Sau khi tan triều, cũng chính là lúc Sở Tần chính thức lập minh ước hoà mục.
Minh ước sớm đã soạn xong, người soạn là Ngận Thượng, hàm doãn và Trương Nghi, nội dung đúng như những gì Trương Nghi đã bàn với Hoài Vương gần đây: thứ nhất, Tần trả lại cho Sở sáu trăm dặm Thương Ư; thứ hai, Sở tuyệt giao với Tề. Hoài Vương đọc kỹ vài lượt, thấy không có gì sơ suất, thế nhưng phải lập ước thế nào, lại thành chuyện nan giải.
Minh ước liên quan tới sáu trăm dặm lãnh thổ, là chuyện cực kỳ hệ trọng, cần đại vương hai nước ghi danh, chí ít cũng phải đóng ấn tỉ. Song Tần Vương ở tận Hàm Dương, khi Trương Nghi đi sứ cũng chưa từng nghĩ tới minh ước này, vậy nên cũng chưa thể tấu với Tần Vương để mang theo ngọc tỉ. Trương Nghi bèn đề nghị, về phía Sở, do Sở Vương ghi tên đóng ấn; về phía Tần, do Trương Nghi thay mặt Tần Vương ghi danh, đóng ấn tướng quốc, coi như đã chính thức lập minh ước. Nếu nhất định phải có ấn tỉ của Tần Vương, thì khi sứ Sở tới Hàm Dương, Tần Vương sẽ đóng ấn ngay giữa triều đường, đồng thời thực thi nghi thức trao trả Thương Ư, sau đó, Trương Nghi sẽ cùng sứ Sở tới đất Thương Ư giao nhận.
Trương Nghi lời lẽ rất mực chân thành, hơn nữa, Trương Nghi đi sứ tới đây, vốn dĩ là để cầu hôn chứ không phải để lập minh ước này, giải thích như vậy, cũng là hữu lý. Hoài Vương không băn khoăn gì thêm, vui vẻ đề danh, đóng ngọc tỉ. Trương Nghi cũng đề danh, đóng ấn tướng quốc bên cạnh.
Lập xong minh ước, Hoài Vương vô cùng phấn chấn, lại bày yến tiệc trong cung, nhiệt tình khoản đãi sứ đoàn nước Tần, coi như tiệc tiễn hành.
Là vương sứ, Chiêu Tuy thống lĩnh một đội ngũ hùng hậu hơn ba ngàn người, một nửa đưa dâu, một nửa để tiếp nhận đất Thương Ư, hừng hực khí thế, theo sau đoàn sứ bộ nước Tần. Sứ đoàn hai nước hợp lại thành hàng, trước sau kéo dài bốn năm dặm nối liền nhau, chỉ có thể nhìn vào sắc cờ và trang phục để phân biệt nước này nước khác.
Đoàn đưa dâu đi tới Thương Ư, Trương Nghi sắp xếp cho tuỳ tùng hạ trại ngoài thành, còn các nhân vật chủ chốt như Chiêu Tuy thì đưa tới dịch quán. Khi màn đêm buông xuống, lại sai người đưa ba chị em Mị Nguyệt tới một toà phủ trạch.
Khi ba người tới nơi, Trương Nghi đón vào trong nhà, cười nói: “Các vị nhìn xem, phủ trạch này chính là nơi ở của Thương Quân năm xưa, gọi là phủ Thương Quân.” Lại chỉ vào chỗ mình đang ngồi, “Thương Quân đã bị Tần Vương phái người tới bắt sống ngay tại chỗ này!”
Ba người đều xuýt xoa, vô thức ngẩng đầu ngắm nhìn phủ trạch.
“Phủ trạch này có gì hay đâu mà nhìn, bản quân sẽ cho các vị gặp một người, chắc chắn ba vị sẽ thấy hứng thú hơn nhiều.”
“Là ai kia?” Mị Nguyệt hỏi.
“Một người uy chấn Ba Thục, một người trong trận Tích Thuỷ chỉ với hai vạn quân Tần đã đánh bại đại quân sáu vạn của tướng quân Cảnh Thuý.”
“Hẳn là tướng quân Ngụy Chương?” Ngụy Nhiễm hai mắt sáng bừng.
“Chính phải.”
“Hay lắm!” Ngụy Nhiễm ôm quyền mà nói, “Ngụy Nhiễm rất khâm phục người này! Trận chiến Tích Thuỷ, Ngụy Nhiễm từng nhiều lần bày trận thử, thấy quân Tần đánh rất hay! Ngụy Nhiễm đang nghĩ, với trận chiến này, tướng quân Ngụy Chương tuyệt đối không hề thua kém Bàng Quyên hay Tôn Tẫn!”
Trương Nghi cười lớn mà nói: “Vẫn kém một chút!”
Lời vừa dứt, từ ngoài cổng phủ bỗng vọng vào tiếng xe lộc cộc, một cỗ chiến xa dừng lại, từ trên xe có người nhảy vụt xuống, chỉ vài bước chân đã tiến vào trong phủ.
“Tướng quốc đại nhân! Trương huynh!” Người tới vừa đi vừa gọi lớn.
Trương Nghi quay sang ba người, khẽ “suỵt” một tiếng, ra hiệu hãy tạm lánh mặt, rồi sải bước ra ngoài nghênh đón.
Người tới chính là tướng Tần Nguỵ Chương.
“Chao ôi, Trương huynh,” Ngụy Chương chẳng kịp hành lễ, tiến lại siết chặt tay Trương Nghi, “nếu huynh còn không trở về, tại hạ sẽ đánh thẳng tới Sính Đô để tìm huynh đấy!”
Trương Nghi cười lớn: “Không đánh được! Không đánh được!” Dẫn Ngụy Chương vào phòng khách, chia ngôi chủ khách ngồi xuống, rồi cố tình hạ giọng thì thào, “tại hạ cho mời tướng quân tới, là muốn dành cho tướng quân một điều bất ngờ!”
“Ồ?” Ngụy Chương lo lắng, “có chuyện gì ư?”
“Chuyện thì không có, tại hạ dẫn ba người tới đây, có lẽ tướng quân muốn gặp.”
“Là ai vậy?” Ngụy Chương thở phào một tiếng.
“Một người là vương phi tại hạ rước về cho Tần Vương, công chúa nước Sở Mị Nguyệt; hai người còn lại, là em trai của công chúa!”
“Ồ…” Ngụy Chương sửng sốt, “vương phi của đại vương, mạt tướng gặp mặt, dường như không thích hợp?”
Trương Nghi bật cười: “Chẳng phải vẫn chưa thành hôn ư? Chưa thành hôn, nàng ấy chưa phải là vương phi, vẫn là công chúa nước Sở. Hơn nữa, không phải là tại hạ muốn giới thiệu, mà là công chúa Mị Nguyệt ngưỡng mộ đại danh tướng quân đã lâu, nên muốn được diện kiến tướng quân.”
“Không nên, không nên,” Ngụy Chương xua tay rối rít, “hai em trai của công chúa còn có thể gặp, công chúa thì xin miễn cho!”
“Nếu không gặp, tướng quân sẽ hối hận đấy!” Trương Nghi cười nói.
“Không hối hận, không hối hận, tại hạ quyết không hối hận!” Ngụy Chương lại xua tay.
“Tướng quân có thể không gặp, nhưng công chúa lại dứt khoát muốn gặp tướng quân!” Trương Nghi nói rồi vỗ tay, ba chị em Mị Nguyệt liền từ phòng bên bước vào.
Trương Nghi đứng dậy, châm cháy mấy ngọn đèn dầu, khiến phòng khách rộng lớn lập tức sáng bừng.
Mị Nguyệt, Mị Nhung và Ngụy Nhiễm tiến lại gần, cùng khom lưng vái chào. Ngụy Chương đứng dậy đáp lễ.
Đúng khoảnh khắc đó, Ngụy Chương chợt sững sờ.
Ba chị em Mị Nguyệt cũng đờ ra tại chỗ.
“Công chúa là Mị…Mị Nguyệt?” Phải mất một chốc, Ngụy Chương mới trấn tĩnh lại được, lắp bắp hỏi.
“Tôi có hai tên,” Mị Nguyệt đáp, “một là Ngụy Nguyệt, một là Mị Nguyệt! Dám hỏi tướng quân…”
“Chao ôi!” Ngụy Chương bỗng quỳ phịch xuống đất, ngửa cổ lên trời khóc lớn, “than ôi!”
Mị Nguyệt sửng sốt, hết nhìn Ngụy Chương lại nhìn sang Trương Nghi.
Trương Nghi đã quay trở về chỗ, hai mắt khép hờ, như chẳng nhìn thấy gì.
“Ngụy Chương tướng quân,” Ngụy Nhiễm cất giọng dõng dạc, “vãn bối thấy tướng quân rất giống một người!”
Ngụy Chương không đáp, tiếp tục khóc lớn.
“Giống ai?” Trương Nghi đáp, mắt vẫn không mở.
“Phụ thân của vãn bối, An Quốc Quân nước Nguỵ!”
“Mị Nguyệt, Mị Nhung, Ngụy Nhiễm, không mau lại bái kiến phụ thân của các người đi, còn chờ gì nữa?” Giọng Trương Nghi lại bình thản vang lên.
Cả ba người đều bàng hoàng kinh ngạc, ngơ ngác nhìn nhau, cứ như đã bị đóng đinh tại chỗ, không ai chịu nhích lên dù nửa bước. Trong tâm trí họ, phụ thân Ngụy Ngang từ lâu đã tử chiến sa trường, tướng quân Ngụy Chương trước mắt chẳng qua chỉ là trông hao hao giống mà thôi.
“Nhung, Nhiễm…các con trai của ta! Nguyệt Nguyệt của ta! Ta chính là phụ quân của các con đây!” Ngụy Chương nghẹn ngào lên tiếng gọi.
Nghe thấy hai tiếng “Nguyệt Nguyệt”, Mị Nguyệt mới dám tin là thực, vội rảo bước chạy lại, quỳ xuống trước mặt Ngụy Chương: “Cha…”
Ngụy Nhiễm, Mị Nhung cũng xúm lại, bốn cha con cùng bật khóc gọi nhau, mừng mừng tủi tủi, cảm động khôn xiết.
Hai đoàn sứ bộ nghỉ chân ở Ư Thành một ngày, rồi Trương Nghi để Mị Nhung ở lại chỗ Ngụy Chương, còn mình dẫn theo Mị Nguyệt, Ngụy Nhiễm khởi hành về phía tây, lại qua vài ngày nữa thì tới Nghiêu Quan.
Qua Nghiêu Quan sẽ tới Lam Điền. Trương Nghi lấy làm phấn chấn, lên cao ngắm cảnh, song lúc đi xuống, chẳng may giẫm trúng tảng đá cập kênh, ngã lăn lông lốc xuống sườn dốc, chân trái không biết va trúng vào đâu, chỉ thấy rú lên một tiếng thảm thiết rồi ngất lịm.
Đến khi Trương Nghi tỉnh dậy, đã thấy mình đang ở trong trướng. Sớm đã có thầy lang chuyên trị gãy xương ngồi chờ sẵn.
Trương Nghi xua hết tả hữu ra ngoài, chỉ giữ lại một mình thầy lang để bó xương cho mình. Tuỳ tùng chờ ở bên ngoài chốc chốc lại nghe thấy Trương Nghi la hét thảm thiết, không khỏi xót thương cho hắn. Chừng non nửa canh giờ sau, mới thấy thầy lang mặt mũi phờ phạc bước ra, gọi mọi người vào trong.
Mọi người nhìn thấy chân trái Trương Nghi băng bó tầng tầng lớp lớp, từ đùi đến bắp chân được ép giữa hai tấm gỗ, thẳng đờ như cây gậy, không thể nhúc nhích.
Một lát sau, sứ Sở Chiêu Tuy cũng tới.
“Chân tướng quốc đại nhân sao thế?” Chiêu Tuy lo lắng hỏi.
Trương Nghi cười nhăn nhó, một tay lau mồ hôi, một tay chỉ sang thầy lang.
“Hồi báo sứ Sở,” thầy lang vòng tay đáp, “tướng quốc đại nhân leo lên Nghiêu Quan, lúc xuống sườn dốc giẫm phải tảng đá lung lay, hụt chân mà ngã, chân trái đập vào đá cứng, xương cốt gãy lìa. May được chữa trị kịp thời, xương đã nối xong, nhưng giờ đây tuyệt đối không được đi lại, cần ngồi im tĩnh dưỡng một thời gian.”
“A…” Chiêu Tuy lo cuống, “phải tĩnh dưỡng bao lâu?”
“Chiêu đại nhân,” Trương Nghi tiếp lời, “đúng là việc tốt thường trắc trở, giờ đã về tới cửa nhà, vậy mà tại hạ…than ôi!”
“Trương đại nhân,” Chiêu Tuy lấy làm thất vọng, “vậy chuyện đón dâu, và cả Thương Ư…”
Trương Nghi bật cười, ung dung đáp: “Đừng có nghe thầy lang doạ dẫm, tại hạ chẳng qua chỉ là va đập chút xíu, không có gì nghiêm trọng, chỉ vài ngày là sẽ khỏi thôi, xin Chiêu đại nhân hãy cứ yên tâm. Còn về sứ mệnh, tại hạ đã sắp xếp ổn thoả, Chiêu đại nhân có thể tới Hàm Dương trước, nghỉ tại dịch quán, cung Tần sẽ có người nghênh đón công chúa và sửa soạn hôn lễ với Tần Vương. Còn về chuyện giao nhận Thương Ư, đợi cho cẳng chân bất trị của tại hạ đỡ một chút, sẽ đích thân cùng đại nhân xử lý.”
“Như vậy cũng tốt, tướng quốc đại nhân hãy bảo trọng!” Chiêu Tuy nói rồi từ biệt, quay trở về trại Sở.
Ngày hôm sau, cung Tần phái người tới đón dâu, dẫn đầu là thượng đại phu Sư Lý Tật.
Trương Nghi không thể ngồi xe, đành ở lại Nghiêu Quan dưỡng thương. Sư Lý Tật đón toàn bộ sứ đoàn và đoàn đưa dâu về Hàm Dương, an trí tại dịch quán liệt quốc.
Trời vừa sẩm tối, có người trong cung tìm đến, đưa công chúa Mị Nguyệt cùng các thị nữ thân cận và toàn bộ của hồi môn vào trong cung. Chiêu Tuy thì được đám Sư Lý Tật bày tiệc thiết đãi, vô cùng vui vẻ.
Vào tới cung Tần rồi, hôn lễ mà Mị Nguyệt chờ đợi lại không hề thấy, trong cung thậm chí không có lấy một chút không khí rộn ràng. Mị Nguyệt cùng hơn chục thị nữ bồi giá, và cả số của cải hồi môn, tất cả đều bị đưa vào một biệt viện xoàng xĩnh trong hậu cung, đến một cung nữ tiếp đón cũng không có. Cũng may, giường đệm, đồ dùng đều đủ đầy sạch sẽ, đám thị nữ tuỳ tùng lập tức tay chân tất bật hầu hạ chăm sóc cho Mị Nguyệt.
Suốt dọc đường gập ghềnh xóc nảy, Mị Nguyệt cũng đã thấm mệt, nằm xuống giường là thiếp đi ngay.
Ba ngày liền, ngoài hai cung nhân mang đồ ăn tới mỗi khi đến bữa, tuyệt nhiên không thấy một ai trong cung đến hỏi han, cứ như không hề biết họ đã tới.
Tới ngày thứ tư, Mị Nguyệt đã lại sức, bắt đầu ra khỏi khu biệt viện dạo chơi xung quanh, thản nhiên cứ như vẫn đang ở đất phong của Kỷ Lăng Quân.
Vào một buổi chiều, nắng chiếu rực rỡ, cung nhân đều vắng bóng, hậu cung tĩnh lặng như tờ. Mị Nguyệt kìm lòng không đặng, nhân lúc không có ai, bèn đi hẳn ra ngoài ngắm nghía, trông thấy đằng xa có một vạt cây um tùm, bèn chạy luôn tới đó.
Trong vườn cây có một con đường mòn quanh co lát đá cuội ngũ sắc, Mị Nguyệt chạy nãy giờ thấy nóng, bèn cởi hài, xách ở trong tay, chân trần giẫm trên đá cuội, lấy làm khoan khoái.
Mị Nguyệt hân hoan chạy trên con đường đá cuội, không hề cảm thấy rát chân. Đất Sở chuộng màu đỏ, Mị Nguyệt mặc xiêm y gấm lụa màu đỏ nhạt, chạy như bay trên con đường rải cuội ngũ sắc giữa vườn cây xanh thẳm, khác nào một vệt cầu vồng.
Chốc sau, con đường mòn kết thúc, trước mặt hiện ra một trạch viện tao nhã.
Mị Nguyệt tiến lại gần xem, thấy cánh cổng chỉ khép hờ. Nàng tò mò đẩy cửa, thò đầu vào nhìn, thấy bên trong vô cùng tĩnh mịch, không một bóng người.
Đó là một toà trạch viện ba dãy, dãy thứ nhất đóng cửa im ỉm.
Mị Nguyệt thấy khát, muốn tìm nước uống, bèn bước vào sân, đi tới dãy nhà thứ hai, thấy cửa gian phòng chính hé mở, đoán là bên trong có người, bèn tiến lại, đẩy mở cánh cửa.
Tuy nhiên, đúng lúc nàng chạm tay vào cửa, thình lình có hai bóng đen từ hai bên lao vụt lại như tên bắn, giữ chặt lấy nàng.
Mị Nguyệt kinh hãi, buột miệng hét lên một tiếng, ra sức giãy giụa.
Hai kẻ áo đen đang định lôi Mị Nguyệt đi, bỗng từ bên trong vọng ra một giọng đàn ông nghiêm nghị: “Dẫn nàng ta vào đây!”.
Hai kẻ áo đen bèn đẩy Mị Nguyệt vào chính đường. Thấy trong chính đường kê một giường trúc, ngồi trên giường là một người đàn ông, rõ ràng đang ngủ trưa thì bị đánh động mà giật mình tỉnh giấc, vẫn chân trần, mình khoác hờ tấm áo rộng màu đen, mắt ngái ngủ nhìn nàng.
Mị Nguyệt lúc này không chút phấn son, đầu tóc rối bời, toát lên một vẻ ngang tàng ương bướng, chỉ có cặp mắt to vẫn chưa hết bàng hoàng, nhìn sững vào người kia.
Thấy Mị Nguyệt tay không vũ khí, chỉ xách đôi hài, người đàn ông kia bèn ra lệnh cho hai kẻ áo đen: “Mở cửa!”
Một kẻ áo đen nhanh nhẹn mở toang mọi cánh cửa, ánh sáng từ bên ngoài ùa vào, chiếu sáng trưng toàn bộ gian phòng, khiến khuôn mặt và dáng điệu của Mị Nguyệt đều hiện rõ mồn một trong ánh nắng.
Người đàn ông nhìn nàng chăm chú một hồi, hai mắt nheo lại, chợt hỏi: Tên gì?”
“Mị Nguyệt!”
Đôi mắt người đàn ông chợt mở to như ngỡ ngàng, lại săm soi nàng một lượt, rồi vẫy tay với kẻ áo đen vẫn đang bẻ quặt cánh tay nàng: “Buông nàng ấy ra.”
Hắn lập tức thả tay ra. Hẳn là vừa bị bẻ vặn mạnh quá, Mị Nguyệt bèn đưa tay còn lại lên xoa nắn.
“Hai ngươi lui ra!” Người đàn ông chỉ ra ngoài cửa.
Hai kẻ vội vã đi ngay.
“Nàng tới đây làm gì?” Người đàn ông nhìn thẳng vào Mị Nguyệt hỏi.
“Khát quá, thấy ở đây có nhà nên vào tìm nước uống.” Mị Nguyệt lùi lại một bước, đáp.
“Nước đằng kia!” Người đàn ông chỉ lên chiếc án, “tự lấy mà uống.”
Mị Nguyệt đang khát khô, bèn chạy ngay lại bên án, thấy có cái cốc đựng đầy nước, thì cứ thế bưng lên, uống ừng ực ngon lành cho bằng hết, rồi chép miệng sảng khoái, đặt cốc rỗng xuống, quay về phía người đàn ông kia, khom lưng mà nói: “Cảm tạ nước của anh. Tôi đi đây!”
“Từ từ đã!” Lúc nàng đang uống nước, người đàn ông kia đã kịp sửa áo thắt đai gọn gàng, dẹp giường trúc sang một bên, rồi bước tới trước án, ngồi xuống chiếu chủ, chỉ sang chiếu khách chênh chếch phía trước, “ngồi đi.”
Mị Nguyệt liếc xéo một cái, rồi cũng ngồi ngay ngắn xuống chiếu, đặt đôi hài thêu bên cạnh, cặp mắt to sáng long lanh nhìn người kia chăm chú.
Người đàn ông kia cũng ngắm nghía nàng kỹ lưỡng, từ khuôn mặt cho tới đôi chân trần.
“Này, anh nhìn gì thế?” Mị Nguyệt hỏi.
“Nhìn nàng.”
“Tôi có gì mà nhìn?” Mị Nguyệt hất mái tóc dài ra sau lưng.
“Có chút thú vị.”
“Thú vị gì?”
“Không kẻ mày, không thoa phấn, không tô son.”
“Tôi ghét.” Mị Nguyệt chau mày, nhìn xoáy vào người kia, “này, anh cũng thú vị đấy!”
“Tôi có gì thú vị?”
“Không khiến người ta thấy ghét.”
“Ồ,” người kia bật cười, “vậy nàng ghét loại đàn ông thế nào?”
“Giả tạo.”
“Thế nào là giả tạo?”
“Trong lòng khiếp nhược, song lại ra vẻ hung hăng; trong túi rỗng không, song lại ra vẻ lắm tiền; trong lòng tà dâm, song lại ra vẻ tử tế…Đại loại như thế, đều là giả tạo. Tôi khinh những loại đàn ông đó…” Nói tới đây, khoé miệng nàng nhếch lên đầy khinh miệt.
Người đàn ông phá lên cười lớn: “Hình như, nàng đã giao du với không ít đàn ông!”
“Phải. Từ nhỏ tôi đã không thích chơi với đàn bà con gái.”
“Vì sao kia?”
“Không thích.”
“Tức là, nàng chỉ thích đàn ông?”
“Tất nhiên. Không thích đàn ông, có còn là con gái nữa không?”
“Nói thử xem, nàng thích đàn ông thế nào?”
“Ồ, thế thì còn phải xem ở mặt nào đã.”
“Cứ nói, mặt nào cũng được.”
“Trong số những người đàn ông tôi từng gặp, có hai kiểu người khiến tôi thích thú nhất, một người nói giỏi, một người đánh giỏi. Người nói giỏi tên gọi Trương Nghi, lưỡi dài cả gang, tôi đã tự tay đo. Người đánh giỏi tên gọi Ngụy Chương, chính là cha tôi!”
“Ồ?” Người đàn ông tỏ vẻ ngạc nhiên, “Ngụy Chương là tướng nước Tần, còn nàng là người nước Sở, sao lại có thể là cha của nàng được?”
“Suỵt!” Mị Nguyệt hạ giọng thì thào, “chuyện này không nói với anh được.”
“Vậy trong số những người từng nghe nói tới, nàng thấy thích thú với ai nhất?”
“Cũng có hai. Một là Tô Tần, đến cả Trương Nghi lưỡi dài cũng phải tôn kính. Còn một người nữa, tôi không thể nói với anh được.”
“Tại sao?”
“Suỵt,” Mị Nguyệt nháy mắt, giọng càng nhỏ hơn, “tôi nói với anh, anh chớ có tiết lộ với ai đấy. Đó là phu quân của tôi!”
“Ồ, thú vị đấy!” Người đàn ông cười cười, “nói xem, nàng thích hắn ở điểm nào?”
“Người đó có thể sai khiến Trương Nghi, có thể sai khiến cha tôi!”
“Chỉ thế thôi ư?” Người kia có vẻ thất vọng.
“Còn một điểm nữa,” Mị Nguyệt bật cười, “tôi được gả tới đây đã mấy ngày rồi, thế mà hắn vẫn chưa nhìn tôi lấy một cái!”
“Thế thì nàng nên tức giận mới phải, chứ sao lại thích thú được?”
“Với tôi, đây lại là chuyện tốt, sao phải tức giận?”
“Tốt ở chỗ nào?”
“Cho thấy đó không phải người bình thường. Đến ngày tân hôn mà hắn cũng không tới gặp tôi, hẳn có hai nguyên nhân. Thứ nhất, hắn quá bận rộn; thứ hai, hắn không hiếu sắc.”
“Sao nàng lại thích thú với hai điều đó?” Người đàn ông lấy làm tò mò.
“Bận rộn, cho thấy đây là người làm đại sự. Đàn ông mà không làm nên đại sự, thì còn có giá trị gì?”
“Ồ, nói cũng phải. Nhưng nếu hắn không hiếu sắc, thì nàng gả cho hắn để làm gì?” Người đàn ông tiếp tục truy hỏi.
“Không hiếu sắc, cho thấy hắn là người tâm cao khí ngạo, phụ nữ tầm thường sẽ không lọt vào mắt hắn.”
“Nàng lại thích người tâm cao khí ngạo ư?”
“Phải,” Mị Nguyệt gật đầu, “còn kiểu đàn ông cứ thấy đàn bà là tít mắt, tôi khinh.”
“Ồ!” Người đàn ông vuốt râu một chốc, lại nhìn nàng chăm chú, “hắn tâm cao khí ngạo là thế, nếu cứ khăng khăng không chịu gặp nàng, thì nàng sẽ làm thế nào?”
“Hắn không chịu gặp thì tôi sẽ đi tìm!”
“Cho dù tìm được, hắn cũng không thèm để mắt tới nàng thì sao?”
“Chinh phục hắn!” Mị Nguyệt tự tin đáp, “sở thích của đàn ông, là chinh phục thiên hạ. Còn tôi, tôi sẽ chinh phục đàn ông chinh phục thiên hạ!” Mị Nguyệt mỉm cười tinh nghịch.
“Nàng sẽ chinh phục thế nào?”
“Chuyện này thì phải dần dần từng bước. Chỉ cần chịu động não, chuyện nan giải nào cũng có thể tháo gỡ!”
Người đàn ông phá lên cười sảng khoái: “Được, nàng cứ từ từ nghĩ cách đi, nghĩ ra thì hãy tới đây nói cho ta biết!” Nói rồi chỉ ra ngoài cửa, “nàng có thể về được rồi!”
Mị Nguyệt đứng dậy, đi vài bước lại ngoảnh đầu, hạ giọng nói: “Chuyện hôm nay, anh đừng nói cho ai biết nhé! Tôi vừa từ Sở tới, lạ nước lạ cái, không có lấy một người bạn. Nay gặp được anh, nhờ nước mát của anh để giải cơn khát, chính là duyên phận, từ giờ, anh chính là bằng hữu của tôi. Đợi tôi chinh phục được phu quân của tôi rồi, tôi sẽ…” Nàng ngưng lại, nhìn thẳng vào người kia.
“Sẽ thế nào?” Người đàn ông kia cũng nhìn lại nàng.
“Tôi sẽ nói với hắn, anh là bằng hữu của tôi!”
“Được!” Người đàn ông cười sảng khoái, “tôi cũng đã nhận nàng làm bạn!”
Người đàn ông đứng dậy, tiễn Mị Nguyệt ra ngoài cửa, nhìn theo bước đi tung tăng của nàng, cứ vuốt râu cười mãi.
Mị Nguyệt không bao giờ có thể ngờ được, người đàn ông áo đen này chính là Tần Huệ Vương, ba dãy nhà ở đây là ngự thư phòng, nghiêm cấm phụ nữ hậu cung bước vào nửa bước. Hôm nay Mị Nguyệt vô tình xông vào, quả là hi hữu trong hi hữu.
Đêm hôm đó, hậu cung có người tìm tới, đưa Mị Nguyệt đi tắm rửa tẩy trần, rồi đưa nàng đến tẩm cung của Huệ Vương.
Cung nhân đã lui ra cả, xung quanh đèn nến mông lung, tiếng giọt đồng hồ tí tách. Mị Nguyệt nằm trong màn gấm, hai tai dỏng lên, vô cùng căng thẳng lắng nghe động tĩnh bên ngoài cửa.
Chờ tới quá nửa đêm, vẫn không nghe thấy có ai bước vào. Nàng dần mơ màng chìm vào giấc ngủ.
Đến khi trời tờ mờ sáng, mới có mấy cung nhân vào phòng, lay nàng tỉnh dậy, đỡ nàng xuống giường, dẫn ra khỏi tẩm cung, rồi cứ thế chẳng nói chẳng rằng, đưa thẳng nàng trở về biệt viện.
Cứ như thế ba ngày liền, chập tối có người đến đưa Mị Nguyệt đi tắm gội, dẫn tới tẩm cung, đưa lên long sàng. Tới khi trời sáng, lại đưa nàng vẫn đang mơ màng gà gật về lại biệt viện.
Mị Nguyệt hết sức băn khoăn, không hiểu chuyện gì.
Tới đêm thứ tư, Mị Nguyệt vừa được đưa vào trong màn gấm, thì người đàn ông nàng gặp hôm trước, cũng chính là Tần Huệ Vương, thủng thẳng bước vào.
Mị Nguyệt nhận ra, lấy làm kinh hãi, vội thò đầu ra khỏi màn, cuống quýt giục rối lên: “Này vị bằng hữu kia, anh ra khỏi đây mau lên, đây không phải là nơi anh có thể tới!”
“Ồ, tôi vừa hay đi ngang qua, trông thấy có ánh sáng, mới vào xem thử. Cứ tưởng ai, té ra là nàng.” Huệ Vương bật cười, thản nhiên ngồi luôn xuống mép giường.
“Anh ra khỏi đây mau!” Mị Nguyệt toát mồ hôi, “tôi đang chờ phu quân của tôi, lỡ như hắn tới, thấy anh ở đây, tôi biết phải giải thích thế nào!”
“Thì nàng cứ nói, tôi là bằng hữu!”
“Không…không…không được!” Mị Nguyệt lắc đầu quầy quậy, “bằng hữu cũng không thể gặp nhau ở chỗ này, tôi không thể giải thích được đâu!”
“Được chứ sao không. Nàng ở trong màn, ta ở ngoài màn, hai ta còn cách nhau một bức màn kia mà!” Huệ Vương vẫn nhơn nhơn, “dù sao thì phu quân của nàng cũng đâu có ở đây, ta hỏi nàng vài câu có được không?”
“Hỏi gì thì hỏi mau lên!” Mị Nguyệt giục giã.
“Nàng đã nghĩ ra cách để chinh phục phu quân của mình rồi chứ?”
“Rồi! Rồi!” Mị Nguyệt đáp vội.
“Nói ta nghe xem nào.”
“Không được!” Mị Nguyệt lắc đầu quầy quậy.
“Vì sao kia?”
“Đây là bí mật của tôi, tôi chỉ dành riêng cho phu quân tôi mà thôi!”
“Thì cứ giả sử ta là phu quân của nàng đi?”
“Làm sao mà giả sử thế được!” Mị Nguyệt kêu lên.
“Vậy thì…không cần giả sử nữa. Ta chính là phu quân của nàng đấy!” Huệ Vương không đôi co nữa, phá lên cười lớn, rồi nhảy lên giường, chui vào trong màn gấm.
“A!” Mị Nguyệt tung chân đạp Huệ Vương ngã lăn xuống giường, “anh biến đi mau, không tôi hét lên đấy! Tôi cũng không làm bằng hữu gì với anh nữa!”
“Ái chà, nàng dám đạp cả vua của Đại Tần cơ đấy!” Huệ Vương bật dậy, ra vẻ giận dữ, mắt trừng trừng nhìn Mị Nguyệt.
“Này!” Mị Nguyệt cũng sừng sộ không kém, giơ tay chỉ thẳng mặt Huệ Vương mà mắng, “anh trơ trẽn vừa chứ! Tôi coi anh là bạn, mà anh lại mạo nhận phu quân tôi? Anh còn dám ngang ngược, tôi sẽ…” hằm hằm tức tối nhìn Huệ Vương.
“Nàng sẽ làm gì?” Huệ Vương áp lại gần.
“Anh…anh dám tới!” Mị Nguyệt lăm lăm nắm đấm, thủ thế sẵn sàng.
Huệ Vương vén mở màn gấm, nhảy phóc lên giường, ôm chầm lấy Mị Nguyệt. Mị Nguyệt chống cự kịch liệt một hồi, rồi đột nhiên ôm ghì lấy Huệ Vương.
Sau đại lễ nhường ngôi, Tử Chi chính thức chuyển vào trong cung Yên.
Trong nửa tháng sau đó, Tử Chi mở đại triều ba lần. Lần thứ nhất, thái tử Cơ Bình có tới, lần thứ hai thì vắng mặt, bè cánh của thái tử cùng một số lão thần tiền triều cũng không thấy đâu, trong buổi đại triều, chỉ có phe đảng của Tử Chi cùng một số triều thần trung lập. Tới buổi đại triều thứ ba, mấy triều thần trung lập cũng mất tăm hơi. Trên triều đường rộng lớn, có quá nửa chỗ ngồi bỏ trống.
Tử Chi mặt dài thườn thượt.
Sau buổi triều, Tử Chi giữ Lộc Mao Thọ lại, thở dài mà nói: “Than ôi, Mao Thọ, quả nhân vốn định để khanh giữ ngôi tướng quốc.” Rồi lấy ra một bức chiếu thư, “đây, đến chiếu mệnh cũng soạn xong rồi, chỉ thiếu ngọc tỉ mà thôi. Tuy nhiên, buổi đại triều hôm nay, quả nhân thấy triều đường bỏ trống quá nửa, than ôi…” Lắc đầu buồn bã.
“Tạ ơn đại vương hậu đãi!” Lộc Mao Thọ vòng tay đáp, “theo thần biết, triều thần không tới, là vì thái tử!”
“Khanh chỉ biết một,” Tử Chi cười khẽ, “mà không biết hai.”
“Ồ?” Lộc Mao Thọ nhìn Tử Chi, ánh mắt dò hỏi.
“Chử Mẫn!”
“Chẳng phải người này đã mất hết thực quyền?”
“Người này là lão thần ba triều, lão luyện không kém quả nhân, không ít triều thần phải nhìn sắc mặt người này mà hành sự. Giờ đây, người này đang đứng sau thái tử!”
“Đứng cũng vô dụng. Không có binh quyền, cũng chẳng thể khuấy động sóng gió!”
“Nhưng Thị Bị thì có đấy!”
“Thị Bị?” Lộc Mao Thọ sửng sốt, “hắn chẳng phải là người của chúng ta?”
“Đó là trước đây, còn hiện tại thì không phải nữa.”
“A…” Lộc Mao Thọ kinh ngạc, nhìn sững vào Tử Chi.
“Thị Bị là cháu đằng ngoại của Chử Mẫn.” Tử Chi giải thích căn nguyên, “vừa mới hôm qua, hắn đã tới phủ Chử Mẫn, chẳng bao lâu sau, Cơ Bình cũng tới. Nghe nói gần đây, bọn họ qua lại khá thường xuyên!”
“Thảo nào hôm nay Thị Bị cáo bệnh không vào chầu, thần cứ ngỡ hắn bị bệnh thực!”
Tử Chi nhìn thẳng vào Lộc Mao Thọ: “Xem ra, khanh phải đi cùng quả nhân một chuyến!”
“Đi đâu kia?”
“Gặp Vương Khoái, lại diễn thêm một màn.”
Yên Vương Khoái vẫn sống ở cung điện trước đây, cùng với vương hậu Hàn thị và một phi tử nữa. Không còn là Yên Vương, Cơ Khoái lại thành nhàn nhã, cả ngày quanh quẩn trong cung, hoặc đọc sách thánh hiền, hoặc chăm chút cỏ cây hoa lá trước sân sau điện.
Khi Tử Chi và Lộc Mao Thọ tìm tới, đúng lúc Cơ Khoái đang trồng hoa bên cổng, tay lấm lem đất cát.
“Thái thượng, Cơ Chi có lễ!” Tử Chi tiến lại gần, vòng tay vái chào.
Cơ Khoái ngẩng đầu trông, ném luôn cây hoa, đứng dậy đáp lễ, sắc mặt hân hoan: “Chao ôi, thực không ngờ đại vương lại tới!” Rồi vội phủi đất trên tay, “mời đại vương vào trong hàn xá!”
Ba người cùng vào phòng khách, Cơ Khoái ngồi chiếu chủ, Tử Chi ngồi chiếu khách, Lộc Mao Thọ khom lưng đứng hầu bên cạnh.
“Thượng khanh, ngồi đi!” Cơ Khoái nhìn sang Lộc Mao Thọ, chỉ xuống chiếu. Lộc Mao Thọ cảm tạ rồi ngồi xuống.
“Đại vương tới thật đúng lúc,” Cơ Khoái cười nói, “Cơ Khoái cũng đang định đi tìm đại vương đây!”
“Thái thượng triệu Chi, có việc gì chăng?” Tử Chi cung kính hỏi.
Cơ Khoái chỉ vào cung điện: “Ta đã không còn là Yên Vương nữa, không nên ở trong cung thành này, muốn chuyển ra ngoài cung ở.”
“Ngoài cung? Chỗ nào kia?” Tử Chi sửng sốt.
“Còn nhớ nhà cỏ của đại vương trước đây chứ? Ta cũng có một nếp nhà cỏ sát gần, muốn chuyển về đó ở. Trước sau nhà có đất trống, ta rảnh rỗi có thể trồng rau nuôi gà, vui thú điền viên.”
“Không được, không được!” Tử Chi xua tay lia lịa.
“Sao lại không được?” Cơ Khoái ngơ ngác.
“Thái thượng có điều không biết,” Tử Chi vội giải thích, “người chính là chỗ dựa của Cơ Chi, có người ở bên, Cơ Chi mới thấy vững dạ. Nếu người đi khỏi, thì Cơ Chi đây…” đưa tay áo lau nước mắt, “cho dù có muốn bày tỏ lòng hiếu kính, hay tâm sự đôi lời, e rằng cũng không biết tìm ai!”
“Cơ Khoái vẫn ở trong thành này, đại vương có thể triệu kiến bất cứ lúc nào!”
“Không được, không được!” Tử Chi lại xua tay, “thái thượng chớ nên nghĩ vậy. Nếu người muốn ở nhà cỏ, Cơ Chi sẽ dựng cho người một nếp nhà ngay tại cung này. Người có thể trồng rau nuôi gà, vui thú điền viên ngay trong cung viện! Cung thành này, vẫn là của thái thượng, Cơ Chi chẳng qua chỉ tạm trông nom giúp một thời gian mà thôi. Nếu khi nào, thái thượng thấy Cơ Chi đức không xứng vị, tài không phục chúng, xin cứ thẳng tay phế truất Cơ Chi.”
Thấy Tử Chi nói tới nước này, Cơ Khoái lấy làm cảm động.
“Thái thượng,” Tử Chi lại vòng tay, “Cơ Chi hôm nay tới đây, thứ nhất là hỏi thăm sức khoẻ của người, nghe nói tối qua người bị ho, giờ thấy khí sắc của người không tệ, Cơ Chi mới thấy yên tâm. Còn chuyện thứ hai…” Đang nói, lại ngập ngừng dừng lại.
Cơ Khoái nhìn sang, ánh mắt dò hỏi.
Tử Chi nhìn sang Lộc Mao Thọ.
“Thái thượng,” Lộc Mao Thọ vòng tay nói, “hôm nay đại vương lâm triều, là buổi đại triều, song triều thần vào chầu chưa đầy một nửa.”
“Vì sao kia?” Cơ Khoái sửng sốt.
“Thần không biết.” Lộc Mao Thọ đáp, “thần chỉ thấy, những người không vào chầu, đều là người của thái tử!”
“Cơ Bình?” Cơ Khoái kinh ngạc, “vậy thái tử có đến?”
“Thưa, không.”
“Thái thượng…” Tử Chi ứa nước mắt, chầm chậm đứng dậy, quỳ xuống trước mặt Cơ Khoái, lấy ngọc tỉ ra khỏi ống tay áo, hai tay dâng lên.
“Đại vương,” Cơ Khoái thất kinh, “làm gì vậy…”
“Cơ Chi khẩn cầu thái thượng hãy thu hồi vương quyền, Cơ Chi nguyện trao lại ngọc tỉ này cho thái tử!”
“Ồ…” Cơ Khoái không biết phải làm sao, nhìn sang Lộc Mao Thọ.
“Thái thượng,” Lộc Mao Thọ vòng tay nói, “trong triều có kẻ phao tin đồn nhảm, quần thần lòng dạ hoang mang, mới không vào chầu.”
“Loan tin nhảm gì?” Cơ Khoái sốt ruột hỏi dồn.
“Tin đồn rằng,” Lộc Mao Thọ dõng dạc đáp, “Đại Vũ biết Ích là người hiền đức, bèn giao lại triều chính cho Ích, và trọng dụng con trai là Khải. Đại Vũ về già, thấy Khải tài đức không đủ để trị thiên hạ, bèn nhường ngôi cho Ích. Đại Vũ băng hà chưa đầy mười ngày, Khải bèn triệu tập bè đảng, giết chết Ích, cướp lại thiên hạ. Vậy nên, triều thần cho rằng, Đại Vũ truyền thiên hạ cho Ích là giả, để con trai Khải giành thiên hạ mới là thật.”
Cơ Khoái hít sâu vào một hơi. Chuyện này có ghi trong sử sách, Cơ Khoái cũng biết.
“Thái thượng nhường nước Yên cho đại vương,” Lộc Mao Thọ nói tiếp, “song lại cho toàn bộ người của thái tử làm quan trong triều, vậy nên mới có tin đồn, bóng gió rằng thái thượng nhường ngôi là giả, muốn để thái tử cướp ngôi mới là thật. Tin đồn nhảm lan khắp Kế Thành, triều thần hoang mang do dự, nên mới không muốn vào chầu.”
“Thái thượng,” Tử Chi bật khóc, “Cơ Chi tuy không sợ chết, nhưng…nhưng không muốn nước Yên lại đổ máu! Cơ Chi không muốn làm Yên Vương nữa, nguyện nhường lại ngọc tỉ cho thái tử, thái tử kế ngôi, mới là chính thống! Còn về hiền đức của thái tử, chờ thái tử lên ngôi rồi, sẽ dần dần tu dưỡng. Cơ Chi là bề tôi, một lòng trung thành với thái thượng, thái tử và nước Yên. Bằng không, tương lai của Cơ Chi, sẽ giống như Ích, không chỉ vong mạng, mà việc sau khi chết, thái tử nói sao cũng phải chịu nhận, đến một tiếng kêu oan cũng chẳng thể thốt ra. Thái thượng…”
Lời của Tử Chi, không phải không có lý. Cơ Khoái nhắm mắt trầm ngâm.
Hồi lâu sau, Cơ Khoái chủ ý đã quyết, ngẩng đầu nhìn Tử Chi: “Đại vương!”
“Có Cơ Chi.”
“Truyền chỉ của thái thượng,” Cơ Khoái cất giọng rành rọt, “đại triều ngày mai, thái thượng lâm triều, triều thần từ ba trăm thạch lộc trở lên, toàn bộ mang ấn thượng triều. Ai không vào chầu, lập tức xoá bỏ quan tịch, thu hồi ấn tỉ.”
“Cơ Chi lĩnh chỉ!” Tử Chi dõng dạc đáp.
Tử Chi lập tức sai nội thần chấp sự truyền chỉ dụ của thái thượng.
Đối với triều thần, xoá bỏ quan tịch là chuyện chết người. Nước Yên ở nơi hẻo lánh, triều thần đa phần đời đời là người nước Yên, có quan hệ mật thiết với công thất nước Yên, sản nghiệp cũng ở đất Yên. Xoá bỏ quan tịch, cũng tức là tất cả mọi thứ của họ trên đất Yên đều sẽ bị tước hết. Ba trăm thạch là bổng lộc một năm của cấp trung đại phu, cũng tượng trưng cho địa vị trong triều. Ba trăm thạch trở lên, nói cách khác là triều thần cấp trung đại phu trở lên.
Quả nhiên, buổi đại triều hôm sau, quan viên đứng kín trong điện.
Ngồi trên ngai vàng không phải là Tử Chi, mà là thái thượng Cơ Khoái. Cơ Khoái đưa mắt nhìn khắp lượt, nhưng không thấy Tử Chi đâu.
“Các khanh nghe chỉ!” Thái thượng không nhiều lời, lập tức vào ngay chuyện chính.
Quần thần ngơ ngác không hiểu chuyện gì, rồi theo nhau đổi ngồi thành quỳ, dập đầu hướng vào thái thượng: “Thần nghe chỉ!”
“Hãy lấy toàn bộ kim ấn của các khanh ra đây, bày ở trước mặt.”
Quần thần bèn đưa ấn thụ ra, đặt xuống phía trước.
“Thu ấn!” Cơ Khoái quay sang nội thần ra lệnh.
Thái thượng truyền chỉ, thu ấn!” Nội thần dõng dạc truyền chỉ.
Hai bên mỗi bên hai viên nội quan, một cầm khay, một thu ấn. Loáng cái, toàn bộ ấn tỉ đều được thu vào trong khay, đưa lại trước mặt Cơ Khoái, xếp thành hàng ngay ngắn trên án, toả ánh vàng lấp lánh.
“Các khanh nghe chỉ!” Cơ Khoái lại lên tiếng, “số ấn tỉ này, là do Cơ Khoái ban cho các khanh khi còn là Yên Vương. Nay Cơ Khoái đã rời khỏi ngai vàng, nên đương nhiên cần thu hồi lại. Ba ngày sau, toàn bộ ấn tỉ sẽ do đương kim đại vương ban lại. Các khanh hãy tận trung với đại vương!”
Nói xong, Cơ Khoái lập tức tuyên bãi triều.
Cơ Khoái đưa ra chiêu này, đúng là tuyệt sát. Với quan viên, ấn tỉ chính là quyền lực. Nên ai ban ấn, họ đương nhiên sẽ tận trung với người đó, đây chính là tiền lệ của Chu thất. Cơ Khoái ban ấn, giờ lại thu ấn, để Tử Chi ban lại, xét về căn nguyên, cũng là hợp lý.
Nhưng vấn đề lại nằm ở thời điểm. Vốn dĩ nên thu hồi ấn tỉ ngay trong lễ nhường ngôi vị; hoặc là ngay sau khi thu ấn xong, tân Yên Vương phải lập tức tuyên chỉ bổ nhiệm, rồi ban lại ấn ngay tại chỗ.
Tuy nhiên, chế độ nhường ngôi đã quá lâu rồi không còn được thực thi, Cơ Khoái thì không hiểu, Tử Chi thì nôn nóng, Lộc Mao Thọ càng không thể nghĩ đến nước này. Tất cả mọi người chỉ quan tâm đến nghi thức nhường ngôi, còn bước quan trọng nhất, tức thu hồi và ban lại ấn tỉ, đã bị bỏ qua. Lúc này, rắc rối xảy ra, Cơ Khoái vốn am hiểu lễ nhạc mới sực nhớ đến, và rồi nghĩ ra chiêu này.
Trước khi tuyên chỉ, có lẽ cũng muốn cho Tử Chi bất ngờ, Cơ Khoái thậm chí còn không bàn trước với Tử Chi. Do vậy, chiếu mệnh vừa ban, Tử Chi đang nấp sau tường nghe lén không khỏi bàng hoàng chết lặng.
Tử Chi hiểu rõ, chỉ lệnh này đáng sợ ở chỗ, trong vòng ba ngày, kể từ khi tất cả ấn tỉ của triều thần bị thu hồi cho tới khi tân vương ban lại cho họ, toàn bộ Kế Thành, thậm chí là toàn bộ nước Yên, sẽ rơi vào thế quyền lực bỏ trống. Triều thần đương chức không còn ấn tỉ, cũng sẽ không có quyền lực để thi hành chức trách, hay nói cách khác, cho dù là thái thượng hay tân Yên Vương, về danh nghĩa sẽ không thể sai khiến được bất cứ quan viên nào.
Sau khi ban chỉ, Cơ Khoái lại lập tức tuyên bố bãi triều, không cho Tử Chi chút thời gian để vãn hồi cục diện. Tử Chi chỉ còn biết giương mắt nhìn triều thần hoang mang ngơ ngác rời khỏi vương cung, ai về đường nấy.
Quả nhiên, chẳng mấy chốc, toàn bộ Kế Thành đã chìm trong không khí thấp thỏm bất an.
Những kẻ thấp thỏm bất an, chính là toàn bộ triều thần từ cấp ba trăm thạch trở lên đã bị thu hồi ấn tỉ.
Quan lại thuộc phe thái tử kéo tới Đông cung, ai nấy mặt mày rầu rĩ. Họ đều hiểu, chỉ cần Tử Chi tại vị, ấn tỉ vốn dĩ thuộc về họ sẽ không bao giờ trở về tay họ được nữa. Những kẻ thuộc phe Tử Chi cũng tụ tập về trạch phủ của Lộc Mao Thọ, bàn bạc về cung cách đón ấn và bày tỏ lòng trung, để chờ ba ngày sau sẽ thể hiện vào khi nhận ấn.
Đêm xuống, Cơ Bình, Thị Bị đi qua cổng sau vào phủ Chử Mẫn, được quản gia dẫn vào một gian mật thất.
Chử Mẫn nhường chiếu chủ cho Cơ Bình, còn mình và Thị Bị ngồi ở chiếu khách.
“Hành động thôi!” Cơ Bình nắm chặt tay quyền, “giờ là cơ hội tốt nhất!”
Thị Bị nhìn sang Chử Mẫn.
Chử Mẫn cũng nhìn thẳng vào Thị Bị: “Cháu có thể chiêu tập được bao nhiêu?”
“Thưa, năm nghìn.”
“Binh lính biết đánh trận thì sao?”
“Toàn bộ đều có thể đánh trận.”
“Còn điện hạ, có thể chiêu tập bao nhiêu?” Chử Mẫn nhìn sang Cơ Bình.
“Đã tính thử, tộc binh mỗi nhà chừng hai vạn.”
“Đánh trận được chứ?”
“Được,” Cơ Bình gật đầu, “nhưng không thể bằng dũng sĩ của Thị Bị tướng quân!”
Chử Mẫn trầm ngâm hồi lâu, nhìn sang Cơ Bình: “Đúng như điện hạ nói, hành động lúc này, chính là thời cơ tốt nhất!” Quay sang Thị Bị, “người của điện hạ đều là gia binh, trông coi nhà cửa còn được, lâm trận tàn sát, e là chưa đủ. Có thể một đòn quyết thắng hay không, chủ yếu trông chờ vào cháu!”
Thị Bị ôm quyền đáp: “Xin kính cẩn nghe lời chú!”
“Không đánh thì thôi, đã đánh,” Chử Mẫn nói tiếp, “thì không thể dây dưa, nhất thiết trong vòng ba ngày phải chiếm được vương thành, tiêu diệt Tử Chi. Lúc này, quần thần đều chưa thụ mệnh, chúng ta khởi sự, sẽ không có ai cứu giá.”
“Nếu khởi sự, thì người phía Tử Chi liệu có trưng dụng gia binh?” Thị Bị hỏi.
“Có lẽ là không.” Chử Mẫn giọng kiên định, “chú biết những triều thần này, ngoài Lộc Mao Thọ, đa phần là những kẻ gió chiều nào xoay chiều nấy. Họ chọn Tử Chi, là bởi Tử Chi thế mạnh. Thấy ta đánh vào vương cung, điện hạ dẫn đầu, lại có người Tề hậu thuẫn, trước khi chưa quyết thắng thua, họ sẽ chỉ khoanh tay đứng nhìn. Nên điều cốt tuỷ, chính quân đội Kế Thành. Đại quân trong ngoài thành, ước chừng hai vạn, năm ngàn do cháu chỉ huy, còn lại vạn rưỡi. Tướng cầm quân thấy điện hạ và Tử Chi quyết chiến, mà cháu lại là thượng tướng quân của họ, tin chắc họ cũng chọn cách toạ sơn quan hổ đấu. Hơn nữa, hôm nay ấn tỉ của họ cũng đã bị thái thượng thu hồi, dù có muốn xuất binh hộ giá, xét về danh nghĩa, cũng không thể được. Có điều, ta vẫn nên đề phòng trước là hơn. Hãy loan tin họ bị tước ấn thụ ra ngoài, cho họ liệu đường suy tính.”
“Chú dạy rất phải,” Thị Bị gật gù, “họ cũng qua lại khá mật thiết với cháu, dù không về phe ta, cũng sẽ không đối đầu với ta!”
“Chử bá phụ, thượng tướng quân,” Cơ Bình vòng tay nói, “Bình này vô năng, chỉ có thể dựa vào hai vị. Thị Bị tướng quân có thể chiếu cáo tướng sĩ thuộc hạ, bất kể là ai, nếu đánh được vào vương cung trước tiên, thưởng năm dật vàng, thăng chức ba cấp; ai giết chết hoặc bắt sống Tử Chi, thưởng năm mươi dật vàng, chia đất phong hầu! Ngoài ra, tất cả những ai tham chiến, đều được thưởng hậu.”
“Mạt tướng ghi nhớ!” Thị Bị đáp lễ, lại quay sang Chử Mẫn, “thưa chú, lúc nào khởi sự thì thích hợp?”
“Đêm nay, trước khi trời sáng, thế nào?” Chử Mẫn hỏi lại thay cho câu trả lời.
“Mạt tướng sẽ lập tức chuẩn bị!” Thị Bị vội vã rời đi.
“Chử bá phụ,” chờ Thị Bị đi xa rồi, Cơ Bình ứa nước mắt mà nói, “cháu bất tài, tương lai của Yên thất, dựa cả vào bá phụ!”
“Điện hạ, lão thần nguyện tận lực.”
“Bá phụ,” Cơ Bình hạ giọng, “đại sự nếu thành, Cơ Bình đắc vị, ngôi tướng quốc chính là của bá phụ!”
“Tạ ơn điện hạ hậu ái!” Chử Mẫn vòng tay đáp, “có điều, hiện tại chưa phải lúc bàn tới chuyện này. Ta hãy chia nhau hành sự, điện hạ, chuyện này liên quan tới tính mạng của vô số gia tộc Kế Thành, không thể sai sót!”
“Bá phụ dạy rất đúng!”
“Phải rồi, ta còn cần có một lý do. Hãy nói, là do Tử Chi bức bách Yên Vương, danh nghĩa là nhường ngôi, thực chất là tiếm vị, thế nào?”
“Tội này tuy được, nhưng chưa đủ để tru diệt Tử Chi,” Cơ Bình tiếp lời, “tội của Tử Chi, là giết vua!” Siết chặt nắm tay, “Cơ Bình dám khẳng định, tiên Dịch Vương đã bị Tử Chi và Lộc Mao Thọ bày mưu sát hại!”
“Được!” Chử Mẫn gật đầu, “hãy loan rộng tin này, để trăm họ Kế Thành đều biết Tử Chi là kẻ giết vua!” Dừng lại một chốc, “vả lại, đây cũng là điều hợp lý. Tử Chi sát hại tiên Dịch Vương, biết phụ vương của điện hạ hiền hoà nhu thuận, nên trước lập làm vua, sau lại ép nhường ngôi, rất hợp tình hợp lý.”
Khoảng chừng giờ Tý, binh mã các ngả đều đã tề tựu sẵn sàng. Thị Bị, Chử Mẫn cùng năm sáu người tâm phúc tụ họp ở Đông cung, cùng bàn mưu tính kế.
Cơ Bình lên tiếng sau cùng. Trước hết, chỉ ra những sự bất thường đã xảy ra trong cung, từ cái chết thình lình của tiên Dịch Vương, cho tới việc Vương Khoái nhường ngôi, rồi gán tội cho Tử Chi và Lộc Mao Thọ, khẳng định hai kẻ này đã phạm phải hai tội tày trời không tha, thứ nhất giết vua, thứ hai cướp ngôi. Tiếp đến, tuyên bố mình mới là người kế thừa danh chính ngôn thuận của Yên thất, lại kể về mối quan hệ thân thiết giữa mình với ông cậu Tề Vương, rằng Tề Vương sẵn sàng hậu thuẫn cho mình đoạt về vương vị vân vân. Nói đến chỗ xúc động, Cơ Bình nước mắt đầm đìa, khiến người có mặt cũng ý khí sục sôi.
Cơ Bình nói xong, lại gọi người khiêng vào một dãy rương lớn, lần lượt mở nắp từng rương, bày ra ba trăm dật vàng bên trong, dõng dạc nói: “Ba trăm dật vàng này là của Tề Vương tặng cho Cơ Bình, để dùng vào đại sự. Hôm nay, chư vị tình nguyện theo Cơ Bình làm đại sự, Cơ Bình quyết định sẽ dùng hết số vàng này vào đó.” Nhìn sang Chử Mẫn, “Chử đại nhân, Cơ Bình xin giao toàn bộ cho đại nhân, để đại nhân lo liệu!”
“Tạ ơn điện hạ tin tưởng!” Chử Mẫn vòng tay đáp lễ, chỉ vào dãy rương, ánh mắt quét khắp một lượt chư tướng, “các vị tướng quân, điện hạ đã có lời, toàn bộ số vàng này sẽ dùng để thưởng công, lấy được bao nhiêu, đều xem chiến tích đêm nay của chư vị. Luận công ban thưởng, công lớn được nhiều, công nhỏ được ít, không công không thưởng.”
Tận mắt nhìn cả dãy rương vàng sáng loá, chư tướng đều mắt loé hào quang.
“Đêm nay khởi sự, chia làm hai bước. Thứ nhất, bao vây cô lập vương cung, cắt đứt các ngả ra vào, không cho kẻ giết vua ra ngoài điều binh. Thứ hai, hội tụ binh lực, đánh vào chỗ yếu. Còn hành động cụ thể thế nào, do Thị Bị tướng quân toàn quyền quyết định!” Chử Mẫn nhìn sang Thị Bị.
“Chư vị hãy nghe rõ đây!” Thị Bị cất giọng sang sảng, “tại hạ dẫn quân chủ lực, đánh vào cổng chính cùng cổng Tây, chư vị chia đường, vây các cổng khác, đánh được thì đánh, không đánh được thì bao vây để tạo thanh thế.” Nhìn sang Chử Mẫn và thái tử, “điện hạ cùng Chử đại nhân dẫn quân hậu bị, bày chướng ngại vật trên phố, nhằm ngăn trở viện binh của Tử Chi.”
Chúng nhân xuất phát, chia nhau hành sự.
Chừng sang canh năm, toàn bộ cung thành đã bị hơn hai vạn người của Thị Bị bao vây kín mít.
Cung thành không lớn, chỉ rộng khoảng nghìn mẫu. Do tường thành là bình phong cuối cùng của Yên thất nên được xây dựng cực kỳ kiên cố. Tường thành cao ngất, bên ngoài có hào nước lớn bao quanh. Tường và hào liền kề sát nhau, chân tường gần như không có chỗ đặt chân, nền tường thành vốn cao trượng năm, cộng thêm hào sâu hơn trượng, khiến cho toàn bộ tường thành cao gần ba trượng. Lại thêm nước dưới hào là nước chảy, không nói cũng biết công thành là việc hết sức khó khăn.
Do đó, Thị Bị mới quyết định lựa chọn cổng thành.
Cổng chính của cung thành quay về hướng nam, để tiện cho quan lại vào chầu, ngang hào bắc ba cây cầu đá, cầu ở giữa đủ rộng cho xe lớn đi qua, hai cầu hai bên chỉ
đủ cho người đi bộ. Nhưng cổng thành vững chãi vô cùng. Ba mặt thành còn lại tuy đều có cổng, song không có cầu đá, muốn đi qua hào, phải hạ cầu treo.
Thị Bị vốn là thái uý cổng Tây, rành rẽ cách bố trí cổng Tây hơn bất kỳ ai khác, nên lấy cổng này làm mũi tấn công chủ chốt.
Đêm đó không trăng, ngay trước bình minh, là lúc đen tối nhất.
Thị Bị dẫn quân ém sẵn bên ngoài cổng Tây, mắt nhìn chằm chằm vào cầu treo. Phía sau cầu treo là lầu cổng thành, trên lầu lặng phắc như tờ. Theo lệ thường, lúc này lính canh cổng đa phần đều đã ngủ say, dù là lính trong phiên gác cũng đang gà gật.
Thị Bị mừng thầm trong dạ. Nhìn vào đây, cho thấy trong cung không hề phòng bị. Chờ đến lúc gà gáy sáng, trong cung sẽ có người qua cổng này ra chợ. Lúc đó, cầu treo sẽ thả xuống, xông được qua cầu, sẽ dễ dàng phá được cổng Tây. Chỉ cần phá được cổng Tây, toàn bộ cung thành sẽ lập tức thất thủ.
Tuy nhiên, đằng đông đã hưng hửng sáng, gà trống đã gáy hai lượt, mà cầu treo vẫn chưa thả xuống.
Thị Bị quyết định không chờ nữa, lệnh cho người bơi qua hào nước, chặt đứt dầy thừng treo cầu. “Uỳnh” một tiếng vang động, cầu treo rơi xuống, quân Thị Bị ào ào tràn qua cầu treo, đánh vào cổng Tây.
Nào ngờ, cổng Tây không hề cài then, vừa thúc một cái đã mở toang.
Tướng sĩ tiên phong lấy làm phấn chấn, chen nhau xông vào như ong vỡ tổ.
Trong lúc Thị Bị đang lấy làm hồ nghi, bỗng trên lầu cổng thành Tây nhô lên vô số binh lính, giương cung bắn xuống, tên sắc bay rào rào như mưa. Người của Thị Bị không kịp đề phòng, binh lính đang lao về phía cổng thành trúng tên ngã như ngả rạ.
Cũng vào lúc đó, cổng thành đóng sập, toàn bộ binh lính phía sau đều bị chặn lại bên ngoài cổng thành kiên cố.
Tiếp đó, từ bên trong cổng thành, tiếng hô sát phạt vang lên dậy đất, Thị Bị chỉ còn biết bó tay mà nghe hai trăm dũng sĩ tiên phong bị chém giết bằng hết.
Thì ra, Tử Chi xảo quyệt không ngờ, đã giăng sẵn cạm bẫy ở đây để chờ Thị Bị.
Thị Bị toát mồ hôi lạnh, song sự đến lúc này, đã không còn lựa chọn nào khác. Dù sao đi nữa, vệ binh trong thành chỉ không quá ba nghìn, trong khi người của hắn không dưới hai vạn, chiếm ưu thế áp đảo về số lượng.
Thị Bị quyết định tấn công trực diện.
Đã là tấn công trực diện, thì phải đường đường chính chính, thế là Thị Bị từ bỏ cổng Tây, chỉ để lại năm trăm người bao vây, còn lại điều hết đại quân tới cổng chính. Tại đó, công cụ đánh thành đã được chuyển tới, dàn trận sẵn sàng.
Tử Chi quả nhiên xảo trá khó lường.
Lúc này, trời đã sáng rạng, mặt trời toả nắng chan hoà, Tử Chi không những không cố thủ cổng cung, mà ngược lại, còn mở toang cổng lớn, từ bên trong tiến ra từng đoàn giáp sĩ giáp trụ chỉnh tề, dàn hàng ngoài cổng, bày trận chờ đợi.
Còn nữa, trên lầu cổng thành dàn sẵn hàng dãy nỏ liên châu, máy bắn đá, để yểm hộ khi cần thiết.
Thị Bị cảm giác thấy Tử Chi đang đứng trên lầu cổng nhìn xuống dưới này.
Hiển nhiên, đêm hôm qua cũng là một đêm không ngủ của Tử Chi.
Lúc này, thái tử Cơ Bình cũng tới nơi. Hộ tống thái tử là Chử Mẫn, dẫn theo hơn vạn gia binh các phủ, cùng thường dân Kế Thành đầu quân theo lời hiệu triệu của Cơ Bình, tay cầm đủ thứ binh khí hỗn tạp, thậm chí có người còn mang cả thuổng cuốc.
Sau lưng họ, toàn bộ phố lớn ngõ nhỏ đã bị chặn kín, binh lính canh phòng nghiêm ngặt, không cho phép người không liên can qua lại.
Chỉ trong một đêm, toàn bộ Kế Thành đã chìm vào hỗn loạn. Người Kế chia làm hai phe, một phe ủng hộ thái tử, một phe ủng hộ Tử Chi.
Lộc Mao Thọ không vào được trong cung. Bè cánh Tử Chi tìm tới phủ Lộc Mao Thọ mỗi lúc một đông, thảy đều lo âu căng thẳng. Nếu thái tử đánh được vào cung thành, giết chết Tử Chi, chức tước của nả mất hết đã đành, không chừng còn gặp hoạ sát thân.
Căng thẳng nhất, đương nhiên là Lộc Mao Thọ.
Lộc Mao Thọ khích lệ bè cánh mau cầm vũ khí, bày tỏ lòng trung với Yên Vương, hô hào bách tính ủng hộ thái thượng cùng tân vương do thái thượng nhường ngôi. Hai phe cánh trước tiên đều cố gắng bảo vệ phủ trạch của mình, tiếp đến giao chiến với nhau, trên khắp ngõ phố Kế Thành, đâu đâu cũng thấy cảnh chém giết.
Cơ Bình và Chử Mẫn buộc phải chia quân nhiều cánh để ứng phó với phe Lộc Mao Thọ.
Phía trước cung thành, cuộc kịch chiến đã bùng phát.
Thị Bị dàn xong trận thế, cho binh sĩ xếp khiên thành một bức tường, che chắn mưa tên, đánh vào cổng thành. Cung thủ phía Thị Bị cũng nhất tề xạ tiễn, tạo ra một cơn mưa tên còn dữ dội hơn, giao phong với dàn nỏ liên châu của vệ binh trên thành. Hai cơn mưa tên đan chéo trên không, va trúng nhau tanh tách, rụng rơi lả tả. Hai bên liên tục có người trúng tên ngã gục, trên lầu cổng thành cũng nhiều kẻ thương vong.
Dũng sĩ của Thị Bị xông qua cầu đá, lao tới trước cổng thành, giao tranh ác liệt với cung vệ. Quân lính hai bên chốc đã cài vào nhau như răng lược, không thể bắn tên yểm trợ được nữa, chỉ có thể bắn ra xa.
Cung vệ tiếp tục chạy ra ngoài cổng trợ trận, hết lớp này đến lớp khác. Dũng sĩ của Thị Bị cũng vậy, kẻ trước người sau ồ ạt lao qua cầu đá tham chiến. Khoảnh đất phía trước cổng cung vốn chật hẹp, không chứa nổi quá ba trăm người, chưa đầy nửa canh giờ, xác chết đã chồng chất ngổn ngang, đừng nói là giao chiến, ngay cả đi lại cũng khó.
Thị Bị khua chiêng, tạm dừng tấn công.
Hai bên cùng nhặt xác lui quân.
Trưa hôm đó, sấm chớp đùng đoàng, mưa như trút nước, máu đọng ngoài cổng cung bị mưa xối hết xuống hào. Mưa tuôn xối xả hơn một canh giờ, đến tận hoàng hôn mới ngớt. Thị Bị lại xua quân tấn công lần nữa, Tử Chi vẫn mở cổng nghênh chiến, chiến thuật không đổi.
Thị Bị đã thấy, Tử Chi toàn thân giáp trụ, tay mang trường thương, đứng sau cổng cung đốc chiến.
Cung vệ ai nấy sĩ khí ngút trời.
Đánh đến tối mịt, Thị Bị lại khua chiêng lui quân.
Cứ thế suốt ba ngày liền, đất Kế sắc trời ảm đạm, mưa gió triền miên, trận lớn trận nhỏ, lúc đổ lúc dừng. Hai bên chỉ có thể dàn trận chém giết những khi mưa tạnh, bởi Thị Bị chưa thể nghĩ ra cách công thành hữu hiệu hơn, còn Tử Chi cũng chưa tìm ra cách thủ thành cao minh hơn. Hễ Thị Bị tấn công, Tử Chi lại mở cổng thành nghênh chiến, binh sĩ hai bên lại tàn sát lẫn nhau trong khoảnh đất hẹp sau cầu đá trước cổng.
Cũng vào lúc này, Kế Thành hoàn toàn hỗn loạn. Hàng xóm láng giềng vốn hoà thuận bao đời, giờ cũng bị cuốn vào cuộc tương tàn, kẻ trung với Cơ Bình chém giết kẻ trung với Tử Chi, hễ phủ nào bị công phá, lập tức bị tru diệt toàn gia, vơ vét tài sản. Lại thêm những phường ác nhân thừa cơ đục nước béo cò, giết người cướp của, trộm cắp hiếp dâm, không từ tội ác nào.
Trong chốc lát, tiếng gió, tiếng mưa, tiếng gào khóc, tiếng kêu rú, tiếng hô sát phạt trộn lẫn vào nhau, vang vọng khắp xó cùng ngõ hẹp. Mưa, máu, nước mắt, mồ hôi hoà lẫn vào nhau, nhễ nhại trên từng con phố. Người Kế Thành oán thán dậy đất, khốn khổ khôn xiết, bất kể ngày đêm, nhà nhà đóng chặt cửa nẻo, đàn ông tay không rời vũ khí canh giữ trong sân, sẵn sàng liều mạng bảo vệ gia đình. Những hộ giàu có lại càng quây rào lấp cửa, nơm nớp sợ hãi, đào xới sân vườn chôn giấu của cải.
Từ lúc chiến loạn bùng lên, Yên Vương Khoái lòng như lửa đốt, vội vã đi tìm Tử Chi, nhưng lại bị Tử Chi phái người đưa về cung viện, không cho ra ngoài nửa bước. Vương Khoái bị giam lỏng suốt ba ngày trời, đến chập tối ngày thứ ba, Tử Chi tìm tới.
“Thái thượng,” Tử Chi sắc mặt phờ phạc, vòng tay nói, “Cơ Chi vô năng, làm kinh động tới thái thượng rồi!”
“Nói mau, đã có chuyện gì?” Vương Khoái dường như vẫn không hề hay biết về loạn cục, sốt sắng hỏi dồn.
“Là điện hạ dấy binh mưu phản.” Tử Chi bẩm báo sơ qua tình hình, rồi kể rõ họ tên của từng phản thần.
Vương Khoái thất kinh: “Tử Bình…sao lại có thể làm như vậy?”
“Than ôi,” Tử Chi thở dài, “việc ra nông nỗi này, vẫn phải trách thái thượng!”
“Ta ư?”
“Thái thượng đã thu hồi toàn bộ ấn phong của triều thần từ ba trăm thạch trở lên. Trước khi thu ấn, người lại không bàn với Cơ Chi nửa lời, đã thế còn truyền chỉ ba ngày sau sẽ do Cơ Chi ban lại. Cơ Chi biết đó là ý tốt của thái thượng, nhưng trong ba ngày vừa qua, toàn bộ triều thần đều không còn ấn thụ, toàn bộ nha phủ đều trống rỗng. Điện hạ đã nhắm đúng thời cơ, ngay trong đêm đó, tụ tập binh mã làm phản, phản thần đều là những triều thần được điện hạ tiến cử, được thái thượng bổ nhiệm gần đây. Họ kết thành bè cánh, vây khốn cung thành, muốn giết thái thượng cùng Cơ Chi, cướp đoạt ngôi vị.” Tử Chi giọng điệu não nề, “mấy hôm trước, Cơ Chi e sợ sinh biến, muốn nhường lại ngôi vị cho điện hạ, thái thượng lại không nghe…”
“Nghịch tử!” Vương Khoái giận dữ vỗ mạnh xuống án.
“Thái thượng,” Tử Chi lại tiếp, “Cơ Chi biết người hiền từ nhân hậu, không muốn khiến người Yên máu chảy, nhưng giờ đây, phản thần một mặt vây khốn cung thành, một mặt truy sát người không theo họ, trừ diệt bề tôi trung thành với thái thượng khắp mọi nơi, toàn bộ Kế Thành, máu chảy thành sông!”
“Thị Bị cớ sao cũng tạo phản?” Vương Khoái lại hỏi.
“Thị Bị là cháu đằng vợ của phản thần Chử Mẫn, chính Chử Mẫn đã lôi kéo hắn tạo phản. Thị Bị là thượng tướng quân thụ mệnh thái thượng, cai quản tam quân Kế thành, tướng sĩ dưới trướng không thể không theo hắn!”
“Gọi Thị Bị lại đây!” Vương Khoái giận dữ đến bật ho rũ rượi.
“Thái thượng hãy nguôi giận!” Tử Chi đứng dậy, “đợi đến sáng mai, khi phản tặc lại đánh tới, Cơ Chi muốn mời thái thượng ra mặt, khuyên nhủ Thị Bị. Chi hiểu Thị Bị, đó là người trung dũng, đã nhận ơn tri ngộ của thái thượng, chắc chắn sẽ chịu nghe thái thượng. Chỉ cần Thị Bị rút quân, những phản thần khác chỉ là đạo quân ô hợp, không khó đối phó. Hơn nữa, thời hạn ba ngày của thái thượng đã qua, Chi có thể bổ nhiệm triều thần, ban lại ấn thụ bất cứ lúc nào. Chỉ cần thái thượng vẫn tín nhiệm Cơ Chi, phản thần sẽ nhanh chóng bị cô lập.”
Bởi Lộc Mao Thọ cùng các triều thần trung thành với Tử Chi tụ tập binh chúng, phản kháng quyết liệt, nên Chử Mẫn buộc phải chia quân ứng phó. Phía Thị Bị đánh mãi chưa hạ được thành, nên thế cục Kế Thành mỗi lúc càng thêm phức tạp.
Màn đêm buông xuống. Kế Thành sau một ngày hỗn loạn, dần dần im lắng lại.
Đám Thị Bị một lần nữa tập hợp ở Đông cung phủ, bàn kế công thành.
Quần nhau suốt ba ngày liền, mọi người đều đã thấm mệt, sắc mặt ai cũng lộ rõ vẻ nôn nóng. Là người cầm đầu, nhưng Cơ Bình rõ ràng không phải nhân tài mưu đại sự, ngoài khích lệ và hứa hẹn, hay nói cách khác là thưởng vàng và phủ tuất, lại chẳng thể đưa ra một sách lược nào.
Thị Bị bắt đầu lo sợ.
“Điện hạ,” Thị Bị lên tiếng, “cứ tiếp tục thế này, thực không ổn!”
“Tướng quân hẳn có cách hay?” Cơ Bình hỏi.
“Tại hạ…” Thị Bị nhìn sang Chử Mẫn.
Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Chử Mẫn.
“Điện hạ, chư vị tướng quân,” Chử Mẫn là người lão luyện, trải nhiều biến cố, sắc mặt vẫn bình thản như không, “Thị Bị tướng quân nói phải, tình thế trước mắt, không thể kéo dài, bởi đến ngày mai, kẻ giết vua sẽ bổ nhiệm quan viên, ban phát ấn thụ. Cũng tức là nói, ngày mai nhiều kẻ sẽ nhận được thực quyền, từ đó ra mặt chống ta.”
Chúng nhân đều lấy làm căng thẳng.
“Có điều, cũng có thêm vài cái lợi.” Chử Mẫn vẫn ung dung điềm tĩnh, “thứ nhất, có thêm nhiều người Kế biết được Tử Chi là kẻ giết vua, mưu mô xảo trá, tình nguyện đầu quân cho ta. Chỉ riêng hôm nay, dân chúng trong thành đã có hơn nghìn người theo ta. Thứ hai, có không ít kẻ xấu thừa cơ xông vào nhà thường dân, giết người cướp của, khiến dân chúng phẫn nộ, thần đã điều tra, đều là người của Lộc Mao Thọ. Thứ ba, người Tề…” đưa mắt ra hiệu với Cơ Bình.
Cơ Bình lập tức hiểu ý, bèn tiếp lời Chử Mẫn: “Hôm nay, Tề Vương gửi thư tới nơi, nói rằng đã phát năm vạn quân cấp tốc tới Kế Thành, giúp quân chính nghĩa. Chư vị có biết chủ tướng là ai không? Chính là Khuông Chương tướng quân, người đã đánh bại quân Tần ở Tang Khâu!”
Chúng nhân đều lấy làm phấn chấn.
“Chư vị tướng quân,” Chử Mẫn nói tiếp, “theo như tình huống nguy cấp và những điều lợi vừa nói, lúc này, ta cần dốc sức làm bốn việc. Thứ nhất, rêu rao tội ác của bè
đảng Lộc Mao Thọ cho toàn thành được biết. Thứ hai, thu nạp thật nhiều dân chúng vào trong hàng ngũ. Thứ ba, bao vây nghiêm mật cung thành, không cho kẻ giết vua sai người mang ấn thụ ra ngoài. Thứ tư, phá thành bằng mọi giá, bắt lấy đầu sỏ phản tặc. Chỉ cần bắt được kẻ giết vua, đám Lộc Mao Thọ sẽ tự tan đàn xẻ nghé.” Nhìn sang Thị Bị, “Thị tướng quân, toàn bộ Kế Thành, trông cậy cả vào tướng quân!”
“Mạt tướng nguyện tận lực!” Thị Bị vòng tay đáp.
“Thị Bị,” Chử Mẫn nhìn thẳng vào hắn, “cuộc chiến trước cổng cung, ta đã quan sát ba ngày, nghĩ ra sách lược công phá, đang cho người gấp rút chế tạo lợi khí, đêm nay có lẽ sẽ xong. Nếu kẻ giết vua vẫn mở cổng thành nghênh chiến, ta sẽ phá trận dễ dàng!”
“Là lợi khí gì vậy?” Thị Bị mừng rỡ hỏi.
“Sáng mai, tướng quân sẽ biết thôi.”
Sáng sớm hôm sau, Chử Mẫn giao cho Thị Bị mười cỗ xe xung kích đẩy ở phía sau. Xe này chỉ có hai bánh, có hình mũi dùi, đầu xe là mũi nhọn, thân xe là thân dùi, trên xe có nóc nhọn, để tránh tên và đá tảng từ trên thành giáng xuống. Quanh xe tua tủa gai nhọn, trông như con nhím lớn. Mỗi xe cần hai người đẩy, tiến lùi linh hoạt, đối phương có dùng trường mâu cũng không thể đâm tới, trong khi sức sát thương của xe này rất lớn, không cho đối phương cơ hội chống đỡ hay phản công, chỉ còn cách bỏ chạy. Nếu đối phương bỏ chạy, cổng thành sẽ bị công phá dễ dàng. Đi sau mười cỗ xe xung kích là đội giáp binh hơn nghìn người, nếu cánh quân này vượt qua được cổng thành, toàn bộ cung thành sẽ nhanh chóng thất thủ.
Thị Bị cả mừng, chọn lấy một tốp binh sĩ cường tráng học cách sử dụng xe, sau đó bày trận ngoài cổng cung, giấu mười cỗ xe xung kích sau một dãy cờ xí, còn mình mang giáp trụ, đích thân đến trước cổng cung khiêu chiến.
Cổng cung mở rộng, song ra khỏi thành lại không phải là binh sĩ, mà là một cỗ xe chiến, đứng ở trên xe là Tử Chi giáp trụ chỉnh tề.
Thị Bị vô cùng kinh ngạc. Toàn bộ tướng sĩ cũng hết sức ngỡ ngàng.
Tử Chi là chủ tướng cũ của họ, cũng chính là kẻ giết vua. Đầu của người này đang được thái tử Cơ Bình treo thưởng năm mươi dật vàng.
Tướng sĩ liều chết đánh thành suốt nhiều ngày, chỉ để bắt sống kẻ giết vua Tử Chi, nhưng vào lúc này, Tử Chi lại không mang theo một binh một tốt, một mình xuất hiện bên ngoài cổng cung.
Mà Thị Bị năm xưa lại chính là do Tử Chi một tay cất nhắc.
“Thị Bị tướng quân, Cơ Chi có lễ!” Tử Chi vòng tay nói lớn.
“Mạt tướng bái kiến tướng quốc đại nhân!” Thị Bị đáp lễ, cố tình không gọi hắn là đại vương.
“Thị Bị tướng quân,” Tử Chi thong thả đáp, “mấy hôm nay, tướng quân thân là bề tôi nước Yên, mà lại năm lần bảy lượt dẫn người đánh vào vương cung, chính là tội mưu phản, đáng tru di cửu tộc, tướng quân hẳn có biết?”
“Hồi bẩm tướng quốc,” Thị Bị đáp, “thân là bề tôi nước Yên, mạt tướng thụ mệnh điện hạ đánh vào vương cung, chỉ là để diệt kẻ giết vua cướp ngôi, cũng chính là tướng quốc đại nhân đây!”
“Thị tướng quân, chư vị tưởng sĩ,” Tử Chi lại vòng tay, hướng về phía chư tướng sĩ phía sau Thị Bị, “tại hạ Cơ Chi, hậu duệ đích tông của tiên tổ Hoàn Công, nếu luận về vai vế, thái thượng Cơ Khoái còn là hàng cháu của Cơ Chi. Thái thượng noi theo thánh đức thượng cổ, đã ở thái miếu tế cáo tiên tổ, hành đại lễ nhường ngôi, danh chính ngôn thuận nhường lại vương vị cho Cơ Chi, cớ sao lại nói Cơ Chi cướp ngôi? Còn như nói giết vua, dám hỏi Thị tướng quân, hẳn có bằng chứng? Cơ Chi đã giết vua nào?”
“Tướng quốc đã…đã lệnh cho Lộc Mao Thọ giết tiên quân Dịch Vương!” Thị Bị bắt đầu lúng túng.
“Thị tướng quân,” Tử Chi khẽ cười mà đáp, “vào đêm tiên Dịch Vương băng hà, tướng sĩ khác có thể không biết, nhưng tướng quân cũng có mặt kia mà. Nếu bảo Cơ Chi giết vua, thì tướng quân tội gì? Tướng quân và Cơ Chi cùng vào vương cung một lúc, khi ta tới nơi, tiên Dịch Vương sớm đã băng hà, những người có mặt khi đó là những ai, người khác không biết, lẽ nào tướng quân cũng quên? Một là vương hậu, hai là công tử Chức, còn một người nữa, là sứ Tần Doanh Tật. Vương hậu lúc đó mới sai người đi tìm thượng đại phu Lộc Mao Thọ. Lộc Mao Thọ là bề tôi thân tín nhất của tiên Dịch Vương, chiếu thư phế lập thái tử của tiên vương, cũng là do Lộc đại phu soạn chế. Vương hậu sốt sắng tìm Lộc đại phu, chính vì một chiếu thư. Nhưng Lộc đại phu nói rằng, tiên vương đã nghe theo lời Tô tướng quốc, lệnh cho mình huỷ bỏ chiếu thư này. Vương hậu định bắt Lộc đại phu, chính tướng quân đã dẫn quân tới ngăn trở, đến tận lúc đó, chúng ta mới biết tiên vương đã băng hà. Thị tướng quân, tiên vương rốt cuộc chết bởi tay ai, chuyện đã sáng tỏ như ban ngày. Sứ Tần bức bách tiên vương phế thái tử, chính là đương kim thái thượng, để lập công tử Chức. May có Tô Tử ra sức bảo vệ thái tử, tiên vương cuối cùng nghe theo Tô Tử, mới dẫn tới hoạ sát thân. Cơ Chi vốn muốn trị tội vương hậu, công tử Chức và sứ Tần vì tội giết vua, nhưng vì thái thượng lòng dạ nhân từ, mới thả mẹ con vương hậu, đuổi sứ Tần về, giấu giếm nguyên nhân cái chết của tiên vương, lập tức hậu táng. Nay tướng quân lại đổ riệt tội này cho Cơ Chi, lẽ nào không sợ thiên lôi giáng sét?”
Chư tướng sĩ lần đầu tiên nghe thấy bí mật động trời chốn thâm cung, trong cơn sửng sốt, chỉ biết đưa mắt nhìn nhau.
“Mạt tướng…” Thị Bị ngắc ngứ không thốt nổi một lời, lại càng thêm luống cuống, “nghe điện hạ nói vậy!”
“Điện hạ?” Tử Chi cười nhạt, “điện hạ nào kia?”
“Thái tử Cơ Bình!”
“Là ai chiếu mệnh Cơ Bình làm thái tử?” Tử Chi truy hỏi.
“Yên Vương, đương kim thái thượng!”
“Thị tướng quân,” Tử Chi vung tay, “hãy xem!” Đoạn dõng dạc hô lớn, “có lời mời thái thượng!”
Lời vừa dứt, một cỗ vương xa chầm chậm tiến qua cổng cung, rồi dừng lại ngang hàng với xe chiến của Tử Chi.
Khoảnh khắc này, nếu tấn công, sẽ là cơ hội tốt nhất.
Tuy nhiên, đứng sau lưng Thị Bị lúc này, là ba quân tướng sĩ đã tuyên thệ tận trung với nước Yên; còn trước mặt chư tướng sĩ, lại là tiền Yên Vương và đương kim Yên Vương, đừng nói là chư tướng sĩ, ngay cả Thị Bị cũng hoang mang do dự.
“Thị Bị tướng quân, nghe chỉ!” Vương Khoái cất giọng sang sảng, tay rũ mở tờ chỉ dụ.
Thị Bị nhảy xuống khỏi chiến xa, dập đầu sát đất: “Mạt tướng chờ chỉ!”
“Thái tử Cơ Bình kháng lại vương mệnh, phao tin đồn nhảm, lung lạc lòng người, tụ chúng sinh sự, khiến đất Yên hỗn loạn, hại đến muôn dân, trên thất đạo với trời, dưới thất đức với đất, giữa thất tín với dân. Nay quả nhân hạ chỉ, phế ngôi thái tử của Cơ Bình. Khâm thử!”
Hết thảy tướng sĩ đều bàng hoàng chấn động.
Thị Bị nghe mà choáng váng, hồi lâu mới nói được nên lời: “Thần lĩnh chỉ!”
Một cung nhân từ trong cổng bước ra, đón lấy dụ chỉ trên tay Cơ Khoái, đưa cho Thị Bị.
“Thị Bị tướng quân!” Cơ Khoái lại cất tiếng.
“Có thần!”
“Quả nhân ba ngày trước đã thu hồi ấn thụ của tướng quân, vậy tướng quân đã dựa vào đâu để điều động ba quân tướng sĩ vây đánh vương cung của quả nhân?” Vương Khoái giọng như chuông đồng, nghiêm nghị trách cứ.
“Thần…biết tội!”
“Tướng quân nếu đã biết tội, hãy lập tức nghe theo lệnh tân vương, cải tà quy chính, lập công chuộc tội!” Cơ Khoái nói.
“Thần…thụ mệnh!”
“Thị Bị tướng quân, nghe chỉ!” Tử Chi từ tốn rút dụ chỉ ra khỏi tay áo.
“Có mạt…mạt tướng…” Tâm tư Thị Bị đã hoàn toàn bấn loạn.
“Theo như chỉ dụ của thái thượng, quả nhân xét thấy tướng quân là bị kẻ khác mê hoặc, nên nay xá tội cho tướng quân cùng tướng sĩ thuộc hạ, vẫn thụ mệnh tướng quân làm thượng tướng quân nước Yên, ban cho tướng ấn!”
Cung nhân nghe lời, bưng khay bước ra, chậm rãi tiến lại trước mặt Thị Bị. Lấp lánh trên khay, chính là ấn thụ thượng tướng quân mà Thị Bị đã phụng chỉ giao nộp ba hôm trước.
“Thần…thần thụ mệnh…” Thị Bị gần như lắp bắp, hai tay đỡ lấy ấn thụ, dập đầu, “thần khấu tạ ơn xá tội của đại vương!”
“Thượng tướng quân nghe chỉ!” Tử Chi dõng dạc.
“Thần…tiếp chỉ!”
“Quả nhân lệnh cho thượng tướng quân dẫn binh mã bản bộ tới Đông cung, truy bắt loạn thần Cơ Bình, đầu hàng thì xá tội, còn chống đối, giết không tha!”
“Thần…tiếp chỉ…”
“Người đâu!” Tử Chi vỗ tay.
Từ trong cổng cung lại lộc cộc tiến ra một cỗ xe chiến, đứng ở trên xe là một viên quân uý và hai giáp sĩ.
“Các ngươi hãy theo thượng tướng quân tới Đông cung, tuyên bố chiếu thư phế thái tử của thái thượng, có lời mời Cơ Bình vào cung thỉnh tội!”
“Mạt tướng lĩnh chỉ!”
Xe chiến của quân uý đánh thẳng về phía Thị Bị. Quân uý nhảy xuống xe, chìa tay, “thượng tướng quân, mời!”
Chỉ trong khoảnh khắc, tình thế đảo ngược, Thị Bị như thể trúng tà, mụ mị nâng ấn thụ thượng tướng quân, bước lên xe chiến, truyền lệnh lui quân, tiến về Đông cung.
Chử Mẫn không có mặt, ở trong Đông cung, chỉ có Cơ Bình.
Nhìn thấy binh mã của Thị Bị đột ngột quay về, Cơ Bình lấy làm sửng sốt, vội bước ra ngơ ngác gọi: “Thị Bị tướng quân?”
“Điện…điện hạ…” Thị Bị lắp bắp, ngoảnh nhìn quân uý phía sau. Quân uý liền mở tờ chỉ dụ trong tay, cất giọng dõng dạc:
Thái tử Cơ Bình kháng lại vương mệnh, phao tin đồn nhảm, lung lạc lòng người, tụ chúng sinh sự, khiến đất Yên hỗn loạn, hại đến muôn dân, trên thất đạo với trời, dưới thất đức với đất, giữa thất tín với dân. Nay quả nhân hạ chỉ, phế ngôi thái tử của Cơ Bình. Khâm thử! Thái thượng Yên quốc.”
Cơ Bình bàng hoàng kinh hãi, nhìn trừng trừng vào Thị Bị: “Tướng quân, tướng quân…”
“Loạn tặc Cơ Bình nghe chỉ!” Quân uý kia lại lấy ra một chỉ dụ khác, “loạn thần Cơ Bình, kháng lại vương mệnh, phao tin đồn nhảm, lung lạc lòng người, hại đến muôn dân, phạm vào trọng tội. Quả nhân niệm tình là cốt nhục của thái thượng, nếu như cúi đầu chịu bắt, dừng ngay việc ác, theo tướng quân Thị Bị vào cung thỉnh tội, sẽ không truy cứu. Còn như chống đối, giết ngay không tha. Khâm thử. Đại Chu Yên Vương.”
Cơ Bình lúc này mới bừng hiểu, lập tức quay ngoắt chực đi.
Đúng vào lúc ấy, bỗng “tưng” một tiếng, một mũi tên nhọn xé gió lao tới, cắm phập giữa lưng Cơ Bình.
Cơ Bình không kịp rú lên một tiếng, ngã sấp xuống đất, tuyệt khí mà chết.
Chúng nhân kinh hãi, ngẩng đầu nhìn lên, chính là cung thủ đứng cạnh quân uý.
Tuỳ tùng bên thái tử thảy đều bàng hoàng phẫn nộ, gầm lên hung tợn, bất chấp tất cả, nhảy xổ về cỗ chiến xa.
“Thị Bị tướng quân!” Quân uý kinh hãi, vừa hét lớn cầu cứu, vừa cùng hai quân sĩ cuống cuồng chống đỡ.
Thị Bị như không nghe thấy, đứng chết trân tại chỗ, mắt nhìn trừng trừng thái tử Cơ Bình đang nằm sóng soài, chân tay vẫn còn giật khẽ.
Người của thái tử vây kín cỗ xe, kẻ đâm người chém. Quân uý, binh sĩ, và cả phu xe, đều bị đám đông phẫn nộ lôi xuống, băm vằm tại chỗ.
Không có mệnh lệnh của Thị Bị, hàng ngàn tướng sĩ dưới trướng vẫn đứng im bất động, giương mắt nhìn cảnh chém giết ngay trước mặt.
Đến khi Chử Mẫn hay tin về kịp, mọi việc đều đã kết thúc. Đối diện với chú rể, Thị Bị quỳ sụp xuống, bật khóc thảm thiết.
Chử Mẫn quay sang tra hỏi phó tướng trong quân, biết rõ đầu đuôi mọi việc, không nói một lời, bật ra một tiếng thở dài não nề, đoạn phủ phục trên xác thái tử, gào khóc thảm thiết, rút kiếm tự vẫn.
“Chú…” Thị Bị rú lên một tiếng, lê gối đến bên Chử Mẫn, rồi cũng rút kiếm cứa ngang cổ.
Tướng sĩ thoạt tiên kinh hãi rụng rời, tiếp đến mạnh ai nấy chạy.
Tuy nhiên, Tử Chi đâu chịu bỏ qua cho họ. Vài ngày sau, Tử Chi mở đại triều, bổ nhiệm quan lại, ban bố chiếu lệnh, cho quân truy nã ráo riết khắp Kế Thành và các chốn đất Yên, phàm là người dính dáng đến cuộc phản loạn của thái tử, đều bị bắt giữ, tịch biên tài sản, xử trảm toàn gia. Chỉ trong vài ngày, người bị chém đã đến vài vạn, Kế Thành máu nhuộm đỏ đất.
Người Yên cuối cùng đã hiểu, Tử Chi bề ngoài nhân hậu, song ẩn tàng bên trong lại là một trái tim tàn bạo khôn lường.
Trong gió tanh mưa máu, Tô Tần lê tấm thân rời rã, để Cơ Tuyết ở lại biệt cung Vũ Dương, đi miết ngày đêm không nghỉ, về gấp Kế Thành. Khi bước xuống xe ngựa trước cổng phủ, bởi lao lực quá độ mà lảo đảo chực ngã, may sao có Trâu Phi Đao đỡ kịp.
Nghe tiếng, quản gia Viên Báo bước ra đón, trong tay lăm lăm trường thương.
Trong những ngày Kế Thành hỗn loạn, Viên Báo cùng hai gia bộc ngày đêm canh gác phủ tướng, không cho người ngoài đột nhập. Lúc này, thình lình thấy Tô Tần không hẹn mà tới, Viên Báo vui mừng bật khóc, vội đỡ Tô Tần vào phủ, sắp xếp cơm nước nghỉ ngơi.
Tô Tần chẳng còn lòng dạ nghỉ ngơi, gọi ngay Viên Báo tới, bảo hắn kể lại tường tận đầu đuôi về biến loạn ở Kế Thành.
Kể tới đoạn Chử Mẫn rút kiếm tự vẫn ở Đông cung, Tô Tần trào nước mắt.
Suy nghĩ suốt một đêm, sáng sớm hôm sau, Tô Tần vào cung, cho Viên Báo vào cầu kiến Tử Chi.
Qua nửa canh giờ, có cung nhân tới, dẫn Tô Tần vào cung. Do Tô Tần sức còn yếu ớt, nên Tử Chi cho phép xe ngựa vào thẳng trong cung, tới thiên điện nơi Tử Chi đang đợi.
Tử Chi sớm đã chờ sẵn, đích thân xuống thềm nghênh đón, đỡ Tô Tần vào trong.
Do cả hai đều mang thân phận đặc biệt, nên không hành lễ, chỉ chia ngôi chủ khách ngồi xuống.
Tô Tần nhận thấy phục sức của Tử Chi vẫn giống như hồi còn ở trong nhà cỏ, không mặc vương phục, không đội vương miện.
Ánh mắt Tô Tần dừng lại dưới chân Tử Chi. Hẳn bởi quá vội vã, nên vương hài còn chưa kịp tháo, vẫn mang ở dưới chân.
Thấy Tô Tần nhìn chằm chằm vào đó, Tử Chi lúng túng, cười gượng một tiếng, rồi đưa tay kéo phăng vương hài, ném đánh vèo ra phía sau.
“Đã là vua rồi, cớ sao lại không đi?” Tô Tần hỏi.
“Trước mặt Tô Tử, Cơ Chi không dám!” Tử Chi vòng tay đáp.
“Vậy trước mặt ai thì dám?” Tô Tử hai mắt xoáy tới.
“Ồ…” Tử Chi gượng nuốt giận, nhìn sang chỗ khác, “Tô Tử tới đây, chỉ là muốn xem mũ áo của Tử Chi?”
“Phải!” Tô Tần vẫn nhìn xoáy vào Tử Chi, “Tần vốn muốn tận mắt nhìn xem, Tử Chi đại nhân mang vương phục, đội vương miện trông như thế nào, ai ngờ lại phải thất vọng.”
“Tô Tử có điều không biết,” Tử Chi ngoảnh mặt lại, nhìn vào Tô Tần, “Cơ Chi xưa nay chưa từng nghĩ đến chuyện mặc vương phục, đội vương miện, là do tiền Yên Vương…khăng khăng muốn noi theo tiên thánh Nghiêu Thuấn, nhường lại nước Yên cho Cơ Chi. Chi năm lần bảy lượt từ chối, song đại vương vẫn kiên quyết muốn nhường bằng được…”
“Vậy tiền Yên Vương đâu?”
“Mấy hôm trước, thái tử dấy binh tạo phản, cung thành nguy ngập, nên Cơ Chi đã hộ tống thái thượng tới nơi an toàn, hiện không ở trong cung.”
“Tô Tần có thể bái kiến không?”
“Thái thượng không muốn gặp ai hết.”
“Vì sao lại không muốn?”
“Than ôi,” Tử Chi thở dài buồn bã, “thái thượng bỏ ngoài tai mọi điều dị nghị, quyết ý nhường nước cho Cơ Chi, nhưng hoàn toàn không thể ngờ rằng, phản đối thái thượng quyết liệt nhất, lại là thái tử; lại càng không thể ngờ rằng, nước Yên vì thế mà chìm trong động loạn, không ít người Yên không phải bỏ mạng trước ngoại địch, mà là trong tay hàng xóm láng giềng. Đại vương…ngày ngày rửa mặt bằng nước mắt, không chịu gặp ai, chớ nói là Tô Tử, dù Cơ Chi gọi cửa, người cũng không chịu mở!”
“Tiền Yên vương đã không chịu gặp, vậy thì Tần sẽ không cầu kiến nữa. Giờ trước mặt Tần, đại nhân không chịu mặc vương phục, bảo Tần nên xưng hô thế nào đây? Là đại vương ư, hay là…” Tô Tần dò hỏi.
“Xin cứ gọi là Tử Chi, giống như trước đây. Trước mặt Tô Tử, Tử Chi mãi mãi là Tử Chi. Trên thế gian này, Tử Chi chỉ theo Tô Tử!”
“Tạ ơn lòng yêu mến!” Tô Tần vòng tay, nói tiếp, “dám hỏi Tử Chi, nước Yên rơi vào tình cảnh này, Tử Chi hẳn đã nghĩ đến kết cục?”
“Tử Chi xin nghe Tô Tử!”
“Tạ ơn đã tin tưởng!” Tô Tần lại vòng tay, “nếu là như vậy, Tần vẫn sẽ gọi Tử Chi là huynh, Tần xin khuyên huynh ba việc. Thứ nhất, trả lại vương vị cho Vương Khoái, huynh vẫn là tướng quốc. Thứ hai, lựa chọn người hiền trong các công tử của Vương Khoái, lập làm thái tử. Thứ ba, nghị hoà với Tề.”
“Nếu tại hạ không làm được thì sao?” Tử Chi nhìn thẳng vào Tô Tần.
“Vậy thì Tần chỉ có thể thấy tiếc cho Tử Chi huynh!”
“Tiếc gì kia?”
“Huynh không những không có được điều mình theo đuổi, mà ngược lại…”
“Ngược lại thế nào?” Tử Chi gặng hỏi.
“Bản thân huynh thân bại danh liệt đã đành, còn gây tai hoạ cho dòng họ cháu con, giáng tai ương cho từ đường xã tắc!” Tô Tần rành rọt từng tiếng.
“Là vì Tô Tử?” Tử Chi mắt loé hung quang.
“Tại hạ không có được bản lĩnh đó.”
“Vậy thì vì ai?”
“Người Tề!”
“Người Tề?” Tử Chi nheo mắt, chốc sau, nhìn xoáy vào Tô Tần, “tại hạ hiểu Tề Vương, thứ kẻ này muốn, chẳng phải chỉ là đất Hà Gián? Tại hạ cho luôn là được!”
“Người Tề trước kia đúng là chỉ muốn đất Hà Gián.
Giờ đây, không phải nữa rồi.”
“Họ muốn gì?”
“Toàn bộ nước Yên.” Tô Tần điềm đạm đáp.
“Sao kia?” Tử Chi hai mắt trợn tròn, “muốn thôn tính toàn bộ nước Yên?”
“Phải!”
“Tô Tử…” Tử Chi hít sâu vào một hơi, rồi khẽ nhún vai, “không phải đang phóng đại để hù doạ đấy chứ?”
“Tử Chi đại nhân, hãy nhớ kỹ lại xem, theo đại nhân thấy, bao nhiêu năm qua, tại hạ đã bao giờ biết hù doạ suông?” Tô Tần cười buồn mà đáp.
“Tề Vương…dựa vào đâu?” Tử Chi siết chặt tay quyền.
“Dựa vào việc Tử Chi huynh bức Vương Khoái nhường ngôi, giờ lại thêm việc sát hại thái tử Bình!”
“Tại hạ không hề bức ép, là Yên Vương tự nguyện nhường ngôi. Còn nữa, Cơ Bình là do Thị Bị giết trong lúc hai bên lục đục!”
“Than ôi,” Tô Tần khẽ thở dài, “những lời này, huynh nói với tại hạ, phỏng có ích gì? Phải nói cho Tề Vương nghe mới được.”
“Hừm!” Tử Chi đấm mạnh xuống án, “ta sợ gì hắn!”
“Huynh có thể không sợ, nhưng còn lệnh phu nhân cùng thân quyến? Còn những tướng sĩ đã theo huynh vào sinh ra tử?” Tô Tần lúc này đã mệt mỏi quá độ, sắc mặt trắng bệch, nói dứt câu thì thở dốc, nhưng vẫn gắng gượng ngồi vững.
Tử Chi cúi đầu, thở phì phò.
“Tô Tử,” chốc sau, Tử Chi ngẩng phắt đầu lên, nhìn xoáy vào Tô Tần, “muốn tại hạ làm thế nào?”
“Như tại hạ vừa nói,” Tô Tần cười buốn, “trả lại ngôi vị cho Vương Khoái, lập người hiền năng trong các công tử của Vương Khoái làm thái tử, cắt đất Hà Gián giảng hoà với Tề.”
“Gì kia?” Tử Chi chau mày, “ta còn phải tặng không cho họ đất Hà Gián?”
“Cho dù là vậy, người Tề có chấp thuận hay không, tại hạ cũng chưa biết chắc!”
“Sao Tô Tử lại có thể nói ra những lời thế này?” Tử Chi sát khí lộ trong ánh mắt.
“Than ôi,” Tô Tần khẽ thở dài, lại ho một tràng, rồi nhìn chăm chăm vào Tử Chi, “Tử Chi huynh, tại hạ lê thân đau bệnh, đi suốt ngày đêm, gấp gáp tới đây gặp huynh, là vì lẽ gì, huynh đã nghĩ tới?”
“Là vì lẽ gì?”
“Vì Tử Chi huynh!” Tô Tần nhìn thẳng vào Tử Chi, “huynh là đại tướng, bài binh bố trận, Tần không bằng huynh, nhưng còn chuyện khác, huynh không bằng Tần. Không giấu gì huynh, tại hạ học ở Quỷ Cốc nhiều năm, thấu hiểu lòng người, thạo thuật đoán tâm, Tề Vương nghĩ gì, còn chưa nói ra, tại hạ: đã rõ. Các quân vương khác, cũng đều như vậy. Nếu không phải thế, huynh thử nghĩ xem, chư quân thiên hạ liệu có chịu nghe theo tại hạ chăng? Và cả Tử Chi huynh đây, huynh đang nghĩ gì, tại hạ đều đã nhìn thấu. Tại hạ lần này tới gặp huynh, là muốn cứu huynh. Khổng Tử có câu, năm mươi tuổi biết mệnh trời. Tử Chi huynh lớn tuổi hơn tại hạ, hẳn cũng nên biết được mệnh trời. Dám hỏi Tử Chi huynh, thế nào là mệnh trời?”
“Tại hạ vốn chẳng tin!” Tử Chi gằn giọng.
Tô Tần lại ho húng hắng, rồi khẽ thở dài: “Than ôi, Tử Chi huynh, dù huynh có tin hay không, mệnh trời vẫn là mệnh trời. Giống như mặt trời, dù huynh có nhìn hay không, hàng ngày vẫn cứ mọc ở đằng đông.”
“Tô Tử nói xem, mệnh trời của tại hạ thế nào?”
“Tử Chi huynh giống như tại hạ, đều là mệnh bề tôi!”
“Tô Tử là thường dân Đông Chu, tại hạ là cốt nhục đích tông của tiên Hoàn Công, sao giống nhau được?”
“Hoàn Công có bảy con trai, kế thừa ngôi vị là tiên Văn Công. Tương tự, tiên Văn Công cũng có bảy con trai, kế thừa ngôi vị là tiên Dịch Vương. Tiên Dịch Vương lại có sáu con trai, kế thừa ngôi vị là Tử Khoái. Cớ sao lại như vậy? Là bởi mệnh trời.”
“Hừm,” Tử Chi sắc mặt khinh khỉnh, “không có tại hạ, không biết Cơ Khoái đã chết ở đâu rồi!”
“Bởi vậy, Tử Chi huynh chính là mệnh bề tôi. Bề tôi là để bảo vệ cho chúa.”
“Đạo lý hoang đường này, tại hạ dứt khoát không tin!”
“Tử Chi huynh có thể không tin.” Tô Tần đứng dậy, “tại hạ đã dốc hết tâm ý, xin được cáo từ!” Nói rồi đi thẳng ra cửa điện.
Mắt thấy Tô Tần đã sắp bước ra khỏi cửa, Tử Chi gọi giật: “Tô Tử, hãy khoan!”
Tô Tần dừng bước, nhưng không quay đầu lại.
“Tại hạ xin nghe Tô Tử!” Tử Chi không đứng dậy, “chờ qua vài ngày nữa, tại hạ sẽ chọn ngày đẹp giờ lành, trả lại ngôi vị cho tiền Yên Vương, lập con trai Yên Vương làm thái tử. Dám phiền Tô Tử sang Tề một chuyến, đổi Hà Gián để kết tình hoà mục.”
Tô Tần quay người lại, nhìn xoáy vào Tử Chi, ánh mắt như đuốc.
Tử Chi đứng dậy, vòng tay, điệu bộ rất mực cung kính.
“Tô Tần tin huynh, ngày mai sẽ lập tức lên đường!” Tô Tần đáp lễ, rồi quay người khoan thai bước đi.
Nhìn theo bóng Tô Tần xa dần, Tử Chi đứng sững một hồi, rồi lệnh cho nội thần: “Triệu Lộc Mao Thọ!”