Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 43
Tô Tần khẩu chiến quần sĩ Tắc Hạ
Tề Vương tâm niệm mối nhục Hoàng Trì

❊ ❊ ❊

Nước Tần phô trương thanh thế chinh phạt Nghi Dương, toàn bộ nước Hàn kinh hoàng náo loạn, Chiêu Hầu gấp rút phái người đến cầu cứu Tô Tần.

Tô Tần hỏi rõ tình hình, đoán là người Tần vẫn diễn lại tích cũ, hư trương thanh thế như lần rêu rao phạt Triệu trước đây, nên lập tức gửi cho Hàn Hầu một bức mật hàm, to gan tuyên bố, Tam Tấn hợp tung đã thành, chỉ cần người Tần dẫn binh xâm phạm Nghi Dương, Ngụy, Triệu sẽ phát binh cùng lúc, tấn công người Tần từ cả ba hướng Hàm Cốc, Hà Tây, Tấn Dương. Hàn Hầu đã an tâm, nên tự tin điều binh khiển tướng phòng ngự tại Nghi Dương, toàn lực nghênh chiến người Tần.

Đồng thời, Tô Tần cũng cáo từ Ngụy Vương, tiếp tục phái Lâu Hoãn đi trước thăm dò, còn mình theo sát phía sau, dẫn đầu sứ đoàn hợp tung của bốn nước, khí thế rầm rộ tiến về đô thành Lâm Truy nước Tề.

Đúng vào lúc này, đô thành Lâm Truy nước Tề lại xảy ra một chuyện lớn: quan tế tửu của học cung Tắc Hạ là Bành Mông mắc bệnh qua đời.

Học cung Tắc Hạ là do một tay tiên quân nước Tề là Tề Hoàn Công Điền Ngọ (khác với Hoàn Công Khương Tiểu Bạch) dựng nên. Lúc đó, họ Điền mới thay thế họ Khương, quyền vị còn chưa vững, Điền Ngọ học theo cách tôn sĩ của Khương Tiểu Bạch, đặt biệt cung ở Tắc Hạ, chiêu mộ hiền tài, nuôi sĩ tử. Khi Điền Nhân Tề mới kế vị, những người như Thuần Vu Khôn, Trâu Kỵ, Bành Mông đều ở trong Tắc Hạ, được tôn xưng là Tắc Hạ tiên sinh. Lúc đó Uy Công đam mê tửu sắc, không ngó ngàng đến triều chính, Trâu Kỵ đã nhờ vào tài gảy đàn để yết kiến, còn Thuần Vu Khôn dùng lời bóng gió để khuyên can. Uy Công bừng tỉnh khỏi cơn mê, trọng dụng Trâu Kỵ làm tướng quốc, chỉnh đốn quan chế, phát triển nông thương, nhờ đó mà nước Tề được đại trị. Sau khi Trâu Kỵ tòng chính, Thuần Vu Khôn đã giúp Tề đi sứ nước Triệu, rời khỏi Tắc Hạ. Nghe theo đề xuất của Trâu Kỵ, Uy Công đã mở rộng Tắc Hạ, dùng vàng bạc để chiêu mộ sĩ tử, nhờ vậy mà hiền tài trong thiên hạ nườm nượp kéo về. Uy Công phong Tắc Hạ tiên sinh Bành Mông làm tế tửu của học cung, đối đãi theo lễ quan khanh, bổng lộc hậu hĩnh, chủ trì các sự vụ thường ngày ở Tắc Hạ; phong thượng đại phu Điền Anh làm Tắc cung lệnh, là cầu nối giữa Tắc Hạ và Tề cung. Đến khi Uy Công xưng vương, quy mô của Tắc cung càng phát triển chưa từng có, sĩ tử đông đến hàng ngàn. Tắc Hạ tiên sinh cũng có hơn chục, mỗi người đều có đông đảo đệ tử, phong khí sôi nổi nhộn nhịp vô cùng.

Bành Mông mắc bệnh qua đời, Uy Vương rất đỗi đau thương. Khi Lâu Hoãn lên triều, Uy Vương đang ở trong cung cùng với mấy vị trọng thần bàn chuyện an táng. Lâu Hoãn khấu kiến xong, nói rõ mục đích tìm đến, báo rằng sứ thần bốn nước Tô Tần ba ngày nữa sẽ tới Lâm Truy yết kiến Tề Vương, đồng thời trình lên ước thư của bốn nước và hịch văn hợp tung.

Uy Vương nhận lấy ước thư, hịch văn, liếc mắt nhìn Lâu Hoãn, rồi chậm rãi nói: “Lâu Tử từ xa vất vả tới nơi, hãy tạm trở về dịch quán nghỉ ngơi mấy bữa, quả nhân sẽ chọn ngày lành thỉnh giáo!”

Lâu Hoãn lại bái lạy rồi lui ra.

Thấy Lâu Hoãn đã đi xa, Uy Vương bèn quay sang nhìn Điền Anh: “Ái khanh, hãy nói tiếp chuyện ban nãy. Tắc cung do tiên quân lập ra, là cội nguồn của mưu lược; sĩ tử là bảo bối của đất nước, là cái gốc để hưng Tề. Việc của Tắc cung cũng là việc của đất nước. Tắc cung hưng, nước sẽ hưng; Tắc cung suy, nước sẽ bại. Bành tế tửu đã quy tiên, không những là tổn thất lớn đối với Tắc cung, mà còn là tổn thất đối với đất nước. Tang sự của Bành tế tửu phải thật long trọng, có thể hậu táng theo lễ thượng khanh. Quả nhân muốn cho cả thiên hạ đều biết, ở Tắc Hạ của ta, sống được hậu dưỡng, chết được hậu táng!”

Uy Vương tấm lòng khảng khái, khiến tất cả triều thần đều cảm phục. Ngay cả thượng tướng quân Điền Kỵ vốn luôn có thành kiến với Tắc Hạ dường như cũng có điều cảm ngộ, liên tục gật đầu.

“Vi thần tuân chỉ!” Điền Anh vòng tay nói.

“Tắc Hạ không thể không có tế tửu. Về việc này, ái khanh có cao kiến gì chăng?”

“Vi thần cho rằng,” Điền Anh bẩm tấu, “Tắc Hạ ngọa hổ tàng long, quần tụ anh tài trong thiên hạ, chức vị tế tửu, không phải người đức cao trọng vọng, không thể đảm đương. Hiện giờ trong học cung Tắc Hạ có mười một vị Tắc Hạ tiên sinh, như Thận Đáo, Doãn Văn Tử, Trâu Diễn, Hứa Hành, Điền Biền, Tiếp Tử, Hoàn Uyên, Công Tôn Long, đều có tài năng, chỉ có điều danh vọng vẫn chưa đủ để phục chúng. Vi thần nghĩ tới một người, hoặc giả sẽ khiến mọi người khâm phục!”

“Ai?”

“Thuần Vu Khôn!”

“Phải, chính là người này!” Uy Vương lập tức quyết định, rồi quay sang Trâu Kỵ, bất giác thở dài. “Than ôi, năm xưa quả nhân mê rượu như mệnh, may được Thuần Vu Tử khéo léo can gián, nên mới bỏ được thói say sưa bê trễ.”

“Ồ!” Trâu Kỵ liền nói. “Chuyện này thật mới lạ, vi thần chưa từng nghe bệ hạ nhắc đến bao giờ!”

“Đều là những chuyện trước đây,” Uy Vương cười gượng một tiếng, cảm thán mà rằng, “nhưng cứ mỗi khi nghĩ lại, vẫn ngỡ như chuyện mới hôm qua!”

Tích Cương rất đỗi hiếu kỳ, bèn nói xen vào: “Phụ vương, có thể kể lại chuyện cũ này được chăng?”

Uy Vương khẽ gật đầu, rồi chậm rãi kể: “Năm xưa, khi quả nhân mới kế vị, không có chí tiến thủ, đắm chìm trong tửu sắc. Từ sau khi Trâu ái khanh dùng tiếng đàn để can gián, mặc dù quả nhân đã chú tâm hơn đến quốc sự, nhưng vẫn chưa thể bỏ dứt tửu sắc. Một hôm, quả nhân triệu Thuần Vu Tử đến để uống rượu thâu đêm, rồi cười hỏi ông ta: ‘Tiên sinh uống bao nhiêu thì say?’ Thuần Vu Tử đáp: ‘Thần uống một đấu cũng say, mà uống một thạch cũng say.’ Quả nhân ngạc nhiên hỏi: ‘Tiên sinh uống một đấu cũng say, cớ sao lại có thể uống được một thạch, có thể nói rõ nguyên nhân chăng?’ Thuần Vu Tử đáp: ‘Nếu là chúa thượng ban rượu, bên cạnh có chấp pháp, phía sau có ngự sử, Khôn sợ hãi phủ phục mà uống, một đấu chắc chắn sẽ say. Nếu là khách quý đến thăm, cha mẹ ở bên, Khôn là vãn bối, xắn tay khom lưng hầu rượu, uống không quá hai đấu. Nếu là bằng hữu trùng phùng, cùng dốc bầu tâm sự, có thể uống được năm sáu đấu. Nếu là làng xóm tụ hội, nam nữ ngồi lẫn lộn với nhau, thoải mái mà uống, hô bè gọi bạn, nắm tay cười nói, chơi hết trò nọ đến trò kia, liếc mắt đưa tình, ghé tai chạm mặt, người uống ai cũng vui vẻ, Khôn uống đến tám đấu cũng không say. Nếu là đêm tối không trăng, mỹ nữ thịnh tình mời mọc, chạm gối mà ngồi, cốc chén bừa bộn, trong nhà nến tắt, chủ nhân tiễn khách mà chỉ giữ lại Khôn, nhẹ trút xiêm y, cơ thể toả hương sực nức, là lúc Khôn lòng dạ mềm yếu nhất, có thể uống tới một thạch.’ Quả nhân ngẫm nghĩ, biết Thuần Vu Tử đang ngấm ngầm can gián, bất giác thở dài mà nói: ‘Ý tiên sinh phải chăng là rượu quá đà ắt loạn, vui quá hoá buồn?’ Thuần Vu Tử cười đáp: ‘Chúa thượng, Khôn cho rằng, vạn sự đều như vậy, đến cùng cực tất sẽ suy.’ Quả nhân cảm khái vạn phần, từ đó quyết sửa sai lầm lúc trước, tuyệt không bao giờ uống rượu thâu đêm nữa!” Dừng lại một thoáng, càng tấm tắc khen ngợi. “Cái khác tạm chưa nói đến, chỉ một lời khuyên này, Thuần Vu Tử cũng đã xứng đáng làm tế tửu!”

Quần thần đều thán phục: “Bệ hạ thánh minh!”

Tề Uy Vương ngẩng đầu, quay sang Điền Anh, chau mày hỏi: “Ái khanh, Thuần Vu Tử tiêu diêu khắp chốn, không biết hiện đang đi đâu, làm thế nào để mời tiên sinh về làm tế tửu?”

“Bệ hạ yên tâm!” Điền Anh đáp. “Hiện giờ Thuần Vu Tử đang ở Hàm Đan. Khi Bành tế tửu bệnh nặng, vi thần đã phái người đến mời, Thuần Vu Tử biết tin Bành tế tửu quý thể bất an, chắc chắn sẽ đánh xe tìm đến. Nếu không ngoài dự đoán, giờ Ngọ trưa ngày kia, Thuần Vu Tử sẽ về tới nơi.”

“Vậy thì tốt quá!” Uy Vương gác lại chuyện này, cầm lấy ước thư từ trên bàn lên, ra hiệu cho nội thần đưa cho quần thần xem. “Chư vị ái khanh, việc Tô Tử hợp tung đang khiến cả thiên hạ ồn ào sôi sục. Nay đã có ước thư đưa đến, các khanh hãy cùng xem thử!”

Điện hạ Điền Tích Cương nhận lấy, chăm chú đọc một lượt rồi đưa cho Trâu Kỵ, Trâu Kỵ chuyển cho Điền Anh, Điền Anh chuyển cho Điền Kỵ. Chư thần đều đã xem hết lượt, nội thần lấy lại ước thư, đặt trả lên bàn của Uy Vương.

Uy Vương liếc nhìn khắp lượt quần thần: “Các khanh đều đã đọc xong, có nhận xét gì chăng?”

Điền Kỵ bước lên trước một bước: “Bệ hạ, việc hợp tung tuyệt đối không thể được!”

“Cớ sao không được?”

“Vi thần cho rằng, sáu nước hợp tung là để chế Tần. Tần dù bạo ngược, nhưng lại ở xa ta. Cho dù có thành hoạ, cũng chẳng liên quan gì tới ta. Kẻ địch của Tần là Tam Tấn, chứ không phải nước Tề ta!”

Tích Cương bước lên một bước, tiếp lời: “Nhi thần tán đồng với ý kiến của tướng quân!”

“Tại sao con lại tán đồng?” Uy Vương nhìn thẳng vào Tích Cương.

“Nhi thần cho rằng, kẻ địch lớn nhất của Tần là Tam Tấn, kẻ địch lớn nhất của chúng ta cũng là Tam Tấn, đây là điều thứ nhất. Ta phía đông giáp biển, phía tây là Tam Tấn, ta đều không thể lấn sang, chỗ duy nhất có thể mưu chiếm là Yên và các nước lưu vực sông Tứ. Nếu ta tham gia tung thân, phía bắc không thể chiếm Yên, phía nam không thể lấn xuống lưu vực sông Tứ, phía tây không thể thôn tính Tam Tấn, phía đông lại là biển lớn, hợp tung đối với ta chỉ có hại mà không hề có lợi!”

“Trâu ái khanh!” Uy Vương quay sang Trâu Kỵ. “Ý khanh thế nào?”

Trâu Kỵ vòng tay nói: “Suy nghĩ của điện hạ, vi thần cho rằng rất đúng. Tô Tần chống Tần là giả, chế ngự Tề, Sở mới là ý thực. Khi mới đề xướng hợp tung, Tô Tần chỉ đề cập đến Tam Tấn và nước Yên, không hề có Tề, Sở. Bây giờ lại mời ta nhập tung, sáu nước tung thân cùng chống một Tần, ý đồ vô cùng giả dối. Hơn nữa, hợp sáu nước để chống một Tần, việc này căn bản không hề thuyết phục. Với sức của người Tần hiện này, đừng nói là sáu nước hợp nhất, mà chỉ riêng một nước Ngụy, cũng đã đủ khiến người Tần ăn không ngon ngủ không yên!”

Thấy Điền Anh không lên tiếng, Uy Vương liền hỏi: “Ái khanh, sao khanh không nói gì?”

Điền Anh vòng tay nói: “Bệ hạ đã có chủ ý, vi thần hà tất phải nói nhiều?”

Uy Vương ngẩn người, nhìn Điền Anh chằm chằm, một lúc sau liền xua tay với quần thần: “Bãi triều!”

Thấy quần thần đã thoái lui, Uy Vương lại gọi: “Thượng đại phu, dừng bước!”

Điền Anh lập tức dừng lại.

Uy Vương cười nói: “Đi, đi cùng quả nhân!”

Quân thần hai người đi ra khỏi cửa bên của chính điện, bước theo con đường nhỏ đến hậu hoa viên. Đi được một lúc, Uy Vương dừng bước, nghiêng đầu hỏi: “Khanh hãy nói xem, quả nhân có chủ ý gì?”

Điền Anh liền nói: “Hợp tung!”

“Ồ?” Uy Vương kinh ngạc. “Quả nhân rất muốn biết, khanh không phải là quả nhân, cớ sao lại biết quả nhân có chủ ý này?”

“Hợp tung đối với ta lợi lớn hơn hại, với sự anh minh của bệ hạ, chắc chắn sẽ hiểu rõ điều này.”

“Hợp tung đối với ta có lợi hại thế nào, khanh hãy nói xem!”

“Trước tiên vi thần xin nói tới cái hại. Theo lời điện hạ, tướng quốc, Điền Kỵ tướng quân vừa nói khi nãy, hợp tung có bốn cái hại, một là kết oán với Tần, hai là không thể mưu tính nước Yên, ba là không thể mưu tính Tam Tấn, bốn là không thể mưu tính lưu vực sông Tứ. Vi thần đưa thêm một điều hại nữa, đó là hợp tung sẽ không thể tranh giành đất Sở!”

“Tranh Sở?” Uy Vương mở to mắt, nhìn thẳng vào Điền Anh.

“Bệ hạ!” Điền Anh chậm rãi nói. “So với Tần, Sở mới là kẻ địch đích thực của ta. Ta phía đông là biển lớn, không thể tiến được. Đất Yên xa xôi lại nghèo nàn, có chiếm cũng vô ích. Tam Tấn hung hãn cường thịnh, không dễ tranh đoạt. Tần bị Tam Tấn khoá chặt tại Quan Trung, là thân hay thù, cũng không đáng ngại. Ta chỉ có thể tiến xuống phía nam. Các nước lưu vực sông Tứ là nơi trù phú, trước nay luôn hữu hảo với ta. Vùng đất Lang Nha, thời Xuân Thu vốn là của ta, sau bị Câu Tiễn chiếm đoạt, nay lại bị người Sở chiếm mất. Điều này tạm chưa nói đến, hiện giờ Sở đã chiếm được Việt, Chiêu Dương lên làm lệnh doãn, người này am hiểu vùng sông Tứ, từ lâu đã thèm thuồng Tống, Lỗ, nuôi chí đã lâu, ắt sẽ tranh giành với ta. Nếu ta hợp tung, ta sẽ phải làm hoà với Sở, nên không thể tranh giành lưu vực sông Tứ và đất Việt!”

“Ái khanh nói phải lắm!” Uy Vương gật gù, tiếp tục bước đi, vừa đi vừa hỏi. “Đây là năm cái hại, vậy còn lợi?”

Điền Anh vẫn đứng yên tại chỗ, hơi cao giọng mà nói: “Vi thần cho rằng, hợp tung đối với ta có năm cái hại, nhưng lại chỉ có một cái lợi!”

“Ồ!” Uy Vương lại dừng bước, ngoảnh đầu hỏi. “Là cái lợi gì?”

“Đánh Ngụy, rửa mối nhục Hoàng Trì!” Điền Anh dằn mạnh từng chữ.

Uy Vương trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, rồi chậm rãi nói: “Đúng vậy! So với cái lợi này, tất cả những cái hại còn lại chẳng đáng là gì. Mối nhục Hoàng Trì, dù Điền Kỵ có sai sót, nhưng sai lầm lớn nhất vẫn là ở quả nhân. Sau trận chiến Hà Tây, quả nhân cho rằng có thể đánh Ngụy, không ngờ lại xuất hiện một Bàng Quyên, khiến giấc mộng Hoàng Trì của quả nhân tan thành mây khói. Hiện giờ Ngụy Anh có hiền thần đầy triều, quốc lực mạnh mẽ, việc báo thù của quả nhân chỉ có thể giấu kín trong lòng. Nếu sáu nước hợp tung, Ngụy Anh ắt sẽ không còn coi ta là kẻ địch, từ đó sẽ dốc hết sức lực để mưu đồ về tây, chiếm lại Hà Tây. Tần, Ngụy lại tranh giành, khác nào hổ sói đánh gấu dữ, bất kể ai thắng ai thua, cũng đều có lợi cho ta. Thế nhưng… quả nhân vẫn còn một điều lo lắng!”

“Bệ hạ lo lắng điều gì?”

“Bên cạnh quả nhân còn thiếu một nhân tài như Bàng Quyên. Sau trận chiến Hà Tây, Ngụy thất đã như con tằm chết cứng, cùng lúc bị bốn nước rình rập tứ bề. Vậy mà Bàng Quyên lại có thể xoay làn sóng dữ, chỉ với ba vạn bại binh, trong vòng năm ngày thắng liền hai trận, thực khiến quả nhân kinh sợ. Nghe nói Bàng Quyên trị binh vô cùng nghiêm khắc, võ binh Đại Ngụy khôi phục uy phong, quả nhân quả thực ăn ngủ không yên!”

“Bệ hạ, đạo trời luôn cân bằng! Xuất hiện Bàng Quyên, ắt sẽ xuất hiện người chế ngự được Bàng Quyên. Chỉ cần bệ hạ thành tâm tìm kiếm, người này chắc chắn sẽ xuất hiện!”

“Đúng vậy! Quả nhân đặt hy vọng vào Tắc cung. Việc lớn này, phải trông cậy vào ái khanh!”

“Vi thần tuân chỉ!”

“Mặc dù vậy, song việc hợp tung vẫn cần thận trọng!”

“Bệ hạ!” Điền Anh hơi sững lại.

“Quả nhân đã nhiều lần suy nghĩ về đạo hợp tung của Tô Tần, nào là ‘ngũ thông’, ‘tam đồng’, ‘sáu nước chế Tần’, phần lớn đều là ý nghĩ hoang đường. Nghe nói Tô Tần xuất thân hàn vi, rất giỏi biện luận. Nếu là như vậy, trong Tắc cung của ta, những người ăn nói giỏi giang, thao thao hùng biện có tới hàng ngàn. Tuy nhiên, người này lại có thể du thuyết được cả bốn nước Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, ngay cả lão cáo già Ngụy Anh cũng bị hắn thuyết phục, điều này khiến quả nhân hết sức bất ngờ. Có lẽ do hắn suốt dọc đường phô trương thanh thế, lấy thế ép người. Nay người này thừa thắng về đông, tiến đến nước ta, nếu quả nhân không hỏi rõ trắng đen phải trái, đã mê muội nghe theo, chẳng may có gì sơ sảy, há chẳng phải làm trò cười cho đời sau như bốn vị quân chủ của bốn nước kia ư?”

“Bệ hạ lo lắng rất đúng! Vi thần có một kế, có thể phòng được điều này.”

“Ái khanh có kế gì?” Uy Vương vội hỏi.

“Trước tiên, hãy đối xử lạnh nhạt để làm nhụt cái thế của hắn. Tiếp đó, đưa hắn tới Tắc cung, luận chiến với chư vị Tắc Hạ tiên sinh. Nếu người này có thể vượt qua cửa ải Tắc Hạ tiên sinh, chắc chắc là kỳ tài tuyệt thế, bệ hạ có thể hợp tung. Nếu người này chỉ là ngoài miệng khoác lác, trong bụng rỗng không, chắc chắc sẽ bị lật thuyền ở Tắc Hạ. Đường đường là sứ thần của bốn nước, lại bị mất mặt tại Tắc Hạ của ta, sẽ thành giai thoại truyền khắp liệt quốc!”

“Hay! Hay lắm! Kế này hay lắm!” Uy Vương gật đầu lia lịa. “Lúc nãy nghe ái khanh nói, Thuần Vu Tử giờ Ngọ ngày kia sẽ đến, còn phía Tô Tần thì thế nào?”

“Nghe Lâu Hoãn nói, cũng vào ngày kia, còn đến vào giờ nào, vi thần không chắc chắn.”

“Ồ, thật là trùng hợp!” Uy Vương phá lên cười lớn. “Cũng tốt, khanh hãy mau đi sắp xếp. Mấy ngày tiếp theo không lên triều, tất cả triều thần đều làm hai việc: một, nghênh đón Thuần Vu Tử; hai, tiễn đưa Bành tế tửu!”

“Vi thần tuân chỉ!”

“Tuy nhiên, Tô Tần đã là sứ thần của bốn nước, lại có công tử công tôn của ba nước Yên, Hàn, Ngụy đi cùng, chúng ta cũng không được quá lạnh nhạt, phải có người tiếp đãi mới phải!”

“Vi thần muốn phái khuyển tử đón tiếp sứ thần, không biết ý bệ hạ thế nào?” Điền Anh suy nghĩ một thoáng, rồi khẽ giọng tiến cử.

“Phải chăng là khuyển tử Điền Văn của ái khanh?” Uy Vương hỏi.

“Chính phải!” Điền Anh đáp. “Mấy năm nay khuyển tử đã có chút tiến bộ, cũng hiểu cách ứng đối, lại thích kết giao bằng hữu!”

“Được!” Uy Vương gật đầu, ngắt lời Điền Anh. “Vậy hãy chọn Điền Văn!”

***

Hai ngày sau, trên con đường từ Hàm Đan đến Lâm Truy, cách Lâm Truy chừng ba mươi dặm, một cỗ xe tứ mã có mui, trang trí xa hoa đang chạy từ hướng tây bắc sang hướng đông nam, bánh xe lộc cộc, rậm rịch mà đi, cuốn tung bụi đường bay mù mịt theo gió nhẹ.

Trước đó mấy dặm là con đường cái quan dẫn tới Lâm Truy, rõ ràng cỗ xe muốn rẽ vào con đường cái quan này.

Phu xe đang chăm chú đánh ngựa, đột nhiên nghe thấy có tiếng huyên náo từ xa vọng lại, vội ngẩng lên nhìn, thì thấy trên con đường cái quan có một đoàn ngựa xe đông đảo, cờ xí rợp trời, bụi bay mù mịt, từ xa nhìn lại, không thấy đầu cũng chẳng thấy đuôi, không biết kéo dài bao nhiêu dặm. Phu xe ước tính khoảng cách, sau đó quay đầu lại gọi lớn: “Chúa công, chúa công…”

Người trên xe chính là Thuần Vu Khôn. Lúc này ông ta đang khép mắt ngồi trong mui, bộ râu trắng xoá phất qua phất lại theo đà lắc lư của cỗ xe.

Nghe thấy tiếng gọi, Thuần Vu Khôn mở hé đôi mắt ngái ngủ, hỏi: “Có chuyện gì?”

“Phía trước có xe ngựa!”

“Có thì đã sao, ngươi la lối cái nỗi gì?”

“Chúa công!” Phu xe cuống quýt. “Chúa công hãy mở mắt ra mà xem, đoàn xe ngựa đó không biết có bao nhiêu mà kể. Nếu để họ vượt lên trước, chúng ta không biết sẽ phải đợi đến bao giờ?”

Thuần Vu Khôn vừa đưa mắt nhìn, đã biết ngay là sứ đoàn hợp tung của Tô Tần, thì lại khép mắt mà nói: “Ngươi còn ngẩn ra đấy? Mau đánh xe vượt lên trước!”

Phu xe vâng lệnh, lập tức ra roi quất ngựa, bốn con tuấn mã hí vang, cỗ xe lao như bay về phía con đường cái quan, vừa may vượt được lên trước đoàn xe ngựa. Phu xe quay đầu nhìn Thuần Vu Khôn, thấy ông ta lại ngủ thiếp đi, thì cười thầm trong bụng, tiếp tục đánh xe. Con đường cái quan rộng rãi bằng phẳng, tuấn mã gặp đường tốt, vô cùng thích chí, ngẩng đầu tung vó, chẳng mấy chốc đã bỏ đoàn người ngựa đông đảo kia lại tít phía xa.

Đi thêm mười mấy dặm, từ xa đã nhìn thấy bóng lầu thành cổng tây của thành Lâm Truy. Phu xe bỗng thấy phía trước có một đoàn xe ngựa phóng thẳng đến trước mặt, bèn dụi mắt nhìn, khi đã thấy rõ, vội quay đầu lại gọi: “Chúa công, chúa công!”

Thuần Vu Khôn chẳng thèm ngẩng đầu: “Lại gọi cái gì?”

“Phía trước lại có xe ngựa!”

“Thì cứ vượt qua đi!”

“Tiểu nhân không vượt qua được, vì đoàn xe đó đang đi về phía chúng ta, đông chật cả đường cái!”

“Ồ?” Thuần Vu Khôn mở mắt nhìn, quả nhiên nhìn thấy đoàn xe rầm rập tiến đến, đang cúi đầu suy nghĩ, thì phu xe lại kinh ngạc kêu toáng lên: “Chúa công, mau nhìn xem! Có vương kỳ, lại có cả vương xa!”

Thuần Vu Khôn vội ngẩng đầu lên, quả nhiên nhìn thấy vương kỳ, xa giá, biết là Uy Vương giá lâm, chau mày một lát, rồi chậm rãi nói: “Vương xa thì có gì đáng nói? Ngươi cứ việc đi đường của ngươi!”

Phu xe vâng lệnh, tiếp tục thúc ngựa tiến lên, vừa đi vừa nói: “Chúa công, chắc chắn là Tề Vương đi đón đoàn xe ngựa kia, lúc nãy tiểu nhân nhìn thấy cờ hiệu, hình như là Tô tướng quốc. Chà chà, Tô tướng quốc thực hiển hách, sứ thần của bốn nước, lần này đến Tề, ngay cả Tề Vương cũng phải ra ngoài thành nghênh đón! Chà chà! Chà chà!”

Thuần Vu Khôn nhắm mắt ngồi yên, chẳng thèm đếm xỉa đến phu xe. Do hai bên đi ngược chiều nhau, nên chẳng mấy chốc đã đụng đầu. Khi chỉ còn cách nhau chừng hơn trăm bước, phu xe dừng lại, quay đầu nhìn Thuần Vu Khôn: “Chúa công, đừng ngủ nữa, sắp gặp nhau rồi!”

Thuần Vu Khôn vẫn chẳng buồn ngẩng đầu: “Đánh xe sang bên đường!”

Phu xe vội vàng đánh xe dạt sang một bên đường, nhảy xuống, quỳ ở bên cạnh cỗ xe.

Khi còn cách chừng năm mươi bước, đội xe ngựa phía trước cũng dừng lại. Tề Uy Vương bước xuống xe, ung dung đi đến. Theo sát phía sau là bá quan triều thần gồm điện hạ, Trâu Kỵ, Điền Anh, Điền Kỵ, sau nữa là mấy vị Tắc Hạ tiên sinh.

Phu xe liếc mắt nhìn thấy, vội vàng đưa tay dụi mắt, gọi cuống lên: “Chúa công, chúa công!”

Thuần Vu Khôn quát tướng lên: “Lại gọi gì nữa?”

Phu xe nói khẽ: “Là Tề Vương bệ hạ, đang đi đến chỗ chúng ta!”

Thuần Vu Khôn mở mắt ra nhìn, thấy Tề Vương đã sắp đi đến trước mặt, thì giật bắn mình, luống cuống nhảy xuống khỏi xe, tiến lên phía trước mấy bước, quỳ xuống giữa đường, khấu đầu sát đất: “Thảo dân Thuần Vu Khôn đường đột đến đây, không biết bệ hạ giá lâm, đã mạo phạm vương giá, xin bệ hạ trị tội!”

Uy Vương bước lại gần, đưa tay đỡ Thuần Vu Khôn dậy: “Tiên sinh, là quả nhân đã đến đón chậm!”

Thuần Vu Khôn lặng người, không dám tin vào tai mình: “Bệ hạ đến là để đón thảo dân ư?”

“Đương nhiên là để đón tiên sinh!” Uy Vương gật đầu nói. “Trên đời này, người xứng đáng được quả nhân ra ngoài thành đón tiếp, không phải tiên sinh, thì còn ai nữa?”

Thuần Vu Khôn vòng tay vái lia lịa: “Thảo dân có tài đức gì mà được bệ hạ hạ cố ra tận đây đón tiếp?”

Uy Vương vòng tay đáp lễ, thở dài: “Than ôi, phu tử từ biệt đằng đẵng mấy năm, chỉ biết vui cho riêng mình, mà quên bẵng cả quả nhân và Tắc Hạ. Lần này nếu không phải Bành tiên sinh quy tiên, e rằng quả nhân cũng chẳng thể gặp được phu tử. Hay tin phu tử đến, quả nhân cả đêm không ngủ được, vốn định ra ngoài thành mười dặm nghênh đón, nhưng không ngờ lại đến chậm!”

Thuần Vu Khôn lại vòng tay vái, giọng nghẹn ngào: “Bệ hạ!”

Nhìn thấy bụi bay mù mịt đằng xa, Tề Uy Vương bước tới, dắt tay Thuần Vu Khôn, cười nói: “Được rồi, chỗ này gió lạnh, mời tiên sinh hãy cùng quả nhân trở về cung trò chuyện.”

Vì tay đã bị cầm, nên Thuần Vu Khôn không thể đáp lễ, đành phải liếc nhìn quần thần và các vị Tắc Hạ tiên sinh, mỉm cười gật đầu coi như chào hỏi, sau đó cùng Uy Vương bước lên vương xa.

Đoàn xa giá quay đầu hồi cung.

Sứ đoàn hợp tung thảy đều sững sờ trước cảnh tượng này, cùng vội vàng dừng xe ghìm ngựa. Tất cả mọi người, gồm cả Tô Tần, đều nghĩ rằng quân thần nước Tề xuất cung là để nghênh đón họ, không ngờ Tề Vương lại vòng ngựa trở về trước bao cặp mắt ngỡ ngàng.

“Người trên cỗ xe phía trước là thần tiên phương nào, có ai nhìn thấy không?” Công tử Ngang lớn tiếng hỏi.

Sau khi trở ra từ lãnh cung, mặc dù công tử Ngang được mang tước An Quốc Quân, nhưng chức vị chỉ là tham tướng. Lần này được lệnh làm phó sứ hợp tung, lúc đầu công tử Ngang nghĩ không thông, vô cùng uất ức, buồn bã suốt mấy ngày trời, rồi vào cung kể lể với mẫu phi. Mẫu phi nói lại với Huệ Vương, sau khi bị Huệ Vương mắng cho một trận, công tử Ngang mới biết được nhận nhiệm vụ này chính là được trọng dụng, từ đó mới hoan hỷ đảm nhiệm chức phó sứ.

Công tử Chương lắc đầu: “Xe có mui che, không nhìn rõ!”

Công tôn Khoái tiếp lời: “Có thể khiến Tề Vương ra tận ngoài thành nghênh đón, chắc chắn không phải hạng tầm thường!”

“Mặc xác hắn là ai, đợi lát nữa gặp, xem ta không bẻ gãy cổ hắn!” Công tử Ngang hậm hực nói.

Mọi người đều bật cười, sau đó cùng quay sang nhìn Tô Tần.

Tô Tần cũng cười mấy tiếng, nói: “Các vị nhìn tại hạ làm gì? Còn không mau lên đường, định qua đêm ở đây hẳn?”

Công tử Chương nhảy lên xe ngựa, đi trước dẫn đường, sứ đoàn hợp tung tiếp tục di chuyển. Đi tới chỗ Tề Vương vừa dừng xe ban nãy, thấy có một cỗ xe đứng đợi ở bên đường, một thanh thiên áo trắng diện mạo anh tuấn đứng khom lưng trước đầu xe.

Sứ đoàn hợp tung liền dừng lại.

Công tử Chương nhận ra đó là Điền Văn, con trai của Điền Anh, liền nhảy xuống xe, bước tới chào hỏi.

Điền Văn vòng tay: “Tại hạ Điền Văn xin chào sứ thần!”

Công tử Chương vòng tay đáp lễ, hỏi: “Hàn Trương xin chào Điền đại nhân!” Dừng lại một chút, bèn hỏi. “Điền đại nhân sao lại đến nơi này?”

Điền Văn vòng tay đáp: “Tại hạ phụng mệnh gia phụ, đến đây để nghênh đón sứ đoàn hợp tung!”

Công tử Chương dẫn Điền Văn tới trước xe Tô Tần. Tô Tần nghe báo, liền bước xuống xe, tiến lại vòng tay vái chào: “Tại hạ Tô Tần xin chào Điền đại nhân!”

Điền Văn vòng tay đáp lễ: “Điền Văn xin chào Tô Tử. Tại hạ phụng mệnh gia phụ, đến đây cung nghênh Tô Tử và các vị công tử, công tôn!”

“Khiến đại nhân vất vả rồi!” Tô Tần khom lưng đa tạ.

“Lệnh tôn ở đâu?” Công tử Ngang cũng bước tới, chưa thèm hành lễ đã hỏi thẳng.

“Hồi bẩm thượng tướng quân,” Điền Văn vòng tay vái công tử Ngang và những người khác, “gia phụ vốn định đích thân đi đón, nhưng trước lúc khởi hành, lại nhận được khẩu dụ của bệ hạ, cùng bệ hạ ra ngoài thành đón Tắc Hạ tiên sinh Thuần Vu Tử. Gia phụ không dám kháng chỉ, lại chẳng có thuật phân thân, nên đành phải để tại hạ đi nghênh đón thay. Nếu chưa được chu toàn, xin Tô Tử và chư vị công tử lượng thứ!”

“Ồ, cứ tưởng là thần tiên phương nào, té ra lại là lão trọc đó!” Công tử Ngang mỉa mai.

Mọi người cười cũng không đành, trách cũng không xong, chỉ biết quay mặt nhìn nhau, chẳng ai nói câu nào. Vẫn là Điền Văn hào sảng, cười vang vài tiếng, lại vòng tay với công tử Ngang: “Nghe đồn thượng tướng quân ăn nói hài hước, hôm nay mới tin là thực!”

Công tử Ngang không tiện nói gì thêm, cũng bật cười, vòng tay nói: “Cười chê rồi!”

Điền Văn quay sang Tô Tần, vòng tay nói: “Gia phụ không thể ra đón, trong lòng áy náy, nên đã căn dặn tại hạ nhất định phải sắp xếp chu đáo cho Tô Tử và chư vị công tử, công tôn. Lâm Truy nhỏ hẹp, không thể chứa được từng này người ngựa, nên đành phải xin mọi người chịu khổ, tạm thời hạ trại ở ngoài thành. Còn chư vị sứ thần và quan viên tuỳ tùng, tại hạ đã sắp xếp dịch quán ổn thoả. Có chỗ nào sơ suất, mong chư vị lượng thứ cho!”

Tô Tần cũng vòng tay nói: “Sắp xếp thật chu đáo, đa tạ đại nhân!”

Điền Văn vòng tay với Tô Tần và những người khác: “Tô Tử, chư vị, mời!” Nói xong, Điền Văn liền quay người, thong thả trở lại xe của mình, bảo phu xe đánh xe đi trước dẫn đường.

Đoàn người ngựa rậm rịch theo sau, thong thả tiến về Lâm Truy.

Đêm hôm đó, sứ thần của bốn nước trú tại dịch quán. Từ Đại Lương đến Lâm Truy, mọi người đã phải đi liền mười mấy ngày trời, ai nấy đều mệt mỏi, đi ngủ từ sớm.

Tô Tần triệu Lâu Hoãn đến, bàn bạc đến nửa đêm. Lâu Hoãn kể lại tỉ mỉ về biến cố ở Tắc cung. Tô Tần than thở: “Nhiều năm trước, khi còn ở Tắc Hạ, tại hạ từng được nghe Bành tiên sinh giáo huấn, học hỏi được thêm không ít. Lần này trở lại, tại hạ vốn định tiếp tục thỉnh giáo tiên sinh, không ngờ tiên sinh đã đi trước một bước! Than ôi, trời đất dằng dặc, mạng người ngắn ngủi, thời chẳng đợi ta!”

Lâu Hoãn cũng than thở buồn rầu. Hai người lại bàn thêm một lúc, Lâu Hoãn thấy Tô Tần đã mệt, liền cáo từ ra về.

Sáng sớm hôm sau, Điền Văn lại đến. Tô Tần hỏi về chuyện vào triều yết kiến quân chủ, Điền Văn liền nói: “Bành tế tửu quy tiên, bệ hạ đau buồn, đã ra chiếu lệnh mấy hôm nay không lên triều. Còn về việc lúc nào lên triều trở lại, vẫn phải đợi ý chỉ của bệ hạ!”

Tô Tần vòng tay nói: “Nếu đã như vậy, tại hạ xin hỏi thăm Điền huynh một chuyện!”

“Tô Tử cứ nói!”

“Trọng Ni đến Tề, nghe nhạc ‘Thiều’ ba tháng, không biết đến mùi thịt. Xin hỏi Điền huynh, có biết nơi ngày trước Trọng Ni nghe nhạc ‘Thiều’ không?”

Điền Văn gật đầu: “Có biết, cách chỗ này không xa, vốn là phủ trạch của thái sư Cao Chiêu Tử. Sau khi họ Cao suy vi, phủ trạch này đã chuyển qua tay ba nhà, hiện giờ được một lão nhạc sư cổ quái mua lại, đã đổi thành nhạc phường rồi.”

“Vậy thì tốt quá!” Tô Tần mừng rỡ. “Phiền Điền huynh dẫn tại hạ tới đó, một là để tưởng nhớ Trọng Ni, hai là nhân dịp thưởng thức nhã nhạc của quý quốc.”

“Tại hạ sẵn sàng giúp chút sức mọn!” Điền Văn vui vẻ nhận lời.

Hai người đứng dậy. Tô Tần thay quan phục, mặc lên người bộ y phục sĩ tử tinh tươm, vừa bước ra khỏi sảnh đường, công tôn Khoái đứng gần đó nhìn thấy, vội bước lại hỏi: “Hai vị định đi đâu ư?”

“Đến chỗ Trọng Ni nghe nhạc ‘Thiều’!” Tô Tần dừng bước đáp lời.

“Ồ!” Công tôn Khoái tỏ ra hào hứng, vội nói. “Tại hạ có thể đi cùng được không?”

“Công tôn nếu đã thích ‘Thiều’, vậy hãy cùng đi!”

“Công tôn Khoái vội trở về phòng, thay một bộ y phục giản dị, ba người cười cười nói nói ra khỏi dịch quán.”

Phủ Cao Chiêu Tử cách dịch quán chỉ vài trăm bước, chốc lát, ba người đã đến nơi. Điền Văn báo cho môn nhân, môn nhân trở vào bẩm báo, rồi một lão nhạc sư râu tóc bạc phơ bước ra. Thấy là Điền Văn, thì sắc mặt hơi sầm xuống, khẽ vòng tay mà nói: “Lão hủ xin chào đại nhân!”

Điền Văn đáp lễ, chỉ vào Tô Tần, công tôn Khoái mà nói: “Lão tiên sinh, vãn sinh dẫn hai vị khách quý tới. Vị này là Tô Tần, sứ thần của bốn nước, còn vị này là công tôn Cơ Khoái của nước Yên. Được biết đây là nơi Trọng Ni từng nghe nhạc ‘Thiều’, nên muốn đến tế bái!”

Lão nhạc sư hơi ngẩng đầu, liếc qua hai người, hờ hững vòng tay: “Hai vị khách quý, mời!” Rồi chưa đợi Tô Tần, công tôn Khoái đáp lễ, lão nhạc sư đã quay ngoắt người đi vào luôn.

Hai người đều ngỡ ngàng, may mà đã được Điền Văn giới thiệu trước, nên cũng nhanh chóng định thần trở lại.

Lão nhạc sư dẫn ba người đi thẳng tới chỗ Khổng Tử từng nghe ‘Thiều’, chỉ tay vào một đài tấu nhạc cũ kỹ trước mặt: “Hai vị khách quý, đây chính là chỗ Trọng Ni nghe ‘Thiều’ ngày trước, hai vị hãy tế bái đi!”

Tô Tần bước lên trước, từ từ quỳ xuống trước đài, hành đại lễ ba lạy chín dập đầu. Công tôn Khoái thấy vậy, cũng bước tới quỳ xuống.

Hai người bái xong, Tô Tần quay sang lão nhạc sư, vòng tay vái một vái thật sâu: “Vãn sinh Tô Tần dám hỏi tiền bối, đây là chỗ Trọng Ni nghe ‘Thiều’, vậy nay còn có nhạc ‘Thiều’ hay không?”

Lão nhạc sư đột nhiên hai mắt sáng rực như ngọn đuốc, nhìn đăm đăm vào Tô Tần chốc lát, rồi thu ánh mắt lại, chậm rãi nói: “Đã là nơi Trọng Ni nghe ‘Thiều’, tất nhiên sẽ có nhạc ‘Thiều’!”

Tô Tần lại vòng tay: “Vãn sinh bất tài, có nghe được chăng?”

Lão nhạc sư đắn đo một lát, rồi ngẩng đầu hỏi: “Lão hủ xin hỏi Tô Tử, cớ sao lại muốn nghe?”

“Vãn sinh nghe nói, Trọng Ni đến Tề, nghe nhạc này mà ba tháng liền không biết tới mùi thịt. Vãn sinh đã đến nước Tề, nếu bỏ qua khúc nhạc tuyệt diệu nhường này, há chẳng phải tiếc nuối cả đời ư?”

Lão nhạc sư vòng tay nói: “Khúc nhạc này cổ lỗ, từ lâu đã không còn thịnh, từ sau thời Trọng Ni đã chẳng mấy ai muốn nghe. Tô Tử nếu đã có nhã hứng, hãy đi theo lão hủ!”

Lão nhạc sư đi trước dẫn đường, ba người đi theo, một lát sau đến một sảnh nhạc rất rộng. Lão nhạc sư chỉ vào vị trí người nghe, ba người vòng tay đáp lễ, rồi ngồi cả xuống.

Sảnh nhạc có hình vòng cung, dưới nền trải thảm đỏ, trên sân khấu bày mười mấy loại nhạc cụ như chuông, trống, đàn cầm, đàn sắt, khánh, tiêu, sáo trúc, sáo đất, đàn tranh, bài trí rất mực trang nhã.

Càng kỳ lạ hơn nữa, lão nhạc sư chỉ khẽ vỗ tay, trong sảnh lập tức có tiếng động vọng lại. Từ bên cạnh đi ra hơn mười nhạc sư, ai vào chỗ nấy. Lão nhạc sư bước vào giữa đám nhạc sư, cầm lấy một cây tiêu, khẽ hé môi thổi, trong sảnh lập tức dư âm vấn vít. Lão nhạc sư lại thổi một tiếng, các nhạc sư nhất tề tấu nhạc, một khúc “Thiều” tráng lệ nổi lên. Trong khoảnh khắc, tám loại nhạc cụ đồng, đá, đất, gỗ, trúc, tơ, bầu, da cùng hoà điệu dìu dặt, dư âm như sóng.

Ba người hoàn toàn chấn động trước thanh thế phi thường lan toả từ khúc nhạc.

Tô Tần nhắm nghiền hai mắt, thân tâm hoàn toàn chìm đắm trong “Thiều”, người khẽ lắc lư theo nhịp nhạc.

“Thiều” là khúc nhạc được sáng tác dưới thời vua Thuấn, còn gọi là “Đại Thiều”, gồm cả thảy chín chương, nên còn gọi là cửu ca hoặc cửu chương, tức Tế thiên, Vu vũ, Xạ liệp, Hội đồng, Kỳ vũ, Tế hoả, Quan thư, Phẫu vận, Trung hoà, mà “Phượng hoàng lai nghi” chính là đoạn cao trào. Mỗi chương đều được khởi đầu bằng tiếng tiêu, lần lượt ca ngợi công lao vĩ đại của các tiên vương thời tiền cổ, đặc biệt là của đế Nghiêu.

Chín khúc tấu xong, tiếng nhạc đã dừng, mà Tô Tần vẫn không hề phát giác.

“Tô Tử! Tô Tử!” Công tôn Khoái thấy lão nhạc sư đã cho đám nhạc sư lui ra, đang thong dong bước về phía họ, liền cất tiếng gọi khẽ.

Tô Tần vẫn không hay biết, hai mắt vẫn khép hờ, cơ thể vẫn khe khẽ lắc lư, dường như điệu nhạc tuyệt diệu kia đã tan chảy trong huyết quản, hoà hợp với linh hồn thành một thể.

Công tôn Khoái lo lắng, đưa tay định đẩy Tô Tần thì lão nhạc sư ngăn lại, ngồi xuống trước mặt Tô Tần.

Tô Tần mơ hồ tỉnh lại, mở mắt ra nhìn, thấy khúc nhạc đã kết thúc từ lâu, lão nhạc sư đang ngồi ngay trước mặt, vội vòng tay nói: “Nhã nhạc của tiền bối, hôm nay vãn bối đã được thụ giáo!”

“Không phải nhã nhạc của lão hủ, Tô Tử quá lời rồi!” Lão nhạc sư chậm rãi nói.

Thấy mình vừa mở miệng đã lỡ lời, Tô Tần cười ngượng nghịu, vòng tay tỏ ý tạ lỗi: “Đa tạ tiền bối chỉ điểm! Là vãn sinh đã nghe đến mê mẩn, nên lời nói cũng không còn sáng suốt!”

Lão nhạc sư sắc mặt hoan hỷ, bật cười thành tiếng: “Có thể thấy, Tô Tử rất hiểu nhạc!”

“Hiểu nhạc thì không dám, vãn sinh chỉ biết lắng nghe mà thôi!”

“Tô Tử đã lắng nghe, vậy xin hỏi, Tô Tử thấy khúc nhạc này thế nào?”

“Trọng Ni từng nói, ‘cái học của quân tử, khởi nhờ Thi, lập nhờ lễ, thành nhờ nhạc’, hôm nay vãn sinh đã được lĩnh ngộ rồi!”

Lão nhạc sư vòng tay nói: “Tô Tử có thể nói ra được lời này, xứng đáng là người hiểu nhạc! Lão hủ có chuẩn bị một ấm trà, muốn mời Tô Tử cùng thưởng thức, không biết Tô Tử có hứng hay không?”

Tô Tần vòng tay nói: “Được uống trà thơm của tiền bối, vãn sinh hân hạnh nào bằng!”

Lão nhạc sư sắc mặt tươi cười, đứng dậy cầm tay Tô Tần, chẳng thèm để ý tới Điền Văn, công tôn Khoái, cứ thế đi thẳng về phía nhà sau.

Điền Văn, công tôn Khoái có phần sượng sùng. Ngẩn ra một lát, Điền Văn nhún vai nói: “Xem ra, chúng ta không có phúc được uống trà thơm rồi, mau trở về thôi!”

Công tôn Khoái thở dài một tiếng, nhìn theo lão nhạc sư và Tô Tần đã đi xa, rồi từ từ đứng dậy, cùng Điền Văn quay về trong tiếc nuối.

***

Trong ngự thư phòng, thượng đại phu Điền Anh bẩm báo lại toàn bộ động tĩnh của Tô Tần trong mấy ngày nay.

“Ồ!” Tề Uy Vương nghiêng người về phía trước. “Ái khanh nói, Tô Tử ngày ngày đến nhạc phường, đàm đạo về âm nhạc?”

“Đúng vậy!” Điền Anh gật đầu. “Ba ngày liền, ngày nào cũng tới!”

“Là nhạc phường nào?”

“Là nhạc phường tư, trước đây là phủ của Cao Chiêu Tử, nơi ngày trước Trọng Ni nghe ‘Thiều’, vốn dĩ đã đổ nát hoang tàn, ba năm trước bỗng nhiên được một lão nhạc sư mua lại. Lão nhạc sư rất giàu có, đã mời nhiều nhạc sư từ khắp liệt quốc đến đây, cùng diễn tấu ‘Thiều’ trong phủ.”

“Ồ?” Uy Vương kinh ngạc. “Có vị đại sư này ở đây, sao quả nhân lại không biết?”

Điền Anh đáp: “Theo lời của khuyển tử, vị nhạc sư này lai lịch bí ẩn, trước kia ở tại Ung Môn, lang bạt đầu phố, đánh đàn mưu sinh, người ta gọi là Chu Ung Môn. Về sau, không hiểu tại sao Chu Ung Môn lại có được một khoản tiền kếch xù, mua đứt toà phủ kia để mở nhạc phường. Chu Ung Môn là người cổ quái, mặc dù mở nhạc phường, nhưng chưa bao giờ hoà tấu các khúc nhạc khác, chỉ diễn tấu một bản nhạc ‘Thiều’, ba ngày mới diễn một lần, mỗi lần chỉ diễn ba khắc. Khúc nhạc này cổ lỗ, đã hết thời từ lâu, người Tề chẳng còn ai muốn nghe, vì vậy nhạc phường của ông ta lúc nào cũng vắng tanh vắng ngắt. Toàn bộ thành Lâm Truy, ngoài những người hàng xóm, chẳng có ai biết đến ông ta. Nếu không phải lần này Tô Tần đến nghe ‘Thiều’, thì vi thần cũng không biết đến.”

“Than ôi!” Uy Vương thở dài. “Thật khiến quả nhân mất mặt! Người có thể diễn tấu nhạc ‘Thiều’, chắc chắn là bậc đại sư. Quả nhân từ nhỏ đã mê nhạc, chỉ hận mình không được sống cùng thời với Bá Nha, thường nằm mơ được gặp gỡ đại nhạc sư. Sau lại được nghe Trâu Tử gảy đàn cầm, lập tức coi là tri kỷ, trọng dụng làm tướng quốc. Nay có đại sư đến tận nơi này, quả nhân lại không hề hay biết, có khác nào Diệp Công thích rồng ở nước Sở xưa kia!” Rồi liên tục lắc đầu than thở.

Điền Anh vội đứng dậy, quỳ xuống đất khấu lạy: “Đây là tội của vi thần, xin bệ hạ giáng tội!”

“Mau bình thân!” Uy Vương lại thở dài. “Việc này sao có thể trách khanh được? Lâm Truy ngày nay, tiếng nhạc uỷ mị không dứt bên tai, cho dù Bá Nha tái thế cũng sẽ bị mai một mà thôi!” Dừng lại một chốc, lại nói. “Chưa nói tới cái khác, chỉ riêng một điểm này thôi, Tô Tử đã thực khác thường!”

Điền Anh đắn đo một lát rồi ướm lời: “Liệu vi thần có thể đến gặp Tô Tử, bảo hắn tới yết kiến bệ hạ chăng?”

“Không! Không! Không!” Tề Uy Vương vội xua tay, nói. “Hãy để hắn tới Tắc Hạ! Khi nào Tắc cung đưa tang Bành Tử?”

“Ngày kia!”

“Vậy thì ngày kia! Hãy mở một luận đàn tiễn đưa Bành Tử ở Tắc cung, mời cả Tô Tử đến!”

“Vi thần lĩnh chỉ!”

Chập tối hôm sau, Tô Tần từ chỗ Chu Ung Môn nghe nhạc trở về, bỗng cảm thấy trong dịch quán có điều khác lạ. Trong sảnh đèn lửa sáng rực, mọi người đều ngồi ngay ngắn nghiêm trang trên chiếu, dường như có khách quan trọng đến thăm.

Công tử Chương mắt tinh, nhìn thấy Tô Tần đầu tiên, cười nói: “Nhìn kìa, Tô Tử đã trở về rồi!”

Mọi người đều đứng dậy nghênh đón, người bước ra đầu tiên là Điền Văn và Điền Anh.

Điền Anh vội bước lên mấy bước, khom lưng trước Tô Tần, vòng tay vái chào: “Tại hạ đến chậm, xin Tô Tử thứ tội!”

Tô Tần cũng đáp lễ, cười mà nói: “Thượng đại phu khách khí rồi! Lần này tại hạ đến đây, tất cả mọi việc đều do thượng đại phu sắp xếp, tại hạ đa tạ còn không kịp, sao có thể trách tội? Thượng đại phu, mời!”

Hai người dắt tay nhau cùng đi vào trong sảnh, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

Điền Anh thở dài một tiếng: “Than ôi, chắc Tô Tử cũng đã biết rồi đấy! Mấy ngày nay, trong Tắc cung liên tiếp xảy ra chuyện lớn, trước tiên là Bành tế tửu quy tiên, sau đó là Thuần Vu Tử đến, tại hạ thân là Tắc cung lệnh, bận rộn trong ngoài, mệt mỏi đến không đứng thẳng lưng lên được!”

“Thượng đại phu nên lưu tâm tới quý thể!” Tô Tần cười nói. “Nếu thượng đại phu mệt quá mà sinh bệnh, tại hạ nếu lại tới Lâm Truy, hẳn là đến chỗ đặt chân cũng không tìm thấy nữa!”

Điền Anh cười, vòng tay tạ lỗi với mọi người: “Tô Tử và chư vị công tử, công tôn đến nơi, tại hạ tiếp đón chậm trễ, mong Tô Tử và chư vị công tử, công tôn bỏ quá cho!”

Tô Tần cũng vái đáp lễ, cười lớn mà nói: “Thượng đại phu nhất quyết muốn thỉnh tội, xem ra tại hạ muốn nói đùa cũng không được nữa! Được rồi! Chúng ta không nói chuyện này nữa. Xin hỏi thượng đại phu, việc của Tắc cung tiến triển thế nào rồi? Trọng Ni nghe ‘Thiều’ quên cả mùi thịt, tại hạ không bằng Trọng Ni, nghe ‘Thiều’ mấy ngày, ngửi mùi thịt vẫn thấy thơm, chỉ có điều mọi việc bên ngoài đều mù tịt cả!”

Mọi người đều bật cười.

Điền Anh dừng cười, đáp: “Đa tạ Tô Tử đã quan tâm! Ngày mai Bành tế tửu nhập quan, bệ hạ ban chỉ, giờ Thân ngày mai sẽ tổ chức một nghi lễ đặc biệt để tiễn đưa Bành tế tửu. Tại hạ vừa sắp xếp xong, liền vội vàng đến thăm chư vị.”

“Ồ, xin hỏi thượng đại phu, là nghi lễ đặc biệt gì vậy?” Công tử Ngang tò mò hỏi.

“Hồi bẩm công tử!” Điền Anh đáp. “Bành tế tửu cả đời cầu học, khởi xướng học thuật tranh biện, mở ra một trào lưu mới, đã lập được kỳ công cái thế, giúp Tắc Hạ thịnh vượng như hôm nay. Bệ hạ ban chỉ, an táng Bành tiên sinh theo nghi lễ thượng khanh, đồng thời mở một luận đàn học thuật quy mô lớn chưa từng có ở Tắc cung, dùng những kiến giải và học vấn sáng suốt của các học sĩ trong thiên hạ để tiễn đưa Bành tế tửu!”

Điền Anh nói xong, đưa mắt nhìn mọi người, sau đó từ từ quay sang nhìn Tô Tần.

Tô Tần hiểu ý, khảng khái đáp lời: “Dùng cách này để tiễn đưa Bành tiên sinh, quả là chưa từng có tiền lệ. Bệ hạ thương tiếc hiền tài như vậy, đúng là một vị hiền quân! Mặc dù tại hạ học thức nông cạn, nhưng rất cảm kích ơn giáo hoá của Bành tiên sinh, có thành ý muốn đến tiễn đưa tiên sinh, không biết thượng đại phu có ân chuẩn hay chăng?”

“Cung nghênh, cung nghênh!” Điền Anh vòng tay liên tiếp. “Nghe nói Tô Tử học vấn uyên thâm, lời như thác đổ, nếu có thể quang lâm đến Tắc cung, không những là hân hạnh của Tắc cung, khiến chúng học tử có cơ hội mở rộng tầm mắt, mà anh linh của Bành tiên sinh dưới cửu tuyền cũng được an ủi!”

“Thượng đại phu quá khen!” Tô Tần cũng vòng tay đáp.

Điền Anh vòng tay một lượt với tất cả những người có mặt, rồi quay sang Tô Tần nói: “Chư vị, việc này cứ quyết định như vậy, tại hạ xin cáo từ! Giờ Thân ngày mai hẹn gặp tại Tắc cung!”

Tắc cung nằm ở trong thành Lâm Truy, ngay bên ngoài cổng tây của cung thành, chỉ cách cung thành đúng một bức tường, có con đường rộng nối thông với cung thành. Tề Vương chỉ cần ra khỏi cổng tây, đã có thể đến ngay được Tắc cung. Cổng tây còn được gọi là Tắc Môn, Tắc cung lại nằm bên ngoài Tắc Môn, vì vậy còn gọi là Tắc Hạ.

Tắc cung rộng chừng mấy nghìn mẫu, bắt đầu từ cổng tây, kết thúc ở cổng nam, kéo dài hàng mấy dặm, bị các bờ ruộng dọc ngang, vườn hoa bãi cỏ, đầm sen ao cá… chia cắt thành rất nhiều ô vuông, mỗi một ô vuông lại được xây một khu trạch viện. Trong viện đình đài lầu gác cao thấp trập trùng, cây cối cỏ hoa đan xen tươi tốt, từ xa nhìn lại, trông chẳng khác nào một hậu hoa viên cực lớn.

Phàm là những sĩ tử đến Tắc Hạ, chỉ cần có tài, sẽ được ban cho chỗ ở, được nuôi miễn phí. Tắc cung chú trọng học vấn, nếu như học vấn của người nào được các sĩ tử thừa nhận, sẽ được tế tửu tiến cử, thông qua quan học cung lệnh để tấu lên Tề cung, sau đó Tề Vương sẽ hạ chiếu phong cho làm Tắc Hạ tiên sinh. Bất kể là ai, chỉ cần được phong làm Tắc Hạ tiên sinh, sẽ được phép dựng một khu nhà trong Tắc cung, nhận bổng lộc ngang với đại phu trong triều, khai tông lập phái, chọn đồ đệ để truyền nghệ.

Trung tâm Tắc cung là một toà trạch viện lớn, nằm hơi chếch về phía bắc, là nơi ở của tế tửu. Phía trước khu trạch viện là một khoảng sân rộng rãi, toàn bộ lát gạch, xung quanh cổ thụ chót vót, dưới bóng cây là bãi cỏ rộng xanh tươi, có thể chứa đến hàng nghìn người. Những luận đàn lớn đều được mở tại đây.

Vào giờ Thân, khi đoàn người của Tô Tần đến nơi, tang lễ cũng vừa bắt đầu, toàn bộ khoảng sân rộng chìm trong im lặng. Đối diện với cổng trạch viện là cỗ quan tài gỗ nam sơn đen bóng của Bành tế tửu, trước quan tài bày một chữ “điện” cỡ lớn, bên trên chữ “điện” là ba chữ “đại tông sư”, tất cả đều là do Tề Vương đích thân ngự bút. Trước quan tài là luận đàn bằng gỗ mới dựng, cao chừng ba thước, trên phủ một lớp thảm đen. Hai bên luận đàn bày khoảng vài chục vòng hoa lớn, hiển nhiên là do quần thần trong triều và Tắc Hạ tiên sinh phúng tặng.

Trên nền gạch được phủ một lớp chiếu, các sĩ tử ở Tắc Hạ đứng cả trên chiếu, thảy đều mặc áo sô. Chúng sĩ tử chia thành một số nhóm, phía trước mỗi nhóm đều có một người đứng đầu, tất cả đều khí thế hiên ngang, sắc mặt cung kính. Chẳng cần hỏi cũng biết họ là các Tắc Hạ tiên sinh, những người phía sau chính là đệ tử của họ. Đệ tử mới đến chưa kịp bái sư hoặc những người không muốn bái sư thì đứng sang hai bên, tự hợp thành hàng dọc. Giữa sân là một khoảng trống rộng chừng một bước, có thể xếp được hai hàng, rõ ràng là chỗ dành cho đám Tô Tần.

Quả nhiên, họ vừa đến, lập tức đã có người dẫn họ đi vào khoảng trống đó. Tô Tần dẫn đầu, phía sau lần lượt là công tử Ngang, công tử Chương, công tôn Khoái, Lâu Hoãn, sau cùng là những tuỳ tùng như Trâu Phi Đao, tất cả đều đứng trước chiếu của mình.

Thấy mọi người đều đã đến đông đủ, sau một hồi chiêng, người chủ tang là Điền Anh liền bước lên luận đàn, vòng tay hành lễ trước quan tài và chúng sĩ tử, giọng hơi khàn đi: “Chư vị tiên sinh, chư vị khách quý, chư vị sĩ tử! Vào giờ Tý ba khắc ngày Tân Sửu, nhất đại tông sư, Tắc Hạ tế tửu Bành Mông tiên sinh đã quy tiên. Giờ Thân hôm nay, chúng ta tề tựu tại đây, thương tiếc điếu viếng, tưởng niệm tiên sinh!” Dừng lại một chút, khẽ đặng hắng một tiếng, liếc nhìn khắp lượt đám đông. “Chư vị bằng hữu, tang lễ bắt đầu, hãy cùng khấu bái trước anh linh của Bành tiên sinh!” Rồi quay người lại, quỳ xuống ngay trên đàn, hành đại lễ tế bái trước quan tài.

Gần hai nghìn người có mặt đồng loạt quỳ xuống hành đại lễ tế bái. Đội nhạc quỳ ở hai bên quan tài cũng tấu lên một khúc bi ai.

Một lúc sau, tiếng nhạc tang ngừng bặt.

Điền Anh quay người lại, nước mắt ròng ròng, chậm rãi lên tiếng, giọng nói nghẹn ngào: “Chư vị bằng hữu! Bành tiên sinh quy tiên, bệ hạ rất đỗi đau buồn, bãi triều bảy ngày, còn lập linh đường ngay trong cung, ngày đêm canh linh cữu cho tiên sinh. Bành tiên sinh một đời trị học nghiêm cẩn, làm người chính trực, sau khi vào Tắc Hạ, đã cống hiến toàn bộ cuộc đời cho Tắc Hạ, dốc sức vì học thuật, khởi xướng luận đàn Tắc Hạ, khích lệ trăm nhà đua tiếng, khiến học phong Tắc Hạ phồn thịnh, thống lĩnh học vấn trong thiên hạ. Để tưởng nhớ đại công của tiên sinh, kế thừa di nguyện của tiên sinh, bệ hạ đã ban chiếu thư, mở luận đàn trước anh linh của tiên sinh, dùng cuộc tranh biện học thuật để tiễn đưa tiên sinh lên đường.” Nói đoạn, đưa tay áo lau nước mắt, lấy chiếu thư ra, đứng thẳng người, dõng dạc tuyên đọc.

Điền Anh đọc xong, tất cả những người có mặt đều đưa tay áo lau nước mắt, nghẹn ngào xúc động.

Mọi người xúc động được một lúc, Điền Anh giơ tay nói: “Luận đàn bắt đầu, chư vị, mời ngồi!”

Mọi người đang quỳ trên chiếu, lúc này đều rục rịch đổi sang ngồi.

Điền Anh thấy mọi người đều đã yên vị, liền nói tiếp: “Chư vị bằng hữu! Tất cả những luận đàn chính thức của Tắc cung đều do tế tửu chủ trì. Luận đàn hôm nay là để tiễn đưa Bành tế tửu, tại hạ học thức nông cạn, không dám vượt phận, nay phụng chỉ của bệ hạ, đã mời đến người bạn thân của Bành tế tửu lúc sinh thời, một ngọn Thái Sơn lừng lẫy trong học giới, tạm thời đảm nhiệm chức tế tửu, chủ trì buổi luận đàn hôm nay!” Rồi quay người lại, nói lớn. “Xin mời tân tế tửu!”

Lời vừa dứt, phía sau quan tài liền nhô lên một cái đầu trọc. Mọi người vừa đưa mắt nhìn, lập tức nhận ra du sĩ hoạt kê Thuần Vu Khôn, thảy đều kinh ngạc nhìn nhau. Cũng có kẻ ngay từ đầu đã đoán ra là ông ta, lúc này nhìn thấy cái đầu trọc, không khỏi đắc ý, quay sang phải trái liên tiếp gật đầu.

Thuần Vu Khôn không lên đàn, mà đi thẳng tới trước quan tài, không khấu đầu cũng chẳng vái lạy, chỉ đưa hai tay vỗ nhẹ ba cái lên mảng ván quan tài có viết chữ “điện”, nói lớn: “Lão Mông Tử, đừng ngủ nữa! Mau ngồi dậy, dỏng tai lên mà nghe, tại hạ sẽ vì ông mà chủ trì luận đàn, ông hãy nghe cho thật kỹ! Nếu có người nào đàm luận hay ho, ông hãy vỗ tay; nếu có người nào đàm luận quá dở, ông hãy đánh cho phát rắm; nếu có người nào đàm luận không hay cũng chẳng dở, ông hãy cứ nhắm mắt để người đó nói tiếp.”

Trong một khung cảnh trang nghiêm đến vậy, Thuần Vu Khôn lại đột nhiên lắc lư cái đầu bóng lưỡng mà nói ra những lời này, khiến tất cả mọi người đều kinh ngạc, muốn cười nhưng lại thấy không ổn; muốn nhịn cười nhưng lại không nhịn được.

Chốc lát, tình cảnh trở nên trớ trêu khó tả.

Thuần Vu Khôn vừa gõ vừa đập, náo loạn một hồi, rồi lại áp tai lên mặt quan tài, lắng nghe một chặp, chau mày nói: “Lão Mông Tử này, ngủ say y như người chết vậy! Để xem ta lấy búa đập lão!” Rồi mắt đảo láo liên tứ phía, nhìn thấy chiếc búa đóng đinh để bên cạnh quan tài, bèn nhổ phì phì vài cái rất đỗi khoa trương vào lòng bàn tay, vớ lấy chiếc búa, gõ liền mấy cái lên nắp quan tài, lại ghé sát tai lắng nghe, một hồi sau bỗng tỏ ra mừng rỡ, quay người lại, lắc lư cái đầu trọc, cười ha hả mà nói. “Giờ thì lão già không ngủ nổi nữa rồi, cuối cùng cũng phải bò dậy!” Rồi ném chiếc búa sang một bên, phủi áo phành phạch mấy cái, bước lên luận đàn.

Cử chỉ của Thuần Vu Khôn cứ như đang biểu diễn một màn hài kịch, mọi người không thể nào bấm bụng nhịn thêm được nữa, không biết ai là người đầu tiên cười thành tiếng, tiếp đó tất cả cùng cười rộ lên, có người còn cười đến nước mắt giàn giụa, phải đưa tay áo lên lau. Ngay cả Điền Anh cũng không nhịn được, mà đổi khóc thành cười. Không khí trong sân chốc lát đã trở nên náo nhiệt.

Tô Tần đột nhiên hiểu ra dụng ý của Thuần Vu Khôn, liền gật đầu khâm phục. Đúng thế, mở một cuộc biện luận quy mô lớn nhường này, bầu không khí lại u ám buồn bã, thì ai có thể lên tiếng? Mọi người đều không lên tiếng, lấy ai để tranh luận? Tề Uy Vương và Điền Anh sắp xếp chu đáo, nhưng lại thiếu sót mất một điều này, và thiếu sót này đã được Thuần Vu Khôn bù đắp một cách vô cùng khéo léo.

Từ lâu đã nghe Thuần Vu Khôn đa trí, hôm nay được thấy, mới biết tin đồn không giả.

Thuần Vu Khôn cười ha hả, bước lên luận đàn, vòng tay hành lễ một vòng với tất cả mọi người, rồi chỉ vào Điền Anh, lại nói: “Lão hủ đang tiêu diêu tự tại ở Hàm Đan, đột nhiên nhận được cấp báo của thượng đại phu, nói là lão Mông Tử có chuyện, hẹn lão hủ cấp tốc đến nơi. Lão hủ còn tưởng là có chuyện tốt đẹp gì, nên đã tức tốc đánh xe đến, quãng đường vốn phải đi ba tháng, nay chỉ hai mươi ngày đã tới rồi…”

Từ Hàm Đan đến Lâm Truy, xe tứ mã chạy hai mươi ngày đã là chậm như sên bò, nhưng Thuần Vu Khôn lại dự tính phải đi mất ba tháng, sắc mặt lại vô cùng nghiêm túc, khiến mọi người lại cười ồ cả lên.

Thuần Vu Khôn bị ngắt lời nên đành phải dừng lại, thấy tiếng cười đã dứt mới nói tiếp “Lão hủ đã đến nơi rồi, nhưng lão Mông Tử lại đi ngủ mất. Các vị thử nói xem, lão hủ và ông ấy đã mười năm không gặp, lão hủ khó khăn lắm mới tới được đây. Thế mà lão Mông Tử này hay thật đấy, cứ thế xuôi tay ngủ quách đi rồi! Lão hủ buồn bã mất mấy hôm, sau đó cũng đã hiểu ra. Cuộc đời người ta, ngủ sớm ngủ muộn, ngủ dài ngủ ngắn, ngủ ngon ngủ lười, tất cả đều là ngủ. Lão Mông Tử có lẽ chơi đùa đã mệt, nên mới đi ngủ trước, vốn cũng không nên trách móc. Nghĩ như vậy, nên trong lòng ta cũng không buồn nữa. Có điều, ít nhiều vẫn cảm thấy lão Mông Tử làm như vậy là chưa đủ trượng nghĩa. Bạn già đến thăm, cho dù có muốn ngủ thì cũng phải nói trước một tiếng mới đúng chứ!”

Thuần Vu Khôn nói mấy câu này, vừa ý tình tha thiết, lại thông suốt thoát tục, đã thực sự thể hiện được công lực của ông ta. Tất cả những người có mặt không ai không kính phục, ngay cả công tử Ngang cũng hai mắt nhìn Thuần Vu Khôn không chớp, liên tục gật đầu.

Thuần Vu Khôn thấy mọi người đều đã im lặng, tất cả mọi ánh mắt đều đang hướng về mình, thì lại lắc lư cái đầu trọc mấy cái mà nói: “Bệ hạ thương tiếc lão Mông Tử, rất muốn giữ lại, nên chợt nảy ra ý lạ, mở luận đàn này, lại muốn lão hủ đứng ra chủ trì. Lão hủ vốn lắm điều, tính khí lại tuỳ tiện, vốn muốn tìm lời từ chối, nhưng lại nhớ đến lão Mông Tử, đành phải đồng ý. Lão hủ trước nay chưa từng chủ trì bất cứ luận đàn nào, song lão hủ nghĩ rằng, nhìn tên suy ra nghĩa, luận đàn quý ở chữ ‘luận’, chữ ‘luận’ lại quý ở tranh cãi. Lão Mông Tử không nói là tranh cãi, mà nói là đùa tiếng hót. ‘Hót’ vốn là chỉ tiếng chim kêu, chữ này dùng rất khéo léo. Nhiều chim cùng cất tiếng hót, gọi là đua tiếng. Chỉ riêng một chữ ‘hót’ này thôi, ta đã phục lão Mông Tử lắm rồi! Các vị khách quý, các vị bạn chim, trong thời khắc này, mọi người đều tề tựu tại đây, cùng đua tiếng trước mặt lão Mông Tử, lão hủ chẳng có thỉnh cầu gì khác, chỉ mong chư vị hãy vươn thẳng cần cổ, mở to cuống họng, dốc hết tâm can, hót ra bằng hết những gì muốn hót. Hót tốt, hót hay, hót mà khiến người ta khâm phục, thì người đó sẽ là trống. Ngược lại, hót chưa đủ vang, chưa đủ hay, chưa khiến người khác khâm phục, thì người đó chính là mái…

Chữ “mái” vừa nói dứt, tất cả mọi người lại phá lên cười, vỗ tay nhiệt liệt.

Thuần Vu Khôn giơ tay ra hiệu cho mọi người im lặng để nghe ông ta nói tiếp: “Tại hạ lại nghĩ, nếu đã là đua tiếng, thì phải có một chủ đề, nếu không nhà phía đông nói lừa, nhà phía tây nói ngựa, không thể thống nhất được. Cuộc tranh biện ngày hôm nay nhằm đưa tiễn lão Mông Tử. Lão Mông Tử một đời, cả đạo học và đạo làm người đều nghĩ cho thiên hạ. Hôm nay, lão hủ đã được chủ trì, vậy cũng xin độc đoán một lần, định ra một chủ đề cho buổi tranh luận hôm nay, đó là thiên hạ trị, loạn!”

Đám đông rộ lên tiếng vỗ tay vang dội.

“Thiên hạ từ cổ chí kim, không trị ắt loạn. Tuy nhiên…” Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu trọc, rồi lập tức đổi giọng, “sở thích của lão hủ, không nằm ở thiên hạ trị loạn, mà chỉ muốn thoả chí tiêu dao. Hôm nay khiên cưỡng bàn về trị loạn, quả là khó khăn cho lão hủ. May mà ông trời không tuyệt đường người, lão hủ đang lúc rối trí, đột nhiên nhìn thấy một người. Người này cũng luôn lo lắng cho thiên hạ, có ít nhiều giống với lão Mông Tử. Khác là ở chỗ, người này không những hô hào ồn ã, mà còn dốc sức thực hành, điều này đã vượt xa lão Mông Tử. Lão hủ cảm thấy rất hào hứng, nên thành tâm nhường bước người hiền, long trọng tiến cử người này đăng đàn chủ trì buổi luận! Chư vị có bản lĩnh gì, cứ việc dốc hết ra để tranh luận một trường sống mái với người này! Đợi đến khi đã xác định sống mái, lão hủ thân là tế tửu, sẽ phải mời rượu một lượt. Tuy nhiên, lão hủ chỉ mời trống chứ không mời mái. Rượu là thứ rượu trăm năm, hương thơm lan xa mười dặm, do lão hủ đặc biệt mang từ Hàm Đan tới!”

Thuần Vu Khôn cười cợt pha trò, lời lẽ quanh co khúc triết, mọi người vừa cười sảng khoái, vừa đưa mắt liếc khắp xung quanh, không biết người ông ta tiến cử là cao nhân phương nào.

Thuần Vu Khôn đặng hắng một tiếng, bước xuống khỏi luận đàn, đi thẳng vào trong đám đông, dừng lại trước mặt Tô Tần, vòng tay cúi người vái chào một vái thật sâu: “Lão hủ Thuần Vu Khôn xin chào sứ thần bốn nước Tô Tần tiên sinh!”

Tất cả mọi người đều giật mình kinh ngạc, tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Tô Tần.

Do hôm nay tất cả cùng mặc áo tang, đám Tô Tần lại toàn người lạ, nên mọi người đều không nhận ra người này là ai, chỉ có thể nhìn vào việc họ đến sau cùng, lại được xếp vào khoảng trống chính giữa sân mà đoán rằng, người đó hẳn có thân phận hiển hách. Nhưng thực không thể ngờ được họ lại là sứ thần hợp tung của bốn nước, và người dẫn đầu chính là Tô Tần danh tiếng lẫy lừng.

Tô Tần đã sớm đoán được Thuần Vu Khôn sẽ ra chiêu này, liền đứng dậy khom lưng đáp lễ: “Vãn sinh xin chào Thuần Vu tiền bối!”

Thuần Vu Khôn vòng tay nói: “Lão hủ đường đột, mời Tô Tử hãy đăng đài chỉ giáo!”

Tô Tần vòng tay đáp lễ: “Được tiền bối hậu ái, vãn sinh cung kính chẳng bằng tuân lệnh!”

Thuần Vu Khôn cười vang, dắt lấy tay Tô Tần: “Tô Tử, mời!”

Tô Tần cũng không từ chối, lập tức cùng Thuần Vu Khôn bước lên đàn.

Đám đông lại vỗ tay như sấm dậy.

Sau khi tiếng vỗ tay đã dứt, Thuần Vu Khôn chỉ lên đài, cười nói: “Đài này chỉ có thể đứng được một người. Tô Tử lên, lão hủ đành phải xuống vậy!”

Không đợi Tô Tần kịp lên tiếng, Thuần Vu Khôn lập tức quay người bước sang bên cạnh, dắt tay Điền Anh đi tới trước đám sĩ tử, ngồi xuống chỗ ngồi đã được bày sẵn.

Tô Tần thấy họ đã yên vị, mới quay người sang, lạy liền ba lạy trước quan tài, lại đứng dậy vái một vái về phía chúng sĩ tử, nói lớn: “Sĩ tử Lạc Dương Tô Tần xin chào chư vị tiên sinh, chư vị học tử!” Dừng lại một lát, khẽ hắng giọng. “Từ lâu tại hạ đã mong được đến đây để nghe Bành tiên sinh giáo hối. Lần này đến, tại hạ vốn dĩ định tìm tới thụ giáo, song tiên sinh lại đi trước một bước cưỡi hạc về trời, thực khiến tại hạ vô cùng tiếc nuối. Tại hạ lần này tới đây, chỉ một lòng muốn đưa tiễn tiên sinh, nhưng lại được Thuần Vu tiền bối hậu ái, muốn tại hạ đăng đàn chủ luận. Chư vị sĩ tử có mặt tại đây đều là bậc đại gia, Thuần Vu tiền bối, lại càng là Thái Sơn Bắc Đẩu trong học giới. Tại hạ tài sơ học mọn, vốn chẳng dám khoe khoang, nhưng trước anh linh của Bành tiên sinh, tại hạ cũng không dám chối từ. Tại hạ tiến thoái lưỡng nan, nên đành phải miễn cưỡng gánh lấy trách nhiệm nặng nề, múa rìu qua mắt thợ, khoe xấu tại đây!”

Lời của Tô Tần, khiêm nhường đúng mực. Tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Tô Tần.

Tô Tần đột ngột đổi giọng: “Chư vị tiên sinh, như lời Thuần Vu tiền bối đã nói, hơn một năm nay tại hạ lao tâm khổ tứ vì đại nghiệp hợp tung, khiến thiên hạ ồn ào chấn động, cũng dấy lên nhiều tranh cãi. Hôm nay đã là luận bàn về thiên hạ trị loạn, tại hạ rất muốn nhân cơ hội hiếm có này để thổ lộ vài câu, một là để tỏ rõ nỗi lòng, thỉnh giáo tất cả chư vị đại gia có mặt tại đây; hai là muốn bày tỏ trước anh linh của Bành tiên sinh, mong tiên sinh phù hộ!”

Khắp sân lặng phắc như tờ.

“Chư vị tiên sinh!” Tô Tần đưa mắt nhìn khắp lượt đám đông, cao giọng tiếp lời. “Hợp tung thiên hạ không phải là hứng thú nhất thời của tại hạ, mà là do đại thế tạo thành. Chư vị hẳn sẽ hỏi, đại thế của thiên hạ sẽ về đâu? Tại hạ chỉ có một đáp án, đó là thiên hạ đại đồng. Vậy thiên hạ làm thế nào mới có thể đại đồng? Tại hạ cho rằng, chỉ có hai con đường, một là thiên hạ quy về một mối, đại đạo nhất thống; hai là liệt quốc cùng yên trị, tìm kiếm điểm chung, gác lại bất đồng, chung sống hoà thuận. Nếu muốn thiên hạ quy về một mối, chỉ có kẻ mạnh giao tranh, diệt nước tuyệt nhà, thực thi đế chế. Tại hạ năm trước đến Tần, cũng chủ trương thuyết này, thiết nghĩ hẳn chư vị đều đã nghe thấy. Nếu muốn liệt quốc cùng yên trị, thiên hạ thái bình, thì chỉ có một con đường duy nhất là hợp tung!”

Tiếp đó, Tô Tần giảng giải chi tiết về hợp tung, rồi kể lại quá trình mình ngộ ra kế sách này thế nào, từ chỗ bản thân bị khốn ở Tần, chuyện lấy dùi đâm đùi, rồi tiếng đàn thức tỉnh của cầm sư, lời lẽ lúc sôi nổi lúc thiết tha, tràn đầy cảm xúc. Đám sĩ tử Tắc Hạ thường ngày chẳng phải lo lắng chuyện cơm ăn áo mặc, phần nhiều chỉ biết ngồi không luận đạo, chưa từng nếm trải những cảnh ngộ đắng cay nhường ấy, vì vậy ai nấy đều nghe mà thắt ruột, xuýt xoa không ngớt.

Tô Tần một mình sang sảng suốt một canh giờ, rồi mới thu lời, ôm quyền mà nói: “Tại hạ nói bừa mấy câu, làm trò cười cho chư vị đại gia ở đây! Trong số chư vị, bất kể là ai, nếu không ngại hỏi han kẻ dưới, muốn cùng Tô Tần bàn luận về thiên hạ tung thân, vương bá trị loạn, Tô Tần rất mong được thỉnh giáo!”

Nói đoạn, Tô Tần khẽ mỉm cười, ánh mắt tiếp tục lướt khắp đám đông.

Ở Tắc Hạ, thông thường những buổi tranh luận quy mô long trọng như thế này chính là cơ hội để các tông phái chứng tỏ thực lực, vì vậy, tất cả các tông phái đều đã chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng hiển lộ thân thủ trên luận đàn, nhằm thu hút thêm nhiều đệ tử. Thật không ngờ từ trên trời lại rơi xuống một Thuần Vu Khôn và một Tô Tần, gần như đã chiếm trọn phong quang.

Tuy nhiên, lúc này được hỏi đến, đám đông lại không hề ồn ào sôi nổi như thường lệ. Đó là vì mặc dù có hơn nghìn người có mặt, nhưng phần lớn đều là đệ tử các phái. Tiên sinh không lên tiếng, đệ tử không dám ra mặt. Trong khi mười mấy vị tiên sinh đứng ở hàng đầu cũng không dám khinh suất khiêu chiến, bởi luận đàn lần này quá ư trọng đại, chẳng may bại trận, thì những ngày còn lại ở Tắc Hạ sẽ không dễ sống. Hơn nữa, Tô Tần hoạt ngôn, biện luận hùng hồn, danh tiếng đã lẫy lừng liệt quốc, lúc này lại kiêm nhiệm chức đặc sứ bốn nước, khí thế tựa cầu vồng. Thuần Vu Khôn đi khắp thiên hạ, trí tuệ hơn người, lúc này lại mới được nhiệm chức tế tửu, khua môi múa mép trước mặt một vị tiền bối đại sư như vậy, ngôn từ lại càng phải cân nhắc.

Tô Tần thấy mọi người vẫn im lặng, chưa ai dám lên tiếng, liền vòng tay cười nói: “Chư vị tiên sinh, Tô Tần xin cung kính đợi!”

Lời vừa dứt, quả nhiên có một người đứng dậy, bước lên mấy bước, dừng lại trước đài, vòng tay nói: “Đã luận về thiên hạ, tại hạ Trâu Diễn người Tề xin được hỏi Tô Tử về thiên hạ!”

Tô Tần vòng tay đáp lễ: “Trâu Tử xin mời hỏi!”

“Không biết thiên hạ là gì, sao có thể nói về thiên hạ trị loạn? Tại hạ xin hỏi Tô Tử, thiên hạ là gì?” Trâu Diễn hỏi xong, nhìn thẳng vào Tô Tần với ánh mắt khiêu khích.

Trâu Diễn tuổi chưa đầy ba mươi, tinh thông Dịch học, mấy năm nay dốc sức nghiên cứu tứ cực bát hoang, âm dương ngũ hành, có thành tựu lớn, trong biện luận thường ngôn từ sắc bén, mênh mông như trời biển, ở Tắc Hạ được mệnh danh là “Đàm Thiên Diễn”. Trâu Diễn vừa đến chưa lâu, vì có tài học nên được Bành Mông yêu mến, năm trước đã được phá lệ phong làm Tắc Hạ tiên sinh, có điều chỉ thích đàm luận về những điều kỳ quặc, nên có mỗi ba đệ tử. Thấy gặp thời cơ tốt, Trâu Diễn không muốn để vuột mất, vì vậy đã nhanh chóng lên tiếng đầu tiên.

Tô Tần vòng tay đáp: “Thiên hạ, nhìn tên biết nghĩa, tức ở trên đất, ở dưới trời. Tại hạ cho rằng, tất cả những thứ được bầu trời che phủ, được mặt đất nâng đỡ, được lục hợp bao bọc, được âm dương hoá thành, được mưa móc thấm nhuần, được đạo đức nâng đỡ, đều được gọi là thiên hạ!”

“Tô Tử nói tuy đúng, nhưng quá ư đại khái. Điều mà tại hạ muốn hỏi, là trời đất lục hợp to lớn cỡ nào?”

Tô Tần vòng tay nói: “Từ lâu tại hạ đã nghe nói Trâu Tử có thuyết đại cửu châu, nhưng chưa được tường tận, hôm nay xin được thỉnh giáo!”

“Tô Tử khiêm nhường rồi!” Trâu Diễn ngoài miệng tuy nói vậy, nhưng trong lòng không khỏi đắc ý, vòng tay nói tiếp. Tại hạ cho rằng, trời giống như mái vòm, đất có bốn cực. Chín châu như viết trong thiên ‘Vũ cống’(1) vẫn chưa phải toàn bộ thiên hạ, mà chỉ là một châu trong thiên hạ, có thể gọi là Xích Huyện thần châu. Phía dưới vòm trời, bên trong bốn cực, Xích Huyện thần châu chỉ là một phần chín, ngoài ra còn có tám châu khác không được ghi trong ‘Vũ cống’, vì vậy mà người đời không biết tới.”

Tô Tần mỉm cười, gật đầu hỏi tiếp: “Xin hỏi Trâu Tử, dưới trời phải có đất, trên đất phải có trời, điều này có đúng không?”

“Đương nhiên!”

“Xin hỏi Trâu Tử,” Tô Tần nắm được một điểm, tiếp tục dấn tới, “trời là mái vòm, vậy phải có hình tròn, đất có bốn cực, vậy phải là hình vuông. Nếu nói như Trâu Tử, vậy thì tại bốn góc của đất sẽ không có trời. Trên đất không có trời, vậy có còn được gọi là đất không?”

Mọi người đều bật cười.

“Ờ…” Trâu Tử không biết nói gì, sắc mặt lúng túng, liên tiếp ôm quyền. “Tô Tử cao kiến, tại hạ thụ giáo rồi!” Nói xong liền quay người lùi lại, trở về ngồi vào chỗ, nhắm mắt suy tư.

Đàm Thiên Diễn trước nay tranh biện luôn khiến kẻ khác phải cứng họng, nhưng hôm nay lại bị bại ngay hiệp đầu, khiến mọi học tử Tắc Hạ thảy đều chấn động. Một lúc sau, lại có một sĩ tử trung niên từ trong đám đông đứng dậy, mọi người đều quay sang nhìn, thì ra là Tắc Hạ tiên sinh Thận Đáo. Thận Đáo học đạo Hoàng Lão, là người thuần hậu, học phong nghiêm cẩn, có nhiều trước tác, tiếng tăm có thể sánh ngang với Bành Mông, đệ tử hơn hai trăm người. Trong sân hiện giờ, đội ngũ xếp hàng sau ông ta là dài nhất.

Thận Đáo bước tới trước đài, vòng tay nói: “Thận Đáo người Triệu xin thỉnh giáo Tô Tử!”

Tô Tần vòng tay đáp lễ: “Thận Tử, xin mời nói!”

“Tô Tử muốn cầu cái đạo thiên hạ đại đồng không cần tới binh đao huyết chiến, tại hạ kính phục. Tuy nhiên, tại hạ muốn biết, giả sử Tô Tử hợp tung thành công, thì thiên hạ sẽ cùng trị như thế nào? Liệt quốc sẽ cùng chung sống ra sao?”

“Điều Thận Tử vừa hỏi, cũng chính là thứ mà tại hạ đang mong cầu trong tương lai. Cái đạo cùng trị, cùng chung sống, từ thời tiên vương đã có. Thời Tam Hoàng Ngũ Đế, đại đạo quán thông, đức hoá thiên hạ, vô vi mà trị, chư hầu trong thiên hạ đông đến hàng vạn, cùng chung sống, cùng tồn tại, không hề tranh chấp. Từ Hạ đến Thương, từ Thương đến Chu, đạo đức suy vi, thiên tử dùng lễ nhạc để trị thế, chư hầu đều tuân theo quy củ, cùng chung sống hoà mục. Bắt đầu từ thời Xuân Thu, lễ băng nhạc hoại, thiên hạ bắt đầu bất trị. Phong khí thế gian ngày một sa sút, nếu muốn khiến cho thiên hạ đại đồng, thì phải bắt đầu từ trị phong. Vì vậy, đại nghiệp hợp tung của tại hạ có thể chia làm ba bước. Bước thứ nhất, hợp tung liệt quốc Sơn Đông, biến can qua thành ngọc lụa, cùng chế bạo Tần. Bước thứ hai, hoà giải với Tần, khiến toàn thiên hạ tung thân, chư hầu cùng ngồi một chiếu, tìm ra điểm chung, gác lại bất đồng, giáo hoá dân chúng, khôi phục lễ nhạc. Bước thứ ba, nêu thiện diệt ác, loại trừ tư dục, phục hưng đạo đức, khiến thiên hạ quy về đại đồng.”

Nghe Tô Tần mô tả về viễn cảnh tương lai của hợp tung, mọi người vừa kinh ngạc vừa hoài nghi, thảy đều đưa mắt nhìn nhau, cứ ngỡ mình đang nghe giảng sách trời. Thận Đáo khẽ vòng tay, nói tiếp: “Tráng chí khổ tâm của Tô Tử, cho dù có thành công hay không, tại hạ cũng vô cùng kính phục! Theo lời Tô Tử, nếu như thiên hạ đã đi đến đại đồng, vậy có còn thiên tử không?”

“Có!”

“Thiên tử với dân, bên nào quý hơn?”

“Đều quý, cũng đều không quý. Thiên hạ vì thiên hạ mà lập thiên tử, không phải vì thiên tử mà lập thiên tử. Cho nên dân lập nên thiên tử mà coi thiên tử là quý, không vì làm lợi cho một mình thiên tử, mà là làm lợi cho thiên hạ!”

“Thiên tử làm thế nào để trị được chư hầu? Chư hầu lại làm thế nào để trị được dân?”

“Dùng đạo để trị! Thiên đạo quán thông, thánh nhân vô sự. Thánh nhân đã vô sự thì thiên tử còn có chuyện gì? Thiên tử vô sự, chư hầu cũng vô sự, dân cũng vô sự, cho nên trong thời thánh đạo, vô vi mà trị.”

“Lấy đạo trị thiên hạ, có thể nói rõ hơn chăng?”

“Đạo có các đức, đức lại có các thuật. Trong thời tam vương ngũ đế, thánh quân thi hành tám thuật nhân, nghĩa, lễ, nhạc, danh, pháp, hình, thưởng. Nhân dùng để nuôi dân, nghĩa để dẫn dắt dân, lễ để giáo hoá dân, nhạc đế hài hoà dân, danh để sửa chính dân, pháp để chỉnh tề dân, hình để uy phục dân, thưởng để khuyến khích dân, thiên hạ vì vậy mà trị, đại đạo vì vậy mà thông.”

Thận Đáo khâm phục sát đất, vòng tay nói: “Luận bàn của Tô Tử vô cùng chí lý, tại hạ bội phục!” Rồi quay bước trở về, ngồi vào chỗ cũ.

Người tiếp theo đứng lên là Điền Biền. Điền Biền là môn sinh đắc ý của Bành Mông, cũng là Tắc Hạ tiên sinh, rất giỏi biện luận, nên còn được tôn xưng là “Biền miệng trời”, đệ tử đông đảo, địa vị ở Tắc Hạ có thể sánh ngang với Thận Đáo.

Thận Đáo vừa lui xuống, Điền Biền liền tiến lên, vòng tay hỏi: “Tô Tử đã luận về tám thuật đạo, đức, Điền Biền người Tề xin được hỏi. Tám thuật đạo, đức, mặc dù có lợi, nhưng cũng có hại. Nhân, có thể thi hành bác ái, nhưng cũng có thể sinh lòng thiên lệch. Nghĩa, có thể thận trọng ngôn hành, nhưng cũng có thể sinh ra giả tạo. Lễ, có thể gây dựng cung kính, nhưng cũng có thể sinh ra biếng nhác. Nhạc, có thể hài hoà tình chí, nhưng cũng có thể sinh ra dâm dật. Danh, có thể làm chính tôn ti, nhưng cũng có thể sinh ra kiêu ngạo. Pháp, có thể chỉnh tề sự khác biệt, nhưng cũng có thể sinh ra gian trá. Hình, có thể uy phục kẻ không theo, nhưng cũng có thể sinh ra bạo ngược. Thưởng, có thể khích lệ kẻ trung lương, nhưng cũng có thể sinh tranh chấp ngấm ngầm.”

“Đúng vậy!” Tô Tần đáp lễ, rồi dõng dạc nói. “Hạ Khải, Thương Thang dùng tám thuật mà thiên hạ yên trị; Hạ Kiệt, Thương Trụ dùng tám thuật mà thiên hạ diệt vong, nguyên nhân là ở đâu? Nằm ở đạo thống! Thuật được đạo sử dụng, cũng bị đạo chế ngự. Thiên hạ có đạo, thuật được khéo dùng, có thể khiến thiên hạ trị. Thiên hạ thất đạo, thuật bị lạm dụng, có thể khiến thiên hạ loạn.”

Điền Biền gật đầu: “Tô Tử đã đề xướng đại đạo, lại lấy thiên tử để chế ngự dân, lấy pháp để chỉnh tề dân, xin hỏi Tô Tử, đạo và pháp cái nào nặng hơn?”

“Đạo được thi hành trên đời, thì kẻ bần tiện không oán, kẻ phú quý không kiêu, kẻ yếu ớt không sợ, kẻ trí dũng không ức hiếp, người dân vui vẻ thuần phục. Pháp được thi hành trên đời, thì kẻ bần tiện không dám oán, kẻ phú quý không dám kiêu, kẻ yếu ớt không phải sợ hãi, kẻ trí dũng không dám ức hiếp, người dân vì sợ mà phục. Từ đó tại hạ cho rằng, pháp không bằng đạo!”

Điền Biền lại gật đầu, hỏi tiếp: “Thời Xuân Thu, nhân nghĩa chưa hoàn toàn phế, lễ nhạc chưa hoàn toàn loạn, nhưng Khổng Khâu đã không thể nhẫn nhịn, phải chu du liệt quốc, đề xướng đạo đức, thi hành nhân nghĩa, kết quả là đi đến đâu cũng cùng đường tuyệt lộ, thất thểu như chó nhà tang. Nay Tô Tử lại đề xướng đại đạo, há chẳng phải đi theo vết xe đổ của Khổng Khâu?”

Tô Tần khẽ thở dài một tiếng, chậm rãi đáp lời: “Khổng Khâu cùng đường, đó không phải là lỗi của đạo đức, nhân nghĩa, mà là phương pháp thực hiện chưa thoả đáng. Đạo đức nhân nghĩa phải được thi hành trong thời thái bình, không thể thi hành trong thời loạn lạc. Thứ thi hành trong thời loạn, duy chỉ có thế và lực. Hôm nay tại hạ khởi xướng hợp tung, mục đích là để cân bằng, dẫn dắt các thế lực trong thiên hạ, khiến thiên hạ chấm dứt tranh chấp, sau đó mới lấy các thuật lễ, nhạc, danh, pháp, hình, thưởng, để khiến thiên hạ cùng trị, sau đó tiếp tục quy về nhân nghĩa, đạo đức để tái lập nền thái bình thánh thế. Việc có thứ tự, sự có chậm gấp, nhiệm vụ cấp bách hiện giờ không phải là khởi xướng đạo đức, mà là cân bằng thế lực của thiên hạ, giảm bớt chiến loạn, khiến thiên hạ không còn dám phân tranh.”

Điền Biền kính phục, ôm quyền vái xong, quay về chỗ.

Người ngồi bên cạnh Điền Biền là Doãn Văn Tử lại đứng dậy, vòng tay nói: “Doãn Văn Tử người Tề xin được thinh giáo Tô Tử! Tô Tử đã dùng đạo để chế ngự thiên hạ, vậy tại hạ xin được luận đạo cùng Tô Tử. Dựa theo thiên đạo, vật tròn thì lăn, nó lăn không phải là vì biết lăn, mà là không thể không lăn. Vật vuông thì dừng, nó dừng không phải là vì biết dừng, mà là không thể không dừng. Thế đạo ngày càng đi xuống, nó đi xuống không phải là vì biết đi xuống, mà là không thể không đi xuống. Người ta giữ lòng tư dục, giữ lòng này không phải là vì biết giữ, mà là không thể không giữ. Từ thời Xuân Thu về sau, lòng người không còn thuần phác, tư dục bành trướng, đạo đức suy vi, tất cả đều là sự vận động của thiên đạo. Tô Tử hợp tung để cầu đại đồng, mà đại đồng lại phải trừ bỏ tư dục. Tô Tử lấy sức mạnh để miễn cưỡng khắc chế tư dục, há chẳng phải đi ngược với sự vận hành của đạo hay sao?”

Tô Tần vòng tay đáp lễ, khẽ mỉm cười mà nói: “Tại hạ từ lâu đã được nghe đại danh của Doãn tiên sinh, hôm nay được gặp, quả là hân hạnh! Tại hạ cho rằng, lời Doãn tiên sinh có phần sai lệch. Theo tại hạ được biết, trời vận hành mạnh mẽ, đạo sinh ra vạn vật nhưng không kể công. Tiên sư Lão Đam có nói: ‘Vạn vật nhờ vào đạo mà sinh, nhưng không khoe khoang, việc thành công rồi mà không chiếm hữu. Nuôi dưỡng vạn vật mà không làm chủ, thường không có dục, cho nên có thể gọi nó là nhỏ; vạn vật quy về mà không làm chủ, cho nên có thể gọi nó là lớn. Vì cho tới cùng vẫn không tự nhận là lớn nên mới thành được việc lớn.’(2) Tại hạ theo đó mà suy, thì thiên đạo không hề có tư dục, mà có tư dục chính là con người. Hơn nữa, người thượng cổ có thể tuân theo thiên đạo, vậy có sao người hiện nay lại không thể?”

Doãn Văn Tử thán phục, vòng tay vái rồi lui.

Sau đó, lần lượt các vị Tắc Hạ tiên sinh như Tiếp Tử, Quý Chân Tử, Hứa Hành và một số du sĩ tạm thời chưa có môn phái đều tiến lên, hỏi về các điều liên quan đến hợp tung và trị loạn. Tô Tần hỏi đâu đáp đấy, đánh đâu đỡ đấy, ứng đối trôi chảy, khiến tất cả các tiên sinh và sĩ tử có mặt không ai không thán phục.

Thấy không còn ai tiến lên nữa, Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu trọc bóng nhẫy như bôi dầu, ung dung bước tới trước luận đàn, vòng tay nói: “Thuần Vu Khôn người Tề xin thỉnh giáo Tô Tử!”

Thấy Thuần Vu Khôn ra mặt, mọi người đều bật cười, không khí bỗng chốc thoải mái hơn hẳn. Đồng thời, tất cả ánh mắt đều đổ dồn lại, vì ai cũng biết đây là màn kịch then chốt nhất.

“Xin mời tiền bối!” Tô Tần vòng tay đáp lễ.

“Tô Tử học vấn cao thâm, khéo giảng đại đạo, lão hủ đây không đủ sức tranh luận. Lão hủ thiển cận, sẽ dùng lời tục vật tục để ra đối, Tô Tử hãy dùng cái đạo trị thế để đáp, có được chăng?”

Nghe thấy lời này, mọi người thảy đều chấn động, vì biết Thuần Vu Khôn sắp nói ẩn ngữ. Ẩn ngữ tức là hỏi cái này đáp cái khác, hơi giống với phép tỷ và hứng trong “Thi”, lại yêu cầu phải hỏi ngay đáp liền. Tướng Tề là Trâu Kỵ rất giỏi ẩn ngữ, năm xưa đã dùng tiếng đàn để ẩn dụ việc triều chính, nhờ vậy mà có được chức tướng quốc. Trò ẩn ngữ là trò đấu trí nhanh, rất khó đối đáp, huống hồ là đối đáp với đại sư ẩn ngữ Thuần Vu Khôn ngay trước mặt đám đông!

Bị dồn đến nước này, Tô Tần cũng đã không còn đường lui, đành phải nghiêm sắc mặt nói: “Vãn sinh xin lắng nghe tiên sinh chỉ giáo!”

Thuần Vu Khôn chậm rãi nói: “Con không rời mẹ!”

Tất cả mọi người đều hít ngược một hơi dài, đổ dồn ánh mắt nhìn sang Tô Tần.

Tô Tần khẽ nhắm mắt, suy nghĩ chốc lát, rồi trầm giọng đáp: “Vua không rời dân!”

“Xà trên không thẳng xà dưới nghiêng.”

“Đạo trời không vững đạo người khó.”

“Áo lông cáo trắng, nào dám vá bằng da dê.”

“Thiên hạ đức hoà, đâu thể lẫn vào dâm dật.”

“Vạn thú đuổi một hươu, hươu không còn đường sống, thú không được miếng ăn.”

“Trăm chúa tranh một trời, trời không được hoà bình, chúa không được yên ổn.”

Câu cuối cùng, dường như Tô Tần chẳng cần suy nghĩ, buột miệng đáp liền, hơn nữa ý tứ, ngôn từ, mức độ đối xứng công chỉnh, đều đạt đến độ tuyệt diệu hoàn hảo, khiến tất thảy học sĩ đều hoan hô vang dậy.

Thuần Vu Khôn mỉm cười, vòng tay vái thật sâu, nói: “Tô Tử quả nhiên là kỳ tài trong thiên hạ, lão hủ bội phục!” Rồi quay sang chúng sĩ tử. “Chư vị tiên sinh, chư vị sĩ tử, ta đã hỏi xong, mọi người còn có ai muốn hỏi không?”

Mọi người quay mặt nhìn nhau, nhưng không còn thấy ai đứng lên nữa.

Thuần Vu Khôn cười vang mà nói: “Xem ra, buổi đua tiếng hôm nay đã xác định được trống mái rồi!” Quay sang Tô Tần, vòng tay nói. “Tô Tần người Lạc Dương, hãy cùng lão hủ tới bồi tiếp lão Mông Tử uống rượu!”

Phía dưới vang lên tiếng vỗ tay như sấm động.

Giờ Thìn hôm sau, đưa tang Bành Mông, mai táng tại núi Tắc Sơn cách đó hơn mười dặm. Hơn ngàn sĩ tử và các quan viên trong cung, cộng thêm vô số dân chúng thành Lâm Truy đều kéo đến tham gia, khiến đội ngũ đưa tang kéo dài dằng dặc, từ Tắc cung đến tận Tắc Sơn, trông còn hoành tráng hơn cả tang lễ trong cung thất.

Mai táng Bành Mông xong xuôi, Điền Anh và Thuần Vu Khôn gác mọi việc sang một bên, nhanh chóng trở về cung, vừa may gặp thái tử cũng đang ở đó.

Điền Anh bẩm tấu lại cặn kẽ về cuộc tranh luận và tang lễ Bành Mông, Tề Uy Vương hai mắt khép hờ, chăm chú lắng nghe, suy nghĩ một lúc, sau đó quay sang hỏi Thuần Vu Khôn: “Lão phu tử, theo huệ nhãn của ông, tài của Tô Tử thế nào?”

Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu trọc, chậm rãi nói: “Về Tài của Tô Tử, thảo dân không dám đoán bừa. Tuy nhiên, thảo dân có một so sánh, không biết bệ hạ có muốn nghe hay không?”

“Ồ, so sánh thế nào?”

“Năm xưa Trâu Tử dùng tiếng đàn để ẩn dụ về triều chính, được bệ hạ trọng dụng, phong làm tướng quốc. Thảo dân sớm đã biết rõ Trâu Tử hay đàn, song chưa yên tâm về tài chính sự của ông ta, vì vậy đã đến tận nơi, dùng ẩn ngữ để hỏi về việc triều chính.”

Uy Vương cảm thấy hào hứng, nhổm người về trước hỏi: “Việc này thật mới mẻ, quả nhân chưa từng nghe lão phu tử nhắc tới bao giờ.”

Thuần Vu Khôn cười nói: “Chút tài vặt vãnh, khoe khoang miệng lưỡi, không đáng để nhắc tới!”

“Nói mau, phu tử hỏi ông ta thế nào?”

“Thảo dân hỏi ông ta: ‘Con không rời mẹ’.”

“Con không rời mẹ?” Uy Vương khẽ nhắc lại, chau mày suy nghĩ, một lúc sau mới ngẩng đầu lên hỏi. “Trâu ái khanh đối đáp ra sao?”

“Dân không rời vua!”

Uy Vương vỗ đùi đánh đét: “Đối hay lắm! Còn hỏi gì nữa?”

“Thảo dân lại hỏi: ‘Xà trên không thẳng xà dưới nghiêng’, Trâu Tử bèn đối: ‘Chúa thượng bất minh thiên hạ tối’. Thảo dân hỏi tiếp, ‘Áo lông cáo trắng, nào dám vá bằng da dê, Trâu Tử bèn đối: ‘Bề tôi trị nước, há lại lẫn phường vô dụng’.”

“Hay! Hay lắm!” Uy Vương tấm tắc luôn miệng. “Chỉ có thế thôi ư?”

“Vế ra cuối cùng của thảo dân là: ‘Vạn thú đuổi một hươu, hươu không còn đường sống, thú không được miếng ăn.

“Trâu Tử đối thế nào?” Uy Vương sốt sắng hỏi.

“Trăm quan trị một góc, dân không được yên thân, quan không được nuôi dưỡng.”

Uy Vương vỗ mạnh tay xuống mặt bàn: “Trâu Tử hay lắm, đối hay lắm!”

“Đúng vậy!” Thuần Vu Khôn gật đầu nói. “Nghe lời đối đáp của Trâu Tử, thảo dân vui vẻ thán phục, biết rằng ông ta không chỉ giỏi đàn, mà còn giỏi chính sự, bệ hạ dùng ông ta là đã dùng đúng người rồi!”

“Đúng vậy!” Uy Vương bất giác than thở. “Không có Trâu Tử, sẽ không có nước Tề bình trị như hôm nay!” Dừng lại một lát, bỗng hỏi. “Vừa nãy phu tử nói có một so sánh, vậy so sánh đâu?”

“Hôm qua khi biện luận, thảo dân cũng dùng những câu tương tự để hỏi Tô Tử, muốn thử tài của người này…”

“Ôi chao phu tử, hay lắm!” Thuần Vu Khôn chưa nói dứt lời, Uy Vương đã hào hứng cắt ngang. “Trước tiên hãy nói xem ‘con không rời mẹ’, Tô Tử đối thế nào?”

“Vua không rời dân!”

Uy Vương hít vào một hơi dài, ngửa đầu suy nghĩ một hồi lâu rồi mới gật đâu: “Ừm, đối hay lắm! Nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền, thánh quân không thể rời xa dân được! Vậy câu tiếp theo ‘xà trên không thẳng xà dưới nghiêng’, Tô Tử đối thế nào?”

“Đạo trời không vững đạo người khó.”

“Thế còn ‘áo lông cáo trắng nào dám vá bằng da dê’?”

“Thiên hạ đức hoà, đâu thể lẫn vào dâm dật.”

“Còn câu cuối cùng, ‘vạn thú đuổi một hươu, hươu không còn đường sống, thú không được miếng ăn’?”

“Trăm chúa tranh một trời, trời không được hoà bình, chúa không được yên ổn.”

“Trăm chúa tranh một trời, trời không được hoà bình, chúa không được yên ổn.” Uy Vương khẽ lẩm bẩm, nhắm mắt suy ngẫm một hồi, rồi ngẩng đầu hỏi Thuần Vu Khôn. “Câu đối của Tô Tử và Trâu Tử hoàn toàn khác nhau, so sánh hai người, phu tử cho rằng ai giỏi hơn?”

“Thảo dân chỉ đưa ra để so sánh, không dám đoán bừa. Tuy nhiên, qua buổi tranh luận hôm qua, Tô Tử đã được tất cả mọi người thán phục.”

“Phải, Tô Tử xứng đáng được thán phục!” Uy Vương gật gù, đưa mắt nhìn Tích Cương, rồi quay sang nói với Điền Anh. “Ái khanh hãy nói với đặc sứ bốn nước, rằng quả nhân đã có thời gian rảnh, ngày mai xin mời vào cung thỉnh giáo chuyện hợp tung chế Tần.”

Điền Anh vòng tay đáp: “Vi thần lĩnh chỉ!”

Thuần Vu Khôn, Điền Anh cùng cáo lui.

Thấy họ đã đi xa, Uy Vương suy tư một lát, rồi quay sang hỏi Tích Cương: “Cương Nhi, con thử nói xem, ẩn ngữ của lão phu tử, Trâu Tử hay Tô Tử đối hay hơn?”

“Chẳng phải lúc nãy lão phu tử và phụ vương đã định đoạt được rồi ư?” Tích Cương đáp.

“Quả nhân đang hỏi con kia mà!”

“Nhi thần cho rằng, Tô Tử đối cao tay hơn!”

“Tại sao Tô Tử lại đối cao tay hơn?”

“Trâu Tử chỉ nghĩ cho nước Tề, mới chỉ là nhân tài của đất nước, còn Tô Tử luôn nghĩ cho thiên hạ, đây mới là nhân tài của thiên hạ. Nhi thần cho rằng tài của Tô Tử còn hơn Trâu Tử.”

“Con nói không sai!” Uy Vương chậm rãi nói. “Trong hai người này, nếu như chỉ được lựa chọn một người, thì người nào hữu dụng hơn?”

“Tô Tử!” Tích Cương không chút đắn đo.

“Không! Không! Không!” Uy Vương lắc đầu quầy quậy. “Là Trâu Tử!”

“Phụ vương, cớ sao lại như vậy?” Tích Cương kinh ngạc, tròn mắt hỏi.

“Nếu như thiên hạ là công, thì còn ai dốc sức vì họ Điền chúng ta nữa? Nếu như thiên hạ không có phân tranh, làm sao có thể phát dương cơ nghiệp tổ tông? Biện luận của Tô Tử quá ư cao viễn, song trong nghị luận ở Tắc cung, lại không thực dụng.”

Tích Cương càng thêm khó hiểu: “Đã không thực dụng, vậy cớ sao phụ vương lại hẹn gặp Tô Tử, gia nhập tung thân?”

“Vì mối nhục Hoàng Trì!” Uy Vương gằn mạnh từng tiếng, như thể rít qua kẽ răng.

Tích Cương đầu óc rối tinh rối mù, đưa ánh mắt ngơ ngác nhìn Uy Vương: “Phụ vương…”

“Cương Nhi!” Uy Vương thay đổi sắc mặt, mỉm cười nói. “Việc này con hãy từ từ lĩnh hội!”

Ba ngày sau, nước Tề mở đại triều. Tề Vương tuyên chiếu, nước Tề gia nhập tung thân, dựa theo thông lệ của bốn nước trước đó, phong Tô Tần làm thượng khanh, kiêm đặc sứ hợp tung của nước Tề, ban tặng một toà phủ trạch trong Tắc Hạ, cộng thêm năm trăm lượng vàng, ba mươi nô bộc. Phong thế tử Điền Văn của thượng đại phu Điền Anh làm phó sứ hợp tung, thăng chức đại phu.

Do sự việc quá đỗi thình lình, nên đông đảo quần thần đều sững sờ kinh ngạc, đặc biệt là những người phản đối hợp tung như tướng quốc Trâu Kỵ, thượng tướng quân Điền Kỵ, nhất thời không thể hoàn hồn, cứ đứng ngơ ngác nhìn nhau trên triều.

Sau một tiếng “bãi triều”, Tề Uy Vương được nội thần dìu đi thẳng ra phía cửa bên. Tô Tần theo quần thần ra khỏi cửa điện, đang định bước xuống thềm đá, đột nhiên nghe có tiếng gọi từ sau lưng vọng lại: “Tô Tử!”

Tô Tần quay người lại nhìn, thấy là Điền Anh, liền vòng tay nói: “Tại hạ xin chào thượng đại phu!”

Điền Anh đáp lễ, cười nói: “Tô Tử đại nghiệp hoàn thành, tại hạ có lời chúc mừng!”

“Nói đến chuyện này,” Tô Tần mỉm cười, lại vòng tay, “chẳng phải toàn bộ đều nhờ thượng đại phu tác thành ư? Lúc nãy tại hạ vừa nghĩ, nhất định phải tìm cơ hội để đến đa tạ thượng đại phu!”

“Ồ, Tô Tử định đa tạ như thế nào?” Điền Anh cười hỏi.

“Những vật tốt đẹp trên đời, thượng đại phu chẳng thiếu thứ gì, tại hạ suy nghĩ mãi nhưng vẫn chưa nghĩ ra nên đa tạ thế nào mới phải, thì đột nhiên nghĩ đến một người, may ra có thể khiến thượng đại phu hứng thú!”

“Một người?” Điền Anh phì cười hỏi. “Hẳn không phải là một tuyệt sắc giai nhân đấy chứ?”

“Nghe nói trong phủ thượng đại phu giai nhân chen vai thích cánh, giờ lại tặng thêm mỹ nữ, chẳng phải sẽ càng thêm loạn hay sao?”

“Ồ, nói như vậy, người này hẳn là đàn ông?”

Tô Tần cười lớn: “Không phải đàn bà, chắc chắn phải là đàn ông rồi!”

“Ồ, người đàn ông có thể khiến tại hạ hứng thú…” Điền Anh chau mày suy nghĩ, rồi nhìn Tô Tần, cười lớn mà nói. “Này Tô Tử, đừng vòng vo nữa, là ai?”

Tô Tần liếc nhìn các triều thần đang từ từ băng qua, rồi hạ giọng: “Nếu thượng đại phu có nhã hứng, hãy cùng tại hạ tới một nơi!”

Sau khi ra khỏi cửa cung, Điền Anh bỏ lại xe kiệu của mình, lên xe của Tô Tần. Phu xe ra roi quất ngựa, tiến thẳng đến Tắc Hạ.

Chưa đầy một khắc, hai người đã đến Tắc cung, dừng lại trước cổng phủ của tế tửu Thuần Vu Khôn.

Điền Anh kinh ngạc, ngơ ngác nhìn Tô Tần: “Tô Tử, người đàn ông mà ngài nói, hẳn không phải là lão phu tử đấy chứ?”

Tô Tần phá lên cười lớn mà nói: “Phải hay không phải, cũng xin mời thượng đại phu vào trong đã!”

Tắc cung không giống những nơi khác, để tiện cho sĩ tử ra vào, trao đổi học nghệ, nên tất cả các khu nhà đều không có cổng.

Điền Anh mặt mày ngơ ngác, đi theo Tô Tần bước thẳng vào trong. Thuần Vu Khôn nghe thấy tiếng liền ra đón, cười vang mà nói: “Tô Tử hôm nay đại nghiệp thành tựu, hẳn là đến mời lão hủ uống rượu đây!”

Tô Tần vòng tay đáp: “Đúng vậy!”

“Rượu đâu?” Thuần Vu Khôn săm soi Tô Tần, hỏi.

“Rượu nào cũng chẳng ngon được bằng rượu của tiên sinh, nên vãn sinh không dám mang đến!”

Thuần Vu Khôn lắc đầu cười nói: “Tô Tử lấy rượu của lão hủ để tạ ơn lão hủ, lại còn dắt thêm một người tới uống cùng, rõ ràng là ăn cướp còn gì!”

Ba người đều bật cười, rồi cùng đi vào trong sảnh, chia ngôi chủ khách ngồi xuống.

Điền Anh đảo mắt một vòng, thấy không còn ai khác, liền thấp thỏm nhìn Tô Tần: “Người đâu?”

Tô Tần cười nói: “Không có ở đây!”

“Vậy ở đâu?”

“Ở tận Đại Lương!”

“Ai?”

“Tôn Tẫn!

Điền Anh ngây ra như khúc gỗ, một hồi lâu sau mới định thần lại được, hít vào một hơi dài, khẽ giọng hỏi: “Người này chẳng phải bị điên rồi ư?”

Tô Tần khẽ cười, nói: “Có lúc không điên!”

Điền Anh bừng hiểu ra, lập tức đứng bật dậy, hỏi: “Tô Tử, nói đi, làm thế nào mới có thể khiến Tôn Tẫn đến Tề?”

“Trộm!”

“Trộm?” Điền Anh lại ngẩn người. “Ai trộm?”

Tô Tần chậm rãi quay đầu, nhìn sang Thuần Vu Khôn.

Ánh mắt của Điền Anh cũng di chuyển theo, rồi nhìn sững vào cái đầu trọc của Thuần Vu Khôn.

Thuần Vu Khôn thoạt tiên không hiểu ý, nhưng lúc này dường như cũng đã phát giác ra, thì kinh hãi kêu lên: “Cái gì? Muốn lão hủ đi làm kẻ trộm? Trộm người?” Rồi cái đầu trọc bóng nhẫy lắc liên hồi như trống bỏi. “Không làm đâu! Không làm đâu! Lão hủ có chết cũng không chịu làm!”

Tô Tần thở dài sườn sượt: “Than ôi!”

Thuần Vu Khôn ngoảnh sang: “Này, Tô Tử than vãn cái nỗi gì?”

Tô Tần lại thở dài một tiếng: “Vãn sinh cảm thấy đáng tiếc thay cho tiền bối!”

“Lão hủ không làm kẻ trộm, Tô Tử đáng tiếc cái gì?”

Tô Tần chậm rãi nói: “Người ta sống ở trên đời, đều phải sống cho thoả chí, sống cho phấn khích, sống cho kinh động thế tục! Giữa thanh thiên bạch nhật, trong thành Đại Lương tường luỹ thâm nghiêm, ngay dưới con mắt của Ngụy Vương bệ hạ, khéo bày mưu kế, trộm đi một kẻ điên hai chân không thể cử động, hơn nữa, kẻ điên này lại là hậu duệ đích truyền của binh thánh Tôn Vũ Tử thời Xuân Thu, là nhất đại binh gia mà liệt quốc hiện nay không ai sánh kịp. Xin hỏi tiền bối, trong thời thế hiện nay, còn có việc gì giàu kịch tính và khoái trá hơn thế nữa chăng? Còn nữa…” Khẽ mỉm cười, “không biết sử gia sẽ viết về giai thoại này như thế nào nhỉ?”

Thuần Vu Khôn chau mày suy ngẫm.

“Nếu tiền bối không đồng ý, vãn sinh đành phải nhờ vả người khác vậy!” Tô Tần nói xong, giả như muốn đi.

“Ấy, ấy, ấy!” Thuần Vu Khôn vội ngăn lại, lắc lư cái đầu trọc. “Không giấu hai vị, lão hủ cũng đã từng đi trộm người, là trộm ban đêm, trộm đàn bà, nhưng lão hủ không gọi là trộm người, mà chỉ nói là trộm hương. Giờ Tô Tử nhờ lão hủ đi trộm đàn ông ngay giữa thanh thiên bạch nhật, quả là mới mẻ, chắc chắn sẽ rất kích thích lắm đây. Hãy để lão hủ suy nghĩ rồi quyết định cũng chưa muộn!” Nói đoạn, gãi đầu gãi tai, ra chiều nghĩ ngợi khổ sở lắm.

Nhìn bộ dạng hài hước của ông ta, Tô Tần, Điền Anh đều phá lên cười.



Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử