sau cơn kinh hãi, Bàng Quyên nhìn khắp xung quanh, thấy nơi đây địa thế chật hẹp, bất lợi cho võ binh triển khai, bèn vội vàng hạ lệnh rút lui, đến vùng đất rộng cách đó vài dặm hạ trại chỉnh đốn đội ngũ, bố trí phòng ngự chặt chẽ, đồng thời phái năm quân sĩ tức tốc quay về cửa Túc Tư, yêu cầu công tử Tự hoả tốc chi viện, nào ngờ chưa được bao lâu, đám binh sĩ mang thư đi chỉ có một người trở về, mặt mũi đầy máu, chân bị trúng tên, bẩm báo rằng quân Tề đang tàn sát tại cửa Túc Tư, cửa Túc Tư e là không giữ nổi.
Lời vừa nói dứt, ở chân trời tây bắc, khói lửa bốc lên cuồn cuộn, như mây đen bao phủ. Phóng mắt nhìn đi, chính là phía cửa Túc Tư.
Không khó nhận ra, thứ đang bốc cháy không phải là nhà dân, mà là thuyền bè mà quân Ngụy dùng để vượt sông.
Không có thuyền bè, quân Ngụy ở Hà Tây kiểu gì cũng không thể vượt Hà Thuỷ, mà phía Đại Lương, trong vòng vài ngày không thể điều quân tới chi viện, cũng có nghĩa là, trong vài ngày tới, hơn hai vạn võ binh của Bàng Quyên sẽ trở thành cánh quân đơn độc!
Quế Lăng địa thế hết sức đặc biệt, hai bên đều có một dãy gò đồi cao chừng hơn hai chục trượng, kẹp lấy con đường cái quan không rộng lắm ở chính giữa, đường này đủ rộng cho hai xe chiến đi song song, sườn đồi tuy thoai thoải, song cây cối rậm rì, gai góc chằng chịt, có lợi cho phòng thủ mà bất lợi cho tấn công.
Chưa đầy nửa canh giờ, Bàng Quyên thăm dò sơ bộ biết được rằng, số lượng quân Tề tham gia bao vây không dưới sáu vạn, hơn nữa đã chia nhau chiếm cứ các địa thế có lợi khắp xung quanh, hình thành nên một thế trận hình cái túi, lại bố trí đầy chướng ngại vật trên đường cái quan trước sau chỗ quân Ngụy đóng trại, không chỉ bịt kín con đường, mà dọc theo hai bên đường cũng kết đến vài đường phòng tuyến, chằng chịt tới tận đỉnh đồi, rõ ràng là mưu đồ vây khốn người Ngụy trong cái khe hẹp phạm vi không tới vài dặm này.
Nguy hiểm hơn nữa là, ở đây không có nước.
Võ binh đưa mắt nhìn nhau. Dù là Bàng Quyên, trong đầu cũng thoáng qua một nỗi kinh hoàng.
Đúng vậy, Trương Nghi đã nói đúng, bên quân Tề có cao nhân, hơn nữa cao nhân này, thuật dụng binh còn hơn cả Bàng Quyên hắn. Tấn công Tương Lăng, quấy nhiễu đất Ngụy, vờ đánh Đại Lương, mai phục đốt thuyền… Tính toán nghiêm mật, bố trí kín kẽ đến nhường này, dường như tất cả mọi tiểu tiết đều được suy tính tường tận.
Có thể làm được đến mức này, trên thế gian chỉ có một người. Tôn Tẫn!
Phải, chắc chắn là Tôn Tẫn!
Bôn tập đường trường, đánh vào chỗ địch buộc phải cứu, xứng danh là pháp bảo dụng binh của Tôn Tẫn! Nhớ năm xưa cùng lệnh doãn nước Sở Chiêu Dương tranh giành đất Tống, trận chiến tuyệt diệu ngoài đánh Hạng Thành, ngầm đoạt Hình Sơn, cũng chính là do Tôn Tẫn vạch mưu!
Nghĩ tới Tôn Tẫn, Bàng Quyên bỗng lạnh buốt sống lưng. Quả là quái dị, không biết người này đã trốn chạy thế nào, ẩn nấp ra sao mà vẫn bặt tích đến tận ngày nay?
Bàng Quyên đang lúc suy nghĩ rối bời, thì tướng lính các bộ đã nhao nhao xúm lại, đều muốn liều mạng với người Tề, ai nấy hằm hè rậm rịch, xin lệnh đánh ngay.
“Chư vị tướng quân!” Bàng Quyên dứt khỏi dòng suy nghĩ, lấy lại lý trí, đưa mắt nhìn khắp lượt chư tướng, bình thản mà rằng. “Trong số chư vị, ai đã từng tham gia trận chiến Hoàng Trì, xin hãy giơ tay!”
Có năm người đồng loạt giơ tay, nét mặt không giấu vẻ tự hào.
“Tốt lắm!” Bàng Quyên vẫy tay về phía năm người. “Hãy đứng lên phía trước!”
Năm người bước lên trước hai bước, ngẩng cao đầu, đứng thành một hàng.
“Hãy kể cho mọi người nghe, chư vị đã giành chiến thắng như thế nào?”
Trận chiến Hoàng Trì được xem là trận chiến kinh điển oanh liệt nhất kể từ khi nước Ngụy lập quốc tới nay, người Ngụy từ đàn bà trẻ nít cũng biết, đừng nói là những người lính đang có mặt tại đây. Năm người đưa mắt nhìn nhau, một người dõng dạc trả lời: “Tướng quân bố trí trận Con Rùa đắm phân, đại phá quân Tề, bắt sống Điền Kỵ trong hố phân!”
Chư tướng cười ồ lên.
“Nói hay lắm!” Bàng Quyên lại không cười, giơ ngón tay cái về phía người vừa nói, khen ngợi một câu, rồi lại nhìn vào chư tướng. “Chư vị tướng quân, nhớ năm xưa, Tề có bảy vạn đại quân, ta chỉ có ba vạn tàn binh ít ỏi, kết quả thế nào? Bắt sống Điền Kỵ trong hố phân! Nay không có hố phân, song ta có hai vạn võ binh một địch nổi mười, hãy xem bản tướng lại bày trận, bắt sống Điền Kỵ!”
“Tướng quân, phải bày trận thế nào, xin hãy hạ lệnh!” Chư tướng đồng thanh nói.
“Tướng Tề Điền Kỵ chỉ xứng với một trận, trận Con Rùa!” Bàng Quyên nhảy lên xe chiến. “Chư vị tướng sĩ, hãy nhìn cờ hiệu của ta, nghe hiệu lệnh của ta, chính tại nơi đây, bày trận Con Rùa, bắt sống Điền Kỵ!”
Chư tướng đồng loạt hô vang: “Bày trận Con Rùa, bắt sống Điền Kỵ!”
Không đầy một canh giờ, hai vạn võ binh đã tuân theo cờ hiệu của Bàng Quyên, bày trận Con Rùa ngay tại chỗ.
Điền Kỵ đứng trên đỉnh núi, nhìn thấy rành rành, lửa giận bốc ngùn ngụt, sôi máu nói với Tôn Tẫn: “Bàng Quyên năm xưa bày ra trận này để bỡn cợt bản tướng, nay lại vẫn bày trận này, hẳn là tỏ ý liều chết!”
“Nhìn vào trận pháp này, Bàng huynh quả nhiên cao tay!” Tôn Tẫn lại tấm tắc khen ngợi.
“Gì kia!” Điền Kỵ nhìn sang, sắc mặt đầy vẻ ngỡ ngàng. “Tôn huynh, huynh cố tình chọc tức tại hạ ư, hay là…”
“Tại hạ đang cùng Điền tướng quân bàn về trận pháp.”
“Được, huynh hãy nói đi, trận pháp của hắn có gì cao tay!” Điền Kỵ hậm hực ra mặt.
“Phàm trận pháp có mười loại,” Tôn Tẫn cất giọng thong thả giống như đang giảng giải, “là trận vuông, trận tròn, trận thưa, trận mau, trận mũi dùi, trận cánh nhạn, trận móc câu, trận huyền, trận hoả, trận thuỷ. Từ cổ chí kim, nghìn vạn trận pháp, đều từ mười trận này biến hoá mà ra.”
Mười loại trận pháp Tôn Tẫn vừa nói hoàn toàn khác với hiểu biết của Điền Kỵ về trận pháp. Trận pháp mà Điền Kỵ biết đến, đều là trận pháp cụ thể, có trận đồ, tên gọi, có điểm mạnh, điểm yếu, chẳng hạn như trận Hổ Dực, trận Long Đằng, trận Trường Xà Chữ Nhất, trận Mê Hồn, trận Âm Dương Bát Quái,… tổng cộng không dưới trăm trận. Vậy mà Tôn Tẫn lại khái quát chung chung rằng tất cả trận pháp đều quy về mười loại này, khiến Điền Kỵ cảm thấy vô cùng mới mẻ.
Điền Kỵ thỉnh giáo về ưu thế và cách phá giải mười trận pháp, Tôn Tẫn bèn lần lượt giảng giải.
Điền Kỵ như đã hiểu ra, chỉ vào trận thế quân Ngụy, nói: “Nếu nói như vậy, thế trận trước mắt, hẳn là trận tròn?”
“Không hoàn toàn như vậy!” Tôn Tẫn không nhìn vào thế trận, mà nhìn Điền Kỵ nói. “Năm xưa Bàng huynh bày ra trận thế này, đúng là có ý bỡn cợt tướng quân, bởi lẽ khi Bàng huynh bày trận này, sớm đã chuẩn bị kỳ chiêu. Nay thì khác. Ta quân số gấp bội, lấy nhàn đối nhọc, quân Ngụy thế yếu, địa thế bất lợi, trong lúc nguy cấp, lại không có kỳ chiêu để dựa vào, trước mắt xem ra không có cách phòng ngự nào tốt hơn trận này.”
“Tốt ở chỗ nào?” Điền Kỵ hiển nhiên không phục.
“Tướng quân hãy nhìn xem!” Tôn Tẫn quay đầu lại, chỉ vào trận địch. “Trận này hình dạng giống như rùa phục, trong vuông có tròn, trong tròn có vuông, gồm đủ ưu thế của cả hai trận vuông, tròn. Vòng ngoài cứng mạnh, dày đặc binh khí dài nỏ cứng, xe chiến xếp thành hàng rào vây kín, rải đầy gai sắt tật lê, chẳng khác gì mai rùa thần, dù kẻ địch có mạnh đến mấy cũng không thể đột phá. Bên trong trống trải, thương binh chữa trị, bếp núc nấu nướng đều được đặt ở giữa. Đầu rùa và bốn vuốt biến hoá linh hoạt khôn lường, có thể thu vào, có thể duỗi ra, duỗi thì tấn công, thu thì phòng thủ. Bàng huynh trong lúc nguy cấp, vẫn có thể ngộ ra đạo lý của thế trận này, dùng vào phòng ngự, quả thực cao tay!”
Điền Kỵ quan sát lại trận thế này theo như lời Tôn Tẫn, rồi hít ngược một hơi, tấm tắc mà nói: “Nếu không nhờ Tôn huynh chỉ điểm, tại hạ… e là lại bị mắc lừa!”
Tôn Tẫn như thể không nghe thấy, ánh mắt vẫn dán vào trận thế bên địch, càng nhìn càng thán phục, tấm tắc khen ngợi: “Tiên tổ Tôn Vũ Tử có nói, hai quân giao chiến, dụng binh bố trận nếu đạt được đến sáu điều cực chí, sẽ đánh đâu thắng đấy!”
“Thế nào là sáu điều cực chí?” Điền Kỵ vội hỏi.
“Nhanh như gió, vững chãi như rừng, tấn công như lửa cháy, bất động như núi, ẩn nấp như bóng đêm, hành động như sấm sét. Quan sát kỹ thế trận này, Bàng Quyên đã đạt được hai điều.”
“Hai điều cực chí mà thằng giặc họ Bàng đạt được,” Điền Kỵ như đã ngộ ra, “hẳn là vững chãi như rừng, bất động như núi?”
“Đúng vậy!” Tôn Tẫn gật đầu. “Vững chãi như rừng, bất động như núi, chính là tinh tuý của trận Rùa, Bàng Quyên đã cùng tận được rồi.”
“Đã là trận Rùa,” Điền Kỵ như có điều nghĩ ngợi, “đã vững chãi như rừng, bất động như núi, thì ta vẫn có thể bao vây, khiến chúng đói khát, mệt mỏi mà chết.”
“Cũng được coi là một cách phá trận.” Tôn Tẫn đáp lời. “Có điều, hiện giờ không thể áp dụng. Rùa này chỉ cần phục ba ngày, quân chi viện của Đại Lương sẽ tới, quân Ngụy ở Hàm Đan cũng sẽ tìm cách vượt sông. Hà Thuỷ dài dằng dặc, nơi nào cũng có thể vượt qua, muốn phòng cũng phòng không xuể. Hơn nữa, quân ta gần như đã được điều động hết tới đây, không còn đủ sức canh phòng Hà Thuỷ. Lúc này, trong có trận Rùa, ngoài có quân chi viện, ta ngược lại sẽ bị bao vây tứ bề, sa vào thế bị động. Nhìn thế trận này, muốn cầm cự ba ngày lại không hề khó. Ta tuy cắt đứt nguồn nước, tuyệt đường lương thảo của địch, song quân sĩ hành quân đường trường, tất có chuẩn bị lương khô, túi nước, trong lúc cấp thiết, vẫn có thể giết ngựa cứu đói, uống máu giải khát, chống chọi ba ngày chẳng có gì khó khăn.”
Điền Kỵ thở hắt ra: “Ý quân sư là, trong vòng ba ngày, ta buộc phải phá giải trận Rùa, đánh tan Bàng Quyên?”
“Đúng vậy!”
“Ồ…” Điền Kỵ lo lắng. “Trận này kiên cố như vậy, làm thế nào để phá giải đây?”
“Muốn giết được rùa, chém đầu chặt vuốt.”
“Đầu rùa thụt trong mai, biết chém thế nào?”
“Có thể cho chiến sĩ dũng mãnh cảm tử khiêu chiến với đầu rùa, chỉ khuấy đảo ở trước đầu rùa, đầu rùa thò ra thì lùi, đầu rùa thụt vào thì tiến, khiến đầu rùa vô thức vươn dài ra. Sau đó để kỵ binh thọc vào chớp nhoáng, cắt đứt đầu rùa. Rùa ắt phải mau chóng biến hình di chuyển nhằm cứu lấy đầu, khi đã chuyển động, ắt lộ điểm yếu, ta có thể điều quân tinh nhuệ, bày ra trận mũi dùi, chia thành bốn lộ tấn công chân rùa, đột nhập vào chỗ trống bên trong. Trong bốn chân, nếu có một chân bị đột nhập, trận Rùa có thể phá.”
“Cách phá tuyệt diệu!” Điền Kỵ mừng rỡ. “Tại hạ lập tức đi sắp xếp, ngày mai phá trận!”
“Ngày mai không được!” Tôn Tẫn xua tay nói. “Quân Ngụy vừa bị vây khốn, khí thế ắt hừng hực như lửa. Tướng quân cứ vờ như không hiểu trận này, sử dụng chiến thuật luân phiên, ngày đêm quấy nhiễu thân rùa, vừa làm kẻ địch mệt mỏi, lại có thể khiến kẻ địch lơ là cảnh giác. Cứ thế hai ngày, khí của địch sẽ suy sụp, tâm lý đề phòng được loại trừ, lúc này, tướng quân mới phá trận, một chiêu chế địch!”
Điền Kỵ tuân lệnh, triệu tập chư tướng tới trại trung quân thụ mệnh, phát lệnh tiễn cho từng người, chỉ rõ chiến thuật.
Trong hai ngày sau đó, từng tốp quân Tề dùng xe chiến cũ kỹ luân phiên tấn công mai rùa, liên tục suốt ngày đêm không nghỉ, song không đột phá được chỗ nào. Cho cuối ngày thứ hai, quân Ngụy dần dần lơ là cảnh giác, dù là Bàng Quyên cũng nghĩ rằng Tôn Tẫn cũng chỉ đến thế mà thôi, lại nhẩm tính quân chi viện sắp tới, nên càng yên chí lớn.
Ngày thứ ba, trời đã hoàng hôn, quân Ngụy sau ba ngày liền căng thẳng, đều đã mệt mỏi rã rời, sĩ khí suy sụp. Chính vào lúc này, chủ tướng tả quân Khuông Chương đích thân dẫn hai nghìn nhuệ binh đánh thẳng vào đầu rùa. Đầu rùa là đám quân hổ bôn của Thanh Ngưu còn sót lại sau cuộc chiến vừa qua, cộng thêm năm trăm võ binh, tổng cộng một nghìn, do Thanh Ngưu chỉ huy, ai nấy dũng mãnh khác thường, đã nhẫn nhịn suốt hai ngày đêm mà chưa có cơ hội xuất chiến, lúc này thấy có quân khiêu chiến, lập tức tinh thần hừng hực, khí thế ngất trời nghênh chiến Khuông Chương.
Khuông Chương đánh không lại Thanh Ngưu, đấu chưa nổi ba hiệp, đã bại trận bỏ chạy.
Quân Tề trang bị nhẹ nhàng, hành động mau lẹ, võ binh giáp trụ nặng nề, di chuyển chậm chạp, nên Thanh Ngưu không thể đuổi kịp.
Khuông Chương lộn lại đánh tiếp, Thanh Ngưu lại ứng chiến, qua vài hiệp nữa, Khuông Chương vẫn không thể địch nổi, lại chạy. Cứ thế vài lần, Thanh Ngưu nổi giận đùng đùng, càng đuổi càng xa, đầu rùa thò ra ngoài cả dặm lúc nào không biết.
Bàng Quyên hay tin, gấp rút khua chiêng, song đã muộn rồi. Vó ngựa nổi lên dồn dập, một đoàn kỵ binh thình lình lao ra từ bên cạnh, đâm thẳng tới cổ rùa, cuốn bụi mù mịt, che khuất tầm mắt. Ngựa chiến nhanh hơn xe chiến rất nhiều, tất cả ngựa chiến đều mang áo giáp, thế mạnh lực bạo, tấm thân máu thịt của võ binh Ngụy sao có thể chống chọi, đa phần bị ngựa chiến đâm ngã rồi giày xéo lên, cổ rùa chớp mắt đã bị cắt thành hai đoạn.
Tiếp đến, binh sĩ quay đầu ngựa nhảy xuống, cầm binh khí ngắn mặc sức đâm chém đám võ binh Ngụy đang ngã dưới đất. Võ binh Ngụy đa phần chưa hết bàng hoàng, tới khi hoàn hồn, không ít người đã thành ma dưới mũi thương. Khuông Chương quay lại đánh tiếp, dũng khí tăng vọt, phía Thanh Ngưu biết đã mắc mưu, muốn rút lui song muộn mất rồi, bị quân Tề bao vây tầng tầng lớp lớp.
Bàng Quyên kinh hãi rụng rời, vội vã hạ lệnh cứu viện đầu rùa, thân rùa mau chóng di chuyển, bốn chân rùa phăng phăng tiến lên phía trước.
Đúng lúc này, bốn đội kỵ mã, mỗi đội đông đến hàng nghìn kỵ binh, đều mặc áo giáp, cầm binh khí nhọn, chia làm bốn ngả, nhanh như chớp xông tới bốn chân rùa đang di chuyển. Chân rùa muốn rụt về không được, muốn cản lại chẳng xong, bị đánh cho tan tác. Kỵ binh Tề lao thẳng vào bụng rùa trống trải, trận Rùa như giữa bụng nở hoa, tan tành tán loạn, tiếng hô giết vang trời, chiêng trống hỗn độn. Bàng Quyên không phân biệt rõ đâu ta đâu địch, hiệu lệnh không được, thân rùa chia năm xẻ bảy, võ binh Đại Ngụy chỉ còn biết đơn độc giao chiến.
Cùng lúc này, đại quân nước Tề ào ào xông lên như ong vỡ tổ, tầng tầng lớp lớp bao vây quân Ngụy, cứ ba giết một, lại thêm trời nhá nhem tối, võ binh Đại Ngụy không phân biệt rõ ta địch, đâm chém bừa bãi, trong khi người Tề có ký hiệu riêng, ai cũng quấn vải trắng trên cánh tay.
Thanh Ngưu thấy tình thế chẳng lành, chẳng còn tâm trí nào nữa, liền bỏ Khuông Chương, cùng mấy viên mãnh tốt bên mình quay ngược trở lại, chém giết mở đường trở về mình rùa, vừa đánh vừa hô gọi quân Ngụy đang hỗn chiến, tụ thành một nhóm trăm người, tiếp tục đâm chém trong hỗn loạn, từ xa nhìn thấy Bàng Quyên đang bị vây khốn trùng trùng.
Bên cạnh Bàng Quyên đã không còn mấy tuỳ tùng, tình thế cực kỳ nguy cấp.
Thanh Ngưu hét to một tiếng: “Thanh Ngưu tới đây!” Rồi xông thẳng vào trùng vây, cứu lấy Bàng Quyên, mở một đường máu về phía tây nam, phá vây mà ra. Đi chưa được vài dặm, đã đụng đầu ngay cánh quân của Mâu Tân phòng ngự bên ngoài, tay cầm đuốc, chắn ngang đường đi.
Thanh Ngưu sát khí đằng đằng, đã không rút lui, mà còn gầm lên một tiếng, vận lực bẻ gãy lấy một càng của cỗ xe chiến hỏng bên cạnh, cầm chắc trong tay, xông thẳng lên phía trước, đón đường xe chiến của Mâu Tân.
Ngựa kéo xe của Mâu Tân kinh hoảng, dựng vó hí dài. Mâu Tân phần vì trở tay không kịp, phần thì kinh hãi trước khí thế của Thanh Ngưu, còn chưa kịp phản ứng, ngựa kéo xe đã hoảng loạn quay đầu, điên cuồng chạy ngoặt sang ngang.
Thấy chủ tướng chạy trốn, đám binh lính nào dám tiếp chiến, đua nhau chạy dạt sang hai bên nhường đường. Đám Thanh Ngưu chưa tới trăm người, ai nấy dũng mãnh xông pha, tranh nhau lên trước, thế như chẻ tre, chẻ dọc cánh quân của Mâu Tân từ đầu đến đuôi, phá vây mà thoát ra, chạy ngược theo bờ Bộc Thuỷ, đến chiều hôm sau thì tới Hoàng Trì, mới gặp được quân Ngụy từ Đại Lương kéo đến chi viện.
Trên chiến trường chính, tiếng hò reo sát phạt đến tận nửa đêm về sáng mới dần dần lắng xuống.
Buổi sáng hôm sau, Tôn Tẫn muốn đi xem xét chiến trường. Điền Kỵ đề phòng bất trắc, nên đích thân đẩy xe lăn, cùng vài chục hộ vệ thân tín yểm hộ kín kẽ. Chiến trường sau một đêm sát phạt, cảnh tượng thê thảm tột cùng. Tướng sĩ quân Ngụy đa phần tử chiến, không có lấy một hàng binh, lính tử trận hầu hết bị mũi thương đâm từ phía trước, không ít kẻ chết trong tư thế tấn công.
Điểm lại quân Tề, dù chiếm ưu thế về mọi mặt số lượng, địa thế, song thương vong cũng xấp xỉ hai vạn, gần như ngang ngửa người Ngụy.
Phía trước có tiếng ồn ào vọng lại. Phóng mắt nhìn ra, thấy vài trăm tướng sĩ quây thành một vòng lớn, gào thét ầm ĩ một vùng. Trông thấy Điền Kỵ, một hiệu uý chạy như bay lại, hành lễ rồi nói: “Bẩm chủ tướng, ở đây có hơn ba trăm lính Ngụy, đều đã bị thương, song chống trả quyết liệt, thà chết không hàng!”
“Thà chết không hàng, giết ngay không phải hỏi!” Điền Kỵ sầm mặt đáp lời.
“Tuân lệnh!”
Hiệu uý vừa quay người chạy đi, sau lưng đã vọng lại tiếng gọi: “Hãy khoan!”
Hiệu uý bèn dừng lại.
Tôn Tẫn ra hiệu, Điền Kỵ đẩy xe lăn lại gần, quả nhiên thấy vài trăm lính Ngụy bị thương ngồi thành từng vòng tròn, vòng này bao lấy vòng kia, vòng tròn ngoài cùng là lính bị thương nhẹ nhất, vòng tròn trong cùng là lính bị thương nặng nhất, ai nấy lăm lăm binh khí, khắp người máu me, sắc mặt trầm trọng, sẵn sàng liều mạng một trận cuối cùng.
Trông thấy chủ tướng, quân Tề dạt sang hai bên mở đường, Điền Kỵ đẩy Tôn Tẫn lại gần, khi còn cách khoảng mười bước chân thì dừng lại.
“Chư vị tướng sĩ!” Tôn Tẫn cao giọng. “Tại hạ Tôn Tẫn, có lời chào chư vị!” Nói đoạn vòng tay, vái một vái dài.
Nghe thấy hai chữ “Tôn Tẫn”, tất cả lính Ngụy nhất loạt ngoái đầu lại nhìn, trong số đó có người biết mặt Tôn Tẫn, ngạc nhiên kêu lên: “Trời ơi, là Tôn giám quân! Đúng là Tôn giám quân rồi!”
“Chư vị tướng sĩ!” Tôn Tẫn ngồi thẳng dậy, một tay đặt trên tay vịn xe lăn, một tay giơ lên quá đầu. “Chư vị đúng là dũng sĩ chân chính, không hổ danh là quân sĩ, Tôn Tẫn kính trọng chư vị. Hai quân giao chiến, không giết kẻ đầu hàng, càng không giết kẻ bị thương, chư vị không đầu hàng, nhưng lại bị thương, Tôn Tẫn kính mong chư vị đừng nên cự tuyệt chữa trị, đừng nên tuyệt thực, Tôn Tẫn đảm bảo, quân Tề sẽ không đối xử với chư vị như với tù binh!”
Nghe những lời này, binh lính Ngụy đều cảm kích rơi lệ, đua nhau hạ vũ khí, thi lễ trước Tôn Tẫn.
“Mang nước, cơm cho các dũng sĩ, chữa trị vết thương cho họ!” Điền Kỵ căn dặn hiệu uý.
Hiệu uý tuân lệnh, lập tức đi sắp xếp.
“Truyền lệnh,” Tôn Tẫn quay sang Điền Kỵ, khẽ nói, “để lại một vạn tướng sĩ thu dọn chiến trường, chăm sóc thương binh, số còn lại mau chóng tới cửa Túc Tư, ứng chiến với quân Ngụy!”
Điền Kỵ y lời, để Điền Anh ở lại thu dọn chiến trường, còn mình đích thân dẫn đại quân tới cửa Túc Tư, nghênh chiến quân Ngụy đang vượt sông. Do không có thuyền vượt sông, quân Ngụy tạm thời ghép gỗ làm bè, số quân đã vượt sang sông không quá vài nghìn, trước thế tấn công vũ bão của quân Tề, hoặc chết hoặc hàng, số quân chưa kịp lên bờ vội vã quay ngược trở lại bờ kia.
Quân Triệu ở Hàm Đan hay tin quân Tề đánh bại Bàng Quyên ở Quế Lăng, liền đánh trở lại, ép quân Ngụy vào trong thành Hàm Đan. Mắt thấy bại cục đã định, hai phía đều bị tấn công, Trương Nghi, Ngụy Tự bèn chuyển công thành thủ, Trương Nghi soạn một bản tấu chương, khuyên Huệ Vương giảng hoà với hai nước Tề, Triệu.
Bàng Quyên về tới Đại Lương, quỳ xuống khóc tu tu trước mặt Huệ Vương.
Huệ Vương vừa lo sợ vừa buồn bực, đã nằm bẹp trên giường suốt mấy ngày, giờ chỉ biết ho sù sụ vài tiếng, lần tìm dưới gối bản tấu chương của Trương Nghi, gắng gượng điều hoà hơi thở, hỏi: “Tướng quốc tấu thỉnh giảng hoà, ý hiền tế thế nào?”
“Sắp thành lại bại,” Bàng Quyên nghẹn ngào, “nhi thần… không cam tâm!”
“Cam tâm cũng vậy, mà không cam tâm cũng vậy, phụ vương già rồi, vô dụng rồi!” Huệ Vương lại ho rũ vài tiếng, đoạn quay sang tỳ nhân, giọng nói khản đặc, có khí mà không có lực. “Triệu Chu Uy yết kiến!”