Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 74
GIỮA TRIỀU ĐƯỜNG, KHUẤT BÌNH ĐƠN ĐỘC
TRƯỚC KÌNH ĐỊCH, TRẦN CHẨN RA TAY

❊ ❊ ❊

Hoài Vương cải chế, tung ra hiến lệnh đầu tiên với khí thế dời non lấp bể, đòn đầu tiên muốn giáng thẳng xuống đầu ba dòng họ lớn Khuất, Cành, Chiêu, nào ngờ lại vấp phải sự lạnh nhạt của ba họ này. Lệnh doãn Chiêu Dương vốn được giao trọng trách thực thi hiến lệnh lại cáo bệnh cáo lão, hiến lệnh ban bố đã năm ngày, mà Sính Đô vẫn bình chân như vại.

Hoài Vương nổi giận đùng đùng, vào buổi chầu hôm sau, hạ lệnh cho tả đồ Khuất Bình thay phủ lệnh doãn hành lệnh, vương chỉ viết rằng: “Do lệnh doãn Chiêu Dương tuổi già nhiều bệnh, nay lệnh cho tả đồ Khuất Bình tạm thay phủ lệnh doãn xử lý mọi việc liên quan, tổng quản bá quan trong triều, doãn thú quận huyện, tạo hiến định chế, giám sát thi hành vương mệnh! Khắp trong nước Sở, bất luận là ai, trên tới thái tử, dưới tới nô bộc, lê dân, hễ kháng vương mệnh, phủ tả đồ có quyền tiền trảm hậu tấu!”

Quả là một quyền lực quá lớn, văn võ bá quan trong triều đưa mắt nhìn nhau.

Tuyên chỉ xong, nội doãn bước xuống, giao lại chỉ lệnh cho Khuất Bình đang quỳ tiếp chỉ.

Khuất Bình nhận chỉ, dập đầu bái tạ. Hoài Vương lập tức bãi triều.

Nếu là bình thường, vừa tuyên bãi triều, quần thần sẽ giải tán ngay. Nhưng hôm nay lại khác, Hoài Vương đã đi khỏi một hồi, mà trong triều vẫn không có động tĩnh, chỉ có vô số ánh mắt từ mọi hướng đổ dồn vào tả đồ đang quỳ trước ngai vàng, tay đỡ vương chỉ.

Lúc này, Khuất Bình không còn là một tả đồ bình thường nữa, mà đã là tả đồ thay quyền lệnh doãn, có quyền tiền trảm hậu tấu.

Khuất Bình đã cảm nhận thấy những ánh mắt sắc lạnh như dao đang bủa lấy mình. Khuất Bình từ từ đứng dậy, quay lại, đứng giữa chính điện, ánh mắt điềm tĩnh quét khắp một lượt từ trái sang phải.

Chiêu Dương cáo bệnh, không vào chầu. Đứng đầu hàng quan văn là thái tử Mị Hoành, tiếp đến chính là chỗ của Khuất Bình, tiếp sau là Tử Khải, Bành Quân, thượng quan Ngận Thượng. Còn trong hàng võ tướng, đứng đầu là hai vị thượng trụ quốc, tả hữu tư mã của Đại Sở, Khuất Cái và Cảnh Thuý.

Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Khuất Bình, trong đó gồm cả thái tử Mị Hoành. Theo như vương chỉ, sự sống chết của thái tử lúc này cũng nằm trong tay Khuất Bình.

Những ánh mắt khác hẳn ngày thường, cùng nhìn chòng chọc vào Khuất Bình như thể đang nhìn một loài quái vật.

Người đầu tiên bỏ đi là thái tử Mị Hoành, cứ thế ngang qua trước mặt Khuất Bình. Tiếp sau đó là Cảnh Thuý và Khuất Cái, bước chân nặng trịch.

Xạ Cao Quân dẫn đầu, đứng lên khỏi chiếu, cố tình phất ống tay áo phần phật một cách khoa trương. Quần thần cũng theo nhau đứng dậy, khắp cung điện vang lên tiếng phủi tiếng giũ áo.

Khắp triều đường, không một ai lên tiếng chúc mừng Khuất Bình.

Bá quan lục tục kéo nhau về. Giữa đại điện trống trơn, chỉ còn lại Khuất Dao, Cảnh Lý và Chiêu Tuy.

Cảnh Lý, Chiêu Tuy đưa mắt nhìn nhau, bước lại, cũng không chúc mừng, chỉ nhìn trân trân vào Khuất Bình với ánh mắt khó hiểu, hồi lâu sau, khẽ thở dài một tiếng, rồi cùng nhau bỏ đi.

Triều đường lúc này, chỉ còn lại hai người Khuất Bình và Khuất Dao.

Khuất Dao mỉm cười, vòng tay hướng vào Khuất Bình: “Chúc mừng anh!”

“Cảm tạ hiền đệ!” Khuất Bình mỉm cười đáp, giơ vương chỉ lên, rồi cất vào trong ống tay áo, sải bước đi ra.

Màn đêm buông xuống.

Trong nhà cỏ tĩnh mịch, Khuất Bình không muốn đi ngủ, cũng không tài nào ngủ nổi. Hai bên án chất hai chồng thẻ tre cao ngất, bên trái là hiến chế thành văn của nước Sở, bên phải là luật lệnh liệt quốc. Những luật lệnh này, Khuất Bình đã thuộc làu, bày ở đây, chỉ để phòng khi cần đến.

Trước mặt Khuất Bình là một cuốn thẻ tre, chính là những hiến lệnh đang đợi thi hành.

Tuy nhiên, vào giây phút này, tâm tư của Khuất Bình lại không để ở hiến lệnh.

Kể từ lúc trở về nhà vào buổi chiều, Khuất Bình cứ ngồi mãi thế này, tâm trí rối bời, cơm tối cũng chẳng buồn ăn, đôi mày lúc nào cũng chau tít.

Có tiếng bước chân từ bên ngoài tiến lại. Là bé gái, đang khệ nệ bê vào một chậu lan nở hoa rực rỡ, đặt xuống trước án. Hương thơm thoang thoảng bỗng chốc lan toả khắp phòng, thấm vào gan ruột.

Đi theo sau là Bạch Vân, tay bưng khay, trên khay bày cơm canh. Nàng đặt khay xuống án, liếc nhìn Khuất Bình một cái, khêu tỏ ngọn đèn, lại châm cháy hai cành thông, cắm lên trên giá.

Căn phòng bỗng chốc sáng bừng.

Bạch Vân đưa tay chỉ vào khay cơm canh. Khuất Bình cười, đôi mày từ từ giãn ra, đoạn cầm đũa lên ăn.

Nhìn thấy ở bên cạnh bày một cây đàn cầm, Bạch Vân tiến lại, ngồi xuống bên đàn, đưa tay lướt nhẹ trên dây.

Tiếng đàn vang lên, thoạt tiên khoan thai dìu dặt, như gió thổi qua hang trống, như mây lướt ngang đỉnh núi; sau đó chợt chuyển gấp gáp, như mây đen vần vũ, như gió bão rung cây; rồi lại chói chang vang vọng, như sấm nổ chớp loé, như mưa rào sầm sập; cho đến cuối cùng, lại dịu dàng thong thả, như cầu vồng sau mưa, như cánh nhạn qua trời.

Khuất Bình bàng hoàng chấn động, dừng đũa, nhắm mắt, nước mắt chợt ứa ra.

Kể từ khi quen biết, Khuất Bình chỉ biết nàng biết hành vu pháp, biết trị bệnh, biết cúng tế, biết trồng hoa, biết nấu nướng may vá, thực không ngờ được nàng còn biết gảy đàn, lại còn gảy nên diệu khúc nhường này.

Bạch Vân gảy xong một khúc, nhìn sang Khuất Bình: “Sao không ăn nữa?”

“Nghe no rồi.” Khuất Bình đặt đũa xuống, nhìn nàng chăm chú, “nàng đã gảy lên nỗi lòng của ta.”

“Đại nhân đã nghe ra nỗi lòng gì?”

“Đã nghe ra gió bão Vu Sơn.”

“Gió bão Vu Sơn làm sao kia?”

“Mưa rào không thể hết ngày, mưa xong trời lại sáng ngời như gương.”

“Phải!” Bạch Vân khẽ mỉm cười.

“Thần mây này,” Khuất Bình nắm quyền, “Khuất Bình biết phải làm thế nào rồi!”

Lời vừa dứt, ngoài cổng chợt nghe tiếng xe ngựa lóc cóc lại gần, lát sau, có tiếng chân người tiến lại.

Giờ này còn tới, chắc chắn là việc gấp. Khuất Bình liền ra đón.

Hai người đang tới, tay xách đèn lồng. Là Khuất Dao và phụ thân Khuất Cái.

“Chú, em Dao?” Khuất Bình khom lưng vái chào.

Khuất Cái xua tay, coi như đáp lễ. Khuất Bình mời hai người vào nhà, sắp xếp chỗ ngồi.

Ánh mắt Khuất Cái dừng lại ở Bạch Vân, lúc này vẫn ngồi bên đàn cầm.

“Thưa chú, nàng ấy là Bạch tư tế miếu Vu Hàm!” Khuất Bình giới thiệu, rồi lại quay sang Bạch Vân, “tư tế, đây là chú của tại hạ, tả tư mã của Đại Sở!”

Bạch Vân liền vòng tay chào: “Bạch Vân bái kiến tư mã đại nhân!”

Khuất Cái vòng tay đáp lễ: “Từ lâu đã nghe Dao Nhi nhắc đến tư tế, nghe nói tư tế là một kỳ nữ, hôm nay được gặp, quả nhiên không phải tầm thường!” Quay sang Khuất Bình, “chú có lời chúc mừng!”

Khuất Bình, Bạch Vân đều đã nghe ra ý của Khuất Cái, đưa mắt nhìn nhau, cùng đỏ mặt sượng sùng.

“Cháu hiền,” Khuất Cái thu lại nụ cười, “chú tới đây, là có chuyện muốn hỏi.”

“Xin chú cứ nói.”

“Nghe Khuất Dao nói, cháu vẫn đang phụng chỉ soạn thảo hiến lệnh mới?”

“Vâng.” Khuất Bình đáp, rồi chỉ xuống án, “cháu đang bắt đầu.”

“Cháu hiền,” Khuất Cái nhìn thẳng vào Khuất Bình, “chú muốn nói với cháu một câu, biết đủ thì dừng, thấy được thì thu.”

“Chú?” Khuất Bình ngỡ ngàng.

“Cháu hiền, cháu có biết mình đang làm gì không?”

“Xin chú cứ nói!”

“Cháu đang một mình đối chọi với cả đám đông. Mấy chục năm qua, mà không, mấy trăm năm qua, họ đã kết thành gân mạch, dệt thành mạng lưới, đan xen chằng chịt, dày đặc chồng chéo, ăn sâu vào từng lỗ chân lông của nước Sở. Cháu hiền, cháu còn non nớt lắm, cháu tuyệt đối không phải là đối thủ của bọn họ!”

“Thưa chú,” Khuất Bình tiếp lời, “cháu hiểu rõ mình đang làm gì! Cháu đã thề với đại thần Vu Hàm, dù có phải nhỏ đến giọt máu cuối cùng, cháu cũng quyết xé toang tấm lưới này, khiến cho nước Sở trở nên cường thịnh!”

“Than ôi,” Khuất Cái thở dài, “cháu hiền, hôm nay trên triều đường, đáng lẽ cháu phải nhìn ra rồi mới phải. Cháu chỉ trơ trọi một mình, là một cây đinh. Còn họ, họ đã kết thành một mặt thớt lớn và dày, cháu đâm không thủng được đâu!”

“Thưa chú,” Khuất Bình nắm chặt tay, “cháu không chỉ có một mình! Cháu còn có chú, có Khuất Dao, có Cảnh Thuý, Cảnh Lý, có Chiêu Tuy, Chiêu Dương, có Ngận Thượng, có Nam hậu, có đại vương. Quan trọng hơn nữa, cháu có hàng ngàn vạn dân chúng bất bình, đang mong thay đổi, tất cả họ đều ủng hộ cháu!”

“Than ôi,” Khuất Cái lắc đầu, “cháu hiền ngây thơ quá! Cháu thực sự không nhận ra ư? Cháu thực sự không hiểu Sính Đô đang xảy ra chuyện gì ư?”

“Đã xảy ra chuyện gì, thưa chú?”

“Như trên triều đường sáng nay, ngoài đại vương ra, không một ai ủng hộ cháu!” Khuất Cái chỉ vào Khuất Dao, “gồm cả cậu em này của cháu!”

Khuất Bình trợn tròn mắt, nhìn sang Khuất Dao.

Khuất Dao thở hắt ra, ngoảnh mặt sang chỗ khác.

“Những người mà cháu vừa kể tên, trước tiên nói về Ngận Thượng, sớm đã kết thân với đám sứ Tần Trương Nghi, vương thúc, Ngạc Quân, cháu có thể kỳ vọng vào hắn được ư? Ngận Thượng có ơn cứu mạng với Trịnh nương nương, Ngận Thượng đã đổi chí, liệu Trịnh nương nương còn ủng hộ cháu nữa không? Hai họ lớn Cảnh, Chiêu, suốt mấy ngày nay bị họ hàng thân thích kéo theo bầu đoàn thê tử tới làm ầm ĩ suốt ngày đêm, Cảnh Thuý đang điên đầu, Chiêu Dương thì từ chức cho xong chuyện. Còn Chiêu Tuy cháu vừa nhắc tới, vào lúc này đã được Chiêu Thử dẫn tới phủ Ngạc Quân, đang yến ẩm vui say cùng đám Trương Nghi, Ngận Thượng!”

Nghe nói Chiêu Tuy đang uống rượu cùng Trương Nghi, Ngận Thượng, Khuất Bình bàng hoàng kinh hãi, nhìn sang Khuất Dao. Khuất Dao liền gật đầu.

“Cháu hiền,” Khuất Cái càng nói càng không kìm được, “cháu nhất thiết chớ quên, ba dòng họ Khuất, Cảnh, Chiêu vĩnh viễn là công tộc, mỗi một người trong tộc, đều đang hưởng phúc của đất nước này, bao gồm cả cháu hiền trong đó. Không có cái danh công tộc, cháu hiền dù bản lĩnh bằng trời, liệu có thể vào được cung thành của Sở Vương hay không? Chỉ dựa vào mấy bài thơ phú, liệu có thể bước lên chức tả đồ hay không? Cháu hiền được hưởng lợi lộc lớn lao là thế, vậy mà lại đi soạn hiến lệnh chống lại toàn bộ công tộc, chống lại toàn bộ vương tộc, cách chức cải chế, xoá bỏ thế tập, cũng chính là tước bỏ toàn bộ những gì mọi người đã có, như thế hỏi có được không? Phải, hiến lệnh đó có lợi cho đại vương, có lợi cho ngàn vạn lê dân bách tính, song sở dĩ đại vương có thể trở thành đại vương, là nhờ sinh ra đã được thừa hưởng, là nhờ thừa kế đời đời, không có công tộc và vương tộc, cũng lấy đâu ra đại vương? Còn như lê dân bách tính, liệu họ có hiểu được cháu? Dù họ có hiểu, có ủng hộ cháu, nhưng trên triều đường, họ có chỗ đứng hay không?”

Trước một tràng chất vấn như sấm dậy bên tai của Khuất Cái, Khuất Bình ngồi ngây như phỗng.

“Cháu hiền,” Khuất Cái đổi giọng khẩn khoản, “hãy nghe chú, nên dừng đúng lúc!”

“Thưa chú,” không biết bao lâu sau, Khuất Bình mới định thần trở lại, ánh mắt chân thành nhìn sang Khuất Cái, “cháu biết những lời chú nói đều là sự thực, cháu biết chú là người thông minh thấu suốt. Nhưng thưa chú, chính bởi chú thông minh, bởi chú thấu suốt, nên chú càng cần phải hiểu tình cảnh của Đại Sở hiện nay. Ở chỗ đối mặt với Đại Sở ta, là người Tần. Người Tần lớn mạnh nhờ vào biến pháp của Thương Ưởng, cầm thương rèn từ ô kim của Đại Sở ta, chiếm lấy Thương Ư, cướp đoạt Ba Thục, khống chế Hán Trung, nhòm ngó Kiềm Đông, hình thành thế rẻ quạt, bao vây Đại Sở ta. Thưa chú, theo như tình hình nước Sở bây giờ, người Tần nếu tới, ta dựa vào đâu mà chống lại? Vương tộc, công tộc vĩnh viễn đè

đầu cưỡi cổ dân chúng, không nhường cho họ một cơ hội nào, khi người Tần đánh tới, lại bắt dân chúng xả thân ứng chiến, như thế có được chăng? Thưa chú, người Tần đánh tới, việc họ muốn làm nhất là gì? Thứ họ muốn có, là đất đai, là dân chúng; còn thứ họ muốn diệt, chính là vương tộc, là công tộc đó, thưa chú.”

“Than ôi,” Khuất Cái thở dài, lắc đầu cười gượng gạo, “cháu hiền, chú biết cháu nhìn xa trông rộng, chính trực ngay thẳng, nhưng đường đi nước bước đi hiện tại, e là đã quá vội vàng, không những không có lợi gì cho nước, mà còn huỷ hoại cả dòng họ Khuất ta! Không giấu gì cháu, hiến lệnh đầu tiên vừa ban bố, trước cửa nhà chú đã chật kín xe ngựa, kẻ khóc lóc, người van xin, kẻ tặng quà, người đòi chết, thôi thì kiểu gì cũng có, không ai không phải họ hàng thân thích, thân bằng cố hữu của Khuất môn, không ai không trách móc cháu, nguyền rủa cháu là nghịch tử của Khuất môn.”

Khuất Bình phủ phục dưới đất, dập đầu mà nói: “Cháu có lỗi với chú, có lỗi với thân thích bằng hữu của Khuất môn! Cháu cũng nhờ chú chuyển lời tới họ, trên đầu ba thước có thần linh, họ dựa vào phúc ấm của tổ tiên, ngồi mát ăn bát vàng, không làm mà hưởng lộc, ăn trắng mặc trơn mà không nộp thuế, lẽ nào không thấy cắn rứt lương tâm hay sao?”

Khuất Cái không nhận cái khấu đầu của Khuất Bình, thở dài thườn thượt, chầm chậm đứng dậy, quay đi, bước thẳng ra khỏi cửa.

Bước chân Khuất Cái hết sức nặng nề, tấm thân cường tráng dày dạn sa trường khe khẽ lắc lư trong màn đêm.

Khuất Dao liếc nhìn Khuất Bình, cũng thở dài một tiếng rồi đứng dậy bước ra theo, đỡ lấy tay cha.

Khuất Bình, Bạch Vân cùng bước ra khỏi cửa, dõi mắt nhìn theo hai người họ leo lên xe ngựa, nhìn theo ánh đèn lồng từ từ mất hút trong bóng tối.

Bạch Vân đưa bàn tay lại gần, nắm lấy tay Khuất Bình. Trong đêm khuya tĩnh mịch, hơi ấm từ bàn tay nàng từ từ lan toả, thấm sâu vào thân tâm Khuất Bình.

Sáng hôm sau, Khuất Bình tới phủ tả đồ từ rất sớm, bắt tay vào thực thi vương mệnh, lệnh cho bộ thuộc dán cáo thị khắp những nơi sầm uất, kèm theo danh sách dư quan cần cắt giảm của các phủ doãn, các công tộc ngoài ba họ lớn. Kỳ thực, quá trình cắt giảm dư quan rất giản đơn. Trước tiên, các nhà tự tra tự báo, sau đó, phủ tả đồ sẽ kiểm tra lại, rồi yết bảng công bố. Cho dù trong thời gian quy định, vẫn chưa có nhà nào tự tra tự báo, song Khuất Bình sớm đã có chuẩn bị, từ vài ngày trước đã sai người trong phủ tự đối chiếu trong sổ sách của vương thất, lập thành danh sách. Vào buổi trưa nay, dưới sự hộ tống của giáp sĩ, người phủ tả đồ khua chiêng gióng trống, dán cáo thị khắp nơi.

Nếu theo ý Hoài Vương, rập khuôn theo Tần pháp, lần này công tộc các nhà cùng kháng mệnh, thì không biết sẽ có bao nhiêu người đầu rơi máu chảy.

Cho nên kỳ thực, cách thức cải chế của Khuất Bình mềm dẻo hơn, cũng khả thi hơn. Trước tiên do các nhà tự tra tự báo, tiếp đến quan phủ dán cáo thị, để bộ thuộc và người dân cùng giám sát, đề phòng báo sai, báo sót. Chờ cáo thị dán xong, các phủ doãn có liên quan sẽ xoá bỏ về chức vị, bổng lộc, tước hiệu và đất phong của dư quan. Chiếu theo vương mệnh mới ban, những thứ mà dư quan bị cắt giảm có được từ trước, vẫn thuộc về họ, chỉ có chức tước đã thế tập quá ba đời sẽ bị xoá bỏ. Sau khi thu hồi đất phong và quyền lực của dư quan, sẽ giao cho phủ doãn liên quan định giá, người bị cắt giảm có thể mua lại. Phàm những tài sản không được mua lại, coi như chủ nhân đồng ý từ bỏ, phủ doãn có thể mang bán cho người khác.

Tuy nhiên, trước một hiến lệnh hoà hoãn như vậy, đám vương công quý tộc quen ăn trên ngồi trốc lại không hề cảm kích, cáo thị vừa được dán lên, các khu phố sầm uất bỗng trở nên hỗn loạn. Nhiều người xúm lại trước cáo thị, la lối, chửi bới om sòm, thậm chí ngang nhiên phỉ nhổ vào cáo thị. Do người phá phách quá đông, lính canh không thể nào trấn áp.

Ngày thứ hai sau khi cáo thị được ban bố, trời vừa tảng sáng, Khuất Bình sau một đêm không ngủ thức soạn hiến lệnh vừa rửa mặt chải đầu xong xuôi, đang múa kiếm sau nhà, bỗng một cỗ xe ngựa lao như bay vào cổng, Khuất Dao chạy xộc vào trong, nói rằng phủ tả đồ có chuyện.

Khuất Bình lên xe, ra roi chạy tới phủ tả đồ, thấy trước cổng đông nghịt những người, đang vây quanh hai cái xác nằm dưới đất. Nghe quân uý canh cổng bẩm báo, không biết hai người này vì chuyện gì và vào lúc nào đã treo cổ tự vẫn ngay trên cổng.

Khuất Bình rẽ đám đông bước lại nhìn, thấy đó là hai cụ già ăn mặc chỉnh tề, trên cổ đeo một tấm thẻ gỗ, trên đó viết lời thỉnh cầu, cầu xin tả đồ tấu lên đại vương, rằng mình nguyện dùng cái chết để đổi lấy danh dự của tổ tiên.

Khuất Bình đang nghĩ xem phải xử lý thế nào, bỗng thấy người ùn ùn đổ đến từ khắp bốn phương tám hướng, phải đến hàng trăm kẻ. Khuất Bình đoán rằng họ là thân thích của hai cụ già này, hoặc người của dòng tộc khác cùng chung cảnh ngộ kéo tới xem. Bỗng chốc, trước phủ tả đồ đông nghẹt những người, la lối gào thét, xông về phía Khuất Bình. Quân uý hốt hoảng, hô binh lính cầm thương giương cung, bày thành thế trận, che chắn cho Khuất Bình và Khuất Dao lui vào trong cổng, cài then bên trong, còn chống thêm hai thanh gỗ lớn sau cánh cổng.

Đám người bên ngoài như thể phát cuồng, chốc lát đã biến thành đám bạo đồ, hoặc đạp cổng, hoặc gào thét, hoặc chửi rủa, hoặc ném gạch đá vào trong, cảnh tượng vô cùng hỗn loạn.

“Đại nhân, họ cố tình tác loạn!” Quân uý lo lắng bẩm báo, “ta không đủ binh lính, phải làm thế nào đây?”

“Rành rành là đại nha môn nước Sở, ngay sát vương cung, há cho phép bạo đồ làm càn!” Khuất Dao nổi giận, rút bảo kiếm, quay sang quân uý, “truyền lệnh, toàn bộ vệ binh nghe hiệu lệnh của ta, giáp trụ tề chỉnh, giương cung chờ sẵn, phàm kẻ nào dám xông vào trong cổng, bắn chết không tha!”

Khuất Bình lúc này cũng đã định thần sau cơn kinh hãi, ngẫm nghĩ chốc lát, rồi nhìn sang quan hàm doãn trông coi sổ sách trong phủ: “Giở sổ hộ tịch, tra xem hai người chết kia thuộc dòng họ nào!” Rồi quay sang quân uý, “mở cổng!”

“Anh?” Khuất Dao thất kinh.

Khuất Bình nhìn sang quân uý, chỉ ra phía cổng. Quân uý hít sâu một hơi, nhấc bỏ hai thanh gỗ chống, rút then cài, mở toang cổng phủ.

Thấy cổng phủ đột ngột mở rộng, đám đông không hẹn mà cùng giật lùi hơn chục bước, lặng im phăng phắc, vô số ánh mắt cùng đổ dồn vào trong cổng.

Lúc này, mặt trời cũng vừa ló rạng, ráng sớm rực rỡ chiếu lên cánh cổng sơn son, đỏ rực một màu.

Khuất Bình đưa bội kiếm cho Khuất Đao, ngẩng cao đầu, thong thả bước ra.

“Chư vị phụ lão, chư vị đại nhân,” Khuất Bình khom lưng trước chúng nhân, “tại hạ Khuất Bình, tả đồ Đại Sở, đây là phủ tả đồ. Quốc có quốc pháp, gia có gia quy, chư vị đại nhân phụ lão mới sáng sớm đã tụ tập ngoài cổng của bản phủ, là có điều gì muốn nói, xin hãy nói ra!”

“Tả đồ,” một tráng hán đứng đầu bước lên vài bước, chỉ vào hai xác chết vẫn nằm dưới đất, cất giọng giận dữ, “mắt ông không thấy gì ư? Hai cụ già này là người trong tộc tôi, ông nói đi, tại sao đang yên đang lành họ lại chạy tới phủ của ông, treo cổ tự vẫn ngay trên cổng phủ?”

“Tráng sĩ,” Khuất Bình hai mắt như đuốc, nhìn xoáy vào tráng hán, song tay lại chỉ vào cổng phủ, “xin hãy nhìn cho rõ, đây nào phải là cổng nhà tại hạ, mà là phủ tả đồ của Đại Sở, tấm biển này do chính nhà vua của Đại Sở tự tay đề! Thân là tả đồ chủ trì vương mệnh trong phủ này, ta cũng đang muốn hỏi anh, người trong tộc anh, cũng chính là hai cụ già này, cớ sao đêm hôm khuya khoắt lại tìm tới đây, treo cổ trên cổng phủ?”

“Ông…” tráng hán gần như gầm lên, “chớ có vờ như không biết!”

“Tráng sĩ, xin hãy bình tĩnh, nói năng cho tử tế,” Khuất Bình chỉ lên trời, “công lý ở trời, trời xanh cao thẳm, gào thét nữa cũng vô dụng mà thôi!”

Chúng nhân đưa mắt nhìn nhau. Rõ ràng, phản ứng của tả đồ đã vượt ra ngoài sự tưởng tượng của họ.

“Được, tôi sẽ nói lý với ông!” Tráng hán ngước mắt nhìn trời, rồi lại chỉ vào hai xác chết, giọng rành rọt, “hai cụ già đây đã bị vương mệnh do phủ tả ban bố bức bách đến cùng đường, nên mới buộc phải treo cổ tự vẫn trên cổng phủ này!”

“Anh hãy nói xem, họ cùng đường như thế nào?”

“Ông…” Người kia mấp máy môi vài cái, im bặt.

“Hàm doãn,” Khuất Bình quay vào trong cổng, lớn tiếng hỏi, “đã tra ra thân thế của hai vị này chưa?”

“Hạ quan đã tra xong.” Hàm doãn tay cầm sổ bước ra, đứng bên cạnh Khuất Bình, dõng dạc đáp lời, “hai vị này, một người thuộc dòng họ Sa ở Mịch Thuỷ, tên Liễu Giang, tổ tông là công tôn nước Mịch, được phong chức giang doãn Mịch Thuỷ, tổ nghiệp đã thế tập qua mười hai đời, từ đời thứ bảy đã rời khỏi Mịch Thuỷ, di chuyển nhiều nơi, cuối cùng tới Sính Đô lập nghiệp, mở cửa hàng buôn bán đồ nghề đánh bắt cá, nhưng Sa Liễu Giang vẫn tiếp tục thừa hưởng tổ nghiệp ở đất Mịch, có ba nghìn năm trăm mẫu ruộng tốt, nhận bổng lộc giang doãn. Người kia thuộc dòng họ Lý ở Trịnh Châu, tổ tông là công tôn nước Trịnh, được phong giang doãn Thoan Thuỷ, tổ nghiệp đã thế tập qua mười lăm đời, từ đời thứ chín rời khỏi đất Trịnh, tới định cư ở Sính Đô, mở cửa hàng buôn bán giày dép, áo gai, vẫn thừa hưởng tổ nghiệp, nhận bổng lộc giang doãn.”

“Đã nghe thấy cả rồi chứ?” Khuất Bình quay sang đám đông hỏi.

“Thì sao?” Tráng hán kia lớn tiếng, “tổ nghiệp là do vương mệnh ban phong, cớ sao chúng tôi là hậu nhân lại không thể kế thừa?”

“Chư vị phụ lão hương thân,” Khuất Bình dõng dạc, “các vị đã khẳng định vương mệnh, vậy thì hãy nói sơ qua về vương mệnh. Chuyện khác không nói, tại hạ chỉ hỏi các vị một câu, thân là con dân của đương kim Sở Vương, cớ sao các vị lại không chịu nghe theo vương mệnh của đương kim Sở Vương, mà cứ khăng khăng giữ rịt vương mệnh của tiên vương mấy trăm năm về trước? Nước Mịch cũng thế, mà nước Trịnh cũng vậy, từ đường sớm đã diệt vong không biết bao lâu rồi, vậy mà người đời sau vẫn cứ khư khư giữ lấy tước phong do Mịch Công, Trịnh Công ban thưởng năm xưa, há có lý này? Thời tiên Điệu Vương, từng ban vương mệnh, chỉ giới hạn thế tập ba đời, vương mệnh của tiên Điệu Vương chẳng phải cũng là vương mệnh? Đương kim đại vương tiếp tục ban vương mệnh, nhắc lại vương mệnh của tiên Điệu Vương, vương mệnh của đương kim đại vương lẽ nào không phải là vương mệnh? Hai vị tiền bối một đời thừa hưởng tổ nghiệp, về già lại bị tước bỏ, nhất thời nghĩ quẩn còn có thể hiểu được, nhưng chư vị phụ lão, lẽ nào các vị cũng không hiểu đạo lý, đối kháng vương mệnh, tìm tới mệnh phủ triều đường phá rối? Là con dân Đại Sở, có tay chân đầy đủ mà không chịu dùng, chỉ chăm chăm muốn há miệng đợi cơm thừa của mười tám đời tổ tông về trước, còn có liêm sỉ hay không?”

Lời lẽ và khẩu khí của Khuất Bình đã khiến chúng nhân chấn động, tự suy nghĩ lại, cũng thấy phi lý, ai nấy đều cúi gằm mặt xuống.

“Chuyện hôm nay, bản phủ sẽ không truy cứu.” Khuất Bình vòng tay tiếp lời, “chư vị phụ lão hương thân, nhất là người thân thích cùng tộc với hai vị tiền bối này, Khuất Bình hôm nay xin có lời khuyên chư vị, hãy mang thi thể của hai vị tiền bối trở về, an táng đàng hoàng, rồi nghiêm cẩn tuân theo vương mệnh, chịu khó làm ăn. Nếu chư vị vẫn quyến luyến tổ nghiệp, quyến luyến vinh dự của tổ tiên, thì hãy tự dùng tiền bạc của nả trong tay mà mua lại, từ đây dùng chính sức lực và tài trí của mình để báo đáp đại vương, tự mình kiến công lập nghiệp dưới trướng đại vương, để lại được hưởng tước phong đại vương ban tặng!”

Tráng hán cầm đầu không còn vẻ hung hãn nữa, quay sang gọi người trong tộc xúm lại khiêng hai xác chết đi.

Một trường bạo loạn sắp sửa bùng phát, chỉ vài lời đanh thép của Khuất Bình đã được hoá giải, Khuất Dao lấy làm thán phục, bước lại siết chặt tay Khuất Bình: “Thưa anh, sự việc tối qua, không phải là ý của em, mà là phụ công…”

“Ta hiểu.” Khuất Bình gật đầu, “những lời của chú, cũng không phải là ý của chú. Khuất Dao, chúng ta đã không còn đường lui nữa, Đại Sở cũng không còn đường lui nữa, hoặc là chết, hoặc là sống.”

Đường xa trắc trở. Năm mươi xe muối còn chưa tới, Trần Chẩn đã về đến Sính Đô.

Nhận được thư hối thúc của Chiêu Dương, Trần Chẩn đi suốt ngày đêm không nghỉ, vừa tới Sính Đô, không kịp về nhà mà đến thẳng Chiêu phủ.

Chiêu Dương đang ngủ trưa, nghe người vào báo, vội chạy chân trần ra đón.

“Lão đệ,” Chiêu Dương nắm chặt tay Trần Chẩn, ứa hai hàng lệ, “ngu huynh suốt ngày đêm mong ngóng lão đệ quay về!”

“Chiêu huynh, đã xảy ra chuyện gì vậy?” Trần Chẩn không chút rườm rà, vào ngay chuyện chính.

Chiêu Dương dẫn Trần Chẩn vào phòng, đóng chặt cửa lại, rồi kể tường tận mọi chuyện xảy ra ở Sính Đô trong những ngày qua cho Trần Chẩn nghe, đoạn nói: “Không giấu hiền đệ, nếu hiền đệ không kịp trở về, chắc trời sập mất!”

Trong lúc Chiêu Dương kể lại sự việc, Trần Chẩn chỉ nhắm mắt lắng nghe. Đợi Chiêu Dương kể xong, Trần Chẩn mở choàng mắt, khẽ thở hắt ra: “Than ôi!”

“Đừng có thở vắn than dài nữa!” Chiêu Dương sốt ruột, “ứng phó thế nào, ngu huynh đang chờ nghe đây!”

“Sao Chiêu huynh lại bỏ chức lệnh doãn?”

“Thì chẳng phải…” Chiêu Dương dang hai tay, “bởi cùng đường hết cách rồi ư? Bên này là Khuất Bình, bên kia là dòng tộc họ Chiêu, đều bức bách tại hạ, nên tại hạ…”

“Than ôi,” Trần Chẩn lại thở dài thườn thượt, “đối thủ của Chiêu huynh không phải là Khuất Bình, cũng không phải người trong dòng tộc, mà chính là Trương Nghi đó. Năm xưa Chiêu huynh có thể đánh bại hắn, bởi lẽ Chiêu huynh là trụ quốc, nắm binh quyền trong tay, trong khi Trương Nghi ở Sở chỉ có hai bàn tay trắng. Giờ thì khác rồi, Trương Nghi không chỉ là sứ Tần, mà còn là tướng quốc Tần, vừa có được thế lực của người Tần, trở tay thành mây, lật tay thành mưa, lại vừa có quan hệ mật thiết với đám vương thúc, Ngận Thượng, còn thêm một Nam cung nương nương nữa, kẻ thù không đội trời chung của Chiêu huynh sớm tối đầu ấp tay gối với đại vương, chỉ vài câu thủ thỉ cũng có thể cướp mất mạng người. Ngược lại, hãy nhìn Chiêu huynh đi, chỗ dựa duy nhất chỉ có chức vị lệnh doãn này, vậy mà Chiêu huynh lại…” Lắc đầu ngao ngán.

“Chao ôi,” Chiêu Dương vỗ trán bồm bộp, lấy làm hối hận, “tại hạ…tại hạ thật đáng chết, đáng chết!” Im lặng một chốc, thở dài, “than ôi, lão đệ, sự việc đã tới nước này, hãy mau nghĩ cách, giờ tại hạ nên làm thế nào đây?”

“Hãy dùng con cờ của Chiêu huynh đi!” Trần Chẩn nhìn thẳng vào Chiêu Dương.

“Quân cờ?” Chiêu Dương tròn mắt ngơ ngác.

“Chính là Chiêu Thử!” Trần Chẩn nói, “chẳng phải Chiêu huynh đã nói, chính hắn là kẻ phụng mệnh vương thúc đi cướp muối Tề? Hãy làm đến cùng vụ đại án này, dùng hắn để khoá chặt Tử Khải và vương thúc. Trước là ô kim, sau là muối Ba, chính đám vương thân kia đã làm loạn Đại Sở, mà kẻ kích động, dụ dỗ chúng vương thân, lại là Trương Nghi. Đại vương vừa ban vương mệnh đã vấp phải phản kháng, đang một bụng giận dữ, giờ khơi vụ án này ra, vương thân sẽ bị liên đới, không vào tử lao cũng bị tống giam. Không còn đám vương thúc, Trương Nghi ở Sính khác nào cây không có rễ, chỉ dựa vào Xa Vệ Tần và mấy cô ả lầu Miên Hương, thì làm nổi trò gì!”

“Được,” Chiêu Dương siết chặt tay quyền, “giờ tại hạ sẽ cho khai quật chuyến hàng!”

“Sao không quy công này cho tả đồ?” Trần Chẩn cười cười hỏi.

“Ái chà!” Chiêu Dương vỗ đùi đánh đét, giơ ngón tay cái với Trần Chẩn.

Ngay tối hôm đó, Chiêu Dương sai Chiêu Tuy đi gọi Chiêu Thử tới, thuật lại mưu kế của Trần Chẩn cho hắn nghe, rồi thở dài nói: “Cháu hiền, phải dùng tới cháu, chính là quân cờ cuối cùng của Chiêu gia ta, chú phải để cháu chịu khổ vài ngày.”

Chiêu Thử ứa nước mắt, hồi lâu sau, mới quệt dòng lệ, chầm chậm quỳ xuống trước Chiêu Dương, dập đầu mà nói: “Cháu hiểu đại nghĩa, cháu cũng không có gì phải bận lòng, chỉ còn mấy đứa trẻ, xin cậy nhờ vào chú!”

“Sau khi cháu bị bắt,” Chiêu Dương đỡ hắn dậy, “dù có phải chịu ít nhiều đớn đau thể xác, cũng đừng vội khai ra vương thúc. Vương thúc thấy cháu không khai, nhất định sẽ nghĩ cách cứu cháu ra. Có vương thúc đỡ cho, cộng thêm chú dốc lòng xoay xở, tư bại Hạng Lôi lại là chú họ của cháu, nên tính mạng cháu chắc chắn sẽ được bảo toàn!”

“Chú, chẳng phải chú muốn cháu khai ra họ…” Chiêu Thử ngỡ ngàng.

“Nếu vương thúc ra mặt cứu cháu, đại vương ắt sẽ sinh lòng hoài nghi, rồi sai Khuất Bình điều tra. Đợi tới khi tả đồ tra khảo, cháu hãy nói ra sự thực. Theo như tính cách của tả đồ, chắc chắn sẽ không đẩy cháu vào chỗ chết, lại càng không có chuyện thanh trừng vương thúc và Tử Khải. Ngược lại, tả đồ sẽ nói đỡ cho cháu trước mặt đại vương. Đại vương lòng dạ nhân từ, hẳn sẽ không xử tội vương thúc và Tử Khải, mà chỉ chuyện lớn hoá nhỏ, nhắm mắt cho qua. Vương thúc không sao, đương nhiên cháu cũng sẽ thoát nạn. Vương thúc cảm kích trước tấm lòng của cháu, nhất định sẽ sắp xếp tiền đồ cho cháu.”

“Nhưng chẳng phải cháu…” Chiêu Thử hoang mang, “sẽ khai ra vương thúc ư? Vương thúc sẽ căm hận cháu đến xương tuỷ!”

“Việc này liên quan tới vương thúc và Tử Khải, Khuất Bình kiểu gì cũng sẽ không tiết lộ ra ngoài, mà chỉ kể cho mình đại vương biết. Đại vương cũng sẽ không tiết lộ, chỉ là về sau không còn tin tưởng vương thúc nữa mà thôi. Đó chính là điều ta muốn, chứ đâu nhất quyết phải ép đám vương thúc vào đường chết! Vương thúc dù gì cũng là em ruột của đại vương, một giọt máu đào hơn ao nước lã!”

“Thưa chú, cháu hiểu rồi.” Chiêu Thử gật đầu.

“Cháu hiền hãy yên tâm,” Chiêu Dương khẽ cười mà nói, “theo như chú đoán, chuyện ô kim đại vương không giết cháu, thì lần này cũng sẽ không giết!”

Buổi sáng ngay sau hôm xảy ra vụ việc hai cụ già treo cổ tự vẫn trước phủ tả đồ, sắc trời quang đãng, ráng sớm rực rỡ.

Khuất Dao sải bước ra khỏi phủ tả đồ, định đi mua chút đồ ăn. Chưa được vài bước, bỗng một thằng bé choai choai ăn bận rách rưới như ăn mày đuổi tới, dúi cho hắn một gói nhỏ, rồi lập tức chạy biến.

Nhìn theo đứa trẻ, Khuất Dao không khỏi hồ nghi, nhìn khắp xung quanh, không thấy có gì bất thường, bèn ném cái gói xuống đất, đưa mũi kiếm chọc thủng, thấy bên trong tầng tầng lớp lớp vải gai.

Khuất Dao rạch tới lớp trong cùng, thấy có một mảnh lụa, bên trên viết dày đặc những chữ.

Khuất Dao cầm lên đọc kỹ, thì ra là một bức mật thư, nói về lầu Nguyên Cát mà hắn đang điều tra.

Khuất Dao lấy làm sửng sốt. Từ khi phụng mệnh tả đồ điều tra lầu Nguyên Cát, Khuất Dao chưa từng kể với bất cứ ai về nhiệm vụ này. Vậy mà giờ đây, lại có người hiểu rõ công việc của hắn, còn điều tra kỹ lưỡng đến chân tơ kẽ tóc về lầu Nguyên Cát, viết thành mật hàm gửi tới!

Khuất Dao chẳng còn tâm trí đâu mà mua đồ ăn nữa, lập tức quay về phủ tả đồ, trong đầu tràn ngập băn khoăn nghi ngại.

Còn chưa nghĩ ra được manh mối nào, đã thấy xe ngựa của Khuất Bình chạy vào trong phủ.

Khuất Dao đưa mảnh lụa cho Khuất Bình, kể lại chuyện kỳ lạ xảy ra lúc sáng. Khuất Bình cũng rút từ trong ống tay áo ra một vật, là một tấm da dê, bên trên không viết chữ, mà chỉ vẽ một bản địa đồ.

Khuất Dao theo binh nghiệp nhiều năm, vừa nhìn đã biết là một tấm địa đồ quân dụng, bèn xem xét kỹ, đoán rằng tấm địa đồ này có liên quan tới vụ cướp năm mươi xe muối, bởi có đánh dấu rõ hành trình, vị trí cướp muối, các con đường tẩu tán của đảng cướp trong rừng, cùng chỗ tụ tập của chúng. Cuối cùng, ánh mắt của Khuất Dao dừng lại tại một góc, chỗ đó có vẽ một ký hiệu tam giác.

“Năm mươi xe muối Tề có lẽ giấu tại chỗ này!” Khuất Dao chỉ vào ký hiệu đó.

Khuất Bình đặt hai bức mật thư cạnh nhau, một là tấm vải lụa, một là tấm da dê. Chất liệu, chữ viết hoàn toàn khác biệt, rõ ràng tới từ hai nơi khác nhau.

Khuất Dao chỉ vào tấm da dê hỏi: “Ai đưa cho anh vật này?”

“Không biết.” Khuất Bình đáp, “mới sáng sớm đã tới, xưng là người đưa thư, giao vật này cho lão bộc trong nhà.”

“Chuyện đó để sau, giờ ta tới đó trước đã, điều tra xem thực hư thế nào!” Khuất Dao chỉ vào tấm da dê.

“Ta cũng nghĩ vậy.” Khuất Bình đáp, “vụ án cướp muối tới nay vẫn chưa phá được, đại vương lấy làm sốt ruột, đã hỏi mấy lần.” Dừng lại một chốc, lại tiếp, “cũng thực khéo trùng hợp, tối qua đại vương nghe nói có bạo đồ xông tới phủ ta, nên đã ban cho binh phù, cho ta được quyền điều động ba nghìn vương sư bất cứ lúc nào. Dao đệ hãy dẫn theo một nghìn quân, bao vây chỗ này, truy bắt cường đạo!” Nói đoạn, lấy phù lệnh ra, đóng ấn tả đồ, giao cho Khuất Dao, “nếu đúng, lập tức chuyển cho phủ tư bại thẩm tra xét xử.”

Khuất Dao thụ mệnh đi ngay. Khi trời gần tối, Khuất Dao phái thám mã về báo tin, nói rằng đã tìm được toàn bộ năm chục xe muối Tề bị cưóp, bắt được kẻ đầu đảng là Chiêu Thử và hơn ba mươi tên cướp, toàn bộ đảng cướp cùng tang chứng vật chứng đã được giao cho phủ tư bại.

“Chiêu Thử?” Khuất Bình thoạt tiên ngỡ ngàng, tiếp đến thở phào nhẹ nhõm. Kể từ sau khi muối Tề bị cướp, Khuất Bình vẫn luôn nghi ngờ vụ việc có liên quan tới vương thúc, giờ thì coi như đã chứng thực được.

Thế nhưng, là ai đã gửi những mật thư này? Là Chiêu Dương ư? Nếu là Chiêu Dương, thì phải giải thích về

Chiêu Thử thế nào? Lẽ nào Chiêu Dương không biết vụ việc có liên quan đến Chiêu Thử? Nếu là Chiêu Dương, tại sao ông ta lại muốn làm như vậy?

Khuất Bình lấy ra mảnh lụa mà Khuất Dao đưa cho. Khuất Bình đã điều tra rõ, lầu Nguyên Cát chính xác là sản nghiệp của Chiêu gia, chủ lầu Nguyên Cát là Lâm Đông, mới từ An Ấp tới cách đây không lâu. Theo hắn tới còn có một ả đàn bà, vốn tên là Đào Hồng, lúc này đổi thành Liễu Lục. Trước khi tới đây, cả hai đều ở An Ấp, cùng là cao thủ trong nghề cờ bạc. Quan trọng nhất, hai kẻ này đều là người của Trần Chẩn, do Trần Chẩn mời tới Sính Đô! Ngoài ra, trong mật thư còn đưa ra rất nhiều chứng cứ về việc Trần Chẩn năm xưa đã cấu kết với công tử Ngang mở lầu Nguyên Hanh ở An Ấp, hãm hại con trai Bạch Khuê là Bạch Hổ, hãm hại Long Giả, loại trừ Công Tôn Diễn, cấu kết với Tần trong trận chiến Hà Tây, rồi lại cãi trắng cho công tử Ngang trước mặt Ngụy Vương sau trận chiến.

Nhìn vào nét chữ và mùi hương lưu lại trên lụa, Khuất Bình đoán rằng mật thư này có lẽ đến từ lầu Phẩm Hương. Về lầu này, Khuất Bình cũng đã điều tra kỹ lưỡng, chủ lầu tên gọi Thiên Hương, năm xưa từng hành nghề ở lầu Miên Hương tại An Ấp. Mà lầu Nguyên Hanh năm xưa của Trần Chẩn cũng gần kề lầu Miên Hương. Một sòng bạc, một lầu xanh, hai lầu kết hợp, quả là song kiếm hợp bích.

Ngày nay, việc lại tái diễn.

Lẽ nào Trần Chẩn vẫn đang âm thầm cấu kết với nước Tần, diễn lại bài cũ An Ấp? Khuất Bình bất giác rùng mình ớn lạnh.

Phủ tả đồ thình lình hành động, huy động vương sư lấy lại được số muối Tề bị cướp, hơn nữa còn “vừa đúng lúc” tóm được Chiêu Thử đang tới thám thính kho muối, sự việc bỗng chốc trở nên rùm beng.

Tử Khải cuống quýt chạy tới phủ vương thúc, bẩm báo sơ qua toàn bộ sự việc, lo lắng nói: “Vương thúc, Chiêu Thử và cháu đã đứng trên cùng một con thuyền, giờ hắn bị bắt, cháu có mọc miệng khắp người e cũng khó lòng biện hộ!”

“Chiêu Thử đã khai gì chưa?”

“Chưa, chỉ nói rằng hắn thích đồ cổ, nghe nói ở đó có hàng, mới tới thám thính, nào ngờ gặp phải việc này. Tư bại đang thẩm tra. Tư bại Hạng Lôi là chú họ của hắn, đương nhiên sẽ không dùng đại hình.”

“Chà, Chiêu Thử là một nhân tài đấy. Đợi qua kiếp nạn này, hãy để hắn tới Trịnh huyện tôi rèn vài năm. Đất Trịnh tạo thành thế ỷ giốc với Hàm Đan, là vùng trọng yếu ở biên cương phía bắc, cần một người đáng tin cậy.”

“Tả đồ sẽ không tin đâu. Bị bắt cùng Chiêu Thử còn có vài chục người nữa, kiểu gì cũng sẽ có kẻ cung khai. Lúc đó, e là Chiêu Thử muốn chối cũng không được.”

“Phủ tư bại chẳng phải là có người của ta ư? Bảo họ theo dõi sát sao Chiêu Thử!”

“Vâng.”

“Còn nữa, tả đồ kết oán, bức chết người già, trong ngoài triều nghị luận xôn xao. Nhưng nghị luận không thôi chưa đủ, hãy để họ dâng tấu về chuyện này. Nhớ phải chừng mực chứ thái quá lại thành hỏng việc.”

“Cháu đã hiểu.”

Ba ngày sau đó, từng bó tấu chương đàn hặc tả đồ tới tấp chuyển về cung Sở, hàm doãn cai quản tấu chương cho hết vào một chiếc rương, phái hai cung nhân khiêng tới thư phòng của Hoài Vương.

Hoài Vương đang xem xét bản tấu của phủ tư bại về vụ án trộm muối, quay sang hàm doãn: “Chẳng phải đã cho tả đồ tạm thay chức lệnh doãn? Tấu chương của triều thần, cứ để tả đồ phê duyệt!”

“Hồi bẩm đại vương,” hàm doãn ngần ngừ, “nhưng đây không phải là bản tấu thông thường, thần cho rằng không thích hợp đưa tới phủ tả đồ.” Nói đoạn, nhấc lấy một cuộn, hai tay trình lên.

Hoài Vương cầm lấy, mở ra, đập vào mắt là bốn con chữ: “đàn hặc tả đồ”.

Hoài Vương sửng sốt, mở xem liền vài cuộn, tất cả đều là tấu chương đàn hặc tả đồ, hơn nữa nội dung đều giống hệt như nhau, nói tả đồ không xót thương dân, bức chết hai cụ già bảy mươi, khiến dân chúng căm phẫn suýt nữa thành ra bạo loạn.

“Cái gì thế này?” Hoài Vương nổi trận lôi đình, ném toẹt bản tấu trong tay xuống dưới đất, rồi chỉ vào rương tấu chương, quát lớn, “đem hết ra ngoài, đốt!”

“Đại vương,” hàm doãn quỳ xuống, “không đốt được, làm vậy không hợp với phép tắc!”

Hoài Vương nghiêm giọng hỏi: “Phép tắc gì?”

“Chiếu theo phép tắc của Đại Sở, bá quan từ cấp đại phu trở lên đều có thể dâng tấu đàn hặc quan trên, toàn bộ tấu chương đều phải biên vào sổ sách! Trước khi mang tới chỗ đại vương, thần đã biên vào sổ cả rồi!”

Hoài Vương thở phì phò một chốc, nhìn sang hàm doãn: “Khanh đã đọc cả chưa?”

“Thần đã đọc.”

“Thấy thế nào?”

“Tả đồ không sai, triều thần đàn hặc cũng không sai!”

Hoài Vương nheo mắt: “Khanh nói vậy là sao?”

Ý thần muốn nói,” hàm doãn đáp, “tả đồ phụng vương mệnh, triều thần cũng phụng vương mệnh, ai cũng tận tụy với chức trách của mình, không có gì sai cả!”

“Được rồi, được rồi,” Hoài Vương xua tay, hất hàm về phía rương tấu chương, “cứ thu hết lại, buộc chặt cất kỹ, đợi quả nhân rảnh rỗi sẽ từ từ đọc sau!”

“Thần tuân chỉ!” Hàm doãn vỗ tay, hai cung nhân bước vào, khiêng chiếc rương đi.

Hàm doãn thình lình mang tới cả một rương tấu chương đàn hặc, khiến Hoài Vương lấy làm bồn chồn bất an. Hoài Vương đứng ngồi không yên, suy nghĩ mãi vẫn không thông, đang lúc muộn phiền, Ngận Thượng bước vào, tấu rằng sứ thần Trương Nghi xin cầu kiến.

“Có việc gì?” Hoài Vương nheo mắt hỏi.

“Nói rằng có hai việc, thứ nhất là việc cầu hôn, còn thứ hai…”

“Là gì?” Hoài Vương nhìn xoáy vào Ngận Thượng.

“Đại vương tốt nhất nên hỏi thẳng sứ Tần, việc hình như có liên quan tới Thương Ư, e rằng thần nói không được rõ ràng.”

“Thương Ư?” Hoài Vương sửng sốt, “hắn muốn gì?”

“Thần không biết.”

“Truyền sứ Tần, yết kiến ở thiên điện!”

Nói đoạn đứng dậy, sải bước đi về phía thiên điện, lệnh cho nội doãn truyền gọi sứ Tần. Không lâu sau, Ngận Thượng dẫn Trương Nghi vào yết kiến.

Hành lễ xong xuôi, Hoài Vương nhìn thẳng vào Trương Nghi, hỏi ngay chuyện chính: “Nghe nói sứ Tần có đại sự, quả nhân bất tài, có thể nghe chăng?”

“Hồi bẩm đại vương,” Trương Nghi vòng tay đáp, “đại sự của thần, chính là thực thi vương mệnh, kịp thời cầu hôn cho Tần Vương.”

“Về chuyện hôn nhân, quả nhân đã có chỉ dụ, mọi chuyện do vương thúc sắp xếp, mời sứ Tần hãy bàn cùng vương thúc.”

“Vương thúc đã chấp thuận, đã chọn xong ngày đẹp để thành hôn, Nghi trong lòng hoan hỷ, nên tới đây bẩm báo đại vương!”

“Quả nhân chúc mừng!” Hoài Vương nói đoạn, ngả người về trước, “nghe nói sứ Tần còn có đại sự khác, quả nhân có thể biết chăng?”

“Thần chỉ có chuyện này, không còn đại sự nào khác!” Trương Nghi đáp.

“Ồ?” Hoài Vương không vui, nhìn sang Ngận Thượng.

“Trương Tử…” Ngận Thượng cuống lên, “chẳng phải Trương Tử có nhắc tới Thương Ư?”

“Phải rồi,” Trương Nghi cười nói, “trước khi Nghi đi sứ, Tần Vương tiễn chân, đặc biệt dặn dò, nếu đại vương chấp thuận gả Nguyệt công chúa, Tần Vương sẽ kính cẩn tới Thương Ư để nghênh rước cô dâu, kết tình giao hảo trăm năm cùng Đại Sở!”

Thấy Hoài Vương sắc mặt sa sầm, Ngận Thượng mất vía, hết nháy mắt lại xua tay: “Trương Tử?”

“Ngận đại nhân sao thế?” Trương Nghi vờ như không biết, nhìn sang Ngận Thượng hỏi.

Ngận Thượng còn chưa lên tiếng, Hoài Vương đã đấm mạnh xuống án, gần như gầm lên: “Há có lý này?”

Ngận Thượng kinh hãi rụng rời.

“Đại vương?” Trương Nghi ngơ ngác nhìn sang.

“Khinh quả nhân quá lắm!” Hoài Vương lại vỗ án lần nữa, giơ tay chỉ mặt Trương Nghi, “ngươi, sứ Tần, mau về chuyển lời quả nhân, bảo hắn hãy nghênh rước cô dâu nước khác ở Thương Ư, gái Đại Sở không gả cho kẻ thù!”

“Xin hỏi đại vương, cớ sao bỗng dưng nổi giận?” Trương Nghi ra bộ kinh ngạc.

“Cớ sao nổi giận?” Hoài Vương giọng đầy căm phẫn, “Thương Ư, Đan Tích, sáu trăm dặm vuông, là đất phát tích của Đại Sở ta, xương cốt của tiên vương vẫn còn nơi đó. Giặc Tần không tuyên mà chiến, cướp lấy đất ta, chiếm tới hôm nay, là mối nhục của Đại Sở! Vì mối nhục này, quả nhân không đội trời chung với Tần, nói gì tới láng giềng hoà thuận? Nói gì tới giao hảo trăm năm?”

Trương Nghi chợt phá lên cười lớn.

“Sứ Tần cười gì?” Hoài Vương nhìn xoáy vào Trương Nghi hỏi.

“Nghi nhớ tới một câu nói của tiên sinh khi còn học ở Quỷ Cốc, nên bất giác bật cười.”

“Là câu gì vậy?” Hoài Vương giận dữ hỏi vặn.

“An từ chính tĩnh, da thịt không căng, có thể ở ngôi chủ.” Trương Nghi ung dung đáp.

“Da thịt không căng, nên hiểu thế nào?” Hoài Vương lại hỏi.

“Chính là trạng thái của an, từ, chính, tĩnh. Theo như tiên sinh giải thích, người ở ngôi chủ, cơ thể cần phải thả lỏng, không chút căng thẳng, mới có thể an, từ, chính, tĩnh. Chỉ khi đạt được an, từ, chính, tĩnh, mới có thể ngồi vào ngôi chủ.”

Hay nói cách khác, Trương Nghi dẫn ra câu này, là muốn nhắc đến tư thái mà bậc quân chủ nên có, tức thần thái cần “an”, hành vi cần “từ”, dung mạo cần “chính”, tâm khí cần “tĩnh”. Phàm người ở ngôi chủ, tức bậc quân chủ, nếu có được bốn tư thái này thì tâm bình khí hoà, thân thể thư thái, toát lên vẻ đĩnh đạc hiền từ.

Hiển nhiên, Hoài Vương thân là quân chủ, vừa nãy đã có phần thất thố. Giờ bị Trương Nghi bóng gió xa xôi chê trách, Hoài Vương sắc mặt tối sầm, đưa tay lên hông, đặt vào chuôi kiếm.

Thế nhưng chốc sau, Hoài Vương dần trấn tĩnh lại, cơ mặt căng thẳng từ từ giãn ra, chuyển thành một nụ cười, bàn tay cũng rời khỏi chuôi kiếm, khẽ vái mà nói: “Quả nhân bất tài, tạ ơn Trương Tử chỉ giáo!”

“Chỉ giáo thì không dám!” Trương Nghi đáp lễ, “Nghi chỉ đang nghĩ, đại vương cớ sao không nhìn Thương Ư theo cách khác?”

“Cách gì?”

“Chính là cách nhìn của Tần Vương. Suy bụng ta ra bụng người!”

“Cách nhìn của Tần Vương thế nào?” Giọng Hoài Vương lại trở nên lạnh lẽo.

“Với Tần với Sở,” Trương Nghi cất giọng rành rọt, “đất Thương Ư vốn dĩ không hề có tranh chấp, Tần có đất Thương, Sở có đất Ư, lấy Vũ Quan làm biên giới, hoà thuận trăm năm. Mấy năm trước, Tần được Hà Tây, quyền thần Thương Ưởng vì lập công mà được phong đất Thương, do mưu đồ riêng mà cướp lấy đất Ư từ trong tay tiên Sở Vương, không liên quan gì tới đương kim Tần Vương. Đương kim Tần Vương có hiềm khích với Thương Quân, khi Tần Vương kế ngôi, Thương Quân mưu phản, bị Tần Vương xử cực hình. Theo như Nghi biết, Tần Vương muốn tranh là tranh Tam Tấn, chứ không tranh Đại Sở, nên sớm đã có ý trả lại đất Ư, ngặt là công việc bộn bề, nên chưa có thời gian sắp đặt. Nay đại vương khởi binh cướp lại, mới thấy sự việc cấp bách, vội sai Trương Nghi đi sứ sang Sở, trên danh nghĩa là kết tình láng giềng hoà mục, nhưng thực chất là muốn thương lượng chuyện này: “kết minh Tần Sở!”

“Thương lượng?” Hoài Vương cười nhạt một tiếng, “Doanh Tứ hoặc là đánh một trận với quả nhân, hoặc là trả lại Thương Ư, không có lựa chọn nào khác.”

“Bởi vậy mới cần thương lượng đó, đại vương,” Trương Nghi cười nói, “đánh hay không đánh, cần thương lượng; trả hay không trả, cũng cần thương lượng!”

“Thương lượng thế nào, Trương Tử nói đi!”

“Trước tiên, hãy nói tới đánh.” Trương Nghi dựng ngón cái bên trái lên, “Sở, là nước mạnh nhất trong thiên hạ,” lại dựng ngón cái bên phải, “Tần, là nước liệt quốc không dám tranh.” Rồi tì hai ngón tay cái vào nhau một chốc, lại buông ra, chúc hai ngón cái xuống, “hai cường quốc giao tranh, chắc chắn sẽ lưỡng bại câu thương.” Dựng đứng tất cả những ngón tay còn lại trên cả hai bàn, vẫy lên vẫy xuống giống như gảy đàn, “dám hỏi đại vương, hai nước mạnh tổn thương, ai sẽ đắc lợi? Tam Tấn và người Tề! Tần Vương nhiều lần nói riêng với Nghi về kế sách lâu dài của Tần, trừ phi bất đắc dĩ, chứ thà đánh Tam Tấn cũng không giao tranh với Sở. Trí của đại vương, chắc hẳn cũng không thể thua kém Tần Vương được!”

Hoài Vương không ngờ Trương Nghi lại lập luận thế này, càng ngẫm nghĩ, càng cảm thấy hữu lý. Tâm tư Hoài Vương bắt đầu dao động.

Hoài Vương khép mắt, trầm ngâm chốc lát, nhìn sang Trương Nghi: “Sứ Tần muốn nói, Tần Vương thực sự có ý trả lại cho quả nhân năm trăm dặm sơn cốc Thương Ư?”

“Đạo của quân tử, là thành, tín, khiêm, kính! Cớ sao đại vương cứ luôn ngờ vực người khác vậy?”

Hoài Vương nhếch mép: “Còn phải xem có phải quân tử hay không đã!”

“Dám hỏi đại vương,” Trương Nghi thu lại nụ cười, nhìn xoáy vào Hoài Vương, “từ lúc Tần Vương kế vị, đã bao giờ giao chiến với Sở? Đã bao giờ sinh sự với Sở?”

“Ồ…” Hoài Vương thoáng ngập ngừng, “đúng là không có thực!”

“Theo như thần thấy,” Trương Nghi dõng dạc nói tiếp, “Tần Vương xứng danh là minh quân một thuở, lời nói ra có tín, đối đãi với người có lễ, làm người có thành, mưu sự chu toàn, trước trừ loạn thần tặc tử, sau dốc lòng trị quốc, nghiêm cẩn thành kính, nên không làm gì nhục đến tổ tiên. Ngược lại, hãy nhìn Tam Tấn và người Tề mà xem, thừa cơ dấy binh, dẫn quân sáu nước đánh sát tới cửa ngõ Tần, dàn trận khiêu chiến ngoài ải Hàm Cốc, may nhờ tiên Sở vương thấu hiểu đại nghĩa, đưa đại quân Sở lui về trước tiên, mới giải vây được cho Tần. Tần Vương thường nhắc chuyện này với thần, vẫn cảm kích khôn xiết!”

Hoài Vương bỗng thấy trên mặt nóng ran: “Chuyện liên quân sáu nước, đều bởi Tô Tần hợp tung, Ngụy Vương xúi bẩy, tiên vương thực bất đắc dĩ mới phải làm vậy!”

“Đại vương,” Trương Nghi vòng tay, “thời thế hiện tại, hai cường quốc Tần, Sở nên hoà không nên chiến! Tần, Sở hoà hảo, hai nước đều có lợi; Tần, Sở giao chiến, hai nước đều thất lợi!”

“Quả nhân ngu độn, dám hỏi thất lợi thế nào?” Hoài Vương đổ người lại.

“Hồi bẩm đại vương,” Trương Nghi lại vòng tay đáp, “Tần, Sở hoà hảo, Tần có thể dốc sức tranh Tam Tấn, Sở có thể dốc sức tranh Tề. Tần giao chiến với Tam Tấn, sẽ giành được mối lợi Hà Đông; Sở giao chiến với người Tề, sẽ giành được mối lợi Tứ Hạ. Đại Vương, các nước Tứ Hạ Tống, Vệ, Lỗ, Tiết, đều là miếng thịt béo trong thiên hạ!”

Hoài Vương phá lên cười lớn, sắc mặt giãn ra, nhìn sang Ngận Thượng: Tần Vương nghĩ nhiều quá rồi! Có điều, chắc hẳn là hắn chưa hào phóng đến nỗi trả lại Thương Ư cho ta chứ?”

“Đại vương anh minh!” Trương Nghi khen ngợi, “đây chính là một chuyện khác nữa mà Nghi vừa nói là cần thương lượng.”

“Hãy nói xem!”

“Nghe nói đại vương đã phái sứ thần sang Tề kết minh, có chuyện này chăng?”

“Có.” Hoài Vương đáp.

“Ý của Tần Vương là,” Trương Nghi nhìn thẳng vào Hoài Vương, “Tần Vương có thể trả lại Thương Ư, song cũng có một điều kiện với đại vương, tuyệt giao với Tề!”

“Tại sao kia?”

“Bởi Tần Vương bất hoà với Tề Vương.”

“Ồ?” Hoài Vương giả bộ kinh ngạc, “Tề, Tần một đông một tây, ở giữa ngăn cách bởi Tam Tấn, cớ sao lại bất hoà?”

“Than ôi, nói ra dài lắm,” Trương Nghi thở dài, “tiên Yên Vương cưới gái Tề, song lại không hoà thuận với vợ, nghe tin trưởng công chúa của Tần Vương hiền thục, bèn đến cầu hôn. Tần Vương hứa gả, nước Tần kết tình thông gia với nước Yên. Thấy tiên Yên Vương cưới vợ Tần, gái Tề ghen tức, tự vẫn mà chết. Tề Vương nhân cớ này gây hấn với Yên, liên tục hưng binh. Tiên Yên Vương bất đắc dĩ, mới phải cầu cứu nhạc phụ. Tần Vương nổi giận, khởi năm vạn nhuệ binh phạt Tề, nào ngờ binh bại ở Tang Khâu. Chuyện đó, đại vương cũng thấy cả rồi, Tần Vương phạt Tề, hưng binh theo lễ, đại binh tới Lỗ, còn chưa bước qua biên giới Tề một bước, càng không có chuyện quấy nhiễu dân chúng các nước Tứ Hạ, dùng tiền bạc mua lương thảo của Tứ Hạ sòng phẳng. Chuyện này tạm chưa nói tới, Tần Vương còn đặc biệt hạ chỉ, phàm kẻ nào động tới một ngọn cỏ trên mộ tiên hiền Liễu Hạ Huệ đất Lỗ, đều tru di tam tộc! Còn người Tề thì sao? Trước thì hoà hảo, sau thì trá hàng, bất chấp thủ đoạn để thủ thắng. Sau khi người Tề thắng trận, lại làm nhục lính Tần, phao tin bôi nhọ Tần Vương khắp liệt quốc. Tần Vương dù sao cũng là viễn chinh đất khác, có miệng khó cãi! Tần Vương giận dữ khôn xiết, lại muốn viễn chinh, song bởi tiếc sức dân, nên mới nuốt hận tới tận hôm nay!”

Hoài Vương khẽ cười vài tiếng: “Nghe Trương Tử nói vậy, cũng thực hữu lý!”

Trương Nghi đang định nói tiếp, ngoài điện chợt có tiếng bước chân vọng vào, nội doãn vội vã đi ra, lát sau trở vào bẩm báo: “Đại vương, khách khanh Trần Chẩn đi sứ sang Tề trở về, thỉnh cầu phục mệnh!”

Tất thảy đều kinh ngạc.

“Ồ,” Hoài Vương vỗ tay, “vừa nhắc tới sứ thần, đã về ngay rồi!” Đoạn phẩy tay, “tuyên Trần Chẩn!” Rồi quay sang vòng tay với Trương Nghi, “sự việc vừa bàn, vô cùng hệ trọng, quả nhân cần cân nhắc đôi chút, sẽ trả lời sau, ý Trương Tử thế nào?”

“Nghi cung kính chờ tin tốt đẹp!” Trương Nghi đứng dậy vòng tay, “Nghi xin cáo lui!”

Trương Nghi bước ra khỏi cửa điện, vừa hay đụng đầu Trần Chẩn tay cầm sứ tiết đang được cung nhân dẫn lên bậc thềm.

Hiển nhiên, Trần Chẩn không thể ngờ được lại chạm trán Trương Nghi tại đây, bước chân khựng lại, ánh mắt thoáng qua một vẻ sững sờ.

Trương Nghi đứng cao trên thềm, từ trên nhìn xuống, khoé miệng nhếch một nét cười.

Trần Chẩn cũng mỉm cười đáp lại, tiếp tục leo bậc mà lên.

Trương Nghi khẽ dịch bước chân, vừa hay chắn ngang trước mặt Trần Chẩn, vòng tay chào hỏi: “Chẳng phải là Trần thượng khanh đó ư? Lâu ngày không gặp, vẫn mạnh giỏi chứ?” Cố tình kéo dài chữ cuối cùng.

Trần Chẩn dừng lại dưới Trương Nghi hai bậc thềm, vòng tay hờ hứng: “Ái chà, té ra là người quen, có điều áo xống đen trũi thế này, tại hạ thực tình không thể nhận ra, cứ tưởng ma núi ở đâu kia!”

Trương Nghi phá lên cười lớn: “Không ngờ mới mấy năm không gặp, mà mắt thượng khanh đã kém đến nhường này!”

Trần Chẩn cũng bật cười: “Tướng quốc nói phải lắm, mắt của tại hạ đúng là không còn được như xưa, chỉ nhận ra người chứ không nhận ra ma quỷ!” Đoạn chìa sứ tiết trên tay, chỉ lên bậc thềm, “tại hạ đi sứ sang Tề trở về, giờ phải lên điện phục mệnh, xin tướng quốc đại nhân hãy nhường đường!”

Trương Nghi vòng tay: “Nghi chúc mừng thượng khanh Đại Tần, sứ thần Đại Sở đã đi sứ Tề trở về!” Rồi nhích sang một bên, chừa ra một lối đi hẹp chỉ đủ cho một người lách qua.

Trần Chẩn không đáp lời, song khi đi ngang qua Trương Nghi, cố tình để đầu dưới của sứ tiết đập vào bàn chân trái của Trương Nghi, “bốp” một tiếng lớn. Trần Chẩn khá mạnh tay, Trương Nghi đau quá “oái” lên một tiếng, ngồi phịch xuống bậc thềm.

Trần Chẩn làm như không nhìn thấy, như không nghe thấy, vẫn ngẩng cao đầu bước thẳng vào trong điện, sứ tiết càng gõ mạnh xuống sàn, phát ra những tiếng “cành cạch” liên hồi.

Ngoảnh đầu nhìn Trần Chẩn đã khuất sau cửa điện, Trương Nghi xoa chân một chốc, thấy cơn đau đã dịu hơn, bèn đứng dậy, nghiến răng mà rủa: “Họ Trần kia quả là hiểm độc!” Rồi cười nhạt, “chỉ đáng tiếc, tới chậm mất rồi!”

Trần Chẩn quả thực đã chậm một bước.

Sau khi Trương Nghi ra khỏi điện, tâm trí của Hoài Vương chỉ quanh quẩn với Thương Ư, suy đi nghĩ lại những điều Trương Nghi nói, nhất là hai chuyện hắn đưa ra thương lượng, càng nghĩ càng thấy hữu lý. Tới khi Trần Chẩn vào yết kiến, tâm tư của Hoài Vương vẫn trôi dạt phương nào, chỉ hỏi qua loa lấy lệ về chuyện đi sứ, hờ hững khen ngợi vài câu, rồi lệnh cho nội doãn, hàm doãn xử trí các sự vụ liên quan, còn mình cùng Ngận Thượng vẫn đang đứng chờ trong điện ra hậu hoa viên trò chuyện.

Quanh đi quẩn lại, vẫn chỉ là chuyện liên quan tới Trương Nghi và Thương Ư.

Đang lúc trò chuyện thì tư bại Hạng Lôi vào cầu kiến.

Hoài Vương biết là liên quan tới vụ án của Chiêu Thử, bèn cho vời Hạng Lôi vào. Hạng Lôi bẩm báo: “Tất cả hình cụ đều đã dùng hết, Chiêu Thử vẫn sống chết không nhận, chỉ nói là tới đó thăm dò đồ cổ!”

Hoài Vương trầm ngâm một thoáng, quay sang nội doãn: “Truyền chỉ, vụ án Chiêu Thử, giao cho tả đồ thẩm tra lại!”

Khuất Bình thụ mệnh, cùng Khuất Dao đi thẳng tới hình ngục, tra hỏi Chiêu Thử.

Chiêu Thử vẫn bị trói vào cột hành hình, thân xác chịu đủ mùi tra tấn, khắp người bầm giập đẫm máu.

Thấy là Khuất Bình, Chiêu Thử hai mắt sáng rỡ, mở nhìn trừng trừng.

“Chiêu Thử, thực không ngờ vụ án ô kim sóng gió còn chưa lắng, ngươi lại bị cuốn vào vụ án muối này. Khuất Bình phụng vương mệnh thẩm tra vụ án, cũng hiểu rằng hẳn ngươi cũng có điều uẩn khúc, nếu như tin tưởng tại hạ, xin hãy nói thực tình.” Khuất Bình nói đoạn, quay sang ngục tốt, “cởi trói cho người này!”

Ngục tốt ngây ra một chốc, rồi cũng cởi trói cho Chiêu Thử xuống khỏi cột hành hình.

“Nói đi, Chiêu Thử, trên đầu ba thước có thần linh, đại trượng phu dám làm dám chịu.” Khuất Bình lại nói.

Chiêu Thử chớp mắt, ra hiệu hãy đuổi hết người khác ra ngoài.

“Chư vị,” Khuất Bình quay sang đám ngục tốt, “bản doãn muốn một mình thẩm vấn tội nhân, xin các vị hãy lánh mặt chốc lát.”

Mấy viên ngục tốt tuân lệnh, đều lui ra cả.

Chiêu Thử lại đưa mắt nhìn sang Khuất Dao. Khuất Bình hất hàm, Khuất Dao cũng lui ra ngoài.

“Chiêu Thử, giờ không còn ai khác, hãy nói đi.” Khuất Bình nhìn Chiêu Thử giục.

“Tạ ơn tả đồ!” Chiêu Thử lúc này mới lên tiếng, rồi kể lại tường tận từ đầu tới cuối vụ án cướp muối.

Khuất Bình ghi lại, đưa cho Chiêu Thử điểm chỉ.

“Tả đồ đại nhân,” Chiêu Thử cười gượng gạo, “xin lượng thứ cho tại hạ không thể điểm chỉ!”

“Vì sao không thể?”

“Vì bốn đứa con của tại hạ!” Chiêu Thử ứa nước mắt, “tại hạ tới bước đường này, cũng là bất đắc dĩ. Tại hạ có chết cũng không hết tội, nhưng lũ trẻ thực đáng thương. Dù là vương thúc hay là Ngạc Quân, ai cũng có thể lấy mạng tại hạ giống như giết chết một con kiến! Tả đồ đại nhân, đại nhân không hiểu được họ đâu!”

Khuất Bình thở dài sườn sượt, cất lời khai vào trong tay áo, truyền lệnh cho ngục tốt, đưa Chiêu Thử quay trở lại phòng giam.

Khuất Bình vừa đi khỏi, đã có kẻ nhanh chân chạy đi bẩm báo với Tử Khải. Tử Khải vội vã bẩm lên vương thúc.

“Tả đồ xua hết người khác ra ngoài, chỉ một mình thẩm vấn?” Vương thúc nheo mắt hỏi, hồi lâu sau, nhìn sang Tử Khải, “liệu Chiêu Thử có khai không?”

“Có lẽ là không.”

“Ngộ nhỡ hắn khai ra thì sao?”

“Ồ…” Tử Khải ngẫm nghĩ chốc lát rồi lắc đầu, “hẳn là không đâu. Phu nhân và con cái hắn lúc này vẫn đang trong nhà cháu, khóc lóc cầu xin cháu cứu người! Cháu nói với họ, để cháu đến cầu cứu vương thúc.”

“Ừm.” Vương thúc gật đầu, “cháu có thể nói với họ, ta đã nhận lời. Có điều, để cho chắc chắn, tốt nhất họ cũng nên tới cầu cứu Chiêu Dương.”

Tử Khải về rồi, vương thúc trầm ngâm hồi lâu, rồi cho gọi Bành Quân tới, kể lại vắn tắt sự việc Khuất Bình bất ngờ đơn độc thẩm vấn Chiêu Thử, rồi cười nhạt mà nói: “Xem ra, tay Chiêu Thử này không giữ lại được nữa!”

“Tiểu đệ sẽ lập tức sắp xếp.” Bành Quân quay người định đi ngay.

“Khoan đã,” vương thúc phẩy tay, “hãy đẩy cho Chiêu gia.”

Bành Quân ngẩn người; “Đẩy như thế nào?”

“Chiêu môn nảy nòi ra kẻ bại hoại này, Chiêu Dương dọn dẹp gia môn, cũng là chuyện hợp lý. Hơn nữa, tư bại là người họ Hạng, nên trong hình ngục, chuyện gì cũng có thể xảy ra.”

“Vâng.”

Có được lời trấn an từ chỗ vương thúc, vợ Chiêu Thử mới thở phào, bèn dẫn theo lũ trẻ, tìm tới phủ Chiêu Dương khóc lóc, một mực nói rằng Chiêu Thử bị hãm hại, khẩn cầu Chiêu Dương tấu lên đại vương, xin tha cho Chiêu Thử.

Chiêu Dương vỗ về vài câu, rồi cho mời Trần Chẩn tới, kể lại tường tận về vụ án.

“Tả đồ thẩm vấn, Chiêu Thử nhận tội chưa?” Trần Chẩn nôn nóng hỏi.

“Nhận rồi.”

“Điểm chỉ chưa?”

“Chưa!”

“Sao kia?” Trần Chẩn hai mắt trợn trừng, “cớ sao không điểm chỉ?”

“À…” Chiêu Dương cười gượng, “là tại hạ căn dặn hắn như vậy.”

“Chao ôi, ông anh ơi,” Trần Chẩn cuống lên, giậm chân bình bịch, “đúng là ông anh hồ đồ quá rồi, không điểm chỉ, thì bản cung khai đó phỏng có ích gì?”

“Ờ thì…” Chiêu Dương lại cười nhăn nhó, “vì tại hạ không muốn làm lớn chuyện.”

“Ông anh mụ mị mất rồi, đã không muốn làm lớn chuyện, sao còn bảo Chiêu Thử gây ra tội tình này?” Trần Chẩn trách móc thẳng thừng, “đã đem Chiêu Thử ra thí mạng, thì phải đào tận gốc trốc tận rễ bọn họ chứ! Phải lật đổ vương thúc, lật đổ đám Ngạc Quân, và cả tên Ngận Thượng kia nữa chứ! Ông anh có thể đấu lại Trương Nghi không? Đấu không lại Trương Nghi, ông anh đã tưởng tượng ra hậu quả thế nào không?”

“Không chậm trễ được nữa rồi,” Chiêu Dương cũng cuống lên, đứng bật dậy, “tại hạ sẽ lập tức sai người tới nhà ngục, còn Trần huynh hãy lại chỗ tả đồ, bảo tả đồ mang bản cung khai tới hình ngục ngay, cho Chiêu Thử điểm chỉ vào đó!”

Được hai ngục tốt dẫn đường, Chiêu Tuy tiến từng bước về phía phòng giam Chiêu Thử.

Chiêu Thử đang ngồi bất động, hai mắt nhắm nghiền.

Ngục tốt mở cửa, Chiêu Tuy bước vào. Hai tên ngục tốt đi ra, đứng canh cách đó không xa.

“Em Thử?” Chiêu Tuy khẽ gọi.

Chiêu Thử bừng mắt, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ: “Anh Tuy!” Rồi hạ giọng hỏi, “là ai bảo anh tới?”

Câu hỏi này của Chiêu Thử có hai khả năng, thứ nhất là do Chiêu Dương phái tới, thứ hai là do Tử Khải hoặc vương thúc phái tới, bởi lúc này, Chiêu Tuy đã qua lại mật thiết với bên vương thúc.

“Là phụ doãn!” Chiêu Tuy đáp.

“Chú có dặn dò gì chăng?” Chiêu Thử vội hỏi.

“Lời cung khai với tả đồ, nhất định phải điểm chỉ.”

“Ồ…” Chiêu Thử băn khoăn, “chính chú đã bảo không được điểm chỉ…”

“Em Thử,” Chiêu Tuy hạ thấp giọng, “Trần thượng khanh nói là không được, chúng ta đã đi tới bước này, không còn đường lui nữa, dứt khoát phải lật đổ toàn bộ bọn họ! Mà muốn lật đổ bọn họ, thì phải dựa vào lời cung khai của em!”

“Than ôi,” Chiêu Thử thở dài, “muộn mất rồi.”

“Không muộn,” Chiêu Tuy khẽ giọng, “Trần thượng khanh đã tới chỗ tả đồ, nếu không ngoài dự liệu, lát nữa tả đồ sẽ tới đây thẩm vấn lại, khi đó, em hãy điểm chỉ vào bản khẩu cung lúc trước. Nhớ kỹ, phải tận diệt bọn họ, gồm cả Ngận Thượng!”

“Em nhớ rồi.”

Vừa hay tới giờ cơm, hai ngục tốt khiêng thùng cơm vào, phân phát cho các tội nhân.

“Cơm đây!” Hai tên ngục tốt bước tới trước phòng giam của Chiêu Thử, đưa khay cơm vào trong. Chiêu Tuy đón lấy, đưa cho Chiêu Thử, nói rất to, rõ ràng là muốn cho hai tên ngục tốt nghe thấy: “Em ăn cơm đi, anh nhân tiện đi ngang qua đây ghé vào thăm em một chút, giờ anh đi đây.”

Chiêu Tuy đi rồi, Chiêu Thử thấy đói, nhìn sang khay cơm, thấy có một bát cơm trắng, một đĩa rau và một bát canh loãng, bèn ăn ngấu nghiến.

Ăn hết cơm rau, Chiêu Thử bưng bát canh lên, húp một hơi cạn sạch.

Nước canh vừa trôi xuống bụng, còn chưa kịp đặt bát xuống, Chiêu Thử bỗng thấy bất ổn, há miệng định kêu, song lưỡi đã tê cứng. Ngay sau đó, hắn hai tay ôm bụng, lăn lộn dưới đất, từng dòng máu đen đặc tuôn ra từ mũi miệng.

Trước sau chưa đầy năm hơi thở, Chiêu Thử đã nằm im bất động.

Một bóng đen đứng trong góc tối lặng lẽ bước vào, kéo lấy tay hắn, chấm vào vết máu đen bên miệng, viết lên trên vạt áo hắn hai chữ, một chữ “Chiêu”, một chữ “thúc”. Rồi nhặt lấy bát canh, thay vào đó một cái bát không.

Tội phạm vương mệnh bị đầu độc chết ngay trong nhà ngục Đại Sở giữa ban ngày ban mặt, quả là một chuyện kinh thiên động địa. Tư bại Hạng Lôi hay tin, tay chân bủn rủn đến đứng không vững, vội vã hạ lệnh bắt trói hai tên ngục tốt đưa cơm, đích thân thẩm vấn.

Theo lời khai của hai tên lính, chỉ có một kẻ khả nghi duy nhất, chính là Chiêu Tuy.

Khi Khuất Bình, Khuất Dao hối hả tới nhà lao, mọi việc đã xong xuôi, tử thi đã được đưa đi.

Việc Chiêu Tuy vào thăm tội nhân đã được tư bại Hạng Lôi phê chuẩn, quan cai ngục cũng đã ghi vào sổ sách, hơn nữa lúc Chiêu Tuy rời đi, hai tên ngục tốt đưa cơm vẫn ở đó, Chiêu Tuy ra khỏi nhà ngục cùng bọn chúng. Điểm khả nghi duy nhất, chính là khay cơm từ ngục tốt đã qua tay Chiêu Tuy đưa cho Chiêu Thử. Nếu Chiêu Tuy hạ độc, hẳn là vào khoảnh khắc này.

Tuy nhiên, Chiêu Tuy là hữu tư mã, còn là con trai trưởng của lệnh doãn Chiêu Dương, chiếu theo luật pháp, phủ tư bại nếu muốn bắt, phải thỉnh cầu vương mệnh.

Hạng Lôi không thể quyết đoán, bèn bẩm lại với Khuất Bình.

Khuất Bình hiểu rõ, đây là một vụ án động trời, cũng đại khái đoán ra Chiêu Thử vì sao lại bị hãm hại, và ai đã xuống tay, song lại không thể nói ra, bèn căn dặn tư bại mang theo tấm áo dính máu, cùng mình vào cung, tấu báo lên Hoài Vương.

Hoài Vương đang bàn bạc chuyện sứ Tần và Thương Ư cùng Ngận Thượng, hay tin Chiêu Thử đã chết trong ngục, thì bàng hoàng chết lặng, vội truyền hai người vào yết kiến.

Trông thấy Ngận Thượng, Khuất Bình bỗng thấy tim mình thót lại.

Hành lễ xong, Hạng Lôi kể lại sơ qua sự việc, rồi trình lên tấm áo của Chiêu Thử.

Hoài Vương sai trải tấm áo lên mặt án, nhìn chằm chằm vào hai con chữ viết bằng máu trên vạt áo, chốc sau, nhìn sang Hạng Lôi.

“Theo lời của người nghiệm xác, tội nhân đã trúng phải thứ độc cực hiếm, chưa từng thấy ở đất Sở, từ lúc trúng độc đến khi tử vong, chỉ trong vài hơi thở, hơn nữa, người trúng độc sẽ cứng lưỡi lại không thể nói năng…”

Hạng Lôi còn chưa dứt lời, Hoài Vương đã chỉ vào hai con chữ, ngắt lời: “Hai chữ này là sao?”

“Khởi bẩm đại vương,” Hạng Lôi ngần ngừ một chốc mới tiếp lời, “theo lời người nghiệm xác, chữ này là do chính tội nhân dùng ngón tay viết ra.” Rồi lấy từ trong ống tay áo ra một cuốn sổ, “đây là danh sách những người ra vào hình ngục hôm nay, trước khi nghi phạm bị hạ độc, có hữu tư mã Chiêu Tuy vào thăm chừng một khắc, có ghi chép rõ ràng trong sổ!”

“Ý khanh là, Chiêu Tuy đã hạ độc?”

“Thần không dám khẳng định, nhưng sự thực là, tội nhân đã chết sau khi Chiêu Tuy vào thăm.”

Ánh mắt Hoài Vương lại dịch chuyển sang chữ “thúc”, rồi nheo mắt lại, nhìn sang Khuất Bình: “Lẽ nào là Chiêu Dương? Mưu sát giết cháu, ông ta điên rồi ư?”

“Thần có điều ngờ vực.” Khuất Bình vòng tay tấu.

“Hãy nói.”

“Theo như thần biết,” Khuất Bình nói tiếp, “lệnh doãn là người sáng suốt tinh khôn, nhiều mưu lược, cho dù muốn giết Chiêu Thử, cũng sẽ không bao giờ đẩy chính con trai trưởng của mình vào chỗ mạo hiểm, đích thân vào ngục, để cho người khác nghi ngờ. Về cái chết của Chiêu Thử, thần xin được lập án điều tra!”

“Thần có tấu!” Ngận Thượng vòng tay nói.

“Khanh cứ nói.” Hoài Vương nhìn sang.

“Theo thần biết,” Ngận Thượng tấu, “tội nhân là con trai trưởng của em ruột lệnh doãn, sau khi em trai lệnh doãn xả thân vì nước, lệnh doãn rất yêu mến chăm lo cho người cháu này, nhiều lần cất nhắc quan tước, cuối cùng còn nhiệm hắn làm công doãn quận Uyển, cai quản các xưởng luyện ô kim ở đất Uyển, xứng đáng là trọng trách. Nào ngờ tội nhân lại phụ sự kỳ vọng của lệnh doãn, dính líu tới cả hai vụ trọng án ô kim và muối Tề, làm mất mặt Chiêu môn, huỷ hoại thanh danh của lệnh doãn đại nhân. Yêu lắm thì hận sâu, lệnh doãn từ yêu sinh oán, muốn làm sạch môn hộ cũng không phải không có khả năng!”

“Thần cho rằng,” Khuất Bình lập tức tiếp lời, “trước khi điều tra sáng tỏ, mọi chuyện đều có khả năng. Thần một lần nữa thỉnh cầu đại vương, lập án điều tra kỹ lưỡng!”

“Chuẩn tấu!” Hoài Vương trầm ngâm chốc lát, “tả đồ, thượng quan, tư bại nghe chỉ!”

Ba người vòng tay: “Thần nghe chỉ!”

“Vụ án Chiêu Thử do tả đồ phụ trách, thượng quan, tư bại hỗ trợ điều tra. Bất luận liên quan tới ai, nghiêm trị không tha!”

“Thần có tấu!” Ngận Thượng lại vòng tay.

“Cứ nói.”

“Bởi vụ án này liên quan tới Chiêu môn, tư bại đại nhân lại là chú họ của nghi phạm, cũng nên lánh mặt để khỏi gây nghi ngờ mới phải!”

“Thượng quan đại nhân nói rất phải,” Hạng Lôi vòng tay tiếp lời, “thần xin được đứng ngoài!”

“Chuẩn tấu!” Hoài Vương nhìn sang Khuất Bình, Ngận Thượng, “vụ án Chiêu Thử, giao cho hai khanh điều tra, gấp rút phá án!”

Lĩnh chỉ xong, Ngận Thượng còn chưa kịp lên tiếng, Khuất Bình đã vòng tay: “Thần thỉnh cầu áo máu!”

Hoài Vương bèn ném tấm áo cho Khuất Bình. Khuất Bình đỡ lấy, gói ghém lại cẩn thận, rồi cùng Hạng Lôi đứng dậy cáo lui.

“Tả đồ dừng bước!” Hoài Vương gọi Khuất Bình lại, rồi phẩy tay với Ngận Thượng, Hạng Lôi, “các khanh hãy lui ra.”

Ngận Thượng, Hạng Lôi bèn lui ra ngoài.

Khuất Bình giở tấm áo ra, ánh mắt dừng lại trên hai con chữ máu. Các nét chữ viết khá ngay ngắn, áo của Chiêu Thử là áo vạt đối, tức có hai vạt trái phải, mỗi vạt có một con chữ, mỗi chữ đều chỉnh chu không thiếu lấy một nét, cứ như sợ người khác không đọc được.

“Khanh đã nhận ra điều gì chăng?” Hoài Vương nhìn xoáy vào Khuất Bình.

“Vâng, thưa đại vương.”

“Ồ?” Hoài Vương vươn cổ nhìn ra, ánh mắt cũng dừng trên hai con chữ.

“Đại vương hãy xem,” Khuất Bình chỉ vào hai con chữ, “hai chữ không thiếu lấy một nét, ngang bằng sổ thẳng, khá là ngay ngắn, hơn nữa lại viết trên áo vạt đối, mỗi vạt một chữ, vị trí cũng rất cân đối.” Rồi cởi luôn áo ra, khoác tấm áo dính máu vào, “đại vương lại xem, thần mặc áo này, dùng ngón tay mình viết chữ, nếu muốn viết hai chữ này, sẽ phải viết thế nào? Có viết ngược được không?” Lại cởi tấm áo ra, “theo như tư bại vừa tâu, nghiệm xác cho thấy, tội nhân trúng phải chất kịch độc hiếm thấy ở Sở, chỉ sau vài hơi thở đã chết ngay, trước khi chết giãy giụa đau đớn, thì tuyệt đối không thể nào viết chữ được ngay ngắn thế này. Hơn nữa, chữ này là do nghi phạm chấm máu đen của mình viết ra, nếu miệng đã ói máu đen, cho thấy độc đã phát tới cực điểm, mạng cũng đã tuyệt, còn hơi sức đâu mà viết chữ vuông vắn thế này được nữa? Rõ ràng là có một ai khác cầm tay tội nhân đã chết, chấm máu mà viết ra, hòng hãm hại Chiêu đại nhân.”

“Phải rồi!” Hoài Vương đấm mạnh xuống án, “kẻ này quả là hiểm độc!” Rồi nhìn thẳng vào Khuất Bình, “Khuất ái khanh, vụ án này phải điều tra tới cùng, không được phép qua loa! Bất luận là ai, cũng đều nghiêm trị theo vương pháp!”

“Đại vương, vụ án này không cần điều tra nữa!”

“Ồ?” Hoài Vương ngạc nhiên.

Khuất Bình lấy từ trong tay áo ra tờ khẩu cung của Chiêu Thử, hai tay dâng lên: “Sáng hôm nay, thần phụng vương mệnh tới hình ngục hỏi cung Chiêu Thử, đây là lời cung khai của hắn, đại vương hãy xem!”

Hoài Vương cầm lấy tờ khẩu cung, mở ra xem.

Đọc một chốc, Hoài Vương mắt vằn tia lửa. Đọc thêm chốc nữa, trán Hoài Vương vã mồ hôi lạnh. Cho tới cuối cùng, cả khuôn mặt méo xệch vì đau đớn, Hoài Vương buông tay, bản khẩu cung rơi toẹt xuống đất.

Hoài Vương hai tay ôm đầu, hai ngón trỏ day mạnh vào hai bên huyệt thái dương.

“Đại vương,” Khuất Bình chậm rãi nói tiếp, “tất cả đều đã rõ ràng, từ ô kim cho tới muối Ba, giờ lại đến cướp muối Tề, đây là một chuỗi móc xích, nắm giữ đầu sợi xích ấy chính là vương thúc và Ngạc Quân. Chiêu Thử nương nhờ Ngạc Quân, thường xuyên ra vào phủ vương thúc, đã trở thành quân cờ trong tay họ. Vụ án muối Tề vỡ lở, Chiêu Thử bị bắt vào hình ngục, đương nhiên phải giết người diệt khẩu, còn như vu oan giá hoạ cho lệnh doãn, là nhân tiện mà thôi, một công đôi việc!”

Hoài Vương hai tay lại càng day mạnh hơn nữa.

“Đại vương,” Khuất Bình tiếp tục, “ô kim, muối Ba, cầu thân, cướp muối, kẻ đứng sau một loạt sự việc này, chỉ có một người, chính là sứ Tần Trương Nghi! Chỉ cần người này còn ở Sính, đất Sính sẽ không có lấy một ngày bình yên!”

Thấy Khuất Bình vòng vo một hồi, cuối cùng chĩa mũi dùi vào Trương Nghi, Hoài Vương trong lòng giật thột, bất giác nhớ lại hôm vương thúc tiến cử Trương Nghi, Trương Nghi tiến cử Khuất Bình, bên tai văng vẳng tiếng Trương Nghi: “Dám hỏi đại vương, sao lại vứt bỏ đại tài bên mình không dùng, mà lại cầu Nghi?…Tả đồ Khuất Bình không chỉ là một đại tài, mà còn là một thánh tài…”

Hoài Vương gượng dứt khỏi dòng suy nghĩ, khẽ thở dài một tiếng, nhìn sang Khuất Bình: “Khuất ái khanh, theo ý khanh, việc này nên xử trí ra sao?”

“Hồi bẩm đại vương,” Khuất Bình vòng tay, “thần cho rằng, sự việc đã rõ ràng, không cần điều tra thêm nữa!”

“Ồ?” Hoài Vương trợn tròn mắt, nhìn sững vào Khuất Bình.

“Đại vương,” Khuất Bình nói tiếp, “Lão Tử từng nói, trị nước lớn chẳng khác nào nấu cá nhỏ. Nấu cá nhỏ thoạt nhìn thì tưởng dễ, kỳ thực rất khó, độ lửa, gia vị, trước sau mau chậm đều phải chỉnh chu, không thể qua loa đại khái. Việc cấp bách hiện tại của ta là tạo hiến chế lệnh, biến pháp cải chế, mà biến pháp cải chế có hai điều cấm kỵ, một là ngoại chiến, hai là nội loạn. Những kẻ biến pháp trước đây, Ngụy, Tề, Hàn, Tần, cả bốn nước đều trị nội an ngoại. Nay ta kết minh với Tề, tuy không sợ Tần, song cũng không nên giao chiến với Tần, cho nên nhận lời Trương Nghi, kết thân với Tần cũng là thượng sách. Còn về trị nội, điều cần trị thực sự, chính là vương thân, tông thất, mà giữa vương thân tông thất, mỗi bên đều có lợi ích của riêng mình, đấu đá lẫn nhau. Ví như chuyện muối, vương thân kiểm soát toàn bộ suối muối, cũng chính là kiểm soát toàn bộ việc buôn bán muối các nơi. Tông thất giương mắt nhìn mối lợi lớn mà không thể xen vào, tự khắc nảy sinh ý đồ riêng. Chuyện ô kim cũng vậy…”

“Khuất ái khanh, hãy cứ nói thẳng!” Thấy Khuất Bình dừng lại nửa chừng, Hoài Vương lấy làm sốt ruột.

“Ý thần muốn nói,” Khuất Bình đành phải quay lại chuyện chính, “từ vụ án ô kim, có thể thấy rằng, vụ án này không chỉ liên quan tới vương thúc và Tử Khải, mà còn liên quan tới hàng chục vương thân và tông thất. Đại vương nếu kiên quyết điều tra đến cùng, khép vào vương pháp, vương thân bị dồn đến đường cùng, không chừng sẽ sinh nội loạn. Pháp chưa kịp biến mà nội lại loạn, thần thấy không nên.”

“Khanh nói chí phải!” Hoài Vương khen ngợi.

“Có điều,” Khuất Bình nói tiếp, “vương thất phóng túng thế này, đại vương cũng nên có lời cảnh cáo!”

“Cảnh cáo thế nào?”

“Đại vương có thể mời vương thúc, Tử Khải tới, cho họ xem tấm áo máu và bản khẩu cung của Chiêu Thử, để họ biết kiêng dè. Mặt khác, thần cũng muốn tấu thỉnh đại vương, hãy nhân cơ hội này để thu hồi toàn bộ đặc quyền với ô kim và muối Ba.”

“Được!” Hoài Vương vuốt râu một hồi, gật gù, “tấu rất hay, rất hợp với ý quả nhân.”

“Hiện tại chính là thời cơ thích hợp nhất. Muối Ba vẫn chưa tới Sính, nếu đại vương thu hồi muối này tự bán, không cho tông thân nhúng tay vào, thì vương thân cũng sẽ không đến nỗi so đo. Muối, sắt đều bị vương thân thâu tóm, tông thân bất mãn đã lâu, nay chỉ duy nhất đại vương được bán, cắt đi nguồn lợi của vương thân, tông thân cũng sẽ không so bì nữa. Vả lại” Khuất Bình nhìn xuống tấm áo của Chiêu Thử, “trong tay đại vương đã có áo máu này, tin rằng vương thúc và Chiêu Dương dù có bất mãn, cũng sẽ phải dè chừng!”

“Được!” Hoài Vương quay sang nội doãn, lớn tiếng hạ lệnh, “truyền chỉ, số muối Tề bị cướp cùng với chuyến muối Tề thứ hai sẽ do vương thất đặt ti sở riêng để bán.” Ngừng một chốc, lại tiếp, “bổ nhiệm Chiêu Đà làm diêm doãn, chuyên quản việc muối! Khoản tiền mua muối mà Chiêu phủ đã bỏ ra, đợi sau khi muối bán xong rồi, sẽ hoàn trả cả vốn lẫn lời! Bổ nhiệm Chiêu Dao làm thiết doãn, chuyên quản việc sắt.”

“Thần lĩnh chỉ!” Nội doãn tuân mệnh lui ra.

“Khuất ái khanh,” Hoài Vương giọng đầy cảm khái, nhìn sang Khuất Bình, “thật không ngờ khanh lại mưu trí nhường này, nháy mắt đã xử trí xong hai chuyện hóc búa. Đã có muối và sắt trong tay, quả nhân đâu còn phải lo ngân khố thiếu hụt nữa!”

“Là tình thế bức bách mà thôi!” Khuất Bình cười ngượng nghịu.

Hoài Vương phá lên cười sảng khoái: “Khanh nghĩ ra được như vậy, quả nhân thấy an tâm rồi!” Thu lại nụ cười, nhìn thẳng vào Khuất Bình, “Khuất ái khanh, quả nhân muốn bàn với khanh một đại sự!”

“Thần cung kính lắng nghe!”

“Hiến lệnh tiếp theo soạn đến đâu rồi?”

“Cơ bản đã soạn xong, thần sẽ bổ sung phần đặc quyền về muối và sắt, rồi nhuận sắc thêm chút ít là hoàn tất.”

“Cái khó của hiến lệnh không phải ở ban bố, mà ở thi hành. Quả nhân muốn nói với khanh rằng, chức lệnh doãn này, khanh không phải làm thay nữa. Ba ngày tới trong buổi đại triều, quả nhân sẽ ban chiếu mệnh, nhiệm khanh làm lệnh doãn, đồng thời ban bố hiến lệnh, để khanh thi hành rộng khắp!”

“Tạ ơn đại vương yêu mến!” Khuất Bình vòng tay đáp, “ban bố và thi hành hiến lệnh, trừ bỏ thói tệ cũ, cần dùng đến người mạnh mẽ. Nên thần nghĩ, đại vương không những không nên bãi miễn Chiêu đại nhân, ngược lại, còn nên trọng dụng ông ta! Có uy đức của đại vương, có kinh nghiệm trị chính nhiều năm của Chiêu đại nhân, hiến lệnh mới có lẽ sẽ được thi hành thuận lợi!”

“Chuyện này không bàn thêm nữa!” Hoài Vương xua tay, cất giọng quyết đoán, “ông ta thì mạnh mẽ, nhưng quả nhân thì bất lực rồi!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử