Tin Sở Uy Vương đích thân dẫn tám vạn đại quân tham gia hội thề được truyền ra ngoài, đặc sứ liệt quốc đều vô cùng phấn chấn, đua nhau viết thư, phái ngựa hoả tốc báo tin về cho quân chủ nước mình. Sứ thần nước Ngụy công tử Ngang là người hoan hỷ hơn ai hết, một mặt cấp tốc phái người ngựa về báo tin mừng, mặt khác cũng từ biệt Tô Tần, gấp rút đi suốt ngày đêm trở về Đại Lương.
Công tử Ngang còn chưa kịp đến Đại Lương, thần dân nước Ngụy đều đã nhận được tin mừng. Huệ Vương đích thân ra cổng thành nam nghênh đón, dắt tay công tử Ngang cùng ngồi lên vương xa, trong khi cả ba vị trọng thần cùng đi nghênh đón là Bàng Quyên, Huệ Thi và Chu Uy đều phải đi theo phía sau.
Trở về đến cung, Huệ Vương chăm chú lắng nghe công tử Ngang hào hứng tấu báo sự tình, đặc biệt là khi nghe đến đoạn Tô Tần lật tẩy trò lừa đảo của Thương Ngô Tử ngay giữa cung Sở, lại càng khâm phục Tô Tần gấp bội, vỗ bàn khen nức nở: “Khá khen cho Tô Tử!” Rồi cười vang khoái trá, nhìn sang tả hữu. “Các khanh đều đã nghe rồi đấy, đó chính là Hùng Thương, cứ ngỡ mình là hạng bất phàm, nào ngờ lại bị lừa gạt bởi một kẻ đầu đường xó chợ. Ha ha ha, thuật trường sinh bất lão, vậy mà hắn cũng tin cho được! Ha ha ha, quả nhân cũng đã thấy rõ rồi, té ra Hùng Thương là kẻ sợ chết! Sinh lão bệnh tử là lẽ thường tình của nhân sinh, đến điều này mà còn không hiểu thấu, uổng cho hắn tự cho mình là thông minh!”
Quần thần đều phá lên cười!
“Phụ vương nói chí phải!” Công tử Ngang tiếp lời. “Lúc đó, Sở Vương tay cầm tiên đan, hai mắt bàng hoàng nhìn vào chiếc tai giả và bộ lông mày giả của Thương Ngô Tử, mặt lúc đỏ bừng, lúc trắng bệch, đúng là không có lỗ nẻ nào mà chui xuống!”
“Hay lắm, hay lắm!” Huệ Vương gõ nhẹ lên mặt bàn. “Đợi khi hắn đến tham dự hội thề, quả nhân nhất định phải tìm cơ hội hỏi thăm hắn về thuật trường sinh mới được, xem hắn đối đáp thế nào!”
Quần thần lại cười rộ lên.
Đợi sau khi tiếng cười ngớt đi, Huệ Vương liền thu nét cười lại, uy nghiêm nhìn khắp lượt quần thần: “Chư vị ái khanh! Hùng Thương dẫn theo tám vạn quân, đích thân tới Mạnh Tân, ta phải đối phó thế nào, mời chư vị hãy cùng bàn bạc!”
“Bệ hạ!” Bàng Quyên lên tiếng đầu tiên. “Vi thần cho rằng, lần này Sở Vương đến nơi, hẳn có điều gian trá.”
“Ái khanh nói xem, hắn có gì gian trá?”
“Sở Vương rất ít khi dự hội, lần trước hội triều Mạnh Tân, cũng viện cớ không đi. Nhưng lần này lại khác hẳn lệ thường, là người đầu tiên tuyên bố tham gia, khiến ta không thể không nghi ngờ. Hơn nữa, nếu đến vì chuyện tung thân, lại mang theo tám vạn đại quân là có ý gì?”
Quần thần đều gật gù. Huệ Vương khẽ chau mày lại.
“Còn nữa!” Bàng Quyên tiếp tục suy đoán. “Theo vi thần được biết, trước khi đặc sứ hợp tung đến Sính Đô, Chiêu Dương đã rầm rộ gõ trống khua chiêng, điều binh khiển tướng, tập hợp hơn hai mươi vạn đại quân mưu đồ phạt ta, muốn báo mối thù Hình Sơn; vi thần cũng đã bày trận sẵn sàng, chuẩn bị ứng chiến. Sau do Chiêu Dương có tang mẹ, nên việc này mới tạm thời gác lại. Vì vậy vi thần cho rằng, người Sở đột nhiên đổi ý, không tính toán chuyện cũ, động cơ rất đáng ngờ.”
Huệ Vương quay sang Huệ Thi nãy giờ vẫn khép mắt ngồi yên, hỏi: “Bàng ái khanh cho rằng người Sở gian trá, ý ái khanh thế nào?”
Huệ Thi mở mắt ra, ôm quyền nói: “Khởi bẩm bệ hạ, vi thần cho rằng Bàng tướng quân nói rất phải, chúng ta nên thận trọng đề phòng!”
“Ừm!” Huệ Vương gật gù, căn dặn Chu Uy. “Chu ái khanh, khi người Sở đến, khanh hãy báo với họ, chỉ được dẫn một vạn binh tham gia hội thề, đề phòng bất trắc!”
Chu Uy vâng lệnh: “Vi thần tuân chỉ!”
Tuy nhiên, diễn biến sự việc lại hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của Bàng Quyên. Mấy ngày sau đó, sứ thần nước Tề vào triều, tấu rằng Tề Uy Vương sẽ đến dự hội thề, dẫn theo năm vạn đại quân để phô trương thanh thế hợp tung. Ngay sau đó, sứ thần hai nước Hàn, Triệu cũng lần lượt đến báo tin, nói rằng Hàn Hầu, Triệu Hầu cùng đến tham gia hội thề, mỗi nước dẫn theo ba vạn đại quân. Có lẽ do đường xa, nên sứ thần nước Yên đến muộn nhất, nhưng lời lẽ cũng cảm động nhất, nói rằng Yên Công không quản tuổi già sức yếu, đích thân dẫn theo ba vạn đại quân, cùng tham gia hội thề.
Quân chủ của năm nước cùng đến, ai nấy đều dẫn theo quân đội rầm rộ, khiến Bàng Quyên có chút băn khoăn, liền đóng cửa trong trướng, từ chối khách khứa, suy nghĩ liền ba ngày trời, đến ngày thứ tư mới vào cung yết kiến Huệ Vương, bẩm tấu: “Phụ vương, xem ra nhi thần đã sai rồi!”
Huệ Vương cười nói: “Không phải sai, mà là thận trọng. Liệt quốc tung thân, hàng chục vạn đại quân cùng lúc tập trung trước cửa nhà ta, hiền tế thận trọng cũng là lẽ thường tình, đâu có gì sai?”
“Đa tạ phụ vương!”
“Hiền tế!” Huệ Vương nghiêm mặt nói tiếp. “Quả nhân đã suy nghĩ kỹ lưỡng, lần này Tô Tần khởi xướng tung thân, liệt quốc đều hưởng ứng, chung sức chống bạo Tần, đây là trời đã giúp nước ta, ta không thể bỏ lỡ thời cơ tốt đẹp này. Quả nhân đang định triệu hiền tế vào bàn bạc, thì hiền tế đã đến rồi, xem ra cha con ta suy nghĩ tương đồng!”
“Phụ vương…”
“Hiền tế!” Huệ Vương cất giọng chân thành, cảm thán mà rằng. “Đời này của quả nhân, việc gì cũng từng nếm trải, đã mấy phen thăng trầm hưng bại, động phách kinh tâm! Trong những việc mà quả nhân đã từng trải qua, việc thương tâm nhất chính là đánh mất Hà Tây, việc sảng khoái nhất là chiến thắng Hoàng Trì. Để mất Hà Tây là lỗi của một mình quả nhân; chiến thắng Hoàng Trì là công của một mình hiền tế…”
“Phụ vương…” Bàng Quyên nghẹn ngào.
“Hiền tế! Suốt cuộc đời này, quả nhân có nhiều hối hận, nhưng cũng có nhiều may mắn. Hối hận nhất là để mất Công Tôn Ưởng, may mắn nhất là có được hiền tế!”
“Phụ vương…” Bàng Quyên bật khóc thành tiếng.
“Than ôi, không nói những chuyện trước đây nữa!” Huệ Vương thở dài một tiếng. “Hiện giờ thời cơ đã đến, quả nhân có thể rửa được nỗi nhục này hay không, có đoạt lại được Hà Tây hay không, đều phải dựa vào hiền tế!”
“Phụ vương yên tâm, nhi thần nhất định sẽ dốc kiệt sức mình, bắt sống Tần Công, đoạt lại Hà Tây, báo thù cho tám vạn tướng sĩ đã tử trận!”
“Tốt lắm!” Huệ Vương đập mạnh tay xuống bàn. “Hiền tế có tráng chí này, phụ vương cũng thấy an ủi!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Thế nhưng hiền tế, nay đã khác xưa. Nước Tần có Hà Thuỷ ngăn trở, lại có ải Hàm Cốc hiểm yếu, là đất nước bốn bề phong kín, dễ thủ khó công!”
“Khởi bẩm phụ vương!” Bàng Quyên dõng dạc. “Nhi thần nghe nói, ngày trước Ngô Tử từng cùng tiên quân Vũ Hầu du thuyền trên Tây Hà, đi tới giữa sông, tiên quân cảm khái thốt lên rằng: ‘Tuyệt diệu thay, núi sông vững chãi, là bảo bối của nước Ngụy ta’. Ngô Tử đáp lại: ‘Núi sông vững chãi, tại đức không tại hiểm. Nếu như chúa thượng không tu đức, thì tất cả những người trên thuyền đều sẽ là kẻ địch’. Tiên quân đã phải thốt lên rằng: ‘Lời Ngô Tử thực hay lắm thay’.”
Huệ Vương xúc động, đứng dậy nắm tay Bàng Quyên: “Lời Bàng Tử thực hay lắm thay!”
Bàng Quyên sống mũi cay sè, giọng càng thêm nghẹn ngào: “Bệ hạ, về việc đánh Tần, từ lâu vi thần đã nghĩ xong kế hoạch. Chỉ cần sáu nước hợp nhất, đồng loạt ra tay, đừng nói là nước Tần bốn ải hiểm trở, cho dù nước Tần có kiên cố như sắt đá, vi thần cũng sẽ khiến nó thành cám vụn!”
“Hiền tế có kế sách gì, nói cho phụ vương biết được chăng?”
“Kế của nhi thần là, chia quân làm ba lộ công Tần. Nam lộ là người Sở, tiến quân từ Uyển Thành, đánh vào vùng sơn cốc Thương Ư, theo đường Vũ Quan tiến tới Lam Điền, tiến thẳng tới Hàm Dương. Vùng sơn cốc Thương Ư là nỗi đau của người Sở, Sở tất sẽ dốc toàn lực. Trung lộ là liên quân ba nước Hàn, Ngụy, Tề, xuất binh từ Hào Quan, đánh Hàm Cốc từ phía tây, chiếm lại Hàm Cốc, sau đó sẽ từ Hàm Cốc tiến tới Âm Tấn, đánh thẳng tới Hàm Dương. Người Tần nhiều lần chinh phạt Nghi Dương để đoạt sắt, khiến người Hàn lúc nào cũng nơm nớp, lần này xuất binh, chắc chắn cũng sẽ dốc toàn lực. Tề tuy cách xa Tần, nhưng từ lâu đã thèm thuồng các nước lưu vực sông Tứ. Phụ vương chỉ cần đồng ý sau khi phá Tần sẽ cho người Tề cai quản các nước lưu vực sông Tứ, đặc biệt là nước Tống, Tề nhất định sẽ dốc toàn lực. Bắc lộ là liên quân Yên, Triệu, xuất phát từ Tấn Dương, men theo Phần Thuỷ tiến về phía tây, vượt qua Hà Thuỷ, đánh vào Hà Tây. Tần, Triệu có mối thù Tấn Dương, người Triệu chắc chắn sẽ dốc toàn lực. Người Yên mặc dù ở xa Tần, nhưng là nước phát động hợp tung, nước Yên không thể không dốc sức. Vì vậy, bắc lộ cũng sẽ rất hùng mạnh.”
“Kế này của hiền tế rất hay, có điều…” Huệ Vương ngập ngừng muốn nói lại thôi.
“Phụ vương!” Dường như Bàng Quyên cũng đã đoán ra nỗi lo lắng của Huệ Vương, bèn nói dõng dạc. “Ba lộ tấn công đều là kế nghi binh của nhi thần, chỉ là dương công. Còn trên thực tế, vi thần đã có kế sách ngấm ngầm tập hợp tinh binh, đợi sau khi kẻ địch phải dốc toàn lực để đối phó với ba lộ quân kia, ta sẽ xuất binh từ Phong Lăng, dùng bè da dê, bè hồ lô âm thầm vượt qua Hà Thuỷ, tập kích chớp nhoáng chiếm lấy Âm Tấn, cắt đứt đường lui của quân Tần. Sau đó sẽ tiến theo Hà Thuỷ lên phía bắc, đoạt lấy Lâm Tấn quan, bắc lại cầu phao, nghênh đón đại quân qua sông, đồng loạt tấn công Hà Tây. Đợi sau khi ta chiếm được Hà Tây và con đường Hàm Cốc, liên quân sáu nước thế sẽ như dời non lấp biển, đánh thẳng vào Hàm Dương, san bằng Quan Trung.”
“Hay lắm!” Huệ Vương nghe mà nhiệt huyết sục sôi, vỗ bàn đến mấy lần.
“Bệ hạ!” Bàng Quyên quỳ xuống, tâm trạng vô cùng phấn khích. “Tất cả những kế sách trên, chẳng qua mới chỉ là nước đi đầu tiên của vi thần!”
“Ồ?”
“Sau khi diệt Tần, vi thần sẽ thừa dịp sáu nước chia Tần, để khiêu khích Tề, Sở tranh chấp, sau đó hoặc là liên minh với Tề diệt Sở, hoặc là liên minh với Sở diệt Tề. Chỉ cần Tề, Sở yếu thế, thiên hạ sẽ được định đoạt!”
Huệ Vương hai mắt trợn tròn, tim đập thình thịch, giương đôi mắt vằn đỏ tia máu nhìn trừng trừng vào Bàng Quyên hồi lâu, rồi bàn tay siết chặt, đấm mạnh xuống bàn đánh “rầm”, bật ra một tiếng khàn đặc từ lồng ngực: “Tốt!”
“Phụ vương!” Bàng Quyên hạ giọng. “Việc quân quý ở bí mật, tuyệt đối không được tiết lộ cho người khác biết!”
Huệ Vương trịnh trọng gật đầu, giọng càng hạ thấp hơn nữa, gần như một tiếng thì thào: “Được!”
***
Trong một sơn cốc chạy dài từ núi Chung Nam đến Nam Trịnh quận Hán Trung, tiếng gõ đập choang choảng cùng với tiếng hò dô vần đá chuyển gỗ ồn ào khắp chốn, hơn một vạn trai tráng người Tần đang ngày đêm gấp rút bắc sạn đạo. Hữu thứ trưởng Trương Nghi, quốc uý Tư Mã Thác được công đại phu Lý Lỗi, người phụ trách công trình này, dẫn đi thị sát dọc theo sơn cốc.
Nhìn đỉnh cao vút chọc trời với vách dốc hun hút trước mặt, Trương Nghi quay sang Tư Mã Thác, chặc lưỡi cảm thán: “Chà chà, ngọn núi này có thể sánh ngang với đỉnh Hầu Vọng!”
“Đỉnh Hầu Vọng?” Tư Mã Thác ánh mắt ngơ ngác. “Đỉnh Hầu Vọng ở đâu?”
Trương Nghi chỉ về phương trời đông bắc, cười nói: “ở đằng kia, khuất sau biển mây!” Rồi ngoảnh đầu quan sát thế núi một lượt, chỉ vào một tráng đinh đang treo mình lơ lửng trên sợi thừng tại vách núi dựng đứng phía xa để đục lỗ bắc sạn đạo, quay sang nói với Lý Lỗi: “Lý đại nhân, sạn đạo này dài bao nhiêu?”
“Hồi bẩm hữu thứ trưởng, sơn cốc này dài ba mươi hai dặm, cần phải bắc mười tám dặm đường sạn đạo, còn lại có thể dựa theo địa thế để mở đường.”
“Còn đến Hán Trung thì sao?”
“Năm trăm lẻ tám dặm, cần bắc hai trăm năm mươi mốt dặm sạn đạo.”
“Tất cả đều là sơn cốc hun hút như thế này ư?”
“Đúng vậy! Chỗ này còn là sơn cốc nhỏ, tại đỉnh Thái Bạch, thế núi còn hung hiểm hơn nhiều!”
Trương Nghi tặc lưỡi liền mấy tiếng: “Trương Nghi phục rồi!” Rồi quay lại ngắm nghía con đường sạn đạo đã được bắc xong, chau mày nhìn hút về phía xa, hồi lâu sau mới lên tiếng. “Xin hỏi Lý đại nhân, con đường này bao giờ mới hoàn thành?”
“Hồi bẩm hữu thứ trưởng, theo dự tính, vào mùa thu sang năm nữa sẽ thông đường!”
“Có khó khăn gì không?”
“Có đấy!” Lý Lỗi thoáng do dự, rồi nói thẳng. “Công trình này khó khăn hơn dự tính rất nhiều. Ví như thời tiết, vốn rất bất định, tốt xấu thất thường, đến mùa đông, lại càng là tuyết lớn bao phú núi rừng, đừng nói là người, ngay cả thú hoang cũng khó lòng di chuyển. Mạt tướng lo lắng, chẳng may để xảy ra sai sót, mạt tướng chịu tội là chuyện nhỏ, để lỡ đại sự quốc gia mới là việc lớn!”
“Lý đại nhân, ta sẽ điều động thêm năm nghìn nhân công, tăng gấp đôi tiền bạc, đại nhân thấy sao?”
“Đa tạ hữu thứ trưởng!”
Từ nơi bắc sạn đạo trở về doanh trại, Trương Nghi, Tư Mã Thác ngồi chưa ấm chỗ đã thấy mấy kỵ binh phóng ngựa như bay tìm đến, trong đó có một người là thị vệ trong cung, báo rằng Tần Công triệu gấp. Trương Nghi, Tư Mã Thác không kịp ăn cơm, lập tức theo thị vệ trở về Hàm Dương.
Đi tới Lam Điền, thấy phía trước tiếng chiêng tiếng trống rầm rộ, phóng mắt nhìn đi, thì thấy một đoàn xe ngựa đang lộc cộc tiến lại, trên cờ hiệu thấy đề mấy chữ “Trần”, “Tần”, “Sứ”, lại thấy huyện thừa Lam Điền dẫn theo phụ lão, quan viên đứng đầy đường nghênh đón. Trương Nghi hỏi quan lại ở dịch quán, mới biết đó là khách khanh Trần Chẩn đi sứ khải hoàn.
Tư Mã Thác thúc hai chân vào bụng ngựa, quay sang Trương Nghi: “Đi, chúng ta đi đón!”
Trương Nghi hừ mũi một tiếng: “Muốn đón, Tư Mã huynh đi mà đón, giục tại hạ làm gì?”
Tư Mã Thác ghìm ngựa, cười nói: “Trương huynh không muốn gặp ông ta ư?”
Trương Nghi khinh khỉnh quay đi: “Tại hạ đã quen ông ta từ lâu rồi!” Nói đoạn, thúc ngựa lao đi, phóng thẳng về phía Hàm Dương, chẳng thèm ngoái đầu lại.
Tư Mã Thác thoáng ngẩn người, rồi cũng quay ngựa, đuổi sát theo sau.
Hai người đi tới Hàm Dương, còn chưa kịp vào tới cổng nam, từ xa đã nhìn thấy người đi đường theo nhau dạt sang hai bên. Một lát sau, một đoàn xe ngựa rầm rập tiến ra khỏi cổng thành, phía sau toán thị vệ là các quan viên từ trung đại phu trở lên, cỗ xe giữa chính là của Tần Công, người đánh xe là công tử Hoa. Đi sát phía sau là cỗ xe tứ mã bằng đồng xanh chở theo lão thái phó Doanh Kiền đầu tóc bạc phơ, đã cáo lão về vườn từ lâu.
Trương Nghi, Tư Mã Thác cùng đám tuỳ tùng cũng lánh sang bên đường. Khi đoàn xe ngựa đến gần, thượng đại phu Sư Lý Tật nhìn thấy hai người, bèn quay ngựa báo với nội thần. Nội thần bẩm báo, Huệ Văn Công liền hô dừng xe, cấp tốc mời hai người yết kiến.
Trương Nghi, Tư Mã Thác nhanh chóng rảo bước tới trước xe, hành lễ xong xuôi, Huệ Văn Công cười lớn mà nói: “Hai vị ái khanh trở về thật đúng lúc!” Rồi chỉ tay về phía trước. “Đi, theo quả nhân đi đón tiếp một đại quý nhân!” Đoạn quay sang công tử Hoa ra lệnh. “Khởi giá!”
Công tử Hoa ra roi quất ngựa, đoàn xe lại lục tục lên đường. Trương Nghi không biết đại quý nhân là ai, cũng không tiện hỏi nhiều, đành phải cùng Tư Mã Thác thúc ngựa đi theo đội ngũ.
Đoàn xe ngựa đi ra ngoài thành mười dặm, dừng lại tại dịch trạm. Tần Công bước xuống xe, đi lên một đài đất mới được đắp tạm, mắt dõi về phía nam. Trăm quan lần lượt xếp hàng ở phía sau theo thứ tự.
Thấy trăm quan dáng vẻ nghiêm trang, ai nấy đều ngỏng cổ ngóng về phía nam theo Huệ Vương, Trương Nghi không thể nhịn thêm được nữa, hạ thấp giọng hỏi Tư Mã Thác: “Này, rốt cuộc đại quý nhân là ai thế, huynh có biết không?”
Tư Mã Thác khẽ chau mày: “Lẽ nào lại là Trần Chẩn?”
“Sao có thể được?” Trương Nghi phì cười một tiếng. “Với đức hạnh của phường tiểu nhân đó, làm sao chúa thượng phải đích thân ra đón?”
Lời vừa dứt, liền có người hô lớn: “Mau nhìn kìa, đến rồi!” Quả nhiên, từ phía xa đã thấy bụi cuốn mù mịt, chốc lát sau, thấp thoáng hiện ra những lá cờ hiệu “Trần”, “Tần”. Trương Nghi nhìn thấy rành rành, nhất thời chết sững. Đợi đoàn xe của Trần Chẩn đến gần, Huệ Văn Công vung tay ra lệnh: “Tấu nhạc!”
Toán nhạc công cưỡi trên lưng ngựa đồng loạt diễn tấu. Thoáng chốc, chuông trống rộn ràng, sênh khánh ngân nga, sáo tiêu réo rắt, cùng tấu lên khúc nhạc “Phá trận”, tương truyền do Khương Tử Nha sáng tác năm xưa.
Còn cách ba trăm bước, Trần Chẩn đã nhảy xuống xe, hớt ha hớt hải chạy lại. Huệ Văn Công thấy ông ta tới gần, cũng sải bước xuống đài, tiến lên nghênh đón.
Trần Chẩn hai gối mềm nhũn, quỳ phịch xuống đất, dập đầu như giã tỏi, bật khóc oang oang: “Chúa thượng…”
Huệ Văn Công rảo bước tới trước mặt ông ta, miệng nói: “Ái khanh, trên đường đã vất vả rồi!”
Trần Chẩn nước mắt nước mũi tèm lem, giọng nói run rẩy: “Chúa thượng…”
Huệ Văn Công đưa tay đỡ lấy tay Trần Chẩn, kéo ông ta đứng dậy: “Ái khanh, quả nhân đang thượng triều, hay tin khanh đã trở về, không kịp cả bãi triều, lập tức cùng bá quan ra đón! Khanh hãy nhìn xem, tất cả vẫn còn mặc nguyên triều phục!”
Trăm quan đồng thanh chúc mừng: “Cung nghênh Trần thượng khanh khải hoàn!”
Trần Chẩn đối diện với trăm quan, khom lưng xuống thật thấp, rồi quay sang Huệ Văn Công vòng tay vái dài sát đất, khóc mà nói: “Vi thần có tài đức gì mà dám nhọc công chúa thượng đại giá cung nghênh?”
Huệ Văn Công vòng tay đáp lễ, cười vang mà nói: “Công của ái khanh, có thể địch được ba quân!” Rồi nhẹ nhàng dìu tay ông ta. “Đi, cùng quả nhân lên xe, quân thần chúng ta về cung trò chuyện.”
Quân thần hai người lên xe trong tiếng chúc mừng rộn ràng của quần thần. Đại đội người ngựa lập tức quay đầu, tiến thẳng về phía Hàm Dương.
Trở về đến cung, Tần Công giải tán trăm quan, hoàn toàn quên bẵng mất Trương Nghi và Tư Mã Thác, lập tức cùng Trần Chẩn đến điện Di Tình bí mật nghị sự.
Trương Nghi buồn bực u uất, bước xuống bậc thêm trước cung, đang định hồi phủ, chợt thấy công tử Hoa đi ra khỏi cửa, thì khẽ đảo mắt một vòng, rồi giơ tay gọi: “Công tử xin dừng bước!”
Công tử Hoa đi tới, vòng tay cười nói: “Ồ, là Trương huynh đấy ư? Mấy ngày không gặp, thấy nhớ huynh quá, hỏi thăm mới biết huynh đã lên núi mất rồi. Trong núi có nhiều kỳ trân dị bảo, phải chăng huynh đã mang về được món gì quý hiếm, muốn cho tại hạ mở rộng tầm mắt?”
“Không có gì cả!” Trương Nghi đáp lễ, cười nói. “Chỉ mang về được hai vò rượu, nghe nói ủ đã khá lâu năm!”
“Ồ!” Công tử Hoa cười vang. “Nói đến uống rượu, e rằng trong thành Hàm Dương này chẳng có ai vượt qua được tại hạ. Huynh thử đoán xem, rượu mà tại hạ được uống đã ủ bao nhiêu năm? Một trăm hai mươi năm! Lại thử đoán xem là ai đã tặng? Là Phạm Trù, người trong phủ sư đệ Bàng Quyên của huynh đấy. Tổ tiên của người này là thợ ủ rượu của cung Ngụy, vò rượu cổ đó là của báu gia truyền trong nhà hắn!”
“Hừm!” Ánh mắt Trương Nghi lộ vẻ coi thường. “Một trăm hai mươi năm mà cũng coi là cổ, xem ra công tử uống rượu ít quá rồi! Không giấu công tử, hai vò rượu mà tại hạ mang về lần này, chí ít cũng đã trăm rưỡi tuổi!”
“Cái gì?” Công tử Hoa hai mắt trợn tròn. “Một trăm năm mươi năm?” Đoạn bật cười ngặt nghẽo. “Huynh thật biết nói khoác. Ở Đại Tần nếu thực sự có rượu ngon đến vậy, làm sao có thể qua mặt được tại hạ?”
“Thoạt tiên tại hạ cũng không tin,” Trương Nghi thu nét cười, tỏ ra nghiêm túc, “nhưng gia chủ kiên quyết khẳng định, đó là rượu do ông nội của ông nội ông ta nấu, huynh thử tính mà xem, theo lời ông ta, kiểu gì cũng phải một trăm năm mươi năm là ít!”
“Đi! Đi! Đi!” Công tử Hoa lập tức kéo tay Trương Nghi. “Tại hạ lập tức đến phủ của huynh, uống một hớp xem sao!”
Hai người đánh xe đi thẳng tới phủ Trương Nghi, Trương Nghi liền dặn Hương Nữ chuẩn bị cơm rượu.
Sau khi rượu thịt được mang lên, Trương Nghi đích thân rót rượu, nâng chén mời: “Công tử, mời nếm thử rượu này!”
Công tử Hoa khẽ nhấp một ngụm, chép miệng mấy cái.
Trương Nghi nhìn công tử Hoa chăm chú: “Thế nào?”
Công tử Hoa đặt chén rượu xuống, hai mắt nhìn thẳng vào Trương Nghi, cười lớn mà nói: “Trương đại nhân, chúng ta hãy tạm gác chuyện rượu sang một bên. Huynh mời tại hạ đến, chắc chắn là có việc gì khác?”
“Không có việc gì!” Trương Nghi cười vang mà nói. “Tại hạ mời huynh đến, chỉ có một việc mà thôi: uống rượu! Tại hạ có được rượu ngon, không dám hưởng một mình!”
Công tử Hoa chỉ vào chén rượu: “Vậy… Trương đại nhân, tại hạ nên nói thực, hay nói dối?”
“Đương nhiên là nói thực!”
“Nếu như nói thực, rượu này chẳng qua cũng chỉ là loại bình thường, nhiều nhất chưa quá ba mươi năm!”
Trương Nghi giả bộ không tin, nâng chén lên nhấp một ngụm, rồi nhăn mặt làm hề, cười méo mó mà nói: “Hỡi ôi, công tử, tại hạ thực lòng mời công tử, cứ ngỡ là mỹ tửu, nào có ngờ đâu… Xem ra lời nói nơi thôn dã không thể tin được!” Rồi lại rót đầy hai chén. “Thôi không sao, uống rượu cốt ở tâm cảnh, mặc dù rượu này chưa thực lâu năm, nhưng cũng được coi là thượng phẩm. Huynh đệ chúng ta hãy cứ tuỳ nghi, uống một trận cho sảng khoái!”
“Trương huynh nói rất phải!” Công tử Hoa cũng bật cười. “Kỳ thực, rượu ba mươi năm cũng đã được coi là rượu ngon. Nếu thực sự có rượu một trăm năm mươi năm, cho dù huynh dám mời thì tại hạ cũng chẳng dám uống, chỉ cần được ngửi thôi cũng đã mãn nguyện lắm rồi!”
“Công tử thật hào sảng! Nào, hãy uống cạn chén này!”
Hai người cùng chén tạc chén thù, chưa đến nửa canh giờ, rượu đã ngà ngà, câu chuyện được rượu dẫn đường, càng lúc càng mở rộng, dần dần dẫn tới chủ đề.
Trương Nghi liếc sang công tử Hoa, dốc bầu tâm sự: “Công tử, tại hạ thực không tài nào hiểu nổi, thiên hạ có ai không biết Trần Chẩn là kẻ tiểu nhân, thế mà chúa thượng… Việc hôm nay, tại hạ thực không muốn nhắc tới!”
Công tử Hoa cười đáp: “Này Trương huynh, văn võ bá quan toàn triều đều có thể hỏi câu này, nhưng Trương huynh thì không thể!”
“Ồ, tại sao lại như vậy?” Trương Nghi mở to mắt.
“Ha ha ha!” Công tử Hoa nhổm người về phía trước, hạ thấp giọng. “Nói thực cho huynh biết, nếu không có Trần đại nhân, e rằng lúc này Trương huynh vẫn còn ở Sở!”
Trương Nghi thoạt tiên giật mình, sau đó cười nói: “Công tử thật biết nói đùa, tại hạ đến Tần thì có liên quan gì đến hạng người kia?”
“Dám hỏi Trương huynh, tại sao huynh lại rời khỏi nước Sở?” Công tử Hoa men rượu đã ngấm, trở nên thực thà hơn hẳn.
“Vì bị kẻ gian hãm hại!”
“Kẻ nào hãm hại?”
“Tên tiểu nhân Chiêu Dương!” Trương Nghi giọng rít qua kẽ răng.
“Tại sao Chiêu Dương lại hại Trương huynh?”
“Hắn muốn làm lệnh doãn nước Sở, coi tại hạ như tảng đá ngáng chân!”
Công tử Hoa chỉ tay vào Trương Nghi, phá lên cười ngặt nghẽo: “Trương huynh thông minh cái thế, cớ sao bây giờ lại hồ đồ đến vậy? Tại hạ hỏi huynh, với tài trí của thằng cha Chiêu Dương, liệu có phải là đối thủ của Trương huynh hay không?”
Trương Nghi lắc đầu.
“Vậy thì đúng rồi!” Công tử Hoa lại uống thêm một chén, miệng phả hơi rượu nồng nặc. “Đã là người một nhà, tại hạ cũng không ngại nói thực với Trương huynh những chuyện trước kia, Trương huynh có muốn nghe chăng?”
Trương Nghi luôn tay rót rượu: “Tại hạ xin rửa tai lắng nghe.”
Công tử Hoa lại uống thêm mấy chén, hào hứng dâng trào, bao nhiêu chuyện Trần Chẩn bày mưu tính kế ở nước Sở dốc ra tuốt tuột, nào là mượn ngọc Hoà thị bích để hãm hại Trương Nghi ra sao, ép Trương Nghi phải bỏ trốn tới Triệu thế nào, rồi Tô Tần lại dùng kế bức Trương Nghi đến Tần ra sao. Công tử Hoa cai quản Hắc Điêu đài, nhất cử nhất động của Trần Chẩn ở nước Sở đương nhiên nằm cả trong tay hắn, lúc này được rượu trợ hứng, lại càng chẳng chút kiêng dè, cứ thế thao thao bất tuyệt, kể lể sinh động đến kinh tâm động phách.
Trương Nghi trước nay luôn chắc mẩm kẻ hãm hại mình là Chiêu Dương, lúc này mới hiểu rõ nội tình, nhất thời ngây sững như khúc gỗ, chết lặng hồi lâu mới bừng tỉnh mà lẩm bẩm: “Hay! Hay lắm! Mưu hay lắm!” Lại ngẩn ngơ một lúc, phá lên cười lớn một tràng dài, đoạn nâng chén khen ngợi. “Quả nhiên là mưu sâu kế hiểm! Chẳng trách chúa thượng lại coi trọng hạng người này như vậy, thì ra hắn chính là đại công thần! Nào, công tử, vì tên đại công thần này, cạn chén!”
Sau khi tiễn công tử Hoa về, đêm đó Trương Nghi trằn trọc mãi không tài nào ngủ được. Nghĩ đến việc mình liều chết để du thuyết nước Việt, cực khổ suốt mấy trăm ngày, mắt thấy chí lớn đã sắp hoàn thành, vậy mà lại bị kẻ này huỷ hoại chỉ trong một sớm, lại nghĩ đến việc vì vậy mà phải chịu đựng không biết bao nhiêu khổ sở nhục nhằn, Trương Nghi càng nghĩ càng ruột gan sôi sục. Tiếp đó, lại nghĩ đến chuyện chỉ trong vòng một năm ngắn ngủi mà liệt quốc Sơn Đông đã được Tô Tần nhào nặn thành một khối, khí thế rầm rộ chống lại người Tần, mà Tần Công lại vội vã triệu kiến mình và Tư Mã Thác, mục đích chắc chắn cũng là nhằm tìm ra đối sách cho việc này, Trương Nghi lại càng không thể nào chợp mắt. Vật vã đến tận nửa đêm, Trương Nghi dứt khoát ngồi bật dậy khỏi giường, nhắm mắt suy nghĩ tìm kế ứng phó.
Ngày hôm sau không thiết triều. Trời vừa rạng sáng, trong cung đã phái người đến mời. Trương Nghi rửa mặt chải đầu thay triều phục xong xuôi, lập tức đánh xe tới cung thành. Đến ngoài cửa cung, Trương Nghi nhảy xuống xe, vừa định bước lên bậc thềm, bỗng nghe thấy có tiếng xe ngựa từ đằng sau vọng lại. Ngoảnh đầu nhìn, thì ra là Trần Chẩn.
Trương Nghi dừng bước, đứng đợi trên thềm, he hé mắt liếc nhìn Trần Chẩn thăm dò. Có lẽ do tối qua bàn chuyện với Tần Công quá lâu, Trần Chẩn hồi phủ muộn, sáng lại dậy quá sớm, nên hai mắt sưng húp, trông mệt mỏi đờ đẫn.
Thấy Trương Nghi đứng chặn đường, Trần Chẩn thầm kinh hãi trong lòng, nhưng vẫn nghiến răng bước lên bậc thềm, dừng lại trước mặt Trương Nghi, vòng tay nói: “Tại hạ xin được diện kiến Trương Tử!”
“Đúng là đã được diện kiến rồi!” Trương Nghi cũng vòng tay, cất giọng mỉa mai. “Trần thượng khanh hôm qua quả thực phong quang!”
“Là chúa thượng yêu lầm!” Trần Chẩn cười gượng gạo.
“Trần thượng khanh đi sứ nước Sở, lập được kỳ công cái thế, cớ sao lại bảo chúa thượng yêu lầm?”
Thấy Trương Nghi nhắc lại chuyện ở nước Sở, nụ cười của Trần Chẩn càng thêm khó coi: “Tại hạ bất tài, khiến Trương Tử cười chê rồi!”
“Trần thượng khanh từ Ngụy sang Tần, từ Tần sang Sở, chạy lên chạy xuống, xoay trái xoay phải, đùa giỡn ba nước lớn nhất thiên hạ trong lòng bàn tay. Bản lĩnh nhường này, nếu không phải bậc đại tài trong thiên hạ thì đâu thể làm được, hôm nay cớ sao lại khiêm tốn nhường vậy?”
Trần Chẩn đang lúc bối rối thì đám trọng thần như đại lương tạo Công Tôn Diễn, thượng đại phu Sư Lý Tật, quốc uý Tư Mã Thác, hữu canh Cam Mậu theo nhau đi đến. Trần Chẩn chớp thời cơ vội quay đi, vòng tay chào hỏi mọi người, rồi cùng bước vào cửa cung.
Tới điện Di Tình, Huệ Văn Công đã đợi sẵn ở đó. Huệ Văn Công cũng tỏ ra mệt mỏi, thần sắc nhợt nhạt, hẳn cũng suốt đêm không ngủ.
Hành lễ xong xuôi, Huệ Văn Công mỉm cười, cất giọng khàn đặc, ngữ điệu bình thản, đi thẳng vào việc chính: “Chư vị ái khanh, hôm nay quả nhân triệu chư vị đến bàn bạc, chỉ có một việc, đó là đối phó Sơn Đông hợp tung!” Nói đoạn đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, dừng lại ở Sư Lý Tật. “Sư Lý ái khanh, trước tiên hãy nói qua về tình thế cho mọi người được biết!”
Sư Lý Tật vẫn như thường lệ, trước tiên đặng hắng một tiếng rồi nói: “Khởi bẩm chúa thượng, theo vi thần điều tra được biết, địa điểm hội thề hợp tung đã định là ở Mạnh Tân nước Ngụy, thời gian vào tiết Thu phân năm nay!” Chậm rãi rút ra một cuộn thẻ tre, đặt lên mặt bàn. “Đây chính là bản sao cương lĩnh hợp tung của sáu nước tung thân là Sở, Triệu, Tề, Ngụy, Hàn, Yên, do Tô Tần thảo ra. Còn nữa, theo tin thám báo đáng tin cậy, tính cho tới nay, nước Sở phát tám vạn đại quân, chủ tướng là Chiêu Dương, Sở Vương đích thân dự hội. Nước Tề phát năm vạn đại quân, chủ tướng là Điền Kỵ, Tề Vương đích thân dự hội. Nước Triệu phát ba vạn đại quân, chủ tướng là Phì Nghĩa, Triệu Hầu đích thân dự hội. Nước Hàn phát ba vạn đại quân, chủ tướng là Công Trọng, Hàn Hầu đích thân dự hội. Nước Yên phát ba vạn đại quân, chủ tướng là Tử Chi, Yên Công đích thân dự hội. Nước Ngụy phát mười hai vạn đại quân, chủ tướng là Bàng Quyên, Ngụy Vương đích thân dự hội.”
“Tư Mã ái khanh!” Huệ Văn Công quay sang Tư Mã Thác, giọng vẫn bình thản, tựa như đang xử lý việc nhà. “Quân đội hợp tung tập hợp, tổng cộng khoảng bao nhiêu binh mã?”
“Khởi bẩm chúa thượng, tổng cộng là ba mươi tư vạn!” Tư Mã Thác đáp rành rọt.
“Đông đến vậy ư?” Huệ Văn Công buột miệng kêu lên, khiến bầu không khí càng thêm nặng nề. “Phía ta thì sao? Tổng cộng có bao nhiêu binh lính có thể ứng chiến?”
“Ba mươi tư vạn!” Tư Mã Thác thần thái nghiêm trang, từng lời nhấn mạnh như từng nhát búa. “Trong đó có mười lăm vạn quân trấn thủ các thành ấp, mười vạn đinh dịch, trừ hai đội quân này đi, ta chỉ còn chín vạn quân có thể điều động được!”
Huệ Văn Công thôi cười, khép hai mắt lại.
Quần thần quay mặt nhìn nhau, không khí càng thêm trầm trọng, thời gian như cũng đóng băng. Quần thần đều giống như Huệ Văn Công, nhắm mắt suy nghĩ, chẳng ai lên tiếng. Đúng vậy, ba mươi tư vạn đại quân tập hợp ngay trước cổng, mũi nhọn chĩa thẳng vào Tần, lúc này đây, bất cứ lời nào cũng thành vô nghĩa.
Hồi lâu, Huệ Văn Công hơi hé mắt, nở một nụ cười khô khốc: “Chư vị ái khanh, nói gì đi chứ! Quả nhân mời chư vị đến đây, không phải là để nhìn mọi người ngồi dài mặt ra như vậy, mà là muốn tìm ra một kế sách!”
Đại lương tạo Công Tôn Diễn thân là người đứng đầu bá quan không thể nhẫn nại thêm được nữa, bèn lên tiếng đầu tiên: “Khởi bẩm chúa thượng, binh đến tướng chặn, nước đến đất ngăn. Quân đội hợp tung mặc dù đông đảo, song kỳ thực lại không đáng sợ!”
“Công Tôn ái khanh, khanh hãy nói xem, ba mươi tư vạn đại quân, cớ sao lại nói không đáng sợ?”
“Vi thần cho rằng, chủ yếu có ba nguyên do!” Công Tôn Diễn dõng dạc đáp lời. “Thứ nhất, sáu nước chỉ bằng mặt mà không bằng lòng, nên không thể hình thành hợp lực. Nhớ năm xưa họ Trí ép hai nhà Ngụy, Hàn hợp lực phân chia nước Triệu, kết quả là Triệu chưa kịp chia xong, họ Trí đã bị ba nhà phân chia. Nguyên nhân do đâu? Là do Hàn, Ngụy và Trí không đồng tâm, bằng mặt mà không bằng lòng. Thứ hai, ta có sông núi kiên cố, bốn bề hiểm ải. Hà Thuỷ là sông trời chắn ngang, có thể địch được mười vạn tinh binh. Hàm Cốc là hùng quan hiểm yếu, có thể địch được mười vạn đại quân. Còn về sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư, lại càng dễ thủ khó công. Thứ ba, cường địch trước mặt, tồn vong chỉ trong gang tấc, quân dân ta trên dưới buộc phải cấp bách ứng chiến, không còn đường lui, nên sẽ hình thành đội quân cùng quẫn, chắc chắn trên dưới đồng lòng, đoàn kết chống địch. Có ba điểm nói trên, vi thần cho rằng, hợp tung không đáng sợ, đáng sợ là ngay từ đầu chúng ta đã tự đánh mất ý chí, đánh mất lòng tin!”
“Nói hay lắm!” Huệ Văn Công lại quét mắt khắp lượt quần thần. “Hai quân giao chiến, kẻ dũng sẽ thắng!” Ngẫm nghĩ một lát, lại ngẩng đầu nói. “Điều Công Tôn ái khanh vừa nói chính là phân tích đại thế, còn đối phó cụ thể ra sao, quả nhân còn phải lắng nghe ý kiến của chư vị!” Quay sang Tư Mã Thác. “Tư Mã ái khanh, binh đến tướng chặn, khanh bố trí thế nào, đã có tính toán chưa?”
“Hồi bẩm chúa thượng,” Tư Mã Thác đáp. “Nếu liệt quốc đánh ta, chắc chắn sẽ chia quân ba lộ. Lộ thứ nhất là người Sở, xuất binh từ Uyển, Tương, xâm phạm vùng sơn cốc Thương Ư của ta. Hai là quân hợp tung men theo bờ nam Hà Thuỷ tiến về phía tây, đi qua Hào Quan tới xâm phạm Hàm Cốc của ta. Ba là quân hợp tung tiến lên phía tây vượt qua Hà Thuỷ, xâm phạm Hà Tây của ta. Vì vậy, vi thần cho rằng ta cần tăng cường phòng ngự ba nơi trên, đặt thêm cửa ải, tích thảo đồn lương, chia quân ra kháng cự, quyết chiến với kẻ địch ở ngay cửa ngõ đất nước!”
“Ừm!” Huệ Văn Công gật gù, quay sang Sư Lý Tật. “Sư Lý ái khanh, khanh có cao kiến gì chăng?”
Sư Lý Tật vòng tay nói: “Hồi bẩm chúa thượng, vi thần cho rằng, ta có thể kết giao với các nước Nghĩa Cừ, Tây Nhung, sau đó cầu viện họ. Nếu được họ giúp sức, sáu nước sẽ chẳng còn đáng sợ. Ngoài ra, ta có thể tăng cường chiêu mộ binh lính, mộ thêm mười vạn dũng binh, gia cố tường thành, hào rãnh, nếu chẳng may quân địch đột nhập vào trong, còn có thể tính kế lâu dài!”
“Rất tốt!” Huệ Văn Công quay sang Trương Nghi. “Trương ái khanh, khanh cũng nói mấy lời đi!”
“Khởi bẩm chúa thượng!” Trương Nghi chậm rãi lên tiếng. “Mấy ngày trước vi thần và Tư Mã tướng quân đã đi thị sát vùng núi Chung Nam, tận mắt nhìn thấy núi non hiểm trở, việc xây dựng sạn đạo khó khăn hơn dự tính rất nhiều. Để đảm bảo sạn đạo được hoàn thành đúng kỳ hạn, vi thần đã nhận lời Lý đại nhân, xin chỉ cấp thêm năm nghìn đinh dịch, tăng gấp đôi tiền tài cung ứng, tấu xin chúa thượng ân chuẩn!”
Lời vừa nói ra, toàn bộ những người có mặt đều giật mình kinh ngạc. Nước Tần đã đến thời khắc sinh tử tồn vong, các trọng thần đều tập trung bàn bạc đối sách ứng phó quốc nạn, vậy mà Trương Nghi lại tưng tửng tấu xin chút việc cỏn con này, thật khó lòng tưởng tượng.
Huệ Văn Công cũng thấy bất ngờ, chau mày suy nghĩ hồi lâu, vẫn không hiểu được dụng ý của Trương Nghi, nhưng cũng không thể không đưa ra quyết định, đành phải miễn cưỡng đồng ý: “Chuẩn tấu cho ái khanh!” Nói xong, dường như vẫn không chịu buông tha, nhổm người về phía trước hỏi. “Chuyện sạn đạo là mối lo xa. Còn nhiệm vụ cấp bách trước mắt, ái khanh có đối sách nào chăng?”
Trương Nghi mỉm cười, đáp ngay tắp lự: “Thần xin tiến cử hai người, có thể địch lại ngàn quân!”
“Ái khanh mau nói!” Huệ Văn Công hai mắt sáng rực. Trương Nghi liếc sang Trần Chẩn, xong lại liếc nhìn Sư Lý Tật, lắc lư cái đầu, giọng nói nghe hơi quai quái: “Người thứ nhất là Trần thượng khanh, có thể đi sứ nước Sở. Người thứ hai là Sư Lý đại phu, có thể đi sứ nước Yên!”
Ngay từ khi Trương Nghi chuyển đến nhà mới, Huệ Văn Công đến cúng thần bếp, hai người đã bàn luận về cách đối phó hợp tung, giờ đây Trương Nghi tiến cử hai người chẳng qua cũng chỉ là nhắc lại chuyện cũ. Tuy nhiên, đây vốn là chuyện giữa quân thần hai người, người khác không biết. Vì vậy Trương Nghi vừa dứt lời, mọi người đều giật nảy mình, ngay cả Công Tôn Diễn và Tư Mã Thác cũng sững sờ.
Trần Chẩn vừa phải chạy bán mạng từ nước Sở trở về, còn chưa kịp hoàn hồn, lại nhớ đến cuộc gặp gỡ trước cửa cung khi nãy, biết Trương Nghi không có ý tốt lành, cố tình hại mình, thì vô cùng căng thẳng: “Chúa… chúa thượng…”
Lời của Trương Nghi, Huệ Văn Công vừa nghe đã hiểu ý, chưa đợi Trần Chẩn lắp bắp dứt câu, đã vỗ bàn nói lớn: “Hay lắm!” Rồi gần như không chút đắn đo, quay sang Trần Chẩn. “Trần ái khanh, quả nhân lại phải khiến khanh vất vả thêm một chuyến, tiếp tục đi sứ nước Sở. Tuy nhiên, khanh vừa mới trở về hôm qua, hãy nghỉ ngơi thêm vài ngày rồi lên đường cũng chưa muộn!” Lại quay sang Sư Lý Tật. “Sư Lý ái khanh, còn khanh thì không thể chậm trễ! Hãy cấp tốc chuẩn bị, ngày mai lập tức lên đường!”
Chỉ trong chớp mắt, Huệ Văn Công đã truyền xong ý chỉ, rõ ràng không phải chỉ là nhất thời bốc đồng. Trần Chẩn không dám hó hé thêm câu nào nữa, đành phải cùng với Sư Lý Tật vòng tay nói: “Vi thần lĩnh chỉ!”
Sau khi quần thần ra về, Huệ Văn Công lưu Trần Chẩn và Sư Lý Tật ở lại để bàn bạc công việc cụ thể, hạ ý chỉ cho Sư Lý Tật làm minh sứ, Trần Chẩn làm ám sứ. Minh sứ Sư Lý Tật làm mối, gả trưởng nữ cho thái tử của Yên Công. Ám sứ Trần Chẩn tiến hành ly gián, tiếp tục trở lại nước Sở, bí mật liên lạc với Chiêu Dương, tuỳ cơ hành sự.
Sau khi Sư Lý Tật, Trần Chẩn lĩnh chỉ lui về, Huệ Văn Công một mình ngồi lại một lúc, sau đó liền tù tì phát liền mấy đạo chỉ. Lệnh cho Công Tôn Diễn động viên toàn quốc, chiêu mộ hai mươi vạn quân; lệnh cho công tử Hoa tung ra toàn bộ Hắc Điêu, bố trí dày đặc khắp một dải Tấn Dương, Hà Đông, Lạc Dương, Mạnh Tân, Nam Dương, Tương Dương, Hào Quan; lệnh cho Tư Mã Thác tăng cường phòng bị ở toàn tuyến Tây Hà, Hàm Cốc và vùng sơn cốc Thương Ư; lại lệnh cho nội thần thân cận đích thân sang các nước Nghĩa Cừ, mang theo lễ vật hậu hĩnh, kết tình giao hảo với các nước Tây Nhung.
***
Ngày hội thề đã đến gần, bến đò Mạnh Tân chỉ cách vương thành Đại Chu chưa đầy trăm dặm lại một lần nữa trở thành tiêu điểm của thiên hạ.
Cuối tháng sáu, đặc sứ sáu nước Tô Tấn dẫn theo sứ đoàn tung thân đông tới hơn hai vạn đến trước. Mạnh Tân gần Chu thất nhất, nhưng vì hầu hết các nước tung thân tham gia hội thề đều đã xưng vương, vị thế ngang bằng với Chu thất, nên Tô Tần hổ thẹn không dám qua Chu, mà dựng trại ngay tại Chỉ Thành cách bờ bắc Hà Thuỷ chừng trăm dặm. Chỉ Thành vốn là đất của nước Hàn, đến thời Văn Hầu bị Ngô Khởi chiếm lấy, Huệ Vương vì muốn trấn áp người Hàn, nên đã mở một khu vườn tại đây, xây dựng hành cung.
Công tử Ngang muốn Tô Tần ở trong hành cung, Tô Tần cười mà từ chối, cùng Lâu Hoãn và những người khác trú bên bờ sông Y Thuỷ ở phía đông hành cung. Công tử Ngang đoán rằng Tô Tần vẫn ngần ngại về danh phận quân thần, nên cũng không miễn cưỡng, cùng với những phó sứ quý tộc như công tôn Khoái, công tử Chương, công tử Như, Điền Văn… chuyển vào ở trong hành cung.
Tô Tần cho dựng tạm một đài cao rộng ba trượng vuông ở bên bờ Y Thuỷ, hễ lúc nào rảnh rỗi, lại một mình lên đài ngồi, hoặc mở mắt lặng nhìn đăm đăm xuống dòng Y Thuỷ, hoặc nhắm mắt trầm tư mặc tưởng, hoặc xử lý các sự vụ của liệt quốc.
Tính cho tới hiện tại, sự vụ hợp tung vẫn tiến triển thuận lợi. Nhờ có sự khởi xướng của Sở Vương, quân chủ liệt quốc đều tham dự tung thân với lễ tiết chí cao, đội ngũ long trọng, khiến Tô Tần vừa mừng vừa sợ.
Trong sáu nước hợp tung, ngoài nước Yên ra, năm nước còn lại đều đã gửi cấp báo tới nơi, Sở Vương đã khởi giá. Tô Tần không dám chậm trễ, vừa sắp xếp xong xuôi, lập tức phái Lâu Hoãn dẫn theo một toán Nho gia am hiểu lễ nghĩa đến Mạnh Tân, dựng đài hội thể đúng theo lễ chế nhà Chu, bố trí hành dinh liệt quốc.
Sáu nước lớn hàng đầu thiên hạ do thiên tử Đại Chu ban tước năm xưa cùng hội họp kết minh ngay trước mắt thiên tử Đại Chu để cùng chống lại một nước chư hầu lớn khác cũng do thiên tử Đại Chu ban tước, sự kiện này chưa thể nói là ngày sau không còn tái diễn, nhưng từ xưa đến bấy giờ chưa từng xảy ra, nên vốn dĩ không hề có tiền lệ.
Càng khó khăn hơn nữa, đó là trong sáu nước đã có ba nước xưng vương, lễ chế đã mất, Tô Tần thân là con dân Đại Chu song đã không còn lý do để mời thiên tử Đại Chu làm minh chủ. Mà trong sáu nước tung thân, lại có ba vương, một công, một hầu, Tô Tần suy đi tính lại, vẫn chưa thể nào đưa ra được một kế sách vẹn toàn về các mặt lễ nghĩa, quy chế, minh chủ… Một cuộc hội thề quy mô lớn nhường này, nếu để xảy ra bất cứ sơ suất nào về lễ nghi, hậu quả thực khó lòng tưởng tượng.
Buổi chiều hôm nay, Lâu Hoãn từ Mạnh Tân trở về, bẩm báo về kế hoạch xây dựng đài hội thề và những công trình khác. Tô Tần suy đi nghĩ lại, rồi dặn dò Lâu Hoãn về mặt nghi lễ, quy chế, trước hết hãy cứ làm y theo quy cách Tề Hoàn Công chín lần hội thề chư hầu thời Xuân Thu.
Lâu Hoãn bèn đáp: “Sở, Tề, Ngụy đều là vương quốc, nếu tiếp đãi theo lễ chư hầu, e rằng không được thoả đáng!”
“Chu thiên tử vẫn còn đó, tại hạ lại là người Chu, nếu như tuân theo vương chế, chưa nói tới người đời nay, chúng ta chắc chắn sẽ bị người đời sau phỉ nhổ!”
“Tô Tử xem như thế này có được không?” Lâu Hoãn nhanh trí nảy ra một ý. “Chúng ta vừa không tuân theo vương chế, cũng không tuân theo hầu chế. Ý tại hạ là, giảm nửa bậc so với vương chế, tăng nửa bậc so với hội thề bình thường giữa chư hầu!”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lúc, rồi gật đầu đồng ý: “Cách này có thể thực thi. Việc này cũng đã có tiền lệ. Sở từ lâu đã xưng vương ngang hàng với Chu thất, nhưng khi đến Chu yết kiến, vẫn phải theo lễ thần tử. Chu thất đối đãi với Sở, cũng theo chế độ này. Tuy nhiên, việc này không nên để lộ ra ngoài, chúng ta chỉ thực hiện mà không được nói ra!”
“Tại hạ đã hiểu!”
“Và còn lời thề! Ngôn từ thế nào, cũng sẽ ảnh hưởng đến đại cục!”
“Tại hạ cho rằng, để Tô Tử chấp bút là thích hợp hơn cả!”
Tô Tần cười nhăn nhó: “Tại hạ khua môi múa mép thì được, nhưng động đến bút mực thì lại không thạo. Tuy nhiên, tại hạ chợt nghĩ tới một người, để người này chấp bút mới là thích hợp!”
“Ai kia?”
“Khuất Bình!”
“Chính là kẻ hậu sinh bên cạnh công tử Như đấy ư?”
“Phải!”
“Người này làm sao có thể?” Lâu Hoãn lắc đầu quầy quậy. “Mới mười mấy tuổi đầu, một quả táo non choẹt. Trọng trách nhường này, e rằng mới chỉ nghe đến, hắn đã sợ chết khiếp rồi!”
Tô Tần cười nói: “Táo xanh cũng có hương vị của táo xanh!” Rồi quay sang nói với Trâu Phi Đao đang đứng gác ngoài cửa. “Trâu huynh, hãy tới dịch quán nước Sở mời Khuất Bình tới đây!”
Khuất Bình nhận lời mời mà đến.
Biết rằng được giao việc viết lời thề, sau một thoáng kinh ngạc, Khuất Bình liền vui vẻ nhận mệnh. Tô Tần cùng Khuất Bình bàn bạc đến tận chập tối, giảng giải cho Khuất Bình hiểu rõ những điều cần chú ý. Hai bên đang nghị sự, thì Trâu Phi Đao tiến vào bẩm báo có phó sứ nước Yên là công tôn Khoái cầu kiến.
Tô Tần đưa mắt nhìn Khuất Bình: “Khuất Tử, những điều cần chú ý, ta đã nói cả rồi. Khuất Tử cứ thế mà viết, không nên quá dài, cũng không cần phải ôm đồm mọi ý, cốt là phải làm rõ được yếu nghĩa của hợp tung. Hãy viết trước một bản thảo, để mọi người cùng bàn. Giờ tại hạ còn có chút việc, không bồi tiếp được nữa!”
Khuất Bình đứng dậy, vòng tay vái mà nói: “Tô Tử yên tâm, Bình dù bất tài, nhưng sẽ tận lực. Tô Tử dừng bước, Bình xin cáo từ!”
Tô Tần kiên quyết tiễn xuống dưới đài, vòng tay vái chào, sau đó mới dắt tay công tôn Khoái lên trên đài, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.
Công tôn Khoái cười nói: “Tô Tử mời Khuất Tử đến, phải chăng là lại muốn nghe nhạc Sở?”
Tô Tần nở nụ cười buồn, thở dài một tiếng: “Than ôi, cho dù có muốn nghe thì cũng chẳng còn tâm trạng nữa!” Rồi đưa lại một chén nước. “Không có trà, đành mời công tôn dùng nước trắng vậy!”
Công tôn Khoái nhận lấy chén nước, khẽ nhấp.
“Công tôn đến đây, hẳn là có việc quan trọng?” Tô Tần quay sang hỏi, sắc mặt lộ vẻ mệt mỏi.
Công tôn Khoái lấy từ trong tay áo ra một bức thư, hai tay đưa lên.
Tô Tần nhận lấy, liếc qua rồi đặt lên mặt bàn, chậm rãi hỏi: “Phải chăng là cấp báo về chuyện nước Yên xuất binh?”
“Đúng thế!” Công tôn Khoái hớn hở đáp lời. “Là thư do Tử Chi tướng quân gửi đến, nói rằng tổ công của tại hạ không quản tuổi già sức yếu, đích thân đến dự hội, Tử Chi tướng quân dẫn theo ba vạn đại quân hộ giá, đã khởi hành rồi!”
“Ồ!” Tô Tần chỉ hờ hững thốt lên một tiếng, quay đầu nhìn xuống mặt nước đầm hắt ánh hoàng hôn.
“Tô Tử!” Công tôn Khoái hơi nhổm người về phía trước. “Tô Tử thử đoán xem, còn có người nào đi cùng ông nội của tại hạ đến đây?”
Tô Tần vẫn không buồn ngẩng đầu: “Là ai?”
“Là bà trẻ của tại hạ, Cơ phu nhân!”
“Ồ?” Tô Tần tâm tư chấn động, quay phắt lại nhìn sững vào công tôn Khoái, trong mắt vụt sáng. Song tia sáng này chỉ như hoa đàm thoáng hiện, vụt lên rồi tắt.
Công tôn Khoái nhìn kỹ Tô Tần, thấy vẻ mặt hắn đầy u uất, nghĩ lại mấy ngày nay, Tô Tần lúc nào cũng tâm sự trùng trùng, thì không khỏi băn khoăn, hạ giọng hỏi nhỏ: “Tô Tử dường như có điều tâm sự?”
“Đúng vậy!” Tô Tần gật đầu.
“Là tâm sự gì, có thể nói cho tại hạ biết chăng?”
Tô Tần thu ánh mắt từ mặt đầm trở về, quay sang nhìn công tôn Khoái: “Công tôn hãy thử nói xem, tại sao chúng ta lại hợp tung?”
“Xoá bỏ phân tranh, hoà giải thiên hạ!” Công tôn Khoái mở miệng đáp liền. Đây là câu cửa miệng của Tô Tần, công tôn Khoái từ lâu đã thuộc nằm lòng.
“Công tôn hãy nói xem, lần này hội thề, liệu chúng ta có thực sự xoá bỏ được phân tranh, hoà giải được thiên hạ hay chăng?” Tô Tần nhìn thẳng vào công tôn Khoái hỏi.
“Đương nhiên có thể!”
“Cớ sao công tôn lại tin tưởng nhường vậy?”
“Bởi vì… dưới gầm trời này, không có việc gì mà Tô Tử không làm được!”
Dường như Tô Tần cũng không thể ngờ rằng công tôn Khoái lại trả lời như vậy, sững sờ mất một lúc, mới phì cười mà hỏi: “Công tôn thực sự nghĩ như vậy ư?”
Công tôn Khoái trịnh trọng gật đầu.
“Đa tạ công tôn đã tin tưởng!” Tô Tần nhìn công tôn Khoái chăm chú một hồi, sau đó chậm rãi nhấc bốn phong thư hoả tốc từ dưới bàn lên, lần lượt xếp thành một hàng ngang trên mặt bàn, từ trái qua phải lần lượt là thư báo của các nước Sở, Tề, Hàn, Triệu, Yên.
Công tôn Khoái nhìn một lúc, nhưng vẫn không hiểu: “Tô Tử?”
Tô Tần chỉ tay vào các phong thư: “Công tôn nhìn xem, tất cả những bức thư này đều là thông báo quân tình. Sở Vương đích thân đến dự, dẫn theo tám vạn quân; Tề Vương đích thân đến dự, dẫn theo năm vạn quân; Hàn Hầu, Triệu Hầu đích thân đến dự, mỗi bên dẫn theo ba vạn quân; ông nội của công tôn cũng dẫn theo ba vạn quân đến dự. Còn lại Đại Ngụy, tại hạ cũng đã nhận được tin báo, Bàng tướng quân đang điều binh khiển tướng khắp nơi, uy thế hừng hực. Các lộ quân bụi cuốn mịt mù, đang rầm rộ tiến về Mạnh Tân!”
Công tôn Khoái càng nghe càng thấy khó hiểu: “Điều này chứng tỏ liệt quốc trong thiên hạ đều rất coi trong hợp tung! Tông chỉ của hợp tung là chế Tần, nếu không có binh mã, làm sao để chế Tần đây?”
“Đúng thế!” Tô Tần thở dài một tiếng, nhắc đi nhắc lại. “Đúng thế! Đúng thế! Công tôn nói rất rất đúng! Không có binh mã, làm sao có thể chế Tần… Thế nhưng… nhiều binh mã như vậy tập hợp một chỗ, làm gì có chuyện không khởi đao binh? Công tôn hãy nhìn xem, lần này hội thề, nhà nào cũng giương cung tuốt kiếm!”
“Khởi đao binh thì khởi đao binh!” Công tôn Khoái đáp liền không cần suy nghĩ. “Theo tại hạ thấy, ta hãy nhân thời cơ này để diệt luôn bạo Tần. Diệt bạo Tần, một lần vất vả, an nhàn vĩnh viễn, chẳng phải thiên hạ sẽ mãi được hưởng thái bình ư?”
“Công tôn ơi!” Tô Tần lắc đầu quầy quậy, cười nhăn nhó mà nói. “Công tôn mới chỉ nhìn thấy cái vỏ bề ngoài. Nếu thực sự tiêu diệt bạo Tần, thiên hạ sẽ càng khó có được bình yên!”
Công tôn Khoái sững sờ.
Sáng sớm hôm sau, Tô Tần đang dạo bước bên bờ Y Thuỷ thì Khuất Bình đến tìm, nói rằng đã viết xong lời thề.
Tô Tần vô cùng kinh ngạc, nhận lấy tấm thẻ tre Khuất Bình đưa đến, đọc liền mấy lượt, nghiền ngẫm kỹ lưỡng hồi lâu, rồi nhìn Khuất Bình với ánh mắt kinh ngạc khó tin.
“Tô Tử?” Khuất Bình trong lòng thấp thỏm, hạ giọng khẽ gọi.
“Khuất Tử quả là kỳ tài!” Tô Tần lại đọc thêm một lượt, tấm tắc. “Lại càng là cấp tài, chỉ mới một đêm mà đã viết ra được lời thề này, thực sự khiến tại hạ kính phục!”
“Tại hạ…” Khuất Bình cho rằng Tô Tần đang chế giễu mình, mặt đỏ đến tận tai. “Tại hạ là người nóng vội, sau khi trở về đã thức trắng cả đêm mới viết ra được bản này, tự thấy chưa lấy gì làm hay, nhưng lại không tiện đưa cho người khác đọc, nên vừa mới sáng ra đã… đã mang đến đây. Nếu như Tô Tử thấy không ổn, tại hạ sẽ viết lại!”
“Tại sao phải viết lại?” Tô Tần lại đọc thêm lần nữa. “Một áng văn hay tuyệt diệu nhường này, muốn cầu còn chẳng được!”
Khuất Bình nghe mà hai mắt trợn tròn.
“Tuy nhiên, cũng chưa phải là hoàn mỹ vô khuyết!”
“Xin Tô Tử chỉ giáo!”
Tô Tần chỉ tay vào hai câu ở giữa: “Xin hãy xem hai câu này!”
Khuất Bình đưa mắt nhìn, thấy là hai câu “Máu thịt thấm tươi tên sắc, xương khô khôn nhập mồ sâu”.
Tô Tần chậm rãi nói: “Sáu nước tung thân, nên chỉnh tề đều đặn mới phải. Bài văn này toàn bộ đều là thể tứ ngôn, nhưng hai câu này lại là sáu chữ, mặc dù có biến hoá linh hoạt, nhưng lại đánh mất vẻ chỉnh tề. Khác nào hai quân giao chiến, đối phương chưa tiến mà đã tự loạn trận mình, chưa thực ổn. Có thể sửa thành ‘máu thấm tên sắc, xương khôn nhập mồ’ chăng?”
“Hay lắm!” Khuất Bình lập tức đáp lời.
“Còn câu tiếp theo, ‘quỷ giận thần trách, dân chúng oán hận’, có thể sửa thành ‘quỷ thần giận dữ, dân chúng oán hận’ chăng? Dùng ‘giận dữ’ để đối với ‘oán hận’, đọc vừa thuận miệng, mà đối cũng chỉn chu. Lời thề dùng để đọc, vì vậy cần trơn tru thuận miệng.”
“Tô Tử sửa thật chính xác, tại hạ thán phục!”
“Người phải thán phục không phải là Khuất Tử, mà là Tô Tần đây!” Tô Tần thực lòng khen ngợi. “Bài văn này chỉ một đêm đã viết xong, một mạch trôi chảy, chặt chẽ kín kẽ, thành thực không phù phiếm, bên ngoài hợp với đại nghĩa của thiên hạ, bên trong hàm chứa yếu lĩnh của tung thân, từ đầu đến cuối, quả đúng là lời lời châu ngọc!”
“Đa tạ Tô Tử khen tặng!” Khuất Bình cười thẹn.
Người đầu tiên đến An Ấp là Ngụy Huệ Vương. Các trọng thần trong Ngụy thất như Bàng Quyên, Huệ Thi, Chu Uy, toàn bộ đồng hành, chỉ để thái tử Thân, Bạch Hổ và một số lão thần lưu lại Đại Lương trấn thủ.
Ngụy Huệ Vương rất mực cảm kích Tô Tần, sau khi đến đất Chỉ đã không quản đường xa mệt nhọc, lập tức phái người đón Tô Tần đến hành cung. Khi Tô Tần đến nơi, Huệ Vương ra tận ngoài cung, dắt tay Tô Tần, cùng sánh bước vào trong, ngồi chạm gối mà trò chuyện đến tận nửa đêm.
Trong lúc Huệ Vương trò chuyện với Tô Tần, hơn mười vạn đại quân nước Ngụy, gồm cả đội quân hổ bôn của Bàng Quyên, đã chia đường tiến tới Hà Đông, theo chỉ lệnh của Bàng Quyên, hạ trại gần Mạnh Tân, An Ấp, với lý do rất đường đường chính chính là bảo vệ sự an nguy cho quân chủ liệt quốc.
Người đến nơi tiếp theo là Sở Vương, kế đó là Tề Vương. Vì nơi hội thề thuộc địa phận nước Ngụy, nên quân đội của liệt quốc đều phải tuân theo lệnh của nước Ngụy. Dưới sự bố trí của Bàng Quyên, bảy vạn quân Sở đóng trại ở phía bắc Uyển Thành, Sở Uy Vương chỉ được mang theo một vạn binh đến Mạnh Tân, ở trong hành dinh đã dựng sẵn. Tề Uy Vương dẫn theo năm nghìn quân, số quân còn lại hạ trại ở địa phận Tống, Vệ. Tiếp theo là Triệu Túc Hầu và Hàn Chiêu Hầu, mỗi bên dẫn theo ba nghìn quân. Người Yên một là đường đất xa xôi, hai là Yên Công già yếu, một ngày chỉ đi được năm mươi dặm đường, nên đến muộn nhất, ba ngày trước tiết Thu phân mới kịp tới nơi.
Lần này hội thề, Ngụy Huệ Vương như biến thành một người khác hẳn, không còn ngông cuồng tự đắc như lần chư hầu triều kiến thiên tử ở Mạnh Tân lần trước. Trong vai trò gia chủ, Ngụy Huệ Vương tỏ ra khiêm tốn ân cần chưa từng có, bất kể quân chủ nước nào đến nơi, cũng đều dẫn theo các trọng thần của Ngụy thất như Huệ Thi, Chu Uy ra xa mấy dặm nghênh đón, nâng chén tẩy trần.
Thấy quân chủ của sáu nước đều đã đến đông đủ, vào trước tiết Thu phân một ngày, Tô Tần lấy thân phận là đặc sứ sáu nước bày tiệc chiêu đãi trong một rừng cây cách đài hội thề không xa về phía đông.
Khu rừng này nằm ở bờ bắc Hà Thuỷ, dưới chân núi Hạc Minh. Trên đỉnh núi Hạc Minh có một tảng đá lớn nhô ra, trông hệt như đầu chim hạc, nên mới có tên này. Nơi đây tựa núi kề sông, tầm nhìn khoáng đạt, phong cảnh hữu tình, xứng đáng là chốn bảo địa phong thuỷ.
Để đảm bảo công bằng, Tô Tần vẫn theo lệ cũ, sáu bàn xếp thành hình tròn, các bàn đều không có hướng chính, không định phương vị, vì vậy cũng không phân biệt chủ khách trên dưới, chỗ đầu chỗ cuối. Sáu vị quân chủ đến nơi, thoạt tiên kinh ngạc, sau đó đều bật cười, mỗi người đều vui vẻ tự chọn cho mình một chỗ, vây tròn mà ngồi xuống. Tô Tần dù là chủ tiệc, nhưng về thân phận lại là thần tử, vì vậy không sắp xếp chỗ ngồi cho mình, mà cung kính đứng hầu một bên, đợi người hầu mang thức ăn lên, bèn nhận lấy, dựa theo trật tự tuổi tác lớn nhỏ mà chuyển đến bàn của các vị quân chủ.
Bữa tiệc lại càng đặc biệt, không có sơn hào hải vị, không có cá thịt đầy bàn, rượu ngon đầy chén, chỉ có rau xanh, hoa quả, cháo loãng và bánh hấp, tất cả đều là những món của thường dân vùng này. Tuy cơm nước đạm bạc, nhưng đều là những món trong cung chưa từng được nếm, lại thêm Tô Tần đặc biệt mời đầu bếp giỏi, chế biến cầu kỳ, hương vị càng thêm đặc sắc, khiến các vương hầu ai nấy đều đưa đũa tơi tới, ăn uống ngon lành, luôn miệng tấm tắc.
Thấy chư hầu đã ăn uống no đủ, lúc này Tô Tần mới đi tới khoảng đất bên cạnh Hà Thuỷ, đứng quay mặt về phía bắc, chỉnh trang y phục rồi quỳ xuống, tấu rằng: “Chư vị chúa thượng, ngày mai đã là tiết Thu phân. Một năm bốn mùa, mặt trời mọc lặn ba trăm sáu mươi lần, trăng tròn trăng khuyết mười hai lần, chỉ có hai ngày là công bằng nhất, một là ngày Xuân phân, hai là ngày Thu phân. Bởi vậy khi Trọng Ni nước Lỗ soạn sử, đã đặt tên là ‘Xuân Thu’. Nay sáu nước tung thân, thiên hạ hội thề, chư vị chúa thượng niệm đến sự an lạc của bách tính trong thiên hạ mà bỏ đi hiềm khích trước đây, không quản đường xa mệt nhọc, cùng tề tựu tại chốn này, tìm kiếm điểm chung, gác lại bất đồng, thề ước tung thân, đủ khiến cho khắp thiên hạ cảm động. Tô Tần xin thay mặt toàn bộ bách tính trong thiên hạ, kính lễ trước chư vị chúa thượng!”
Nói đoạn, Tô Tần đứng dậy, sửa lại vạt áo, rồi hành đại lễ ba lạy chín dập đầu.
Sáu vị quân chủ đưa mắt nhìn nhau, rồi đồng loạt đứng dậy, đi tới trước mặt Tô Tần. Ngụy Huệ Vương, Tề Uy Vương cùng đưa tay ra, mỗi người đỡ lấy một tay Tô Tần, vừa cười ha hả vừa kéo Tô Tần đứng dậy. Mọi người cùng xúm xít kéo Tô Tần vào bên trong vòng tròn, Hàn Chiêu Hầu đích thân ra tay, xê dịch phân bàn giữa mình và Triệu Túc Hầu, chừa ra một khoảng trống, rồi gọi người hầu mang thêm một bàn nữa đến, Ngụy Huệ Vương, Sở Uy Vương ấn Tô Tần ngồi xuống sau bàn, sau đó mới trở về chỗ ngồi.
Tô Tần vòng tay một lượt, tiếp tục lên tiếng: “Tô Tần người Chu đa tạ chư vị chúa thượng hậu ái!” Rồi khẽ mỉm cười, đi thẳng vào đề. “Chư vị chúa thượng, ngày mai đã là hội thề, vi thần có một chuyện muốn bẩm tấu, mong chư vị chúa thượng định đoạt!”
Chư vị quân chủ đều nhìn chăm chú vào Tô Tần.
“Chư vị chúa thượng, các việc hội thề, chủ yếu dựa theo quy tắc hội họp thời trước, trong đó, các chi tiết cụ thể như lễ nghi, trình tự, quy chế, vũ nhạc, nghi trượng, minh thư, vi thần đã giao tấu báo cụ thể cho chư vị phó sứ của liệt quốc, chư vị chúa thượng cũng đều đã hạ chỉ chấp thuận, vì vậy, về cơ bản đã định đoạt xong xuôi. Cho đến hôm nay, hố đã đào xong, bò tế đã có, các đồ dùng cho hội thề cũng đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ còn đợi giờ lành ngày tốt. Còn việc mà vi thần muốn tấu báo là…” Tô Tần dừng lại một lát, đưa mắt nhìn lần lượt từng vị vương hầu, “theo quy chế cũ, chư hầu hội thề, uống máu ăn thề, nhất định phải có người làm chủ cầm tai bò. Ngày mai ăn thề, nên để người nào cầm tai bò, vi thần tấu xin chư vị chúa thượng cùng bàn bạc!”
Thông lệ xưa nay, người nào cầm tai bò, người đó sẽ là minh chủ. Vì vậy, lời Tô Tần vừa cất ra, sáu người có mặt lập tức trở nên nghiêm trang, quay mặt nhìn nhau, rồi ai nấy đều ngồi ngay ngắn, khép mắt suy nghĩ.
Tô Tần lại liếc qua các vị quân chủ một lượt, rồi cũng khép mắt lại.
Không gian tĩnh lặng như tờ, chỉ còn nghe loáng thoáng tiếng sóng Hà Thuỷ vỗ bờ và tiếng chim chóc ríu ran từ trong rừng vẳng lại.
Hồi lâu sau, Ngụy Huệ Vương là người đầu tiên phá tan bầu im lặng, phì cười mà nói: “Kìa chư vị, tự dưng lại ngồi dưỡng thần gì thế? Chỉ là tiến cử một người cầm tai bò thôi mà? Theo Ngụy Anh thấy, có một người thích hợp hơn cả!”
Mọi người theo nhau mở mắt, nhìn Ngụy Huệ Vương.
Ngụy Huệ Vương lắc lư cái đầu béo tốt vài cái, rồi chỉ tay vào Tô Tần, nhấn nhá từng chữ: “Người này, chính là Tô Tần người Chu!”
Lời vừa dứt, Triệu Túc Hầu, Hàn Chiêu Hầu, Yên Văn Công đều nhao nhao phụ hoạ: “Đúng đấy, hãy để Tô tướng quốc làm minh chủ!”
Chưa đợi hai vị Sở Vương và Tề Vương lên tiếng, Tô Tần đã dập đầu sát đất: “Chư vị chúa thượng, việc này tuyệt đối không thể được!”
Ngụy Huệ Vương vô cùng kinh ngạc, hai mắt mở to: “Xin hỏi Tô Tử, có gì không được?”
Tô Tần lại khấu lạy: “Thiên hạ kết thân, uống máu ăn thề, đây là thề với trời đất quỷ thần, không phải là người thân phận cao quý, lời nói trọng vọng thì không thể được. Tô Tần xuất thân dần dã, thân hèn lời nhẹ, làm sao có thể đảm đương trọng trách? Tô Tần cầu xin chư vị chúa thượng hãy thu hồi lời vừa nói, lựa chọn người khác!”
Ngụy Huệ Vương tỏ ra thất vọng, ngả người về phía sau: “Theo ý Tô Tử, người nào có thể làm minh chủ?”
“Việc này liên quan đến đại nghiệp tung thân, vi thần không dám lên tiếng, xin chư vị chúa thượng hãy cùng bàn bạc!”
Không gian lại tiếp tục chìm vào im lặng.
Hàn Chiêu Hầu chợt lên tiếng: “Hay là, tất cả cùng cầm tai bò, thế nào?”
“Như vậy còn ra thể thống gì?” Sở Uy Vương lập tức phản đối. “Tô Tử luôn đề xướng tuân theo chế độ thời trước. Theo chế độ đã có, làm gì có chuyện tất cả cùng cầm tai bò?”
Hàn Chiêu Dương bị dội gáo nước lạnh, cảm thấy ngượng ngùng, sững lại một thoáng, rồi cất giọng có phần châm biếm: “Bản hầu nói sai rồi, phải để Sở Vương bệ hạ làm chủ mới đúng!”
Sở Uy Vương phá lên cười lớn. “Hùng Thương đời đời sống nơi hoang dã, có tài đức gì mà dám làm chủ Trung Nguyên? Tuy nhiên, Hùng Thương muốn tiến cử một người, mời chư vị cùng quyết định!”
Sở Uy Vương công nhiên từ chối, lại tiến cử người khác, điều này hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của mọi người.
Ánh mắt của Sở Uy Vương từ từ nhìn sang Tề Uy Vương, rồi khẽ gật đầu với ông ta. Đúng lúc tất cả mọi người đều cho rằng, người được ông ta tiến cử chính là Tề Uy Vương, thì Sở Uy Vương đột nhiên quay sang Ngụy Huệ Vương, chỉ thẳng vào ông ta, cười vang mà nói: “Chính là người này, Ngụy huynh!”
“Điền Nhân Tề cũng xin tiến cử Ngụy huynh!” Tề Uy Vương cũng chỉ tay qua, nói lớn.
Ngụy Huệ Vương có nằm mơ cũng không thể ngờ được hai lão đối thủ đáng gờm lại cùng lúc tiến cử mình, nhất thời kinh ngạc đến sững sờ. Ba vị quân chủ Hàn, Triệu, Yên vẫn nhớ như in thái độ ngạo mạn của Ngụy Anh trong buổi triều kiến thiên tử năm xưa, vốn có ý tẩy chay, song không ngờ Sở, Tề lại liên thủ tiến cử, nhất thời á khẩu không nói được gì. Tô Tần trong lòng giật thót, bất giác rùng mình ớn lạnh, mắt nhìn sững vào Ngụy Huệ Vương.
Lúc này Ngụy Huệ Vương mới kịp định thần, bật ra một tràng cười, còn vang hơn cả tiếng cười của Sở Uy Vương khi nãy, dứt tràng cười mới nói: “Này Hùng huynh, và cả Điền huynh nữa, trong buổi hội triều Mạnh Tân năm xưa, là Ngụy Anh không biết tự lượng sức mình, nên mới mạo muội làm minh chủ. Cớ sao Ngụy Anh dám làm minh chủ? Vì đại giá của hai vị nhân huynh không đến! Lần này hai vị nhân huynh đều có mặt, Ngụy Anh có tài đức gì, sao dám tiếp tục ngông cuồng?” Rồi quay sang các chư hầu khác. “Theo ý của Ngụy Anh, cái tai bò này cứ giao cho Hùng huynh, chư vị thấy thế nào?”
Chưa đợi mọi người lên tiếng, Sở Uy Vương đã lắc đầu quầy quậy, vòng tay từ chối: “Ngụy huynh bất tất phải khiêm nhường! Trong hội triều Mạnh Tân năm đó, Hùng Thương cơ thể bất an, không thể đến dự, vẫn luôn tiếc nuối trong lòng. Hoè Nhi trở về, Hùng Thương liên tục hỏi han về cảnh tượng tráng lệ của buổi đại hội, vô cùng chấn động trước tài trí, đức độ của Ngụy huynh. Lần này, chúng ta lại đại hội tại Mạnh Tân, người cầm tai bò, ngoài Ngụy huynh ra, còn ai xứng đáng?”
“Chính phải!” Tề Uy Vương phụ hoạ. “Lần trước Điền Nhân Tề cũng chưa đến tham gia, lần này coi như lấy công chuộc lỗi! Ngụy huynh xin đừng từ chối nữa, Điền Nhân Tề thực lòng tiến cử, không có nửa phần giả dối!” Rồi đưa mắt nhìn các vị công hầu, giọng điệu thành khẩn. “Xin chư vị hãy nghe Nhân Tề nói một câu. Sở dĩ Nhân Tề tiến cử Ngụy huynh là có ba nguyên nhân. Thứ nhất, nước Ngụy nằm ở giữa, là trung tâm của thiên hạ, nên làm chủ. Thứ hai, chúng ta hội thề, mục đích nhằm chống Tần, mà Ngụy phía tây lại tiếp giáp với Tần, nên cũng là đứng mũi chịu sào, vì vậy Ngụy huynh nên làm chủ. Thứ ba, năm xưa Văn Hầu trong tích đầy kho lẫm, ngoài tu luyện giáp binh, công đức hài hoà, mấy lần hội hợp chư hầu, xứng đáng là tấm gương của thiên hạ. Đến thời Ngụy huynh, trong giỏi trị nước, ngoài giỏi trị binh, rất xứng đáng để đảm đương trọng trách này!”
Tề Uy Vương thao thao liệt kê một lèo ba lý do, thực hư lẫn lộn, khiến Ngụy Huệ Vương nghe mà mặt mũi nóng ran, xua tay rối rít từ chối: “Không được, không được! Ngụy Anh không có đức vọng đó, không dám nhận cầm tai bò!”
Sở Uy Vương nhìn sang Tô Tần: “Tô Tử, quần long không thể không có đầu! Hợp tung là do Tô Tử khởi xướng, nhưng Tô Tử lại không chịu làm minh chủ. Hùng Thương và Điền huynh thật lòng tiến cử Ngụy Vương, nhưng Ngụy Vương cũng không chịu, Tô Tử hãy nói một câu công bằng, xem ai làm chủ là thích hợp, chúng ta đều sẽ nghe theo!”
Mọi người đều quay sang nhìn Tô Tần.
Nói cho công tâm, trong sáu nước tung thân, thực lực mạnh nhất là Sở, xưng vương sớm nhất cũng là Sở. Sở Uy Vương không những từ chối làm chủ, ngược lại còn tiến cử Ngụy Huệ Vương, quả thực nằm ngoài dự liệu của Tô Tần. Thấy Sở Uy Vương lại đùn đẩy sang mình, Tô Tần đành phải tiếp chiêu, cười mà nói: “Sáu nước hợp thân, tức là một nhà, đương nhiên không phân chủ thứ, không luận lớn nhỏ. Vì vậy, ai làm chủ cũng đều được, chẳng qua chỉ là thay mặt thực thi công đạo mà thôi. Vì vậy, Tô Tần kiến nghị, chức vị minh chủ, hãy để chư vị chúa thượng thay phiên nhau đảm nhiệm, mỗi vị giữ chức một năm!”
Một vấn đề gai góc nhường đấy, mà Tô Tần chỉ một câu đã hoá giải nhẹ tênh. Sáu vị quân chủ vừa nghe, lập tức tỏ ra phấn chấn. Đặc biệt là công hầu ba nước nhỏ Hàn, Triệu, Yên, thấy lời của Tô Tần cũng giống như cách xếp bàn tròn, không hề có ý khinh thường họ nước nhỏ thế yếu, trong lòng vô cùng cảm kích.
“Chư vị chúa thượng!” Tô Tần lại chậm rãi nói tiếp. “Còn về lần hội thề này, Tô Tần vẫn còn có lời muốn nói. Lúc nãy Sở Vương tiến cử Ngụy Vương làm chủ, Tô Tần cho rằng hữu lý, vì hội thề lần này đặt ở Mạnh Tân, thuộc địa giới nước Ngụy. Ngụy là gia chủ, Ngụy Vương làm minh chủ hợp tung đầu tiên cũng là hợp lý, đảm nhiệm một năm, đến ngày Thu phân năm sau sẽ mãn nhiệm. Còn về việc sang năm do ai kế nhiệm, Tô Tần tấu xin chư vị chúa thượng để ngày khác cùng bàn, được chăng?”
Triệu Túc Hầu, Hàn Chiêu Hầu, Yên Văn Công đều gật đầu, Sở Uy Vương, Tề Uy Vương khẽ vỗ tay.
Ngụy Huệ Vương không thể tiếp tục từ chối, bèn vòng tay khắp lượt: “Chư vị nhân huynh, Tô Tử, nếu mọi người đã yêu quý Ngụy Anh như vậy, Ngụy Anh cũng không từ chối nữa, nhiệm vụ cầm tai bò ngày mai, Ngụy Anh nhất định sẽ tận tụy trách nhiệm gia chủ! Để báo đáp, Ngụy Anh xin hứa, tất cả chi tiêu của chư vị trên đất Ngụy, bao gồm cả chi phí ngày mai, đều sẽ do Ngụy Anh cáng đáng!”
Năm vị quân chủ đều ôm quyền: “Đa tạ tung ước trưởng!”
“Bất tất đa tạ!” Ngụy Huệ Vương xua tay, cười ha hả mà nói. “Ngụy Anh như thế này đúng là ném ngói thu ngọc. Cho đến sang năm, bất kể là vị nào tiếp nhiệm làm tung ước trưởng, Ngụy Anh sẽ lại thu về!”
Mọi người đều bật cười, bầu không khí lại trở nên hài hoà vui vẻ.
“Chư vị nhân huynh!” Ngụy Huệ Vương tiếp lời. “Đã là do Ngụy Anh làm chủ, vậy Ngụy Anh xin được nói thêm một câu. Nay thiên hạ hội thề, tất cả đều là nhờ công của Tô Tử. Trong thời gian hợp tung, danh phận của Tô Tử là đặc sứ sáu nước. Nay tung thân đã thành, danh phận đặc sứ đã không còn thích hợp. Hơn nữa, trong thời gian sáu nước tung thân, cũng cần phải có người điều độ. Ngụy Anh đề nghị, sáu nước cùng đặt ra một ti ngoại tướng, do Tô Tử kiêm nhiệm làm ngoại tướng quốc của cả sáu nước, chuyên xử lý ngoại vụ, điều hoà những chỗ bất đồng, không biết ý chư vị thế nào?”
Mọi người đều gật đầu: “Xin nghe theo sự sắp xếp của tung ước trưởng!”
“Vậy thì tốt quá!” Hàn Chiêu Hầu nói. “Từ lâu Tô Tử đã là tướng quốc của Hàn, Triệu, nắm giữ ấn tướng quốc trong tay. Còn lại bốn nước Yên, Ngụy, Tề, Sở, lần này bái tướng, không biết đã chuẩn bị ấn tướng quốc hay chưa?”
Ngụy Huệ Vương đáp: “Này Hàn huynh, ấn tướng quốc của huynh và Triệu huynh bái hơi sớm rồi đấy. Thiên hạ hội thề, sáu nước phải cùng nhau bái tướng, ấn tín càng phải đồng nhất. Nếu như gầy béo khác nhau, Tô Tử sử dụng sẽ không thuận tiện. Nếu Tô Tử thích vàng, thì sẽ thiên vị cái lớn; nếu Tô Tử ngại tốn sức, thì sẽ thiên vị cái nhỏ. Đợi đến khi đóng ấn, Tô Tử chỉ chăm chăm chọn lớn chọn bé, chẳng phải sẽ để lỡ đại sự ư?”
Nghe Ngụy Vương nói vậy, tất cả mọi người đều cười nghiêng ngả, ngay cả Tô Tần cũng không nhịn được cười.
“Như vậy thì không được!” Hàn Chiêu Hầu cười xong, tiếp lời Ngụy Huệ Vương. “Quý tiện có khác biệt, ấn tướng làm sao có thể giống nhau?”
Sáu nước hội thề, ba nước Sở, Ngụy, Tề đều là vương, Yên là công thất, chỉ có Hàn, Triệu vẫn là tước hầu, địa vị thấp nhất trong sáu nước. Lúc này Hàn Chiêu Hầu lại nói ra lời này, rõ ràng là có dụng tâm. Thấy ông ta gợi ý, Triệu Túc Hầu liền thu lại nét cười, sửa áo ngồi ngay ngắn, khẽ đặng hắng một tiếng, coi như hưởng ứng.
Tô Tần vẻ như đã sớm nghĩ tới chuyện này, trầm giọng đáp: “Hàn Hầu nói rất phải!” Rồi ôm quyền nhìn khắp một vòng. “Chư vị chúa thượng, hiện giờ thiên hạ cùng xưng vương, chế độ nhà Chu đã không còn nữa, Chu lễ đương nhiên cũng nên thay đổi. Nay sáu nước hội thề, tự nhiên cùng tôn quý như nhau, vì vậy, theo ý của Tần, chi bằng hãy nhân cơ hội tốt đẹp này, sáu nước hãy cùng nhau xưng vương, tất thảy đều quay mặt về nam xưng tôn!”
“Hay! Hay lắm!” Ngụy Huệ Vương do xưng vương đầu tiên mà phải hứng chịu đủ mùi khổ sở, lập tức lên tiếng hưởng ứng trước nhất. “Ngụy Anh tán đồng! Hàn, Triệu, Ngụy vốn là một nhà, Ngụy Anh một mình ngồi trên, thực sự đến ngủ cũng không yên ổn!”
Mọi người đều cười sảng khoái. Ba nhà Hàn, Triệu, Yên đều không từ chối, hai nhà Tề, Sở cũng không lên tiếng phản đối, việc sáu nước cùng xưng vương coi như đã được chấp nhận.
Đợi mọi người cười xong, Triệu Túc Hầu nói tiếp: “Ấn tướng cũ không dùng được, ấn tướng mới lại chưa kịp đúc, ngày mai bái tướng thế nào đây?”
“Việc này không khó!” Ngụy Huệ Vương rõ ràng đã có chuẩn bị từ trước, cười vang mà nói. “Ngụy Anh tuy bất tài, nhưng cũng mang theo một số thợ đúc vàng, bây giờ sẽ lập tức truyền lệnh, để họ làm việc thông đêm, đúc ấn tướng cho liệt quốc. Đợi khi ăn thề xong, chúng ta sẽ cùng bái tướng, chư vị thấy thế nào?”
Mọi người đều gật đầu.
“Tuy nhiên,” Ngụy Anh thôi cười, nghiêm mặt nói, “còn về vàng đúc ấn, Ngụy Anh không bỏ ra đâu, để tránh ngày sau cãi vã rắc rối!”
Mọi người đều phá lên cười, rồi nói: “Tất nhiên, tất nhiên, chuyện này là tất nhiên rồi! Cần bao nhiêu vàng, tung ước trưởng cứ việc tuyên bố!”
“Ngụy Anh không thạo việc này!” Ngụy Huệ Vương lắc lư cái đầu to béo. “Đợi khi trở về hành dinh, sẽ có tư đồ Chu Uy tính toán, sau đó sẽ đến hành dinh của từng nhà thu vàng. Đến lúc đó, chư vị đừng có thoái thác là được!”
Tiếng cười lại càng vang rộ.
“Tô tướng quốc!” Ngụy Huệ Vương quay sang Tô Tần. “Hôm nay tướng quốc mời khách, nên cũng là gia chủ. Ngoài những việc này ra, còn chuyện gì khác nữa không?”
“Đã hết rồi!” Tô Tần cũng thu nét cười lại, vòng tay đáp.
“Nếu như không còn chuyện gì nữa, Ngụy Anh xin đưa ra một đề nghị. Chư vị đều là người nho nhã, nơi này phong cảnh hữu tình, không có người ngoài, lại chẳng có ngự sử ở bên, chúng ta cớ sao không tự tấu đàn sáo, thổ lộ tình hoài, tự mình mua vui cho thoả thích?”
Mọi người đều tỏ ra hưng phấn, đồng thanh nói: “Xin nghe theo lời tung ước trưởng!”
Ngụy Huệ Vương xoa tay vào nhau, thổi phù phù mấy cái trông rất khoa trương, quay sang gọi tuỳ tùng: “Mang đàn lại đây!”
Các vị quân chủ cũng đều hào hứng, lần lượt gọi mang nhạc cụ của mình đến. Chẳng mấy chốc, bên bờ bắc Hà Thuỷ, dưới chân núi Hạc Minh, đã nghe cầm sắt hài hoà, chuông khánh ngân nga, sáo tiêu réo rắt, hoà quyện với tiếng chim ríu rít trong rừng, tiếng sóng rì rào trên Hà Thuỷ, hợp thành một bản hoà tấu tưng bừng, khiến đất trời cảm động.
Tô Tần ngồi yên lặng, chăm chú lắng nghe, hai hàng lệ từ từ tuôn chảy.
Vào lúc này đây, ngoại trừ Tần Công, tất cả những nhân vật uy quyền nhất trong thiên hạ cuối cùng cũng đã gạt bỏ tranh chấp, ngồi lại bên nhau, cùng tấu nhạc hoà âm. Cho dù kết quả thế nào, chí ít cho tới hiện tại, cũng coi như có được một khởi đầu tốt đẹp.
Ngày hôm sau, khi phương đông vừa hửng, trong vòng ba mươi dặm vuông tại Mạnh Tân, rộn ràng tiếng người reo ngựa hí, cảnh tượng vô cùng náo nhiệt. Đến giờ Mão, nghi thức hội thề tráng lệ không tiền khoáng hậu đã được bắt đầu trên đài hội thề vừa mới hoàn tất sau mấy tháng dày công xây dựng.
Người chủ trì toàn bộ nghi thức hội thề, chính là chức tư minh, đương nhiên do sứ thần sáu nước Tô Tần đảm đương, điều này không cần bàn cãi. Theo quy chế cổ, nghi thức gồm chín phần, lần lượt là: thứ nhất, đào đất làm hố; thứ hai, cắt tai bò; thứ ba, viết chính thư; thứ tư, tuyên đọc chính thư; thứ năm, uống máu; thứ sáu, chiếu cáo trời đất và sáu phương thần minh; thứ bảy, chép bản sao; thứ tám, giết vật tế; thứ chín, chôn chính thư cùng với vật tế.
Đỉnh đài hội thề cao tám trượng tám tấc, có hình lục giác, mỗi cạnh dài sáu trượng, diện tích vừa tròn ba mươi sáu trượng. Trung tâm của đài là một hố đất hình vuông, bốn cạnh đều dài tám thước tám tấc, sâu tám thước tám tấc, đã được đào sẵn từ trước. Trên vách chính bắc của hố đất có khoét một khám thờ, bên trong bày bảo ngọc đủ màu, gồm các loại ngọc bích, ngọc hoàng, ngọc viện, ngọc hoàn, ngọc quyết, ngọc bội mỗi thứ sáu cái, lần lượt khắc họ của sáu nước. Đặt ở giữa hố là con bò tơ lông màu đỏ hung, béo tốt to khoẻ, sinh ra vào ngày Thu phân năm ngoái, lúc này vừa tròn một tuổi, số ngày tuổi vừa đủ một vòng chu thiên. Do bốn chân đều bị trói chặt, không thể nhúc nhích, nên con bò chỉ biết trợn trừng hai mắt, khiếp đảm run sợ nhìn đám người mũ áo rực rỡ mỗi lúc một đông quanh miệng hố, rống lên từng tiếng thê thiết.
Cờ xí phấp phới, tù và rền vang từng chặp.
Tô Tần tuyên bố bắt đầu nghi thức hội thề. Tung ước trưởng Ngụy Huệ Vương liền sải từng bước dài, bước xuống hố đất, cầm lấy tai trái của con bò tơ. Quan tư tế đi theo sau tay cầm đao bén, nháy mắt đã cắt đứt phăng vành tai bò. Đã có người cầm âu ngọc đứng sẵn một bên, hứng phía dưới chiếc tai máu nhỏ ròng ròng. Do tư tế xuất đao thần tốc, nên bò tế thoạt tiên không thấy đau đớn, chỉ đến khi máu từ vành tai đứt sắp chảy kiệt, mới vằng mạnh cái đầu, rống lên một tiếng dài bi thảm.
Đợi đến khi máu đã chảy hết, tư tế nhận lấy cái tai bò từ trong tay Ngụy Huệ Vương, ném xuống hố, sau đó lấy một thanh gỗ đào đã được quấn dây đay một đầu, khuấy mấy cái trong âu ngọc, để loại bỏ tà khí trong máu tươi, sau đó nhận lấy âu ngọc, đi theo Ngụy Huệ Vương, bước lên khỏi hố.
Sau khi lên khỏi hố, tư tế trao lại âu ngọc cho tư minh Tô Tần. Tô Tần đổ một chút máu vào trong nghiên. Lâu Hoãn đứng hầu sẵn bên cạnh bèn dùng bút son chấm máu, viết lời thề đã được Khuất Bình soạn sẵn lên tấm lụa trắng đã được chuẩn bị từ trước.
Chừng một khắc sau, Lâu Hoãn viết xong, trình minh thư lên Tô Tần.
Tô Tần một tay cầm minh thư, một tay cầm âu ngọc, bước lên đài đất trải thảm gấm bên cạnh, tuyên đọc minh thư trước trời đất quỷ thần. Lời thề viết rằng:
“Vận trời chẳng thông,
Đạo suy đức hại,
Chu thất suy vi,
Lễ băng nhạc hoại.
Quân thần bất hoà,
Sinh ra gian tặc.
Lại có bạo Tần,
Chính pháp hà khắc.
Thiên hạ tai ương,
Lê dân khốn khổ.
Máu thấm tên sắc,
Xương khôn nhập mồ.
Quỷ thần giận dữ,
Dân chúng oán hận.
Đề xướng hợp tung,
Người chu Tô Tần.
Nô nức hưởng ứng,
Sáu nước chư quân.
Mạnh Tân hội thề,
Ngày đẹp Thu phân.
Cùng nhau thệ nguyện,
Chiếu cáo thần minh.
Đồng minh của ta,
Đều không hưng bình.
Đồng thù đồng địch,
Hoạn nạn chung lòng.
Bang giao qua lại,
Thực hành ngũ thông.
Đường đi thông suốt,
Nước không cách ngăn.
Cùng phạt hung đảng,
Cùng chống bạo Tần.
Trời cao đất cả,
Sáu họ tổ tiên.
Cùng về chứng kiến,
Chứng giám hội nguyền.
Nếu phản lời thề,
Minh thần xuống lệnh,
Tiêu diệt họ tộc,
Tước bỏ tính mệnh.”
Tô Tần đọc xong, bước xuống dưới đài, đi tới trước mặt Ngụy Huệ Vương, từ từ quỳ xuống, nâng âu ngọc ngang mày, nói lớn: “Mời tung ước trưởng uống máu!”
Ngụy Huệ Vương nhận lấy âu ngọc, nâng lên bên môi, khẽ uống một ngụm, rồi đưa tay quẹt ngang miệng, khiến máu tươi bê bết đầy cằm. Tiếp theo là Sở Uy Vương, Tề Uy Vương, Hàn Chiêu Hầu, Triệu Túc Hầu và Yên Văn Công. Mỗi người đều uống một ngụm, sau đó cùng quẹt xuống cằm. Nhìn thấy Yên Văn Công tuổi tác cao nhất, đức vọng lớn nhất lại đứng ở cuối cùng, Tô Tần bất giác cảm thán tận đáy lòng. Suốt những ngày này, cho dù Tô Tần cực lực đề xướng các nước tung thân không phân lớn nhỏ, tôn ti, thế nhưng bản thân mỗi chư hầu vẫn có tính toán riêng tư trong lòng.
Sau khi uống máu xong, đến phần chiếu cáo trời đất quỷ thần. Tô Tần vung tay, quân chủ sáu nước lần lượt lui sang một bên, đại vu chúc của sáu nước phục sức loè loẹt đăng đài, trổ hết tài nghệ ca hát nhảy múa trong tiếng vu nhạc, để thông báo với trời đất thần linh. Đại vu chúc múa xong, lại cùng lui xuống, tư minh của sáu nước lên đài, mỗi người đều cầm bút chép lại lời thề lên một tấm mai rùa làm bản sao. Chép xong, Lâu Hoãn kiểm tra một lượt, thấy không có sai sót, sáu vị tư minh mới lui xuống, rồi sáu vị quân chủ và Tô Tần cùng đi tới bên hố đất, cùng chứng kiến tư tế giết bò tế.
Tư tế tay cầm đao nhọn, thong dong bước theo bậc cấp xuống hố, một đao cứa ngang cổ con bò đang toàn thân run rẩy, bên tai trái vẫn ròng ròng máu tươi, khiến sáu vị quân chủ nhìn mà kinh hồn bạt vía. Đứt ngang khí quản, con bò trước tiên hai chân trước từ từ khuỵu xuống, sau đó toàn thân đổ quỵ.
Tư tế trở lên miệng hố, Tô Tần ném bản chính của minh thư và âu ngọc xuống hố, vừa hay rơi đúng đầu bò. Ngụy Huệ Vương vung xẻng, hất xẻng đất đầu tiên xuống hố. Tiếp đó, đến lượt các vị quân chủ khác xúc đất hất xuống. Thấy mọi người đều đã hất đất xong, Tô Tần liền vung tay, hai mươi tráng sĩ lập tức tay xẻng nhoay nhoáy, chưa đầy một khắc đã lấp đầy hố đất, đắp đất cao thành một hình trụ vuông.
Thề ước xong xuôi, tiếp đến là nghi lễ bái tướng.
Quân chủ sáu nước lần lượt ngồi quay mặt về nam, trước mặt mỗi người đều bày một ấn vàng. Ấn vàng mới được hơn hai mươi thợ khéo quần quật thông đêm đúc ra, tất cả đều to chừng nắm đấm, được bọc trong lớp gấm vàng sang trọng.
Trước ánh mắt của quân dân sáu nước, Tô Tần cất bước đi tới trước mặt sáu vị quân chủ, từ từ quỳ xuống, hành đại lễ ba lạy chín dập đầu với từng người, lần lượt nhận lấy ấn tướng từ trong tay từng vị quân chủ.
Khi Tô Tần tay nâng sáu chiếc ấn tướng quốc quay người bước xuống đài, tiếng chiêng tiếng trống bỗng chốc vang rên, trên đài dưới đài cờ bay phấp phới, vạn người ngợi khen, tiếng hô dậy đất.
Hai hàng nước mắt lặng lẽ lăn xuống má Tô Tần, rơi lã chã xuống tấm thảm dưới chân.