Khi mai táng cho Giang Quân phu nhân, Chiêu Dương bất chấp sự phản đối của người trong tộc, đã thả hết đồng nam đồng nữ, rồi dùng xe ngựa tượng gốm để thay thế.
Chiêu Dương là lệnh doãn, Chiêu môn là vọng tộc, hành động này rõ ràng là tuyên bố từ bỏ chế độ tuẫn táng người sống của tổ tiên. Tuẫn táng người sống hại người đã lâu, dân chúng Sính Đô nhanh chóng truyền tai nhau, ai nấy đều hoan hỷ. Nhà của ba mươi hai đứa trẻ kia lại càng cảm tạ ơn đức, tất cả đều để tang cho Giang Quân phu nhân, chẳng khác nào đám tang ông bà mình, còn tự nguyện dựng lều cỏ để canh mộ cho lão phu nhân.
Hành động này của Chiêu Dương không những được lòng dân, mà bất ngờ hơn nữa, lại được Sở Uy Vương hết lời khen ngợi. Sau khi chôn cất mẫu thân được một hôm, thái tử Hoè cùng nội thần của Uy Vương đã đến tận phủ, mang tặng một tấm biển vàng, trên đề bốn chữ “Hậu đức chí thuần”, thoạt nhìn đã biết là tự tay Sở Vương viết tặng.
Hình Tài đang cùng thuộc hạ treo biển, thì môn nhân dẫn theo một người áo đen cấp tập đi vào. Người áo đen đi thẳng tới trước mặt Hình Tài, ghé sát tai thì thầm một hồi, sau đó lại rút từ trong tay áo ra một bức mật thư, hai tay dâng lên.
Hình Tài hết sức hãi hùng.
Chiêu Dương vừa tiễn điện hạ và nội thần đi khỏi, quan tư bại Hạng Lôi liền tìm đến. Chiêu Dương vui vẻ quay ra đón tiếp, dắt tay Hạng Lôi vào phòng khách, người hầu bèn dâng trà lên. Hạng Lôi đến là để canh linh vị cho cô, nên vừa đến đã thay tang phục, toan đến thẳng linh đường.
Chiêu Dương bưng chén trà lên, khẽ nhấp một ngụm, rồi liếc mắt nhìn Hạng Lôi: “Em họ sao không nhấp ngụm trà rồi đi cũng chưa muộn?”
Hạng Lôi nhận ra trong lời nói có ẩn ý, liền quay lại ngồi xuống, nâng chén trà lên nhưng không uống, băn khoăn nhìn Chiêu Dương, rồi hỏi thăm dò: “Nhìn khí sắc của anh họ, dường như là có việc tốt?”
“Ừm, cũng coi như là việc tốt!”
“Dám hỏi anh họ, là việc tốt gì?”
Chiêu Dương đem chuyện điện hạ tặng biển kể lại một lượt, rồi cười nói: “Chao ôi, nói đến chuyện này, thực sự phải cảm tạ Tô Tử. Hôm đó Tô Tử đến viếng, mở miệng ra là khuyên ta nên đổi thay phong tục, thả cho đồng nam đồng nữ được sống. Nói thực, lúc đó ta rất không vui, không hề muốn bằng lòng, nhưng tình thế lúc đó thực vạn bất đắc dĩ, một là nể mặt chư vị công tử, công tôn của liệt quốc, hai là lời lẽ của Tô Tử sắc tựa lưỡi dao, anh họ không thể phản bác được, nên đành phải miễn cưỡng đồng ý. Thật không thể ngờ được, sau sự việc này, không những người dân Kinh mang ơn đội đức, mà ngay cả bệ hạ cũng…” Dừng lại, vẻ dương dương đắc ý tợp một ngụm trà, khoé miệng lộ nét cười hoan hỷ.
“Xin chúc mừng anh họ!” Hạng Lôi vòng tay chúc tụng. “Việc này quả thực rất đáng mừng, ngu đệ sẽ lập tức viết thư cho gia phụ. Mấy ngày hôm nay, gia phụ lúc nào cũng buồn bực khó chịu, suốt ngày than thở, rằng chúng ta không tuẫn táng người sống cho cô là bất hiếu. Nếu như gia phụ biết được bệ hạ tự tay đề biển, lại phái điện hạ đích thân đến tặng để biểu dương lòng chí hiếu, không biết sẽ nghĩ thế nào?”
“Ừm!” Chiêu Dương gật đầu. “Việc này phải giải thích rõ ràng cho cậu hiểu, nhờ cậy cả vào em họ đấy!”
Hạng Lôi đứng dậy, ngồi sang chiếc bàn bên cạnh, viết xong thư nhà, rồi gọi nô bộc tuỳ tùng đến, căn dặn hắn cấp tốc gửi về phủ của mình. Thấy Hạng Lôi đã ngồi về chỗ, Chiêu Dương liền khen ngợi: “Em họ hành sự thật nhanh gọn quyết đoán!”
Hạng Lôi mỉm cười, bưng chén trà lên chiêu một ngụm, rồi nói: “Lúc nãy anh họ có nhắc tới Tô Tần, ngu đệ cũng chợt nhớ ra một chuyện. Lúc nãy khi ngu đệ đến đây, trên đường có gặp tả đồ, nghe ông ta nói hôm qua Tô Tử đã đến đài Chương Hoa.”
“Ồ?” Chiêu Dương cả kinh, song cố làm ra vẻ trấn tĩnh, bưng chén trà lên. “Hắn đến đó bằng cách nào?”
“Là điện hạ dẫn đi, cùng đi còn có tả tư mã Khuất Vũ và đám sứ thần nước Ba. Nghe tả đồ nói, Tô Tử đúng là dị nhân, vừa đến đài Chương Hoa đã phát hiện ra pháp thuật giả mạo của Thương Ngô Tử. Bệ hạ trong cơn giận dữ, đã cho lôi Thương Ngô Tử ra chém…”
Chữ “đầu” còn chưa kịp ra khỏi miệng, chén trà trong tay Chiêu Dương đã “xoảng” một tiếng rơi xuống đất vỡ tan tành.
“Anh họ?” Hạng Lôi bối rối hỏi.
Chiêu Dương vội nói: “Mau, tả đồ còn nói những gì?”
“Nói rằng bệ hạ nghe theo lời Tô Tử, đã quyết định gia nhập tung thân rồi!”
Chiêu Dương chết lặng hồi lâu, hít ngược vào một hơi dài, rồi quay ra ngoài gọi lớn: “Người đâu!”
Đúng vào lúc này, Hình Tài đã đi đến trước cửa, bèn sải chân bước vào trong, đáp: “Có nô tài!”
Hình Tài hấp tấp bước lại gần, đang định hành lễ khấu kiến thì Chiêu Dương xua tay: “Mau, mời Trần thượng khanh!”
Nhưng Hình Tài dường như không nghe thấy, vẫn quỳ dưới đất, dập đầu gọi: “Chúa công…”
“Ngươi điếc rồi ư? Mau đi mời Trần thượng khanh!”
“Chúa công!” Hình Tài thấy có Hạng Lôi ở đó, ngần ngừ một thoáng mới nói. “Trần thượng khanh đi rồi!”
“Đi rồi?” Chiêu Dương đâu có chịu tin. “Ông ta đi đâu?”
“Đã trở về nước Tần!”
Chiêu Dương há hốc miệng trợn trừng mắt: “Về… về nước Tần rồi? Việc lớn nhường vậy, sao không đến cáo từ một tiếng?”
“Chúa công…” Hình Tài đưa mắt liếc nhìn Hạng Lôi, không nói nữa.
Hạng Lôi biết ý, bèn vòng tay nói: “Anh họ, cũng không còn sớm nữa, ngu đệ xin được đi hầu chuyện cô!” Đoạn lui ra khỏi phòng khách, rảo bước về phía linh đường.
Thấy Hạng Lôi đã đi xa, Hình Tài mới tiến lại gần mấy bước, nói khẽ: “Chúa công, bệ hạ đã xuống nghiêm chỉ, cho điện hạ phái người áp giải Trần thượng khanh ra khỏi Sính Đô, Trần đại nhân căn bản không thể chần chừ. Tuy nhiên, trước lúc lên đường, Trần đại nhân đã âm thầm sai thuộc hạ gửi cho chúa công một bức mật thư!” Rồi rút từ trong tay áo ra một bức thư, hai tay dâng lên. “Xin chúa công hãy đọc!”
Chiêu Dương nhận lấy bức mật thư, thấy vẫn niêm phong kín mít, liền mở ra đọc kỹ một lượt, rồi thẳng tay ném toẹt bức thư xuống đất, giọng rít qua kẽ răng: “Quân chó má!”
Hình Tài trong lòng giật thột: “Chúa công, Trần… Trần đại nhân… xảy ra chuyện gì ư?”
“Chó má!” Chiêu Dương nộ hoả đùng đùng, đập bàn quát lớn. “Bắt đầu từ hôm nay, ngươi phải gọi hắn là quân chó má!”
“Dám hỏi chúa công, quân chó má xảy ra chuyện gì ư?”
Chiêu Dương chỉ tay xuống đất: “Ngươi hãy tự xem đi!” Thấy Hình Tài cúi xuống nhặt lấy bức thư mình vừa ném xuống, cơn thịnh nộ lại bùng lên dữ dội. “Từ khi quân chó má đó đến đây đi sứ, bản công luôn coi hắn là tri kỷ, kết quả thì sao? Hắn bày mưu tính kế xúi giục bản công phạt Ngụy, chẳng qua chỉ vì nước Tần của hắn mà thôi! Bản công chuyện gì cũng nghe theo hắn, rốt cuộc đã thành nổi việc gì chưa? Nhiều lần hại ta đã đành, còn dám lừa cả mẫu thân ta uống tiên đan, chẳng trách mẫu thân ta…” Đột nhiên sực nhớ ra một chuyện, lại quát tướng lên. “Thương Ngô Tử cái thá gì! Quân chó má đó rõ ràng biết kẻ kia chỉ là tiên giả, mà lại dẫn đến cố ý hại ta, ta thực có mắt như mù! Mẫu thân… mẫu thân, đứa con bất hiếu này đã hại mẫu thân rồi, mẫu thân!”
Chiêu Dương đau khổ đến không thiết sống, hết đấm ngực lại giậm chân, khóc rống lên thảm thiết.
Hình Tài vừa nghe ông ta kêu khóc, vừa đọc thư. Đợi đến khi tiếng khóc của Chiêu Dương dịu bớt, thì ông ta cũng đã đọc xong bức thư, khẽ đảo con ngươi vài vòng, thấy Chiêu Dương vẫn hai tay ôm đầu, đau đớn dằn vặt, liền hạ giọng bẩm tấu: “Chúa công, tiểu nhân có một câu, không biết có nên nói hay không?”
“Nói!”
“Đọc kỹ thư này, lời của quân chó má kia nghe cũng có lý. Bệ hệ suýt chút nữa uống nhầm tiên đan, chắc chắn sẽ trách tội chúa công. Quân chó má đó bảo chúa công cứ đổ hết tội lên đầu hắn, coi như cũng còn tử tế. Còn về việc đối phó với hợp tung, tiểu nhân cho rằng, chủ ý của quân chó má kia cũng có chỗ dùng được. Liệt quốc hội thề, ai là thủ lĩnh, ắt sẽ gây tranh chấp. Quân chó má kia kiến nghị chọn địa điểm hội thề tại Mạnh Tân…”
“Hừm, kẻ này dụng tâm thực hiểm ác, cố ý khiến Ngụy Sở tranh hùng, để cho người Tần được làm ngư ông đắc lợi!” Chiêu Dương căm hận mắng chửi. “Đồ chó má, đã đến nước này rồi mà vẫn muốn cắn người!”
“Chúa công, chó cắn người không đáng sợ, quan trọng là xem người bị nó cắn là ai?” Hình Tài cất giọng âm trầm.
“Ồ?” Chiêu Dương nhận ra ẩn ý trong lời nói, liền quay đầu lại.
“Theo ý lão nô, chúa công hãy tương kế tựu kế, muốn bắt phải thả, tiếp tục nghe lời quân chó má kia thêm một lần, thúc giục các nước tung thân hội thề tại Mạnh Tân, cực lực khuyên bệ hạ nhường chức thủ lĩnh cho Ngụy Vương, lợi dụng sức của sáu nước, đặc biệt là nước Ngụy, trước tiên diệt Tần, rồi sau đó…”
Chưa đợi Hình Tài nói xong, Chiêu Dương đã lập tức hiểu ý, nắm tay nện mạnh xuống mặt bàn: “Hay!” Lại ngẫm nghĩ thêm một lát. “Hình Tài khá lắm, kế này tuyệt diệu! Đợi tới khi bản công đánh tới Hàm Dương, bắt sống con chó kia, xem ta sẽ lột da chó của nó, nấu thịt nó lên nhắm rượu. Còn phải moi tim nó ra để tế tiên mẫu!”
Thấy chúa công phát lời thâm độc, hoàn toàn không nghĩ đến công của Trần Chấn đã giúp bày kế đuổi Trương Nghi, giành chức lệnh doãn, Hình Tài biết ông ta vẫn còn giận dữ, liền chuyển sang chuyện khác: “Chúa công, điều quan trọng cần làm bây giờ là…”
Chiêu Dương ngẩng đầu, từ từ quay sang nhìn Hình Tài: “Nói!”
“Nghe con chó đen của quân chó má đó nói, hôm qua bệ hạ đã chiếu mệnh công tử Như làm phó sứ nước Sở, cùng bàn chuyện hội thề tung thân với các nước. Sự việc không thể chậm trễ, chúa công cần nhân cơ hội, lập tức quyết đoán!”
“Chuẩn bị nghiên mực!”
Hình Tài mang nghiên mực và lụa lên, vòng tay đứng đợi một bên.
Chiêu Dương thảo xong một bức thư, gấp lại cẩn thận rồi đưa cho Hình Tài: “Mang tới cho phó sứ đại nhân!”
“Tiểu nhân tuân lệnh!”
Hình Tài quay người định đi, vừa ra đến cửa thì Chiêu Dương gọi giật lại: “Chuẩn bị xe, bản công sẽ đến đài Chương Hoa một chuyến!”
“Vâng!”
Công tử Như là do phi tần của Uy Vương sinh ra, tính tình điềm đạm, không hứng thú với việc triều chính, chỉ chuyên tâm với tiên đạo phương thuật. Uy Vương trước đây một lòng chấn hưng cơ nghiệp, trách công tử Như không có chí, nên đã biếm trích công tử Như đến vùng núi sâu ở bờ tây Tương Thuỷ. Nhưng đi đày thế này lại rất hợp với ý nguyện của công tử Như, nên vui vẻ ở đó suốt mười năm trời mà không một lời oán thán. Sau khi diệt Việt, Uy Vương công thành danh toại nhưng tuổi đã cao, bắt đầu hứng thú với tiên đạo, lúc này mới nhớ tới công tử Như, liền ban chỉ triệu về. Lần này nhập tung, Uy Vương để công tử Như làm phó sứ, một là muốn trọng dụng, hai là để trợ giúp cho Tô Tần.
Ngày thứ hai sau khi công tử Như nhận lệnh, Tô Tần cho người mang đến một tấm thiệp mời, hẹn công tử Như vào giờ Thân ngày hôm sau tới dịch quán liệt quốc để cùng bàn bạc chuyện hợp tung, hội thề với sứ thần của năm nước.
Công tử Như chưa bao giờ tham gia chính sự, lại đã quen sống nhàn tản trong núi, nhất thời không biết phải ứng đối thế nào. Nhìn xung quanh mình cũng chẳng có lấy một sĩ tử giỏi giang có thể bàn chính sự, muốn tới đài Chương Hoa xin chỉ, nhưng lại sợ phụ vương quở trách. Muốn tới Đông cung hỏi han, nhưng lại sợ thái tử chê cười. Công tử Như khổ tâm suy nghĩ suốt một đêm mà vẫn không tìm ra được cách gì, đang lúc rối trí thì Hình Tài mang thư của Chiêu Dương đến, chỉ dẫn cho công tử Như phải làm thế nào.
Công tử Như trước nay không ưa gì Chiêu Dương, nên trước những lời viết trong thư, cảm thấy ngờ vực trùng trùng. Suy nghĩ hồi lâu, nhưng vẫn không tìm ra cách khả dĩ, cứ đi đi lại lại trong sảnh hồi lâu. Đột nhiên hai mắt sáng bừng, lập tức đánh xe tới ngoại ô phía tây Sính Đô.
Tại khúc quanh của sông Lệ Thuỷ ở ngoại ô Sính Đô có một gò cát sỏi, trên gò có có một kỳ nhân sinh sống, tên gọi Lịch Khi. Gò cát hình như mai rùa, nên Lịch Khi tự lấy tên hiệu là Quy Khưu Tử, ở nhà thì mấy năm không xuống khỏi gò mai rùa, ra ngoài thì tuỳ tiện phóng túng, nghênh ngang cuồng ngạo. Người Sính Đô đều coi ông ta là quái nhân, duy chỉ có công tử Như coi ông ta như thầy như bạn, đối đãi rất mực cung kính.
Khi công tử Như đến, Lịch Khi quần áo rách rưới đang ngồi cheo leo trên một chạc cây lớn trên gò, cất cao giọng hát nghêu ngao:
“Phượng này, phượng này,
Sao đức suy vậy thay?
Chuyện sau không thể đợi,
Chuyện cũ khó đổi thay.
Thiên hạ có đạo,
Thánh nhân thành tài.
Thiên hạ vô đạo,
Thánh nhân lắt lay.
Thời thế hiện tại,
Chỉ mong tránh tai.
Phúc nhẹ hơn lông,
Biết nhận sao đây?
Hoạ nặng hơn đất,
Biết tránh sao đây?
Tri người bằng đức,
Hết rồi, hết rồi.
Vạch đất mà bước,
Nguy thay, nguy thay!
Chớ cản đường tiến,
Này gai, này gai!
Đường đi khấp khểnh,
Chớ hại chân này!”
Lịch Khi hứng thú tràn trề, hát xong lại ngâm, ngâm xong lại hát, hết lần này đến lần khác, dường như không hề muốn dừng. Công tử Như men theo con đường nhỏ, vừa đi vừa lắng tai nghe, đến gần thì dừng lại, nghe thêm một lúc nữa, rồi trèo lên cây, vỗ tay mà nói lớn: “Tiên sinh ca vịnh hay lắm!”
Lúc này, Lịch Khi mới nhìn thấy công tử Như, liền nhảy xuống, vòng tay cười nói: “Ngọn gió nào đưa công tử đến đây?”
“Tiếng hát của tiên sinh vang vọng đến tận tầng mây, khiến mây đang bay cũng phải dừng lại, vãn sinh đâu dám không đến!” Công tử Như vòng tay đáp lễ.
Lịch Khi cười sảng khoái, ngồi luôn xuống đất, rồi chỉ vào bãi cỏ đối diện: “Công tử, mời ngồi!”
Công tử Như ngồi luôn xuống, cười hỏi: “Bài ca vừa rồi, phải chăng là do tiên sinh làm ra?”
“Công tử đánh giá quá cao rồi! Tại hạ là kẻ quê mùa lỗ mãng, sao có thể làm ra khúc ca tuyệt diệu nhường đó?”
“Dám hỏi, khúc ca này từ đâu đến?”
“Đây là khúc ngâm của Trang Chu người Tống, tại hạ nghe thấy mà rất yêu thích!”
“Trang Chu?” Công tử Như ngẫm nghĩ một lát, rồi lắc đầu. “Vãn sinh chưa từng nghe nói tới người này!”
“Công tử ơi!” Lịch Khi cười hỏi. “Đã nghe nói tới chân nhân hay chưa?”
“Ý tiên sinh là chân nhân thời thượng cổ?”
Lịch Khi lúc lắc mái tóc rối bù: “Trang Chu có thể gọi là chân nhân đương đại!”
“Trời ơi!” Công tử Như hai mắt tròn xoe, hỏi dồn. “Hiện chân nhân đang ở đâu, vãn sinh có thể gặp mặt chăng?”
Lịch Khi khép mắt, mặc cho công tử Như sốt ruột một hồi, mới mở mắt ra cười ha hả mà nói: “Chân nhân dễ gặp như vậy ư?”
“Nghe giọng của tiên sinh, hẳn là đã được gặp chân nhân rồi?”
“Đương nhiên là gặp rồi!” Lịch Khi lại khép mắt, thần thái thung dung như nhập vào tiên cảnh. “Hai năm trước, chân nhân ngao du xuống phương nam, tới Tiêu Tương, lúc qua Sính đã ghé thăm gò này, tại hạ có cơ duyên gặp gỡ, nên mới học được khúc ca vừa nãy.”
Công tử Như kinh ngạc: “Hai năm trước chân nhân ngao du xuống Tiêu Tương, chẳng phải là đi ngay qua trước cửa nhà vãn sinh ư?”
“Ha ha ha, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng!” Lịch Khi lại phá lên cười khoái trá.
Để vuột mất cơ hội gặp mặt chân nhân ngay trước mũi, công tử Như than thở luôn miệng, rầu rĩ ảo não.
Lịch Khi nhìn công tử Như một lúc, rồi phì cười hỏi: “Lần này công tử đến, chắc không phải là muốn cầu kiến chân nhân đấy chứ?”
Công tử Như lúc này mới sực nhớ ra, liền ôm quyền nói: “Tiên sinh nói phải! Vãn sinh gặp chuyện nan giải, nên đến đây nhờ chỉ giáo!”
“Việc nan giải gì kia?”
“Tô Tử hợp tung sáu nước, hội thề thiên hạ. Hôm qua phụ vương lệnh cho vãn sinh làm phó sứ, trợ giúp Tô Tử tung thân liệt quốc. Vãn sinh trong lòng run sợ, thắc thỏm bất an!”
Lịch Khi phá lên cười lớn một thôi một hồi: “Việc tốt nhường vậy, người khác muốn còn chẳng được, cớ sao công tử lại thắc thỏm bất an?”
Công tử Như chau mày, thở dài một tiếng: “Than ôi, còn nhớ tiên sinh đã từng nhắc nhở vãn sinh: ‘Việc người khó mưu, nếu mưu không thành, ắt có mối hoạ về việc người; nếu mưu thành, ắt có mối hoạ về âm dương. Mưu thành mà lại tránh được tai hoạ, chỉ có người tài đức vẹn toàn mới có thể làm được.’ Vãn sinh tài mỏng đức bạc, đâu thể đạt tới cảnh giới này? Không am hiểu đạo này mà lại đi mưu việc này, bảo vãn sinh làm sao có thể yên tâm cho được? Không giấu tiên sinh, vãn sinh trước nay thanh tâm quả dục, chú trọng ẩm thực, nóng lạnh trong người cũng coi như được cân bằng. Nhưng hôm qua thì khác, vào giờ Thân vãn sinh nhận lệnh, giờ Tý lo lắng bồn chồn, nằm trên giường mà cứ trằn trọc qua lại, không tài nào ngủ được, đêm dài tựa năm!”
Lịch Khi chỉ tay vào công tử Như, lại cười ha hả một tràng: “Đại trượng phu mưu đại sự, muốn làm thì làm, không muốn làm thì thôi, hà tất phải lấy những lời bông đùa vặt vãnh của tại hạ ra làm lá chắn?”
“Tiên sinh xin chớ trách móc!” Công tử Như vẻ mặt đầy bất đắc dĩ. “Vãn sinh lần này tiến cũng lo, mà lui cũng lo, nên mới mạo muội cầu kiến, mong tiên sinh cho vài lời chỉ điểm!”
Lịch Khi thu nụ cười lại: “Nếu công tử đã nói vậy, tại hạ cũng đành phải nói bừa!” Rồi khẽ đặng hắng một tiếng, sắc mặt nghiêm trang nhìn công tử Như. “Việc mà công tử muốn hỏi, có thể cho là việc người. Người giỏi mưu việc người, chẳng ai hơn được Trọng Ni người nước Lỗ. Theo lời Trọng Ni, thiên hạ có hai pháp giới lớn, thứ nhất là mệnh, thứ hai là nghĩa. Công tử thân là con của vua, không thể không phụng sự cha, đó là mệnh. Công tử thân là bề tôi của vua, không thể không phụng sự vua, đó là nghĩa. Khi phụng sự cha, không chọn chốn để cầu yên thân, có thể đạt đến chí hiếu; khi phụng sự vua, không chọn việc để cầu yên thân, có thể đạt đến chí trung. Bất kể là phụng sự cha hay phụng sự vua, nếu lâm vào tình huống bất đắc dĩ mà vẫn có thể xử sự bình thản, có thể đạt đến chí đức, bảo đảm không gặp tai hoạ. Công tử rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, đã biết đó là bất đắc dĩ, chỉ cần có thể xử sự bình thản, là đã có thể đạt được tới chí đức rồi!”
“Vãn sinh chính là không thể xử sự bình thản được, mong tiên sinh chỉ giáo!”
“Nếu muốn xử sự bình thản, công tử phải biết được cái đạo làm sứ!”
“Xin tiên sinh nói rõ hơn!”
“Theo lời Trọng Ni, đạo làm sứ nằm ở lập tín truyền ngôn. Lập tín kỵ làm xằng bậy, truyền ngôn kỵ lời thái quá. Lời thái quá mà truyền đi tất sẽ xằng bậy, xằng bậy sẽ thất tín, thất tín sẽ gây hoạ.”
“Thế nào là lời thái quá?”
“Lời thái quá có hai loại, một là lời hay thái quá, hai là lời dở thái quá. Lời mà sứ thần truyền đi, phần lớn là lời của quân chủ. Quân chủ vui, thì nói nhiều lời hay; quân chủ giận, thì nói nhiều lời dở. Người giỏi làm sứ, vừa không truyền lời hay, cũng chẳng truyền lời dở.”
“Không truyền lời thái quá của quân chủ, vậy phải truyền lời gì?”
“Truyền lời thường!”
“Thế nào là lời thường?”
“Loại bỏ chỗ khiên cưỡng, xoá đi chỗ vẽ vời, tức là lời thường của quân chủ. Đó là điều thứ nhất!”
Công tử Như đưa mắt dò hỏi điều tiếp theo.
“Thứ hai là sứ thần không nói lời thái quá.”
Công tử Như trợn tròn hai mắt: “Ồ?”
Lịch Khi dường như không nghe thấy tiếng kêu kinh ngạc của công tử Như, vẫn khép mắt, thao thao nói tiếp: “Sứ thần khéo nói xu nịnh, đó là nói lời thái quá. Sứ giỏi không đọ khéo, không ép người, chính là nói về điều này. Dùng khéo đấu sức, bắt đầu từ dương, kết thúc ở âm; dùng lễ uống rượu, bắt đầu từ kính, kết thúc ở loạn; dùng lời thái quá để truyền lời, bắt đầu từ khoan dung, kết thúc ở thù địch. Người làm sứ giỏi vừa không truyền lời thái quá, cũng chẳng dùng lời thái quá để truyền lời, nếu không, ắt sẽ thai nghén mầm hoạ, đây gọi là hoạ từ miệng mà ra!”
“Vãn sinh nhớ rồi!” Công tử Như bỗng chốc bừng hiểu, trầm tư một lúc lại hỏi tiếp. “Lời của tiên sinh mặc dù kỳ diệu, nhưng lại quá ư cao viễn, khó giải quyết được việc cấp bách ngay trước mắt. Dám hỏi tiên sinh, việc trước mắt nên xử trí thế nào?”
“Công tử hãy nói xem, việc cấp bách trước mắt là gì?”
“Tô Tử mời vãn sinh đến dịch quán để bàn chuyện hội thề, song vãn sinh lại chẳng hề hay biết gì về hợp tung hay hội thề, phụ vương cũng không ban chỉ rõ ràng, khiến vãn sinh vô cùng hoang mang. Thế nhưng, đúng vào lúc vãn sinh vừa ra khỏi cửa, lệnh doãn đã phái người mang tới một bức mật thư, giúp vãn sinh đưa ra mưu kế. Vãn sinh không hiểu được dụng ý của người này, không dám đoán bừa, nên đến để thỉnh giáo tiên sinh!” Nói đoạn, lấy từ trong tay áo ra bức thư của Chiêu Dương, đưa cho Lịch Khi.
“Mạnh Tân?” Lịch Khi đọc xong bức thư, chau tít đôi mày, suy nghĩ một lúc, rồi lắc đầu cười nói. “Mưu này của Chiêu Dương, không phải là chính thuật!”
“Không phải chính thuật?” Công tử Như tỏ ra ngơ ngác. “Vậy… có thực hiện được hay không?”
“Ha ha ha!” Lịch Khi đưa trả lại bức thư. “Tại hạ xin tặng công tử một kế, khi bàn bạc về chuyện hội thề với sứ thần của liệt quốc, công tử hãy nói ít nghe nhiều. Còn về mưu của Chiêu Dương, công tử trông mèo vẽ hổ, cứ làm theo là được!”
Không phải chính thuật, tức là tà thuật. Lịch Khi không những không phản đối, mà ngược lại còn bảo công tử Như trông mèo vẽ hổ, khiến công tử Như vô cùng khó hiểu, nhìn xoáy vào Lịch Khi dò hỏi. Lịch Khi thần sắc ôn tồn, mỉm cười nhìn lại.
Công tử Như thấy ánh mắt Lịch Khi đầy khẳng định, đành phải gật đầu đồng ý: “Tiên sinh đã nói như vậy, vãn sinh sẽ làm theo!”
“Đi đi!” Lịch Khi trở người đứng dậy, đi tới trước gốc cây lớn, chuẩn bị trèo lên.
Công tử Như ngăn lại: “Tiên sinh khoan đã!”
“Công tử còn có chuyện gì?” Lịch Khi chẳng buồn quay đầu lại, vừa trèo vừa hỏi.
“Dám hỏi tiên sinh, hiện giờ Trang chân nhân đang ở nơi nào?”
Lịch Khi đã ngồi trên chạc cây, nhìn xuống mỉm cười: “Mông Ấp nước Tống!”
Công tử Như vòng tay vái một vái thật sâu: “Đa tạ tiên sinh chỉ dẫn!”
Công tử Như tâm tư thư thái quay trở về Sính Đô.
Vừa vào trong phủ, gia thần báo tin dịch quán tung thân đã phái người đến giục giã mấy lần. Công tử Như xem đồng hồ nước, thấy đã quá giờ Thân từ lâu, nên cũng chẳng kịp rửa mặt chải đầu, chỉ thay quan phục, sau đó đánh xe thẳng tới dịch quán, từ xa đã nhìn thấy phó sứ nước Triệu là Lâu Hoãn đứng đợi trước cổng, nói là Tô Tần và các vị công tử, công tôn chờ đợi đã lâu.
Mọi người nghe thấy tiếng, liền cùng ra đón.
Hành lễ xong xuôi, Tô Tần bước lên trước một bước, dắt tay công tử Như đi qua hai khu nhà, tới một gian phòng thanh u trang nhã. Trong phòng không có lấy một binh một tốt, cũng không có nô bộc nữ tỳ, chỉ có hoa đẹp quả tươi tô điểm, bài trí hài hoà đầm ấm, ở giữa đặt bảy bàn trà, quây thành một vòng tròn, sau mỗi bàn đều trải một tấm thảm nhung.
Tô Tần đi lên phía trước, chỉ tay vào chỗ ngồi, nói: “Chư vị, hôm nay họp mặt tung thân, chư vị ngôi thứ như nhau, cứ ngồi tự nhiên!” Lời vừa dứt, tự mình đã bước lên mấy bước, ngồi xuống vị trí gần nhất.
Mọi người thấy cách xếp bàn hình tròn, thảy đều ngạc nhiên. Liệt quốc họp mặt, đặc biệt coi trọng lễ nghi, vị trí chủ thứ lại càng không thể tuỳ tiện, trật tự chỗ ngồi cũng giống như nghi thức cầm tai bò(1) trong tế lễ, người tham gia không ai là không coi trọng, chỉ cần một chút sơ ý, nhẹ sẽ khiến bang giao bất hoà, nặng sẽ khiến động binh giao chiến. Lần này họp mặt, Tô Tần vừa là người hiệu triệu, lại là chủ sứ của cả sáu nước, đáng lý phải ngồi ở ngôi chủ. Những người khác đều là phó sứ, nên ngồi ở ngôi thứ. Tuy nhiên, cho dù là ngôi thứ, cũng phải phân chia trên dưới gần xa. Tô Tần sắp đặt bàn tròn kiểu này, là tự mình từ bỏ ngôi vị chủ, không những đã sáng tạo ra một cục diện mới mẻ, mà hơn nữa, đây hiển nhiên là một phương pháp hoá giải tranh chấp thứ vị vô cùng tuyệt diệu. Hành vi tuy nhỏ, song cũng đủ để thấy được sự bao dung và cơ trí của Tô Tần. Phó sứ sáu nước đều định thần trở lại, không ai không thán phục, rồi cùng tự tìm lấy một chỗ ngồi xuống.
Người hầu bưng trà lên, Tô Tần nhấp một ngụm, đưa mắt nhìn sang Lâu Hoãn ngồi đối diện, ra hiệu cho hắn chủ trì nghi thức. Phó sứ liệt quốc người thì xuất thân vương thất, người thì xuất thân công môn, chỉ có phó sứ nước Triệu Lâu Hoãn là bậc bề tôi, nên làm người chủ trì là hợp lý nhất. Hơn nữa, Triệu là nước phát động hợp tung, Tô Tần muốn Lâu Hoãn chủ trì, cũng là có ý muốn báo đáp Triệu Hầu.
Lâu Hoãn nói xong vài lời khách sáo, rồi cầm lấy mấy cuộn thẻ tre bên cạnh, chính là cương lĩnh tung thân của sáu nước. Sau khi phát cho mỗi người một cuốn, Lâu Hoãn bèn đọc rõ ràng từng câu một. Nội dung của cương lĩnh không nằm ngoài ngũ thông, tam đồng, hợp lực chế Tần, là điều mà mọi người đã biết rõ từ lâu. Lâu Hoãn đọc lại, chẳng qua cũng là cho đúng trình tự.
Đọc xong, Lâu Hoãn mời Tô Tần lên tiếng.
Tô Tần cũng không từ chối, bắt đầu ung dung giảng về đại thế của thiên hạ, căn nguyên của hợp tung và quá trình của hợp tung. Trong mấy vị phó sứ, duy chỉ có công tử Như là lần đầu tiên được nghe Tô Tần luận về thiên hạ, bàn về quốc kế dân sinh, cho dù không thạo chính sự, không hiểu dân tình, nhưng cũng cảm thấy nhiệt huyết sôi trào, cảm ngộ sâu sắc.
Tiếp đó mới đi vào việc chính, tức bàn bạc về cách thức hội thề. Còn về cương lĩnh, liệt quốc đã thừa nhận từ lâu, không cần tranh luận thêm nữa. Hiện giờ, mọi người chỉ quan tâm đến các công việc cụ thể như quy cách, lời thề, nghi lễ, thời gian, địa điểm… của hội thề. Ba người công tôn Khoái nước Yên, công tử Chương nước Hàn, công tử Như nước Sở bản tính không thích tranh giành; Điền Văn nước Tề dù trẻ tuổi, nhưng tâm tính lại thâm trầm sâu xa; Lâu Hoãn nước Triệu và Tô Tần sớm đã tâm đầu ý hợp, chỉ có công tử Ngang nước Ngụy là bất kể chuyện lớn nhỏ, trong ngoài gì cũng thích chõ mũi vào.
Chẳng phải bàn bạc lâu, mọi người đã nhất trí được về quy cách, lời thề, nghi lễ, thời gian… của cuộc hội thề, chỉ còn tranh chấp về địa điểm. Công tôn Khoái đề xuất nên hội thề tại Lạc Dương, mời Chu thiên tử làm minh chủ, nhưng bị công tử Ngang, Điền Văn chê bai hết lời. Lâu Hoãn có ý mở hội thề tại Thằng Trì, Hào Quan nước Ngụy, đối diện với ải Hàm Cốc, mượn đó để khuếch trương thanh thế tung thân của sáu nước, công tử Ngang lập tức vỗ bàn khen hay, đưa ánh mắt đầy nhiệt thành nhìn vào Điền Văn, hy vọng sẽ nhận được sự ủng hộ từ hắn. Nhưng Điền Văn lại quay sang nhìn công tử Như.
Từ lúc bước vào đây, công tử Như chỉ ngồi nghiêm trang, hai mắt khép hờ, giống như đang nhập định trong rừng sâu, chứ không phải đang cùng sứ thần liệt quốc họp bàn về việc tổ chức hội thề tung thân.
Tô Tần đã từng trải qua cảm giác này khi còn ở trong Quỷ Cốc, liền khẽ mỉm cười, đưa mắt nhìn sang. Ánh mắt của những vị sứ thần khác cũng đều chiếu vào công tử Như.
Công tử Như hiển nhiên đã cảm nhận được, hai mắt hé mở, vì là lần đầu tiên lên tiếng trong tình cảnh thế này, nên giọng hơi run, song nhả chữ rất rõ ràng: “Nước Sở kiến nghị, địa điểm hội thề nên đặt tại Mạnh Tân!” Nói xong, lại khép mắt như cũ.
Công tử Như không dùng “tại hạ” mà dùng “nước Sở”, khiến mọi người bất giác đều cảm nhận được trọng lượng của hai chữ này. Mấy năm về trước, Ngụy Huệ Vương hiệu lệnh thiên hạ triều kiến thiên tử tại Mạnh Tân, hôm nay công tử Như đang ở trên địa bàn của mình, thực chất chính là gia chủ, lại là phó sứ của nước lớn nhất trong số những nước hợp tung, vậy mà lại đưa ra địa điểm Mạnh Tân, rõ ràng là đang ngấm ngầm ám chỉ, rằng nước Sở có ý để Ngụy tiếp tục làm chủ, làm thủ lĩnh hội thề. Tất cả những người có mặt đều biết công tử Như không giỏi chính sự, không thạo nói năng, vì vậy, lời này tuyệt đối không phải do công tử Như tuỳ tiện nói bừa, mà là có người khác chỉ điểm.
Mọi người quay mặt nhìn nhau. Ngay cả công tử Ngang vốn tính ưa chất vấn, lúc này cũng sững sờ, nhất thời không kịp phản ứng.
Căn phòng lặng phắc như tờ, nghe rõ từng tiếng giọt đồng hồ tí tách.
Điền Văn nước Tề dường như đã nhận ra huyền cơ bên trong, nửa đùa nửa thật lên tiếng tán đồng đầu tiên: “Ha ha, Mạnh Tân quả là nơi tuyệt diệu để hội thề, cũng đỡ mất công xây dựng đài hội thề, chỉ cần sửa sang chút ít là được!”
Lúc này công tử Ngang cũng đã kịp định thần, liền đập bàn nói: “Nước Ngụy tán đồng! Ngày trước tám trăm chư hầu hội thề tại Mạnh Tân, cùng thảo phạt Thương Trụ. Nay anh hùng sáu nước lại tụ hội tại Mạnh Tân, cùng thảo phạt bạo Tần, thực khoái trá thay!”
Điền Văn bật cười, có ý châm chọc: “Còn có việc Ngụy Vương bệ hạ triều hội thiên tử tại Mạnh Tân, tướng quân quên mất rồi ư?”
Mọi người đều cười lớn.
Thấy công tử Ngang sắc mặt ngượng ngùng, công tử Chương liền chuyển chủ đề: “Ngụy huynh ví Tần Công với Thương Trụ, há chẳng phải đã đề cao ông ta quá rồi ư?”
Mọi người lại bật cười.
Lâu Hoãn từ từ thu nét cười lại, đưa mắt nhìn sang Tô Tần, ý tứ đã rất rõ ràng. Tô Tần đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người, vẫn mỉm cười, song không lên tiếng.
Lâu Hoãn thoáng ngạc nhiên, gọi khẽ: “Tô Tử?”
Tô Tần quay sang nhìn Lâu Hoãn, cao giọng mà nói: “Phó sứ nước Triệu, có gì xin cứ nói!”
Lâu Hoãn vốn dĩ muốn Tô Tần quyết định, không ngờ Tô Tần lại bảo mình lên tiếng, nhất thời lúng túng: “Tại hạ…” Thấy mọi người đều đổ dồn ánh mắt vào mình, đành phải nghiến răng nghiến lợi mà nói. “Tại hạ cho rằng, địa điểm hội thề đặt tại Mạnh Tân là không ổn!”
Công tử Ngang biến ngay sắc mặt: “Xin hỏi sứ thần nước Triệu, có điều gì không ổn?”
“Vũ Vương hội thề tám trăm chư hầu tại Mạnh Tân là để phạt Trụ. Ngụy Hầu hội thề liệt quốc tại Mạnh Tân là để tôn Chu. Nay Tô Tử khởi xướng sáu nước liên minh, mục đích là để kết thúc phân tranh, cùng chế bạo Tần. Lời của Hàn công tử rất đúng, Tần Công vừa không thể so sánh với Thương Trụ, cũng không thể ngang hàng với Chu thiên tử, vì vậy không nên đặt địa điểm hội thề tại Mạnh Tân!”
Công tử Ngang nhổm người về phía trước hỏi: “Xin hỏi sứ thần nước Triệu, vậy thì địa điểm hội thề nên đặt ở đâu là tốt nhất?”
Lâu Hoãn ấp úng: “Việc này…”
“Chắc không phải là Hàm Đan của quý quốc đấy chứ?” Công tử Ngang ngả người ra phía sau, ngửa cổ cười lớn.
Lâu Hoãn mặt đỏ lựng, lại quay sang nhìn Tô Tần.
Tô Tần khẽ đặng hắng, rồi nghiêm nét mặt mà nói: “Chư vị sứ thần, chúng ta ở đây bàn chuyện hội thề thiên hạ, là sứ mệnh, lại càng là chức phận. Mỗi một lời nói hành vi của chúng ta đều liên quan đến đại sự trong thiên hạ, đến an nguy của bách tính, không thể nói năng khinh suất bỡn cợt, làm tổn thương hoà khí!” Rồi đưa mắt liếc sang công tử Ngang, sau đó nhìn khắp lượt các vị sứ thần, thấy mọi người đều đã định thần ngồi ngay ngắn, mới nói tiếp. “Sáu nước hội thề, cần phải tôn trọng lẫn nhau, thấu hiểu lẫn nhau, phàm là việc gì, cũng phải tìm kiếm điểm chung, gác lại bất đồng, cùng nhau bàn luận. Còn về địa điểm hội thề, sứ thần nước Yên đề nghị đặt tại Lạc Dương, sứ thần nước Triệu đề nghị đặt tại Thằng Trì, sứ thần nước Sở và Ngụy đề nghị đặt tại Mạnh Tân, chư vị còn có ý kiến gì khác, xin cứ nói hết ra!”
Mọi người đều lắc đầu.
“Nếu đã không còn ý kiến nào khác,” Tô Tần đưa ngón tay gõ khẽ lên mặt bàn, “chúng ta sẽ lựa chọn một trong ba địa điểm trên. Chúng ta có cả thảy bảy người, nơi nào được từ bốn người đồng ý trở lên sẽ được lựa chọn. Trước tiên là Lạc Dương, ai đồng ý thì giơ hai ngón tay lên, như thế này…” Nói đoạn giơ hai ngón tay lên mặt bàn, sau đó hạ xuống, ánh mắt quét qua khắp lượt mọi người.
Chỉ có công tôn Khoái giơ hai ngón tay lên.
Tô Tần đợi một lát, nói tiếp: “Tiếp theo là Thằng Trì, ai đồng ý hãy giơ ngón tay!”
Lâu Hoãn, công tử Chương từ từ giơ ngón tay lên.
Tô Tần lại nói: “Tiếp theo là Mạnh Tân, ai đồng ý hãy giơ ngón tay!”
Công tử Ngang, Điền Văn, công tử Như đều giơ ngón tay lên. Tô Tần do dự một lát, rồi cũng giơ hai ngón tay lên. Công tôn Khoái thấy Tô Tần giơ tay nên cũng đổi ý. Công tử Chương thấy vậy cũng vội giơ tay. Chỉ còn Lâu Hoãn, chần chừ hồi lâu rồi cũng từ từ giơ hai ngón tay lên.
Tô Tần hạ ngón tay xuống, nói: “Nếu tất cả mọi người đã đồng ý, vậy địa điểm hội thề sẽ đặt tại Mạnh Tân, ngày lành là ngày Thu phân, giờ Mão khởi lễ, giờ Ngọ cắt tai bò. Những việc khác có liên quan, đều lấy nghị định hôm nay làm chuẩn. Chư vị sứ thần hãy bẩm tấu với quân chủ của mình, tìm kiếm điểm chung, gác lại bất đồng, cùng hoàn thành đại nghiệp hợp tung!”
“Xin tuân lệnh!”
Sau khi mọi người đã ra về cả, Lâu Hoãn bước lại gần Tô Tần hỏi: “Tô Tử… thực sự cho rằng Mạnh Tân thích hợp ư?”
Tô Tần chau tít đôi mày, hồi lâu vẫn không nói gì.
Lâu Hoãn hạ giọng cằn nhằn: “Tô Tử là đặc sứ, có thể tuỳ ý chọn lấy một địa điểm, nào có ai dám nói gì?”
“Than ôi!” Tô Tần thở dài. “Nếu như tại hạ có thể quyết định được hết mọi việc trong thiên hạ, thì chúng ta hà tất phải bôn ba khắp chốn, hợp tung hội thề thế này? Địa điểm hội thề không quyết định được, thì hội thề thế nào đây? Chúng ta không thể cứ mãi hao phí tinh lực vào một việc này!”
“Địa điểm hội thề nếu lại đặt tại Mạnh Tân, mà không thể mời Chu thiên tử, thử hỏi thiên hạ sẽ nghĩ thế nào? Hơn nữa, Ngụy có Huệ Thi, Bàng Tử, thế lực phục hưng, sáu nước đều đến Mạnh Tân, Ngụy Vương liệu có…” Lâu Hoãn bỏ lửng nửa chừng.
“Lâu Tử nói rất đúng, điều mà tại hạ lo lắng chính là điều đó. Nhưng sự việc đã đến nước này, cho dù địa điểm hội thề không chọn Mạnh Tân, thì việc cần xảy ra cũng vẫn sẽ xảy ra!”
Lâu Hoãn im lặng.
Công tử Như trở về tới phủ, trầm tư hồi lâu, rồi đứng dậy đi tới phủ thái tử, bẩm báo lại toàn bộ những sự việc hợp tung đã nghị định hôm nay.
Tiễn công tử Như về rồi, thái tử Hoè cho Ngận Thượng mời bảy tám vị cận thần đắc lực như tả tư mã Khuất Vũ, hữu tư mã Cảnh Thuý và Khuất Cái, Khuất Bình đến nghị sự. Biết được việc hợp tung đã thành công, ai nấy đều phấn chấn. Khuất Cái tướng quân, con trưởng của Khuất Vũ, trước nay luôn trấn thủ thành Nghi Dương không kìm nén nổi, lên tiếng đầu tiên: “Điện hạ, thực là cơ hội tốt trời ban! Mạt tướng xin được phạt Tần, đòi lại đất Thương Ư!”
“Khuất tướng quân nói rất phải!” Thái tử Hoè cũng nhiệt huyết sôi trào. “Mối nhục Thương Ư một ngày không rửa, bản cung lại thêm một ngày ăn ngủ không yên! Nay thời cơ đã tới, bản cung triệu chư vị đến là để bàn bạc nhằm tìm ra một kế sách vẹn toàn.” Đưa mắt liếc nhìn mọi người một lượt. “Chư vị đều là cánh tay của bản cung, cũng đều hiểu rõ người Tần, có kế sách gì, xin hãy nói ra!”
Mấy người trẻ tuổi lập tức mồm năm miệng mười, nhao nhao đề xướng kế sách phạt Tần, chốc sau đã thống nhất được ý kiến, chính là nhân cơ hội liệt quốc hợp tung, nước Tần không còn đủ sức đề phòng phía nam, sẽ chia quân làm ba lộ, một lộ xuất từ Uyển Thành, qua Niết Dương tiến về phía tây; một lộ xuất từ đất Tương, theo lũng sông Thoan Thuỷ tiến lên phía bắc; một lộ xuất từ Quân Lăng, dọc theo lũng xuân Đan Thuỷ tiến lên phía bắc, hợp thành thế gọng kìm tấn công Tích, Ư. Sau đó ba lộ đại quân sẽ tiến từ đông sang tây, đánh thẳng vào Ư Trung, đoạt lấy Vũ Quan, tiến vào quét sạch toàn bộ vùng sơn cốc.
Mấy người trẻ tuổi nhiệt huyết sục sôi hăng hái hiến kế sách, chỉ có tả tư mã Khuất Vũ là ngồi yên nhắm mắt, từ đầu đến cuối không nói một lời nào.
Thái tử Hoè không đợi thêm được nữa, bèn quay sang Khuất Vũ: “Lão tướng quân, tướng quân đã giao chiến với người Tần nhiều năm, thông hiểu Thương Ư, chắc chắn đã có kế sách phá địch, có thể chỉ giáo cho bản cung chăng?”
“Khởi bẩm điện hạ!” Khuất Vũ đáp. “Vùng sơn cốc Thương Ư địa hình hiểm trở, rất nhiều quan ải, vốn là nơi dễ thủ khó công. Tính từ thời Thương Ưởng đã trải qua bốn đời quận thú, ai nấy đều rất mực cẩn trọng dè chừng, đặc biệt là quận thú đương nhiệm Mạnh Thiệu, trí dũng song toàn, là tướng tài do đích thân Tần Công lựa chọn, bốn người con dưới trướng đều am hiểu binh thư, tinh thông võ nghệ, người nào người nấy dũng cảm thiện chiến, địch nổi vạn người. Mạnh Thiệu nhiệm chức sáu năm, dựa vào địa thế xây dựng thành luỹ quan ải kiên cố, phòng vệ trùng trùng, đồng thời còn thực thi Tần pháp với người dân trong cốc, khuyến khích trồng trọt tằm tang đan dệt, dạy người dân tử chiến, đã trở thành kình địch của ta. Vi thần cho rằng, muốn thu phục Thương Ư, tuyệt đối không được nóng vội!”
Khuất Vũ vừa mở lời đã ca ngợi chí khí của người Tần, khiến mọi người không khỏi bất ngờ.
Thái tử Hoè hít ngược vào một hơi dài, hai mắt nhìn chằm chằm vào Khuất Vũ: “Theo ý của lão ái khanh, chúng ta nên làm thế nào?”
“Binh không xuất kỳ, khó nắm phần thắng!”
“Xuất kỳ như thế nào?”
Khuất Vũ lấy từ trong túi ra một cuộn da dê, trải lên mặt bàn, thì ra là một tấm bản đồ hình thế, bên trên dày đặc các ký hiệu. Thái tử Hoè nhìn một lúc, rồi ngẩng đầu hỏi: “Bản cung ngu muội, xin lão tướng quân chỉ giáo!”
“Vi thần không dám!” Khuất Vũ chỉ tay vào tấm bản đồ, giải thích tường tận. “Điện hạ hãy nhìn xem, từ đây đến đây, tổng chiều dài hơn sáu trăm dặm, tục gọi là vùng sơn cốc Thương Ư. Đường màu đen này gọi là đường Thương Ư, còn gọi là đường Thương Sơn, tây chạy đến Lam Điền, giữa đi qua Thương Châu, đông đến Tích, Ư, hai bên đều là núi lớn, đỉnh cao chót vót, vực sâu thăm thẳm, không có đường thông. Nếu chúng ta dựa vào hình thế để tiến đánh, tranh đoạt từng thành từng luỹ với người Tần, hoạ may có thể thắng, nhưng sẽ phải trả giá nặng nề. Theo ý của vi thần, chúng ta hãy nhân cơ hội sáu nước hợp tung, người Tần không còn đủ sức để quan tâm đến chuyện khác, đưa ba lộ quân vừa bàn lúc nãy làm mồi nhử, sau đó dẫn quân chủ lực âm thầm ra khỏi Hán Trung, men theo Miện Thuỷ tiến lên phía bắc, vượt núi Thiếu Tập tiến vào thượng nguồn Đan Thuỷ, đánh thẳng vào Thương Thành. Nếu đoạt được Thương Thành, Vũ Quan ắt sẽ tự phá, bảy ấp như Ư Trung, Ư Đông, Tích… khác nào ba ba trong hũ, vùng sơn cốc Thương Ư chẳng cần đánh cũng đoạt được!”
Khuất Vũ vừa nói xong, tất cả những người có mặt đều vô cùng hoan hỷ, Khuất Bình càng là hai mắt tròn xoe, nhìn không chớp vào người bác dày dạn kinh nghiệm sa trường, tràn đầy khâm phục. Rõ ràng, về việc đoạt lại Thương Ư, báo thù rửa hận, Khuất Vũ từ lâu đã có sẵn kế sách trong lòng.
“Diệu kế!” Thái tử Hoè suy nghĩ một thoáng, rồi ôm quyền cung kính nói với Khuất Vũ. “Khuất tướng quân thật không hổ danh là trụ cột của Đại Sở ta!”
Khuất Vũ khấu đầu: “Mạt tướng bất tài, được điện hạ khen ngợi, thực thấy hổ thẹn!”
“Khuất tướng quân, mau bình thân!” Thái tử Hoè rời khỏi chỗ, đưa tay đỡ Khuất Vũ đứng dậy, dìu ông ta ngồi xuống, thở dài một tiếng. “Than ôi, năm xưa Công Tôn Ưởng nhân lúc ta giao chiến với Ba, Việt, đã đánh chiếm mất vùng sơn cốc Thương Ư của ta, phụ vương vì chuyện này mà ăn không ngon ngủ không yên, dốc lòng lo toan việc nước, khiến Đại Sở ta muôn việc chấn hưng, như mặt trời mới mọc, măng non phá đất. Năm trước lại chiếm được đất Việt ngàn dặm, nhân khẩu trăm vạn, thế cường thịnh thực chưa từng có. Bản cung có ý nhân cơ hội hợp tung để chiếm lại vùng đất đã mất, rửa mối nhục năm xưa. Khuất tướng quân, nay phải nhờ cậy cả vào tướng quân!”
Khuất Vũ nghẹn ngào nói: “Điện hạ yên tâm! Mạt tướng cho dù có tan xương nát thịt cũng quyết đánh bại người Tần, chiếm lại vùng đất đã mất, không phụ ơn tri ngộ của bệ hạ, điện hạ!”
Thái tử Hoè hạ thấp giọng, ánh mắt sáng rực: “Chư vị ái khanh, những việc bàn bạc hôm nay phải tuyệt đối giữ bí mật, bất kỳ ai cũng không được tiết lộ ra ngoài! Khuất tướng quân!”
Khuất Vũ vòng tay: “Có mạt tướng!”
“Lập kế sách chu toàn, đảm bảo trận chiến này không chút sơ sảy, một trận phá Tần!”
“Mạt tướng tuân chỉ!”
Thái tử Hoè quay sang Cảnh Thuý, Khuất Cái và các tướng quân khác: “Chư vị tướng quân, mọi người hãy tích cực chuẩn bị, trợ giúp lão tướng quân thành tựu đại công! Giờ bản cung sẽ lập tức đến đài Chương Hoa để bẩm báo lên phụ vương!”
Chư tướng phấn chấn: “Mạt tướng tuân lệnh!”
“Còn khanh…” Thái tử Hoè từ từ di chuyển ánh mắt sang Khuất Bình.
Khuất Bình vòng tay: “Khuất Bình đợi chỉ!”
“Bản cung thấy khanh ngôn từ đúng mực, cử chỉ ung dung, văn chương rực rỡ, có ý muốn uỷ thác cho khanh một trọng trách.”
Khuất Bình nói lớn: “Khuất Bình cho dù phải nhảy vào nước sôi lửa bỏng, cũng quyết chẳng từ nan!”
“Công tử Như chí ở tu thân, không giỏi ứng đối. Khanh hãy đi theo bên cạnh, trợ giúp công tử ứng phó với việc của liệt quốc, chấn hưng uy nghi của Đại Sở ta!”
“Bình tuân chỉ!”
Thái tử Hoè quay sang Ngận Thượng: “Chuẩn bị xe!”
***
Chiêu Dương đánh xe thẳng tới cung Chương Hoa, lên đài Tam Hưu cầu kiến Uy Vương, liền bị thị vệ ngăn lại. Chiêu Dương lòng như lửa đốt, đợi ở thiên điện đến tận chiều hôm sau mới được yết kiến.
Nơi yết kiến vẫn là đài Quan Ba. Sở Uy Vương trong lúc triệu triều thần tấu báo, vẫn thích nghe thấy tiếng sóng vỗ trong đầm cách đó không xa. Chiêu Dương thân mặc tang phục đi theo sau nội thần, vừa đi vừa chạy đến dưới chân đình. Vừa bước lên đình, cả người đã đổ sụp xuống phủ phục dưới đất, dập đầu bình bịch, khóc rống lên: “Bệ hạ…” Nghe thấy Chiêu Dương khóc than thống thiết, Uy Vương ngẩn người, trợn mắt nhìn ông ta.
Chiêu Dương càng khóc thảm hơn: “Bệ hạ…”
Vì khoảng cách hơi xa, nên Uy Vương nhìn không được rõ, chỉ thấy Chiêu Dương mình mặc tang phục, cho rằng ông ta đang khóc mẹ, hai mắt cũng đỏ hoe, khẽ than một tiếng rồi an ủi: “Giang Quân phu nhân đã ở tuổi xưa nay hiếm, hết thọ ở trong nhà, cũng là lên đường thanh thản. Ái khanh cũng nên bớt đau buồn, thuận theo sự biến!”
Chiêu Dương khóc thất thanh: “Bệ hạ, vi… vi thần…”
“Chiêu ái khanh!” Uy Vương tỏ vẻ thông cảm. “Giang Quân phu nhân cả đời tích đức hành thiện, hiền thục thông tuệ, đức Khôn dày dặn, xứng đáng là điển phạm cho đàn bà nước Sở ta. Sau khi quy tiên, lại không tuẫn táng người sống, xa giá giản dị, tuỳ tùng ít ỏi, ngay cả đồ tuỳ táng cũng bớt xa hoa, theo thuần phác, xứng đáng là tấm gương cho thiên hạ noi theo. Quả nhân hay tin, vô cùng nể phục!”
Chiêu Dương dập đầu cồm cộp, vẫn khóc lóc thảm thiết: “Bệ hạ…” Rồi quỳ gối lết lên trước mấy bước, lại dập đầu như giã tỏi. “Bệ hạ, vi thần… lại phạm phải trọng tội, lần này đến chịu phạt, xin bệ hạ trách tội!”
“Ồ?” Uy Vương nhìn kỹ lại, lúc này mới nhận ra Chiêu Dương tự trói quặt hai tay, trên lưng còn cắm ba cành gai, thì giật nảy mình kêu lên: “Chiêu ái khanh, khanh… khanh đang làm gì vậy?”
“Bệ hạ!” Chiêu Dương vừa khóc vừa kể lể. “Thời gian trước, vi thần đã tin theo lời sứ Tần Trần Chẩn, tin nhầm kẻ lang bạt giang hồ Thương Ngô Tử, còn tiến cử hắn với bệ hạ. Nếu không phải nhờ đặc sứ sáu nước Tô Tử huệ nhãn vạch mặt kẻ gian, suýt chút nữa vi thần đã gây nên đại hoạ, tội không thể dung thứ!”
Uy Vương chợt hiểu ra, thở dài mà nói: “Than ôi, nếu vì chuyện này, đúng là quả nhân phải phạt khanh! Tuy nhiên, quả nhân nghe nói Giang Quân phu nhân cũng vì uống tiên đan lâu ngày nên mới quy tiên, từ đó có thể thấy ái khanh không hề có ý hãm hại quả nhân, mà chỉ là bị kẻ gian lừa bịp, có thể dung thứ.”
“Bệ hạ!” Chiêu Dương lại khấu đầu, “vi thần chỉ nghĩ tới trung hiếu, mà không biết phân biệt tốt xấu, không những đã hại tiên mẫu, mà còn… mà còn…” Đột nhiên lết vùn vụt tới trước mặt nội thần, cầu khẩn. “Hãy rút cành gai ra, đánh thật lực vào, đánh chết ta đi!”
Nội thần thoái lui một bước, đưa mắt nhìn Uy Vương.
“Hỡi ôi! Thôi, cũng được!” Uy Vương khẽ thở dài một tiếng. “Chiêu ái khanh nhất định muốn xin được trừng phạt, ngươi hãy đánh ba cái để hoàn thành tâm ý của ái khanh!”
Nội thần vâng lệnh, rút ba cành gai từ sau lưng Chiêu Dương ra, cởi dây trói, vạch áo tang, vung một cành gai quất lấy lệ xuống chỗ lưng trần một cái, rồi ném roi đi, lại nhặt lấy cành khác giơ lên quất. Ba roi đã quất xong, nội thần liền khom người đỡ Chiêu Dương dậy.
Chiêu Dương đi tới trước mặt Uy Vương, quỳ xuống khấu đầu nói: “Đa tạ ơn không giết của bệ hạ!”
Uy Vương chỉ vào chiếu bên trái: “Ngồi đi!”
Chiêu Dương lại lạy tạ, rồi đứng dậy ngồi xuống trước bàn. Đang định lên tiếng, bỗng nghe thấy có tiếng bước chân từ phía xa vọng lại, sau đó nội thần vào bẩm báo có phó sứ hợp tung công tử Như cầu kiến. Uy Vương vội mời vào gặp. Công tử Như hành lễ xong, thấy Chiêu Dương cũng có mặt, nên trong lúc tấu báo chuyện sứ thần sáu nước nghị sự về hội thề hợp tung, đã cố tình nhắc đến việc mình đã làm theo lời dặn dò của lệnh doãn đại nhân, tiến cử Mạnh Tân làm nơi hội thề, sáu nước đều hưởng ứng, địa điểm chính thức đã được xác định.
Uy Vương đưa ánh mắt dò hỏi nhìn sang Chiêu Dương: “Chiêu ái khanh?”
“Bệ hạ!” Chiêu Dương ôm quyền giải thích. “Lần này, vi thần đến đây, một là để thỉnh tội với bệ hạ, hai là cũng chính vì chuyện này. Bệ hạ, khi đại quân của ta chuẩn bị xuất chinh phạt Ngụy, Tô Tử đột nhiên lại đến đề xướng thiên hạ hợp tung, vi thần nhất thời không thể hiểu ra. Mấy ngày nay, vi thần để tang cho tiên mẫu, có thời gian suy nghĩ kỹ càng, cuối cùng cũng mới bừng tỉnh!”
“Ái khanh có cảm ngộ gì?”
“Bệ hạ, vi thần cho rằng, sáu nước bỏ qua hiềm khích cũ, thân như một nhà, từ đó thiên hạ không còn phân tranh, đối với ta mà nói, lợi lớn hơn hại!”
“Ái khanh thử nói xem, lợi lớn hơn hại thế nào?”
“Ta có thể cùng với Ngụy, Tề hoá thù thành bạn, cùng chống lại nước Tần lang sói. Ngụy báo mối thù Hà Tây, ta rửa nỗi nhục Thương Ư, đúng là vẹn cả đôi đường.”
“Vậy… còn người Tề thì sao?”
Chiêu Dương cười thâm hiểm: “Bệ hạ, người Tề chắc chắn đã bị một trận Hoàng Trì của người Ngụy làm cho khiếp đảm, chỉ cần người Ngụy muốn Tề phạt Tần, chắc hẳn Tề không dám không phạt!” Hạ thấp giọng, càng làm ra vẻ thần bí. “Theo lời của Tô Tần, sáu nước hợp tung, mục đích là để chống Tần. Ngụy, Tần vì trận chiến Hà Tây mà kết mối huyết thù suốt mấy chục năm. Mấy năm về trước, người Tần lại giở thủ đoạn gian trá, giết chết tám vạn võ binh Đại Ngụy, không những chiếm được Hà Tây, mà còn thừa thế tấn công cả Âm Tấn và Hàm Cốc, chiếm trọn các nơi sông núi hiểm yếu, ép người Ngụy phải dời đô đến Đại Lương. Mấy năm nay, nước Ngụy văn có Huệ Thi, võ có Bàng Quyên, phía đông đánh bại người Tề ở Hoàng Trì, phía bắc đánh bại quân Triệu ở Triều Ca, phía nam chiếm được Hình Sơn của ta, thế lực đã phục hưng, từ lâu đã muốn quyết chiến phân cao thấp với người Tần. Nay sáu nước hợp tung, ta có thể liên thủ với người Tề, hoàn thành tâm nguyện của Ngụy, giúp Ngụy chiếm lại Hà Tây.”
Sở Uy Vương hơi nhổm người về phía trước: “Hay lắm, nói tiếp đi!”
“Đợi sau khi diệt được bạo Tần, ta có thể tiếp tục liên minh với người Tề, Tề báo mối thù Hoàng Trì, ta rửa nỗi nhục Hình Sơn…”
Nghĩ đến câu “không phải chính thuật” của Lịch Khi, công tử Như bất giác “ồ” lên một tiếng, Chiêu Dương cũng dừng lại chờ đợi, mắt nhìn chằm chằm vào Uy Vương.
Uy Vương hai mắt khép hờ, trầm ngâm suy nghĩ, một hồi lâu sau mới mở mắt ra, quay sang công tử Như: “Như Nhi, mấy ngày nay quả nhân làm theo lời con, thanh tâm tĩnh toạ, nhưng đã ngồi một mạch suốt hai canh giờ mà vẫn tâm tư tán loạn, nghĩ lan man hết chuyện nọ đến chuyện kia, càng về sau lại càng là tạp niệm rối bời, giống như ngồi trên đống gai, toàn thân trên dưới không chỗ nào không khó chịu, như thế là thế nào?”
Chiêu Dương thấy Uy Vương không để ý đến mình, lại nói sang chuyện tu tâm, trong lòng thắc thỏm, nhưng không dám để lộ ra mặt, đành phải nhìn theo ánh mắt của Uy Vương, hai mắt dán vào công tử Như.
“Khởi bẩm phụ vương,” Công tử Như cũng không hiểu được ý tứ của Uy Vương, chậm rãi đáp. “Khi nhi thần mới bắt đầu tu luyện, cũng thấy tâm loạn thần phi, không tài nào ngồi yên được, chưa đến nửa canh giờ đã phải đứng dậy. Phụ vương mới luyện mà đã ngồi được hai canh giờ, là đã vượt xa nhi thần rồi!”
Uy Vương cười hí hửng: “Nghe con nói vậy, quả nhân cũng thấy vững dạ rồi. Như Nhi, về việc tu thân ngộ đạo, con còn có cảm ngộ gì nữa?”
“Khởi bẩm phụ vương,” công tử Như vòng tay bẩm tấu, “nhi thân đã gặp được một kỳ nhân ở phía tây Sính Đô!”
“Hãy nói cho quả nhân nghe thử!”
“Người này ở bên bờ sông Lệ Thuỷ, tên hiệu là Quy Khưu Tử, hình hài phóng túng, xử sự khoáng dật. Vi thần mộ danh mà đến, chưa gặp mặt đã nghe thấy tiếng ca. Nhi thần dừng chân lắng nghe, cảm ngộ vô cùng sâu sắc!”
“Là khúc ca thế nào?”
Công tử Như lấy ra một tấm lụa từ trong tay áo, hai tay dâng lên: “Vi thần sợ nhớ nhầm, nên đã chép lại vào đây, mời phụ vương ngự lãm!”
Nội thần nhận lấy tấm lụa từ tay công tử Như, trình lên Uy Vương. Uy Vương xem xong, phá lên cười lớn, bảo nội thần đưa cho Chiêu Dương: “Chiêu ái khanh, khanh cũng xem đi!”
Chiêu Dương đọc qua một lượt, chau mày: “Bệ hạ?”
“Chiêu ái khanh, có gì cứ nói thẳng!”
“Bệ hạ!” Chiêu Dương không hiểu công tử Như có dụng ý gì, liếc nhìn công tử một cái, rồi lên tiếng thăm dò. “Vi thần cho rằng, ca khúc này dường như… dường như ý tứ không chính đáng, lời ca bất kính, có ý dị nghị, phỉ báng triều chính!”
“Ái khanh nói xem, hắn dị nghị, phỉ báng triều chính như thế nào?” Uy Vương cười hỏi.
“Nay bệ hạ là thánh nhân trị quốc, thiên hạ an thái, nhưng lời ca lại nói ‘sao đức suy vậy thay’, lại nói thánh nhân không xuất hiện, ‘thời thế hiện tại, chỉ mong tránh tai’, lại càng là xằng bậy!”
“Nếu hắn đã phỉ báng triều chính, thì theo ý ái khanh, phải xử trí kẻ này ra sao?”
“Vi thần cho rằng, cần phải trừng trị theo tội phỉ báng triều chính!”
“Ha ha ha ha!” Uy Vương chỉ tay vào Chiêu Dương, cười nghiêng ngả.
Bị Uy Vương cười nhạo, Chiêu Dương hai mắt ngơ ngác, không biết phải làm gì. Ngay cả công tử Như cũng thấy khó hiểu.
Uy Vương cười xong, quay sang công tử Như: “Như Nhi, người ngâm khúc ca này, cũng chính là Quy Khưu Tử mà con vừa nói, phải chăng tên gọi Lịch Khi?”
Công tử Như ngẩn người, nhìn Uy Vương đầy kinh ngạc: “Đúng thế! Sao phụ vương lại biết người này?”
Uy Vương không trả lời, lại cười thêm mấy tiếng, rồi quay sang nhìn Chiêu Dương: “Chiêu ái khanh giỏi võ không giỏi văn, chỉ một lòng nghĩ đến trị binh, mà ít quan tâm đến việc khác. Ca khúc này có ý nghĩa gì, con hãy giải thích cho Chiêu ái khanh nghe!”
Chiêu Dương vội vòng tay với công tử Như, chữa thẹn: “Bệ hạ trách rất đúng, vi thần là người thô lỗ, thiển cận hạn hẹp, xin công tử chỉ giáo!”
Công tử Như không hiểu ý Uy Vương, song cũng không tiện từ chối, đành phải nói: “Ta cũng chỉ là nghe người khác nói lại, nên nói không rõ, lý giải không sâu. Đại khái ý nói rằng, đạo hoặc là thi hành ở tương lai, hoặc là thi hành ở quá khứ, chứ không thi hành ở hiện tại. Trong thời thế vô đạo ngày nay, người có đạo phải biết minh triết bảo thân, thận trọng dè chừng, không nên chấp mê bất ngộ. Hãy tự vẽ cho mình một vòng tròn, rồi cứ quẩn quanh bên trong cái vòng đó.”
“Công tử giải thích hay lắm!” Chiêu Dương quay sang Uy Vương, gượng cười. “Bệ hạ, là vi thần thô thiển, đã suy nghĩ lệch lạc!”
Công tử Như vẫn thấy thắc mắc trong lòng: “Xin hỏi phụ vương, cớ sao lại biết Lịch Khi?”
Uy Vương gõ ngón tay xuống bàn, vẻ vô cùng đắc ý: “Ha ha ha, người này đã là con dân của quả nhân, thì đâu có lý nào quả nhân lại không biết? Còn nữa, người làm ra khúc ca này không phải Lịch Khi, mà là Tiếp Dư, và người có đạo mà lúc nãy con vừa giải thích chính là Trọng Ni người nước Lỗ. Tuy nhiên, theo quả nhân được biết, đây không phải bản gốc của khúc ca này.”
Cả công tử Như, Chiêu Dương đều sững sờ kinh ngạc, đồng thanh thốt lên: “Vậy bản gốc như thế nào kia?”
Uy Vương dường như đã đắm chìm trong suy tưởng: “Tiếp Dư sống vào thời tiên tổ Chiêu Vương. Nghe nói, Trọng Ni người nước Lỗ đi chu du qua địa phận nước ta, Tiếp Dư đi qua trước cửa nhà Trọng Ni, liền hát: ‘Phượng này, phượng này, sao đức suy vậy thay. Việc qua can gián khó đây, việc sau có lẽ hoạ may vãn hồi. Bỏ đi thôi, bỏ đi thôi! Ngày nay tòng chính đến hồi nguy nan.’ Ý muốn khuyên Trọng Ni nên biết thời thế, tu dưỡng thân mình, không nên cứ mãi bôn ba khổ sở trong vòng thị phi. Nếu nói Tiếp Dư là người cuồng thời xưa, thì Lịch Khi chính là kẻ cuồng thời nay. Có điều…” mắt nhìn thẳng vào công tử Như, khẽ chau mày, “khúc ca của Lịch Khi và khúc ca của Tiếp Dư rất khác nhau, đặc biệt là câu ‘chuyện sau không thể đợi, chuyện cũ khó đổi thay’, ý tứ ban đầu đã bị đảo lộn, dễ khiến người ta liên tưởng triền miên, muôn phần cảm khái. Lúc quả nhân mới nghe, cũng thấy giật mình, bèn cho người mời Lịch Khi đến, muốn hỏi rõ nguyên do, nhưng Lịch Khi lại từ chối không tới. Quả nhân vốn muốn đích thân đến tận nơi hoang dã để tìm hắn, song muôn việc bận bịu, vẫn chưa thể đi được. Như Nhi đã gặp mặt Lịch Khi, vậy đã nhìn nghe được gì, hãy nói ra cho ta nghe thử!”
“Khởi bẩm phụ vương,” công tử Như đáp. “Nhi thần gặp mặt, khen ngợi ông ta làm được khúc ca hay, Lịch Khi liền lắc đầu, nói là khúc ca này không phải do ông ta làm ra. Nhi thần hỏi ông ta đó là của ai, ông ta hỏi vặn lại nhi thần là đã từng gặp được chân nhân chưa? Nhi thần bèn trả lời, chân nhân chỉ xuất hiện ở thời thượng cổ, ngày nay biết đi đâu tìm? Lịch Khi cười chê nhi thần kiến văn hạn hẹp, nói rằng người làm ra khúc ca này là chân nhân đương đại. Nhi thần vội hỏi chân nhân là ai, Lịch Khi bèn nói, chân nhân họ Trang tên Chu, là người đắc đạo!”
“Ồ?” Uy Vương nhổm người về phía trước. “Nói như vậy, người này đã thành tiên rồi ư?”
Công tử Như thoáng ngẩn người: “Trang chân nhân đã thành tiên hay chưa, thì nhi thần không biết!” Dừng lại một chút, lại nói tiếp. “Nhi thần nghe nói chân nhân hiện đang sống ở Mông Ấp nước Tống, nên rất muốn đến Tống một chuyến để chứng thực sự tình, mong phụ vương ân chuẩn!”
“Tuyệt đối không được đi!” Uy Vương xua tay từ chối.
“Phụ vương…” Công tử Như tiếp tục cầu xin.
“Như Nhi!” Uy Vương lắc đầu nói. “Đã sắp đến lúc liệt quốc hội thề hợp tung, con lại là phó sứ tung thân của nước Sở, sao có thể tuỳ tiện bỏ đi?” Cúi đầu ngẫm nghĩ một lúc, rồi quay sang nội thần. “Đã có chân nhân, thì không thể không đến thăm. Ngươi hãy phái hai người tin cẩn đến Mông Ấp, tìm mọi cách gặp được Trang chân nhân, nói rằng quả nhân muốn mời chân nhân đến đất Sính du ngoạn một chuyến, thành tâm bái làm quốc sư!”
Nội thần chưa kịp vâng lệnh, thì một viên nội thần tuần trực đứng dưới đình đã lên tiếng bẩm báo: “Khởi bẩm bệ hạ, điện hạ cầu kiến!”
Uy Vương vội nói: “Tuyên vào!”
Thái tử Hoè vội vã lên đình, sau khi hành lễ xong xuôi, liền ngồi xuống.
Uy Vương mỉm cười nhìn thái tử Hoè: “Hoè Nhi, trông con thần sắc phấn chấn, hẳn là có việc tốt đẹp?”
“Khởi bẩm phụ vương!” Thái tử Hoè bẩm tấu. “Sáu nước tung thân đã thành, nhi thần tấu xin phụ vương khai chiến với Tần, rửa mối nhục ngày trước, đoạt lại sáu trăm dặm Thương Ư!”
“Hoè Nhi, con hãy nói xem, khai chiến thế nào?”
Thái tử Hoè liếc nhìn Chiêu Dương, muốn nói lại thôi.
Uy Vương nhận ra vẻ do dự của thái tử Hoè, liền cười: “Nói đi, ở đây không có người ngoài!”
Thái tử Hoè đành phải thuật lại toàn bộ mưu kế của Khuất Vũ: “Vùng sơn cốc Thương Ư từ đông sang tây dài chừng sáu trăm dặm, hình thế hiểm yếu, giống như con rắn dài. Sáu nước tung thân, hội thề tại Mạnh Tân, đã định được ngày lành. Nhi thần cho rằng, ta có thể phô trương thanh thế, tham gia hội thề. Người Tần chắc chắn sẽ phải dốc toàn lực đối phó, ta sẽ nhân lúc họ lơ là, lặng lẽ xuất kỳ binh từ Hán Trung, vượt qua núi Thiếu Tập, tập kích Vũ Quan, Ư Trung, cắt đứt đôi mình rắn, sau đó cố thủ tại các quan ải hiểm yếu, đông tây vây lại, chiếm trọn Thương Ư!”
“Ừm!” Uy Vương vẫn mỉm cười trầm ngâm. “Là ai đã nghĩ ra mưu này?”
“Tả tư mã!”
Thấy là mưu của Khuất Vũ, Chiêu Dương thầm giật thột, đưa ánh mắt lo lắng nhìn Uy Vương.
Uy Vương vuốt râu, trầm ngâm một lúc, rồi quay sang Chiêu Dương: “Khuất tướng quân nghĩ ra mưu này, Chiêu ái khanh thấy thế nào?”
“Khởi bẩm bệ hạ!” Chiêu Dương nói. “Vi thần cho rằng mưu này rất hay, ta có thể một trận đoạt lại vùng sơn cốc Thương Ư, rửa mối nhục ngày trước. Chỉ có điều…” Cố tình dừng lại, liếc nhìn thái tử Hoè.
“Chỉ có điều làm sao?” Uy Vương hỏi.
Chiêu Dương ra bộ băn khoăn: “Mưu này dù hay, nhưng thực thi lại bất lợi. Núi Thiếu Tập từ nam sang bắc rộng hai trăm dặm, chót vót hiểm trở, lại có dòng nước chảy xiết, hổ báo đầy rẫy, từ xưa đến nay là nơi yêu ma quỷ quái ra vào, dân cư hầu như không có, đại binh làm sao có thể vượt qua? Hơn nữa, cho dù có thể vượt qua, thì quân nhu phải vận chuyển bằng cách nào? Người ngựa quân nhu không băng qua được, một chút quân tiên phong ít ỏi không những không giáp công được người Tần, ngược lại còn dễ bị người Tần giáp kích. Làm tốt, có thể một trận thành công; làm không tốt, sẽ bị người Tần cười nhạo.”
“Theo kế của ái khanh, ta nên làm thế nào?”
“Hiện giờ sáu nước hợp tung, thân như một nhà, người Tần cho dù có là một khối sắt tinh, cũng sẽ bị nghiền thành vụn cám. Vi thần cho rằng, trước tiên chúng ta cần tập trung toàn lực vào việc hợp tung, cùng liệt quốc hợp làm một, chung sức đánh Tần, theo đường Hàm Cốc đánh thẳng đến Hàm Dương. Hàm Dương là gốc, Thương Ư là ngọn. Chỉ cần đoạt được Hàm Dương trong tay, thì sáu trăm dặm Thương Ư cỏn con kia còn chạy đi đằng nào?”
“Ừm!” Uy Vương khẽ gật đầu, quay sang thái tử Hoè. “Hoè Nhi, Như Nhi, Chiêu ái khanh, nghe chỉ!”
Ba người đồng loạt rời khỏi chỗ ngồi, quỳ xuống đất.
Uy Vương đưa mắt nhìn công tử Như: “Như Nhi, gửi công hàm tới Tô Tử và sứ thần liệt quốc, nói rằng sáu nước hợp tung, hợp sức chống Tần, lần này quả nhân sẽ đích thân tham dự hội thề!”
“Nhi thần tuân chỉ!”
Uy Vương quay sang Chiêu Dương: “Chiêu ái khanh!”
“Có vi thần!”
“Chuẩn bị tám vạn đại quân, cùng quả nhân tới Mạnh Tân tham gia hội thề, để phô bày uy thế của tung thân!”
Chiêu Dương sang sảng đáp lời: “Vi thần tuân chỉ!”
Uy Vương chuyển ánh mắt sang thái tử Hoè: “Hoè Nhi!”
“Có nhi thần!”
“Trấn giữ Sính Đô, chăm lo quốc sự, không được tuỳ tiện vọng động!”
“Nhi thần… tuân chỉ!”