Trận quyết đấu cuối cùng thách đấu vương mã vào giờ Thân chiều hôm sau chính thức bắt đầu.
Trong trường đua người chen chúc như rừng như biển, phải đến hơn vạn, cả một khán đài rộng lớn bị vây kín mít đến nước hắt không lọt, chỉ chừa lại một đường đua với vài khúc ngoặt lớn. Có lẽ kết quả quá ư dễ đoán, hầu như toàn bộ người cá cược đều đặt cược vào vương mã, tỷ lệ cược của vương mã thấp đến mức đặt mười ăn một, trong khi ngựa của Điền phủ, tỷ lệ cược lại cao đến đặt một ăn mười.
Vào đúng giờ Thân, thi đấu bắt đầu, vòng thi đầu tiên là ngựa thượng đẳng, hai bên đưa ngựa vào sân, thượng đại phu Điền Anh đích thân thúc một hồi trống khai trận. Cùng với tiếng trống, hai cỗ xe chiến lập tức lao vùn vụt như lướt quanh trường đấu, chốc lát, chỉ thấy vó ngựa tung bay, bụi bốc cuồn cuộn, sau mười vòng tranh đua quyết liệt, vương mã về đích trước đúng năm thân xe, giành thắng lợi tuyệt đối. Vòng tiếp theo là ngựa trung đẳng, vương mã lại thắng, về đích trước hai thân xe. Thắng thua đã định, vòng thứ ba coi như thi đấu danh dự, người đánh xe ngựa hạ đẳng của vương mã không hiểu do thực lực chỉ có vậy, hay là muốn lưu lại chút thể diện, chỉ về trước ngựa hạ đẳng của phủ Điền đúng một thân xe.
Khắp trường đua hoan hô như sấm dậy, quần thần nhất loạt đứng lên, trước tiên chúc mừng Uy Vương, sau đến chúc mừng Điền Kỵ.
Điền Kỵ mặt mày hớn hở, đắc ý vòng tay đáp lễ với đám thân bằng, luôn miệng nhắc đi nhắc lại hai chữ “chia vui”, không hề thấy có mảy may thất vọng, cứ như thể thua vương mã là một niềm vinh hạnh.
Cuộc đua tới hồi kết thúc, thượng đại phu Điền Anh tuyên bố kết quả hội đua ngựa năm nay, tiếp đó, Uy Vương ban chiếu thư, đem toàn bộ danh sách tham gia đua ngựa của các đô ấp liệt vào vương mệnh, trương bảng công bố rộng rãi. Sau nữa, Uy Vương và thái tử chiểu theo quy chế đã định, ban thưởng cho tất cả những người tham gia thi đấu ở vòng năm đô, vòng quyết đấu và vòng thách đấu vương mã. Do vàng phải cân trọng lượng, không thể ban thưởng trực tiếp trên trường đua, nên theo quy chế, thay thế bằng vải lụa đặc chế của vương thất, mỗi vuông lụa ghi rõ số lượng vàng thưởng cụ thể, áp vương tỷ bên trên, chủ nhân có thể mang lụa tới bất cứ nhà cái nào để đổi lấy vàng.
Điền Kỵ nhận được vuông lụa có viết năm trăm đĩnh vàng, vênh vang đi quanh trường đua một vòng, giơ cao tay vẫy lia lịa về phía người xem đang hò reo như sấm, liên tục đáp lễ với những người đến chúc mừng, vẻ rạng rỡ tràn trề trên nét mặt.
Tô Tần cùng Tôn Tẫn ngồi tại một góc khuất không ai để ý. Khi Điền Kỵ đi lại gần đó, một là phong quang đã đủ, hai là thấy Tô Tần đưa tay vẫy, bèn cất vuông lụa đi, sải bước lại gần, ngồi xuống bên cạnh Tô Tần và Tôn Tẫn.
Tô Tần trong trang phục sĩ tử, chẳng hề có lấy mảy may dáng vẻ nhà quan. Tôn Tẫn ngồi trên xe lăn, đầu sùm sụp nón lá, mình mặc áo vải, ăn vận giống hệt một gã nhà quê. Lúc này, người xem đã lũ lượt ra về, chỉ còn lại Trâu Phi Đao ở bên cạnh hai người họ.
“Ba trận thua cả ba,” Tôn Tẫn nhìn Điền Kỵ hỏi, “Điền huynh không lấy làm hổ thẹn, ngược lại còn vui mừng nhường kia, hẳn có nguyên do?”
Điền Kỵ lại phá lên cười vui vẻ: “Tiên sinh có điều không biết, ngựa của tại hạ tuy là nghìn con mới chọn được một, song vương mã lại là ngựa do đất Hồ dâng tặng, phần nhiều là vạn con mới chọn được một, chuyện này tạm chưa nói đến, đại vương còn có được hậu duệ của Bá Nhạc là Tôn Duyệt trợ giúp, trong chuồng ngựa hầu hết đều là thiên lý mã, tại hạ lần này đánh bại được Trâu Kỵ, giành được phần thưởng năm trăm đĩnh vàng của đại vương, đã là mãn nguyện lắm rồi.”
Tôn Tẫn khẽ thở dài một tiếng, lắc đầu.
“Tôn huynh?” Điền Kỵ kinh ngạc.
“Dám hỏi Điền huynh,” Tôn Tẫn nhìn thẳng vào Điền Kỵ, hỏi, “hẳn cũng đã từng nghĩ tới chuyện thắng đại vương một lần?”
“Chưa từng nghĩ đến!” Điền Kỵ cười gượng, nhăn mặt nói. “Vả lại, có nghĩ cũng vô ích thôi!”
“Nếu có cơ hội thắng, lẽ nào tướng quân cũng không muốn?”
Thấy Tôn Tẫn nghiêm túc, Điền Kỵ hít sâu một hơi, nhìn chòng chọc vào Tôn Tẫn, rồi đưa tay sờ lên trán Tôn Tẫn: “Ồ, có sốt đâu nhỉ!” Nhìn Tôn Tẫn một lát rồi quay sang Tô Tần, chỉ vào ngực mình. “Tô huynh, chỗ này của Tôn huynh, không có vấn đề gì đấy chứ?”
Không để Tô Tần kịp trả lời, Tôn Tẫn lại tiếp: “Điền tướng quân, tại hạ hỏi một lần nữa, có muốn thắng vương mã không?”
“Muốn, muốn chứ!” Thấy Tôn Tẫn đổi giọng, Điền Kỵ mới quýnh lên, nói vội. “Trong mơ tại hạ cũng muốn!”
“Tại hạ còn một câu hỏi nữa.” Tôn Tẫn nhìn Điền Kỵ chăm chăm. “Ba loại tứ mã thượng, trung, hạ, cấp bậc do ai quyết định?”
“Ờ…” Điền Kỵ ngẩn ra một thoáng. “Hình như là không có người nào chuyên đánh giá, mà do người thi đấu tự quyết định!”
“Nếu nói như vậy,” Tôn Tẫn thu thần tĩnh khí, chậm rãi nói, “tướng quân hãy đi gặp đại vương và nói rằng, cuộc quyết đấu này, tướng quân không phục, sau ba ngày nữa, xin được đua lại với đại vương lần nữa, tại hạ đảm bảo tướng quân sẽ đánh bại vương mã!”
“Đánh bại vương mã?” Điền Kỵ tặc lưỡi lẩm bẩm. “Chuyện này là không thể!” Dừng lại một lát, lại cảm thấy không thoả đáng, bổ sung thêm một câu. “Ngựa thượng đẳng kém ba thân xe, ngựa trung đẳng kém hai thân xe, dù ngựa hạ đẳng người ta chỉ đua cho lấy lệ, cũng vẫn kém một thân xe!”
“Tại hạ có ngựa quý, có thể chiến thắng!” Tôn Tẫn nói rành rọt từng tiếng.
“Tôn huynh có ngựa quý?” Điền Kỵ sửng sốt. “Tôn huynh nói mau, ngựa quý hiện ở đâu? Vì sao không thấy Tôn huynh hé lộ nửa lời?”
“Nước có vật báu, không được để người khác thấy!” Tôn Tẫn dẫn lời Lão Tử, nở nụ cười bí hiểm. “Đã là ngựa quý, sao có thể tuỳ tiện tiết lộ?”
“Ồ…” Điền Kỵ rõ ràng không tin, nhìn sang Tô Tần, nửa như bóc mẽ Tôn Tẫn, nửa như trêu đùa. “Tôn huynh sống trong khe núi đã ba năm, theo tại hạ biết, chưa từng vượt qua cánh cửa lấy một bước, nếu thực sự có ngựa quý, cớ sao tại hạ lại không hay?”
“Điền huynh nói vậy là không hiểu Tôn huynh rồi!” Tô Tần cười đáp lại.
“Được rồi, được rồi!” Điền Kỵ thấy Tô Tần đỡ lời cho Tôn Tẫn thì thôi không nói thêm nữa, đảo con ngươi một vòng. “Theo quy tắc của hội đua, thắng thua đã định, dù tại hạ có muốn thi lại, chắc gì đại vương đã chịu!”
“Tướng quân chưa thỉnh cầu, sao biết đại vương không chịu?” Tôn Tẫn lời lẽ bức bách.
“Ờ…” Điền Kỵ vẫn lo sợ, lại nhìn sang Tô Tần.
“Tôn huynh nói phải đấy!” Tô Tần khích lệ. “Tướng quân hãy lập tức đi thỉnh cầu đại vương, nói rằng ba ngày sau đua thêm lần nữa, xem đại vương xử trí thế nào?”
“Nếu Điền huynh đánh cược nghìn đĩnh, đại vương ắt sẽ đồng ý!” Tôn Tẫn dồn Điền Kỵ đến chân tường.
“Đánh cược nghìn đĩnh?” Điền Kỵ hít ngược một hơi khí lạnh. “Nghìn đĩnh vàng là hai mươi năm thu hoạch từ đất phong của tại hạ đấy, chắc Tôn huynh không muốn nhà tại hạ trên dưới mấy trăm miệng ăn phải hứng gió tây bắc mà sống đấy chứ?”
“Tại hạ xin sửa lại một câu, hãy thỉnh cầu mỗi vòng một nghìn đĩnh, ba vòng thi đấu, là ba nghìn đĩnh.”
Điền Kỵ kinh hãi rụng rời, không thốt nổi một lời, hai mắt trợn trừng, hết nhìn Tôn Tẫn lại nhìn Tô Tần, dường như hai người này đang chơi trò xướng hoạ, giăng bẫy để dụ dỗ, hãm hại mình.
“Người thống lĩnh thiên binh vạn mã, đáng ra không nên bận tâm tới ba nghìn đĩnh vàng mới phải?” Tôn Tẫn cười nói.
“Ai bận tâm kia!” Điền Kỵ hấp tấp. “Mà là… mà là tại hạ dù có bán sạch gia sản, cũng không thể có nổi ba nghìn đĩnh vàng!”
“Chẳng phải đã có năm trăm đĩnh rồi đấy ư?” Tôn Tẫn hất hàm về phía vuông lụa trong ngực áo Điền Kỵ. “Năm trăm đĩnh còn lại, lẽ nào trong kho tàng của tướng quân lại không gom nổi?”
“Thế thì cũng mới có một nghìn.”
“Hai nghìn còn lại, tại hạ và Tô huynh mỗi người gánh một nghìn, tướng quân còn băn khoăn gì chăng?”
“Tô huynh?” Điền Kỵ quay sang Tô Tần.
“Lẽ nào tướng quân không tin tại hạ và Tôn huynh?” Tô Tần khẽ mỉm cười, rồi nhìn về phía Uy Vương đang đứng cách đó không xa. “Nếu muốn đua thì phải nhanh chân lên mới được, đại vương lại chẳng thích mê chớ kể!”
Thấy Tôn Tẫn, Tô Tần khăng khăng thúc ép, nhất quyết đòi đua lại, Điền Kỵ tuy không chắc chắn, song cũng không còn đường lui, đành phải nghiến răng dằn lòng, thôi thì cứ đánh cược với nhân phẩm của hai người kia vậy.
Trong lòng đã quyết, Điền Kỵ lấy hết can đảm, từng bước tiến về phía Uy Vương.
Cuộc đua đã kết thúc, mọi người tản đi gần hết, Uy Vương đã đứng dậy, chuẩn bị khởi giá hồi cung, đám đại thần thái tử, Trâu Kỵ, Điền Anh cũng đều đã đứng lên, nghiêm trang đứng hầu bên cạnh, đợi Uy Vương khởi giá.
Điền Kỵ tiến lại, đứng ngay trước án, phủ phục xuống đất bái lạy, rồi cất giọng dõng dạc: “Khởi bẩm đại vương, thần có tấu!”
Uy Vương lại ngồi trở xuống, liếc nhìn Điền Kỵ: “Ái khanh cứ nói!”
“Cuộc đua hôm nay, thần thua mà không phục, cả gan khẩn cầu đại vương cho đua lại lần nữa, mong đại vương ân chuẩn!” Điền Kỵ nói rành rọt từng chữ, giọng sang sảng như chuông đồng.
Quần thần đưa mắt nhìn nhau. Dù là Uy Vương cũng vô cùng kinh ngạc, vuốt râu hồi lâu, mới nhổm người về phía trước, sắc mặt đầy vẻ hồ nghi: “Điền ái khanh, khanh… nói thật chứ?”
“Thần không dám khi quân!” Điền Kỵ khẳng định chắc nịch.
Uy Vương hít sâu một hơi, lại vuốt râu, ngồi thẳng người lên, ánh mắt vẫn không rời khỏi Điền Kỵ: “Ái khanh, không phải quả nhân không đồng ý, mà là… nhìn vào tình thế hôm nay, sức ngựa của khanh còn thiếu ba phần, nếu lại đua tiếp, e là còn thất bại thảm hại hơn thế!”
“Thần có ngựa quý!”
“Ồ?” Uy Vương hào hứng thấy rõ, quay sang nhìn Tôn Duyệt ngồi cạnh, thấy Tôn Duyệt cũng tỏ vẻ ngạc nhiên, bèn cười nói. “Nếu quả là vậy, cũng thú vị đây. Có điều, ngựa của quả nhân, không thể tuỳ tiện xuất chiến, nếu như muốn đua…”
“Thần xin đặt cược!”
“Được!” Uy Vương đập bàn đánh chát. “Quả nhân đang đợi câu này! Xin hỏi ái khanh, muốn đặt cược bao nhiêu?”
“Thần xin đặt một nghìn đĩnh!”
“Điền đại tướng quân!” Trâu Kỵ ngồi phía bên kia Uy Vương tiếp lời, nửa như giễu cợt, nửa như khích bác. “Thách đấu với vương mã, đặt cược một nghìn đĩnh với đại vương, dứt khoát không phải trò đùa tầm phào, mong tướng quân suy nghĩ cho kỹ lưỡng!”
“Tướng quốc đại nhân,” Điền Kỵ điềm tĩnh đáp lời. “Chúng ta cùng trong một triều đã nhiều năm, đã từng thấy Điền Kỵ nói đùa bao giờ chưa?”
“Khởi bẩm đại vương,” Trâu Kỵ trịnh trọng gật đầu, quay sang Uy Vương, vòng tay nói. “Lời thỉnh cầu của thượng tướng quân nếu đã không phải là chuyện đùa, thần tấu thỉnh đại vương ân chuẩn!”
“Chuẩn tấu!” Uy Vương nhìn sang Điền Anh. “Thượng đại phu, cuộc đua hôm nay, Điền Kỵ tướng quân thua mà không phục, thỉnh cầu ba ngày nữa tái đấu. Quả nhân ứng chiến, vẫn chiểu theo quy chế cũ, phân ngựa thành thượng, trung, hạ, thi đấu ba vòng, thắng hai là thắng, tiền cược một nghìn đĩnh!”
“Thần cả gan thỉnh cầu, mỗi vòng đặt cược một nghìn đĩnh!” Điền Kỵ lại thốt ra một câu.
Điền Kỵ cứ như thể bị ma quỷ nhập hồn, bất chấp tất cả leo thẳng lên đầu sào, khiến quần thần có mặt một phen chấn động.
Uy Vương cũng kinh ngạc không kém, bàng hoàng hồi lâu mới định thần trở lại, nhìn Điền Kỵ một cái, rồi quay sang Điền Anh, cất giọng rành rọt: “Soạn chỉ, chuẩn tấu của Điền Kỵ tướng quân, ba ngày nữa tái đấu tại đây, mỗi vòng đặt cược nghìn đĩnh.”
Điền Kỵ vốn dĩ đã chiếm trọn phong quang, song lần này lại cố chấp đến vậy, mục đích là gì? Điền Kỵ tự nhận mình có ngựa quý, nếu quả thực là vậy, cớ sao lúc then chốt lại không dùng, mà đợi đến tận khi thất bại liểng xiểng mới đưa ra tái đấu? Hơn nữa, Điền phủ có bao nhiêu ngựa quý, nước Tề có bao nhiêu ngựa hay, trải qua hai hội đua, Trâu Kỵ từ lâu cũng đã biết một hai phần. Trận quyết đấu này, Điền phủ đã tung ra những con ngựa tốt nhất, chắc chắn không thể mới chớp mắt đã đẻ ra được con thiên lý mã còn hay hơn thế được!
Trâu Kỵ cứ thế ngồi bần thần trong phòng, càng nghĩ càng không thể lần ra manh mối, đột nhiên nhớ tới Công Tôn Hãn, bèn sai người gọi hắn tới.
“Công Tôn tiên sinh!” Trâu Kỵ đích thân rót trà cho hắn. “Chuyện ngày hôm nay, hẳn tiên sinh cũng đã thấy cả. Điền Kỵ ba trận đều thua, vẫn muốn tái đấu, nói là còn có ngựa quý, lại muốn đặt cược mỗi vòng nghìn đĩnh, chẳng phải là lấy trứng chọi đá, bị ma ám rồi hay sao? Lão hủ ngu muội, mong tiên sinh giải thích giúp!”
“Hồi bẩm chúa công!” Công Tôn Hãn tạ ơn, đỡ lấy chén trà, rồi nói thẳng. “Nếu không nằm ngoài dự đoán của Công Tôn Hãn, Điền Kỵ thỉnh cầu tái đấu, dứt khoát không phải là nhất thời u mê, mà là kỳ mưu!”
“Kỳ mưu thế nào?” Trâu Kỵ nhổm người lại hỏi.
“Mưu mà chúa công đã bỏ!” Công Tôn Hãn khẳng định chắc nịch.
Trâu Kỵ chết lặng trong lòng.
Mưu đã bỏ, chính là mưu đổi ngựa trung đẳng với ngựa hạ đẳng mà Công Tôn Hãn đã hiến kế trước khi hội đua bắt đầu. Nhớ lại trận đua hôm nay, Điền Kỵ ba trận đều thua vương mã, vậy mà vẫn nghênh ngang đến vậy, khiến Trâu Kỵ có chút hối hận vì đã không nghe theo lời Công Tôn Hãn, nếu không, kẻ đi quanh trường đua nói “chia vui” đã là ông ta rồi.
“Ý tiên sinh là,” Trâu Kỵ khép mắt một lát, “Điền Kỵ sẽ đổi ngựa trung đẳng thành ngựa hạ đẳng?”
“Không, đổi ngựa hạ đẳng thành ngựa thượng đẳng, rồi cứ tuần tự mà đổi.”
Trâu Kỵ hít vào sâu một hơi, đã hoàn toàn thấu tỏ. Đúng vậy, nếu làm như thế, Điền Kỵ có lẽ sẽ một thua, hai thắng, hẳn đó chính là nguyên do khiến Điền Kỵ dám đặt cược cả nghìn đĩnh vàng. Mưu kế tuyệt diệu nhường này, tuyệt đối không thể do Điền Kỵ nghĩ ra, nhất định phải có cao nhân bên cạnh, mà cao nhân này, cũng chỉ có thể là Tô Tần. Tô Tần muốn cứu Triệu, mà Điền Kỵ có mối thù bị Bàng Quyên làm nhục, nên Tô Tần chắc chắn sẽ du thuyết Điền Kỵ, dùng diệu kế này để kích động chiến tâm của đại vương.
Trâu Kỵ càng nghĩ càng thông tỏ, lại nhìn kỹ Công Tôn Hãn trước mặt, thấy tướng mạo hắn nào phải đê hèn, mà trái lại, rành rành là một bậc kỳ tài hiếm thấy, có thể sánh ngang với Tô Tần, bỗng thực lòng thán phục con mắt nhìn người của Thuần Vu Tử.
“Tiên sinh đã nhìn thấu âm mưu,” Trâu Kỵ vòng tay vái mà nói, “hẳn có thể chỉ giáo kế hay ứng phó?”
“Chỉ giáo thì không dám,” Công Tôn Hãn đáp lễ mà nói, “Hãn cho rằng, chúa công có hai kế hay ứng chiến. Thứ nhất, yết kiến đại vương, tấu báo mưu kế của Điền Kỵ, để đại vương kịp thời điều chỉnh vương mã, đánh bại Điền Kỵ. Thứ hai, không phá mưu này, dốc hết gia sản, đánh cược ngựa Điền Kỵ thắng, chúa công sẽ có được một khoản tiền kếch xù.”
Trâu Kỵ nhắm mắt suy nghĩ hồi lâu, trên gương mặt xuất hiện một nét cười nham hiểm: “Đa tạ mưu hay của tiên sinh. Có điều, bản công thứ nhất không muốn tấu thỉnh đại vương điều chỉnh ngựa, thứ hai không thiếu tiền bạc!”
“Chúa công hẳn có kỳ mưu khác?”
“Ha ha ha!” Trâu Kỵ phá lên cười lớn một tràng.
“Chúa công cười chuyện gì kia?”
“Cười Điền Kỵ!” Trâu Kỵ thu lại nét cười, rồi dằn mạnh từng chữ. “Tự gây nghiệt, không thể sống, Điền Kỵ hôm nay chính là như vậy!”
“Chúa công?” Công Tôn Hãn có vẻ băn khoăn.
“Tiên sinh hãy xem,” trong mắt Trâu Kỵ loé ra hai tia sáng thâm trầm, “nếu Điền Kỵ không theo lời đoán của tiên sinh, lại cũng không có ngựa quý dự phòng, sau ba ngày nữa tái đấu, chắc chắn sẽ thua ba nghìn đĩnh. Số của nả mà Điền phủ tích cóp được, nhiều lắm cũng không quá nghìn đĩnh, nếu thua ba nghìn đĩnh, khuynh gia bại sản tạm chưa nói tới, mà còn bị cả thiên hạ chê cười. Nếu đúng là hắn theo kế như tiên sinh nói, dùng ngựa hạ đẳng đua với ngựa thượng đẳng, dùng ngựa thượng đẳng đua với ngựa trung đẳng, dùng ngựa trung đẳng đua với ngựa hạ đẳng của vương thất, thì chính là khi quân. Theo luật pháp nước Tề, tội khi quân, tru di tam tộc! Điền Kỵ có được ba nghìn đĩnh vàng mà phải chịu tội tru di tam tộc, lại sẽ thành chuyện cười cho thiên hạ.”
“Chúa công mưu kế sâu xa, Công Tôn Hãn bội phục.” Công Tôn Hãn vòng tay vái dài.
“Là Điền Kỵ tự chuốc lấy cái chết, không thể oán trách bản công!” Trâu Kỵ gằn giọng, rồi nhìn sang Công Tôn Hãn. “Tuy nhiên, ta cũng không thể lơ là. Nhờ tiên sinh thăm dò tình hình, nếu Điền phủ thực sự có ngựa quý, lập tức báo cho ta biết!”
“Cung kính tuân mệnh!”
Tại Tuyết cung ở kinh đô Tề, Uy Vương chau tít đôi mày, chậm rãi đi đi lại lại trong đại sảnh.
Tích Cương hai con ngươi xoay tròn, di chuyển theo Uy Vương, phía đối diện là Tôn Duyệt hai mắt khép hờ, ngồi ngay ngắn bất động trên chiếu.
“Ha ha ha!” Tề Uy Vương bất chợt dừng bước, bật cười vài tiếng, quay trở về chỗ ngồi, siết chặt nắm tay, liên miệng kêu lên. “Quả nhân được rồi! Quả nhân được rồi!”
“Phụ vương?” Tích Cương khẽ gọi.
“Nhìn thấy Tô Tần chưa?” Uy Vương tươi cười hỏi.
“Tô Tần?” Tích Cương ngẩn người không hiểu. “Tô Tần sao kia?”
“Nếu không ngoài dự đoán của quả nhân, sau lưng Điền Kỵ hẳn có Tô Tần trợ lực, nếu không, hắn có mượn gan hùm cũng chẳng dám bất chấp tất cả, mà ngông cuồng liều mạng như thế!”
Tích Cương trầm ngâm suy nghĩ.
“Cương Nhi!” Uy Vương thực lòng khen ngợi. “Tô Tần kia thực là hiểu thấu lòng quả nhân. Hắn tới đây xin viện binh, đáng lẽ là chuyện nước lửa cấp bách, song lại cứ thủng thẳng như không, bởi lẽ hắn đã hiểu, quả nhân chắc chắn sẽ quyết sống mái với Ngụy Anh. Hàm Đan ư, quả nhân có muốn không cứu cũng không được!”
Tích Cương hít vào một hơi, hai mắt mở to chớp vài cái, dường như vẫn chưa hoàn toàn hiểu hết ý của phụ vương.
“Chuyện này tạm chưa nói tới, người này biết rõ quả nhân mở hội đua ngựa là trù bị cho chiến sự, làm nhà cái cá cược là để gom tiền tài, giờ lại lo lắng quả nhân vẫn chưa gom đủ, mới xúi giục Điền Kỵ tiếp tục thách đấu với quả nhân, lợi dụng triệt để cuộc đua lần này, đúng là dốc tận tâm huyết!”
“Nhưng…” Tích Cương vẫn băn khoăn. “Dụng ý của Tô Tử tuy tốt, song cũng là đi nước cờ hiểm, ít nhất đã ép Điền tướng quân vào đường cùng. Ngựa Điền phủ đua với vương mã, rõ ràng là lấy trứng chọi đá, có đấu đến trăm trận cũng thua cả mà thôi!”
“Than ôi!” Uy Vương thở dài một tiếng. “Đây cũng chính là chỗ khó của quả nhân. Thắng thua trên trường đua, dựa vào trí tuệ của Tô Tử, đương nhiên đã liệu trước cả rồi. Song hắn lại cầm chắc, nếu thi đấu lại, quả nhân chỉ có thể thua, không thể thắng!”
“Vì sao?”
“Là vì quả nhân không thắng nổi!”
Đã là tranh đua, lại còn có chuyện “không thắng nổi”? Tích Cương hai mắt trợn tròn, rõ ràng không hiểu.
“Cương Nhi, hãy nghĩ thử xem,” Uy Vương gập các ngón tay, “nếu đua lại, Điền Kỵ chắc chắn sẽ thua, điều đơn giản này, thiên hạ không ai không biết, nên mọi người chắc hẳn đều sẽ đặt cược cho vương mã thắng. Căn cứ vào tỷ lệ đặt cược thấp nhất là một ăn mười, nếu đặt cược vạn đĩnh, nhà cái phải trả thêm nghìn đĩnh, nếu đặt cược ba vạn đĩnh, quả nhân phải trả thêm bao nhiêu, con số này không khó để tính ra! Lại thêm tiền hoa hồng, cho dù quả nhân có hoà vốn không lỗ không lãi, thì việc mở hội đua lần này chẳng phải là công cốc hay sao?”
Tích Cương không thể ngờ rằng sự tình lại chuyển ngoặt như vậy, vô cùng khâm phục mưu tính tinh tường của Uy Vương.
“Than ôi, tạm chưa nói tới chuyện này, Tô Tần còn cầm chắc một chuyện nữa, đó là cho dù quả nhân có thắng Điền Kỵ, cũng sẽ chẳng làm gì được hắn. Gia sản của Điền Kỵ chỉ có bấy nhiêu, nếu như thua sạch, người chu cấp cho hắn vẫn cứ là quả nhân.”
“Cá cược dám chơi dám thua, phụ vương cớ sao phải chu cấp cho Điền Kỵ?”
“Còn có nguyên nhân nào khác nữa? Đến lúc chinh phạt Ngụy, chẳng nhẽ quả nhân lại đi bái một tên ăn mày không xu dính túi làm tướng quân?”
“Ý phụ vương là,” Tích Cương đột nhiên bừng tỏ, hạ giọng hỏi, “đợi cuộc đua kết thúc, chúng ta sẽ khởi binh cứu Triệu?”
“Than ôi!” Uy Vương thu lại nụ cười, khẽ thở dài một tiếng. “Sự việc không đơn giản như vậy. Không giấu gì con, mấy ngày nay, trong lòng ta thấp thỏm không yên, đang định chờ cuộc đua kết thúc, sẽ tới Thái miếu gieo một quẻ!”
“Phụ vương lo lắng vì cuộc chiến này?”
“Phải!” Uy Vương nheo nheo mắt, chậm rãi nói. “Tuy ta đã chuẩn bị chiến sự suốt tám năm trời, binh lính lương thảo đã đầy đủ, số xe ngựa cũng đã chiếm thượng phong, song Ngụy có Bàng Quyên và vài vạn võ binh do hắn huấn luyện, không thể xem thường, Điền tướng quân e không phải đối thủ! Cuộc chiến này, quả nhân nhất thiết phải thủ thắng, bởi lẽ quả nhân không thể thua, nước Tề cũng không thể thua!”
Tích Cương hít sâu một hơi, chậm rãi bật ra hai chữ: “Chính phải!”
“Tôn ái khanh!” Uy Vương quay sang Tôn Duyệt, chuyển sang chuyện khác. “Chuyện tái đấu với Điền Kỵ, có kế hay nào giúp Điền Kỵ được mở mày mở mặt không?”
“Đại vương muốn thần giả thua trước bao nhiêu con mắt?” Tôn Duyệt nghiêng đầu hỏi.
“Chuyện này sao có thể?” Uy Vương xua tay.
“Thần không có kế nào!” Tôn Duyệt khẽ lắc đầu. “Thần quan sát tốc độ của ngựa Điền phủ, tứ mã thượng đẳng chín trăm sáu mươi dặm, tứ mã trung đẳng chín trăm dặm, tứ mã hạ đẳng tám trăm năm mươi dặm, trong khi tốc độ ngựa của đại vương, tứ mã thượng đẳng là nghìn dặm, tứ mã trung đẳng là chín trăm năm mươi dặm, tứ mã hạ đẳng là chín trăm dặm, bất luận là tứ mã thượng, trung, hạ, sau mười vòng đua, khoảng cách chênh lệch đều không chỉ dừng lại ở một thân xe.”
“Hay là, chọn thêm con ngựa tốt cho hắn, để tứ mã hạ đẳng của hắn thắng?”
“Ngựa lần trước bán cho tướng quốc là do thần mới tìm thấy gần đây, nên quần thần đều không biết. Số vương mã còn lại, quần thần đều rõ mặt cả rồi, nếu chuyển sang tay Điền tướng quân, khác nào tuyên bố đại vương gian lận!”
“Ái khanh nói rất đúng!” Uy Vương gật đầu, cười gượng một tiếng. “Thôi kệ, cứ để Điền Kỵ tự tính toán. Đã dám cả gan sinh sự, cũng nên tự tìm cách dàn xếp! Quả nhân không cần thiết phải bận tâm về chuyện này!”
Hai ngày đã trôi qua, tới ngày thứ ba, Điền Kỵ không thể ngồi im được nữa, bèn vào khe núi thăm Tôn Tẫn.
Dưới cội mai già trong vườn mai, Thụy Mai y phục rộng rãi, tâm tư chìm đắm vào cây đàn cổ trước mặt. Tôn Tẫn và Tô Tần ngồi đối diện dưới chiếu, khép mắt lắng nghe.
Một đứa trẻ hơn hai tuổi ngồi trong lòng Tô Tần, tóc cắt chỏm đào, nghênh nghênh đầu nhìn bàn tay mẹ đang nhịp nhàng lên xuống trên những dây đàn.
Nhìn cảnh tượng này, dù Điền Kỵ ruột gan đang như lửa đốt cũng không dám lỗ mãng, bèn nhẫn nại chờ đợi cho tới khi Thụy Mai gảy xong khúc nhạc, mới đằng hắng một tiếng, lên tiếng gọi từ xa: “Hai vị nhân huynh thực có nhã hứng!”
Tôn Tẫn vẫy tay với Điền Kỵ, cười nói: “Tại hạ và Tô huynh đợi tướng quân đã lâu rồi.”
Điền Kỵ hấp tấp sải bước lại gần, cất giọng gấp gáp: “Ngày mai tái đấu rồi, dám hỏi Tôn huynh, ngựa quý của huynh ở đâu?”
“Ở trong tàu ngựa của tướng quân.” Tôn Tẫn lại cười.
“Trong tàu ngựa?” Điền Kỵ gãi gãi đầu, ngơ ngác. “Ồ, tại hạ vừa từ tàu ngựa ra, nào có nhìn thấy ngựa quý gì đâu!”
“Trong tàu ngựa của tướng quân không phải là ngựa quý, lẽ nào tướng quân chỉ nuôi toàn ngựa tồi?” Tôn Tẫn hỏi ngược lại.
“Đó là ngựa quý của tại hạ, không phải của Tôn huynh!” Điền Kỵ bắt đầu sốt ruột.
“Trận đấu ngày mai, là tướng quân thách đấu với vương mã, chứ có phải là tại hạ thách đấu với vương mã đâu? Ra trường đua đương nhiên phải là ngựa quý của tướng quân chứ!”
“Tôn huynh, huynh…” Điền Kỵ tức uất, không thốt nên lời.
“Điền huynh yên tâm,” Tôn Tẫn dịu giọng an ủi, “tại hạ đã dặn dò Cừu Quy kỹ lưỡng, mấy ngày nay cho ngựa ăn toàn ngũ cốc thượng hảo hạng, trận đấu ngày mai, quan trọng nhất là phải có sức khoẻ.”
“A… Tôn huynh hại ta rồi!”
Điền Kỵ quay ngoắt người định đi, sau lưng bỗng vọng lại tiếng Tô Tần: “Điền huynh dừng bước!”
Điền Kỵ đành dừng lại, quay đầu nhìn Tô Tần.
Tô Tần cũng bật cười. “Đại chiến chưa bắt đầu, thắng thua còn chưa rõ, Điền huynh cớ sao chẳng tĩnh tâm lại, lắng nghe một khúc nhã nhạc?” Rồi chỉ vào chỗ ngồi đã chuẩn bị sẵn bên cạnh. “Điền huynh, mời!” Rồi nhìn sang Thụy Mai. “Tẩu phu nhân, xin hãy vì Điền tướng quân mà gảy một khúc ‘Cao sơn, Lưu thuỷ’, để khích lệ tinh thần!”
Thụy Mai nhìn Điền Kỵ, nở một nụ cười rạng rỡ, hai tay vỗ đàn, bảy dây thánh thót ngân nga, trầm bổng dặt dìu.
Điền Kỵ bị bức đến chân tường, chỉ còn biết cười méo mó, hơi vòng tay về phía Thụy Mai nói: “Vất vả cho tẩu phu nhân rồi!” Sau đó tiến lại trước bàn, ngồi phịch xuống đất, miễn cưỡng nghe đàn.
“Ý tiên sinh là,” Trâu Kỵ nhìn trân trân vào Công Tôn Hãn, “ba ngày qua, chuồng ngựa của Điền phủ vẫn y như cũ, không hề thấy bóng dáng một con ngựa mới nào?”
“Đúng vậy!” Công Tôn Hãn khẽ đáp lời. “Chuyện này tạm chưa nói tới, buổi chiều hôm nay, Điền Kỵ còn tới một thôn trang nằm sâu trong Tắc Sơn, Hãn giả vờ lạc đường, lẻn vào trong đó, nhìn thấy Tô Tần đang cùng một kẻ mất đầu gối ngồi trong vườn mai nghe một người đàn bà gảy đàn. Hãn hỏi dò một đứa trẻ, mới biết Tô Tần kia suốt mấy ngày qua đều ở bên kẻ què gối kia, không rời nửa bước. Hãn còn dò la biết được, trong trận quyết đấu ba ngày trước, kẻ què gối kia cũng có mặt trên trường đua, ngồi xe lăn, được Tô Tần và một hán tử đẩy đến, rõ ràng kẻ đó không phải hạng tầm thường!”
“Kẻ mất đầu gối?” Trầu Kỵ hít ngược một hơi. “Lẽ nào hắn là…” Lời nói khựng lại nửa chừng, sắc mặt tràn đầy kinh ngạc.
“Chúa công?”
“Công Tôn tiên sinh!” Trâu Kỵ khẽ xua tay, chầm chậm thở ra, điều hoà hơi thở. “Có lẽ tiên sinh đã đúng. Gọi quản gia lại đây!”
Công Tôn Hãn gọi quản gia lại, Trâu Kỵ sai quản gia kiểm kê kho lẫm, mang ba trăm đĩnh vàng tới nhà cái, đặt cược cho ngựa Điền phủ.
Ba nghìn đĩnh vàng thực đúng là một ván cược trên trời, khiến cả nước Tề như phát cuồng, ngựa xe xếp hàng rồng rắn trước cửa các nhà cái trên trường đua, người tới đặt cược nườm nượp cả ngày lẫn đêm, tiền đặt cược cao gần gấp ba lần so với ba hôm trước. Cho tới giờ Thân, thượng đại phu Điền Anh hỉ hả thông báo với Uy Vương, tiền đặt cược trong cả nước đã gần ba vạn đĩnh, hầu như đều đặt vào vương mã, bởi lẽ tất cả mọi người đều nhận định, kết quả cuộc đua đã rõ ràng. Đặt cược cho ngựa Điền phủ chỉ có hai người, một là tướng quốc Trâu Kỵ và người kia là Điền Văn, thế tử của Tĩnh Quách Quân Điền Anh. Trâu Kỵ tin chắc vào phán đoán của Công Tôn Hãn, muốn quơ một mẻ lớn trong cuộc đua này, đồng thời đẩy Điền Kỵ vào chỗ chết. Còn Điền Văn là sau khi hỏi ý Tô Tần mới quyết định, trăm đĩnh vàng đem ra đặt cược, hoàn toàn là dựa vào niềm tin với Tô Tần bấy lâu nay.
Giờ Thân sắp tới, trên trường đua mọi thứ đã sẵn sàng, người đông như sóng, khách tới xem còn nhiều hơn ba phần so với ba hôm trước. Tề Uy Vương, thái tử Tích Cương và tất cả trọng thần nước Tề đều tới xem. Uy Vương còn đặc biệt mời đến các Tắc Hạ tiên sinh như Thuần Vu Tử, Thận Tử, sắp xếp cho họ ngồi trên khán đài chính, để tăng thêm không khí long trọng của cuộc đua.
Trên khán đài chính, Uy Vương ngồi nghễm nghện trên ghế chủ, một bên là Trâu Kỵ, một bên là Điền Kỵ. Thái tử và các trọng thần khác lần lượt chia nhau ngồi hai bên.
“Điền ái khanh!” Thấy thời giờ đã điểm, Uy Vương quay sang Điền Kỵ, mỉm cười nói. “Tuy sự việc đã tới nước này, song nếu ái khanh hối hận, quả nhân vẫn sẽ mở cho một đường thoát, hạ chỉ dừng ngay cuộc đua hôm nay!”
“Hồi bẩm đại vương!” Điền Kỵ vòng tay, mỉm cười bình thản. “Cung đã giương thì tên không thể thu về, thần lời đã nói ra, sao có thể nuốt lại?”
“Đã nói là vậy, thì hãy mau trình tiền cược ra đi!” Uy Vương cười cười.
Điền Kỵ sai mấy tráng hán lần lượt khiêng vào hai chiếc rương, đặt lên khán đài, mở nắp rương, chỉ vào những đĩnh vàng, nói: “Đây là nghìn đĩnh, mời đại vương kiểm tra!”
“Ồ, không phải là đặt cược ba nghìn đĩnh ư, sao chỉ có một nghìn?” Uy Vương không nhìn vào rương, mà nhìn thẳng vào Điền Kỵ.
“Số vàng còn lại ở chỗ đại vương!” Điền Kỵ thủng thẳng đáp.
“Ha ha ha!” Uy Vương liếc nhìn Điền Kỵ, bật cười vang. “Ái khanh lần này cầm chắc phần thắng, ăn chắc quả nhân rồi! Người đâu, bày vàng!”
Nội tể phẩy tay, cũng có hai tráng hán khiêng ra hai chiếc rương lớn, đặt lên khán đài.
“Điền ái khanh, quả nhân cũng tạm bày nghìn vàng, hai nghìn còn lại, tạm thời gửi trên người ái khanh!” Nói đoạn, nhìn sang Trâu Kỵ. “Trâu ái khanh, cuộc đua hôm nay, quả nhân mời khanh giám sát chấp pháp, trên trường đua coi trọng công bằng, tất cả đều tuân theo đúng quy tắc đã công bố trước kia, không ai được phép làm trái, quả nhân cũng không ngoại lệ!”
“Thần lĩnh chỉ!” Trâu Kỵ vái mà nói.
“Tới giờ chưa?” Uy Vương nhìn sang Điền Anh.
“Điền Anh gật đầu.”
“Khai đấu!” Uy Vương bật ra hai tiếng sang sảng.
Điền Anh gióng trống, hai cỗ xe chiến nhận được hiệu lệnh, lập tức lao đi băng băng. Hết vòng đua thứ nhất, ngựa của Điền phủ về sau ba thân xe. Hết vòng đua thứ hai, về sau năm thân xe. Khi vương mã đang lao về đích ở vòng thứ mười, thì ngựa của Điền phủ vẫn lẹt đẹt ở vòng thứ chín. Toàn bộ trường đua ầm ĩ tiếng la ó, ai nấy tràn đầy thất vọng.
“A!” Uy Vương vô cùng sửng sốt, nhìn sang Điền Kỵ. “Đây là tứ mã thượng đẳng của ái khanh đấy ư? Sao càng chạy lại càng kém cỏi làm vậy?”
“Thần xin nhận thua, nghìn đĩnh vàng này, thỉnh cầu đại vương vui lòng nhận lấy!” Điền Kỵ nhìn sang Trâu Kỵ đang chấp pháp.
Trâu Kỵ phẩy tay, hai binh sĩ chấp pháp bước tới trước mặt Điền Kỵ, lần lượt khiêng hai rương vàng tới bên cạnh Uy Vương.
Cuộc đấu thứ hai bắt đầu, vương mã trung đẳng và tứ mã trung đẳng của Điền Kỵ lao đi song song, cứ thế đến hết năm vòng đua, vẫn chưa phân thắng bại. Song tới vòng thứ bảy, kỳ tích đã xảy ra, ngựa của Điền Kỵ vọt lên trước vương mã nửa thân xe. Hơn nữa, ưu thế vẫn tiếp tục được duy trì, cho tới vòng thứ mười, cuối cùng đã về trước ngựa của vương thất đúng một thân xe.
Uy Vương bàng hoàng sửng sốt, người xem reo hò như sấm dậy, tất cả những người đã đặt cược vào vương mã mồ hôi như tắm. Duy có Trâu Kỵ nở một nụ cười âm hiểm, sau khi Điền Anh tuyên bố thắng bại, bèn sai binh sĩ khiêng lấy nghìn vàng Điền Kỵ vừa thua trả về chỗ cũ.
Ở cuộc đua thứ ba, kỳ tích của vòng thứ hai lại tái diễn, tứ mã hạ đẳng của Điền Kỵ tới vòng đua thứ bảy bắt đầu nhích lên, tới vòng chạy thứ mười, lại một lần nữa về đích trước tứ mã hạ đẳng của vương thất đúng một thân xe.
Uy Vương và hết thảy triều thần kinh ngạc đến trợn trừng mắt mũi, dù là mã sư Tôn Duyệt cũng ngây ra không hiểu tại sao.
Trâu Kỵ lại nở một nụ cười hiểm độc, sai binh sĩ khiêng nghìn đĩnh vàng của Uy Vương tới bên Điền Kỵ.
Toàn bộ trường đấu như thể vỡ tung, một số kẻ đã dốc hết gia sản đặt cược vào vương mã bất chấp thể diện, gào khóc om sòm trên khán đài. Gần như không một ai chúc mừng Điền Kỵ, bởi lẽ không có ai mong muốn Điền Kỵ thủ thắng, cũng không có ai lường trước được kết cục này.
Còn Điền Kỵ, lại không dương dương tự đắc đi vòng quanh trường đua “chia vui” giống như khi thua cuộc hôm trước, mà ngược lại, trên nét mặt không lộ mảy may phấn khởi. Đợi đến khi người xem đã tản đi hết, Trâu Kỵ mới đủng đỉnh bước tới trước mặt Uy Vương, đang định khởi tấu, thì Điền Kỵ đã quỳ xuống trước một bước, khấu đầu dõng dạc hô lên: “Thần Điền Kỵ có tấu!”
“Điền ái khanh!” Uy Vương tuy bại, song rất vui mừng, cười không khép nổi miệng. “Tấu thì cứ tấu, ái khanh lại quỳ xuống dập đầu như thế là vì cớ gì?”
“Thần thỉnh tội chết!”
“Ha ha ha ha!” Uy Vương bật cười vang. “Ái khanh hãy bình thân, quả nhân biết tội của khanh rồi, chỉ là một cuộc thắng thua mà thôi, ở đâu mà ra tội chết?”
“Thần có tội khi quân!”
“Tội khi quân?” Uy Vương thoáng sững sờ. “Hãy nói cho quả nhân nghe thử!”
“Hồi bẩm đại vương!” Điền Kỵ nói. “Cuộc đua lần này, sở dĩ thần giành chiến thắng, là vì đã dùng mưu kế!”
“Quả nhân đã nói rồi mà!” Uy Vương vuốt râu, kéo dài giọng. “Với mấy con ngựa trong tàu của ái khanh, sao có thể thắng được ngựa của quả nhân? Nói thử xem, khanh đã dùng mưu kế gì?”
“Thần dùng tứ mã hạ đẳng đua với tứ mã thượng đẳng của vương thất, dùng tứ mã thượng đẳng đua với tứ mã trung đẳng, tứ mã trung đẳng đua với tứ mã hạ đẳng, bỏ một lấy hai, nên đã chiến thắng.”
“Ồ!” Uy Vương khép mắt một lát, gật gù vài cái, lại vuốt râu. “Kế hay, kế hay, quả nhân thực lòng khâm phục! Xin hỏi ái khanh, kế này hẳn là của cao nhân?”
“Thần thỉnh cầu đại vương hãy cho tả hữu lui ra!”
Sau khi mọi người đã lui ra hết, Điền Kỵ tiến lại gần, ghé sát tai Uy Vương thì thầm vài câu. Uy Vương bàng hoàng chấn động, lẩm bẩm một mình: “Than ôi, thực không ngờ, quả nhân lại cứ ngỡ rằng người khuấy đảo phía sau là Tô Tử kia.” Im lặng một lát, lại nói với Điền Kỵ. “Điền ái khanh, hãy mời Tôn tiên sinh tới Tuyết cung yết kiến, quả nhân xin bày tiệc cung kính chờ đợi!” Rồi quay sang Trâu Kỵ. “Trâu ái khanh, theo quả nhân hồi cung, gặp gỡ một cao nhân!”
Khi Điền Kỵ đẩy xe lăn của Tôn Tẫn về phía Tuyết cung, Uy Vương đã cung kính chờ sẵn ngoài cửa, thái tử Tích Cương, Trâu Kỵ mỗi người đứng một bên, rất mực nghiêm trang.
Tôn Tẫn đang định xuống xe bái kiến, Uy Vương đã bước lại, ấn Tôn Tẫn ngồi xuống, đón lấy chiếc xe từ tay Điền Kỵ, với sự trợ giúp của Điền Kỵ, thái tử và Trâu Kỵ, chiếc xe được khiêng lên chín bậc thang trước chính điện, rồi được đích thân Uy Vương đẩy vào bên trong.
Vừa vào trong điện, bánh xe còn chưa kịp dừng hẳn, Tôn Tẫn đã dùng hai cánh tay rắn chắc bật người lên khỏi xe, trượt xuống dưới đất, dập đầu bái lạy, động tác dứt khoát, tốc độ mau lẹ, khiến hết thảy những người có mặt không ai không sững sờ kinh ngạc.
Do đã bị đục mất đầu gối, Tôn Tẫn không thể quỳ được, chỉ có thể ngồi trên đất, phủ phục người bái lạy.
Không đợi Tôn Tẫn dập đầu xong, Uy Vương đã kịp định thần, ra hiệu cho Tích Cương, đoạn hai người đỡ lấy Tôn Tẫn, dìu tới vị trí khách ngồi xuống, rồi quay trở về chỗ của mình. Những người khác cũng lần lượt ngồi vào chỗ theo đúng cấp bậc.
“Không giấu tiên sinh,” Uy Vương nhìn Tôn Tẫn hồi lâu, bất giác than thở, “hay tin tiên sinh bị Bàng Quyên hãm hại, quả nhân mấy đêm liền không chợp nổi mắt, không dưới một lần bàn với Trâu tướng quốc giải cứu tiên sinh, song sợ cứu không được, lại thành làm hại tiên sinh. Sau lại hay tin tiên sinh không biết đã đi đâu, nhiều lần cho người dò la, song vẫn bặt vô âm tín, người thì nói nhảy sông tự vẫn, người thì nói được người Tần cướp đi, người thì nói bị Bàng Quyên ngấm ngầm hãm hại, dù là kết cục nào cũng khiến quả nhân trong lòng đau xót. Thực không thể ngờ rằng, tiên sinh lại ẩn tàng ngay trước mắt quả nhân mà thần không biết quỷ chẳng hay, lại đợi đến thời khắc hệ trọng này mới xuất đầu lộ diện, thực là ông trời đã phù hộ cho đất nước giáp biển của quả nhân!” Nói đoạn, mừng rơi nước mắt, nâng vạt áo lên thấm lệ.
“Đại vương!” Tôn Tẫn cũng mừng mừng tủi tủi, nghẹn ngào mà rằng. “Tẫn có tài đức gì đâu, mà lại được đại vương sủng ái nhường này, đúng là đã khiến đại vương phải hao tâm tổn thần vì một kẻ tàn phế!”
“Có được tiên sinh, còn hơn mười vạn hùng binh!” Uy Vương khen ngợi một câu, rồi nhìn sang quần thần. “Không giấu chư vị, chuyện khác không nói, riêng chuyện tiên sinh có mặt trong hội đua ngựa lần này, dạy Điền tướng quân kế trộm xà đổi cột, khiến quả nhân thất bại trên trường đua, đã là lập công lớn với Đại Tề ta!”
Uy Vương tuyên bố như vậy, đừng nói là Trâu Kỵ, Điền Kỵ, dù là Tích Cương đã biết rõ nguyên do cũng cảm thấy ngỡ ngàng.
Uy Vương phá lên cười lớn: “Công đức nhường này, có lẽ chỉ tiên sinh mới hiểu.” Rồi quay sang Tôn Tẫn, chỉ vào quần thần. “Tôn tiên sinh, chư vị đây đều là tâm phúc của quả nhân, trụ cột của nước Tề, xin hãy giúp quả nhân giải thích cho sáng tỏ!”
Tôn Tẫn vòng tay vái liên hồi, giọng nói nghẹn ngào: “Thảo dân xúi giục thượng tướng quân mắc tội khi quân, đã gây ra tội chết, đại vương không những không trách phạt, trái lại còn cho là công lao, thực là thánh minh rất mực!”
“Ha ha ha, Tôn tiên sinh chớ nên quá khen, hãy nói về cái lợi khi quả nhân thua cuộc!”
“Chư vị đại nhân!” Tôn Tẫn lần lượt vòng tay với ba người, rồi nói. “Tuy Tẫn ngu dốt, song cũng không dám khi quân phạm thượng. Sở dĩ Tẫn hiến kế trộm xà đổi cột cho Điền tướng quân, là vì Tẫn biết đại vương tổ chức hội đua ngựa lần này, không muốn thắng ít, mà muốn thắng lớn!”
“Thế nào là thắng ít?” Điền Kỵ vội hỏi.
“Thắng thêm thượng tướng quân một lần nữa!”
“Thế còn thắng lớn?”
“Thua thượng tướng quân!”
“Ồ…” Điền Kỵ ngơ ngác, đưa mắt nhìn sang Trâu Kỵ, thái tử, rồi dừng lại trên người Uy Vương. “Đại vương, có đúng thế chăng?”
“Ha ha ha!” Uy Vương cười vang. “Tiên sinh nói chí phải, nếu quả nhân thắng thượng tướng quân, chỉ được ba nghìn đĩnh vàng, còn nếu thua thượng tướng quân, lại được ba vạn đĩnh vàng. Thượng tướng quân thử tính xem, ba nghìn đĩnh nhiều hơn, hay ba vạn đĩnh nhiều hơn?”
Lúc này, nghĩ tới chuyện người trong cả nước đều điên cuồng đặt cược vào vương mã, song vương mã lại bất ngờ thua ngựa Điền phủ, tiền đặt cược đều thuộc về nhà cái, người cai quản nhà cái lại là đại vương, triều thần lúc này mới vỡ lẽ, tấm tắc thán phục.
“Không giấu chư vị,” Uy Vương nhìn sang Điền Kỵ, “khi cuộc đua hôm đó kết thúc, quả nhân vốn dĩ cho rằng vạn sự đã viên mãn, nào ngờ Điền ái khanh không phục, ngay trên trường đua khẩn cầu tái đấu, thực khiến quả nhân vừa mừng vừa lo, cả đêm mất ngủ. Mừng vì nhân cơ hội này, quả nhân có thể thu thêm một khoản, còn lo là vì Điền ái khanh không thức thời, nếu lại để thất bại, chẳng phải sẽ làm hỏng mất đại sự của quả nhân?”
“Ồ?” Điền Kỵ ngỡ ngàng. “Nếu thần thua cuộc, đại vương thắng ba nghìn đĩnh, cũng coi như là thắng ít, cớ sao lại nói là làm hỏng đại sự?”
“Quả nhân thắng khanh ba nghìn đĩnh là thực, nhưng số tiền phải trả thưởng cho người đặt cược lại không chỉ có ba nghìn đĩnh!” Uy Vương giải thích, rồi quay sang Trâu Kỵ. “Nói tới chuyện này, quả nhân lại có một thắc mắc, muốn hỏi Trâu ái khanh, sao khanh không đặt cược vào vương mã, mà lại đặt cược vào thượng tướng quân?”
“Hồi bẩm đại vương!” Trâu Kỵ đảo con ngươi một vòng, cười mà đáp. “Thần thoạt tiên cũng lấy làm khó hiểu, suy nghĩ suốt một đêm ròng, mới ngộ ra đạo lý đại vương nên thua không nên thắng, do đó đã đặt cược vào thượng tướng quân.”
“Chậc chậc chậc!” Uy Vương tấm tắc khen ngợi, rồi lại lắc đầu than thở. “Ái khanh, lần này khanh đặt cược được phát tài, nhưng quả nhân lại mất trắng ba nghìn đĩnh!”
Quần thần đều cười rộ lên.
“Chư vị ái khanh!” Uy Vương bình tâm tĩnh khí, sắc mặt nghiêm trang. “Các khanh nói thử xem, trong đất nước giáp biển này, tất cả đều là của quả nhân, về lý mà nói, quả nhân chẳng thiếu thứ gì, thế nhưng giờ đây lại khẩn thiết sốt sắng, dốc hết tâm cơ, nát óc tính toán để gom góp tiền của, là cớ làm sao?”
Nghe thấy câu hỏi này, quần thần đều sững sờ, chỉ biết đưa mắt nhìn nhau.
“Xem ra,” Uy Vương nhìn sang Tôn Tẫn, “ở đây duy chỉ có tiên sinh trả lời được câu hỏi này, hãy nói cho chư vị nghe thử.”
“Thảo dân không dám đoán bừa ý bề trên.” Tôn Tẫn thấy quần thần đều đổ dồn ánh mắt về phía mình, thì vòng tay đáp lời. “Theo thiển ý của thảo dân, đại vương tích trữ tiền của, là để chuẩn bị cho chiến tranh, quyết chiến một trận với người Ngụy!”
Lời Tôn Tẫn vừa thốt ra, quần thần thoạt tiên chấn động, tiếp đó đưa mắt nhìn nhau.
“Thần có tấu!” Biết được Uy Vương khổ công tích luỹ tiền của để quyết chiến với Ngụy, Điền Kỵ phản ứng đầu tiên, tâm tư kích động muôn phần, phủ phục dưới đất mà nói. “Ý thần đã quyết, một nghìn đĩnh vàng có được hôm nay, cộng thêm một nghìn đĩnh vàng thắng cược, toàn bộ quyên vào quốc khố, dốc sức phạt Ngụy.”
“Thần cũng có tấu!” Điền Kỵ còn chưa dứt lời, Trâu Kỵ đã đứng dậy, dập đầu mà nói. “Ba nghìn đĩnh vàng thắng được hôm nay, cộng thêm ba trăm đĩnh đặt cược, đều xin quyên vào quốc khố, quyết chiến với Ngụy!”
“Ái khanh, tốt quá, tốt quá!” Uy Vương phấn khích không để đâu cho hết, tươi cười hớn hở, vòng tay lia lịa, quay sang nội tể. “Đã đến giờ rồi, thắp đèn lên, vì Tôn tiên sinh, vì chư vị ái khanh, bày tiệc!”
Đèn đuốc sáng trưng, chuông khánh vang rền, sáo đàn réo rắt, lời ca dìu dặt, tay áo dài múa lượn thướt tha. Một toán cung nhân hơn hai chục người nối đuôi nhau dâng thức ăn lên, rượu quý đồ ngon bày la liệt đầy bàn, quân thần nâng chén chuyện trò rôm rả. Rượu được vài tuần, được Uy Vương đề nghị, Điền Kỵ liền kể lại chuyện Tô Tần, Thuần Vu Khôn giải cứu Tôn Tẫn năm xưa, căng thẳng cam go, hồi hộp sống động, khiến người nghe xuýt xoa thán phục không ngơi miệng.
Tiệc vui đã tàn, đêm cũng về khuya, Uy Vương vẫn chưa hết hưng phấn, hạ lệnh giải tán đội nhạc, tống tiễn quần thần, chỉ giữ lại Tôn Tẫn trong cung, đẩy xe lăn ra hậu hoa viên, cùng Tôn Tẫn ngắm trăng trò chuyện.
“Quả nhân bất tài,” Uy Vương nhìn thẳng vào Tôn Tẫn, không thể kiên nhẫn được hơn, lập tức đi thẳng vào chuyện chính, “muốn thỉnh giáo tiên sinh việc binh, cung thỉnh tiên sinh chỉ giáo!”
“Chỉ giáo thì không dám!” Tôn Tẫn vòng tay đáp. “Nhưng nếu bàn về việc binh, thảo dân có vài điều muốn nói.”
“Xin cung kính lắng nghe!”
“Tiên tổ Tôn Vũ Tử có nói,” Tôn Tẫn dõng dạc cất lời, “việc binh, là đại sự của quốc gia, liên quan đến chuyện sống chết của quân dân, chuyện mất còn của đất nước, không thể không suy xét cho tường tận.”
“Chính phải! Chính phải!” Uy Vương nôn nóng đáp lời. “Suy xét thế nào, xin tiên sinh hãy chỉ giáo quả nhân!”
“Đạo dụng binh, không có nguyên lý bất di bất dịch. Đánh mà thắng, có thể cứu được đất nước lâm nguy mà tiếp nối được dòng họ đã tuyệt. Đánh mà không thắng, nhẹ thì cắt đất cắt thành, nặng thì nguy đến tông miếu xã tắc. Bởi vậy không thể không suy xét. Từ cổ chí kim, kẻ thích dụng binh đều tiêu vong, kẻ tham lợi mà gây chiến đều chuốc nhục. Cớ sao lại như vậy? Nguyên nhân chỉ có một, chính là dụng binh không phải chuyện vui mừng, chiến tranh không phải để thu lợi.”
“Dám hỏi tiên sinh,” Uy Vương hít ngược một hơi, nhổm người về phía trước hỏi, “dụng binh đã không phải chuyện vui mừng, chiến tranh đã không phải để thu lợi, vậy người làm tướng phải làm thế nào để chiến thắng?”
“Người không thích dụng binh, chắc chắn không tuỳ tiện gây chiến, ắt sẽ chuẩn kỹ càng mới giao chiến. Chuẩn bị kỹ càng rồi mới giao chiến, thành tuy nhỏ song giữ được lâu. Người không vì lợi mà gây chiến, chắc chắn không tham tiền tiếc đất, ắt sẽ vì nghĩa mà giao chiến. Vì nghĩa mà giao chiến, quân tuy ít song sức chiến đấu mạnh mẽ. Giữ mà không chuẩn bị, gây chiến mà không vì nghĩa, người làm tướng như thế mà muốn giành thắng lợi, đúng là vọng tưởng!”
“Tiên sinh dạy chí phải!” Uy Vương gật gù. “Lại hỏi tiên sinh, chuẩn bị kỹ càng mới giao chiến, vì nghĩa mà hưng binh, có thể đảm bảo không thất bại chăng?”
“Không thể!”
“Vậy… làm thế nào mới giành được chiến thắng?”
“Về đạo chiến thắng, tiên tổ Tôn Vũ Tử sớm đã tổng kết rằng: biết trước được nên đánh hay không nên đánh sẽ thắng; biết sử dụng chiến lược dựa trên binh lực nhiều hay ít sẽ thắng; trên dưới đồng lòng sẽ thắng; dùng quân có chuẩn bị đánh lại quân không có chuẩn bị sẽ thắng; tướng tài năng mà không bị vua chế ngự sẽ thắng.”
“Tướng tài năng không bị vua chế ngự?” Uy Vương lặp lại câu cuối cùng, từ từ khép mắt, rồi lại gật đầu. “Tôn Vũ Tử dụng binh, đã đạt đến độ xuất thần nhập hoá!” Rồi nhón lấy hạt khô trên đĩa, chậm rãi bóc vỏ từng hạt một, vừa bóc vừa hỏi. “Quả nhân muốn hỏi chuyện cụ thể, nếu hai quân đối đầu, cờ xí tương đương, tướng soái ngang ngửa, thế trận đều kiên cố, ai cũng không dám manh động, nên làm thế nào mới phải?”
“Có thể cử một viên dũng tướng, dẫn khinh binh tinh nhuệ xuất kỳ tập kích vào bên sườn trận địa của kẻ địch, không tính thắng thua, chỉ thăm dò thực hư, quan sát cách ứng phó, tuỳ cơ mà hành động, hoặc giả sẽ tìm ra cơ hội chiến đấu mà giành đại thắng.”
“Dụng binh ít nhiều, hẳn có nguyên lý?”
“Phải!”
“Ta mạnh địch yếu, ta đông địch ít, nên làm thế nào?”
Nghe hỏi vậy, Tôn Tẫn chống hai tay trên đất, rời khỏi chỗ ngồi, tiến tới trước mặt Uy Vương, phủ phục sát đất, lại hành đại lễ.
Uy Vương thoáng sững sờ: “Quả nhân chỉ là hỏi một câu, cớ sao tiên sinh lại hành đại lễ?”
Tôn Tẫn ngồi thẳng dậy, vòng tay nói: “Ta đông địch ít, ta mạnh địch yếu, mà đại vương vẫn hỏi câu này, thực xứng là minh quân!”
“Minh quân thì không dám!” Nhận được lời khen, Uy Vương trong lòng sung sướng, vòng tay tươi cười mà nói. “Là tiên sinh vừa rồi đã dạy quả nhân! Nếu dụng binh đã liên quan tới chuyện sinh tử mất còn, quả nhân sao có thể không thận trọng? Còn mong tiên sinh chỉ giáo đạo giành chiến thắng!”
“Ta mạnh địch yếu, ta đông địch ít, có thể dùng kế dụ địch, tức là thuận theo suy nghĩ của kẻ địch, cố tình khiến phe ta cờ quạt hỗn loạn, đội hình phân tán, khiến kẻ địch lơ là mất cảnh giác, chuyển cố thủ sang tấn công, quyết chiến với ta.”
“Địch đông ta ít, địch mạnh ta yếu, lại làm thế nào?”
“Có thể dùng kế thoái lui, tức là tránh né mũi nhọn, toàn quân lui về. Trong lúc rút lui, cần chuẩn bị tốt lực lượng bảo vệ phía sau, đều mang binh khí sắc dài, kết hợp với cung nỏ, đảm bảo đội ngũ rút lui tuần tự, an toàn. Khi rút lui tới địa thế thuận lợi, ta có thể dựa vào chỗ hiểm trở mà phòng ngự, khiến kẻ địch đánh lâu mệt mỏi, từ đó chờ cơ hội phản kích.”
“Thế lực tương đương thì sao?”
“Dùng kế nghi binh mê hoặc quân địch, phân tán binh lực địch, rồi nhanh chóng chớp thời cơ chiến đấu, đột kích thành công. Nếu kẻ địch không bị mắc lừa, không thể phân tán, ta nên án binh bất động, tiếp tục chờ đợi thời cơ. Nếu kẻ địch cũng dùng kế nghi binh, tuyệt đối không thể đánh.”
“Lấy một đấu mười, hẳn có diệu kế?”
“Xuất kích khi đối phương không đề phòng, tấn công khi đối phương không phòng bị.”
“Địa lợi như nhau, chiến lực tương đương, giao chiến lại bại, là như thế nào?”
“Trận thế không có mũi nhọn.”
“Hẳn có cách khiến ba quân tướng sĩ lúc nào cũng phục tùng hiệu lệnh?”
“Có uy lại có tín, chỉ huy nhất quán.”
“Sách lược của tiên sinh quả thực tuyệt diệu!” Uy Vương nghe mà hưng phấn, thật lòng khen ngợi. “Binh thế khôn cùng, tất cả đều ở trong lòng tiên sinh!” Rồi nhổm người về phía trước, nắm chặt lấy tay Tôn Tẫn, hai mắt sáng rực, thần khí bừng bừng, nhìn xoáy tới. “Nhân Tề còn muốn hỏi một câu, mong tiên sinh trả lời thành thực.”
“Đại vương cứ hỏi, thảo dân nếu biết sẽ không giấu!”
“Nếu khai chiến với Ngụy, ta có thể thắng?”
“Có!”
“Được mấy phần thắng?”
“Sáu phần!”
“Nghe nói Bàng Quyên trị binh nghiêm cẩn, võ binh Đại Ngụy kiên cố như sơn, không dễ lay chuyển, tiên sinh dựa vào đâu mà cho là thắng?”
“Ngựa!”
“Ngựa?” Uy Vương giật nảy trong lòng, đột nhiên bừng tỏ, nhìn vào Tôn Tẫn, ánh mắt tràn đầy cảm kích. “Quả nhân biết, ba năm trước, Điền ái khanh tấu thỉnh tổ chức hội đua ngựa, nếu quả nhân đoán không sai, hẳn là do tiên sinh hiến kế!”
“Chính phải!”
“Nói như vậy, cuộc chiến với Bàng Quyên, tiên sinh sớm đã có dự tính!” Uy Vương hai tay bưng đĩa hạt khô đã bóc hết vỏ lại trước bàn Tôn Tẫn. “Chỗ hạt khô này, tỏ chút lòng thành, mời tiên sinh thưởng thức!”
“Tạ ơn đại vương!” Tôn Tẫn vòng tay cảm tạ, cẩn thận bỏ toàn bộ vào trong ống tay áo.
“Vì sao tiên sinh không ăn?” Uy Vương ngạc nhiên hỏi.
“Hạt do đích thân thánh quân bóc, thảo dân không dám hưởng thụ một mình, muốn mang về hàn xá, cùng chung hưởng với thê tử!”
Nghe nói tới hàn xá và thê tử, Uy Vương hiểu ý, khẽ thở dài một tiếng, rồi sai nội tể: “Đêm đã khuya rồi, hãy hộ tống tiên sinh hồi phủ. Vào giờ Thân ngày mai, mời chư thần cấp trung đại phu trở lên tới Tuyết cung, mưu bàn chuyện Hàm Đan!” Rồi quay sang Tôn Tẫn, vòng tay. “Cũng mời tiên sinh ngày mai lại tới.”
“Thảo dân có tấu!”
“Ồ?”
“Buổi triều ngày mai, liệu thảo dân có thể không đến?”
“Ồ…” Uy Vương vội nói. “Quả nhân dốc sức trị nước suốt chín năm qua, chỉ là để quyết chiến một trận với Ngụy, song vẫn còn kiêng dè Bàng Quyên. Nay có tiên sinh, quả nhân không còn lo sợ nữa. Ngày mai quả nhân sẽ tế lễ cáo bày lên tiên tổ, bái tiên sinh làm tướng, dẫn quân cứu Triệu phạt Ngụy, tiên sinh không tới, sao có thể được?”
“Tạ ơn đại vương hậu ái!” Tôn Tẫn dập đầu bái tạ. “Người bị hành hình, không thể làm tướng!”
“Tiên sinh không chịu làm tướng, vậy ai có thể địch nổi Bàng Quyên?”
“Điền tướng quân. Thảo dân chỉ xin làm thuộc hạ, bày mưu tính kế giúp tướng quân.”
“Thuộc hạ thì không được!” Uy Vương trầm ngâm một lát, không đồng ý. “Tiên sinh xem thế này có được chăng? Quả nhân bái Điền Kỵ làm tướng, tiên sinh làm quân sư, tất cả mọi việc trong tam quân, đều tuân theo mệnh lệnh của tiên sinh!”
“Tạ ơn đại vương hậu ái!” Tôn Tẫn vòng tay cảm tạ. “Thần còn có một thỉnh cầu.”
“Cứ nói!”
“Thần cho rằng về việc quân sư, tạm thời chưa vội công khai, tránh gây rắc rối!”
“Xin nghe theo tiên sinh!”
Trâu Kỵ mặt ủ mày chau trở về phủ tướng, ngồi trong gian phòng yên tĩnh mà không thể bình tâm, càng nghĩ càng bực bội.
Trâu Kỵ không tham tiền tài, ông ta bực bội không phải vì trong nháy mắt mất đi ba nghìn ba trăm đĩnh vàng, mà là vì Điền Kỵ. Hễ nghĩ tới ân oán suốt mấy năm qua với Điền Kỵ, đặc biệt là chuyện Điền Kỵ khăng khăng thúc ép tổ chức hội đua ngựa ba năm về trước, Trâu Kỵ lại tức anh ách như có tảng đá đè trên ngực. Là một tôi hiền, Trâu Kỵ không có ân oán cá nhân nào với Điền Kỵ, chỉ là ghét cay ghét đắng bộ dạng diễu võ dương oai, động chút là dâng tấu đòi chinh phạt của Điền Kỵ. Trận chiến Hoàng Trì, Điền Kỵ phải chịu mối sỉ nhục tày đình, sau khi về nước, ỉu xìu như tàu lá chuối, náu mình nơi thôn dã trồng trọt cấy cày, Trâu Kỵ tuy không để lộ ra mặt, song trong lòng hết sức hả hê. Song ngày vui ngắn chẳng tày gang, thanh thản chưa nổi vài năm, đại quân của Việt Vương Vô Cương đã uy hiếp biên cương, Điền Kỵ vì thế lại được trọng dụng, sau đó tiếp tục giao chiến với người Yên, liên tiếp chiếm được mười thành, tinh thần hừng hực cứ như thể uống tiết gà, hễ mở miệng là sặc mùi máu tanh.
Là quan văn, Trâu Kỵ ngửi không quen, cũng không muốn ngửi mùi máu tanh. Ông ta tài hoa xuất chúng, song chí lại không lớn, chỉ muốn bình lặng làm một tôi hiền trong đời thịnh thế tại đất nước quay lưng ra biển này, giúp chúa thượng kê cao gối ngủ, giúp kẻ sĩ thoả chí bình sinh, giúp dân chúng an cư lạc nghiệp, đã mãn nguyện lắm rồi. Đồng liêu trong ngoài triều, gồm cả thượng đại phu Điền Anh và các học tử trong Tắc Hạ học cung, đa phần đều nghe theo ông ta, duy có Điền Kỵ luôn chống đối, không muốn nước Tề được hưởng một ngày thái bình, mà chỉ thích thiên hạ rối tinh rối mù mới vừa ý của họ Điền kia.
Đương nhiên, những bất đồng này vẫn chỉ là bề ngoài, là những điều hai bên thường xuyên lôi ra để bắt bẻ đối phương. Còn sâu xa hơn, cái mà hai bên tranh chấp, kỳ thực chính là địa vị trong cục thế triều đình. Điền Kỵ xuất thân vương tộc, từ nhỏ đã đọc binh pháp, rất được Uy Vương tín nhiệm, tới tuổi đội mũ đã cai quản lính cung vệ, tới tuổi ba mươi thống lĩnh quân đội năm đô, lần lượt chinh phạt các nước Sở, Triệu, Yên, Tống, Lỗ, đánh đâu thắng đó, được liệt vào hàng ngũ danh tướng trí dũng song toàn của liệt quốc, chiếm vị trí tôn quý trong tam quân nước Tề. Còn Trâu Kỵ lại xuất thân bần hàn, nhờ tài năng mới được nhập cung, gảy đàn ẩn dụ chính sự mà được Uy Vương trọng dụng, cất nhắc làm tướng quốc, cần cù phụ chính mười năm, khiến Tề đại trị, kho lẫm dư dật, dân chúng văn minh, của rơi ngoài đường không ai nhặt, đêm ngủ không cần khoá cửa, sau này còn ra sức khuyên Uy Vương mở rộng Tắc Hạ học cung do tiên quân sáng lập, xây dựng vạn gian nhà ở, che chở cho sĩ tử nghèo liệt quốc, được cả thiên hạ ca tụng, nổi tiếng là tướng hiền bậc nhất. Thoạt đầu, Trâu Kỵ không mâu thuẫn với Điền Kỵ, song do quyền cao chức trọng, Trâu môn thành ra cao quý, hàn sĩ tìm đến Trâu môn ngày càng đông, những nhân tài được Trâu Kỵ tiến cử làm quan mau chóng hình thành nên thế lực văn trị trong triều, khó lòng không xảy ra xung đột với phe thượng võ do Điền Kỵ cầm đầu. Hai bên mỗi bên một ý, khẩu chiến liên hồi, ngày tháng lâu dần, thành ra không bên nào chịu nhường bên nào.
Đang ngồi buồn bã thì quản gia gõ cửa, bẩm báo Công Tôn Hãn cầu kiến, hình như là có chuyện. Trâu Kỵ ngạc nhiên, bèn lấy lại tinh thần, bước ra khỏi tĩnh phòng, tới gian phòng khách bên ngoài.
“Công Tôn Hãn chúc mừng chúa công!” Vừa nhìn thấy Trâu Kỵ, Công Tôn Hãn đã vòng tay chúc tụng.
“Chuyện mừng ở đâu ra?” Trâu Kỵ nhất thời ngơ ngác.
“Ba nghìn đĩnh vàng!” Công Tôn Hãn vui vẻ nói. “Nhà nông mười mẫu ruộng, năm mẫu dâu, thức khuya dậy sớm, làm lụng mệt bở hơi tai, một năm cũng khó lòng thu được một đĩnh, chúa công chớp mắt một cái, giơ tay ra đã có ngay ba nghìn đĩnh, há chẳng phải chuyện mừng ư? Hãn mạo muội tới đây, một là muốn được chia vui, hai là muốn được uống rượu mừng, ba là muốn được khen thưởng!”
“Bày rượu!” Trâu Kỵ căn dặn quản gia, rồi quay sang Công Tôn Hãn, chỉ vào vị trí khách, cung kính nói. “Tiên sinh, mời!”
Hai người ngồi xuống, Trâu Kỵ nhìn thẳng vào Công Tôn Hãn nói: “Tiên sinh tới đây, rượu có thể uống, song không phải là để mừng!”
“Ồ?”
“Không giấu tiên sinh,” Trâu Kỵ cười nói, “tuy được ba nghìn đĩnh vàng, song giờ đã không còn thuộc về lão hủ nữa rồi. Một canh giờ trước, lão hủ đã quyên toàn bộ cho quốc khố, dùng vào việc phạt Ngụy!”
Hiển nhiên, Công Tôn Hãn không lường trước được diễn biến này, sững sờ mất một hồi mới định thần, lại vòng tay chúc mừng: “Chúa công khí tiết cao thượng, vì nước quên nhà, làm gương cho dân chúng năm đô, ắt được trời cao phù hộ, Hãn xin được chúc mừng chúa công!”
“Than ôi!” Trâu Kỵ cười gượng một tiếng, xua tay thở dài thườn thượt. “Cái gì mà vì nước quên nhà, rõ ràng chỉ là ném lia thia mặt nước mà thôi!”
“Chúa công?”
“Được rồi, không nói chuyện này nữa!” Trâu Kỵ dừng lại một lát, rồi nhìn hắn mà nói. “Tiên sinh tới thật đúng lúc, lão hủ đang có đại sự cần bàn với tiên sinh.”
“Chúa công cứ nói, Hãn xin lắng nghe!”
Trâu Kỵ kể vắn tắt một lượt sự việc trong cung, lại thở dài một tiếng: “Than ôi, không giấu tiên sinh, đúng là nuôi cò cò mổ mắt, toàn bộ sự việc, ngay từ đầu lão hủ đã nhìn lầm rồi. Ba năm trước, Điền Kỵ tấu thỉnh tổ chức hội đua ngựa, đại vương chuẩn tấu, lão hủ biết đại vương mê ngựa, nên cũng không nghĩ ngợi gì nhiều. Hội đua ngựa năm nay, đại vương tăng tiền đặt cược, lão hủ ngẫm nghĩ, cho rằng vương thất muốn dựa vào đó để gom góp tiền tài, thật không ngờ, lại là gom góp tiền tài chuẩn bị phạt Ngụy. Xem ra, đại vương vẫn không lúc nào quên mối nhục Hoàng Trì!”
“Đúng vậy!” Công Tôn Hãn thuận miệng hùa theo một câu, rồi nhổm người về phía trước hỏi. “Dám hỏi chúa công, đại vương phạt Ngụy rửa nhục, kìm hãm thế Ngụy, là chuyện hay, chúa công không vui lại còn bực bội, hẳn là vì Điền Kỵ tướng quân đắc chí?”
“Không phải!” Trâu Kỵ lắc đầu. “Nếu chỉ vì Điền Kỵ đắc chí hay không, thì tiên sinh đã coi thường lão hủ rồi. Sở dĩ lão hủ không vui, là vì một chuyện, hiện tại phạt Ngụy, bất lợi cho đất nước, e là không phải chuyện tốt lành.”
“Chúa công dựa vào đâu mà nói vậy?”
“Theo suy đoán của lão hủ, khai chiến với Ngụy có ba điều không thoả đáng. Thứ nhất, võ binh Ngụy dũng mãnh, lại được Bàng Quyên huấn luyện cả năm trời, kinh qua nhiều trận chiến, đã tôi luyện nên lòng quả cảm, coi chém giết chốn sa trường là vinh dự. Ngược lại nhìn quân Tề mà xem, ăn sung mặc sướng tạm không tính đến, giờ lại phân thành năm đô, tản mát đã quen, e là không chiến đấu nổi. Thứ hai, hễ xảy ra chinh chiến, binh sĩ tất tử thương, nguyên khí tất hao tổn, lương thảo tích trữ tất cạn kiệt, kẻ địch bên ngoài tất sẽ lợi dụng cơ hội này. Nếu người Sở tranh Tứ Hạ của ta, người Yên tranh Hà Gián của ta, thì ta nên ứng phó thế nào? Thứ ba, kẻ hiếu võ đắc chí, ắt sẽ mở mang quân đội đấu đá với bên ngoài, gây bất lợi cho nội trị. Đất nước nội bộ không bình trị, ắt tiêu vong trong sớm tối!”
“Chúa công đã có ba mối lo, cớ sao không khuyên can trực tiếp với đại vương?”
“Khuyên can thế nào đây?” Trâu Kỵ lắc đầu. “Muốn khuyên đại vương, lão hủ cần phải nhìn khí, xem thế của đại vương. Hôm nay quan sát thấy, đại vương một lòng một ý, quyết tâm báo thù, Điền Kỵ khí thế hừng hực, quyết chí rửa nhục. Hàm Đan bị bao vây, tung hoành cùng quyết chiến, Tô Tần báo nguy, quân tình khẩn cấp, đã không thể trì hoãn nữa rồi. Trận chiến Tề, Ngụy lần này, không thể tránh khỏi, lão hủ chẳng còn cách nào khác, đành quyên tiền hưởng ứng, thuận theo ý đại vương!”
Công Tôn Hãn chìm vào suy nghĩ.
“Công Tôn tiên sinh!” Trâu Kỵ đưa mắt nhìn thẳng vào hắn. “Xem tiên sinh mưu sự vô cùng cơ trí, lão hủ cũng không muốn giấu. Lần trước Tô Tần cầu viện binh, đại vương lên triều bàn bạc có nên cứu viện hay không, Điền Kỵ và lão hủ mỗi người một phách, Điền Kỵ chủ trương xuất binh, lão hủ đề xuất ngồi yên quan sát, triều thần cũng không thống nhất, đại vương vì vậy mà gác lại tranh luận. Nào ngờ lão hủ lại hiểu lầm ý của đại vương, gây ra tình cảnh khó xử hiện tại, rất mong tiên sinh chỉ giáo!”
“Chúa công khách khí rồi!” Công Tôn Hãn vòng tay đáp lời. “Dốc sức vì chúa công, là bổn phận của bề dưới. Hãn cho rằng, trong tình thế hiện tại, chúa công không hề khó xử, mà ngược lại tiến có thể đánh, lùi có thể phòng!”
“Ồ?” Trâu Kỵ nhổm người về phía trước.
“Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ, trong vòng ba ngày nữa, đại vương chắc chắn sẽ lại bàn chuyện cứu Triệu, chúa công có thể chủ trương xuất binh, hơn nữa dốc sức tiến cử Điền Kỵ làm tướng. Điền Kỵ làm tướng, nếu chiến thắng, chúa công sẽ có công tiến cử; nếu không chiến thắng, Điền Kỵ chỉ có thể đối diện với hai kết cục, một là tử chiến nơi sa trường, hai là quỳ gối trước điện chịu phạt. Bất luận là kết cục nào, chúa công đều là người chiến thắng. Còn những chuyện như binh lính tử thương, quốc khố cạn kiệt, vốn là thứ của đại vương, là chuyện của đại vương, chúa công hà tất phải băn khoăn trăn trở. Hơn nữa, chúa công đã từng lên tiếng khuyên can rồi.”
Trâu Kỵ trầm ngâm hồi lâu, vòng tay mà rằng: “Đa tạ tiên sinh chỉ giáo. Từ hôm nay trở đi, tiên sinh hãy ở bên lão hủ, theo hầu sớm chiều.”
“Cảm tạ chúa công yêu mến!” Công Tôn Hãn vòng tay từ chối. “Hãn tuỳ tiện đã quen, không biết theo hầu, e sẽ làm hỏng đại sự của chúa công, mong chúa công thu hồi mệnh lệnh!”
“Ồ…” Trâu Kỵ sững người, hai mắt nhìn thẳng vào Công Tôn Hãn, thấy trong ánh mắt Công Tôn Hãn không chút sợ sệt, cũng không vẻ xu nịnh thì lấy làm kinh ngạc, cảm thấy người này hoàn toàn khác với những môn khách bình thường, hẳn là mang chí lớn, thì thở phào, nở nụ cười mà nói. “Lão hủ hồ đồ mất rồi, Công Tôn tiên sinh là bậc đại tài, đương nhiên phải được trọng dụng. Buổi triều ngày mai, lão hủ lập tức tấu lên đại vương, chiếu mệnh tiên sinh làm ngự sử đại phu của tướng phủ, thế nào?”
“Tạ ơn chúa công hậu ái!” Công Tôn Hãn lại vòng tay cảm tạ. “Hãn tự tại quen rồi, không hiểu lễ nghi, ngự sử đại phu là chức vị quan trọng trong tướng phủ, là mệnh quan của triều đình, Hãn e là không đủ sức gánh vác, lại xin chúa công thu hồi mệnh lệnh!”
“Ồ?” Trâu Kỵ ngỡ ngàng. “Tiên sinh thế này không chịu, thế kia không muốn, vậy lão hủ phải báo đáp thế nào mới phải?”
“Chúa công chỉ cần thưởng cho Hãn một khoảnh chiếu ngồi, ban cho cơm ăn, lại chịu nghe Hãn nói nhảm vài lời, thế là đã đủ lắm rồi!”
Trâu Kỵ đang định than vãn, thấy quản gia dẫn nô bộc bưng rượu thịt vào thì chuyển sang chuyện khác, bảo quản gia cùng ngồi xuống. Chủ tớ ba người vui vẻ nâng chén, tán gẫu tào lao chuyện nhà chuyện nước, mãi tới tận đêm khuya mới giải tán.
Vào giờ Thân ngày hôm sau, toàn bộ triều thần từ cấp trung đại phu trở lên bao gồm cả điện hạ, Trâu Kỵ, Điền Kỵ đều tập hợp ở Tuyết cung. Không phải là buổi triều sớm, cũng không phải là buổi đại triều, Tuyết cung càng không phải là chính cung hay chính điện nước Tề, do vậy lần bái kiến này không phải ăn vận theo nghi lễ, trong điện chỉ kê hai dãy bàn dài, bên trên bày thức uống, hoa quả, quan viên vừa bước chân tới cửa điện đã được nội tể thân cận của Uy Vương đích thân đón vào, phân chia cấp bậc ngồi xuống, được phục vụ trà, quả chu đáo.
Từ giờ Thân, hơn bốn mươi trọng thần văn võ đều đã chực sẵn trong điện, không dám đi lại, cũng không dám cử động, càng không dám to tiếng, người nào người nấy lặng lẽ uống trà, ăn quả tại chỗ. Ăn no lửng bụng quả, uống no căng bụng trà, một số triều thần chịu nhịn hết nổi bắt đầu rậm rịch ra vào, Uy Vương vẫn chưa xuất hiện, cũng không tuyên bố huỷ bỏ buổi yết kiến.
Qua đúng hơn một canh giờ, từ phía cửa bên có tiếng động vọng lại, một lát sau, Uy Vương đĩnh đạc tiến vào, đi về phía chỗ ngồi của quân vương.
Quần thần lật đật đứng dậy rời khỏi vị trí, chỉnh đốn mũ áo chuẩn bị hành đại lễ khấu bái thì Uy Vương giơ tay ngăn lại.
“Chư vị tân khách, chư vị ái khanh!” Uy Vương vươn thẳng người, giọng nói như chuông đồng. “Trước hết Điền Nhân Tề có lời cảm tạ chư vị!” Nói đoạn, hướng về phía quần thần, khom người một vòng.
Quần thần một phen rối loạn, nhất loạt phủ phục xuống đất, chưa kịp nói gì thì giọng Uy Vương đã lại vang lên: “Điền Nhân Tề cảm tạ chư vị, không phải là vì đã để chư vị chờ đợi quá lâu, mà là vì đã thắng tiền chư vị trong hội đua ngựa!”
Đám triều thần ở đây không người nào không đặt cược, không người nào không thua cược, song đều đã chấp nhận thua cuộc, vốn không có ý kiến gì, giờ thấy Uy Vương khơi ra chuyện này, hơn nữa còn ở ngay giữa điện đường, khiến ai nấy đều ngỡ ngàng sửng sốt.
“Thứ nữa,” ánh mắt Uy Vương dừng lại ở Điền Kỵ và Trâu Kỵ, “Điền Nhân Tề xin có lời cảm tạ tướng quốc Trâu Kỵ, thượng tướng quân Điền Kỵ, vì hai người này đã thắng tiền quả nhân!” Lại hướng về Trâu Kỵ, Điền Kỵ vái một vái.
Vẫn là một chữ tiền. Sau giây phút ngỡ ngàng, quần thần cười rộ lên, nhìn vào Trâu Kỵ và Điền Kỵ.
Trâu Kỵ, Điền Kỵ vội vàng đáp lễ.
“Tiếp nữa, Điền Nhân Tề xin cảm tạ tất cả thần dân đã mua ngựa, đặt cược trong hội đua ngựa năm nay, bởi lẽ họ đều đã trợ giúp quả nhân, san sẻ gánh lo với quả nhân, cùng chung mối thù với quả nhân!” Uy Vương lại vòng tay hướng về phía khoảng không.
Uy Vương liền một lúc cảm tạ quần thần những ba lần, ngoài một vài người đã biết nội tình, còn lại đều ngỡ ngàng không hiểu Tề Uy Vương định giở bài gì.
“Quả nhân đa tạ chư vị đang có mặt ở đây, quả nhân cảm tạ thần dân thiên hạ, đều vì một chữ tiền. Chư vị hẳn đang thắc mắc, quả nhân phải chăng quá tham tiền tài? Quả nhân phải chăng đang vơ vét tiền tài? Đúng vậy, quả nhân tham tiền, quả nhân đang vơ vét tiền tài. Thế nhưng chư vị ái khanh, có ai trong số chư vị trả lời được câu hỏi, quả nhân đời này đã bao giờ tham lam tiền tài? Quả nhân đời này đã bao giờ vơ vét tiền tài? Quả nhân bỗng chốc thành ra tham tiền, bỗng chốc vơ vét tiên tài, là bởi vì đâu?” Uy Vương dừng lại một lát, sắc mặt vụt biến, giọng gằn từng tiếng. “Chính là vì một chuyện, bắt sống Bàng Quyên, rửa mối nhục Hoàng Trì!” Nói đoạn, siết chặt tay quyền đến nỗi kêu lên răng rắc. “Chư vị có điều không biết, năm xưa quả nhân đồng ý cùng xưng vương với Ngụy Anh, chỉ là vì Bàng Quyên làm mưa làm gió sau lưng, trước hết lừa quả nhân trở mặt với Ngụy Anh ở Từ Châu, sau đó thực thi mưu kế xảo trá, dìm chết quân ta, làm nhục quả nhân. Thù này quả nhân đã khắc cốt ghi tâm suốt mười năm ròng, giờ đã đến lúc phải trả!”
Triều thần đã hiểu nguyên nhân, căm phẫn sục sôi, nhất loạt dập đầu hô lớn: “Đại vương thánh minh, chúng thần nguyện theo đại vương, thề báo quốc thù!”
“Đa tạ chư vị!” Uy Vương nhìn khắp lượt quần thần, vòng tay mà rằng. “Quả nhân cho mời chư vị tới đây, một là để bày tỏ lòng cảm tạ, hai là muốn bàn chuyện xuất binh. Cách đây không lâu, có người đã nhắc lại một câu của Tôn Vũ Tử, nói rằng, việc binh là đại sự của quốc gia, liên quan đến chuyện sống chết của quân dân, chuyện mất còn của đất nước, không thể không suy xét cho tường tận. Đã không thể không suy xét cho tường tận, thì quả nhân cũng không thể xốc nổi hưng binh, nên mới mời chư vị tới bàn bạc, nên xuất binh cứu Triệu, hay là cứ để mặc Bàng Quyên lộng hành ở Hàm Đan?”
Đa số triều thần đều lên tiếng hưởng ứng, có một vài người nhìn về phía Trâu Kỵ.
“Trâu ái khanh, ý khanh thế nào?” Uy Vương bèn chỉ đích danh.
“Thần cho rằng,” Trâu Kỵ trầm giọng thong thả đáp, “xuất binh cứu Triệu, có ba điều bất lợi!”
Trâu Kỵ xưa nay vẫn luôn phản đối chiến tranh, trước khi hội đua ngựa diễn ra, chưa từng có chủ trương cứu Triệu, nên vào lúc này, ông ta nói vậy, hiển nhiên không nằm ngoài dự đoán của quần thần. Uy Vương sắc mặt vẫn thản nhiên, chỉ giương cặp mắt ưng nhìn xoáy tới: “Bất lợi thế nào, khanh hãy nói thử xem!”
“Thứ nhất, chinh chiến ắt tử thương, nguyên khí ắt tổn hại, tích trữ ắt tiêu hao, kẻ địch bên ngoài ắt thừa cơ dòm ngó. Cường địch của ta ở nam ở bắc, chứ không phải ở đông tây, nếu người Sở nhân lúc ta chinh chiến phía tây, mưu chiếm Tứ Hạ của ta, người Yên tranh lấy Hà Gián của ta, thì ta sẽ ứng phó thế nào đây? Thứ hai, theo thần được biết, Bàng Quyên giỏi dụng binh, lính Ngụy dũng mãnh hơn người, đặc biệt là quân hổ bôn, không những sức mạnh vô địch, mà còn được Bàng Quyên huấn luyện cả năm trời, kinh qua nhiều trận chiến, coi chém giết chốn sa trường là vinh quang. Lại nhìn quân ta, phân thành năm đô, tản mạn rời rạc, nhàn hạ đã quen, thần e rằng…”
Trâu Kỵ còn chưa nói dứt lời, đám võ tướng đã nhao nhao đứng dậy định tranh luận, song bị Uy Vương giơ tay ngăn lại.
“Thứ ba,” Trâu Kỵ liếc nhìn đám võ tướng đang bất bình phẫn nộ, dõng dạc nói tiếp, “ba nước vây Triệu, là xuất phát từ hành động của người Tần nhằm phá sách lược hợp tung. Tần và ta cách ngăn Tam Tấn, vốn chẳng liên quan đến nhau, ta giúp Triệu giải vây, thắng thì không sao, thua thì tự chuốc lấy hoạ, Tần hẳn sẽ trút giận vào ta, mượn đường Ngụy tiến thẳng vào bờ cõi ta, đến lúc đó, khó tránh một trận sống mái!”
Quả đúng là một mối lo âu hệ trọng, quần thần đưa mắt nhìn nhau, mấy viên võ tướng gồm cả Điền Kỵ, Khuông Chương đều không biết nói gì, miệng mấp máy vài cái, rồi lại nín bặt.
Uy Vương hít ngược vào một hơi, khép mắt trầm ngâm. Hiển nhiên, trước đó, Uy Vương chưa từng nghĩ tới chuyện này, hoặc chí ít cũng là chưa nghĩ được cặn kẽ đến thế.
“Có điều,” Trâu Kỵ đổi giọng, “xuất binh cứu Triệu, cũng có ba điều lợi.”
“Nói mau!” Uy Vương mở choàng mắt.
“Điều lợi thứ nhất là, sáu nước kết minh, giao ước hợp tung, nay minh ước vẫn còn, mà Ngụy lại bội minh phản ước, cấu kết kẻ địch, thảo phạt nước liên minh, thất đạo với thiên hạ, nếu ta xuất binh, là chính nghĩa, sẽ được trời cao trợ giúp. Điều lợi thứ hai là, ba nước vây khốn Triệu, Triệu không có đường lui, duy có hai cách, hoặc là ký minh ước dưới thành, cắt đất chịu khuất, hoặc là như thú hoang bị vây khốn, liều mạng quyết chiến, tuyệt địa cầu sinh. Dựa theo tính khí của người Triệu, ắt chọn cách thứ hai. Điều lợi thứ ba là,” Trâu Kỵ nhìn sang Điền Kỵ và các võ tướng, “mối nhục Hoàng Trì, không chỉ đại vương, mà chư vị tướng quân hẳn cũng đều khắc cốt ghi tâm, đặc biệt là thượng tướng quân, nếm mật nằm gai, mười năm mài kiếm, chỉ vì để bắt sống Bàng Quyên, trả mối sỉ nhục ê chề năm xưa. Nay được ra trận, tất đồng chí chung thù, dũng mãnh thẳng tiến, bởi vậy thần…” nhìn sang Uy Vương, “chủ trương xuất binh, tấu thỉnh thượng tướng quân làm tướng, mong đại vương minh xét!”
Thấy Trâu Kỵ xưa nay luôn phản đối chiến tranh, giờ vòng vo một hồi lại nhắc tới xuất binh, hơn nữa còn từ bỏ hiềm khích trước đây, chủ động đề cử Điền Kỵ làm tướng, Uy Vương mừng vui khôn xiết, lập tức chuẩn tấu, chiếu mệnh Điền Kỵ làm tướng, Điền Anh làm phó tướng, Khuông Chương làm tả quân, Mâu Tân làm hữu quân, thái tử làm giám quân, Trâu Kỵ phụ trách cung ứng lương thảo, còn việc bổ nhiệm quân sư cho tam quân, sẽ xuống chiếu sau. Ngay từ hôm nay, chủ tướng điểm đủ mười hai vạn binh của năm đô lên đường cứu Triệu, chọn ngày lành làm lễ tế cờ.
Điền Kỵ bái tướng xong, lập tức lên xe đi vội, trước hết là tới trạch phủ của Tô Tần ở học cung Tắc Hạ. Từ sau khi xuống núi, vợ chồng Tôn Tẫn tới sống ở đây, thứ nhất là để tránh hiềm nghi, thứ hai là để chuyện trò với Tô Tần cho thoả chí.
Vừa bước vào cửa, Điền Kỵ đã hào hứng kể lại chuyện xảy ra trong cung, miệng nói tay lần tìm trong ống tay áo chiếu mệnh Uy Vương cho mình làm chủ tướng, hai tay đưa cho Tôn Tẫn.
Tô Tần thở phào một tiếng.
“Bái phục Tô huynh!”
Tôn Tẫn đọc xong chiếu mệnh, đưa cho Tô Tần, cười mà nói: “Tiên tổ Tôn Vũ Tử có nói, không đánh mà khuất phục được người, nay đúng là đã thấy ở Tô huynh rồi!”
“Tôn huynh quá khen!” Tô Tần xem xong chiếu mệnh, trả lại Điền Kỵ, lắc đầu đáp lời. “Không đánh mà khuất phục được người, là cảnh giới xuất thần nhập hoá, tại hạ sao có thể đạt tới? Chẳng qua tại hạ chỉ làm được đến ‘thắng địch trước rồi đánh sau’ mà thôi.”
‘“Không đánh mà khuất phục được người’, tại hạ có thể hiểu. Còn như Tô Tử nói ‘thắng địch trước rồi đánh sau’, tại hạ ngu muội, thế này là…” Điền Kỵ vò đầu hỏi.
Điền Kỵ vừa dứt lời, bên ngoài bỗng vọng vào tiếng huyên náo, Trâu Phi Đao dẫn một cung nhân bước vào, tuyên vương chỉ triệu kiến Tô Tần.
“Điền huynh, thế này đã giải thích được chưa?” Tô Tần nhận vương chỉ, nhìn Điền Kỵ cười cười, vòng tay từ biệt, rồi đi theo cung nhân.
Cỗ xe thẳng tiến tới Tuyết cung, còn chưa dừng lại, qua rèm cửa xe, Tô Tần đã nhìn thấy Uy Vương, thái tử và mấy cung nhân đứng đợi sẵn ngoài cửa. Tô Tần xuống xe, hấp tấp tiến lại, khom lưng vái dài về phía Uy Vương, thái tử: “Thần Tô Tần khấu kiến đại vương, khấu kiến điện hạ!”
Uy Vương cười vang, đáp lễ một vái. “Tô Tử, khanh để cha con chúng ta chờ lâu quá, may sao hôm nay ấm trời!”
“Thần ở Tắc Hạ, ngày đêm cung kính chờ đợi đại vương tuyên gọi, vừa nãy nhận được chỉ lệnh, giày không kịp đi, mũ không kịp chỉnh, lập tức hấp tấp vào cung, trên đường ngựa không dừng vó, vội vã gấp gáp, vậy mà vẫn cứ tới chậm.”
Tô Tần nói đoạn lại khom lưng xuống, Uy Vương cười vang tiến lại, cầm tay Tô Tần dẫn vào trong cửa cung.
Mọi người tới chính điện, phân ngôi quân thần ngồi xuống.
“Năm xưa,” Uy Vương đích thân rót chén trà thơm cho Tô Tần, nửa như bông đùa mà đi vào chuyện chính, “Thân Bao Tư vì cứu Sở, đã khóc liền bảy ngày bảy đêm ngoài cung Tần. Tô Tử khanh thì ngược lại, cầu cứu quả nhân, vậy mà cửa cung chưa bước vào một lần, lời ngon ngọt chưa buông ra một câu, nghe nói mấy ngày nay còn tới nơi hẻo lánh, thưởng mai nghe đàn!”
“Đại vương nói vậy là không hiểu về Thân Bao Tư, lại nghĩ oan cho thần rồi!” Tô Tần thuận miệng đáp lời, làm ra vẻ mặt ảo não.
“Ồ?” Uy Vương ngạc nhiên. “Hãy nói thử xem, quả nhân không hiểu Thân Bao Tư thế nào, nghĩ oan cho Tô Tử thế nào?”
“Thân Bao Tư từ nhỏ đã thích khóc, nói cũng khóc, cười cũng khóc, đói cũng khóc, no cũng khóc, tỉnh cũng khóc, ngủ cũng khóc, buồn cũng khóc, vui cũng khóc, đối với ông ta, mọi chuyện đều có thể khóc. Đừng nói là bảy ngày bảy đêm, dù ông ta có khóc liền dăm ba năm cũng là chuyện bình thường. Lại vừa hay Tần Công vốn dĩ rất sợ nghe tiếng khóc, nên chỉ còn cách cho ông ta mượn binh. Thần khác với Thân Bao Tư, vì thân bẩm sinh đã không biết khóc. Nay đại vương so sánh thần với Thân Bao Tư, thực khiến thần có miệng mà không thể phân bua!”
“Ha ha ha, chẳng phải khanh đang phân bua rất hay đấy ư?” Uy Vương đẩy chén trà đến trước mặt Tô Tần. “Tô Tử, mời dùng trà!”
Tô Tần cảm tạ, khẽ nhấp một ngụm, rồi chép miệng một hơi hơn chục cái rất đỗi khoa trương, lại tặc lưỡi hai tiếng, mới vòng tay nói: “Trà thơm của đại vương lại khiến thần sực nhớ tới một chuyện.”
“Cứ nói!”
“Năm xưa nếu Tần Công cũng như đại vương, mời Thân Bao Tư vào cung, bịt miệng bằng một chén trà thơm, có lẽ đã không còn phải nghe thấy tiếng khóc của ông ta.”
“Ha ha ha!” Uy Vương cười ngất. “Văn võ bá quan trong triều, quả nhân chỉ thích nghe khanh nói!”
“Tạ ơn đại vương khen ngợi!” Tô Tần vòng tay cảm tạ, nói. “Không giấu đại vương, vừa nãy đều là nói vui. Quay về chuyện chính, thần vì Triệu mà cầu cứu, song chưa từng tới khóc lóc trước cửa cung, không phải thần không hiểu lễ nghi, mà kỳ thực là vì thần biết, đại vương không giống Tần Công!”
“Ồ? Khanh tử nói xem, quả nhân cớ sao lại không giống Tần Công?”
“Thân Bao Tư khóc lóc trước cung Tần, là vì Tần Công thích mềm không thích cứng. Thần cầu cứu đại vương mà không khóc, là vì đại vương thích cứng không thích mềm.”
“Ồ?” Uy Vương ngẩn người. “Quả nhân sao lại thích cứng không thích mềm?”
“Phàm người hung bạo thiếu nghĩa, ắt đều ngoài cứng trong mềm, phàm người nhân ái trượng nghĩa, ắt đều ngoài mềm trong cứng. Đại vương ngoài mềm trong cứng, thần hẳn không nói sai?”
Uy Vương phá lên cười sảng khoái: “Cũng chỉ có Tô ái khanh mới nghĩ ra được những lời này. Được được được, quả nhân phục khanh rồi. Tô Tử, quả nhân mời khanh tới đây, không phải vì chuyện khác, chính là muốn nhờ khanh gửi lời tới kẻ hậu sinh họ Triệu kia, nói rằng hai nước Triệu, Tề chỉ cách một sông, gắn bó như môi với răng, quả nhân cùng Triệu Ngữ qua lại đã nhiều năm, vừa là bạn cũ, vừa là huynh đệ. Nay huynh đệ xương tàn còn chưa lạnh, đất nước đã gặp nạn lớn, quả nhân không đành lòng ngồi nhìn, đã hạ chiếu cho Điền Kỵ làm tướng, khởi hai mươi vạn đại binh tới cứu Hàm Đan, bảo Triệu Vương cứ an tâm mà chờ!”
Tô Tần đứng dậy, phủ phục khấu đầu, dõng dạc cảm tạ: “Thần thay mặt Triệu Vương, thay mặt ba trăm vạn con dân đất Triệu, cảm tạ đại vương ban ân!”
Nhận được chỉ dụ của Tề Vương, Tô Tần không dám chậm trễ, lập tức về Triệu phục mệnh. Tôn Tẫn bịn rịn chia tay, tiễn xa mười dặm mới thôi.
“Tô huynh!” Tôn Tẫn nắm tay Tô Tần nói. “Trên đường về Triệu, phiền Tô Huynh nhân tiện ghé qua Tống, Vệ, hẹn hai nước trợ giúp!”
“Ồ…” Tô Tần thoáng do dự. “Tống, Vệ thế yếu, xưa nay vẫn khiếp sợ trước uy thế Ngụy, chắc là sẽ không dám xuất binh!”
“Không phải muốn họ xuất binh, chỉ là muốn mượn đường họ.”
“Chuyện này không khó!” Tô Tần khảng khái nhận lời.
Tô Tần đi được ba ngày, Uy Vương cho triệu kiến chư tướng Điền Kỵ, Điền Anh, Khuông Chương, Mâu Tân tới Tuyết cung, chính thức thụ mệnh Tôn Tẫn làm quân sư, sự vụ trong quân đều do quân sư quyết định, ai trái lệnh, coi như tội kháng chỉ. Ngoài ra, chuyện Tôn Tẫn làm quân sư, tạm thời không tuyên bố trước ba quân tướng sĩ.
Chiếu mệnh đã xong, Uy Vương dẫn chư tướng tới tông miếu bái tế.
Lại qua ba ngày nữa, tam quân làm lễ tế cờ, toàn bộ nước Tề gấp rút chuẩn bị chiến sự, binh lính năm đô được điều động đầu tiên, theo lệnh của Điền Kỵ, tập trung tại trọng trấn vùng biên giới Tề, Ngụy là A Ấp. Cùng lúc đó, lương thảo, quân nhu từ khắp nơi kìn kìn vận chuyển về các kho lương ở biên giới phía tây, do trọng binh các ấp canh giữ.
Lễ tế cờ kết thúc, chủ tướng hữu quân Mâu Tân đánh xe tới con phố bán ngọc, mua một số lễ vật, chở thẳng tới Trâu phủ.
Mâu Tân vừa bước vào tuổi tam thập nhi lập, lứa tuổi sung sức nhất trong đời, lần này cứu Triệu, đối với hắn là một cơ hội hiếm có. Mâu Tân vốn là phó tướng dưới trướng của Cao Đường lệnh Điền Phán, được Điền Phán nhận làm con nuôi, khi lâm chung, Điền Phán tiến cử hắn tiếp quản chức Cao Đường lệnh. Cao Đường là trọng trấn ở vùng biên giới phía tây nước Tề, một trong năm đô của Tề, quản hạt hơn chục ấp phía tây, nên chức vị này xứng đáng là trọng thần biên cương. Điền Phán gả con gái cho con trai thứ của Trâu Kỵ, hai nhà kết thông gia, Mâu Tân do đó cũng quen biết Trâu phủ, tối ngày ra vào Lâm Truy đều mua chút lễ vật tới thăm hỏi, trò chuyện rất tâm đầu ý hợp, xin bái Trâu Kỵ làm thầy. Trâu Kỵ cũng muốn kết giao với nhà võ, nên thuận thế thu nạp làm đệ tử, mở rộng thế lực hòng đối đầu với Điền Kỵ. Lần này cứu Triệu, ấp Cao Đường phải đứng mũi chịu sào, Mâu Tân đã nhiều lần theo Điền Phán giao chiến với Triệu, hiểu rõ nước Triệu, được Uy Vương phong làm chủ soái hữu quân, thống lĩnh binh lính của hai đô Cao Đường và Bình Lục.
Trâu Kỵ hay tin, ra tận ngoài cửa nghênh đón, dắt tay Mâu Tân vào trong phòng khách.
Mâu Tân vừa bước vào phòng khách đã phủ phục xuống khấu lạy mà nói: “Ân sư ở trên, xin nhận của đệ tử một lạy!”
Trâu Kỵ nhận một lạy của hắn, rồi đỡ hắn đứng dậy, nói: “Mâu Tân, lão phu biết thế nào ngươi cũng đến, đã ở đây đợi ngươi đúng hai canh giờ rồi!”
“Ân sư!” Có lẽ do quá xúc động, Mâu Tân nâng ống tay áo che mặt, một lát sau mới cất giọng nghẹn ngào. “Đệ tử tới muộn!”
“Ha ha ha, không muộn, không muộn!” Trâu Kỵ cười nói. “Lần này chinh phạt về tây, đã tới lúc ngươi lập công dương uy, lão phu già cả, cậy nhờ cả vào ngươi!”
“Ân sư!” Mâu Tân nước mắt đầm đìa.
“Mâu Tân, đại trượng phu đầu rơi máu chảy, chết còn không sợ, còn khóc gì kia?”
“Ân sư!” Mâu Tân gạt nước mắt, ngẩng nhìn Trâu Kỵ. “Đệ tử lần này ra đi, quyết không phụ kỳ vọng của ân sư, đánh cho họ Điền kia phải mở to mắt nhìn!”
“Tốt lắm, tốt lắm!” Trâu Kỵ liên miệng tán dương. “Lão phu muốn nghe câu nói này của ngươi.”
Trâu Kỵ vỗ tay, rèm phía trong được vén lên, một gã thanh niên tráng kiện từ phòng bên sải bước lại gần.
Trâu Kỵ nói với gã thanh niên: “Tiểu Hạo, lại đây, bái kiến Mâu tướng quân!”
Gã thanh niên bước lại trước mặt Mâu Tân, vái một vái dài: “Vãn sinh Trâu Hạo bái kiến Mâu tướng quân!”
“Mâu tướng quân!” Trâu Kỵ chỉ Trâu Hạo nói. “Đây là khuyển tử của lão phu, lớn lên nơi thôn dã, có chút sức lực, từ nhỏ đã thích múa gậy luyện thương, hiểu qua binh pháp chiến trận, chỉ là không hợp tính với lão phu. Nay nước nhà có chuyện, lão phu cho gọi nó về, tiến cử với tướng quân, mong tướng quân rèn giũa tài bồi, sớm muộn lập nên công trạng, để lão phu khỏi phải nhọc lòng!”
Mâu Tân đứng dậy, đi một vòng quanh Trâu Hạo, vỗ mạnh một cái lên vai hắn: “Thực là một thiếu niên vũ dũng! Hạo đệ, tới dưới trướng đại ca rèn luyện một phen, có đồng ý không?”
“Trâu Hạo đồng ý!” Trâu Hạo dõng dạc đáp lời.
“Ân sư!” Mâu Tân quay sang Trâu Kỵ. “Hữu quân còn thiếu một viên tướng tiên phong, đệ tử đang tìm người, nay thấy Hạo đệ tuổi nhỏ anh hùng, làu thông văn thao võ lược, xứng mặt đại tài, vừa hay thích hợp với vị trí này!”
Trâu Kỵ khẽ chau mày, còn chưa kịp lên tiếng, Trâu Hạo đã vái dài sát đất: “Trâu Hạo đa tạ tướng quân giúp đỡ!”
***
Điền Kỵ chiếu theo vương mệnh, điểm đủ mười hai vạn quân năm đô, hăm hở mang danh sách các lộ quân báo lên Tôn Tẫn. Tôn Tẫn dặn Điền Kỵ tuyển lựa ra ba vạn bộ binh, trong vòng hai mươi ngày phải học được cách phi ngựa.
“Tôn huynh!” Điền Kỵ sắc mặt băn khoăn. “Ngựa là dùng để kéo xe, không phải dùng để cưỡi. Lần trước huynh bảo tập cưỡi, tại hạ cũng đã thử qua, ngã đến mấy lần.”
“Tướng quân đã học được?” Tôn Tẫn cười hỏi.
“Học thì có được, nhưng không hề dễ. Hai chân lơ lửng, khó mà bấu víu, chỉ có thể kẹp chặt vào bụng ngựa, nào ngờ con ngựa đó cũng thật quái đản, càng kẹp chặt lấy bụng, lại càng chạy nhanh, xóc nảy đến kinh người, sau hai vòng, xóc tới ê ẩm cả mông, ngã liền mấy bận. Tại hạ cũng được coi là người hiểu ngựa, vậy mà còn bị ngã, tướng sĩ khác chẳng cần nói cũng biết.” Điền Kỵ mặt mày nhăn nhó.
“Có thể học, đừng nói là mấy lần, dù có ngã ba chục lần cũng đáng. Phải rồi, tam quân đã huấn luyện được bao nhiêu binh sĩ biết cưỡi ngựa?”
“Không dưới vạn người.”
“Thế thì tốt quá. Vạn người này lại dạy cho hai vạn người khác, ngày ngày luyện tập, trong vòng hai mươi ngày, nhất định phải rèn luyện ra một đội kỵ binh tinh nhuệ.”
“Tôn huynh!” Điền Kỵ nhìn Tôn Tẫn khó hiểu. “Liệt quốc hiện tại đều trọng xe chiến, dựa vào mũ trụ áo giáp mà thủ thắng, Tôn huynh lại bỏ xe cưỡi ngựa, bỏ nặng lấy nhẹ, thực khiến tại hạ không hiểu nổi. Không giấu Tôn huynh, từ lúc huynh căn dặn chuyện này, tại hạ vẫn băn khoăn trong lòng, tới nay vẫn chưa thể lý giải.”
“Dám hỏi tướng quân,” Tôn Tẫn nhìn thẳng vào Điền Kỵ, “nếu hai quân số lượng tương đương, gặp nhau nơi đường hẹp, nổi trống giao tranh, liệu giáp sĩ nước Tề có thắng nổi võ binh nước Ngụy?”
Điền Kỵ lắc đầu.
“Xe chiến nước Tề liệu có thể đọ sức với xe chiến nước Ngụy?”
Điền Kỵ lại lắc đầu.
“Mưu kế của tướng quân liệu có hơn được mưu kế của Bàng Quyên?”
Điền Kỵ cứng họng.
“Cả ba đều không thể, lại hỏi tướng quân, tướng quân dựa vào đâu để khiến tướng sĩ của mình thủ thắng?”
Điền Kỵ mồ hôi lút đầu.
“Duy một chữ này, có thể giành chiến thắng!” Nói tới đây, Tôn Tẫn viết lên bàn một chữ “kỳ” thật lớn.
“Kỳ!” Điền Kỵ nhìn trân trân vào chữ này, miệng lẩm bẩm, đôi mày chau tít, một lát sau, ngẩng đầu nhìn Tôn Tẫn. “Phải giải thích thế nào?”
“Kỳ là ngược lại với chính.” Tôn Tẫn dõng dạc nói. “Lão Tử nói rằng, ‘dùng chính để trị nước, lấy kỳ để dụng binh, lấy vô sự để có được thiên hạ’, xứng là tuyệt diệu. Nếu là trị quốc, kỳ không thắng nổi chính; nếu là trị binh, chính không thắng nổi kỳ; nếu là trị thiên hạ, hữu sự không thắng nổi vô sự. Theo đó mà luận, chỗ kỳ diệu trong dụng binh chính là ở một chữ ‘kỳ’.”
“Ồ…” Điền Kỵ chưa từng nghe cao luận nhường này, nhất thời ngơ ngác, đưa tay lên gãi đầu.
“Nói thế này vậy,” Tôn Tẫn lại giải thích cách khác, “lấy trận hữu hình đấu với trận hữu hình, lấy xe đấu với xe, lấy lính đấu với lính, lấy sức đọ sức, là dùng chính. Lấy trận vô hình đấu với trận hữu hình, lấy xe đấu với lính, lấy lính đấu với xe, lấy trí đọ lực, là dùng kỳ.”
Điền Kỵ đột nhiên bừng tỉnh, khẽ gật đầu, tiếp tục hỏi: “Hai quân đối kháng, dựa vào đâu mà biết chính, dựa vào đâu mà dùng kỳ?”
“Điều tướng quân hỏi, chính là chỗ phân biệt tài cao thấp của binh gia!” Tôn Tẫn đáp lời. “Hai quân đối kháng, kỳ chính khó đoán, do biến hoá khôn lường nên khó mà phân định. Từ cổ chí kim, phàm người giỏi dụng binh, đều có một tài năng, chính là nhìn sở trường của địch mà biết sở đoản của địch, nhìn khiếm khuyết của địch mà biết chỗ đủ đầy của địch. Đây gọi là đoán địch như thần. Tiên tổ Tôn Vũ Tử có nói: ‘Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng; không biết người mà chỉ biết ta, một thắng một bại; không biết người cũng không biết ta, đánh đâu thua đấy’, chính là nói tới chuyện này. Không biết địch, không biết ta, thì không thể phán đoán địch dùng kỳ hay chính, bản thân cũng không thể dựa vào kỳ mà giành chiến thắng.”
Điền Kỵ hít vào một hơi dài, rồi từ từ thở ra: “Lời tiên sinh quá ư cao siêu, tại hạ ngu muội, cần phải lĩnh ngộ dần dần. Điều tại hạ lo lắng, vẫn là hai chữ ‘kỳ chính’ này, xin tiên sinh hãy lấy những việc quân thường gặp để giải thích rõ!”
“Vậy thì đơn giản thôi.” Tôn Tẫn cười vang mà nói. “Phàm những sự việc phơi bày hiển lộ, đều là chính; phàm những sự việc giấu giếm ẩn tàng, đều là kỳ. Hai quân đối trận, quan sát tình thế hiển lộ của địch, như thế là biết chính, ta ứng phó bằng tình thế ngược lại, là dùng kỳ. Ví dụ như, địch tĩnh, ta sẽ lấy động để chế ngự; địch động, ta lại lấy tĩnh để chế ngự; địch mệt mỏi, ta lại lấy nhàn để ứng phó; địch đói khát, ta lại dùng no để chế phục; địch ít, ta sẽ dùng đông để ứng phó. Dùng kỳ chú trọng ở ẩn tàng, nếu như khiến cho kẻ địch không hề hay biết, có không muốn thắng cũng khó.”
“Tại hạ hiểu rồi!” Điền Kỵ bừng tỉnh ngộ. “Võ binh Ngụy trang bị tận răng, di chuyển ắt sẽ chậm chạp, hợp tĩnh không hợp động, hợp trận pháp không hợp biến báo. Nếu ta dùng kỳ, chính là lấy động chế tĩnh!”
“Đúng vậy!” Tôn Tẫn khen ngợi. “Xe chiến dễ di chuyển, song bị hạn chế bởi thời tiết, đường sá. Cưỡi ngựa thì khác, có thể đi qua đường mòn lối hẹp, có thể lội suối vượt truông, có thể vào rừng rậm gai góc, có thể băng qua bùn lầy, có thể dễ dàng qua lại trong mưa gió, chóng vánh như gió, ồ ạt như lửa, tấn công chỗ kẻ địch không phòng bị, chính là có thể khắc chế võ binh nước Ngụy.”
“Chính phải!” Điền Kỵ bái phục.
“Cưỡi ngựa có mười cái lợi, tướng quân có biết?”
“Xin quân sư chỉ giáo.”
“Cưỡi ngựa có thể tách có thể hợp, có thể tán có thể tụ, rong ruổi trăm dặm, ra vào thông suốt, xứng đáng là đội quân tách nhập. Nếu khéo dùng ở sa trường, thứ nhất có thể đón đánh địch mới tới; thứ hai có thể lợi dụng sơ hở mà tấn công sau lưng; thứ ba có thể truy đuổi loạn quân tan rã; thứ tư có thể đón đánh tập hậu, khiến địch phải tháo chạy; thứ năm có thể đoạt lấy lương thảo của địch, cắt đứt đường tiến của địch; thứ sáu có thể chiếm lấy cửa ải bến sông, cắt đứt cầu của địch; thứ bảy có thể tấn công chỗ địch không phòng bị, đánh bại đội quân chưa kịp chỉnh tề; thứ tám có thể tiến đánh vào chỗ địch lỏng lẻo, tấn công chỗ địch không ngờ; thứ chín có thể thiêu huỷ kho lương của địch, càn quét sạch không phố chợ làng mạc của địch; thứ mười có thể cướp đoạt ruộng vườn của địch, khiến con cháu địch mệt mỏi! Có mười cái lợi này, hẳn tướng quân đã biết được ưu thế của cưỡi ngựa!”
“Đúng vậy!” Điền Kỵ siết chặt tay quyền, rít qua kẽ răng. “Ta có vài vạn kỵ binh tinh nhuệ, có tiên sinh mưu sâu, thì sợ gì không bắt sống được Bàng Quyên!”