Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 49
Triều kiến thiên tử, Lạc Dương triều nội xôn xao
Áo gấm hồi hương, Tô Tần hỷ bi giằng xé

❊ ❊ ❊

Tô Tần là người đầu tiên ra khỏi hành dinh của Huệ Vương, lê bước nặng nề, tựa như phải kéo theo tảng đá nặng trịch.

Người đi ra tiếp theo là công tử Ngang, thần sắc còn rầu rĩ ủ ê hơn nữa. Tai nghe từng tiếng bước chân rời rạc của Tô Tần xa dần trong bóng tối, trong lòng công tử Ngang đủ mùi cảm xúc, không nói nên lời, ngửa mặt lên trời thở dài thườn thượt, rồi lờ đờ đi về doanh trại. Chưa đi được mấy bước, công tử Ngang càng nghĩ càng không cam tâm, liền quay trở lại, đứng sừng sững trước cửa hành dinh của Ngụy Huệ Vương.

Đợi thêm nửa canh giờ nữa, mới thấy Bàng Quyên sải bước ra khỏi hành dinh.

Vừa thấy công tử Ngang, Bàng Quyên liền dừng bước: “Công tử? Sao lại đứng đây?”

Công tử Ngang vòng tay vái mà nói: “Để đợi thượng tướng quân!”

“Ồ?”

“Thượng tướng quân!” Công tử Ngang cắn môi một lúc mới nói. “Mạt tướng cầu xin thượng tướng quân một việc!”

Bàng Quyên thoáng ngạc nhiên, phì cười mà nói: “Cái gì mà mạt tướng với không mạt tướng? Công tử có chuyện gì, xin cứ căn dặn!”

“Thượng tướng quân, mạt tướng…” giọng công tử Ngang nghẹn lại, “mạt tướng từ nhỏ đã đam mê chiến trận, đọc được mấy bộ binh thư, học qua mấy đường thương kiếm, đã tự cho mình là kẻ bất phàm, chẳng coi ai ra gì, cậy vào quyền uy của phụ vương, ngang ngược phách lối, lại bị tên gian tặc Trần Chẩn xúi giục, đã gây ra không biết bao nhiêu chuyện ngu xuẩn, nhất là việc đánh mất Hà Tây. Thượng tướng quân có điều chưa biết, sau trận đó, mạt tướng… mạt tướng vốn chẳng thiết sống, nhưng gian tặc kia không cho mạt tướng chết, mạt tướng… thật nhục nhã, sống chẳng bằng chết! Sau đó người Tề đến phạt ta, mạt tướng mấy lần muốn lập công, nhưng do tài trí không đủ, càng đánh càng thua, bị người trong nước cười chê là phường giá áo túi cơm, ba quân không phục, sĩ khí sa sút. Song mạt tướng vẫn không biết cao thấp hay dở. Từ khi gặp được thượng tướng quân, mạt tướng mới biết thế nào là dùng binh. Sau này, lại đi theo Tô Tử hợp tung, mạt tướng càng thấy rõ mình tài trí nông cạn. Nay liệt quốc hợp tung phạt Tần, đúng là cơ hội tốt trời ban, mạt tướng… Thượng tướng quân, mạt tướng đã đi tới bước đường này, sự nghiệp đã chẳng dám ước mong. Mạt tướng… mạt tướng chỉ muốn tay vung trường thương, vượt qua Hà Thuỷ, thẳng tới Hà Tây, quyết một trận tử chiến với người Tần, vì Hà Tây xả… xả thân…” Nói đến đây, bật khóc thành tiếng.

“Công tử…” Nghe công tử Ngang trải lòng, Bàng Quyên rất đỗi xúc động, nắm chặt lấy tay công tử Ngang.

“Để có thể ăn nói với mấy vạn anh linh ở đất Hà Tây, Ngang cầu xin thượng tướng quân thành toàn! Ngang một không tranh tiên phong, hai không tranh phó tướng, ba không tranh công danh, chỉ cầu được làm võ binh của Đại Ngụy, là người đầu tiên vượt… vượt…” Công tử Ngang tâm ý thiết tha, lại nghẹn ngào không thốt nên lời.

Bàng Quyên cảm khái vạn phần, càng nắm chặt tay công tử Ngang: “Tấm lòng của công tử, Quyên đệ hôm nay mới biết! Than ôi, không giấu gì công tử, mấy năm trước đây, Quyên đệ mặc dù nói là tôn trọng công tử, nhưng cũng chỉ là bề ngoài. Bắt đầu từ hôm nay, Quyên Đệ sẽ tôn trọng công tử từ tận đáy lòng!”

“Đa tạ thượng tướng quân!” Công tử Ngang rút tay về. “Ngang tuy bề ngoài hoa mỹ, nhưng kỳ thực lại nông cạn, chỉ là kẻ thô lỗ. Nay đến cầu chiến, chỉ mong sao được phụ vương tác thành, không ngờ phụ vương lại…”

“Công tử, xin hãy nghe Bàng đệ nói một câu!”

“Xin thượng tướng quân cứ nói!”

“Công tử chỉ muốn dựa vào hào khí nhất thời, bỏ mình tại Hà Tây giống như vài vạn tướng sĩ kia, hay là muốn đánh bại người Tần, đoạt lại Hà Tây, đạp bằng Tần Xuyên, báo thù cho những tướng sĩ đã tuẫn quốc?”

“Đạp bằng Tần Xuyên, báo thù cho những tướng sĩ đã tuẫn quốc!”

“Nếu như vậy, công tử hãy làm theo chỉ ý của bệ hạ, cùng Tô Tử trở về quê thăm nhà!”

“Tại sao lại như vậy?”

“Sáu nước phạt Tần, chỉ mình Tô Tử không đồng ý. Hiện giờ Tô Tử là tướng quốc của sáu nước, quân chủ Yên, Triệu đều nghe theo lời người này, quân chủ của liệt quốc cũng đều phải nể mặt người này. Người này không chịu chinh phạt, chúng ta làm sao có thể thành công? Vừa may Tô bá phụ sinh bệnh, tính mạng nguy cấp, bệ hạ nhanh trí lệnh cho Tô Tử về quê tận hiếu, trên danh nghĩa là áo gấm hồi hương, nhưng kỳ thực lại là điệu hổ ly sơn, tránh để người này ngáng chân ngáng tay, làm hỏng đại sự. Bệ hạ lệnh cho công tử đi theo Tô Tử, đúng là rất biết dùng người. Một là công tử nho nhã lịch thiệp. Hai là bấy lâu nay, công tử luôn đi theo Tô Tử, hiểu rõ các chiêu số của Tô Tử. Ba là công tử thân phận cao quý, có sắp xếp như thế nào, cho dù Tô Tử trong lòng không vui, cũng không dám phản đối.”

“Điều này…”

“Hiện giờ phạt Tần, các việc đều đã chuẩn bị xong xuôi, bây giờ việc quan trọng nhất là phải giữ chân Tô Tử. Công tử giữ chân Tô Tử được ngày nào hay ngày ấy, giữ được càng lâu càng tốt. Công tử thành công, coi như việc phạt Tần đã thành công một nửa! Không phải Bàng Quyên khoác lác, nếu không phải bận tâm chuyện sau lưng, chỉ cần ba quân của Đại Ngụy ta phạt Tần, cho dù không thể đạp bằng Tần Xuyên, thì lấy lại Hà Tây cũng dễ như trở bàn tay. Huống chi nay sáu nước đã hợp tung, vài chục vạn đại quân đã áp sát biên giới, cho dù người Tần có thần ma bảo vệ, thì lần này cũng kiếp nạn khó tránh!”

Công tử Ngang suy nghĩ hồi lâu, cuối cùng cũng gật đầu đồng ý: “Nếu đã như vậy, giờ tại hạ sẽ cùng Tô Tử về quê, đảm bảo sẽ khiến hắn được phong quang lừng lẫy, không còn thời gian bận tâm đến việc khác!”

“Công tử cứ đi đi! Còn về việc công tử muốn làm tiên phong, vượt sông Hà Thuỷ báo thù cho những tướng sĩ đã xả thân trong trận chiến Hà Tây, Quyên đệ sẽ tự biết sắp xếp. Giống như lời của Tô Tần, phạt Tần là việc lớn, không thể vội vàng. Đợi Quyên chuẩn bị xong xuôi mọi mặt, đến lúc ba quân xuất chinh, Quyên đệ nhất định sẽ mời công tử trở về, phong công tử làm tiên phong vượt sông, thoả mãn ước nguyện, vì Đại Ngụy rửa mối hận Hà Tây!”

Công tử Ngang hai mắt sáng rực, siết chặt tay Bàng Quyên: “Đa tạ thượng tướng quân đã thành toàn!”

Đêm đã về khuya.

Là một đêm không trăng, thôn Hiên Lý một màu đen thẳm, chỉ còn thấy le lói ánh đèn chiếu ra từ trong trạch viện Tô gia.

Ánh đèn chiếu ra từ chính đường. Trong chính đường, Tô Lệ, Tô Đại đang ngồi trên một chiếu, còn ba chị em dâu ngồi trên một manh chiếu khác. Không ai nói một lời, nét mặt ai cũng rầu rĩ. Đám trẻ nít không có mặt, hiển nhiên đã đi ngủ cả.

Ngồi một lúc, Tô Lệ ngẩng đầu lên, cất giọng khàn đặc: “Cha đã hôn mê suốt mấy ngày trời. Cứ cái đà này, e rằng không gắng gượng được bao lâu nữa!”

Tiểu Hỷ bắt đầu sụt sùi. Hai chị em dâu nghe thấy, cũng thút thít theo, tay bưng miệng tay quệt lệ. Có lẽ e sợ khiến lũ trẻ thức giấc, nên đám đàn bà đều không dám khóc thành tiếng.

“Khóc cái gì?” Tô Đại lườm vợ, mắng. “Cha còn chưa tắt thở kia mà!”

Mấy người đàn bà vội im bặt.

“Em hai không có nhà,” Tô Lệ chậm rãi nói, “trong nhà chỉ có mấy chúng ta. Là huynh trưởng, ta nói trước mấy câu. Năm ngoái mưa gió không thuận, mùa màng thất bát, cuộc sống khó khăn hơn năm kia. Nhưng bất kể thế nào, chúng ta cũng không thể khiến cha phải tủi thân. Cha một đời cực khổ, những thứ khác ta không nói đến, chỉ nói một việc thôi, đó là hậu sự của cha cũng phải làm cho ra hồn. Ta đã tính toán qua, nếu như mua một cỗ quan tài gỗ bách, mời phường nhạc, cộng thêm bộ áo thọ, đồ tuỳ táng… chí ít cũng phải năm lượng vàng. Ta là huynh trưởng, sẽ bỏ ra ba lượng!” Rồi quay sang vợ, nói. “Này mẹ Thuận Nhi, bà thấy được không?”

“Trong nhà đến tiền đồng cũng chẳng còn mấy xu, lấy đâu ra ba lượng vàng?” Vợ Tô Đại hậm hực lườm chồng một cái sắc lẹm, thở hắt ra nặng nề.

Tô Lệ ngượng ngập, cúi gằm mặt xuống.

“Hay là ông cũng muốn học theo chú hai, bán đất lấy tiền thế? Bệnh của cha do đâu mà có, có phải ông muốn để cha chết không nhắm mắt hay không?” Vợ Tô Lệ vẫn không thôi đay nghiến.

Tô Lệ càng cúi đầu thấp hơn nữa.

Không khí hết sức nặng nề.

Hồi lâu sau, thấy Tô Đại vẫn không nói gì, vợ Tô Đại sốt ruột, đưa mắt nhìn chồng: “Này bố nó, sao không nói gì? Việc của cha, chúng ta không thể để bác cả gánh vác phần nặng hơn được!”

Tô Đại đang định lên tiếng, thì Tiểu Hỷ đứng dậy, lẳng lặng đi ra khỏi cửa.

Nhìn theo bóng Tiểu Hỷ, Tô Đại mặt đỏ bừng, giọng lí nhí: “Anh cả nói đúng, anh hai không có nhà, nên không tính phần của anh hai được. Hậu sự của cha, kiểu gì cũng không thể để anh cả gánh vác phần nhiều hơn. Tiêu tốn bao nhiêu, anh em chúng ta cứ chia đôi mỗi người một nửa!”

“Không thể như vậy được, ta…” Tô Lệ liếc nhìn vợ, rồi im bặt không nói tiếp nữa.

Đang lúc khó xử, Tiểu Hỷ đã quay trở lại, xách theo một cái ống nặng trịch, quỳ xuống dưới chiếu, chậm rãi nói: “Anh cả, chị dâu, em ba, em dâu, tôi chẳng có bao nhiêu tiền, chỉ tích cóp được chút ít, đều ở trong ống này. Mọi người hãy đếm xem được bao nhiêu, đều dùng cho cha hết!”

Mọi người đưa mắt nhìn nhau.

Vợ Tô Lệ phăm phăm giơ tay kéo cái ống lại, nhấc thử xem nặng nhẹ, sau đó thò tay vào trong ống, kinh ngạc kêu toáng lên: “Trời ơi, em dâu lấy đâu ra nhiều tiền đồng thế? Để chị dâu đếm thử xem nào!”

Nói đoạn, vợ Tô Lệ dốc ngược ống đổ thẳng xuống đất, không ngờ lại được một đống to tướng, có tiền đồng, còn có cả mấy mụn vàng bằng hạt đậu, mọi người nhìn mà sững sờ.

Vợ Tô Lệ từ từ định thần lại, quay sang Tiểu Hỷ hỏi: “Em dâu, em kiếm được bằng cách nào vậy?”

Tiểu Hỷ điềm tĩnh đáp lời: “Bán vải kiếm được một ít. Năm ngoái khi cha em qua đời cũng để lại cho một ít. Em chỉ góp được có ngần này, còn thiếu bao nhiêu, phải để anh cả, chị dâu, em ba, em dâu bù thêm.”

“Sao có thể như vậy được?” Tô Lệ vội nói. “Em dâu, nếu mang dùng hết, sau này sẽ sống thế nào?”

Tiểu Hỷ cười buồn bã: “Em có một cái miệng, hai bàn tay, dù có thế nào, vẫn cứ sống được!”

Sáng sớm hôm sau, khi mặt trời lên cao, Tô Hổ đột nhiên tỉnh lại, há to miệng, liên tục mấp máy. Tô Diêu thị đang đứng bên giường, nghe thấy tiếng động, vội vàng bưng lại một bát nước, bón cho ông vài hớp.

Tô Hổ khó nhọc lắm mới thều thào được hai chữ: “Tần Nhi…”

Tô Diêu thị cuống quýt chạy ra ngoài, gọi thất thanh: “Lệ Nhi, Đại Nhi, mau đến đây, cha các con đã tỉnh rồi!”

Người lớn trẻ nhỏ nghe thấy tiếng gọi, tất cả chạy ùa cả vào, lũ lượt quỳ xuống trước giường.

Tô Hổ mở mắt, miệng vẫn chỉ lắp bắp hai chữ, lặp đi lặp lại: “Tần Nhi… Tần Nhi…”

Tô Lệ liếc nhìn Tô Đại, không biết phải trả lời thế nào.

Tô Đại khẽ đảo mắt, rồi lê gối đến bên giường: “Cha ơi, anh hai sắp trở về rồi! Anh hai của con đã làm quan lớn bên ngoài, bây giờ đang trên đường trở về Lạc Dương, nói rằng trở về để thăm cha đấy!”

Tô Hổ nhệch miệng cười, con ngươi di chuyển sang phía Tiểu Hỷ.

Tô Đại vội gọi: “Chị hai, mau lại đây!”

Tiểu Hỷ lê gối đến trước giường, khẽ gọi: “Cha ơi…”

Tô Hổ duỗi cánh tay còn có thể cử động, lẩy bẩy lấy ra tờ khế đất giấu ở dưới gối đưa cho Tiểu Hỷ: “Tần Nhi sớm… sớm muộn… trở… trở về, đưa… đưa cái này… cho nó…”

Tiểu Hỷ nhận lấy tờ khế đất, khóc nức nở: “Cha ơi…”

Tô Hổ giọng run rẩy: “Hỷ Nhi, Tô… Tô gia… có lỗi với… con, cha… có… có lỗi… với con!”

Tiểu Hỷ gục đầu xuống giường, khóc lớn: “Cha ơi…”

Bỗng từ bên ngoài có tiếng bước chân vọng lại, rồi tiếng con Mực sủa lên ầm ĩ.

Tiểu Thuận nhanh chân chạy ra ngoài xem, thoắt cái đã quay trở lại, nói với Tô Lệ: “Cha ơi, có người tìm cha!”

Tô Lệ vội chạy ra ngoài, một lúc sau đã hớt hải chạy trở vào trong phòng, quỳ xuống trước mặt Tô Hổ, sắc mặt vô cùng kích động, tay nâng một bản khế đất: “Cha ơi, là việc đại hỷ! Vừa nãy là Hách quản gia của phủ lý chính tìm đến, Hách quản gia trả lại y nguyên mười lăm mẫu ruộng mấy năm trước em hai đã cầm cố cho nhà lý chính. Đây chính là khế đất!”

“Tại… tại sao… Lưu đại nhân… lại trả… trả lại?” Tô Hổ đưa đôi mắt đục ngầu nhìn sững vào tờ khế đất.

“Hách quản gia nói, hôm qua Lưu đại nhân qua đời, trước lúc lâm chung đã lấy bản khế đất này ra, bảo Hách quản gia trả lại cho nhà chúng ta!”

Tô Hổ gắng gượng muốn ngồi dậy, nhưng lập tức bị Tô Diêu thị ấn nằm trở xuống.

Tô Hổ thở hổn hển một lúc mới thều thào: “Đã… đã cầm cố… cho… cho nhà… người ta, thì… là… của nhà… người ta, mau… mau… trả lại… cho người ta!”

“Cha, con đã kiên quyết không nhận, nhưng Hách quản gia không chịu, nói rằng đó là di mệnh của Lưu đại nhân, ông ta không dám trái!”

Tô Hổ nhắm mắt một lát, rồi lại mở mắt ra: “Tại… tại sao?”

“Cha!” Tô Đại giải thích. “Hai năm nay, nhà họ Lưu đã lụn bại rồi! Con trai của Lưu đại nhân kết giao với một người bạn phóng đãng, nghe nói là người ấp Hà Nam, đã lừa cậu ta tới Trịnh Thành nước Hàn, dẫn vào sòng bạc, lột sạch toàn bộ gia sản của nhà họ Lưu, Lưu đại nhân hẳn là do tên phá gia chi tử này làm cho tức chết!”

Tô Hổ thở hào hển một lúc, rồi ánh mắt chuyển qua Tô Lệ: “Lệ… Lệ Nhi, người… ai cũng… cũng có lúc… lâm… lầm đường, cất… cất giữ cẩn thận… khế… khế đất của… của ông ta. Đợi… sau khi… Lưu… Lưu thiếu gia… hồi tỉnh, thì trả… trả lại…cho… cho người ta!”

Tô Lệ gật đầu: “Lệ Nhi tuân lệnh!”

Tô Hổ xua tay: “Đi đi, cha… mệt rồi!”

Tô Lệ bảo mọi người đi ra.

Tô Đại đi ra ngoài sân, vợ Tô Đại cũng ra theo, hỏi nhỏ: “Này, anh hai bao giờ sẽ về thế?”

Tô Đại trừng mắt nhìn: “Mẹ nó đúng là lắm chuyện, anh hai khi nào trở về, ta làm sao mà biết được?”

“Chẳng phải lúc nãy bố nó nói, anh hai làm quan lớn ở liệt quốc, hiện đang trên đường trở về Hiên Lý hay sao?”

“Tôi lừa cha đấy, mẹ nó tin là thật ư?” Tô Đại mắng vợ.

“Phải đấy!” Vợ Tô Lệ vừa hay cũng đi đến, tiếp lời. “Tôi cũng đoán là chú lừa cha. Nếu là thật, cái miệng loa phễu này của chú đời nào lại không để lộ chút tin tức gì?”

“Chị dâu nói đúng lắm!” Tô Đại lè lưỡi với vợ Tô Lệ.

“Bố nó này,” vợ Tô Đại nói, “nhưng tôi lại nghe nói, đúng là anh hai đã làm quan lớn thật rồi!”

“Nghe ai nói?” Tô Đại lừ mắt lườm vợ.

“Khi tôi giặt quần áo bên bờ sông, nghe người đi đường nói vậy. Họ đều nói, liệt quốc tụ hội tại Mạnh Tân, lựa chọn ra một vị tướng quốc chung, người đó đúng là uy danh lừng lẫy, họ Tô tên Tần, lại cũng là người Lạc Dương chúng ta. Tôi nghe mà thấy chột dạ, liệu người đó có phải là anh hai không?”

Vợ Tô Lệ phì cười: “Em dâu cũng thính tai thật đấy, có điều lòng dạ thực thà quá. Hội thề đã qua hơn chục ngày trời, nếu như đúng là chú hai nhà chúng ta, thì đã về đến cửa nhà từ lâu, lẽ nào chú ấy không muốn trở về vênh vang một chuyến? Cho dù chú ấy không nhớ đến hai chị em chúng ta, thì cũng không thể không ngó ngàng đến cha được!”

“Chị dâu nói đúng lắm!” Tô Đại liên tiếp gật đầu, rồi lại lườm nguýt vợ. “Mẹ nó đấy, nghe gió lại bảo là mưa, đúng là óc lợn!”

Vợ Tô Đại ấp úng: “Tôi… tôi… tôi cũng chỉ muốn anh hai sớm ngày trở về thôi mà, chị hai… thực là tội nghiệp!”

Trong khoảng sân cách đó một bức tường, Tiểu Hỷ đang cho con Mực ăn đã nghe rõ mồn một câu chuyện của mấy người. Nhớ lại lời nói của Tô Tần trước lúc lên đường, nghĩ tới Lão Hỷ giờ đã qua đời, chỉ còn một mình mình trơ trọi trên thế gian, Tiểu Hỷ trong lòng đau đớn, hai mắt đờ đẫn trông vào con Mực đang dán mắt vào bát cơm trên tay mình, rồi hai chân mềm nhũn, quỳ sụp xuống đất, bát cơm vung vãi đầy đất, đưa tay ôm lấy con Mực, khóc nấc lên thảm thiết.

Trong lúc đó, Tô Tần vẫn còn ở Mạnh Tân đang lòng như lửa đốt. Tô Tần biết, Bàng Quyên tuyệt đối sẽ không đem chuyện cha mình ra để lừa gạt, mà hắn cũng không cần thiết phải làm như vậy.

Cha bệnh tình nguy cấp, chắc chắn là sự thật!

Nghĩ tới cha, Tô Tần trong lòng đau quặn. Đúng vậy, Tô Tần có lỗi với cha. Cha đã vì Tô Tần mà tan nát cõi lòng, vì Tô Tần mà lâm trọng bệnh, giờ đã gần đất xa trời, trong khi Tô Tần chỉ gần trong gang tấc, vậy mà vẫn chưa thể trở về thăm hỏi.

Lúc này, Tô Tần chỉ hận mình không mọc được đôi cánh để bay thẳng về nhà.

Song Tô Tần không thể. Vì việc của thiên hạ còn khẩn cấp hơn gấp bội. Tô Tần không thể không khâm phục tâm kế của Bàng Quyên. Rõ ràng, Bàng Quyên tận tụy tới tận Hiên Lý để hỏi thăm, không phải thực lòng quan tâm đến Tô Tần, mà là muốn tìm kiếm mọi cơ hội để gạt Tô Tần ra ngoài. Tông chỉ của hợp tung là chấm dứt chiến tranh, vậy mà tung thân vừa thành đã phát động đại chiến, điều này, Tô Tần tuyệt đối không thể chấp nhận.

Tuy nhiên, chính miệng tung ước trưởng đã xuống lệnh cho Tô Tần về quê tận hiếu, Tô Tần vắt óc suy nghĩ đủ đường, nhưng không thể nghĩ ra được lý do thoái thác.

Sáng sớm hôm sau, Tô Tần triệu Lâu Hoãn đến, giải thích cặn kẽ về tình hình trước mắt, giao lại toàn bộ công việc của liệt quốc, muốn Lâu Hoãn theo sát mọi biến động, hễ có sự biến gì, phải lập tức mật báo cho Tô Tần biết.

Sau khi uỷ thác xong mọi việc, cũng đã đến nửa chiều.

Tô Tần đang định khởi hành, thì công tử Ngang đến nơi, vòng tay vái mà nói: “Tô Tử chớ vội! Lúc nãy bệ hạ triệu kiến tại hạ, đã dặn đi dặn lại, nói rằng lần này Tô Tử về quê thăm nhà, không phải việc tầm thường, để đề phòng bất trắc nên đã phái thêm ba nghìn quân hộ vệ, cảnh giới mười dặm. Ngoài ra, tất cả mọi việc liên quan đến thăm nhà, bệ hạ đã lệnh cho tại hạ một tay lo liệu. Nếu Tô Tử có bất cứ tổn thất gì, bệ hạ sẽ hỏi tội tại hạ. Tại hạ lo sợ, nên đã thảo riêng mấy quy tắc, mời Tô Tử xem qua!” Đoạn lấy từ trong tay áo ra một cuộn thẻ tre, đưa cho Tô Tần.

Tô Tần mở cuộn thẻ tre ra, đọc qua một lượt, tất cả mọi quy tắc, nói trắng ra đều là nhằm giám sát Tô Tần, đặc biệt là điều thứ nhất, tất cả mọi hành trình của Tô Tần đều do công tử Ngang sắp xếp.

Thấy mình như đã trở thành tù nhân, Tô Tần cười nhạt một tiếng: “Đa tạ bệ hạ quan tâm! Bệ hạ đã lo xa thái quá rồi, lần này tại hạ chỉ là về quê thăm người thân, chẳng phải dấn thân vào nơi nguy hiểm, lấy đâu ra bất trắc?”

Công tử Ngang đã sớm chuẩn bị cách ứng phó: “Bệ hạ có dặn, hợp tung thành công, tất cả đều là công của Tô Tử. Người Tần chắc chắn sẽ đem lòng thù hận Tô Tử, có thể sẽ tìm cách hãm hại. Sự an nguy của Tô Tử liên quan tới sự nghiệp hợp tung của liệt quốc, tuyệt đối không thể lơ là!”

“Gia phụ bệnh đang nguy cấp, tại hạ muốn nhanh chóng về thăm!”

“Bệ hạ rất quan tâm tới bệnh tình của lệnh tôn, đã phái ngự y đi trước một bước. Có ngự y của bệ hạ ở bên, lệnh tôn trước mắt hẳn không có gì đáng ngại, xin Tô Tử yên tâm!”

Công tử Ngang hễ mở miệng là chặn họng Tô Tần, Tô Tần biết đã không còn đường lui, bèn vòng tay nói: “Tại hạ xin nghe theo sự sắp đặt của công tử!”

“Xin hỏi Tô Tử, lần này về thăm người thân, có yết kiến Chu Vương hay không?”

“Xin nghe theo lời công tử!”

“Nếu đã như vậy, Ngang xin mạo muội sắp xếp thay. Thân là con dân Đại Chu, Tô Tử về quê thăm nhà, không thể không yết kiến Chu Vương. Nay đã khác xưa, thiên hạ đều xưng vương, mặc dù Chu là vương quốc, nhưng cũng chỉ là tiểu bang, Tô Tử thân là tướng quốc sáu nước, đã không còn là khanh sĩ tầm thường. Quân vương của một nước nhỏ đối với tướng quốc sáu nước lớn, lễ nghi yết kiến thế nào, Ngang cũng lấy làm lúng túng. Chu thất coi trọng lễ nghi, nghe nói hiện giờ người chủ sự của Chu thất là Nhan thái sư, giờ Ngang sẽ thảo một bái thiếp, gửi cho thuộc hạ của ông ta, xem ông ta phản ứng ra sao.

“Xin nghe theo lời công tử!”

***

Một cỗ xe tứ mã lớn lao băng băng trên phố lớn của vương thành.

Cỗ xe đi tới trước cổng chính của cung thành, một người chừng ba mươi tuổi vóc dáng cao gầy nhảy xuống xe, sải bước leo lên bậc thềm trước cửa cung.

Người này chính là thái sư mới của Chu Thất, tên gọi Nhan Suất, chính là con trai trưởng của Nhan thái sư đã qua đời. Lão thái sư tạ thế, Hiển Vương dựa theo quy chế cũ, hạ chiếu cho Nhan Suất kế nhiệm chức thái sư.

Bên trong bức tường bao cao lớn, khung cảnh trống trải quạnh hiu. Chu thất vắng lặng như tờ, nếu không phải ngày đại triều, trong cung gần như không một bóng người, ngay cả hoạn quan cũng chẳng có mấy ai, lại rặt là những người già lụ khụ. Nhan Suất hiểu rõ thói quen của Hiển Vương, chẳng cần hỏi han, lập tức đi thẳng tới ngự thư phòng.

Quả nhiên Chu Hiển Vương đang ngồi ở đó.

Nội thần chạy ra, dẫn Nhan Suất vào yết kiến.

“Thái sư, mời ngồi!” Hành lễ xong, Hiển Vương chỉ sang chiếu bên cạnh, điềm đạm nói.

“Bệ hạ!” Nhan Suất không giấu nổi niềm hưng phấn trong lòng. “Vi thần vội vã đến đây để bẩm báo một tin vui!”

“Ồ!” Bên khoé miệng Chu Hiển Vương lộ ra một nét cười buồn. “Đã bao năm nay quả nhân chưa hề được nghe thấy một tin vui!”

“Lần trước liệt quốc hợp tung, cùng mở hội thề chống Tần tại Mạnh Tân, tiến cử Ngụy Anh làm tung ước trưởng, cùng bái Tô Tần làm tướng quốc. Vi thần nhận được bái thiếp, nói rằng tướng quốc sáu nước Tô Tần mấy ngày tới trở về quê thăm nhà, sẽ tới yết kiến bệ hạ. Tung ước trưởng Ngụy Anh còn phái cả công tử của Ngụy thất là công tử Ngang đi theo hộ vệ. Đây chính là bái thiếp của đặc sứ công tử Ngang trình lên vi thần, xin bệ hạ ngự lãm!” Nhan Suất nói đoạn, rút từ trong tay áo ra một tấm bái thiếp, hai tay trình lên.

“Bái thiếp là gửi cho khanh, có liên quan gì đến quả nhân?” Chu Hiển Vương xua tay không nhận.

Nhan Suất thu bái thiếp về, sắc mặt có phần ngượng nghịu. Quả thực, bái thiếp này không nên đưa cho thiên tử, là do bản thân nhất thời hưng phấn quá đà.

“Tô Tần?” Chu Hiển Vương lẩm bẩm, dường như vừa sực nhớ tới chuyện gì, nửa như tự nhủ, nửa như dò hỏi. “Phải chăng chính là Tô Tần mấy năm trước học nghệ ở núi Vân Mộng?”

“Thưa, phải!” Nhan Suất đáp. “Theo vi thần điều tra, người này quê ở thôn Hiên Lý, Lạc Dương, thân là con dân của bệ hạ, từ nhỏ đã mang tráng chí, lời nói cử chỉ khác với người thường, nên bị người trong thôn cười chê. Về sau đã lên núi Vân Mộng, cùng ba người nữa là Bàng Quyên, Tôn Tẫn, Trương Nghi bái dã nhân Quỷ Cốc Tử làm thầy, cùng nhau tu học. Sau khi xuống núi, trước tiên đến Tần cầu sĩ, sau đó là hợp tung sáu nước, xây dựng sự nghiệp lẫy lừng.”

“Ồ, đã thành công thực rồi!” Giọng Hiển Vương vẫn điềm tĩnh như cũ. “Theo ý ái khanh, quả nhân nên tiếp đãi người này thế nào?”

“Bệ hạ!” Nhan Suất nghiêng người về phía trước bẩm báo. “Tô Tử tài hoa cái thế, hô một tiếng mà cả thiên hạ theo về, uy phục liệt quốc, thân là tướng quốc sáu nước, không thể so với thần tử bình thường. Nghe người mang thiếp nói rằng, Tô Tử căn dặn, lần này đến yết kiến với tư cách là con dân của bệ hạ…” Rồi hạ thấp giọng. “Tô Tử thân là người Chu, công lao hiển hách, lần này về quê, lại đặc biệt đến yết kiến bệ hạ, hẳn có thâm ý, hoặc giả hữu dụng cho Chu thất chúng ta. Theo ý của vi thần, bệ hạ hãy dùng hậu lễ để tiếp đãi, ra khỏi thành mười dặm nghênh đón, nhằm biểu dương công lao.”

“Hỡi ôi!” Chu Hiển Vương thở dài não nề. “Chu thất đã thành ra thế này, hữu dụng vô dụng, cũng có tác dụng gì đâu? Tuy nhiên, Tô Tần cũng là một nhân vật đặc biệt, quả nhân rất muốn gặp mặt hắn. Còn về việc dùng đại lễ hay tiểu lễ, ra khỏi thành đón hay nghênh đón tại chỗ, khanh hãy tự quyết định!”

“Theo ý của vi thần, tốt nhất bệ hạ hãy ra khỏi thành nghênh đón!” Nhan Suất thoáng do dự. “Tuy nhiên, nếu ra ngoài nghênh đón, cần phải dùng tới nghi trượng. Mặc dù nghi trượng vẫn còn, nhưng lâu ngày không dùng tới, đã tán loạn không còn đủ bộ nữa!”

“Thiếu thứ gì, ái khanh cứ cho làm lại là được!”

“Vi thần tuân chỉ! Nhưng còn tiền…”

“Cần bao nhiêu?”

“Còn thiếu hai trăm lượng vàng!”

Đối với Chu thất, hai trăm lượng vàng là một con số rất lớn. Chu Hiển Vương bất giác “ồ” lên một tiếng, chau tít đôi mày. Một lúc sau, vầng trán từ từ giãn ra. “Hai vị công thúc đã mấy năm nay không cống nạp, đây cũng là một lý do. Khanh hãy cầu kiến họ, nói rằng quả nhân truyền khẩu dụ, Đông Chu, Tây Chu mỗi bên bỏ ra một trăm lượng, nghênh đón Tô Tử về quê!”

“Vi thần tuân chỉ!”

Được sự sắp xếp chu đáo của công tử Ngang, đoàn người ngựa hộ tống Tô Tần trở về thăm quê kéo dài đến hàng chục dặm, khí thế rầm rộ tiến về vương thành của Đại Chu.

Nhan Suất dẫn người tới Củng Ấp (thực ấp của Đông Chu Công), cùng Đông Chu Công đi tới Lạc Thuỷ ở phía đông thành nghênh đón. Hai bên hành lễ xong xuôi, Nhan Suất truyền chỉ, nói rằng thiên tử giá lâm tới Thập Lý phương đình ở cách thành Lạc Dương mười dặm về phía đông, đích thân nghênh đón Tô Tử. Tô Tần khấu đầu tạ ơn, truyền lệnh cho đoàn người ngựa tăng tốc, không để thiên tử phải đợi lâu.

Để nghênh đón tân khách tứ phương, bên ngoài hai cổng chính đông, tây của vương thành Lạc Dương, cứ cách mười dặm lại xây dựng một ngôi đình. Tổng cộng có ba ngôi đình, đều được xây trên khoảng đất rộng rãi thoáng đãng, có hình vuông, ngôi đình cách vương thành gần nhất được gọi là Thập Lý phương đình, tức đình vuông mười dặm. Thập Lý phương đình dài rộng mỗi bên ba trượng, có thể chứa được trăm người, dù trời có mưa cũng không ảnh hưởng đến việc tiếp khách.

Thiên tử ra ngoài thành nghênh đón là đại lễ của Chu thất, thường đều ra Thập Lý phương đình, khách tới không phải thánh cũng là hiền, chí ít cũng phải là người đã lập được kỳ công khải hoàn. Chu thất thế suy, vừa chẳng có tân khách trọng yếu, cũng rất hiếm thấy có công thần nào trở về, thiên tử đã lâu không ra ngoài thành đón khách. Lần này tướng quốc sáu nước về quê thăm nhà, Chu thiên tử bày nghi trượng thiên tử để nghênh đón, dân chúng các ấp lân cận thảy đều kinh động, lũ lượt kéo đến xem cảnh tượng náo nhiệt hiếm có.

Cảnh tượng cũng thật đáng xem. Đứng trên đỉnh Mang Sơn phóng mắt nhìn ra xa, trên con đường cái quan rộng thênh thang, một bên là đội người ngựa thăm quê uy vũ hào hùng, khí thế lẫm liệt, kéo dài gần hai mươi dặm; một bên là đội nghi trượng màu sắc sặc sỡ của thiên tử và dân đen trăm họ dưới sự cai trị của Chu thiên tử phục sức đủ màu đủ kiểu, suốt từ cổng đông thành Lạc Dương đến Thập Lý phương đình, nam nữ già trẻ chen chúc đứng đầy hai bên đường, như một biển người nhấp nhô.

Đoàn người ngựa hoàn hương chậm rãi tiến gần tới Thập Lý phương đình, từ xa đã thấy lọng hoa trên xe của thiên tử. Đội ngũ bèn đi chậm lại.

Cách chừng một tầm tên bắn, đoàn người ngựa bèn dừng lại, rẽ sang hai bên. Tô Tần, công tử Ngang đánh xe tiến lên. Đội nghi trượng của thiên tử khởi lễ, bắt đầu tấu lên khúc nhã nhạc đón khách. Sau đó là một loạt các nghi thức nghênh đón, yết kiến rườm rà của Đại Chu, bao gồm ban ngự tửu, thưởng thịt cúng…, trước sau kéo dài đến nửa canh giờ. Tiếp đó, Tô Tần bước lên vương xa, cùng thiên tử trở về vương thành. Đoàn người ngựa về thăm quê lúc này chia thành hai đội, một đội gồm hơn trăm cỗ xe, dẫn đầu là công tử Ngang, Nhan thái sư và hai vị Chu Công theo sau, bám theo xe của thiên tử. Đội xe ngựa còn lại do công tử Chương nước Hàn dẫn đầu, hạ trại bên bờ Y Thuỷ.

Trở về tới vương thành, Hiển Vương liền thượng triều, tiến thẳng vào chính điện. Tô Tần, công tử Ngang hành đại lễ yết kiến xong, Tô Tần vỗ tay, hơn hai mươi hòm lễ vật lần lượt được thuộc hạ khiêng vào chính điện.

Tô Tần khấu bái xong, lấy từ trong tay áo ra tờ danh sách lễ vật: “Bệ hạ, sáu nước tung thân, đại hội tại Mạnh Tân, vì bận rộn nhiều việc nên quân chủ sáu nước chưa thể đến yết kiến bệ hạ, thảy đều tiếc nuối, cùng uỷ thác vi thần và đặc sứ Ngụy Ngang thỉnh tội với bệ hạ. Đây là lễ vật do sáu vị quân chủ tiến cống, xin bệ hạ kiểm tra!”

Lúc này sáu nước đều đã xưng vương, Tô Tần lại không nói là sáu vương, mà chỉ nói là sáu vị quân chủ, lại dùng từ “yết kiến”, rõ ràng là có ý giữ thể diện cho Chu thất. Nội thần trong lòng hiểu rõ, bước tới nhận lấy danh sách lễ vật, rồi cũng làm theo thông lệ, đứng sang một bên tuyên đọc: “Sở cống hai mươi viên long châu, mười đôi ngọc bích trắng, năm mươi súc tơ lụa. Tề cống…”

Nội thần câu nào cũng nhắc đến chữ “cống”, lại cố tình kéo dài chữ này, khiến văn võ bá quan ai nấy hoan hỷ ra mặt, hào hứng trong lòng, chỉ có Hiển Vương là khác nào bị vạn tên xuyên tim, đôi mày chau tít, chưa đợi nội thần đọc hết đã xua tay ngắt lời: “Không cần đọc nữa, cũng không cần kiểm tra, khiêng cả đi!” Rồi quay sang Tô Tần và công tử Ngang, gượng cười một tiếng. “Đã khiến chư vị công hầu phải nhọc lòng! Hai vị hãy bình thân!”

Các hòm lễ vật được khiêng ra.

Tô Tần, công tử Ngang đa tạ xong, cùng đứng dậy ngồi vào chỗ.

Hiển Vương đưa mắt nhìn Nhan thái sư, hai vị Chu Công và bá quan: “Chư vị ái khanh, cũng không còn sớm nữa, bãi triều!” Rồi quay sang Tô Tần. “Quả nhân có chuẩn bị ấm trà nhạt ở ngự thư phòng, không biết Tô Tử có nhã hứng chăng?”

“Vi thần vô cùng vinh hạnh!”

Hiền Vương lập tức đứng dậy, chẳng thèm ngó ngàng đến công tử Ngang, đi thẳng ra phía cửa bên. Tô Tần vòng tay với công tử Ngang, sau đó đi theo nội thần. Công tử Ngang đang lúc lúng túng, thì Nhan thái sư vội bước tới, vòng tay vái công tử Ngang và hai vị Chu Công: “Tại hạ có chuẩn bị một bàn rượu nhạt, mời công tử và hai vị đại công đến phủ uống vài chén, mong được công tử và hai vị đại công nể mặt!”

Công tử Ngang vòng tay đáp lễ: “Cung kính chi bằng tuân lệnh!”

Bốn người cùng ra khỏi chính điện, đánh xe thẳng tới phủ của Nhan thái sư.

Trong ngự thư phòng, Hiển Vương và Tô Tần phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

Đã có cung nữ dâng trà sẵn sàng, Hiển Vương nâng chén, nói: “Tô Tử, mời!”

Tô Tần không uống trà, mà đứng dậy khỏi chiếu, quỳ xuống đất khấu đấu nói: “Tội dân Tô Tần phạm tội không thể dung thứ, xin bệ hạ trách phạt.”

“Ồ, Tô Tử có tội gì?” Hiển Vương thoáng ngỡ ngàng.

“Bệ hạ!” Tô Tần lại khấu đầu. “Tội dân có ba tội đại bất kính. Thứ nhất, thân là con dân Đại Chu, mà chưa thể dốc sức cho Chu, đó là tội bất trung. Hai là hợp tung liệt quốc, cùng chế một Tần, nhưng lại chưa kịp thời bẩm báo lên bệ hạ, đó là tội tiếm việt. Ba là hẹn sáu vị quân chủ hội thề tại Mạnh Tân, nhưng lại không thể thuyết phục sáu vị quân chủ tới yết kiến bệ hạ, đó là tội phạm thượng. Tội dân mắc ba tội này, tội nào cũng không thể tha, cúi xin bệ hạ giáng tội!”

“Than ôi!” Hiển Vương thở dài một tiếng não nề, đặt chén trà xuống. “Tô Tử hãy mau đứng dậy! Thiên hạ vô trung, còn nói chi tới bất trung? Thiên hạ vô thượng, còn nói chi tới phạm thượng? Từ lâu quân chủ liệt quốc đã chẳng coi quả nhân ra gì, quả nhân sao có thể trách tội mình Tô Tử?”

“Bệ hạ…” Tô Tần chảy nước mắt.

Hiển Vương đứng dậy, dìu Tô Tần về chỗ ngồi, sau đó cũng trở về chiếu, lại nâng chén trà lên: “Quả nhân mời khanh đến, không phải để nói chuyện hợp tung, cũng không phải để nói chuyện thiên hạ, chỉ là mời khanh đến thưởng trà mà thôi. Tô Tử, mời!”

Tô Tần đưa tay áo lau nước mắt, cũng nâng chén lên: “Bệ hạ, mời!”

Hai người cùng nhấp một ngụm, rồi Hiển Vương đặt chén xuống: “Quả nhân có một chuyện muốn hỏi Tô Tử!”

“Tô Tần nếu biết sẽ không dám giấu!”

“Tô Tử hợp tung liệt quốc, từ lâu quả nhân đã được nghe chút phong thanh. Quả nhân rất muốn biết, khi Tô Tử tới nước Yên, đã từng gặp phu nhân nước Yên chăng?”

Tô Tần gật đầu: “Thần có gặp!”

“Tuyết Nhi… vẫn ổn chứ?” Hiển Vương nhổm người về phía trước, thấp thỏm hỏi.

Thiên tử không hỏi đến đại sự thiên hạ, mà chỉ quan tâm tới sự an nguy của con gái, khiến Tô Tần cảm khái muôn phần, hai mắt rơm rớm, giọng run rẩy đáp: “Phu nhân nước Yên mọi sự đều tốt đẹp!”

Hiển Vương nghe vậy, lại càng lo lắng hơn: “Tô Tử, xin hãy nói thật! Khanh đã gặp được Tuyết Nhi hay chưa?”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Tô Tần lại đưa tay áo lau nước mắt. “Không có phu nhân nước Yên, cũng sẽ không có Tô Tần ngày hôm nay!”

“Sao khanh lại nói vậy?”

Tô Tần bèn chậm rãi kể lại một lượt những chuyện mình đã gặp phải khi ở nước Yên, rằng mình gặp nạn ở nước Yên ra sao, rồi gặp được phu nhân nước Yên trong hoàn cảnh nào, lại được phu nhân nước Yên dẫn đi yết kiến Yên Công ra sao, giúp mình hợp tung như thế nào… Hiển Vương nghe mà thần hồn bay bổng, xuýt xoa luôn miệng.

“Bệ hạ, hội thề lần này, phu nhân nước Yên cũng theo đến!”

“Ồ?” Hiển Vương mừng rỡ. “Tuyết Nhi có đến ư? Khanh đã gặp nó chưa?”

Tô Tần lắc đầu: “Vi thần chỉ nghe nói là phu nhân có đến. Nghe nói phu nhân nước Yên rất nhớ nhung bệ hạ, lần này đến hội thề, Yên Công phá lệ cho phu nhân đi theo, vốn định sau khi kết thúc hội thề, sẽ cùng phu nhân đến yết kiến bệ hạ, không ngờ…”

“Ồ?” Hiển Vương sắc mặt căng thẳng.

“Yên Công đột nhiên nhận được tin cấp báo của thái tử, nên phải cùng phu nhân cấp tốc quay về nước!”

“Nước Yên có việc lớn gì ư?”

“Theo vi thần được biết, là sứ thần nước Tần đến Yên cầu thân, muốn gả công chúa Tần thất cho thái tử nước Yên.”

“Ồ!” Hiển Vương thở phào một hơi dài, nâng chén trà lên. “Nào, Tô Tử, mời dùng trà!”

“Đa tạ bệ hạ!” Tô Tần nâng chén lên, nhấp một ngụm. Hiển Vương đặt chén trà xuống, chuyển sang chuyện khác: “Quả nhân ở trong thâm cung, không biết tình hình bên ngoài. Nghe nói Tô Tử là người thôn Hiên Lý, ở ngay dưới mắt quả nhân. Có thể kể về người nhà của khanh, để quả nhân được đại khai nhãn giới chăng?”

“Đa tạ bệ hạ quan tâm!” Tô Tần đứng dậy quỳ xuống đất, khấu đầu nói. “Vi thần xuất thân hèn kém, đời đời là nông nô của Đại Chu. Ba đời trước, ông nội của vi thần là Tô Văn chuyên tâm trồng trọt, canh tác hợp thời, lại thêm mưa thuận gió hoà, liên tiếp tám năm bội thu, được lý chính tiến cử mà có được cơ hội yết kiến thiên tử. Thiên tử An Vương long nhan đại hỷ, đã khen thưởng tiên tổ, tặng cho một tấm biển ngạch, thưởng một thửa ruộng tốt, xoá bỏ hộ tịch nông nô. Truyền đến đời gia phụ Tô Hổ, gia phụ tưởng nhớ đến long ân trời biển của thiên tử, cả đời cần cù nghiệp nông tang, chỉ ước mong lại được bệ hạ khen thưởng. Không ngờ trời chẳng chiều người, tuy quanh năm lao lực, mà nguyện vọng khó thành, gia phụ vì vậy mà lao nhọc thành bệnh, nằm liệt giường đã lâu ngày. Gia phụ mong vi thần dốc sức nghề nông, trùng hưng tổ nghiệp, nhưng chí của vi thần lại không ở đó, đã phụ sự kỳ vọng của gia phụ.” Nói đến đây, liên tiếp khấu đầu. “Vi thần là tôi bất trung, là con bất hiếu, vi thần đúng là loại người bất trung bất hiếu!”

Chu Hiển Vương chưa từng được nghe thấy câu chuyện trung nghĩa đến vậy về thần dân của mình, vô cùng xúc động, hồi lâu vẫn không thể thốt được nên câu.

“Bệ hạ…” Tô Tần bật khóc nức nở.

“Tô Tử mau đứng dậy!” Hiển Vương cũng đã định thần, bước lại đỡ Tô Tần dậy, quay sang nội thần. “Soạn chỉ, cả nhà họ Tô thôn Hiên Lý đời đời làm ruộng, tận trung giữ nếp nhà, dưỡng dục con trai Tô Tần thành bậc anh kiệt xuất chúng trong thiên hạ, dùng sức một người mà giúp sáu nước hợp tung, công tày nhật nguyệt. Thưởng cho nhà họ Tô năm thửa ruộng tốt, phong Tô Hổ làm đạo nhân(1), cả nhà tấn phong nam tước, khâm thử!”

“Thần tuân chỉ!”

Vì là tướng quốc sáu nước, thân phận hiển hách, lại có công tử Ngang không rời nửa bước, nên Tô Tần không thể thoát thân.

Đến tận giờ Mão hôm sau, Tô Tần mới có thể cáo từ Chu thiên tử, cùng công tử Ngang rời khỏi vương thành, đến bờ sông Y Thuỷ hội họp với đoàn người ngựa thăm thân, tiếp tục rầm rộ tiến về Hiên Lý. Đoàn người dằng dặc như con rồng dài đầu đuôi uốn lượn, trên đường cái quan vó ngựa rầm rập, bánh xe lóc cóc, bụi bốc mù trời, cờ xí sáu nước bay phấp phới trong gió.

Vương thành chỉ cách Hiên Lý chừng ba mươi dặm đường, nhưng vì theo đường cái quan, nên phải đi vòng thêm hai mươi dặm, lại phải tiêu tốn rất nhiều thời gian ở bến sông Y Thuỷ, nên khi về đến Hiên Lý, trời đã xế chiều.

Thôn ấp gần xa thảy đều chấn động, người hiếu sự từ bốn phương tám hướng đổ về bờ sông Y Thuỷ đông nghìn nghịt chẳng khác nào chợ phiên, khiến thôn Hiên Lý bị bao vây kín mít.

Trong thành Lạc Dương không ai không biết tới sự kiện trọng đại này, nhưng nhà họ Tô vẫn như ngồi trong trống. Hôm qua cả thành Lạc Dương đổ ra nghênh đón Tô Tần, mặc dù đã có người thông báo, thậm chí còn có người thề thốt lên xuống rằng mình đã tận mắt nhìn thấy tướng quốc sáu nước chính là Tô Tần, nhưng người nhà họ Tô vẫn bán tín bán nghi, đặc biệt là chị dâu của Tô Tần, nhất quyết không tin.

Có lẽ là Ngụy Huệ Vương đã quên mất lời hứa, không hề phái ngự y đến thăm bệnh cho Tô Hổ như lời công tử Ngang, nên bệnh tình của Tô Hổ mỗi lúc càng thêm trầm trọng, sáng sớm hôm nay đã bắt đầu mê sảng, cứ luôn miệng gọi “Tần Nhi”, giọng càng lúc càng thêm yếu ót, sau đó chỉ thấy mấp máy miệng mà không nghe thấy lời, lỗ mũi chỉ thấy thở ra nhiều mà hít vào rất ít. Ngay cả khi Tô Diêu thị bón nước, cũng không uống được.

Tô Lệ biết cha đã sắp lìa đời, vì muốn cha được ra đi trong cảnh đoàn viên, nên đến gần giờ Ngọ, Tô Lệ và Tô Đại đã gọi cả nhà đến, căn dặn bất cứ ai cũng không được phép ra khỏi cửa, cùng nhau quỳ cả xuống trước giường.

Trong chính đường đã bày một cỗ quan tài gỗ bách mới tinh sơn dầu trầu sáng bóng.

Sắp xếp cho Tô Hổ xong xuôi, Tô Lệ nhẹ nhàng nâng đầu ông dậy, bảo vợ vén rèm cửa lên, để cho Tô Hổ nhìn thấy cỗ quan tài. Tô Đại bước tới, đưa tay gõ cồng cộc vào quan tài, nói lớn: “Cha ơi, đây là quan tài gỗ bách, do chị hai mua đấy!”

Tô Hổ khoé mắt ứa lệ, từ từ đưa mắt nhìn sang Tiểu Hỷ, miệng khẽ mấp máy.

“Cha ơi!” Tiểu Hỷ lê lên mấy bước, gục đầu bên giường Tô Hổ.

Tô Hổ vẫn mấp máy miệng, nhưng vẫn không nói được nên lời. Ông muốn nâng cánh tay vẫn còn có thể cử động lên, nhưng không nâng nổi. Tô Diêu thị thấy vậy liền đỡ lấy tay ông, đặt lên má Tiểu Hỷ.

Tô Hổ gắng hết sức mới nhúc nhích được ngón tay, dường như muốn lau nước mắt cho Tiểu Hỷ.

Đúng vào lúc này, trong thôn bỗng ồn ào như chợ vỡ, mọi người lũ lượt đổ xô ra đầu thôn. Một lát sau, ngoài cổng nhà họ Tô vọng lại tiếng bước chân rậm rịch, có người chạy thục mạng vào hét tướng lên: “Anh Tô, anh Tô ơi! Mau, có chuyện lớn rồi!”

Nghe giọng biết ngay là Ma Cô.

Tô Đại liếc nhìn Tô Lệ. Tô Lệ khẽ hất hàm, Tô Đại vội vàng chạy ra. Vợ Tô Đại, vợ Tô Lệ đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng chạy theo. Mấy đứa trẻ cũng nhấp nhổm muốn chạy, nhưng vừa đứng dậy đã nghe Tô Lệ “hừm” mạnh một tiếng, nên lại quỳ cả xuống. Con Mực phủ phục bên cạnh Tiểu Hỷ, nằm yên bất động.

“Suỵt!” Tô Đại sợ Ma Cô làm kinh động đến Tô Hổ, vội đưa tay ra hiệu, hạ giọng hỏi. “Ma Cô, có chuyện gì vậy?”

“Trời đất ơi, cái vị tướng quốc sáu nước mà hôm qua Chu thiên tử vừa ra tận ngoài thành nghênh đón chính là cậu hai nhà anh đấy!” Ma Cô hào hứng reo toáng lên. “Mau, mau đi báo với ông anh, cả Tiểu Hỷ nữa!”

“Ma Cô nói thật chứ? Người đó chính là anh hai của cháu ư?” Tô Đại vừa kinh hãi vừa mừng rỡ, nhưng vẫn bán tín bán nghi.

“Ma Cô đã bao giờ nói dối cậu chưa?” Ma Cô trừng mắt. “Xe ngựa đã vượt qua Y Thuỷ rồi, toàn bộ Y Lý đều chấn động, mọi người trong vòng mười dặm đều ra nghênh đón cả rồi, chỉ còn mỗi nhà cậu là vẫn ở lì trong cửa thôi!”

Vợ Tô Lệ đang cài trâm lên tóc, vừa nghe nói vậy, trợn mắt sững sờ, cây trâm trong tay rơi thẳng xuống đất. Vợ Tô Đại vội chạy vào nhà, quỳ xuống đất, mừng rỡ reo lên: “Anh cả, mau… mau nói với cha, anh hai đã trở về! Anh hai đã làm quan lớn rồi, là tướng quốc sáu nước, xe ngựa đã đến bên bờ Y Thuỷ, chỉ lát nữa thôi sẽ về đến nhà. Là Ma Cô nói!”

Tô Lệ nghi hoặc nhìn vợ Tô Đại, đang định lên tiếng thì Ma Cô đã chạy xộc vào, nhưng thấy tình cảnh trong nhà, lời ra đến miệng lại vội vàng nuốt xuống, rồi thoăn thoắt đi tới trước mặt Tô Hổ, cúi xuống ghé sát tai ông thì thào: “Anh Tô ơi, là tôi, là em gái Ma Cô đến thăm anh đây! Tôi báo cho ông anh một tin mừng, một tin đại đại hỷ đây, cậu con thứ của ông anh đã trở về rồi! Thật không thể tưởng tượng nổi, cậu ấy đã hiển hách thật rồi, là tướng quốc của sáu nước kia đấy! Nghe người ta nói, trước ngực cậu ấy đeo sáu cái ấn vàng, sáu vị quân chủ cung cúc bám theo sau chân cậu ấy. Hôm qua cậu ấy đã trở về, Chu thiên tử hay tin cậu ấy về quê, đã khởi giá ra ngoài thành mười dặm nghênh đón, dẫn theo cả đội nghi trượng ngũ sắc, toàn thành Lạc Dương đều đổ xô đến xem. Chu thiên tử đón được cậu hai, đã mời cậu hai cùng lên vương xa trở về vương cung! Ông anh ơi, lần này coi như anh đã được mãn nguyện rồi!”

Tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Tô Hổ.

Tô Diêu thị không thốt được một lời, Tiểu Hỷ cho rằng Ma Cô biết Tô Hổ nhớ thương Tô Tần, nên muốn an ủi ông trước lúc lâm chung, thì nghẹn ngào nức nở, càng khóc thảm thiết hơn nữa.

Tô Hổ nhắm mắt lại, trong cổ họng ấm ớ một tiếng, nhưng chẳng ai nghe ra ông đang nói gì. Song nhìn nét mặt, hiển nhiên là không tin.

Ma Cô sốt ruột, đang định nghĩ cách khác để giải thích, bỗng nghe ngoài cổng rộn lên tiếng vó ngựa dồn dập. Vài kỵ sĩ trong cung đã đến trước một bước, do quan tư nông dẫn đường, dừng ngựa trước cổng. Người dẫn đầu là nội thần của Chu thất.

Nội thần bước vào trong sân, rút thánh chỉ ra, lớn giọng tuyên bố: “Thiên tử Đại Chu có chỉ, con dân Đại Chu Tô Hổ nghe chỉ!”

Mãi đến lúc này, mọi người mới dám tin tất cả những điều Ma Cô vừa nói đều là sự thật, nhưng lại không biết phải tiếp chỉ như thế nào, cả nhà đều như ngây thôn, gồm cả Ma Cô, cứ đứng như trời trồng một hồi lâu, sau đó mới theo nhau quỳ phịch xuống sân như thân chuối đổ.

Nội thần liếc mắt một vòng, nhìn thấy giữa chính đường bày một cỗ quan tài, lập tức hiểu rõ sự tình, bèn cao giọng tuyên chỉ: “Con dân Tô Hổ thôn Hiên Lý nghe chỉ! Cả nhà họ Tô đời đời làm ruộng, tận trung giữ nếp nhà, dưỡng dục con trai Tô Tần thành bậc anh kiệt xuất chúng trong thiên hạ, dùng sức một người mà giúp sáu nước hợp tung, công tày nhật nguyệt. Thưởng cho nhà họ Tô năm thửa ruộng tốt, phong Tô Hổ làm đạo nhân, cả nhà tấn phong nam tước, khâm thử!”

Không ai nói được lời nào, chỉ ngơ ngác nhìn nhau.

Tư nông vội giục: “Kìa, các người còn đứng ngẩn ra đấy? Còn không mau tiếp chỉ tạ ân?”

Lúc này mọi người mới hoàn hồn, dập đầu bình bịch. Tư nông lại nói: “Trong số các người, ai là gia chủ?”

Tô Lệ khấu đầu: “Thảo dân Tô… Tô Lệ…!”

Tư nông bước tới, đỡ Tô Lệ đứng dậy, cười lớn mà nói: “Tô đại nhân, bệ hạ đã ban chỉ tấn tước, bắt đầu từ hôm nay, cả nhà họ Tô đã không còn là thảo dân nữa!” Rồi nhận lấy tờ thánh chỉ từ trong tay nội thần, sau đó lại rút ra một tờ khế đất từ trong tay áo mình. “Đây là chiếu thư của thiên tử, mọi người hãy treo ở minh đường, truyền vinh quang cho con cháu. Đây là khế đất của năm thửa ruộng, đại nhân hãy cất cho kỹ! Tướng quốc đại nhân của sáu nước chỉ lát nữa sẽ tới nơi, hãy mau ra đầu thôn nghênh đón!”

Tô Lệ hai tay lẩy bẩy, nhận lấy tờ thánh chỉ và khế đất, ngẩn ngơ mất một lúc rồi mới quay trở vào trong nhà, xúc động nghẹn ngào quỳ xuống trước giường Tô Hổ, giọng run lên ngắt quãng: “Cha ơi, là… là thật đấy, em hai đã thành… thành danh rồi! Bệ hạ giáng chỉ, tấn phong cha làm đạo nhân, thưởng cho năm thửa ruộng tốt! Cha ơi, giờ cha cũng giống như tư nông đại nhân, cùng là đại phu rồi!”

Tô Hổ vẫn nằm bất động, hai mắt nhắm nghiền, nhưng khoé miệng kéo thành một nụ cười, nước mắt ứa thành dòng trên mặt.

“Cha ơi, mau xem này, đây là thánh chỉ, đây là khế đất của năm thửa ruộng!”

Tô Hổ vẫn nằm bất động.

Tô Lệ đang định gọi tiếp, thì Tô Diêu thị đã cất giọng khản đặc ngăn lại: “Đừng gọi nữa, ông ấy không nghe thấy nữa rồi!

Tiểu Hỷ đưa tay đặt trước mũi Tô Hổ, rồi kêu lên thảm thiết: “Cha ơi…”

Tô Lệ kinh hãi, nhìn kỹ lại Tô Hổ, thấy ông đã tắt thở.

“Cha ơi! Cha ơi!” Tô Lệ hai tay bủn rủn, thánh chỉ và khế đất rơi thẳng xuống bên chân Tô Diêu thị.

Tô Diêu thị chậm chạp khom lưng xuống, đưa tay nhặt tờ thánh chỉ và khế đất lên, phủ trên mặt Tô Hổ.

Trong sân không một bóng người.

Tiếng huyên náo bên ngoài mỗi lúc một gần, mọi người đều đã ra cả đầu thôn để cung nghênh tướng quốc sáu nước.

Tô Tần trở về thôn Hiên Lý trong cái nhảy chồm cuống quýt của con chó Mực.

Vừa đặt chân lên bờ Y Thuỷ, xe ngựa của Tô Tần đã bị đám người đến xem vây chặt. So với trận thế long trọng khi Chu thiên tử ra tận ngoài thành nghênh đón hôm qua, hôm nay không khí càng thêm rộn ràng náo nhiệt, càng thêm rối loạn, vì lúc này không có nghi thức, chỉ có tình thân. Hơn nữa, những người đến đón hai bên đường phần lớn đều là hàng xóm xa láng giềng gần đã từng chứng kiến Tô Tần khôn lớn.

Tô Tần nhảy xuống xe, sánh vai với công tử Ngang dẫn đầu đội ngũ thăm thân. Tô Tần vòng hai tay, suốt dọc đường vừa đi vừa vái, trên mặt đeo một nụ cười cứng nhắc.

Những người dân quê Đại Chu từ bốn phương tám hướng lũ lượt đổ về, xếp hàng dài dặc từ thôn Hiên Lý cho đến tận bên bờ Y Thuỷ, chen vai thích cánh hai bên con đường đất rộng chưa đầy năm thước. Tất cả mọi người đều vô cùng phấn khởi, tất cả mọi ánh mắt đều nhìn chằm chằm vào Tô Tần. Những người ở gần chen nhau cố tiến sát lại bên đường để mong tận mắt nhìn thấy phong thái của tướng quốc sáu nước. Những người ở xa thì vừa chờ đợi, vừa mồm năm miệng mười bàn tán rộn ràng:

“Cha chả, ta đã già đến mấy kiếp rồi mà chưa, bao giờ được nhìn thấy cảnh tượng này!”

“Trời ơi, chẳng khác nào thiên tử đi tuần!”

“Thiên tử cũng đâu có được phong thái đó? Nghe nói giờ còn bỏ bê chẳng buồn lên triều! Khí thế như ngày hôm qua, đã nhìn thấy bao giờ chưa?”

“Ai nói là thiên tử ngày nay? Ý ta nói là Mục thiên tử hồi xưa ấy! Tiểu tử, nhà ngươi đã bao giờ nghe nói đến Mục thiên tử hay chưa? Khi Mục thiên tử đi tuần, khí thế đó, uy phong đó, hổ dữ có gặp cũng phải quỳ lạy nữa là!”

“Được rồi được rồi, không cãi với ông nữa! Ông biết không, tôi từ nhỏ đã chơi với Tô đại nhân rất thân, thường cùng nhau chơi trò nặn bùn! Hồi đó, đại nhân không bao giờ chịu nói gì, chẳng khác nào người câm, ông có biết tại sao không? Vì Tô đại nhân có tật nói lắp!”

“Chà chà, thật không ngờ một kẻ nói lắp lại được phong quang nhường này!”

“Với con mắt của ngươi, cho dù thánh nhân có đứng trước mặt cũng chẳng nhận được ra! Không phải nói khoác, ngay từ đầu ta đã biết Tô đại nhân sẽ làm nên nghiệp lớn!”

“Nói khoác!”

“Ai nói khoác kẻ đó không phải là người! Năm đó trên phố lớn ở vương thành, có một ông lão mày trắng xem một quẻ cho Tô đại nhân, nói rằng Tô đại nhân sẽ quý đến hàng khanh tướng, thế mà chẳng ai chịu tin, chỉ có mình ta tin!”

“Ngươi dựa vào cái gì mà tin?”

“Dựa vào cái tật nói lắp!”

“Suỵt, mau câm miệng, Tô đại nhân đến rồi!”

Nhìn cảnh tượng tưng bừng náo nhiệt, rừng người nghìn nghịt, tiếng người như sóng, Tô Tần bất giác nhớ lại cảnh ngộ của mình mấy năm về trước, cũng trên chính mảnh đất này, chợt thấy da đầu tê rần rần, không hề cảm thấy niềm xúc động hay hoan hỷ khi được áo gấm về quê. Lại là công tử Ngang đang đi bên cạnh Tô Tần cảm động trước cảnh tượng này, vẫy tay liền hồi, phấn khích cứ như chính hắn mới là kẻ vinh quy.

Đúng lúc Tô Tần đang trong cơn đờ đẫn, bỗng một bóng đen thình lình lao vụt ra khỏi đám đông, phi như tên bắn trên con đường chỉ rộng chừng vài thước lọt thỏm giữa biển người, rồi phóng thẳng vào Tô Tần với một tốc độ chóng mặt.

Tất cả mọi người đều thất kinh, công tử Ngang lại càng nhảy dựng lên kinh hãi, sắc mặt tái nhợt, vì bóng đen lao tới quá ư thần tốc, quá ư bất ngờ, thậm chí ngay cả Trâu Phi Đao theo sát sau lưng Tô Tần cũng không kịp phản ứng.

Là con Mực!

Người đầu tiên kịp định thần chính là Tô Tần.

“Mực!” Tô Tần mừng rỡ, khẽ gọi một tiếng, khom lưng xuống ôm lấy con chó. Con Mực sủa rối rít, hết cọ người lại liếm chân Tô Tần.

Tô Tần ôm chặt con Mực vào lòng, áp mặt vào đầu nó, nước mắt ứa ra, hai tay vuốt ve liên hồi trên bộ lông con vật: “Mực ơi, Mực…”

Đến lượt đám đông sững sờ, kinh ngạc nhìn một người một chó, dường như không tin vào mắt mình.

Sau một hồi mừng rú, con Mực giãy người nhảy ra khỏi lòng Tô Tần, há miệng cắn chặt lấy ống tay áo rộng của hắn, vừa kêu ư ử, vừa ra sức kéo đi. Thấy bộ dạng cuống quýt của nó, Tô Tần trong tim thắt lại, chẳng còn tâm trí đâu để ý đến đội ngũ đón tiếp và lễ nghi xuất hành, lập tức sải dài bước chân, quýnh quáng đi theo con chó.

Tất cả mọi người đều đang ngơ ngác. Không còn ai hò reo nữa, Tô Tần cũng chẳng còn vái chào ai, chỉ gắng sức bước đi thật nhanh, càng đi càng vội, bám sát theo con Mực. Con Mực càng chạy càng nhanh, rồi Tô Tần cũng chạy thục mạng theo sau nó.

Một người một vật chạy điên cuồng một mạch về đến nhà, còn chưa bước qua cánh cổng, đã nghe thấy tiếng khóc thảm thiết của Tiểu Hỷ và anh cả Tô Lệ vọng ra từ chính đường.

Tô Tần lao thẳng vào cửa chính đường, chết sững.

Hai tay Tô Tần bám vào khung cửa, hai chân nặng tựa ngàn cân, hai bàn chân giống như bị đóng đinh xuống đất.

Con Mực phủ phục dưới chân Tô Tần, liếm vào bàn tay hắn đang run lên bần bật.

Không biết bao lâu sau, Tô Tần mới thoát khỏi cơn ngây dại, người đổ về phía trước, hai gối khuỵu xuống, quỳ sụn xuống đất, từ cổ họng bật ra hai tiếng khản đặc, méo mó: “Cha ơi…”

Trong chớp mắt, nhà họ Tô đã từ đại hỷ chuyển sang đại bi. Đám Tô Đại, vợ Tô Lệ, vợ Tô Đại và bọn trẻ con chạy về ngay sau đó cũng đã hiểu ra sự thể, đều quỳ xuống giữa nhà khóc than thảm thiết. Đặc biệt là vợ Tô Lệ, gào khóc lớn tiếng đến nỗi con Mực chết khiếp, cụp đuôi len lét lủi ra một góc sân. Những người vốn đến để chúc mừng, bao gồm cả đại phu Chu thất, đoàn người tung thân đi theo Tô Tần, đều lúng túng trước biến cố này, cứ đứng ngẩn ra tại chỗ.

Trong sân ngoài sân, người đông nghìn nghịt, song không có lấy một tiếng xì xầm.

Người định thần lại đầu tiên chính là công tử Ngang.

Hắn ngoài mặt đau buồn, nhưng trong lòng mừng húm, lớn tiếng căn dặn thuộc hạ: “Mau, truyền nhạc công, tấu nhạc tang!”

Đội nhạc đi theo đoàn vinh quy lập tức chạy đến, nhạc hỷ lập tức chuyển thành nhạc tang, dư âm nỉ non thê thiết vang khắp thôn Hiên Lý, thoáng chốc đã át hết những tiếng khóc gào của già trẻ lớn bé trong nhà họ Tô.

Trong tiếng nhạc tang thảm thiết, công tử Ngang sắp xếp tang lễ đâu ra đấy. Do Tô Hổ đã được phong làm đạo nhân, dù tước vị không cao, nhưng cũng là một đại phu, công tử Ngang ngẫm nghĩ chốc lát, rồi căn dặn chuẩn bị tang phục đồ lễ cho Tô Hổ theo quy cách của quan đại phu.

Mấy ngày sau đó, công tử Ngang tỏ ra nhiệt thành chưa từng có, rất mực tận tụy, hò hét luôn miệng, bận rộn luôn tay luôn chân lo toan hậu sự cho lão gia nhà họ Tô.

Chu thất suy vi đã nhiều năm, đừng nói là bách tính tầm thường, cho dù là nhà sĩ đại phu có đại tang, cũng chẳng còn lễ nghi chu toàn như thuở trước. Vì vậy, quan chức táng chuyên lo tang sự cho sĩ đại phu chẳng còn lại mấy người, hầu hết nhàn tản chẳng có việc gì làm. Công tử Ngang dò hỏi tìm được một vị chức táng giàu kinh nghiệm ở ấp Hà Nam đất Tây Chu, lập tức mời ông ta đến tận nơi, căn dặn phải tổ chức tang lễ theo đúng quy chế nghiêm ngặt của Đại Chu. Quy chế Đại Chu vốn hết sức rườm rà phức tạp, từ bài trí linh đường, tang phục, đồ tuỳ táng, phương vị mộ thất, lễ nghi chủ khách… đều vô cùng tỉ mỉ kỹ càng, thậm chí lúc nào khóc, khóc như thế nào, tiếng khóc lớn nhỏ ra sao cũng có quy tắc. Công tử Ngang cũng thay đổi luôn thói quen không thích đọc sách trước đây, phái người đi tìm cuốn “Nghi lễ” do Khổng Khâu nước Lỗ biên soạn, nghiên cứu thật kỹ càng, cứ như lo sợ viên chức táng không làm tròn trách nhiệm.

Dưới sự đôn đốc của công tử Ngang, cả vùng Y Lý ồn ã tiếng người, trong làng ngoài xóm đâu đâu cũng thấy những bóng người mặc tang phục, tiếng nhạc tang thảm thiết, tiếng khóc than bi thương không dứt bên tai, ngựa xe đến phúng viếng lại càng liên miên bất tuyệt. Mấy anh em nhà họ Tô chẳng khác nào con rối, mặc kệ cho đám lễ quan chức táng đặt đâu ngồi đấy.

Chỉ một đêm mà thành phú quý, cả nhà họ Tô dường như chưa thể thích ứng kịp, đặc biệt là hai chị em dâu là vợ Tô Lệ và vợ Tô Đại.

Tang lễ đã sang ngày thứ bảy. Đến lúc quá trưa, vợ Tô Lệ đã quỳ trong linh đường hơn nửa ngày trời bắt đầu nóng ruột, khẽ huých khuỷu tay vào vợ Tô Đại, hất hàm về phía nhà xí ở bên ngoài.

Vợ Tô Đại gật đầu, rồi cùng chị ta đi ra.

Xong việc, vợ Tô Lệ không vội vã trở vào, mà nhòm ngang ngó dọc một lúc, rồi dẩu mỏ về phía khu nhà nhỏ của Tiểu Hỷ. Suốt mấy ngày nay, toàn bộ lễ vật đáng giá đều cất cả trong đó.

Khu nhà của Tiểu Hỷ không lớn, trong ngoài chỉ có mấy gian, hai bên cổng mỗi bên một tên lính cầm mác đứng canh, thấy hai người bước lại, lập tức xoay ngang cây mác chặn đường. Hai chị em dâu đang định bỏ đi, thì vị quân uý kiểm nhận lễ vật vừa hay bước tới, nhận ra hai người, liền khom lưng vái chào: “Hạ quan xin chào hai vị phu nhân!”

Vợ Tô Lệ lặng người mất một lúc, mới hạ giọng dè dặt hỏi: “Có thể vào xem được không?”

Quân uý chìa tay nói: “Hai vị phu nhân, mời!”

Hai chị em dâu đi theo quân uý vào trong. Vừa bước qua cửa phòng, cả hai đã ngây người chết sững. Gấm lụa, đồ dùng, lễ vật đủ loại la liệt khắp nơi, thứ nào trông cũng vô cùng lạ mắt, chất đầy cả mấy gian phòng, ở sát tường đặt ba chiếc rương lớn đỏ rực, không đậy nắp, bên trong đầy ắp vàng bạc châu báu. Có ba người quỳ ở trước rương, hai người đếm, một người ghi chép.

Hai chị em dâu ngay cả trong mơ cũng chưa bao giờ được thấy nhiều thứ quý báu nhường này, cứ đứng chết trân hồi lâu mới hoàn hồn lại được. Vợ Tô Đại không dám nhìn tiếp nữa, khẽ giật tay áo vợ Tô Lệ.

Hai chị em dâu quay trở ra sân, đứng dưới gốc cây xuân.

“Chị dâu, nhiều châu báu như vậy, chẳng lẽ đều là của nhà chúng ta cả ư?” Vợ Tô Đại khẽ hỏi.

Vợ Tô Lệ không đáp, chỉ đứng thở hổn hển một hồi, rồi đột nhiên sực nhớ ra một chuyện, vội hỏi: “Này em dâu, sao không thấy tướng gia đâu?”

“Tướng gia?” Vợ Tô Đại ngẩn người. “Tướng gia nào?”

Vợ Tô Lệ liếc xéo cô ta một cái: “Em dâu ngốc quá, chính là chú hai chứ ai, đại quý nhân của nhà chúng ta!”

“Chị nói anh hai ư?” Vợ Tô Đại bật cười. “Hình như lúc nãy công tử mời anh hai đến doanh trại rồi, nói là đi bàn việc!”

“Bàn việc gì?”

“Sao em biết được?”

“Này em dâu, đi, cùng chị xuống bếp!”

“Giờ mới là nửa chiều, xuống bếp làm gì?” Vợ Tô Đại ngơ ngác nhìn cô ta.

“Bảo em đi thì cứ đi, hỏi nhiều làm gì?” Vợ Tô Lệ không nói không rằng, kéo phăng vợ Tô Đại xuống bếp, nấu một nồi canh rượu nóng hổi.

Vợ Tô Lệ múc ra một bát, đặt lên chiếc khay đen tươm tất nhất trong nhà.

“Em dâu, mau bưng lấy, cùng đi với chị!”

“Đi đâu?”

“Đến đại trướng của tướng gia, kính tướng gia uống!”

“Chị dâu, anh hai chẳng thiếu những thứ này đâu! Nghe nói có rất nhiều người chuyên nấu cơm cho anh hai!”

“Họ nấu phần họ. Chuyện nào ra chuyện đấy. Mùa đông năm xưa, tướng gia bụng đói trở về nhà, vốn dĩ muốn uống một bát canh nóng, lúc đó chị thật chẳng có mắt, không chịu nấu cho tướng gia, thật thất lễ. Lần này phải bù đắp lại mới được, nếu không, ngày sau chị còn mặt mũi nào nhìn tướng gia nữa?”

“Em không dám, chị và chị hai đi đi!”

“Không được!” Vợ Tô Đại lắc đầu quầy quậy. “Hai người đó giống như nước với dầu trong chảo, chỉ cần đốt lửa là nổ tung toé. Hơn nữa, việc này là do chị gây ra, chẳng liên quan gì đến em hai hết. Đi nào, chị xin em đấy!”

“Em không dám đi!” Vợ Tô Đại lùi lại mấy bước.

“Ôi!” Vợ Tô Lệ rớt nước mắt. “Em không đi thì thôi vậy! Ai nợ thì người đó phải trả, ai bảo chị có mắt không tròng!”

Vợ Tô Lệ bưng khay lên, đi thẳng về phía bắc thôn.

Mùa thu năm ngoái, một trận mưa lớn đã đánh sập căn lều cỏ mà năm xưa Tô Tần đã cầm dùi đâm vào đùi mà ngộ đạo. Để tưởng nhớ nơi này, Tô Tần đã cho dựng đại trại ở ngay chỗ cũ. Ngoài những lúc canh linh cữu cho cha, Tô Tần đều ở trong trại này.

Vệ sĩ vào bẩm báo, Tô Tần nghe nói là chị dâu đến, liền bảo Trâu Phi Đao ra đưa vào. Vợ Tô Lệ tay bưng khay đi vào trong trại, khuỵu hai gối quỳ xuống, rồi lê đến trước mặt Tô Tần, nâng khay ngang mày.

Tô Tần ngạc nhiên hỏi: “Chị dâu, thế này là thế nào?”

Vợ Tô Lệ khẽ giọng đáp: “Gió bắc đã nổi, trời đang trở lạnh, nô tỳ nấu cho tướng gia một bát canh nóng, mời tướng gia dùng cho ấm bụng!”

Công tử Ngang vô cùng kinh ngạc, mắt nhìn sững vào vợ Tô Lệ, chốc sau lại quay sang nhìn Tô Tần.

“Nô tỳ kính mời tướng gia dùng chút canh nóng!” Vợ Tô Lệ lại lên tiếng.

Tô Tần cười gượng một tiếng, than rằng: “Đại lễ của chị dâu, Tần thực không dám nhận!”

“Cầu xin tướng gia!” Vợ Tô Lệ giọng nghẹn ngào. “Xin tướng gia hãy dùng canh!”

Tô Tần không biết làm sao, đành phải đứng dậy, đưa hai tay nhận lấy chiếc khay, đặt lên mặt bàn.

Vợ Tô Lệ trống được hai tay, liền phủ phục sát đất, khấu đầu nói: “Nô tỳ đa tạ tướng gia đã không trách tội! Bát canh này là tự tay nô tỳ nấu, mời tướng gia hãy dùng!”

Tô Tần liếc qua bát canh đặt trên bàn: “Phải chăng chị dâu vì chuyện năm xưa không chịu nấu cơm?”

Vợ Tô Lệ lại dập đầu sát đất: “Là nô tỳ có mắt không tròng, không nhận ra tướng gia. Nếu giờ tướng gia không nhận, thì… nô tỳ… nô tỳ…” Nói rồi sụt sịt khóc.

“Tần từ lâu đã quên chuyện đó rồi, cũng chưa bao giờ trách cứ chị dâu, chị dâu lại cung kính thế này, là vì sao?”

“Tướng gia quyền cao chức trọng, nô tỳ không dám không cung kính. Nô tỳ kính mời tướng gia dùng canh!” Vợ Tô Lệ vừa nói vừa khấu đầu.

Công tử Ngang không hiểu rõ nguyên nhân, nhìn mà sốt ruột: “Tô Tử, mau uống đi, dù sao cũng không thể để đại tẩu khấu đầu mãi như vậy được!”

Tô Tần bưng bát canh lên, nếm một chút, thấy không còn quá nóng, liền uống một hơi hết sạch, rồi nói: “Đa tạ canh nóng của chị dâu!”

Vợ Tô Lệ đặt chiếc bát không lên khay, lại dập đầu ba cái tạ ân, sau đó hoan hỷ đi ra khỏi đại trại. Nhìn theo chị dâu, Tô Tần chau tít đôi mày, bật ra một tiếng thở dài.

“Tô Tử, hai người đang diễn trò gì vậy, tại hạ càng xem càng thấy mơ hồ!” Công tử Ngang tò mò hỏi.

Tô Tần chậm rãi kể lại chuyện năm xưa đi du thuyết Tần thất bại, thân tàn ma dại về nhà, cuối cùng than thở: “Than ôi, thói đời lúc nóng lúc lạnh, tình người chạy theo thế lợi. ‘Lúc nghèo hèn tình thân lạnh ngắt, phú quý rồi bám chặt như ma!’”

Công tử Ngang cũng than thở một hồi, rồi đáp: “Tô Tử nay đã có được phú quý, người thân cũng nên được thơm lây. Tại hạ thấy mấy hôm nay có chút lễ vật, hay là Tô Tử hãy lấy ra một ít, phân phát cho bà con chòm xóm?”

“Xin nghe theo lời công tử!” Tô Tần vòng tay đáp, rồi quay sang Trâu Phi Đao. “Bà con làng xóm đã nhiều đời phải chịu nỗi khổ không có ruộng cày, huynh hãy chuẩn bị tiền bạc, góp cùng phần thưởng của quân chủ liệt quốc, mang cả đi mua đất. Người trong thôn Hiên Lý, phàm những ai không có ruộng, mỗi hộ tặng cho nửa thửa. Ba thôn Y Lý quanh đây, phàm những ai không có đất, mỗi hộ tặng cho mười mẫu. Số tiền của còn lại, giữ lại một ít phòng xa, còn lại đều mang ra cứu tế, khiến con dân Đại Chu người già được phụng dưỡng, trẻ nhỏ được nuôi nấng, kẻ đói được ăn no, kẻ rét có áo mặc, kẻ lang thang có chốn ở!”

“Xin tuân lệnh!”

“Tốt lắm!” Công tử Ngang lớn giọng tiếp lời. “Tại hạ cũng quyên góp ba mươi lượng vàng, tạm thể hiện chút thành ý!”

“Đa tạ công tử!” Tô Tần ôm quyền vái công tử Ngang.

“Còn nữa!” Công tử Ngang cũng ôm quyền đáp lễ. “Trước lúc lên đường, bệ hạ đã ban cho tại hạ ba trăm lượng vàng, hạ chỉ cho tại hạ giúp Tô Tử lập từ đường gia miếu, tại hạ cũng đang định đem chuyện này bàn với Tô Tử.”

Cho dù đã có dự đoán trước, nhưng Tô Tần vẫn cảm thấy một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng, bất giác rùng mình. Rõ ràng, Ngụy Huệ Vương làm vậy chỉ có một mục đích, đó là để công tử Ngang có cớ giữ chân Tô Tần ở đây, hoàn toàn cách ly Tô Tần khỏi việc phạt Tần.

“Ngoài việc này ra, Tô Tử còn có yêu cầu gì khác?” Công tử Ngang liếc xéo Tô Tần, nghiêng người hỏi.

“Đa tạ đại ân của bệ hạ!” Tô Tần khẽ ôm quyền, cười gượng mà đáp. “Nếu như công tử không phiên lòng, tại hạ có một cầu xin!”

“Tô Tử cứ nói!”

“Phiền công tử lập một ngôi miếu nhỏ cho cầm sư.”

“Cầm sư? Phải chăng là thiên hạ đệ nhất cầm mà khi ở Tắc Hạ, Tô Tử đã từng nhắc đến?”

“Lão tiên sinh hiện an táng ở nơi nào?” Công tử Ngang hào hứng thấy rõ.

“Đợi an táng tiên phụ xong xuôi, tại hạ sẽ dẫn công tử đến đó!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử