Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 4
Ngụy Hầu xưng vương đánh nước Vệ
Tôn Tân rời nhà ra sa trường

❊ ❊ ❊

Chính vào lúc Long Giả, Chu Uy, Công Tôn Diễn bận rộn trong phủ tướng quốc lo tang sự cho Bạch tướng quốc thì đám Công Tôn Ưởng, Trần Chẩn cũng không hề nhàn rỗi, suốt ngày đêm bàn bạc việc kết liên minh Tần Ngụy, điển chương lễ nghĩa, điển lễ xưng vương. Vài ngày sau, hiệp ước kết minh Tần Ngụy đã thảo xong, sau khi soát lại một lượt, thấy không còn chỗ nào vướng mắc, Trần Chẩn và Công Tôn Ưởng bèn sai người chép thành hai bản trên da dê, rồi vào cung trình lên Ngụy Huệ Hầu xem xét.

Ngụy Huệ Hầu sau khi đọc kỹ, nói với tỳ nhân: “Mang vương tỷ lại đây!”

Tỳ nhân vào trong mật thất, mang ra một hộp gỗ đàn hương tinh xảo, mở ra trước mặt Ngụy Hầu. Ngụy Hầu đích thân nâng ngọc tỷ vừa khắc xong ra khỏi hộp, ngắm nghía sắc ngọc trắng muốt vẫn còn mới nguyên, cười nói với Công Tôn Ưởng và Trần Chẩn: “Ha ha, đây là lần đầu tiên quả nhân dùng đến vương tỷ!”

Công Tôn Ưởng nghe vậy bèn quỳ xuống, khấu đầu nói: “Bệ hạ lần đầu dùng vương tỷ cho việc của người Tần, người Tần quả là may mắn!”

Huệ Hầu lại cười vang: “Ái khanh hãy bình thân! Chỉ cần đóng lên vương tỷ, việc của người Tần cũng chính là việc của quả nhân.”

“Vi thần thay Tần Công khấu tạ ơn che chở của bệ hạ!”

Ngụy Huệ Hầu đích thân chấm vương tỷ vào mực son, rồi đóng ngay ngắn lên từng tấm da dê. Tỳ nhân thu lại, giao cho Công Tôn Ưởng. Công Tôn Ưởng hai tay đỡ lấy, lại dập đầu liền ba cái, cất giọng sang sảng: “Hôm nay có vương tỷ của bệ hạ, hiệp ước kết minh này đã có hiệu lực. Vi thần sẽ lập tức mang hiệp ước về Tần, đợi Tần Công đóng lên ấn tỷ, vi thần lập tức phái sứ giả trình lên bệ hạ!”

“Tốt lắm!” Ngụy Huệ Hầu khẽ gật đầu, rồi ngoảnh sang Trần Chẩn. “Trần ái khanh, sự việc tông bá làm đến đâu rồi?”

Trần Chẩn khấu đầu nói: “Khởi bẩm bệ hạ! Triều đình mới đã bắt đầu, điển chương nghi lễ đang soạn thảo, chẳng bao lâu nữa sẽ ban bố. Còn về điển lễ chúc mừng, đã mời thầy vu chọn được ngày tháng và địa điểm cát lợi!”

“Ồ!” Ngụy Huệ Hầu vui mừng ra mặt. “Là ngày nào, nơi nào?”

“Ngày cát là ngày vọng tháng năm, nơi cát là Phùng Trạch.”

Ngụy Huệ Hầu ngẫm nghĩ một lát, gật đầu nói: “Ồ, Phùng Trạch là nơi phượng hót rồng ngâm, quả nhân nên tới đó tế bái! Tốt lắm, việc này cứ quyết định như vậy, ái khanh hãy khởi thảo hịch văn, truyền hịch tới công hầu liệt quốc, thông báo cho họ vào ngày vọng tháng sau hội tụ ở Phùng Trạch! Còn nữa, hịch văn nhất thiết phải ý tứ rõ ràng, ngôn từ minh xác, nói rõ lần này quả nhân quay mặt về nam xưng vương, làm đại lễ đăng cơ tại Phùng Trạch, tránh để liệt quốc hiểu sai, cho rằng lại vào chầu Chu thiên tử!”

“Vi thần tuân chỉ!”

Sau khi cáo lui, rời khỏi cung thành, Trần Chẩn và Công Tôn Ưởng tới lầu Nguyên Hanh. Vẫn là Công Tôn Ưởng đứng ra làm chủ, mời thêm công tử Ngang tới, ba người uống rượu ăn mừng, chúc cho liên minh Ngụy Tần thành công.

Sau tiệc rượu, Công Tôn Ưởng cáo từ về Tần. Do phải gấp rút chuẩn bị truyền hịch tới liệt quốc, Trần Chẩn chỉ tiễn tới cổng thành tây thì cáo từ về phủ. Công tử Ngang cũng có việc riêng, tiễn khoảng hơn mười dặm nữa thì quay về. Công Tôn Ưởng quay người, vòng tay vái mà nói: “Thượng tướng quân dừng bước, Công Tôn Ưởng xin từ biệt tại đây!”

Công tử Ngang vái đáp lễ, lại nói: “Việc Tử Vân công chúa, còn phải làm phiền đại lương tạo!”

Công Tôn Ưởng cười vang mà nói: “Thượng tướng quân yên tâm, chén rượu mừng này, Công Tôn Ưởng kiểu gì cũng phải uống bằng được!”

Công Tôn Ưởng thắng lợi trở về, Tần Hiếu Công ra ngoài thành tận ba mươi dặm nghênh đón, nắm tay Công Tôn Ưởng cùng lên xe về cung. Trên đường đi, Công Tôn Ưởng kể lại vắn tắt đầu đuôi cuộc đi sứ Ngụy cho Hiếu Công nghe. Về tới cung, Công Tôn Ưởng trình hiệp ước liên minh Tần Ngụy lên Hiếu Công. Hiếu Công vội vã mở xem, rồi đưa cho nội thần đóng ngọc tỷ. Nội thần vừa bước ra khỏi nội điện, Công Tôn Ưởng đã phịch một tiếng quỳ sụp xuống, hai tay ôm đầu phủ phục dưới đất, hạ giọng mà tâu: “Chúa thượng, vi thần có tội!”

Hiếu Công ngạc nhiên hỏi: “Ái khanh cứu vãn nguy cục, công lao còn chưa kể hết, lại có tội gì?” Vừa nói vừa đưa tay đỡ Công Tôn Ưởng dậy.

Nhưng dù Hiếu Công lôi kéo thế nào, Công Tôn Ưởng cũng không chịu đứng lên, nhất quyết quỳ dưới đất, miệng chỉ lặp đi lặp lại bốn chữ: “Vi thần có tội!”

Hiếu Công cảm thấy quái lạ, bèn buông tay ra, lùi tới trước bàn, từ từ ngồi xuống: “Công Tôn ái khanh, nói đi, khanh có tội gì?”

“Vi thần to gan, dám hứa gả Tử Vân công chúa!”

“Khanh nói gì?” Tần Hiếu Công hết sức ngỡ ngàng, dường như chưa nghe rõ. “Tử Vân công chúa làm sao? Hứa gả cái gì?”

Công Tôn Ưởng dập đầu sát đất, nói rành rọt từng chữ: “Vi thần đã tự ý chủ trương, hứa gả Tử Vân công chúa cho thượng tướng quân nước Ngụy công tử Ngang!”

Tần Hiếu Công nghe rõ từng lời, há miệng cứng lưỡi, ngây người chết lặng. Hồi lâu sau, Hiếu Công mới nhấc mình đứng dậy, đi tới đi lui trong đại điện, sau đó dừng lại, run run chỉ tay vào Công Tôn Ưởng, lớn tiếng trách cứ: “Ái khanh ơi ái khanh, khanh… khanh bảo quả nhân phải ăn nói thế nào đây? Trước khi đi, khanh chưa từng nhắc tới chuyện Tử Vân, sao vô duyên vô cớ nói gả là gả được? Khanh… chẳng phải khanh thừa biết Tử Vân công chúa là… là… là… Than ôi, việc này khác nào khanh cầm dao cắt thịt trong tim gan quả nhân!”

“Công Tôn Ưởng biết tội!”

Hiếu Công lắc đầu than thở: “Trời ơi, biết tội… biết tội thì làm được gì đây? Việc quan trọng như vậy, khanh cũng nên bàn bạc trước mới phải chứ! Khanh có thể không nói với Tử Vân, không nói với quả nhân, khanh cũng có thể không nói với phu nhân, nhưng còn lão phu nhân, khanh… khanh cũng nên né mặt ít nhiều chứ! Trong ngoài cung, ai cũng biết Tử Vân là khúc ruột của lão phu nhân, hôn sự của Tử Vân, nếu lão phu nhân chưa đồng ý, dù là quả nhân cũng không dám tuỳ tiện hứa gả. Thế mà khanh… khanh lại hứa gả công chúa cho một kẻ vô dụng bất tài!” Nói đoạn, lại thở dài sườn sượt.

“Chúa thượng!” Công Tôn Ưởng càng dập đầu sát đất, nín thở một lát, rồi nói khẽ. “Vô dụng mới là đại dụng! Mất một công chúa, song được toàn cục!”

Hiếu Công sửng sốt, chau mày hỏi lại: “Vô dụng mới là đại dụng?” Nói xong lại đi tới đi lui trong đại điện.

Bước chân của Hiếu Công cứ thế chậm dần, rồi chợt dừng hẳn, quay về trước bàn, từ từ ngồi xuống, mắt nhìn thẳng vào Công Tôn Ưởng: “Nói đi! Theo ý ái khanh, bao giờ Tử Vân xuất giá là thích hợp?”

“Việc này không thể chậm trễ, buổi triều hội ở Phùng Trạch chính là ngày đẹp. Ngụy Vương đăng cơ, Tần Ngụy kết thông gia, Ngụy Vương song hỷ lâm môn, tất không có ý đề phòng ta nữa!”

“Lúc nào ái khanh khởi hành tới hội?”

“Ba ngày nữa!”

Hiếu Công trầm ngâm một lát, rồi lớn tiếng gọi: “Người đâu!”

Nội thần vừa đóng xong ngọc tỷ, tay cầm hiệp ước liên minh vội vã chạy lại: “Có lão nô!”

“Truyền chỉ hậu cung, chuẩn bị đồ lễ vu quy cho Tử Vân công chúa!”

Nội thần sững sờ mất một lúc mới đáp: “Lão nô tuân chỉ!”

Nội thần đi khỏi, Công Tôn Ưởng lại dập đầu khấu bái, nước mắt giàn giụa: “Chúa thượng thánh minh!”

Hiếu Công chậm chạp đứng dậy, thở dài một tiếng rồi nói: “Công Tôn ái khanh, khanh đi đường vất vả, hãy mau về nghỉ ngơi. Quả nhân… quả nhân cũng mệt rồi!”

“Vi thần cáo lui!”

Trên đường tới hậu cung, nội thần trong lòng băn khoăn, không biết nên truyền ý chỉ như thế nào, bước chân mỗi lúc một chậm. Tới trước cửa cung, nội thần trù trừ một lát, rồi quyết định tới chính cung, bái kiến phu nhân trước.

Phu nhân của Hiếu Công là em gái ruột của Hàn Chiêu Hầu. Năm xưa, Hiến Công vì muốn cướp lại Hà Tây từ nước Ngụy, đã kết minh với Hàn, xin cưới con gái Hàn thất làm vợ thái tử Cừ Lương, sinh được Doanh Tứ. Trong cuộc chiến Hà Tây, Hiến Công tử trận, Hiếu Công tức vị, lập Hàn nữ làm phu nhân, năm sau sinh ra Tử Vân. Tử Vân là con của chính thất, lại là em gái ruột thái tử, đương nhiên địa vị cao nhất trong số các công chúa. Lại thêm nhan sắc tuyệt trần, ăn nói khôn khéo, không chỉ được Hiếu Công hết mực yêu thương, mà còn là viên ngọc quý trong tay lão phu nhân, tức mẹ Hiếu Công, phu nhân của Hiến Công.

Khi nội thần truyền chỉ, Tử Vân công chúa vừa hay tới thăm mẫu hậu nên cũng nghe được tin này. Tần Ngụy xưa nay thù sâu như biển, Tử Vân công chúa nghe nói công phụ gả mình cho người Ngụy, mặt hoa biến sắc, lập tức quay người chạy thẳng tới cung lão phu nhân, quỳ xuống trước mặt, ôm lấy hai chân bà khóc lóc thảm thiết đến chết đi sống lại. Lão phu nhân vô cùng kinh ngạc, hỏi đến năm lần bảy lượt, Tử Vân vẫn khóc, nghẹn ngào không nói nên lời. Lão phu nhân lòng đau như cắt, ôm công chúa vào lòng, hết lời vỗ về an ủi, Tử Vân vẫn khóc nức nở, lão phu nhân chỉ biết lau nước mắt cho công chúa, đang không biết phải làm gì, chợt thấy phu nhân của Hiếu Công đang tiến lại. Từ xa nhìn thấy hai bà cháu đang ôm nhau khóc, Hiếu Công phu nhân vội vã bước tới, quỳ xuống khấu bái, khóc nấc lên từng tiếng.

Lão phu nhân càng hốt hoảng, vội lau nước mắt, vừa dỗ dành Tử Vân, vừa quay sang hỏi Hiếu Công phu nhân: “Trông hai người kìa… Trời sắp sập rồi ư? Mau nói xem, đã xảy ra chuyện gì?”

Hiếu Công phu nhân nghẹn ngào kể lại đầu đuôi sự việc. Lão phu nhân kinh ngạc đến chết sững, một lúc sau mới hoàn hồn, lập tức đùng đùng nổi giận, đứng phắt dậy, quờ lấy cây gậy đầu rồng, nện cồm cộp xuống đất, vừa nện vừa gọi: “Người đâu!”

Cung chính vội vã bước lại: “Có nô thần!”

“Mau gọi Doanh Cừ Lương lại đây! Gọi cả Kiền Nhi, Tứ Nhi lại đây hết cho ta!”

Một lát sau, ba người Tần Hiếu Công, Doanh Kiền, Doanh Tứ đều chạy tới. Doanh Kiền, Doanh Tứ nghe nói lão phu nhân nổi trận lôi đình, song không rõ nguyên nhân, mặt mày hớt hải bước vào cửa cung. Từ xa đã nhìn thấy lão phu nhân ngồi ngay ngắn trên chiếu, bên cạnh không có một ai, còn Tần Hiếu Công quỳ dưới đất, hai người đứng nghệt ra một lát, rồi vội vã bước lại, trong lòng hoang mang, cũng quỳ xuống phía sau Hiếu Công.

Lão phu nhân ngồi trước án, mặt đỏ phừng phừng đưa mắt nhìn ba người một lượt, sau đó gõ mạnh cây gậy xuống nền gạch, nghiêm giọng quát lên: “Chó Ngụy chiếm đoạt Hà Tây của ta, giết hại phu quân ta, có mối thù không đội trời chung với ta. Doanh Cừ Lương… ngươi là đứa con bất hiếu, đã không báo thù thì chớ, sao lại còn gả Tiểu Vân Nhi của bà già này cho chó Ngụy?”

Doanh Kiền, Doanh Tứ đã hiểu ra, bèn đưa mắt nhìn nhau. Tần Hiếu Công dập đầu sát đất, mông chổng lên trời, chỉ lặng im không nói.

Lão phu nhân cười nhạt: “Doanh Cừ Lương, ngươi tưởng không nói là xong chuyện ư? Bà già này hỏi ngươi, nghe nói là Công Tôn Ưởng tự tung tự tác, bán Tiểu Vân Nhi đi phải không?”

Tần Hiếu Công cuối cùng cũng phải lên tiếng, ấp úng: “Hồi bẩm mẫu hậu, chuyện này không liên quan tới Công Tôn Ưởng, mà là chủ ý của Cừ Lương, đã dặn dò Công Tôn Ưởng tới Ngụy xin kết thông gia. Mẫu hậu muốn đánh muốn phạt gì, Cừ Lương xin nhận!”

Lão phu nhân trong lòng tức uất, nước mắt giàn giụa: “Ngươi bao che cho tên khác giống đó?” Rồi chỉ vào Doanh Kiền, Doanh Tứ. “Ngươi mở mắt nhìn chúng đi, Công Tôn Ưởng nay trách đứa này, mai phạt đứa kia, chỉ e không biết hôm nào hắn sẽ động tới thân già này. Doanh Cừ Lương, ngươi mở miệng là rêu rao chữ hiếu làm đầu, hôm nay, tại đây, hãy nói rõ ràng cho thân già này biết!”

Tần Hiếu Công lại dập đầu sát đất, mặc cho lão phu nhân trách cứ, một câu cũng không hé răng. Công Tôn Ưởng đặt ra biến pháp, dốc sức cải chế, những người bị liên luỵ đa phần là cựu thần thế tộc, mà trong số những người này hầu hết đều có quan hệ thân thiết với lão phu nhân, do vậy lão phu nhân từ lâu đã không hài lòng. Hôm nay nhân sự việc này, lão phu nhân càng khóc lóc mắng chửi thậm tệ, kể lể một loạt “tội ác” của Công Tôn Ưởng từ khi tới đất Tần.

Doanh Kiền từng chịu tội thay thái tử, bị Công Tôn Ưởng xử phạt xẻo mũi, càng nghe càng thấy đau lòng, lê lên vài bước, ôm lấy chân lão phu nhân khóc thảm thiết, giọng lạc đi: “Mẫu thân…”

Tần Hiếu Công càng vùi đầu sâu hơn vào ống tay áo, dù có tức giận cũng không dám để lộ ra mặt. Lão phu nhân chửi mắng một hồi thì thấm mệt, bèn lau nước mắt, quay sang Tần Hiếu Công nói lớn: “Doanh Cừ Lương, ngươi nghe cho kỹ, không có ý chỉ của mụ già này, ngươi không được phép gả Tiểu Vân Nhi cho ai hết!”

Lời nói vừa dứt, từ phía nội cung vọng lại tiếng khóc của Tử Vân công chúa và Hiếu Công phu nhân. Lão phu nhân trong lòng lo lắng, đứng bật dậy, hừ mũi một tiếng, nhấc gậy lên, gõ cồm cộp xuống đất, phăm phăm bước đi.

Thấy lão phu nhân đã đi xa, Tần Hiếu Công mới đứng dậy, nét mặt nặng nề, liếc nhìn Doanh Kiền, Doanh Tứ đang hoang mang quỳ dưới đất, sau đó quay người rảo bước đi luôn. Nội thần đứng đợi sẵn ngoài cửa chạy vội theo sau. Khi sắp tới thư phòng, Hiếu Công mới chậm bước lại. Nội thần, bước lên một bước, khẽ nói: “Chúa thượng, chuyện của Tử Vân công chúa, hay là… để thư thư đã?”

Tần Hiếu Công đứng khựng lại, quay phắt sang nhìn nội thần, đùng đùng nổi giận, quát lớn: “Thư thư cái gì? Truyền chỉ, việc Tử Vân xuất giá, phải gấp rút tiến hành! Còn nữa, từ nay về sau bất luận trong triều đình hay hậu cung, ngoại trừ lão phu nhân, ai dám đả động tới chuyện này, chém ngay không tha!”

“Lão nô lĩnh chỉ!”

***

Ngụy Huệ Hầu truyền hịch tới liệt quốc, mời công hầu các nước vào ngày vọng tháng năm tới Phùng Trạch dự lễ xưng vương. Do thời gian quá gấp, với những nước khá xa như Yên, Sở, Việt, Trần Chẩn chỉ báo tin cho họ biết; còn những nước lân cận như Tần, Tề, Hàn, Triệu, Trung Sơn, Nghĩa Cừ và bốn nước nhỏ là Vệ, Lỗ, Trần, Tống, đều gửi hịch văn tận tay. Để thêm phần long trọng, Ngụy Huệ Hầu còn gửi kèm thiệp mời tự tay viết, có đóng dấu son từ vương tỷ mới.

Để đảm bảo điển lễ được suôn sẻ, không gặp sơ suất, cũng đề phòng gặp phải phản kháng, Ngụy Huệ Hầu đã điều động năm vạn binh sĩ do đích thân thượng tướng quân thống lĩnh tới Đại Lương trước. Bản thân Ngụy Huệ Hầu cũng xuất phát trước mười ngày, ngồi xe ngựa, bừng bừng khí thế, thẳng tới Phùng Trạch.

Ngựa truyền hịch của Ngụy Hầu mau chóng tới kinh đô Đế Khâu nước Vệ. Vệ Thành Công đọc xong hịch văn, vô cùng kinh hãi. Sau khi sắp xếp ổn thoả cho sứ thần, Vệ Thành Công cấp tốc tuyên gọi lão thần Tôn Cơ tới bàn kế sách ứng phó.

Tôn Cơ là cháu đời thứ tư của binh gia Tôn Vũ thời Xuân Thu, vốn là tể phụ nước Tống, do bất hoà với Tống Công, hai mươi năm trước đã dắt theo hai con trai tới nước Vệ, được Thành Công trọng dụng làm tể phụ, sau gọi là tướng quốc.

Tôn Cơ xem qua truyền hịch, lại đọc thiệp mời do đích thân Ngụy Huệ Hầu viết, đôi mày chau tít, hồi lâu mới ngẩng lên nhìn Thành Công: “Chúa thượng…”

“Lão ái khanh,” Vệ Thành Công nhìn thẳng vào khuôn mặt dạn dày sương gió của Tôn Cơ. “Theo ý khanh, đại hội Phùng Trạch lần này, quả nhân có nên đến dự?”

“Lão thần cho rằng, chúa thượng đi cũng không được, mà không đi cũng không xong!”

“Trước tiên thử nói xem, không đi có gì không được!”

“Ba nước Tề, Hàn, Triệu có thể không đi, song chúa thượng không thể không đi! Hành vi của Ngụy Anh tuy là mạo phạm thiên hạ, song nước nhỏ như ta lại không có khả năng chống đối.”

Vệ Thành Công khép hờ hai mắt, trầm ngâm suy nghĩ, rất lâu sau mới ngẩng lên hỏi: “Ý của lão ái khanh là, ba nước Tề, Hàn, Triệu có thể sẽ không đi?”

Tôn Cơ đáp: “Theo lão thần, không chỉ ba nước lớn Tề, Triệu, Hàn không đi, mà các nước nhỏ ở lưu vực sông Tứ cũng chưa chắc đã đi.”

Vệ Thành Công đăm chiêu suy nghĩ.

Tôn Cơ tiếp tục nói: “Các nước nhỏ khác có thể không đi, chỉ riêng chúa thượng không thể không đi!”

Vệ Thành Công ngạc nhiên: “Tại sao?”

“Lượng thứ cho lão thần nói bừa, trong số những nước nhỏ ở lưu vực sông Tứ, duy có ta là gần Đại Ngụy nhất, lại rất dễ bị công phá. Nếu không đi, dựa vào tính khí của Ngụy Anh, tất sẽ khai đao với ta trước, nhằm mục đích giết gà doạ khỉ!”

Vệ Thành Công cúi đầu, tiếp tục trầm tư, một lát sau, lại ngẩng lên hỏi: “Đấy là ‘không đi cũng không được’. Thế còn nếu quả nhân đi, lại có gì không được?”

“Ba nước Tề, Triệu, Hàn có thể đi, song chúa thượng lại không thể đi!”

Vệ Thành Công kinh ngạc: “Dựa vào đâu mà nói vậy?”

“Ngụy Hầu xưng vương, là mưu nghịch soán ngôi. Ba nước Tề, Hàn, Triệu cũng giống như Ngụy, đều là đại phu soán ngôi, chứ không phải chư hầu do Chu thất phong tặng từ xưa, sớm đã không còn chính danh. Song chúa thượng lại khác. Tiên tổ của chúa thượng là em trai của Vũ Vương, cùng chung huyết mạch với Chu thất. Nếu chúa thượng đi, chẳng phải đã tán thành mưu đồ phản nghịch lần này? Tuy có thể giữ được an toàn nhất thời, song sẽ để lại tiếng nhơ trong sử sách, ít nhất cũng bị người đời sau chê cười!”

Vệ Thành Công gật đầu: “Lão ái khanh nói rất đúng! Quả nhân suy đi tính lại, cũng chưa thể đưa ra quyết đoán! Hẳn là lão ái khanh đã có kế sách song toàn?”

Tôn Cơ trầm ngâm suy nghĩ, rồi chậm rãi nói: “Chúa thượng xem thế này có được không? Đại hội Phùng Trạch, hãy để lão thần dẫn thái tử tới ứng phó. Chỉ cần chuẩn bị nhiều lễ vật, nói năng lọt tai, Ngụy Hầu chắc cũng không đến nỗi trút giận lên ta.”

Vệ Thành Công nhắm hờ đôi mắt, tiếp tục trầm ngâm suy nghĩ. Một lúc lâu sau mới mở bừng mắt ra, lắc đầu mà nói: “Làm thế khác nào kẻ chạy năm chục bước chê người chạy trăm bước, không thể được!”

Tôn Cơ thở dài thườn thượt: “Đúng là kẻ chạy năm chục bước chê người chạy trăm bước, song lão thần thực sự không còn kế nào hay hơn!”

Vệ Thành Công trán đã giãn ra, cất giọng kiên quyết: “Đi cũng không được, không đi cũng không xong, sai thái tử đi không biết có được việc không, quả nhân đành phải đánh liều một phen vậy! Lão ái khanh, hãy sắp xếp sứ thần, chuẩn bị lễ vật hậu hĩnh, lần lượt tới thăm hỏi chư hầu các nước Tề, Hàn, Triệu! Chỉ cần họ không đi, Ngụy Anh còn dám làm gì quả nhân!”

“Lão thần tuân chỉ!”

Tôn Cơ trở về phủ tướng quốc, lập tức sắp xếp vài đại phu, chuẩn bị hậu lễ, xuất phát ngay trong đêm tới ba nước Tề, Hàn, Triệu, danh nghĩa là thăm hỏi, thực chất là nghe ngóng thực hư.

Tiễn xong các sứ thần, đã tới giờ Nhân định. Tôn Cơ tắm gội sạch sẽ, thay quần áo ngủ, vừa nằm xuống giường chưa được bao lâu, lại ngồi bật dậy, bần thần chốc lát, bèn mặc lại quần áo, ra khỏi phòng ngủ, rảo bước tới thư phòng của cháu trai là Tôn Tân.

Tôn Cơ có hai con trai, con cả Tôn Thao là quận thú trấn Bình Dương, một trọng trấn vùng biên giới nước Vệ. Con thứ Tôn An là tư mã quận Bình Dương, phụ trách phòng ngự Bình Dương. Tôn Tân là con trai cả của Tôn Thao, đã qua tuổi đội mũ, Tôn Cơ giữ cháu lại trong phủ, thứ nhất là để giúp đỡ các việc trong phủ tướng quốc, thứ hai là muốn đích thân dạy cháu thành tài.

Khi Tôn Cơ bước vào cửa, Tôn Tân đang ngồi ngay ngắn trước bàn, say sưa đọc sách dưới ánh nến, vẻ như muốn đọc thâu đêm. Tôn Cơ tiến lại gần mà Tôn Tân vẫn không hay biết, hai mắt vẫn dán chặt vào thẻ tre, miệng lẩm nhẩm đọc. Tôn Cơ khẽ đặng hắng, Tôn Tân ngẩng đầu lên, nhìn thấy Tôn Cơ, vội vã xoay người dập đầu chào: “Tân Nhi khấu kiến ông nội!”

Tôn Cơ ngồi xuống đối diện với bàn, đưa mắt nhìn xuống cuộn thẻ tre trên tay Tôn Tân: “Tân Nhi, đọc sách gì mà say mê đến vậy?”

“Thưa ông, Tôn Nhi vừa có được một cuốn sách quý, là ‘Kiêm ái’ của Mặc Tử!”

Tôn Cơ gật gù: “Ồ, Mặc gia là trường phái nổi tiếng thời nay, đa phần là cao sĩ thông hiểu đạo lý, sách này rất đáng đọc. Tân Nhi, theo cháu, những điều viết trong sách này có đạo lý chăng?”

“Thưa ông!” Tôn Tân ngồi thẳng lại, sửa ngay vạt áo, chậm rãi nói. “Lời tiền bối Mặc Tử nói ra đều là chí lý trong thiên hạ. ‘Chư hầu không yêu thương nhau tất xảy ra chiến tranh, gia chủ không yêu thương nhau tất nảy sinh toan tính, người với người không yêu thương nhau tất xảy ra cướp bóc, vua tôi không yêu thương nhau tất xảy ra bất trung, cha con không yêu thương nhau tất xảy ra bất hiếu, anh em không yêu thương nhau tất xảy ra bất hoà. Người trong thiên hạ không yêu thương nhau, mạnh tất ắt nạt yếu, giàu ắt ức hiếp nghèo, sang ắt ngạo mạn với hèn, gian trá ắt lừa dối ngu ngốc…’ Tiền bối Mặc Tử từng câu từng chữ đều nhắm trúng chỗ tệ hại đương thời! Ngày nay thiên hạ chiến loạn, dân chúng lầm than, nguyên nhân trong đó, chính là không thương yêu nhau. Nếu con người biết thương yêu nhau, thiên hạ sẽ không có chuyện ‘mạnh ắt bắt nạt yếu, giàu ắt ức hiếp nghèo, sang ắt ngạo mạn với hèn, gian trá ắt lừa dối ngu ngốc’, mà sẽ đạt tới cảnh giới thánh nhân!”

Tôn Cơ thở dài: “Tân Nhi, ông mong cháu nhớ kỹ rằng, tất cả những điều này, chỉ là ‘nếu như’ mà thôi!”

Tôn Tân kinh ngạc hỏi: “Tại sao ông lại nói vậy?”

Tôn Cơ lại thở dài sườn sượt, rồi chậm rãi nói: “Vì sói thường muốn ăn thịt dê, dê thường muốn ăn cỏ!”

“Thưa ông,” Tôn Tân trầm ngâm một lát, ngẩng đầu nhìn Tôn Cơ, “hình như hôm nay ông có tâm sự gì, có thể nói với Tân Nhi chăng?”

Tôn Cơ gật đầu: “Tân Nhi, ông muốn cháu mau chóng tới Bình Dương, nhắn với cha và chú cháu hãy cấp tốc tích thảo đồn lương, dự trữ nước uống, củng cố thành trì, chuẩn bị ứng chiến!”

“Ứng chiến?” Tôn Tân kinh ngạc. “Thưa ông, giờ đây thiên hạ thái bình, sao lại phải ứng chiến?”

Tôn Cơ chậm rãi đứng dậy: “Sói muốn ăn thịt dê, dê sao chịu cam lòng! Tân Nhi, mau đi ngủ sớm, sáng sớm mai lập tức lên đường! Còn nữa, bảo với cha cháu, lúc này vẫn còn thời gian, nên gấp rút chiêu binh mãi mã, đào hào thêm sâu, tháo nước thật đầy!”

Tôn Tân gật đầu, vẻ mặt trầm xuống.

***

Nhân sự việc khai thông kênh lớn, quận thú Đại Lương đã chuẩn bị chu đáo cho đại lễ diễn ra bên bờ Phùng Trạch. Chưa nói đến cờ quạt rợp trời, lễ đài chót vót, vạn người thưởng lãm, chỉ riêng những màn ca múa muôn hồng nghìn tía đã đủ khiến dân chúng đến xem trầm trồ không ngớt.

Thượng khanh kiêm đại tông bá Trần Chẩn tới Phùng Trạch đầu tiên, nhìn thấy quang cảnh nơi đây, trong lòng mừng thầm, bảo họ diễn tập một lượt. Quả là chiêng trống rộn rã, cờ quạt tưng bừng, muôn dân reo hò, quang cảnh vô cùng náo nhiệt, không thua kém gì triều hội Mạnh Tân. Thượng tướng quân công tử Ngang dẫn theo năm vạn binh lính giáp trụ đường đường cũng đã tới nơi. Từ ngoại ô thành Đại Lương tới Phùng Trạch, đâu đâu cũng thấy lính Đại Ngụy mình mang giáp trụ, tay thương lăm lăm, càng tăng thêm vẻ long trọng uy nghiêm của đại lễ Phùng Trạch.

Sau khi quan sát, Trần Chẩn hết lời khen ngợi quận thú Đại Lương chuẩn bị chu toàn, giúp khung cảnh càng thêm tráng lệ. Đồng thời, Trần Chẩn cũng sắp xếp một việc mới mẻ cho lễ khai thông kênh lớn. Đó là, khi đại lễ kết thúc, bệ hạ sẽ đích thân mở cửa tháo nước, sau đó dẫn quân chủ liệt quốc cưỡi ngựa đuổi theo con sóng cuồn cuộn đổ xuống. Trần Chẩn tin rằng, khung cảnh này không những hùng tráng, mà còn khiến các quân hầu liệt quốc tận mắt chứng kiến kỳ tích nhân gian do quân chủ Đại Ngụy sáng tạo ra, để lại ấn tượng khó quên.

Quận thú Đại Lương không dám lơ là, tích cực huy động nhân lực vật lực, chuẩn bị chu đáo cho đại lễ xưng vương. Trước khi Ngụy Huệ Hầu tới nơi, mọi thứ đều đã sẵn sàng.

Ngụy Huệ Hầu tới Đại Lương trước ba ngày. Đám Trần Chẩn, công tử Ngang, quận thú Đại Lương vốn định sắp xếp chỗ nghỉ ngơi trong phủ quận thú Đại Lương, song Huệ Hầu khăng khăng đòi tới Phùng Trạch, nên đã ở trong hành dinh của Đại Ngụy vốn đã được bố trí chu đáo.

Hai bên trái phải hành dinh Đại Ngụy là hành dinh của liệt quốc, giữa các hành dinh cách nhau chừng trăm bước, vị trí cũng được Trần Chẩn sắp xếp chu toàn, lần lượt từ trái sang phải là Tần, Tề, Triệu, Nghĩa Cừ, Trung Sơn, Tống, Lỗ, Vệ. Phàm là các quân hầu được gửi hịch văn đều sắp xếp cho riêng một chỗ, xung quanh cắm cờ nhỏ đủ màu, ở giữa là một lá cờ lớn gắn quốc hiệu.

Ngụy Huệ Hầu chẳng hề có vẻ mệt mỏi sau chuyến đi dài, vừa tới hành dinh đã sai người gọi Trần Chẩn lại, nghe ông ta bẩm tấu tình hình công việc. Trần Chẩn tâu rõ một lượt, Huệ Hầu gật gù, tươi cười hớn hở, khen ngợi luôn miệng: “Tốt, tốt lắm! Quả nhân có được ái khanh, khác nào Vũ Vương có được Khương Thượng!”

Huệ Hầu tự ví mình với Vũ Vương, lại ví Trần Chẩn giống như Khương Tử Nha, quả thực là điều Trần Chẩn trong mơ cũng không dám nghĩ tới, nên ông ta sững sờ mất một lúc mới định thần lại được, vội vã quỳ xuống, dập đầu lia lịa, sung sướng đến trào nước mắt: “Bệ hạ…”

Ngụy Huệ Hầu cười ha hả mà nói: “Ái khanh mau đứng dậy, quả nhân còn có việc quan trọng muốn hỏi khanh!”

Trần Chẩn vội đứng dậy, khom lưng nhìn Huệ Hầu. “Còn ba ngày nữa là tới đại lễ, phía liệt quốc có tin tức gì chăng?”

“Lúc này thì chưa, hẳn là họ đều đang trên đường tới. Bệ hạ yên tâm, không đến hai ngày nữa, vi thần tin rằng các hành dinh đều sẽ đông đủ cả.”

Huệ Hầu chậm rãi nói: “Phùng Trạch sông nước nhiều, đường đi phức tạp, không dễ qua lại, khanh hãy sắp xếp người đứng đón dọc đường từ cách đây năm mươi dặm, đảm bảo không xảy ra sơ suất trên đường đi!”

“Vi thần tuân chỉ!”

Sớm hôm sau, Trần Chẩn sắp xếp vài đại phu đứng đón khách ở các ngả đường cách đó năm mươi dặm. Nhưng tới tận tối, vẫn chẳng thấy bóng một ai. Trần Chẩn bắt đầu sốt ruột, tới ngày thứ ba, lại sai người đi đón khách, song chỉ đón được Nghĩa Cừ Quân, Trung Sơn Quân và Tống Công. Giờ hẹn đã tới, hôm sau sẽ cử hành đại lễ. Trần Chẩn không dám chậm trễ, đành phải muối mặt đi tới hành dinh của Huệ Hầu.

“Trần ái khanh!” Ngụy Huệ Hầu ngẩng lên, nhìn Trần Chẩn, hào hứng hỏi. “Chư hầu đã tới đông đủ rồi ư?”

Trần Chẩn quỳ sụp xuống đất, khẽ lắc đầu.

Ngụy Huệ Hầu ngạc nhiên, vội hỏi: “Có những ai đã tới?”

“Khởi bẩm bệ hạ, là Tống Công, Trung Sơn Quân và Nghĩa Cừ Quân!”

Nghe thấy chỉ có ba nước nhỏ, Ngụy Huệ Hầu lập tức chau tít đôi mày, khép hờ hai mắt, hít vào một hơi thật sâu, sắc mặt sầm xuống. Quần thần bên cạnh đưa mắt nhìn nhau, không ai dám nói câu nào.

Ngụy Huệ Hầu dường như sực nhớ ra điều gì, bèn ngẩng đầu hỏi Trần Chẩn: “Vệ Hầu bao giờ sẽ tới?”

Bao nhiêu chư hầu đều không tới, vì sao Ngụy Huệ Hầu chỉ hỏi Vệ Thành Công, điều này thực nằm ngoài dự liệu của Trần Chẩn. Ngẩn ra một thoáng, ông ta lập tức trấn tĩnh trở lại, khẽ giọng bẩm báo: “Theo tin báo về, Vệ Công hiện đang ở Đế Khâu, cũng chưa phái người tới đại lễ!”

Nét mặt Ngụy Huệ Hầu lộ vẻ hung hãn, ngay sau đó, bật ra một tràng cười lớn nghe rợn tóc gáy.

Trong hành dinh lặng im phăng phắc.

Ngụy Huệ Hầu dừng cười, đập mạnh tay xuống bàn: “Đến con chó già gan bé như chuột này cũng dám kháng lệnh ư?”

“Bệ hạ!” Trần Chẩn bẩm tấu, “theo suy đoán của vi thần, Vệ Công dám kháng lệnh không tới, e là có nước lớn hậu thuẫn.”

Ngụy Huệ Hầu ngẩng đầu, nhìn Trần Chẩn: “Ái khanh muốn nói đến Điền Nhân Tề!”

“Bệ hạ thánh minh! Theo vi thần biết, mấy năm gần đây, Vệ Công hàng năm đều sai người tới thăm Tề quốc, cống tiến Tề Công, gần như đã là nước phụ thuộc Tề.”

Ngụy Huệ Hầu trầm ngâm suy nghĩ, một lát sau mới chậm rãi nói: “Vào ngày triều hội Mạnh Tân, Điền Nhân Tề cáo bệnh không tới, chỉ phái một thằng oắt con đi thay lấy lệ. Quả nhân cho rằng hắn có dã tâm, chưa tính toán với hắn, không ngờ lão già này lại được đằng chân lân đằng đầu, ngày càng không coi ai ra gì.”

“Bệ hạ, theo vi thần, chúng ta có thể giết gà doạ khỉ, Vệ Công chính là gà đó. Nước Vệ ở sát nước ta, nếu phạt Vệ, không tới mười ngày, đại quân có thể đánh tới Đế Khâu!”

Công tử Ngang bước lên một bước: “Nhi thần xin đi phạt Vệ, trong vòng mười ngày, nhất định sẽ bắt sống Cơ Tốc giao cho phụ vương trị tội!”

Ngụy Huệ Hầu liếc nhìn công tử Ngang, khép mắt lại. Đúng vào lúc này, tỳ nhân chạy vào bẩm báo: “Bệ hạ! Thái tử nước Tần Doanh Tứ, đại lương tạo Công Tôn Ưởng đang đợi ngoài cửa hành dinh.”

Ngụy Huệ Hầu mở bừng mắt, tinh thần phấn chấn trở lại: “Truyền!”

Từ “truyền” vừa thoát ra khỏi miệng, Ngụy Huệ Hầu đã vội phẩy tay: “Khoan!”

Tỳ nhân đứng khựng tại chỗ.

Ngụy Huệ Hầu nhìn sang Trần Chẩn: “Sao không thấy Tần Công?”

Trần Chẩn cũng sửng sốt: “Vi thần không biết!”

Sắc mặt Ngụy Huệ Hầu lại sầm xuống, khẽ chau mày, rồi chậm rãi đứng dậy, hạ thấp giọng nói: “Mở cổng hành dinh, theo quả nhân ra đón thái tử nước Tần!” Nói xong, sửa lại vương miện, bước ra cổng hành dinh.

Đột nhiên thấy Ngụy Huệ Hầu mỉm cười đứng ngay trước cửa hành dinh, Doanh Tứ, Công Tôn Ưởng đều giật mình kinh ngạc, rồi hai người gần như cùng lúc quỳ thụp xuống đất, dập đầu liền ba cái.

Bái lạy xong, Doanh Tứ dõng dạc bẩm báo: “Thái tử nước Tần Doanh Tứ khấu kiến bệ hạ thiên tử Đại Ngụy, cung chúc bệ hạ long thể an khang, vạn thọ vô cương!”

Công Tôn Ưởng cũng hô theo: “Đại lương tạo nước Tần Công Tôn Ưởng khấu kiến bệ hạ thiên tử Đại Ngụy, cung chúc bệ hạ uy phục tứ hải, giang sơn bền vững!”

Ngụy Huệ Hầu bước lại, đưa hai tay đỡ hai người dậy: “Hai vị ái khanh, hãy mau bình thân!”

Doanh Tứ, Công Tôn Ưởng cùng vòng tay nói: “Tạ ơn bệ hạ!”

Ngụy Huệ Hầu chìa tay ra: “Hai vị, mời!”

Doanh Tứ, Công Tôn Ưởng khúm núm đáp: “Bệ hạ xin đi trước!”

Trong tiếng nhạc đón khách, Ngụy Huệ Hầu bước đi phía trước, Doanh Tứ, Công Tôn Ưởng mỗi người một bên, phía sau là ba người thái tử Thân, công tử Ngang và Trần Chẩn.

Vào đến hành dinh, mọi người phân ngôi chủ khách ngồi xuống, Ngụy Huệ Hầu từ từ đưa ánh mắt về phía Doanh Tứ, giọng đầy ẩn ý: “Tần Công khoẻ chứ?”

Doanh Tứ đứng dậy, bước tới trước Huệ Hầu, dập đầu nói: “Doanh Tứ tạ ơn bệ hạ đã hỏi thăm! Công phụ một lòng chỉ mong được tới triều kiến bệ hạ, không ngờ trước ngày lên đường lại bị trúng gió, nằm bẹp trên giường suốt mấy ngày trời, sốt cao không giảm, khó lòng khởi hành. Công phụ vô cùng tiếc nuối, lệnh cho Doanh Tứ thỉnh tội với bệ hạ.”

Ngụy Huệ Hầu khẽ gật đầu: “Tần Công quý thể bất tiện, đương nhiên không nên đi lại. Khanh về chuyển lời tới Tần Công, tâm ý của Tần Công, quả nhân xin nhận!”

Doanh Tứ lại dập đầu: “Doanh Tứ thay mặt công phụ khấu tạ ân đức của bệ hạ đã không phạt tội!”

Ngụy Huệ Hầu phất tay: “Ái khanh miễn lễ, ngồi đi!”

Doanh Tứ đứng lên, ngồi vào chỗ. Nhìn thấy công tử Ngang cứ nhìn mình chằm chằm, Công Tôn Ưởng hiểu ý, mỉm cười gật đầu với hắn, rồi quay sang Ngụy Huệ Hầu, vòng tay nói: “Khởi bẩm bệ hạ, Tần Công biết chuyện bệ hạ đồng ý kết thân, vui mừng quá đỗi, lập tức chuẩn bị cho công chúa xuất giá. Tần Công còn đích thân lựa chọn của hồi môn cho Tử Vân công chúa, cũng vì chuyện này mà thân thể mệt mỏi, mới trúng gió nằm liệt giường. Trước lúc chúng thần khởi hành, Tần Công bất chấp cơ thể bệnh tật, gắng gượng ra khỏi cửa cung, gạt nước mắt tiễn công chúa lên xe. Hiện tại công chúa đã được ngũ đại phu Sư Lý Tật hộ tống tới An Ấp, chỉ đợi sau khi đại lễ hoàn thành, sẽ lập tức thành hôn với thượng tướng quân.”

Nghe được lời này, Ngụy Huệ Hầu mới thở phào một tiếng, hết nhìn sang trái lại nhìn sang phải, cảm khái thốt lên: “Hôm nay, xem ra người thực sự yêu mến Ngụy Anh đây, chỉ có Tần Công mà thôi!”

Công tử Ngang lập tức tiếp lời: “Phụ vương, chỉ cần Ngụy Tần kết liên minh, còn sợ gì liệt quốc thiên hạ?”

“Thượng tướng quân nói rất đúng!” Công Tôn Ưởng gật đầu lia lịa tán đồng. “Trước khi lên đường, Tần Công đã nắm tay Ưởng, nói với Ưởng rằng, Công Tôn ái khanh, khanh nhất thiết phải chuyển lời tới bệ hạ, Tần Ngụy đã kết thông gia thì sẽ là đồng minh sống chết. Nếu bệ hạ muốn khởi binh chinh phạt, dù cần quân hay cần lương, cứ sai bảo một tiếng, quân thần Tần quốc sẽ dốc lòng giúp sức!”

Ngụy Huệ Hầu càng thêm cảm kích: “Tốt quá, Tần Công có tấm lòng trung thành, quả nhân vô cùng an ủi!”

“Bệ hạ!” Công Tôn Ưởng hỏi đầy hàm ý. “Ngày mai cử hành đại lễ, công hầu liệt quốc hình như vẫn chưa tới đủ, chắc hẳn không phải vì chưa nhận được hịch văn?”

Ngụy Huệ Hầu mỉm cười nói: “Công Tôn ái khanh, họ sẽ tới đủ!”

Công Tôn Ưởng cố làm ra vẻ kinh ngạc: “Ồ!”

Ngụy Huệ Hầu mặt sắt lại, rít qua kẽ răng: “Mời một lần không tới, sẽ mời hai lần! Trong thiên hạ ngày nay, tin rằng không có vị khách nào mà quả nhân không mời đến được!” Dừng một lát, lại quay sang công tử Ngang, dịu giọng gọi. “Thượng tướng quân!”

Công tử Ngang bước lên một bước: “Có nhi thần!”

“Y theo lời tấu của Trần ái khanh, xuất năm vạn binh, chinh phạt Vệ Công!”

Công tử Ngang tinh thần phấn chấn: “Mạt tướng tuân lệnh!”

“Hừm!” Ngụy Huệ Hầu khẽ gật đầu, lầm bầm tự nhủ. “Giết gà doạ khỉ! Quả là tỉ dụ tuyệt vời! Giết chết con gà này, quả nhân muốn xem đám khỉ kia còn dám nhảy nhót nữa hay không!”

Công Tôn Ưởng, Doanh Tứ hiểu ý, bèn cười, đứng dậy khấu bái: “Bệ hạ thần võ!”

Đại lễ Phùng Trạch đã kết thúc chóng vánh do đa phần chư hầu không tới. Màn ca vũ mà quận thú Đại Lương dốc lòng chuẩn bị và màn rượt sóng trong lễ phóng thuỷ kênh lớn do Trần Chẩn dày công sắp đặt, cuối cùng đã được thay thế bằng tiếng chiến xa rầm rập của đại quân Ngụy lên đường chinh phạt.

Vào buổi sáng ngày thứ ba sau đại lễ Phùng Trạch, công tử Ngang dẫn theo năm vạn đại quân, âm thầm tiến tới biên giới Ngụy Vệ.

Lúc này đang mùa thu hoạch, lại gặp đúng năm mùa màng bội thu, những cánh đồng lúa mạch vàng rộ trải dài trên khắp nước Vệ. Đông đảo nông dân nhân lúc sớm mai mát mẻ, hồ hởi gặt lúa. Từ xa nhìn lại, dưới ánh nắng sớm, đâu đâu cũng thấy bóng người nhấp nhô, các bó lúa mới gặt dựng la liệt trên đồng ruộng.

Trái ngược với khung cảnh yên bình này, quân lính Đại Ngụy đội ngũ chỉnh tề, nắng ban mai hắt loa loá trên những bộ mặt đang thèm khát cảnh sát phạt tanh máu, háo hức lập công.

Chủ tướng công tử Ngang mình mặc áo giáp, uy phong lẫm liệt đứng trên chiến xa, ánh mắt lạnh lẽo lướt qua cánh đồng lúa mạch, rồi nhìn về phía thành Bình Dương cách đó vài chục dặm, hai đầu lông mày từ từ chau tít lại, tay phải đưa lên hông, đặt lên chuôi thanh bảo kiếm mà Ngụy Huệ Hầu đích thân ban tặng.

Tiên phong tả quân Bùi Anh ngẩng cao đầu đứng trên một cỗ chiến xa khác, ánh mắt không rời khỏi bàn tay phải đang đặt trên chuôi kiếm của công tử Ngang.

Một lát sau, công tử Ngang từ từ rút bảo kiếm, giơ thẳng lên trời, vẻ mặt sắt lại dữ tợn. Rồi đột ngột vung kiếm, hô rành rọt từng tiếng: “Tướng sĩ! Tiến quân vào biên giới Vệ!”

Bùi Anh giật mạnh cương ngựa, vung trường thương, hô lên thật lớn: “Xung phong!”

Hàng trăm cỗ chiến xa, hàng vạn kỵ mã lập tức theo sát Bùi Anh, rầm rập lao thẳng tới biên giới Vệ. Ngay lập tức, trong ngoài biên giới Vệ lửa khói ngùn ngụt, tiếng kêu khóc thấu trời xanh. Quân lính Đại Ngụy chẳng tốn bao nhiêu sức lực đã quét sạch binh lính ở Đột Khâu, Lâm Khâu nơi biên cương nước Vệ, thẳng tiến tới trọng trấn Bình Dương.

Trên tường thành Bình Dương, năm nghìn tướng sĩ nước Vệ đã bày trận đợi sẵn. Trên lầu thành phía tây, thú thừa Tôn Thao lạnh lùng nhìn màn khói bụi đang cuồn cuộn tới gần, đôi mày rậm nhíu chặt. Một lát sau, quay sang nói với Tôn An: “Tôn tướng quân, ở đây đã có bản tướng, tướng quân hãy tới cổng đông, địa thế ở đó dễ phá khó giữ, vô cùng khẩn yếu!”

Tôn An gật đầu, vội bước xuống bậc thang, tức tốc tới cổng thành đông.

Tôn Tân sớm đã thay quân phục, tay cầm trường thương, đứng bên cạnh cha. Đây là lần đầu tiên Tôn Tân ra trận, trong lòng vô cùng kích động, tay cầm thương khẽ run run.

Tôn Thao nhìn Tôn Tân, rồi lấy ra một bức chiến báo hoả tốc từ trong ống tay áo, chậm rãi nói: “Tân Nhi, quân Ngụy đã đánh tới nơi! Con hãy mau chóng quay về Đế Khâu, dâng thư lên chúa thượng!”

Tôn Tân dõng dạc đáp lời: “Mạt tướng tuân lệnh!”

Tôn Tân mang theo chiến báo, cấp tốc xuống lầu, nhảy lên ngựa chiến, phi tới cổng đông, gọi người mở cổng, rồi lao như tên bắn về Đế Khâu. Cung Vệ nhận được chiến báo, toàn cung bỗng chốc hỗn loạn, quần thần đều kinh hãi, mọi ánh mắt đổ dồn vào Vệ Thành Công.

Song Vệ Thành Công lại điềm tĩnh khác thường, đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, khẽ đặng hắng một tiếng, rồi chậm rãi hỏi: “Chư vị ái khanh, cường địch đã tới, ai có kế sách ngự địch?”

Quần thần đưa mắt nhìn nhau. Một lát sau, thái sư đương triều, cũng là em trai khác mẹ của Vệ Thành Công bước lên, dõng dạc tấu bày: “Khởi bẩm Tần quân huynh, vi thần cho rằng, nước Ngụy thế lớn, ta không nên chống cự trực diện!”

“Ái khanh cho rằng, rút lui là kế hay?”

Thái sư đáp lời: “Binh pháp có câu, không thể chiến thì hàng! Nay địch mạnh ta yếu, chỉ còn cách mở cổng thành, dâng biểu xin hàng!”

Quần thần hùa theo: “Chúa thượng, chúng thần tán thành ý kiến của thái sư. Lúc này, kế dâng biểu xin hàng là thượng sách!”

Thái sư lại tấu: “Chúa thượng, ta thân cô thế yếu, không thể lấy trứng chọi đá!”

Vệ Thành Công sắc mặt trầm trọng, hai đầu lông mày chau tít lại thành một khối, ngẫm ngợi một lát, rồi chuyển ánh mắt sang Thái miếu lệnh: “Ý ái khanh thế nào?”

Thái miếu lệnh bước lên một bước: “Khởi bẩm chúa thượng, mười ngày trước, ban đêm thần quan sát thiên văn, thấy có sao chổi mọc ở phía tây, đuôi sao chổi quét ngang qua sao Trường Canh(1) bay thẳng về hướng tây nam. Sao chổi quét qua sao Trường Canh là điềm không may mắn. Thần sai đại vu chúc(2) lập đàn làm phép, dùng tâm nhãn quan sát, quả nhiên thấy khí tàn sát bốc lên ở phía tây nam, Bình Dương, Sở Khâu tiềm tàng sát khí. Thần bàng hoàng kinh hãi, đã dâng tấu lên chúa thượng mấy hôm trước!”

Vệ Thành Công gật đầu: “Bản tấu đó, quả nhân đã đọc. Xem ra, giặc Ngụy xâm phạm biên cương, có lẽ là ý trời. Hiện tại, thái sư muốn quả nhân dâng biểu xin hàng, ái khanh thấy thế nào?”

Thái miếu lệnh đáp: “Ý trời muốn tàn sát, không thể kháng cự, vi thần tán thành ý kiến của thái sư đại nhân!”

Vệ Thành Công cúi đầu, trầm ngâm suy nghĩ, sắc mặt càng thêm sa sầm. Triều đường lặng im phăng phắc, mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Vệ Thành Công.

Thành Công từ từ ngẩng đầu, nhìn tướng quốc Tôn Cơ: “Lão ái khanh, vì sao không thấy khanh nói gì?”

“Khởi bẩm chúa thượng,” Tôn Cơ vòng tay tấu, “vi thần đã nói từ trước!”

Vệ Thành Công thở dài: “Tình thế quả nhiên đúng như lão ái khanh đã nói, Ngụy Anh thực sự muốn giết gà dọa khỉ! Hiện tại người Ngụy đã kéo quân tới thành, lão ái khanh có kế sách gì ứng phó?”

“Chúa thượng, binh tới tướng đỡ, nước tới đất chặn. Lão thần cho rằng, chúa thượng chỉ có thể chiến, không thể hàng!”

Mắt Vệ Thành Công vụt sáng: “Lão ái khanh, khanh thử nói xem, vì sao không thể hàng?”

“Ý trời đã muốn tàn sát, chúng ta còn tránh được ư? Lão thần nghe nói, có thể đoạt soái của ba quân, nhưng không thể đoạt chí của kẻ thất phu. Người Ngụy cậy mạnh hiếp yếu, vô cớ thảo phạt, sát hại dân chúng biên cương, ức hiếp đàn bà trẻ nhỏ, tàn phá ruộng vườn nhà cửa, cướp bóc lương thực của ta. Ta không đánh lại chúng, lại ở đây run sợ, chưa chiến đã hàng, lão thần dám hỏi, thiên lý ở đâu?”

Lão tướng quốc lời lời đều nhắm vào thái sư và đám triều thần chủ hàng. Mọi người đưa mắt nhìn nhau, cả đại điện không một tiếng động. Vệ Thành Công ngả người về phía trước, nhìn Tôn Cơ đầy cảm kích.

Tôn Tân đứng bên cạnh Tôn Cơ, trong lòng kích động, bước lên tấu rằng: “Khởi bẩm chúa thượng, mạt tướng Tôn Tân nguyện dẫn đội quân cảm tử quyết liều chết một phen với quân Ngụy!”

Vệ Thành Công sắc mặt cương nghị, liên miệng khen ngợi: “Tốt lắm, tốt lắm, hai vị ái khanh nói rất hay!” Rồi đưa ánh mắt nhìn khắp lượt quần thần, dừng lại ở thái sư, vung mạnh cánh tay, cất giọng hào hùng: “Vệ thất là huyết mạch họ Cơ của Đại Chu, thuỷ tổ Khang Thúc là em ruột của Vũ Vương, nước Vệ là công quốc do đích thân Vũ Vương phong cho, tới nay đã trải qua bảy trăm năm, hai mươi ba đời, ba mươi ba quân chủ. Còn nước Ngụy của hắn, hai trăm năm trước chẳng qua là gia nô của Tấn thất, sau đó làm phản, cướp đoạt hầu vị. Nay Ngụy Anh lại lộ thói hung hăng ngang ngược, lần trước ở Mạnh Tân ức hiếp thiên tử, nay lại xưng vương ở Phùng Trạch, đã trở thành quốc tặc của Đại Chu. Vua tôi Vệ thất ta đã không chinh phạt, lại còn dâng biểu xin hàng, sau khi khuất núi, các ngươi bảo quả nhân còn mặt mũi nào khấu kiến liệt tổ liệt tông?”

Thái sư nghe vậy, im lặng cúi đầu.

Vệ Thành Công hạ thấp giọng, rồi nhấn mạnh từng chữ: “Nước Vệ tuy yếu, song chí không khuất! Quả nhân đã quyết, thà làm ngọc vỡ còn hơn ngói lành, từ hôm nay trở đi, Vệ thất trên dưới tuyệt đối không được nói tới chuyện đầu hàng! Trong số chư vị, ai có hai lòng, quả nhân quyết không ép. Ai muốn ra khỏi thành, có thể đi ngay lúc này, từ đây dứt nghĩa quân thần, mỗi người một hướng!” Nói xong, vung tay ra phía ngoài cửa, như muốn mời đi.

Đám bề tôi xin hàng, bao gồm cả thái sư, Thái miếu lệnh và tất cả triều thần thảy đều cảm động, nhất loạt quỳ xuống khấu bái: “Chúng thần nguyện theo chúa thượng, thề cùng tồn vong cùng nước Vệ.”

“Tốt!” Vệ Thành Công lại nhìn khắp lượt quần thần, rồi dừng lại ở quan ngự sử, cất giọng sang sảng: “Ngự sử đại phu!”

Ngự sử đại phu bước lên một bước, dõng dạc đáp: “Có vi thần!”

“Chiếu cáo cho thần dân toàn quốc, người còn thành còn, thề huyết chiến đến cùng với giặc Ngụy.”

Ngự sử đại phu “vâng” một tiếng, lập tức bước sang bên cạnh, khởi thảo chiếu thư. Vệ Thành Công nhìn sang Tôn Tân, tiếp tục truyền lệnh: “Tôn tướng quân!”

Tôn Tân bước lên đáp lời: “Có mạt tướng!”

“Khanh dẫn theo ba nghìn quân, mau chóng tới Bình Dương chi viện!”

“Mạt tướng tuân chỉ!”

Lời của Tôn Tân vừa dứt, ngự sử đại phu đã thảo xong chiếu thư, Vệ Thành Công đọc xong, lược bỏ bớt phần rườm rà, chỉ giữ lại mười hai chữ: “Người còn thành còn, thề huyết chiến đến cùng với giặc Ngụy”, rồi đích thân đóng ngọc tỷ, giao cho Tôn Tân.

Tôn Tân dẫn ba nghìn quân, gấp rút tới Bình Dương. Khi Tôn Tân tới nơi, trời đã sẩm tối, ngoài thành Bình Dương, đại quân Ngụy bao vây tầng tầng lớp lớp. Quân Ngụy đã công thành hai đợt, song đều bị quân giữ thành đẩy lui. Bùi Anh hao tổn chừng nghìn binh, vừa gióng chiêng thu quân thì Tôn Tân dẫn một cánh quân dũng mãnh thình lình xông tới. Người Ngụy chỉ nghe thấy hô giết vang trời, bụi bay mù mịt, trong lúc hoảng loạn, không rõ có bao nhiêu người ngựa tập kích, sợ hãi cuống cuồng bỏ chạy, chưa đầy một canh giờ, đã bị Tôn Tân dồn tới tận cổng thành phía đông. Tôn An thấy quân chi viện đã tới, vội vã mở cổng thành. Đến khi quân Ngụy kịp định thần, thì đám Tôn Tân đã vào cả trong thành.

Tôn Tân chạy tới phủ quận thú, Tôn Thao vội ra đón. Tôn Tân lấy chiếu thư ra, cao giọng truyền lệnh: “Quân chủ có chỉ, người còn thành còn, thề huyết chiến đến cùng với giặc Ngụy!”

Tôn Thao bái lạy chiếu thư, sai Tôn An chia người truyền dụ tới mọi tướng sĩ giữ thành, còn sai quan lệnh sứ truyền dụ tới toàn bộ thần dân trong thành. Lệnh sứ mau chóng cho gọi lão tuần canh tới, truyền lại ý chỉ của quân chủ. Lão tuần canh nghe xong ý chỉ, tay cầm chiêng đồng, đi dọc phố xá, vừa gõ chiêng, vừa cao giọng hô lớn: “Toàn dân trong thành nghe đây! Người Ngụy ỷ thế ức hiếp dân ta, đã đánh tới tận cổng thành! Quân chủ có chỉ, người còn thành còn, thề huyết chiến đến cùng với giặc Ngụy. Tôn tướng quân hạ lệnh, có tiền góp tiền, có sức góp sức!”

Tôn Thao nghe tiếng ông lão văng vẳng xa dần, suy nghĩ một lát, quay sang nói với Tôn Tân: “Tân Nhi, con tới thật đúng lúc. Người Ngụy đã hai lần công thành, dự kiến sáng mai hẳn sẽ có một trận tử chiến. Ta đã thương vong ước chừng nghìn quân. Trong ba nghìn quân của con, hãy cắt cử hai nghìn tham gia giữ thành, còn một nghìn để lại phòng bị, do con chỉ huy, cố thủ quận phủ và từ đường, đề phòng bất trắc. Ở đâu thành bị phá, thì tới đó trợ chiến.”

Tôn Tân vội bước lên một bước, dõng dạc đáp: “Khởi bẩm tướng quân, tướng quân là quận thú, nên ngồi trong phủ chỉ huy. Chuyện giữ thành, hãy giao cho mạt tướng!”

“Tôn Tân!” Tôn Thao sắc mặt trầm trọng, nói, “con vừa tới nơi, chưa nắm rõ tình thế, không thể lỗ mãng. Hai quân gặp nhau, kẻ mạnh tất thắng. Hôm nay địch mạnh ta yếu, tướng sĩ đều có tâm lý sợ hãi, có bản tướng ở đây, dũng khí của họ sẽ lên cao gấp chục lần. Hơn nữa trong lúc này, bảo vệ thành tuy cấp bách, song quân dự phòng mới thực sự cần thiết. Tôn Tân, Bình Dương an nguy thế nào, trông cả vào con!”

Tôn Tân nghe xong, đành gật đầu đồng ý, đưa mắt nhìn theo Tôn Thao nhảy lên ngựa chiến, phi tới cổng tây.

Vùng đất Bình Dương màu mỡ phì nhiêu, là một trọng trấn vùng biên ải phía tây nước Vệ, vị trí chiến lược vô cùng quan trọng, do vậy, Vệ Thành Công giao cho Tôn Thao thông thạo việc quân đảm đương chức quận thú. Sau khi nhiệm chức, Tôn Thao nhiều năm dốc sức xây dựng, thành luỹ được đắp cao thêm ba thước, dày thêm ba thước so với thành cũ, hào nước quanh thành cũng nới rộng thêm một trượng, sâu thêm ba thước, đồng thời khai thông một kênh lớn, dẫn nước chảy vòng quanh thành. Mấy ngày trước, nghe lời Tôn Cơ căn dặn, Tôn Thao đã điều động thêm người, tu sửa toàn bộ những chỗ tường thành nứt vỡ, đêm ngày cắt quân tuần tra, tăng cường phòng thủ, có thể nói là đã bày trận chờ sẵn.

Tuy nhiên, dù cộng thêm ba nghìn quân chi viện do Tôn Tân dẫn tới, thì số binh sĩ có thể tham chiến trong thành Bình Dương cũng không quá tám nghìn, hiển nhiên yếu thế so với năm vạn đại quân Ngụy hung hăng dũng mãnh, khí giới đầy đủ, lương thảo sung túc. Ban đầu, công tử Ngang chẳng coi thành trì nhỏ bé này ra gì, chỉ phái tướng quân Bùi Anh dẫn tả quân công thành, còn mình ngồi trong doanh trại cách thành không xa chờ tin thắng trận, và sắp xếp kế sách tấn công Đế Khâu tiếp theo.

Thế nhưng, trong hai ngày qua, Bùi Anh trước sau đã tiến hành sáu cuộc công thành, song chẳng thu được kết quả gì ngoài ba nghìn xác chết để lại dưới chân thành và trong hào nước. Công tử Ngang vô cùng tức giận, điều thêm một vạn quân tiếp tục tấn công. Trải qua một ngày hỗn chiến, dưới thành Bình Dương lại chất thêm hơn nghìn xác quân Ngụy, mà tường thành Bình Dương vẫn trơ trơ.

Công tử Ngang thẹn quá hoá giận, gọi đám tướng lĩnh lại, nhìn trừng trừng vào tiên phong Bùi Anh, đập bàn chan chát, gầm lên: “Chỉ một thành Bình Dương cỏn con mà chặn được đội quân thiết giáp của ta suốt ba ngày trời, quả là sỉ nhục!”

Bùi Anh quỳ xuống dập đầu nói: “Là mạt tướng vô dụng, xin thượng tướng quân trị tội!”

Công tử Ngang cười nhạt: “Hừm, biết thì tốt! Lôi ra ngoài, chém đầu làm gương!”

Đám tướng lĩnh hoảng vía, mặt cắt không còn hạt máu, đồng loạt quỳ xuống cầu xin: “Thượng tướng quân…”

Công tử Ngang nhìn khắp lượt chư tướng, rồi chậm rãi nói: “Nể tình chư tướng cầu xin, bản tướng tạm tha ngươi một mạng, lệnh cho ngươi lấy công chuộc tội, công phá Bình Dương!”

Bùi Anh khấu đầu cảm tạ: “Mạt tướng khấu tạ ân tha mạng của thượng tướng quân!”

Công tử Ngang lại nhìn đám tướng lĩnh, nói: “Các tướng nghe lệnh!”

Đám tướng quân rào rào đứng dậy, xếp thành một hàng nghiêm trang.

“Chư vị tướng quân, truyền lệnh của bản tướng, bất kể là ai, hễ công phá Bình Dương đầu tiên, bản tướng sẽ thưởng công cho người đó một trăm lượng vàng, thăng tước ba cấp!”

Chư tướng đồng thanh hô lớn: “Mạt tướng nhận lệnh!”

“Còn nữa!” Công tử Ngang sầm mặt xuống, rít qua kẽ răng. “Sau khi phá thành, tiền của và đàn bà trong thành đều dùng để khao thưởng tướng sĩ. Hễ ai chống cự, giết chết không hỏi!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Lại là một buổi sáng sớm.

Trên đường phố một lần nữa vẳng lại tiếng chiêng và tiếng hô của lão tuần canh: “Toàn dân trong thành nghe đây! Người Ngụy ỷ thế ức hiếp dân ta, đã đánh tới tận cổng thành! Quân chủ có chỉ, người còn thành còn, thề huyết chiến đến cùng với giặc Ngụy. Tôn tướng quân hạ lệnh, có tiền góp tiền, có sức góp sức!” Giọng hô tuy đã khản đặc, song tiếng chiêng vẫn tiếp tục rền vang.

Từ phía các cổng thành, một lần nữa vang vọng tiếng trống trận và tiếng hô xung sát của quân Ngụy công thành. Vài ngày qua, toàn dân trong thành dường như đã quen với âm thanh này, do vậy, không hề có sự hoảng loạn giống như hôm đầu khai chiến. Mọi người vẫn bình thản như không, đàn ông lẳng lặng cầm vũ khí chạy lên tường thành, đàn bà rửa tay ngồi quanh bếp lò nấu bữa sáng.

Phủ tư mã cách từ đường không xa. Từ lúc khai chiến, trong phủ chỉ còn lại vợ của Tôn An là Lưu thị và hai đứa trẻ. Đám nô bộc trong nhà, gồm cả quản gia, đều đã theo Tôn An đi giữ thành, đàn ông lo phòng ngự, đàn bà lo chăm sóc thương binh, nấu nướng, vận chuyển quân nhu.

Nghe thấy tiếng ông lão tuần canh đã xa dần, Lưu thị tất bật nhặt chiếc bánh cuối cùng trong nồi cho vào làn tre, xách ra khỏi cửa. Đi chưa được vài bước, cô con gái Ni Tử vừa tròn tám tuổi dắt tay đứa em trai Tôn Hân bốn tuổi chạy đuổi theo mẹ. Hai đứa trẻ đứng ở trước cổng, đưa mắt dõi theo Lưu thị. Một lát sau, Ni Tử khẽ gọi: “Mẹ ơi…”

Lưu thị dừng chân, bước trở lại, xoa đầu con gái, nói: “Con gái, cha và các bác các chú đang ở cổng đông đánh đuổi bọn người xấu. Mẹ mang thức ăn tới cho mọi người, con dắt em chơi ở trong nhà, đừng đi đâu nhé!”

Cô bé gật đầu.

Hai mắt Tôn Hân nhìn chằm chằm chiếc làn trong tay mẹ: “Mẹ ơi, con muốn ăn bánh nướng!”

Lưu thị vỗ nhẹ lên đầu cậu bé, nói: “Con ngoan, bánh này mẹ nướng cho các chú bác, đợi mẹ về sẽ nướng bánh cho con ăn!”

Tôn Hân nuốt nước bọt xuống cổ, “vâng” một tiếng. Lưu thị quay người bước đi, được vài bước, lại quay trở lại, lấy ra một chiếc bánh từ trong làn, dúi vào tay Tôn Hân, thơm nhẹ lên má cậu bé, rồi rảo bước đi luôn không ngoảnh lại nữa.

Ni Tử lại kéo Tôn Hân chạy đuổi theo, được vài bước thì dừng lại, nhìn theo bóng mẹ xa dần. Tôn Hân thèm quá, cắn luôn một miếng bánh, nhưng rồi lại dừng lại, bẻ chiếc bánh làm đôi, đưa cho chị một nửa: “Chị ơi, chị cũng ăn đi!”

Ni Tử đưa lại miếng bánh cho em: “Chị không đói, em ăn đi!”

Tôn Hân cầm một nửa miếng bánh nướng trong tay: “Nếu chị không đói, em cầm hộ chị!”

Ni Tử gật đầu nói: “Được rồi, Tiểu Hân, chúng ta vào trong từ đường chơi đi, ở đó đông người!”

Tôn Hân gật đầu.

Khi Lưu thị đi tới cổng thành đông, quân Ngụy đang công thành quyết liệt. Phía dưới cổng thành, lính Ngụy đông nghịt như kiến ào ào xông lên, hào nước ngoài thành đã bị chúng lấp bằng, trên tường thành vô số thang mây đã được bắc lên. Cả trăm tên lính hè nhau khiêng một súc gỗ tròn to tướng, liên tiếp nện uỳnh uỳnh vào cổng thành. Lính giữ thành bắn tên xuống như mưa, đến cuối cùng, tên cũng không còn để bắn. Những lính tráng còn sống sót bèn đập, gỡ gạch đá trên ụ thành, ném thẳng xuống dưới.

Người cầm đầu cánh quân công thành ở cổng đông là Bùi Anh đang sốt sắng lập công chuộc tội. Chỉ thấy hắn vai trần trùng trục, mặt mày hung tợn, đứng ở một bên phát hiệu lệnh, chỉ huy sĩ tốt công phá cổng thành. Súc gỗ lớn cứ thế giáng vào cánh cổng thành dày nặng hết lần này đến lần khác, vọng lên những tiếng vang kinh động. Cổng thành bắt đầu rung chuyển.

Lính giữ thành không còn nổi vài người, Tôn An thấy tình thế nguy cấp, một mặt sai người phi ngựa về báo cho Tôn Thao, mặt khác lệnh cho hơn chục lính còn lại chạy tới bên trong cổng thành, liều mạng chống chọi.

“Rầm” một tiếng vang trời, cổng thành đổ sập, đám lính đang chống đỡ phía trong lập tức bị đè bẹp dưới cổng thành. Quân Ngụy reo hò dậy đất, ùa vào cổng thành như ong vỡ tổ.

Trên lầu cổng thành, Tôn An khắp người đẫm máu, nhìn thấy đại thế đã mất, bèn rút bảo kiếm, lau máu trên kiếm lên áo, lại đưa tay áo lên chùi mắt, đang định xông lên liều mạng giữa loạn quân, chợt nhìn thấy vợ là Lưu thị đang gắng sức leo lên lầu thành.

Lưu thị đã bị trúng tên vào chân và lưng, sắc mặt trắng bệch, đã không còn đủ sức để leo lên nữa. Trên tay Lưu thị vẫn cầm khư khư làn tre, trong làn đựng đầy những chiếc bánh nướng mới làm xong.

Tôn An vô cùng kinh hãi, chạy vội lại gần, đỡ lấy vợ, đưa Lưu thị đến ngồi xuống sau một ụ thành, thống thiết kêu lên: “Phu nhân!”

Lưu thị nhìn chồng, chỉ xuống dưới thành, giọng đứt quãng: “Phu quân, người… người Ngụy đã… vào thành rồi!”

Lời vừa dứt, Bùi Anh đã dẫn hàng chục lính Ngụy xông lên lầu thành. Nhìn thấy trên lầu thành không còn lính canh, chỉ còn hai vợ chồng Tôn An, Bùi Anh bèn vẫy tay ra hiệu, đám lính lập tức xông đến bao vây. Bùi Anh nhếch mép cười nhạt, vỗ tay một tiếng, năm sáu tên lính lập tức giương cung, nhằm thẳng vào hai người.

Tôn An một tay ôm Lưu thị, thản nhiên nhìn đám lính Ngụy đang giương cung, khẽ nói: “Phải, phu nhân, người Ngụy đã vào thành!”

Lưu thị gượng cười, đẩy chiếc làn về phía Tôn An: “Phu quân ăn bánh nướng đi… Bánh vừa mới làm xong!”

Tôn An gật đầu, thò tay vào trong làn, lấy ra một chiếc, đưa lên miệng. Lưu thị tha thiết nhìn chồng, rồi từ từ khép mắt. Tôn An nhẹ nhàng đặt vợ xuống, lại cắn thêm một miếng bánh nữa, rồi cầm bảo kiếm lên.

Thình lình, Tôn An hú lên một tiếng, nhảy vọt lên không, lao thẳng về phía Bùi Anh. Tên lập tức bắn ra rào rào, cắm chi chít lên người Tôn An. Tôn An gục ngã, rơi phịch xuống đất, chết ngay tức khắc.

Nhận được tin báo cổng đông nguy cấp, Tôn Tân cấp tốc dẫn quân chạy tới. Sau mấy ngày qua, đội quân dự bị một nghìn người của Tôn Tân cũng chỉ còn lại vài chục, ai cũng mệt mỏi rệu rã. Họ còn chưa tới nơi, cổng thành đông đã thất thủ, quân Ngụy ồ ạt xông vào trong thành, đánh thẳng tới trước mặt. Tôn Tân dẫn quân vừa đánh vừa lùi, vừa hay gặp Tôn Thao cũng đang thúc ngựa rút chạy từ cổng nam lại.

Hai cha con hợp quân một chỗ, liều chết chống cự. Quân Vệ hoảng loạn, tan tác tứ phía. Quân Ngụy cũng chia quân các hướng, bất kể già trẻ gái trai đều thẳng tay đâm chém không thương tiếc. Cha con Tôn Thao chạy tới cổng bắc, quân lính đi theo chỉ còn vài người sống sót. Tôn Thao bị thương rất nặng, lại bị một mũi tên găm trúng ngực, ngã khỏi yên ngựa. Ba tên lính Ngụy đuổi sát phía sau, tình thế vô cùng nguy ngập. Tôn Tân đang liều mạng chém giết, thấy vậy thì gầm lên một tiếng, vung thương xông tới, uy mãnh như thần, đánh bạt cả ba tên lính Ngụy, đỡ lấy Tôn Thao: “Cha!”

Tôn Thao chỉ về phía cổng bắc: “Mau lên… xông… xông… ra cổng bắc… cổng bắc!”

Tôn Tân nói trong nước mắt: “Cha, Tân Nhi không thể bỏ cha lại đây!”

Tôn Thao khó nhọc thều thào: “Mau… mau chạy! Bẩm… lên chúa thượng, quân… quân Ngụy… tàn sát toàn thành…” Nói xong, đưa tay lên nắm lấy mũi tên, gắng sức ấn mạnh, lập tức tắt thở.

Tôn Tân ôm chặt Tôn Thao gào khóc: “Cha…”

Lại thấy quân Ngụy ào ào xông tới. Tôn Tân không kịp nghĩ ngợi, xốc vội thi thể cha đặt lên lưng ngựa, rồi cũng nhảy phắt lên mình ngựa, hét lớn một tiếng, cầm thương xông ra khỏi cổng bắc, biến mất trong khói bụi mịt mù.

Lính Ngụy liên tục công thành, song thất bại hết lần này đến lần khác, ai nấy đều bực bội khó chịu trong lòng, lại được công tử Ngang cho phép thẳng tay giết chóc, vì thế chẳng kiêng kỵ gì, hễ thấy người là giết, bất luận già trẻ gái trai. Trong thành Bình Dương, tiếng kêu thét xé trời, tiếng gào khóc liên miên không dứt.

Từ đường là thành luỹ cuối cùng mà người Vệ còn canh giữ. Từ lúc quân Ngụy công thành tới giờ, nơi đây đã trở thành một trạm cứu thương tạm thời, binh lính bị thương ước chừng vài trăm người đều tập kết về đây, được đám đàn bà trong thành chăm sóc. Khi đại quân Ngụy xông tới, quân Vệ còn sống sót và thương binh đều liều mình chống cự. Đám đàn bà kinh hoàng bạt vía, túm tụm nấp trong một góc, run như cầy sấy.

Hai chị em Ni Tử và Tôn Hân ôm lấy nhau, đang không biết trốn vào đâu thì ông lão tuần canh vội vã chạy lại, dẫn hai chị em nấp vào sau đống củi ở một góc từ đường, dặn dò hai đứa bé sống chết gì cũng không được lên tiếng, rồi lại chạy đi.

Quân Ngụy xông tới, nhìn thấy nơi này chỉ có một đám binh lính bị thương không còn sức kháng cự thì điên cuồng đâm chém, ông lão tuần canh và vài chục phụ nữ, trẻ nhỏ bị dồn vào một góc.

Tôn Hân trợn trừng hai mắt, kinh hãi nhìn trân trối vào thảm cảnh đang diễn ra bên ngoài đống củi. Ni Tử ôm cứng lấy em trai, toàn thân run bắn.

Trong những tiếng gào rú thảm thiết của đám thương binh bị tàn sát, máu tươi chảy thành từng dòng ngoằn ngoèo, lách qua đống củi, tới tận trước mặt hai đứa trẻ. Tôn Hân kinh hoàng nhìn chết trân vào dòng máu đen đặc đang chảy tới gần, run lên bần bật: “Chị ơi… chị ơi…”

Ni Tử vội ôm em vào lòng, dịch vào trong góc tường, nói khẽ: “Đừng sợ… đừng sợ, chị đây!”

Một tên lính Ngụy nghe loáng thoáng có tiếng nói, liền chạy lại, đạp tung đống củi, nhìn thấy hai đứa trẻ, đang định xông lên thì một tên khác nói: “Không phải tốn sức, để tao!”

Hắn vào trong từ đường, cầm ra một bó đuốc, ném về phía đống củi khô trong tiếng kêu thét xé tai của đám phụ nữ. Thật đáng thương cho hai đứa trẻ, chỉ một lát sau, đã trở thành hai cái xác cháy đen trong lửa ngút trời.

“Quân súc sinh!” ông lão tuần canh căm phẫn tột độ, lớn giọng mắng chửi.

Quân Ngụy nghe thấy tiếng chửi, quay đầu lại nhìn, thấy vài chục người đàn bà đang quây kín quanh một lão già, bèn coi lão là mục tiêu duy nhất. Vài tên lính Ngụy xông lại, rẽ đám đàn bà ra, đang chuẩn bị cầm thương đâm lão, thì phía sau vang lên một giọng nói: “Khoan!”

Người vừa tới là Bùi Anh, hai mắt vằn đỏ, từ từ tiến lại phía trước đám đàn bà con gái, nhìn thấy lão già ở giữa thì cười khẩy, gằn giọng mỉa mai: “Lão già kia, ra mau! Chui vào giữa đám đàn bà con gái, còn mặt mũi gì?”

Ông lão cầm lấy chiêng đồng, đứng dậy, sắc mặt đau thương, bước chân run rẩy, từ từ tiến về phía Bùi Anh. Đột nhiên, ông lão vung dùi gỗ, dồn sức gõ mạnh chiêng đồng, cất cao giọng: “Toàn dân trong thành nghe đây! Người Ngụy ỷ thế ức hiếp dân ta, đã đánh tới cổng thành! Quân chủ có chỉ, người còn thành còn, thề huyết chiến đến cùng với giặc Ngụy…”

Đám lính Ngụy đứng gần vung trường thương định đâm thì Bùi Anh lại phẩy tay ngăn lại, chỉ vào đám đàn bà con gái, nói với đám lính: “Lão ta chẳng phải muốn huyết chiến đến cùng với Ngụy ư? Các ngươi hãy cho lão ta tận mắt chứng kiến đám đàn bà kia huyết chiến với người Ngụy ra sao!” Nói xong, nở một nụ cười độc địa, rồi quay người bước ra khỏi sân.

Tên bách phu trưởng(3) nãy giờ đã bị lửa dục thiêu đốt, nghe vậy lập tức rú lên: “Anh em, tướng quân đã cho phép, chúng ta còn chần chừ gì nữa!”

Chớp mắt, đám lính Ngụy như một bầy sói đói lao vào vài chục người đàn bà chân yếu tay mềm. Ông lão giơ cao chiêng đồng, lao vào đám lính. Chúng dễ dàng né tránh, rồi túm lấy lão, bẻ quặt tay ra phía sau, trói gô lại, bắt lão tận mắt chứng kiến cảnh tượng cầm thú.

Trời xanh nức nở, đại địa thảm thương!

Khi Tôn Tân khắp người đẫm máu, mang theo xác Tôn Thao chạy vào cửa cung, toàn bộ triều thần đều kinh hoàng thất sắc.

Tôn Tân chạy tới trước mặt Thành Công, đặt thi thể cha xuống, dập đầu mà nói: “Quận thú Bình Dương Tôn Thao, mạt tướng Tôn Tân khấu kiến chúa thượng!”

Vệ Thành Công nhìn xác Tôn Thao mà há miệng cứng lưỡi, hồi lâu mới định thần lại được: “Tôn… Tôn tướng quân!”

Tôn Tân lại dập đầu: “Quận thú Bình Dương Tôn Thao, tư mã Tôn An và hai vạn thần dân nam nữ Bình Dương đã theo đúng ý chỉ của chúa thượng, huyết chiến tới cùng với giặc Ngụy, đều đã xả thân vì nước! Quận thú Tôn Thao trước lúc lâm chung có dặn mạt tướng bẩm báo tình hình lên chúa thượng, giặc Ngụy đã tàn sát toàn thành!”

Nghe nói hai vạn dân Bình Dương đều quyết chí xả thân vì nước, lại biết giặc Ngụy tàn sát toàn thành, quần thần thảy đều rùng mình ớn lạnh. Tôn Cơ nước mắt đầm đìa, bước chân loạng choạng, lao tới bên xác Tôn Thao. Tôn Tân đỡ lấy ông, hai ông cháu cùng quỳ xuống bên thi thể. Tôn Cơ đưa bàn tay gân guốc lên lau vết máu trên mặt con trai, hai hàng lệ ròng ròng tuôn chảy.

Tôn Tân quỳ ở một bên, lặng lẽ nhìn thi thể cha.

Vệ Thành Công từ từ đứng dậy, đến trước thi thể của Tôn Thao, quỳ xuống. Đám triều thần cũng đua nhau quỳ xuống, khóc rống lên.

Trên triều đường, duy có Tôn Tân không khóc. Một lát sau, mới đột ngột ngẩng đầu, đưa ống tay áo lau máu trên mặt, dập đầu sát đất, cất giọng sang sảng: “Khởi tấu chúa thượng, mạt tướng Tôn Tân xin lệnh xuất quân, quyết chiến chống lại giặc Ngụy, để báo thù cho những người đã chết vì Bình Dương!”

Mắt Vệ Thành Công như toé lửa, quát lớn: “Một lũ súc sinh!” Rồi ngẩng nhìn quan tư mã Đế Khâu Lật Bình. “Lật tướng quân, lũ súc sinh kia hiện đang ở đâu?”

Lật Bình dõng dạc đáp: “Khởi bẩm chúa thượng, thám mã vừa báo về, quân Ngụy đã tới sát Sở Khâu!”

Vệ Thành Công đứng bật dậy, gằn mạnh từng chữ: “Quả nhân tấn phong khanh làm thú thừa Sở Khâu, thay quyền quận thú Bình Dương, dẫn năm nghìn binh lính, tới chi viện Sở Khâu. Khanh hãy truyền với thần dân Sở Khâu, họ đang phải đối mặt với một bầy súc sinh, chứ không phải kẻ địch! Chiếu cáo thần dân, quả nhân sẽ cùng họ xả thân chiến đấu vì nước giống như hai vị tướng quân Tôn Thao, Tôn An và thần dân Bình Dương. Sống phải sống cho hiên ngang, chết phải chết có khí phách.”

Quần thần chưa bao giờ thấy Vệ Thành Công phẫn nộ như lúc này, cũng cảm thấy lửa bốc trong lòng, căm phẫn tột đỉnh. Lật Bình khấu đầu bái lạy, giọng nói nghẹn ngào: “Mạt tướng nhận lệnh! Mạt tướng thề cùng tồn vong với Sở Khâu.”

Vệ Thành Công ra hiệu, nội thần mang hổ phù tới, Thành Công đích thân giao cho Lật Bình. Lật Bình bái lĩnh hổ phù, lập tức rời cung, tới thao trường nhận năm nghìn binh mã, gấp rút tới Sở Khâu.

Lật Bình đi khỏi, Vệ Thành Công sai người đưa xác Tôn Thao ra ngoài mai táng theo nghi lễ công khanh.

Đám triêu thần lần lượt nhận lệnh, rồi cùng tản đi. Vệ Thành Công giữ thái sư, Tôn Cơ và ngự sử lại, chậm rãi nói: “Quả nhân giữ ba vị ái khanh lại, là có việc lớn cần làm! Ba vị ái khanh nghe chỉ!”

Ba người khấu lạy: “Vi thần đợi chỉ!”

Vệ Thành Công lấy ra ba bức thư đặt lên trên bàn, thở dài mà nói: “Ngụy Anh đã ngang ngược tới nước này mà liệt quốc vẫn lặng thinh, xem ra, họ đang đợi lễ vật, họ muốn quả nhân tới cầu cứu họ! Lão tướng quốc, khanh hãy đi sứ sang Tề. Thái sư, khanh hãy đi sang Hàn. Ngự sử, khanh hãy đi sứ sang Sở, lập tức lên đường!” Dừng lại một lát, rồi gằn mạnh từng chữ. “Chư vị ái khanh, Vệ thất đã tới thời khắc sinh tử tồn vong, quả nhân khẩn cầu các vị, nhất thiết phải chuyển thư tới tận tay Tề Công, Hàn Hầu và Triệu Hầu, không cần nói nhiều, chỉ cần nói quần thần Vệ thất vì đại nghĩa thiên hạ, liều chết với kẻ thù!”

Ba vị đại thần đều bật khóc, dập đầu mà nói: “Vi thần tuân chỉ!”

Ba người vội vã lui ra. Khi sắp ra khỏi cửa, Vệ Thành Công lại gọi với theo: “Tướng quốc, khoan đã!”

Tôn Cơ dừng bước, quay người lại.

Vệ Thành Công nói với nội thần: “Truyền Tôn Tân bái kiến!”

Một lát sau, Tôn Tân bước vào, bái lạy sát đất.

Vệ Thành Công nhìn Tôn Tân, chậm rãi nói: “Tôn ái khanh, khanh đã có tuổi, đi lại khó khăn, hãy để cháu nội Tôn Tân đi cùng!”

Tôn Tân do dự nhìn Tôn Cơ: “Ông!”

“Hơn nữa,” Vệ Thành Công tiếp lời, “lão ái khanh bao năm qua đã dốc sức vì Vệ thất, quả nhân chưa thể báo đáp. Quả nhân sớm đã sai người mua cho ái khanh một trang viên ở kinh đô Lâm Truy nước Tề, lần này đi sứ, gặp gỡ Tề Công, lão ái khanh… không phải trở về nữa, hãy ở đó mà an hưởng tuổi già cùng cháu nội!”

Tôn Cơ quỳ xuống, dập đầu liền ba cái: “Lão thần khấu tạ long ân của chúa thượng! Trước mắt, đất nước đang lâm nguy, chính là lúc cần dùng đến người, lão hủ khẩn cầu chúa thượng thu hồi mệnh lệnh, cho phép Tân Nhi ở lại dốc sức vì đất nước!”

Nghe thấy lời này, Tôn Tân lập tức dập đầu mà nói: “Mạt tướng khẩn cầu chúa thượng, hãy để mạt tướng ở lại để báo thù cho cha, tận trung với nước!”

“Tôn tướng quân mau bình thân!” Vệ Thành Công lau nước mắt, đích thân đỡ Tôn Tân đứng dậy. “Tốt lắm! Quả nhân tấn phong khanh là tư mã Đế Khâu, thay thế vị trí của Lật tướng quân, thống lĩnh thần dân toàn thành, gồm cả quả nhân, thề chết chiến đấu chống giặc Ngụy tới cùng.”

Tôn Tân nước mắt giàn giụa bái lạy: “Vi thần lĩnh chỉ!”

***

Tôn Cơ bái lạy từ biệt Vệ Thành Công, gọi người chuẩn bị xe ngựa, mau chóng tới kinh đô Lâm Truy. Người đánh xe là lão quản gia đã theo ông nhiều năm. Ông không mang theo bất kỳ một thanh niên trai tráng hay vệ sĩ nào trong phủ, tất cả đều để lại cho cháu trai bảo vệ Đế Khâu.

Lão quản gia ra roi thúc ngựa, đi suốt ngày đêm, từ Đế Khâu tới Lâm Truy một nghìn hai trăm dặm đường, không tới ba ngày đã tới cổng thành Lâm Truy.

Khi chủ tớ hai người tới cung Tề, Tề Uy Công và vài vị trọng thần trong triều đang bàn luận về chiến sự Ngụy Vệ. Các trọng thần nước Tề có mặt gồm thái tử Điền Tích Cương, tướng quốc Trâu Kỵ, thượng đại phu Điền Anh, thượng tướng quân Điền Kỵ

Thượng đại phu Điền Anh khom lưng tấu rằng: “Thật không nằm ngoài dự đoán của chúa thượng, Ngụy Anh quả nhiên giết gà doạ khỉ, lấy cớ Vệ Công không tới đại lễ, khinh thường Đại Ngụy, sai thượng tướng quân công tử Ngang dẫn năm vạn binh lính, vài ngày trước bất ngờ xâm chiếm nước Vệ! Vệ Công chiếu lệnh thần dân toàn quốc chống giặc tới cùng, đại quân năm vạn của công tử Ngang đang vây đánh Bình Dương nước Vệ.”

“Quái lạ!” Điền Tích Cương thoáng chau mày, vẻ đầy khó hiểu. “Vệ Công xưa nay gan như thỏ đế, phiến lá rụng xuống cũng hốt hoảng né tránh, sợ rơi trúng đầu, tổn thương tới tóc! Trong triều hội Mạnh Tân lần trước, Ngụy Anh mới hô một tiếng, ông ta đã hồn xiêu phách lạc, đánh đổ cả rượu thưởng xuống đất! Vậy mà…”

Tề Uy Công mỉm cười, nhìn Tích Cương, ý muốn giục nói tiếp.

Điền Tích Cương tiếp tục: “Triều hội Phùng Trạch lần này, Vệ Công lại đổi khác hoàn toàn, cứ như hai con người khác biệt, không những không tới triều hội, mà trong trận chiến với cường địch, còn một mình cầm cự, tới giờ vẫn chưa thấy cầu cứu nước lớn.”

Tích Cương vừa dứt lời, nội thần đã bước vào: “Khởi bẩm chúa thượng, sứ thần nước Vệ Tôn Cơ bái kiến!”

Tề Uy Công cười nói: “Cương Nhi, con nói hơi sớm đấy!” Rồi quay sang nội thần. “Truyền sứ Vệ bái kiến!”

Tôn Cơ mình mặc áo vải sô, run lẩy bẩy bước vào trong đại điện, dập đầu bái lạy: “Sứ giả nước Vệ Tôn Cơ khấu kiến Tề Công. Người Ngụy ngang ngược xuất binh, xâm phạm bờ cõi nước Vệ. Vệ Công phái lão hủ đến báo tin lên Tề Công, quân thần Vệ thất vì đại nghĩa thiên hạ, liều chết với kẻ thù!” Nói xong, lấy từ trong ngực áo ra bức thư của Vệ Công. “Đây là thư do đích thân Vệ Công viết, kính trình Tề Công ngự lãm!”

Nội thần bước lên, nhận lấy lá thư, đang định trình lên, Tề Uy Công bèn xua tay nói: “Đọc đi!”

Nội thần cất giọng sang sảng: “Ngụy Anh ỷ mạnh phạm thượng, trước lấy danh nghĩa triều kiến Chu thất để đùa giỡn thiên tử ở Mạnh Tân, sau lại tự lập làm vương, gây hấn chư hầu thiên hạ ở Phùng Trạch. Nay lại khởi binh xâm phạm bờ cõi ta, giết hại thần dân ta, điều này mà nhịn được, thì còn điều gì không nhịn được đây? Vệ thất tuy yếu, song chí không thể đoạt, quân thần Vệ thất quyết tâm xả thân vì nghĩa, huyết chiến với giặc Ngụy tới cùng! Con dân Đại Chu, quân chủ đời thứ hai mươi ba của Vệ thất là Cơ Tốc huyết lệ bẩm cáo!”

Quần thần nghe xong, im lặng không nói. Tề Uy Công ngẫm nghĩ một lát rồi ngẩng đầu nhìn Tôn Cơ: “Tôn tướng quốc cớ sao phải mặc áo sô?”

“Hồi bẩm Tề Công,” Tôn Cơ chậm rãi nói, “con trai trưởng Tôn Thao, con trai thứ Tôn An của lão hủ bốn ngày trước đây vừa xả thân vì đại nghĩa trong lúc bảo vệ vùng biên giới Bình Dương của Vệ!”

Tề Uy Công sửng sốt: “Bình Dương thất thủ rồi ư?”

Tôn Cơ trầm giọng nói: “Hồi bẩm Tề Công, thần dân Bình Dương thề chết chống giặc, thượng tướng quân công tử Ngang nước Ngụy công phá nhiều lần không được, thẹn quá hoá giận, sau khi hạ được thành, đã ra lệnh thảm sát toàn thành. Hai vạn thần dân Bình Dương, cho đến cả đàn bà trẻ nít, toàn bộ chết thảm!”

Tề Uy Công từ sửng sốt chuyên sang phẫn nộ: “Đúng là phường đồ tể!” Dừng lại một lát, trấn tĩnh trở lại. “Lão tướng quốc lặn lội đường xa hẳn đã mệt rồi, hãy tạm về dịch quán nghỉ ngơi vài hôm đã.”

“Đa tạ ý tốt của Tề Công!” Tôn Cơ vòng tay bẩm. “Nước Vệ đang trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, lão hủ sao có thể một mình hưởng an lành?” Bái lạy xong, bèn đứng dậy, chậm rãi lui ra.

Nhìn theo dáng đi run rẩy của Tôn Cơ, Tề Uy Công từ từ đứng dậy, vòng tay vái theo sau lưng Tôn Cơ, nói lớn một câu tiễn biệt: “Điền Nhân Tề cung tiễn Tôn lão tiên sinh!” Rồi lại ngồi xuống, nhìn sang chư thần bên cạnh. “Trung lương đến vậy, quả không hổ danh là hậu duệ của Tôn Vũ Tử.”

Điền Tích Cương sửng sốt: “Ông ta… là hậu duệ của Tôn Vũ Tử ư?”

Tề Uy Công gật đầu: “Đúng vậy, ông ta chính là cháu đời thứ tư của binh gia Xuân Thu Tôn Vũ Tử. Nếu xét đến ngọn nguồn, ông ta còn là người nước Tề chúng ta!” Nói đoạn, liếc nhìn bức thư của Vệ Thành Công đặt trên bàn, muốn nhân dịp dạy dỗ thái tử. “Cương Nhi, sự việc hôm nay, có cảm ngộ gì chăng?”

“Nhi thần có một chuyện không hiểu, mong quân phụ chỉ bảo!”

“Nói đi!”

“Vệ Công lần trước khúm núm sợ sệt, nhát như thỏ đế, hôm nay lại thề chết không hàng, dũng mãnh như gà chọi. Thật là trước sau trái ngược hoàn toàn, khiến nhi thần không khỏi kinh ngạc!”

Tề Uy Công gật đầu nói: “Hiện nay thời thế loạn lạc, nước lớn tranh bá, nước nhỏ chỉ mong được sinh tồn. Nước Vệ nhỏ yếu vừa hay kẹp giữa bốn nước mạnh Ngụy, Triệu, Tề, Sở. Cương Nhi, nếu con là Vệ Công, con sẽ làm thế nào?”

Điền Tích Cương trâm ngâm một lát rồi đáp: “Không thể liều mạng!”

“Đúng vậy!” Tề uy Công mỉm cười. “Đừng chỉ thấy Cơ Tốc vâng vâng dạ dạ, khúm núm khiếp nhược, ông ta có một điểm không thể không phục. Hai mươi năm qua, thiên hạ không lúc nào ngừng khói lửa, song nước Vệ tuy yếu, vẫn quốc thái dân an, chưa từng gặp họa chiến tranh!”

Điền Tích Cương vội nói: “Nhưng lần này…”

“Đây chính là điều quả nhân muốn nói với con!” Tề Uy Công đưa tay ra hiệu cho Điền Tích Cương im lặng. “Vệ Công tuyệt đối không phải hạng tầm thường, ông ta trước việc nhỏ thì khúm núm vâng dạ, song với việc lớn, luôn suy xét phân minh. Nhìn bề ngoài, Ngụy Anh xưng vương, có ý muốn thay triều đổi đại, lật đổ Chu thất, mà Vệ Công thân là con cháu Chu thất, đương nhiên không thể tới dự đại lễ. Xét về sâu xa, Ngụy Anh coi nước Vệ yếu ớt là món ngon trên đĩa, đã muốn thôn tính từ lâu. Vệ Công đã nhìn thấu tâm can hắn, do vậy ngoài mặt cung kính Ngụy thất, bên trong ngấm ngầm kết thân với Triệu, Hàn, càng qua lại thân thiết với quả nhân. Ngụy Anh lần này khởi binh xâm phạm biên cương, trên danh nghĩa là trừng phạt Vệ Công, thực chất là mượn cớ diệt Vệ. Vệ Công sinh tử tổn vong chỉ trong một đường tơ kẽ tóc, vẫn không liều mạng, thì còn đợi tới lúc nào?”

Điền Tích Cương như bừng tỉnh: “Nhi thần hiểu rồi. Song Vệ Công lấy trứng chọi đá, cũng là thiếu sáng suốt!”

“Không phải, không phải!” Tề Uy Công lắc đầu. “Vệ Công không ngốc nghếch đến vậy! Ông ta sớm đã đoán được rằng, quả nhân sẽ không ngồi yên phó mặc: Hàn Hầu, Triệu Hầu cũng sẽ không khoanh tay đứng nhìn.”

Điền Tích Cương trợn tròn hai mắt, kinh ngạc khôn xiết: “Quân phụ nói vậy là có ý gì?”

“Là vì liên quan tới lợi hại!” Tề Uy Công chậm rãi nói. “Từ thời Xuân Thu đến nay, giữa liệt quốc đều là kẻ mạnh ỷ thế tranh bá, kẻ yếu nhún nhường tìm cách sinh tồn. Ngụy Anh cậy mạnh xưng bá, chư hầu còn có thể nhẫn nhịn, bởi lẽ bất luận hắn phách lối đến đâu, cũng chỉ là một chư hầu, mọi người vẫn có thể chấp nhận danh nghĩa ấy. Song Ngụy Anh xưng vương, sự việc lại khác, bởi lẽ lúc này, hắn tự cho mình là vương, ngự trên chư hầu, tuỳ ý sắp đặt thiên hạ. Đương nhiên chư hầu đều cảm thấy mối nguy đang tới, ắt sẽ liên kết với nhau cùng phản kháng.”

Điền Tích Cương lúc này mới hiểu ra: “Thảo nào Vệ Công trong thư chỉ nói vì đại nghĩa thiên hạ, đến một câu van xin cầu cứu cũng không!”

“Đây cũng vẫn chỉ là bề ngoài!” Tề Uy Công tiếp tục giảng giải. “Đại nghĩa thiên hạ chẳng qua là hư danh mà thôi. Hiện nay, người coi trọng đạo nghĩa trong thiên hạ ngày càng hiếm hoi, người ta chỉ chú tâm tới lợi hại. Lợi hại của việc này là ở chỗ, các nước vùng lưu vực sông Tứ, xét về độ giàu có trù phú, không nước nào hơn được Vệ. Nói cách khác, nước Vệ là một miếng thịt thơm, ai cũng muốn ăn. Ngụy Anh muốn một mình tận hưởng, sao có thể được?”

Điền Tích Cương nào có suy nghĩ được sâu xa đến vậy, nghe tới đây, không khỏi thán phục trước suy xét tinh tường của công phụ, gật đầu lia lịa.

“Cương Nhi!” Tề Uy Công than thở. “Giờ con đã hiểu chưa, Cơ Tốc kia quả là nhân tài, chỉ tiếc là sinh ra ở nước Vệ yếu ớt, thực sự đã làm khó cho ông ta!”

Điền Tích Cương thực lòng cảm thán: “Nhi thần đã được mở mang tầm mắt! Nếu đã nhất thiết phải cứu Vệ, quân phụ dự định bao giờ khởi binh?”

Tề Uy Công trầm ngâm một lúc, rồi chậm rãi nói: “Dựa theo tính khí của Hàn Hầu, người Hàn chỉ trong vòng ba ngày sẽ khởi binh, Triệu Hầu có chậm chạp cũng không quá năm ngày! Cương Nhi, con thử nói xem, quả nhân nên khởi binh lúc nào là thích hợp?”

“Nhi thần cho rằng, nếu như Vệ Công đã là một kẻ tinh khôn đến vậy, chúng ta cứ đợi vài ngày nữa hãy xuất binh, để ông ta nếm trải cảm giác liều mạng là thế nào!”

Tề Uy Công khẽ lắc đầu, quay sang Điền Kỵ: “Điền ái khanh!”

Điền Kỵ đáp lời: “Có vi thần!”

“Quả nhân giao cho khanh năm vạn bộ binh, ba trăm cỗ xe chiến, ngày mai xuất phát, dàn quân tại biên giới Vệ.”

Điền Kỵ không giấu nổi ngạc nhiên: “Dàn quân tại biên giới Vệ? Chúa thượng, chúng ta tới đó, lẽ nào không giải vây cho Đế Khâu?”

Tề Uy Công mỉm cười nói: “Đúng là để giải vây cho Đế Khâu. Có điều, chúng ta xuất binh, phần nhiều là vì nể mặt Vệ Công. Nếu quả đúng như suy đoán của quả nhân, tự khắc sẽ có người tới giải vây cho Đế Khâu.”

Hai người đều ngơ ngác: “Tự có người giải vây? Ai kia?”

Tề Uy Công cười cười, nói: “Đi đi, tới lúc đó tự khắc sẽ biết!”

Tướng quốc Tôn Cơ ra tới ngoài cửa cung, lão quản gia vội chạy lại đón, đỡ ông lên xe ngựa.

“Chúa công,” lão quản gia khẽ hỏi, “bây giờ đi đâu?”

Tôn Cơ chỉ về phía trước: “Về Đế Khâu!”

Lão quản gia sụt sùi nói: “Chúa công… người không thể nghỉ ngơi lấy một đêm ư?”

Tôn Cơ khẽ thở dài một tiếng, từ từ khép mắt lại: “Lên xe nghỉ ngơi cũng được!”

***

Trên thành Bình Dương, ánh tà dương đỏ bầm như máu, khắp nơi đổ nát hoang tàn, khói bốc nghi ngút. Vài chỗ, lửa vẫn cháy rừng rực, khói đen cuồn cuộn tuôn ra qua cổng thành tây.

Một đoàn hơn chục người mặc quần áo nâu, chân đi giày cỏ, sắc mặt nặng nề, lẳng lặng sải bước vào trong cổng thành không một bóng người. Bốn phía lặng bặt đến đáng sợ. Trên phố, xác người ngổn ngang, nam có nữ có, già có trẻ có, cảnh tượng tang thương đến không nỡ nhìn. Máu loang tứ phía phần nhiều đã khô quánh, dưới ánh chiều tà tháng năm, sắc máu càng ngả màu tím sẫm, trông rùng rợn dị thường.

Đoàn người áo nâu lách qua những xác chết chồng chất, không ai nói câu nào, chẳng khác gì một đoàn người câm. Lão già râu bạc dẫn đầu đoàn người bước chân mỗi lúc một chậm, khi sắp tới từ đường, bỗng dừng bước, từ từ nhắm mắt lại, hai giọt lệ trào ra bên khoé mắt, nhỏ xuống đất.

Đây là đoàn người Mặc gia nhận được tin dữ, vội tìm tới nơi, ông lão râu bạc chính là cự tử(4) Mặc gia nổi tiếng Tuỳ Sào Tử. Mấy ngày trước, ở trong đại viện Mặc gia sâu hút trên núi Tung Sơn, thình lình nghe tin người Ngụy đột kích nước Vệ, tin tức vừa truyền về, tức tốc tìm tới nơi, song đã muộn rồi. Quân Ngụy đều đã rút đi, Bình Dương chỉ còn là một hoang thành chết chóc. Đoàn người Mặc gia chia khắp tứ phía, tìm kiếm người sống sót. Chưa đầy một canh giờ, đã có một hán tử trung niên Mặc gia chạy lại bẩm báo: “Bẩm cự tử, trong từ đường có người sống sót!”

Ông lão râu bạc mở choàng mắt: “Mau lên!”

Tuỳ Sào Tử và đám người vội vã tới từ đường, cảnh tượng thảm thương đập vào trước mắt khiến cả đoàn người chết lặng. Toàn bộ từ đường bị thiêu trụi, vài đám khói vẫn bốc lên ngùn ngụt. Trong sân có tới hơn hai trăm xác người ngổn ngang, mỗi người một tư thế. Ở góc bên trái, có hai xác chết cháy đen ôm chặt lấy nhau, nhìn qua đã biết là hai đứa trẻ. Chếch sang bên phải, la liệt vài chục cái xác đàn bà con gái đủ mọi lứa tuổi, áo quần tơi tả, thân thể loã lồ, rõ ràng đã bị làm nhục trước khi sát hại.

Bên cạnh đám xác chết đàn bà, một lão già tay cầm chiêng đồng quỳ dưới đất, quay mặt về phía những xác chết, trơ trơ như pho tượng đất. Không hề gào khóc, mặt không cảm xúc, cũng không thấy chảy nước mắt. Bóng tà dương đỏ quạch như máu hắt lên vầng trán chằng chịt những nếp nhăn sâu như dao cứa của lão.

Chứng kiến cảnh tượng thú tính đáng ghê tởm, đám người Mặc gia đứng ngây tại chỗ, chẳng khác nào ông lão gõ chiêng trước mặt. Lúc này, đừng nói là căm phẫn, dù có buồn thương cũng chỉ là thừa thãi, ông lão râu bạc thở dài một tiếng, khép mắt lại. Vài đệ tử Mặc gia tiến lại, nhặt những manh áo vương vãi trên đất, đắp lên người cho họ, che đi những phần trống trải.

Một đệ tử Mặc gia trung niên chậm rãi tiến về phía ông lão tuần canh, gọi khẽ: “Lão trượng!”

Ông lão tuần canh vẫn không hề nhúc nhích. Đệ tử Mặc gia lại gọi thêm câu nữa, song lão vẫn bất động. Người này lấy làm lạ, ngỡ lão đã chết, bèn đưa tay lên mũi, vẫn thấy hơi thở, mới yên tâm, lấy túi nước giắt bên thắt lưng, đưa cho lão: “Lão trượng, uống nước đi!”

Ông lão tuần canh vẫn như không nghe thấy, cũng như không nhìn thấy. Vị Mặc gia trung niên đang không biết phải làm thế nào, thì lão đột nhiên nhúc nhích, chậm chạp đứng dậy, nhấc cao chiêng đồng, gõ mạnh một tiếng, há miệng hô lên. Song đôi môi lão đã nứt nẻ, giọng nói khàn đặc, chỉ thấy miệng lưỡi mấp máy, song không phát ra được tiếng nào, tựa như đã bị cắt mất lưỡi.

Ông lão tuần canh nhìn những người mặc áo nâu trước mặt mà như không thấy, tay gõ chiêng, miệng hô lớn, cố gắng lê đôi chân, nặng nhọc bước về phía cổng chính từ đường. Đám đệ tử Mặc gia đưa mắt nhìn nhau, một nam thanh niên hỏi vị Mặc gia trung niên: “Đại sư huynh, nghe được lão ấy nói gì không?”

Vị Mặc gia trung niên lắc đầu, đưa ánh mắt về phía Tuỳ Sào Tử.

Tuỳ Sào Tử chậm rãi nói: “Lão hô rằng, Toàn dân trong thành nghe đây, quân chủ có chỉ, người còn thành còn, thề huyết chiến tới cùng với giặc Ngụy.

Đám người Mặc gia thảy đều xúc động. Nhìn theo bóng lão bước vào trong viện, vị Mặc gia trung niên sải bước định đuổi theo, thì Tuỳ Sào Tử ngăn lại: “Cứ để lão đi!”

Vị Mặc gia trung niên dừng bước, băn khoăn nhìn ông già râu bạc: “Cự tử, lão…”

Tuỳ Sào Tử trầm ngâm nói: “Lão đã phát điên rồi!”

Bầu không khí lập tức chùng xuống. Đám người Mặc gia đều đứng như chôn chân tại chỗ, dõi mắt nhìn theo bóng dáng ông lão gõ chiêng xa dần.

Tuỳ Sào Tử thở dài một tiếng, dặn người trung niên: “Cáo Tử, triệu tập người Mặc gia và những dân chúng quanh đây, mau chóng lo hậu sự cho những thi thể xấu số này! Bây giờ thời tiết nóng nực, không chôn cất ngay, e rằng dễ gây dịch bệnh!”

“Đệ tử tuân lệnh!”

“Còn nữa, phái vài người mau tới Sở Khâu và Đế Khâu, giúp người Vệ giữ thành! Người Ngụy đã phát cuồng rồi!”

“Ác độc nhường này, đúng là không bằng loài cầm thú!”

“Chao ôi!” Tuỳ Sào Tử thở dài một tiếng, lắc đầu, “mới chỉ là khởi đầu mà thôi!”

Đám Mặc gia đều kinh hãi: “Chỉ là khởi đầu?”

“Đúng vậy!” Tuỳ Sào Tử đưa mắt nhìn một sân xác chết ngổn ngang. “Đây là một sợi dây xích, vòng nọ lồng với vòng kia. Ngụy Hầu xưng vương là vòng đầu tiên. Cáo Tử, việc ở đây, ta giao cả cho con!” Rồi quay về phía gã thanh niên, “Tống Kiển, con hãy theo ta tới An Ấp một chuyến!”

“Đệ tử tuân lệnh!”

Cáo Tử nhìn Tuỳ Sào Tử với ánh mắt ngờ vực: “Cự tử đi thuyết khách Ngụy Hầu ư?”

Tuỳ Sào Tử gật đầu.

“Ngụy Hầu liệu có chịu nghe lời cự tử chăng?”

Tuỳ Sào Tử im lặng, một lát sau, từ từ ngẩng đầu lên, vừa như tự nhủ, lại như trả lời: “Tuỳ theo ý trời!”

***

Sau cuộc thảm sát thành Bình Dương, công tử Ngang rút ra bài học, quyết định không tập trung một chỗ, mà chia quân hai lộ. Một lộ do tiên phong Bùi Anh dẫn một vạn năm nghìn quân vây đánh Sở Khâu, một lộ đích thân công tử Ngang dẫn số quân còn lại đánh thẳng vào kinh đô Đế Khâu nước Vệ.

Công tử Ngang sau khi bao vây Đế Khâu, đã viết một bức thư khuyên hàng, lời lẽ vô cùng sắc bén, rồi sai người bắn vào lầu thành. Vệ Thành Công không thèm bóc thư, lệnh cho người bắn trả lại, đồng thời bắn xuống một bức chiến thư, mắng kẻ nhận thư là “cầm thú”. Công tử Ngang thẹn quá hoá giận, ra lệnh đồng thời công phá Sở Khâu và Đế Khâu.

Sở Khâu vốn có bốn nghìn binh mã, lại thêm năm nghìn quân chi viện của Lật Bình, tổng cộng có cả thảy chín nghìn tướng sĩ. Binh lực tuy yếu, song trước hung tin dân chúng Bình Dương bị thảm sát, quân dân Sở Khâu liền đoàn kết một lòng, quyết chiến tới cùng, thà chết trận còn hơn đứng đợi người tàn sát. Đế Khâu cũng vậy. Do đó, quân Ngụy tuy kiêu dũng thiện chiến, song đối diện với đông đảo dân chúng cùng đường, cũng đành bó tay hết cách. Công tử Ngang vốn định phá thành trong vòng năm ngày, không ngờ tấn công liền tám ngày trời mà hai thành trì vẫn kiên gan đứng vững.

Đường đường là thiết quân Đại Ngụy, đến một thành trì cỏn con dường như không kham nổi một đòn của nước Vệ cũng chẳng làm gì nổi, công tử Ngang mất mặt không để đâu cho hết, giận dữ hạ lệnh cho bộ tướng lập quân lệnh trạng, hạn trong ba ngày, hoặc phá được thành, hoặc xách đầu về gặp.

Vào ngày thứ chín, trời vừa rạng sáng, quân Ngụy một lần nữa hùng hổ lao lên đánh thành, cuộc chiến diễn ra vô cùng khốc liệt, binh sĩ hai bên đều sát khí hừng hực.

Dưới thành Sở Khâu, trống trận dồn dập, tiếng hò la chấn động đất trời, đại quân Ngụy lớp lớp xông lên như sóng vỗ bờ. Song lính Vệ trên thành lại tuyệt không động tĩnh, thậm chí không có lấy một tiếng trống, quân sĩ, nhân dân đều tiết kiệm sức lực, lặng lẽ bắn tên, ném đá, lăn gỗ và quăng tất cả những thứ có thể gây tổn thương quân địch xuống dưới tường thành. Lớp trước vừa ngã xuống, lớp sau lại xông lên thay thế. Lật Bình khắp mình máu me bê bết, cánh tay trái trúng tên cũng không kịp nhổ ra, múa thương vùn vụt tấn công đám lính Ngụy vừa leo lên tường thành.

Dưới thành Đế Khâu, công tử Ngang đích thân đánh trống, quân Ngụy hò nhau rầm rập xông lên. Trên lầu thành, Vệ Thành Công mình mặc giáp trụ, tay cầm trường mâu, mạo hiểm tuần sát dọc theo tường thành dưới mưa tên vùn vụt. Bốn lực sĩ khiêng theo cỗ quan tài quét sơn đen chạy sát sau lưng ông. Tướng sĩ giữ thành nhìn thấy quốc quân khiêng quan tài đi theo, thảy đều gạt nước mắt xông lên giết địch.

Trận kịch chiến kéo dài tới tận hoàng hôn, quân Ngụy vẫn không thể đột phá được chỗ nào, đành phải gõ chiêng thu quân. Trời đã tối sẩm, ở một đoạn tương đối khuất phía dưới tường thành, có mấy bóng người áo đen khẽ gọi vọng lên trên thành. Binh sĩ trên thành cấp tốc báo với Tôn Tân, Tôn Tân hỏi qua, biết là đệ tử của Mặc gia, lập tức thả dây thừng xuống cho họ leo lên.

Đệ tử Mặc gia xưa nay vốn nổi tiếng liệt quốc vì tài phòng ngự, nhìn thấy họ, Vệ Thành Công và đám Tôn Cơ như thể uống được một liều thuốc tiên. Tôn Tân lập tức dẫn họ đi quan sát các điểm phòng ngự trên thành, sau đó gấp rút điều động toàn bộ thợ mộc chế tạo máy móc, vũ khí hộ thành theo bản vẽ của đệ tử Mặc gia, đồng thời căn cứ vào kích thước cổng thành Đế Khâu, chế tạo ra các loại binh xa chuyên chắn giữ cổng thành.

Chế tạo xong binh xa, Vệ Thành Công dẫn triều thần lại xem diễn tập. Phía trước và phía trên binh xa lắp chi chít đao nhọn mâu sắc, phía sau lắp thêm một thiết bị có thể xoay tròn. Đệ tử Mặc gia xoay chuyển bánh xe phía sau cỗ binh xa, các loại lưỡi nhọn mũi sắc phía trước lập tức chuyển động, hoặc xoay tít, hoặc đâm thẳng, người bình thường không thể lại gần. Dù cổng thành bị phá, chỉ cần dùng loại xe này chặn đường quân địch, cũng chẳng khác gì thành đồng vách sắt.

Vệ Thành Công thấy vậy, phấn khởi ra mặt, lập tức truyền lệnh lắp vào trong bốn cổng thành, sai binh sĩ ngày đêm canh giữ. Tướng sĩ không còn lo lắng chuyện cổng thành, nên rất vững tâm, chỉ lo dốc sức lực bảo vệ mặt thành.

Kỳ hạn ba ngày đã qua, Sở Khâu, Đế Khâu vẫn vững như thành đồng. Vào chập tối ngày thứ ba, công tử Ngang gióng chiêng thu quân, đám tướng lĩnh chẳng khác gì gà chọi bại trận, ai cũng khóc lóc rầu rĩ, cúi gằm mặt trở về doanh trại, xếp thành một hàng quỳ xuống trước mặt công tử Ngang, đồng thanh nói: “Mạt tướng vô dụng, xin thượng tướng quân trừng phạt!”

Luật không trách số đông, huống hồ là toàn bộ tướng lĩnh của ba quân! Công tử Ngang mặt nặng như chì, trừng mắt nhìn khắp lượt các tướng, đập bàn quát: “Nhìn bộ dạng các ngươi, khác gì một lũ đần, còn đâu khí phách của tướng quân Đại Ngụy?”

Đám tướng lĩnh đưa mắt nhìn nhau, quả nhiên trông ai cũng đầu bù tóc rối, mặt mày lấm lem đất cát, giáp trụ trên người không ai còn nguyên vẹn, có hai người bị trúng thương, một người bị thương ở trán, một người bị thương ở cánh tay, may mà vết thương không nặng, vừa được thầy thuốc băng bó qua loa, vội vã trở về doanh trại phục mệnh. Nếu chiến thắng, bị thương là chuyện đáng tự hào, nhưng hiện tại lại là chiến bại, ở trong doanh trại trung quân, nhìn những dải băng trắng toát thật vô cùng chướng mắt.

Công tử Ngang ném ánh nhìn về phía hai người họ, đang định trách mắng thì lính thám mã chạy vào bẩm báo: “Bẩm thượng tướng quân, quân chi viện của ba nước Triệu, Hàn, Tề đã vào biên giới Vệ, đang tiến tới Đế Khâu!”

Đám tướng lĩnh đều kinh hãi, không hẹn mà cùng nhìn về phía công tử Ngang.

Công tử Ngang nghe được tin này, đã không sửng sốt, lại còn bật cười ha hả. Chư tướng không hiểu ra sao, chỉ biết đưa mắt nhìn nhau.

Công tử Ngang dứt tiếng cười, cất giọng sang sảng: “Ta phạt Vệ lần này, chẳng qua là giết gà dọa khỉ, mục đích chính là ép bầy khỉ này phải hiện hình. Hôm nay quả đúng như dự đoán, bầy khỉ đã không kiềm chế nổi nữa, đua nhau nhảy ra! Chư tướng nghe lệnh!”

Đám tướng lĩnh vội vã đứng thẳng người dậy.

“Ngày mai tạm thời dừng việc công thành, lui quân mười dặm dựng trại! Đợi quân chi viện của bệ hạ tới, tiếp tục quyết chiến với bầy khỉ.”

Đám tướng lĩnh thở phào một tiếng, dõng dạc đáp lời: “Mạt tướng tuân lệnh!”

Thấy tướng lĩnh đã lui ra hết, công tử Ngang đích thân viết tấu báo, sai người cấp tốc gửi về An Ấp.

***

Tướng Tề Điền Kỵ, thái tử Điền Tích Cương thống lĩnh đại quân năm vạn chậm rãi tiến vào biên giới nước Vệ, lúc này, chỉ còn cách Đế Khâu năm mươi dặm.

Lúc này, lính thám mã phi tới, xoay người xuống ngựa trước xe Điền Kỵ, dõng dạc bẩm báo: “Báo, quân Ngụy thấy ta tới chi viện, đã dừng công thành, lui quân mười dặm dựng trại!”

Điền Kỵ quay sang phía thái tử. Điền Tích Cương lớn tiếng hỏi tên lính thám mã: “Quân Hàn, quân Triệu hiện tới đâu rồi?”

“Khởi bẩm điện hạ, ba vạn quân Triệu dựng trại cách Đế Khâu bốn mươi dặm! Hai vạn quân Hàn dựng trại cách Đế Khâu ba mươi dặm.”

“Tiếp tục thám thính!”

Lính thám mã vâng lệnh, tung người lên ngựa, lập tức phóng đi ngay.

Điền Tích Cương nói với Điền Kỵ, giọng đầy thán phục: “Tình hình trước mắt, thật đúng như dự tính của công phụ, không sai một ly.”

Điền Kỵ đáp lời: “Bẩm điện hạ, quân Ngụy mấy ngày kịch chiến, số quân còn lại không tới bốn vạn, lại mệt mỏi rệu rã. Chúng ta có năm vạn tinh binh, hoàn toàn có thể chiến thắng công tử Ngang!”

Điền Tích Cương lắc đầu: “Công phụ chỉ dặn ta dàn quân ở biên giới Vệ, chứ không bảo ta xuất chiến!”

“Ồ…” Điền Kỵ vội nói, “chúa thượng không biết tình thế trước mắt, nên mới quyết định như vậy. Điện hạ, chúng ta đánh thôi, vi thần đảm bảo sẽ đánh bại quân Ngụy, bắt sống tên súc sinh kia!”

Điền Tích Cương vẫn lắc đầu: “Tướng quân, không được! Dù tướng quân hễ đánh là chắc thắng, song như vậy, Ngụy Anh ắt coi Tề là kẻ thù. Dựa vào quốc lực hiện tại của Ngụy, nếu thảo phạt ta, nước Tề tất máu chảy thành sông! Tướng quân hãy nhìn Triệu Hầu, Hàn Hầu mà xem, tuy đã sớm xuất binh, song cả hai đều tinh ranh như khỉ, chỉ quan sát từ xa, án binh bất động!”

Điền Kỵ lo lắng: “Điện hạ, công tử Ngang thấy ta giúp Vệ, ắt sẽ điều quân chi viện. Khi quân chi viện của chúng tới nơi, chúng ta chiến hay không chiến?”

Điền Tích Cương cười nói: “Tướng quân yên tâm, nếu viện quân của Ngụy tới, công phụ tất có ý chỉ. Trước khi đi, công phụ năm lần bảy lượt căn dặn, chúng ta tới đây, không phải để giải vây, cũng không phải để quyết chiến với người Ngụy, chỉ là để giữ thể diện cho Vệ Công! Điền tướng quân, chúng ta có thể hạ trại ở đây không?”

Điền Kỵ quan sát xung quanh một lượt, rồi gật đầu nói: “Được!” Rồi lại quay sang phó tướng, “điện hạ có chỉ, hạ trại dựa núi kề sông!”

***

Sau khi Bạch tướng quốc quy tiên, Công Tôn Diễn cũng rời khỏi phủ tướng quốc, trở về nhà ở. Công Tôn Diễn sống ở phố Đông Nhai thành An Ấp, trong một khu nhà hai dãy do ông nội Công Tôn Diễn mua lúc sinh thời. Cha mẹ Công Tôn Diễn đều đã mất, Công Tôn Diễn cũng chưa lập gia thất, nên trong nhà chẳng còn ai khác, vô cùng hiu quạnh.

Buổi sáng hôm đó, bỗng một cỗ xe ngựa đỗ xịch trước cửa, đại tư đồ Chu Uy bước xuống xe, đi thẳng vào trong, nhìn thấy Công Tôn Diễn đang dọn dẹp xe ngựa trong sân, vẻ như chuẩn bị cho một chuyến đi xa.

Chu Uy vô cùng ngạc nhiên, không kịp hành lễ, mở miệng gọi luôn: “Công Tôn huynh!”

Thấy Chu Uy, Công Tôn Diễn quay người lại, vòng tay hành lễ: “Chu huynh đấy ư, mời vào trong nhà nói chuyện!”

Hai người vào trong phòng khách, ngồi xuống, Công Tôn Diễn lại vòng tay nói: “Thật là vừa khéo, tại hạ đang định đi tìm Chu huynh thì Chu huynh lại tới!”

Chu Uy cũng vòng tay đáp: “Tại hạ vừa nhận được tin báo, ba nước Tề, Hàn, Triệu đều đã xuất binh. Hàn Hầu đích thân xung trận. Phía nước Triệu, chủ tướng là Phụng Dương Quân, còn nước Tề là thượng tướng quân Điền Kỵ và thái tử Tích Cương!”

Công Tôn Diễn gật đầu nói: “Tại hạ cũng đã nghe được tin này, bởi vậy mới thu dọn hành lý!”

“Công Tôn huynh định đi đâu?”

“Hà Tây!”

Chu Uy sửng sốt: “Công Tôn huynh, hiện tại chiến hoả đang ở nước Vệ, sao huynh lại tới Hà Tây?”

“Nước Vệ vô sự, Hà Tây mới có chuyện!”

Chu Uy kinh hãi: “Nói vậy là sao?”

“Việc công tử Ngang thảm sát toàn thành đã lan truyền khắp liệt quốc! Không chỉ người Vệ, mà toàn dân thiên hạ đều bừng bừng căm phẫn. Nghe nói Vệ Công chiếu lệnh toàn quốc, người còn thì thành còn. Bách tính nước Vệ sợ thành bị phá, ắt liều chết cố thủ chờ quân chi viện tới. Hạng bất tài vô dụng như công tử Ngang, đừng nói là liệt quốc xuất binh, cho dù liệt quốc không xuất binh, dựa vào thực lực của người Vệ thì cũng phải mất tới nửa năm may ra mới phá nổi thành!”

Chu Uy vẫn ngẩn ngơ không hiểu: “Chuyện này thì có liên quan gì tới Hà Tây?”

“Liệt quốc xuất binh, tại hạ sớm đã lường trước. Không chỉ tại hạ, mà chúa thượng cũng mong chờ chuyện này. Không chỉ chúa thượng, mà người Tần cũng mong chờ chuyện này!” Công Tôn Diễn nói tới đây thì dừng lại.

Dù đang là tiết tháng năm, Chu Uy bỗng thấy toàn thân ớn lạnh, bất giác rùng mình một cái, run rẩy nói: “Công Tôn huynh, ý Công Tôn huynh là… người Tần…”

Công Tôn Diễn gật đầu: “Bạch tướng quốc lo lắng cũng là vì chuyện này. Chu huynh thử nghĩ mà xem, Công Tôn Ưởng là hạng người thế nào? Tần Hiếu Công là hạng người thế nào? Dựa theo thực lực của nước Tần hiện nay, dù có giao chiến, ai thắng ai thua cũng khó lòng đoán trước. Song họ vẫn khom lưng cầu hoà, cống nộp con gái, khúm núm nịnh hót công tử Ngang bất tài vô dụng, đúng là đặt cược quá lớn! Than ôi! Đáng tiếc là chúa thượng đã bị người ta bưng mắt mất rồi!”

Chu Uy mặt cắt không còn hạt máu: “Tại hạ sẽ lập tức tấu lên chúa thượng, phân tích rõ lợi hại!”

“Chu huynh!” Công Tôn Diễn cười khổ sở, lắc đầu nói, “Chúa thượng nếu chịu nghe, thì đâu có kết cục hôm nay?”

Chu Uy im lặng không nói gì.

“Chu huynh! Công Tôn Diễn đang định tìm Chu huynh, là có một việc muốn cậy nhờ!”

Chu Uy ngẩng nhìn Công Tôn Diễn.

“Trước khi lâm chung, chúa công có hai điều lo lắng nhất. Một là Hà Tây, hai là Bạch thiếu gia. Hà Tây là việc nước, còn Bạch thiếu gia là việc nhà. Chúa công giao phó việc nước cho Long tướng quân, giao phó việc nhà cho tại hạ. Điều khiến tại hạ băn khoăn, chính là Long tướng quân đương nhiên thiện chiến, song nếu giao đấu với một đối thủ như Công Tôn Ưởng, e rằng khó lòng chiếm thế thượng phong. Tại hạ muốn tới Hà Tây, trợ giúp Long tướng quân một tay. Còn chuyện của Bạch thiếu gia…”, Công Tôn Diễn tiến lại gần Chu Uy, vòng tay cung kính, “tại hạ xin cậy nhờ Chu huynh!”

Chu Uy cũng vòng tay nói: “Công Tôn huynh yên tâm, chuyện của Bạch công tử, xin cứ giao cả cho tại hạ!”

“Bạch thiếu gia ăn chơi thành tính, tốt nhất hãy để cho cậu ấy làm một công việc gì đó!”

Chu Uy ngẫm nghĩ một lát: “Để Bạch thiếu gia trông coi nhà ngục, được chăng?”

“Như vậy cũng tốt!”

Hai người trò chuyện thêm một lúc thì Công Tôn Diễn vội vã lên đường. Chu Uy tiễn tới cổng Tây, rồi quay trở về phủ tư đồ. Một mình ngồi trong phủ thẫn thờ suy nghĩ một lát, rồi ông sai người mời Bạch công tử lại, hỏi hắn có muốn làm việc hay không.

Sau khi Bạch tướng quốc qua đời, lão quản gia làm theo căn dặn của tướng quốc, tính toán lượng vàng trong kho, chỉ để lại ba trăm lượng cho Bạch Hổ, rồi giao toàn bộ bảy nghìn lượng cho Long Giả, vận chuyển tới Hà Tây. Lão tướng quốc đột ngột qua đời khiến Bạch Hổ bàng hoàng cực độ, hắn ân hận vô cùng, lại thêm lão quản gia hết lời khuyên can, thiếu phu nhân khóc lóc năn nỉ, Bạch Hổ đã thề từ bỏ thói cờ bạc, hơn mười ngày qua không bén mảng tới lầu Nguyên Hanh. Hôm nay thấy Chu Uy hỏi vậy, trong lòng khó tránh chấn động, lập tức trả lời: “Tạ ơn sự quan tâm của tư đồ đại nhân! Tuy nhiên, tại hạ xưa nay chỉ biết đua đòi ăn diện, cơm bưng nước rót tận miệng, có thể làm được gì đây?”

Chu Uy cười nói: “Chỉ cần công tử muốn làm, không có gì không học được! Thế này đi, bên hình ngục đang thiếu người, nếu công tử không chê, có thể bắt đầu từ đó!”

Bạch Hổ đoán rằng Chu Uy sẽ cho mình làm chức quan gì đó, nên đồng ý ngay. Chu Uy dẫn hắn tới nhà ngục, quan tư hình đã đón sẵn ở cửa, khấu đầu nói: “Hạ quan khấu kiến tư đồ đại nhân!”

Chu Uy phẩy tay, bước tới đại đường, ngồi xuống chính vị, chỉ vào Bạch Hổ nói: “Đây là Bạch thiếu gia, bắt đầu từ hôm nay, sẽ làm việc ở đây. Ngươi xem thử có việc gì thích hợp thì giao cho cậu ta.”

Quan tư hình vội vòng tay hành lễ với Bạch Hổ: “Hạ quan hân hạnh được gặp Bạch thiếu gia!”

Bạch Hổ vòng tay đáp lễ, ngạo mạn nói: “Bạch Hổ có lời chào tư hình! Xin hỏi tư hình đại nhân, định giao cho bản thiếu gia việc gì?”

Chu Uy liếc nhìn hắn, khẽ chau mày, thấy quan tư hình đang nhìn mình có ý dò hỏi, bèn lớn tiếng: “Mang trang phục lính canh ngục lại cho Bạch thiếu gia!”

Tư hình kinh ngạc nhìn Chu Uy: “Tư đồ đại nhân, ý ông là… để Bạch thiếu gia làm lính canh ngục?”

Chu Uy trừng mắt nhìn quan tư hình, nghiêm giọng quát: “Lẽ nào ngươi bị điếc?”

Tư hình vội chạy đi, một lát sau, mang một bộ trang phục lính canh ngục bằng vải thô đặt trước mặt Bạch Hổ, khẽ nói: “Bạch thiếu gia, hãy mặc thử xem!”

Từ bé tới giờ, Bạch Hổ chưa phải mặc quần áo vải thô bao giờ, nên lúc này đương nhiên không chịu, sắc mặt sầm xuống, giơ chân hất bộ trang phục lên, rồi đưa tay đỡ lấy, giũ giũ vài cái, sau đó vứt toẹt xuống đất, nói: “Cái thứ rách rưới này mà cũng bảo bản thiếu gia mặc ư?”

Chu Uy chỉ nhìn, không nói gì, lập tức cởi bỏ trang phục quan tư đồ trên người, cúi xuống nhặt bộ trang phục lính coi ngục mà Bạch Hổ vừa ném xuống đất, cẩn thận mặc lên người, rồi đanh giọng nói với tư hình: “Lấy cho Bạch công tử bộ khác!”

Tư hình thấy Chu Uy nổi giận, không dám chậm trễ, vội chạy đi lấy bộ khác, lại đặt trước mặt Bạch Hổ. Chu Uy nhìn sang, từ tốn nói: “Bạch thiếu gia, xin mời mặc thử!”

Bạch Hổ xấu hổ đỏ mặt, thấy không còn cách nào khác, đành chậm chạp cởi bỏ phục sức xa hoa trên người, mặc lên mình bộ trang phục lính canh ngục bằng vải thô. Đợi Bạch Hổ mặc xong xuôi, Chu Uy quay sang nói với quan tư hình: “Tư hình đại nhân, giao việc đi!”

Tư hình có phần run rẩy: “Hạ… hạ quan…”

Chu Uy quát lên: “Hạ quan cái gì? Hiện giờ ngươi là trưởng quan!”

Tư hình khựng lại, rồi vội vã gật đầu: “Phải, phải, phải! Mời hai vị theo hạ quan… À, không, mời hai vị theo bản quan vào tuần tra ngục thất!”

Tư hình dẫn Chu Uy, Bạch Hổ tuần tra mấy gian nhà ngục, sau đó trở về đại đường. Chu Uy căn dặn quan tư hình: “Bắt đầu từ hôm nay, Bạch thiếu gia sẽ làm sai nha ở đây. Nếu Bạch thiếu gia làm tốt, ngươi hãy khen thưởng. Nếu Bạch thiếu gia làm sai, ngươi hãy trách phạt.”

Tư hình giật nảy mình: “Hạ… hạ quan tuân lệnh!”

Chu Uy thay lại trang phục, bước ra khỏi hình ngục. Nghe thấy tiếng bước chân của Chu Uy xa dần, quan tư hình cúi gập người, cười giả lả nói với Bạch Hổ: “Bạch thiếu gia, hôm nay thiếu gia lần đầu tới làm việc, cứ thoải mái đi lại thăm thú, không có việc gì gấp. Nếu thiếu gia muốn gì, xin cứ nói với tại hạ, tại hạ sẽ tận lực hoàn thành!”

Bạch Hổ lừ mắt với quan tư hình, rồi đột ngột cởi phăng bộ trang phục lính canh ngục, ném mạnh xuống đất, mặc lại những phục sức quý phái lên người, “hừm” một tiếng rồi bước thẳng ra khỏi hình ngục, không ngoảnh đầu lại.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử