Nước nhỏ Trung Sơn kẹp giữa ba nước lớn Triệu, Yên, Tề, phía bắc tiếp giáp Hoàn Sơn. Vùng đồi núi và đồng cỏ mênh mông nghìn dặm ở hai mặt bắc và tây Hoàn Sơn vốn là địa bàn của nước Đại vùng Bắc Hồ, sau bị Tương Tử nước Triệu tiêu diệt, nước Đại trở thành một quận của nước Triệu, đổi tên là quận Đại.
Công tử Phạm thay quyền chủ tướng, dựng đại doanh ở ải Hồng Thượng phía đông Hoàn Sơn. Tám vạn quân Triệu đóng trại ở vùng đất rộng lớn phía đông Hoàn Sơn, lưng dựa Hoàn Sơn, mặt nhìn Dịch Thuỷ, trên danh nghĩa là chế ước Trung Sơn, song mũi nhọn lại uy hiếp vài trăm dặm biên giới nước Yên, phía bắc tới Trọc Lộc, phía nam tới Lạc Từ. Chủ tướng Tử Chi nước Yên tuổi mới ba mươi, không hề chịu lép, chỉ huy sáu vạn quân đóng trại dọc Dịch Thuỷ, dựng đại doanh trung quân ở Long Đoài cách ải Hồng Thượng chưa đầy trăm dặm, đối đầu với quân Triệu từ xa.
Vào xế chiều hôm nay, một đoàn hơn chục kỵ mã phóng như bay về phía ải Hồng Thượng.
Khi tới gần cửa ải, trưởng tử của Yên Công là Cơ Ngư Vũ Thành Quân trong trang phục phú thương đất Hồ đang phi ngựa dẫn đầu bỗng ghìm cương, quay sang nói với Quý Thanh đang theo sát phía sau: “Quý Tử, bản cung thực sự không hiểu, vì sao Triệu Phạm lại khăng khăng muốn bản cung đích thân tới?”
Quý Thanh lắc đầu nói: “Vi thần cũng không rõ, hẳn Triệu Phạm có việc lớn muốn bàn bạc với chúa công!”
Vũ Thành Quân chau mày: “Theo Quý Tử thấy, hắn không có âm mưu gì với bản cung chứ?”
Quý Thanh lại lắc đầu: “Làm gì có chuyện đó! Phụng Dương Quân nếu mưu đại sự, còn cần dựa vào sức mạnh của chúa công. Đây là nút thắt liên hoàn, đối với ai cũng có lợi. Hiện tại trò vui mới bắt đầu, công tử Phạm chắc chắn sẽ không làm gì bất lợi với chúa công!”
Vũ Thành Quân ngẫm nghĩ một lát, khẽ thúc hai chân vào bụng ngựa, giục chiến mã chậm rãi bước đi. Một lát sau, đám kỵ mã đã tới trước cửa ải. Quý Thanh xuống ngựa, quân uý canh ải bước ra nghênh đón. Quý Thanh lấy từ trong ống tay áo ra một tấm lệnh bài, quân uý kiểm tra xong, liền báo lên tướng giữ ải.
Tướng giữ ải vội vã ra đón, lần lượt hành lễ với Vũ Thành Quân, Quý Thanh, sau đó gấp rút dẫn họ đi tới đại doanh trung quân.
Công tử Phạm khắp người giáp trụ, hay tin liền bước ra đón, cầm tay Vũ Thành Quân dắt vào đại doanh, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Công tử Phạm vỗ tay, từ bên cạnh bước ra hai vũ nữ, đặt lên bàn mỗi người một chiếc bát lớn, rồi rót đầy bát thứ rượu mạnh của đất Đại.
Công tử Phạm cười vang mà nói: “Tới đất Hồ, phải tuân theo tập tục của người Hồ, uống rượu bằng bát lớn!” Rồi hai tay bưng bát rượu, hướng về phía Vũ Thành Quân. “Xin mời Vũ Thành Quân,” lại quay sang Quý Thanh, “và cả Quý Tử, đi đường vất vả, bản tướng chỉ có bát rượu nhạt, tạm dùng để tiếp đón hai vị!”
Vũ Thành Quân liếc nhìn Quý Thanh, rồi bưng bát rượu lên, nói: “Cơ Ngư đa tạ đại tướng quân đã đón tiếp!”
Ba người uống cạn bát rượu. Quý Thanh đứng dậy, bưng vò rượu lại, rót cho công tử Phạm một bát, cũng rót cho mình một bát, rồi nâng bát mà nói: “Tại hạ từ lâu đã nghe thần uy của đại tướng quân, hôm nay mới được gặp mặt, vô cùng kính phục. Tại hạ xin mượn rượu ngon của đại tướng quân, hồi kính đại tướng quân một bát!” Nói đoạn, uống một hơi cạn sạch.
Công tử Phạm cười vang mà nói: “Quý Tử quả là người hào sảng! Được, bản tướng sẽ uống!” Rồi nâng bát uống cạn.
Quý Thanh lại rót rượu, quay sang công tử Phạm, vòng tay nói: “Giờ Hợi đêm qua, hay tin đại tướng quân vời đến, chúa công không dám chậm trễ, đã lên đường ngay trong đêm. Dám hỏi đại tướng quân cho gọi chúa công gấp như vậy, hẳn có việc quan trọng?”
Công tử Phạm cũng vòng tay nói: “Được, Quý Tử đã hỏi vậy, bản tướng cũng xin nói thẳng. Tướng quốc đại nhân đã đồng ý với lời thỉnh cầu của công tử, điều động hai vạn binh mã từ Tấn Dương tới chi viện cho quận Đại. Tuy nhiên, bản tướng không lường được rằng, đất Đại nghèo khó, lương thảo vốn dĩ thiếu thốn, nay lại tăng thêm hai vạn binh, hiển nhiên khó càng thêm khó. Không giấu công tử, tám vạn tướng sĩ của bản tướng, lương thảo đã cạn rồi. Bản tướng tuy đã cấp báo lên tướng quốc, xin cấp phát thêm, song e là nước xa không cứu được lửa gần.” Dừng lại một lát, thăm dò. “Bản tướng nghe nói trong thành Vũ Dương trữ nhiều lương thảo, nên có ý…” Dừng lại nửa chừng, nhìn sang Vũ Thành Quân.
Vũ Thành Quân mặt hơi biến sắc: “Dám hỏi đại tướng quân cần bao nhiêu lương thảo?”
“Một vạn thạch gạo là đủ!”
“Một vạn thạch?” Vũ Thành Quân thoáng kinh hãi.
“Sao, công tử tiếc ư?” Công tử Phạm hơi sắt mặt lại, cười mà không giống cười.
“Không, không, không!” Vũ Thành Quân vừa rối rít đáp, vừa đưa mắt liếc sang Quý Thanh.
Ánh mắt của công tử Phạm cũng chiếu sang.
“Ha ha ha!” Quý Thanh bật cười lớn, khẽ ôm quyền hướng vào công tử Phạm. “Ít quá, ít quá! Triệu, Yên là láng giềng thân thiết bao đời, nước Yên gặp nạn, đại tướng quân vất vả viễn chinh, chút lương thảo cỏn con này làm sao mà đủ xuất? Chúa công nhà tôi muốn khao một vạn năm nghìn thạch gạo, một nghìn xe cỏ ngựa, dám mong đại tướng quân không chê!”
Lời Quý Thanh vừa nói ra, đừng nói là Vũ Thành Quân, đến công tử Phạm cũng ngây người kinh ngạc, một lúc sau mới định thần lại được, cười vài tiếng mà nói: “Quý Tử quả là người hào sảng!”
“Có điều…” Quý Thanh đổi giọng, mắt nhìn sang công tử Phạm.
Công tử Phạm vội nói: “Quý Tử có gì, xin cứ nói thẳng.”
“Chúa công nhà tôi cũng có một thỉnh cầu!”
“Xin cứ nói!” Công tử Phạm phóng khoáng phẩy tay. “Có đi có lại mới công bằng!”
“Chúa công nhà tôi mê ngựa tới phát cuồng, đất Đại là nơi sản sinh ngựa tốt, đại tướng quân liệu có thể bán cho chúng tôi ít ngựa tốt đất Đại chăng?”
“Bán mua nỗi gì, chỗ bản tướng rất nhiều chiến mã, công tử muốn mấy cỗ, cứ nói đừng ngại!”
“Hai nghìn cỗ!”
“Hai nghìn cỗ!” Công tử Phạm giật nảy mình, sững sờ một lát, rồi vò đầu bứt tai. “Chuyện này… chuyện này…”
“Đại tướng quân chớ lo!” Quý Thanh lại cười. “Chúa công nhà tôi chỉ là mượn tạm mà thôi. Đợi đại sự thành công, tại hạ đảm bảo, không chỉ trả đủ hai nghìn ngựa, mà còn tặng thêm năm trăm cỗ ngựa Yên, gọi là tạ ơn.”
“Hay lắm!” Công tử Phạm nghe vậy, vỗ bàn quyết định. “Vẫn là Quý Tử hào sảng, việc này cứ quyết như vậy!”
“Còn một việc nữa!” Quý Thanh thủng thẳng nói. “Đại tướng quân đã nghĩ tới việc giao nhận thế nào chưa?”
Công tử Phạm dường như chưa hề nghĩ tới chuyện này, lại ngẩn người ra. Hiện tại, hai nước Yên, Triệu đều đã dàn quân ở biên giới, tuy chưa giao chiến, song thế như nước lửa, Vũ Thành Quân dù muốn xuất số lương thảo này, song hắn sẽ nhận thế nào đây, thực là hóc búa.
“Đại tướng quân xem thế này có được không?” Quý Thanh dường như đã vạch sẵn kế sách trong đầu. “Trọng trấn biên giới Trọc Lộc là địa giới của chúa công, trong ấp có bố trí kho lương, trong kho chứa sẵn vạn thạch lương, năm trăm xe cỏ ngựa. Ngày tới, chúng tôi sẽ chuyển tiếp vào kho năm nghìn thạch lương, năm trăm xe cỏ ngựa, gom đủ số lượng đã hứa, sau đó sẽ báo lại với đại tướng quân. Đại tướng quân liền điều binh tập kích, chiếm lấy ấp này, việc lương thảo coi như đã xong. Binh sĩ giữ ấp đều là binh mã của chúa công, thấy quân của đại tướng quân kéo tới, sẽ lập tức bỏ thành mà chạy, đại tướng quân thứ nhất có thể chiếm được trọng trấn biên giới này dễ như trở bàn tay, lập nên chiến tích; thứ hai sẽ có được lương thảo, chẳng phải là vẹn cả đôi đường ư?”
Công tử Phạm gật đầu lia lịa, quay sang Vũ Thành Quân: “Ý công tử thế nào?”
“Ờ…” Vũ Thành Quân do dự một lát, mắt nhìn Quý Thanh, thấy hắn thần sắc điềm tĩnh, đành gật đầu. “Cứ làm theo ý Quý Tử!”
Công tử Phạm quay sang Quý Thanh: “Thế còn chuyện ngựa, giao nhận thế nào?”
“Sau khi đại tướng quân chuẩn bị ngựa xong xuôi, sẽ có một người buôn ngựa tên là Đầu Thích Tử tới nhận, đại tướng quân chỉ cần giao ngựa cho người này là được!”
“Được!” Công tử Phạm quyết đoán. “Cứ làm như vậy!”
Vừa ra khỏi cửa ải, Vũ Thành Quân không nhịn thêm được nữa, lập tức gọi Quý Thanh lại gần, trách cứ: “Lương thảo nhiều đến vậy, sao ngươi dám mở miệng là nhận lời ngay? Còn nữa, Trọc Lộc là trọng trấn biên giới của ta, nhân khẩu không dưới vạn hộ, sao lại dễ dàng dâng tặng người Triệu? Ngươi bảo bản cung phải giải thích thế nào với người Yên?”
“Người làm đại sự, không tiếc cái nhỏ!” Quý Thanh hạ giọng trả lời. “Quý Thanh làm như vậy, là bày mưu giúp chúa công. Chúa công cũng đã thấy, sáu vạn đại quân của tướng quân Tử Chi đã đóng trại ở Long Đoài, cách Vũ Dương không đầy trăm dặm. Có đại tướng Tử Chi bên cạnh, chúa công mưu đồ thế nào đây? Người Triệu tuy dàn quân ở biên giới, trên danh nghĩa lại là uy hiếp Trung Sơn, chứ không phải là chinh phạt nước Yên. Tử Chi án binh bất động, quân Triệu tự khắc không có lý do xuất kích. Nếu chúa công chủ động từ bỏ Trọc Lộc, công tử Phạm tham công tham lương, ắt xuất binh chiếm lấy. Lúc này chúa công hãy cầu cứu Tử Chi tướng quân, Tử Chi tất sẽ cứu viện, và thế là Yên, Triệu sẽ khai chiến. Yên, Triệu khai chiến, Kế Thành tất trống trải, nếu chúa công nhân lúc này khởi sự…”
Không đợi Quý Thanh nói tiếp, Vũ Thành Quân đã hiểu ra, vội gật đầu lia lịa, tung người nhảy lên ngựa, ra roi phi nước đại về phía trước.
Vào giờ Hợi đêm hôm sau, Yên Văn Công tuổi quá lục tuần đã mệt mỏi rã rời, được lão nội thần dìu đỡ, chậm chạp bước vào cung Cam Đường.
Cung Cam Đường là chính cung trong cung Yên. Phu nhân nước Yên Cơ Tuyết nghe tiếng bước chân, vội vã cùng thị nữ thân tín Xuân Mai ra cửa cung nghênh đón, mau chóng thế chỗ cho nội thần, mỗi người một bên dìu Văn Công bước vào chính tẩm, nhẹ nhàng giúp Văn Công cởi áo.
Đứng trước một Yên Văn Công già nua, rệu rã, Cơ Tuyết tuổi mới hai mươi ba càng thêm kiều diễm mơn mởn, tràn đầy sức xuân. Đã bảy năm trôi qua, song thời gian vẫn không thể thay đổi một sự thực, Cơ Tuyết chính là người phụ nữ xinh đẹp nhất trong cung thành. Đôi mắt nàng vẫn to tròn, long lanh như thuở tại Hàm Dương, cặp lông mày cong vút thi thoảng vẫn hơi nhíu lại, khiến giữa vầng trán vấn vương vài nét u buồn.
Tuy nhiên, nếu có con mắt tinh tường, vẫn sẽ phát hiện ra một vài thay đổi. Vẻ chân tình đã không còn thấy trong ánh mắt, nét ngây thơ hồn nhiên đã thiếu vắng trên vầng trán, nụ cười rạng rỡ cũng đã biến mất trên khuôn mặt nàng. Cơ Tuyết dường như đã trở thành một con người khác hẳn, trong vẻ dịu dàng đã toát lên sự lạnh lùng, trong ý hiền hoà đã lộ nét khôn ngoan sắc sảo, chẳng khác gì một con mèo hoang lang thang phiêu bạt, đơn độc chốn đồng không.
Quần áo Văn Công còn chưa cởi xong, lão nội thần đã bước vào, khẽ bẩm báo: “Muôn tâu chúa thượng, điện hạ cầu kiến!”
Yên Văn Công khẽ chau mày, sắc mặt không vui, chẳng buồn ngẩng đầu đã hỏi: “Muộn như vậy, điện hạ tới có việc gì?”
Lão nội thần đắn đo một lát, hạ thấp giọng nói: “Lão nô quan sát thần sắc của điện hạ, thấy có vẻ là việc hệ trọng!”
Yên Văn Công trầm ngâm một lát, tự mặc lại quần áo, quay sang lão nội thần nói: “Được, bảo điện hạ tới tiền sảnh yết kiến!”
Lão nội thần vội vã lui ra.
Yên Văn Công quay sang cười gượng với Cơ Tuyết, khẽ lắc đầu. Cơ Tuyết không nói gì, dịu dàng dìu ông đi về phía tiền sảnh bên ngoài tẩm cung. Khi tới gần cửa, Cơ Tuyết buông tay ra, lùi lại một bước, vòng tay nói: “Chúa thượng, thần thiếp xin đợi ở đây!”
Yên Văn Công đáp lễ: “Thật vất vả cho phu nhân!” Rồi bước ra khỏi cửa tẩm cung, tới tiền sảnh, ngồi vào chỗ.
Lão nội thần dẫn thái tử Cơ Tô tất tả bước vào. Cơ Tô quỳ xuống, khấu đầu hô: “Nhi thần khấu bái công phụ!”
Yên Văn Công chậm rãi hỏi: “Tô Nhi, đêm đã khuya, có chuyện gì cấp bách ư?”
Thái tử Tô đưa mắt nhìn lão nội thần và hai cung nữ đứng hầu bên cạnh, có vẻ ngần ngừ. Lão nội thần đang định lui ra, Yên Văn Công bèn xua tay, nói với thái tử: “Nói đi, ở đây không có người ngoài!”
Thái tử Tô lại do dự một lát, rồi đứng dậy, bước lên một bước, ghé sát tai Văn Công thì thầm vài câu.
Yên Văn Công sắc mặt từ từ sầm xuống, hơi thở bắt đầu hồn hển, hai mắt nhìn sững vào Cơ Tô, gằn từng tiếng: “Thực có chuyện này ư?”
Thái tử Tô lôi từ trong ống tay áo ra một tấm lệnh bài và một tờ mật báo, hai tay trình lên Văn Công, khẽ bẩm báo: “Đây là lệnh bài mà nghịch tặc dùng để ra vào đại doanh của quân Triệu, chi tiết cụ thể thế nào, nhi thần đã viết rõ trong mật báo!”
Yên Văn Công bóc mật báo, đọc kỹ một lượt, sắc mặt càng thêm khó coi, hồi lâu sau mới ngẩng lên hỏi: “Tô Nhi… làm sao con biết được những điều này?”
Thái tử Tô lộ vẻ đắc ý, đảo mắt nhìn quanh, khẽ nói: “Khởi bẩm công phụ, trong đám thị vệ thân cận của Tử Ngư có tai mắt của nhi thần, nhất cử nhất động của hắn đều nằm trong sự kiểm soát của nhi thần. Theo nhi thần biết, Tử Ngư gần đây chiêu binh mãi mã ở Vũ Dương, tập kết được hơn vạn giáp sĩ, vài nghìn ngựa tốt, muốn mưu đại sự. Lần này ngấm ngầm cấu kết với người Triệu, viện trợ cho người Triệu một vạn năm nghìn thạch lương thảo…”
Thái tử Tô còn chưa nói hết lời, Văn Công đã đưa tay lên ôm ngực, miệng thở hồng hộc, lát sau, hai mắt tối sầm, miệng hộc máu tươi, rú lên một tiếng thảm thiết, ngã gục xuống đất. Thái tử Tô không ngờ sự thể lại ra nông nỗi này, kinh hoàng thất sắc, khóc lớn mà gọi: “Công… công phụ…” Lão nội thần cũng đứng chết lặng, đang lúc kinh hãi, Cơ Tuyết từ trong tẩm cung chạy vụt ra, lao tới bên Yên Văn Công, ôm ông vào lòng, bấm vào nhân trung, gọi lớn: “Chúa thượng…” Rồi quay sang lão nội thần. “Mau lên, truyền thái y!”
Lão nội thần lúc này mới kịp định thần, quay sang cung nữ đang mặt mày tái mét, giục: “Mau lên, truyền thái y!” Khi hai cung nữ dẫn theo thái y cuống quýt chạy vào trong cung, Yên Văn Công cũng đã dần hồi tỉnh, từ từ mở mắt, nhìn thấy Cơ Tuyết mặt đẫm lệ đang ngồi cạnh, thì nước mắt cũng trào ra.
Thái y quỳ xuống, đưa tay bắt mạch Văn Công, chẩn đoán một hồi, đầu mày chau tít, đang định cất lời thì Văn Công đã xua tay, quay sang thái tử Tô vẫn đang quỳ dưới đất, nói: “Đi đi!”
Thái tử Tô thấy ánh mắt Văn Công nhìn thẳng vào mình, biết là đang nói với mình, thì ngẩn người kinh ngạc, rồi bái lạy, đứng dậy, hậm hực lui ra.
Trở về Đông cung, thái tử Tô vẻ bồn chồn lo lắng, đi tới đi lui trong phòng.
Một lúc sau, thái tử chau mày, ngồi xuống bàn viết một bức thư, đóng tỷ ấn, lớn tiếng gọi: “Người đâu!”
Nội tể Đông cung nghe tiếng, vội chạy vào: “Có thần!”
“Cho gọi Cơ Khoái lại đây!”
Một lát sau, trưởng tôn Cơ Khoái bước vào, dập đầu nói: “Nhi thần khấu kiến quân phụ.”
Cơ Khoái vừa tới tuổi đội mũ, tính tình đôn hậu, rất được cung nhân và triều thần yêu mến, lão Yên Công cũng rất yêu quý đứa cháu trai này. Thái tử Tô đưa mắt nhìn con trai, từ tốn hỏi: “Nghe nói con và Tử Chi tướng quân qua lại thân thiết, có chuyện này chăng?”
“Đúng vậy!” Cơ Khoái đáp lời. “Tử Chi và nhi thần khá thân thiết, bình thường tướng quân còn dạy nhi thần cưỡi ngựa bắn cung và sách lược dụng binh.”
“Vậy thì tốt!” Thái tử Tô giao mật thư cho Cơ Khoái. “Con mau lên đường ngay trong đêm nay, vòng qua Vũ Dương, trước khi trời sáng giao bức thư này cho Tử Chi tướng quân! Nhớ rằng, sự việc hệ trọng, nhất thiết không được để cho người ngoài biết!”
“Nhi thần xin ghi nhớ!”
Cơ Khoái cất thư, từ biệt cha, dẫn theo vài tên tuỳ tùng, ra lệnh mở cổng nam Kế Thành, gấp rút lên đường tới Long Đoài ngay trong đêm.
Kế Thành cách Long Đoài sáu trăm dặm, do phải đi vòng qua Vũ Dương, nên phải đi thêm năm mươi dặm nữa.
Đám Cơ Khoái ra roi thúc ngựa phi hết tốc lực, vào giờ Thân hôm sau thì tới Long Đoài, được Tử Chi đón đưa vào đại doanh trung quân.
Tử Chi là con trai thứ ba của Cơ Lịch, em trai thứ năm của Yên Công, từ nhỏ thông minh mẫn tiệp, văn tài võ lược môn gì cũng thích, đặc biệt đam mê binh pháp chiến trận, là người có tiền đồ nhất, cũng nhiều mưu lược nhất trong số con cháu họ hàng của Văn Công, rất được Văn Công trọng dụng. Do anh em Cơ Tô, Cơ Ngư bất hoà, nên Cơ Ngư tuy tinh thông binh pháp, song Văn Công lại không dám giao binh quyền cho hắn, bởi vậy ba năm trước, đã phong Tử Chi làm thượng tướng quân, thống lĩnh ba quân.
Tử Chi mới ngoài ba mươi, xét về vai vế thì cùng hàng với thái tử, là thúc phụ của Cơ Khoái, do vậy xưa nay vẫn luôn đối xử với Cơ Khoái như vãn bối, rất mực yêu mến. Hai bên hành lễ xong xuôi, lần lượt ngồi xuống, Tử Chi biết Cơ Khoái có việc hệ trọng, bèn lên tiếng trước: “Nhìn sắc mặt công tôn, lần này hẳn không phải đến đây để cưỡi ngựa bắn cung như mọi khi. Có việc gì, nói cho mạt tướng biết được chăng?”
Cơ Khoái lấy từ trong ống tay áo ra bức mật thư của Cơ Tô, đưa cho Tử Chi: “Gia phụ nhờ tại hạ đích thân giao thư này cho tướng quân!”
“Ồ, là mật thư của điện hạ!” Tử Chi vội tiếp lấy, bóc ra xem, thần sắc kinh hãi, chau tít đôi mày, một lát sau mới gấp thư lại, nhắm mắt suy nghĩ.
Nhìn thấy phản ứng của Tử Chi, Cơ Khoái vội hỏi: “Tướng quân, có việc hệ trọng ư?”
Tử Chi mở choàng mắt, ngỡ ngàng nhìn Cơ Khoái: “Những điều viết trong thư, lẽ nào công tôn không mảy may hay biết?”
Cơ Khoái lắc đầu.
“Than ôi!” Tử Chi thở dài một tiếng. “Không giấu công tôn, quốc nạn sắp tới rồi!”
Cơ Khoái kinh hãi hỏi: “Tướng quân hãy nói mau, là quốc nạn gì?”
“Vũ Thành Quân chiêu binh mãi mã ở Vũ Dương, đã chiêu mộ hơn vạn dũng sĩ, vài nghìn ngựa tốt, cấu kết với người Triệu, âm mưu phản nghịch. Người Triệu mượn cớ muốn đánh Trung Sơn, điều quân tới sát biên giới, muốn giúp Vũ Thành Quân mưu phản!”
“Vũ Thành Quân?” Cơ Khoái kinh hoảng kêu lên. “Tướng quân nói bá phụ muốn mưu phản ư?”
Tử Chi gật đầu.
“Bá phụ vì sao lại mưu phản?”
“Giành ngôi thái tử với điện hạ!”
Cơ Khoái im lặng hồi lâu, rồi hỏi: “Gia phụ muốn tướng quân làm gì?”
Tử Chi đưa thư cho Cơ Khoái: “Công tôn hãy đọc đi!”
Cơ Khoái cầm lấy thư, đọc lướt qua một lượt, bàng hoàng thốt lên: “Gia phụ muốn tướng quân quay sang vây đánh Vũ Dương?”
“Than ôi!” Tử Chi thở dài. “Kẻ thù áp sát biên giới, vậy mà người nhà lại đánh nhau trước!”
Cơ Khoái vội hỏi: “Tướng quân dự định thế nào?”
“Hỡi ôi!” Tử Chi lại thở dài. “Một bên là điện hạ, một bên là trưởng công tử, ai cũng là chúa công của mạt tướng, mạt tướng biết làm thế nào đây?” Ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng nhìn Cơ Khoái. “Công tôn lần này trở về, hãy chuyển lời tới điện hạ, nói rằng yêu cầu của điện hạ, mạt tướng thực sự khó lòng tuân lệnh! Mạt tướng nhận lệnh của chúa thượng, chỉ nghe theo ý chỉ của chúa thượng. Đừng nói là người Triệu ở bên cạnh, dù không có người Triệu, nếu không có hổ phù của chúa thượng, mạt tướng cũng không dám tự ý điều động dù chỉ một binh một tốt! Còn về tình hình tiền phương, công tôn hãy bẩm báo với điện hạ rằng, có mạt tướng ở đây, nhất định sẽ không để mất Trọc Lộc. Một vạn năm nghìn thạch quân lương của Vũ Thành Quân, dù là một hạt, người Triệu cũng không thể lấy đi!”
Thấy Tử Chi đặt nước trước nhà, coi quân chủ là tối cao, sắp xếp kín kẽ đâu ra đấy, Cơ Khoái gật đầu tán thành, nghỉ ngơi một đêm, sáng sớm hôm sau mới lên đường trở về Kế Thành.
Tử Chi sai thám mã âm thầm điều tra Trọc Lộc, quả nhiên thấy xe ngựa ùn ùn vận chuyển lương thảo từ Vũ Dương tới đó. Tử Chi lệnh cho phó tướng dẫn hai vạn hữu quân tới đóng trại ở vùng yết hầu cách Trọc Lộc bốn mươi dặm về phía tây, bố trí canh phòng cẩn mật, đồng thời truyền lệnh di chuyển đại doanh trung quân ba mươi dặm về phía Trọc Lộc, từ xa hô ứng với hữu quân, hình thành thế ỷ giốc, kiềm chế địch từ hai phía.
Cơ Khoái trở về, bẩm báo lại toàn bộ lời nói của Tử Chi không sót một chữ, rồi khuyên Cơ Tô rằng: “Quân phụ, kẻ địch lớn đang ở ngay trước mặt, người Yên sao có thể tự đánh nhau trước?”
Thái tử Tô lừ mắt nhìn Cơ Khoái: “Con trẻ người non dạ, hiểu cái gì?”
Cơ Khoái đang định can gián, thái tử Tô đã bực bội xua tay: “Khoái Nhi, con vừa trở về, hẳn cũng mệt rồi, mau về phòng nghỉ ngơi đi!”
Thấy bị chặn họng, Cơ Khoái đành phải cáo từ.
Cơ Khoái vừa đi khỏi, thái tử Tô hằm hằm tức giận, nói với nội tể: “Hừm, Tử Chi thực đáng ghét! Công phụ cho hắn trị binh, hắn lại bắt nhỏ thả lớn, đảo ngược đầu đuôi. Trọc Lộc cái gì mà Trọc Lộc, loạn Vũ Dương mới là gốc rễ!”
“Điện hạ!” Nội tể bước lên một bước. “Thần cho rằng, muốn để Tử Chi dẹp loạn, cũng không phải không thể.”
“Không có hổ phù, hắn chắc chắn không chịu xuất binh!”
Nội tể giọng đầy ẩn ý: “Cớ sao điện hạ không đi thỉnh cầu hổ phù giúp hắn?”
Thái tử Tô lừ mắt nhìn nội tể: “Ngươi cũng thực là! Nếu bản cung lấy được hổ phù, cần gì phải cầu xin hắn nữa? Dùng hổ phù để giết Tử Ngư, công phụ chắc chắn sẽ không chịu. Tử Ngư chính vì biết rõ điều này, nên mới ỷ thế làm càn.”
“Theo thần thấy…” nội tể hạ thấp giọng, “nếu điện hạ muốn có được hổ phù, lại không hề khó.”
Thái tử Tô trợn tròn mắt: “Có kế gì hay, nói mau!”
“Điện hạ, trong ngoài Yên cung, chúa thượng nghe lời ai nhất?”
“Ý ngươi là…” Thái tử Tô ngẩn người hồi lâu, mãi sau mới định thần trở lại, nện mạnh nắm đấm xuống bàn, hối tiếc thốt lên. “Ồ, sao bản cung lại quên mất người này nhỉ?”
***
Tại một nơi hẻo lánh cách cung thành không xa có một quán trọ nhỏ, trên cổng treo tấm biển đề ba chữ màu đen “Lão Yên Nhân” đã thu hút sự chú ý của Tô Tần lúc này đang đi dọc phố tìm quán trọ. Tô Tần dừng xe, tiến lại gần.
Một lão trượng nghe thấy tiếng xe ngựa, vội bước ra đón, cúi gập người cung kính: “Lão hủ xin chào khách quan!” Tô Tần vòng tay đáp lễ: “Vãn sinh xin chào ông chủ!” Rồi đưa mắt nhìn vào bên trong nhà trọ. “Xin hỏi ông chủ, có còn phòng trống không?”
“Còn, còn, còn!” Lão trượng đáp liền vài tiếng. “Quán trọ của lão đã lâu năm, bài trí cũ kỹ, lại ở nơi vắng vẻ, mấy năm trước làm ăn còn tạm, hai năm gần đây khách khứa vắng vẻ, từ đầu năm tới cuối năm, chẳng lúc nào được kín phòng. Sĩ tử nếu không chê, có thể vào trong xem thử!” Nghe lão trượng tự vạch áo cho người xem lưng, Tô Tần lấy làm cảm khái, đưa dây cương cho lão trượng: “Không cần xem, vãn sinh sẽ trọ ở chỗ lão trượng!”
Lão trượng quay đầu gọi tiểu nhị, bảo hắn đánh xe vào hậu viện, rồi quay sang nói với Tô Tần: “Sĩ tử, mời vào!” Tô Tần gật đầu, theo lão trượng bước vào quán trọ.
Lão trượng dẫn Tô Tần tới một dãy phòng, đẩy cửa nói: “Sĩ tử xem thử, khu nhà này có vừa ý chăng?”
Tô Tần bước vào trong, đưa mắt nhìn quanh, thấy khu nhà tuy không rộng, song sạch sẽ thoáng mát, bèn gật đầu nói: “Tốt lắm, vãn sinh sẽ ở đây!” Dừng lại một lát bèn hỏi. “Xin hỏi lão trượng, tiền phòng tính thế nào?”
“Một ngày ba xu tiền đồng, tiền cơm tính riêng.”
Nghe nói chỉ có ba đồng, Tô Tần gật đầu, thò tay vào trong ống tay áo, lần mò một hồi, lại chỉ sờ thấy vài xu đồng, trong lòng giật thột, cười ngượng nghịu mà nói: “Vãn sinh để tiền trong tay nải mất rồi!”
Lão trượng thấy vậy, cất giọng thực thà: “Tiền là chuyện nhỏ, sĩ tử cứ ở không phải băn khoăn. Lúc nào đi, trả tiền phòng cũng chưa muộn!”
Tô Tần vội vòng tay nói: “Tạ ơn lão trượng!”
Lão trượng đang định vái chào, bỗng nghe thấy tiếng người ồn ào từ bên ngoài vọng lại, tiếp đến là tiếng vận chuyển đồ đạc lịch kịch. Lão trượng thấy tiểu nhị cất xong xe ngựa, đang xách tay nải của Tô Tần bước lại, bèn dặn dò hắn: “Tiểu nhị, đợi sĩ tử sắp xếp xong, hãy dẫn ra trước nhà dùng bữa!” Nói đoạn, vòng tay chào Tô Tần, sau đó tiến lại chỗ khu nhà đang ồn ào.
Tô Tần sắp xếp xong đồ đạc, theo tiểu nhị đi ra phía trước, thấy hai người dáng dấp sĩ tử đã chuyển mấy rương hành lý ra giữa sân, một trong hai người đang trả tiền phòng cho lão trượng, còn người kia đứng đợi bên cạnh.
Trả tiền xong, hai người lại chưa vội đi ngay, mà tò mò nhìn Tô Tần một lượt từ đầu tới chân. Tô Tần thấy lạ, đang định lên tiếng, thì một người trông có vẻ lớn tuổi hơn vòng tay vái chào mà hỏi: “Nhân huynh đây hẳn là tới Yên mưu cầu tiền đồ?”
Tô Tần vòng tay đáp lễ, nói: “Tại hạ là Tô Tần người Lạc Dương, vừa mới tới nơi, còn phải nhờ hai vị nhân huynh đây chỉ bảo!”
Sĩ tử đó cười buồn, lắc đầu than vãn: “Than ôi, tới nước này rồi, còn chỉ bảo gì nữa! Tại hạ thực lòng khuyên nhân huynh, chớ nên lãng phí thời gian ở đây, nhân lúc còn chưa muộn, hãy đi đi!”
“Ồ?” Tô Tần ngạc nhiên hỏi. “Tại sao nhân huynh lại nói như vậy?”
“Không giấu nhân huynh,” sĩ tử đó chỉ vào người còn lại, “chúng tôi là anh em ruột, nhà ở Trung Sơn, dày công tu luyện thuật ngũ hành, biết lẽ âm dương biến hoá. Lần này tới Yên, vốn định mưu cầu một chức quan sai trong cung Yên, nào ngờ chờ đợi mỏi mòn đã vài tháng nay, đừng nói là gặp chúa thượng, ngay cả bên trong cửa cung hình thù thế nào cũng không hề biết!”
“Sao, nước Yên không muốn nạp sĩ ư?” Tô Tần sửng sốt hỏi.
Sĩ tử kia còn chưa kịp trả lời thì người em đã đặng hắng một tiếng, bắt chước giọng đuổi khách của vệ sĩ trước cửa cung: “Chúa thượng có chỉ, không tiếp khách!”
Sĩ tử kia lại cười buồn, không nói gì thêm nữa.
“Thì ra là vậy!” Tô Tần hít sâu vào một hơi, lại từ từ thở ra. “Hai vị nhân huynh định đi đâu?”
Người kia khẽ thở dài mà nói: “Trên người chẳng còn tiền bạc, không thể đi xa, nghe nói ở Vũ Dương đang chiêu mộ hiền tài rộng khắp, muốn tới đó kiếm miếng cơm ăn!”
“Vũ Dương?” Tô Tần sửng sốt. “Hai vị nhân huynh muốn tới đầu quân cho Vũ Thành Quân ư?”
Người em trai hào hứng nói: “Đúng vậy! Vũ Thành Quân chiêu hiền nạp sĩ ở Vũ Dương, sĩ tử tới Yên đa phần đều tới đầu quân cho ông ta. Tháng trước, tại hạ vốn đã định đi rồi, song anh trai tại hạ dứt khoát không chịu. Chờ đợi tới hôm nay, anh ấy cũng chẳng còn gì để nói, đành phải theo con đường này. Nhân huynh, nếu như muốn tới Vũ Dương, chúng ta hãy kết bạn cùng đi.”
“Tạ ơn ý tốt của nhân huynh!” Tô Tần ôm quyền hướng về phía hai anh em họ, mỉm cười mà nói. “Tại hạ đã tới thành này, dù thế nào, cũng quyết xem cho bằng được bên trong cửa cung hình dạng ra sao!”
Hai anh em người kia lắc đầu ngán ngẩm, vòng tay từ biệt, mỗi người cõng một túi nặng, theo đường lớn mà đi.
Sáng hôm sau, Tô Tần tới cung thành rất sớm, từ xa đã nhìn thấy hai hàng vệ sĩ mỗi bên tám người cầm kích đứng canh hai bên cánh cổng sơn son. Tô Tần bước lại gần, ngay lập tức có hai vệ sĩ giương kích chặn lại. Tô Tần cúi gập người vái chào, rồi lấy từ trong ống tay áo ra tấm bái thiếp đã chuẩn bị từ trước, đưa cho vệ sĩ. Vệ sĩ chẳng buồn xem đã đẩy trả lại, lớn tiếng báo tin. Nghe thấy tiếng bẩm báo, một môn uý từ phòng bên bước ra, săm soi Tô Tần một lượt, rồi dài giọng hỏi: “Ngươi là ai?”
Tô Tần vòng tay nói: “Sĩ tử Lạc Dương Tô Tần!” Rồi hai tay trình lên bái thiếp.
Môn uý cầm lấy bái thiếp, vừa xem, vừa hỏi: “Tô Tử tới đây, muốn gặp ai? Làm gì?”
“Tại hạ có quốc sự trọng đại, cầu kiến Yên Công!”
Môn uý hừ mũi một tiếng, đưa trả lại bái thiếp, rồi kéo dài giọng: “Chúa thượng có chỉ, không tiếp khách!” Nói đoạn quay người đi luôn, không buồn đáp lễ.
Tô Tần suy nghĩ một lát, rồi đi men theo cung thành tới vài cánh cổng khác, chỗ nào cũng dừng lại hỏi, quả đúng như hai anh em sĩ tử kia đã nói, môn uý chẳng buồn hỏi đầu cua tai nheo, lập tức phán ngay một câu: “Chúa thượng có chỉ, không tiếp khách!”
Tô Tần sau vài lần uổng công, đành buồn bực quay trở về nhà trọ, đóng cửa phòng lại, suy nghĩ xem nên bắt tay từ đâu.
Yên Văn Công quả thực không thể tiếp khách.
Trong chính điện của cung Minh Quang, Văn Công nằm lặng trên giường, hai mắt nhắm nghiền, sắc mặt nhợt nhạt, toàn thân bất động, giống như người sắp chết.
Cơ Tuyết ngồi trước giường, khẽ ngâm nga một làn điệu dân ca nước Yên:
“Cây non Yên xanh xanh chừ,
Người ấy ra đi.
Cây non Yên khô úa chừ,
Sao chẳng thấy về…”
Đây là khúc dân ca tưởng nhớ chinh nhân của người Yên, do một cung nữ già dạy cho Cơ Tuyết cách đây không lâu. Lúc này, không hiểu Cơ Tuyết nghĩ tới chuyện gì mà lại cất giọng ngâm nga. Khúc ca vốn đã bi thương, lại qua giọng ngâm của Cơ Tuyết, càng thêm sầu thảm. Văn Công lắng nghe một hồi, hai hàng lệ đục bỗng trào ra khoé mắt, bèn đưa tay ra, nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của Cơ Tuyết, siết chặt. Do Văn Công vận lực quá mạnh, khiến Cơ Tuyết phải cắn răng chịu đau, để yên ông nắm thêm một lát, mới dịu dàng nói: “Chúa thượng, người tỉnh rồi ư?”
Văn Công dường như cũng đã nhận ra, vội thả lỏng bàn tay, mở choàng mắt, nhìn Cơ Tuyết với vẻ xót thương: “Phu nhân, quả nhân làm nàng đau rồi!”
Giọng Cơ Tuyết càng thêm dịu dàng: “Chúa thượng, người… khóc ư?” Nói rồi rút tay ra, lấy mảnh khăn lụa thấm lệ bên khoé mắt ông.
Văn Công gượng cười nói: “Phu nhân hát thực hay!”
Cơ Tuyết đáp lời: “Là nhờ chúa thượng nhân từ!” Rồi quay sang Xuân Mai. “Chúa thượng đã tỉnh, mau mang thuốc vào!”
Hai cung nữ kẻ trước người sau bưng khay bước vào, một khay đặt bát thuốc, một khay đặt chén trà mật ong. Xuân Mai đón lấy, Cơ Tuyết cầm thìa, múc lên nếm thử, rồi nói khẽ: “Chúa thượng, thần thiếp đã nếm thử rồi, không quá đắng, độ ấm vừa phải!”
Văn Công xua tay bảo Cơ Tuyết để xuống.
Cơ Tuyết tay bưng bát thuốc, khẩn cầu: “Chúa thượng… người hãy nể mặt Tuyết Nhi mà gắng uống đi!”
“Hỡi ôi!” Văn Công thở dài buồn bã, lắc đầu nói. “Phu nhân không biết đấy thôi, bệnh của quả nhân, thuốc gì cũng không thể trị nổi!”
Cơ Tuyết nước mắt đầm đìa, từ từ quỳ xuống: “Chúa thượng!”
Cơ Tuyết đang định khuyên can, thì lão nội thần bước vào, đứng bên cửa đặng hắng một tiếng, khẽ gọi: “Phu nhân!”
Cơ Tuyết ngoảnh nhìn, thấy lão nội thần vẫy tay ra hiệu với mình, dường như có việc quan trọng. Cơ Tuyết thoáng ngạc nhiên, đặt bát thuốc xuống, đứng dậy bước ra. Lão nội thần ghé sát tai Cơ Tuyết thầm thì vài câu, Cơ Tuyết thoạt tiên sửng sốt, sau đó nhìn về phía Yên Công, do dự không quyết.
Lão nội thần lại đưa tay ra hiệu, có ý giục giã Cơ Tuyết mau chóng ra ngoài. Cơ Tuyết không còn cách nào khác, đành phải đi theo ông ta. Vừa ra khỏi cửa điện, lão nội thần đã nói ngay: “Phu nhân hãy đi mau, điện hạ đang đợi phu nhân ở thiên điện phía trước!”
Nghe nhắc tới điện hạ, Cơ Tuyết sững người lại, dừng bước, đưa ánh mắt lạnh lẽo nhìn lão nội thần: “Bản cung và điện hạ xưa nay chưa từng qua lại, điện hạ tìm bản cung có việc gì?”
“Lão nô cũng không biết!” Lão nội thần đáp. “Có điều, nhìn dáng vẻ của điện hạ, hẳn là có chuyện hệ trọng. Theo lão nô thấy, dù là chuyện gì, phu nhân cũng nên thử gặp điện hạ xem sao.”
Cơ Tuyết ngẫm nghĩ một lát, rồi quyết định đi theo lão nội thần tới thiên điện.
Vừa tới cổng điện, đã thấy thái tử Tô bước ra nghênh đón, rồi lập tức quỳ phịch xuống đất, dập đầu lia lịa, bật khóc thất thanh: “Mẫu hậu!”
Nhìn thấy thái tử đương triều hơn mình tới gần hai chục tuổi lại quỳ rạp xuống đất gọi mình là mẫu hậu, Cơ Tuyết bối rối trong lòng, ngượng ngùng nói: “Điện hạ hãy mau đứng dậy!”
Thái tử Tô vừa khóc vừa nói: “Mẫu hậu, người hãy mở lòng từ bi, cứu lấy nước Yên!”
Cơ Tuyết kinh ngạc hỏi: “Nước… nước Yên làm sao?”
“Mẫu hậu, Tử Ngư rắp tâm làm phản ở Vũ Dương, sắp đánh vào Kế Thành rồi!”
Cơ Tuyết mặt biến sắc: “Tử Ngư ư… Chuyện này làm sao có thể!”
“Sự thực đã rành rành, mẫu hậu!” Thái tử Tô giọng càng gấp gáp. “Tử Ngư chiêu mộ vài vạn binh ở Vũ Dương, nay lại ngấm ngầm cấu kết với người Triệu, sắp khởi binh tấn công Kế Thành, uy hiếp cung thành!”
Cơ Tuyết dần trấn tĩnh lại, điềm đạm nhìn thái tử Tô: “Điện hạ, nếu Tử Ngư thực sự sắp đánh tới, bản cung phận gái yếu đuối, có thể làm được gì đây?”
“Mẫu hậu!” Thái tử Tô lại bái lạy sát đất. “Nhi thần thỉnh cầu mẫu hậu cầu xin công phụ ban hổ phù, điều động đại quân của Tử Chi về phòng ngự Kế Thành. Nếu không, Kế Thành khó lòng giữ nổi, mẫu hậu…”
“Ý điện hạ là muốn… hổ phù?”
“Phải phải phải, là hổ phù! Nhi thần đã tới thỉnh cầu tướng quân Tử Chi, song Tử Chi khăng khăng đòi nhi thần phải có được hổ phù của công phụ, nếu không, Tử Chi sẽ không chịu xuất binh.”
Cơ Tuyết do dự một lát, cuối cùng cũng tìm được lý do thoái thác, từ tốn nói. “Tự cổ chí kim, phận nữ nhi không được phép can dự chính sự, hành binh chinh phạt là quốc gia đại sự, điện hạ nên tự bẩm báo lên chúa thượng, sao có thể bảo một nữ tử hậu cung mở miệng cho được?” Nói đoạn, liền quay gót bước ra ngoài cửa.
Thái tử Tô như thể phát cuồng, lập tức bổ nhào về phía trước, túm chặt lấy gấu váy Cơ Tuyết không buông, dập đầu bình bịch như giã tỏi, khóc rống lên: “Mẫu hậu!”
“Điện hạ!” Cơ Tuyết vừa xấu hổ vừa cuống quýt, giậm chân nói. “Điện hạ… thật chẳng ra sao, mau đứng dậy đi!”
Thái tử Tô càng thêm điên khùng, hai tay ôm chặt lấy chân Cơ Tuyết, vừa ra sức dập đầu, vừa gào lên thật lớn: “Mẫu hậu, nếu mẫu hậu không đồng ý với nhi thần, nhi thần… nhi thần sẽ quỳ đến chết tại đây, không bao giờ đứng dậy nữa!”
“Được rồi! Được rồi!” Cơ Tuyết sợ quá đáp bừa. “Ta đồng ý, ta đồng ý. Điện hạ đứng lên… mau đứng lên!”
Thái tử Tô mừng rơi nước mắt, buông hai tay ra, lại bái lạy mà nói: “Nhi thần khấu tạ mẫu hậu!”
Cơ Tuyết nào dám nghe Cơ Tô nói thêm gì nữa, chỉ chờ có thế, lập tức lách người chạy vội ra khỏi cửa, lao như bay về phía chính điện. Khi tới gần cửa điện, Cơ Tuyết mới dừng bước, tựa vào cột hành lang hổn hển một hồi, gắng điều hoà hơi thở, trấn tĩnh lại tinh thần, rồi mới bước vào , đi tới trước giường Văn Công.
Văn Công mở mắt, hỏi: “Phu nhân, hình như nàng có chuyện gì?”
Cơ Tuyết mặt đỏ bừng, ấp úng nói: “Không… không có gì!”
“Nói đi!” Văn Công điềm tĩnh nhìn Cơ Tuyết. “Không có gì phải ngại!”
Cơ Tuyết đã trấn tĩnh trở lại: “Là điện hạ muốn gặp thần thiếp.”
“Tô Nhi?” Văn Công sửng sốt, gắng gượng ngồi dậy, nhìn chằm chằm vào Cơ Tuyết. “Gặp nàng có việc gì?”
“Chúa thượng!” Cơ Tuyết ngẫm nghĩ một lát, quyết định nói thật. “Điện hạ muốn thần thiếp xin chúa thượng ban cho hổ phù, nói là…”
Không đợi Cơ Tuyết nói hết câu, Văn Công lập tức xua tay: “Đừng nói nữa! Tô Nhi mà tới, chỉ có chuyện này mà thôi! Nói thực, chỉ cần quả nhân còn sống trên đời này ngày nào, dứt khoát sẽ không giao hổ phù cho Tử Tô!”
Cơ Tuyết lấy làm kinh ngạc: “Tử Tô quý làm thái tử, sau khi chúa thượng trăm năm, đừng nói là hổ phù, ngay cả giang sơn xã tắc này cũng thuộc về thái tử, chúa thượng giao sớm một ngày hay muộn một ngày, chẳng phải kết quả vẫn giống nhau ư?”
“Than ôi!” Văn Công thở dài một tiếng. “Phu nhân có điều không biết, một khi hổ phù nằm trong tay Tử Tô, nước Yên sẽ phải hứng chịu một trường máu lửa!”
Nghe Văn Công nói ra lời này, Cơ Tuyết mới nhận ra sự việc nghiêm trọng, ngẫm nghĩ một lát, bèn nói: “Thần thiếp nghe điện hạ nói, Tử Ngư hiện chiêu binh mãi mã ở Vũ Dương, mưu đồ làm phản. Ngộ nhỡ hắn khởi binh đánh trước, nước Yên chẳng phải cũng sẽ gặp hoạ máu lửa hay sao?”
Văn Công cúi đầu xuống, không biết bao lâu sau, mới lại thở dài một tiếng mà nói: “Hỡi ôi, đây cũng chính là nỗi lo lắng của quả nhân. Không giấu phu nhân, nỗi khổ tâm này của quả nhân, nếu nói với phu nhân, sợ rằng phu nhân sẽ lo nghĩ. Còn không nói ra, thực sự khiến quả nhân trầm uất khó lòng chịu nổi.”
“Chúa thượng!” Cơ Tuyết bước lại, ngồi xuống bên mép giường. “Nếu chúa thượng không nhịn nổi nữa, xin hãy nói ra!”
“Nghĩ đi nghĩ lại…” Văn Công nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của Cơ Tuyết, xúc động thốt lên, “trên đời này, có lẽ chỉ còn phu nhân có thể chia sẻ âu lo với quả nhân!” Mắt nhìn Cơ Tuyết, dòng lệ tuôn rơi, lại than thở. “Than ôi, phu nhân, vạn nhất xảy ra bi kịch cốt nhục tương tàn, chính là lỗi của quả nhân!”
Cơ Tuyết sửng sốt: “Chúa thượng cớ sao lại nói vậy?”
“Nói ra thì dài lắm!” Văn Công chậm rãi nói. “Quả nhân và tiên phu nhân Triệu Cơ có với nhau hai người con trai, là song sinh. Tử Ngư ra trước, là con trưởng, Tử Tô ra sau, là con thứ. Hai anh em tuy là song sinh, song tính tình lại trái ngược. Tử Ngư thượng võ, Tử Tô thượng văn. Chiếu theo phép tắc của Yên thất, quả nhân lý ra phải lập Tử Ngư làm thái tử.”
Văn Công ho một tiếng, Cơ Tuyết vội bưng một chén nước lại, đưa lên miệng Văn Công: “Chúa thượng vì sao lại không lập Tử Ngư?”
Văn Công than thở: “Quả nhân vốn muốn lập Tử Ngư, song Tử Ngư từ nhỏ luyện võ công, thích đánh đấm chém giết, nói năng thẳng thắn bộc trực, không như Tử Tô, đọc sách hiểu lễ, ăn nói khéo léo, dần dần đã chiếm được cảm tình của quả nhân. Vào năm hai anh em chúng mười sáu tuổi, quả nhân trong một lần kích động, đã bất chấp quần thần phản đối, kiên quyết lập Tử Tô làm thái tử. Tử Ngư cho rằng ngôi thái tử lý ra phải thuộc về mình, trong lòng ấm ức, bèn cầu xin phong cho đất Vũ Dương. Triệu Cơ cho rằng quả nhân không phải với Tử Ngư, đã khẩn cầu giúp Tử Ngư. Quả nhân cũng cảm thấy mình có lỗi, nên đã ưng thuận, phong Tử Ngư làm Vũ Thành Quân.”
Cơ Tuyết ngẫm nghĩ một lát, hỏi tiếp: “Tử Ngư vì sao lại thỉnh cầu phong đất Vũ Dương?”
“Vũ Dương giống như Tấn Dương của nước Triệu, là cố đô nước Yên, còn gọi là hạ đô. Ở nước Yên, ngoài Kế Thành, Vũ Dương là thành rộng nhất, đất đai màu mỡ, lương thực dồi dào, dân cư đông đúc, trong nối thông với Kế Thành, ngoài tiếp giáp Tề, Triệu, Trung Sơn, là vùng đất then chốt. Nếu mưu phản, tiến có thể tấn công Kế Thành, lùi có thể dựa vào Trung Sơn, Triệu, Tề, cắt đất chiếm cứ.”
“Nói như vậy, Tử Ngư cầu Vũ Dương là có kế sách lâu dài?”
“Đúng vậy!” Văn Công gật đầu. “Sau khi Triệu Cơ qua đời, quả nhân biết Tử Ngư đã thay lòng đổi dạ, từng khuyên răn Tử Ngư. Nào ngờ Tử Ngư đã không nghe, ngược lại còn sinh lòng oán hận, không những không vào triều, còn ngấm ngầm cấu kết với người Triệu, rắp tâm mưu phản!”
“Chúa thượng có lẽ đã lo lắng thái quá rồi! Theo thần thiếp thấy, Tử Ngư là người thẳng thắn, hẳn sẽ không làm ra chuyện như vậy!”
“Than ôi!” Văn Công thở dài sườn sượt. “Tử Ngư vốn dĩ không đến nỗi này. Song mấy năm qua, Tử Ngư đã bị mưu thần Quý Thanh xúi bẩy, dần dần thay đổi rồi.”
“Quý Thanh? Quý Thanh là ai kia?”
“Quý Thanh là con trai Quý Vỹ, tư đồ trước đây của quả nhân. Huynh đệ tranh giành, triều thần phân làm hai phe, hoặc ủng hộ Tử Tô, hoặc ủng hộ Tử Ngư. Quả nhân lập Tử Tô, những triều thần ủng hộ Tử Ngư ra sức phản đối, đặc biệt là tư đồ Quý Vỹ, năm lần bảy lượt khuyên can quả nhân, song quả nhân không nghe, nên đã tức giận từ quan, u uất mà qua đời. Quý Thanh mai táng cha xong, bán hết gia sản, cho người hầu kẻ hạ về quê, một mình tới Vũ Dương, trợ giúp Tử Ngư giành lại ngôi thái tử, nhằm thực hiện di nguyện của cha. Kẻ này hoài bão lớn lao, đầy mình thao lược, thủ đoạn nham hiểm, là một kẻ đáng gờm, Tử Ngư đã bị hắn mê hoặc, nhất nhất nghe theo lời hắn!”
Cơ Tuyết dường như đã hiểu rõ nguyên nhân, lại suy nghĩ một hồi, rồi an ủi: “Chúa thượng đã lập Tử Tô làm thái tử, hẳn là do trời cao an bài. Tử Ngư nếu thực sự dám làm phản, ắt sẽ bị trời trừng phạt. Chúa thượng chớ tự trách mình mà tổn thương tới long thể!”
“Than ôi, phu nhân có điều không biết, nỗi khổ tâm thực sự của quả nhân vẫn không phải chuyện này!”
Cơ Tuyết ngỡ ngàng hỏi: “Ngoài chuyện này, lẽ nào chúa thượng còn có nỗi khổ tâm nào khác?”
Văn Công im lặng hồi lâu, sắc mặt rầu rĩ: “Mấy năm qua, quả nhân đã suy xét kỹ rồi, có lẽ Quý Vỹ đã nói đúng, quả nhân, than ôi, có lẽ đã chọn lầm người rồi!”
Cơ Tuyết giật mình kinh ngạc: “Chúa thượng muốn nói tới… điện hạ?”
Văn Công không trả lời mà hỏi ngược lại: “Phu nhân thấy Tô Nhi thế nào?”
Từ sau khi vào cung Yên, người Cơ Tuyết không muốn gặp nhất chính là thái tử Tô, bởi lẽ mỗi khi gặp nàng, thái tử Tô lúc nào mắt cũng hau háu, dán chặt vào nàng, khiến Cơ Tuyết vô cùng khó chịu. Hành động vừa rồi của Cơ Tô càng khiến Cơ Tuyết sợ hãi chưa nguôi, song lúc này Văn Công hỏi đến, Cơ Tuyết lại không biết nói gì, chỉ trả lời qua loa cho xong chuyện: “Thần thiếp xưa nay không qua lại với điện hạ. Thi thoảng gặp mặt, điện hạ một điều mẫu hậu, hai điều mẫu hậu, thần thiếp… thần thiếp kém điện hạ nhiều tuổi, nghe điện hạ gọi thân mật như vậy, cũng thấy ngượng tai, nên thường cố ý tránh mặt điện hạ!”
“Đó chỉ là vẻ bề ngoài!”
“Vẻ bề ngoài?”
“Đúng vậy!” Văn Công khẳng định. “Sự việc tới ngày hôm nay, quả nhân mới biết bản tính của Tô Nhi bỉ ổi đê tiện, nhưng… phu nhân, quả nhân thực sự… thực sự… tiến thoái lưỡng nan!”
“Đạo trời thuận theo tự nhiên!” Cơ Tuyết an ủi. “Chúa thượng đã tận tâm rồi, còn chuyện trong tương lai, hãy thuận theo ý trời.”
Văn Công gật đầu, âu yếm nhìn Cơ Tuyết: “Phu nhân… mà thôi, không nói là hơn!”
“Chúa thượng có điều gì, xin hãy nói ra!”
“Hỡi ôi!” Văn Công than thở. “Quả nhân già rồi, lực bất tòng tâm. Nếu được trẻ thêm vài tuổi, có thể cùng phu nhân sinh hạ một công tử, để nàng đích thân nuôi dạy, thì ngày hôm nay đâu phải phiền muộn thế này?”
Cơ Tuyết xấu hổ đỏ bừng mặt, nước mắt tràn mi, khẽ gọi: “Chúa thượng!”
***
Tô Tần dậy từ rất sớm, ra ngoài đi dạo.
Dù ngoài mặt Tô Tần vẫn bình thản như không, song trong lòng lại lo lắng không yên. Cho dù có tiết kiệm đến mấy, mỗi ngày ít nhất cũng phải ăn hai bữa, đã mấy hôm rồi, trong túi Tô Tần không còn lấy một xu. Tiểu Hỷ vốn đưa cho Tô Tần hơn trăm xu tiền đồng, lúc ở Hàm Đan tuy không tiêu là bao, song trên đường tới Kế Thành, lại tiêu đáng kể. Thứ nhất ăn uống dọc đường, thứ hai nuôi ngựa, thứ ba thuê quán trọ, đều là những khoản không thể tiết kiệm, do vậy khi gần tới Kế Thành, trong túi Tô Tần chỉ còn lại vài đồng. Tô Tần nói với lão trượng tiền ở trong tay nải, chỉ là thoái thác. May mà lão trượng nhân hậu thực thà, không bắt Tô Tần trả tiền trọ trước, nếu không, chắc hẳn đã phải một phen bẽ mặt.
Hiện tại, việc cấp bách là làm thế nào gặp được Cơ Tuyết càng sớm càng tốt. Hầu bao rỗng tuếch là chuyện nhỏ, tình thế nguy cấp mới là chuyện chính. Nghe Giả Xá Nhân nói nước Yên đang xảy ra nội tranh, trong lòng Tô Tần bỗng có mối linh cảm, Cơ Tuyết đang cần tới mình, nước Yên cần tới mình, bởi vậy Tô Tần cần phải xuất hiện để ngăn chặn cuộc phân tranh này. Một khi nước Yên xảy ra nội chiến, không chỉ một mình Cơ Tuyết bị tổn thương, mà dân chúng nước Yên cũng sẽ gặp nạn.
Hơn nữa, nếu nhìn rộng hơn, bất luận Vũ Thành Quân có thành công hay không, nước Yên vẫn sẽ bất hoà với Triệu, điều này sẽ gây hại tới sách lược hợp tung của Tô Tần.
Gần tới giờ Ngọ, Tô Tần vẫn đi đi lại lại trên phố. Mấy ngày nay, Tô Tần đang nát óc suy tính làm thế nào mới vào được cung thành yết kiến Yên Công, song vẫn chưa tìm ra cách hay. Yên Công đổ bệnh nằm liệt giường, cự tuyệt tiếp khách, cũng không lên triều, đừng nói là Tô Tần, dù là đại phu trong triều cũng chỉ có thể ở yên trong phủ đợi chỉ. Tô Tần lại xưng là người quen cũ của phu nhân nước Yên cầu kiến Cơ Tuyết, song do thủ uý các cổng cung đều đã quen mặt Tô Tần, nên không chịu tin.
Theo như suy đoán của Tô Tần, bệnh của Yên Công có nguyên nhân bởi loạn cục hiện tại của Vũ Dương. Giải quyết loạn cục này thế nào, đối với Tô Tần chỉ là chuyện nhỏ, song nếu không gặp được Yên Công, đối sách có hay đến mấy cũng là vô dụng.
Đi lại hồi lâu, Tô Tần bụng đã đói cồn cào. Tô Tần biết đã tới giờ cơm trưa, đưa mắt nhìn quanh, thấy quán xá hai bên đường hoặc đang ăn cơm, hoặc đang dọn cơm, trên phố loáng thoáng nghe tiếng mẹ gọi con về dùng bữa. Người đi lại trên phố bắt đầu tấp vào quán bên đường, mùi thức ăn bốc lên ngào ngạt, từ phía đều là cảnh nhai nuốt.
Tô Tần nuốt nước bọt đánh “ực”, quay bước trở lại, lát sau thì về tới quán trọ Lão Yên Nhân, trong sảnh đã có vài vị khách đang ngồi ăn, trên bàn bày đầy rượu thịt. Mọi người trò chuyện rôm rả, miệng nhai nhồm nhoàm.
Lão trượng ngồi im lặng trước quầy hàng, thấy Tô Tần bước vào, cũng không nói gì, chỉ nhìn Tô Tần chằm chằm. Tô Tần mỉm cười với lão trượng thay cho lời chào, rồi lẳng lặng đi qua phòng ăn, cũng chẳng buồn nhìn đám thực khách, đi thẳng về phòng.
Vào trong phòng, Tô Tần múc một gáo nước lạnh, ngửa cổ uống ừng ực, rồi tới bên giường ngồi xuống, nhắm mắt dưỡng khí.
Một canh giờ trôi qua, bên ngoài vọng lại tiếng bước chân. Có người gõ cửa.
Tô Tần ngạc nhiên, mở choàng mắt, từ từ đứng dậy, ra mở cửa, thì ra là tiểu nhị.
Tiểu nhị vòng tay nói: “Tô gia, ông chủ có lời mời!”
Tô Tần trong lòng giật thột, bỗng nhớ tới lão chủ quán độc địa ở Hàm Dương trước đây, nghĩ thầm trong bụng: “Chủ quán trọ đều xấu bụng như nhau, nhìn ánh mắt vừa rồi của lão trượng, hẳn là đã đoán ra sự tình, chắc sợ mình không trả nổi tiền phòng đây!”
Nghĩ là vậy, Tô Tần liền sầm mặt xuống, cất giọng lạnh tanh: “Hôm kia thuê phòng trọ, ông chủ ngươi đã nói rằng, tiền trọ lúc nào không thuê nữa thì tính một thể, ngươi…”
Không đợi Tô Tần nói hết câu, tiểu nhị đã bật cười: “Tô gia nghĩ đi đâu thế, ông chủ tôi không phải muốn đòi tiền trọ!”
Tô Tần thầm ngạc nhiên, cũng cảm thấy mình quá hấp tấp, bèn cười ngượng nghịu, không hỏi gì thêm nữa, tiện tay đóng cửa phòng lại, theo tiểu nhị đi vào trong sảnh.
Thực khách đã đi hết, lão trượng ngồi ngay ngắn sau bàn, trên bàn bày bốn đĩa thức ăn thường ngày của người Yên, một hũ rượu và hai chén đồng tinh xảo đã rót đầy rượu.
Lão trượng vẫn ngồi nguyên tại chỗ, vòng tay đáp lễ: “Lão hủ đã làm phiền Tô Tử!” Chỉ tay vào vị trí đối diện. “Tô Tử, mời ngồi!”
Tô Tần không biết lão trượng có ý gì, lại vòng tay: “Lão trượng có gì sai bảo, xin cứ nói!”
Lão trượng mỉm cười: “Tô Tử cứ ngồi xuống đã!”
Tô Tần bước tới chỗ đối diện, khoanh chân ngồi xuống, hai mắt nhìn thẳng vào lão trượng.
Lão trượng ung dung nói. “Hôm nay lão hủ vừa tròn sáu mươi tuổi, đã sống được một vòng Giáp Tý, cũng coi là đại hỷ. Lão hủ trong lòng vui vẻ, nên chuẩn bị vài món đạm bạc, một vò rượu nhạt để chúc mừng. Tô Tử là quý nhân, nên lão hủ mạo muội mời Tô Tử một chén, gọi là lấy may, mong Tô Tử đồng ý.”
Trực giác của Tô Tần hoàn toàn có thể cảm nhận được thành ý chân thực trong lời nói của lão trượng, trong lòng bỗng thấy chua xót, khoé mắt cay sè, giọng nói có phần nghẹn ngào: “Lão trượng!”
Lão trượng dường như không nhận ra, chỉ vào chén rượu trước mặt, cười nói: “Hai chiếc chén đồng này không phải vật tầm thường, vốn đều là vật trong cung. Nếu không gặp dịp tết nhất, cúng tế tổ tiên, thì lão hủ không nỡ mang ra dùng. Hôm nay, cũng coi là ngày đại hỷ, nên lấy ra cung kính mời Tô Tử!” Rồi nâng một chén lên. “Tô Tử, mời!” Nhìn vẻ mặt hiền từ, chân thành của lão trượng, Tô Tần cũng đã trấn tĩnh trở lại, bưng chén rượu lên, vòng tay chúc mừng: “Vãn sinh cung chúc lão trượng, chúc lão trượng thọ sánh núi cao, phúc như biển lớn!”
Hai người nhìn nhau, cùng cười, uống cạn.
Lão trượng đặt chén rượu xuống, cầm đũa lên, liên tục gắp thức ăn bỏ vào chiếc đĩa trước mặt Tô Tần, cười nói: “Những món này đều do lão hủ tự tay nấu nướng, cũng coi như là hương vị đất Yên, mời Tô Tử thưởng thức!”
Tô Tần gắp vài miếng, lần lượt nếm thử, tấm tắc khen: “Ồ, sắc hương vị đầy đủ, quả là món ngon chốn dân gian!”
“Tạ ơn Tô Tử quá khen!” Lão trượng vừa nói, vừa tiếp thức ăn cho Tô Tần.
Hai người ăn uống, chuyện trò vui vẻ.
Khi vò rượu sắp trơ đáy, lão trượng móc từ trong ống tay áo ra một túi tiền, đẩy tới trước mặt Tô Tần: “Tô Tử sớm tối ra ngoài, không thể không có đồng nào trong túi. Túi tiền này, Tô Tử hãy tạm cầm lấy!”
“Lão trượng!” Tô Tần vô cùng bối rối, vội vã đẩy trả về. “Chuyện này… làm sao có thể?”
“Sao lại không thể?” Lão trượng lại đẩy lại, cười vang mà nói. “Chỉ là mấy đồng xu lẻ thôi mà!”
Tô Tần nhìn chăm chăm vào lão trượng, thấy lão tình cảm chân thành, không có vẻ gì là đùa cợt, thì vô cùng cảm kích, bèn quỳ sụp xuống tạ ơn: “Lão trượng ở trên, xin nhận của vãn sinh một lạy!” Rồi lạy liền ba lạy. “Đại ân của lão trượng, Tô Tần sẽ có ngày hậu tạ!”
“Tô Tử mau đứng dậy!” Lão trượng vội vã đứng lên, kéo Tô Tần dậy. “Tô Tử là quý nhân, lão hủ sao dám nhận đại lễ của Tô Tử? Hơn nữa, chút tiền cỏn con này, Tô Tử không chê là may rồi, nói gì tới hậu tạ? Lão hủ cũng đã sắp về với đất, giữ mấy đồng lẻ bên mình chẳng để làm gì, Tô Tử cầm lấy, có thể tạm thời giải quyết khó khăn trước mắt!”
Tô Tần vô cùng xúc động trước tấm thịnh tình của ông lão đất Yên, bèn cất túi tiền vào tay áo, vòng tay nói: “Lão trượng đại nghĩa, văn sinh lấy làm hổ thẹn!”
Lão trượng quay lại chỗ ngồi, nhìn Tô Tần gật đầu, nâng chén rượu nói: “Vì tiền đồ của Tô Tử, cạn chén!”
Tô Tần cũng nâng chén, nói: “Đa tạ lão trượng hậu ái!”
Hai người lại uống thêm vài chén nữa. Tô Tần chậm rãi đặt chén rượu xuống, hai mắt nhìn thẳng vào lão trượng: “Vãn sinh có một khúc mắc, không biết có nên nói ra không?”
“Tô Tử cứ nói!”
“Vãn sinh vốn không quen biết lão trượng, nay tới thuê phòng trọ của lão trượng, lão trượng nhìn mầm biết cây, hiểu rõ tình cảnh cùng quẫn của vãn sinh, không những mời ăn mời uống, lại còn cởi hầu bao mang tặng, thực khiến vãn sinh không thể nào ngờ. Vãn sinh rất muốn biết, lão trượng là người làm ăn, tiếp khách thập phương tứ xứ, cớ sao lại chỉ ưu ái vãn sinh?”
Lão trượng mỉm cười, chậm rãi nói: “Tô Tử đã hỏi, lão hủ cũng xin nói thực. Lão mở quán trọ này đã ba mươi lăm năm, gặp rất nhiều sĩ tử qua lại, nhãn lực cũng thành tinh tường. Không giấu Tô Tử, vừa gặp mặt, lão đã biết Tô Tử không giống như sĩ tử bình thường, mà là người làm nên đại sự.”
Tô Tần cũng cười một tiếng: “Lão trượng đã đánh giá cao Tô Tần rồi!”
“Có điều, lão hủ đây không cầu hậu tạ, song lại cầu báo đáp!” Lão trượng thu lại nụ cười, nheo mắt nhìn Tô Tần.
“Đương nhiên!” Tô Tần không biết lão trượng muốn cầu chuyện gì, trong lòng hơi lo lắng, song lúc này đã không còn đường lui, đành vòng tay nói. “Lão trượng cứ nói!”
“Ngày sau đắc ý, mong Tô Tử chớ quên người Yên!” Lão trượng sắc mặt nghiêm trang, giọng nói khẩn thiết.
Nghe thấy một ông lão thường dân nước Yên lại có thể nói ra những lời này, Tô Tần trong lòng chấn động, muôn phần cảm kích đáp lời: “Vãn sinh xin ghi nhớ!”
“Nhớ thì tốt!” Lão trượng nhìn Tô Tần không chớp. “Tô Tử tới đây, hẳn là muốn bái kiến chúa thượng?”
“Than ôi…” Tô Tần thở dài, vẻ mặt tràn đầy thất vọng.
“Muốn gặp chúa thượng, lại không có gì khó!”
Tô Tần trợn tròn hai mắt, kinh ngạc nhìn lão trượng. Lão trượng chậm rãi nói: “Con trai lão tên Viên Báo, hiện giữ chức quan nhỏ trong cung, là quân úy ở điện thái tử. Hôm nay, lão hủ tròn sáu mươi tuổi, nó nói sẽ về, song hai canh giờ trước lại cho người mang thư tới, nói là giờ Thân hôm nay, phải hộ tống thái tử điện hạ và phu nhân nước Yên tới Thái miếu, e là không về được. Lão đang tính, nếu Tô Tử tới cửa đông cung thành chờ sẵn, có thể yết kiến điện hạ. Nếu gặp được điện hạ, có thể yết kiến chúa thượng!”
“Phu nhân nước Yên?” Tô Tần nghe mà trong lòng mừng rỡ.
“Đúng vậy!” Lão trượng gật đầu đáp lời. “Chúa thượng long thể bất an, phu nhân muốn tới Thái miếu cầu phúc cho chúa thượng.”
Ăn cơm xong, Tô Tần từ biệt lão trượng, trở về phòng ngồi một lát, thấy đã gần tới giờ Thân, thì ra phố, đi về phía cung Yên.
Tô Tần đứng đợi ngoài cửa đông một lát, quả nhiên thấy cửa cung mở toang, một đội vệ sĩ tiến ra, đi trước dẹp đường. Lát sau, lại có đại đội giáp sĩ tiến ra, ở giữa đội ngũ, cờ quạt rợp trời, hai cỗ xe lộc cộc lăn bánh. Phía trước cỗ xe, một con ngựa cao lớn sắc lông hung đỏ khoan thai bước đi, người cưỡi trên lưng ngựa tay cầm thương dài, vai hổ lưng gấu, ánh mắt nghiêm nghị nhìn về phía trước.
Không cần hỏi, Tô Tần cũng đã đoán ra, người này chắc hẳn là quân uý Viên Báo.
Đội vệ sĩ ra khỏi cửa cung chưa được bao lâu, Tô Tần thấy thời cơ đã đến, cũng giống như năm xưa ở Lạc Dương, xông vọt ra từ bụi rậm ven đường, không để tướng sĩ kịp phản ứng, đã quỳ phịch xuống giữa phố, dập đầu sát đất, lớn tiếng báo danh: “Tô Tần người Lạc Dương khấu kiến thái tử điện hạ nước Yên!”
Viên Báo cả kinh, thúc ngựa xông lên, quát lớn: “Mau, bắt lấy hắn!”
Đám vệ sĩ lập tức vây kín lại, hai giáp sĩ xông tới, bẻ quặt hai tay Tô Tần ra phía sau. Viên Báo nhìn khắp xung quanh, thấy không có gì bất thường, mới thở phào nhẹ nhõm, quay ngựa tới trước xe thái tử, lớn tiếng bẩm báo: “Khởi bẩm điện hạ, có kẻ chặn xa giá!”
Sự việc xảy ra thình lình, khiến thái tử Tô cứ ngỡ là thích khách do công tử Ngư phái tới, kinh hồn bạt vía, run như cầy sấy trong xe, lập bập hỏi: “Là thích… thích khách ư?”
“Khởi bẩm điện hạ,” Viên Báo dõng dạc đáp, “kẻ cản đường tự xưng là Tô Tần người Lạc Dương, muốn cầu kiến điện hạ!”
Nghe thấy không phải là thích khách, thái tử Tô mới trấn tĩnh trở lại, liền vén rèm xe, quát lớn: “Tô Tần gì chứ? Đánh chết tại chỗ!”
“Điện hạ!” Viên Báo thoáng do dự, khẽ nói. “Mạt tướng quan sát người này, thấy không có vẻ gì ác ý. Liệu…”
Thái tử Tô trừng mắt, cắt ngang lời Viên Báo: “Làm kinh động tới quốc hậu là tội chết, còn không mau lôi đi!”
“Mạt tướng tuân chỉ!” Viên Báo quay người lại, hạ lệnh. “Điện hạ có chỉ, Tô Tần người Lạc Dương làm kinh động xa giá quốc hậu, phạm tội chết, lôi ra đánh chết ngay tại chỗ!”
Đám giáp sĩ đang định ra tay, Tô Tần bỗng phá lên cười lớn một tràng: “Ha ha ha, nước Yên không có mắt! Yên gặp đại nạn, người Lạc Dương Tô Tần không quản nghìn dặm xa xôi tới cứu, lại chịu hoạ sát thân. Nước Yên quả thực không có mắt ư?”
Thái tử Tô giận dữ quát: “Kẻ to gan lớn mật kia, chết tới nơi rồi mà vẫn ngông cuồng. Hành hình!”
Lời nói còn chưa dứt, từ trong cỗ xe phía sau bỗng vọng ra giọng nói của Cơ Tuyết: “Khoan!”
Giọng Cơ Tuyết tuy nhu hòa, song rất đỗi uy nghiêm. Đám giáp sĩ đang định hành hình, nghe vậy vội dừng ngay lại.
Cơ Tuyết chậm rãi nói: “Dẫn kẻ chặn xa giá lại đây!”
Viên Báo nghe vậy, lập tức lệnh cho vệ sĩ giải Tô Tần tới trước xe.
Cơ Tuyết khẽ vén rèm xe, thấy người chặn xe quả nhiên là Tô Tần, trái tim bỗng đập lên bấn loạn, vội đưa tay chặn lên trước ngực. Hồi lâu sau, nàng mới gắng định thần lại được, hạ rèm châu xuống, giọng hơi lạc đi: “Kẻ chặn xe kia, ngươi nói ngươi là Tô Tần người Lạc Dương?”
Bảy năm không gặp, giờ lại được nghe thấy giọng nói của Cơ Tuyết, Tô Tần tuy kích động muôn phần, song cũng chỉ biết gắng gượng kìm nén, trầm giọng mà đáp: “Khởi bẩm phu nhân nước Yên, thảo dân chính là Tô Tần người Lạc Dương!”
Im lặng một hồi, rồi Cơ Tuyết khẽ nói: “Viên tướng quân, thả người này ra!”
“Mạt tướng tuân chỉ!” Viên Báo nhận lệnh xong, quay lại hạ lệnh cho đám vệ sĩ thả Tô Tần ra.
Tô Tần quỳ xuống, dập đầu nói: “Tô Tần người Lạc Dương khấu kiến phu nhân nước Yên, cung chúc phu nhân vạn an!”
Cơ Tuyết khẽ nói: “Tô Tử miễn lễ!”
Thái tử Tô nhìn thấy Viên Báo thả Tô Tần ra, nhất thời không rõ nguyên nhân, liền nhảy phắt xuống xe, nói với Cơ Tuyết: “Khởi bẩm mẫu hậu, kẻ ngông cuồng kia dám chặn đại giá của mẫu hậu, đã phạm tội chết, cớ sao lại thả hắn ra?”
Cơ Tuyết lúc này đã điềm tĩnh trở lại, từ tốn nói: “Điện hạ, người này là danh sĩ Lạc Dương, không phải là kẻ ngông cuồng!”
Thái tử Tô dường như cũng đã hiểu ra, đảo con ngươi một vòng, lập tức đổi ngay thái độ, quay sang Tô Tần vái dài một vái mà rằng: “Cơ Tô không biết Tô Tử là danh sĩ đồng hương với mẫu hậu, có chỗ nào đắc tội, mong Tô Tử bỏ qua!”
Tô Tần bái lạy Cơ Tô, nói: “Thảo dân tạ ân không giết của điện hạ!”
Thái tử Tô đích thân đỡ Tô Tần dậy: “Tô Tử hãy mau bình thân!”
Tô Tần lại bái lạy thêm lần nữa, rồi đứng lên.
Thái tử Tô ân cần nói: “Cơ Tô và mẫu hậu muốn tới Thái miếu, Tô Tử có muốn đi theo xa giá chăng?”
Tô Tần vòng tay nói: “Tạ ơn điện hạ hậu ái!”
Thái tử Tô muốn lấy lòng Cơ Tuyết, bèn mời Tô Tần lên xe của mình, sau đó truyền chỉ đi tiếp. Chưa đầy nửa canh giờ sau, đoàn người ngựa đã tới Thái miếu. Thái miếu lệnh ra đón Cơ Tuyết và thái tử Tô bước vào đại điện, dâng lễ cúng tế theo nghi lễ Yên thất, cầu thọ cho Yên Văn Công.
Tế lễ xong xuôi, Thái miếu lệnh dập đầu nói: “Mời quốc hậu, điện hạ tới thiên điện nghỉ ngơi!”
Cơ Tuyết, thái tử Tô đi vào thiên điện, lần lượt ngồi xuống. Còn chưa ấm chỗ, thái tử Tô trong lòng sốt sắng, không nhịn được thêm, bèn xua đám người hầu lui ra hết, khấu bái sát đất mà nói: “Mẫu hậu, việc nhi thần cậy nhờ mẫu hậu, quân phụ có đồng ý hay chăng?”
Do có sự việc lần trước, lần này Cơ Tuyết đã trở nên cảnh giác, lập tức lớn tiếng gọi: “Người đâu!”
Thái tử Tô không còn cách nào, vội đứng ngay dậy, nghiêm túc ngồi vào chỗ.
Lão nội thần vội vã bước vào: “Có lão nô!”
Cơ Tuyết dõng dạc nói: “Mời Tô Tử vào!”
“Phu nhân có chỉ, mời Tô Tử!”
Một lát sau, Tô Tần bước vào, phủ phục xuống đất dập đầu nói: “Thảo dân khấu kiến Yên quốc phu nhân, khấu kiến thái tử điện hạ!”
Cơ Tuyết phẩy tay nói: “Tô Tử miễn lễ!” Rồi chỉ vào vị trí khách bên cạnh. “Tô Tử, mời ngồi!”
“Tại ơn phu nhân ban chỗ!” Tô Tử lại bái lạy, rồi đứng dậy, ngồi vào chỗ.
Cơ Tuyết đưa mắt nhìn Tô Tần một lượt, rồi chậm rãi hỏi: “Xin hỏi Tô Tử, mấy năm qua đã đi đâu?”
“Khởi bẩm phu nhân,” Tô Tần vòng tay đáp, “thảo dân và bạn tốt Trương Nghi cùng tới núi Vân Mộng, bái Quỷ Cốc tiên sinh làm thầy, tu học vài năm, mới xuống núi vào mùa thu năm ngoái!”
“Trương Nghi?” Thái tử Tô kinh ngạc, trợn tròn hai mắt, nhìn Tô Tần không chớp. “Có phải là Trương Nghi đã trợ giúp Sở Vương một trận tiêu diệt hơn hai mươi vạn đại quân nước Việt?”
“Đúng là người này!” Tô Tần vòng tay đáp lời.
Cơ Tuyết khẽ cười, nói: “Bản cung cũng từng nghe nói tới chuyện này, thực không ngờ Trương Nghi đã có được thành tựu nhường đó!”
Thái tử Tô càng thêm kinh ngạc: “Mẫu hậu nói vậy, lẽ nào cũng quen biết Trương Nghi?”
Cơ Tuyết khẽ gật đầu: “Đã từng gặp hắn vài lần!” Lại quay sang Tô Tần hỏi. “Nghe nói Tô Tử năm ngoái từng tới Tần, có chuyện này chăng?”
Tô Tần cười buồn một tiếng, lắc đầu than thở: “Than ôi, là thảo dân nhất thời mê muội, muốn trợ giúp Tần Công nhất thống thiên hạ.”
“Gì kia?” Thái tử Tô trợn mắt sững sờ. “Tô Tử muốn giúp Tần Công nhất thống thiên hạ? Tô Tử…”
Cơ Tuyết khẽ mỉm cười, quay sang thái tử Tô: “Chẳng phải vừa nãy điện hạ vừa hỏi về việc đã cậy nhờ ư? Nay có Tô Tử, có thể thay thế hổ phù được rồi!”
Thái tử Tô nhìn Tô Tần với ánh mắt hoài nghi, hồi lâu sau mới định thần lại được, cất giọng nửa khẩn cầu nửa châm biếm: “Cơ Tô khẩn cầu Tô Tử, liệu có thể tạm hoãn việc nhất thống thiên hạ một chốc, để cứu lấy nước Yên trước hay chăng!”
Tô Tần khẽ gật đầu, cố tình hỏi lại: “Xin hỏi điện hạ, nước Yên có chuyện gì?”
Thái tử Tô nói ngay: “Cơ Tô nhận được tin báo, công tử Ngư chiêu binh mãi mã ở Vũ Dương, ngấm ngầm cấu kết với Triệu, muốn trong ứng ngoài hợp, gây chuyện đại nghịch. Quân phụ hay tin, uất ức mà đổ bệnh. Công tử Ngư nghe nói chúa thượng bệnh nặng, càng được thể làm già, sớm muộn gì cũng sẽ khởi binh đánh vào Kế Thành, đại nạn sắp giáng xuống nước Yên đến nơi rồi!”
Tô Tần mỉm cười mà nói: “Theo Tô Tần, loạn Vũ Dương chẳng qua chỉ là chuyện nhỏ!”
Thái tử Tô sửng sốt: “Sao kia? Loạn Vũ Dương nếu là chuyện nhỏ, thì chuyện gì mới là lớn?”
“Khởi bẩm điện hạ, chuyện lớn của nước Yên là ở chỗ triều không có hiền tài, nước không có kế sách lâu dài!”
Thái tử Tô đang định phản bác, Cơ Tuyết đã xua tay nói: “Không còn sớm nữa, Tô Tử hãy tạm trở về dịch quán, đợi bản cung về bẩm lại với chúa thượng, hôm khác sẽ lại thỉnh giáo Tô Tử!”
Tô Tần đứng dậy khấu bái: “Thảo dân cáo từ!”
***
Hôm nay ngày mồng một tháng ba, thành cổ Tấn Dương lại một lần nữa cát bụi mịt mù.
Vào lúc nửa đêm về sáng, một cơn bão cát dày đặc bao trùm khắp một vùng rộng lớn vốn đang chìm trong bóng tối như bưng, mờ mịt không thấy bầu trời. Trên lầu cổng thành ở cổng tây Tấn Dương, đô uý Tấn Dương Thân Bảo toàn thân giáp trụ cùng hơn chục tuỳ tùng thân tín đang đứng trên ụ thành, nhìn không chớp mắt về phía trước.
Cách đó không xa, vọng lai tiếng mõ của người điểm canh, năm tiếng liền nhau, dừng lại một lát, lại gõ năm tiếng nữa, tiết tấu rất nhịp nhàng.
Một tuỳ tùng đứng bên cạnh bước lại, khẽ nói: “Tướng quân, đã đến canh năm!”
“Nghe thấy rồi!” Thân Bảo đáp, không giấu vẻ nôn nóng, hai mắt vẫn nhìn chăm chú về phía xa.
Lại một hồi lâu nữa trôi qua, không thấy động tĩnh gì, Thân Bảo bắt đầu bồn chồn, quay sang tuỳ tùng vừa nãy, hỏi. “Ngươi chắc chắn là canh năm đêm nay chứ?”
Người này vội đáp: “Khởi bẩm tướng quân, tiểu nhân khẳng định chắc chắn. Chính miệng Sư Lý đại nhân đã nói, sáng sớm mồng hai tháng này, vào canh năm, đốt lửa làm hiệu lệnh!” Bỗng mừng rỡ chỉ tay về phía xa. “Tướng quân xem kìa…”
Quả nhiên, từ phía xa bất ngờ bùng lên ba đống lửa.
Thân Bảo rút kiếm, khí thế hừng hực, khẽ giọng hạ lệnh: “Châm lửa!”
Mấy tuỳ tùng thân tín tay cầm đuốc vội chạy tới trước đống củi đã chuẩn bị sẵn. Chỉ một lúc sau, trên lầu thành, ba đống lửa đã dàn thành hàng ngang bốc cháy rừng rực. Ngay lập tức, từ trong cát bụi mịt mù phía xa, quân Tần ồ ạt xông lên như ong vỡ tổ, không nói không rằng, lặng lẽ áp sát cổng tây.
Thân Bảo thấy vậy, cố nén cơn kích động trong lòng, khẽ giọng hạ lệnh: “Mau thả cầu treo, mở cổng thành!”
Tuỳ tùng thân tín lập tức quay đi, đang định xuống lầu hạ lệnh, đột nhiên đứng chết trân tại chỗ, hai mắt trợn trừng.
Thân Bảo vội giục: “Người Tần đã tới sát cổng thành, ngươi còn đứng ngẩn ra đó làm gì?”
Lời nói vừa dứt, từ dưới lầu đã vọng lên tiếng thả cầu treo và mở cổng thành.
Thân Bảo đang kinh ngạc, bỗng từ sau lưng vang lên một giọng nói trầm hùng nhưng lạnh lẽo: “Không cần phiền tới Thân tướng quân, cổng thành đã mở rồi!”
Thân Bảo khiếp hãi quay ngoắt lại nhìn, thì thấy thú thừa Tấn Dương Triệu Báo võ phục uy nghiêm đã đứng sừng sững sau lưng tự bao giờ, lính Triệu đứng dày đặc xung quanh, ai nấy đều đã giương cung lắp tên, chỉ chờ hiệu lệnh.
“Triệu… Triệu tướng quân!” Thân Bảo chết lặng, lập cập không nói thành lời.
Triệu Báo nhìn hắn, lạnh lùng hô: “Bắt lấy nghịch tặc!”
Đám binh sĩ lập tức xông lên, tóm gọn Thân Bảo và toàn bộ thân tín.
Mắt thấy đã có vài trăm lính tiên phong phía quân Tần leo qua cầu treo, tiến vào cổng thành, Triệu Báo cười nhạt một tiếng, dõng dạc hạ lệnh: “Chư vị tướng sĩ, nhấc cầu treo, đóng cửa đánh chó!”
Quân Triệu hô vang, hợp sức xoay ròng rọc cầu treo. Cầu treo thình lình dựng ngược, lính Tần trên cầu không kịp đề phòng, ngã lăn lông lốc rơi xuống hào thành rộng gần ba trượng. Cùng lúc này, lửa trên thành bùng cháy tứ phía, vạn nỏ đồng loạt bắn ra. Đáng thương cho vài trăm lính Tần vừa hăm hở qua cầu treo, chớp mắt đã biến thành hồn ma trong tiếng gào rú thê thảm.
Tư Mã Thác giật mình kinh sợ, vội hạ lệnh gióng chiêng thu quân.
Đúng lúc này, cổng đông thành Tấn Dương mở toang, từ bên trong xông ra hai kỵ sĩ, ra roi thúc ngựa, phóng như bay về phía Hàm Đan.
Trung đại phu Lâu Hoãn nhận được cấp báo, cấp tốc bẩm báo lên An Dương Quân: “Khởi bẩm thái sư, Tấn Dương cấp báo!”
An Dương Quân xem lướt qua, nói ngay: “Mau lên, chuẩn bị xe, tới đài Hồng Ba!”
Tin Tử Chi bí mật tới Trọc Lộc đóng quân đã mau chóng được báo lên Vũ Thành Quân.
Cơ Ngư lo lắng triệu tập Quý Thanh tới: “Tử Chi đột nhiên tăng quân tới Trọc Lộc, Quý Tử có biết chuyện này chăng?”
Quý Thanh gật đầu.
“Quý Tử hãy mau báo tin này với người Triệu, bảo họ hãy tạm…”
“Khởi bẩm chúa công, đã muộn rồi!”
“Quý Tử… nói vậy có ý gì?”
“Chúa công,” Quý Thanh chậm rãi nói, “vi thần sớm đã phái người báo tin cho công tử Phạm, lương thảo mà hắn cần đã chuẩn bị đủ cả, chưa biết chừng quân Triệu đã trên đường tập kích Trọc Lộc mất rồi!”
“Chuyện này sao có thể?” Vũ Thành Quân kinh hãi thất sắc. “Người Triệu không biết mà đề phòng, tất chịu thiệt hại lớn, ngộ nhỡ họ hỏi tội, bảo bản công giải thích thế nào đây?”
“Đây chính là điều mà vi thần trông đợi!” Quý Thanh cười âm hiểm. “Công tử Phạm nếu thiệt hại lớn, đương nhiên sẽ không chịu bỏ qua. Triệu, Yên giao chiến, nơi đây ắt thành ra hỗn loạn, nếu chúa công nhân lúc này khởi binh, đại sự tất thành!”
Vũ Thành Quân đang định hỏi thêm, quả nhiên có thám mã hộc tốc chạy về bẩm báo: “Báo, người Triệu đêm qua đột kích Trọc Lộc, đã bị Tử Chi tướng quân đánh lui!”
Vũ Thành Quân vội hỏi: “Tình hình ra sao?”
“Người Triệu thiệt hại ba nghìn quân, thoái lui ba mươi dặm hạ trại, Tử Chi tướng quân cũng lui về trấn giữ Trọc Lộc.”
“Người Triệu có tổng cộng bao nhiêu binh mã?” Quý Thanh hỏi.
“Một vạn!”
“Tiếp tục theo dõi.”
Thám mã vâng lệnh lui ra.
Quý Thanh mỉm cười, quay sang Vũ Thành Quân: “Chúa công, có thể khởi binh được rồi!”
“Quý Tử?”
“Công tử Phạm vốn cho rằng có thể chiếm được Trọc Lộc dễ như trở bàn tay, nên chỉ điều một vạn quân tới đánh, không ngờ gặp phải đòn đau. Dựa vào tính khí của công tử Phạm, tất sẽ khởi đại binh phục thù, chúa công không khởi binh lúc này thì còn chờ đến bao giờ nữa?”
“Ờ, chuyện này…”
“Chúa công, thời cơ đã tới, không thể bỏ lỡ!”
Vũ Thành Quân trầm ngâm một lát, sắc mặt dần trở nên kiên định: “Được, ngươi mau đi truyền lệnh!”
***
Trong cung Minh Quang, Cơ Tuyết chậm rãi tiến lại trước giường Văn Công, nhẹ nhàng đặt tay lên trán ông, hỏi khẽ: “Chúa thượng, hôm nay có đỡ hơn chăng?”
Văn Công gượng cười, khẽ lắc đầu nói: “Lòng trĩu nặng như đeo đá, đầu cũng đau như búa bổ!”
“Chúa thượng chớ lo lắng!” Cơ Tuyết mỉm cười, giọng nói càng thêm dịu dàng. “Thần thiếp đã cầu được một quẻ ở Thái miếu, là quẻ thượng thượng. Nghe bốc sư giải quẻ, bệnh của chúa thượng chẳng bao lâu nữa sẽ bình phục!”
“Than ôi!” Văn Công thở dài não nề. “Phu nhân, nàng không phải an ủi quả nhân. Bệnh của quả nhân, quả nhân tự biết, không thể khỏi trong một sớm một chiều.”
Cơ Tuyết bật cười một tiếng.
Văn Công ngạc nhiên hỏi: “Phu nhân cớ sao lại cười?”
Cơ Tuyết cười thêm tiếng nữa, mới nói: “Thần thiếp tới Thái miếu, trên đường gặp một chuyện kỳ lạ, vừa rồi nhớ lại, nhất thời không nhịn được, nên mới bật cười!”
“Ồ?” Văn Công hết sức tò mò, tâm trạng cũng bớt u uất, nghiêng đầu nhìn Cơ Tuyết. “Là chuyện kỳ lạ gì mà khiến phu nhân cười vui đến vậy?”
“Thần thiếp vừa rời khỏi cung thành thì có một người xông ra giữa phố, chặn xa giá lại!”
Văn Công kinh ngạc: “Là kẻ nào chặn xa giá? Có làm kinh động tới phu nhân không?”
“Thưa không!” Cơ Tuyết cười nói. “Thần thiếp đâu phải đứa trẻ lên ba!” Dừng lại một lát, kể tiếp. “Người kia quỳ xuống, nói là muốn cầu kiến điện hạ. Điện hạ thấy hắn chặn đường thì muốn hỏi tội. Cũng do thần thiếp hiếu kỳ, bèn gọi hắn lại hỏi, hắn tự xưng là đệ tử của Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng, đại tướng quân nước Ngụy Bàng Quyên, khách khanh nước Sở Trương Nghi đều là sư đệ của hắn. Thần thiếp quan sát kỹ lưỡng, thấy hắn tướng mạo không có gì đặc biệt, mũ áo cũ rích, hành vi cử chỉ trông cũng không giống bậc kỳ tài. Vậy mà hắn lại tự xưng là đồng môn của Bàng Quyên, Trương Nghi, chẳng phải ba hoa nói xằng ư? Chúa thượng, thế đạo hiện nay chẳng khác gì một khu rừng tạp, chim nào cũng có! Chúa thượng thấy nhiều hiểu rộng, đã gặp chuyện nào đáng cười như vậy chưa?”
“Phải!” Văn Công thấy Cơ Tuyết nói cười vui vẻ, cũng thấy yên tâm. “Chuyện này nghe ra cũng rất nực cười. Sau đó thế nào?”
“Cũng vì lòng hiếu kỳ trỗi dậy, thứ nhất muốn xem thử tài năng, thứ hai cũng muốn dẹp bớt thói ba hoa của hắn, nên thần thiếp đã hỏi hắn về chuyện nước Yên. Không ngờ hắn nói rằng, Yên có bệnh nặng. Thần thiếp cho rằng, người Yên ai cũng biết, chúa thượng long thể bất an, kẻ này nói vậy, cũng chẳng có gì lạ, bèn hỏi tiếp: ‘Phải chăng tiên sinh muốn nói tới chuyện chúa thượng long thể bất an?’ Kẻ này bèn đáp rằng: ‘Không phải, chúa thượng không có bệnh, có bệnh chính là nước Yên.’ Chúa thượng rõ ràng có bệnh mà kẻ này lại nói là không có, chẳng phải là cuồng ngôn vọng ngữ ư? Thần thiếp vốn muốn trách phạt, song thấy lời hắn nói cũng có chỗ may mắn, sau lại chiêm được quẻ tốt, nhất thời vui mừng nên đã thả hắn đi. Giờ nhớ tới chuyện này, nên mới kể lại cho chúa thượng nghe!”
Văn Công thình lình ngồi phắt dậy: “Người này họ gì tên gì? Hiện đang ở đâu?”
“Chúa thượng chớ nên kinh động đến long thể!” Cơ Tuyết vội đỡ Văn Công nằm xuống. “Thần thiếp đã hỏi rõ, người này họ Tô tên Tần, là người Lạc Dương, cùng quê với thần thiếp, hiện đang ở quán trọ Lão Yên Nhân ngoài cung thành!”
“Tô Tần?” Văn Công trợn mắt. “Chẳng phải chính là Tô Tần đã hiến đế sách lên Tần Công muốn nhất thống thiên hạ đó ư?”
“Chúa thượng quả là thần thông!” Cơ Tuyết làm bộ kinh ngạc. “Thần thiếp đã hỏi qua, chính là người này!”
Văn Công lại ngồi bật dậy, bệnh tật như biến đi đâu hết: “Phu nhân, mau triệu người này vào cung! Phải rồi, không được để lộ ra ngoài, bảo hắn tới…” dừng lại ngẫm nghĩ một lát, “tới thư phòng của quả nhân!”
Cơ Tuyết cười, nhắc nhở: “Chúa thượng, long thể của người…”
“Ồ!” Văn Công cũng cười. “Phải rồi, quả nhân vẫn đang bị bệnh cơ mà! Vậy thì, hãy truyền hắn tới cung Minh Quang, yết kiến trước giường!”
“Thần thiếp lĩnh chỉ!”
Cơ Tuyết lại đỡ Văn Công nằm xuống, từ từ lui ra tới cửa, rồi quay người bước đi. Vừa tới đại sảnh phía trước, chợt thấy thái tử Tô đi đang tới đi lui trong sảnh. Thấy Cơ Tuyết bước ra, Cơ Tô chạy ngay lại, quỳ phịch xuống đất, khấu đầu gọi: “Mẫu hậu!”
Cơ Tuyết muốn tránh mà không kịp, đành dừng bước, chau tít đôi mày: “Điện hạ?”
“Mẫu hậu!” Thái tử Tô vội nói. “Xảy ra chuyện lớn rồi!”
Cơ Tuyết chậm rãi bước tới trước chiếu ngồi xuống, phẩy tay nói: “Điện hạ hãy đứng dậy, xảy ra chuyện gì, nói mau!”
Thái tử Tô đứng dậy, cũng ngồi xuống chiếu, vòng tay nói: “Khởi bẩm mẫu hậu, nhi thần nhận được tin báo, một vạn quân Triệu hôm qua tập kích trọng trấn Trọc Lộc ở biên giới của ta, bị Tử Chi tướng quân đánh lui. Chủ tướng quân Triệu là Triệu Phạm nổi cơn thịnh nộ, lệnh cho đại quân gấp rút nhổ trại ngay trong đêm, di chuyển bảy mươi dặm tới sát biên giới. Tử Chi tướng quân cũng lệnh cho tướng sĩ nước Yên người không cởi giáp, ngựa không tháo yên, ngày đêm sẵn sàng trực chiến, đại chiến giữa hai nước sắp nổ ra rồi! Vũ Thành Quân thấy thời cơ chín muồi, đang giết bò mổ lợn ở Vũ Dương, tuyên thệ phạt Kế Thành, hịch văn cũng đã thảo xong, nói là trong triều có gian tặc, muốn kéo quân về thanh trừ! Chuyện này tạm chưa nói đến, nhi thần còn biết, trong Kế Thành có rất nhiều nội ứng của hắn, ngay cả trong cung cũng có tai mắt của hắn, nhất cử nhất động của vi thần đều nằm trong sự giám sát của hắn!”
“Điện hạ dự định thế nào?”
“Mẫu hậu!” Thái tử Tô vội nói. “Hiện tại tình thế đã vô cùng cấp bách, mẫu hậu nhất thiết phải tấu lên chúa thượng, xin cấp hổ phù, điều động Tử Chi tướng quân trở về giữ lấy Kế Thành, tiêu diệt loạn thần tặc tử!”
Cơ Tuyết lấy làm ngạc nhiên: “Nếu điều Tử Chi tướng quân trở về, lấy ai để đánh người Triệu?”
“Mẫu hậu!” Thái tử Tô thuận miệng nói luôn. “Người Triệu nếu đánh tới, chúng ta cùng lắm cắt thành hiến đất là xong. Còn Tử Ngư đánh tới, chúa thượng, mẫu hậu và nhi thần, chúng ta… chúng ta sẽ cầm chắc cái chết! Mẫu hậu!”
Đứng trước giang sơn xã tắc do tổ tiên để lại, mà thái tử lại nói những lời dửng dưng nhường này, Cơ Tuyết trong lòng chua xót, đột nhiên nhớ tới câu nói của Văn Công “đã chọn nhầm người”, bèn ném về phía hắn một cái nhìn khinh bỉ, cất giọng lạnh lùng: “Điện hạ, bệnh tình của chúa thượng vừa mới thuyên giảm chút ít, không được làm kinh động! Chuyện hổ phù, điện hạ chớ nên nhắc lại nữa!”
Thái tử Tô cuống lên, lại diễn màn kịch cũ, đứng dậy, quỳ sụp xuống lạy lục, hai tay túm chặt lấy gấu váy Cơ Tuyết, khóc toáng lên mà gọi: “Mẫu hậu!”
Cơ Tuyết giận dữ, đứng phắt ngay dậy, giật mạnh gấu váy về, nghiêm giọng gọi lớn: “Người đâu!”
Thái tử Tô kinh hãi trước vẻ uy nghiêm của Cơ Tuyết, quỳ ngây trên đất không biết phải làm gì.
Lão nội thần nghe gọi, vội vã chạy vào: “Có lão nô!”
“Điện hạ mệt rồi, mau đưa điện hạ về Đông cung nghỉ ngơi!” Cơ Tuyết cất giọng lạnh lẽo.
Lão nội thần bước lên một bước, quay sang thái tử Tô vái mà nói: “Phu nhân có chỉ, mời điện hạ về Đông cung nghỉ ngơi. Điện hạ, mời!”
Thái tử Tô quệt nước mắt, lồm cồm bò dậy, hậm hực bỏ đi.
Thấy Cơ Tô đã đi xa, Cơ Tuyết bèn quay sang nói với lão nội thần: “Ngươi mau tới quán trọ Lão Yên Nhân, mời Tô Tử vào cung lập tức!”
“Lão nô tuân lệnh!”
Từ Thái miếu trở về, Tô Tần không biết tin của Cơ Tuyết bao giờ sẽ tới, nên không dám đi đâu, chỉ biết ở yên trong phòng chờ đợi. Gần tới giờ Ngọ, một người dắt theo con ngựa ô hối hả bước lại, nhìn thấy trên biển ghi rõ ba chữ “Lão Yên Nhân”, bèn dừng lại, đưa ống tay áo lên lau mồ hôi, trông thấy lão trượng đang mài mũi giáo trong sân, bèn vòng tay hỏi: “Xin hỏi lão trượng, quý quán có tiên sinh nào họ Tô không?”
Lão trượng đặt mũi giáo xuống, đứng dậy vòng tay đáp: “Khách quan hẳn muốn tìm một sĩ tử tên gọi Tô Tần?”
Người kia mừng rỡ nói: “Đúng vậy!”
Lão trượng nhìn kỹ người này một hồi, rồi quay vào trong nhà trọ, đi tới trước phòng Tô Tần, gõ cửa gọi: “Tô Tử, có người tới tìm.”
Tô Tần nghe tiếng bước ra, thấy là một tráng hán lạ mặt, bèn vòng tay nói: “Tại hạ Tô Tần bái kiến tráng sĩ!”
Người kia vòng tay đáp lễ, cũng không nói gì nhiều, chỉ lấy từ trong ống tay áo ra một bức mật thư, đưa cho Tô Tần: “Tại hạ từ Hàm Đan tới, có một tiên sinh họ Giả nhờ tại hạ chuyển gấp thư này cho tiên sinh!”
Tô Tần nhận thư, vòng tay nói: “Đã khiến tráng sĩ phải vất vả!”
Tô Tần đang đọc thư, bỗng trên phố vọng lại tiếng vó ngựa dồn dập, một cỗ xe lao tới, dừng lại ngoài cổng quán trọ.
Lão trượng vội bước ra nghênh đón.
Lão nội thần từ trên xe bước xuống, vòng tay nói: “Xin hỏi lão trượng, Tô Tử người Lạc Dương có ở đây không?”
Lão trượng mừng rỡ quay vào trong gọi Tô Tần: “Tô Tử, có người trong cung tới tìm!”
Tô Tần cũng đã nhận ra nội tể, vội bước lại đón, vòng tay vái chào: “Tô Tần người Lạc Dương bái kiến nội tể!”
Lão nội thần lại vòng tay: “Tô Tử, phu nhân có lời mời!”
Tô Tần quay sang tráng hán: “Tráng sĩ hãy ngồi đợi một lát, tại hạ có chút việc gấp, cần vào cung một chuyến, quay về sẽ lại tiếp chuyện tráng sĩ!” Rồi quay sang lão trượng. “Phiền lão trượng làm vài món ăn ngon, thiết đãi tráng sĩ từ nơi xa tới!”
Lão trượng vui vẻ nhận lời, Tô Tần lập tức bước lên xe ngựa, theo lão nội thần gấp rút vào cung.
Cơ Tuyết đang đi đi lại lại trong cung, sắc mặt tràn đầy phấp phỏng, chợt thấy lão nội thần tất tả bước vào, khẽ bẩm báo: “Khởi bẩm phu nhân, Tô Tử đã tới!”
Cơ Tuyết thở phào một hơi, gắng ổn định lại tâm tư rối bời, khoan thai bước tới bên chiếu, chậm rãi ngồi xuống: “Cho mời Tô Tử!”
Tô Tần bước vào, dập đầu sát đất: “Tô Tần khấu kiến Yên quốc phu nhân!”
“Tô Tử miễn lễ! Dâng trà!”
Tô Tần tạ ơn, đứng dậy, ngồi vào vị trí khách. Cung nữ bưng trà thơm lại.
Cơ Tuyết nhìn Tô Tần chăm chú, một lát sau, bèn vòng tay nói: “Nước có đại sự, chúa thượng long thể lại bất an, bản cung phận nữ yếu đuối, thực không có sức ứng phó. Tình thế cấp bách, đành phải mạo muội làm phiền Tô Tử, mong Tô Tử không tiếc lời chỉ giáo!”
Do lão nội thần đang đứng đó, Tô Tần đành nói một lời đầy ẩn ý: “Tô Tần đã tới nước Yên, sẽ hết lòng vì nước Yên, vì phu nhân, cúc cung tận tụy tới hơi thở cuối cùng!”
Cơ Tuyết khẽ gật đầu, giọng hơi run lên: “Cơ Tuyết cảm tạ Tô Tử!”
“Nghe phu nhân nói nước có đại sự, xin hỏi phu nhân, đại sự thế nào?”
Cơ Tuyết thuật lại sơ lược chuyện Triệu Yên giao chiến, Tử Ngư dẫn quân tiến đánh Kế Thành, rồi không giấu vẻ lo lắng, đưa mắt nhìn Tô Tần: “Tô Tử, đại thể là như vậy, tình hình trước mắt vô cùng cấp bách, đại quân của Tử Ngư e rằng cách Kế Thành không còn xa nữa!”
Tô Tần hỏi: “Xin hỏi phu nhân, về chuyện của Tử Ngư, chúa thượng có ý chỉ gì không?”
“Than ôi!” Cơ Tuyết lắc đầu than thở. “Tử Ngư, Tử Tô đều là cốt nhục của chúa thượng, nay thế như nước lửa, chúa thượng vô cùng khó xử. Không giấu Tô Tử, bệnh của chúa thượng cũng từ đó mà ra. Giả sử kẻ phản loạn không phải Tử Ngư, chúa thượng hẳn sẽ không để sự thể dây dưa tới nước này.”
Tô Tần lại hỏi: “Phu nhân có ý chỉ gì không?”
“Than ôi!” Cơ Tuyết lại than thở. “Bản cung phận nữ yếu đuối, có ý chỉ gì được? Tô Tử, nước Yên vốn là nước yếu, phía đông có người Hồ, phía bắc có Nhung Địch, phía nam có Tề mạnh, còn phía tây… Tô Tử cũng đã thấy rồi, hiện tại tám vạn đại quân Triệu đã áp sát biên cương. Tô Tử, nước Yên thế yếu, không thể tự loạn!”
Nghe thấy lời này, Tô Tần vô cùng xúc động, bái lạy mà nói: “Tô Tần cung kính tuân theo ý chỉ của phu nhân!”
Cơ Tuyết bối rối: “Tô Tử, bản cung làm gì… làm gì có ý chỉ nào?”
Tô Tần lại bái lạy: “Phu nhân vừa nói, nước Yên không thể tự loạn, chính là ý chỉ!”
Cơ Tuyết mừng rỡ: “Tô Tử hẳn đã có sách lược ứng phó?”
“Phu nhân yên tâm!” Tô Tần trịnh trọng gật đầu. “Nếu trị loạn thiên hạ, Tô Tần không dám ba hoa, song là trị loạn hiện tại của nước Yên, với Tô Tần lại không hề khó.”
Cơ Tuyết thở phào một tiếng, đặt tay lên ngực: “Tô Tử đã nói vậy, bản cung cũng thấy yên tâm!”
Lời vừa nói dứt, một cung nhân hấp tấp chạy vụt vào, khấu đầu trên đất, thở hổn hển nói không ra hơi: “Khởi… khởi bẩm phu… phu nhân… phản… phản quân đã tới ngoại thành, sắp… sắp đánh… tới… tới thành… rồi!”
Có Tô Tần ở bên, Cơ Tuyết không còn sợ hãi, nghe tin mà thần sắc vẫn điềm nhiên, quay sang lão nội thần, khoan thai nói: “Truyền điện hạ và Kế Thành lệnh tới nghị sự!”
Lão nội thần đáp lời: “Lão nô lĩnh chỉ!”
Trên đồng hoang rộng lớn, cờ quạt rợp trời, chiến xa rầm rập, chiến mã hí vang, gần hai vạn binh mã chia thành tam quân tả trung hữu thẳng tiến về phía Vũ Dương.
Kế Thành lệnh sớm đã nhận được tin thám mã báo về, các cổng thành đều đóng chặt, cầu treo bắc ngang hào thành cũng đã được kéo lên.
Đại quân dừng lại cách cổng thành nam chừng một tầm tên bắn, bài binh bố trận đúng theo kế sách đã bày trước đó. Vũ Thành Quân một thân giáp trụ, tay cầm trường thương, uy phong lẫm liệt đứng trên cỗ chiến xa giữa trận, mắt sáng rực nhìn chằm chằm lên lầu cổng thành cao vút. Hai bên Vũ Thành Quân, lần lượt là Quý Thanh và hơn chục viên chiến tướng.
Quan sát một lát, Vũ Thành Quân đưa mắt cho Quý Thanh. Quý Thanh dõng dạc nói lớn: “Chư vị tướng quân, chúa công Cơ Ngư thân là trưởng tử của chúa thượng, lý ra phải được lập làm thái tử, song công tử Cơ Tô dùng âm thuật mê hoặc, xúi bẩy chúa thượng, cướp ngôi thái tử. Cơ Tô thân là thái tử, lại không biết thương dân, chuyên quyền hống hách, trừ khử người trái ý, chặn đường ngôn luận, trọng dụng gian thần, khiến cho nước Yên dân chúng lầm than, nơi nơi oán hận, đã trở thành kẻ thù chung của nước Yên. Chúa công phụng theo ý trời, khởi binh chính nghĩa, thảo phạt nghịch tặc, làm trong sạch triều đình!”
Hơn chục chiến tướng đồng thanh hô vang: “Mạt tướng thề chết đi theo chúa công, diệt trừ gian tặc, làm trong sạch triều đình!”
Quý Thanh rút kiếm hô lớn: “Sống ở trên đời, không gì bằng kiến công lập nghiệp. Chư vị tướng quân, cơ hội đã đến, lập tức chỉ huy binh mã, theo kế sách đã định, đánh vào Kế Thành. Ai lên thành trước, ghi công đầu tiên!”
Chư tướng đồng thanh hô vang: “Mạt tướng tuân lệnh!”
Nói đoạn, cùng dẫn theo binh mã bản bộ, hè nhau xông lên.
Chớp mắt, tiếng trống trận vang rền tứ phía, tiếng xung phong chấn động đất trời, phản quân Vũ Dương tranh nhau tràn tới, ồ ạt tấn công vào các cổng thành.
Tình hình Kế Thành vô cùng nguy cấp, trống thúc dồn dập, tiếng hô hét dậy khắp tứ bề, từng đoàn tráng đinh tay cầm vũ khí, hăng hái dồn về bốn cổng thành.
Trong quán trọ Lão Yên Nhân, lão trượng đang ngồi tiếp rượu tráng sĩ mới tới, bỗng nghe trên phố lớn, tiếng người huyên náo lạ thường, hỗn loạn như chợ vỡ. Chốc lát sau, tiểu nhị hớt hải chạy vào, báo tin phản quân Vũ Dương đang tấn công thành.
Lão trượng đặt bát rượu xuống, vào trong nhà lục lọi một hồi, lôi ra một cán thương dài trượng tám, lấy giẻ lau sạch lớp bụi phủ, rồi lắp vào mũi giáo mới mài sáng loáng, lấy đinh ghim chặt. Tráng sĩ bước lại, cầm lên múa vài đường, buột miệng khen: “Thương tốt!”
Lão trượng đỡ lấy cây thương, không giấu vẻ tự hào: “Nghe khẩu khí của tráng sĩ, biết rằng tráng sĩ là người am hiểu! Không giấu tráng sĩ, cây thương này là bảo bối gia truyền của tổ tiên lão, mũi thương được đúc bằng đồng tinh, ngù thương được làm từ bờm ngựa đất Hồ, cán thương là gỗ tử đàn thượng đẳng phương nam. Ở đất Yên, bảo bối nhường này, duy chỉ giáp sĩ trong cung mới có được!”
Tiểu nhị ngạc nhiên hỏi: “Ông chủ, ông lau chùi cây thương này, lẽ nào là muốn…”
Lão trượng vứt mảnh giẻ xuống, cầm thương bước ra giữa sân, múa lên vài đường rồi nói với tiểu nhị: “Ngươi hãy ở lại trông coi quán trọ, lão hủ đi giữ cổng thành!”
Tráng sĩ bưng hũ rượu lên, uống ừng ực một hơi cạn đáy, rồi với lấy bảo kiếm trên bàn, vòng tay nói với tiểu nhị: “Hãy chăm sóc ngựa giúp ta!” Đoạn quay sang lão trượng, cười vang mà nói. “Lão trượng quả là người hào sảng! Vãn sinh xin được đi cùng lão!”
Trong Đông cung, cảnh tượng vô cùng hỗn loạn. Vài chục cỗ xe ngựa đã chất đầy đồ đạc, bảy tám cung phi cùng hơn chục tiểu công tử, tiểu công chúa tranh nhau chạy ra xe. Một vài kẻ không muốn đi, ngồi chồm hỗm một bên khóc lóc. Đám nô bộc và cung nhân người kêu kẻ réo, hối hả khiêng vác các đồ vật quý lên xe.
Ngoài điện, vài chục giáp sĩ đang đứng nghiêm trang, quân uý Viên Báo tay cầm trường thương, ngẩng đầu hiên ngang đứng trước hàng người, phóng ánh mắt nghiêm nghị lạnh lùng nhìn đám người cả nam cả nữ, cả nửa nam nửa nữ đang cuống cuồng khiếp đảm, xấu xí đớn hèn kia.
Bên ngoài cổng nam vọng lại tiếng trống trận dồn dập, tiếng reo hò dậy đất. Thái tử Tô hấp tấp chạy ra khỏi cửa điện, nhảy phắt lên xe, giục giã Viên Báo: “Viên tướng quân, đi mau!”
Viên Báo đứng im không nhúc nhích. Đám quân sĩ cũng vậy.
Thái tử Tô sốt ruột, cao giọng: “Viên Báo, ngươi điếc ư!”
Viên Báo dõng dạc hỏi: “Xin hỏi điện hạ, muốn đi đâu?”
“Ngươi…” Thái tử Tô càng thêm giận dữ, gào lên. “Chẳng phải đã nói trước với ngươi rồi ư? Ra khỏi cổng bắc, đi tới Tạo Dương!”
“Điện hạ!” Viên Báo quỳ một gối xuống đất. “Phản quân sắp đánh tới thành, chúa thượng vẫn ở trong cung, điện hạ lại bỏ thành mà chạy, nhất thiết không thể được!”
Thái tử Tô nghiêm giọng quát lớn: “Bảo ngươi đi thì ngươi cứ đi, lải nhải cái gì?”
Viên Báo khổ sở van nài: “Kế Thành sắp lâm nguy, chúa thượng long thể bất an. Nếu điện hạ nhất quyết bỏ đi, lòng quân ắt sẽ phân tán, Kế Thành sao giữ nổi đây?”
Thái tử Tô mặt giận tái mét, rút phắt bảo kiếm ra: “Viên Báo, ngươi dám kháng chỉ?”
Viên Báo vươn cổ, cất giọng lạnh tanh: “Điện hạ muốn giết thì giết, mạt tướng quyết không bỏ chạy!”
Đám giáp sĩ nhất loạt quỳ xuống, đồng thanh hô vang: “Chúng tôi thề chết không bỏ chạy, nguyện theo Viên tướng quân bảo vệ Kế Thành, quyết một trận sống mái với phiến quân!”
Thái tử Tô quét thoạt tiên sững sờ, sau đó gân cổ hét rống lên: “Người đâu!”
Xung quanh lặng im phăng phắc, không một ai đáp lời.
Thái tử Tô kinh hãi đến lặng người, bàn tay nắm kiếm bắt đầu run lên, nhìn sững vào đám tướng sĩ như không dám tin: “Các ngươi… muốn mưu phản?”
Viên Báo dõng dạc đáp lời: “Mạt tướng không dám!”
Đám giáp sĩ cũng đồng thanh tiếp lời: “Chúng tôi không dám!”
Thái tử Tô vốn sức trói gà không chặt, không có quân sĩ hộ tống, nào dám tự ý bỏ đi. Thấy quân sĩ kháng lệnh bất phục, trong lòng vô cùng run sợ, đứng im thin thít trên xe, không biết phải làm gì. Bỗng ngoài điện vọng lại tiếng vó ngựa dồn dập, Cơ Khoái dẫn một toán giáp sĩ chạy tới, nhìn thấy cảnh tượng này, lập tức sững người chết lặng.
Thái tử Tô cả mừng, vội gọi: “Khoái Nhi, lại đây mau!”
Cơ Khoái bước lại gần, từ từ quỳ xuống: “Nhi thần khấu kiến điện hạ!”
Thái tử Tô chỉ tay vào đám giáp sĩ: “Đám nghịch tặc này ngang nhiên kháng lệnh, mau tước vũ khí của chúng!”
Không đợi Cơ Khoái ra tay, Viên Báo đã ném ngay trường thương xuống trước mặt, dập đầu dưới đất. Đám giáp sĩ thấy vậy, cũng lần lượt vứt thương xuống đất.
Cơ Khoái ngỡ ngàng nhìn thái tử Tô: “Chuyện này… chuyện này là thế nào?”
Đúng lúc này, từ phía cổng thành tây, đông đều vọng lại tiếng trống trận dồn dập.
Thái tử Tô không kịp giải thích, cuống cuồng giục giã: “Khoái Nhi, không nói chuyện này nữa, đi mau, mở cổng bắc, tạm thời chạy tới Tạo Dương!”
Cơ Khoái nghe vậy, khấu đầu sát đất, chần chừ không chịu đứng lên.
Thái tư Tô sốt ruột, quát lớn: “Khoái Nhi!”
Cơ Khoái chậm rãi nói: “Khởi bẩm quân phụ, cổng bắc không đi được nữa rồi. Theo nhi thần biết, tám cổng thành đều đã bị phản quân bao vây kín mít!”
Thái tử Tô nghe như sét đánh ngang tai, ngã phịch xuống sàn xe.
Cơ Khoái đứng dậy, đưa mắt nhìn khắp lượt tướng sĩ: “Các ngươi còn đứng đây làm gì? Không mau chuyển đồ trở xuống!”
Đám người còn chưa kịp phản ứng, một cỗ xe ngựa đã đỗ xịch ngoài điện. Lão nội thần nhảy xuống xe, chậm rãi bước vào, đưa mắt liếc qua, trong lòng lập tức hiểu rõ sự tình, song không nói gì, chỉ dõng dạc tuyên chỉ: “Điện hạ, phu nhân có khẩu dụ!”
Thái tử Tô vẫn chưa hết bàng hoàng, xuống xe khấu đầu hô: “Nhi thần lĩnh chỉ!”
Lão nội thần nói rành rọt từng chữ: “Mời điện hạ tới cung Cam Đường nghị sự!”
Lão nội thần đi rồi, Cơ Tuyết dẫn Tô Tần tới tiền điện, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.
Trong điện chỉ còn Xuân Mai và một cung nữ thân tín khác. Xuân Mai liếc mắt ra hiệu, rồi cùng cung nữ lánh ra ngoài cửa điện, đứng canh ở đằng xa.
Thấy xung quanh không còn ai nữa, Cơ Tuyết bỗng tim đập thình thình, muôn lời nghìn ý như nghẹn lại trong cổ họng, chỉ có hai mắt vẫn nhìn Tô Tần đăm đăm. Tô Tần cũng không nói một lời, đáp trả nàng bằng ánh nhìn tha thiết.
Hai người cứ thế nhìn nhau hồi lâu, vẫn là Cơ Tuyết lên tiếng trước, phá tan bầu không khí trầm lặng, than thở mà rằng: “Tô Tử, Tuyết Nhi tuyệt không thể ngờ, trong đời này còn có ngày gặp lại Tô Tử, hơn nữa, lại trong tình cảnh thế này! Không giấu Tô Tử, những ngày qua, mây đen giăng kín cung thành, giông tố rình rập ập xuống, trong ngoài Yên thất nguy nan dồn dập, chúa thượng lại mắc bệnh liệt giường, với Tuyết Nhi… thực sự… ngày dài như năm!”
Nghe thấy Cơ Tuyết tự xưng là Tuyết Nhi, Tô Tần trong lòng rung động, khắp người run rẩy, giọng đầy xót thương: “Công chúa đã gầy hơn xưa!”
“Thật ư?” Thấy Tô Tần cũng đổi giọng gọi mình là công chúa, trong khoảnh khắc, Cơ Tuyết như thể cũng đã quay trở về với ngày xưa, nở một nụ cười rạng rỡ mà rằng. “Than ôi, trông Tuyết Nhi hẳn là xấu xí lắm!”
Tô Tần cũng đã trấn tĩnh trở lại, bật cười mà nói: “Xấu xí? Nếu công chúa xấu xí, trong thiên hạ này chắc chẳng còn ai xinh đẹp!”
Cơ Tuyết cũng cười: “Tô Tử nói vậy hẳn là muốn Tuyết Nhi được vui lòng!”
“Công chúa!” Tô Tần ngước nhìn Cơ Tuyết với ánh mắt chan chứa thâm tình. “Tô Tần có một niềm tâm sự, vẫn giấu kín trong lòng suốt mấy năm qua!”
Cơ Tuyết dường như đã đoán ra Tô Tần muốn nói gì, cất giọng khẽ khàng mà run rẩy: “Có thể nói cho Tuyết Nhi nghe chăng?”
Tô Tần đưa tay vào trong ngực áo, lần tìm một chốc, kéo ra mảnh khăn lụa giấu trong tận lớp áo trong cùng, nâng hai tay đưa cho Cơ Tuyết: “Công chúa, người còn nhớ vật này chăng?”
Cơ Tuyết đưa tay nhận lấy, nhìn mảnh khăn lụa đã ố vàng, loang lổ lấm tấm, hương thơm ngày trước đã không còn nữa, thì xúc động ngẹn ngào, nâng lên sát mặt, nước mắt trào ra lã chã.
Tô Tần từ từ quỳ xuống, khẽ nói: “Công chúa! Suốt bao năm qua, vào những lúc mất hết niềm tin, vào những lúc suy sụp thất vọng, vào những lúc cần sự an ủi, vào những lúc gặp phải cám dỗ, Tô Tần chỉ làm một việc duy nhất, chính là lấy mảnh khăn lụa này ra!”
Cơ Tuyết gắng gượng kìm nén không để cho mình bật khóc, giọng nói khẽ như làn gió thoảng: “Xin hỏi Tô Tử, chẳng qua chỉ là một mảnh khăn lụa, Tô Tử lấy ra có tác dụng gì?”
Giọng Tô Tần đã pha chút nghẹn ngào: “Bởi vì… bởi vì trên khăn này còn lưu lại vệt nước mắt của công chúa!”
Nghe thấy lời này, Cơ Tuyết không kìm nén thêm được nữa, hai vai run rẩy, nấc lên từng hồi uất nghẹn. Sụt sùi một lúc, Cơ Tuyết chợt đứng bật dậy, rảo bước vào phòng trong. Lát sau, nàng quay trở ra, ôm theo một hộp gấm.
Cơ Tuyết chậm rãi bước lại, từ từ ngồi xuống, dịu dàng lên tiếng: “Tạ ơn Tô Tử đã coi trọng. Tuyết Nhi cũng có một vật báu, mời Tô Tử thưởng lãm!” Nói xong, đẩy hộp gấm lại trước mặt Tô Tần.
Thấy hộp gấm đẹp đẽ tinh xảo, Tô Tần rất đỗi ngạc nhiên, chỉ ngây ra nhìn.
Cơ Tuyết dịu dàng giục giã: “Tô Tử, hãy mở ra đi!”
Tô Tần đưa tay mở hộp gấm, lấy ra một vật, thấy vật này được bọc trong tầng tầng gấm lụa, song Tô Tần đã lập tức nhận ra, hai tay run run gỡ bỏ từng lớp lụa.
Cuối cùng, Tô Tần cũng đã nhìn thấy thanh kiếm gỗ mà mình từng tỉ mẩn đẽo gọt năm xưa. Đặt bên chiếc hộp tinh xảo và gấm lụa mỹ miều, đặt bên dung nhan hoa nhường nguyệt thẹn và phục sức lộng lẫy của Cơ Tuyết, đặt bên những đồ trần thiết xa hoa và cung điện sang trọng xung quanh, thanh kiếm gỗ càng thêm xấu xí thô kệch khác thường, đúng là thảm hại đến không muốn thấy.
Nhìn sững một lát, Tô Tần phủ phục dưới đất, dập đầu mà nói: “Vật xấu xí này, công chúa không vứt bỏ đã là may mắn lắm rồi, hà tất phải đối xử trọng hậu đến thế?”
Cơ Tuyết chậm rãi nói: “Trong mắt Tuyết Nhi, thứ quý giá thực thụ trong cung điện, chỉ có vật này!” Dừng lời một lát, giọng càng chậm lại. “Không giấu Tô Tử, từng vết khắc trên đó, Tuyết Nhi đều đã thuộc lòng!”
Tô Tần lại bái lạy sát đất, khóc mà nói: “Tạ ơn công chúa hậu ái!”
Cơ Tuyết cũng cúi đầu rơi lệ.
Một lúc lâu sau, Cơ Tuyết mới như sực tỉnh, vội ngẩng lên, khẽ lau nước mắt, nhìn Tô Tần tươi cười mà nói: “Tô Tử, hai vật này đối với Tô Tử, đối với Tuyết Nhi đều đã là bảo bối, thì mỗi chúng ta hãy cứ tự giữ lấy!” Rồi đưa trả mảnh khăn lụa cho Tô Tần, còn mình cũng cẩn thận bọc lại từng lớp gấm lụa quanh thanh kiếm gỗ, cất vào trong hộp như cũ.
Tô Tần cũng cất khăn lụa đi, đứng dậy, quay về chỗ ngồi xuống.
Cơ Tuyết đặt chiếc hộp sang bên cạnh, như đã biến thành một người khác hẳn, mỉm cười nói: “Còn nhớ lần đầu chúng ta gặp nhau chăng? Không giấu Tô Tử, Tuyết Nhi vừa nhìn thấy Tô Tử, đã biết Tô Tử ngày sau chắc chắn sẽ thành tài. Ngày nay gặp lại, quả đúng như vậy!” Dừng lại một lát, nghiêng đầu nhìn Tô Tần, tinh nghịch hỏi. “Nhưng có một điều khiến Tuyết Nhi rất tò mò muốn biết, tật nói lắp của Tô Tử biến đâu mất rồi?”
Tô Tần ngồi ngay ngắn lại, nghiêm trang mà đáp: “Khởi bẩm công chúa, từ sau khi vào núi Vân Mộng, tật nói lắp của Tô Tần đã dần dần biến mất nhờ gặp được ân sư Quỷ Cốc tiên sinh!”
“Quả là kỳ diệu!” Cơ Tuyết mở to hai mắt. “Có điều, nghe Tô Tử nói lắp, lại rất thú vị. Không giấu Tô Tử, mấy năm nay, bên tai Tuyết Nhi lúc nào cũng như văng vẳng giọng nói lắp của Tô Tử. Hôm nay… đột nhiên không nói lắp nữa, Tuyết Nhi thực sự cảm thấy… có chút không quen!”
Tô Tần bật cười: “Nếu công… công chúa… thích… thích nghe… Tô… Tô Tần nói… nói lắp, thì… thì Tô… Tô Tần… sẽ… sẽ nói… nói lắp… cho… cho công… công chúa… nghe… nghe…”
Cơ Tuyết chỉ tay vào Tô Tần cười khanh khách, rồi cũng bắt chước mà nói: “Tô… Tô… Tô… Tô Tử thật… thật… thật… là hài… hài hước!”
Hai người đều chỉ tay vào nhau, cười vui vẻ.
Cười một lúc, Cơ Tuyết mới như sực nhớ ra, lập tức thôi cười, vội hỏi: “Xin hỏi Tô Tử, Vũ Nhi có ở đó không?”
Tô Tần vòng tay nói: “Tại hạ cũng đang định bẩm báo với công chúa đây. Vũ công chúa đã đổi tên là Ngọc Thiền, là sư tỷ của tại hạ, theo tiên sinh tu học y đạo trong cốc, đã có thành tựu!”
“Ồ?” Cơ Tuyết mừng rơi nước mắt, vội hỏi. “Vũ Nhi… hãy mau kể về Vũ Nhi!”
Tô Tần lại ngồi ngay ngắn, chậm rãi kể về Ngọc Thiền, từ chuyện Ngọc Thiền tu đạo thế nào, thành tựu ra sao, cho tới chuyện ngày ngày ngóng trông chim nhạn, gảy đàn gửi gắm niềm tâm sự tới Cơ Tuyết. Cơ Tuyết nghe mà nước mắt giàn giụa. Đang lúc đau thương rầu rĩ, thì lão nội thần quay về, khẽ đặng hắng một tiếng ngoài cửa, rồi bước vào bẩm báo: “Khởi bẩm phu nhân, điện hạ và Kế Thành lệnh đang ở bên ngoài cầu kiến!”
Cơ Tuyết gạt nước mắt, ngồi im một chốc gắng trấn tĩnh lại, rồi chậm rãi gật đầu: “Truyền!”
Lão nội thần dõng dạc hô: “Truyền điện hạ, Kế Thành lệnh yết kiến!”
Từng hồi trống trận văng vẳng vọng vào tận trong cung Minh Quang. Yên Văn Công lắng nghe một lát, cảm thấy bất thường, thình lình ngồi bật dậy gọi lớn: “Người đâu!”
Cung chính vội bước vào đáp: “Có vi thần!”
“Phu nhân đâu?”
“Khởi bẩm chúa thượng, phu nhân đang cùng quần thần nghị sự trong cung Cam Đường!”
Yên Văn Công lấy làm ngờ vực: “Cung Cam Đường? Cùng quần thần nghị sự? Về chuyện gì?”
Miệng cung chính vừa hé mở, đã lập tức khép lại ngay.
Văn Công sốt một hỏi: “Là chuyện gì vậy, nói mau!” Cung chính quỳ xuống, dập đầu nói: “Là chuyện ngoài cung, phu nhân sợ chúa thượng lo lắng, tạm thời không cho vi thần bẩm báo!”
Văn Công trầm giọng hỏi: “Tử Ngư tới rồi ư?”
“Đúng vậy!” Cung chính hạ thấp giọng bẩm tấu. “Trưởng công tử dẫn vài vạn đại quân kéo tới, lúc này đang đánh vào Kế Thành!”
Yên Văn Công sắc mặt lạnh tanh, đôi mày rậm chau tít lại, sát khí hiển lộ, xoay người xuống giường, như thể không hề có bệnh: “Thay áo!”
Cung chính thấy vậy, rất đỗi ngạc nhiên: “Chúa thượng!” Sững lại một lúc mới quay sang cung nữ. “Mau, thay áo cho chúa thượng!”
Tại tiền điện cung Cam Đường, thái tử Tô và Kế Thành lệnh Chử Mẫn phủ phục dưới đất.
Dù sâu trong thâm cung, từng hồi trống trận và tiếng hô xung sát vẫn vượt qua trùng trùng tường vách, truyền tận vào trong, lúc xa lúc gần, lúc ẩn lúc hiện. Nghe tiếng trống trận dồn dập, đoán rằng phiến quân có thể đánh vào thành bất cứ lúc nào. Công tử Tô sắc mặt trắng bệch, Tô Tần thấy rõ hai chân hắn run lên bần bật không ngừng.
Cơ Tuyết sắc mặt bình thản như không, dường như tiếng hò hét, tiếng trống trận bên ngoài chẳng hề liên quan tới nàng.
Cơ Tuyết khẽ nâng tay ngọc, cất giọng bình hoà: “Điện hạ, Chử ái khanh, miễn lễ!” Chỉ vào vị trí đã sắp xếp sẵn bên cạnh. “Ngồi đi!”
Thái tử Tô, Kế Thành lệnh cảm tạ, cùng đứng dậy ngồi vào chỗ.
Cơ Tuyết đưa mắt nhìn Tô Tần, thấy Tô Tần gật đầu, bèn từ từ quay sang Kế Thành lệnh, môi son hé mở, giọng nói không nhanh cũng không chậm: “Bản cung vốn là phận nữ lưu, theo lệ thường không được can dự triều chính. Tuy nhiên, quốc nạn giáng xuống, chúa thượng long thể bất an, điện hạ…” liếc xéo sang thái tử Tô, “điện hạ niệm đến tình nghĩa máu mủ, khó lòng quyết đoán, bản cung cũng chỉ biết làm điều bất đắc dĩ, vời hai vị tới đây, cùng bàn mưu kế! Chử ái khanh, hãy nói sơ qua tình hình trước mắt!”
Trước vẻ điềm tĩnh phi thường và lời lẽ khéo léo của Cơ Tuyết, đừng nói là thái tử Tô và Chử Mẫn, ngay cả Tô Tần cũng vô cùng chấn động, đưa mắt nhìn Cơ Tuyết, khẽ gật đầu.
Chử Mẫn vòng tay nói: “Khởi bẩm phu nhân, theo vi thần được biết, phản quân Vũ Dương tập hợp được ba vạn người, vũ khí công thành đã chuẩn bị đầy đủ, kết hợp với lầu tháp, nỏ liên châu, khí thế vô cùng hung hãn!”
Thái tử Tô càng thêm hoảng loạn, giọng cũng run bắn lên: “Chẳng phải nói là… chỉ… chỉ có hai vạn quân thôi ư?”
“Khởi bẩm điện hạ,” Chử Mẫn quay sang thái tử Tô, “phản quân vốn có hai vạn, gần đây lại cưỡng chế trưng binh tất cả tráng đinh tại các ấp quanh Vũ Dương, do vậy đã có thêm hơn vạn nữa!”
Cơ Tuyết thoáng kinh hãi trong lòng, đưa mắt nhìn Tô Tần, thấy Tô Tần vẫn ngồi im khép mắt, như nghe mà không nghe, dường như đó chẳng qua chỉ là một con số.
Ngoài cổng nam, tiếng hò reo, tiếng trống trận càng thêm kinh động.
Thái tử Tô giật mình run rẩy, vô thức nhìn sang Cơ Tuyết: “Mẫu hậu, phải… phải chăng phản quân đã… đã đánh vào thành?”
Cơ Tuyết không thèm đếm xỉa tới hắn, mà đưa mắt nhìn Chử Mẫn.
Chử Mẫn đáp: “Khởi bẩm điện hạ, vi thần thăm dò biết được, phản quân đánh trống không phải thực sự muốn tấn công thành, chẳng qua chỉ là hư trương thanh thế, làm kinh hãi lòng quân!”
Cơ Tuyết sửng sốt hỏi: “Cớ sao lại làm vậy?”
“Khởi bẩm phu nhân, theo vi thần điều tra biết được, trong Kế Thành còn có vài trăm phản quân, hẹn đến canh ba nửa đêm tập kích cổng đông, trong ứng ngoài hợp với phản quân ngoài thành. Hiện tại phản quân vờ tấn công ba cổng nam, bắc, tây, chỉ không tấn công cổng đông, nguyên do là như vậy!”
Cơ Tuyết cả kinh, nhìn sang Tô Tần, thấy hắn vẫn ung dung tự tại.
Cơ Tuyết khẽ gọi: “Tô Tử!”
Tô Tần mở choàng mắt, nhìn Chử Mẫn: “Xin hỏi tướng quân, trong thành có cả thảy bao nhiêu quân trấn thủ?”
“Hồi bẩm Tô Tử,” Chử Mẫn vòng tay nói, “trong thành vốn có hai vạn quân, tháng trước để phòng ngự người Triệu, Tử Chi tướng quân đã điều đi hơn một vạn, hiện tại, quân giữ thành không tới tám nghìn. Ngoài ra còn có ba nghìn vệ sĩ trong cung, không thuộc sự chỉ huy của mạt tướng!”
Tô Tần gật đầu nói: “Nếu giao hai nghìn vệ sĩ cho tướng quân, liệu tướng quân có thể giữ thành trong ba ngày được không?”
Chử Mẫn ngẩn ra không hiểu, ngập ngừng một thoáng: “Chuyện này…”
Tô Tần thoáng ngạc nhiên: “Nghe giọng của tướng quân, lẽ nào không giữ nổi ba ngày?”
“Không phải, không phải!” Chử Mẫn vội nói. “Nếu giữ ba mươi ngày, mạt tướng không dám chắc, song nếu chỉ là ba ngày, mạt tướng dám lập quân lệnh trạng để đảm bảo!”
“Tô Tử,” thái tử Tô kinh hoàng cắt ngang, “nhưng… sau ba ngày, chúng… chúng ta sẽ như thế nào?”
Tô Tần khẽ ôm quyền hướng về phía thái tử Tô: “Điện hạ yên tâm, Tô Tần đoán rằng, trong vòng ba ngày, phản quân tất tan rã!”
Lời vừa thốt ra khỏi miệng, tất cả những người có mặt đều đưa mắt nhìn nhau, rồi không hẹn mà cùng đổ dồn ánh mắt về phía Tô Tần.
Chử Mẫn bán tín bán nghi, nhìn Tô Tần không chớp mắt: “Tô Tử vừa nói, trong vòng ba ngày, phản quân tất tan rã?”
“Đúng vậy!” Giọng Tô Tần chắc nịch.
Thái tử Tô vội hỏi: “Vì đâu phản quân tất tan rã?”
Không đợi Tô Tần trả lời, từ ngoài cửa đã vọng lại một giọng nói: “Bởi lẽ đã có đại quân sáu vạn của quả nhân!”
Tất cả mọi người đều giật mình kinh ngạc, thảy đều quay đầu nhìn lại, thấy Yên Văn Công đang được cung chính dìu đỡ, không hiểu đã đứng giữa cửa tự bao giờ, hiên ngang chẳng khác gì một gốc tùng nghìn tuổi.
Mọi người vội vã đứng dậy, khấu bái sát đất.
Yên Văn Công lúc này không hề còn thấy vẻ bệnh tật, hất tay cung chính ra, sải bước tiến vào, ngồi xuống vị trí chủ, chìa tay nói: “Phu nhân, chư vị ái khanh, mời ngồi!”
Mọi người tạ ơn, đứng dậy, cùng ngồi xuống chỗ.
Yên Văn Công đưa mắt nhìn thái tử Tô, Chử Mẫn, chậm rãi nói: “Thái tử, Chử ái khanh, mau đi đi, việc phòng ngự Kế Thành, trông cậy cả vào hai khanh! Chiếu cáo chư tướng sĩ, quả nhân có chỉ, không ai được phép thoái lui dù chỉ một bước!”
Hai người nhận lệnh, đứng dậy cáo lui.
Thấy họ đã đi xa, Văn Công quay người lại, vòng tay hướng về phía Tô Tần: “Sĩ tử phải chăng là Tô Tử? Quả nhân vốn đã bàn cùng phu nhân, định hẹn Tô Tử tới bên giường thỉnh giáo,” cười buồn một tiếng, “nào ngờ sự biến thình lình!”
“Thảo dân tạ ơn chúa thượng hậu ái!” Tô Tần vòng tay đáp lễ. “‘Dịch’ có sáu mươi tư quẻ, mỗi quẻ đều không tách rời chữ biến, đó chính là cương nhu xô đẩy, sinh ra biến hoá!”
“Tô Tử nói rất phải!” Văn Công gật gù. “Nghe nói Tô Tử tới Yên, bệnh của quả nhân bỗng chốc thuyên giảm quá nửa, đây cũng coi là sinh ra biến hoá!”
“Thảo dân thân phận thấp hèn, có thể cầu phúc cho chúa thượng, quả là sự may mắn của thảo dân!”
Cơ Tuyết trong lòng băn khoăn, vội nói xen vào: “Bản cung có một việc không rõ, mong Tô Tử chỉ giáo!”
Tô Tần quay sang Cơ Tuyết, vòng tay nói: “Phu nhân xin cứ nói!”
“Tô Tử không biết chuyện chúa thượng muốn điều động sáu vạn đại quân của Tử Chi tướng quân, cớ sao lại khẳng định phản quân trong vòng ba ngày tất tan rã?”
Tô Tần mỉm cười mà nói: “Vì Tô Tần đoán rằng, trong vòng ba ngày, quân Triệu tất sẽ tan rã. Nếu quân Triệu tan rã, Tử Chi tướng quân còn lý do gì để tiếp tục cố thủ ở biên cương?”
Tô Tần nói ra lời này, đừng nói là Cơ Tuyết, dù Yên Văn Công cũng vô cùng kinh ngạc: “Vì đâu mà Tô Tử lại đoán rằng quân Triệu tất tan rã?”
“Khởi bẩm chúa thượng,” Tô Tần dõng dạc bẩm tấu, “Tô Tần vừa từ đất Triệu tới, đương nhiên hiểu Triệu. Chúa thượng có lo âu, Triệu thất cũng tương tự. Phụng Dương Quân Triệu Thành không ngôi vị mà nắm đại quyền, ngấm ngầm cấu kết với Vũ Thành Quân, muốn giúp Tử Ngư cướp lấy quyền bính cung Yên, rồi dựa sức người Yên bức Triệu Hầu thoái vị. Để đạt được mục đích này, Phụng Dương Quân đã lấy cớ phòng ngự Trung Sơn, điều quân Triệu tới quận Đại, khiến Tấn Dương trống rỗng, giúp người Tần thừa cơ đột kích. Tô Tần đoán rằng, người Tần tất công phá Tấn Dương, Triệu Hầu sẽ thừa cơ hội này trừ khử Phụng Dương Quân, quân Triệu cũng sẽ rút khỏi quận Đại, tới chi viện cho Tấn Dương. Không còn sự hậu thuẫn của quân Triệu, phản quân Vũ Dương khác nào cây không gốc, rắn mất đầu, không chiến tự tan.”
Cơ Tuyết, Yên Văn Công đưa mắt nhìn nhau.
Cơ Tuyết dường như không thực tin: “Tô Tử, suy đoán như vậy, liệu có khả năng sơ sảy hay không?”
“Khởi bẩm phu nhân, trong vòng ba ngày nữa, mọi việc sẽ rõ ràng!”
Tô Tần còn chưa kịp ngừng lời, lão nội thần tay cầm quân báo đã hấp tấp bước vào: “Khởi bẩm chúa thượng, Tử Chi tướng quân cấp báo!”
Yên Văn Công nhận lấy cấp báo, đọc lướt qua một lượt, sắc mặt phấn chấn, nói với Tô Tần: “Tô Tử phán đoán như thần, nước Triệu đã xảy ra đại biến. Giờ Tý đêm qua, chủ tướng quân Triệu là công tử Phạm bị đình uý Phì Nghĩa bắt sống, quân Triệu gấp rút lên đường ngay trong đêm, quay về chi viện cho Tấn Dương. Tử Chi tướng quân hiện chia quân hai lộ, một lộ tập kích đoạt lấy Vũ Dương, một lộ tiến về chi viện Kế Thành.”
Cơ Tuyết thở phào, nhìn Tô Tần vẻ đầy khâm phục.
Hai luồng ánh mắt chạm nhau, Cơ Tuyết bỗng như bừng tỉnh, lập tức cúi đầu, đứng dậy vòng tay mà nói: “Chúa thượng, Tô Tử, hai người hãy luận bàn quốc sự, thần thiếp cáo lui!” Nói xong, chậm rãi lui ra.
***
Màn đêm buông xuống. Trong đại doanh của phản quân bên ngoài cổng thành nam, đèn đuốc sáng trưng. Vũ Thành Quân ngồi ngay ngắn trên chiếu, tay cầm một bó lệnh tiễn, hơn chục tướng quân đang chăm chú nghe lệnh.
Quý Thanh hấp tấp bước vào, ghé sát tai Vũ Thành Quân thì thầm một hồi. Vũ Thành Quân bàng hoàng kinh hãi, bó lệnh tiễn trong tay rơi luôn xuống đất. Chư tướng không biết xảy ra chuyện gì, ngơ ngác nhìn nhau.
Quý Thanh ngẩng đầu, phẩy tay nói với chư tướng: “Chư vị tướng quân, hãy tạm ra ngoài doanh trại đợi lệnh!”
Thấy chư tướng đã ra khỏi đại doanh, Quý Thanh thở dài một tiếng: “Chúa công, Vũ Dương mất rồi, đại quân của Tử Chi đang quay về chi viện, chúng ta… đã không còn đường thoái lui!”
Vũ Thành Quân chết lặng một hồi, rồi ngẩng đầu nhìn Quý Thanh: “Quý… Quý Tử, bản công không nghĩ ra được chủ ý gì nữa, Quý Tử hãy mau nghĩ kế vẹn toàn!”
Quý Thanh than thở: “Than ôi, cái danh phản loạn đã định, chúa công tiến lui đều hết đường thoát thân, theo kế của vi thần, hiện tại chỉ còn một cách, cá chết lưới rách!”
Sắc mặt Vũ Thành Quân từ trắng bệch chuyển sang xanh lét, rồi lại từ xanh lét chuyển sang tím tái, cuối cùng gật đầu mà hỏi: “Nói đi, cá chết lưới rách là thế nào?”
“Đánh hạ Kế Thành trước khi đại quân của Tử Chi kịp về tới. Chỉ cần kiểm soát được Kế Thành, bắt sống chúa thượng, đại quân của Tử Chi sẽ ngoan ngoãn nghe lệnh chúa công!”
“Được!” Vũ Thành Quân lập tức quyết định, cao giọng nói lớn. “Đằng nào cũng chết, cứ làm theo kế của Quý Tử, cá chết lưới rách!”
Quý Thanh quay ra ngoài vỗ tay, chúng tướng vội vã kéo vào.
Quý Thanh đặng hắng một tiếng, chậm rãi nói: “Chư vị tướng quân, trải qua một ngày công thành, lòng quân Kế Thành đã phân tán, ý chí rệu rã, thành công chính là vào đêm nay! Tại hạ vừa bàn với chúa công, canh ba đêm nay, nghe tiếng trống trận ở cổng đông làm hiệu, nhất tề dốc sức đánh vào Kế Thành. Ba cổng nam, tây, bắc vốn chỉ định hư trương thanh thế, giờ đổi thành đánh thực!”
Vũ Thành Quân đứng bật dậy, gằn mạnh từng chữ: “Chư vị tướng quân, ai đánh được vào thành trước, bắt sống được gian tặc, bản công sẽ ghi công đầu, thưởng nghìn lạng vàng, phong chức đại tướng quân!”
Chư tướng đưa mắt nhìn nhau, cùng quỳ một gối đồng loạt hô vang: “Mạt tướng nhận lệnh!”
Đêm xuống, gần tới canh ba, trên cánh đồng rộng lớn ngoài cổng thành đông, nhờ màn đêm che phủ, từng cánh quân đông như kiến cỏ ồ ạt tiến về phía cổng thành, dừng lại cách thành một tầm tên bắn.
Tiếng mõ canh ba đã điểm, tất cả ánh mắt của phản quân đều dán chặt vào cổng thành. Đột nhiên, trên cổng thành đèn đuốc vụt sáng, tiếng hô giết dấy vọng động trời, tiếng kêu gào thảm thiết liên miên bất tuyệt. Không cần phải hỏi, Vũ Thành Quân cũng biết kế hoạch “trong ứng ngoài hợp” đã bại lộ, thì sắc mặt đại biến, mắt giận toé lửa, cướp lấy dùi trống, đích thân thúc trống điên cuồng. Trong chốc lát, tiếng trống dồn dập vang vọng, phản quân đồng thanh hò hét, mang theo vũ khí công thành, xông thẳng tới trước cổng.
Trên tường thành đèn đuốc sáng rực, tên bắn như mưa. Phản quân liều mạng băng qua mưa tên, lội qua hào nước, xông tới chân thành, bắc thang mây, đua nhau trèo lên. Hàng trăm binh lính xúm xít ngoài cổng thành, công kênh một súc gỗ to, ra sức nện vào cánh cổng. Trên thành gỗ đá rơi xuống tới tấp, phản quân tử thương la liệt, tiếng gào rú triền miên không dứt.
Cùng lúc này, phản quân tại các cổng tây, bắc, nam nghe thấy tiếng trống ở cổng đông, cũng đồng loạt tấn công điên cuồng vào các cổng thành.
Cung Cam Đường vốn là chốn thâm cung, người ngoài không được tự ý ra vào, càng không thể luận bàn chính sự tại đây. Trước đó, Cơ Tuyết triệu mấy người tới đây nghị chính, là bởi tình thế cấp bách. Đến khi Yên Công bàn về chính sự, đương nhiên sẽ không tiếp tục ở đây, mà đã mời Tô Tần tới cung Minh Quang, vào ngự thư phòng tiếp tục bàn luận.
Từ bên ngoài, tiếng trống trận thùng thùng, tiếng hò la vang động dội vào mồn một, hết đợt này đến đợt khác.
Hai người vừa ngồi xuống, đã thấy thái tử Tô hốt hoảng chạy vào, dập đầu sát đất: “Quân phụ, phản quân… sắp… sắp đánh vào rồi!”
Nhìn thấy bộ dạng kinh hãi mất hồn của thái tử Tô, Yên Văn Công khẽ chau mày, cất giọng lạnh lùng: “Chẳng phải vẫn chưa đánh vào ư?”
Tô Tần xin mang bút mực ra, ngồi bên bàn viết mải miết một chặp, rồi trình lên Yên Văn Công. Văn Công xem xong, bèn gật đầu, trả lại Tô Tần. Tô Tần đưa bức thư cho thái tử Tô, vòng tay nói: “Điện hạ, hãy mau chuyển thư này tới Kế Thành lệnh, có lẽ sẽ tạm thời chặn được thế tấn công của phản quân!”
Yên Văn Công thêm một câu: “Nói với Kế Thành lệnh, đây là ý chỉ của quả nhân!”
Nhìn thấy thái tử Tô đã đi khuất, Tô Tần quay sang, nói với Văn Công: “Chúa thượng dự định xử tội trưởng công tử thế nào?”
Yên Văn Công chau tít đôi mày, hồi lâu sau, mới rít qua kẽ răng: “Y theo luật lệnh!”
“Chúa thượng!” Tô Tần chậm rãi nói. “Trưởng công tử tuy phạm tội không thể dung thứ, thế nhưng, chúa thượng thực sự muốn giết con trai mình ư?”
“Than ôi!” Yên Văn Công đau đớn nhắm nghiền hai mắt, thở dài não nề. “Từ ngày Đại Chu lập quốc, nội loạn cung đình xảy ra liên miên trong liệt quốc, duy có Yên thất vẫn trật tự quy củ, không ngờ đến đời quả nhân lại sinh ra giống nghịch tử này. Nếu không trừng trị nghiêm minh, hậu thế ắt sẽ bắt chước làm theo, hậu hoạ thật khôn cùng!”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, bèn quỳ xuống cầu xin: “Trưởng công tử đi tới bước đường này, đương nhiên là tội chết. Có điều, vừa rồi phu nhân có nói một câu khiến thảo dân vô cùng cảm khái, đó là ‘nước Yên không thể tự loạn’. Yên có loạn này, đã tổn thương tới gốc rễ, nếu chúa thượng xử tử trưởng công tử, bè đảng của trưởng công tử ắt sẽ kinh hãi, hoặc chạy trốn vì sợ tội, hoặc tụ hợp để chống đối, chưa nói đến chuyện nước Yên lại một lần nữa đổ máu, chỉ nói riêng trong thần dân Vũ Dương, sẽ lại có thêm bao nhiêu người gia đình ly tán, tan cửa nát nhà. Hơn nữa, hổ dữ không ăn thịt con, chúa thượng xưa nay vẫn lấy nhân đức làm gốc, lẽ nào không còn sự lựa chọn nào khác ư?”
Nghe Tô Tần nói những lời này, Yên Văn Công hít vào một hơi khí lạnh, rồi gật gù nói: “Tô Tử suy nghĩ rất thấu đáo. Theo ý Tô Tử, quả nhân nên làm thế nào?”
“Chúa thượng có thể xuống một đạo chỉ, xá tội chết cho trưởng công tử, để trưởng công tử tự mình hối cải, làm lại cuộc đời. Còn thuộc hạ của trưởng công tử, bỏ qua không trách tội!”
Yên Văn Công ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi gật đầu nói: “Cứ làm theo ý Tô Tử!”
Tô Tần lại bái lạy, khấu đầu mà nói: “Thảo dân thay mặt trưởng công tử, thay mặt người Yên ở Vũ Dương khấu tạ ân không trách tội của chúa thượng!”
Thái tử Tô lĩnh chỉ, vội vã đi ra, gọi Viên Báo lại, sai hắn cấp tốc mang thư của Tô Tần tới cho Chử Mẫn. Viên Báo nhận lệnh, gọi đến hơn chục giáp sĩ, cầm thương lên ngựa, phi như bay tới cổng đông.
Do chủ lực phản quân tập trung chủ yếu ở cổng thành đông, nên nơi đây chiến sự cũng ác liệt nhất. Trên dưới thành đèn đuốc sáng trưng, Vũ Thành Quân đích thân đốc trận, phản quân nghìn nghịt như sóng, đã bắc được vô số thang mây dọc theo tường thành.
Ở một nơi cách cổng thành không xa, lão trượng và tráng sĩ mỗi người đang cố thủ sau một ụ thành. Một phản quân vừa ló đầu lên phía sau ụ thành, đã bị lão trượng một thương đâm tới. Kẻ này nhanh mắt, lập tức né đầu, đưa tay chộp chặt đầu thương. Lão trượng tuổi cao, hơn nữa đã giao chiến suốt nhiều giờ, sức đã yếu, không còn đủ sức giằng co với phản quân. Phía sau lại có vài phản quân khác xông lên, một tên vung thương đâm thẳng vào lão trượng. Lão trượng đang lúc giằng co, không kịp né tránh, bị mũi thương đâm thấu ngực, rú lên một tiếng, miệng vọt máu tươi, lập tức ngã gục. Phản quân còn chưa kịp rút thương về, tráng sĩ đang chém giết phía ụ thành bên kia đã nhìn thấy, gầm lên một tiếng, vung tay phóng tới một mũi phi đao, đâm trúng yết hầu hắn. Tiếp đó, lại thêm vài mũi phi đao xé gió lao tới, đao nào cũng trúng yết hầu, cả mấy tên phản quân vừa ló đầu lên đều ngã gục. Tráng hán chạy lại, vực lão trượng dậy, thì thấy lão đã tắt thở mất rồi.
Phía sau ụ thành lại thấy có thêm phản quân tiếp tục nhô lên. Tráng hán đã phóng hết phi đao, bèn giật lấy cây thương của lão trượng từ trong tay phản quân đã chết, múa lên tít mù, xông về phía ụ thành, cản bước phản quân.
Đúng lúc này, Viên Báo vội vã leo lên lầu cổng thành, thấy Chử Mẫn đang đứng trên thành thúc trống trận, bèn gọi lớn: “Chử tướng quân, chúa thượng có cấp chỉ!”
Chử Mẫn vội đưa dùi trống cho lính đánh trống, cầm lấy thư, mở ra đọc, rồi đưa cho Viên Báo: “Mau chép thư này, truyền lệnh cho thủ quân toàn thành, hô vọng xuống dưới thành đúng như nội dung trong thư!”
Viên Báo đang chép vội vã, ngẩng đầu nhìn lên, thấy cách đó không xa, một tốp phiến quân đã leo được lên mặt thành, đang lo sợ thì Chử Mẫn đã vung thương xông lên cản bước. Viên Báo cắm cúi chép làm nhiều bản, giao cho tay chân thân tín, bảo họ mau chóng mang xuống lầu thành, chia tới tất cả các cổng thành, còn mình giữ lại một bản, nằm phục phía sau ụ thành, lấy hết sức bình sinh gân cổ hét vọng xuống dưới chân thành: “Chư vị tướng sĩ dưới thành nghe đây! Đại quân Triệu đã tan rã, Tử Chi tướng quân đã chiếm lại được Vũ Dương, không đầy một canh giờ nữa sẽ đuổi tới đây. Mọi người đã hết đường tháo chạy, nếu còn ngoan cố kháng cự, chỉ còn đường chết… Chư vị tướng sĩ dưới thành nghe đây, chư vị đã bị lừa rồi. Nhân lúc còn chưa muộn, hãy mau chạy thoát thân!… Chúa thượng có chỉ, người Yên Vũ Dương dù đã cả tin mê lầm, mưu nghịch tạo phản, quả nhân vẫn sẽ dung thứ, bởi các ngươi đều là người Yên, đều là con dân của quả nhân! Người Yên không đánh người Yên, chỉ cần các ngươi hạ vũ khí, thực bụng hối cải, quả nhân sẽ không truy cứu…”
Thấy Viên Báo hô lên như vậy, các tướng sĩ khác cũng vội buông vũ khí, cùng hét vọng xuống dưới. Chốc sau, phản quân đang tấn công thành bắt đầu dừng lại, lắng tai nghe. Một chốc nữa, phản quân bèn nhao nhao kêu lên:
“Chúa thượng nói đúng, chúng ta đều là người Yên, người Yên không giết người Yên!”
“Mẹ kiếp, bị lừa rồi!”
“Anh em, đại quân của chúa thượng đã tới, mau chạy cho nhanh!”
Lại một chốc nữa, phản quân đua nhau vứt bỏ vũ khí, nháo nhào chạy tán loạn vào trong bóng đêm.
Buổi sáng hôm sau, vài trăm quân sĩ chưa chịu rời bỏ Vũ Thành Quân tập trung xung quanh đại doanh. Trong đại doanh, Vũ Thành Quân ngồi ngay ngắn trước bàn, hai tay bưng một hũ rượu, ngửa cổ uống ừng ực. Quý Thanh và năm tướng quân đều quỳ dưới đất.
Quý Thanh khấu đầu nói: “Chúa công, xin chúa công đừng uống nữa!”
Chư tướng cũng đồng loạt khấu đầu khuyên: “Chúa công, mau chạy thôi, nếu không sẽ không kịp nữa!”
Vũ Thành Quân như thể không nghe thấy, vẫn dốc ngược hũ rượu mà đổ thẳng xuống cổ.
Quý Thanh đứng dậy, giật lấy hũ rượu, ném xuống đất: “Chúa công, lẽ nào chúa công thực sự muốn chết ở đây?”
Vũ Thành Quân nhìn Quý Thanh, cười gằn một tiếng, lắc đầu nói: “Quý Tử, Vũ Dương đã mất, ngươi nói xem, bản công còn có thể đi đâu?” Rồi nheo đôi mắt lờ đờ nhìn khắp lượt chư tướng, cao giọng nói. “Chư vị tướng quân, chư vị nói xem, bản công còn có thể đi đâu?”
Quý Thanh đáp: “Tề Vương xưa nay đối xử với chúa công không tệ, chúa công có thể tới Lâm Truy!”
Năm vị tướng quân đồng thanh nói: “Mạt tướng thề chết bảo vệ chúa công, chạy tới Lâm Truy!”
Vũ Thành Quân đang định lên tiếng, bỗng ngoài trại vọng lại tiếng bước chân rậm rịch, tham tướng tiến vào bẩm báo: “Báo, sứ thần của chúa thượng tới!”
Quý Thanh vội đứng dậy, khẽ ra hiệu với mấy vị tướng quân. Đám người vội đứng lên, lùi sang hai bên, tay đặt sẵn vào chuôi kiếm, như thể sắp sống mái với kẻ thù. Vũ Thành Quân gật đầu với Quý Thanh, Quý Thanh bèn quay sang tham quân nói: “Truyền vào!”
Lão nội thần ung dung tiến vào, theo sau là Viên Báo.
Vừa bước vào trướng, Viên Báo đã đặt tay lên chuôi kiếm, ánh mắt lạnh lùng quét khắp lượt xung quanh, đứng sát bên cạnh lão nội thần.
Lão nội thần dừng bước, dõng dạc nói: “Chúa thượng khẩu dụ, Vũ Thành Quân nghe chỉ!”
Vũ Thành Quân giật nảy mình, đứng bật dậy, sụp xuống khấu bái: “Nhi thần tiếp chỉ!”
Lão nội thần đặng hắng khẽ một tiếng, rồi dõng dạc tuyên đọc: “Chúa thượng khẩu dụ! Ngư Nhi, con thực hồ đồ! Con và Tô Nhi đều là cốt nhục của quả nhân, lại là anh em cùng thai, nay sự việc ra nông nỗi này, thực khiến quả nhân đau xót! Ngư Nhi, mây đen đã qua, mọi việc đã thành quá khứ. Lỗi lầm của con, quả nhân sẽ khoan dung. Thuộc hạ của con đều là con dân của quả nhân, quả nhân cũng sẽ tha thứ. Ngư Nhi, quả nhân già rồi, chẳng thiết tha gì nữa, chỉ mong được gặp mặt con. Tối qua, trong lúc nửa tỉnh nửa mơ, quả nhân đã gặp mẫu hậu của các con, đứng bên giường nước mắt giàn giụa, nói với quả nhân rằng, Ngư Nhi đâu, Ngư Nhi của thần thiếp đâu rồi? Ngư Nhi, ngày mai là ngày giỗ của mẫu hậu con, đừng làm loạn nữa, hãy mau trở về! Quả nhân đợi con trong cung Minh Quang!”
Lão nội thần truyền xong khẩu dụ, đưa ống tay áo lên lau nước mắt.
Vũ Thành Quân khóc nấc lên không thành tiếng, dập đầu lia lịa, giọng lạc đi: “Công phụ… mẫu hậu… nhi thần tới đây! Nhi thần tới ngay đây!”
Lão nội thần nghẹn ngào nói: “Công tử, hãy theo lão nô trở về, chúa thượng long thể vẫn chưa bình phục, nay lại mất ngủ suốt đêm, đang ôm bệnh mỏi mắt chờ công tử!”
Vũ Thành Quân gạt nước mắt, đứng dậy vòng tay vái lão nội thần một vái thật sâu: “Nội tể xin đợi cho một lát!” Nói xong, quay người bước vào phòng trong.
Lát sau, sau vách trại vẳng ra một tiếng “xẹt” trầm trầm. Quý Thanh giật mình choàng tỉnh, vội lao người chạy vào phòng trong, thấy Vũ Thành Quân đã nằm dưới đất, phục kiếm tự vẫn.
Quý Thanh đoạt lấy bảo kiếm từ trong tay Vũ Thành Quân, hét lên thật lớn: “Chúa công, Quý Tử tới đây!” Rồi cũng vung kiếm đưa ngang cổ.
Giờ Mão vừa tới, thái tử Tô mặt mày hớn hở sải bước vào cung Cam Đường, người còn chưa tới cửa, đã nghe thấy tiếng: “Mẫu hậu! Mẫu hậu!”
Xuân Mai đứng canh trước cửa cung đưa tay ra hiệu, “suỵt” khẽ một tiếng, tỏ ý bảo Cơ Tô không được to tiếng.
Thái tử Tô dừng bước, hỏi khẽ: “Mẫu hậu đâu?”
Xuân Mai trả lời: “Phu nhân cả đêm không ngủ, giờ đang nghỉ ngơi. Điện hạ có việc gì cần kíp?”
Thái tử Tô vội nói: “Mau bẩm báo với mẫu hậu, nói là nhi thần có việc gấp cầu kiến!”
Xuân Mai liếc mắt qua thái tử Tô, rồi bước vào cửa cung, một lát sau, trở ra nói: “Phu nhân có chỉ, hỏi điện hạ có việc gấp gì?”
Thái tử Tô vui mừng ra mặt, cất giọng oang oang: “Bẩm báo mẫu hậu, có tin đại hỷ, nghịch tặc Tử Ngư đã nhận tội tự sát!”
Xuân Mai lại quay trở vào, một lát sau, từ sau cánh cửa vọng ra giọng nói lạnh lùng của Xuân Mai: “Phu nhân có chỉ, tin vui này chỉ là với một mình điện hạ, không liên quan tới phu nhân. Điện hạ có thể ra về được rồi!”
Thái tử Tô sượng sùng, quay người hậm hực bỏ đi.
Chủ tướng quân Yên Tử Chi thân mang giáp trụ sải bước vào trong chính điện cung Minh Quang, tới trước mặt Yên Văn Công, quỳ xuống dập đầu hô: “Mạt tướng khấu kiến chúa thượng!”
Yên Văn Công phẩy tay: “Tướng quân miễn lễ!”
Tử Chi đứng dậy, ngồi xuống chỗ đầu tiên bên phải.
Yên Văn Công chỉ tay vào Tô Tần đang ngồi đối diện với mình, nói: “Tử Chi tướng quân, quả nhân giới thiệu, vị này là danh sĩ thiên hạ Tô Tần.”
Tử Chi vòng tay hướng về phía Tô Tần nói: “Tại hạ ngưỡng mộ đại danh Tô Tử đã lâu!”
Tô Tần cũng vòng tay đáp: “Tạ ơn lời nói tốt đẹp của tướng quân!”
Đúng lúc này, ngoài điện bỗng vọng lại tiếng chân bước, lão nội thần hấp tấp chạy vào, quỳ xuống đất bật khóc mà nói: “Chúa thượng, trưởng công tử, trưởng công tử…”
Không cần hỏi, Yên Văn Công cũng hiểu đã xảy ra chuyện gì, từ từ nhắm mắt lại.
Lão nội thần khóc không thành tiếng: “Trưởng công tử đi rồi!”
Trong điện im lìm như chết, chỉ còn tiếng sụt sùi của lão nội thần.
Hồi lâu sau, Yên Văn Công mới từ từ mở mắt: “Nghịch tử… ra đi cũng tốt!” Lặng im một hồi nữa, mới hỏi. “Nó không nói gì ư?”
“Trưởng công tử nói, công phụ… mẫu hậu… nhi thần tới đây! Nhi thần tới ngay đây!”
Hai hàng nước mắt lăn dài trên khuôn mặt già nua của Yên Văn Công. Hồi lâu sau, Văn Công khẽ phẩy tay, cất giọng khản đặc: “Mai táng cho nó! Chôn bên Triệu Cơ, để hai mẹ con có thể trò chuyện cùng nhau. Còn nữa, đặt bài vị của nó trong linh đường tại cung cũ của Triệu Cơ.”
“Lão nô tuân chỉ!”
Nhìn theo bóng lão nội thần khuất hẳn, Yên Văn Công lại lau nước mắt: “Tô Tử, Tử Chi, chuyện này coi như kết thúc, giờ quân thần chúng ta hãy bàn chuyện sau này!”
Tử Chi, Tô Tần đưa mắt nhìn nhau, cùng vòng tay nói: “Xin lắng nghe lời chỉ bảo của chúa thượng!”
Yên Văn Công quay sang Tô Tần: “Nghe phu nhân kể lại, Tô Tử từng nói rằng quả nhân không có bệnh, có bệnh chính là nước Yên. Bệnh của quả nhân chỉ ở Vũ Dương, Tô Tử lại nói quả nhân không có bệnh, chắc hẳn bệnh của nước Yên theo lời Tô Tử, không phải là hoạ Vũ Dương! Tử Chi là trụ cột của nước Yên, cũng là cháu hiền của quả nhân, ở đây không có ai khác, Tô Tử hãy nói xem, bệnh của nước Yên nằm ở đâu?”
“Chúa thượng thánh minh!” Tô Tần vòng tay nói. “Theo Tô Tần thấy, bệnh của nước Yên không phải ở loạn Vũ Dương, mà ở chỗ đất nước không có kế sách lâu dài.”
Yên Văn Công nhổm người về phía trước: “Quả nhân muốn nghe tường tận!”
“Bệnh của con người, là do nóng lạnh mất cân bằng; bệnh của đất nước, là do mối lo trong ngoài. Nước Yên bên trong nội bộ đấu đá, bên ngoài kẻ địch nhòm ngó, lại không có kế sách lâu dài, nên Tô Tần đoán rằng nước Yên có bệnh nặng.”
“Xin hỏi Tô Tử, mối lo bên trong là ở đâu?”
“Liệt quốc Trung Nguyên đều trọng dụng hiền tài, cải chế biến pháp, duy có nước Yên vẫn tuân theo lối cũ, chỉ trọng dụng người thân, khiến triều cương bất trị, triều đình thiếu vắng hiền thần. Tô Tần cho rằng, bệnh nặng của Yên là ở đây.”
Lời của Tô Tần khiến Tử Chi gật gù tán thưởng, vòng tay phụ hoạ: “Chúa thượng, Tô Tử nói rất đúng! Mạt tướng cho rằng, phép tắc của tổ tông đều là quy chế cũ, từ lâu đã không còn phù hợp với tình hình nước Yên hiện tại, cũng nên thay đổi.”
Tô Tần vừa mở lời đã nói ngay tới biến pháp cải chế, điều này hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của Yên Văn Công. Nước Yên nằm ở góc đông bắc, từ ngày lập nước đến nay, chưa từng bị ảnh hưởng bởi biến pháp tại Tam Tấn, Tề, Sở, Tần, nhất nhất noi theo pháp chế của tổ tông, dựa vào quý tộc trị quốc, dựa vào tông pháp xử sự, khiến cho trong nước, kẻ tầm thường làm quan trong triều, còn người hiền năng lại lang thang nơi thôn dã, đã lạc hậu rất xa so với các nước khác. Còn về biến pháp ra sao, Yên Văn Công mấy năm trước cũng từng nghĩ tới, nhưng do việc này trọng đại, liên đới quá rộng, một khi cải chế, e rằng sẽ nảy sinh nội loạn, hơn nữa cũng do bên cạnh thiếu những người phát động giống như Công Tôn Ưởng, Thân Bất Hại, nên vẫn lề mề chưa thể thực thi. Nay có Tô Tần, Tử Chi, nhân lực tuy đã đủ, thế nhưng bản thân ông lại…”
Nghĩ tới đây, Yên Văn Công đưa mắt nhìn hai người, cười gượng mà nói: “Nước Yên quả thực cần phải cải chế. Chỉ có điều, quả nhân già rồi, đại sự nhường này, đành phải để lại cho đời sau!” Dừng lại một lát, cúi đầu than thở. “Ôi, già rồi, quả nhân già rồi!”
Tô Tần, Tử Chi đưa mắt nhìn nhau, chẳng ai nói được lời nào.
Hồi lâu sau, Yên Văn Công ngẩng đầu lên, nhìn vào Tô Tần: “Tạm thời không nói đến mối lo bên trong nữa. Tô Tử, hãy thử nói về mối lo bên ngoài!”
Tô Tần lại đưa mắt nhìn Tử Chi, rồi vòng tay thoái thác: “Nếu bàn về mối lo bên ngoài, Tử Chi tướng quân là người rõ nhất!”
Tử Chi thấy Văn Công cũng nhìn sang mình, bèn vòng tay đáp lời: “Khởi bẩm chúa thượng, ta phía đông có người Hồ, phía bắc có Nhung Địch, phía tây, nam có Triệu và Trung Sơn, phía nam có nước Tề hùng mạnh. Ngoài những điều này, không còn mối lo nào khác!”
Yên Văn Công quay sang Tô Tần: “Mối lo bên ngoài của nước Yên, có đúng như Tử Chi tướng quân nói không?”
Tô Tần gật đầu: “Đúng vậy!” Rồi quay sang Tử Chi. “Trong các mối lo vừa nhắc tới, tướng quân có sợ người Hồ hay Nhung Địch?”
Tử Chi kiên định lắc đầu: “Người Hồ, Nhung Địch chẳng qua là chỉ là man di, tuy có quấy nhiễu, song không đáng sợ!”
“Tướng quân có sợ Trung Sơn?”
“Trung Sơn xưa nay sợ Triệu thân Yên, không có gì đáng lo!”
“Tướng quân có sợ người Triệu?”
“Cũng không!”
“Tướng quân có sợ người Tề?”
Tử Chi ngẫm nghĩ một lát, cúi đầu không nói.
“Như vậy, xem ra…” Tô Tần lại cười, “tướng quân không sợ bất kỳ mối lo nào bên ngoài!”
“Không phải, không phải!” Tử Chi lắc đâu. “Nhìn vào hiện tại, người Tề chưa đáng sợ, song về lâu dài, người Tề chính là kẻ địch lớn của ta!”
“Tử Chi nói rất đúng!” Yên Văn Công gật gù.
“Tướng quân!” Tô Tần đổi giọng. “Tạm chưa nói tới nước Tề, chỉ giả sử người Triệu tấn công tới, tướng quân sẽ làm gì?”
“Dẫn quân chống trả!” Tử Chi trả lời ngay không chút đắn đo.
Tô Tần lại gật đầu: “Phải, đúng là nước đến đất chặn, quân tới tướng cản.” Lại hỏi tiếp. “Tướng quân, giả sử tướng quân dẫn quân đi chống Triệu, người Hồ nhân cơ hội tập kích, tướng quân sẽ làm thế nào?”
“Chia quân chống trả!”
“Người Địch cũng tới thì sao?”
“Chuyện này… chuyện này là không thể!” Tử Chi bắt đầu luống cuống.
“Tử Chi tướng quân!” Tô Tần khẽ mỉm cười. “Thường có câu, hoạ vô đơn chí, trong thiên hạ không có chuyện gì không thể xảy ra. Trị nước cũng vậy, mà cầm quân cũng thế, thượng sách là phòng hoạ khi chưa xảy ra, không thể loại trừ bất kỳ khả năng nào.”
Lời Tô Tần chính là đạo lý thường tình trong nhân gian, Tử Chi nghe vậy, chỉ biết cúi đầu im lặng.
Yên Văn Công ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng đầu hỏi: “Vừa nãy Tô Tử có nhắc tới ‘nước không có kế sách lâu dài’, hẳn là ở đây?”
“Đúng vậy!” Tô Tần quay sang Văn Công. “Thiên hạ hiện nay, chỉ dựa vào thế và lực. Từ cổ chí kim, không có chuyện nhỏ ức hiếp lớn, yếu xâm phạm mạnh. Nước Yên không sợ Hồ phía đông, Địch phía bắc hay Trung Sơn, đều là vì những nước này thế yếu lực mỏng. Nước Yên không sợ người Triệu, vì Triệu Yên thế lực ngang nhau. Nước Yên tạm thời không sợ người Tề, vì Tề phía tây có Tam Tấn, phía bắc có Sở lớn mạnh, hiện tại không đủ sức để đánh lên phía bắc. Tuy nhiên, đây đều chỉ là tình thế tạm thời, chứ không phải viễn cảnh tương lai. Thánh quân trị nước không cầu bình an trước mắt, mà phải cầu sách lược lâu dài.”
“Tô Tử nói rất đúng!” Yên Văn Công nghe mà phấn khởi, vòng tay liên hồi. “Tô Tử có kế sách gì hay, xin hãy chỉ giáo!”
“Chỉ giáo thì không dám” Tô Tần cũng đáp lễ, xúc động mà nói. “Thảo dân cho rằng, từ thời Xuân Thu tới nay, liệt quốc thiên hạ chỉ dựa vào thế. Nước thế yếu chỉ mưu cầu tồn tại, nước thế mạnh lại muốn tranh hùng. Thiên hạ có bảy nước lớn, trong đó nước Yên thế yếu nhất. Duy có hai nước ngang sức ngang tài với Yên là Triệu và Hàn. Ngoài hai nước này, nếu Yên giao chiến với Tề, hay với Ngụy, với Tần, với Sở, cũng đều nắm chắc phần thua. Nước Yên chỉ sợ người Tề, không sợ ba nước Tần, Ngụy, Sở, là vì có nước Triệu chắn ở phía trước, nên có được địa lợi.”
Nghe tới đây, Yên Văn Công như chợt bừng tỉnh, gật gù: “Nghe Tô Tử nói, kế sách lâu dài của Yên chính là kết Triệu kháng Tề?”
Tô Tần khẽ lắc đầu: “Kết Triệu kháng Tề mới chỉ là kế sách trước mắt, không phải kế sách lâu dài!”
Yên Văn Công thoáng ngạc nhiên: “Xin Tô Tử chỉ rõ!”
“Kết Triệu kháng Tề có lẽ sẽ giải quyết được hoạ gần, cũng chính là hoạ Tề, song không thể giải quyết được hoạ xa, cũng chính là hoạ Tần, Ngụy, Sở. Do vậy, Tô Tần cho rằng, kế sách lâu dài của Yên chính là hợp tung!”
“Hợp tung?” Yên Văn Công vuốt râu, trầm ngâm. “Hợp thế nào?”
“Kết minh với Triệu, Hàn!” Tô Tần trầm giọng nói. “Ba nước Yên, Triệu, Hàn thế lực tương đương, nếu đứng đơn độc một mình, sẽ bị ức hiếp. Nếu ba nước hợp tung, bện thành một sợi thừng, kết thành một tấm sắt, thử hỏi chúa thượng, liệu có nước lớn nào dám vọng động?”
Bản ý của Tô Tần là hợp tung Tam Tấn, song lúc này cố tình không nhắc tới Ngụy, là vì trong mắt Yên Văn Công, Ngụy vẫn là nước lớn thế mạnh, không thể xếp ngang hàng với nước Yên.
Yên Văn Công, Tử Chi rõ ràng đều nghe thấy lọt tai, bèn đưa mắt nhìn nhau, gật đầu đồng tình.
“Tuy nhiên,” Tô Tần lại đổi giọng, “nước Yên an phận vô lo tuy là kế sách lâu dài, song lại không phải là mưu kế xa xôi của Tô Tần.”
Yên Văn Công ngạc nhiên, nhổm người về phía trước hỏi: “Dám hỏi mưu kế xa xôi của Tô Tử là gì?”
“Mưu kế xa xôi của Tô Tần chính là tìm kiếm một con đường bình an lâu dài, mạnh yếu cùng tồn tại, thiên hạ trị an trường cửu.”
“Điều này thực mới mẻ!” Yên Văn Công tỏ ra hào hứng. “Tô Tử hãy nói rõ!”
“Chúa thượng xin hãy lắng nghe!” Tô Tần dõng dạc nói. “Người Yên không sợ Hồ, không sợ Nhung Địch, không sợ Trung Sơn, bởi lẽ so với Yên, những nước này đều ở thế yếu. Tuy nhiên, nếu như Hồ, Nhung Địch, Trung Sơn kết thành liên minh, hình thành một khối kiên cố thì nước Yên có dám không sợ chăng? Nói cách khác, nếu ba nước Yên, Triệu, Hàn kết minh, các nước mạnh Tề, Sở, Tần, Ngụy liệu có dám không sợ chăng? Bốn nước mạnh đều sợ, liệu có dám tuỳ tiện khởi binh chăng? Từ cổ chí kim, yếu vốn không dám động tới mạnh. Mạnh không tuỳ tiện khởi binh, thiên hạ sẽ không có chiến tranh. Thiên hạ đều không có chiến tranh, nước Yên cũng đâu còn mối lo bên ngoài? Do vậy, Tô Tần cho rằng, hợp tung vừa là kế sách lâu dài của nước Yên, cũng là con đường khiến thiên hạ trị an trường cửu.”
Yên Văn Công trầm ngâm hồi lâu, rồi vòng tay hướng vào Tô Tần nói: “Chí lớn của Tô Tử, quả nhân thực sự kính phục. Thiên hạ trị an trường cửu, vốn là điều quả nhân chỉ dám nghĩ tới trong mơ. Nay nghe Tô Tử nói vậy, có lẽ không phải là mơ nữa. Quả nhân có một thỉnh cầu, không biết ý Tô Tử ra sao?”
“Tô Tần xin cung kính lắng nghe.”
“Đường xa nghìn dặm, bắt đầu từ dưới chân. Nước Yên bang nhỏ thế yếu, nếu Tô Tử không chê, xin hãy bắt đầu từ đây!”
Thấy lão Yên Công lời lẽ chân thành, Tô Tần vô cùng cảm kích, đứng dậy khấu đầu mà nói: “Tô Tần khấu tạ chúa thượng coi trọng!”
Yên Văn Công đang định đáp lời, bỗng nhìn thấy lão nội thần đang đứng đợi ngoài cửa, bèn phẩy tay gọi vào.
Lão nội thần bước vào, bẩm báo: “Khởi bẩm chúa thượng, điện hạ cầu kiến!”
“Ồ, Tô Nhi tới rồi ư?” Yên Văn Công khẽ gật đầu. “Hôm nay là ngày giỗ mẫu hậu của Tô Nhi, ngươi hãy dẫn Tô Nhi tới cung Triệu phi trước!” Thấy lão nội thần lĩnh chỉ đi rồi, bèn quay sang nói với Tô Tần, Tử Chi. “Hôm nay là ngày giỗ của tiền phu nhân Triệu Cơ, dù sao cũng là tình nghĩa phu thê, quả nhân cũng nên tới thăm viếng. Bởi vậy chuyện này, đành để lúc khác bàn bạc tiếp!” Rồi quay sang Tử Chi. “Tử Chi, kế sách lâu dài của Tô Tử rất hợp với ý quả nhân, còn thực thi như thế nào, khanh và Tô Tử cứ bàn luận trước!”
Tử Chi khấu đầu nói: “Mạt tướng lĩnh chỉ.”
Triệu Cơ sinh tiền sống tại cung Cẩm Hoa, cách cung Minh Quang hơi xa. Thái tử Tô hăm hở theo lão nội thần đi một hồi lâu, thì thấy đã tới trước cung Cẩm Hoa. Thái tử Tô nhận ra là nơi mẫu hậu ở khi còn sống, thì sững lại, đang định lên tiếng hỏi thì lão nội thần đã bước lên một bước, vòng tay nói: “Điện hạ, mời!”
Thái tử Tô nhìn lão nội thần với ánh mắt khó hiểu, rồi cùng bước vào cửa cung.
Vừa tới chính điện, thái tử Tô lại lặng người lần nữa, bởi lẽ đập vào mắt hắn chính là bài vị của mẫu hậu Triệu Cơ. Song điều khiến hắn kinh ngạc hơn cả, đó là bên cạnh bài vị của Triệu Cơ còn có thêm một bài vị khác, bên trên viết rõ rành rành hai chữ “Cơ Ngư”.
Thái tử Tô sầm mặt xuống, quay sang lão nội thần xẵng giọng hỏi: “Chuyện này là thế nào?”
Lão nội thần vòng tay nói: “Khởi bẩm điện hạ, hôm nay là ngày giỗ mười năm của tiền phu nhân.”
Thái tử Tô chỉ tay vào bài vị bên cạnh, giận dữ nói lớn: “Bản cung muốn hỏi, là ai dám để bài vị của nghịch tặc ở nơi này!”
“Là quả nhân!” Giọng nói của Yên Văn Công bỗng vang lên ngay sát sau lưng.
Thái tử Tô vội quay đầu lại, sắc mặt có phần kinh hãi, vội quỳ xuống dập đầu: “Công phụ!”
“Cơ Tô!” Yên Văn Công chậm rãi bước vào trong điện, chẳng buồn nhìn hắn, chỉ nhìn đăm đăm vào bài vị của Vũ Thành Quân, nước mắt ứa ra, rồi cất giọng rành rọt. “Con không được phép gọi anh mình là nghịch tặc! Quả nhân mong con hiểu rõ sự thực này, Cơ Ngư là huynh trưởng của con, theo lý mà nói, ngôi thái tử là thuộc về Cơ Ngư!”
Thái tử Tô sắc mặt lúc đỏ lúc tái, ngỡ ngàng một lát, rồi cúi gập người, từ từ quỳ xuống trước bài vị.
Sau khi thực hiện xong một loạt nghi thức cung đình phiền tạp, trời đã nhập nhoạng tối.
Thái tử Tô cáo từ Yên Văn Công, bước lên xe ngựa, mau chóng trở về Đông cung.
Trong cùng một ngày, trước phải chịu sự chế giễu của Cơ Tuyết, sau lại bị Văn Công trách cứ, thái tử Tô đầy bụng hậm hực, chịu nhịn cho đến lúc trở về Đông cung, cuối cùng cũng có thể trút giận, cứ vớ được gì là quăng đập thẳng tay, tiếng đổ vỡ loảng xoảng trong đại sảnh cứ ầm ĩ liên hồi không dứt. Tần phi, cung nữ không hiểu thái tử Tô tức tối chuyện gì, sợ đến xanh mặt, không dám tới gần.
Đúng lúc này, quân uý Viên Báo bước vào, trông thấy cảnh tượng này, không nén nổi kinh hãi mà gọi: “Điện hạ?” Thái tử Tô hai tay bưng một chiếc thạp, đang định đập xuống, quay đầu nhìn thấy Viên Báo đứng trước cửa, bèn dừng lại, trừng mắt nhìn hắn hỏi: “Có việc gì?”
Viên Báo do dự một lát, rồi khẽ bẩm báo: “Tối qua gia phụ mừng thọ sáu mươi, mạt tướng…”
“Cút, cút ngay!” Thái tử Tô gầm lên. “Phường phản phúc, đáng lẽ ngươi phải cút đi từ lâu rồi mới phải, còn đứng đây làm gì cho chướng mắt!”
Viên Báo vô duyên vô cớ bị lăng nhục, mặt đỏ tía tai, sững sờ mất một lúc mới kịp định thần, vội vã lui ra. Hai chân còn chưa bước ra khỏi cửa chính, đã nghe thấy thái tử Tô quát với theo sau: “Cút luôn đi, đừng bao giờ quay lại nữa, cút đi càng xa càng tốt!”
Thấy thái tử không chút niệm tình những tháng năm cúc cung tận tuy bên yên ngựa, Viên Báo ứa nước mắt, bước chân sải rộng, cứ thế bước thẳng ra khỏi Đông cung, không một lần ngoảnh lại.