Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 89
Luận phong thuỷ, Trâu Diễn can vua
Vào thâm sơn, Trần Chẩn nhận mệnh Trâu Diễn không trở về học quán, mà tới thẳng chỗ Thuần Vu Khôn.

❊ ❊ ❊

Thuần Vu Khôn vẫn bệnh nặng, nằm bẹp trên giường. Ngự y chẩn bệnh, nói rằng tâm thận bất hoà, kê không ít thuốc, đám đệ tử mỗi ngày sắc hai bát lớn, song Thuần Vu Khôn không muốn uống, trốn được là trốn, không trốn được mới miễn cưỡng nhấp vài ngụm đối phó.

Ngự y căn dặn, Thuần Vu Khôn bệnh ở trong tâm, cần nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Thế là đám học trò thay phiên nhau túc trực trước cửa học quán của Thuần Vu Không người thường không ai được vào.

Ngự y căn dặn như vậy, lại chỉ làm khổ Thuần Vu Khôn, bởi ông là người không chịu nổi quạnh quẽ. Càng khiến Thuần Vu Khôn buồn bực hơn nữa, là mấy hôm trước chú chó yêu Y Nhân lại lăn ra chết. Y Nhân dương thọ chưa tận, cũng là mắc bệnh mà đoản mệnh, trước khi chết cứ nằm lì bên giường Thuần Vu Khôn, rồi trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay chủ.

Sau khi Y Nhân chết, Thuần Vu Khôn càng chẳng còn thiết tha gì, cũng không buôn uống thuốc nữa.

Trâu Diễn cũng bị chặn lại ngoài cửa như người khác, lấy làm sốt ruột, bèn hướng vào trong gọi lớn: “Thuần Vu tiên sinh, lão tế tửu, tại hạ Trâu Diễn, Đàm Thiên Diễn, có chuyện hệ trọng muốn cầu kiến!”

Thuần Vu Khôn nghe tiếng, bèn gọi đệ tử ra mời Trâu Diễn vào.

Thuần Vu Khôn ngồi dậy trên giường, nhìn Trâu Diễn cười hỏi: “Này Đàm Thiên Diễn, ông réo gọi om sòm, là vì đại sự gì vậy?”

“Chuyện lớn tày trời!” Trâu Diễn vòng tay đáp, “Diễn không thể không cầu cứu tế tửu.”

Thuần Vu Khôn bật cười: “Trời có lớn đến mấy cũng không lớn bằng tâm của Đàm Thiên Diễn được, cứ nói tường tận, không phải vội vàng. Trọc này đang buồn chán vô kể, muốn tìm gì đó giải khuây!”

Trâu Diễn kể lại ngọn nguồn sự việc, giọng đầy bất bình: “Lão tế tửu, ngài một đời sáng suốt, đến giờ lại làm ra chuyện hồ đồ. Học cung Tắc Hạ nhân tài như mây, có sao lại giao trọng trách tế tửu cho một kẻ tự đại ngông cuồng miệng còn hơi sữa? Họ Tuân kia mới đọc được dăm cuốn sách, mà đã dám cưỡi lên đầu Diễn này, nói nhăng nói cuội?”

Thuần Vu Khôn phá lên cười sảng khoái, lắc lư đầu trọc, vuốt râu mà nói: “Vậy ông nói xem, phải bao nhiêu tuổi, phải đọc bao nhiêu sách, mới được cưỡi lên đầu ông?”

“A…” Trâu Diễn cáu kỉnh, “ngài còn bênh vực hắn ư?” Thuần Vu Khôn lại cười lớn: “Này Đàm Thiên Diễn, ông mà tranh luận với tế tửu lâm thời, đúng là gà vịt gặp nhau, một bên quang quác, một bên quàng quạc, muốn bàn luận cho hài hoà đúng là không phải chuyện dễ!”

“Một kẻ vô tri, ai thèm bàn luận hài hoà với hắn!”

Thuần Vu Khôn lại càng vui vẻ: “Gà có trí của gà, vịt có trí của vịt, giờ đây xem ra, lão trọc này đã làm được một việc rất tốt đẹp cho Tắc Hạ rồi đấy!”

“Này lão trọc,” Trâu Diễn nổi nóng, trỏ vào Thuần Vu Khôn mà kêu lên, “giờ mà ngài vẫn vui vẻ được ư? Tại hạ đang tức muốn chết!”

Thuần Vu Khôn lại cười ha hả: “Tắc Hạ là nơi để biện luận, không nên giận dỗi, mà giận dỗi cũng vô ích, phải không?” Thuần Vu Khôn gắng gượng giơ tay lên, cũng trỏ vào Trâu Diễn, “ông ư, đích xác là một con gà chọi, lẽ ra nên tìm một con vịt để thi tài từ lâu rồi mới phải, theo hắn xuống nước để xem đáy nước nông sâu. Còn con vịt kia, cũng nên leo lên ngọn cây để mở mang tầm mắt, bằng không, dù là gà hay vịt, nếu đều cố chấp ý mình, khác nào rơi xuống giếng sâu, biến thành ếch ngồi đáy giếng?” Dừng lại một chốc, hạ tay xuống, “có điều, núi Đỉnh Túc có liên quan tới vương thất, cũng không thể khinh suất được, ông vẫn nên đi tìm tế tửu, nói với…”

“Tại hạ không thèm tìm hắn!” Trâu Diễn giậm chân, “tại hạ cũng chẳng cần hắn nữa!”

“Ông không tìm hắn, trọc này cũng chẳng biết làm sao!” Thuần Vu Khôn nhún vai, “người đâu, tiễn khách!”

Không chờ phải tiễn, Trâu Diễn đã đứng bật dậy, thở phì phò giận dữ bỏ đi.

Trâu Diễn vừa đi khỏi, bỗng thấy một cỗ xe mui từ từ tiến lại, dừng trước cửa học quán của Thuần Vu Khôn.

Từ trên xe nhảy xuống một người, là Trần Chẩn.

Thuần Vu Khôn lấy làm phấn chấn, gắng gượng ngồi dậy, nhưng bị Trần Chẩn ấn lại xuống giường.

“Chao ôi,” Trần Chẩn ngồi xuống mép giường, nắm lấy tay Thuần Vu Khôn, “tại hạ đang định tới Hàm Đan, vừa đến Đại Lương, chợt hay tin lão tế tửu đây ngọc thể bất an, trong lòng lo lắng quá đỗi, bèn lập tức quay xe, rẽ ngay tới Lâm Truy.”

“Tới thật đúng lúc,” Thuần Vu Khôn cười nói, “muộn thêm vài hôm nữa, e rằng ông phải lên tận núi Tắc Sơn mới tìm thấy lão trọc này.”

“Ông lên núi Tắc Sơn làm gì?”

“Làm bạn với Lão Mông Tử!”

“Lão Mông Tử?” Trần Chẩn ngẩn người, “là ai?”

“Bành Mông, hẳn ông có biết!”

“Ái chà,” Trần Chẩn lấy làm cảm khái, “là ông ấy ư, lão tiên sinh còn là sư phụ của Chẩn đấy, chỉ là chưa hành lễ bái sư mà thôi.” Rồi nhìn kỹ Thuần Vu Khôn một chốc, “nhìn ông khí sắc hồng hào, đầu trọc bóng loáng, tinh khí thần sung mãn, đâu tới nỗi đã phải lên Tắc Sơn?”

Thuần Vu Khôn bật cười: “Ông không phải dối ta. Tinh khí thần có sung mãn hay không, lẽ nào tự ta không biết?” Rồi cũng nhìn Trần Chẩn chăm chú, “than ôi, tiếc là ông chậm chân quá, nếu đến sớm hơn một chút, trọc này đã tiến cử ông chức tế tửu học cung, cho đám ô hợp Tắc Hạ biết thế nào là hay dở.”

“Tế tửu mới là ai?”

“Tuân Huống, tới từ nước Triệu, ta mới cho tạm thay chức tế tửu một thời gian để xem thử.”

“Chẩn biết người này, vốn thuộc Nho môn, song không theo Nho đạo, chủ trương thuyết tính ác gì đó.”

“Phải phải phải!” Thuần Vu Khôn gật đầu lia lịa, “vừa tới Tắc Hạ, đã lôi đại nho Mạnh phu tử ra phản bác tới bời, tiếc là Mạnh phu tử đi rồi, không thì trọc này đã được chứng kiến một trường luận chiến có một không hai.”

“Hẳn người này biện luận không lại với cái lưỡi thép của Mạnh phu tử.”

“Chưa chắc.” Thuần Vu Khôn cười đáp, “kẻ hậu sinh này cũng rất đáng gờm, vừa hôm nay đã khiến Đàm Thiên Diễn giận tới râu tóc dựng ngược!”

“Thú vị đây, hãy kể cho tại hạ nghe thử.”

“Người đâu!” Thuần Vu Khôn gọi. Đệ tử đang túc trực bên ngoài vội vã chạy vào.

“Hâm nóng thứ kia cho ta!” Thuần Vu Khôn chỉ vào bát thuốc.

Đệ tử mừng rỡ, liếc Trần Chẩn một cái rồi bưng bát thuốc nhanh nhảu chạy đi.

Thuần Vu Khôn nhìn Trần Chẩn cười nói: “Thuốc đẳng ghê gớm, ta thà chết không uống, nay ông tới đây, thôi thì ít nhiều cũng cố uống lấy vài ngụm.”

“Vì sao kia?”

“Để chết chậm thêm vài ngày, cùng ông đàm đạo.”

“Phải, phải, phải” Trần Chẩn cười nói, “ông vội mà gì, đường dưới suối vàng tối tăm mù mịt, chân cẳng ông thế này, không có ai dìu thì đi làm sao?”

Thuần Vu Khôn cười sảng khoái: “Đã có cái này!” Rồi chỉ vào đầu trọc bóng lưỡng, “sợ gì tăm tối. Huống gì còn có Y Nhân dưới đó chờ ta.”

Hai người cứ thế vui vẻ trò chuyện một hồi, lại quay về với chuyện của Trâu Diễn. Thuần Vu Khôn hào hứng kể lại cuộc tranh luận giữa Đàm Thiên Diễn và tế tửu lâm thời, Trần Chẩn nghe mà xuýt xoa mãi không thôi.

Về tới chỗ ở, Trâu Diễn xua hết đám học trò tới cầu học ra ngoài, đóng cửa ngồi lì trong phòng, càng nghĩ càng cảm thấy Thuần Vu Khôn quá thiên vị, bèn đứng dậy đi tìm Tô Tần.

Sau khi an táng Tuyên Vương xong, Tô Tần đang định rời Tề thì hay tin đại quân phạt Sở khải hoàn, do muốn gặp Khuông Chương nên vẫn lưu lại Tắc Cung. Lúc này, thấy Trâu Diễn tìm tới, Tô Tần đón vào phòng khách, lắng nghe Trâu Diễn kể lại đầu đuôi, cảm thấy chuyện này hệ trọng, bèn dẫn Trâu Diễn tới gặp Tĩnh Quách Quân Điền Anh.

“Chuyện này không dễ.” Điền Anh nhún vai, “nếu là lăng của tiên Tuyên Vương đặt không đích đáng, có lẽ bản tướng có thể tấu lên đại vương để dời sang chỗ khác. Nhưng tiên sinh lại muốn dời lăng của hai tổ quân khai quốc Thái Công, Hoàn Công, e rằng đại vương khó lòng đảm đương, bảo bản tướng tấu báo, e rằng không thoả.”

“Dám hỏi tướng quốc,” Trâu Diễn hỏi, “việc dời hai lăng Thái Công và Hoàn Công, cớ sao đại vương lại khó đảm đương?”

“Theo bản tướng biết,” Điền Anh đáp, “lăng của Thái Công là do chính Thái Công cho lập từ lúc sinh thời, lăng của Hoàn Công cũng vậy, nay đại vương sao có thể nói dời là dời được?”

“Tướng quốc đại nhân,” Trâu Diễn gấp gáp, “lăng của hai tiên quân sẽ gây tổn hại cho chính đương kim đại vương đấy!”

“Ồ?” Điền Anh ngả người về trước, “hãy nói thử xem, gây tổn hại thế nào?”

“Diễn nhất thời không thể nói rõ được đầu đuôi, Diễn chi biết rằng, khí thánh vương ở Thái Sơn thông tới núi Đỉnh Túc, tuôn ra qua ba khe núi, trùm khắp Lâm Truy gieo phúc ấm cho Đại Tề. Có vương khí này phù hộ, Lâm Truy sẽ thành vương đô thiên hạ, sánh ngang Cảo, Lạc7 năm xưa. Tuy nhiên, vương khí đó đã bị hai lăng tiên quân chặn đứng, không thể tuôn ra được nữa. Vương khí trấn áp sẽ biến thành oán khí. Oán khí tích tụ lâu ngày không phát tán, ắt sẽ quấy nhiễu vương lăng. Vương lăng là nơi chôn cất di cốt của tiên quân, mà đương kim đại vương lại là cốt nhục của tiên quân, đồng khí thì tương ứng.”

Lời của Trâu Diễn, nghe cũng hữu lý, Điền Anh âm thầm kinh hãi, hít sâu vào một hơi, rồi nhìn sang Tô Tần.

“Sự việc liên quan tới quốc vận Đại Tề, càng liên quan tới hai lăng thái tổ, thân là ngoại thần, tại hạ không tiện nhiều lời.” Tô Tần vòng tay đáp, “có điều, Trâu tiên sinh làu thông thiên địa ngũ hành, tỏ tường phong thuỷ núi sông, tiên sinh đã nói như vậy, không thể coi nhẹ được, tướng quốc cũng nên tấu báo đại vương, để đại vương minh xét.”

“Trâu tiên sinh,” Điền Anh quay sang Trâu Diễn, vòng tay nói, “giờ hãy theo bản tướng vào cung, yết kiến đại vương, được chăng?”

“Trâu Diễn tuân mệnh.”

Trâu Diễn theo Điền Anh vào cung yết kiến Mẫn Vương, bẩm báo đầu đuôi sự việc.

Mẫn Vương là người hiếu võ, không thích phong thuỷ ngũ hành, càng nghe đôi mày càng chau tít, cuối cùng vòng tay với Trâu Diễn mà nói: “Lời tiên sinh chỉ giáo, uyên bác sâu xa. Quả nhân ngu độn, nhất thời chưa thể lĩnh hội, xin tiên sinh hãy viết rõ thành bản tấu, để quả nhân đọc hiểu từ từ, được chăng?”

Trâu Diễn lúc này mới hối hận vì đã không soạn tấu, bèn vòng tay cáo từ: “Giờ Diễn quay về sẽ viết ngay!”

Trâu Diễn về rồi, Điền Anh vẫn ngồi trên chiếu.

“Tướng thúc còn chuyện gì chăng?” Mẫn Vương nhìn sang, sắc mặt không vui, có ý tiễn khách.

“Thần…” Điền Anh vừa thốt được một tiếng, đã bị Mẫn Vương phẩy tay chặn lại.

“Tướng thúc,” giọng Mẫn Vương lạnh tanh, “Trâu Diễn kia là do chú đưa tới ư?”

“Là ông ta cùng với Tô Tần tới tận phủ tìm thần, nói ra chuyện này, nên thần…” Điền Anh vội vàng giải thích.

“Quả nhân hiểu rồi.” Mẫn Vương lại cắt lời, “tướng thúc còn gì dạy bảo nữa chăng?”

Nghe hai tiếng “dạy bảo” lạnh băng, Điền Anh trong lòng ớn lạnh, vội đổi ngồi thành quỳ: “Đại vương…”

“Tướng thúc nếu không có việc gì khác, quả nhân phải đi thủ hiếu với tiên vương đây!” Mẫn Vương đứng dậy, giã mạnh hiếu phục trên người, rồi quay lưng sải bước đi luôn.

Điền Anh vẫn quỳ dưới đất, mặt cắt không còn hạt máu, hồi lâu sau mới đứng dậy, loạng choạng về phủ, ngồi thẫn thờ rất lâu, rồi lại bên án soạn một bản tấu chương, gọi Điền Văn lại dặn: “Con hãy mang trình lên đại vương.”

Điền Văn liếc nhìn bản tấu, sửng sốt: “Từ quan?”

“Than ôi,” Điền Anh thở dài buồn bã, “cha già rồi, không phụng sự được chủ nhân mới.”

“Cha…” Điền Văn càng kinh ngạc.

“Hồi Điền Địa còn là thái tử, từng có ý chê trách cha. Cha nhịn không nổi, nên có xung đột đôi lần. Giờ đây, người ta đã là quân chủ, nếu cha còn không thức thời, e rằng…” Điền Anh gượng cười, chỉ vào mình, “chẳng còn chỗ mà chôn nắm xương già này nữa.”

Điền Văn bèn hỏi duyên do, Điên Anh bèn kể lại chuyện xảy ra hôm nay.

“Than ôi,” Điền Văn than thở, “đại vương quá đa nghi, cho rằng Trâu tiên sinh là do cha mời tới. Cái tay Đàm Thiên Diễn kia, chỉ tài làm hỏng việc. Chuyện lớn là thế, cớ sao không nói trước với ta, động tí là đi tìm Tô Tử. Nếu như hai lăng gây hoạ thực, thì lâu nay hắn ăn gì để sống? Hai lăng tiên quân đã ở đó mấy chục năm, Lâm Truy không ai không biết, đâu phải hắn mới tới Tắc Hạ, lẽ nào còn không hay.”

“Cha đã nói với hắn rằng, lăng của Thái Công là do Thái Công dựng, lăng của Hoàn Công là do Hoàn Công dựng, đại vương không tiện di dời, song Tô Tử nói, việc này trọng đại, liên quan tới vương thất và quốc vận, muốn cha tấu báo lên đại vương, cha mới dẫn Trâu Diễn vào yết kiến, để rồi tới cơ sự này.” Điền Anh thở dài, “than ôi, vật đổi sao dời, cha cũng đã tới lúc nghỉ ngơi, muốn về đất Tiết an dưỡng tuổi già. Nghe nói đại vương đối với con không tệ, việc trong triều, cha giao lại cho con.”

“Nhưng đại vương…” Điền Văn ngập ngừng. “Sao kia?”

“Đại vương gần đây không triệu kiến con.”

“Con hãy an tâm,” Điền Anh tiếp lời, “sau khi cha lui về, bước lên chức tướng quốc này, không còn người thứ hai nào khác, chỉ có thể là con.”

“Vì sao kia?” Điền Văn ngỡ ngàng.

“Bởi con có hơn nghìn môn khách tài giỏi. Con chưởng quản Tắc Hạ, nhân tài như mây, Cha quan sát thấy đại vương hoài bão không nhỏ, muốn lập nên nghiệp lớn. Đại vương muốn làm đại sự, phải cần đến nhân tài, mà nhân tài nước Tề, bất luận cao thấp, đều nằm trong tay con cả.” Điền Anh nhìn thẳng vào Điền Văn, “có điều, đại vương cũng có một điều kiện, đó là con phải chứng tỏ được mình sẽ tận trung.”

“Con hiểu rồi.” Điền Văn gật đầu đáp.

Điền Văn thay cha dâng tấu từ quan, Mẫn Vương lập tức phê chuẩn, còn thưởng cho Điền Anh hai mươi súc lụa trắng nước Lỗ.

Ba ngày sau, Điền Anh dẫn theo đông đảo gia quyến, cả đoàn người ngựa rầm rộ rời khỏi Lâm Truy, thẳng tiến tới Tiết Thành.

Ngay sau hôm Điền Anh đi khỏi, Mẫn Vương vời Tô Tần vào cung, vòng tay thi lễ, giọng điệu rất mực cung kính mà rằng: “Tiên vương buông tay mà đi, quả nhân mới kế vị, việc trong ngoài muôn ngàn bề bộn, khó tránh bận rộn lúng túng, chưa thể tiếp đãi Tô Tử chu toàn. Nay quả nhân mời Tô Tử tới, là có đại sự cần thỉnh giáo.”

“Đại vương xin cứ nói.” Tô Tần vòng tay đáp lễ.

“Lúc tiên vương còn tại thế, nhiều lần nhắc Tô Tử với quả nhân, quả nhân cũng rất khâm phục những việc Tô Tử đã làm. Nhưng chuyện nước Tề, Tô Tử cũng biết, tiên vương và tướng thúc đặt chí ở bang quốc, chỉ ưa mở rộng biên cương, còn chí của quả nhân lại khác. Nay quả nhân vời Tô Tử tới đây, là muốn hỏi về trường sách trị Tề, mong Tô Tử chớ tiếc lời chỉ giáo!” Mẫn Vương lại hành đại lễ.

“Dám hỏi chí của đại vương?” Tô Tần cũng vái dài đáp lại, rồi nhìn thẳng vào Mẫn Vương mà hỏi.

“Tung hoành thiên hạ.”

“Nếu vậy,” Tô Tần đáp, “thần có ba kế sách dâng lên đại vương.”

“Là ba kế sách gì?” Mẫn Vương ngả người lại hỏi.

“Kế thứ nhất,” Tô Tần dõng dạc đáp lời, “học theo Tề Hoàn, Tấn Văn, phụng sự nhà Chu để tung hoành thiên hạ, gọi là bá sách; thứ hai, học theo Thương Thang, Chu Vũ, phế bỏ nhà Chu để tung hoành thiên hạ, gọi là vương sách; thứ ba, vứt bỏ đạo vương, bá, an định liệt quốc thiên hạ, vỗ yên muôn vạn lê dân, để tung hoành thiên hạ, gọi là để sách.”

“Theo ý Tô Tử, đâu là thượng sách?”

“Đế sách.”

“Quả nhân ngu độn, xin hỏi Tô Tử, cớ sao đế sách lại là thượng sách? Lẽ nào vương sách không tốt ư?”

“Hồi bẩm đại vương,” Tô Tần đáp, “vật đổi sao dời, việc của Tề Hoàn, Tấn Văn đã thành quá vãng, vậy nên bá sách không phải là thượng sách. Thiên hạ ngày nay, chó nói nước vạn cỗ xe, mà đến quân chủ của Tống, Trung Sơn cũng đều là vua cả, liệt quốc xưng vương, chư vương tranh hùng, vậy nên vương sách không phải thượng sách. Bởi vậy, chí của đại vương, duy có một sách, chính là để sách hợp tung.”

“Phải, Tô Tử dạy chí phải!” Mẫn Vương nghe đã lọt tai, lại vòng tay nói, “xin Tô Tử hãy chỉ giáo quả nhân về để sách!”

“Chỉ giáo thì thần không dám!” Tô Tần đáp lễ, “đại vương nếu muốn thực thi đế sách, duy có một đường, chính là theo trường sách tung hoành do thần và Trương Nghi đề xướng!”

“Ồ…” Mẫn Vương lại ngả người lại, nheo mắt hỏi, “kế sách hợp tung của Tô Tử, quả nhân có thể hiểu được, còn kế sách do Trương Nghi đề xướng hoàn toàn trái ngược với Tô Tử, vì đâu Tô Tử lại…” Ánh mắt băn khoăn dò hỏi.

“Hồi bẩm đại vương,” Tô Tần vòng tay đáp, “đạo của vạn vật, âm dương song hành. Thời thượng cổ vốn không có đường đi, tới thời Đại Vũ, trị thuỷ hưng nông, đốt rừng làm ruộng, mới bắt đầu có đường đi. Tiếp đến thời Đại Chu, mới chia thiên hạ làm chín, phong đất lập chế, làm đường dọc ngang, nam bắc là dọc, đông tây là ngang, từ đó nối liền liệt quốc thiên hạ. Thần đề xướng tung sách, liên minh các nước Sơn Đông để chế Tần; Nghi đề xướng hoành sách, liên minh các nước Sơn Đông để chống tung. Dù là tung sách hay hoành sách, đều mang chí an định thiên hạ. Nếu muốn thực thi chí này, đại vương đương nhiên nên theo tung hoành sách!”

“Ừm…” Mẫn Vương đưa tay sờ cằm, rồi thuận thế vuốt xuống bộ râu đen nhánh mới nuôi gần đây, “tung sách là tung sách, hoành sách là hoành sách, giống như đen và trắng, hoặc là theo đen, hoặc là theo trắng, nhưng Tô Tử…” Khẽ cười khó hiểu.

“Đại Vương nói rất phải!” Tô Tần đáp lời, “đạo trời thường hằng, trắng đen luân chuyển, qua đêm đen đương nhiên sẽ tới sáng ngày.” Dừng lại một lát, quay về chuyện chính, “hãy nói về kế sách tung hoành, ý thần muốn nói, đại vương trước tiên có thể theo tung sách, kết minh cùng Sở, Tam Tấn, Yên để chế Tần. Đến khi Tần bị chế ngự rồi, muốn tĩnh không được, muốn động không xong, đánh không dám đánh, lui không dám lui, lúng túng bế tắc, đại vương lại theo hoành sách, kết minh với Tần. Lúc đó, liệt quốc thiên hạ kết thành một thể, liệt quốc yên bình, lê dân an ổn, đại vương sẽ hành đạo đế trong thiên hạ.”

Mẫn Vương chau tít đôi mày, trầm ngâm suy nghĩ.

“Phải!” Rất lâu sau, Mẫn Vương mới ngẩng đầu, “quả nhân còn có một băn khoăn. Sau khi hợp tung, liệt quốc đều xưng vương, không còn phân cao thấp, quả nhân dựa vào đâu để làm đế thiên hạ?”

“Trời đất bất nhân, chỉ dựa vào thực lực. Sư tử có hùng, khi vượn có tôn, gia tộc có trưởng, liệt quốc tuy đều là vua, nhưng suy cho cùng, vẫn cần có một bậc hùng trưởng. Sáu nước hợp tung, nước Sở vốn mạnh, có thể là hùng trưởng, tiếc rằng Sở Vương từ bỏ tung sách, ở thể cô độc, nay lại bị Trương Nghi liên hoành chia cắt. Nước Yên kể từ sau loạn Tử Chi, quốc lực hao tổn nặng nề. Tam Tấn lại càng không cần nói đến, nhất là nước Nguỵ, sau khi Bàng Quyên tử trận, cũng mất luôn ngôi hùng trưởng. Có thể nắm giữ rường mối, duy chỉ có đại vương!”

Mẫn Vương phá lên cười ha hả, trong lòng sảng khoái, lại hoan hỉ vuốt râu mấy cái rồi hỏi: “Có điều, dù sáu nước hợp tung rồi, song có thể liên hoành với Tần chăng? Nếu Tần Vương không chịu thì sao?”

“Đại vương hợp thể sáu nước, kết tâm sáu nước, toàn lực phong kín nước Tần, nước Tần không còn đường đi, co cụm một chỗ, duy chỉ có liên hoành một đường với đại vương, bằng không, người dân không yên, kẻ sĩ không phục, đều bỏ Tần mà đi. Tần Vương không theo hoành sách, chỉ còn nước thân vong quốc diệt.”

Mẫn Vương lại ngẫm nghĩ chốc lát, rồi chuyển sang chuyện nước Yên: “Yên Vương thì sao? Qua chuyện gần đây, người Yên sinh lòng oán hận Đại Tề ta không ít. Cơ Chức là con của gái Tần, giờ làm Yên Vương, ắt sẽ căm hận người Tề. Quả nhân dù theo tung sách, hắn có chịu nghe quả nhân chăng?”

“Dưới gầm trời này, không có oán hận nào không thể hoá giải.” Tô Tần đáp, “người Tề phạt Yên, thoạt tiên là quân nhân nghĩa, được người Yên hân hoan nghênh đón. Chỉ là về sau… Than ôi, thần cũng không ngờ chuyện lại thành ra như vậy. Có điều, tất cả những việc đó đều không liên quan tới đại vương, bởi đại vương chưa từng nhúng tay vào chuyện của nước Yên. Nay đại vương lên ngôi, thần nguyện vì đại vương mà giải thích rõ với Yên Vương, để biến can qua thành ngọc lụa.”

“Hay lắm!” Mẫn Vương vòng tay nói, “chuyện tung sách, quả nhân xin nghe theo lời Tô Tử. Chuyện của nước Yên, cũng nhọc đến Tô Tử lo liệu giúp cho! Phải rồi, quả nhân còn một việc nữa.”

Tô Tần nhìn sang Mẫn Vương.

“Trâu tiên sinh tại Tắc Hạ tấu báo, hai lăng Thái Công chặn mất vương khí của Đại Tề ta, Tô Tử nghĩ sao?”

“Các việc âm dương, quỷ thần, thần không hiểu, không dám nói bừa. Có điều, đã là lời của Tắc Hạ tiên sinh, lại liên quan tới đại sự vương thất, đại vương tốt nhất vẫn nên thận trọng.”

“Khanh nói phải.” Mẫn Vương chớp mắt vài cái, quay sang nội thần, “triệu Điền Văn!”

Bệnh của Thuần Vu Khôn vốn phải tĩnh dưỡng, nào ngờ gặp Trần Chẩn đến thăm, hưng phấn mấy ngày, bệnh tình đột nhiên trở nặng, không nhúc nhích nổi thân mình, lỗ mũi khí ra thì nhiều, khí vào thì ít, chốc chốc lại phải há miệng mà thở.

Đại đệ tử vội mời đại phu tới, đại phu bắt mạch xong, dặn dò chuẩn bị hậu sự.

Chúng đệ tử đưa Thuần Vu Khôn vào buồng chính, xếp hàng quỳ ở bên giường, tĩnh lặng túc trực bên thầy trong thời khắc cuối cùng.

Trần Chẩn lại tới.

Nhìn khí sắc của Thuần Vu Khôn, Trần Chẩn bèn ghé tai thì thầm: “Lão trọc, có muốn xem một báu vật tuyệt thế?”

“Muốn!” Thuần Vu Khôn cười đáp.

“Chư vị học tử,” Trần Chân quay sang đám học trò, vòng tay, “Chẩn có vài câu muốn nói riêng với tế tửu, các vị hãy tạm lui ra một lát.”

Các học trò đưa mắt nhìn nhau, sau đó lui ra ngoài cửa, quỳ ở trong sân.

Trần Chẩn khép hờ cửa buồng, chắn bớt tầm nhìn, đoạn mở chiếc rương mang theo, lấy ra một bọc gấm, rồi mở tầng tầng lớp lớp gấm thêu, cuối cùng để lộ ra một khối ngọc tuyệt mỹ sắc xanh ánh trắng, sắc trắng ánh hồng.

Thuần Vu Khôn hai mắt mở lớn.

“Tiên sinh hẳn biết vật này?” Trần Chẩn thì thào. “Ngọc ngũ sắc.”

“Tiên sinh hẳn biết ngọc này?”

“Ồ?” Thuần Vu Khôn nhìn Trần Chẩn. “Báu vật trấn cung của Đại Sở, ngọc Hoà Thị”

“A!” Thuần Vu Khôn thở gấp vài hơi, bật ra một tiếng kêu kinh ngạc.

Trần Chẩn cầm khối ngọc lên, lật qua lật lại cho Thuần Vu Khôn xem một hồi, rồi kéo tay Thuần Vu Khôn ra, đặt viên ngọc vào trong tay.

Thuần Vu Khôn mân mê một lát rồi nhắm mắt lại.

“Thích chứ?” Trần Chẩn khẽ hỏi.

“Ừm”.

Trần Chẩn lấy lại viên ngọc, bọc kỹ như cũ, rồi bỏ vào xương, đóng lại.

“Thế nào?” Trần Chẩn hỏi.

“Quả là báu vật.” Thuần Vu Khôn hỏi, “ông vẫn giữ nó từ bấy đến giờ.”

“Chẩn giữ cũng vô dụng.”

“Định làm gì với nó?”

“Muốn nghe ý của ông.”

“Tặng cho Tề Vương, thế nào?”

“Tề Vương không giữ nổi.”

“Ồ?” Thuần Vu Khôn nhìn sững vào Trân Chẩn, “sao ông biết Tề Vương không giữ nổi?”

“Tề Vương không có Hồ phục kỵ xạ.”

“Vậy ông muốn tặng cho Triệu Vương?” Thuần Vu Khôn nhắm mắt lại, hồi lâu sau mới lên tiếng, “thứ này lớn nhưng chẳng lành, ông tặng cho Triệu Vương, là muốn hại nước Triệu chăng!”

“Ái chà, cái lão trọc này, vật đẹp là thế, sao lại bảo chẳng lành?”

“Trước khi thành ngọc, nó hại họ Hoà mất hai chân. Sau khi thành ngọc, lại hại Trương Nghi vào lao ngục, liệu có lành chăng?”

“Họ Hoà mất chân, chỉ là truyền kỳ. Còn như hoạ lao tù của Trương Nghi…” Trần Chẩn chỉ vào mũi mình, thở dài một tiếng, “than ôi, chính cái tay đó mới là yêu nghiệt hại người đấy, chỉ hối năm xưa không khiến hắn chết quách trong lao cho rồi.”

Thuần Vu Khôn cười lớn: “Nếu hắn chết trong ngục từ ngày ấy, thiên hạ ngày nay sẽ buồn tẻ biết bao! Phải rồi, nhắc tới tay Trương Nghi kia mới nhớ, ông phải gọi Tô Tần tới đây cho ta, trọc này có việc muốn tìm!”

Trần Chẩn mở cửa, nói với đại đệ tử: “Mau đi mời Tô đại nhân!”

Tô Tần hay tin, vội vã tới ngay, quỳ trước giường, nắm lấy tay Thuần Vu Khôn.

“Tô Tần,” Thuần Vu Khôn đưa mắt nhìn hắn, giọng thều thào “món nợ cũ của anh, đến lúc… phải trả rồi đấy.”

“Ối chao, tại hạ…” Tô Tần vỗ trán.

“Cả tiền lãi nữa, đừng có lờ đi.”

“Tiên sinh, tại hạ…” Tô Tần nhăn nhó.

“Lão trọc này, nợ nần gì thế?” Trần Chẩn tò mò hỏi.

“Hỏi hắn ấy!” Thuần Vu Khôn liếc xéo Tô Tần.

Tô Tần bèn kể lại chuyện mình bị Trương Nghi lừa gạt tại tửu quán Vạn Quốc ở Lạc Dương, Trần Chẩn lấy làm thú vị, phá lên cười lớn: “Biết rồi, tại hạ biết rồi! Chuyện này ầm ĩ khắp thành Lạc Dương, tại hạ có thể làm chứng cho lão trọc!” Rồi quay sang hỏi Thuần Vu Khôn, “tiền lãi tính thế nào?”

Thuần Vu Khôn lại liếc Tô Tần.

Tô Tần cười gượng, ánh mắt sượng sùng: “Tại hạ… không đào đâu ra từng ấy tiền.”

Trần Chẩn lại cười: “Chuyện tiền nong thì dễ thôi!” Lấy ra một tấm lụa, “Tô Tử hãy viết khế nợ, tại hạ cho vay.”

Tô Tần viết xong, Trần Chẩn quay về dịch quán, loáng cái đã quay lại, mang theo một túi tiền, đổ lên mặt án trước giường Thuần Vu Khôn một đống vàng sáng loá “Lão trọc, xem đi, cả thảy mười dật, toàn vàng ròng, cả gốc lẫn lãi, hết nợ được chưa?”

Thuần Vu Khôn cười với Tô Tần, rồi lại phều phào: “Mỹ… mỹ…”

“Mỹ?” Tô Tần ngẩn ra, “mỹ gì?”

“Ôi cái tên ngốc này!” Trần Chẩn lập tức hiểu ý, sải bước ra sân, vẫy tay gọi đại đệ tử lại, hạ giọng hỏi, “tế tửu thích nhất nữ tử nào?”

“Ờ… Ờ…” Đại đệ tử luống cuống.

“Mau!” Trần Chẩn giục rối lên, “muộn nữa là không kịp đâu!”

“Đúng là tiên sinh có thích một người, hoa khôi thanh lâu, tên gọi Ngô Cơ.”

“Đi mau, nói tế tửu có lời mời!”

Đại đệ tử cắm đầu chạy đi ngay, lát sau dẫn về bốn mỹ nhân, ba người mang theo đàn sáo. Dẫn đầu là một mỹ nữ xinh đẹp tuyệt trần, chính là hoa khôi Ngô Cơ mà Thuần Vu Khôn mến mộ.

Thấy đám học trò đang quỳ la liệt trong sân, bốn nàng đưa mắt nhìn nhau.

Trần Chẩn thấy vậy, bèn nhặt bốn định vàng, thoăn thoắt đi ra, đặt vào tay mỗi nàng một đĩnh, hạ giọng giục: “Mau lên, tế tửu sắp đi rồi, muốn gặp các ngươi lần cuối.”

“Ối chao?” Ngô Cơ thốt lên một tiếng, ném ngay đĩnh vàng xuống đất, chạy thẳng vào trong. Ba nàng kia cũng theo nhau ném vàng đi, vội vã tiến vào.

Bốn người lần lượt tiến lại bên giường tế tửu, ai cũng mắt đẫm lệ.

“Y… Y…” Thuần Vu Khôn gần như không thốt nổi nên lời.

“Tấu nhạc, Kiêm hà!”8 Ngô Cơ quay sang căn dặn ba nàng kia, rồi ngồi xuống bên giường, nhấc đâu Thuần Vu Khôn dậy, cho gối lên lòng, vỗ về khe khẽ như ru trẻ nhỏ.

Ba nàng kia lập tức bày nhạc cụ, một đàn cầm, một đàn sắt, một sáo đất, hoà tấu nhịp nhàng. Nhạc vang dìu dặt, là điệu Kiêm hà đất Tần mà Thuần Vu Khôn ưa thích nhất.

Trong tiếng nhạc, Ngô Cơ khe khẽ ngâm nga.

Lau xanh ngăn ngắt,

Móc trắng làm sương.

Người ta nói tới,

Cách dòng một phương.

Ngược dòng theo tới

Trắc trở đường trường.

Thuận dòng theo tới,

Dường như giữa dòng trong

Lau chen rậm rạp,

Móc trắng chưa khô.

Người ta nói tới,

Đang đứng bên bờ.

Ngược dòng theo tới

Đường dốc trập trùng

Thuận dòng theo tới,

Dường như giữa cồn sông

Trong tiếng nhạc, tiếng ca, đôi mắt già nua của Thuận Vu Khôn từ từ khép lại.

Tô Tần ứa lệ.

Trần Chẩn sụt sùi.

Chúng đệ tử cùng nức nở.

Cái chết của Thuần Vu Khôn đã khiến cả học cung chấn động.

Hơn bảy mươi vị tiên sinh Tắc Hạ, không ai không cảm kích trước công lao của Thuần Vu Khôn suốt những năm qua, khiến học phong của học cung phát triển cực thịnh. Bên cạnh đó, việc tiên tế tửu ra đi một cách phong lưu, giữa tiếng đàn tiếng hát, trong vòng tay đệ nhất hoa khôi, lại được hai danh sĩ lẫy lừng thiên hạ là Tô Tần, Trần Chẩn tới tận nơi tiễn biệt, càng trở thành giai thoại khiến đông đảo học sĩ Tắc Hạ bàn tán không ngớt. Thủy đều công nhận, học tử trong thiên hạ, duy chỉ Thuần Vu Tử mới xứng đáng với diễm phúc nhường này.

Ba ngày sau khi Thuần Vu Khôn tạ thế, Mẫn Vương hạ chỉ, chính thức giao chức tế tửu Tắc cung cho Tuân Huống tuổi trẻ khí thịnh. Còn chuyện hai lăng tiên quân, Điền Văn vốn một lòng lăm le ngôi tướng quốc đã chặn đứng, không nhắc tới nửa lời.

Trâu Diễn buồn bực suốt mấy ngày, rồi sai đệ tử chuẩn bị vài cỗ xe ngựa, rời khỏi Tắc Hạ không một lời từ biệt, thẳng tới nước Triệu.

Trâu Diễn vừa đi khỏi, Khuông Chương cũng đã an trí xong xuôi tướng sĩ năm đô, về kinh phục mệnh. Tô Tần, Trần Chẩn cùng nghênh đón.

Khuông Chương kể lại vắn tắt chuyện ở đất Sở, nhất là chuyện Đường Miệt đột nhiên sinh sự, chia ba vạn quân cắt đứt đường lui, vây khốn quân Tề bốn phía, khiến mình bất đắc dĩ mới phải đánh Đường Miệt, châm ngòi cho sự tan rã của toàn quân Sở.

Tô Tần không khỏi giật mình kinh ngạc.

“Lạ thật,” Trần Chẩn lẩm bẩm, “chiến cục giằng co rất có lợi cho Sở, cớ sao Đường Miệt lại tự dưng sinh sự?” Khuông Chương lấy ra mảnh lụa được gắn trên mũi tên bắn tới: “Tô Tử hãy xem!”

Tô Tần mở ra, Trần Chẩn cũng ghé lại xem, buột miệng kêu lên: “Hắc điêu!”

“Là người Tần gửi tới!” Khuông Chương đáp, “hẳn do người Tần ngấm ngầm phá rối.”

“Kết cục này, tại hạ cũng đã lường trước.” Tô Tần gượng cười, “cũng tốt, Sở Vương không còn chỗ dựa, hẳn sẽ nhập tung.”

Trong triều không còn Tĩnh Quách Quân Điền Anh toạ trấn, không khí có phần thoải mái hơn trước, nhất là tân Tề Vương Điền Địa, tha hồ tự tung tự tác, không phải ngó trước nhìn sau nữa.

Vào thời Tuyên Vương, thái tử Địa chăm chú quan sát chính sự trong triều, ngày càng nhận rõ một vài chân tướng, dần dần không thích Điền Anh nữa, cho rằng Điền Anh là một gian thần thâm hiểm khôn lường. Môn khách nương nhờ Điền phủ ngày càng đông đảo cũng khiến thái tử Địa thêm nơm nớp run dè, lo âu cảnh giác, chợt nhớ tới chuyện năm xưa tổ tiên của mình là Điền Hoàn sau khi tới nước Tề, thế lực dần dần lớn mạnh, cuối cùng đoạt luôn ngôi quân chủ nước Tề của họ Khương.

Và quan trọng hơn nữa là gần như toàn bộ môn khách trong Điền phủ đều do con trai Điền Anh là Điền Văn thu nạp, cũng chỉ nhất nhất nghe theo Điền Văn.

Tuy nhiên, bách quan không thể không có người cai quản, trong triều không thể không lập tướng quốc. Tề Mẫn Vương suy nghĩ suốt mấy ngày, rồi triệu Tô Tần vào cung nhờ tiến cử.

Tô Tần tiến cử hai người, một là Điền Văn, hai là Trần Chẩn.

Mẫn Vương loại ngay Điền Văn không chút đắn đo, rồi nhìn xoáy vào Tô Tần mà hỏi thẳng: “Trần Chân kia danh tiếng không mấy tốt đẹp, cớ sao Tô Tử lại tiến cử?”

“Hồi bẩm đại vương,” Tô Tần vòng tay đáp, “thần chợt nhớ ra, chí của đại vương là tung hoành thiên hạ, đó là đế chí. Để chí là đại chí. Đại vương muốn thành đại chí, cần có đại tài phò tá đắc lực. Trần Chẩn phò Nguỵ, tiên Huệ Vương đuổi mười hai chư hầu ở Mạnh Tân; Trần Chẩn phò Tần, nhận vương mệnh đi sứ sang Sở, đuổi được Trương Nghi, khiến Sở mất đi hiền tài trị quốc, mà Tần lại được. Trần Chẩn phò Chiêu Dương, giúp họ Chiêu có được chức lệnh doãn, chưởng quản chính sự trong triều đình Sở, giúp Sở cường thịnh suốt mười mấy năm. Sau đó, Trương Nghi sang Sở liên hoành, Trần Chẩn lại vì Sở mà chống lại Trương Nghi, trợ giúp Khuất Bình, cực lực chủ trương kết Tề chế Tần, hai lần vì Sở đi sứ Lâm Truy bàn chuyện kết minh, tiếc rằng Sở Vương lại không nghe, tin theo lời Trương Nghi, dẫn tới bại cục hiện tại.”

“Hoá ra là vậy!” Hiểu rõ ngọn nguồn, Điền Địa lấy làm cảm khái, “khi Trân Chẩn đi sứ cho Sở, quả thực khác hẳn người thường. Chuyện này coi như đã định, Trần Chẩn làm nội tướng, còn khanh làm ngoại tướng, thế nào?”

“Tạ ơn đại vương tín nhiệm.” Tô Tần vòng tay đáp, “thần cho rằng, đại vương có thể để Điền Văn làm nội tướng, Trần Chẩn làm ngoại tướng. Điền Văn chủ nội, Trần Chẩn chủ ngoại, đại vương có thể thành đại nghiệp!”

“Không được!” Điền Địa lập tức xua tay, “quả nhân muốn thực thi tung sách, ngoại tướng chỉ có thể là Tô Tử, khanh đừng nên thoái thác!” Ngẫm nghĩ chốc lát, “còn phần Điền Văn, sẽ cho làm thượng khanh. Kẻ này môn khách đông đảo, lại còn cả đám tiên sinh Tắc Hạ, là đủ bận rộn lắm rồi.”

Thấy Mẫn Vương kiên định nhường này, Tô Tần không tiện nói thêm, bèn vòng tay: “Thần thụ mệnh.”

Tô Tần quay về khách xá, sai chuẩn bị rượu, dặn Trâu Phi Đao mời Trần Chẩn tới, rồi vừa uống rượu, vừa kể lại chuyện Tề Mẫn Vương muốn bái Trân Chẩn làm tướng.

Trần Chẩn cười nhăn nhỏ: “Lại là Tô huynh tiến cử đấy chăng?”

“Phải,” Tô Tần cũng cười, “Tề Vương bảo tại hạ tiến cử, tại hạ tiến cử hai người, một là Điền Văn, hai là Trần huynh. Tại hạ khuyên nên để Điền Văn làm nội tướng, Trần huynh làm ngoại tướng. Nào ngờ Tề Vương không hề nhắc đến Điền Văn, chỉ hỏi tại hạ cớ sao lại tiến cử Trần huynh, tại hạ nói rõ nguyên do, Tề Vương lập tức quyết đoán, nhiệm tại hạ làm ngoại tướng, Trần huynh làm nội tướng, còn dặn tại hạ chuyển lời tới Trần huynh. Trần huynh nếu không có chí khác, sáng mai hãy theo tại hạ vào cung, yết kiến đại vương, cùng bàn chuyện nước Tề, được chăng?”

“Dám hỏi Tô Tử, cớ sao lại tiến cử tại hạ?”

“Có ba nguyên do, thứ nhất là phò Nguỵ đuổi mười hai chư hầu trong triều hội Mạnh Tân, xứng là sự việc lừng lẫy nhất suốt mấy mươi năm qua, cũng khiến nước Nguỵ được huy hoàng lần cuối. Thứ hai là phò Tần, thụ mệnh Tần Công đi sứ sang Sở, đuổi Trương Nghi sang Tần, cướp mất đại tài của Sở. Thứ ba là phò Sở, trước giúp Chiêu Dương đoạt ngôi lệnh doãn, trị Sở hơn chục năm, khiến Sở xưng hùng liệt quốc, sau lại khuyên Sở kết Tề chế Tần, nhiều lần đi sứ sang Tề du thuyết, chỉ tiếc đương kim Sở Vương không nhìn ra bậc chân tài, không chịu nghe lời Trần huynh!”

Trần Chẩn lại cười gượng vài tiếng, vòng tay mà nói: “Tạ ơn Tô Tử coi trọng. Không giấu Tô Tử, hồi Chiêu lệnh doãn trị Sở, sách lược cai trị đều do tại hạ vạch ra. Sở dĩ Chiêu Dương thành tựu được sự nghiệp, và vẫn được yên lành tới tận bây giờ, cũng đều là công của Chẩn.” Thở dài một tiếng, nâng chén, một hơi uống cạn, “có điều, ý tốt của Tô Tử, Trần Chẩn xin nhận. Còn ngôi tướng quốc nước Tề này, Tô Tử vẫn nên tiến cử Điền Văn là hơn.”

“Trần huynh?” Tô Tần sửng sốt.

“Đúng vậy.” Trần Chẩn lại châm một chén, “chứ không phải tại hạ khách khí.”

“Trần huynh,” Tô Tần cố thuyết phục, “tại hạ hiểu chí của Trần huynh, cũng biết Trần huynh phải chịu nhiều ấm ức. Nhưng lần này khác hồi ở Đại Lương, Tề Vương… không còn lựa chọn nào khác, chỉ có thể là Trần huynh!”

“Cớ sao lại không còn lựa chọn nào khác?”

“Điền Anh trị Tề gần ba mươi năm, thế lực ở Tề sâu rễ bền gốc, đã thành khối ung nhọt lớn, tiên Tuyên Vương cũng có ý đề phòng, đã từng bãi chức tướng của ông ta, nhưng rồi bởi không tìm được ai khác hợp ý, lại thêm trong triều toàn là bè đảng của Điền Anh, tiên vương không còn cách nào, đành phải phục chức cho Điền Anh. Hiện giờ đã khác, một đời thiên tử một đời bề tôi, tân vương lên ngôi, Điền Anh phát giác tình thế không ổn, mới chủ động từ quan về Tiết. Giờ nếu Tề Vương lại dùng Điền Văn, há chẳng phải hai tay dâng tặng triều chính cho bè đảng Điền Anh?”

“Không giấu Tô huynh,” Trần Chẩn nâng chén lên uống, rồi cất giọng chậm rãi, “đây cũng chính là nguyên do khiến tại hạ không màng đến chức này. Tô huynh chỉ ở thiên hạ, nhìn xa, nghĩ rộng. Tại hạ chí ở bang quốc, nhìn gần, nghĩ hẹp. Có điều, nếu như nói lại, thì chỉ có nhìn gần mới có thể nhìn rõ, chỉ có nghĩ hẹp mới có thể nghĩ kỹ. Hai lần đi sứ sang Tề, tại hạ đối với Tề coi như đã nhìn rõ, đã nghĩ kỹ. Trước tiên, hãy nói về đương kim Tề vương Điền Địa này, hồi tại hạ đi sứ sang Tề, vẫn là điện hạ. Kẻ này cố chấp độc đoán, chí lớn hơn tài, chẳng khác mấy Sở Vương Hùng Hoè. Sở dĩ ghét bỏ Điền Anh, là bởi Điền Anh quyền thế quá lớn, lo rằng hại đến vương quyền. Những kẻ tham lam, thường quá xem trọng bản thân mà khinh thường người khác. Người như thế này mà cai trị, có thể bình an vô sự chỉ có đám nô bộc bôn tẩu mệt nhoài cũng không dám tranh công, chứ không phải nhân tài.”

“Thú vị đây,” Tô Tần bật cười, “dám hỏi Trần huynh, cớ sao lại so sánh Tề Vương với Sở Vương, chứ không phải là với tiên Nguỵ Vương?”

“Sở Vương, Tề Vương sao có thể bì với tiên Nguỵ Vương được? Tiên Nguỵ Vương có ba điều dám, một là dám nghĩ, hai là dám làm, ba là dám nhận sai, Hùng Hoè có không? Điền Địa có không? Hùng Hoè thôi không nhắc đến nữa, hãy nói về Điền Địa, chuyện khác không tính, chỉ nói về chuyện Trâu Diễn tấu báo gần đây, liên quan tới tông miếu xã tắc, tới sự hưng suy của nước Tề, là chuyện hệ trọng bằng trời, nếu đổi lại là tiên Nguỵ Vương, sẽ coi là việc kinh thiên động địa. Vậy nhưng Điền Địa thì sao? Không những không nhắc một lời, còn ép Trâu Diễn phải bỏ Tắc Hạ mà đi. Tô huynh đã từng nghĩ đến nguyên do chăng?” Trần Chẩn rót rượu, nghiêng đầu nhìn Tô Tần hỏi.

“Xin Trần huynh chỉ giáo!” Tô Tần hỏi ngược lại.

“Bởi vì vừa không dám nghĩ, lại không dám làm. Nói nhẹ là vô trách nhiệm, nói nặng là,” Trần Chẩn chỉ vào đầu, “chỗ này không đủ trí. Thân là quân chủ, không biết phân biệt lớn bé, nặng nhẹ, chậm gấp, chính là đại kỵ”

Tô Tần hít vào một hơi, rồi chầm chậm thở ra, gật đầu: “Phải!”

“Đấy là nói về vua.” Trần Chẩn đẩy chén rượu đã rót đầy về phía Tô Tần, nâng chén của mình lên, “còn giờ nói về bề tôi, cũng chính là Điền phủ. Dưới thời tiên Uy Vương, tại hạ từng đọ sức với Điền Anh, quả là một kẻ giấu kim trong bông. Sau đó hai Kỵ tranh đấu, Trâu Kỵ và Điền Kỵ, rồi cả hai cùng thảm bại, chân tướng trong đó, tại hạ không tiện suy diễn, nhưng có một điều chắc chắn, kẻ cuối cùng đắc lợi chính là Điền Anh. Điền Anh xung trận, đủng đỉnh chậm rãi, trong triều toàn là người của ông ta, tiên Tuyên Vương gần như bị Điền Anh giật dây, không dám động tới ông ta. Điền Anh dựa vào đâu? Dựa vào nhân tài. Nghe nói Điền phủ có ba nghìn môn khách, tuy nói ba nghìn có vẻ khuếch trương, nhưng môn khách đông nghịt trong Điền phủ đúng là sự thật. Môn khách từ đâu tới? Tắc Hạ. Học sĩ Tắc Hạ, sau khi theo thầy học vài năm, phàm những kẻ không chịu nổi bần hàn, đa phần đều tới nương nhờ Điền phủ. Tại sao lại tới nương nhờ Điền phủ? Bởi lẽ từ thời Uy Vương, Tắc Hạ đã do họ Điền cai quản. Kẻ cai quản là ai? Điền Văn!”

Tô Tần lại hít vào một hơi dài, hai mắt nheo lại, vô thức bưng chén rượu lên, bên tai chợt văng vẳng lời Tề Mẫn Vương: “còn phần Điền Văn, sẽ cho làm thượng khanh. Kẻ này môn khách đông đảo, lại còn cả đám tiên sinh Tắc Hạ, là đủ bận rộn lắm rồi.”

Trần Chẩn lập luận rất đúng, xem ra, tân Tề Vương có phần kiêng dè Điền Văn, cũng rất lưu tâm tới thế lực lớn mạnh thái quá của họ Điền.

“Trần huynh,” Tô Tần nâng chén, nhấp một ngụm nhỏ, “vật đổi sao dời, đương kim Tề Vương không phải tiên Tề Vương, đã biết đề phòng thế lực họ Điền. Với tài của Trần huynh, chỉ cần chủ trì triều chính, nắm đại quyền trong tay, tin rằng đám môn khách ấy.”

Trần Chẩn cười nói: “Này Tô huynh, không phải tại hạ sợ đám môn khách ấy, cũng không phải sợ họ Điền kia. Họ Điền liệu có mạnh hơn được Bạch tướng quốc? Năm xưa tới Nguỵ, tại hạ không xu dính túi, không người trợ giúp, chẳng phải vẫn cắm rễ lập phủ, đánh bại Bạch tướng quốc tiền, quyền ngất ngưởng đấy thôi?”

“Thứ tại hạ cần, chính là tính khí quật cường ấy ở Trần huynh!” Tô Tần lấy làm xúc động, “có Trần huynh ở Tề, Công Tôn huynh ở Nguỵ, Khuất Bình ở Sở, tin rằng đại cục tung thân có thể đảo ngược tình thế!”

“Than ôi,” Trần Chẩn thở dài, “tại hạ…” nhắm mắt một hồi, “không giấu Tô Tử, nếu là mười năm về trước, mà không, chỉ cần năm năm trước thôi, nếu gặp chuyện này, tại hạ dứt khoát không dám từ nan. Nhưng nay.” Lắc đầu, chỉ vào lồng ngực, “lòng này đã tựa tro tàn. Tại hạ giờ đây vạn niệm nguội lạnh, chỉ còn một niệm, Tô Tử có muốn biết?”

“Niệm gì?”

“Nhà!” Trần Chẩn nhìn thẳng Tô Tần, “nói rõ hơn, là vợ, là con, là lợn dê gà vịt, và chiếc giường lò ấm áp.”

Tô Tần lại hít vào một hơi dài.

“Than ôi,” Trần Chẩn than thở, “nghĩ lại cũng thực phiền lòng. Thực sự tiêu dao tự tại, vận cứ là lão trọc kia. Không thê thiếp, nhưng vẫn được ra đi trong lòng người đẹp. Không có con trai chống gậy, nhưng có đệ tử khóc bên quan tài.” Lắc đầu, “còn Trần Chẩn này, chẳng được thảnh thơi như vậy.” Hạ giọng nói nhỏ, “nàng ấy lại mang thai rồi, không chừng sẽ có thằng nhóc cũng nên!”

“Tốt quá, mừng cho Trần huynh!” Tô Tần vòng tay chúc mừng, dừng lại một thoáng rồi tiếp lời, “dám hỏi Trần huynh, tiếp theo định đi đâu?”

“Hàm Đan!”

“Muốn an thân tại Hàm Đan?”

“Tạm dừng thôi, để nàng ấy sinh nở tại đó.”

“Thế…” Tô Tần ngỡ ngàng, “Trần huynh muốn an gia chốn nào?”

“Đất Triệu.”

“Hàm Đan chẳng phải cũng là đất Triệu?” Tô Tần gặng hỏi.

Trần Chẩn cười nói: “Đất Triệu giờ đã rộng lớn hơn xưa nhiều rồi. Tiện nội vốn là người Tây Khương, sinh ra ở bờ tây Hà Thuỷ, rất xa rất xa về phía tây, nghe nàng ấy nói nơi đó núi non trập trùng, thảo nguyên bát ngát, nàng ấy giờ nằm mơ cũng nhớ đến thảo nguyên. Nơi nàng muốn đến xa xôi quá, tại hạ không thể theo lời, nghe nói Lâu Phiền, Lâm Hồ đã quy về Triệu, tại hạ chợt nghĩ, có lẽ đó sẽ là chốn về của nàng ấy.”

Tô Tần lấy làm cảm khái: “Tẩu phu nhân có được Trần huynh, quả là phúc lớn!”

Trần Chẩn lại cười: “Nàng ấy cũng nói như vậy. Nàng ấy từng nói, nguyện chết vì tại hạ. Có người sẵn sàng vì mình, tại hạ cũng nên có lòng đền đáp. Tại hạ từng hỏi, nàng muốn chết ở đâu. Nàng nói muốn chết trên thảo nguyên, bên bầy ngựa dê nhà mình.”

“Thực hay!” Tô Tần nhắm mắt lại, có lẽ nhớ tới mẹ con Cơ Tuyết, không khỏi bùi ngùi. Rồi đột nhiên giật nảy, vỗ mạnh vào trán, “nhắc tới dê, tại hạ suýt nữa quên mất mấy vị sư hữu.”

“Sư hữu?”

“Phải, mấy vị sư hữu chăn dê.”

“Sư hữu chăn dê?” Trần Chẩn nheo mắt hỏi. Rõ ràng, Trần Chẩn khó bề tưởng tượng chăn dê thì dính dáng gì tới sư hữu của Tô Tần.

“Đi,” Tô Tần đứng dậy, “chúng ta hãy lại đó xem sao.”

Hai người lên xe của Trâu Phi Đao, ra ngoài cổng thành, tìm tới nhà cỏ của Dương Chu.

Cửa nhà mở ra, nghênh đón họ lại là một đôi vợ chồng trẻ. Tô Tần hỏi thăm, mới biết thầy trò Dương Chu đã bán lại nhà cỏ cho họ từ hai năm trước, sau đó không biết đã đi đâu.

Tô Tần lại hỏi kỹ về ngày họ ra đi, đoán rằng mấy cụ già này đã rời Tề bởi chuyện người Tề đánh Yên.

Thánh nhân không sống ở bang vô đạo, lời này quả thực không sai.

Trần Chẩn không chịu nhận chức tướng quốc, Mẫn Vương không còn ai để chọn, đành nghe theo lời khuyên của Tô Tần, miễn cưỡng trọng dụng Điền Văn, phong làm Mạnh Thường Quân, để hiển dương công lao với cung học Tắc Hạ.

Sau khi Khuông Chương hồi triều không lâu, Mẫn Vương lập tức bắt tay vào thực thi một loạt việc lớn, dẫn quần thần tới tiên miếu tế bái tổ tiên, chiếu cáo thiên hạ, dùng sách lược hợp tung chế Tần của Tô Tần làm quốc sách lâu dài, bái Tô Tần làm ngoại tướng, bái Điền Văn làm nội tướng, bái Khuông Chương làm thượng tướng quân, các triều thần khác cũng được bố trí lại một lượt, thay bỏ không ít lão thần triều trước.

Giống như tất cả các lần vương triều đổi ngôi, sau khi Tuyên Vương băng hà, chỉ trong chưa đầy hai tháng ngắn ngủi, triều thần ra vào triều Tề, chỉ ngoại trừ số ít gương mặt quen thuộc như Tô Tần, còn lại đều được thay bằng thân tín của Điền Địa.

Giờ đây, triều đình nước Tề đã đổi mới từ trên xuống dưới.

An định xong nước Tề, tâm tư Tô Tần lại đặt hết ở nước Yên, bèn từ biệt Tề Vương, cùng Trần Chẩn rời Tề tới Triệu, muốn từ Hàm Đan vào Yên.

Hai người rời khỏi Lâm Truy, thẳng tới Hàm Đan, lúc vượt Hà Thuỷ, ngang qua cửa Túc Tư, Tô Tần lại nhớ tới người trong núi, bèn vào chợ mua lấy ít lương thực đồ dùng. Khi qua Hà Thuỷ, Trần Chẩn trông thấy một cái cây, bèn kể cho Tô Tần nghe chuyện mình từng đàm đạo với Thuần Vu Khôn dưới gốc cây đó. Hai người bèn lại bên gốc cây, bày biện đồ ăn, cúng tế Thuần Vu Tử.

Thấy Tô Tần cứ tần ngần nhìn vào trong núi, Trần Chẩn đoán rằng hắn đang nhớ Quỷ Cốc, bèn khuyên Tô Tần về thăm.

Tô Tần bèn giao xe ngựa cho phu xe của Trần Chẩn, cùng Trâu Phi Đao chia nhau cõng lương thực và đồ dùng mới mua, rồi nhìn sang Trần Chẩn: “Trần huynh có muốn cùng lên núi chăng?”

“Tại hạ đang chờ lời mời của Tô huynh đây!” Trần Chẩn cười, nhấc lấy một túi gạo trên lưng Tô Tần, vác lên vai, sải bước đi trước.

Sau khi vào núi, qua liền ba ngã ba, Trần Chẩn đều rẽ đúng đường, Tô Tần lấy làm kinh ngạc, bèn hỏi: “Trần huynh sao lại biết đường đi thê?”

Trần Chẩn cười đáp: “Nhiều năm trước, tại hạ từng vào cốc này một lần!”

“Trần huynh vào cốc nào kia?” Tô Tần càng thêm kinh ngạc.

“Quỷ Cốc! Gã Trương Nghi kia không nói gì với Tô Tử sao?”

Tô Tần lắc đầu.

Trần Chẩn chặc lưỡi than thở: “Thằng cha này cũng xảo quyệt thực!”

Tô Tần gặng hỏi nguồn cơn, Trần Chẩn bèn kể lại chuyện năm xưa vào núi gặp được tiểu đồng thế nào, tiêu đồng bảo mình đi tìm Trương Nghi ra sao, Tô Tần nghe mà cảm thán mãi không thôi.

Vừa đi vừa trò chuyện, chẳng mấy chốc ba người đã băng qua một khe núi, rẽ vào Quỷ Cốc.

Tới bên tảng đá lớn đề tên trước cốc, Tô Tần dừng bước, chuyển đồ đạc trên lưng cho Trâu Phi Đao.

“Tô Tử?” Trần Chẩn ngơ ngác.

“Trần huynh, tại hạ không vào đâu.” Tô Tần chỉ vào trong cốc, “lát nữa gặp sư huynh và sư tỷ của tại hạ, nhờ Trần huynh vấn an họ giúp, và chuyển lời tới sư tỷ.”

“Lời gì?”

“Sư đệ Tô Tần tạ ơn sư tỷ cứu mạng!”

“Nàng ấy từng cứu mạng Tô Tử ư?”

“Sư tỷ cứu được, đâu chỉ là mạng của tại hạ.” Tô Tần nhìn sâu vào trong cốc.

“Có cần vấn an tiên sinh thay Tô Tử không?” Trần Chẩn hạ giọng.

“Tiên sinh sẽ không gặp Trần huynh đâu!”

“Than ôi, phải rồi!” Trần Chẩn khẽ thở dài, “mệnh của tại hạ đâu có phúc phận này.” Rồi lại vác đồ lên vai, xăm xắn đi trước.

Thảo đường của Quỷ Cốc Tử vẫn còn nguyên đó, nhưng mấy căn nhà của đám Tô Tần, Trương Nghi năm xưa do lâu năm không được sửa sang, đã dột nát nhiều chỗ, giờ được dùng làm phòng chứa củi.

Cửa nhà cỏ khép chặt, nhưng không cài then.

Trần Chẩn thở phào một hơi, đặt đồ đạc xuống, bước lại khẽ đập cổng sài.

Ra mở cửa là tiểu đồng. Có điều, tiểu đồng từ lâu đã không còn là tiểu đồng năm xưa nữa, dưới cằm đã thêm một chòm râu nhỏ.

“Khách nhân đây là…” Tiểu đồng liếc Trần Chẩn một cái, ánh mắt dừng lại trên đống vật phẩm mà Trâu Phi Đạo đang xếp dưới đất cách đó vài bước chân.

“Tại hạ Trần Chẩn,” Trần Chẩn khom lưng hành đại lễ, “đây hẳn là đại sư huynh của Tô Tử?”

“Tô Tử nào?” Tiểu đồng không đáp lễ, bình thản hỏi lại.

“Chính là Tô Tần.”

“Có việc gì ư?” Tiểu đồng giọng vẫn dửng dưng.

“Là thế này,” Trần Chẩn chỉ đống đồ vật, “tại hạ đi ngang qua đây, được Tô Tử nhờ mang chút củi dầu gạo muối vào núi, tặng tiên sinh, sư huynh và sư tỷ dùng khi cần thiết, mong đại sư huynh chớ chê!”

“Ta sẽ nhận. Còn chuyện gì không?” Tiểu đồng vẫn không đổi giọng.

“Còn một việc nữa,” Trân Chẩn lại vòng tay, “Tô Tử nhờ tại hạ chuyển lời tới sư tỷ, xin hỏi sư tỷ có nhà chăng?”

“Chờ đã.” Tiểu đồng khép cửa, quay người đi thẳng vào nhà.

Bước vào trong động của Ngọc Thiền, bên trong đang đốt một thanh củi thông, lửa nổ lép bép.

“Chị Liễu Liễu, có người tới tìm!” Tiểu đồng báo tin. “Hắn chưa vào đây chứ?” Ngọc Thiền hỏi.

“Chưa.”

“Là ai?”

“Trần Chẩn!”

“Hắn tìm ta làm gì?”

“Nói rằng có lời nhắn gửi.”

Ngọc Thiền chậm rãi đứng dậy, thay ra phục sức màu trắng, khoan thai bước ra khỏi động, vào nhà cỏ, đẩy mở cánh cửa.

“Thượng khanh đại nhân,” Ngọc Thiền lên tiếng, “nghe nói đại nhân muốn chuyển lời cho ta, nói đi.”

Trần Chẩn vài sâu một vái: “Tại hạ được Tô Tử nhờ cậy, chuyển lời tới… sư tỷ!”

“Cứ nói!” Ngọc Thiền đáp lễ.

“Hồi bẩm sư tỷ,” Trần Chẩn cung kính, “Tô Tử nhắn lại, sư đệ Tô Tần tạ ơn sư tỷ cứu mạng!”

“Ta nghe thấy rồi. Còn việc gì không?”

Hỏi vậy, rõ ràng là muốn đuổi khách. Trần Chẩn khẽ đảo con ngươi, rồi chỉ vào đồ vật dưới đất: “Còn những vật này, là Tô Tử nhờ tại hạ mang tới, tại hạ chuyển vào trong nhà được chăng?”

“Đa tạ.” Ngọc Thiền đứng sang bên nhường đường.

Trần Chẩn cùng Trâu Phi Đao chuyển toàn bộ đồ vật vào trong nhà cỏ, sắp xếp gọn gàng.

“Dám hỏi sư tỷ, có thể ban cho tại hạ chút nước uống được chăng?” Trần Chẩn cố tình kiếm cớ.

Ngọc Thiền múc hai bát nước, đưa cho mỗi người một bát.

Trần Chẩn đỡ lấy bát nước, vừa chậm rãi uống, vừa đảo con người tít mù, quét khắp lượt trong nhà.

Phải, đây chính là gian nhà cỏ đã dạy dỗ nên bốn đệ tử Quỷ Cốc lẫy lừng thiên hạ. Lần trước vào cốc, Trần Chẩn vốn chỉ loanh quanh bên ngoài, lần này có cơ hội được vào tận trong nhà, quả là niềm vinh hạnh lớn lao trong đời, Trần Chẩn tự nhủ sẽ phải khắc cốt ghi tâm tất cả những gì trông thấy.

Gian nhà không lớn, cũng không vuông vắn, dựng nương theo thế núi, ba mặt là vách tường, mặt còn lại chỉ thấy đen hun hút, đoán là cửa động, Quỷ Cốc Tử lúc này hẳn đang ở trong đó.

Ba vách thảo đường treo dây thảo dược, trong nhà sực nức mùi thuốc. Trần Chẩn nhìn kỹ, thấy thảo dược trên vách mỗi loại một kiểu, dường như không hề trùng lặp.

Ánh mắt Trần Chẩn dừng lại trên vách tường bên cạnh. Trên tường treo vài dãy thẻ tre màu sắc đậm nhạt khác nhau, trên dưới nối liền, ngang dọc thẳng hàng, mỗi hàng sáu tẩm, lần lượt là ngũ hành, ngũ phương, ngũ thời, ngũ khí, ngũ hoá, ngũ tạng, ngũ phủ, ngũ khí, ngũ chí, ngũ sắc, ngũ vị, ngũ âm, ngũ thanh, ngũ cốc.

Trần Chẩn đang nhìn mê mải, thì Ngọc Thiền lại vòng tay hành lễ, đuổi khách lần nữa: “Trần đại nhân, nước đã uống rồi, còn việc gì không?”

“Còn còn còn.” Trần Chẩn rối rít. “Cứ nói!”

“Chính là thứ này,” Trần Chẩn chỉ vào những dãy thẻ tre trên tường, “thực thú vị.”

“Có gì thú vị?”

“Dựa vào Ngũ hành để phân chia vạn vật thành năm loại, tương ứng lẫn nhau, đúng là được mở rộng tầm mắt. Không giấu sư tỷ, tại hạ cũng coi là người đi nhiều biết rộng, nhưng cách phân chia thế này, đúng là lần đầu tiên được thấy.”

“Tạ ơn Trần đại nhân khen ngợi!” Ngọc Thiền vòng tay, “xin Trần đại nhân chớ gọi ta là sư tỷ, bởi ta không phải sư tỷ của đại nhân.”

“Được, có điều,” Trần Chẩn lại đảo con ngươi, “xin cũng chớ gọi tại hạ là đại nhân, bởi tại hạ đã không còn là đại nhân nữa. Lúc này, tại hạ chỉ là một tiểu nhân, một thường dân giữa muôn người mà thôi.”

“Vậy ư?” Ngọc Thiền nhìn thẳng vào Trân Chẩn chốc lát, đoạn mỉm cười, “trời đất xoay vần, thoắt lớn thoắt bé, Liễu Liễu chúc mừng ông.”

“Liễu Liễu?” Trần Chẩn không hiểu.

“Có thể gọi ta là Liễu Liễu.”

“Ái chà chà, tên này hay tuyệt!” Trần Chẩn tấm tắc khen ngợi, “đời người vui khổ, một liễu trăm liễu.” Lại chỉ vào tim mình, “nghìn vạn dục vọng, một liễu trăm liễu.”

“Khách nhân còn việc gì chăng?” Ngọc Thiền lại hỏi.

“Tại hạ còn một ước nguyện xa xỉ,” Trần Chẩn vòng tay, “chính là bái kiến Quỷ Cốc tiên sinh! Kính xin Liễu Liễu bẩm báo tiên sinh, rằng tiểu nhân Trần Chẩn ngưỡng mộ tiên sinh đã lâu, ước ao được gặp một lần, lắng nghe tiên sinh chỉ giáo, dám mong tiên sinh thương đến!”

“Tiên sinh không có trong cốc.”

“Ồ? Tiên sinh đang ở đâu?”

Ngọc Thiền chỉ ra ngoài cửa: “Sâu trong núi kia, chốn hun hút mây ngàn.”

Trần Chẩn thở dài, sắc mặt đầy thất vọng: “Chẩn hiểu rồi, là Chẩn không có phúc đó!” Rồi vòng tay với Ngọc Thiền, “tiểu nhân cáo từ!” Đoạn sải bước quay ra.

Ngọc Thiền tiễn ra tới cửa: “Khách nhân dừng bước!” Trần Chẩn dừng lại, ngoảnh nhìn khấp khởi.

Nào ngờ Ngọc Thiền chỉ buông một câu: “Khách nhân có bệnh.”

“Chẩn… Chẩn có bệnh gì?” Trần Chẩn lo lắng.

“Tỳ vị”.

“A, Chẩn vẫn ăn uống bình thường kia mà.” Trần Chẩn sửng sốt.

“Tam tiêu hư hoả, ứ tích bên trong, độc kết ở tràng, hoả sinh ở trong, cứ thế lâu ngày, thọ không lâu nữa.”

“Chao ôi!” Trần Chẩn kêu lên, vái dài sát đất, “con trai của Chẩn chưa kịp chào đời, Chẩn chưa thể chết được, cầu xin thần y cứu mạng cho Chẩn!”

Ngọc Thiên mỉm cười, viết một đơn thuốc, đưa cho Trần Chẩn: “Chớ lo lắng, khách nhân bốc thuốc theo đơn, hàng ngày sắc uống, khoảng chừng chục ngày, những thứ tích tụ trong bụng sẽ bài tiết hết, sẽ lẫn máu mủ tanh hôi, chớ nên kinh hoảng. Sau đó hãy tĩnh dưỡng, ăn uống thanh đạm, nửa năm sau sẽ bình phục.”

“Đa tạ, đa tạ!” Trần Chẩn hai tay đỡ lấy đơn thuốc, quỳ phịch xuống đất, bò rạp mà lạy.

Ngọc Thiền cũng không ngăn cản, chờ Trần Chẩn hành đại lễ xong, bèn quay sang Trâu Phi Đao, rõ ràng nàng đã nhận ra Trâu Phi Đao từ nãy, bèn lấy ra một hộp gấm, đưa cho hắn: “Xin hãy giao vật này cho Tô Tần, mỗi ngày một hoàn, uống liền mười lăm ngày, có thể loại trừ độc tố còn sót trong cơ thể!”

Trâu Phi Đao vái sâu một vái, đỡ lấy hộp gấm, rồi cùng Trần Chẩn rời khỏi thảo đường.

Nhìn theo bóng hai người xa dần, Ngọc Thiên khế thở dài, đóng cửa nhà cỏ, đi vào trong động, gặp tiểu đồng tại cửa động.

“Liễu Liễu?” Tiểu đồng cười hỏi.

“Liễu Liễu!” Ngọc Thiên rầu rầu đáp.

“Tô sư huynh đang ngoài cửa cốc.” Tiểu đồng nói.

“Biết rồi.” Ngọc Thiên gượng cười đáp, “Khước Khước, hãy vào trong động của tiên sinh.”

Tiểu đồng gật đầu. Hai người sánh bước đi vào trong sơn động sâu thẳm, tới thẳng động của tiên sinh.

Tiểu đồng châm cháy ba cành thông, lòng hang thoắt sáng bừng, mùi nhựa thông thơm ngát lan trong không khí. Trong động của tiên sinh, mọi thứ vẫn hệt như lúc trước, trên án vẫn bày tráp gỗ, trên tráp gỗ là bốn câu kệ:

Đoạn trừ duyên tục

Kết thành đạo tâm

Kim đồng ngọc nữ

Cùng cứu thế nhân.

Đây chính là lời căn dặn cuối cùng của tiên sinh với hai người họ.

Bên án vẫn bày bàn cờ Quỷ Cốc Tử, quân đen trắng là do tiểu đồng sắp xếp, hai cụm quân đan rối vào nhau, như hai con rồng lớn, tựa vào địa thế, đối địch lẫn nhau.

Nhìn vào cục diện, hai con rồng quấn chặt lấy nhau, giằng co kịch liệt, đang lúc sát phạt dữ dội nhất.

Tiểu đồng ngồi trước bàn cờ, mắt nhìn chăm chú, đôi mày chau tít.

“Ồ, chẳng phải sư đệ không đánh cờ ư?” Ngọc Thiên cười hỏi.

Tiểu đồng thở dài một tiếng, cung cách giống hệt như Quỷ Cốc Tử.

“Khước Khước, hãy quên hết chuyện bên ngoài, mà trở vào bên trong đi.” Ngọc Thiền nói.

“Chị Liễu Liễu, còn có chuyện này!” Tiểu đồng đứng dậy, tiến lại bên giường tiên sinh, lật phản giường lên, lấy từ dưới gầm giường ra từng bó thẻ tre, cả thảy tới mười mấy bó, bê lại bày trước mặt Ngọc Thiền.

“Gì vậy?” Ngọc Thiền ngạc nhiên nhìn đống thẻ tre. “Là tiên sinh tặng cho chị, tiên sinh dặn em hãy lấy ra, cùng chị tham ngộ.”

Ngọc Thiền giở thẻ tre ra xem, càng thêm sửng sốt. Tất cả đều là những y thư của tiền hiền mà nàng chưa từng đọc, còn được Quỷ Cốc Tử chú giải kỹ càng, nhìn vào nét mực, biết rằng tiên sinh mới viết chưa lâu, hẳn là trước khi rời khỏi sơn cốc.

Ngọc Thiên bỗng chốc ứa lệ.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử