Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 19
Đọc thông cáo, Bằng Quyên vội hạ sơn
Thức canh đêm, tam tử nhận tuyệt học

❊ ❊ ❊

Năm mới bắt đầu, đất trời ấm lại, vùng đất Tần Xuyên đón thêm một mùa xuân mới. Đúng vào thời điểm thoắt nóng thoắt lạnh, cây cối nảy lộc đâm chồi, tại Thiếu Lương, Hà Tây xảy ra một vụ nông dân bạo loạn khá rầm rộ.

Người cầm đầu chính là Ngô Thanh, Ngô thiếu gia, người từng đến An Ấp thách đấu với Trương Nghi năm nọ. Nguyên nhân rất đơn giản, sau khi Hà Tây bị mất, cũng giống như Trương Nghi, cả nhà Ngô Thanh gặp phải kiếp nạn, không những toàn bộ gia sản bị tịch thu hết sạch, phụ thân của Ngô Thanh còn bị người Tần xử tử, Ngô Thanh và cả nhà lớn bé đều trở thành nô dịch. Càng đau đớn hơn nữa là cô em gái mới mười một tuổi đầu của Ngô Thanh đã lọt vào mắt một viên quan đại phu nước Tần, rồi bị cưỡng bức ngay giữa ban ngày ban mặt. Ngô Thanh nghe tiếng em gái gào khóc thảm thiết, không thể nhẫn nhịn thêm được nữa, máu nóng bốc lên ngùn ngụt, đã giết chết cả nhà quan đại phu, tập hợp những nô bộc trước đây, nhân lúc đêm tối bỏ chạy tới Thiếu Lương, trốn vào rừng rậm ở phía tây. Sự việc này đã khiến cả vùng Thiếu Lương chấn động, rất nhiều người Ngụy có cùng số phận với Ngô Thanh, hoặc không chịu nổi sự tàn khốc của Tần pháp, nghe tin đều rầm rộ đi theo. Chưa đến nửa tháng, Ngô Thanh đã hội tụ được vài nghìn nhân mã, cố thủ ở trong rừng núi hiểm yếu, liều chết chống trả quân Tần. Quận phủ Hà Tây hai lần điều binh càn quét, nhưng đều bị họ đánh bại.

Sự việc nhanh chóng truyền đến tai quận thú Hà Tây Tư Mã Thác. Buổi đại triều hôm nay, Tư Mã Thác bẩm báo chi tiết sự việc lên Huệ Văn Công, xin chỉ tiễu trừ. Huệ Văn Công khẽ chau mày, không trả lời Tư Mã Thác, mà quay sang triều thần: “Chư vị ái khanh còn tấu gì khác chăng?”

Triều thần thấy vậy, cũng lần lượt dâng tấu. Huệ Văn Công xử lý xong mọi chuyện, rồi tuyên bố bãi triều.

Thấy Huệ Văn Công đã lui vào, Tư Mã Thác kinh ngạc, đứng sững sờ hồi lâu, sau đó chặn Công Tôn Diễn lại hỏi: “Công Tôn đại nhân có rảnh không?”

Công Tôn Diễn mỉm cười: “Quốc uý có chuyện gì, xin cứ nói thẳng!”

“Mời đại nhân đến phủ hạ quan!”

Công Tôn Diễn đi theo Tư Mã Thác đến phủ quốc uý, chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Tư Mã Thác đem chuyện Hà Tây thuật lại một lượt, rồi cấp thiết nhìn Công Tôn Diễn: “Đại lương tạo, sự việc khẩn cấp như vậy mà chúa thượng lại không hỏi đến, cũng chẳng ngó ngàng, tại hạ thực tình…” Nói rồi ngừng lại, ánh mắt hoang mang.

Công Tôn Diễn đã nhiều ngày trấn thủ ở Thiếu Lương, tự nhiên cũng hiểu ít nhiều về con người Ngô Thanh. Khi xảy ra đại chiến Hà Tây, quân Tần vây khốn Thiếu Lương, gia tộc Ngô Thanh đã tích cực xuất tiền xuất người, ủng hộ cuộc chiến chống Tần, Công Tôn Diễn vì chuyện này mà rất mực cảm động. Thời thế đổi thay, Công Tôn Diễn giờ đây đã trở thành đại lương tạo của nước Tần, còn nhà họ Ngô thì người chết kẻ trốn, bị người lăng nhục, Ngô Thanh lại trở thành giặc cướp nổi loạn, thực khiến người ta nghĩ đến mà chua xót. Lúc này được hỏi, Công Tôn Diễn không tiện nói nhiều, chỉ biện giải một câu thay cho Ngô Thanh: “Ngô thiếu gia sống trong nhung lụa quen rồi, bình thường tính cũng hiếu thắng. Lần này chắc hẳn đã bị dồn đến đường cùng, nếu không, sẽ không đi tới bước này!”

Tư Mã Thác uất hận nói: “Đám quyền quý nước Ngụy, đáng lẽ ngày trước phải giết sạch mới đúng!”

Công Tôn Diễn thấy ông ta nói lời cạn tàu ráo máng, nhất thời không biết đối đáp ra sao, đang định lấy cớ ra về thì Tư Mã Thác lại khẩn khoản: “Đại lương tạo, sự việc khẩn cấp, hạ quan mời ngài đến là muốn xin ngài cho một chủ ý. Việc này không thể kéo dài thêm nữa, nếu để lan rộng, Hà Tây sẽ không có ngày yên ổn.”

Công Tôn Diễn ngẫm nghĩ một lúc, rồi chậm rãi nói: “Tư Mã tướng quân, chúa thượng trên triều không hạ chỉ, cho thấy chúa thượng vẫn chưa nghĩ thông. E rằng sự việc này không chỉ liên quan đến Ngô Thanh, mà liên quan đến toàn bộ sách lược cai trị Hà Tây. Vì vậy, tại hạ cho rằng, tướng quân hãy chờ đợi thêm xem sao.”

Tư Mã Thác suy nghĩ một lát, thấy lời Công Tôn Diễn cũng có lý, bèn vòng tay nói: “Hạ quan tuân lệnh!”

Rời khỏi phủ quốc uý, khi Công Tôn Diễn trở về đến phủ thì đã quá ngọ. Phủ đại lương tạo cũng chính là phủ Thương Quân trước đây, Công Tôn Diễn bản tính giản dị, lại thêm trong phủ Thương Quân chẳng thiếu thứ gì, vì vậy sau khi vào ở, Công Tôn Diễn chỉ cho thay tấm biển, còn những thứ khác không hề động đến.

Vừa đến cổng phủ, Công Tôn Diễn đã cảm thấy có điều gì đó bất thường, vì trước cổng có nhiều hơn hai thị vệ so với thường ngày. Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn họ, không nói lời nào, lập tức đi vào trong phủ, thấy trong sân cũng có hai hàng thị vệ đứng sừng sững. Công Tôn Diễn biết ngay là có chuyện gì, vội vàng đi vào chính đường, quả nhiên thấy Huệ Văn Công và thượng đại phu Sư Lý Tật đang ngồi đó.

Công Tôn Diễn tiến tới mấy bước, dập đầu sát đất: “Vi thần khấu kiến chúa thượng. Vi thần không biết chúa thượng giá lâm, trở về chậm trễ, xin chúa thượng thứ tội!”

Huệ Văn Công xua tay, cười nói: “Ái khanh mau bình thân. Quả nhân không báo mà đến, nếu luận tội thì người có tội phải là quả nhân mới đúng!”

Công Tôn Diễn hành xong đại lễ, đứng dậy đi tới trước bàn, chỉnh áo ngồi xuống. Nội thần đã sớm đã từ khách thành chủ, pha trà xong xuôi, bưng lại đặt xuống trước mặt Công Tôn Diễn, rồi lui ra ngoài cửa.

Huệ Văn Công cười nói: “Thời gian vùn vụt, mới chớp mắt, ái khanh đến Tần đã được nửa năm rồi. Đất Tần phong tục thô lậu, ít hiểu lễ nghĩa, ái khanh sống có quen chăng?”

“Đa tạ chúa thượng quan tâm! Vài ngày trước, vi thần có đi thị sát khắp các quận huyện, cảm thấy vô cùng kinh ngạc trước tập quán của dân Tần.”

“Có gì kinh ngạc?”

“Những nơi vi thần đến, đêm không đóng cửa, đi đường thấy của rơi không nhặt, láng giềng rất ít tranh chấp, nha môn châu phủ cũng ít có kiện tụng, nghe nói mâu thuẫn trong dân gian thường được hoá giải trước khi đến quan phủ. Đây là điều hoàn toàn không thấy ở nước Ngụy!”

Huệ Văn Công lại cười: “Tất cả những điều này đều nhờ tân pháp của tiên quân. Người Tần thiếu giáo hoá, không nhớ được lễ nghĩa, chỉ nhớ được luật pháp. Theo pháp của tiên quân, kẻ nào ăn cắp, dùng tay trái thì chặt tay trái, dùng tay phải thì chặt tay phải.”

Công Tôn Diễn đáp: “Đây cũng là điều khiến vi thần lo lắng!”

“Ồ?” Huệ Văn Công ngạc nhiên. “Cớ sao ái khanh lại lo lắng?”

“Pháp lệnh quá hà khắc, lúc mới thi hành thì còn được, nhưng lâu ngày không đổi, sẽ hại đến dân. Nếu dân bị tổn thương đến lông da, vẫn chưa đáng ngại, nhưng nếu tổn thương tới gốc rễ, thì không thể đi xa.”

Huệ Văn Công ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi ngẩng lên hỏi: “Theo ý ái khanh, lẽ nào pháp của Thương Quân có điểm không thích hợp?”

“Đúng thế!” Công Tôn Diễn đáp. “Ví dụ như điều vừa nãy, kẻ nào ăn cắp, dùng tay trái thì chặt tay trái, dùng tay phải thì chặt tay phải, cũng đã có điểm mơ hồ. Nếu như lấy của cải của người khác vì nghĩa, thì không nên chặt. Hơn nữa, cho dù là lấy một cách bất nghĩa, nhưng trộm bao nhiêu thì chặt tay, trộm bao nhiêu thì không chặt tay, cũng nên phân biệt rõ ràng. Lại ví dụ như vấn đề liên đới, một người phạm tội, chưa nói liên lụy đến cả nhà, mà còn liên lụy đến cửu tộc, liên lụy đến xóm giềng, điều này có hơi thái quá. Còn như cướp bóc, cũng cần phải phân rõ mức độ, sau đó mới phán quyết kẻ đó phải trừng phạt thế nào. Trọng nông khinh thương, xem ra cũng không ổn. Khích lệ trồng trọt đương nhiên quan trọng, nhưng nếu như không có buôn bán, hàng hoá không thể lưu thông, dân gian cũng không thể trao đổi những thứ thừa thiếu, nhà nước cũng không thu được khoản thuế tương ứng.”

Huệ Văn Công khẽ chau mày, ngẫm nghĩ một lúc rồi chậm rãi nói: “Ái khanh nói rất đúng! Nhưng trước lúc tiên quân băng hà, quả nhân từng thề với tiên quân sẽ bảo vệ tân pháp. Nay xương cốt tiên quân còn chưa kịp lạnh, quả nhân lại thay đổi tân pháp, xem ra không ổn.”

Công Tôn Diễn sững lại, rồi đứng dậy bước ra, quỳ xuống đất, khấu lạy mà nói: “Vi thần mạo phạm tiên quân, tội không thể dung thứ!”

Huệ Văn Công xua tay nói: “Không biết không có tội, ái khanh mau bình thân!”

Công Tôn Diễn lại bái lạy: “Vi thần đa tạ ơn xá tội của chúa thượng!”

Huệ Văn Công nhìn Công Tôn Diễn quay trở lại chỗ ngồi, mỉm cười nói: “Nghe nói ái khanh đã viết ‘Hưng Ngụy thập sách’, sau đó lại tự tay đốt đi, có chuyện này chăng?”

“Đều là những chuyện đã qua, không đáng nhắc tới!”

Huệ Văn Công khẽ thở dài: “Than ôi, sách quý như vậy mà lại bị huỷ hoại, quả nhân thấy thực đáng tiếc!”

“Chúa thượng bất tất phải nuối tiếc. Những gì vi thần viết trong sách, đều là việc của nước Ngụy, không hợp với tình hình nước Tần.”

“Ái khanh nhầm rồi!” Huệ Văn Công cười nói. “Tần Ngụy là hai nước láng giềng, quả nhân nếu không biết Ngụy, há chẳng phải sẽ thành kẻ mù loà?”

Công Tôn Diễn cũng cười: “Nghe chúa thượng nói chuyện, quả là sảng khoái!”

“Quả nhân nghe nói tiền tướng quốc Bạch Khuê rất giỏi trị nước, ái khanh đã theo Bạch Khuê nhiều năm, chắc chắn cũng quen thuộc những phương lược này. Mặc dù nói tân pháp của tiên quân không thể thay đổi, nhưng nếu ái khanh có sách lược trị quốc, chỉ cần lợi nước lợi dân, quả nhân sẽ đứng ra làm chủ.”

“Nếu là vậy, thì vi thần có một ý.”

“Ái khanh cứ nói!”

“Tần có được Hà Tây và Thương Ư, đất đai mở rộng hơn nghìn dặm. Mặc dù tân pháp khuyến khích trồng trọt, nhưng chỉ dựa vào số dân vốn có của nước Tần, ắt là lực bất tòng tâm. Vi thần cho rằng, chúa thượng có thế bố cáo với thiên hạ, phàm là những người có chí sang Tần khai khẩn đất đai, có thể miễn cho mười năm tiền thuế. Dân chúng Tam Tấn nhiều kẻ không chịu nổi thuế nặng, nếu biết tin này, chắc chắn sẽ dắt díu cả nhà sang Tần khai hoang…”

Công Tôn Diễn chưa nói dứt câu, Huệ Văn Công đã hào hứng đập tay xuống bàn, buột miệng khen ngợi: “Hay lắm! Đất là thứ chết, dân mới là thứ sống. Thiên hạ ở dân chứ không ở đất, có đất mà không có dân cũng chẳng khác nào không có đất; có dân mà không có đất sẽ chiếm được đất!”

“Chúa thượng thánh minh!” Công Tôn Diễn tiếp lời. “Nếu làm như vậy, đất hoang của Tần sẽ được khai khẩn, ruộng tốt của Tam Tấn sẽ bị bỏ hoang, cứ thế một tăng một giảm, thắng bại đã rõ ràng!”

“Phải! Phải! Phải!” Huệ Văn Công liên tiếp gật đầu. “Kế này của ái khanh chính là kế rút củi dưới nồi, tuyệt diệu!” Rồi quay sang Sư Lý Tật. “Sư Lý ái khanh hãy dựa theo đó để thảo chiếu thư, quả nhân đóng triện, bố cáo khắp toàn dân thiên hạ. Ái khanh hãy viết, phàm là dân trong liệt quốc đến Tần khai hoang, quả nhân không phân biệt quý tiện, nhất loạt đối đãi như con dân nước Tần. Nếu đến Tần khai hoang được hai mươi mẫu ruộng, sẽ miễn thuế khoá lao dịch mười năm. Nếu vượt quá hai mươi mẫu, cứ tăng thêm mười mẫu lại miễn thuế một năm. Vượt quá một trăm mẫu, ghi công tương đương với chém ba đầu địch, tặng quan một cấp. Vượt quá hai trăm mẫu, ghi công tương đương với chém năm đầu địch, tặng quan hai cấp. Còn nữa, đối với dân nghèo hai bàn tay trắng, chỉ cần thỉnh cầu, quả nhân sẽ cho mượn lương thực, công cụ, sau ba năm có thu hoạch sẽ trả lại số đã vay, quả nhân tuyệt không tính lãi.”

Sư Lý Tật vâng lệnh: “Vi thần tuân chỉ!”

Công Tôn Diễn hết sức kinh ngạc. Công Tôn Diễn chẳng qua chỉ đưa ra một ý, còn về phương cách cụ thể ra sao, vẫn chưa nghĩ ra. Vậy mà chỉ trong chốc lát, Huệ Văn Công đã quyết định xong xuôi, lại thấu đáo chu toàn đến vậy, chẳng khác nào đã dự liệu sẵn từ trước, quả thực khiến Công Tôn Diễn không khỏi bội phục.

Công Tôn Diễn đang sững sờ, tiếng của Huệ Văn Công lại vang lên: “Đây là việc lớn, lại là quốc sách, sẽ do hai vị ái khanh cùng thực hiện!”

Công Tôn Diễn, Sư Lý Tật vòng tay nói: “Vi thần tuân chi!”

Huệ Văn Công đổi sang chuyện khác: “Công Tôn ái khanh, hôm nay quả nhân đến phủ của khanh, không phải vì việc này.”

“Là việc Hà Tây chăng?” Công Tôn Diễn thoáng suy nghĩ, rồi hạ giọng hỏi.

“Không hoàn toàn như vậy!” Lời Huệ Văn Công thấp thoáng lo âu. “Nhưng việc ở Hà Tây quả thực nghiêm trọng. Quả nhân đã tính sơ qua, chỉ riêng đám quyền quý nước Ngụy ở đấy đã có vài trăm hộ, mỗi hộ cũng hơn chục nhân khẩu, nếu tính cả nô bộc, e rằng tổng số không ít hơn mười vạn. Hà Tây để người Ngụy cai trị suốt sáu mươi năm, dân chúng đã quen với chế độ Ngụy, đột nhiên bắt họ đổi theo Tần pháp, quả thực rất khó khăn. Ái khanh thông hiểu Hà Tây, có diệu kế nào chăng?”

“Vi thần nghe nói tiên quân biến pháp chia làm hai bước, bước thứ nhất thực hiện được vài năm, sau đó mới chuyển sang bước thứ hai…”

Huệ Văn Công hai mắt sáng bừng: “Ý ái khanh là, việc chuyển đổi chế độ ở Hà Tây cũng chia thành hai bước?”

“Vi thần cho rằng, đối với dân chúng Hà Tây, không thể bức ép. Trước tiên có thể dùng phương pháp quan hoài vỗ yên, để cho họ có con đường sống, thấm thía được lợi ích khi làm con dân nước Tần, sau đó mới áp dụng Tần pháp. Đối với đám quyền quý nước Ngụy, lại càng phải chú ý vỗ yên. Những người này phần lớn có học hành hiểu biết, đa tài đa nghệ, là tinh anh trong dân chúng, nếu tận diệt họ, sẽ có hại cho nước cho dân. Hơn nữa, nếu ngày sau lại chiếm thêm được đất Ngụy, người Ngụy vì không có đường lui, chắc chắn sẽ trên dưới một lòng, thề chết chống cự.”

Huệ Văn Công trầm tư một lúc, rồi khẽ gật đầu: “Hãy làm theo lời ái khanh! Bây giờ quả nhân sẽ ban chỉ, phàm là quyền quý nước Ngụy, chỉ cần phục tùng Tần pháp, nguyện làm dân ngoan của quả nhân, quả nhân sẽ trả lại một nửa tài sản vốn có. Còn về tên Ngô Thanh cầm đầu nổi loạn, nghe nói ái khanh và hắn có quen biết, phiền ái khanh hãy viết một bức thư chiêu hàng Ngô Thanh. Nếu Ngô Thanh chịu hàng, quả nhân không những không xử tội, mà còn trả lại cho hắn một nửa gia sản. Nếu đồng ý làm việc cho quả nhân, quả nhân có thể theo tài mà dùng, sắp xếp cho hắn một chức quan, ái khanh thấy thế nào?”

Công Tôn Diễn quỳ xuống bái lạy: “Vi thần thay mặt Ngô Thanh và toàn bộ thần dân Hà Tây, đa tạ long ân của chúa thượng!”

Huệ Văn Công dìu Công Tôn Diễn đứng dậy, nói: “Ái khanh mau bình thân. Muốn đa tạ, thì quả nhân phải đa tạ khanh mới phải. Bất kể là người Ngụy, người Tần, chỉ cần sống ở Hà Tây, đều là con dân của quả nhân, quả nhân tuyệt đối không thể để gà cùng một mẹ đá nhau!”

Công Tôn Diễn thực tâm khâm phục: “Nước Tần có chúa thượng, đúng là điều may mắn của người Tần!”

Huệ Văn Công cười nói: “Quả nhân có ái khanh, cũng chính là điều may mắn của quả nhân! Mà này, Công Tôn ái khanh, lần này quả nhân đến, còn có một chuyện nữa muốn thỉnh giáo ái khanh.”

“Vi thần xin nghe!”

“Khanh đã từng gặp Huệ Thi chưa?”

Công Tôn Diễn lắc đầu: “Vi thần có nghe nói về người này, chỉ là chưa có duyên gặp mặt.”

“Ái khanh nghe nói những gì về ông ta?”

“Người này rất giỏi ăn nói, khi ở Tắc Hạ đã cùng Công Tôn Long đấu khẩu hai ngày hai đêm, vô số người đến nghe. Về sau, nghe nói ông ta treo ‘Quan vật thập sự’ trên phố An Ấp, vi thần đang định đến thỉnh giáo thì ông ta đã được thái tử mời về cung.”

“Hôm nay xem ra người này không chỉ có tài ăn nói, mà còn là một bậc đại tài!”

“Đại tài gì đâu?” Sư Lý Tật phì cười. “Ngụy Vương dùng ông ta để trị quốc, chỉ e rằng càng ngày càng loạn.”

Huệ Văn Công chau mày, liếc xéo Sư Lý Tật, chậm rãi nói: “Sự việc không thể chỉ nhìn bề ngoài. Huệ Thi làm tướng quốc, quyết định việc lớn đầu tiên chính là dời đô, hành động này thực không phải tầm thường!”

Sư Lý Tật nói: “Ngụy Vương dời đô, rõ ràng là sợ chúng ta đánh úp!”

Huệ Văn Công đi tới trước bản đồ, đưa tay chỉ mà nói: “Các khanh hãy nhìn xem, đất đai nước Ngụy được chia thành hai phần, một phần ở Trung Nguyên, lấy Đại Lương làm trung tâm; một phần ở Hà Đông, lấy An Ấp làm trung tâm, ở giữa bị nước Hàn cắt đứt ngang lưng. Trung Nguyên đất tốt ngàn dặm, nhân khẩu đông đúc, nông thương phát đạt, còn Hà Đông lại nhiều đồi núi, không có đất xoay sở. Ngụy dời đô về phía đông, một là có thể tăng cường quốc lực, hai là có thể tránh được mối đe dọa từ ta, ba là có thể tranh giành Trung Nguyên với liệt quốc. Cổ nhân có câu, được Trung Nguyên sẽ được thiên hạ, nước Ngụy tránh thực đánh hư, muốn chiếm Trung Nguyên, nhìn về lâu dài, thực không phải một nước cờ tồi.”

Công Tôn Diễn vô cùng thán phục, nói: “Chúa thượng tầm nhìn sâu xa, vi thần bái phục.”

“Tuy nhiên,” Huệ Văn Công nói tiếp, “Nếu Ngụy dời đô về phía đông, thì vùng Hà Tây tự nhiên lại thành ra roi dài khó với, đây sẽ là cơ hội của quả nhân. Hai vị ái khanh hãy nói xem, quả nhân phải nắm bắt cơ hội này ra sao?”

Sư Lý Tật tiếp lời: “Vi thần cho rằng, ta có thể nhân cơ hội này thu phục Âm Tấn!”

“Thu phục Âm Tấn?” Huệ Văn Công gật gù. “Phải, Âm Tấn nhất định phải thu hồi, chỉ có điều… thu hồi bằng cách nào, hai khanh có cao kiến gì chăng?”

“Vi thần cho rằng,” Công Tôn Diễn lên tiếng, “Âm Tấn không quan trọng, quan trọng là mở đường đi về phía đông!” Rồi chỉ tay vào bản đồ. “Chúa thượng hãy nhìn xem, Tần nằm lệch về phía Quan Trung, chỉ có hai con đường tiến về phía đông, một là qua ải Lâm Tấn, hai là qua ải Hàm Cốc. Qua ải Lâm Tấn phải vượt sông Hà Thủy, mặc dù có thể bắc cầu, nhưng cầu là thứ dễ bị phá huỷ. Hơn nữa, đại quân vượt qua sông lớn, trước nay vẫn là điều đại kỵ trong binh pháp, một là dễ bị đánh úp giữa sông, hai là sau khi qua sông, buộc phải dựa lưng vào nước mà đánh. Đường Hàm Cốc không phải qua sông, nếu ta chiếm được Hàm Cốc, Hào Quan, có thể thẳng tiến đến Lạc Dương, chế ngự Chu thất, đồng thời cắt đứt con đường Vũ Toại của nước Hàn, tiến có thể thẳng đến Trung Nguyên, lui có thể bảo vệ Quan Trung.”

“Không giấu ái khanh,” Huệ Văn Công tiếp lời, “quả nhân cũng đang băn khoăn về Hàm Cốc. Nếu có được Hàm Cốc, nam có Vũ Quan, đông có hai vùng hiểm địa là ải Hàm Cốc và sông Hà Thủy, Tần sẽ trở thành nước bốn bề phong kín, quả nhân có thể gối cao đầu mà ngủ. Chỉ có điều…” dừng lại một lát rồi nói tiếp, “hai ải Hàm Cốc, Âm Tấn đều do mãnh tướng nước Ngụy là Trương Mãnh trấn thủ. Từ trận chiến Hà Tây, có thể thấy người này là một tướng tài, không dễ đối phó. Âm Tấn, Hàm Cốc đều là hiểm địa, chưa nói đến dễ phòng khó đánh, lại dễ hô ứng lẫn nhau, nếu muốn chiếm lấy, quả thực khó khăn. Công Tôn ái khanh có kế sách nào chăng?”

“Vi thần có một kế, có thể lấy được Hàm Cốc, Âm Tấn.”

“Ái khanh mau nói!”

Công Tôn Diễn dõng dạc: “Tiếp tục lợi dụng việc Ngụy Hầu xưng vương! Ngụy Hầu xưng vương, bất mãn nhất là hai nước Hàn, Triệu. Hai nước này vốn sợ Ngụy, nhưng sau trận chiến Hà Tây, uy phong của võ binh Đại Ngụy đã không còn nữa, tranh chấp danh phận lại dần hiển lộ. Vi thần cho rằng, chúa thượng có thể phái sứ thần hiểu dụ Chu thiên tử, lấy danh nghĩa Chu thiên tử để chiếu lệnh cho Ngụy Vương từ bỏ vương hiệu. Ngụy Vương chắc chắn sẽ không chịu, lúc này, chúa thượng có thể lấy danh nghĩa phạt nghịch, liên kết với hai nước Triệu, Hàn, chinh phạt nước Ngụy. Nếu ba nước cùng khởi binh, Ngụy Vương ắt sẽ ứng phó rối bời, không còn rảnh rỗi để nhìn đến Hàm Cốc nữa. Còn về tướng Trương Mãnh, vi thần cũng đã có cách ứng phó.”

Huệ Văn Công gật đầu: “Ái khanh nói rất đúng!” Ngẫm nghĩ một lúc, lại nói. “Nhưng hai nước Triệu, Ngụy không chỉ tranh chấp về danh phận. Việc này coi như đã quyết định xong, sẽ do Công Tôn ái khanh trù tính sách lược, Sư Lý ái khanh sắp xếp việc triều kiến Chu thất, đi sứ hai nước Hàn, Triệu, cùng hẹn ước phạt Ngụy. Có thể hứa với Hàn, Triệu, khi phạt Ngụy, những vùng mà người Hàn chiếm được sẽ quy về Hàn, những vùng mà người Triệu chiếm được sẽ quy về Triệu!”

Ngày hôm sau, Huệ Văn Công liên tiếp ban mấy đạo chiếu thư, một là khuyến khích dân chúng đến Tần khai hoang đất đai, hai là vỗ yên quý tộc ở Hà Tây, trả lại một nửa tài sản cho họ. Công Tôn Diễn viết thư cho Ngô Thanh, chỉ rõ đường lui cho hắn. Ngô Thanh thấy có đường sống, cũng hạ vũ khí, chấp nhận chiêu hàng. Để tỏ thành ý, Ngô Thanh đã để thuộc hạ trói mình lại, đích thân giải đến Hàm Dương chịu tội với Huệ Văn Công.

Huệ Văn Công nhận được tin báo, rất đỗi vui mừng, ra tận ngoài điện nghênh đón, tự tay cởi trói cho Ngô Thanh, dắt tay hắn lên điện, xá tội ngay tại chỗ, ban lệnh lựa chọn những người tài giỏi trong số thuộc hạ của Ngô Thanh cho làm lính Tần, tấn phong cho hắn làm quan đại phu kiêm thiên phu trưởng, giữ chức thú uý Thiếu Lương.

Đồng thời với đó, ba lộ sứ thần cũng nhanh chóng lên đường, chia nhau tiến về Lạc Dương, Hàm Đan, Tân Trịnh.

Đúng lúc nước Tần rầm rộ đổi mới, khua chiêng gõ trống chuẩn bị phạt Ngụy, mưu chiếm Hàm Cốc, Âm Tấn, thì Ngụy Huệ Vương lại đang đau đầu vì một việc hệ trọng.

Việc hệ trọng này chính là tiền! Mấy năm gần đây, nước Ngụy đại sự liên tiếp, đầu tiên là đại hội Mạnh Tân, sau đó là xây dựng vương cung, sau nữa là phạt Vệ, tiếp theo là trận chiến Hà Tây, vừa động can qua, lại hưng công xây dựng, việc nào cũng tiêu tốn tiền của vô số. Đặc biệt là trận chiến Hà Tây, không những khiến bảy nghìn lượng vàng mà lão tướng Bạch Khuê quyên góp bốc hơi sạch bách, mà còn thiệt hại tám chín phần ngân khố mà Ngụy Huệ Vương đã tích lũy trong nhiều năm. Lần này cả nước dời đô, Ngụy Huệ Vương lại càng chẳng khác gì kéo vạt lộ khuỷu.

Ngụy Huệ Vương vốn đã giao việc xây dựng vương cung mới cho tư đồ Chu Uy. Chu Uy vừa cai quản hình ngục, lại quản lý tiền bạc, vì vậy biết rõ còn lại được bao nhiêu tài vật. Trước đây Đại Lương vốn là biệt cung của Ngụy Hầu, đã xây dựng cung thất, tông miếu, chỉ có điều quy mô khá nhỏ. Sau khi cân nhắc, Chu Uy đưa ra một phương án, là mở rộng biệt cung vốn có, cải tạo thành vương cung.

Tuy nhiên, khi Chu Uy trình lên phương án này, Huệ Vương lại nổi trận lôi đình, đập bàn trách mắng: “Cái cung thành này của khanh còn không bằng cả cung của Vệ Công, sao có thể gọi là vương cung được? Khanh bảo công hầu liệt quốc sẽ nhìn quả nhân như thế nào đây? Chu Uy, khanh làm thế là có ý gì? Cố tình khiến quả nhân mất mặt ư?”

Chu Uy vẫn điềm tĩnh như không, chỉ dập đầu dưới đất, nghe Huệ Vương trách mắng xong mới lên tiếng: “Bệ hạ, không phải vi thần không muốn xây lớn, mà là quốc khố đã không còn lại bao nhiêu.”

Huệ Vương khẽ chau mày: “Không còn lại bao nhiêu? Không còn lại bao nhiêu là bao nhiêu?”

“Khởi bẩm bệ hạ, trong quốc khố chỉ còn hai nghìn lượng vàng, là vi thần để lại dự trù cho việc quân.”

Trong quốc khố chỉ còn lại hai nghìn lượng vàng, đối với Ngụy Huệ Vương, quả thật là không thể tưởng tượng. Ngày trước, khi Bạch Khuê còn sống, không những giỏi kinh thương, việc chi tiêu hàng ngày cũng tính toán đâu vào đấy, vàng tích luỹ trong ngân khố không bao giờ dưới vài vạn, tiền đồng lại càng không tính xuể. Bạch Khuê mới mất hai năm, quốc khố đã gần như trống rỗng, Huệ Vương âm thầm giật mình, nghĩ ngợi một thoáng rồi nói: “Xem ra, khanh không thể lo liệu được việc xây cung điện, hãy lo tìm vàng đi! Trần ái khanh!”

Trần Chẩn bước lên: “Có vi thần!”

“Lần trước đi sứ nước Tần, ái khanh vất vả lập đại công, thăng chức lên thượng khanh. Việc xây dựng cung điện sẽ do thượng khanh đốc thúc!”

Trần Chẩn quỳ xuống dập đầu: “Vi thần đa tạ long ân!”

Trần Chẩn không được leo lên chức tướng quốc như ý nguyện, đang thất vọng ủ ê, bỗng dưng được thăng lên chức thượng khanh, lại nhận được công việc béo bở này, cũng coi như được an ủi phần nào. Mười ngày sau đó, Trần Chẩn trình lên phương án xây cung điện mới, dựa theo quy cách Chu cung ở Lạc Dương để kiến thiết một vương cung ở Đại Lương, còn biệt cung hiện có được mở rộng thành Đông cung, cho thái tử ở.

Huệ Vương xem qua phương án, rất đỗi hài lòng, sau khi khen ngợi mấy câu, bèn ngẩng lên hỏi: “Trần ái khanh, xây dựng công trình này tốn bao nhiêu tiền?”

Trần Chẩn đáp: “Theo vi thần tính toán qua, xây xong toàn bộ sẽ hết khoảng ba vạn lượng vàng!”

“Ba vạn lượng?” Huệ Vương trợn mắt. “Quả nhân lấy đâu ra nhiều tiền đến thế?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Trần Chẩn mỉm cười nói, “điều này vi thần đã tính tới. Cung điện Đại Chu không phải xây xong trong một sớm một chiều, mà do mấy đời thiên tử xây dựng mà thành. Vi thần cho rằng, trước tiên bệ hạ có thể cho xây chính điện, hai thiên điện và hậu cung, về quy mô không kém hơn vương cung ở An Ấp. Tạm thời chỉ như vậy, sau này có tiền, sẽ từ từ xây tiếp.”

“Ừm, như vậy cũng được!” Huệ Vương suy nghĩ một hồi lâu, gật đầu nói. “Theo như ái khanh nói, xây trước những điện này cần bao nhiêu tiền?”

“Năm nghìn lượng vàng là đủ!”

“Năm nghìn lượng? Nghe Chu tư đồ nói, hiện giờ trong quốc khố chỉ còn hai nghìn lượng.”

“Chẳng phải vẫn còn một số tiền bố xu đồng lẻ hay sao? Gom lại cũng được ngót nghìn lượng!”

“Vẫn còn thiếu hai nghìn lượng nữa!”

“Vi thần có một ý này, có thể bù đắp được số tiền còn thiếu hụt.”

“Ái khanh mau nói!”

“Hiện giờ sưu thuế nước Ngụy là mười khấu một, đây là chế độ thuế từ thời tiên quân Văn Hầu, từ lâu đã không hợp với chế độ thuế hiện nay của liệt quốc.”

“Ồ?” Ngụy Huệ Vương trong lòng chấn động. “Ái khanh hãy nói về chế độ thuế của liệt quốc.”

“Nước Triệu là mười khấu một tám phần mười, nước Hàn là mười khấu một sáu phần mười, nước Sở là mười khấu một năm phần mười, nước Tề là mười khấu một bốn phần mười, nước Tần là mười khấu một ba phần mười.”

“Theo ý của ái khanh, quả nhân nên thu bao nhiêu thì thích hợp?”

“Bây giờ là thời khắc hệ trọng, vi thần cho rằng, có thể thực hiện chế độ thuế mười hai, tức mười khấu hai. Nếu bệ hạ thực thi chế độ này, trong một năm có thể tăng thêm ba nghìn lượng vàng.”

Ngụy Huệ Vương lại trầm ngâm suy nghĩ, hồi lâu mới nói: “Hãy làm theo lời ái khanh, truyền chỉ!”

Ngụy Huệ Vương không cần bàn bạc, trực tiếp ban chiếu thư chuyển đổi chế độ thu thuế từ mười khấu một thành mười khấu hai, ngay lập tức chấn động toàn nước Ngụy. Còn nữa, để xây dựng cung điện mới, Trần Chẩn đã phụng chỉ điều động cả vạn thợ mộc các loại và hơn hai mươi vạn dân đinh, công trình còn chưa hoàn thành, dân chúng đã oán than dậy đất.

Chu Uy lo lắng, lập tức đến phủ cầu kiến Huệ Thi. Huệ Thi nghe Chu Uy thuật lại chuyện thuế khoá, thì chậm rãi nói: “Theo ta được biết, quả thực chế độ thuế mười khấu một có hơi thấp một chút.”

“Tướng quốc có điều không biết,” Chu Uy vội nói, “mặc dù nước Ngụy thực hiện chế độ thuế mười khấu một, nhưng ngoài ra còn có gần mười loại thuế khoá khác như thuế chiến tranh, thuế chè, thuế đay sợi, cộng dồn lại đã vượt quá mười khấu hai rồi. Đây mới chỉ là thuế chính thức mà chúa thượng trưng thu, hay còn gọi là quốc thuế, nhưng thực ra khi thu thuế, quan lại ở các địa phương đều tăng thêm khoản phụ thu, theo hạ quan được biết, phần thu thêm cũng không ít hơn một phần mười, lại cộng thêm tiền địa tô của địa chủ, nên nông nô cày ruộng sẽ chẳng còn lại được bao nhiêu. Nay lại tăng thêm thuế, bảo họ phải sống thế nào đây? Hơn nữa, hiện giờ đã sắp đến vụ thu hoạch mùa thu, nhưng bệ hạ lại bắt dân đi phu dịch, chẳng phải khó khăn chồng lên khó khăn ư?”

Nghe Chu Uy nói vậy, Huệ Thi mới biết sự việc nghiêm trọng, bèn thở dài mà nói: “Than ôi, tại hạ vốn nghĩ kế lâu dài nên mới đề xuất dời đô, thực không ngờ… không ngờ lại thành ra hại dân đến vậy!”

“Tướng quốc đại nhân, nếu cứ thế này, nước Ngụy sẽ nguy mất, chúng ta phải nhanh chóng nghĩ cách ứng phó!”

Huệ Thi hai mắt khép hờ, dường như đang chìm trong suy nghĩ.

“Tướng quốc đại nhân, chúng ta hãy cùng đến gặp bệ hạ!” Chu Uy không muốn chần chừ, lập tức kéo Huệ Thi phăm phăm đi tới vương cung.

Hai người đến ngự thư phòng khấu kiến Huệ Vương, chưa kịp mở miệng đã bị Huệ Vương chặn họng: “Hai vị ái khanh phải chăng đến vì chuyện thu thuế?”

Chu Uy đưa mắt nhìn Huệ Thi, dập đầu mà nói: “Bệ hạ…”

Huệ Vương xua tay ngăn lại: “Chu ái khanh, khanh muốn nói gì, quả nhân đã biết cả. Nhưng hai người đến cũng thật đúng lúc!” Rồi chỉ vào hai bó sách tre ở bên cạnh. “Hai khanh hãy nhìn xem đây là gì?”

Tỳ nhân bước lại, mang hai bó sách đến trước mặt Chu Uy. Chu Uy mở to mắt nhìn, chính là năm cuốn đầu tiên trong “Hưng Ngụy thập sách” của Công Tôn Diễn.

“Than ôi!” Huệ Vương khẽ thở dài. “Công Tôn Diễn tuy là người vô sỉ, trước vì sắc mà giết người, sau lại phản bội quả nhân, nhưng xét cho cùng, những thứ hắn viết ra vẫn rất đáng đọc. Không giấu ái khanh, tối qua quả nhân lại đọc kỹ một lượt, thấy trong đó có rất nhiều điều liên quan đến nông, thương, đúng là cái gốc chấn hưng đất nước. Khanh và Huệ ái khanh hãy mang về nghiên cứu, lựa chọn lấy những điều hữu dụng, làm thành một bản điều trần. Cung thất phải xây, cái gốc hưng quốc cũng không thể bỏ, Huệ ái khanh, khanh thấy có đúng không?”

Huệ Thi khấu đầu: “Bệ hạ thánh minh!”

“Huệ ái khanh, nếu không còn chuyện gì khác, hãy cùng đánh một ván cờ với quả nhân, được chăng?”

Huệ Thi hiểu Huệ Vương có ý đuổi khách, bèn vòng tay nói: “Hồi bẩm bệ hạ, vi thần còn phải về phụng chỉ đọc sách, ngày sau lại đến xin bệ hạ chỉ giáo.”

“Được! Được!” Huệ Vương cười nói. “Huệ ái khanh quả là người đã nói là làm, tác phong nhanh nhẹn! Đã như vậy thì quả nhân cũng không giữ hai vị ái khanh nữa!”

Huệ Thi, Chu Uy cùng cáo từ Huệ Vương, mỗi người xách một bó thẻ tre ra khỏi ngự thư phòng.

Ra khỏi cửa cung, Chu Uy trách móc: “Tướng quốc đại nhân, lúc nãy tại sao ngài không nói gì?”

Huệ Thi thở dài: “Than ôi, ván đã đóng thuyền, còn nói gì được nữa? Hai cuốn sách này, ông hãy mang về hết đi, rồi làm một bản điều trần theo lời bệ hạ, chúng ta cùng dâng tấu. Bây giờ chỉ có thể mất bò mới lo rào chuồng, rào được bao nhiêu thì rào thôi!”

“Hạ quan tuân lệnh!”

Dưới sư đôn đốc của Trần Chẩn, sau hơn nửa năm thi công gấp rút, công trình chính điện và thiên điện của vương cung đã cơ bản hoàn thành, tiếp theo là trang hoàng và xây hậu hoa viên, hậu cung… Ngụy Huệ Vương không yên tâm, vào mùa hè còn đích thân tới kiểm tra. Nhìn thấy cung điện đã gần như hoàn thiện, Ngụy Huệ Vương rất hài lòng, yêu cầu Trần Chẩn đẩy nhanh tốc độ, cố gắng sau mùa thu sẽ dời đô. Trần Chẩn lại đòi thêm năm trăm lượng vàng, Ngụy Huệ Vương lệnh cho tỳ nhân rút số tiền này từ khoản kinh phí dành cho hậu cung.

Ba tháng sau, vào ngày Trung thu, Trần Chẩn trở về An Ấp, bẩm tấu với Ngụy Huệ Vương việc xây cung điện đã hoàn thành. Ngụy Huệ Vương cả mừng, lập tức dẫn theo các trọng thần như thái tử Thân, công tử Ngang, Huệ Thi, Chu Uy, Trần Chẩn đến Thái miếu, một là báo với tổ tiên, hai là nhờ vu chúc gieo quẻ, lựa chọn ngày tốt dời đô.

Lễ bái tiên tổ xong, đại vu chúc bắt đầu nghi thức, đang định gieo quẻ thì ngự sử chấp sự đang trực trong cung lao ngựa đến Thái miếu, trình lên Ngụy Huệ Vương một bản hịch: “Bệ hạ, Tần Công truyền hịch!”

Ngụy Huệ Vương thoáng kinh ngạc: “Hịch? Tần Công truyền hịch gì?”

Tỳ nhân bước lên, nhận lấy bản hịch, trình cho Huệ Vương. Huệ Vương đọc kỹ, sắc mặt chuyển từ ngạc nhiên sang tức giận, sau đó phẫn nộ đến tím tái, đập tấm hịch đánh “chát” xuống mặt bàn. Tấm hịch văng khỏi mặt bàn rơi xuống, vừa hay rơi ngay trước mặt Huệ Thi. Quần thần không biết đã xảy ra chuyện gì, tất cả đều kinh ngạc, ngơ ngác nhìn nhau.

Ngụy Huệ Vương giận dữ nói: “Chư vị ái khanh, các khanh cũng xem đi!”

Huệ Thi chậm rãi nhặt tấm hịch lên, thấy trên hịch có viết: “Than ôi Ngụy Anh, thân là thần tử nước Chu, lừa trời dối đất, tự ý xưng vương, đã phạm phải đại tội trong thiên hạ. Thần tử nước Chu Doanh Tứ phụng chiếu mệnh của thiên tử Đại Chu, khuyên Ngụy Hầu hãy quay đầu hối cải, từ bỏ vương hiệu, mang roi tới Chu thất chịu tội. Nếu chấp mê bất ngộ, khăng khăng ý mình, Doanh Tứ đành phải thuận theo mệnh trời, dẫn đầu thần dân thiên hạ thảo nghịch dẹp loạn, sửa chính đạo trời! Tần Công Doanh Tứ.”

Huệ Thi đọc xong, đưa cho thái tử Thân, thái tử Thân đưa cho Chu Uy, Chu Uy đưa cho công tử Ngang, công tử Ngang đưa cho Trần Chẩn. Thấy chư thần đã đều đọc xong, Ngụy Huệ Vương cười nhạt một tiếng: “Hừm, một tên tiểu tử miệng còn hơi sữa, đứng còn chưa vững mà dám nói năng như vậy với quả nhân!”

Công tử Ngang đứng phắt dậy, máu nóng sôi trào, nói lớn: “Phụ vương, nhi thần xin được chinh phạt nước Tần, thề bắt lấy thằng giặc con này để báo mối thù Hà Tây!”

Ngụy Huệ Vương sầm mặt, lừ mắt nhìn công tử Ngang, rồi quay đi chỗ khác.

Công tử Ngang cúi gằm mặt, đang không biết phải xử trí thế nào thì Trần Chẩn lên tiếng: “Bệ hạ, vi thần có tấu!”

Ngụy Huệ Vương quay đầu lại, nhìn Trần Chẩn: “Ái khanh cứ nói!”

“Theo như vi thần thấy, lời trong hịch không giống lời của Tần Công!”

“Ái khanh hãy nói rõ!”

“Huệ Văn Công kế vị chưa đầy hai năm, địa vị ở Tần vẫn chưa chắc chắn, lại không có các lão thần như Công Tôn Ưởng, Cam Long, Doanh Kiền phò tá, chắc chắn không dám công khai khiêu chiến với bệ hạ. Lần trước sứ thần Sư Lý Tật đến cầu hoà, chính là bằng chứng. Còn về bài hịch này, nghe giọng điệu rất giống của nghịch tặc Công Tôn Diễn.”

“Nói tiếp đi!”

“Vi thần cho rằng, sau khi Công Tôn Diễn phạm phải trọng tội diệt môn, sợ tội mà chạy sang Tần, được Tần Công phong làm đại lương tạo, tiếp quản chức vị của Công Tôn Ưởng. Công Tôn Diễn chưa hề có chút công lao, tự nhiên lại được phong chức cao, đương nhiên không thể khiến quần thần nước Tần khâm phục. Công Tôn Diễn trong lòng hiểu rõ, vì vậy mới nôn nóng kiến công lập nghiệp, một là để báo ơn tri ngộ của Tần Công, hai là mượn đó để trấn áp quần thần. Công Tôn Diễn đi theo Bạch Khuê nhiều năm, biết rõ nước ta, tự nhiên sẽ hiến kế sách này. Tần Công tuổi trẻ khí thịnh, tuy không có tài như Hiếu Công mà lại muốn gây dựng được sự nghiệp như Hiếu Công, tự nhiên sẽ hợp ý với Công Tôn Diễn.”

“Ái khanh có cách đối phó chăng?”

“Vi thần cho rằng, nước ta tây có Hà Thủy hiểm trở, đông có Hàm Cốc hùng quan, với thực lực hiện nay của người Tần, sẽ không làm gì nổi ta. Bây giờ bệ hạ cứ coi như không nghe thấy gì, mặc cho người Tần lải nhải. Đợi sau khi bệ hạ dời đô về Đại Lương, quốc lực được củng cố, lúc đó lý luận với Tần Công cũng chưa muộn!”

Ngụy Huệ Vương trầm ngâm hồi lâu, rồi quay sang Huệ Thi: “Những lời Trần ái khanh vừa nói, Huệ ái khanh thấy thế nào?”

Huệ Thi bèn tâu: “Khởi bẩm bệ hạ, lời thượng khanh có điều không đúng!”

Đây là lần đầu tiên Huệ Thi công khai phản đối của Trần Chẩn. Trần Chẩn lập tức trừng mắt nhìn Huệ Thi.

“Có gì không đúng?”

“Lần này Tần Công muốn phạt ta, không thể ngồi yên mà nhìn được. Theo vi thần được biết, Tần Công đã phái sứ thần tới kết giao với hai nước Triệu, Hàn. Mặc dù ta có Hà Thuỷ hiểm yếu, Hào, Hàm kiên cố, nhưng giả sử ba nước Tần, Triệu, Hàn cùng lúc hưng binh, với thực lực hiện nay của ta, thực khó lòng đối phó.”

Huệ Vương giật mình: “Người Tần kết giao với Triệu, Hàn ư?”

Huệ Thi gật đầu: “Đúng vậy, hai nước Triệu, Hàn đã đồng ý kết minh với người Tần.”

“Huệ ái khanh,” Huệ Vương có vẻ trách móc, “khanh đã biết chuyện này, lẽ ra phải bẩm báo sớm hơn mới đúng!”

“Vi thần biết tội! Vi thần cũng vừa mới biết, đang định vào lúc thượng triều sẽ bẩm báo lên bệ hạ, không ngờ lại được bệ hạ triệu đến đây.”

Huệ Vương mấp máy môi mấy cái, không biết phải nói gì thêm, đành phải nhìn khắp lượt quần thần rồi nói: “Chư vị ái khanh, các khanh nói xem, người Tần rêu rao đánh ta, là muốn điều gì?”

Chu Uy cầm bản hịch lên, chậm rãi nói: “Khởi bẩm bệ hạ, từ bản hịch này có thể thấy, là Tần Công muốn ép bệ hạ từ bỏ tôn hiệu, xưng thần với Chu.”

Huệ Thi cũng nói: “Ba nước muốn đánh ta, đều nói là thảo phạt phản nghịch. Thảo phạt phản nghịch, thực chất chính là bất mãn đối với việc bệ hạ xưng vương.”

Ngụy Huệ Vương hừ mũi một tiếng: “Hừm, hài lòng cũng được, bất mãn cũng chẳng sao, quả nhân đã xưng vương, thì sẽ không bao giờ hối tiếc. Các vị ái khanh có cách gì ứng phó chăng?”

Công tử Ngang bẩm tấu: “Khởi bẩm phụ vương, nhi thần cho rằng, nếu Công Tôn Diễn muốn đánh ta, chắc chắn sẽ muốn chiếm Âm Tấn. Chủ tướng Tây Hà là Trương Mãnh có quan hệ thân thiết với Công Tôn Diễn, không nên cho trấn thủ ở đó. Phụ vương hãy triệu Trương Mãnh về, cử người khác đến giữ ải.”

Ngụy Huệ Vương gật đầu nói: “Lời của Ngang Nhi rất hữu lý, nên điều Trương Mãnh tới Đại Lương, ứng phó với Hàn, Ngụy. Có điều nên để ai trấn thủ tuyến Tây Hà đây?”

“Nhi thần xin lĩnh mệnh!”

Ngụy Huệ Vương lắc đầu nói: “Con hãy ở bên cạnh quả nhân! Huệ ái khanh, về tuyến Tây Hà, khanh xem nên giao cho ai trấn thủ thì thích hợp?”

Huệ Thi không chút đắn đo: “Long tướng quân!”

“Phụ vương, tuyệt đối không được!” Công tử Ngang lập tức phản đối. “Nếu luận về mối tư giao với Công Tôn Diễn, Long Giả còn thân thiết hơn cả Trương Mãnh.”

Ngụy Huệ Vương chau mày suy nghĩ: “Việc phòng thủ tuyến Tây Hà, đợi quả nhân suy nghĩ kỹ rồi sẽ định đoạt!” Lại quay sang Huệ Thi. “Hiện giờ ba nước muốn đánh ta, ái khanh có cách ứng phó chăng?”

“Vi thần có một cách, may ra có thể dập tắt cơn binh hoạ.”

“Ái khanh mau nói!”

Huệ Thi dõng dạc: “Mặc dù ba nước muốn đánh ta, nhưng rắp tâm thực sự chỉ có nước Tần. Bệ hạ hãy xem!” Nói rồi cầm lấy bút và một tấm da dê, bày trên mặt bàn, vạch bút mấy cái đã vẽ ra một tấm bản đồ hình thế, vừa vẽ vừa nói. “Nước Tần nằm ở giữa, tây có Nhung Địch, bắc có Nghĩa Cừ, tất cả đều là thuộc quốc của Tần. Tây nam là hai nước Ba, Thục, đều có núi non bao bọc; đông nam là nước Sở, người Tần đã chiếm được Vũ Quan, đoạt được Thương Ư, đã không còn mối lo ở phương nam. Hiện giờ, điều duy nhất mà Tần Công lo lắng, chính là bệ hạ. Nếu Tần Công muốn kê cao gối ngủ, hoặc có mưu đồ lớn, chắc chắn phải mở đường về phía đông. Người Tần chỉ có hai con đường đi về phía đông, một là đi qua ải Hàm Cốc, Hào Quan đến Lạc Dương, hai là đi qua ải Âm Tấn vượt sông Hà Thuỷ. Theo tình hình hiện nay, cả hai còn đường đều đang nằm trong tay bệ hạ. Vì vậy, vi thần cho rằng, kẻ địch lớn nhất của người Tần chẳng phải ai khác, mà chính là bệ hạ! Ngược lại hai nước Triệu, Hàn không những không có xung đột với Ngụy, mà lại cùng chung lợi ích, môi hở răng lạnh. Sở dĩ Triệu và Hàn cùng hùa về với Tần, chỉ có một lý do, đó là danh phận. Khi ba nước phân chia Tần, Ngụy, Triệu, Hàn cùng là chư hầu, ngày nay bệ hạ thân là thiên tử, mà hai nước Triệu, Hàn vẫn là chư hầu, họ làm sao có thể cam chịu? Sở dĩ trước đây Triệu, Hàn sợ ta, là vì Ngụy có võ binh hùng mạnh. Song Hà Tây thất thế, Triệu, Hàn đã không còn sợ ta nữa, nên cho rằng phải được ngang hàng với bệ hạ.”

Huệ Thi nhìn từ chỗ lớn, bắt tay từ chỗ nhỏ, lời lời hữu lý, khiến ai nấy đều thán phục. Ngay cả Trần Chẩn và công tử Ngang cũng không thể không phục.

“Ái khanh nói chí phải!” Ngụy Huệ Vương gật gù. “Theo ý của ái khanh, quả nhân nên đối phó thế nào?”

“Vi thần cho rằng, bệ hạ có ba sách lược. Thứ nhất là điều hùng binh trấn thủ tuyến Hàm Cốc, Âm Tấn, Tây Hà, phòng bị người Tần; thứ hai là củng cố quốc lực, tăng cường binh lực, chuẩn bị chiến đấu, chiêu mộ hiền tài; thứ ba là kết giao với Tề, Sở. Có Tề ở bên, Triệu không dám manh động. Có Sở ở bên, Hàn cũng không dám làm bừa. Hai nước này không động, người Tần sẽ không dám đánh ta.”

Ngụy Huệ Vương gật đầu nói: “Ái khanh nói hay lắm!”

Trần Chẩn phản bác: “Lời Huệ tướng quốc, câu nào nghe cũng có lý. Song trong ba sách lược, hai cái phía trước đều không phải chuyện khó khăn, song sách lược cuối cùng thì không thông.”

“Phải rồi!” Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn Huệ Thi. “Lời của Trần ái khanh rất đúng! Chưa nói đến nước Sở, chỉ riêng Điền Nhân Tề cũng là một kẻ khó gần, đã nhiều năm nay quả nhân không qua lại với ông ta.”

Huệ Thi vẫn như không nghe thấy: “Thực ra, nếu thực sự muốn kết liên minh, chỉ cần một nước Tề là đủ!” Sau đó cảm thấy chưa ổn, lại thêm một câu. “Còn về Tề Công khó gần, vi thần có một kế, có thể khiến ông ta chủ động kết minh với bệ hạ.”

“Ái khanh có kế gì?”

“Tôn Điền Công làm vương!”

Ngụy Huệ Vương kinh ngạc: “Ý khanh là, quả nhân và Điền Nhân Tề ngang hàng với nhau?”

“Bệ hạ,” Huệ Thi gật đầu nói, “hiện nay thời thế đổi khác, quan trọng ở thực lực, không ở danh phận. Xưng vương chẳng qua cũng chỉ là danh phận. Chu thất là vương, nhưng thiên hạ có nước nào thực sự coi Chu thất là vương? Liệt quốc tranh giành nhau cái danh hão này, vậy tại sao bệ hạ phải độc chiếm cái danh ấy làm gì? Nếu Tề Công cũng xưng vương, Triệu, Hàn sẽ không còn danh nghĩa xuất quân, nên chỉ có hai khả năng, hoặc tự mình xưng vương, hoặc đối địch với hai nước lớn là Ngụy, Tề. Nếu như các nước lớn trong thiên hạ đều xưng vương cả, bệ hạ sẽ không còn là mục tiêu công kích của liệt quốc. Lúc đó, thiên hạ giao tranh, chỉ có thể dựa vào thực lực, không còn luận theo đạo nghĩa nữa!”

Ngụy Huệ Vương trầm tư hồi lâu, rồi ánh mắt chuyển sang tỳ nhân: “Triệu Thái miếu lệnh!”

Tỳ nhân đi ra, một lát sau, Thái miếu lệnh đã tới, dập đầu bái lạy: “Vi thần khấu kiến bệ hạ!”

“Đại vu chúc đã định được ngày tốt hay chưa?”

“Khởi bẩm bệ hạ, đã định được rồi, là ngày chín tháng chín.”

“Ừm, ngày tốt!” Ngụy Huệ Vương gật đầu khen ngợi. “Ngày chín tháng chín Trùng dương, quả nhân thích khí thế này!” Rồi quay sang chư thần. “Chư vị ái khanh, tết Trùng dương dời đô, giờ hãy cắt đặt chuẩn bị. Huệ ái khanh…”

“Có vi thần!”

“Đi, đánh cờ cùng quả nhân!”

Quần thần hai người đi tới đình hóng mát trong hậu hoa viên, tỳ nhân chuẩn bị bàn cờ. Huệ Thi sửa áo ngồi ngay ngắn, vừa định chạm tay vào cờ, Huệ Vương lại nói: “Cảnh thu thật tuyệt! Huệ ái khanh, chúng ta hãy đi dạo quanh hồ trước, khanh thấy thế nào?”

Huệ Thi đứng dậy, đi theo Huệ Vương, hai người cùng dạo bước quanh hồ.

Ngụy Huệ Vương dừng bước, nhìn bóng mây in dưới đáy hồ, nói: “Những lời vừa rồi của ái khanh đã xua tan mây mù trong tâm trí quả nhân! Không giấu ái khanh, lúc đầu quả nhân nghe theo lời xúi bẩy của Công Tôn Ưởng, bất chấp Bạch Khuê phản đối, tự ý xưng vương, nay hối hận cũng không kịp nữa! Nhưng khanh cũng biết, nước đổ khó thu, một khi quả nhân đã ngồi lên vương vị, muốn xuống cũng chẳng được, đành phải đâm lao theo lao. Kế này của ái khanh thật kỳ diệu! Thật kỳ diệu!”

“Bệ hạ có lòng này, đúng là phúc của nước Ngụy!”

“Sách lược thứ hai mà ái khanh vừa nói, quả nhân nghe cũng thấy hợp ý. Nay có được Huệ Tử, coi như đã có được người mưu lược, thứ mà quả nhân còn thiếu, chính là nhân tài cầm quân. Người ta nói nghìn quân dễ có, một tướng khó cầu. Trận chiến Hà Tây là một bài học xương máu!”

Ngụy Huệ Vương thổ lộ những lời tận đáy lòng, khiến Huệ Thi bản tính trầm lặng cũng phải cảm động: “Bệ hạ…”

Ngụy Huệ Vương thở dài một tiếng: “Than ôi, không giấu ái khanh, hiện giờ quả nhân nào còn tâm trạng để đánh cờ? Lần này hẹn khanh đến, chính là để bàn bạc việc này. Ngang Nhi có đọc qua chút ít binh thư, nhưng bản tính ngông cuồng tự đại, không coi ai ra gì, vừa không dung người khác, lại không biết trị quân, đây là điều đại kỵ của người làm tướng. Sống trong thời chiến, nhưng trong triều lại chẳng có nhân tài trị quân, thực khiến quả nhân ăn không ngon, ngủ không yên!”

“Nếu bệ hạ thực lòng cầu tài, dùng tài, lo gì không có được tướng tốt?”

“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương lại thở dài một tiếng. “Nói thì dễ, nhưng làm thì khó! Huệ ái khanh, đến nơi đâu để tìm tướng tốt, khanh hãy mở mắt giúp quả nhân!”

“Bệ hạ, thứ mà nước Ngụy còn thiếu không chỉ là một tướng tài. Thiên hạ ngày nay, mạnh sống mống chết, mạnh yêu khác nhau theo thế, thế khác biệt do người, người khác biệt do tài. Vì vậy, vi thần cho rằng, kẻ có được người tài sẽ có được thiên hạ.”

“Có được người tài, có được thiên hạ!” Ngụy Huệ Vương lẩm nhẩm mấy lần, rồi gật đầu nói. “Tuyệt hay! Ái khanh nói hay lắm! Có được người tài, có được thiên hạ!” Dừng lại một lúc, lại ngẩng đầu nhìn Huệ Thi. “Xin hỏi ái khanh, quả nhân làm thế nào mới có được anh tài trong thiên hạ?”

“Thiên hạ dù lớn, nhưng anh tài chỉ đếm được trên đầu ngón tay, không chỉ bệ hạ muốn có, mà quân vương của liệt quốc đều muốn có. Tề Công xây học cung ở Lâm Truy, Tần Công mở phố Sĩ Tử ở Hàm Dương, đều là nhằm tìm kiếm nhân tài.”

“Huệ ái khanh!” Ngụy Huệ Vương suy nghĩ một hồi rồi nói. “Học cung hay phố Sĩ Tử cũng đều chưa thể hiện được cái ý tôn trọng hiền tài. Khanh thấy thế này có được chăng? Quả nhân sẽ xây dựng Chiêu Hiền quán ở Đại Lương, sĩ tử trong liệt quốc, phàm có lòng tới Ngụy, muốn ở đó bao lâu cũng được miễn phí ăn ở chi dùng. Nếu muốn lưu lại, quả nhân sẽ cất nhắc theo tài năng. Nếu không muốn, quả nhân sẽ ban cho lộ phí, tiễn khỏi biên giới.”

“Bệ hạ,” Huệ Thi vòng tay vái dài, “nếu được như vậy, chắc chắn sĩ tử trong thiên hạ sẽ nườm nượp kéo đến, bệ hạ lo gì không có được hiền tài?”

Chiếu thư chiêu mộ tướng tài của Ngụy Huệ Vương nhanh chóng được làm thành cáo thị, dán khắp các thành ấp của nước Ngụy.

Ngày hôm nay, trong Quỷ Cốc lại đến lượt Bàng Quyên và Tôn Tân xuống núi mua lương thực. Hai người vừa đi đến cửa Túc Tư, đã thấy một đám người xúm đông xúm đỏ đọc bản cáo thị dán trên tường. Bàng Quyên biết đó không phải cáo thị bắt mình, thì rảo bước lại gần, chen lên trước đám đông, đọc kỹ tờ cáo thị, rồi đứng ngây ra tại chỗ. Trên tường dán hai tờ cáo thị song song, một tờ thông báo ngày chín tháng chín, Ngụy dời đô về Đại Lương; một tờ thông báo mở Chiêu Hiền quán ở tân đô Đại Lương, thành tâm chiêu mộ hiền tài trong thiên hạ.

Tôn Tân cũng chạy tới nơi, nhìn thấy vẻ ngẩn ngơ của Bàng Quyên thì cười hỏi: “Hiền đệ, đọc thấy gì vậy, sao lại đứng ngẩn ra thế?”

Bàng Quyên thoáng giật mình, rồi kéo Tôn Tân đi luôn, nói: “Đi thôi! Chỉ là mấy chuyện vớ vẩn, chẳng liên quan gì tới chúng ta!”

Hai người đi loanh quanh một lúc, thấy trời đã tối, bèn tìm quán trọ để nghỉ đêm. Bàng Quyên không giống mọi lần, không kéo Tôn Tân đi uống rượu dưới gốc cây Ngô Khởi, chỉ ăn qua loa rồi đi ngủ luôn. Tôn Tân cũng không nghĩ ngợi nhiều, thắp đèn dầu lên đọc sách một lúc rồi cũng đi ngủ.

Sáng sớm hôm sau, hai người mua sắm xong xuôi, Bàng Quyên cũng không tự mình gánh đồ như thường lệ, mà thuê hai người khuân vác đến, chia những thứ mua được làm hai gánh, để cho họ gánh, còn mình và Tôn Tân nhàn tản đi theo phía sau.

Bàng Quyên vốn là người nói nhiều, nhưng lần này, suốt dọc đường chẳng hề mở miệng, chỉ cúi đầu lầm lũi bước đi. Thấy đã sắp về tới Quỷ Cốc, Tôn Tân trầm tính là thế cũng không nhịn nổi nữa, phì cười mà hỏi: “Hiền đệ, dường như đệ có chuyện gì thì phải?”

Bàng Quyên đáp: “Chẳng có chuyện gì!”

“Từ tối qua đến giờ, hiền đệ giống như một người hoàn toàn khác, làm sao có thể nói không có chuyện gì?”

Bàng Quyên bước chậm lại, nói với hai người khuân vác đi phía trước: “Hai vị huynh đệ, dừng lại!”

Hai người khuân vác dừng chân, đặt gánh hàng xuống, quay đầu nhìn Bàng Quyên.

Bàng Quyên móc từ trong tay áo ra bốn đồng tiền, bảo họ quay về. Thấy hai người đã đi xa, lúc này Bàng Quyên mới ngồi xuống tảng đá, nhìn Tôn Tân hỏi: “Tôn huynh, hãy thử tính xem, hai ta lên núi đã đầy ba năm chưa?”

“Đã được ba năm rồi!” Tôn Tân gật đầu nói. “Còn nhớ chúng ta lên núi vào trước Trung thu, hiện giờ đã là tháng chín.”

Bàng Quyên dường như không để tâm Tôn Tân nói gì, lẩm bẩm một mình: “Huynh nói xem, chúng ta cả ngày ở lì trong cốc, từ sáng đến tối nào là đọc sách, nào là tĩnh tọa, họa hoằn lắm mới gặp mặt tiên sinh. Cho dù có gặp, tiên sinh cũng ít khi trò chuyện. Xem ra, muốn học binh pháp, ở trong cốc này…” Nói đến đây thì ngừng lại.

Tôn Tân sững người, thầm nghĩ, ba năm ở trong cốc, Bàng Quyên chưa bao giờ nói ra những lời như thế này, có lẽ nào…

Nghĩ đến đây, Tôn Tân bật cười hỏi: “Hiền đệ nói gì vậy? Có phải tối qua ở cửa Túc Tư đã nhìn thấy chuyện gì gây nghĩ ngợi?”

“Không liên quan gì!” Bàng Quyên đứng dậy. “Không còn sớm nữa, đi thôi!” Rồi bước lên chỗ hai gánh hàng, chọn gánh nặng hơn rồi gánh lên vai, cất bước đi luôn. Tôn Tân cũng gánh lấy gánh hàng còn lại, đi theo phía sau.

Mấy ngày sau đó, Bàng Quyên đều tâm tư nặng trĩu, làm việc gì cũng không có tinh thần.

Ngày mười sáu tháng chín, trăng tròn treo trên đỉnh Đông Sơn.

Bốn đệ tử ăn cơm tối xong, đang nằm dài trên bãi cỏ bên ngoài ngắm trăng thì Trương Nghi tinh mắt, hô khẽ: “Mau, tiên sinh đến rồi!”

Mọi người vội vàng đứng dậy, quả nhiên thấy Quỷ Cốc Tử, Ngọc Thiền và tiểu đồng đi tới. Bốn người vội chuyển từ ngồi sang quỳ, đợi Quỷ Cốc Tử đến gần, đồng thanh nói: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử đi tới trước mặt họ, khoanh chân ngồi xuống: “Ngồi đi! Thiền Nhi, tiểu đồng, các con hãy cùng ngồi xuống!”

Mọi người ngồi vây quanh Quỷ Cốc Tử, chăm chú nhìn thầy.

Quỷ Cốc Tử cười nói: “Các con nhìn ta làm gì? Đêm nay là ngày rằm mùa thu, trăng sáng vằng vặc, mây nhạt trời trong, mọi người hãy cùng ngắm trăng mới phải, chứ cứ nhìn lão già này, chẳng phải mất hứng ư?”

Mọi người cùng bật cười, sau đó đều ngẩng đầu, ngắm vầng trăng sáng.

Ngắm được một lúc, Quỷ Cốc Tử quay sang nói với tiểu đồng: “Tiểu tử, mang đàn của ta lại đây!”

Tiểu đồng đứng dậy, đi vào thảo đường, lát sau ôm cây đàn đi ra. Bốn người đã ở trong Quỷ Cốc ba năm, nhưng chưa từng được nghe Quỷ Cốc Tử gảy đàn, thảy đều kinh ngạc, đặc biệt là hai kẻ thạo đàn là Trương Nghi và Ngọc Thiền, đều mở to mắt nhìn chăm chú vào Quỷ Cốc Tử.

Quỷ Cốc Tử ngửa nhìn trăng sáng, tay chỉnh dây đàn, miệng nói: “Đêm nay trăng sáng vằng vặc, hơn cả hôm qua. Ta sẽ gảy một khúc đàn vì vầng trăng đêm nay!” Lời vừa dứt, dây đã ngân lên, tiếng đàn đã khởi.

Tiểu đồng dường như đã nghe quen tiếng đàn của tiên sinh, lập tức nhắm mắt lại, dỏng tai lắng nghe. Ngọc Thiền cũng khép mắt, dùng tâm cảm nhận.

Quỷ Cốc Tử đàn rất chậm rãi, thi thoảng mới khẽ nhấc ngón tay lên, sau đó nhẹ nhàng hạ xuống. Trong con mắt của bốn đệ tử, Quỷ Cốc Tử tựa hồ như không phải đang đánh đàn, thậm chí dường như đã quên bẵng mất đàn.

Dần dần, họ cũng quên mất đàn, quên mất Quỷ Cốc Tử trước mắt. Tất cả đều khép mắt, chìm trong những suy tưởng do tiếng đàn mang lại.

Ngọc Thiền bất giác thấy trước mắt sáng bừng, một vầng trăng vành vạnh treo giữa bầu không, vài đám mây nhàn nhạt khoan thai lướt tới, chầm chậm băng ngang. Có mây trắng làm nền, vầng trăng tựa như lướt nhanh ngang trời. Một bầy chim nhạn bay lại, từ từ chao xuống, gần đến nỗi dường như khẽ đưa tay là chạm. Gió núi thổi về, triền miên bất tận. Một cây quế chậm rãi nở hoa, từng đợt hương thơm thanh ngọt phả tới, thấm tận tâm can.

Dòng suối róc rách qua khe núi, bên bờ, một con chồn núi dỏng tai nghiêng ngó, thoắt cái đã lẩn vào lùm cây. Trong rừng thông, những chú sóc nhỏ nhảy qua nhảy lại, ríu rít thu lượm quả thông, chuẩn bị cho kỳ ngủ đông sắp tới. Lá phong đỏ rực như máu, gió đưa xào xạc, từng phiến lá đỏ ối lướt đi theo gió, xoay tít chao tới trước mặt nàng. Thấy phiến lá sắp chao xuống mặt, Ngọc Thiền bất giác đưa tay lên đón, nhưng bàn tay nhẹ bẫng, không bắt được vật gì…

Ngọc Thiền giật nảy mình, hai mắt mở bừng, thấy trước mắt chẳng có lá phong gì hết, chỉ có Quỷ Cốc Tử đôi mắt khép hờ, vẫn đang chậm rãi gảy đàn. Ngọc Thiền đang kinh ngạc, bỗng thấy Bàng Quyên vụt một cái đứng phắt ngay dậy, miệng quát lớn: “Chạy đi đâu?”

Quỷ Cốc Tử bỗng rung tay, tiếng đàn thình lình ngưng bặt. Mọi người đều giật mình, choàng tỉnh khỏi cơn mơ màng, ánh mắt đổ dồn cả vào Bàng Quyên. Bàng Quyên lúc này mới sực tỉnh, thấy mình thất thố, hết sức ngượng ngùng, đành cười gượng rồi ngồi xuống.

Quỷ Cốc Tử đẩy đàn sang một bên, nhìn Bàng Quyên mỉm cười: “Bàng Quyên, con đã nhìn thấy gì?”

Bàng Quyên lắp bắp: “Đệ… đệ tử không… không nhìn thấy gì cả!”

Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói: “Con đã nhìn thấy. Con nhìn thấy một con hổ!”

“Tiên sinh!” Bàng Quyên kinh ngạc. “Tại sao tiên sinh… lại biết?”

Quỷ Cốc Tử cười nói: “Ta nói có đúng không?”

Bàng Quyên vô cùng thán phục, vòng tay vái liên hồi: “Đúng là đệ tử đã nhìn thấy một con hổ, đang định bắt lại, nhưng con hổ lại quay mình chạy mất. Đệ tử lập tức đuổi theo định bắt, không ngờ… đã khiến tiên sinh kinh động!”

Quỷ Cốc Tử nhìn thẳng vào Bàng Quyên, hỏi: “Ngoài con hổ, con còn nhìn thấy gì nữa?”

Bàng Quyên biết không thể giấu được tiên sinh, đành phải nói thực: “Đệ tử nhìn thấy bầy thú đang đuổi theo một con hươu.”

Quỷ Cốc Tử cười nói: “Vì vậy, con muốn bắt lấy con hổ, cưỡi lên nó để đuổi hươu ở Trung Nguyên.”

Bàng Quyên đứng dậy, rồi dập đầu nói: “Tiên sinh quả là thần nhân! Những gì đệ tử nghĩ, không thể qua mắt được tiên sinh.”

“Đứng dậy đi!” Quỷ Cốc Tử xua tay. “Ta không phải quân vương, trong Quỷ Cốc này, không cần động chút lại hành đại lễ!” Rồi quay sang Tôn Tân hỏi. “Tôn Tân, con đã nhìn thấy gì?”

Tôn Tân đáp: “Đệ tử nhìn thấy gió thu xào xạc, một bà lão đứng ở đầu thôn, đang dõi mắt trông về phía xa xăm.”

“Bà lão đang trông ngóng điều gì?”

“Hai người con trai! Họ đã đi lính thú biên cương theo lệnh của quân chủ.”

“Đã trông thấy người chưa?”

Tôn Tân cúi mặt, lắc đầu, buồn bã đáp: “Họ đã tử trận cả rồi!”

Quỷ Cốc Tử hồi lâu không nói, một lúc sau, mới quay sang Trương Nghi: “Trương Nghi, còn con?”

Trương Nghi đáp: “Đệ tử chỉ nhìn thấy một vầng trăng sáng.”

“Trên vầng trăng có những gì?”

Trương Nghi đỏ mặt, cúi thấp đầu, lắp bắp: “Trên vầng trăng có… có một cây quế, dưới gốc cây có… có một cô gái, đang nhảy múa dịu dàng.” Trương Nghi vừa nói vừa kín đáo liếc sang Ngọc Thiền.

Bàng Quyên đã nhìn thấy cả, bèn cất giọng châm biếm: “Chẳng trách Trương huynh nói năng lắp bắp, hoá ra là đã nghe thấy mỹ nữ từ trong tiếng đàn của tiên sinh, tại hạ bái phục!”

Trương Nghi đang định sừng sộ thì Quỷ Cốc Tử khẽ đặng hắng một tiếng, quay sang Tô Tần: “Tô Tần, nói xem, con đã nhìn thấy những gì?”

Tô Tần thoáng ngần ngừ, rồi vòng tay nói: “Đệ tử nhìn thấy rất nhiều thứ. Trước tiên là rừng núi này, sau đó là rất nhiều cung điện, toà ngang dãy dọc nối liền, đệ tử muốn đi vào, nhưng có người cản lại. Đệ tử không biết làm thế nào, đành phải quanh quẩn trước thềm ngoài cung điện.”

“Chỉ thế thôi ư?” Quỷ Cốc Tử hỏi.

“Gió rất lạnh lẽo, còn có chim quạ, từng đàn kéo đến, bay lòng vòng trước cung điện.”

Quỷ Cốc Tử gật đầu, quay sang nhìn Ngọc Thiền.

Không đợi Quỷ Cốc Tử lên tiếng, Ngọc Thiền đã cười mà hỏi trước: “Tiên sinh vừa đàn khúc gì vậy, quả thực là nhạc trời!”

Quỷ Cốc Tử cũng cười, đáp: “Ta chỉ là tùy hứng mà gảy, làm gì có tên khúc nhạc? Nếu con nhất định muốn đặt cho nó một cái tên, vậy hãy gọi là ‘Ánh trăng’ đi!”

“Tên này hay lắm, Thiền Nhi có thể học chăng?”

Quỷ Cốc Tử cười nói: “Con đã hiểu âm luật, tự nhiên sẽ học được.” Quay sang bốn người, lại nói. “Các con vào cốc đã được ba năm, song ta chưa từng nghe thấy chí nguyện bình sinh của các con. Hôm nay trăng tỏ giữa trời, các con hãy tự nói về chí nguyện của mình cho ta nghe!”

Bốn người đưa mắt nhìn nhau.

Quỷ Cốc Tử quay sang Tôn Tân: “Tôn Tân, con nói trước đi!”

“Hồi bẩm tiên sinh,” Tôn Tân vòng tay mà nói, “chí nguyện của đệ tử là thiên hạ thái bình, chính trị trong sáng, tai không nghe thấy tiếng trống trận, mắt không nhìn thấy cảnh chém giết, chúng sinh chung sống hài hoà, bách tính an cư lạc nghiệp, cùng hưởng hạnh phúc nhân gian.”

Quỷ Cốc Tử cười nói: “Chí này có thể ở trong cảnh giới thánh đạo, song không thể ở trong loạn thế hiện nay!” Rồi quay sang Bàng Quyên. “Bàng Quyên, con có chí gì, có thể nói ra chăng?”

“Khởi bẩm tiên sinh,” Bàng Quyên vòng tay nói, “đệ tử chỉ có một chí, chính là ở lại Quỷ Cốc, hầu hạ tiên sinh.”

Quỷ Cốc tử mỉm cười, lắc đầu nói: “Đây là chí mà con cố ý nói cho lão hủ nghe, không phải chí thực của con!”

“Tiên sinh trách rất đúng!” Thấy tiên sinh một lời bóc mẽ, Bàng Quyên đỏ mặt, khẽ hắng giọng, rồi chậm rãi nói tiếp. “Đệ tử đời này chỉ có một chí nguyện, là phò tá minh chủ trong thiên hạ, thống lĩnh trăm vạn hùng binh, chiến tất thắng, đánh tất hạ, uy phục liệt quốc, xưng bá thiên hạ, lập nên sự nghiệp muôn đời, lưu danh sử sách.”

Quỷ Cốc Tử mỉm cười, nói: “Ừm, chí này có thể ở trong thời chiến loạn, con đã gặp thời rồi. Nhưng thiên hạ ngày nay, liệt quốc phân tranh, quân chủ các nước ai cũng vận hết tài năng, hoặc mưu đồ xưng bá, hoặc mong cầu tồn tại. Theo ý con, quân chủ nước nào có thể coi là minh chủ?”

Bàng Quyên đáp ngay không chút đắn đo: “Tần Công!”

“Nói như vậy, nếu như con xuống núi, sẽ muốn phò tá Tần Công?”

Bàng Quyên lắc đầu.

“Vậy con muốn phò tá quân chủ nước nào?”

“Đệ tử muốn phò tá Ngụy Vương!”

“Chim khôn chọn cành mà đậu, người khôn chọn chúa để thờ. Ngụy Hầu trước bỏ Công Tôn Ưởng, sau lại bỏ Công Tôn Diễn, cho thấy không biết dùng người. Tần muốn chiếm Hà Tây, Ngụy Hầu không biết là kế, lại ngông cuồng xưng vương, khiến láng giềng bốn bề đối địch, kết quả vừa mất đất vừa mất người, cho thấy không biết thẩm thời độ thế. Đã không biết dùng người, lại không biết thời thế, đủ biết đây chẳng phải là minh chủ.”

“Tiên sinh nói chí phải!”

“Con đã biết Ngụy Vương không phải minh chủ, cớ sao còn muốn phò tá?”

“Đệ tử thân là người Ngụy, phải hết lòng trung thành với Ngụy thất.”

“Đây không phải ý thật của con!”

“Tiên sinh thánh minh! Đệ tử muốn phò tá Ngụy Vương, có ba nguyên nhân. Ngụy Vương không biết dùng người, ắt không có ai bên cạnh, đệ tử sẽ có đất vùng vẫy, đây là nguyên nhân thứ nhất. Nước Ngụy hùng cứ Trung Nguyên, bốn mặt đều là kẻ địch, rất hợp với tính cách của Bàng Quyên, đây là nguyên nhân thứ hai. Ngụy Vương trước mất Công Tôn Ưởng, sau bỏ Công Tôn Diễn, chắc chắn sẽ có lòng hối hận, lúc này nếu có được đệ tử, hẳn sẽ toàn tâm toàn ý, không sinh nghi kỵ, đó là nguyên nhân thứ ba.”

Bàng Quyên một mạch nói liền ba lý do, có thể thấy tính toán thâm sâu đến nhường nào. Mọi người nghe thấy, không ai không giật mình kinh ngạc, ngay cả Quỷ Cốc Tử cũng thấy bất ngờ, trầm tư hồi lâu mới gật đầu nói: “Lời này cũng có lý!” Rồi ngẩng đầu nhìn lên không trung, thấy vầng trăng đã lên tới giữa trời, bèn đứng dậy mà nói. “Không còn sớm nữa, các con hãy về nghỉ đi!” Nói đoạn, đứng dậy bước đi ngay.

Ngọc Thiền, tiểu đồng cũng lần lượt đứng dậy, đi theo Quỷ Cốc Tử về phía thảo đường.

Trương Nghi ngẩn người, đưa khuỷu tay huých Tô Tần: “Tô huynh, chúng ta vẫn còn chưa nói ra chí nguyện, sao tiên sinh đã đi rồi?”

Tô Tần thở dài: “Đi rồi cũng tốt. Nói thực, nếu bảo ta nói ra chí nguyện, ta cũng chẳng biết phải nói thế nào.”

“Đáng tiếc quá!” Trương Nghi hậm hực liếc xéo Bàng Quyên. “Tại hạ đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ đợi tiên sinh hỏi đến, ai ngờ tiên sinh đã phủi mông đi luôn!”

Bàng Quyên bật cười: “Trương huynh đã chuẩn bị xong, vậy sao không nói cho mọi người cùng nghe?”

“Nói cho Bàng huynh biết cũng chẳng sao!” Trương Nghi cũng cười vang. “Chí nguyện của tại hạ là thống lĩnh một vị minh chủ, chỉ huy một vị tướng quân vô địch, chiến tất thắng, đánh tất hạ, uy phục liệt quốc, xưng vương thiên hạ.”

Nghe Trương Nghi nói muốn chỉ huy tướng quân vô địch, Bàng Quyên ngây người một lát mới hiểu ý, cười vang mà nói: “Chí của Trương huynh quả là khí thế tựa cầu vồng. Chỉ có điều quân chủ và Trương huynh, rốt cuộc ai thống lĩnh ai?”

“Hì hì…” Trương Nghi cười nhạt, hạ giọng đáp. “Bàng huynh là người hiểu biết, cần gì tại hạ phải nói hai lần? Mọi người ngắm trăng đi, tại hạ về đi ngủ!” Rồi lập tức đứng dậy, phủi mông phành phạch, quay người bước đi.

Bàng Quyên lại ngẩn ra một thoáng, rồi nhìn theo Trương Nghi mà nói: “Cho dù Trương huynh có thể thống lĩnh quân chủ, thì tướng quân vô địch cũng tuyệt đối không cam tâm nghe theo lời huynh!”

Lúc này Trương Nghi đã đi tới trước cửa nhà cỏ, nghe thấy nói vậy, liền ngoảnh đầu, lại cười hì hì hai tiếng, bước vào trong phòng, sập cửa cái “rầm”.

Bàng Quyên suy nghĩ một thoáng, rồi chõ về phía phòng Trương Nghi, cười lên ha hả: “Tại hạ hiểu rồi, vị quân chủ kia chắc hẳn là bậc nữ lưu! Còn vị tướng quân vô địch kia, hẳn là Trương huynh rồi!”

Lời này của Bàng Quyên rõ ràng có ý gây hấn, may mà hôm nay Trương Nghi đột nhiên rộng lượng, không hề lao ra đôi co với Bàng Quyên. Tô Tần, Tôn Tân đưa mắt nhìn nhau, rồi cũng đứng dậy.

Đi gần đến cửa phòng, Tôn Tân quay đầu, quan tâm hỏi Bàng Quyên: “Đã gần nửa đêm rồi, hiền đệ còn chưa đi ngủ ư?”

Bàng Quyên đáp một tiếng, đứng dậy quay về phòng, nằm xuống giường, quay ngang trở dọc, trằn trọc gần nửa canh giờ mà vẫn chưa ngủ được. Bàng Quyên liên đứng dậy, mở cửa đi ra ngoài.

Lúc này đã nửa đêm, trăng đã qua đỉnh đầu từ lâu. Bàng Quyên ngồi khoanh chân trên bãi cỏ, nhắm mắt dưỡng thần, vốn muốn sắp xếp lại những suy nghĩ rối bời trong mấy ngày gần đây, không ngờ càng nghĩ lại càng loạn. Ngồi được một lúc, Bàng Quyên lại đứng dậy, chậm rãi bước theo con đường nhỏ trước nhà.

Bàng Quyên vô thức đi tới trước cửa gian thảo đường của Quỷ Cốc Tử. Cũng do cơ duyên dẫn tới, Bàng Quyên chợt ngẩng đầu, nhìn thấy có một người ngồi trên bãi cỏ cách đó không xa. Dưới ánh trăng, người đó ngồi yên phăng phắc, hệt như một pho tượng đá.

Bàng Quyên vội bước đến gần, nhìn thấy người ngồi dưới trăng chẳng phải ai khác, chính là Quỷ Cốc Tử. Bàng Quyên kinh ngạc, vì trước nay tiên sinh đều ngồi thiền trong động, hôm nay lại ngồi thiền dưới ánh trăng, không những chưa từng nhìn thấy, mà cũng chưa từng nghe thấy tiểu đồng nhắc tới.

Khi còn cách Quỷ Cốc Tử khoảng mươi bước chân, Bàng Quyên e sợ quấy nhiễu Quỷ Cốc Tử nhập định, nên lại dừng bước, đang định quay người bỏ đi thì Quỷ Cốc Tử lên tiếng: “Có phải Bàng Quyên không?”

Bàng Quyên giật mình, rồi vội vàng bước tới, quỳ xuống trước mặt Quỷ Cốc Tử, bái lạy: “Đệ tử Bàng Quyên khấu kiến tiên sinh!”

“Ngồi đi!”

Bàng Quyên bèn khoanh chân ngồi xuống, mắt nhìn chăm chú vào Quỷ Cốc Tử. Quỷ Cốc Tử vẫn hai mắt khép hờ, không nhìn Bàng Quyên.

Ngồi được một lúc, thấy Quỷ Cốc Tử vẫn không lên tiếng, Bàng Quyên thử thăm dò: “Đệ tử mạo muội muốn hỏi tiên sinh, cớ sao lại ngồi thiền ở đây?”

“Ta đang đợi con!”

Bàng Quyên kinh ngạc: “Đợi con?”

“Chẳng phải con đã đến rồi ư?”

“Đệ… đệ… đệ tử…” Bàng Quyên nói không thành tiếng, cổ họng bỗng nghẹn lại.

“Bàng Quyên, ta biết con có tâm sự, nói đi!”

“Tiên sinh!” Bàng Quyên bật khóc. “Đệ tử… đệ tử muốn…”

“Con muốn xuống núi, đúng không?”

Bàng Quyên vội đổi sang quỳ, dập đầu mà nói: “Đệ tử bất hiếu, không nên có suy nghĩ này!”

“Là tụ hay tán, đều là duyên phận. Con muốn xuống núi, vậy hãy cứ xuống núi!”

Bàng Quyên lại dập đầu lạy, khóc mà nói: “Tiên sinh…”

“Nghe lời của con, hẳn là muốn tới nước Ngụy?”

“Tiên sinh thánh minh! Mấy ngày trước, đệ tử tới cửa Túc Tư, vô tình được biết Ngụy Vương dời đô về Đại Lương, cho xây Chiêu Hiền quán ở Đại Lương, đang chiêu hiền nạp sĩ khắp thiên hạ.”

“Đúng vậy! Hiện giờ ba nước Tần, Triệu, Hàn đều rình rập nước Ngụy, là lúc nước Ngụy đang cần dùng người.”

Bàng Quyên thầm nghĩ: “Đời này gặp được tiên sinh, đúng là cơ duyên trời ban. Hôm nay xem ra học vấn của tiên sinh quả thực cao thâm khó lường. Nếu từ biệt mà đi, cũng tức là cắt đứt con đường cầu học. Vạn nhất tiên sinh vẫn còn báu vật gì khác, ta lại bỏ qua, há chẳng phải nuối tiếc cả đời ư?”

Nghĩ đến đây, Bàng Quyên khẽ đảo con mắt: “Tiên sinh, mặc dù đệ tử có ý xuống núi, nhưng lại thấy nghiệp học vẫn chưa thành, nếu sau khi xuống núi, chẳng may thất bại, há chẳng phải làm nhục đến sư môn? Đệ tử nghĩ đi nghĩ lại, nên ở nên đi, đến giờ vẫn chưa thể quyết, mong tiên sinh chỉ giáo.”

“Con đã ngộ được tinh hoa dụng binh của Ngô Khởi, nếu giỏi vận dụng, người ngoài núi không có ai địch nổi con, sao lại nói là làm nhục sư môn được?”

Nghe Quỷ Cốc Tử nói vậy, Bàng Quyên trong lòng kinh động, vội hỏi: “Ý tiên sinh là, người ngoài núi không ai có thể địch lại, nhưng trong sơn cốc này vẫn có người hơn được đệ tử?”

“Có người hơn được hay không, trong lòng con đã rõ!”

Bàng Quyên vội thăm dò: “Đệ tử đương nhiên hiểu rõ. Trong sơn cốc này, người có thể so sánh với con, chỉ có Tôn Tân. Theo con được biết, hiện giờ những gì huynh ấy biết, con đều đã biết, nhưng những gì con đã biết, huynh ấy lại chưa hẳn đều đã biết. Hai người chúng con, ai cao ai thấp đã thấy rõ ràng.” Nói đến đây, Bàng Quyên vô cùng tự tin, lại khấu lạy: “Đa tạ tiên sinh dạy bảo. Ơn dạy dỗ của tiên sinh, đệ tử muôn chết cũng không đủ báo đáp. Cha mẹ đệ tử đều đã mất, từ ngày vào Quỷ Cốc, đã coi tiên sinh như cha. Đệ tử lo lắng sau khi xuống núi, cuộc sống bôn ba khó kham, nếu đệ tử muốn gặp lại tiên sinh, e rằng rất khó. Đệ tử… đệ tử thật không nỡ xa tiên sinh!” Bàng Quyên nghẹn ngào.

“Con có lòng này, lão hủ cũng thấy mãn nguyện rồi!”

Bàng Quyên lau nước mắt: “Đệ tử xin nghe theo lời tiên sinh, mấy ngày tới sẽ xuống núi!”

“Sau khi xuống núi, nước cờ đầu tiên nên đi thế nào, hẳn con đã có dự tính?”

“Đệ tử muốn đến Đại Lương cầu kiến Ngụy Vương.”

Quỷ Cốc Tử lắc đầu.

Bàng Quyên sững người, vội nói: “Đệ tử khẩn cầu tiên sinh chỉ điểm!”

“Tiên thánh có câu, muốn cho buông chùng, phải giương cho căng; muốn cho suy yếu, phải giúp mạnh thêm. Con hãy lật ngược câu này lại, may ra sẽ thành công!”

Bàng Quyên kinh ngạc, vội vàng lật ngược lại lời của Lão Đam, lẩm bẩm: “Muốn giương cho căng, phải buông cho chùng; muốn giúp mạnh thêm, phải cho suy yếu…”

Quỷ Cốc Tử chậm rãi hỏi: “Con đã hiểu được đạo lý trong đó hay chưa?”

Bàng Quyên trầm ngâm suy nghĩ một hồi, mắt đảo mấy vòng, đột nhiên bừng tỉnh: “Đệ tử hiểu rồi, đa tạ tiên sinh chỉ dạy!”

“Hiểu rồi thì tốt!”

Quỷ Cốc Tử chậm rãi đứng dậy, đang định bước đi, Bàng Quyên vội nói: “Tiên sinh, đệ tử còn có một thỉnh cầu!”

Quỷ Cốc Tử lại ngồi xuống: “Nói đi!”

Bàng Quyên thấp thỏm hỏi khẽ: “Đệ tử xuống núi, con đường phía trước mờ mịt, có được như ý hay không, cầu mong tiên sinh tiết lộ.”

“Đây là số mệnh!” Quỷ Cốc Tử nói. “Con đã muốn hỏi, lão hủ có thể chỉ điểm. Sáng sớm mai, con hãy vào trong núi hái lấy một cành hoa, ta sẽ xem cho con một quẻ.”

Bàng Quyên dập đầu nói: “Đa tạ tiên sinh!”

Có lẽ do quá ư hưng phấn, cũng có lẽ do ngủ quá muộn, nên ngày hôm sau, khi Bàng Quyên mở mắt, mặt trời đã lên cao. Bàng Quyên ngái ngủ nằm đờ trên giường, đột nhiên nhớ lại lời dặn của tiên sinh, liền lập tức vùng dậy, không kịp cả rửa mặt, co cẳng chạy vào trong núi.

“Tiên sinh bảo ta sáng sớm hái hoa, giờ mặt trời đã cao quá Đông Sơn, sắp chiếu vào trong sơn cốc, ta phải khẩn trương mới được!” Bàng Quyên vừa nghĩ vừa chạy thục mạng.

Bấy giờ đương lúc cuối thu, sớm đã hết mùa hoa nở, lại vì trong núi giá rét, hoa cúc mới đang chớm nụ, không thể coi là hoa. Bàng Quyên sục sạo khắp nơi, ruột gan như lửa đốt, nhưng không nhìn thấy một cành hoa nào.

Bàng Quyên rời khỏi đường mòn, chạy vào rừng sâu. Lại tìm thêm một lúc, hai mắt Bàng Quyên bỗng vụt sáng. Khuất sau một vách đá, có một cụm hoa đang nở xoè.

Bàng Quyên mừng rơn, vội vàng bước tới, lúc này mới nhìn rõ là cây mã đầu linh(1), trên cây nở hai khóm hoa.

“Quái lạ thực!” Bàng Quyên lẩm bẩm. “Loại hoa này mùa hè nở hoa, mùa thu kết quả, bây giờ đã là cuối thu, đúng ra đã phải kết quả rồi, sao giờ mới nở hoa? Thôi kệ, ta cứ hái mang về xem tiên sinh phán đoán thế nào.”

Quyết định như vậy, Bàng Quyên liền đưa tay hái lấy khóm hoa, cầm lên ngắm nghía. Ngắm một lúc, Bàng Quyên lại lẩm bẩm: “Hoa này tuy màu sắc rực rỡ, nhưng là thứ hoa tầm thường, phẩm cách thấp kém, không phải là đại khí, ta phải đi tìm một bông hoa cao quý hơn!” Nghĩ vậy, liền ném luôn bông hoa xuống đất, tiếp tục tìm kiếm.

Lại sục sạo một thôi một hồi nữa, nhưng chẳng tìm thấy được bông hoa nào khác. Bàng Quyên vốn không tin vào mệnh tướng, lúc này lại đã tìm kiếm mệt mỏi, liền giẫm một chân lên tảng đá, lẩm bẩm: “Tiên sinh việc gì cũng linh, chỉ có điều cứ cố tình ra vẻ thần bí, thực đáng buồn thay! Đại trượng phu dựa vào bản lĩnh để kiếm cơm ăn, đàn bà dựa vào nhan sắc mà được sủng ái, mọi việc trong thiên hạ đều do con người tạo ra, làm gì có chuyện tướng mệnh? Ta không thèm tìm hoa nữa, để xem thế nào?”

Nghĩ đến đây, Bàng Quyên liền ngồi phịch luôn xuống tảng đá. Ngồi được một lúc, thấy mặt trời lên đến đỉnh đầu, mới thẳng người đứng dậy, quay trở về theo đường cũ. Đi ngang qua chỗ lúc nãy vứt bỏ bông hoa, Bàng Quyên bất giác dừng lại, nhìn chằm chằm vào cành hoa quẳng trên mặt đất, rồi lại cúi xuống nhặt lên.

Đã bị quăng quật một phen, lại bị nắng chiếu, hơn nữa Bàng Quyên lại bẻ ngang cành, không nhổ cả rễ, nên hai khóm hoa đều đã héo rũ.

“Thôi kệ!” Bàng Quyên ngắm nghía bông hoa, rồi lắc đầu nhét vào tay áo. “Ta cứ mang cành hoa này về, nếu tiên sinh có hỏi, thì cũng biết đường ăn nói.”

Trở xuống chân núi, Bàng Quyên đi tới bên bờ suối, rửa sạch mặt mũi tay chân, chỉnh lại trang phục, rồi đi vào thảo đường.

Trong thảo đường không thấy ai khác, chỉ có Quỷ Cốc Tử đang ngồi xếp bằng, rõ ràng đã đợi Bàng Quyên từ lâu.

Thấy tiên sinh nghiêm túc, Bàng Quyên lại do dự; muốn đi tìm hoa tiếp, nhưng lại thấy không thoả đáng, đành phải miễn cưỡng bước vào, quỳ xuống bái lạy trước mặt Quỷ Cốc Tử: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử hỏi: “Hoa của con đâu?”

“Bẩm tiên sinh, hiện đang là mùa thu, hoa đã lụi tàn, đệ tử đã tìm suốt nhiều canh giờ nhưng chẳng nhìn thấy cành hoa nào cả.”

“Không tìm thấy hoa, vậy trong tay áo con là vật gì?”

Bàng Quyên thất kinh, thầm nghĩ: “Đúng là thần kỳ, ngay cả vật trong tay áo mà tiên sinh cũng nhìn ra”. Ngần ngừ một lát, mới lấy ra cành hoa dại đã héo quắt cất trong tay áo, hai tay dâng lên, bối rối giải thích: “Cành hoa này không phải đại khí, đệ tử vốn không định hái, nhưng sau đó chẳng tìm được cành hoa nào khác nên mới mang nó về. Chỉ vì hoa này không hợp với ý của đệ tử, nên mới không đưa cho tiên sinh, xin tiên sinh thứ tội.”

Quỷ Cốc Tử nhận lấy cành hoa dại, ngắm nghía một hồi, rồi trả lại cho Bàng Quyên.

Bàng Quyên nhận lấy, thấy Quỷ Cốc Tử nhắm mắt ngồi yên lặng, dường như đang chuyên tâm suy nghĩ, thì tiện tay đặt cành hoa sang một bên, dập đầu sát đất, đợi nghe tiên sinh phán quẻ.

Quỷ Cốc Tử ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi mở mắt ra nói: “Hoa này tổng cộng có mười hai bông, ý chỉ con sẽ thịnh mười hai năm. Hoa này hái ở Quỷ Cốc, thấy mặt trời mà héo úa, chữ quỷ đặt cạnh chữ uỷ, ám chỉ nơi con thành công sẽ là nước Ngụy(2).”

Bàng Quyên thầm nghĩ: “Tối qua ta đã nói rõ sẽ đến nước Ngụy thử tài, nơi ta thành công đương nhiên sẽ là nước Ngụy, việc này đâu cần phải nói nữa?”

Bàng Quyên đang nghĩ, Quỷ Cốc Tử lại lên tiếng: “Tuy nhiên, sau khi con hái được lại vứt đi, vứt đi rồi lại nhặt lại, tức là có hai lòng. Trước mặt lão hủ lại giấu giếm không nói, cho thấy con sau này ắt sẽ lừa dối người, cuối cùng bản thân lại bị lừa dối.”

Bàng Quyên lại thầm nghĩ: “Thường có câu, binh bất yếm trá. Với thế đạo này, ta không lừa người ắt người lừa ta, lời này cũng chỉ là doạ suông.”

Quỷ Cốc Tử dường như đã đoán ra suy nghĩ trong lòng Bàng Quyên, trầm tư một lát, khẽ than: “Cho lão hủ nói thêm một câu, hoa này tên là mã đầu linh, ngựa thích ăn nó, nhưng dê thì không, vì vậy lão hủ tặng con một câu: ‘Gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì tuyệt’!”

Bàng Quyên lạy liền ba lạy, nói: “Lời phán của tiên sinh, đệ tử kính cẩn ghi nhớ trong lòng!”

Quỷ Cốc Tử hỏi gặng: “Con ghi nhớ điều gì?”

“Gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì tuyệt!”

Quỷ Cốc Tử khẽ thở dài, đứng dậy nói: “Nhớ rồi thì tốt, con có thể xuống núi được rồi!”

Bàng Quyên lạy liền ba lạy sau lưng Quỷ Cốc Tử, thấy Quỷ Cốc Tử đã đi vào trong động, lúc này mới đứng dậy, đang định đi ra, lại chợt nhìn thấy cành hoa dại trên đất, bèn cúi xuống nhặt, vừa ngắm nghía vừa đi ra khỏi thảo đường.

Đi được một đoạn, Bàng Quyên quẳng luôn cành hoa héo rũ xuống bên đường: “Cái gì mà thịnh mười hai năm? Cái gì mà ngựa thích ăn, dê không thích? Nếu lợn cũng thích ăn thì sao? Có lẽ tiên sinh thấy ta kiên quyết xuống núi, trong lòng không vui nên mới nói vậy để doạ ta. Hoặc là tiên sinh cố tình ra vẻ huyền bí, không thể tin được.”

Bàng Quyên trở về nhà cỏ, bắt đầu thu dọn hành trang. Bàng Quyên bới tung quần áo, tìm lấy hai chiếc tươm tất, cho vào tay nải, lại lấy từ dưới gầm giường ra một túi vải, mở ra, bên trong chính là cuốn “Ngô Tử” mà Bàng Quyên đã chép lại theo trí nhớ.

Bàng Quyên giở qua một lượt, khẽ thở dài: “Than ôi, đáng tiếc chỉ có sáu chương. Nếu là một bộ ‘Ngô Tử’ hoàn chỉnh thì tốt biết mấy?”

Bàng Quyên cẩn thận đặt cuốn sách vào trong đám quần áo, bỏ vào tay nải, gói ghém xong xuôi, bèn ra khỏi cửa, đi sang phòng Tôn Tân.

Trong phòng không có ai.

Bàng Quyên ngẫm nghĩ một lát, rồi đi ra ngoài, theo đường mòn tới một lũng núi yên tĩnh, quả nhiên thấy Tôn Tân đang ngồi nhắm mắt suy tư, bên cạnh không có cuốn sách nào.

“Tôn huynh!” Bàng Quyên bước lại gần, gọi.

“Hiền đệ?” Tôn Tân thấy Bàng Quyên tới, lại thấy sắc mặt buồn rầu, không khỏi ngạc nhiên.

Bàng Quyên thình lình quỳ sụp xuống đất: “Sư huynh ở trên, xin nhận của sư đệ một lạy!”

“Hiền đệ, đệ…” Tôn Tân đứng bật dậy, đưa tay đỡ Bàng Quyên đứng lên, hỏi gấp, “đệ làm sao vậy?”

“Tôn huynh!” Bàng Quyên chậm rãi nói. “Đệ đến để từ biệt Tôn huynh, đệ phải xuống núi rồi!”

“Gì kia?” Tôn Tân hết sức bất ngờ, đứng sững một hồi lâu mới lắp bắp. “Hiền đệ, chuyện… chuyện lớn như vậy, đệ… đệ phải nói cho huynh biết sớm hơn chứ!”

“Đệ cũng vừa mới quyết định xong!”

“Chẳng trách mấy hôm nay, hiền đệ tinh thần bất định, thì ra là vì chuyện này!”

“Đúng vậy!” Bàng Quyên gật đầu thừa nhận. “Đệ tinh thần bất định là vì chưa thể quyết định. Sau khi đã quyết, đệ vẫn chưa nói với ai cả, Tôn huynh là người đầu tiên đệ báo tin.”

“Đa tạ hiền đệ đã coi trọng. Tiên sinh có biết việc này không?”

“Đệ đã từ biệt tiên sinh!”

“Ồ?” Tôn Tân lại sững người. “Hiền đệ dự định lúc nào lên đường?”

“Sáng mai, vào lúc gà gáy. Đệ cũng muốn biết, Tôn huynh định bao giờ xuống núi?”

“Than ôi!” Tôn Tân khẽ thở dài. “Kẻ ngu độn như ta, tuy đã lên núi được ba năm, vẫn chưa học được cái gì ra hồn, đâu có thể so sánh với hiền đệ, chỉ ba năm mà đã tu học đại thành. Còn về ngày xuống núi, không biết phải thêm bao nhiêu năm tháng nữa.”

“Tôn huynh bất tất phải khiêm tốn!” Bàng Quyên an ủi. “Tôn huynh là người chăm học, nghiêm cẩn chu đáo, đệ hổ thẹn không thể sánh bằng. Đệ nóng lòng xuống núi, chẳng qua là thế giới bên ngoài náo nhiệt, trái tim nông nổi của đệ không thể cưỡng lại, chỉ là ngựa non háu đá, không giống như Tôn huynh, điềm tĩnh chín chắn, đại khí lâu thành.”

“Hiền đệ quá lời rồi! Nói về dụng binh, trong liệt quốc không ai có thể sánh được với hiền đệ. Kiến công lập nghiệp chỉ là việc sớm chiều.”

“Đa tạ Tôn huynh khen tặng. Trước khi đi, đệ còn có một thỉnh cầu.”

“Hiền đệ cứ nói!”

“Học vấn của tiên sinh cao thâm khó lường, cho dù có học cả đời cũng không thể học hết. Đệ nôn nóng lập công, vội vã xuống núi, nhưng trong lòng vẫn thấy không yên. Sau khi đệ đi, nếu tiên sinh có tuyệt học bí kíp gì truyền cho Tôn huynh, mong Tôn huynh hãy niệm tới tình nghĩa huynh đệ kết nghĩa của chúng ta mà dạy cho ngu đệ một hai phần.”

“Hiền đệ khách khí rồi! Hiền đệ yên tâm, nếu huynh học được gì, nhất định sẽ truyền lại cho đệ!”

Bàng Quyên dập đầu sát đất: “Xin Tôn huynh hãy nhận của Bàng Quyên ba lạy!”

Tôn Tân lại đỡ Bàng Quyên dậy: “Hiền đệ…”

Nhưng Bàng Quyên cứ đẩy ra, kiên quyết lạy liền ba lạy, rồi đứng dậy nắm lấy tay Tôn Tân, nước mắt đầm đìa.

Hai người thương cảm một hồi, Tôn Tân nói: “Hiền đệ hãy đợi ở đây một lát, ta đi nói với mọi người, tối nay sẽ mở tiệc tiễn đưa.”

“Không cần đâu!” Bàng Quyên lắc đầu. “Trong Quỷ Cốc này, chỉ có hai người khiến đệ lưu luyến, một là Tôn huynh, hai là sư tỷ. Không cần làm kinh động tới những người khác!”

“Như vậy không được! Mấy người chúng ta đã học cùng nhau suốt ba năm ròng, hiền đệ muốn đi, kiểu gì cũng phải chào một tiếng mới phải.”

Bàng Quyên lại lắc đầu: “Từ xưa đến nay, thắng làm vua thua làm giặc. Lần này Bàng Quyên xuống núi, là thành hay bại, vẫn chưa biết được, có gì đáng để kinh động đâu? Hơn nữa, thằng cha Trương Nghi kia, không gặp vẫn hơn.”

“Được thôi!” Tôn Tân thấy Bàng Quyên khăng khăng cố chấp, đành phải nói. “Huynh sẽ nghe theo lời hiền đệ.”

Buổi tối hôm nay, mặt trăng vừa nhú. Ngọc Thiền bày giá đàn lên trên bãi cỏ, ngồi quay mặt về phía vầng trăng sáng, đàn lại khúc nhạc “Ánh trăng” của Quỷ Cốc Tử theo trí nhớ.

Đàn xong, sau lưng bỗng có tiếng vỗ tay vọng lại. Ngọc Thiền ngạc nhiên, ngoảnh lại nhìn, thì ra là Bàng Quyên.

Bàng Quyên vòng tay hành lễ: “Sư tỷ, Bàng Quyên đã quấy rầy!”

Ngọc Thiền đáp lễ: “Tiểu nữ không biết Bàng sĩ tử ở đây, thật xấu hổ!”

Bàng Quyên mỉm cười: “Sư tỷ mới nghe một lần mà đã có thể đàn đến mức xuất thần nhập hoá như vậy, Bàng Quyên là kẻ thô lỗ, trong lòng chỉ biết thán phục.”

“Đa tạ sĩ tử khen tặng. Đêm đã khuya, sĩ tử có gì chỉ dạy?”

Bàng Quyên thấy Ngọc Thiền có ý tiễn khách, thì khẽ thở dài: “Bàng Quyên không dám. Lần này Bàng Quyên đến, chỉ là muốn được nhìn sư tỷ thêm một lần.”

Ngọc Thiền chợt nhớ lại chuyện bên đầm ngày trước, bỗng thấy chột dạ, lập tức mặt hoa biến sắc, cất giọng lạnh lùng: “Tiểu nữ vẫn là tiểu nữ, không chút thay đổi, chẳng phải Bàng sĩ tử đã nhìn thấy từ lâu rồi ư?”

Bàng Quyên hạ thấp giọng: “Sư tỷ vẫn là sư tỷ, nhưng Bàng Quyên không còn là Bàng Quyên nữa!”

Ngọc Thiền kinh ngạc: “Bàng sĩ tử sao lại nói vậy?”

“Lần này Bàng Quyên đến,” Bàng Quyên lại vòng tay vái, “ngoài thăm sư tỷ ra, còn muốn thành tâm nói với sư tỷ một câu, dù rằng ngày trước Bàng Quyên có điều mạo phạm tới sư tỷ, nhưng không có tâm muốn mạo phạm sư tỷ. Sau này, cho dù Bàng Quyên có tâm muốn mạo phạm sư tỷ, cũng chẳng thể mạo phạm được nữa!”

“Bàng sĩ tử nói thế là có ý gì?”

“Bàng Quyên đã bái biệt tiên sinh, ngày mai vào lúc gà gáy sẽ xuống núi mưu sinh, lần này đến là để từ biệt sư tỷ!”

Ngọc Thiền lại giật mình kinh ngạc, rồi thong thả đứng dậy, vòng tay mà nói: “Tiểu nữ chúc Bàng sĩ tử thuận buồm xuôi gió, công thành danh toại!”

“Đa tạ sư tỷ!” Bàng Quyên cũng đáp lễ. “Sư tỷ, Bàng Quyên có một lời giấu kín trong lòng, hôm nay không thổ lộ, e rằng sau này không còn cơ hội nữa.”

“Bàng sĩ tử có lời gì, xin cứ nói!”

“Hôm nay, tại hạ nhìn trăng mà thề, nếu đời này Bàng Quyên có yêu một người con gái nào, thì đó chính là sư tỷ!”

Bàng Quyên bạo gan thổ lộ, Ngọc Thiền quá đỗi bất ngờ, nhất thời sững sờ lúng túng, hai má đỏ bừng, một lúc sau mới định thần lại được, vòng tay vái mà nói: “Tiểu nữ đa tạ Bàng sĩ tử hậu ái!”

Bàng Quyên đáp lễ: “Bàng Quyên vốn là kẻ nhơ bẩn, không xứng với thân phận thanh cao của sư tỷ, nhưng trời đất nhật nguyệt có thể chứng giám, tấm lòng của Bàng Quyên đối với sư tỷ là hoàn toàn chân thực. Từ nay trở đi, cho dù Bàng Quyên ở nơi đâu, chỉ cần sư tỷ có điều sai bảo, Bàng Quyên nhất quyết không từ. Nếu làm trái lời, trời đất không dung! Sư tỷ, hãy bảo trọng!”

Lời vừa dứt, Bàng Quyên đã gập người vái dài một vái. Do vái quá thấp, nên đầu Bàng Quyên gần như chạm đất. Vái xong, Bàng Quyên không nói một lời, lập tức quay người đi thẳng.

Nhìn Bàng Quyên từ từ đi khuất, Ngọc Thiền vẫn đứng thẫn thờ, nhịp tim rối loạn, một lúc sau mới thở hắt ra một hơi dài, trấn tĩnh tâm thần, rồi thì thầm khe khẽ: “Bàng sĩ tử, sĩ tử cũng bảo trọng!”

Sáng sớm hôm sau, khi phía xa xăm vừa vẳng đến hồi gà gáy đầu tiên, Bàng Quyên đã hành trang trên vai, khẽ khàng mở cửa phòng.

Cửa phòng vừa mở, Bàng Quyên gần như không dám tin vào mắt mình: trên bãi cỏ trước nhà, Tôn Tân, Tô Tần, Trương Nghi, Ngọc Thiền và tiểu đồng đã đứng đợi sẵn.

Xa hơn chút nữa, Quỷ Cốc Tử đứng trên một tảng đá lớn, trông hệt như một bức tượng trong ánh bình minh.

Tôn Tân lặng lẽ bước lên vài bước, đỡ lấy hành lý từ trong tay Bàng Quyên, khoác lên vai mình.

Bàng Quyên vốn là một hán tử cứng rắn, nhưng nhìn thấy cảnh này tình này, vẫn không cầm được nước mắt. Bàng Quyên đưa tay áo lau mắt, đi thẳng tới trước Quỷ Cốc Tử, quỳ xuống đất dập đầu mà nói: “Đệ tử bất hiếu, không thể hầu hạ tiên sinh được nữa. Đệ tử xuống núi, nếu được đắc ý, sẽ trở lại Quỷ Cốc thăm tiên sinh.”

Quỷ Cốc Tử mỉm cười, xua tay nói: “Đi đi!”

Bàng Quyên lạy ba lạy, đứng dậy đi về phía Tô Tần: “Tô huynh, Bàng Quyên xin đi trước một bước.”

Tô Tần vòng tay đáp lễ: “Tại hạ đợi tin tốt lành của Bàng huynh!”

“Đa tạ Tô huynh!” Rồi Bàng Quyên quay sang Trương Nghi, cũng vái một vái. “Trương huynh, ba năm trong Quỷ Cốc, Bàng Quyên có chỗ đắc tội, xin hãy bỏ qua!”

Trương Nghi bước lên trước một bước, đưa tay nắm lấy tay Bàng Quyên, cười lớn mà nói: “Bàng huynh đi rồi, Trương Nghi ở trong Quỷ Cốc này cũng thấy vô vị lắm!”

Nghe hắn tếu táo, mọi người thảy đều phì cười.

Bàng Quyên thu nụ cười lại, quay sang tiểu đồng, nhìn chăm chăm một lát, rồi từ từ quỳ xuống: “Đại sư huynh ở trên, xin hãy nhận của sư đệ Bàng Quyên một lạy!”

Bàng Quyên đang định cúi lạy, tiểu đồng liền đưa tay ngăn lại nói: “Bàng sư đệ, đại lễ này của đệ, đại sư huynh ta không nhận nổi!”

Bàng Quyên đứng dậy, kéo tiểu đồng ôm vào lòng, đưa tay xoa đầu tiểu đồng mà nói: “Đại sư huynh, mới chỉ ba năm mà sư huynh đã cao tới cằm sư đệ rồi.”

Tiểu đồng cười nói: “Thêm ba năm nữa, xem chúng ta ai cao hơn ai?”

“Được, được, được!” Bàng Quyên bật cười. “Ba năm sau, sư đệ nhất định sẽ trở lại cốc, đọ chiều cao với đại sư huynh!”

“Sư huynh sẽ đợi!”

Bàng Quyên lại quay mặt đi, ánh mắt nhìn hút vào Ngọc Thiền. Hồi lâu, Bàng Quyên vẫn không hề nói một lời, chỉ nhìn Ngọc Thiền đăm đắm, khiến Ngọc Thiền trong lòng bấn loạn, đang không biết phải làm thế nào, thì Bàng Quyên đã dứt khoát quay người, rảo bước đi luôn.

Tôn Tân khoác túi hành trang, cũng nhanh chóng bước theo sau.

Hai người rời khỏi Quỷ Cốc, đi thẳng về phía cửa Túc Tư.

Thấy đã sắp đến cửa Túc Tư, Bàng Quyên liền dừng bước, ngăn Tôn Tân lại: “Tôn huynh, chúng ta trước sau cũng phải từ biệt, không cần tiễn nữa!”

“Hiền đệ,” Tôn Tân dừng bước, do dự một lát, rồi chân thành nói, “sau khi xuống núi, vạn nhất gặp phải chuyện khó khăn, đệ có thể đến nước Vệ tìm thú thừa Sở Khâu là Lật Bình tướng quân. Chỉ cần nói là bằng hữu của ta, tướng quân nhất định sẽ giúp đỡ!”

“Ha ha ha!” Bàng Quyên phá lên cười lớn. “Tôn huynh quá lo xa rồi! Bàng Quyên cho dù bất tài, cũng tuyệt đối không đến xin cơm những hạng tầm thường.”

Tôn Tân mặt nóng ran, sượng sùng đứng ngây tại chỗ.

Bàng Quyên biết mình đã quá lời, lập tức cười trừ, rồi vái mà nói: “Tấm thịnh tình của Tôn huynh, đệ xin ghi nhớ. Tôn huynh và Quyên kết nghĩa kim lan, tình như thủ túc. Lần này đệ ra đi, nếu tạo được chút công danh, nhất định sẽ tiến cử huynh trước mặt Ngụy Vương, hai chúng ta sẽ cùng phò tá nhà Ngụy, cùng lập cơ nghiệp, dám hỏi ý Tôn huynh thế nào?”

Tôn Tân nghe Bàng Quyên đổi giọng, cũng bớt ngượng ngùng, vòng tay đáp lễ: “Tấm lòng của hiền đệ, Tân vô cùng cảm kích. Ngụy là nước lớn, ta tài học thô thiển, không dám có mơ mộng đó.”

“Lời này sai rồi! Chúng ta học cùng một thầy, nếu đệ có nơi tung hoành, Tôn huynh chắc chắn sẽ có đất dụng võ.”

“Cho dù như vậy, ta cũng khó lòng phụng mệnh!”

“Tại sao lại như vậy?”

“Đệ sinh ra ở nước Ngụy, là gốc gác của đệ. Còn nếu ta đến nước Ngụy, chỉ là cây không gốc cội, bèo trôi theo nước mà thôi.”

“Nghe Tôn huynh nói vậy, lẽ nào muốn trở về nước Vệ?”

“Tổ tiên vốn là người nước Tề, sau này nếu có cơ duyên, ta sẽ đến nước Tề!”

“Tôn huynh nói sai rồi!” Bàng Quyên lắc đầu quầy quậy. “Phượng hoàng nên đậu cành cao, giao long nên xuống đầm rộng. Thiên hạ ngày nay, sĩ tử sớm đã là của chung liệt quốc, sao lại phân chia quốc tịch cố hương? Tề giáp với biển, muốn tiến không được, muốn thoái chẳng xong, hình thế như vùng đất chết. Nước Ngụy nằm giữa Trung Nguyên, là trung tâm của thiên hạ, chính là nơi trổ tài của hai ta. Nếu Tôn huynh và đệ cùng hợp sức, hỏi thiên hạ có ai địch nổi?”

Tôn Tân không tiện phân trần gì thêm, đành phải nói: “Huynh tư chất ngu muội, chỉ sợ không những không giúp được gì, ngược lại còn gây khó khăn cho hiền đệ!”

“Tôn huynh nói như vậy là coi đệ như người ngoài rồi. Việc này, chúng ta cứ quyết định như vậy! Chỉ cần Bàng Quyên thành công, nhất định sẽ quay lại đón Tôn huynh.”

“Tấm lòng của hiền đệ, Tôn Tân xin ghi nhận!”

Bàng Quyên vòng tay vái lạy Tôn Tân: “Tôn huynh, bảo trọng!”

Tôn Tân bỏ túi hành trang xuống, khoác lên vai Bàng Quyên, vòng tay đáp lễ: “Hiền đệ lên đường bình an!”

Bàng Quyên đi xa dần, chốc chốc lại ngoái đầu nhìn lại. Tôn Tân lúc theo lúc dừng, trong lòng muôn phần lưu luyến. Hai người cứ bịn rịn như vậy, cho đến tận bến sông.

Tôn Tân tiễn Bàng Quyên lên đò, nhìn theo đến khi con đò đã đến giữa dòng Hà Thuỷ, chỉ còn là một chấm đen bé xíu, lúc này mới thở dài sườn sượt, rồi quay trở về sơn cốc.

Buổi tối hôm đó, trên bãi cỏ trước căn nhà của bốn người, Tôn Tân, Tô Tần, Trương Nghi lặng lẽ nằm ngửa mặt nhìn trời, ngắm nhìn vầng trăng đang từ từ nhô lên trên đỉnh Đông Sơn.

Ba người chẳng ai lên tiếng, bãi cỏ lặng phắc như tờ.

Trương Nghi không nhịn thêm được nữa, liền trở người ngồi dậy, nói lớn: “Hai vị, nói mấy câu có được không? Chỉ là bớt đi một tên Bàng Quyên thôi mà!”

Chẳng ai để ý đến Trương Nghi.

Trương Nghi sốt ruột, liền kéo Tô Tần dậy: “Huynh ngồi dậy nào!”

Tô Tần bị kéo dậy, hai mắt trừng trừng nhìn Bàng Quyên: “Nói cái gì?”

“Gì cũng được, chỉ cần không im lặng thế này!”

Tô Tần phì cười: “Không có Bàng huynh, đệ bứt rứt đến thế ư?”

“Nói thực, tên tiểu tử đó ở đây, nắm đấm của đệ lúc nào cũng thấy ngứa ngáy. Hắn ta đi rồi, kể cũng chán thực. Huynh nói xem, mới có tí kiến thức trong bụng, đã vội vàng xuống núi, liệu có ổn không?”

“Điều này phải hỏi Tôn huynh mới được!”

Trương Nghi quay sang Tôn Tân: “Tôn huynh, Bàng Quyên lần này lòng dạ nôn nóng, hấp tấp xuống núi, liệu có bị người ta đuổi về không nhỉ?”

Tôn Tân cũng ngồi dậy: “Bàng sư đệ nhạy bén hơn người, lại có nhiều lĩnh ngộ, lần này xuống núi, chắc chắn sẽ làm nên đại sự!”

“Tôn huynh, huynh hãy nói thực, có thật là hắn giỏi hơn huynh không?”

“Nhìn vào ngôn hành của Bàng đệ gần đây, e rằng cả đời này Tôn Tân cũng khó lòng theo kịp!”

“Đúng thế, đúng thế!” Trương Nghi cười lớn. “Vì Bàng huynh có được bảo bối, nhưng Tôn huynh lại hai tay trống không, tất nhiên không thể bằng được.”

Đúng vào lúc này, Ngọc Thiền từ gian thảo đường của Quỷ Cốc Tử bước ra, nghe được lời này, đoán rằng Trương Nghi đã biết chuyện tiên sinh tặng Bàng Quyên cuốn “Binh pháp Ngô Khởi”, liền buột miệng hỏi ngay: “Trương sĩ tử, Bàng sĩ tử đã có được bảo bối gì thế?”

Trương Nghi biết mình lỡ lời, vội vàng lấp liếm: “Nhìn bộ dạng giấu giấu giếm giếm của hắn, cứ như là đã có được bảo bối gì không bằng. Sư tỷ, mời ngồi!”

Ngọc Thiền bước tới, khép gối ngồi xuống, cười nói: “Nghe sĩ tử nói vậy, Thiền Nhi đã tin là thực. Ba vị sĩ tử…”

Trương Nghi đáp ngay: “Sư tỷ có điều gì căn dặn, xin cứ nói ra!”

“Tiên sinh bảo Thiền Nhi chuyển lời, nói rằng ban đêm thường nghe tiếng chuột kêu, cảm thấy khó chịu, bảo ba vị thay phiên nhau đến canh chừng, đuổi chuột cho tiên sinh!”

Ba người ngơ ngác nhìn nhau, một lúc sau, bèn đồng thanh đáp: “Đệ tử tuân lệnh!”

Trương Nghi chớp mắt một cái, rồi nôn nóng hỏi: “Sư tỷ, ai đi đầu tiên?”

“Tiên sinh đã dặn, đêm đầu tiên là Tô sĩ tử, đêm thứ hai là Trương sĩ tử, tiếp theo là Tôn sĩ tử, bắt đầu tính từ đêm nay. Giờ không còn sớm nữa, Tô sĩ tử, mời!”

Lời vừa dứt, Ngọc Thiền đã đứng dậy, toan quay về.

Tô Tần cũng đứng dậy, vòng tay nói với Tôn Tân, Trương Nghi: “Tôn huynh, hiền đệ, tại hạ đi trực đây!”

Tô Tần đi theo Ngọc Thiền vào trong động, thấy Quỷ Cốc Tử ngồi ngay ngắn im lìm trong động thất, đang chuẩn bị nhập định.

Ngọc Thiên bẩm báo: “Tiên sinh, Tô sĩ tử đến rồi!”

Tô Tần vội bước lên bái lạy: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử hai mắt hé mở, chậm rãi nói: “Không biết con chuột lớn từ đâu đến, làm nhiễu loạn tâm trí lão hủ, khiến lão hủ không thể nhập định. Con hãy canh ở chỗ này, nếu thấy chuột đến thì đuổi đi cho ta!”

“Đệ tử tuân lệnh!”

“Trên bàn có mấy cuốn sách. Nếu mỏi, con hãy lấy đọc.”

Tô Tần bái lạy: “Đệ tử đa tạ tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử khép mắt lại, từ từ nhập định. Tô Tần đưa mắt liếc nhìn, thấy bên cạnh có một cây gậy, liền khẽ khàng bước tới, cầm gậy trong tay, đứng cách Quỷ Cốc Tử chừng mấy bước, giương tai mở mắt canh chừng.

Tô Tần không dám chểnh mảng lấy một chốc, cứ thế canh một mạch đến quá nửa đêm, vẫn không thấy chút động tĩnh gì khác lạ, đến bóng dáng con chuột cũng chẳng thấy. Khi trời gần sáng, Tô Tần thấy mệt mỏi, ngáp ngắn ngáp dài, bỗng sực nhớ đến lời dặn của tiên sinh, liền đi tới bên bàn, quả nhiên thấy có một bó thẻ tre. Đưa mắt nhìn kỹ, hoá ra là cuốn “Âm phù bản kinh” của Khương Thái Công(3).

Thấy là sách quý, Tô Tần lập tức tỉnh cả ngủ, định mở ra đọc, nhưng lại sợ làm kinh động tới tiên sinh. Do dự một lát, thấy tiên sinh đã hoàn toàn nhập định, vả lại lúc trước tiên sinh cũng có căn dặn, nên hết sức thận trọng giở sách ra, chăm chú ngồi đọc dưới ánh đèn.

Bỗng nhiên, có tiếng gà trống ngoài rừng gáy le te. Quỷ Cốc Tử mở mắt, vươn mình.

Tô Tần bái lạy: “Đệ tử đã làm theo lời tiên sinh dặn, canh chừng cả đêm, nhưng không thấy con chuột nào cả.”

Quỷ Cốc Tử cười nói: “Có lẽ có con ở đây nên chuột không dám đến. Con đã canh chừng suốt đêm, hẳn cũng mệt rồi.”

“Đệ tử làm theo lời dặn của tiên sinh, đọc được sách quý, nên không hề thấy mệt!”

“Không mệt thì tốt! Hãy về nghỉ ngơi đi. Có căng thì phải có chùng, nên vẫn phải ngủ!”

Tô Tần bái lạy: “Đa tạ tiên sinh quan tâm! Đệ tử cáo lui!”

Tô Tần ra khỏi nhà cỏ, đang định ra bờ suối rửa mặt, bỗng có tiếng gọi vọng lại từ phía sau gốc cây: “Tô huynh…”

Tô Tần khẽ giật mình, quay đầu lại nhìn, thấy là Trương Nghi, bèn cười hỏi: “Hiền đệ, đệ nấp ở đó làm gì thế?”

“Đang đợi Tô huynh!”

Tô Tần ngạc nhiên: “Đợi ta?”

“Đệ muốn biết, Tô huynh đã bắt được chuột hay chưa?”

Tô Tần lắc đầu

“Ồ!” Trương Nghi gật gù. “Đệ cũng đoán thế. Nói vậy là Tô huynh đã canh chừng suốt cả đêm?”

Tô Tần gật đầu.

“Không hề chợp mắt?”

“Không!”

Trương Nghi không tin lắm: “Chỉ thế thôi ư?”

“Còn chứ, ta đã đọc được một cuốn sách quý.”

Trương Nghi hai mắt vụt sáng: “Đệ đang đợi câu nói này của Tô huynh. Không giấu Tô huynh, tối qua nghe sư tỷ nói, đệ đã đoán ra được phần nào, tiên sinh hẳn là muốn mở kho báu rồi. Xin hỏi Tô huynh đã đọc được sách quý gì vậy?

“‘Âm phù bản kinh’ của Khương Thái Công!”

“Quả là sách quý!” Trương Nghi xuýt xoa. “Đệ đã từng nghe đến sách này, nhưng vẫn chưa có duyên được đọc. Tô huynh, huynh hãy về nghỉ ngơi đi, vất vả cả đêm rồi, sức khoẻ là quan trọng!”

“Đa tạ hiền đệ đã quan tâm!” Dứt lời, Tô Tần liền đi tới bên suối rửa mặt.

Nhìn theo Tô Tần, Trương Nghi gật gù liên hồi, lẩm bẩm: “Xem ra, Trương Nghi ta đã quá đa nghi. Tô huynh vẫn là Tô huynh, không một chút gian trá, khác hẳn thằng cha Bàng Quyên!”

Buổi tối hôm nay, đến lượt Trương Nghi canh gác. Trên bàn vẫn bày cuốn “Âm phù bản kinh”. Trương Nghi mừng rỡ, đọc sách thâu đêm, không hề cảm thấy mảy may buồn ngủ.

Buổi tối ngày thứ ba, tới lượt Tôn Tân canh gác, nhưng trên bàn lại chẳng có gì. Quỷ Cốc Tử hai mắt nhắm nghiền, từ từ nhập định. Tôn Tân canh chừng bên cạnh, tay gậy lăm lăm, hai mắt mở to, dỏng tai lắng nghe, chăm chú canh chuột suốt cả một đêm. Canh tới tận khi trời sáng, vẫn chẳng thấy bóng dáng con chuột nào.

Đêm thứ tư, lại đến lượt Tô Tần canh, trên bàn vẫn bày cuốn “Âm phù bản kinh”, khác là “Âm phù” này không giống với “Âm phù” trước, bên trên viết dày đặc những lời chú giải của Quỷ Cốc Tử. Tô Tần vui mừng, lại đọc suốt một đêm nữa.

Đêm thứ năm, khi Trương Nghi đến canh, trên bàn vẫn để cuốn “âm phù” có chú giải mà tối qua Tô Tần đã đọc. Trương Nghi sớm đã biết trước nhờ thăm dò Tô Tần, vì vậy không hề ngạc nhiên, lại chăm chú đọc thâu đêm.

Đêm thứ sáu, tiếp tục đến phiên Tôn Tân canh gác, trên mặt bàn vẫn chẳng có gì. Tôn Tân cũng vẫn giống như đêm trước, tay gậy sẵn sàng, chăm chú canh một mạch đến khi trời sáng.

Tôn Tân canh chừng suốt hai đêm mà chẳng thu được gì, Ngọc Thiền thấy vậy mà thương cảm.

Sáng sớm hôm sau, sau khi Tôn Tân ra khỏi thảo đường, Ngọc Thiền cùng tiểu đồng và Quỷ Cốc Tử đi đến bãi cỏ ở phía sau thảo đường, luyện tập công pháp thổ nạp(4) do Quỷ Cốc Tử sáng tạo. Luyện được một canh giờ, ba người thu thế, Ngọc Thiền bèn nói: “Thiền Nhi có một chuyện không hiểu, muốn được thỉnh giáo tiên sinh.”

Quỷ Cốc Tử mỉm cười nói: “Không phải không hiểu, mà là thấy bất bình!”

Ngọc Thiền cười hỏi: “Tiên sinh đã biết cả rồi ư?”

Quỷ Cốc Tử giải thích: “Trước tiên nói về ‘Binh pháp Ngô Khởi’, sách này chú trọng kỹ xảo chiến tranh, Bàng Quyên có cái tâm cơ xảo mánh khoé, có thể học được. Tôn Tân là người thật thà, có học cũng vô ích. Còn về cuốn ‘Âm phù bản kinh’, sách này chú trọng tu tâm dưỡng chí, cả Tô Tần và Trương Nghi, từ khi vào Quỷ Cốc, tâm thần vẫn chưa định. Nếu tâm bất định, chí ắt không vững. Học cái học miệng lưỡi, tâm chí không vững là điều đại kỵ. Hai người đó học sách này chính là để bù đắp khuyết điểm của bản thân. Tôn Tân tính tình thận trọng, tâm định chí vững, nếu lại đọc thêm ‘Âm phù’ chẳng những không thể giúp được gì, mà ngược lại, còn làm lỡ đại sự của bản thân.”

Ngọc Thiền vô cùng thán phục: “Người ta đồn Trọng Ni có thể dạy dỗ tất cả mọi hạng người, tuỳ theo tư chất mà dạy, Thiền Nhi hôm nay mới được tận mắt chứng kiến. Có điều… tiên sinh cũng không nên để Tôn sĩ tử đêm đêm canh chuột như thế mãi!”

“Dưa chín cuống rụng, nước đến kênh thành. Tôn Tân tự có tạo hoá của Tôn Tân, chỉ là đang đợi cơ duyên mà thôi!”

Cứ như vậy trực thêm một vòng nữa, đêm nay lại đến lượt Tôn Tân. Đêm đến, Tôn Tân vẫn tay cầm gậy, nghiêm túc đứng canh bên cạnh Quỷ Cốc Tử, không dám lơ là dù chốc lát. Cứ thế canh gác suốt đêm, trời đã sắp sáng, nhưng Tôn Tân không hề thấy mệt. Quỷ Cốc Tử vẫn như thường lệ, ngồi xếp bằng ngay ngắn, thân tâm hoàn toàn nhập định.

Khi gà cất tiếng gáy lần đầu, Tôn Tân bỗng nghe thấy tiếng động lạ, lập tức định thần quan sát, quả nhiên thấy một con chuột lớn đang thập thò trong khe đá. Thấy không có động tĩnh gì, con chuột liền chạy vụt ra, leo lên chiếc bàn trước án của Quỷ Cốc Tử, chui tọt vào một ngăn kéo. Một lát sau, từ trong ngăn kéo vọng ra tiếng chuột gặm gỗ kèn kẹt. Tôn Tân rón rén đi tới trước bàn, rồi đột ngột giật mạnh ngăn kéo.

Con chuột sợ hãi lao vọt ra, Tôn Tân nhanh mắt nhanh tay, vung gậy đập xuống trúng ngang lưng con chuột. Con chuột kêu chít lên một tiếng, chết lăn dưới đất.

Nghe thấy tiếng động, Quỷ Cốc Tử bèn mở mắt ra nhìn.

Thấy Quỷ Cốc Tử xuất định, Tôn Tân bái lạy sát đất: “Tiên sinh, con chuột này quả nhiên đến làm phiền, đã bị đệ tử đánh chết. Đệ tử vô ý làm kinh động tiên sinh, xin tiên sinh thứ tội.”

Quỷ Cốc Tử liếc nhìn con chuột chết trên đất, gật đầu nói: “Kẻ làm phiền ta chính là con chuột này. Con giúp ta diệt chuột, sao lại bảo là có tội?”

Tôn Tân khấu đầu: “Đa tạ tiên sinh không trách tội!”

“Tôn Tân! Bàng Quyên xuống núi, con thấy thế nào?”

“Sư đệ tu học thành tựu, chắc chắn sẽ nên nghiệp lớn.”

“Nghe con nói vậy, con cho rằng Bàng Quyên đã học thành tài rồi ư?”

“Trước khi sư đệ xuống núi, đã từng mấy lần luận binh với đệ tử, đệ tử tự biết mình còn kém xa sư đệ!”

Quỷ Cốc Tử cười nói: “Bàng Quyên bản tính nôn nóng, những gì học được trong ba năm mới chỉ là một chút kỹ xảo vụn vặt mà thôi!”

Tôn Tân kinh ngạc: “Tôn Tân ngu muội, mong tiên sinh dạy bảo!”

“Tiên thánh nói, ‘người đại khéo trông giống kẻ vụng về, người đại trí trông giống kẻ ngu si’, đạo làm người không phải ở thông minh, đạo dụng binh không phải ở chiến thắng. Bàng Quyên tự cậy thông minh, tranh cường hiếu thắng, thoạt nhìn thì ngỡ là đại tài, nhưng thực ra lại tầm thường. Con không có tâm niệm cơ xảo, không có lòng dạ tranh giành, có thể rèn thành đại khí.”

“Tôn Tân thẹn không dám nhận!”

“Còn nhớ chuyện Bàng Quyên và con bàn luận ai là binh gia đệ nhất thiên hạ không?”

“Đệ tử nhất thời nổi tính hiếu thắng, nên đã tranh luận cùng sư đệ. Về sau đệ tử nghĩ lại chuyện này, cảm thấy thật hoang đường.”

“Biết được chỗ hoang đường, có thể thấy được huệ tâm của con. Tuy nhiên, theo ta được biết, tiên tổ Tôn Vũ Tử của con xứng danh là binh thánh trong thiên hạ, từ xưa đến nay, và cả sau này, không ai có thể sánh kịp.”

Tôn Tân dập đầu: “Tôn Tân thay mặt tiên tổ đa tạ tiên sinh đã khen tặng!”

“Nhưng con biết tại sao ta lại gọi Tôn Vũ Tử là thiên hạ binh thánh chăng?”

“Tiên tổ giỏi dụng binh, thường lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh.”

“Không phải! Tôn Vũ Tử có thể gọi là binh thánh, không phải bởi thiện chiến, mà là vì giỏi không chiến!”

Tôn Tân kinh ngạc: “Giỏi không chiến?”

“Đúng thế! Cái đạo dụng binh sâu xa của Tôn Vũ Tử, binh gia bình thường tuyệt đối không thể sánh được. Cho dù là Ngô Khởi cũng chỉ có thể xếp sau.” Quỷ Cốc Tử với lấy một cuộn thẻ tre từ trên án. “Đây là tinh hoa dụng binh của Tôn Vũ Tử, lão hủ mỗi lần đọc đến, đều phải kinh ngạc xuýt xoa, vỗ bàn thán phục!”

“Tiên sinh,” Tôn Tân mở tròn hai mắt, nhìn chằm chằm vào cuốn thẻ tre, “đây phải chăng là cuốn ‘Binh pháp Tôn Vũ’ của tiên tổ?”

“Đúng thế! Con luôn biết giữ mình, tâm không tạp niệm, thành tâm thành ý, có thể đọc sách này!” Quỷ Cốc Tử cầm sách lên, đưa cho Tôn Tân.

Tôn Tân hai tay nhận lấy, dập đầu nói: “Đệ tử đa tạ tiên sinh ban tặng!”

“Theo ta được biết,” Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói, “cuốn sách này là bản duy nhất còn lại trên đời. Tôn Vũ Tử chán ghét chiến tranh, dồn hết tâm huyết cả đời để viết ra cuốn sách này, sau khi tặng cho Ngô Vương đã lui về ở ẩn. Ngô Vương coi sách này như bảo bối, cất giữ cẩn thận trong đài Cô Tô. Khi Việt Vương Câu Tiễn diệt Ngô, đã phóng hoả đốt đài Cô Tô, từ đó sách này cũng thất truyền. May sao khi Tôn Vũ Tử viết sách đã sao thêm một bản phụ, sách này mấy lần đổi chủ, cuối cùng rơi vào tay ta. Trước nay ta luôn thận trọng, chưa từng truyền dạy cho ai. Nay thấy con lòng dạ trung hậu, lại là hậu duệ của Tôn Vũ Tử, biết là đã đến ngày sách này được thấy ánh mặt trời.”

Tôn Tân lại bái lạy: “Ơn đức của tiên sinh, đệ tử suốt đời không quên!”

“Nhớ kỹ,” Quỷ Cốc Tử dặn dò, “có được sách này, khéo dùng thì có lợi cho thiên hạ, không khéo dùng sẽ gây hại cho thiên hạ, nên kẻ lòng dạ bất chính không thể học. Con mang đi, từ từ mà đọc, ba ngày sau trả lại cho ta!”

“Đệ tử kính cẩn tuân mệnh tiên sinh!”

Tôn Tân mang cuốn “Binh pháp Tôn Vũ” về phòng, đóng cửa, thắp hương, bày bài vị tổ tiên, lạy liền ba lạy, sau đó mới phục sức ngay ngắn, ngồi nghiêm trang, mở cuộn sách ra đọc.

Tôn Tân làm theo lời dặn của Quỷ Cốc Tứ, đến buổi tối ngày thứ ba, tay cầm sách quý, đi vào thảo đường.

Vừa vào đến nơi, đã thấy Quỷ Cốc Tử ngồi ở trước án, đang đợi Tôn Tân.

Tôn Tân bái lạy: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”

“Đứng dậy đi!”

“Đa tạ tiên sinh! Cuốn ‘Binh pháp Tôn Vũ’ mà tiên sinh ban cho, đệ tử đã đọc liền ba ngày, nay mang đến trả!”

Tôn Tân nói đoạn, hai tay dâng cuốn “Binh pháp Tôn Vũ” lên, đưa cho Quỷ Cốc Tử.

Quỷ Cốc Tử liếc nhìn cuốn sách: “Con đã ghi nhớ chưa?”

“Đệ tử đã thuộc lòng!”

Quỷ Cốc Tử tiện tay lật một tấm thẻ tre, đọc thành tiếng: “Tôn Tử nói rằng: Trị lý quân đội, dù nhiều hay ít…”

Tôn Tân đọc tiếp: “Tôn Tử nói rằng: Trị lý quân đội, dù nhiều hay ít, đều cốt ở biên chế. Chỉ huy quân đội, dù nhiều hay ít, đều cốt ở hiệu lệnh chỉ huy. Thống lĩnh ba quân, gặp địch tấn công cũng không thất bại, là nhờ dùng ‘kỳ’ và ‘chính’. Dùng binh đánh địch như lấy đá chọi trứng, là nhờ hiểu lẽ thực hư. Trong tác chiến, thường dùng ‘chính’ để đối đầu với địch, dùng ‘kỳ’ để thủ thắng. Nên tướng giỏi sử dụng kỳ binh, chiến thuật sẽ biến hoá vô cùng như trời đất, vô tận như nước sông; như mặt trời mặt trăng lặn rồi lại mọc; như thời tiết bốn mùa vần xoay, qua rồi lại đến. Âm nhạc chỉ có năm thanh, nhưng năm thanh biến hoá vô cùng, tai nghe không chán. Màu mè chỉ gồm năm sắc, nhưng năm sắc biến hoá vô cùng, mắt nhìn không hết. Mùi vị chỉ gồm năm vị, nhưng năm vị biến hoá vô cùng, không sao nếm đủ. Chiến thuật cũng chỉ gồm ‘kỳ’ và ‘chính’, nhưng ‘kỳ’ và ‘chính’ biến hoá vô cùng vô tận. ‘Kỳ’ và ‘chính’ chuyển hoá lẫn nhau, tựa như vòng tròn, không có điểm bắt đầu, cũng không có điểm kết thúc, ai có thể cùng tận được nó?”

Quỷ Cốc Tử giơ tay ra hiệu dừng lại, rồi lại lật sang một thẻ khác: “Giành thời cơ có chỗ lợi, cũng có chỗ nguy…”

Tôn Tân đọc tiếp: “Nếu mang toàn bộ trang bị đi tranh lợi, sẽ không kịp đến nơi dự định. Nếu bỏ lại toàn bộ trang bị đi tranh lợi, trang bị sẽ tổn thất. Bởi vậy, cuốn giáp đi gấp, ngày đêm không nghỉ, ngày đi gấp đôi đường, vượt cả trăm dặm để tranh lợi, thì tướng lĩnh ba quân sẽ bị bắt. Quân lính khoẻ mạnh đến trước, quân lính mỏi mệt rơi lại phía sau, kết quả chỉ có một phần mười số người đến nơi. Vượt năm mươi dặm đường đi tranh lợi, tướng lĩnh tiền quân bị đánh bại, chỉ có một nửa số người đến nơi. Vượt ba mươi dặm đường đi tranh lợi, chỉ có hai phần ba số người đến nơi…”

Quỷ Cốc Tử đặt cuốn sách xuống, gật gù khen ngợi: “Con chuyên tâm như vậy, linh hồn Tôn Vũ Tử ở trên trời cũng đã được an ủi. Tôn Tân, hãy cầm sách lên, đi theo ta!” Rồi đứng dậy, đi trước dẫn đường.

Tôn Tân tay cầm “Binh pháp Tôn Vũ”, đi theo sau Quỷ Cốc Tử. Hai người đi tới bãi cỏ ở phía ngoài, Quỷ Cốc Tử chỉ vào một cái hố đào trên đất: “Đặt sách xuống đây!”

Tôn Tân cầm bó sách đặt xuống hố đất.

“Quay về, đem một ngọn đuốc lại đây!”

Tôn Tân đi vào nhà cỏ, đốt đuốc mang lại. Quỷ Cốc Tử chỉ tay vào cuốn sách: “Đốt đi!”

Tôn Tân kinh ngạc: “Tiên sinh?”

Quỷ Cốc Tử giọng bình thản: “‘Binh pháp Tôn Vũ’ con đã thuộc lòng, cuốn sách này để lại trên đời cũng chẳng còn tác dụng gì nữa, đốt đi!”

Tôn Tân không nỡ đốt, vẫn mở to mắt nhìn sững vào Quỷ Cốc Tử: “Tiên sinh…”

Quỷ Cốc Tử lặp lại: “Đốt đi!”

Tôn Tân thấy Quỷ Cốc Tử kiên quyết, đành phải nói: “Đệ tử tuân lệnh!”

Tôn Tân đặt ngọn đuốc sang một bên, quỳ xuống đất, xếp cuộn thẻ tre ngay ngắn, lạy liền ba lạy, vừa khóc vừa khấn: “Tổ tiên ở trên, hậu duệ Tôn Tân bất hiếu nay nghe theo lệnh của tiên sinh, trả lại cuốn sách này cho tổ tiên, xin tổ tiên chứng giám!”

Khấn xong, Tôn Tân cầm đuốc, rồi nhẹ nhàng đặt lên trên cuộn sách. Chớp mắt, cuốn thánh thư “Binh pháp Tôn Vũ” đã hoá thành tro trong tiếng lửa lép bép.

Quỷ Cốc Tử nhìn đám tàn tro lập loè bay đi trong gió, rồi nhìn sang Tôn Tân: “Tôn Tân, từ nay về sau, cuốn binh thư đệ nhất thiên hạ chỉ còn lại trong tâm của con. Tuy nhiên, con mới đọc thuộc lòng cũng không có ích lợi gì, cần phải để tâm nghiền ngẫm, ngộ ra cái lý, thấu hiểu cái nghĩa, đắc được cái đạo trong đó, mới có thể lĩnh ngộ được hoàn toàn.”

Tôn Tân bái lạy: “Đệ tử ghi nhớ lời dặn của tiên sinh!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử