Lần này, Mạnh phu tử đã thực sự nổi giận.
Chừng ấy năm qua, sở dĩ Mạnh phu tử vẫn nấn ná với Tề, lưu lại Lâm Truy mà không bỏ đi, thứ nhất là vì đệ tử Khuông Chương, thứ hai là vì Điền Tích Cương vẫn đối đãi khá cung kính và chịu nghe lời, nhất là chịu để phu tử tham dự việc quân, phạt Yên theo nghĩa, khiến phu tử có cơ duyên thực thi hoài bão bình sinh.
Thế nhưng, kể từ khi phạt Yên trở về, lão phu tử ngày càng thêm thất vọng với Tề Vương, bầu nhiệt huyết dùng nhân chính bình định thiên hạ cũng dần nguội lạnh, cuộc tranh cãi lần này, vừa hay đã chấm dứt tất cả.
Rời khỏi cung Tề, Mạnh phu tử tâm tư hỗn loạn, đứng lặng hồi lâu ngoài cổng, mới nhấc từng bước về phía xe ngựa.
Vạn Chương nhìn thấy, bèn đánh xe lại đón.
“Phu tử?” Vạn Chương nhìn thấy thần sắc của Mạnh phu tử, khẽ lên tiếng gọi.
Mạnh phu tử chẳng buồn nhìn, cứ thế lên xe, ngồi xuống, khép mắt lại.
Vạn Chương không dám hỏi thêm, bèn ra roi giục ngựa, đi thẳng về phủ. Sau khi phạt Yên khải hoàn, lão phu tử được Tề Vương thưởng công, phong làm khách khanh, ban cho một toà phủ trạch cùng nhiều tài vật khác, Mạnh phu tử cũng không chối từ, cứ chiếu theo danh sách mà nhận.
Tới trước cổng phủ của mình, Mạnh phu tử bất chợt lên tiếng: “Phủ Khuông tướng quân!”
Vạn Chương không dám chậm trễ, lập tức giục ngựa quay đầu, đánh xe về phía phủ Khuông Chương.
Khuông Chương ra tận ngoài cổng nghênh đón, khom lưng thi lễ: “Phu tử, đệ tử chờ thầy đã lâu!” Rồi cung kính chìa tay, mời vào trong phủ.
“Lão hủ không vào đâu!” Mạnh phu tử đáp lại một lễ, “lão hủ tới đây, là muốn hỏi tướng quân một câu.”
“Phu tử cứ nói.”
“Lần này phạt Sở, tướng quân hẳn đã biết dụng binh thế nào?”
“Đệ tử.” Khuông Chương ngập ngừng, “thỉnh cầu phu tử chỉ giáo!”
“Một chữ, lễ!”
“Đệ tử xin ghi nhớ!” Khuông Chương vòng tay đáp.
Mạnh phu tử nhảy lên xe, rồi quay người lại, vòng tay vái Khuông Chương mà nói: “Khuông tướng quân, lão hủ về nhà đây, tướng quân bảo trọng!”
Khuông Chương nghe ra ngữ điệu có vẻ bất thường, ngẩn người hỏi: “Phu tử về đâu?”
“Còn có thể về đâu?” Mạnh phu tử sắc mặt rầu rĩ, ngoảnh nhìn về nam.
“Phu tử,” Khuông Chương sửng sốt, “thầy muốn… về đất Trâu?”
“Than ôi!” Mạnh phu tử bật ra một tiếng than, “lão hủ rời nhà, thoắt đã bao năm, đáng lẽ nên quay về tận hiếu với mẹ già lâu rồi mới phải!”
Khuông Chương sững sờ không biết phải nói gì. Bầu không khí dường như ngưng đọng.
“Phu tử lên đường mạnh khoẻ!” Hồi lâu sau, Khuông Chương mới vái một vái thật sâu, “đợi đệ tử phạt Sở quay về, phục mệnh với Tề Vương rồi, sẽ tới đất Trâu phụng sự phu tử!”
“Lão hủ chờ tướng quân!” Mạnh phu tử đáp lễ, rồi phẩy tay với Vạn Chương, chỉ về phía trước.
Nhìn theo chiếc xe lắc lư xa dần, Khuông Chương thở dài một tiếng, quay về thư phòng, ngồi yên chốc lát, ánh mắt dừng lại trên đầu án.
Nơi đầu án bày hai cuốn binh thư, một cuốn là Binh pháp Tôn Vũ Tử, cuốn còn lại trên đề hai chữ “Tẫn nhân”. Khuông Chương đưa tay rút lấy tấm thẻ tre mang thủ bút của Tôn Tẫn, mắt nhìn đăm đăm vào hai hàng chữ vuông vắn:
“Khuông Chương tướng quân, xin nhận lấy hai cuốn binh thư cùng tâm đắc về binh đạo, trợ giúp Tô Tử thành tựu đại nghiệp hợp tung, an định thiên hạ! Người tẫn hình cung kính cậy nhờ.”
Khuông Chương chầm chậm quỳ xuống, khép mắt lại, bên tai vang vang lời hứa của chính mình: “Tô Tử, Chương xin hứa, kể từ hôm nay, kính cẩn vâng theo lời thầy, nghiền ngẫm binh thư, trợ giúp Tô Tử thành tựu đại nghiệp hợp tung. Tô Tử có việc sai khiến, Chương dù phải vào nước sôi lửa bỏng, quyết chẳng từ nan!”
Khuông Chương mở mắt, rút lấy cây bút, chấm đẫm mực, viết một hồi lên tấm da dê, rồi gấp gọn gàng, cất vào túi gấm, cẩn thận phong kín, đóng lên ấn chương, gọi thị vệ tâm phúc lại, giao cho túi gấm, dặn dò mang tới Hàm Đan, giao cho Tô Tần.
Hôm sau bãi triều, Tuyên Vương giữ Khuông Chương, Điền Anh lại, tiếp tục bàn chuyện phạt Sở.
Nghị sự lần này, không phải để bàn chuyện có đánh hay không, mà là đánh vào đâu, và đánh thế nào.
“Theo như thần nghĩ,” Điền Anh tâu rõ mưu lược của mình, “Tần Vương đã giao xứ Hạ Đông cho ta, đại vương không thể không nhận. Khuông tướng quân có thể xuất binh từ Tiết Thành, chinh phạt Hạ Đông, chiếm lấy toàn bộ vùng đất phì nhiêu rộng lớn phía nam Lang Nha, phía bắc Hoài Thuỷ, phía đông Chung Ly. Nếu như có được xứ Hạ Đông, Đại Tề ta sẽ mở mang lãnh thổ gấp đôi!”
Chỉ một trận mà chiếm nguyên một vùng lãnh thổ rộng lớn tương đương nước Tề, đây đích xác là thôn tính.
Không nghi ngờ gì nữa, chắc hẳn Tề Tuyên Vương và Điền Anh đã bàn xong từ trước, giờ triệu Khuông Chương tới nghị sự, chẳng qua là muốn Khuông Chương y lệnh thực thi.
Khuông Chương khép mắt không nói.
“Khuông tướng quân?” Tề Tuyên Vương gọi đích danh hỏi.
“Thần không dám phạt!” Khuông Chương mở mắt, vòng tay đáp.
“Ồ?” Tề Tuyên Vương nhìn xoáy vào Khuông Chương, ngả người lại hỏi, “cớ sao không dám?”
“Thần có ba điều không dám,” Khuông Chương vòng tay đáp, “thứ nhất, xuất binh ở nghĩa. Nghĩa của đại vương, là y theo giao ước với Tần, cứu Tần khỏi cơn nước lửa, mà Sở hiện đang đánh Tần ở Thương Ư chứ không phải ở Hạ Đông. Thứ hai, cứu người là trượng nghĩa, cướp đất lại là bất nghĩa, xuất binh bất nghĩa, thần không chắc thắng. Thứ ba, cho dù có nghĩa trong tay mà đi chinh phạt xứ Hạ Đông, thần cũng không chắc thắng.”
“Vì sao?” Điền Anh hỏi dồn.
“Hồi bẩm tướng quốc,” Khuông Chương nhìn sang Điền Anh, “xứ Hạ Đông, đất rộng người thưa, đầm phá sông ngòi chằng chịt, quân năm đô ta đã quen lục chiến, không quen thuỷ chiến, đây là điều thứ nhất. Ta chỉ xuất binh sáu vạn, mà quân Sở đồn trú tại các thành ấp Hạ Đông, cộng lại không dưới mười hai vạn, nhiều gấp đôi ta, đây là điều thứ hai. Sở giao tranh với Tần, ắt đã phòng ta đánh Hạ Đông, mà xứ Hạ Đông chỉ cần phòng bị chu đáo, ta sẽ bị hãm vào tuyệt địa, đây là điều thứ ba.”
Hiển nhiên, hai lý do thứ nhất và thứ hai đều không phải là lý do, lý do thực sự, chính là điều thứ ba. Tuyên Vương, Điền Anh đưa mắt nhìn nhau, cùng hít sâu vào một hơi.
“Khuông tướng quân,” Tuyên Vương nghiến răng quyết đoán, “quả nhân cấp thêm cho khanh sáu vạn quân, dùng mười hai vạn phạt mười hai vạn, thế nào?”
“Đại vương,” Khuông Chương nhìn thẳng vào Tuyên Vương, ngữ khí nặng nề, “không phải là chuyện nhiều hay ít. Thần cho rằng, người Tần giao xứ Hạ Đông cho ta, là muốn ta kết mối thâm thù đại hận với Sở. Sở phạt Tần, là vì sáu trăm dặm Thương Ư. Mà xứ Hạ Đông của Sở, nào chỉ sáu trăm dặm? Dù ta có cố chiếm lấy, đợi đến khi thời thế đổi thay, người Sở phục hồi nguyên khí, há chịu bỏ qua dễ dàng? Lúc đó, ta và Sở sẽ thành kẻ thù không đội trời chung. Như hiện tại, ta và Sở tuy có tranh chấp, song vùng đất tranh giành chỉ là Tứ Thượng, đều là đất của nước khác. Đất Hạ Đông mà Sở chiếm được, cũng không phải đất của ta, mà vốn là của nước Việt, do người Sở khổ chiến đoạt về…”
Tuyên Vương lại hít vào một hơi.
“Huống gì chuyện của nước Yên, thiên hạ đều đang nhìn vào.” Khuông Chương lại bồi thêm một câu.
“Được rồi, được rồi,” Tuyên Vương xua tay, “Khuông tướng quân, vậy theo ý khanh, nên cứu Tần thế nào?”
“Hồi bẩm đại vương,” Khuông Chương đáp, “nếu là khởi binh nhân nghĩa để cứu Tần, thì nên tiến sâu vào nước Sở, chi viện Thương Ư, uy hiếp người Sở từ bên cạnh, ép Sở lui binh, giải cứu Tần khỏi cơn nguy cấp.”
“Ta là cánh quân đơn độc, nếu như tiến sâu vào Sở, liệu có bị người Sở cắt đứt đường lui?” Điền Anh hỏi lại.
“Binh lính thiện chiến của Sở đều ở Thương Ư, quân đồn thú tại các thành ấp không đủ sức đối địch, khó lòng địch lại đại quân ta. Vả lại, ta là quân nhân nghĩa, xuất binh chỉ để cứu Tần, chứ không kinh động tới dân Sở, tin rằng những nơi ta đi qua, người Sở sẽ không tuỳ tiện kháng cự.”
“Vậy còn lương thảo?” Tuyên Vương hỏi.
“Đó lại không phải việc của thần.” Khuông Chương nhún vai đáp.
Tuyên Vương trầm ngâm một lát, quay sang Điền Anh: “Tướng quốc?”
“Có thần.” Điền Anh đáp, quay sang Khuông Chương, “chuyện lương thảo, tướng quân xin hãy an tâm!”
Thị vệ tâm phúc của Khuông Chương mang theo mật hàm cấp tốc đi suốt ngày đêm, chỉ ba ngày đã tới Hàm Đan, tìm đến phủ tướng quốc. Nhưng Viên Báo cho hay, Tô Tần đã theo Triệu Vương viễn chinh Bắc Hồ, thị vệ lấy làm nôn nóng, những muốn tới Bắc Hồ tìm Tô Tần, ngặt vì đường sá xa xôi, núi non cách trở, lại càng không biết tìm người ở đâu, nên vô cùng lo lắng.
“Nghĩa sĩ thấy thế này được không?” Viên Báo chỉ vào mình mà nói, “tại hạ họ Viên tên Bảo, vốn là cung uý nước Yên, sau theo Tô đại nhân hợp tung liệt quốc, ở bên Tô đại nhân đã nhiều năm, việc của Tô đại nhân, tại hạ không gì không biết. Khuông Chương tướng quân, tại hạ cũng từng gặp mặt, có lẽ tướng quân còn nhớ tại hạ. Nghĩa sĩ nếu như tin tưởng, xin giao thư này cho tại hạ, tạ hạ sẽ tìm cách chuyển tới Tô đại nhân. Nghĩa sĩ thấy sao?”
“Cũng được!” Thị vệ kia chẳng còn cách nào, bèn lấy mật hàm ra, đưa cho Viên Báo, “việc của Khuông tướng quân đã gấp lắm rồi, xin phủ tể hãy chuyển mật hàm này tới Tô đại nhân nhanh nhất.”
Tiễn người đưa thư về rồi, Viên Báo mang mật hàm vào gặp Cơ Tuyết.
Cơ Tuyết mở túi gấm, đọc xong thì đưa cho Viên Báo.
Viên Báo đọc xong, thấy Cơ Tuyết đang nhìn sang mình, thì vòng tay nói: “Bẩm thái hậu, theo như thư này, Khuông tướng quân không muốn phạt Sở, song vương mệnh khó trái. Người Tề phạt Sở, nếu Khuông tướng quân làm tướng, hẳn không có gì phải lo lắng.”
“Nói phải lắm!” Cơ Tuyết đáp, “chuyện nguy cấp trước mắt, không phải ở Sở, mà là ở Yên. Đất Yên ngày càng loạn lạc, người Yên đang chết mỗi ngày, dân Yên đang chìm trong cảnh nước sôi lửa bỏng.”
, “Bẩm thái hậu,” Viên Báo tiếp lời, “Báo vừa hay tin, Tử Du đã chết. Trong các công tử Yên thất, giờ chỉ còn mình Tử Chức mà thôi.”
“AP” Cơ Tuyết kinh hãi, “Tử Du cớ sao lại chết?”
“Chết ở Đông Hồ. Để tránh bị truy sát, Tử Du đã thay tên đổi họ, trốn tới tận Đông Hồ, chăn dê cho người Hồ, không hiểu do đâu mà bại lộ thân phận, rồi bị người ta giết chết.”
“Tử Chi hại nước quá lắm!” Cơ Tuyết chau mày hồi lâu, quay sang Viên Báo, “Phi Phi đâu?”
“Vừa thấy ra ngoài.”
“Một mình ư?”
“Thưa, cùng với Đỗ Hành.”
Đỗ Hành là một tiểu Mặc giả, tuổi sàn sàn Phi Phi, từ hồi ở trong Mặc cung, hai đứa trẻ đã thân nhau như hình với bóng. Sau khi Tử Chức vào cung, Phi Phi không còn Hoa bèn cho Mặc giả đưa cô bé tới, mấy hôm trước vừa mới đến nơi, hai bên gặp bạn chơi, lại nhớ Đỗ Hành, M nhau, vô cùng mừng rỡ.
“Gọi hai đứa về đây, ta có việc!”
. Viên Báo rảo bước đi ngay, lát sau đã dẫn Phi Phi về. “Mẹ?” Phi Phi chạy ào vào phòng, mặt lấm tấm mồ hôi. “Con đi đâu thế?” Cơ Tuyết nửa như trách móc, “chơi gì mà đến mức này?”
“Con và Đỗ Hành chơi vui lắm. Con dạy nó phi đao, nó dạy con bắn cung! Nó bắn rất xa rất giỏi, ngoài năm chục bước, ngắm đâu trúng đó!” Phi Phi hớn hở khoe với mẹ.
“Con đã bao lâu không gặp Tử Chức?”
“Lâu lắm rồi.” Phi Phi kêu lên, “anh ấy không ra khỏi cung, con cũng không vào được!”
“Con cầm theo cái này, sẽ vào cung được.” Cơ Tuyết đưa cho Phi Phi tờ văn điệp vào cung thành.
Phi Phi nhận lấy, lại hỏi: “Con dẫn theo Đỗ Hành được chứ?”
“Một mình con thôi.”
“Mẹ muốn con chuyển lời gì không?” Phi Phi chớp mắt hỏi.
“Không cần chuyển lời gì hết. Con chỉ cần vào gặp Tử Chức, nghe xem mẹ con họ nói gì, rồi về kể lại với mẹ.”
“Vâng.”
“Chớ có sinh sự trong cung, gặp xong hãy về ngay!”
“Vâng!” Phi Phi đáp, rồi quay người đi ngay.
“Phi Phi!” Cơ Tuyết gọi với theo, “hãy nhớ, nếu mẹ Tử Chức có hỏi gì con, chớ nên nói bừa, nếu hỏi về mẹ, con tuyệt đối chớ để lỡ miệng! Mẹ là mẹ nuôi của con! Tướng quốc là cha nuôi của con. Nhớ lấy!”
“Con biết rồi!” Phi Phi đáp rồi chạy đi một mạch.
Tới cung thành, thị vệ kiểm tra văn điệp, rồi dẫn Phi Phi vào hậu cung.
Hậu cung là một toà trạch viện tường bao kín mít, trước cổng có hai vệ sĩ giương kích cùng một cung nhân đứng canh. Cung nhân kiểm tra văn điệp rồi vào bẩm báo.
Tử Chức hay tin, đứng vụt ngay dậy, đang định chạy ra cổng đón, thì sau lưng vọng lại tiếng gọi rất khẽ của Dịch vương hậu: “Quay lại!”
Từ Chức ngoảnh đầu nhìn mẹ.
“Cơ hội của con tới rồi đó. Biết phải gặp con bé thế nào chưa?” Dịch vương hậu nhìn xoáy vào Tử Chức, thì thào hỏi.
“Phải gặp thế nào?” Tử Chức cũng hạ giọng hỏi lại.
“Một từ, khóc!”
“Ồ…” Tử Chức ngơ ngác không hiểu.
“Vừa khóc, vừa kể về khổ nạn của người Yên, bộc bạch nỗi xót thương của con, tỏ rõ quyết tâm cứu dân Yên thoát khỏi hoạ nước lửa!”
“Con đã hiểu!”
“Nếu hỏi tới ta, cứ nói rằng ta đã tới hậu hoa viên.”
“Vâng!” Tử Chức vâng lời, rồi theo cung nhân ra khỏi cổng viện, tới trước cổng chính của hậu cung, dẫn Phi Phi vào trong.
“Anh Chức, cuối cùng cũng gặp được anh!” Phi Phi sắc mặt hân hoan, “em tới tìm anh nhiều lần, nhưng họ không cho vào!”
“Anh biết.” Tử Chức đáp, “anh cũng vậy, anh muốn ra ngoài gặp em, song cung vệ không cho! Em làm thế nào mà vào đây được.”
“Em có cái này!” Phi Phi chìa ra văn hộ điệp, khế giọng đáp, “mẹ nuôi đưa cho em đó!”
“Mẹ nuôi thật tốt!” Tử Chức dừng bước, ngoảnh nhìn Phi Phi, sắc mặt đăm chiêu buồn bã, “anh… cứ ngỡ không bao giờ còn gặp được em nữa.”
“Anh Chức!” Phi Phi nhìn Tử Chức chăm chú, “anh không vui ư?”
“Phải!”
“Vì sao kia?”
Tử Chức không trả lời, chỉ nắm lấy tay Phi Phi, dẫn tới cung viện, vào trong phòng khách rồi cùng ngồi xuống. “Anh Chức?” Phi Phi đưa mắt nhìn quanh, “sao họ lại giam mẹ con anh ở đây?”
“Vì nước Yên.”
“Ồ?” Phi Phi ngạc nhiên, “nước Yên đã bị người Tề chiếm mất, thì liên quan gì đến người Triệu?”
Tử Chức bỗng mắt lệ đầm đìa.
“Anh Chức?” Phi Phi ngạc nhiên nhìn Tử Chức, “sao anh lại khóc?”
Tử Chức lại càng khóc lóc thảm thiết hơn nữa.
“Anh Chức?” Phi Phi hoảng hốt, giọng cũng như mếu máo, “anh… mau nói đi, đã xảy ra chuyện gì sao?”
Tử Chức nghẹn ngào: “Nước Yên của ta, thần dân của ta…” Rồi lại khóc lớn.
“Họ làm sao?” Phi Phi càng thêm lo lắng.
“Họ… sống không bằng chết!”
“Tại sao vậy?”
“Họ… đang chết dần mòn từng ngày, họ bị người Tề xua đuổi khỏi nhà, lang thang khốn khổ. Họ… đói ăn rách mặc, vợ con ly tán… Bao nhiêu đứa trẻ… thành không cha không mẹ…” Tử Chức không nói nên lời.
Phi Phi nghe vậy, cũng bật khóc theo.
“Phi Phi,” Tử Chức bất chợt siết chặt nắm tay, lau khô nước mắt, “anh phải quay về, anh phải báo thù, anh phải đuổi người Tề, đuổi người Trung Sơn ra khỏi bờ cõi, anh phải phục hưng nước Yên, anh sẽ bắt kẻ xâm lăng phải đền nợ máu…”
“Nhưng anh… anh báo thù bằng cách nào?”
“Bằng kiếm, bằng máu, bằng tất cả những gì anh có!” Tử Chức nghiến răng căm phẫn, “anh thề huyết chiến đến cùng với người Tề, xua đuổi chúng đi, anh muốn tất cả người Yên, già được phụng dưỡng, trẻ được chăm nom, trai tráng an cư lạc nghiệp…”
“Nhưng anh… còn chẳng được ra ngoài!”
Tử Chức nắm chặt tay Phi Phi: “Em hãy giúp anh!”
“Nhưng, em giúp bằng cách nào?”
“Anh… anh không biết, anh chỉ muốn rời khỏi cung này, anh không muốn giam chân nơi đây mãi, anh chỉ muốn quay về đất Yên!”
“Vâng,” Phi Phi gật đầu dứt khoát, “em sẽ giúp anh!”
“Phi Phi?” Tử Chức xoay vai Phi Phi lại, nhìn nàng đăm đăm.
“Anh muốn nói gì sao?”
“Nếu có một ngày anh ra khỏi cung này, quay về cố quốc, thì em… em có thể cùng anh về Yên không?”
“Em…” Phi Phi do dự.
“Em phải đi cùng anh! Anh không thể xa em được!”
Tử Chức ánh mắt như lửa nhìn Phi Phi, “anh thực lòng đấy! Em… đi cùng anh chứ?”
“Vâng!” Phi Phi dứt khoát gật đầu.
“Về đất Yên, có thể anh sẽ chết, em… vẫn sẽ đi cùng anh sao?”
“Vâng!” Phi Phi vẫn gật đầu không chút do dự.
“Em không sợ chết ư?” Tử Chức nhìn sâu vào mắt Phi Phi hỏi.
“Không sợ.” Phi Phi cũng nhìn thẳng vào Tử Chức, ngữ khí kiên định.
“Là vì anh?”
Phi Phi lắc đầu.
“Vậy… vì cái gì?”
“Em là Mặc giả.” Phi Phi ngoảnh đầu nhìn về phía tây nam, đại bản doanh của Mặc gia ở phương đó, “vì chính nghĩa thiên hạ, Mặc giả chết không chùn bước!”
Tử Chức nhìn đăm đăm vào Phi Phi hồi lâu, mới trịnh trọng gật đầu: “Thiên hạ cũng gồm cả người Yên? Em vì chính nghĩa cho người Yên, cũng tức là vì chính nghĩa cho thiên hạ, phải không?”
“Phải!”
“Anh không phải Mặc giả, anh chỉ vì nước Yên!” Tử Chức nhìn về phương bắc, rành rọt từng tiếng.
Phi Phi quay về phủ tướng, kể lại tường tận về cuộc gặp Tử Chức cho Cơ Tuyết nghe, nói rằng ý mình đã quyết, sẽ cùng Tử Chức về Yên, đánh đuổi người Tề, giúp dân Yên được sống yên ổn.
Cơ Tuyết khẽ cười, khích lệ vài câu, rồi bảo nàng ra chơi với Đỗ Hành.
Sau khi Phi Phi đi khỏi, Cơ Tuyết thảo một phong thư, cho vào một túi gấm khác, giao cho Viên Báo cùng với túi gấm của Khuông Chương, căn dặn phải người mang tới cho Tô Tần.
Được mấy trận tuyết lớn cuối đông tưới tắm, khắp vùng thảo nguyên cỏ mọc bời bời, muôn hoa nở rộ.
Sau tân hôn, Triệu Vũ Linh Vương cùng công chúa Na Sa rời khỏi thảo nguyên, tới sống ở biệt cung Bình Ấp. Từ cổng nam thành Bình Ấp nhìn ra, sẽ trông thấy một dòng sông rộng mênh mông có tên Dục Thuỷ. Sông ấy chảy từ tây nam lại, băng qua trước cổng nam thành Bình Ấp rồi đổ về phía đông bắc, suốt dọc đường đi tiếp nạp thêm vô số nhánh sông, uốn lượn qua trùng trùng núi non phía bắc dãy Thái Hàng, chảy vào đất Yên, rồi băng ngang qua đất Yên tuôn ra biển lớn.
“Na Sa,” Vũ Linh Vương chỉ vào dòng sông đang chảy về đông bắc, “từ đây về đông, qua ải Cư Dung, chính là đất Yên. Có muốn tới đất Yên ruổi ngựa chăng?”
“Muốn!” Na Sa cười đáp, “trước đây thiếp thường nghe phụ vương kể chuyện người Yên, nói rằng họ là hậu duệ của Thiệu Công. Nhưng Thiệu Công là ai kia?”
“Thiệu Công họ Cơ tên Thích, là em trai của Chu Vũ Vương. Sau khi Vũ Vương lập nên nhà Chu, đã ban phong đất Yên cho Thiệu Công.” Vũ Linh Vương gập ngón tay đếm, “tính ra, đến nay đã hơn bảy trăm năm tuổi!”
“Hơn bảy trăm năm tuổi!” Na Sa kêu lên, “thế thì già quá rồi!”
Vũ Linh Vương bật cười vài tiếng: “Phải, già quá rồi!”
Trong lúc hai người đang trò chuyện, bỗng thấy ba người cưỡi ngựa men theo bờ sông Dục Thuỷ phi như bay lại, lao vào cổng thành.
Thành môn uý tra hỏi kỹ lưỡng, rồi dẫn ba người lên lầu thành.
Người đi đầu là viên quân uý đóng tại biên giới Triệu Yên, hai người còn lại là người Yên. Nhận ra Triệu Vương, hai người Yên bèn quỳ sụp xuống lạy. Vũ Linh Vương hỏi kỹ, mới biết họ là do nghĩa quân nước Yên cử tới. Nghĩa quân nước Yên đã công phá ải Cư Dung do người Trung Sơn trấn thủ, nhưng vì sợ người Trung Sơn cướp lại, mới tới cầu cứu Triệu Vương, xin Triệu Vương dẫn quân vào Yên, đánh đuổi người Trung Sơn và người Tề, giúp Yên phục quốc.
Triệu Vương lệnh cho khoản đãi tử tế, rồi dẫn theo Na Sa nhanh chóng xuống lầu, quay về biệt cung, phái người đi mời Tô Tần và Phì Nghĩa cấp tốc tới nghị sự.
“Trời giúp ta đó!” Phì Nghĩa vỗ mạnh xuống án, “vậy thì đánh thôi, danh chính ngôn thuận!”
“Đánh thế nào?” Vũ Linh Vương nhìn thẳng vào Phì Nghĩa hỏi.
“Thần thỉnh mệnh làm chủ tướng, quyết một trận quét sạch đất Yên, đuổi người Tề và người Trung Sơn về nước. Đại vương, chỉ cần ta có được Yên, vậy thì diệt Trung Sơn có khác nào lấy vật trong túi!”
“Tướng quốc thấy sao?” Vũ Linh Vương nhìn sang Tô Tần.
“Thần cho rằng không được!” Tô Tần vòng tay đáp.
“Có gì không được?” Phì Nghĩa kinh ngạc nhìn sang Tô Tần, “xuất binh ở nghĩa. Nay ta nhận lời thỉnh cầu của người Yên, cứu dân Yên thoát khỏi hoạ nước lửa, lẽ nào còn không phải nghĩa?”
“Tề và Trung Sơn cũng đều xuất binh vì nghĩa.” Tô Tần dõng dạc đáp, “vả lại, nghĩa của người Tề còn do chính Chu thiên tử trao cho. Nay Triệu nếu chỉ nghe lời cầu cứu của một vài người Yên mà tuỳ tiện xuất binh, thiên hạ sẽ nói sao đây? Hơn nữa, người Yên đã bị chữ nghĩa kia hại khổ, nay ta lại viện đến nghĩa, sẽ khó lòng khiến người Yên tin.”
4 “Ý Tô Tử là…” Triệu Vương nhìn Tô Tần dò hỏi.
“Đại vương hãy xem thứ này!” Tô Tần lấy ra một túi gấm, hai tay dâng lên.
Triệu Vương đọc xong, chau mày lẩm bẩm: “Tề Vương xuất sáu vạn quân, lệnh cho Khuông Chương phạt Sở?”
“Nghe ý tứ của Khuông tướng quân, thì Hàn, Nguỵ cũng đều xuất binh.”
“Vậy chẳng phải…” Triệu Vương cười gượng, “là kéo đàn đến đánh?”
“Phải!” Tô Tần cũng cười buồn, “năm xưa Nguỵ Vương, Bàng Quyên mượn sức hợp tung của thần để kéo đến phạt Tần, còn giờ đây, Tần nhờ sức liên hoành của Trương Nghi mà phạt Sở.”
“Cứ để cho họ phạt!” Phì Nghĩa giọng đầy hào hứng, “phạt càng hăng càng tốt!” Càng nghĩ càng phấn chấn, lại siết chặt tay quyền mà nói, “đại vương, bốn nước phạt Sở, với ta là cơ duyên tuyệt diệu. Người Tề không còn tâm trí mà nhìn tới đất Yên, Hàn, Nguỵ, Tần cũng không rảnh rang để cản chân ta, vừa hay ta có thể đánh đuổi người Tề, chiếm lấy đất Yên, thuận thế lấy luôn Trung Sơn!”
“Tô Tử?” Triệu Vương rõ ràng đã dao động, lại nhìn sang Tô Tần.
“Thần còn nhận được một tin nữa.” Tô Tần đáp lời. “Tin gì?”
“Tử Du đã chết!”
“Tử Du?” Triệu Vương nheo mắt, “vì sao lại chết?”
“Chạy trốn tới Đông Hồ chăn dê, bị người ta tìm tới tận nơi giết chết. Than ôi!” Tô Tần khẽ thở dài, “Tử Du chết rồi, Yên thất chỉ còn duy nhất một hậu nhân, là công tử Chức.”
“Tô Tử muốn nói,” Triệu Vũ Linh Vương đã nghe ra ẩn ý, bèn dò hỏi, “đưa công tử Chức về Yên?”
“Đại vương anh minh.” Tô Tần vòng tay đáp, “người Tề làm loạn nước Yên, đã khiến người Yên kiêng dè người ngoài. Nay nếu đại vương lại xuất binh, dù có giương cờ trượng nghĩa, cũng khó lòng khiến người Yên tin. Tử Chức thì khác. Người Yên nổi dậy khắp nơi, khác nào một đĩa cát rời, khó hợp thành lực lớn. Nay nếu đại vương hộ tổng công tử Chức về Yên, dân Yên sẽ có nơi tụ về, nhất tề theo công tử Chức một lòng chiến đấu. Để người Yên tự đánh đuổi người Tề và người Trung Sơn sẽ tốt hơn nhiều so với đại vương xuất binh. Người Yên phục quốc, công tử Chức nhất định sẽ mang ơn đại vương, Yên Triệu liên minh, Trung Sơn không đánh cũng tự tan rã.”
“Người Yên nổi dậy, đều là thường dân. Công tử Chức không có binh lính trong tay, nếu ta không xuất quân, chỉ mình Tử Chức đơn thương độc mã, sao có thể được? Và lại, hắn nói hắn là công tử Chức, người Yên liệu có ai tin.” Phì Nghĩa băn khoăn.
“Tướng quân nói phải!” Tô Tần liền đáp, “ý tại hạ muốn nói, đại vương không thể xuất binh, song có thể cho mượn binh.”
“Mượn binh?” Triệu Vương hai mắt sáng rực, ngẫm nghĩ chốc lát rồi nói, “Phì Nghĩa, khanh hãy chọn lấy mười vạn kỵ binh tinh nhuệ, chiêu mộ thêm hai vạn kỵ sĩ của Lâm Hồ, Lâu Phiền, hợp thành năm vạn binh, chờ lệnh ngoài ải Cư Dung.” Nhìn sang ngự sử, “truyền chỉ về Hàm Đan, lập tức hộ tống công tử Chức tới Bình Ấp, không được sơ suất!”
“Đại vương,” Thấy Triệu Ung quyết sách thoả đáng, Tô Tần lấy làm yên tâm, bèn vòng tay mà nói, “đất này không còn đại sự, thần xin được trở về Hàm Đan.”
“Cũng được.” Triệu Vương trầm ngâm hồi lâu, gật đầu chấp thuận, “tướng quốc trở về, hãy để mắt tới bốn nước kia, chớ để họ nuốt chửng con gấu lớn nọ! Còn như nước Yên, quả nhân tự biết xử trí.”
Người Sở quả nhiên đã phát cuồng.
Nếu ví sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư từ Lam Điền tới Tích Ấp là một con rắn dài, vậy thì hơn hai mươi vạn đại quân do Sở Hoài Vương và vương thúc đích thân thống lĩnh tựa như một bầy mãnh thú điên rồ lao đến từ mọi hướng, với một khí thế không gì cản nổi, cắt đứt con rắn dài này thành mấy đoạn.
Mắt thấy người Sở thế quá hung hãn, Nguỵ Chương quyết định bỏ Tích Ấp, rụt đầu rắn về, giữ chặt lấy vị trí tim rắn, chính là Ư Thành. Ư Thành nếu mất, Vũ Quan lại bị cắt đứt, không những toàn bộ sơn cốc sẽ mất kiểm soát, mà ngay cả cái đầu rắn này cũng mất luôn điểm tựa, trở thành vật tế cho người Sở.
Thế nhưng, người Sở đã không cho Nguỵ Chương cơ hội. Hoài Vương lệnh cho vương thúc trấn giữ quận Hán Trung, còn mình trấn tại Đan Dương, chỉ huy quân Sở nhất tề xuất kích.
Trận chiến Đan Dương đã khiến toàn quân Sở nhận rõ ba sự thực. Thứ nhất, người Tần hoàn toàn có thể bị giết; thứ hai, trước quân Tần, chạy trốn hay đầu hàng cũng là đường chết, duy chỉ có liều mạng mà đánh, duy chỉ có giết chết người Tần, mới có thể giành được đường sống cho mình; thứ ba, binh khí ô kim không phải là nguyên nhân thủ thắng, bởi binh khí trong tay họ cũng đều rèn từ ô kim.
Duy có một thứ khiến người Sở nghe mà biến sắc, chính là ba lực sĩ Tần sức khoẻ như thần. Sau khi vương giá tới Đan Dương, biết được nỗi sợ hãi của toàn quân, Hoài Vương quyết định không giữ bí mật nữa, mà cho Cảnh Thuý công khai diễn tập cách quăng lưới lớn để chế phục lực sĩ nước Tần. Ba quân thấy vậy, thảy đều phấn chấn, không những hết sợ, mà còn trông chờ ba lực sĩ kia hãy mau mau xuất trận, để quân mình một mẻ lưới tóm gọn, không còn lo lắng về sau.
Người Sở quân đông thế mạnh, lại không sợ hãi, càng đánh càng hăng. Người Tần bị vây khốn, sĩ khí sa sút. Người Tần sở trường dã chiến, không mấy coi trọng phòng ngự thành trì, vậy nên thành luỹ ở Ư Thành cũng không kiên cố hơn Tích Ấp là bao. Đoạn đường Vũ Quan đã bị cắt đứt, trước mặt Nguỵ Chương hiện giờ chỉ còn lại ba con đường: một là cố thủ Ư Thành, quyết chí chết chung với người Sở; hai là đầu hàng người Sở; ba là bỏ Thành, rút về Bắc Sơn.
Con đường thứ nhất và thứ hai rõ ràng không thể chọn. Sau khi người Sở công thành chừng nửa tháng, Nguỵ Chương quyết định tiếp tục bỏ Ư Thành, dẫn tàn quân rút về vùng núi phía bắc. Con đường sơn cốc ở vùng núi phía bắc Thương Ư vốn hiểm trở khó đi, trước đó người Tần đã dựng không ít luỹ phòng thủ suốt dọc đường, tích luỹ lương thảo sẵn sàng, chỉ cần cố thủ nơi cửa cốc, dựa vào bình phong thiên nhiên, cầm cự độ dăm tháng nửa năm cũng không phải chuyện khó.
Ư Tuy nhiên, theo pháp của Tần, tướng quân tự ý bỏ thành rút quân là trọng tội xử trảm. Nguỵ Chương bèn soạn cấp báo, nói rõ nỗi nguy nan của quân trấn giữ Thương Ư cùng kế ứng phó của mình, song tuyến đường Thương Ư đã bị người Sở cắt đứt, quần báo không thể truyền đi. Nguỵ Chương đang rối như tơ vò, thì may sao một hắc điêu thuộc hạ của Thiên Hương đã vượt qua được trùng trùng gian hiểm tìm tới Ư Thành. Nguỵ Chương vội buộc quân báo vào chân chim điêu của nàng ta, thả cho bay về Hàm Dương. Năm ngày sau, hắc điêu mang tới chỉ lệnh của Tần Vương, chấp thuận thỉnh cầu của Nguỵ Chương. Nguỵ Chương lập tức truyền vương chỉ, cho quân trấn thủ Thương Thành và Vũ Quan lập tức bỏ thành, chia đường rút về Thương Lạc và đoạn đường sơn cốc phía bắc, bỏ lại toàn bộ cốc đạo Thương Ư. Sau khi quân lệnh phát đi, Nguỵ Chương nhanh chóng chia tàn quân thành bảy đường, nhân lúc đêm tối cấp tốc men theo sông Tích Thuỷ và các khe núi khác, tuần tự rút lui về phía Bắc Sơn. Đợi đến khi người Sở kịp phát giác ra, Ư Thành đã là một toà thành trống.
Tuy nhiên, do con đường sơn cốc đã bị cắt đứt, toàn bộ các tuyến đường đều bị lính Sở đông nghịt như ong chẹn kín, nên quân trấn thủ tại Thương Thành và ải Tây Vũ đã không thể nhận được tướng lệnh rút quân của Nguỵ Chương. Quân trấn thủ Ư Thành vừa rút đi, ải Nghiêu Quan càng bị người Sở bao vây trùng điệp, toàn bộ các thành ấp suốt tuyến Thương Thành, Thương Nam, Vũ Quan sa vào tuyệt lộ, quân Tần liều mình khổ chiến tầm nửa tháng nữa thì toàn bộ thất thủ, hơn ba vạn thủ quân đa phần tử trận, chỉ còn một số ít ỏi thoát được ra khỏi trùng vây, chạy vào rừng rậm Bắc Sơn lẩn trốn.
Cho tới lúc này, sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư đều đã nằm cả trong tay người Sở. Rất nhiều lương thảo quân nhu người Tần chưa kịp chuyển đi cũng thành chiến lợi phẩm cho người Sở. Hoài Vương ngự trên vương xa, rời khỏi Đan Dương thị sát quân tình, suốt dọc đường đi đâu đâu cũng thấy cờ Sở phấp phới, ba quân reo mừng, thì hân hoan khôn xiết, bèn hạ lệnh giặc cùng chớ đuổi, trước mắt hãy cắt cử ít binh lực để đắp luỹ dựng ải tại những nơi hiểm yếu, vây chặt những cánh tàn quân trong vùng núi non phương bắc.
Sách lược lớn của Hoài Vương là không lãng phí thời gian để giằng co với tàn binh trong sơn cốc, mà dốc toàn lực đánh hạ ải Nghiêu Quan, sau đó đánh thẳng tới Hàm Dương, san bằng Tần Xuyên, bắt sống Trương Nghi, trách tội Tần Vương, để rửa mối hận bị người Tần lừa gạt.
Ải Nghiêu Quan nằm ở tận cùng phía tây sơn cốc Thương Ư, qua ải này tiếp tục về tây chính là huyện Lam Điền xưa nay vẫn luôn là của người Tần. Ải này chỉ cách thành huyện Lam Điền chưa đầy mười dặm về phía nam, hai bên là núi Nghiêu Sơn, ở giữa là một khe núi bằng phẳng dài chừng bảy dặm, rộng chừng bốn dặm, gọi là Nghiêu Tái. Từ hơn trăm năm về trước, người Tần đã dựng ải Hùng Quan ở phía đông nam của Nghiêu Tái, đây chính là phòng tuyến chống Sở cuối cùng.
Hai bên ải Hùng Quan nối liền với tường cao, cắt ngang khe núi, chạy lên tới tận đỉnh núi hai bên, lại men theo đỉnh núi mà vươn dài sang hai phía, phong kín hoàn toàn cốc đạo Thương Ư. Trước đó không lâu, Tần Vương lại nghe theo tấu thỉnh của Trương Nghi, cho người cấp tốc sửa sang tôn tạo, dựng thêm một bức tường thành nữa ở mé tây bắc khe núi, cũng chạy lên tới tận đỉnh núi hai bên, biến toàn bộ khe núi Nghiêu Tái thành một toà thành, trong thành bố trí dày đặc các loại công trình phòng ngự.
Người Tần sớm đã bày nghiêm trận chờ đợi.
Song Hoài Vương không hề bận tâm, lệnh cho quân Sở công phá Nghiêu Quan.
Qua hơn nửa tháng trù bị, người Sở bắt đầu đánh vào quan ải.
Vũ khí công thành của người Sở là xe mây, chính là loại xe cao có thể di chuyển được do người Sở chế ra, từng được Bàng Quyên sử dụng lần đầu để công phá ải Hàm Cốc hồi sáu nước đánh Tần. Để phá ải Nghiêu Quan, người Sở đã dày công cải tạo loại xe mây năm xưa. Do xe cao di chuyển khó khăn, nên người Sở đã dẫn theo thợ mộc đến, trong vòng nửa tháng trù bị trước khi đánh ải, họ đã lấy gỗ ngay tại chỗ, cấp tốc chế tạo được vài chục cỗ xe cao.
Loại xe cao kiểu mới này rất đặc biệt, còn cao hơn cả tường thành Nghiêu Quan, xung quanh xe ốp sắt tấm.
Xe mây chia làm bốn tầng, tầng thứ nhất bố trí bốn chục binh sĩ; từ tầng thứ hai trở lên, mỗi tầng có ba chục binh sĩ, trong đó có mười nỏ thủ. Mỗi cỗ xe mây được lắp mười hai bánh lớn bằng gỗ, do ba mươi lực sĩ và sáu con chiến mã đứng dưới gầm xe và phía sau xe hoặc kéo hoặc đẩy. Do ốp tấm sắt xung quanh, nên xe này chịu được tên bắn hoặc đuốc lửa, từ xa nhìn lại, hệt như một toà tháp sắt khổng lồ, đao thương không đâm thủng, nước lửa không bén đến.
Không chỉ có vậy, người Sở nhận được giáo huấn từ trận Hàm Cốc, nên giữa thang mây và tường thành luôn giữ một khoảng cách chừng mười bước, để đề phòng người Tần hất dầu sôi phóng hoả. Trên mỗi tấm sắt che chắn đều đục sẵn nhiều lỗ bắn tên cao thấp so le, có thể ngắm bắn người Tần từ nhiều hướng. Đợi đến khi người Tần không dám ló đầu ra nữa, xe mây sẽ áp sát tường thành, rồi tầng trên cùng sẽ đẩy ván bắc cầu, nối liền thang mây với tường thành, quân lính sẽ theo cầu ván ấy mà lao sang tường thành, kết thành trận thế, cố thủ chờ tiếp viện. Quân Sở bên dưới sẽ nhanh chóng leo lên theo thang gỗ ở giữa xe, tiếp tục chạy qua cầu ván, nhảy vào trong trận thế quân mình, đánh rộng ra xung quanh, rồi công phá ải địch từ bên trong.
Đây là phương sách công ải gần như thập toàn thập mỹ, Hoài Vương cùng đám Cảnh Thuý đã dày công nghiên ngẫm và thử nghiệm rất nhiều lần mới chế ra được món vũ khí lợi hại nhường này.
Quả nhiên, người Tần không thể cầm cự nổi. Khi vài chục cỗ xe cao áp sát lại gần, người Tần gần như bó tay hết cách, không làm gì được. Tên bắn đi bao nhiêu cũng chỉ rào rào rơi xuống đất, còn đoàn xe Sở vẫn lừ lừ tiến lại.
Khi xe mây của Sở chỉ còn cách tường thành hơn chục bước, nỏ thủ phía Sở thình lình bắn tên dữ dội. Xạ thủ phía Tần đang lấp ló sau ụ thành bắn tên ra, lúc này trở tay không kịp, đa phần trúng tên, số còn lại vội núp kỹ sau ụ thành không dám ló đầu ra nữa. Xe Sở tiếp tục áp sát, nhưng lính Tần không dám ho he, chỉ biết giương mắt nhìn xe Sở tiến tới ngay trước tường thành, rồi ván cầu từ từ đẩy ra.
Tấm ván cứ thế vươn dài, cho tới khi bắc được lên ụ thành. Lính Tần liều mạng xúm lại, muốn hất nó đi, song xô đẩy kiểu gì cũng không suy suyển, dùng thương để bẩy cũng không ăn thua, chỉ hơi sơ sảy một chút là trúng tên Sở thiệt mạng. Vậy là quân Sở theo nhau nhảy vào trong thành mà không gặp phải quá nhiều trở ngại, đánh giáp lá cà với quân Tần trên thành, trong lúc hai bên giằng co, tên từ phía Sở vẫn liên tục bay ra như mưa qua các lỗ bắn tên trên xe cao, nhắm vào đám lính Tần đang liều mình chống cự.
Và rồi, toán lính Sở đầu tiên đã kiểm soát được một đoạn tường thành. Quân Tần hay tin, vội vã đổ về cứu viện, song mặt tường thành không đủ rộng, lính Tần dù đông cũng không thể nhất tề xông lên, chỉ biết giương mắt nhìn quân Sở nối đuôi nhau ào ào từ trên xe cao nhảy xuống tường thành, mở rộng trận thế.
Sau khi chiếm lĩnh được một đoạn tường thành, người Sở bèn dịch chuyển xe cao, tiếp tục tấn công một đoạn tường thành khác. Cứ “gặm nhấm” dần dần như vậy, cho tới khi trời tối, người Sở gần như đã chiếm lĩnh toàn bộ tường thành trong sơn cốc dài năm dặm, đồng thời dựng luỹ ngay trên tường thành để giữ vững chiến quả.
Cứ thế ba ngày liên tiếp, người Sở đánh theo tường thành từng bước áp sát tới lầu thành, rồi cuối cùng chiếm luôn cả lầu thành, từ trên cao bắn tên xuống quân Tần phía dưới. Quân Tần đánh đỡ không xuể, cuối cùng cửa ải bị người Sở công phá. Quân Sở nghìn nghịt kéo qua cửa ải tràn vào bên trong, kịch chiến với người Tần trong ải.
Nghiêu Quan thất thủ, quân Tần sĩ khí sa sút, dần dần tan rã, lui về cố thủ phòng tuyến thứ hai.
Có điều, lần này người Tần đã rút ra được bài học xương máu. Trước khi người Sở tiếp tục đánh thành, người Tần đã kịp đào hào phía trước lớp tường thành thứ hai, tuy không lấy gì làm sâu, song đan xen chằng chịt, lại đào hố bẫy khắp nơi, rải chống sắt đầy đất, để mong ngăn cản xe cao của người Sở.
Trong lúc quân Sở dốc sức đánh Nghiêu Quan, Tần Huệ Vương đang lễ bái tiên tổ trong tiên miếu ở Ung Đô.
Ung Đô toạ lạc dưới chân núi Kỳ Sơn, là đất lành của vương thất Đại Chu, điển tích phượng hót Kỳ Sơn1 chính là bắt nguồn từ đây. Sau khi Tần Công hộ tống Chu Bình Vương dời đô về đồng tới Lạc Dương, Chu Vương đã ban cho Tần bảo địa phong thuỷ này. Người Tần lập nước, lấy đất này làm kinh đô, dựng tông miếu xã tắc tại đó, cho tới thời Linh Công mới dời đô tới Kinh Dương. Sau đó Tần và Nguỵ tranh đoạt Hà Tây, Hiến Công lại dời đô về đông tới Nhạc Dương. Đến thời Hiếu Công, Thương Quân biến pháp, mới dời kinh đô nước Tần về Hàm Dương như ngày nay. Là kinh đô đầu tiên, cũng là kinh đô lâu nhất kể từ khi Tần lập quốc, Ung Đô có thể gọi là đại bản doanh và đại hậu phương của người Tần, vả lại tiên miếu của Tần thất cũng đặt ở đây. Các đời quân chủ nước Tần mỗi khi đăng cơ hoặc cần quyết sách quốc gia đại sự, dứt khoát phải tới Ung Đô cáo tế tiên tổ.
Sau khi toàn tuyến Thương Ư thất thủ, cánh quân của Nguỵ Chương tan rã, Huệ Vương mới thực sự lĩnh hội được sự nguy hiểm của người Sở. Theo như kế sách của Trương Nghi trước đó, thì sau khi khai chiến, người Tần sẽ lần lượt nhường lại từng quãng sơn cốc Thương Ư cho Sở, song sự thực là, người Tần còn chưa kịp nhường, đại quân Tần còn chưa kịp thoái lui, đã bị người Sở cắt thành từng đoạn mà vây đánh, tổn thất nặng nề.
Vẫn có tin vui, đó là tiệp báo liên hoành thành công của Trương Nghi đã truyền về, ba nước Hàn, Nguỵ, Tề cùng hẹn xuất binh. Huệ Vương lập tức hạ chỉ, lệnh cho ba vạn quân Tần tiến về phía đông ra khỏi ải Hàm Cốc, men theo thung lũng sông Lạc Thuỷ tiến tới kinh đô nước Hàn, hợp quân với Hàn, Nguỵ cùng phạt Sở. Ngay sau đó, Tề cũng xuất binh, mượn đường nước Tống tiến vào đất Sở.
Có điều, tất cả đều là “nước xa”, không kịp cứu “lửa gần”. Chiến báo tiền phương liên tiếp truyền về, Hoài Vương ngự giá thân chinh, quân Sở đông như kiến cỏ, càng đánh càng hăng, sáu trăm dặm sơn cốc phía đông Nghiêu Quan đã gần như sạch bóng quân Tần.
Vào ngày quân Sở đánh tới Nghiêu Quan, Huệ Vương lo âu thấp thỏm, đứng ngồi không yên, bèn khởi giá về tây, ngày hôm sau thì tới Ung Đô, vào trong thái miếu, lệnh cho đại tống chúc Thiệu Cao chủ trì tế lễ, khẩn cầu tiên tổ và thần linh phù hộ.
Sau khi đã tế bái khắp lượt liệt tổ liệt tông, Huệ Vương liền bước lên đàn chủ tế mà đại tông chúc đã dựng sẵn.
Lần này đăng đàn, Huệ Vương muốn công khai trách tội Sở Vương trước tiên tổ.
Trên đàn chủ tế bày bài vị của tiên quân Mục Công cùng đại thần Vu Hàm. Vào thời Mục Công, Tần Sở giao hảo, thông hôn qua lại, từng lập minh ước với nhau. Khi lập minh ước, hai nước giao hẹn, bên cạnh thần linh trong tiên miếu của mỗi nước, còn phải thỉnh cầu thêm một vị thần linh khác tới để chứng giám, chính là vị thần đất Ba Vu Hàm. Minh ước lập xong, Mục Công và Sở Thành Vương cất một bản trong miếu Vu Hàm tại Vu Sơn để làm bằng. Giờ đây, minh ước vẫn còn nguyên đó, mà Sở đã xua quân xâm phạm biên cương, phản bội lời thề, vậy nên Huệ Vương cần phải trách tội Sở Vương tại đây.
Đồ tế lễ đã dâng lên đầy đủ, nghi lễ cũng đã hoàn tất, đại tông chúc Thiệu Cao dâng một bản sớ, rồi đặt lên án tế trước mặt Huệ Vương một con rối kết bằng vải lụa mang hình hài của Hoài Vương. Trên ngực con rối cắm sâu một cây kim dài đen trũi. Huệ Vương quỳ xuống trước đàn tế, liếc nhìn bản sớ, rồi hai mắt khép lại, giơ tay ra hiệu bắt đầu.
Lập tức, vu nhạc réo rắt, hương khói mịt mờ.
Trong tiếng vu nhạc, đại tông chúc Thiệu Cao bắt đầu nhảy múa, vừa múa vừa ngâm nga những lời trách tội viết trong tờ sớ, rằng:
“Vua nối ngôi nước Tần là Doanh Tứ, xin dùng ngọc ngũ sắc và ngọc bích lớn, sai tông chúc Thiệu Cao bố cáo trước đại thần Vu Hàm, trách mắng Sở Vương Hùng Hoè lắm tội. Năm xưa tiên quân Mục Công cùng Sở Thành Vương, hiệp lực đồng tâm, khiến hai bang như nhất, gắn kết bằng thông hôn, ghi nhớ bằng minh ước, thề rằng đến ức vạn đời con cháu, chớ gây chuyện bất lợi cho nhau. Thê ước hiện còn lưu trong thần điện Vu Hàm làm bằng. Mà nay Sở Vương Hùng Hoè thiếu nhân kém nghĩa, hoang dâm vô đạo, ở trong nước thì bạo ngược người dân vô tội, hành hình đàn bà mang thai, đâm lén người thân, giam cầm thúc phụ; với bên ngoài thì trái ngược ý trời, không sợ thân uy lẫm liệt của Hoàng Thiên thượng đế và đại thần Vu Hàm, phản bội lời thề mười tám đời, trước dẫn quân chư hầu tới ải Hàm Cốc, muốn diệt xã tắc của ta, thảo phạt trăm họ của ta; sau xâm phạm biên thành Tích Ấp, Ư Thành, ta không dám cho là đúng. Nay lại hưng binh động chúng, nuôi ngựa mài gươm, dấy đại quân bức bách biên cương ta, chiếm đoạt sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư, áp sát trước Nghiêu Quan mà dương oai diễu võ. Nước Tần tuy nghèo, dân Tần tuy yếu, binh khí tuy thô lậu, song ta cũng quyết tự cứu mình. Khẩn cầu linh đức của Hoàng Thiên thượng đế cùng đại thần Vu Hàm phù hộ cho ta đánh bại quân Sở, lấy lại biên thành. Dám kể tội Sở Vương Hùng Hoè bội ước đáng khinh, nay khắc vào bia đá, để tỏ rõ oai nghiêm của đại thần.”
Sở trách tội tuy không dài, song lời lời như kiếm sắc, khí thế tựa cầu vồng. Toàn bộ bản sớ, lời lời đanh thép, một mạch thành hình, đọc lên nghe phấn chấn tâm can, vô cùng hả giận.
Huệ Vương càng nghe càng thấy tuyệt diệu, đang lúc tâm đắc, bỗng nghe có tiếng bước chân dồn dập lại gần, rồi Xa Vệ Quân cai quản đội thị vệ hối hả bước vào.
Nhưng thấy Huệ Vương đang lúc tâm tư phấn chấn, Xa Vệ Quân vừa định mở miệng bẩm báo lại im bặt, lặng lẽ đứng chờ bên cạnh.
Song Huệ Vương đã nhận ra.
Vu nhạc ngừng tấu, đại tông chúc ngừng múa, Huệ Vương mở to mắt, nhìn sang Xa Vệ Quân.
Xa Vệ Quân bước lại, ghé tai Huệ Vương thì thầm bẩm báo: “Doanh Hoa tướng quân cấp báo, Nghiêu Quan thất thủ!”
“A?” Huệ Vương đứng bật ngay dậy, “mau, chuẩn bị xe!” Rồi không kịp nói lời nào với đại tông chúc, lập tức sản bước đi thẳng ra khỏi tiên miếu.
Xe Huệ Vương lao như bay về phía tiền tuyến Nghiêu Quan. Khi tới Hàm Dương, sớm đã có một toán binh mã chờ sẵn ngoài cổng thành, kẻ dẫn đầu hiên ngang lẫm liệt, sau lưng là hai viên mãnh tướng hùng hổ oai phong.
Ba người này, chính là thái tử Đãng cùng hai lực sĩ Nhậm Bi, Ô Hoạch, đều đã nhung phục tề chỉnh, binh khí lăm lăm.
“Phụ vương, nhi thần thỉnh chiến!” Thái tử Đãng tiến lên nghênh đón vương xa, vòng tay hành lễ, cất giọng sang sảng tựa chuông đồng.
“Quả nhân đã lệnh cho ngươi thế nào?” Huệ Vương đưa tay chỉ vào Doanh Đãng, nghiêm giọng hỏi.
“Trấn thủ… Hàm Dương!”
“Người Sở đã tới Hàm Dương chưa?”
“Nhi… nhi thần…” Thái tử Đãng nôn nóng, giọng đầy kích động, “nhưng phụ vương, người Sở đã đánh đến Nghiêu Quan, nhi thần…”
“Mau vào trong thành!” Huệ Vương chỉ tay về phía cổng thành, “còn dám trái vương mệnh, chém đầu không tha!” Lời vừa dứt, lập tức lệnh cho phu xe ra roi giục ngựa, thẳng tới Nghiêu Quan.
Đằng sau, Thái tử Đãng chỉ biết giậm chân hậm hực. “Điện hạ, giờ phải làm sao?” Ô Hoạch hỏi. “Còn biết làm sao nữa?” Thái tử Đãng cười nhăn nhó, nhún vai một cái, rồi chỉ về phía cổng thành.
Thế tấn công của người Sở, dữ dội thần tốc, gần như không chừa lại cho người Tần lấy một cơ hội trở tay. Trong lúc xe của Huệ Vương đang lao như bay tới Lam Điền, quân Sở đã tràn vào trong ải Nghiêu Quan như nước lũ, hoàn toàn kiểm soát được khe núi Nghiêu Tái rộng thênh thang nằm giữa hai đoạn tường thành, đại quân rùng rùng đông như kiến cỏ đang uy hiếp tầng thành thứ hai.
Người Tần bày trận sẵn sàng chờ đợi.
Chủ tướng Doanh Hoa đứng trên lầu cổng thành của tầng ải mới, mắt nhìn chòng chọc vào đại quân Sở đang từ từ áp lại.
Đúng vào thời khắc căng thẳng ấy, sau lưng chợt vọng lại tiếng vó ngựa dồn dập, xa giá của Huệ Vương đã tới.
Doanh Hoa vội vã chạy xuống ải, đón Huệ Vương cùng lên lầu thành.
Huệ Vương phóng mắt nhìn đi, rồi bàng hoàng chết lặng trước những gì trông thấy.
Cả vạn lính Sở đông nghịt đang tiến theo sau một dãy xe cao dàn hàng chữ nhất, bày thành trận thế trường xà, một tay cầm khiên, một tay giương trường thương, sát khí hừng hực, đang rầm rộ tiến về phía phòng tuyến tạm thời do người Tần mới dựng. Nhìn ánh phản quang lấp loé trên đầu mũi thương, biết được rằng toàn bộ thương ấy đều rèn từ ô kim cả.
“Phá được Nghiêu Quan, chính là thứ kia!” Doanh Hoa chỉ vào dãy xe cao đang dàn hàng ngang tiến lại.
“Hẳn có cách pháp?” Huệ Vương lo lắng hỏi.
“Có đấy!” Doanh Hoa chỉ xuống vạt đất trống trước ải, “thần đã cho đào ba tầng hào rãnh và không ít hố sâu, đại vương hãy chờ xem!”
Lời vừa dứt, một cỗ xe mây trong trận Sở lọt bánh xuống hố sâu, cỗ xe cao ngất nghểu nghiêng sang một bên, rồi đổ xuống đất như trời giáng.
Người Sở thất kinh, cả dãy xe mây lập tức khựng lại.
Một viên tướng Sở bước lên, quan sát hố sâu. Sau đó, một tốp lính Sở được xua lên phía trước dò đường, có kẻ sa chân thụt xuống hố bẫy.
Đại quân Sở bèn dừng ngay lại, nhìn bộ dạng, có vẻ đang sắp xếp lui quân.
Huệ Vương thở phào một tiếng, quay sang gật gù với Doanh Hoa.
“Than ôi, nếu như biết trước người Sở sẽ dùng xe máy để công thành, thì thần đã cho đào hào thế này ở trước Nghiêu Quan.”
“Hào rãnh, hầm hố chỉ có thể cản chân địch nhất thời!” Huệ Vương đáp, “lần này, Hùng Hoè thực sự muốn liều chết với ta!”
“Ta sợ gì!” Doanh Hoa siết chặt tay quyền, “nếu nói về liều chết, chúng sao bì được với người Tần ta?”
“Nghiêu Quan tổn thất bao nhiêu?”
“Hơn vạn.” Doanh Hoa phẫn hận, “đâu có ngờ người Sở lại chế ra được thứ quái quỷ ấy, thần đệ chỉ biết hai mắt trân trân nhìn chúng leo lên đầu thành như kiến.”
“Chỗ đệ còn bao nhiêu người?” Huệ Vương hỏi.
“Không đầy bảy vạn!” Doanh Hoa đáp, “có điều, người Tần một đủ chọi hai, có thể tính là mười bốn vạn.”
“Một là một.” Huệ Vương bật cười, trầm ngâm chốc lát rồi nói, “quả nhân đã truyền chỉ, Tây Nhung và Hà Tây mỗi nơi điều động hai vạn binh, nội trong bảy ngày phải tới!”
“Liệu người Nguỵ có nhân cơ hội cướp lấy Hà Tây của ta?” Doanh Hoa nhìn Huệ Vương hỏi.
“Trương tướng quốc đã sắp xếp ổn thoả, Nguỵ Vương giờ đây chỉ một lòng nghĩ tới đất Sở mà thôi.”
“Vương huynh yên tâm, có thêm bốn vạn nhuệ binh này, người Sở dù phá được thành trì, thần cũng có thể bố trí thành người, để chúng nếm mùi lợi hại của đội quân sắt thép Đại Tần ta!”
“Hoa đệ, chúng ta chỉ có một con đường. Cố thủ ba tháng, chắc chắn sẽ có kỳ tích xuất hiện!”
“Thần đệ đã hiểu!”
Kỳ tích mà Huệ Vương trông đợi, đương nhiên là đại quân liên hoành của Trương Nghi.
Xuất phát đầu tiên là quân nước Hàn. Sau khi ba vạn quân Tần do thứ trưởng Hoán làm chủ tướng, Mị Nhung làm phó tướng tới Nghi Dương đất Hàn, Hàn Vương cũng lệnh cho tướng quân Bộc Diên thống lĩnh ba vạn quân Hàn rời khỏi Trịnh Đô.
Hai bên hội quân tại Lỗ Quan đất Sở, hiệp lực công phá quan ải.
Lỗ Quan là cánh cổng phía bắc của Phương Thành nước Sở, chức trách phòng thủ thuộc về họ Cảnh. Do non nửa quân trấn thủ đã bị điều tới Thương Ư, nên lực lượng canh phòng tuyến bắc Phương Thành thiếu hụt trầm trọng. Cảnh Thuý lấy làm lo lắng, bèn lựa chọn người giỏi đánh trận nhất trong đám hậu bối họ Cảnh là Cảnh Khuyết điều tới Phương Thành. Mắt thấy sáu vạn cường địch đông như kiến cỏ tràn vào Lỗ Quan, Cảnh Khuyết toát mồ hôi hột, vừa dàn trận kháng cự, vừa gửi cấp báo đến Hoài Vương.
Cấp báo vừa đưa đi, cổng phía đông Phương Thành lại bừng bừng lửa hiệu, báo rằng ba vạn quân Nguỵ đã áp sát chân thành, chủ tướng là Công Tôn Hỷ.
Cảnh Khuyết rụng rời kinh hãi.
Quân lính thiện chiến ở Phương Thành đã bị Hoài Vương rút đi ba vạn, số quân còn lại không đầy năm vạn, vả lại một phần trong đó không đủ sức lâm trận, trong khi đại quân ập tới là chín vạn nhuệ binh của ba nước lớn. Phương Thành tuy kiên cố, song chiến tuyến quá dài, năm vạn bộ binh dù chỉ phòng thủ nơi trọng yếu, cũng không đủ để dàn trải.
Cảnh Khuyết lại cấp báo lần nữa.
Bên trong Nghiêu Quan, lính Sở đã san bằng chướng ngại, xe mây lại dàn hàng xáp lại, cuộc chiến công thành đang tới hồi gay cấn. Hoài Vương đang cấp tốc điều binh khiển tướng, và cũng bắt đầu trù tính kế sách đạp bằng Tần Xuyên sau khi hạ được ải rồi.
Thình lình nhận được cấp báo từ Phương Thành, Hoài Vương bàng hoàng chết lặng.
Bất luận thế nào, Phương Thành cũng không thể mất. Một khi Phương Thành thất thủ, Uyển Thành sẽ không giữ được, ba quân Tần, Hàn, Nguỵ nếu từ Uyển Thành đánh thẳng về tây, sẽ cắt đứt đường lui của quân Sở.
Cuộc chiến không có đường lui, lòng quân sẽ loạn.
Tuy nhiên, chiến sự Thương Ư đang đến hồi cấp bách. Ba mươi lăm vạn binh mã như Hoài Vương dự tính, đến khi trưng tập được lại chỉ chưa đầy ba mươi vạn, trong đó hai mươi vạn đang dàn trải trên một dải chiến tuyến từ Thương Thành cho tới Nghiêu Quan, đã thương vong gần hai vạn trong giao chiến. Nay đã công phá đến cửa ải cuối cùng, đô thành nước Tần đã gần kề trước mắt, phía sau ải Lam Điền là mười vạn lính Tần trấn thủ. Vả lại, Hoài Vương chưa từng kinh qua đại chiến nay lại liên tiếp thắng trận, đang lúc khí thế ngất trời, thực sự không muốn cắt bớt quân số bên mình. Số quân còn lại chưa đầy chục vạn đang chia ra rải rác để trấn thủ các thành ấp và cửa ải suốt dọc sơn cốc Thương Ư, một là để đề phòng tàn quân của Nguỵ Chương quấy nhiễu, hai là để đảm bảo đường đi thông suốt, cũng không thể điều động được.
Có thể điều đi, chỉ còn binh mã cần vương tới từ phương xa như quận Kiềm Đông, xứ Hạ Đông và Tương Lăng. Năm vạn binh sĩ từ Hạ Đông, Kiềm Đông đi thuyền mà tới, do ngược dòng nên hành quân rất chậm. Cho dù là cánh binh mã Kiềm Đông hành quân nhanh nhất, thì quân tiên phong cũng mới qua được Kinh Môn, đang ngược dòng Hán Thuỷ tới Đan Dương. Sau khi tính toán kỹ lưỡng, Hoài Vương quyết định điều động cánh quân của Trang Kiều từ trong tay vương thúc đang trấn thủ quận Hán Trung, nhiệm Trang Kiều làm chủ tướng, thống lĩnh ba vạn quân Kiếm Đông và hai vạn quân Hạ Đông, hợp quân năm vạn, cấp tốc chi viện Phương Thành, chống trả đại quân ba nước. Một vạn quân Sở từ Tương Lăng sẽ quay đầu thẳng tới Diệp Thành, do Cảnh Khuyết chỉ huy.
Điều động binh mã xong xuôi, Hoài Vương thở hắt ra một hơi dài, lại tiếp tục tập trung vào cửa ải Lam Điền. Quân Sở công ải đã mười ngày có lẻ, xe mây hỏng mất mười cỗ, song kỳ tích ở Nghiêu Quan vẫn chưa thấy tái diễn. Nguyên do thì có rất nhiều, song chủ yếu là mấy điểm sau: Thứ nhất, người Tần dùng mọi thủ đoạn để phá huỷ xe cao; thứ hai, khi xe cao áp sát tường thành, người Tần cũng dùng những tấm sắt lớn ghép lại thành một bức tường có thể xê dịch, nhằm ngăn chặn mưa tên từ xe cao bắn xuống; thứ ba, người Tần dốc sức phá huỷ ván cầu của quân Sở, hắt thẳng dầu nóng để đốt ván cầu, đây quả là chiêu tàn độc nhất, khiến lính Sở dù đã gần sát tường thành cũng đành bó tay chịu chết.
Chiến sự sa vào bế tắc, Hoài Vương bồn chồn nôn nóng, đứng ngồi không yên, song việc đã tới nước này, cũng chỉ có thể nghiến răng đánh tiếp.
Hai quân giằng co hơn một tháng trời, thì Khuất Bình áp tải xe lương đã tới Nghiêu Quan, bèn vào vương trưởng yết kiến Hoài Vương.
Hai bên nay đã xa lạ hơn nhiều, không còn vẻ thân mật của cái thuở tắm chung hồ năm xưa nữa.
Hành lễ xong rồi, Khuất Bình không nói một lời, ch nhìn Hoài Vương chăm chú hồi lâu, cứ như lần đầu gặp gỡ.
Hoài Vương cũng vậy, cũng đáp lại bằng một ánh nhìn xa cách.
Vua tôi cứ thế nhìn nhau chừng hơn chục hơi thở.
“Khuất Bình?” Hoài Vương không muốn tiếp tục tình cảnh sượng sùng này, khẽ giọng nhắc nhở.
“Đại vương,” Khuất Bình điềm đạm nói, “đại vương gầy đi nhiều!”
“Phải, Khuất Tử.” Hoài Vương đáp, “còn khí sắc của khanh đã tốt hơn nhiều!”
“Đều nhờ phúc của đại vương.”
“Khuất Bình,” Hoài Vương rõ ràng đã mất kiên nhẫn, “quả nhân sắp phải bàn việc quân cùng chư tướng, khanh… có gì muốn nói chăng?”
“Thần có thơ này, muốn ngâm cho đại vương nghe thử.”
“Thơ?” Hoài Vương cười gượng một tiếng, “quả nhân lúc này… lòng như lửa đốt…”
“Thơ này là viết cho các tử sĩ đã xả thân vì nước trong trận Đan Dương lần trước.”
Nói đoạn, Khuất Bình bắt đầu ngâm nga:
Tay cầm giáo, toàn thân mang giáp,
Xe va nhau, san sát gươm đao
Cờ rợp bóng, địch ào ào,
Quân tranh lên trước, tên rào rào bay.
Vào trận ta xéo giày hàng ngũ,
Ngựa hai bên một tử một thương.
Xe vùi bảnh, ngựa ghìm cương,
Tay vùng đùi ngọc trống vang thùng thùng
Đất trời thảm đạm mịt mùng,
Toàn quân chết thảm, đầy đồng xác phơi.
Biết bao kẻ đi rồi đi mãi,
Chốn xa xôi dầu dãi đồng hoang.
Mang trường kiếm, cắp cung Tần,
Đầu dù lìa xác không sờn lòng trung.
Này vũ dũng oai hùng biết nhẽ,
Sống cương cường đấu dễ chịu khinh.
Chết rồi thần vẫn còn linh,
Phách hồn cương nghị còn vinh anh hùng.
Lắng nghe một chốc, Hoài Vương nước mắt giàn giụa. Khuất Bình đã ngâm xong rồi, Hoài Vương vẫn đắm chìm trong tứ thơ, nước mắt rơi lã chã.
“Đại vương,” Khuất Bình giọng vẫn điềm đạm như cũ, “thơ này, thần đã ngâm cả ngàn lần, nhưng đại vương là người thứ hai thực sự nghe thấy!”
“Người thứ nhất là ai?” Hoài Vương lấy làm hiếu kỳ, bèn lau nước mắt quay sang hỏi.
“Tư tế Bạch Vân.”
“Nàng ấy…” Hoài Vương trong lòng giật thột, vội hỏi, “đã khoẻ hơn chưa?”
“Đã đi rồi.”
“A!” Hoài Vương bàng hoàng kinh ngạc, “chẳng phải vương thúc đã giết chết hắc hịch, cứu được nàng về rồi ư?”
“Phải, nàng ấy đã về, đã trở về nhà, chính là trên đỉnh Vu Sơn, quấn quýt quanh miếu Vu Hàm.”
“Người thì sao? Vẫn chưa tỉnh ư?”
“Đã tuyệt khí rồi!”
“Than ôi!” Hoài Vương lấy làm đau xót.
“Đại vương, Khuất Bình có lời muốn nói.” Khuất Bình khẽ tâu.
“Cứ nói.”
“Thấy đủ thì dừng!”
“Dừng thế nào?” Hoài Vương ngẩng phắt đầu, nhìn xoáy vào Khuất Bình.
“Giảng hoà với Tần, vạch đất phân giới, hai bên không xâm phạm lẫn nhau.”
“Quả nhân đậu đã hả giận!” Hoài Vương thoắt đã nộ hoả bừng bừng.
“Đại vương,” Khuất Bình tha thiết khẩn cầu, “xin hãy nghe thần một câu, nước Sở không thể đánh tiếp. Ba nước Tần, Hàn, Nguỵ xuất quân chín vạn, đang đánh Phương Thành, và còn người Tề…”
“Người Tề làm sao?” Hoài Vương nôn nóng hỏi dồn.
“Người Tề cũng đã xuất binh, chủ tướng là Khuông Chương. Quân Tề không chỉ ba vạn, mà là sáu vạn, trong mấy ngày qua, hẳn là đã vào cương giới ta rồi!”
“Điền Tích Cương!” Hoài Vương hai mắt toé lửa, siết nắm tay răng rắc.
“Đại vương,” Khuất Bình tiếp lời, “một hổ không đánh hai chó, huống hồ xâm phạm cương thổ nước ta lại là bốn nước lớn. Dù gì ta cũng đã thu hồi được sơn cốc Thương Ư, đánh bại người Tần, báo thù rửa hận cho chúng tử sĩ tuẫn quốc, lẽ nào vẫn chưa thể khiến đại vương nguôi giận?”
“Giảng hoà? Vậy khanh hãy đi hỏi xem! Tần Vương kia…” Hoài Vương vung tay chỉ về tây, gằn giọng mà nói, “có chịu không?”
“Có lẽ sẽ chịu.” Khuất Bình đáp, “người Tần cũng không đánh nổi nữa.”
“Điều quả nhân muốn, chính là chúng không đánh nổi nữa!” Hoài Vương cười nhạt, “quả nhân rất muốn xem thử, người Tần nhiều hơn hay người Đại Sở ta nhiều hơn? Hiếp ta quá lắm!”
“Đại vương?” Khuất Bình kêu lên.
“Tam Lư đại phu,” Hoài Vương trầm ngâm một chốc, rồi nhìn sang Khuất Bình, “lời khanh tấu, quả nhân đã nghe. Trước mắt chiến sự đang lúc giằng co, lui quân sẽ thành tai hoạ! Còn như quần ba nước Tần, Hàn, Nguỵ, quả nhân đã lệnh cho Trang Kiều dẫn năm vạn binh mã tới nghênh địch. Năm vạn quân của Trang Kiều, cộng thêm sáu vạn quân trấn thủ Phương Thành, ta có đến mười một vạn binh, lại có Phương Thành để dựa vào cố thủ, còn sợ chín vạn quân của họ ư? Phải rồi, còn chuyện quân Tề, quả nhân còn chưa nhận được chiến báo, cớ sao khanh lại biết?”
“Là Mặc giả ở Hàm Đan truyền tin cho thần.”
“Khuông Chương xuất quân từ đâu?”
“Từ đầm Đại Dã, mượn đường nước Tống, đi qua ngoại ô thành Tương Lăng, nơi đến có lẽ là Uyển Thành!”
“Uyển Thành?” Đúng lúc Hoài Vương đang trầm ngâm suy nghĩ, cấp báo từ tướng trấn thủ thành Tương Lăng đã tới nơi, quả nhiên quân Tề đã tràn qua biên giới, sáu vạn đại quân cộng thêm lính vận lương thảo, tổng cộng không dưới chục vạn, đã rầm rộ vượt qua Tương Lăng, đang tiến thẳng về phía Hạng Thành.
“Không đánh Tương Lăng, không vào Hạ Đông,” Hoài Vương sải bước về phía sa bàn, nheo nheo mắt nhìn một hồi, rồi lẩm bẩm, “bỏ gần tìm xa, bắt tướng sĩ mệt mỏi viễn chinh, Khuông Chương kia muốn làm gì vậy?”
“Ép đại vương lui binh!” Khuất Bình tiếp lời.
Hoài Vương hừ mũi một tiếng, nhìn sang Khuất Bình: “Tam Lư đại phu, giờ quả nhân phải cùng chư tướng bàn mưu ngự địch, khanh đi đường vất vả, hãy về nghỉ ngơi!” Rồi lệnh cho tham tướng bên cạnh, “tiễn khách!”
Tô Tần và Trâu Phi Đao cùng hơn hai chục kỵ sĩ cấp tốc đi thẳng một mạch từ quận Đại trở về kinh đô nước Triệu. Đường đi đều là đường lớn do người Triệu tu tạo, cứ cách hai mươi dặm lại có trạm dịch, không những đầy đủ xe ngựa, thức ăn, mà còn có phòng trọ đơn giản để ngủ lại. Tô Tần gặp đường bằng thì ngồi xe, gặp đường núi thì cưỡi ngựa, không tới bảy ngày đã về đến Hàm Đan.
Trở về phủ, Tô Tần nghỉ ngơi một lát, nghe Viên Báo bẩm báo chi tiết về chuyện Khuông Chương xuất binh và bốn nước phạt Sở.
Viên Báo còn đang bẩm báo thì Trâu Phi Đao đã vội vã chạy vào, quỳ phịch xuống đất, vừa khóc vừa gọi: “Chúa công…
“Trâu huynh?” Tô Tần sửng sốt.
“Sư tôn… sự tôn đã…” Nói được vài tiếng, một hán tử sắt thép như Trâu Phi Đao cũng bật khóc lớn.
“Khuất tiền bối?” Tô Tần thấy tim mình thắt lại, “tiền bối… sao kia?”
“Đi rồi… đi rồi…” Trâu Phi Đao đáp trong tiếng khóc. Tô Tần nhìn sang Viên Báo, như không dám tin chuyện này là thật.
Viên Bảo lúc này cũng mới sực tỉnh, nửa như lẩm bẩm một mình, nửa như nói với Tô Tần: “Mộc Hoa, Mộc Thực đã rời khỏi nơi đây từ nửa tháng trước, nói rằng về Mặc doanh có việc, thì ra…”
“Tiền bối… ra đi khi nào?” Tô Tần lặng đi một chốc, rồi nhìn sang Trâu Phi Đạo hỏi.
“Bốn hôm trước.” Trâu Phi Đao lấy ra một ống tre, hai tay trình lên, “vật này là sư tôn sai người gửi cho chúa công! Người đưa tin vừa tới hôm nay, vốn định mang đến đất Bắc, vừa hay chúng ta đã trở về.”
Tô Tần quỳ xuống, hướng lên trời mà vái, rồi hai tay đỡ lấy ống tre, vặn mở, thấy bên trong là một cuộn da dê. Tô Tần cẩn thận trải ra, trên tấm da dê là một tấm bản đồ hình thế cực kỳ tinh xảo, mô tả cặn kẽ tuyến đường hành quân, quân số, phương vị, chủ tướng của các cánh quân năm nước.
Tô Tần bật khóc, nâng tấm bản đồ lên xem một lát, rồi phẩy tay. Mấy người kia bèn lui ra.
Tô Tần toàn thần chuyên chú quan sát bản đồ, hồi lâu sau, từ từ khép mắt lại.
Tình thế phức tạp hơn nhiều so với dự liệu. Chi trong vòng vài tháng Tô Tần rời khỏi Hàm Đan, Trương Nghi đã đi liền vài nước cờ hiểm. Quân Tần từ bỏ chiến trường chính Thương Ư, kiên gan cố thủ Nghiêu Quan, khiến Hoài Vương muốn tiến không được, muốn lùi chẳng xong. Trong lúc Tần Sở giằng co tại sơn cốc Thương Ư, thì Trương Nghi đã kịp liên hoành ba nước Hàn, Nguỵ, Tề, tập kích sau lưng Sở. Lấy một chọi bốn, cả bốn lại đều là nước lớn, Sở dù mạnh đến mấy, cũng khó mà cầm cự.
Càng gay go hơn nữa, là một cánh quân Tần đã xuất phát từ Thục, đánh tới đất Kiềm Đông Nam. Nếu Kiềm Đông Nam thất thủ, người Tần có thể xuôi dòng Nguyên Thuỷ, Tương Thuỷ tới sông Giang Thuỷ, vào đầm Vân Mộng, uy hiếp Sính Đô. Binh lực của Sở đều dồn hết tới Thương Ư, Sính Đô gần như một toà thành trống.
Tô Tần đóng cửa nghiền ngẫm cho tới tận khi trời tối, Cơ Tuyết đẩy cửa bước vào, mới thu lại dòng suy tư.
“Tô Tử,” Cơ Tuyết châm đèn, buồn rầu lên tiếng, “nghe nói Khuất Tương Tử tiền bối đã đi rồi!”
“Phải!”
“Chúng ta nợ tiền bối quá nhiều!” Cơ Tuyết ứa nước mắt mà nói.
“Phải!”
“Thiếp muốn lập linh đường cho tiền bối, theo chàng nên đặt ở đâu?”
“Nàng cứ quyết định, rồi dặn Viên Báo đi làm.”
“Còn nữa,” Cơ Tuyết nhìn thẳng vào Tô Tần, “chuyện nước Yên, không thể để loạn thêm nữa!”
“Đưa Tử Chức về Yên, lập làm Yên Vương, nàng thấy sao?”
“Vương thất nước Yên, cũng chỉ còn lại mình Tử Chức.” Cơ Tuyết cười buồn, “nhưng đưa về thế nào?”
“Trước tiên đưa tới quận Đại, Triệu Vương đang chờ ở đó, sẽ cho mượn năm vạn kỵ binh, từ đó qua ai Cu Dung vào Yên.”
“Nghe Viên Báo nói, ải Cư Dung sớm đã bị người Trung Sơn chiếm cứ.”
“Đã được nghĩa quân Yên cướp lại rồi.”
“Vậy thì hay quá!” Cơ Tuyết gật đầu, “thằng bé ấy cũng khá, nước Yên để Tử Chức trị vì, có cơ hưng thịnh.”
“Phải!”
“Chàng đưa Tử Chức đi ư?”
“Là nàng.”
“A!” Cơ Tuyết sửng sốt.
“Tử Chức trước kia chỉ ở trong cung Yên, người Yên biết tên mà không biết mặt. Lúc tháo chạy khỏi cung Yên, Tử Chức cũng không mang theo một tín vật nào. Dù ta đưa Tử Chức về, cũng không thể khiến dân Yên tin. Song người Yên tin nàng, chỉ cần nàng nói nó là Tử Chức, thì nó sẽ là Tử Chức.”
“Thế nhưng…” Cơ Tuyết lo lắng, “thiếp đưa Tử Chức đi thế nào được? Vương hậu còn đó, vương hậu đã từng gặp thiếp, nếu biết chúng ta…”
“Vương hậu đã biết lâu rồi!” Tô Tần khẽ cười mà đáp.
“A!” Cơ Tuyết sắc mặt trắng bệch.
“Nàng còn nhớ Thu Quả chăng? Nàng ta là hắc điêu nước Tần, nên không chuyện gì không biết. Vương hậu là công chúa nước Tần, lại càng không thể không biết.”
“Chao ôi!” Cơ Tuyết bưng mặt mà than.
“Chỉ là không nói ra thôi, nhưng ta nghĩ vương hậu sẽ không tiết lộ chuyện này. Vả lại chúng ta đang giúp mẹ con họ, vương hậu biết ơn còn không hết. Còn những chuyện khác, đợi sau khi nàng trợ giúp Tử Chức đăng cơ rồi, ta lại bàn tiếp.”
“Thế nhưng… thiếp phải giải thích thế nào?”
“Nước Yên sinh loạn, ai ai cũng phải bôn tẩu lánh nạn. Mẹ con họ có thể tới Triệu, cớ sao nàng lại không thể tới? Chớ quên, nàng và ta đều là người nước Chu, tương trợ trong khi hoạn nạn là chuyện đương nhiên kia mà.” Tô Tần nói rồi kéo nàng lại, ôm vào trong lòng.
“Ngộ nhỡ sự việc bại lộ thì sao?” Cơ Tuyết im lặng một lát, lại khẽ giọng hỏi.
“Nếu như bại lộ, ta sẽ cưới nàng!” Tô Tần giọng chắc nịch, “dưới gầm trời này, có quy tắc nào nói nàng không được tái giá?”
“Tô Tử.” Cơ Tuyết áp mặt vào ngực Tô Tần, nước mắt giàn giụa.
“Tuyết Nhi,” Tô Tần ôm chặt lấy nàng, “sẽ có ngày đó, nàng hãy chờ ta!”
“Vâng!” Cơ Tuyết gật đầu, rồi thì thầm, “vậy chúng ta cùng về Yên chứ?”
Tô Tần lắc đầu, ngoảnh nhìn về tấm địa đồ trên án.
“Chàng sang Sở ư?” Cơ Tuyết ngẩng đầu, nhìn sững vào Tô Tần.
“Sang Nguỵ.”
“Bao giờ khởi hành?”
“Sắp xếp xong việc của nàng, ta sẽ lên đường.”
Ngay sáng hôm sau, khi Tô Tần dẫn theo Cơ Tuyết, Phi Phi vào cung nói rõ mọi việc, thì mẹ con Cơ Chức lại kinh ngạc đến sững sờ.
Với hai mẹ con họ, vận may tới quá ư đường đột, quá đỗi bất ngờ, bất ngờ đến nỗi mưu kế trói buộc Tô Tần và Cơ Tuyết mà Dịch vương hậu đã dày công tính toán còn chưa kịp dùng đến.
Tô Tần cũng đường hoàng giới thiệu Cơ Tuyết với Dịch vương hậu, nói rằng sau khi nước Yên nội loạn, nàng không còn chốn nương thân, nên Tô Tần mới đón nàng đến Hàm Đan lánh nạn, tới đây đã mấy tháng rồi, chỉ bởi nàng thân thế đặc biệt, nên mới phải giữ bí mật bấy nay để đề phòng bất trắc.
Xét về vai vế, Cơ Tuyết là hàng trưởng bối của Dịch vương hậu. Thấy Tô Tần đã bình thản phá vỡ bức tường ngăn cách, Dịch vương hậu cũng không ra vẻ vờ như không biết nữa, lập tức quỳ xuống bái lạy, gọi một tiếng “mẫu hậu”, rồi nhào vào lòng Cơ Tuyết khóc oà lên rất khoa trương, như một đứa trẻ tủi thân sà vào lòng mẹ. Kỳ thực, Cơ Tuyết chẳng nhiều tuổi hơn vương hậu là bao, nếu như năm xưa sự việc khác đi, nàng phải gả cho Tần Vương thực, thì nay đã là mẹ kế của Dịch vương hậu rồi.
Cơ Tuyết vỗ về Dịch vương hậu một hồi, rồi đỡ nàng ta ngồi xuống bên mình, nhìn sang Tử Chức, cười nói: “Tử Chức, lâu quá không gặp, nay đã cao lớn thế này!”
“Cháu bất tài Cơ Chức khấu kiến tổ thái hậu!” Tử Chức bước lại, hành đại lễ ba lạy chín dập đầu.
Cơ Tuyết bật cười mà nói: “Lão thân đã biết thân thế của con lâu rồi, chỉ là không tiện nhận mặt mà thôi! Giờ vừa đúng lúc, lão thân sẽ đưa con về Yên, đảm đương trọng trách. Khổ nạn của nước Yên, đã tới lúc phải chấm dứt rồi!”
“Cháu bất tài Cơ Chức kính cẩn nghe lời tổ thái hậu, dầu thịt nát xương tan, cũng quyết một lòng báo quốc!” Tử Chức lại dập đầu nói.
“Phi Phi,” Tô Tần nhìn sang Phi Phi, “con có muốn cùng đi tới thảo nguyên một chuyến chăng? Chốn đó tuyệt diệu, gió lay cỏ động, bò dê từng đàn, trời cao đất rộng, mặc sức tiêu dao!”
“Vâng, vâng!” Phi Phi hớn hở gật đầu, “nghĩa phụ, con muốn Đỗ Hành đi cùng, được không?”
“Chuyện này, con phải hỏi xin thái hậu, là thái hậu đưa con đi.” Tô Tần nhìn sang Cơ Tuyết.
“Nghĩa mẫu?” Phi Phi liền gọi Cơ Tuyết, cảm thấy không phải, lại vội vàng đổi cách xưng hô, nhưng có phần ngượng nghịu, “thái… thái hậu?”
Cơ Tuyết cười nói: “Đỗ Hành mà không đi, thì còn ai quản nổi con!”
“Đỗ Hành là ai?” Tử Chức ngơ ngác nhìn Phi Phi hỏi. “Người đánh thắng được anh!” Phi Phi tinh nghịch dứ nắm đấm trêu Tử Chức.
Mọi người đều bật cười.
“Công tử,” Tô Tần nhìn sang Tử Chức, “thần muốn tiến cử với công tử một nhân tài!”
Nghe Tô Tần xưng thần vào lúc này, Tử Chức rõ ràng không quen: “Tô đại nhân, ta…”
“Nhạc Nghị!” Tô Tần quay ra ngoài gọi lớn.
Nhạc Nghị lập tức đĩnh đạc sải bước tiến vào, hành đại lễ với Cơ Tuyết và Dịch vương hậu, sau đó nhìn sang Tử Chức.
“Nhạc Nghị, đây chính là công tử Chức, con trai của tiên Dịch Vương!”
“Người Trung Sơn Nhạc Nghị bái kiến công tử!” Nhạc Nghị vòng tay nói.
“Nhạc Nghị?” Tử Chức mở tròn mắt, “hẳn là hậu duệ của Nhạc Dương?”
“Tại hạ chính là hậu bối bất tài của tiên tổ Nhạc Dương!” Nhạc Nghi lại vòng tay đáp.
“Nhạc Dương là người Chức này bội phục!” Tử Chức hào hứng nói, “lệnh tiên tổ đã diệt Trung Sơn lang sói!”
“Tạ ơn công tử đã khen tiên tổ!” Nhạc Nghị lại vòng tay cảm tạ.
“Nhạc Nghị,” Tô Tần quay sang nói, “việc nước Yên đang cấp bách, không thể chần chừ. Ngày mai, ngươi hãy hộ tống thái hậu, vương hậu cùng công tử Chức tới đất Đại, yết kiến Triệu Vương. Trời sáng lập tức khởi hành!”
“Nhạc Nghị thụ mệnh!” Nhạc Nghị dõng dạc đáp.
Sáng sớm hôm sau, Tô Tần cũng khởi hành cùng Cơ Tuyết.
Tô Tần tiễn đoàn người tới tận đầu con đường Phẫu Khẩu Hình ở phía tây nam Hàm Đan, mới lưu luyến từ biệt Cơ Tuyết, rồi dặn Trâu Phi Đao quay ngựa tiến về Đại Lương.
Tô Tần chưa vội vào cung Nguỵ, mà tới thẳng phủ tướng quốc.
Sau vài lời hàn huyện, Tô Tần lập tức vào ngay chuyện chính: “Xin Công Tôn huynh hãy mau kể về chuyện của nước Sở!”
“Than ôi,” Công Tôn Diễn thở dài, cười buồn mà nói, “Sở Vương phát cuồng rồi, thực không khác gì tiên Nguỵ Vương trước đây, chẳng mấy mà phải chuốc ê chề.”
“Trả giá quá đắt.” Tô Tần gượng cười đáp lại. “Về tình thế lớn, Tô huynh hẳn đã rõ rồi, tại hạ chỉ nói đến một vài tiểu tiết, cũng là tình thế mới nhất.” Công Tôn Diễn trải rộng địa đồ, đưa tay chỉ mà giảng giải, “trước tiên hãy nói về lộ quân gần nhất, là quân của Khuông Chương, từ Hạng Thành tiến xuống phía nam, qua Tân Sái thì rẽ về tây, men theo sông Hoài Thuỷ mà tiến, qua Tất Dương về tây tới Uyển Nam, vòng qua Phương Thành nước Sở, suốt dọc đường tiến quân, né tránh nơi kiên cố, chỉ lựa sơ hở mà đánh, gần như không gặp trở ngại. Sở Vương lo lắng, đã phái tướng quân Đường Miệt dẫn sáu vạn quân vương sư nghênh chiến, hai quân gặp nhau bên sông Tỷ Thuỷ, chính là chỗ này, gọi là Thuỳ Sa, cách sông dàn trận đối đầu.”
“Đường Miệt?” Tô Tần nheo mắt, “Công Tôn huynh có biết người này?”
“Biết chút ít,” Công Tôn Diễn lập tức kể ra vanh vách, “tổ tiên người này là con trai thứ sáu của Thành Vương, được ban phong cho đất Đường Ấp, có thể coi là công tộc nước Sở. Tới đời Đường Miệt, có học chút binh thư, vũ dũng hiếu chiến, qua lại khá mật thiết với đám Ngạc Quân, Xạ Cao Quân. Lần này Sở Vương cho hắn đảm đương trọng trách, người Tề lại vừa hay đánh tới Đường Ấp bên bờ Tỷ Thuỷ, hai quân đụng độ ngay trước cửa nhà, thực là vừa khéo.”
“Người này cầm quân thế nào?”
“Trước đây theo Chiêu Dương, cũng là một viên tướng dũng mãnh thiện chiến, chưa từng bại trận, lần này phạt Tần, cũng chính người này chỉ huy trận Nghiêu Quan, được coi là nhân tài hiếm có trong hàng ngũ tướng Sở, vậy nên Sở Vương mới cho hắn gánh vác trọng nhiệm này. Có điều, lần này đối đầu Khuông Chương, e rằng sẽ phải khốn đốn.”
“Tại hạ đã gửi thư cho Khuông tướng quân.”
“Vậy thì tốt.” Công Tôn Diễn chỉ vào Diệp Thành ở mé đông Phương Thành, “lộ thứ hai là quân nước Nguỵ, tại hạ đã tiến cử lên Nguỵ Vương, để cho Công Tôn Hỷ cầm quân.”
“Công Tôn Hỷ?”
“Cháu của tại hạ.” Công Tôn Diễn mỉm cười, “mấy năm trước có theo tại hạ, giờ đây đã đủ lông đủ cánh, tự bay được rồi. Lộ quân này, Tô huynh xin hãy an tâm, tại hạ đã căn dặn kỹ, chỉ xem không đánh, trêu chọc Tần, Sở một phen.” Rồi chỉ vào ải Lỗ Quan ở cổng bắc Phương Thành, “lộ quân này rất mạnh, là đánh thật!” Dừng lại một chốc, “có điều, họ cũng gặp phải đối thủ xứng tầm, là Trang Kiều, tướng giỏi dưới trướng vương thúc, năm xưa chinh phạt người Ba, công lao hiển hách, sau đó từng giao chiến với người Tần ở Giang Châu đất Ba, bại dưới tay Trương Nghi.”
Tô Tần thở phào một tiếng.
“Than ôi,” Công Tôn Diễn thở dài, “Sở Vương kia vốn dĩ xuất binh là vì Thương Ư, giờ đã có được Thương Ư rồi, lại còn lăm le đòi đánh tới tận Hàm Dương, Tổ huynh xem… đúng là không biết trời cao đất dày!”
“Còn một lộ quân nữa, Công Tôn huynh bỏ sót rồi chăng?” Tô Tần hỏi.
“Ồ?” Công Tôn Diễn nhìn xuống địa đồ.
“Ở đây,” Tô Tần đưa tay chỉ, “Kiềm Đông! Quân Tần đã từ Giang Châu ra khỏi Ô Thuỷ, chủ tướng là Tư Mã Thác, đang đánh tới quận Kiềm Đông. Binh lực tại Kiềm Đông vốn đã mỏng yếu, lại bị Hoài Vương rút đi gần nửa, tình thế nguy cấp. Quận Kiềm Đông nếu mất, người Tần xuôi dòng đánh xuống, thì Sính Đô sẽ hoàn toàn phơi bày trước mũi thương của người Tần.”
“Sở Vương biết chưa?”
“Hẳn đã biết rồi.”
“Vậy mà chưa chịu rút quân ư?”
“Giờ dù muốn rút, e là người Tần cũng không cho.” Tô Tần nhún vai đáp, “vả lại, cho dù người Tần đoạt được Kiềm Đông, muốn theo đường sông tập kích Sở, cũng cần thời gian chuẩn bị.”
“Cũng phải.” Công Tôn Diễn đáp lời, “Tô huynh lần này tới đây, có phải muốn tại hạ làm việc gì chăng?”
“Muốn Công Tôn huynh giúp sức, cùng đi một nước cờ lớn.” Tô Tần nhìn thẳng vào Công Tôn Diễn.
“Nước cờ gì?”
“Chặn Trương Nghi.” Tô Tần gắn mạnh từng tiếng.
Công Tôn Diễn bật cười: “Giờ đây kẻ này hẳn vẫn đang ở Trịnh Thành. Hoành cục trước mắt, chính là một tay kẻ này bày ra. Tại hạ bất hoà với tân Hàn Vương, không làm gì được hắn, mới phải tránh tới Đại Lương, hiện đang một bụng uất ức đây. Nói đi, chặn thế nào?”
“Sở Vương trúng kế, căm hận Trương Nghi tới xương tuỷ, đó là chuyện tốt. Chờ cho qua cơn nguy cấp này, nước Sở quay lại với tung thân là chuyện tất yếu. Nguỵ đã có Công Tôn huynh, đương kim Nguỵ Vương cũng căm ghét nước Tần, việc nhập tung không còn trở ngại. Nước Tề xuất binh là vì thể diện, chỉ nhằm trút giận một phen, Khuông Chương sẽ không đánh thực, Tề Vương cũng chỉ muốn ra oai mà thôi. Hơn nữa, nước Tề làm loạn nước Yên, hiện đang lòng dạ rối bời, sẽ không thực sự sống mái với Sở, chỉ cần Sở Vương chịu nhún nhường, thì chỗ Tề Vương cũng dễ thuyết phục. Nước Triệu càng không phải nói. Nước Yên cũng sẽ theo về. Hai hôm trước, tại hạ đã đưa công tử Chức tới quận Đại, xin Triệu Vương cho mượn năm vạn kỵ binh để Cơ Chức phục quốc. Cơ Chức về Yên, nước Yên hợp tung cũng là chuyện đương nhiên. Hiện tại, khó nhất chính là nước Hàn. Hàn Vương không nghe Công Tôn huynh mà nghe Trương Nghi, thứ nhất bởi Hàn Vương trẻ người non dạ, thứ hai là bởi tham lam. Hàn Vương chưa được lĩnh giáo người Tần, cũng phải để cho chịu khổ một phen mới được.” Tô Tần chỉ ra làu làu tình hình các nước, rõ ràng đã nắm chắc đại cục tương lai của thiên hạ trong tay.
“Nhưng trước mắt phải làm thế nào để vượt qua cơn nguy cấp hiện tại?” Công Tôn Diễn cắt ngang. “Hai quân Nguỵ, Tề sẽ không chủ động xuất kích, chỉ cần Trang Kiều có thể cầm chân được hai quân Tần, Hàn, phía đông sẽ không có gì đáng ngại. Sở Vương đã đánh hạ Nghiêu Quan, đoạt lại được toàn bộ sơn cốc Thương Ư, cũng đủ để hả giận rồi. Người Sở chỉ cần giữ vững Nghiêu Quan, người Tần nhất thời cũng chưa thể đánh sang. Vả lại, người Tần cũng đã tổn thương nguyên khí nặng nề, trải qua hai trường ác chiến, tử thương không dưới mười vạn, hai bên giảng hoà không phải là không có khả năng.”
“Chẳng phải Tô huynh vừa nói, Tần Vương sẽ không chịu giảng hoà ư? Nếu tại hạ là Tần Vương, cũng sẽ không dễ dàng bỏ cuộc, dù gì hiện tại cũng là bốn nước phạt Sở, Kiềm Đông đã trong tầm tay!”
“Phải!” Tô Tần gật đầu, “Sở Vương còn có thể lui về, nhưng Tần Vương thì không. Vậy nên giờ đây, người Sở nhất định phải cầm cự tới cùng trên toàn tuyến, cho đến khi người Tần không trụ nổi nữa.”
“Ha ha, nếu nói như vậy, thì màn kịch trước mắt đáng xem lắm đây.”
“Công Tôn huynh hẳn có diệu kế phá giải?” Tô Tần nhìn thẳng vào Công Tôn Diễn.
“Người Tề lui binh.” Công Tôn Diễn lập tức đáp lời. Trong đầu Tô Tần vụt loé lên một tia sáng. Phải. Đây là việc duy nhất họ có thể làm lúc này. Người Tề hoàn toàn có thể lui binh, bởi Tề Vương vốn dĩ có thể không xuất binh. Chỉ cần người Tề lui binh, người Nguỵ sẽ có lý do để rút quân về. Vậy thì sáu vạn quân của Đường Miệt có thể rảnh rang để hợp binh với mười một vạn quân của Trang Kiều, Cảnh Khuyết, khi đó hai quân Tần, Hàn chắc chắn không thể địch nổi. Tần, Hàn thất thế, nếu Nghiêu Quan cũng cầm cự được, vậy thì Tần Vương sẽ sa vào thế bí, muốn không giảng hoà cũng khó. Hẳn là Tần Vương cũng đã nhìn ra, khi cuộc chiến liên quan tới vận nước, người Sở cũng dám liều mạng.
“Tạ ơn Công Tôn huynh chỉ giáo!” Tô Tần thở phào một tiếng, vòng tay nói, “tại hạ sẽ lập tức tới Lâm Truy.”
“Không gặp Nguỵ Vương nữa ư?”
“Đã có Công Tôn huynh ở đây, tại hạ đâu cần lãng phí thời gian.” Tô Tần nói rồi đứng ngay dậy.
Công Tôn Diễn xua tay ngăn lại, cười lớn mà nói: “Tô huynh, trời có sập xuống cũng đâu phải gấp thế, gặp nhau ở đây không dễ dàng gì, chúng ta vẫn phải cùng uống vài chén!” Đoạn vỗ tay gọi, “người đâu, bày rượu!”