Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 2
Công Tôn Ưởng đơn độc vào hang hùm
Tần Hiếu Công hạ mình cầu thân Ngụy

❊ ❊ ❊

Đám Sư Lý Tật bồn chồn lo lắng, đứng đợi ở bãi buộc ngựa bên ngoài cửa cung, đột nhiên nhìn thấy một đám lính áp giải Công Tôn Ưởng ra khỏi cửa, thảy đều sững sờ kinh hãi. Một tên quân uý rút bảo kiếm định xông lên giải cứu, Sư Lý Tật thấy vậy lập tức đưa tay cản lại.

Đám người cuống quýt vây quanh Sư Lý Tật, hỏi dồn: “Ngũ đại phu, làm thế nào đây?”

Sư Lý Tật quay sang một tên lính, dặn: “Ngươi ở lại đây dò la tin tức, những người khác theo ta trở về dịch quán!”

Đám người về tới dịch quán, còn chưa ngồi nóng chỗ, tên lính dò la tin tức đã phi ngựa quay về, vẻ đầy hốt hoảng: “Mau lên… tiểu nhân…”

Sư Lý Tật mặt thoáng biến sắc, song lập tức trấn tĩnh lại ngay: “Không phải vội, cứ nói từ từ!”

Tên lính thở ra một hơi: “Tiểu nhân dò la biết được, Ngụy Hầu giờ Ngọ ngày mai khởi binh, muốn mang đại lương tạo ra tế cờ!”

Cả đám người đều kinh hãi, ào ào rút kiếm ra khỏi bao hò nhau đi cướp ngục. Sư Lý Tật trầm tư một lát, rồi thò tay vào ống tay áo lấy ra chiếc túi gấm mà Công Tôn Ưởng đưa cho trước đó, mở túi liếc xem một lượt, sắc mặt từ từ giãn ra, vội quay sang nói với quân uý: “Chuẩn bị xe!”

Đám Sư Lý Tật thay đổi trang phục, lên một cỗ xe ngựa lớn, lao về phía con phố Đông Nhai náo nhiệt nhất An Ấp. Tại vị trí đẹp nhất của phố Đông Nhai, một tửu lầu hai tầng sang trọng mới được xây dựng, hôm nay đúng là lễ khai trương, trong thành An Ấp không ai không biết.

Khi xe ngựa của Sư Lý Tật tới nơi, phía trước tửu lầu đã vô cùng nhộn nhịp, người xe nô nức. Những nhà quyền quý, giàu có trong thành An Ấp hầu hết đều đã tề tựu về đây, trên bãi buộc ngựa không còn lấy một cọc trống. Sư Lý Tật ăn bận như một công tử hào hoa nhảy xuống xe ngựa, bước thẳng tới trước tửu lầu.

Sư Lý Tật chưa vội bước ngay vào trong, mà đứng ở gần đó quan sát kỹ lưỡng cửa chính. Phía trên khung cửa nghễu nghện ba chữ “lầu Nguyên Hanh”, chữ nào chữ nấy to bằng đầu người, sắc vàng lấp lánh, liếc qua đã biết được làm bằng đồng Nguyên chất.

Trước cửa tửu lầu, chiêng trống rộn ràng huyên náo cả con phố, ông chủ tửu lầu Lâm Dung đích thân dẫn đầu năm sáu tiểu nhị mặt tươi hơn hớn đứng chầu trước cửa, không ngớt cúi chào nghênh đón khách quý. Mỗi vị khách bước vào đều có người xướng danh chạy ra đón, tiếp lấy thiếp mời, rồi cao giọng ngân nga, kiểu như “hoan nghênh Lương thiếu gia”, “hoan nghênh Ngô thiếu gia”. Sau đó, người thì tiếp nhận lễ vật, ghi chép vào sổ, người thì sắp xếp chỗ ngồi cho tân khách, toàn bộ tửu lầu nhộn nhịp chẳng khác gì hội chợ.

Sau khi quan sát một lúc, Sư Lý Tật đã vạch ra kế sách trong đầu. Nhìn thấy lượng khách đã hòm hòm, bèn đưa mắt ra hiệu cho hai tên lính cải trang làm người hầu, rồi ung dung bước tới cửa chính. Hai tên lính hiểu ý, liền khiêng hòm lễ vật nối gót theo sau.

Ông chủ Lâm chưa từng gặp Sư Lý Tật, song thấy bộ dạng oai phong của hắn, tuy trong tay không có thiếp mời, nhất thời chưa rõ vị khách này là ai, song vẫn vồn vã bước lên nghênh đón, cung kính vái chào mà nói: “Tại hạ Lâm Dung, đa tạ các hạ đại giá quang lâm!”

Sư Lý Tật liền đáp lễ: “Tại hạ Mộc Vũ Khuy(1) đi ngang qua quý địa, nghe nói nay là ngày quý quán khai trương đại cát, nhân tiện ghé qua chúc mừng!”

Ông chủ Lâm chìa tay: “Mộc tiên sinh, mời!”

Tiếp theo, có người ghi ba chữ “Mộc Vũ Khuy” vào sổ, người nhận lễ đỡ lấy hòm lễ vật, mới vừa hé nắp đã vội vội vàng vàng đóng sập lại, mắt trợn trừng nhìn sững vào ông chủ Lâm. Ông chủ Lâm ngẩn ra một lát, rồi chậm rãi bước lại phía hòm lễ vật đưa tay lật mở nắp hòm.

***

Ở cửa mật thất trên tầng hai lầu Nguyên Hanh, lão quản gia Thích Quang của thượng đại phu Trần Chẩn khẽ vén tấm rèm trúc treo trước cửa, quét mắt quan sát một lượt phía dưới lầu, rồi từ từ quay người lại, bước vào một gian nhã thất.

Nhã thất rất rộng, bên trong bài trí cực kỳ xa hoa lộng lẫy. Phía sau chiếc bàn dài đen bóng, Trần Chẩn đang khép hờ hai mắt, ngồi ngay ngắn trên chiếu. Thích Quang đứng yên một lát mới khẽ khàng bẩm báo: “Bẩm chúa công, người cần tới đều đã tới đủ, bảo họ bắt đầu được chưa?”

Trần Chẩn không mảy may cử động, chỉ nhếch mép bật ra vài tiếng: “Đợi thêm chút nữa!”

Thích Quang nghĩ ngợi một lát, rồi nói khẽ: “Hay là… để tiểu nhân sắp xếp cho tân khách vui chơi trước đã. Những người này đa phần là tay chơi, nhìn thấy xúc xắc thì cơm rượu cũng thành vô vị!”

Trần Chẩn hé mắt, ánh nhìn xói thẳng vào Thích Quang: “Vội cái gì? Nói đến xúc xắc, ta phải nhắc ngươi một câu, khanh đại phu trong triều không được phép kinh thương, lại càng không nói tới chuyện mở sòng bạc. Đây là luật lệnh của Đại Ngụy, ngươi nhớ kỹ chứ?”

“Hồi bẩm chúa công, mọi luật lệnh của Đại Ngụy, tiểu nhân đều đã khắc cốt ghi tâm!” Thích Quang nói đoạn, liền tiến lên trước một bước, hạ thấp giọng nói. “Chúa công, cho tới lúc này, trong thành An Ấp không ai không biết tửu lầu này là do ông chủ Lâm mở, dù là tiểu nhân cũng chưa từng dám tuỳ tiện lộ diện!”

“Biết vậy thì tốt!” Trần Chẩn gật đầu, rồi khẽ thở dài một tiếng. “Than ôi, ngươi cũng thấy rồi đấy, không lo việc nhà, sao biết củi gạo đắt rẻ? Ta ở đây đau đầu nát óc suy tính, chẳng phải đều là vì đám người nhàn rỗi các ngươi ư?”

Thích Quang quỳ xuống dập đầu nói: “Đại ân của chúa công, tiểu nhân mười kiếp cũng khó lòng báo đáp!”

“Ai thèm trông chờ các ngươi báo đáp? Chỉ cần trong lòng hiểu rõ phải trái, bớt gây chuyện phiền phức là ta đã hài lòng lắm rồi! À phải, nghe nói họ Lâm kia mấy bữa trước suốt ngày kêu túng tiền, rốt cuộc là túng thiếu cái gì?”

Thích Quang do dự một lát, rồi thò vào trong tay áo rút ra một cuốn sổ: “Đây là sổ ghi chép toàn bộ các khoản chi ra do ông chủ Lâm ghi lại, tiểu nhân đã tính sơ qua, còn thiếu hai trăm lẻ ba lượng vàng!”

Trần Chẩn đẩy cuốn sổ sang một bên, thoáng chau mày: “Chỉ một khoảnh to bằng cái mông đít này, chẳng phải đã ném vào ba trăm lượng vàng rồi ư, sao vẫn còn thiếu nhiều đến thế?”

Thích Quang trả lời: “Chưa nói tới phòng ốc, chỉ tính riêng đồ vật bày biện và trang trí bên trong, tất cả đều dùng hàng thượng phẩm, đừng nói là ở An Ấp, ngay cả liệt quốc cũng khó tìm thấy cái thứ hai. Chúa công, điều này cũng là ý muốn của người!”

Trần Chẩn “hừm” một tiếng, nhắm mắt lại.

“Ông chủ Lâm còn nói, lần này nợ nhiều nhất là tiền công và tiền nguyên liệu, chủ nợ lũ lượt kéo đến thúc ép, mong chúa công mau nghĩ cách!”

Trần Chẩn không hề tỏ ra lo lắng: “Nghĩ cách! Nghĩ cách ư? Ta lại không biết hoá phép ra vàng, bảo ta nghĩ thế nào đây?”

Thích Quang càng hạ thấp giọng thì thào: “Tiểu nhân còn có một chuyện muốn bẩm báo.”

Trần Chẩn vẫn không ngẩng đầu lên: “Nói đi!”

“Tiểu nhân nghe nói, Bạch Khuê muốn nhường lại ngôi vị tướng quốc cho Chu tư đồ!”

Trần Chẩn sửng sốt, lập tức trợn trừng mắt: “Hả, ngươi nghe ai nói?”

“Là Ngô thiếu gia, cậu hai nhà tư nông đại nhân nói. Ngô thiếu gia có quan hệ thân thiết với Bạch gia, hẳn không thể bịa đặt!”

Ánh mắt Trần Chẩn bỗng trở nên sắc lạnh, ông ta nhắm mắt suy nghĩ thoáng chốc, rồi nở một nụ cười gian xảo, nói với Thích Quang: “Vừa rồi nghe ngươi nói lần này vẫn còn thiếu thốn chút đỉnh, Bạch gia chẳng phải có rất nhiều tiền bạc ư? Hai trăm lượng vàng mòn mọn, hãy để phần cho Bạch công tử đi!”

“Bạch công tử?” Thích Quang chớp mắt liền vài cái, bỗng chốc ngộ ra. “Tiểu nhân đã hiểu!”

Trần Chẩn he hé mắt, hỏi: “Ngươi hiểu gì?”

Thích Quang cất giọng nịnh bợ: “Bạch công tử tính ưa nhàn rỗi, ham trò mới lạ. Trong toà lầu này, ngoài mới lạ ra, đâu còn gì khác nữa? Ý chúa công hẳn là muốn tiểu nhân tìm cách kéo hắn vào chiếu bạc, mang vàng bạc nhà hắn…” Lão tặc lưỡi một cái, rồi vung tay làm động tác cướp đoạt.

Trần Chẩn khép mắt lại, một lúc lâu mới mở ra: “Không phải vội, đây là việc dần dà, chỉ e chậm không cứu nổi gấp!”

Thích Quang đang định tiếp lời, chợt thấy ông chủ Lâm hấp tấp chạy lên lầu, dập đầu trước cửa. Thích Quang bước ra khỏi mật thất, ông chủ Lâm bèn thì thầm gì đó vào tai Thích Quang. Thích Quang hít ngược một hơi khí lạnh, lạc giọng kêu lên: “Hai trăm lượng vàng?”

Ông chủ Lâm gật lấy gật để.

Thích Quang ngạc nhiên hỏi: “Lễ vật hậu hĩnh như vậy, chắc hẳn hắn ta phải có yêu cầu gì chứ?”

Ông chủ Lâm lại ghé sát tai Thích Quang thì thào. Thích Quang càng kinh ngạc: “Sao cơ? Người này muốn gặp ông chủ? Ngươi không nói cho hắn biết ngươi chính là ông chủ ư?”

“Tiểu nhân nói rồi, nhưng hắn khẳng định tiểu nhân không phải là ông chủ. Hắn còn nói, nếu không gặp được ông chủ thực sự, hắn… hắn sẽ mang cả hòm lễ vật trở về.”

Thích Quang ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Thế này đi, ngươi gọi hắn lên đây!”

Ông chủ Lâm tuân lệnh, chạy xuống lầu, loáng cái đã dẫn theo Sư Lý Tật cùng trở lên. Thích Quang bước ra nghênh đón, vái dài mà nói: “Tại hạ Thích Quang, là ông chủ lầu Nguyên Hanh, không biết tiên sinh giá lâm, thất lễ không ra nghênh đón!”

Sư Lý Tật nhìn đối phương từ đầu đến chân, rồi cung kính đáp lễ: “Tại hạ nghe nói quý quán khai trương nên chuẩn bị chút lễ mọn tới chúc mừng, xin Thích tiên sinh bẩm báo lên chủ nhân tửu lầu, tại hạ rất mong được diện kiến một lần!”

Thích Quang âm thầm kinh ngạc, mặt hơi biến sắc: “Tiên sinh có việc gì, cứ nói với tại hạ là được!”

Sư Lý Tật cười khẽ: “Tại hạ không quản nghìn dặm xa xôi tới bảo địa, chỉ mong được gặp mặt chủ nhân các vị một lần, lẽ nào không thể diện kiến?”

Thích Quang suy nghĩ một lát, rồi dứt khoát: “Tiên sinh đã không tin tại hạ, xin mời về cho! Ông chủ Lâm, tiễn khách!”

Sư Lý Tật cũng không trả lời, quay người bước đi luôn. Không ngờ mới đi được vài bước, một giọng nói đã cất lên từ phía sau bức rèm: “Tiên sinh dừng bước!”

Sư Lý Tật dừng lại, Trần Chẩn trong trang phục thường ngày từ trong gian mật thất bước ra. Sư Lý Tật lập tức vái dài hành lễ: “Tại hạ bái kiến thượng đại phu!”

Trần Chẩn nghe Sư Lý Tật gọi mình là “thượng đại phu”, trong lòng khẽ giật thột, nhưng lập tức trấn tĩnh lại ngay, cười hỏi: “Tiên sinh đây là…”

“Tại hạ Sư Lý Tật, ngũ đại phu nước Tần!”

Trần Chẩn trong lòng đã hiểu rõ ngọn ngành, khẽ vòng tay đáp lễ: “Trần Chẩn bái kiến ngũ đại phu!” Rồi nghiêng người lùi về sau rèm nhường đường. “Ngũ đại phu, mời!”

Hai người bước vào trong phòng, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Trần Chẩn vòng tay, lập tức nói thẳng vào chuyện: “Sư Lý đại phu tới tệ quán, dường như không phải để chúc mừng!”

Sư Lý Tật cũng vòng tay nói: “Đã không giấu được cặp mắt tinh tường của thượng đại phu, tại hạ đành phải thú thực. Tại hạ được giao phó trọng trách tới đây thỉnh cầu thượng đại phu một chuyện!”

Trần Chẩn cười cười, hỏi: “Là Công Tôn Ưởng giao phó phải không?”

Sư Lý Tật khẽ lắc đầu.

“Không phải Công Tôn Ưởng? Vậy là ai?”

“Tần Công!”

Trần Chẩn trong lòng sửng sốt, ngẫm nghĩ chốc lát rồi nói: “Được Tần Công nể mặt, tại hạ vô cùng lo lắng. Xin hỏi Tần Công giao phó chuyện gì?”

“Xin thượng đại phu cứu đại lương tạo!”

Trần Chẩn mỉm cười: “Sư Lý đại phu đùa thái quá rồi! Từ lúc bãi triều tới giờ, tính ra chưa quá hai canh giờ, Tần Công không thể biết chuyện đại lương tạo bị đem tế cờ nhanh chóng đến vậy! Dù có biết, lẽ nào sứ giả có thể mọc cánh mà bay tới?”

“Không giấu gì thượng đại phu, trước khi tại hạ đi sứ, Tần Công đã đoán chắc Ngụy Vương bệ hạ sẽ giết đại lương tạo tế cờ, hơn nữa người duy nhất cứu được đại lương tạo, chính là thượng đại phu đây! Lúc sắp lên đường, Tần Công đã bí mật giao cho tại hạ một túi gấm, tại hạ chẳng qua chỉ hành sự theo kế sách mà thôi!”

Trần Chẩn ngẫm nghĩ một lát rồi ngẩng lên nói: “Hậu lễ của Tần Công, xin Sư Lý đại phu mang về giúp! Đây là việc hệ trọng, tại hạ tài hèn sức mọn, e rằng không thể gánh vác nổi uỷ thác của Tần Công!”

“Thượng đại phu chớ nên khiêm nhường! Tần Công nói: chỉ cần thượng đại phu có ý giúp đỡ, không có chuyện gì không làm được. Tần Công còn nói, chút vàng này chỉ là lễ mọn ra mắt, sau khi việc thành Tần Công sẽ đền ơn hậu hĩnh! Tần Công xưa nay đã nói là làm, chắc hẳn thượng đại phu cũng đã nghe nói!”

Trần Chẩn thở dài: “Chà, Tần Công cứ nhất quyết đẩy tại hạ vào chỗ khó! Thế này vậy, Sư Lý đại phu, xin hãy trở về dịch quán trước, đợi tại hạ tìm thời cơ đến khẩn cầu chúa thượng xem sao!”

Sư Lý Tật vòng tay cung kính: “Tại hạ thay mặt Tần Công cảm tạ thượng đại phu!”

Sư Lý Tật cáo từ ra về. Thích Quang tiễn ra tận cửa, rồi vội vã quay trở lại, hai mắt nhìn chằm chằm vào Trần Chẩn không chớp, miệng muốn nói gì đó song lại thôi. Trần Chẩn hiểu Thích Quang muốn hỏi gì, bưng chén trà lên nhấp một ngụm, rồi chậm rãi nói: “Đã thấy chưa? Chẳng có hố nào không qua nổi! Ta đang muốn đi ngủ thì có kẻ mang gối tới!”

Thích Quang thấy chủ nhân nói nhẹ như không, sắc mặt cũng giãn ra, song giọng vẫn đầy lo lắng: “Chúa công, còn việc cứu người…”

Trần Chẩn nhịp nhịp ngón tay xuống bàn, vẻ thờ ơ: “Cứu ai kia? Chỉ là thuận nước đẩy thuyền mà thôi!”

***

Doanh trại trung quân trong tam quân nước Ngụy đặt tạm ở phía tây thành, cách phủ thượng tướng quân không xa. Trong cổng doanh trại là một đàn tế vừa mới đắp, trên đàn tế tung bay hai lá cờ xanh thẫm, một là quốc kỳ, một là soái kỳ. Hai bên đàn tế, ba quân tướng sĩ vũ trang oai vệ, đội ngũ chỉnh tề. Từ trên đàn tế nhìn xuống, chỉ thấy cờ bay lớp lớp, giáo mác tua tủa, giáp trụ sáng loà. Phía trước đàn tế, dưới lá cờ soái, đại lương tạo Công Tôn Ưởng nước Tần bị trói quặt hai tay trên cột cờ lớn.

Giờ Ngọ sắp tới. Một tràng trống trận rền vang, hai tay đao phủ đưa mắt ra hiệu cho nhau, rồi cùng bước tới trước mặt Công Tôn Ưởng, đứng hai bên trái phải đợi lệnh. Một người khác bê chiếc khay lại, trên khay đặt ba bát rượu.

Chủ tướng công tử Ngang vẻ bồn chồn, đi đi lại lại phía trước đàn tế. Tướng lĩnh ba quân oai phong lẫm liệt đứng trước toàn quân. Phó tướng Long Giả ngẩng cao đầu đứng phía trước chủ tướng, chòm râu trắng bay phất phơ.

Bỗng thấy thám mã phóng ngựa lao tới, quỳ xuống bẩm báo: “Báo, trên con đường lớn phía trước không thấy có xe của chúa thượng!”

Ngay sau đó, lại một thám mã khác phi nhanh tới: “Báo, trước cung thành không nhìn thấy đại đội xa giá!”

Đúng lúc đó, quan tư lậu cất giọng sang sảng báo giờ: “Giờ Ngọ ngày Đinh Sửu đã tới!”

Ánh mắt của tất cả tướng lĩnh đều đổ dồn vào công tử Ngang. Long Giả bước lại, nói khẽ: “Thượng tướng quân, theo tình hình này, xem ra chúa thượng sẽ không tới!”

Công tử Ngang giậm chân một cái, rồi sải bước tới trước cửa doanh trại, tung mình nhảy phắt lên một cỗ chiến xa, ra roi thúc ngựa, lao băng băng về phía cung thành.

Công tử Ngang hộc tốc lao vào cung, song thấy mọi thứ trong cung vẫn bình thường, không hề có không khí căng thẳng hay náo nhiệt như vẫn thấy trước những cuộc chinh phạt. Công tử Ngang lòng bỗng chùng xuống, hỏi một thái giám, được biết quân chủ vẫn đang ở ngự thư phòng, bèn vội vã chạy tới.

Trong ngự thư phòng, Ngụy Huệ Hầu ngồi ngay ngắn trước bàn, mắt khép hờ, như thể đang lim dim ngủ. Tỳ nhân quỳ ở phía sau, hai bàn tay nắm nhẹ, đang nhịp nhàng đấm lưng cho quân chủ. Một cung nữ tay cầm quạt đứng bên cạnh khẽ khàng phe phẩy. Bên cạnh là một chiếc đồng hồ nước, mức nước đã qua vạch giờ Ngọ.

Công tử Ngang cấp tốc bước tới, quỳ dưới bậc thềm. Tỳ nhân liếc thấy, bèn dừng tay lại, nói: “Chúa thượng, thượng tướng quân cầu kiến!”

Ngụy Huệ Hầu ngạc nhiên: “Ồ, Ngang Nhi tới ư? Truyền vào!”

Công tử Ngang bước vào trong cửa, dập đầu hành lễ: “Nhi thần khấu kiến quân phụ!”

Ngụy Huệ Hầu hiền từ nhìn công tử Ngang: “Ngang Nhi, giữa trưa sao không ở nhà nghỉ ngơi, tới đây làm gì?”

Công tử Ngang sững người, rồi ngập ngừng nói: “Quân phụ, giờ Ngọ đã tới, đại quân chinh phạt đã tề tựu đông đủ, Công Tôn Ưởng đã được áp giải tới nơi, ba quân tướng sĩ trong doanh trại đang ngóng chờ quân phụ giá lâm, giết Công Tôn Ưởng tế cờ!”

“Tế cờ?” Ngụy Huệ Hầu ra vẻ ngạc nhiên, rồi đập mạnh tay lên trán, “Ồ, phải rồi, giờ Ngọ hôm nay ba quân xuất chinh, quả nhân đã nói rằng sẽ tới tế cờ!” Rồi quay sang phía tỳ nhân hỏi. “Mau xem đồng hồ, là giờ nào rồi?”

Tỳ nhân bước lại trước đồng hồ nước, cao giọng bẩm báo: “Bẩm chúa thượng, đã qua giờ Ngọ!”

Ngụy Huệ Hầu thở dài đánh sượt, ra vẻ rầu rĩ: “Trời ơi, quả nhân không để ý, ngủ gật lúc nào không hay, ngờ đâu làm lỡ đại sự. Chuyện này… giờ giải quyết thế nào đây?”

“Quân phụ, mới lỡ mất nửa khắc, vẫn có thể tiến hành.”

Ngụy Huệ Vương trừng mắt nhìn công tử Ngang: “Ba quân xuất chinh là chuyện trọng đại, đừng nói là nửa khắc, dù là khoảnh khắc cũng không thể được!”

Công tử Ngang hoang mang không hiểu: “Quân phụ?”

Tỳ nhân nhìn thấy Trần Chẩn từ xa bước lại, khẽ chen vào một câu: “Chúa thượng, thượng đại phu cầu kiến!”

Ngụy Huệ Hầu mừng rỡ: “Ồ, Trần ái khanh cũng tới rồi, mau mời vào yết kiến!”

Trần Chẩn bước lên phía trước, dập đầu lạy mà hô: “Vi thần khấu kiến chúa thượng!”

“Ái khanh bình thân! Ngang Nhi, con cũng đứng lên đi!”

Trần Chẩn và công tử Ngang cùng đồng thanh:

“Tạ ơn chúa thượng!”

“Tạ ơn quân phụ!”

Hai người đứng dậy, rồi ai về chỗ nấy.

Ngụy Huệ Hầu nhìn Trần Chẩn, than thở: “Ái khanh, quả nhân đúng là đã già rồi! Giờ Ngọ hôm nay ba quân xuất chinh, quả nhân nói sẽ tới dự lễ tế cờ, nào ngờ lại ngủ quên để lỡ mất việc lớn! Chà, khanh nói thử xem, chuyện này…”

Trần Chẩn trong lòng đã rõ, lập tức lên tiếng: “Đây là ý trời, chúa thượng hà tất phải tự trách mình!”

Ngụy Huệ Hầu mở to mắt: “Ồ! Ái khanh nói xem, thế nào là ý trời?”

Trần Chẩn chớp mắt liền vài cái, khẽ hỏi: “Vi thần dám hỏi chúa thượng, chúa thượng đã bao giờ ngủ gật vào buổi sáng chưa?”

Ngụy Huệ Hầu lắc đầu.

“Chúa thượng chưa bao giờ ngủ gật vào buổi sáng, hôm nay lại ngủ thiếp đi, hơn nữa giấc ngủ lại không sớm không muộn, vừa đúng thời gian này, lẽ nào không phải ý trời?”

Ngụy Huệ Hầu trầm tư ngẫm ngợi, rồi gật đầu nói: “Ái khanh nói rất phải! Xem ra, lễ tế cờ hôm nay là tuân theo ý trời!”

Công tử Ngang vô cùng kinh ngạc, vội nói xen vào: “Quân phụ, nếu hôm nay không thích hợp, chúng ta đổi sang ngày mai được chăng?”

Ngụy Huệ Hầu giận dữ nhìn công tử Ngang, quát lớn: “Mai sao được? Việc quân quốc đại sự, đâu phải trò đùa?”

Công tử Ngang toàn thân run rẩy, quỳ phục xuống đất: “Nhi thần biết tội!”

Ngụy Huệ Hầu từ từ hít vào một hơi: “Con quay về báo với ba quân tướng sĩ, việc tế cờ tạm thời lùi lại, đợi chỉ!”

Công tử Ngang dập đầu: “Nhi thần lĩnh chỉ! Nhi thần cáo lui!”

Công tử Ngang ném về phía Trần Chẩn một ánh nhìn tức tối, rồi đứng lên lui ra. Vừa đi được vài bước, đã khựng lại bởi giọng nói sang sảng của Ngụy Huệ Hầu: “Ngang Nhi, nhân tiện áp giải tên Ưởng gì đó vào ngục, dặn bọn chúng trông coi cẩn thận, chớ bỏ đói kẻo hắn gầy đi!”

Công tử Ngang không buồn ngoảnh lại, chỉ đáp một tiếng: “Nhi thần tuân lệnh!” Rồi nghênh ngang bỏ đi.

Ngụy Huệ Hầu nhìn công tử Ngang bước ra khỏi cửa, khẽ thở dài một tiếng, quay đầu lại nói với Trần Chẩn: “Ái khanh cầu kiến quả nhân, hẳn có việc quan trọng?”

Trần Chẩn đứng lên, tới trước mặt Ngụy Huệ Hầu quỳ xuống, dập đầu liền ba cái: “Bẩm chúa thượng, vi thần đã phạm trọng tội rồi!”

Ngụy Huệ Hầu ngạc nhiên hỏi: “Ái khanh phạm tội?”

Trần Chẩn quay ra ngoài, vỗ tay. Lát sau, đã thấy hai tên lính khiêng vào một chiếc hòm, rồi lui ra. Ngụy Huệ Hầu ngạc nhiên nhìn chiếc hòm: “Trần ái khanh, đây là thứ gì?”

Trần Chẩn chỉ tay vào chiếc hòm: “Chúa thượng, có người dâng chiếc hòm này tới phủ vi thần, nói là bên trong đựng hai trăm lượng vàng. Vi thần kiên quyết từ chối mà không được, đành nhận lấy! Chiếu theo luật của Đại Ngụy, quan khanh, đại phu tư túi dẫu chỉ một lượng vàng cũng phạm tội không thể ân xá, huống hồ là hai trăm lượng vàng. Vi thần hoang mang cực độ, tức tốc chuyển lên chúa thượng chiếc hòm vẫn còn nguyên niêm phong, xin chúa thượng minh xét!”

“Ồ! Là kẻ nào dâng tặng?”

“Tuỳ tùng của Công Tôn Ưởng, phó sứ Sư Lý Tật, ngũ đại phu của nước Tần!”

Ngụy Huệ Hầu suy nghĩ một lát, rồi từ tốn nói: “Hắn dâng tặng lễ vật hậu hĩnh như vậy, hẳn muốn khanh giải cứu Công Tôn Ưởng.”

Trần Chẩn dập đầu: “Chúa thượng anh minh!”

“Ái khanh nói xem, việc này quả nhân đúng hay sai?”

“Chúa thượng xử sự anh minh, vi thần đâu dám nói xằng.”

Ngụy Huệ Hầu cười ha hả, nói: “Ái khanh đừng lảng tránh. Mau nói đi, quả nhân muốn nghe ý kiến của khanh!”

“Vi thần cho rằng, chúa thượng anh minh sáng suốt, chắc hẳn sẽ không giết Công Tôn Ưởng tế cờ!”

“Ồ!” Ngụy Huệ Hầu bật lên một tiếng kinh ngạc.

“Người Tần thế lực đã lớn mạnh, không thể không diệt. Song vi thần cho rằng, diệt trừ thế lực của Tần có hai cách, thứ nhất là khởi binh chinh phạt, diệt trừ tận gốc; thứ hai là khéo mượn thế của chúng, để dùng cho ta. Nếu khởi binh chinh phạt, khả năng lưỡng bại câu thương cực lớn, đây là việc bất đắc dĩ. Nếu có thể mượn thế của chúng để dùng cho ta, mới là thượng thượng sách. Người Tần vừa nghe tin ta chinh phạt đã co rúm lại, không chiến mà hàng. Đúng là ta mong còn chẳng được, sao lại cự tuyệt?”

Ngụy Huệ Hầu trầm tư suy nghĩ: “Ái khanh nói rất phải. Nếu mượn dùng thế của chúng sẽ chế ngự được thế của chúng. Đợi thế của chúng yếu đi, quả nhân sẽ không còn mối lo phía tây nữa!”

“Quân chủ quả là nhất đại thánh chủ, dù là Thương Thang, Chu Vũ, mưu sự cũng chỉ đến thế mà thôi!”

Ngụy Huệ Hầu khép hờ đôi mắt, suy nghĩ một lát rồi nói: “Trần ái khanh, hãy mang kim bài của quả nhân vào ngục thả Công Tôn Ưởng ra, cho hắn tạm thời nghỉ ngơi trong dịch quán! Dù thế nào đi nữa, kẻ này cũng chỉ là tới cầu hàng mà thôi!”

Tỳ nhân đưa kim bài cho Trần Chẩn. Trần Chẩn nhận lấy, dập đầu nói: “Vi thần cáo từ!”

“Trần ái khanh, hòm lễ vật này là người ta dâng tặng khanh, khanh cũng mang về đi!”

Trần Chẩn dập đầu nói: “Vi thần không dám!”

Ngụy Huệ Hầu cười nói: “Cứ coi như quả nhân thưởng cho khanh!”

Trần Chẩn lại dập đầu: “Vi thần tạ ơn chúa thượng hậu thưởng!”

Tỳ nhân vỗ tay, ra hiệu cho hai người bước lại khiêng chiếc hòm ra.

“Vi thần cáo từ!” Trần Chẩn dập đầu xong thì lui ra, song mới bước vài bước, Ngụy Huệ Hầu đột nhiên gọi với theo: “Ái khanh dừng bước!”

Trần Chẩn liền đứng lại.

Ngụy Huệ Hầu tươi cười, chỉ tay xuống chiếu nói: “Ái khanh hãy ngồi thêm một lát, quả nhân vừa nghĩ tới một chuyện, muốn hỏi ý ái khanh!”

Trần Chẩn thấp thỏm ngồi xuống, nhìn Ngụy Huệ Hầu không chớp mắt.

“Quả nhân vừa nãy ngủ gật,” Ngụy Huệ Hầu chậm rãi nói, “trong lúc lơ mơ, lại thấy mình quay trở về triều hội Mạnh Tân. Khanh đoán thử xem, Chu thiên tử đang làm gì? Ông ta đứng trước mặt quả nhân khoe khoang bộ trang phục trên mình. Quả nhân xưa nay chẳng bao giờ chú ý thiên tử mặc trang phục gì, nhưng ông ta cố tình khoe khoang khiến quả nhân động lòng, liếc mắt nhìn thử, quả nhiên lộng lẫy cao quý. Quả nhân muốn hỏi ái khanh, phục sức của thiên tử phải chăng rất đẹp?”

Trần Chẩn rất đỗi ngạc nhiên, ngẫm nghĩ một lát mới đáp: “Theo ghi chép trong ‘Chu lễ’, trang phục của thiên tử rất mực cầu kỳ. Đại khái có thể phân thành hai loại, cát phục và hung phục.”

“Hung phục tạm thời không nói tới, trước hết hãy nói về cát phục!”

“Cát phục có tổng cộng mười loại, một là cừu phục, hai là cổn phục, ba là vũ phục, bốn là thuế phục, năm là hy phục, sáu là huyền phục, bảy là vi biền phục, tám là bì biền phục, chín là…”

“Vi biền phục và bì biền phục là thế nào?” Chưa đợi Trần Chẩn nói xong, Ngụy Huệ Hầu đã cắt ngang. “Chu thất đúng là quá rườm rà. Theo quả nhân biết, thánh hiền thời thượng cổ chỉ có ba loại trang phục, một là biền phục (lễ phục), hai là ti phục (trang phục tơ lụa), ba là ma phục (trang phục vải gai). Biền phục tế trời đất, ti phục thiết triều, ma phục cử hành tang lễ.”

Trần Chẩn dập đầu nói: “Chúa thượng thánh minh. Theo ghi chép trong sách cổ, thượng cổ có ba loại trang phục, thời Hạ có năm loại trang phục, thời Thương có bảy loại trang phục. Cho tới thời Chu, cát phục và tang phục gộp lại, tổng cộng có hơn mười loại.”

“Lễ nghi của nhà Chu quả là phức tạp. Theo ý quả nhân, thiên tử chỉ nên có ba loại trang phục là đủ rồi!”

Trần Chẩn trong lòng đã thấu hiểu: “Chúa thượng noi theo hiền vương thượng cổ, bỏ rườm rà, tìm đơn giản, thấu hiểu lòng dân, xứng danh là đương kim hiền vương!”

Ngụy Huệ Hầu cười ha hả, rồi ngáp dài: “Quả nhân nói vui vậy thôi! Ái khanh hãy lui về, quả nhân mệt rồi, muốn nghỉ ngơi!”

Trần Chẩn bái lạy nói: “Vi thần cáo lui!”

Trần Chẩn trở về phủ, lệnh cho Thích Quang cầm kim bài của Ngụy Huệ Hầu tới dịch quán, cùng với ngũ đại phu Sư Lý Tật mau chóng vào trong ngục. Quan tư hình sau khi kiểm tra kim bài, lệnh cho lính canh ngục áp giải Công Tôn Ưởng ra khỏi nhà lao.

Công Tôn Ưởng mặc trang phục tù nhân, bị cùm chân suốt hai ngày qua, lại phải chịu đựng nỗi giày vò chốn lao tù, cơ thể vô cùng hư nhược, chưa bước nổi vài bước đã loạng choạng suýt ngã. Sư Lý Tật vội chạy lại đỡ Công Tôn Ưởng, khóc mà nói: “Đại lương tạo, hạ quan tới muộn rồi!”

Công Tôn Ưởng gượng đứng vững, đưa ánh mắt nhìn về phía Thích Quang tay cầm kim bài, đang đứng ngoài cửa, ngờ vực hỏi: “Vị này là…”

Sư Lý Tật vội vàng giới thiệu: “Đây là Thích lão quản gia trong phủ Thượng đại phu. Chính ông ta đã mang kim bài tới cứu đại lương tạo.”

Thích Quang bước tới cung kính hành lễ, nói: “Tiểu nhân Thích Quang phụng mệnh chúa công, mời đại lương tạo tạm thời trở về dịch quán nghỉ ngơi! Chúa công còn nói, khi trời tối sẽ chuẩn bị chút rượu nhạt để giúp đại lương tạo tẩy trần!”

Công Tôn Ưởng vái Thích Quang một vái dài, rồi leo lên xe ngựa, nói với Sư Lý Tật: “Tới phủ thượng đại phu!”

Xe ngựa tới ngoài cổng phủ thượng đại phu, Công Tôn Ưởng trong trang phục tù nhân, được Sư Lý Tật dìu vào cổng chính. Người hầu sớm đã vào trong bẩm báo, Trần Chẩn nghe nói Công Tôn Ưởng chưa thay áo tù đã tới bái kiến thì vội ra nghênh đón. Hai người hành lễ xong thì nắm tay nhau bước vào phòng khách. Còn Thích Quang kéo Sư Lý Tật vào phòng bên trò chuyện.

Vừa bước vào phòng khách, Công Tôn Ưởng đã quỳ xuống, dập đầu sát đất nói: “Công Tôn Ưởng khấu kiến thượng đại phu.”

Trần Chẩn vội vã kéo Công Tôn Ưởng đứng dậy: “Đại lương tạo thân phận quyền quý, tại hạ sao dám nhận?”

Công Tôn Ưởng đứng dậy, hai người phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

Công Tôn Ưởng vòng tay nói: “Đại ân không nói tạ ơn, tại hạ nợ thượng đại phu một mạng, không thể dùng hai chữ tạ ơn mà bày tỏ cho hết!”

Trần Chẩn cũng vòng tay nói: “Là đại lương tạo phúc dày mạng lớn, Trần Chẩn nào dám kể công!”

“Có câu, thù lớn không gì bằng thù giết cha, ân sâu không gì bằng ân cứu mạng. Đại ân của thượng đại phu, tại hạ không có gì báo đáp, chỉ xin gọi một tiếng Trần huynh!”

Tim Trần Chẩn nảy lên một cái, nhìn kỹ Công Tôn Ưởng, thấy ông ta rất mực chân thành, không hề có vẻ giả dối, trong lòng vô cùng cảm động, buột miệng nói: “Công Tôn huynh!”

Công Tôn Ưởng thấy Trần Chẩn nói vậy, cũng run giọng mà gọi: “Trần huynh!”

Trần Chẩn tự tay đưa một chén trà cho Công Tôn Ưởng: “Công Tôn huynh, mời dùng trà!”

Công Tôn Ưởng cảm tạ Trần Chẩn, đỡ lấy chén trà nhấp một ngụm, lại buông ra vài lời tán thưởng. Hai người khách sáo qua lại một hồi, Trần Chẩn bèn nói: “Công Tôn huynh quý là quyền thần nước Tần, địa vị dưới một người trên vạn người, tại hạ sau này đã có chỗ nhờ cậy!”

Nghe vậy, Công Tôn Ưởng tỏ vẻ không vui: “Trần huynh nói ra lời này hẳn là khinh thường tại hạ?”

Trần Chẩn vội vã cười xoà: “Được rồi, được rồi, hôm nay chúng ta không nói chuyện này! Công Tôn huynh, mời dùng trà!”

Công Tôn Ưởng cũng cười, bưng chén trà lên nhấp một ngụm, nhìn Trần Chẩn, rồi nghiêm mặt nói: “Bất luận Trần huynh cảm thấy thế nào, từ hôm nay trở đi, tại hạ sẽ coi Trần huynh là huynh đệ.”

“Lời Công Tôn huynh, cũng là mong muốn của tại hạ!”

“Đã là huynh đệ, tại hạ muốn dốc lòng tâm sự, không biết Trần huynh có muốn nghe chăng?”

“Công Tôn huynh cứ nói, không phải ngại ngần!”

“Thượng đại phu hiện tại tuy được lòng quân chủ, song địa vị lại không chắc chắn.”

Trần Chẩn sững lại chốc lát: “Xin đại lương tạo nói rõ!”

Giọng Công Tôn Ưởng càng nghiêm trọng hơn: “Nói nhẹ thì là không chắc chắn, còn nói nặng hơn thì…” Nói đến đây, cố tình lấp lửng. Trần Chẩn lòng dạ thấp thỏm, mắt nhìn Công Tôn Ưởng trân trân. Công Tôn Ưởng lúc này mới chậm rãi tiếp lời: “Thì… Ngụy như chồng trứng!”

Nghe thấy câu này, Trần Chẩn lại thở hắt ra, hơi ngả người về phía sau, thái độ có vẻ coi thường: “Công Tôn huynh dựa vào đâu mà nói vậy?”

Công Tôn Ưởng biết Trần Chẩn không phục, bèn hỏi lại thay cho câu trả lời: “Dựa vào tài của Trần huynh, đáng lẽ đã phải ở ngôi tướng quốc. Nhưng kỳ thực tới ngày nay, Trần huynh vẫn chỉ là một thượng đại phu hữu danh vô thực. Nguyên do vì sao, Trần huynh biết chứ?”

Lời nói quả nhiên đã đánh trúng chỗ hiểm. Trần Chẩn trầm ngâm một lát, rồi ngẩng nhìn Công Tôn Ưởng: “Xin Công Tôn huynh chỉ giáo!”

“Theo tại hạ thấy, có hai nguyên nhân. Thứ nhất là vì lão tướng quốc ghen ghét tài năng, xem Trần huynh như kẻ thù, trước mặt quân chủ thường xuyên chèn ép, để tranh giành sự sủng ái của quân chủ. Thứ hai, là do quân chủ!”

Trần Chẩn ngả người về phía trước, không giấu nổi vẻ ngạc nhiên, hỏi: “Ý huynh là sao?”

“Tại hạ trước đây từng ở nước Ngụy nhiều năm, hiểu rõ quân chủ. Tuy quân chủ rất mực hiền minh, song có một điểm tại hạ không phục, đó là dùng người thân không dùng người tài, dùng người kém không dùng người giỏi. Ví như Bạch tướng quốc. Tổ tiên của Bạch Khuê vốn là sủng thần của Văn Hầu, tiên phụ của Bạch Khuê với tiên quân Võ Hầu danh là quân thần, nhưng tình như huynh đệ. Cũng chính nhờ vào quân chủ, Bạch gia mới có thể tự tung tự tác, giàu có nghiêng ngửa, leo lên tới chức khanh tướng. Hay như Chu tư đồ, anh rể của Chu tư đồ là cựu tướng quốc Công Thúc Toạ, nếu luận về quan hệ thân thích, thì Chu Uy còn là bậc chú của quân chủ. Hiện tại quân chủ trọng dụng hai người này, cho một người cai quản bá quan, một người cai quản bách tính. Thử hỏi Trần huynh, nếu quân chủ không phải dùng người theo mối quan hệ thân thích, thì tại sao thực quyền trong triều chỉ nằm trong tay hai người này?”

Trần Chẩn khâm phục, gật gù thừa nhận: “Phải, phải, Công Tôn huynh nói rất đúng!”

Công Tôn Ưởng nhân đà nói tiếp: “Theo tại hạ biết, bá quan trong triều đều có quan hệ thân thích nội ngoại với Ngụy thất, duy có Trần huynh là dựa vào tài năng mà được trọng dụng. Dùng tài leo cao, ắt có kẻ đố kỵ. Đừng nói là Bạch tướng quốc, dù là Chu Uy, liệu ông ta ta có thực sự phục Trần huynh hay không? Hiện tại Trần huynh còn được quân chủ sủng ái, song vạn nhất có điều sơ sảy thì tình cảnh của Trần huynh chẳng phải là Ngụy như chồng trứng hay sao?”

Trần Chẩn hít ngược một hơi khí lạnh, vươn người ra phía trước mà hỏi: “Theo Công Tôn huynh, hoàn cảnh hiện tại của tại hạ còn có thể cứu vãn chăng?”

Công Tôn Ưởng mỉm cười, chỉ ra tử huyệt của Trần Chẩn: “Lời tại hạ nói, kỳ thực Trần huynh sớm đã hiểu rõ. Nếu không, Trần huynh hà cớ phải mạo hiểm mở tửu lầu? Trần huynh là người mang chí lớn, nếu không phải vì muốn mở rộng việc kết giao, chẳng nhẽ lại là vì kiếm chút tiền cỏn con ư?”

Nghe Công Tôn Ưởng nhắc tới lầu Nguyên Hanh, Trần Chẩn mặt cắt không còn hạt máu, một lúc lâu sau mới nói: “Công Tôn huynh có gì chỉ giáo, tại hạ xin được rửa tai lắng nghe!”

“Trần huynh, thứ lỗi cho tại hạ nói thẳng, chỉ một tửu lầu này, e rằng còn lâu mới đủ. Kẻ áo vải như chúng ta nếu muốn thăng tiến, ắt phải thấu hiểu lòng quân chủ, làm ra chuyện kinh thế hãi tục. Như tại hạ năm xưa khi ở Ngụy có khác gì Trần huynh bây giờ, tuy dốc lòng tận tụy, song mãi vẫn không được trọng dụng, bất đắc dĩ mới phải sang Tần. Sau khi sang Tần, tại hạ vắt óc suy nghĩ nhiều tháng trời, mới đoán ra được tâm tư của đương kim quân chủ, thôi thúc quân chủ biến pháp cải chế, vì thế ngày nay mới có được thành tựu vẻ vang.”

Trần Chẩn gật đầu: “Theo Công Tôn huynh, hiện tại tâm tư quân chủ đang ở đâu?”

Công Tôn Ưởng mỉm cười: “Người hiểu rõ lòng quân chủ, chẳng ai hơn được Trần huynh, Trần huynh hà tất phải hỏi câu này?”

Trần Chẩn cũng cười mà nói: “Được trò chuyện cùng Công Tôn huynh, quả là một chuyện sảng khoái hiếm có trong đời!”

Công Tôn Ưởng một lời trúng tim: “Trần huynh lần này nếu có thể thuận ứng lòng quân chủ, trợ giúp quân chủ hoàn thành vương nghiệp, không chỉ công lao sánh với Tử Nha, mà còn lưu danh sử sách muôn đời.”

“Nếu được như vậy, đều là nhờ công của Công Tôn huynh đây!”

“Là công của Tần Công! Tại hạ còn có một thỉnh cầu, mong Trần huynh giúp đỡ!”

Trần Chẩn mỉm cười nói: “Chỉ cần giúp được, tại hạ sẵn sàng hiến chút sức mọn.”

“Tại hạ từ lâu đã ngưỡng mộ danh tiếng thượng tướng quân, rất muốn kết giao. Nghe nói thượng tướng quân và Trần huynh có mối quan hệ thân thiết, tại hạ muốn nhờ Trần huynh giúp cho việc này.”

Sắc mặt Trần Chẩn bỗng tối sầm lại: “Ồ… Công Tôn huynh có lẽ không biết, thượng tướng quân một lòng muốn giết Công Tôn huynh để tế cờ, tại hạ vì cứu huynh ra đã khiến tướng quân giận dữ tới mức muốn băm vằm tại hạ thành muôn mảnh!”

Công Tôn Ưởng cười ha hả mà nói: “Tại hạ đến đây cũng là vì chuyện này. Trần huynh và thượng tướng quân vốn là tri kỷ, lần này nếu vì tại hạ mà căng thẳng, tại hạ sao dám yên lòng? Sư Lý đại phu!”

Sư Lý Tật đang trò chuyện với Thích Quang ở phòng bên, nghe thấy tiếng gọi vội vã chạy lại.

“Mang hai chiếc hòm trên xe lại đây!”

Một lát sau, vài người khiêng theo hai hòm lễ vật tiến vào, sau khi đặt xuống, lập tức rút lui.

Công Tôn Ưởng mở một chiếc hòm, bên trong đựng đầy vàng. Công Tôn Ưởng chỉ vào hòm lễ vật, nói: “Chút lễ mọn này, mời thượng đại phu chuyển tới thượng tướng quân, xin thượng tướng quân bớt giận! Còn nữa, xin thượng đại phu bẩm lên thượng tướng quân, tại hạ muốn mở tiệc rượu nhạt ở lầu Nguyên Hanh để cảm tạ ân đức của thượng tướng quân đã không giết tại hạ!”

Trần Chẩn liếc nhìn hòm lễ vật, cười cười nói: “Công Tôn huynh, trong nhà thượng tướng quân không thiếu những thứ này!”

Công Tôn Ưởng gật đầu nói: “Thứ thượng tướng quân còn thiếu, dựa vào tài trí của Trần huynh, không cần tại hạ phải nói ra. Có điều chút lễ mọn này chẳng qua là lễ ra mắt mà thôi!”

Trần Chẩn, Công Tôn Ưởng bốn mắt nhìn nhau, bật cười thành tiếng. Công Tôn Ưởng mở nốt chiếc hòm còn lại, rồi mỉm cười nói: “Đại ân của Trần huynh, không tiền bạc nào báo đáp nổi. Chút châu báu này tuy ít ỏi, song là thành ý của tại hạ, mong Trần huynh nhận lấy!”

Trần Chẩn nhìn hòm chầu báu đầy ắp, không giấu nổi sửng sốt: “Chuyện này…”

Công Tôn Ưởng đứng dậy, vòng tay cáo từ: “Thượng đại phu bận trăm công nghìn việc, tại hạ không dám quấy rầy thêm. Hôm nay giữ được mạng sống, tại hạ cũng muốn quay về nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, không lại phụ sự vất vả của Trần huynh!”

Trần Chẩn cũng đứng dậy vòng tay nói: “Công Tôn huynh đã muốn về, tại hạ không dám giữ!”

Trần Chẩn tiễn Công Tôn Ưởng ra ngoài cửa, đợi Sư Lý Tật đánh xe ngựa đi khuất mới nhìn Thích Quang, thốt lên một câu cảm phục: “Người này quả thật tinh minh!”

Thích Quang vẻ khinh khinh nói: “Tinh minh cái gì? Nếu không phải nhờ chúa công cứu mạng, hắn đã lên đường tới suối vàng rồi!”

Trần Chẩn trừng mắt với Thích Quang, rồi căn dặn: “Đậy hòm kia lại, theo ta tới phủ thượng tướng quân!”

Thích Quang biết mình lại lỡ lời, “vâng” khẽ một tiếng, rồi vội vã đi chuẩn bị xe.

Chủ tớ hai người đánh xe thẳng tới phủ thượng tướng quân, song bị hai tên vệ sĩ cầm mác cản đường. Trần Chẩn vốn là khách thường xuyên lui tới phủ thượng tướng quân, các vệ sĩ đều quen mặt nên xưa nay ra vào thoải mái, chưa từng bị ngăn cản. Hôm nay xảy ra chuyện này, Trần Chẩn trong lòng hiểu rõ, lập tức xuống xe, vòng tay hành lễ: “Làm phiền tướng sĩ bẩm báo với thượng tướng quân, có thượng đại phu Trần Chẩn cầu kiến!”

Một tên vệ sĩ nói: “Bẩm thượng đại phu, thượng tướng quân có lệnh, nếu Trần Chẩn tới, bảo ông ta về! Thượng đại phu hãy mau về đi, đừng làm khó cho tiểu nhân!”

Trần Chẩn đưa mắt ra hiệu, Thích Quang hiểu ý, bước lên một bước, vừa cười hề hề vừa móc ra hai đĩnh vàng từ trong ống tay áo, dúi vào tay vệ sĩ: “Thượng tướng quân đùa đấy, các ngươi tưởng thật ư?”

Không ngờ tay vệ sĩ gạt đĩnh vàng đi, nghiêm mặt nói: “Thượng tướng quân có lệnh, tiểu nhân dùng tay nào cầm vàng của thượng đại phu thì sẽ chặt đứt tay đó!” Rồi nhìn Trần Chẩn với vẻ mặt bất đắc dĩ. “Thượng đại phu hãy mau về đi, tiểu nhân cầu xin ông đấy!”

Trần Chẩn thoáng ngạc nhiên, rồi gật đầu cười mà nói: “Được rồi, ta đi ngay đây, không làm khó hai vị nữa! Có điều, ta có chuyện riêng muốn nói với lão quản gia, hai vị có thể mời ông ta ra đây được không?”

Hai tên lính liếc nhìn nhau, rồi một tên nói: “Xin thượng đại phu đợi một lát!”

Loáng một cái, quản gia của phủ thượng tướng quân đã rảo bước đi ra. Trần Chẩn vái một vái rồi nói: “Trần Chẩn tham kiến lão quản gia!”

Lão quản gia đáp lễ: “Tiểu nhân không biết thượng đại phu tới, thất lễ không ra nghênh đón!”

“Trần Chẩn có vật này, phiền lão quản gia chuyển tới thượng tướng quân giúp!”

Trần Chẩn vừa nói dứt lời, Thích Quang lôi từ trong ống tay áo ra một túi lụa, đưa cho quản gia. Quản gia đỡ lấy, quay người trở bước vào trong. Trần Chẩn cũng không nói gì thêm, lên xe ngựa, ra rồi trở về.

Đi chưa được bao xa, Thích Quang quất mạnh một roi vào mông ngựa, con ngựa lập tức tung vó lao vút đi. Sau khi xả hết nỗi tức tối, Thích Quang quay lại nhìn Trần Chẩn nói: “Chúa công, thượng tướng quân thực chẳng ra sao. Chúng ta biếu lễ vật hậu hĩnh như vậy, đã chẳng cảm ơn, chẳng nói năng gì, còn không cho vào cửa, trên đời này lại có chuyện như thế chăng?”

Trần Chẩn cười nói: “Ngươi chạy nhanh như vậy, thượng tướng quân muốn mời ngươi vào cửa, e rằng cũng không đuổi kịp!”

Thích Quang nghe vậy vội ghìm ngựa, cho xe đi chậm lại. Quả nhiên, đi chưa được bao xa, bỗng thấy một con ngựa phi nước đại đuổi theo, dừng lại bên cạnh cỗ xe của họ. Người cưỡi ngựa vòng tay vái Trần Chẩn mà nói: “Thượng đại phu, thượng tướng quân có lời mời!”

Hai người liền quay trở lại phủ thượng tướng quân. Lão quản gia đã đứng đợi sẵn ở cửa, nghênh đón Trần Chẩn đưa vào phòng khách. Thượng tướng quân công tử Ngang ngồi ngay ngắn phía trước bàn thấp, trên bàn đặt chiếc túi vải lụa đã được mở ra. Trong túi lụa chỉ có một tấm thẻ tre, bên trên viết một hàng chữ nhỏ: “Không đánh chưa hẳn bất lợi”.

Trần Chẩn quỳ xuống, dập đầu nói: “Hạ quan Trần Chẩn khấu kiến thượng tướng quân!”

Công tử Ngang chẳng nói chẳng rằng, im lặng một lát rồi chỉ vào hàng chữ trên thẻ tre: “Thượng đại phu, bản công tử hỏi ông, thế này là có ý gì?”

“Đánh chưa chắc đã có lợi!”

Công tử Ngang trầm ngâm suy nghĩ, vẫn không hiểu ý: “Xin nói rõ!”

“Thượng tướng quân!” Không đợi công tử Ngang cho phép, Trần Chẩn đã tự động đứng dậy, ngồi xuống vị trí khách, chậm rãi nói. “Thứ mà thiên hạ tranh giành, người người theo đuổi, không gì ngoài một chữ ‘lợi’. Đối với công tử, tiền bạc châu báu không thiếu, địa vị tướng quốc cũng không phải là sở cầu của công tử, vị trí thái tử lại không dễ dàng tiếm việt trong chốc lát. Ngoài ra, công tử đã là chủ soái ba quân, có muốn thăng tiến nữa cũng không thể. Tại hạ xin hỏi, cho dù thảo phạt Tần thành công, công tử sẽ có được gì?”

Công tử Ngang ngẩn ra một lát, hồi lâu sau mới nói: “Chuyện này… bản công tử chưa từng nghĩ tới!”

Trần Chẩn mỉm cười: “Xin hỏi tiếp công tử, đánh hay không, quyết định đều ở chúa thượng. Công tử có hiểu tâm tư của chúa thượng chăng?”

Công tử Ngang nhìn Trần Chẩn, ngẩn ngơ không hiểu.

“Công tử có biết vì sao chúa thượng cho triệu Long Giả từ Hà Tây về không?”

“Tuyên thệ tế cờ trước khi xuất quân! Long Giả thân là phó tướng, triệu ông ta về đâu có gì lạ?”

“Không phải, không phải!” Trần Chẩn lắc đầu quầy quậy. “Tế cờ chẳng qua là nghi thức, chỉ cần có chủ tướng là công tử đã đủ rồi.”

Công tử Ngang chột dạ, đưa ánh mắt dò hỏi nhìn thẳng vào Trần Chẩn.

Trần Chẩn dõng dạc: “Chúa thượng triệu hồi Long Giả, lại tăng cường cho hắn năm vạn quân, chỉ có thể chứng tỏ một việc, đó là trong lòng chúa thượng vẫn lo lắng chuyện thảo phạt Tần. Còn vì sao lại lo lắng, công tử là người hiểu rõ, không cần hạ quan phải nói ra. Đúng vào lúc này, Tần Công lại sai Công Tôn Ưởng tới cầu hoà, nguyện được xưng thần. Không chiến mà kẻ địch đã khuất phục, chuyện hay như vậy chúa thượng đương nhiên vui mừng không hết, cớ sao lại phải mạo hiểm mà nhất quyết thảo phạt?”

Công tử Ngang trầm ngâm suy nghĩ, rồi lẩm bẩm: “Thảo nào phụ vương chậm trễ không tới tế cờ, hoá ra nguyên do là đây!” Một lát sau, ánh mắt từ từ di chuyển tới hàng chữ “không đánh chưa hẳn bất lợi” trên tấm thẻ tre, rồi lại tiếp tục nhìn sang Trần Chẩn, có ý dò hỏi.

Trần Chẩn đã hiểu ý, cười cười mà nói: “Công tử giờ đây có lẽ đã hiểu ra ý nghĩa sâu xa của câu này. Nếu thảo phạt Tần, dù chiến thắng, thứ công tử nhận được cũng chỉ là hư danh. Lỡ chẳng may chiến bại, công tử chỉ có thể lãnh kết cục ‘thân bại danh liệt, công lao toàn huỷ’.”

Nghe thấy tám chữ “thân bại danh liệt, công lao toàn huỷ”, công tử Ngang bất giác rùng mình ớn lạnh.

“Nói đi cũng phải nói lại, nếu không thảo phạt Tần, công tử ngược lại sẽ được nhiều cái lợi!”

Công tử Ngang mắt sáng rực: “Có lợi gì?”

Trần Chẩn vỗ tay. Lập tức hai người khiêng hòm lễ vật mà Công Tôn Ưởng dâng tặng vào, rồi lui ra ngoài.

Công tử Ngang đứng dậy mở nắp hòm, nhìn một lượt bên trong, cười khẩy mà nói: “Cái lợi mà thượng đại phu nói, chỉ là chút lễ vật cỏn con này thôi sao?”

Trần Chẩn khẽ lắc đầu.

Công tử Ngang thoáng ngạc nhiên, hỏi: “Không phải thứ này, còn có gì nữa?”

Trần Chẩn hơi ngả người ra phía sau, chậm rãi nói: “Người Tần tới đây, không chỉ quỳ gối xưng thần, mà còn ủng hộ chúa thượng xưng vương. Công tử có lẽ đã nhìn ra, chúa thượng sớm đã có ý muốn xưng bá thiên hạ, chẳng qua là không nói ra mà thôi. Nếu công tử thuận theo ý muốn của chúa thượng, giúp chúa thượng thành tựu vương nghiệp, sẽ trở thành trọng thần khai quốc, công lao sánh ngang Chu Công, Thiệu Công, ghi danh sử sách muôn đời. Chúa thượng xưng vương, công tử tự khắc sẽ được quy công phong hầu, cao thì có thể được ngôi thái tử, kế thừa đại nghiệp: thấp thì cũng sánh ngang với Triệu Hầu, Hàn Hầu! Đây là đại lợi trăm năm khôn gặp!”

Trần Chẩn nói xong, công tử Ngang hít sâu một hơi, vòng tay nói: “Trần huynh đúng là kỳ tài có một không hai, Ngụy Ngang xin thụ giáo!”

Trần Chẩn cũng vòng tay đáp lễ, nói: “Hạ quan chẳng qua là kẻ thất phu, còn phải cần cậy nhờ công tử cất nhắc.”

Công tử Ngang bật cười ha hả: “Trần huynh yên tâm, ta và huynh kết giao nhiều năm, tất nhiên có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia.”

“Cảm tạ công tử nâng đỡ. Buổi chiều hạ quan có gặp một người trên đường, hai bên trò chuyện rất tâm đầu ý hợp. Khi nhắc tới tài năng của công tử, người này vô cùng ngưỡng mộ, tỏ ý muốn bày một bữa rượu nhạt ở lầu Nguyên Hanh, mong được kết giao với công tử, không biết ý công tử thế nào?”

“Ồ, lầu Nguyên Hanh ư? Nghe nói ở đó vừa có quốc sắc thiên hương, lại có thức ngon rượu ngọt, bản công tử cũng đang muốn tới đó xem thử. Nhưng uống rượu cũng phải uống cho rõ ràng, bản công tử thực sự muốn biết người nào có nhã ý tốn kém như vậy?”

Trần Chẩn nói khẽ: “Công Tôn Ưởng!”

Công tử Ngang sững lại, ngẩng nhìn Trần Chẩn, một lát sau, mới bật cười vang “Không tốn tiền rượu, tội gì không đi!”

Ngay ngày hôm đó, trời vừa sẩm tối, xe ngựa của công tử Ngang, Trần Chẩn đã đỗ xịch trước lầu Nguyên Hanh. Hai người bước vào bên trong, ông chủ Lâm tất tả chạy ra nghênh đón, đưa lên nhã thất tầng hai. Công Tôn Ưởng và Sư Lý Tật đã đợi sẵn ở đó. Sau một hồi hàn huyên, Trần Chẩn gọi người bưng rượu và đồ ăn lên, Công Tôn Ưởng tay cầm bình rượu, đích thân rót liền ba chén cho công tử Ngang, rồi lần lượt nâng lên mời.

Công tử Ngang cũng không khách khí, uống liền một mạch ba chén, Công Tôn Ưởng lại rót thêm một chén nữa, tiếp tục nâng lên. Công tử Ngang đưa tay đỡ lấy, rồi nói: “Đại lương tạo, ba người các vị chưa động đến một giọt, bản công tử đã uống liền ba chén, lại còn rót tiếp, Nguyên do là đâu?”

“Đương nhiên là có nguyên do!” Công Tôn Ưởng cười vang rồi nói. “Ba chén rượu đầu, chén thứ nhất là Công Tôn Ưởng thay Tần Công kính công tử. Chén thứ hai là Công Tôn Ưởng thay điện hạ nước Tần kính công tử. Chén thứ ba là Công Tôn Ưởng thay ba trăm tám mươi vạn người dân nước Tần kính công tử. Chỉ có chén rượu này mới thực sự là Công Tôn Ưởng kính thượng tướng quân!”

Công tử Ngang khựng lại một thoáng, rồi từ chối: “Lý do của đại lương tạo không thoả đáng, nên phạt một chén!”

“Thượng tướng quân, vì sao lại nói vậy?”

“Chúng ta ở đây uống rượu, chẳng liên quan gì tới Tần Công, điện hạ nước Tần và bách tính nước Tần, hà cớ gì họ phải kính rượu?”

“Sao lại nói không liên quan? Nếu không phải thượng tướng quân đã động lòng trắc ẩn vào thời khắc quan trọng cuối cùng, thì nước Tần vài hôm nữa hẳn sẽ trở thành một trường đổ nát, xác chết ngổn ngang. Đại công đại đức như vậy, đừng nói là ba chén rượu, dù dựng bia công đức bằng vàng ròng cũng là xứng đáng!”

Nghe được lời này, công tử Ngang bỗng cảm thấy trong lòng rạo rực, bèn cướp lấy bình rượu, rót một chén cho Công Tôn Ưởng, nói: “Được Tần Công, điện hạ và bách tính nước Tần xem trọng, thực sự khiến bản công tử cảm thấy áy náy. Bản công tử hồi kính một chén, mời đại lương tạo thay họ nhận giúp.”

Công tử Ngang hai tay nâng chén rượu, Công Tôn Ưởng đỡ lấy, chạm chén với công tử Ngang, rồi cùng uống cạn.

Rượu hơn chục tuần, bốn người công tử Ngang, Trần Chẩn, Công Tôn Ưởng và Sư Lý Tật đều đã ngà ngà say. Chủ quán Lâm cho gọi nhạc công và vũ nữ lại biểu diễn mua vui.

Công Tôn Ưởng đầu lưỡi đã hơi tê dại, song vẫn nâng chén: “Từng nghe, thượng tướng quân thịnh nộ cả thiên hạ kinh tâm, hôm nay gặp mặt mới biết câu này quả không sai. Xin mời, Công Tôn Ưởng lại kính thượng tướng quân một chén!”

Công tử Ngang lưỡi cũng đã cứng lại, song vẫn nâng chén mà nói: “Đại lương tạo đã quá khen Ngụy Ngang rồi!”

“Người khen ngợi thượng tướng quân không phải Công Tôn Ưởng, mà là Tần Công!”

“Ồ!” Công tử Ngang ngạc nhiên. “Tần Công nói thế nào kia?”

Công Tôn Ưởng vẻ trịnh trọng: “Trong thiên hạ hiện nay, Tần Công khâm phục nhất chỉ có một người, chính là thượng tướng quân đây!”

“Đại lương tạo không nói quá đấy chứ?”

“Lời Ưởng nói đều là sự thực. Có một hôm, Ưởng đang ngồi bàn quốc sự với Tần Công, đột nhiên Tần Công hỏi Ưởng, có biết Ngụy Hầu dựa vào đâu mà hùng bá thiên hạ chăng? Ưởng suy nghĩ hồi lâu mà không biết trả lời ra sao. Tần Công nói, muốn hùng bá thiên hạ, trước hết ở nhân tài. Sở dĩ Ngụy Hầu độc chiếm thiên hạ, là vì bên cạnh có hai đại nhân tài. Một người là công tử Ngang, có thể coi là hào kiệt đương thế; một người là Trần Chẩn, có thể coi là anh tài đương đại.”

Công tử Ngang sắc mặt sáng bừng, tinh thần rạng rỡ: “Nghe nói Tần Công con mắt tinh đời, xem ra lời đồn quả không sai. Được, chén rượu này Ngụy Ngang xin uống!” Nói xong đỡ lấy chén rượu, một hơi uống cạn.

Công Tôn Ưởng liếc nhìn một mỹ nữ đang nhảy múa bên cạnh, nửa đùa nửa thực mà nói: “Tự cổ anh hùng yêu mỹ nữ, thượng tướng quân đây xét về hùng tài võ lược đương nhiên không cần phải bàn, không biết về phần mỹ sắc…”

Trần Chẩn mỉm cười nói: “Công Tôn huynh có điều không biết, thượng tướng quân ngoài tài võ lược, còn có hai kỳ tài nữa, một là tửu, hai là sắc!”

Công Tôn Ưởng buột miệng nói: “Ồ! Tại hạ tửu lượng tuy tệ, song rất hiếu sắc. Đáng tiếc là, tại hạ chỉ hiếu sắc mà không am hiểu sắc. Hôm nay may mắn gặp thượng tướng quân đây, mong thượng tướng quân chớ tiếc công dạy bảo!”

“Xin đại lương tạo chớ chê cười Ngụy Ngang!” Công tử Ngang vòng tay khách sáo một câu, rồi bắt đầu thao thao bất tuyệt: “Nếu nói về mỹ nữ trong thiên hạ, đương nhiên mỗi nơi có đặc sắc riêng. Nhìn chung, gái Sở hát hay, gái Triệu múa giỏi, gái Tề hiền thục, gái Yên đa tình, gái Hồ kiều mỵ…”

Công Tôn Ưởng gật đầu tán thành: “Khâm phục, khâm phục! Thượng tướng quân đúng là người sành sỏi. Vậy còn gái Ngụy và gái Tần thì thế nào?”

“Gái Ngụy ngắm lâu lại không thấy có gì đặc sắc. Còn gái Tần, ta chỉ dùng hai chữ, tuyệt diệu!”

Công Tôn Ưởng nghe tới đây, bật cười mà nói: “Công tử nói đùa rồi. Tại hạ sống ở đất Tần hơn chục năm, chưa nhận ra gái Tần có điểm nào tuyệt diệu!”

“Gái Tần tuyệt diệu, vì gái Tần khó cầu!”

Công Tôn Ưởng vừa cười vừa hỏi Sư Lý Tật: “Ngũ đại phu, Ưởng là người Vệ, không hiểu đất Tần. Ngũ đại phu là dân Tần chính gốc, hãy nói thử xem, gái Tần quả thực khó cầu lắm ư?”

Sư Lý Tật cười nói: “Sư Lý Tật từ thuở cha sinh mẹ đẻ sợ nhất là đàn bà, đến nhìn còn không dám, nói gì tới cầu?”

Công tử Ngang chỉ tay vào Sư Lý Tật, cười ha hả mà nói: “Thế nào, bản công tử nói không sai chứ! ‘Thi’ viết rằng: ‘Lau xanh ngăn ngắt, móc trắng làm sương. Người ta nói tới, cách dòng một phương. Ngược dòng tìm mãi, trắc trở đường trường’.(2) Bài này thuộc ‘Tần phong’, chẳng phải ý nói gái Tần khó cầu ư?”

Công Tôn Ưởng lại bật cười mà nói: “‘Người ta nói tới’, chắc hẳn là chỉ công tử đấy thôi. Con gái Tần dù có tâm tìm đến, e rằng cũng chỉ ‘trắc trở đường trường’ mà thôi!”

Công tử Ngang lờ đờ đôi mắt ngà ngà: “Công Tôn huynh đã nói vậy, bản công tử sẽ mở miệng cầu thật đấy!”

“Nếu có ai lọt vào mắt xanh công tử, tại hạ xin dốc lòng trợ giúp!”

Công tử Ngang nhìn sang bên cạnh, phẩy nhẹ tay một cái, đám nhạc công, vũ nữ lập tức lui ra hết. Công tử Ngang hơi ngả người về phía trước, hạ thấp giọng nói: “Thiên hạ đồn rằng, trên đời có hai bậc tuyệt sắc giai nhân, Công Tôn huynh đã từng nghe nói tới chưa?”

Công Tôn Ưởng cũng ngả người lại gần: “Tại hạ kiến thức nông cạn, xin công tử nói rõ!”

“Một người là công chúa nhà Chu, tên gọi Cơ Tuyết, nghe nói dung nhan chim sa cá lặn. Còn người kia là công chúa nước Tần, tên gọi Tử Vân, tương truyền nhan sắc tuyệt trần, hoa nhường nguyệt thẹn!”

Công Tôn Ưởng thầm kinh hãi trong lòng, song ngoài miệng vẫn nói: “Nghe lời công tử, lẽ nào đối với Tử Vân công chúa…”

Công tử Ngang vội vòng tay vái mà nói: “Đại lương tạo giúp được việc này, Ngụy Ngang tất có hậu báo!”

Công Tôn Ưởng đảo mắt, rồi cười ha hả mà nói: “Anh hùng biết mỹ nhân, mỹ nhân sánh anh hùng. Thượng tướng quân đã ưng Tử Vân công chúa, việc này cứ để Công Tôn Ưởng lo liệu.”

Công tử Ngang trong lòng thấp thỏm: “Không biết Tần Công…”

Công Tôn Ưởng lại cười lớn mà nói: “Tần Công có được rể tốt như thượng tướng quân đây, không biết sẽ vui mừng tới mức nào. Công tử yên tâm, đợi tại hạ tìm được cơ hội sẽ xin bệ hạ cho kết thông gia. Chỉ cần bệ hạ đồng ý, Công Tôn Ưởng Nguyện làm mai mối giúp công tử!”

Công tử Ngang đứng dậy, khấu đầu bái tạ: “Ngụy Ngang cảm tạ đại lương tạo giúp đỡ!”

Trên đường trở về dịch quán, Sư Lý Tật nhìn Công Tôn Ưởng, sắc mặt hết sức băn khoăn: “Công tử Ngang chơi bời nức tiếng, là phường vô dụng bất tài, vậy mà đại lương tạo còn hứa giúp hắn thành thân với Tử Vân công chúa, chẳng khác nào đem hoa nhài cắm bãi phân trâu!”

Công Tôn Ưởng khẽ thở dài một tiếng: “Việc này quả thực cũng là bất đắc dĩ!”

Sư Lý Tật càng nghe càng không hiểu: “Bất đắc dĩ?”

“Công tử Ngang đối với Ngụy là đồ vô dụng, song đối với Tần lại là bảo bối trời ban!”

Sư Lý Tật càng kinh ngạc hơn: “Bảo bối trời ban?”

Công Tôn Ưởng khẽ gật đầu.

Sư Lý Tật vò đầu bứt tóc hồi lâu mới nói: “Theo hạ quan được biết, công tử Ngang tiếng là thượng tướng quân, song trong tay lại không nắm thực quyền, ba quân tướng sĩ hầu như đều nằm trong tay Long Giả và Bùi Anh. Chức thượng đại phu lại càng là hư danh, tất cả quyền bính trong triều đều do Bạch tướng quốc nắm giữ.”

Công Tôn Ưởng cười nói: “Ngươi chỉ nhìn được bấy nhiêu thôi sao? Ngụy Anh đa nghi, thực quyền trong cung Ngụy trên danh nghĩa là do quyền thần Bạch Khuê, Long Giả nắm giữ, song kỳ thực đều thâu tóm cả trong tay ông ta. Trong lòng Ngụy Anh, xem ra nói lọt tai chỉ có Trần Chẩn, dùng thuận tay chỉ có công tử Ngang. Hai người này một trái một phải, một văn một võ, vừa hay là hai cánh tay trợ giúp đắc lực bên Ngụy Anh. Hai người này nếu dùng được cho ta thì Ngụy Anh có không muốn nghe cũng phải thuận theo.”

Sư Lý Tật vô cùng khâm phục: “Đại lương tạo quả có con mắt nhìn xa trông rộng, hạ quan thán phục! Song hạ quan lo rằng, liệu hai kẻ đó có thực sự nghe theo ta không?”

Công Tôn Ưởng cười tủm tỉm: “Nói thế này đi, chúng giống như hai con chó, chỉ cần chúng ta liên tục ném xương cho chúng, ngươi nói thử xem, liệu chúng có ngoan ngoãn nghe lời ta không?”

Sư Lý Tật sửng sốt: “Ném xương? Xương gì?”

Công Tôn Ưởng cười vang: “Thứ xương này, chúng ta cần phải cân nhắc kỹ càng!”

Hai người Công Tôn Ưởng vừa rời đi, Trần Chẩn bèn bố trí cho công tử Ngang sang một nhã phòng khác, dặn dò Thích Quang: “Hôm nay thượng tướng quân gặp may, ngươi bảo ông chủ Lâm sắp xếp hai tay chơi đến bồi tiếp thượng tướng quân vui chơi thoả thích!”

Thích Quang vâng một tiếng, rồi lui ra ngoài sắp xếp. Nhìn thấy trong phòng không còn ai, Trần Chẩn cười nói với công tử Ngang: “Thượng tướng quân, người đi nước cờ này quả nhiên tuyệt diệu!”

Công tử Ngang ngạc nhiên nhìn Trần Chẩn: “Nước cờ nào kia?”

Trần Chẩn lại cười, chậm rãi nói: “Nước cờ vừa rồi! Thượng tướng quân xem, một câu nói vu vơ, không những có được người đẹp, mà còn kết thân được với Tần Công. Thượng tướng quân có được Thái Sơn là Tần Công, thiên hạ liệt quốc còn ai không ngưỡng mộ?”

Công tử Ngang sực tỉnh, vội vòng tay vái: “Nói tới chuyện này, thực sự phải cảm tạ người mai mối là ông.”

Trần Chẩn nghe được câu này, không bỏ lỡ thời cơ, lập tức tiếp lời: “Nếu đúng thượng tướng quân muốn ban thưởng cho hạ quan, xin ban thưởng thứ gì thực dụng một chút!”

“Thượng đại phu muốn gì, xin cứ nói thẳng!”

Trần Chẩn thở dài một tiếng rồi nói: “Hạ quan không biết vì cớ gì mà đắc tội với Bạch tướng quốc, chỗ nào cũng bị tướng quốc chèn ép. Hạ quan trong lòng không cam chịu, song chức thấp lời mọn, có oán hờn cũng không biết bày tỏ cùng ai.”

Công tử Ngang gật đầu nói: “Thượng đại phu nói rất đúng. Một là lão Bạch Khuê, hai là lão Long Giả, trong triều sớm tối lượn lờ hai chòm râu trắng ấy, sao chẳng ấm ức bực bội?”

Trần Chẩn liếc nhìn công tử Ngang, lại thở dài một tiếng: “Hiện tại chúa thượng chỉ nghe lời hai người họ, dù hạ quan và thượng tướng quân muốn thi triển tài năng, cũng khó lắm thay!”

Công tử Ngang trầm ngâm một lúc, rồi nói: “Lão Bạch Khuê chiếm chỗ mà chẳng làm được cái thá gì, vị trí tướng quốc của lão có lẽ sắp kết thúc được rồi!”

Trần Chẩn lại thở dài thườn thượt: “Kết thúc cũng có ích gì? Hạ quan nghe nói tướng quốc sớm đã tìm được người thay thế!”

Công tử Ngang ngạc nhiên hỏi: “Ai?”

“Chu Uy!”

“Ông nói là Chu tư đồ ư?” Công tử Ngang bật cười. “Sao có thể là ông ta được? Trong mắt bản công tử, vị trí này chỉ có một người thích hợp, chính là thượng đại phu Trần Chẩn!”

Trần Chẩn khấu bái sát đất: “Hạ quan khấu tạ ân đức tái sinh của công tử!”

Công tử Ngang kéo Trần Chẩn đứng dậy: “Đứng lên! Đứng lên! Sao ông phải làm như vậy? Bản công tử còn có một chuyện muốn hỏi ông!”

“Thượng tướng quân có gì chỉ bảo, hạ quan xin được phụng mệnh!”

“Buổi chiều ông có nói tới chuyện xưng vương, có thực quân phụ muốn như vậy không?”

“Chúa thượng có ý đó hay không, hạ quan xin kể ra một chuyện, thượng tướng quân nghe xong khắc biết. Vào ngày tế cờ, sau khi thượng tướng quân rời đi, hạ quan cũng cáo lui. Chúa thượng đã giữ hạ quan lại, kể với hạ quan rằng trong khi ngủ gật, mơ thấy Chu thiên tử khoe khoang vương phục trên người. Sau đó, chúa thượng hào hứng bàn về các loại vương phục với hạ quan, phê phán nghi lễ Chu thất rườm rà phức tạp.”

Công tử Ngang ngẩn ra: “Vậy thì sao? Quân phụ xưa nay luôn chê bai nghi lễ Chu thất rườm rà. Những lời phê phán kiểu này, bản công tử đã nghe nhiều lần rồi!”

“Xin thượng tướng quân nhớ lại một chi tiết!” Trần Chẩn tiến lên trước một bước. “Hôm đó Công Tôn Ưởng vào triều, mở miệng đã gọi ‘bệ hạ’, rõ ràng là lời nói của loạn thần tặc tử, song chúa thượng lại không hề trách cứ, chỉ trách ông ta không hiểu lễ nghi. Sau đó, Công Tôn Ưởng hết lời ủng hộ chúa thượng xưng vương, chúa thượng ngoài miệng phản đối, song trong lòng lại rất vui vẻ.”

“Đã như vậy, vì sao quân phụ lại chọn hắn làm vật tế cờ vào ngày hôm đó?”

“Đó chính là vì thượng tướng quân! Tướng quân là người chúa thượng coi trọng, hôm đó thượng tướng quân một lòng muốn trị tội Công Tôn Ưởng, chúa thượng còn nói gì được nữa? Hơn nữa, doạ Công Tôn Ưởng một chút, cũng là ý muốn của chúa thượng. Vì người này, vài năm qua chúa thượng đã phải chịu không biết bao nhiêu muộn phiền, cũng phải nhân dịp để trút bỏ bực bội trong lòng!”

Công tử Ngang cười nói: “Suy nghĩ của quân phụ, ông đều thấu hiểu đến chân tơ kẽ tóc!”

Trần Chẩn cũng cười: “Thượng tướng quân nếu không tin, cứ thử khắc biết!”

“Thử như thế nào?”

“Chúa thượng chẳng phải mơ thấy vương phục ư? Hạ quan sẽ sai người may cho chúa thượng một bộ vương phục, nếu chúa thượng không mặc, cho thấy chúa thượng không có ý này. Còn nếu chúa thượng mặc…” Nói tới đây, Trần Chẩn chỉ cười hì hì.

Công tử Ngang ngẫm nghĩ một lát rồi gật đầu nói: “Được, cứ làm theo ý ông!”

***

Trên phố Tây Nhai thành An Ấp, ở gần ngã rẽ có một tiệm may. Ông chủ tiệm may tên gọi Bàng Hành, vợ mất sớm để lại một đứa con trai, tên là Bàng Quyên. Bàng Hành một lòng muốn truyền lại tuyệt kỹ cắt may cho con trai, nào ngờ Bàng Quyên lại chẳng để tâm tới kéo thước vải vóc, chỉ hứng thú với giáo mác côn đao. Thấy con trai sớm đã qua tuổi đội mũ(3) trong lòng Bàng Hành ngày càng lo lắng.

Buổi trưa hôm nay, nhìn thấy Bàng Quyên tay cầm kiếm nhăm nhăm lẻn ra ngoài, Bàng Hành gọi con lại, cầm kéo, thước lên, vẻ mặt rầu rĩ nói: “Quyên Nhi, con chẳng chú tâm tới kỹ nghệ nhà ta, từ sáng tới tối lúc nào cũng thấy khua đao múa giáo. Chỉ nghe nói người múa giáo chết dưới giáo, người múa đao chết dưới đao, chưa nghe ai nói thợ may chết dưới đường kim mũi chỉ. Con thử nghĩ xem, đã là người thì không thể để mình trần. Chỉ cần người ta không để mình trần, nghề may vẫn có thể kiếm cơm. Chỉ cần con giỏi nghề, tự khắc có danh tiếng. Chẳng nói đâu xa, trong cả An Ấp này, không ai không biết tới danh tiếng của cha con. Đó là vì sao? Bởi tay nghề của cha con rất khéo. Con biết đấy, ngay cả Chu thiên tử…”

Bỗng thấy Bàng Quyên mở to mắt, ngoảnh nhìn ra cửa, Bàng Hành nghiêm giọng quát: “Quyên Nhi!”

“Cha!” Bàng Quyên chỉ tay ra cửa, cười hì hì mà nói. “Có mối làm ăn tới kìa!”

Bàng Hành quay người nhìn ra, thì thấy quan hộ viện La Văn của phủ thượng đại phu đang bước vào. La Văn nhiều hơn Bàng Quyên vài tuổi, có quen biết Bàng Hành, thường giới thiệu mối làm ăn cho ông ta. Nhìn thấy khách quen, Bàng Hành lập tức bỏ Bàng Quyên, đon đả nghênh đón: “La Văn đấy ư? Sao hôm nay cậu lại phải đích thân tới tận đây thế?”

Bàng Quyên chớp thời cơ, xách kiếm chuồn luôn khỏi cửa. Bàng Hành phát giác ra, quát to: “Quyên Nhi, lại đi đâu đấy?”

Bàng Quyên vừa rảo bước vừa ngoảnh đầu đáp: “Cha, hai người cứ bàn chuyện làm ăn đi, con đi hóng mát một chốc, sẽ về ngay!”

Bàng Hành điên ruột, đang định lớn tiếng rày la thì La Văn ngăn lại: “Chú Bàng, cứ để cậu ấy đi, vãn sinh muốn bàn với chú một chuyện, có cậu ta ở đây cũng không tiện.”

Bàng Hành cười hỏi: “Chỉ là chuyện làm ăn, sao lại ra vẻ bí hiểm đến thế?”

La Văn chậm rãi nói: “Trong phủ muốn nhờ chú Bàng làm giúp một việc lớn!”

Bàng Hành phì cười mà nói: “Ngoại trừ chuyện may vương phục, trong thiên hạ đâu còn việc gì lớn cho một thợ may nữa?”

“Chú Bàng, có phải việc lớn hay không vãn sinh không dám chắc. Có điều, vãn sinh nghe lão quản gia nói, nếu chú Bàng làm tốt, trong phủ sẽ trả công gấp đôi!”

Bàng Hành lại cười: “Thế ư? Cậu nói xem, là việc lớn gì thế?”

“Cụ thể thế nào, vãn sinh cũng không rõ. Lão quản gia muốn chú đích thân đến phủ một chuyến!”

Bàng Hành suy nghĩ một lát rồi thu dọn qua loa cửa hàng, mang theo thước da, đóng cửa, đi theo La Văn tới phủ thượng đại phu. Hai người rẽ tới rẽ lui, tới trước một khu nhà nhỏ. Khi sắp tới cổng, La Văn dừng bước, khẽ căn dặn: “Chú Bàng, lão quản gia tính khí nóng nảy, chớ nên thất lễ!”

Bàng Hành không hiểu, nói huỵch toẹt: “Chỉ là một quản gia mà thôi, có gì mà thất lễ?”

La Văn suỵt khẽ một tiếng, vẻ mặt hết sức căng thẳng: “Chú Bàng chớ nói những lời như vậy! Nếu làm lão quản gia tức giận, không những việc làm ăn đổ bể, mà sống cũng không yên thân đâu!”

Bàng Hành cười nói: “Yên tâm đi, chú Bàng đây cũng hiểu chút lễ nghĩa!”

Hai người bước vào phòng, Thích Quang đã đợi sẵn ở đó. La Văn bước vào trước, quỳ xuống bái lạy: “Bẩm lão quản gia, tiểu nhân đã mời Bàng sư phụ tới!”

Thích Quang ngồi ngay ngắn trên đất, không buồn ngẩng đầu lên, nói: “Mời vào!”

Bàng Hành bước vào, liếc nhìn Thích Quang, thấy người này quả là ngạo mạn, chỉ hơi vòng tay cúi đầu mà nói: “Bàng Hành phố Tây Nhai xin chào gia lão!”

Thích Quang thấy Bàng Hành không lạy chào, sầm ngay mặt xuống, lia ánh mắt sắc như lưỡi kiếm nhìn ông từ đầu tới chân, rồi lạnh lùng hỏi: “Bàng sư phụ, Thích mỗ nghe La Văn nói, năm xưa Bàng sư phụ từng tới Chu thất may vương phục cho Chu thiên tử, có chuyện đó không?”

Bàng Hành không e dè cũng không kiêu ngạo, trả lời rành rọt: “Hồi bẩm gia lão, hai mươi năm trước tiểu dân từng là phùng nhân của Đại Chu.”

Thích Quang ra vẻ chưa nghe rõ, hỏi lại: “Phùng nhân của Chu thất? Là thợ may ư?”

“Không, là phùng nhân!”

“Thế nào là phùng nhân?”

“Phùng nhân là quan đại phu của Đại Chu, chuyên may vương phục cho Chu thất.”

Thích Quang bỗng bật ra một tràng cười sằng sặc, cười đã rồi liền hơi vòng tay hướng về phía Bàng Hành, cất giọng châm chọc: “Hoá ra sư phụ Bàng từng là đại phu của Đại Chu cơ đấy, thảo dân Thích Quang thất kính, thất kính!”

Bàng Hành mặt hơi đỏ lên, cúi đầu không nói. Thích Quang tiếp tục xếch mé: “Bàng sư phụ đã là phùng nhân của Đại Chu, chắc hẳn có biết may các loại trang phục của thiên tử chứ?”

Bàng Hành hít vào một hơi, chậm rãi nói: “Hiển nhiên! Các loại trang phục của thiên tử, Bàng Hành tôi không kiểu nào không biết!”

“Tốt lắm!” Thích Quang gật đầu nói. “Bàng phùng nhân, Thích mỗ muốn ông may cho ba bộ triều phục của thiên tử, một bộ biền phục, một bộ ti phục, một bộ ma phục, gồm đủ vương miện, giày hia, đai lưng, không được thiếu món nào, phải đủ tất cả mới tính là một bộ! Thích mỗ nghe nói, tiền công của một bộ trang phục như vậy thường là ba lượng vàng. Thích mỗ đã nói là làm, sẽ trả ông sáu lượng vàng, ba bộ tổng cộng mười tám lượng vàng. Nếu ông làm tốt, đảm bảo cuộc sống sau này sẽ vô cùng sung túc. Còn nếu làm không tốt…” Ánh mắt Thích Quang sắt lại, rồi không nói thêm gì nữa.

Bàng Hành cười nhạt nói: “Gia lão yên tâm, nếu là may vương phục, Bàng Hành sẽ may chuẩn xác không sai một ly một lai.”

Thích Quang lại cười lạnh lùng: “Không sai thì tốt! Bắt đầu từ hôm nay, Bành phùng nhân không được đi đâu nửa bước, chỉ được ở trong bản phủ. Cần thứ gì, người trong phủ sẽ lo liệu hết, ông cứ kê ra những vật liệu cần dùng! Đây là số đo!” Nói xong, liền lôi từ trong ống tay áo ra một tấm thẻ tre ném xuống đất.

Bàng Hành trong lòng kinh hãi, nhìn chằm chằm vào tấm thẻ tre trên đất, nhưng không cúi xuống nhặt lên. La Văn bước lại, nhặt tấm thẻ tre, nâng trên hai tay đưa cho Bàng Hành. Bàng Hành nhận lấy, nhìn qua một lượt rồi trả lại tấm thẻ tre cho La Văn, vòng tay hướng về phía Thích Quang nói: “Gia lão, thứ lỗi cho Bàng Hành vô lễ. Mấy bộ triều phục này, tiểu nhân không may được!”

Thích Quang kinh ngạc hỏi: “Ông không biết may ư?”

Bàng Hành lắc đầu: “Không phải không biết may, mà không thể may!”

Thích Quang càng kinh ngạc: “Tại sao không thể may?”

Bàng Hành lại liếc nhìn tấm thẻ tre, rồi nói lớn: “Bởi số đo trên thẻ không phải là của Chu thiên tử!”

Thích Quang giật mình: “Sao ông biết?”

“Chu thiên tử thân cao sáu thước chín, số đo này lại là bảy thước bảy, chênh nhau tám tấc! Ngoài ra kích thước ngực, eo, vai, bàn chân đều không khớp, Bàng Hành sao lại không biết?”

“Số đo đúng hay không, có can hệ gì?”

“Bẩm gia lão, nếu may vương phục cho thiên tử Đại Chu, Bàng Hành lập tức làm ngay. Còn nếu không phải cho thiên tử Đại Chu, Bàng Hành khó mà tuân lệnh!”

Thích Quang bật cười một tràng dài, cười xong liền thủng thẳng nói: “Ta lại cứ tưởng ông ba hoa nhăng cuội, tới lúc phải làm thật thì sợ rụt cổ lại, không ngờ lại là vì lý do này!” Ngừng lại một lát, sắc mặt trở nên hung dữ. “Họ Bàng kia, giờ đây ngươi đã không còn là phùng nhân của Đại Chu, chỉ là một tên thợ may quèn! Đã là thợ, tự khắc có quy định của thợ, ta trả công cho ngươi, ngươi bán nghề cho ta, hà cớ phải nhiều lời thừa thãi?”

Song Bàng Hành không phải người dễ khuất phục, nên chỉ mỉm cười, lạnh lùng nói: “Gia lão, dù là thợ, cũng là thợ của thiên tử Đại Chu.”

Thích Quang cười nhạt: “Nói như vậy, tức là ngươi nhất quyết không làm?”

“Ngoài thiên tử Đại Chu, Bàng Hành không may vương phục cho bất cứ người nào khác!”

Thích Quang lập tức thu nét cười lại, liếc mắt sang La Văn. La Văn rùng mình ớn lạnh, vội bước lên trước, hạ giọng thì thầm khuyên nhủ: “Chú Bàng, Thích gia bảo chú làm thì chú cứ làm đi!”

Bàng Hành nhìn La Văn, lắc đầu nói: “La Văn, không phải chú Bàng không làm, là chú Bàng không thể làm!”

Thích Quang nở một nụ cười nham hiểm, rồi gầm lên thật lớn: “Người đâu!”

Từ ngoài cửa chạy xộc vào vài hán tử to cao vạm vỡ. Thích Quang đưa mắt về phía họ, chỉ vào Bàng Hành nói:

“Đây là Bàng sư phụ ở phố Tây Nhai, chúa công mời ông ta tới may mấy bộ y phục, các ngươi nhớ hầu hạ cho tốt! Nếu Bàng sư phụ có gì sơ sảy, cẩn thận đầu của các ngươi!”

Cả đám đồng thanh đáp: “Tuân lệnh!”

Bàng Hành mặt giận tái xanh, lớn tiếng quát: “Giữa thanh thiên bạch nhật, trời đất sáng quang, mà các người dám… Mau thả ta ra!”

Thích Quang trừng mắt nhìn Bàng Hành, rồi sải bước đi luôn. La Văn vốn là người tốt bụng, không ngờ sự việc lại thành ra nông nỗi này, đứng ngẩn tò te tại chỗ, một lát sau mới định thần, hấp tấp chạy ra, đuổi theo Thích Quang, khẽ giọng cầu xin: “Thích gia… Thích gia…”

Thích Quang dừng bước, quay lại nhìn La Văn: “Trong nhà họ Bàng còn có ai không?”

La Văn hơi khựng lại: “Bẩm Thích gia, trong nhà chú Bàng không còn ai, chỉ có một cậu con trai mà thôi.”

“Ồ!” Ánh mắt Thích Quang sáng rỡ. “Hắn thế nào?”

“Cậu ta tên là Bàng Quyên, đã qua tuổi đội mũ!”

Thích Quang trầm ngâm một lát, cười nham hiểm rồi gật đầu nói: “Được, ngươi nói hay lắm!”

La Văn rùng mình ớn lạnh, lắp bắp hỏi: “Thích… Thích gia hỏi… hỏi Bàng… Bàng Quyên có việc gì?”

Thích Quang lừ mắt nhìn La Văn, đanh giọng mắng: “Thích gia ta muốn hỏi gì, ngươi bất tất phải xen vào!” Nói xong, lập tức quay người, phẩy tay áo bước đi.

La Văn đứng sững sờ hồi lâu mới từ từ ngồi thụp xuống, đập nắm đấm vào đầu than thở. Ngồi một lát, bỗng sực nhớ ra một chuyện, liền đứng bật dậy co cẳng chạy vội ra ngoài.

La Văn chạy liền một mạch tới nhà họ Bàng, nhìn thấy cửa chính vẫn khoá, hiển nhiên là Bàng Quyên chưa về. La Văn suy nghĩ một lát, lại quay người chạy đi.

Lại nói về Bàng Quyên, sau khi lẩn khỏi nhà, bèn ra khỏi cổng thành bắc, đi thẳng tới cánh rừng ngoại ô, tìm đến một khu đất rộng rãi. Sau khi luyện qua một lượt vài bài quyền pháp và kiếm pháp mới học được từ một phường võ ở Bắc Nhai, cảm thấy hài lòng, bèn quay về thành, định tới thăm sư phụ. Không ngờ vừa bước chân vào phố Bắc Nhai, đã bị một kẻ xông ra chặn đường.

Kẻ này mình hổ lưng gấu, cao to lực lưỡng, song khoé mắt bên phải hơi xếch lên, khiến người khác nhìn vào đã thấy khó ưa. Bàng Quyên vòng tay hành lễ, đang định hỏi duyên do thì người này đã rút soạt kiếm ra, đặt ở bên đường, thủ thế giữa phố, nhìn bộ dạng này, rõ ràng là muốn thi thố với Bàng Quyên.

Thời bấy giờ võ thuật thịnh hành, các đường phố trong thành An Ấp đều có võ quán, đấu võ giữa đường lại càng là chuyện bình thường. Bàng Quyên mỉm cười, cũng không nói gì, tháo bỏ bảo kiếm, hơi vòng tay thi lễ, rồi cũng thủ thế giống kẻ kia. Nhiều khách qua đường nhìn thấy có người tỉ võ, xúm đông xúm đỏ lại xem, không khí nhanh chóng trở nên náo nhiệt.

Hai người di chuyển vòng tròn, rình thế tấn công. Một lúc sau, Bàng Quyên chớp được sơ hở của đối phương, thình lình vung chân, tung cước đá thẳng vào bắp chân đối thủ. Kẻ kia đã đề phòng từ trước, liền đưa tay đỡ. Nào ngờ cước này chỉ là hư chiêu, khi sắp sửa đá đến nơi, đột ngột biến chiêu, quét đất phóng đi. Đối phương trọng tâm hạ thấp, không mảy may đề phòng, hứng trọn cú đá quét của Bàng Quyên, chỉ nghe “huỵch” một tiếng, đã ngã nhào xuống đất. Đám đông xung quanh hò la như sấm dậy.

Kẻ này như thể diều hâu lật mình, đứng bật trở dậy, lao thẳng tới Bàng Quyên, song Bàng Quyên đã tránh kịp. Hai người đòn qua miếng lại, nháy mắt đã đấu thêm vài hiệp nữa, Bàng Quyên lại chớp được thời cơ, quật ngã đối phương. Năm lần bảy lượt như vậy, đối phương bị quật ngã hết lần này đến lần khác, đã phải tâm phục khẩu phục, ôm quyền mà nói: “Nhân huynh võ nghệ cao cường, Đinh Tam bội phục!”

Bàng Quyên cũng ôm quyền đáp lễ: “Đinh huynh nhường nhịn, tại hạ Bàng Quyên mạo phạm, mong Đinh huynh lượng thứ!”

Đinh Tam cười nói: “Bàng huynh chớ nói vậy! Người mạo phạm phải là Đinh Tam mới phải. Thế này đi, giờ đã gần trưa, tại hạ muốn mời Bàng huynh chén rượu nhạt coi như tạ tội, mong Bàng huynh nể mặt!”

Bàng Quyên vốn người hào phóng, tuy thấy Đinh Tam tướng tá khó ưa, song nói năng hào sảng, trong lòng cũng thấy cảm mến vài phần, lập tức ôm quyển mà nói: “Bữa rượu hôm nay, tại hạ xin mời Đinh huynh!”

Đinh Tam tỏ vẻ không vui, cặp mắt tam giác lập tức xếch ngược lên, Bàng Quyên đành phải nhận lời. Lúc này đám đông đã giải tán, hai người bèn nhặt kiếm lên, Đinh Tam đi trước dẫn đường, tiến về phía lầu Nguyên Hanh.

Lầu Nguyên Hanh tuy gọi là tửu lầu, song kỳ thực là ổ bạc. Khai trương chưa đầy nửa tháng, đã có vài người trong thành An Ấp chỉ qua một đêm trở nên giàu có, nhưng mặt khác, vài hộ khác lại nhanh chóng khuynh gia bại sản. Hai loại tin đồn trái ngược này mau chóng lan truyền khắp nơi, tửu lầu đã trở thành đề tài bàn tán trong những lúc trà dư tửu hậu, người trong thành gần như không ai không biết.

Hai người bước vào đại sảnh, vừa tìm được chỗ ngồi vừa ý thì tiểu nhị đã lăng xăng chạy tới. Đinh Tam gọi đồ nhắm và một hũ rượu lâu năm. Đợi một khắc, vẫn chưa thấy rượu và đồ ăn mang lên, Đinh Tam liếc nhìn khách khứa ra vào tấp nập, nói: “Hôm nay đông khách quá, chắc rượu thịt của chúng ta chưa có ngay được đâu. Bàng huynh, chúng ta thử lên tầng trên xem sao!”

Bàng Quyên từ lâu đã nghe đồn trên lầu có sòng bạc, trần thiết rất đỗi xa hoa, nghe Đinh Tam hỏi vậy, cũng nảy lòng hiếu kỳ, không nghĩ ngợi gì nhiều, bèn đứng ngay dậy theo hắn lên lầu.

Đinh Tam có vẻ rất thông thạo nơi đây, bèn dẫn Bàng Quyên lên tầng trên. Bàng Quyên vui vẻ theo sau Đinh Tam, ngoặt trái rẽ phải vài lần, thì tới trước cửa một đại sảnh. Vừa nhìn, Bàng Quyên bỗng thấy trước mắt sáng loà, cảnh tượng lộng lẫy hoa quý chưa từng thấy bày ra trước mắt. Giữa đại sảnh là một bàn đánh bạc màu vàng sẫm rất lớn, vài công tử nhà giàu ăn mặc lịch sự ngồi quây quanh bàn, mỹ nữ nhà cái hai mắt lúng liếng, tay lắc xúc xắc dẻo quẹo. Hơn chục con bạc hoặc đứng hoặc ngồi, mắt mở trừng, nhìn chằm chằm như dán chặt vào con xúc xắc trong tay mỹ nữ.

Bàng Quyên ngó nghiêng một hồi, rồi hỏi Đinh Tam: “Ngồi quanh chiếu là những ai thế?”

Đinh Tam suỵt khẽ một tiếng, nói: “Nói nhỏ thôi, đều là nhân vật tầm cỡ cả đấy! Đã thấy chưa? Người mặc áo trắng ngồi ở giữa kia là Bạch công tử của phủ tướng quốc, người mặc áo màu xanh ngồi bên trái là Ngô công tử của phủ tư nông, còn người mặc áo tím bên phải là Lương công tử của phủ tư mã.”

“Đinh huynh, ta lại xem đi!”

Đinh Tam gật đầu. Hai người bước lại gần bên bàn, vừa dừng lại, hộp xúc xắc trong tay mỹ nữ nhà cái “cạch” một tiếng đã nằm yên trên bàn. Hộp được nhấc lên trong tiếng kêu ré của đám con bạc, Bạch công tử cười hả hê, rú lên: “Ha ha ha, bản công tử lại thắng nữa rồi!”

Ngô công tử, Lương công tử ngồi bên cạnh nét mặt lộ rõ vẻ tiếc nuối, đẩy số vàng trước mặt về phía Bạch công tử. Bàng Quyên liếc mắt nhìn, thấy vàng đã chất thành một đống lớn vàng rực, sáng loá phía trước Bạch công tử.

Ngô công tử lắc đầu than thở: “Bạch công tử, tại hạ không chơi nữa đâu. Hôm nay vận may không tới, nếu lại để thua nữa thì đến manh quần cũng chẳng còn mà về!”

Đám người cười ồ lên, mỹ nữ nhà cái mặt đỏ ửng, người mềm nhũn, ngả vào lòng Bạch công tử, thỏ thẻ: “Ngô thiếu gia, thiếu gia ăn nói đáng xấu hổ chưa kìa!”

Ngô công tử liếc nhìn mỹ nữ, cười hì hì mà nói: “Này Tiểu Đào Hồng, ngươi vừa gặp Bạch công tử, xương khớp toàn thân đã mềm nhũn hết lượt, đứng không vững nữa rồi phải không?”

Tiểu Đào Hồng “hứ” một tiếng về phía Ngô công tử, lại uốn éo mấy cái nữa trong lòng Bạch công tử, tiếp tục nũng nịu: “Ngô thiếu gia, tiểu tỳ biết miệng thiếu gia không bao giờ nói được lời tử tế. Thiếu gia còn nói nữa, tiểu tỳ không thèm nhìn đến thiếu gia nữa đâu!”

Lương công tử đứng cạnh đó cũng dang rộng hai tay, nói với Bạch công tử: “Bạch công tử hôm nay gặp vận đào hoa, đến thần bạc như ta đây cũng chịu lép vế, càng chơi càng thua.”

Bạch công tử nhẹ nhàng đẩy Tiểu Đào Hồng ra khỏi lòng, vòng tay hướng về phía Lương công tử: “Nhờ Lương công tử nhường nhịn, Bạch Hổ thực sự thấy hổ thẹn trong lòng, đâu dám nhận.”

Lương công tử đang định đáp lễ, bỗng nhìn thấy Đinh Tam và Bàng Quyên, liền chau mày hỏi: “Hai kẻ này là ai?”

Đám người nghe vậy, đều đồng loạt nhìn về phía họ.

Ngô công tử chỉ Đinh Tam nói: “Đây chẳng phải là tên lưu manh Đinh Tam ở phố Đông Nhai sao?”

Đinh Tam vội tươi cười tiến lại, quỳ xuống dập đầu nói: “Tiểu nhân Đinh Tam khấu kiến thiếu gia, khấu kiến các vị đại gia!”

Bàng Quyên không ngờ Đinh Tam khí phách kém cỏi đến thế, hừ mũi một tiếng, đang định bỏ đi thì Ngô công tử gọi: “Khách nhân, khoan đã!”

Bàng Quyên đứng hiên ngang tại chỗ, mắt nhìn thẳng vào Ngô công tử. Hai mắt giao nhau một lát thì Ngô công tử quay sang hỏi Đinh Tam: “Này tên lưu manh phố Đông Nhai kia, người này là bạn ngươi ư?”

Đinh Tam lại dập đầu: “Bẩm thiếu gia, người này chính là bạn của tiểu nhân, họ Bàng tên Quyên!”

Bàng Quyên lạnh lùng ném một cái nhìn về phía Đinh Tam, rồi nói dứt khoát: “Không, Bàng mỗ không hề quen biết hắn!”

Bàng Quyên vừa dứt lời, mọi người đều ngạc nhiên, Đinh Tam đứng bật ngay dậy, nói với Bàng Quyên: “Bàng huynh, huynh…”

Bàng Quyên lại hừ mũi một tiếng, cất giọng sang sảng: “Bàng Quyên không có loại bạn như ngươi!” Nói xong, liền quay người bỏ đi luôn.

Ngô công tử ngăn lại: “Khoan đã!”

Bàng Quyên dừng bước, từ từ quay người lại.

Ngô công tử ôm quyền nói: “Bàng công tử, tại hạ Ngô Đức Tài, dòng dõi quý tộc thế tập, gia phụ là đại tư nông đương triều. Vị này là Lương công tử của phủ tư mã đương triều, vị này là…” lại chỉ tay vào Bạch công tử, giọng nói càng ngạo nghễ, “chính là Bạch thiếu gia của phủ tướng gia đương triều! Xin hỏi Bàng công tử xuất thân ra sao?”

Bàng Quyên thấy hắn khoe khoang gia thế, hiểu rằng nơi đây không thích hợp để lộ thân phận, nên chỉ hừ khẽ một tiếng, quay người định bước đi. Đinh Tam vội vã bẩm báo: “Thưa thiếu gia, nhà Bàng huynh mở tiệm cắt may trên phố Tây Nhai, là công tử nhà thợ may Bàng.”

Bàng Quyên trước đó không hề quen biết Đinh Tam, lúc này lại nghe Đinh Tam kể vanh vách gia cảnh nhà mình, rõ ràng hắn đã biết về Bàng gia từ trước, khiến Bàng Quyên hết sức bất ngờ. Bởi vậy, Bàng Quyên lập tức nhận ra mình đã bị lừa, mặt đỏ phừng phừng, giận dữ trừng mắt nhìn Đinh Tam. Ngô công tử nghe xong, cười sằng sặc mà nói: “Họ Bàng kia, ta cứ tưởng là quý nhân phương nào, chẳng ngờ lại là giống hạ tiện của một tên thợ may hèn mọn!” Nói đoạn, thu nụ cười lại, khinh khinh nhìn Bàng Quyên hỏi: “Ngươi có biết đây là nơi nào không?”

Bàng Quyên chưa kịp đáp lời, Lương công tử đã nói: “Thảo nào bản thiếu gia hôm nay vận đen thế, hoá ra là có tiện nhân tới ám! Tên họ Bàng kia, ngươi dám phá hỏng vận may của ta, phải xử thế nào đây?”

Bàng Quyên đặt tay lên chuôi kiếm, cười nhạt mà nói: “Lương công tử, thử nói xem nên thế nào?”

Lương công tử nhảy dựng lên: “Tên tiểu tử kia, thân phận thấp hèn mà miệng lưỡi cứng gớm! Còn dám đôi co với bản công tử!”

Hai mắt Bàng Quyên lửa giận bừng bừng, tay cầm chuôi kiếm từ từ di chuyển, giọng rít qua kẽ răng: “Ngươi nói ai thân phận thấp hèn?”

Lương công tử mắt lộ hung quang: “Đương nhiên là nói giống đê tiện nhà ngươi!”

Bàng Quyên mắt vằn tia máu, xông lên phía trước, vận đủ khí lực, thình lình hất tung bàn đánh bạc. Chốc lát, tiền vàng trên bàn bắn tung tứ phía tựa mưa rào, Tiểu Đào Hồng kinh hãi, mặt hoa biến sắc, kêu ré một tiếng, chui tọt vào lòng Bạch thiếu gia.

Chớp mắt, hơn chục hán tử cường tráng phục sẵn ngoài cửa nhất loạt xông vào, Bàng Quyên chưa kịp phản ứng, đã bị đám người đè chặt xuống đất, trói nghiến lại. Đúng lúc này, ông chủ Lâm hay tin chạy vào trong sảnh, lớn tiếng quát hỏi: “Kẻ nào gây rối ở đây?”

Lương công tử chỉ tay vào Bàng Quyên, cao giọng trách móc: “Ngươi là ông chủ kiểu gì mà để giống hạ tiện này đến đây giở thói ngang tàng?”

Ông chủ Lâm cười giả lả nói: “Đều trách tiểu nhân quản lý không nghiêm, làm các vị thiếu gia đây mất hứng. Tiểu nhân thực đắc tội!” Nói rồi ôm quyền hành lễ với từng vị công tử, sau đó chuyển ánh mắt qua Bàng Quyên, chỉ tay vào chiếc bàn bị hất đổ, từ tốn hỏi: “Tiểu tử, là ngươi hất đổ ư?”

Bàng Quyên gật đầu.

Ông chủ Lâm cười nhạt, lại hỏi khẽ: “Là dùng tay nào hất đổ?”

Bàng Quyên nín thinh, ông chủ Lâm đanh giọng quát: “Ta hỏi ngươi, là dùng tay nào hất đổ?”

Bàng Quyên chỉ nhìn chằm chằm vào ông chủ Lâm, không nói một lời. Ông chủ Lâm cười khẩy một tiếng, nhìn về phía Đinh Tam: “Đinh Tam, thằng oắt kia đã dùng tay nào hất đổ bàn?”

Đinh Tam trả lời: “Hồi bẩm ông chủ, dùng cả hai tay!”

Ông chủ Lâm cười thâm hiểm, quay sang đám thuộc hạ, ra lệnh: “Lôi ra ngoài, băm nát hai tay hắn cho chó ăn!”

Vừa nghe thấy nói “băm nát hai tay”, Tiểu Đào Hồng lại rú lên một tiếng kinh hoàng, càng nép sát vào lòng Bạch công tử.

Bàng Quyên trong lòng cũng thầm kinh hãi, lúc này nhận lỗi không xong, mà liều lĩnh giằng ra cũng không được, đang không biết phải làm thế nào thì Bạch công tử xen ngang: “Ông chủ Lâm, nể mặt bản công tử, tha cho hắn một lần đi!”

Ông chủ Lâm nhìn Bạch công tử cười cười, rồi quay sang Bàng Quyên nói: “Được, Bạch công tử đã nói vậy, ta sẽ tha cho ngươi lần này. Có điều, không băm nát hai tay, song phá hỏng việc kinh doanh của ta thì không thể không phạt. Lôi hắn ra, nhốt vào phòng tối mười ngày để hắn tự sám hối quy tắc làm người!”

Đám thuộc hạ lôi Bàng Quyên ra khỏi sòng bạc. Bàng Quyên giận dữ vùng ra, lừ lừ nhìn xoáy vào Đinh Tam: “Đồ lang sói mắt xếch kia, ngươi dám hãm hại ta?”

Đinh Tam rúm người lại, sợ hãi ngoảnh mặt đi. Bàng Quyên lại đưa mắt nhìn thẳng vào Ngô công tử, Lương công tử, gằn từng chữ: “Hai vị công tử nghe cho rõ, việc ngày hôm nay, Bàng Quyên tạm nhớ trong lòng!” Nói xong liền quay người, sải bước xuống dưới lầu.

La Văn đoán chừng Bàng Quyên tới phường võ, song cụ thể là phường nào thì không biết, nên đi dò hỏi khắp nơi, mãi mới tìm được đúng phường võ, thì võ sư lại nói Bàng Quyên không tới. La Văn cáo từ ra về, khi đi qua lầu Nguyên Hanh bỗng thấy đói bụng, bèn bước vào trong. La Văn vừa tìm được chỗ ngồi, bỗng thấy đám thuộc hạ xúm xít áp giải Bàng Quyên xuống khỏi cầu thang, khiến khách khứa đều nháo nhác.

Đám thuộc hạ lôi Bàng Quyên xuống lầu, đẩy vào trong một gian phòng rồi đóng sập cửa, khoá chặt lại. La Văn tận mắt chứng kiến cảnh tượng này, lại dò hỏi kẻ phục vụ trong lầu, biết được toàn bộ sự việc, chẳng kịp ăn uống lập tức chạy thẳng ra khỏi cửa.

La Văn trở về phủ thượng đại phu, vội vã tìm tới nơi giam giữ Bàng sư phụ, từ xa đã nhìn thấy Thích Quang, Đinh Tam cũng đang từ một con đường khác tiến lại. La Văn lập tức náu mình vào trong góc khuất.

Thích Quang, Đinh Tam bước tới trước cửa. Mấy hán tử cao lớn liền nghênh đón vào trong. Thích Quang đưa mắt nhìn khắp lượt trong viện, lớn tiếng hỏi: “Bàng sư phụ thế nào rồi?”

Một hán tử chỉ vào trong phòng, khẽ bẩm báo: “Bẩm Thích gia, ngồi lì trong phòng, không ăn không uống, luôn miệng đòi về nhà!”

Thích Quang chậm rãi bước vào trong phòng, quả nhiên thấy Bàng Hành ngồi bệt dưới đất, hai mắt nhắm hờ. Bát cháo và đĩa thức ăn để ở bên cạnh đều đã nguội ngắt.

Thích Quang tiến lại, ngồi khoanh chân xuống trước mặt Bàng Hành, khẽ đặng hắng một tiếng: “Bàng sư phụ!”

Bàng Hành từ từ hé mắt, lạnh lùng nói: “Nói đi, gia lão, ông muốn làm gì tôi?”

Thích Quang cười giả lả: “Bàng sư phụ sao lại nói thế? Thích mỗ không có ý gì, chỉ muốn nhờ sư phụ may cho vài bộ quần áo, ai ngờ sư phụ nóng giận, đến một chút thể diện cũng không chịu nể nang.”

Bàng Hành im lặng một lát rồi nói: “Gia lão! Không phải Bàng Hành không chịu, mà là thợ may có quy tắc của thợ may. Với thợ may, tự ý may vương phục chính là mưu phản. Bàng Hành đầu có thể đứt, máu có thể chảy, song việc mưu phản nhất định không thể làm!”

Thích Quang cười cười nói: “Bàng sư phụ, Thích mỗ cũng không muốn làm khó người khác, mua bán phải thuận tình! Thế này đi, ông muốn làm thì làm, nếu thực sự không muốn làm thì Thích mỗ sẽ thả ông về.”

Bàng Hành nhìn Thích Quang với ánh mắt nghi ngờ, lát sau bèn đứng dậy, vòng tay mà nói: “Bàng Hành cảm tạ gia lão!” Nói đoạn phủi mông mấy cái, quay người bước ra cửa phòng, băng qua sân đi thẳng ra phía cổng.

Đúng lúc Bàng Hành chuẩn bị bước ra khỏi cổng, tiếng Thích Quang lại vang lên phía sau: “Bàng sư phụ dừng bước!” Bàng Hành dừng lại, ngoảnh đầu nhìn. Thích Quang từ từ đứng dậy, bước ra khỏi phòng, đứng ở giữa sân.

Bàng Hành lại vòng tay hỏi: “Gia lão còn chuyện gì ư?”

“Đúng vậy! Ở đây có một thứ, nghe nói là của nhà ông, ông hãy nhìn thử xem. Nếu đúng thì tiện thể mang về luôn!” Thích Quang nói xong, bèn ra hiệu cho Đinh Tam. Đinh Tam lập tức quăng thanh bảo kiếm đánh “cạch” một tiếng xuống đất. Bàng Hành là thợ may, mắt đã quen việc xâu kim xe chỉ, rất mực tinh tường, bởi vậy nhìn từ xa đã lập tức nhận ra đó là vật tuỳ thân của con trai, trong lòng kinh hãi: “Đây là kiếm của Quyên Nhi, sao lại ở đây?”

Thích Quang mỉm cười nói: “Đúng là của nhà ông thì mang về đi!”

Bàng Hành vội vã quay lại, nhặt bảo kiếm lên quan sát một lượt, rồi nhìn thẳng vào Thích Quang, quát lớn: “Họ Thích kia, ngươi đã làm gì Quyên Nhi nhà ta?”

Thích Quang quay về phía Đinh Tam nói: “Đinh Tam, hãy bẩm báo mọi chuyện với Bàng sư phụ.”

Bàng Hành lập tức chiếu ánh mắt về phía Đinh Tam, Đinh Tam bèn vòng tay nói: “Bàng sư phụ, vãn sinh cùng lệnh công tử tỉ võ kết bạn, trò chuyện rất tâm đầu ý hợp, đến khoảng bữa trưa ngày hôm nay, vãn sinh mời lệnh công tử tới lầu Nguyên Hanh uống rượu, nào ngờ, công tử…”

“Nó… nó làm sao?”

“Công tử uống vài ngụm rượu, mượn hơi rượu xông bừa lên lầu trên, xô xát với mấy vị công tử quan gia, chuyện này chưa tính đến, song lại gây náo loạn lầu Nguyên Hanh, hất tung bàn đánh bạc, bị đám thuộc hạ của ông chủ bắt giữ, nói là theo luật giang hồ phải xử phạt băm nát hai tay và hai chân lệnh công tử. Vãn sinh khổ sở cầu xin không được, vội tới nhà Bàng sư phụ báo tin, lại thấy cửa khoá. Vãn sinh dò la xung quanh, mới biết Bàng sư phụ tới phủ thượng đại phu, nên vội vã tới đây!”

Bàng Hành nghe xong, ngồi phịch xuống đất.

Thích Quang cười ha hả rồi hỏi: “Bàng sư phụ, sao ông không về đi?”

Bàng Hành suy nghĩ một lát, rồi đứng phắt dậy, nhìn trừng trừng vào Thích Quang, gằn từng tiếng: “Họ Thích kia, thả Quyên Nhi nhà ta ra!”

Thích Quang cười lạnh lẽo: “Bàng sư phụ thật không biết điều! Con trai ông say rượu gây chuyện ở lầu Nguyên Hanh, chẳng liên quan gì tới Thích mỗ, vì sao lại bảo ta thả hắn ra?”

Bàng Hành nghiến răng nói: “Ba bộ vương phục của ngươi, Bàng Hành đồng ý làm!”

“Ồ!” Thích Quang cười gằn, rồi gọi lớn: “Người đâu!” Một người từ bên ngoài nhanh chóng bước vào, cúi đầu đứng bên cạnh. Thích Quang liếc mắt nhìn hắn: “Nghe nói, công tử của Bàng sư phụ đây gây chuyện ở lầu Nguyên Hanh, ngươi đi nghe ngóng xem sự việc thế nào?”

Người này vâng một tiếng rồi vội vã đi ra!

Thích Quang quay sang phía Bàng Hành, vòng tay thi lễ: “Bàng sư phụ, ông chịu giúp Thích mỗ việc lớn này thì đã là bạn của Thích mỗ. Việc của lệnh công tử, đương nhiên cũng là việc của Thích mỗ. Bàng sư phụ yên tâm, Thích mỗ sẽ lập tức bẩm báo lên chúa công, nể mặt chúa công, ông chủ Lâm kia sẽ không dám tuỳ tiện làm xằng đâu!”

Bàng Hành lạnh lùng đáp: “Làm phiền lão quản gia!”

Thích Quang cười hô hố: “Bàng sư phụ, Thích mỗ đã chuẩn bị giúp ông hai mươi gia nô, kẻ nào cũng thạo cắt may, Bàng sư phụ muốn làm gì cứ sai bảo chúng!” Rồi lại quay sang ba hán tử trong sân, ra lệnh. “Ba người các ngươi nghe đây, từ ngày hôm nay, các ngươi đều là người hầu của Bàng sư phụ, Bàng sư phụ muốn gì, các ngươi đều phải tuân theo. Nếu để lỡ chuyện lớn của Bàng sư phụ, sẽ xử phạt theo gia pháp.”

Ba người khấu đầu vâng lệnh. La Văn nấp trong chỗ khuất nghe rõ mọi chuyện, biết được cha con Bàng gia tạm thời bình yên vô sự, thở phào một tiếng, quyết định không gặp Bàng sư phụ nữa.

Bàng Hành miệt mài làm việc thâu đêm suốt sáng, chưa tới mười ngày, đã may xong ba bộ vương phục, sai người đi gọi Thích Quang. Thích Quang cho gọi La Văn tới, hai người cùng đến chỗ Bàng Hành, quả nhiên nhìn thấy ba bộ vương phục treo trên giá, tinh xảo tuyệt luân. Thích Quang thưởng cho mỗi người một lượng vàng, mọi người đều hoan hỷ tạ ân.

Duy có Bàng Hành ném đĩnh vàng xuống đất, trừng mắt nhìn Thích Quang: “Thích quản gia, Quyên Nhi đâu?”

Thích Quang cười giả lả, nói: “Bàng sư phụ, Thích mỗ suýt nữa quên mất, chuyện của quý công tử, chúa công sớm đã tới gặp mặt người ta rồi. Ông chủ Lâm quả nhiên đã nể mặt, quý công tử không chút thương tổn, giờ có lẽ đã về tới nhà rồi.”

Bàng Hành đưa mắt nhìn La Văn, thấy La Văn gật đầu, bèn vòng tay nói: “Cảm tạ lão quản gia! Ba bộ trang phục mà lão quản gia cần đều đã xong cả rồi, Bàng Hành xin cáo từ!” Nói xong, liền quay người bước đi.

“Bàng sư phụ dừng bước!”

Bàng Hành đứng lại, ngờ vực ngoái nhìn Thích Quang.

“Bàng sư phụ, Thích mỗ lại suýt quên một việc quan trọng nữa. Là thế này, chúa công thấy sư phụ tay nghề giỏi, có ý muốn giữ sư phụ ở lại vài ngày, may thêm vài bộ trang phục nữa!”

Bàng Hành kinh ngạc: “Thích gia, ông… ông nói mà chẳng giữ lời?”

“Bàng sư phụ!” Thích Quang lại cười nhăn nhở. “Không phải Thích mỗ nói không giữ lời, quả thực tay nghề của sư phụ quá tuyệt diệu!” Ông ta lại móc từ trong ống tay áo ra một đĩnh vàng. “Chúa công có nói, tuyệt đối không được để sư phụ phải thiệt thòi. Tiền công vẫn là sáu lượng, bởi sư phụ làm rất tốt, thưởng thêm ba lượng, tổng cộng chín lượng. Sư phụ may tất cả ba bộ, chín nhân ba hai mươi bảy. Đây là hai mươi bảy lượng. Tiền công may mấy bộ tiếp theo, để lúc nào xong tính tiếp.”

“Ta không cần tiền công của các người, chỉ cầu xin các người mau thả ta về!”

Thích Quang sầm mặt xuống: “Bàng sư phụ, mối làm ăn tốt như vậy, ông còn muốn chối ư? Nể mặt Thích mỗ, nể mặt chúa công, ông cũng nên biết điều một chút!”

Bàng Hành thở dài một tiếng, im lặng không nói gì. Thích Quang giao vàng cho La Văn, dặn dò: “La Văn, ngươi tới phủ Bàng sư phụ một chuyến, thứ nhất xem Bàng công tử thế nào, thứ hai, đưa tiền cho công tử, nói là mấy hôm nữa Bàng sư phụ sẽ về!”

La Văn nhận vàng, đưa mắt nhìn Bàng Hành. Bàng Hành trong lòng hiểu rõ, mình tự ý may vương phục, rất có khả năng sẽ không thể trở về. Suy nghĩ một lát, ông bèn nói với La Văn, lời đầy ẩn ý: “La Văn, gặp Quyên Nhi, nhắn rằng ba ngày nữa ta sẽ về. Lỡ có chuyện gì, hãy bảo nó đi tìm chú ba nhờ giúp đỡ!”

La Văn gật đầu, rồi bước đi.

***

Ngụy Huệ Vương khởi binh đánh Tần, công tử Ngang lo gom lương thảo. Bốn nước nhỏ Vệ, Lỗ, Tống, Trung Sơn không dám chậm trễ, mỗi nước đã chuẩn bị một vạn thạch quân lương. Lương thực đã chuẩn bị đủ, song cụ thể là vận chuyển tới đâu, lại chưa nói rõ. Bốn nước nhất thời lo lắng, phái sứ thần tới An Ấp hỏi dò. Đám sứ thần sau khi tới An Ấp, không tìm thấy thượng đại phu Trần Chẩn, đành phải đi tìm tư đồ Chu Uy.

Thấy sự việc liên quan tới quân sự liệt quốc, Chu Uy vội vã vào cung bái kiến quân chủ. Chu Uy vào tiền cung, ra hậu cung, người trong cung đều nói quân chủ không có mặt. Chu Uy đang băn khoăn lo lắng, bỗng gặp tỳ nhân nói rằng quân chủ đang thưởng lãm chim cảnh ở hậu cung. Chu Uy vội vã theo tỳ nhân tới hậu cung, quả nhiên thấy Huệ Hầu đang cùng phu nhân chơi đùa với một con sáo mỏ vàng đậu trên cây lựu. Nhìn thấy Chu Uy quỳ dưới bậc thềm phía xa, Huệ Hầu khẽ phẩy tay, phu nhân bèn tránh vào phía sau bình phong. Huệ Hầu cười vang, nói: “Chu ái khanh, ái khanh tới vừa đúng lúc, quả nhân muốn cho ái khanh xem một bảo bối!”

Chu Uy bái lạy lần nữa rồi đứng dậy. Huệ Hầu bước lại gần, hồ hởi nắm tay Chu Uy kéo tới dưới gốc cây lựu, chỉ vào con sáo nói: “Ái khanh xem, đây là con sáo Nghĩa Cừ Quân tiến cống, rất tinh khôn!” Nói đoạn, quay về phía nó, “xuỳ” khẽ hai tiếng. Con sáo nhìn chăm chú, rồi há mỏ kêu lên: “Tiểu nhân bái kiến đại vương!” Sau đó là ba tiếng khấu đầu, “cộp, cộp, cộp!”

Chu Uy trong lòng kinh ngạc. Nghĩa Cừ Quân xưa nay theo Tần. Hễ Tần, Ngụy khai chiến, Nghĩa Cừ tất xuất người xuất ngựa cho Tần, do vậy bị nước Ngụy liệt vào hàng kẻ thù, xưa nay không có sứ thần lai vãng. Nghĩa Cừ Quân vô duyên vô cớ, đột nhiên vào chầu, lại còn tiến cống lễ vật, quả thực không thể hiểu nổi.

Huệ Hầu lại trêu đùa chim sáo một hồi, mới ngoái lại hỏi: “Ái khanh tới có việc gì?”

Chu Uy bẩm báo: “Hồi bẩm chúa thượng, các nước Triệu, Hàn, Trung Sơn, Vệ, Lỗ, Tống mấy hôm nay liên tiếp phái sứ giả tới, nói là lương thực, binh mã thảo phạt Tần đã chuẩn bị xong xuôi, nóng lòng muốn hỏi chúa thượng lúc nào trưng dụng?”

Ngụy Huệ Hầu hỏi lại: “Theo ái khanh, lúc nào trưng dụng thì thích hợp?”

“Vi thần cho rằng, nếu phạt Tần, ngay lúc này có thể trưng dụng!”

Ngụy Huệ Hầu ngẫm nghĩ một lát, rồi nhìn chim sáo, nói: “Ái khanh cũng thấy rồi đó, mấy năm qua người Tần nay đã khác xưa, không chỉ là khúc xương cứng, mà còn là khúc xương lớn. Nếu chúng ta cứ khăng khăng đòi gặm, gặm không được, không chừng lại gãy răng. Mấy hôm nay quả nhân suy nghĩ kỹ rồi, Tần Công đã biết sai, mong muốn thần phục, cớ sao quả nhân lại không thuận theo, lấy sức mạnh của họ mà dùng cho ta?”

Dù Chu Uy đã đoán chừng từ trước, song vẫn cảm thấy ngạc nhiên trước sự thay đổi đột ngột của Huệ Hầu. Ngẩn ra một lát, Chu Uy mới chậm rãi nói: “Chúa thượng thánh minh. Có điều vi thần vẫn có một mối lo canh cánh trong lòng, không biết có nên nói ra không?”

“Ái khanh cứ nói!”

Chu Uy liếc mắt nhìn con chim sáo mỏ vàng, rồi nói: “Chúa thượng, nếu người Tần chỉ đơn thuần quy phục thì không có gì đáng nói. Tuy nhiên, Công Tôn Ưởng hẳn là muốn dấn thêm một bước, cực lực thôi thúc chúa thượng xưng vương, hẳn là có chuyện. Vi thần cho rằng, nhìn vào thái độ của Công Tôn Ưởng, hành động của người Tần hẳn là còn có dụng ý khác.”

Ngụy Huệ Vương nét mặt không vui, chẳng thèm quay đầu lại, chậm rãi nói: “Ái khanh nhắc nhở rất đúng! Về đi, hãy báo lại với sứ thần liệt quốc, nói là quả nhân cảm tạ họ!”

“Vi thần tuân chỉ!”

Chu Uy vừa đi, tỳ nhân bèn bước vào bẩm báo: “Chúa thượng, thượng tướng quân cầu kiến.”

“Cho vào!”

Ngoài cửa vang lên tiếng bước chân, hai cung nhân khiêng theo hai chiếc hòm gỗ bước vào trong sân. Huệ Hầu đang ngạc nhiên thì công tử Ngang đã tiến vào, dập đầu sát đất: “Nhi thần khấu kiến quân phụ!”

Ngụy Huệ Hầu nhìn chằm chằm vào hòm gỗ, hồi lâu mới lên tiếng hỏi: “Ngang Nhi, đây là gì vậy?”

Công tử Ngang lại dập đầu: “Chỉ là mấy bộ trang phục, nhi thần muốn kính dâng lên quân phụ!”

Ngụy Huệ Hầu thấy công tử Ngang đột nhiên tặng trang phục, vô cùng sửng sốt, nhìn công tử Ngang với vẻ nghi ngờ: “Trang phục ư? Ngang Nhi, mau mở ra xem!”

Công tử Ngang đứng dậy, mở một chiếc hòm ra, chỉ vào vương phục, vương miện cùng đai hia trong hòm, nói khẽ: “Nhi thần may cho quân phụ vài bộ trang phục theo kiểu cách triều phục của Chu thiên tử, xin quân phụ xem thử!”

Ngụy Huệ Hầu sững sờ, hết nhìn đám trang phục trong hòm, lại nhìn công tử Ngang, vẫn không nói năng gì.

Công tử Ngang nhấc vương phục và vương miện lên đang định nói tiếp thì Ngụy Huệ Hầu đột nhiên sắc mặt sa sầm, quát lớn: “Bỏ xuống!”

Công tử Ngang điếng người kinh hãi, vội vã buông bộ trang phục xuống, hai gối mềm nhũn, quỳ phục xuống đất. Ngụy Huệ Hầu chỉ tay ra cửa: “Đi ngay!”

Công tử Ngang mặt cắt không còn hạt máu, cứ quỳ tại chỗ, không biết phải làm sao.

Ngụy Huệ Hầu quát lên với tỳ nhân: “Đuổi hắn ra ngay!”

“Nhi thần cáo lui!” Công tử Ngang cũng đã choàng tỉnh, dập đầu liền vài cái, cuống quýt thoái lui.

Công tử Ngang hai chân lẩy bẩy, hoang mang rời khỏi cung thành, đánh xe đến phủ thượng đại phu, xông thẳng vào trong, quát lên với Trần Chẩn: “Ông… ông… ông hại ta rồi!

Trần Chẩn đứng ngẩn ra: “Thượng tướng quân, mau nói xem đã xảy ra chuyện gì?”

“Chuyện gì cái gì?” Công tử Ngang đầy vẻ hối hận. “Bản công tử làm theo lời ông, dâng tặng vương phục lên quân phụ, cứ tưởng thế nào cũng được khen ngợi, nào ngờ lại bị trách mắng!”

Trần Chẩn hỏi rõ đầu đuôi sự việc, rồi thở phào một tiếng, vòng tay hướng về công tử Ngang, cười nói: “Đại sự đã thành công, hạ quan chúc mừng công tử!”

Công tử Ngang sửng sốt: “Chúc mừng ư?”

Trần Chẩn cười nói: “Đi nào, tới lầu Nguyên Hanh, hạ quan xin được chúc mừng công tử!”

Đến lúc chập tối, Ngụy Huệ Hầu trở về tẩm cung, cung nữ liền hầu hạ cởi bỏ áo mũ cho ông ta. Tỳ nhân đưa tay ra hiệu, một tên thái giám tay bê khay đồng quỳ xuống trước mặt, trên khay bày các thẻ bài ghi tên phi tần.

Ngụy Huệ Hầu chẳng buồn nhìn, phẩy tay một cái. Thái giám hiểu ý, mau chóng bê khay đồng lui ra ngoài. Ngụy Huệ Hầu đi đi lại lại hai vòng trong cung, như có điều gì nghĩ ngợi, rồi nhìn tỳ nhân, hỏi: “Hai chiếc hòm đâu rồi?”

Tỳ nhân lập tức hiểu ra, bèn quay người bước đi. Một lát sau quay lại, dẫn theo vài tên thái giám khiêng theo hai chiếc hòm mà công tử Ngang vừa tặng. Tỳ nhân mở nắp hòm, Ngụy Huệ Hầu rảo bước lại gần, lấy ra một bộ vương phục, vương miện và đôi hài, cẩn thận lật lên lật xuống ngắm nghía hồi lâu, miệng không ngớt lời khen ngợi: “Cha chả! Từ chất liệu tới đường may đều tinh xảo tuyệt vời, đúng là hàng thượng phẩm!”

Tỳ nhân cười nói: “Chúa thượng, sao không thử mặc xem có vừa vặn không?”

Ngụy Huệ Hầu vẻ trễ nải, hất cằm về phía chiếc hòm. Tỳ nhân hiểu ý, bèn nhấc vương phục, vương miện, đai hia lên, lần lượt mặc, đội vào cho Huệ Hầu, sau đó dẫn ông lại trước gương. Ngụy Huệ Hầu hết quay phải lại quay trái, tự ngắm mình trong gương. Tỳ nhân ngắm nghía một lượt từ đầu tới chân Huệ Hầu, tán dương: “Chúa thượng, không chật cũng không rộng, thực vừa vặn!”

Đám thái giám cũng khen ngợi nức nở. Ngụy Huệ Hầu lại xoay qua xoay lại vài lần trước gương, sắc mặt hoan hỷ, tấm tắc khen ngợi: “Quả nhân luôn nghĩ Ngang Nhi là kẻ lỗ mãng, không ngờ cũng có lúc suy nghĩ tinh tế đến vậy, ha ha ha!”

Ngay sau khi Huệ Hầu lên giường đi ngủ, một trong số thái giám liền thay thường phục, âm thầm lẻn khỏi cung nhanh chân chạy tới lầu Nguyên Hanh, ông chủ Lâm vội vã dẫn hắn lên lầu vào gian nhã thất, chỉ thấy đàn sáo dìu dặt, mỹ nữ thướt tha, công tử Ngang, Trần Chẩn đang say sưa thưởng thức ca vũ. Thích Quang liếc mắt ra cửa, thấy có người đứng đó, vội vã đi ra. Thái giám thì thầm vào tai Thích Quang vài câu, rồi mau chóng đi ngay.

Thích Quang quay người bước lại phía Trần Chẩn, ghé sát tai thì thầm truyền lại những lời vừa nghe được. Trần Chẩn cười vang, nhìn công tử Ngang nói: “Thật đúng như hạ quan đã nói! Trong cung có người tới báo, chúa thượng vừa thử vương phục, luôn miệng tấm tắc khen thượng tướng quân đây hành sự tinh tế!”

Công tử Ngang cũng thở phào một tiếng, gật đầu khen: “Thượng đại phu mưu sự, bản công tử thực lòng thán phục! Hiện tại, coi như đã đoán được tâm tư của quân phụ, chỉ có điều… bước tiếp theo nên làm thế nào đây, thượng đại phu hẳn đã suy nghĩ tới?”

Trần Chẩn cười cười rồi nói: “Hạ quan sớm đã sắp xếp ổn thoả, vài ngày nữa sẽ bẩm báo với công tử.”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử