Dự đoán của Quỷ Cốc Tử vô cùng chuẩn xác.
Cũng tối hôm đó, vào giờ Nhân định, trong điện Di Tình ở cung Tần tại Hàm Dương, Tần Hiếu Công đang ngồi trước án, không biết tại sao, chợt thấy tinh thần mệt mỏi, sắc mặt vàng bệch, toàn thân rời rã không còn sức lực. Nội thần khẽ nói: “Khuya rồi, chúa thượng hãy nghỉ sớm!”
Tần Hiếu Công nhắm mắt lại, ngồi thêm lúc nữa, sau đó mở mắt ra than thở: “Than ôi, hẳn là quả nhân đã già rồi, nên đầu đau như búa bổ, chốc chốc lại chóng mặt. Hễ chóng mặt là thấy mắt hoa đầu váng!”
“Chúa thượng vất vả lo toan quốc sự suốt ngày đêm, hẳn đã mệt mỏi. Hay là để lão nô truyền thái y tới xem sao?”
Tần Hiếu Công cười gượng, xua tay nói: “Mệt không phải là bệnh, triệu thái y làm gì?” Rồi bỗng sực nhớ ra, bèn hỏi. “Mấy ngày nay Tứ Nhi đi đâu?”
Nội thần ngần ngừ một lát: “Lão nô không biết!”
Hiếu Công biết nội thần không dám nói thật, liền truy hỏi: “Ngươi thực sự không biết?”
Nội thần đành quỳ xuống: “Lão… lão nô nghe nói, điện hạ chơi chọi dế với mấy vị công tử…”
“Mấy vị công tử?” Đôi mày Tần Hiếu Công từ từ chau lại. “Là những ai?”
“Là công tử Hoa, công tử Ly và công tử Văn!”
Công tử Hoa là con thứ của công thúc Kiên, công tử Ly, công tử Văn là con cháu của mấy vị công thất khác, Tần Hiếu Công biết mấy người đó, liền thở phào, rồi hỏi tiếp: “Chọi như thế nào?”
Nội thần cũng trấn tĩnh trở lại: “Lão nô nghe nói, mỗi một vị công tử sẽ chọn cho mình một con dế, sau đó chia đội để đấu!”
“Con dế của Tứ Nhi tên gì?”
“Tên là Hắc Điêu, nghe nói rất khoẻ, đã cắn chết rất nhiều đối thủ!”
Tần Hiếu Công không hỏi thêm gì nữa, chỉ ngồi trầm ngâm, sau đó khẽ thở dài: “Than ôi, Tứ Nhi từ sáng đến tối chỉ biết chơi bời với mấy đứa trẻ ranh, đến khi nào mới biết chăm lo quốc sự đây?”
Nội thần khuyên nhủ: “Chúa thượng xin đừng lo lắng, lão nô cho rằng điện hạ là một thiên tài, chỉ cần đặt trọng trách lên vai, điện hạ chắc chắn sẽ đảm đương được!”
Tần Hiếu Công trầm ngâm một lát, rồi ngoái đầu hỏi: “Việc đó, ngươi đã làm xong chưa?”
“Những việc chúa thượng dặn dò, tất cả đều đã hoàn tất!”
“Đã làm xong rồi, vậy hãy truyền Tứ Nhi đến đây!”
Nội thần vâng lệnh, đứng dậy lui ra.
Trong cung thái tử, Doanh Tứ đang chơi đùa với đám công tử Hoa, công tử Ly.
Trên đài đấu, con Tiểu Hắc Điêu của Doanh Tứ và con Đại Hoàng Hùng của công tử Ly đang giao chiến kịch liệt, Doanh Tứ nhảy cẫng lên hò hét: “Cắn, Tiểu Hắc Điêu, cắn đi, cắn chết con dế đần độn kia đi, mau cắn đi!”
Đang lúc ồn ào, thì thái phó Doanh Kiền mặt hầm hầm bước vào. Công tử Hoa thấy phụ thân đến, vội chạy dạt đi. Công tử Ly huých khuỷu tay vào thái tử, nói nhỏ: “Điện hạ, công thúc đến kìa!”
Doanh Tứ ngoái nhìn, rồi vòng tay thi lễ với Doanh Kiền: “Tứ Nhi xin chào công thúc.”
Doanh Kiền liếc xéo công tử Hoa, giận dữ quát: “Mấy đứa các ngươi ra ngoài hết, ta muốn nói chuyện với điện hạ!”
Công tử Hoa lè lưỡi, rồi cùng công tử Ly lỉnh ra khỏi cửa cung.
Doanh Kiền liếc nhìn con dế trong giỏ, chậm rãi hỏi: “Điện hạ, tại sao điện hạ từ sáng đến tối chỉ biết có ham mê chọi dế?”
Doanh Tứ cười hề hề mà nói: “Chơi chọi dế thú vị vô cùng! Không giấu công thúc, những cái khác không nói, chỉ nhìn con Tiểu Hắc Điêu này thôi, mặc dù nhỏ bé, nhưng khi xung trận, thật không phải tầm thường. Hôm qua nó vừa cắn chết một con dế rất to xác! Tứ Nhi còn định xây cho nó một đài Hắc Điêu, rồi nuôi một bầy dế giống như con Tiểu Hắc Điêu này. Đến lúc đó, không phải nói khoác, chắc chắn Tứ Nhi sẽ vô địch liệt quốc!”
“Than ôi!” Doanh Kiền thở dài một tiếng, lắc đầu. “Điện hạ, người nên chăm lo việc chính mới phải!”
“Việc chính?” Doanh Tứ xua tay. “Quốc sự đã có công phụ và Công Tôn Ưởng lo, gia sự đã có công thúc lo, đâu cần Tứ Nhi phải bận tâm?”
Doanh Kiền lại thở dài: “Nếu điện hạ cứ nghĩ như vậy, giang sơn Đại Tần e rằng sớm muộn sẽ rơi vào tay người khác họ!”
Doanh Tứ cười nhạt: “Chỉ cần công phụ thích, cứ để cho kẻ đó lấy đi!”
Doanh Kiền sững người, vội nói: “Điện hạ, người…”
“Công thúc đến tìm Tứ Nhi, có còn việc gì khác chăng?”
Doanh Kiền biết Doanh Tứ có ý tiễn khách, đành thở dài: “Điện hạ, mấy ngày nay chúa thượng khí sắc không tốt, điện hạ cũng nên bớt chút thời gian đến hỏi thăm mới phải.”
“Ồ?” Doanh Tứ thoáng giật mình, rồi nói. “Ta biết rồi!”
Lời vừa dứt, tiếng một cung nhân bỗng ngân nga bên cửa: “Chúa thượng có chỉ, truyền điện hạ đến điện Di Tình.”
Doanh Tứ ngạc nhiên, quay sang nhìn Doanh Kiền, thấy ông ta cũng bất ngờ, liền ngẩng cao đầu đi ra khỏi cửa.
Trong điện Di Tình, Hiếu Công vẫn mải miết đọc tấu chương, thấy nội tể đi vào, liền ngẩng lên hỏi: “Tứ Nhi đâu?”
“Lão nô đã cho người đi truyền, hẳn sẽ đến ngay thôi!”
Hiếu Công gật đầu, lại cúi xuống đọc. Đây là tấu chương do Công Tôn Ưởng gửi đến từ Thương Quận - đất phong của Công Tôn Ưởng, Tần Hiếu Công đã đọc qua không biết bao nhiêu lần, nhưng vẫn thấy chưa đủ, lại đọc lại lần nữa, vừa đọc vừa tấm tắc khen ngợi: “Trận này của Thương Quân thật tuyệt vời, chỉ với vỏn vẹn ba vạn binh mà đánh lui được năm vạn quân Sở, giết hơn hai vạn quân địch, đã quét sạch người Sở ra khỏi vùng sơn cốc Thương Ư!”
Nội thần cười nói: “Là nhờ chúa thượng mưu lược cao minh!”
“Ồ, Thương Quân thắng trận, quả nhân nào có công gì?”
“Chúa thượng tặng sáu trăm dặm đất cho đại lương tạo, còn phong ông ta làm Thương Quân. Trận này là đại lương tạo đánh cho chính mình, có thể không thắng hay sao?”
“Ha ha ha!” Tần Hiếu Công cười lớn. “Ngươi chỉ biết một mà không biết hai!”
“Ồ?” Nội thần hai mắt mở to nhìn Tần Hiếu Công. “Đất phong này là do đại lương tạo tự xin lấy!”
Nội thần càng thêm kinh ngạc: “Đại lương tạo… ông ta tự đòi phần thưởng ư?”
“Phải!” Tần Hiếu Công gật đầu. “Trận chiến Hà Tây, Công Tôn ái khanh khổ cực lập đại công, quả nhân muốn thưởng cho bảy trăm dặm Hà Tây, phong làm Thiếu Lương Quân, nhưng ông ta kiên quyết từ chối. Quả nhân khăng khăng phong thưởng, Công Tôn Ưởng không biết làm thế nào, nên đã xin quả nhân sơn cốc đó!”
Nội thần lúc này mới hiểu ra: “Đại lương tạo muốn tự mình đánh chiếm lấy địa bàn!”
“Đúng vậy!” Tần Hiếu Công mỉm cười mà nói. “Người này quả thực tinh minh. Phàm là thứ gì hắn muốn, chắc chắn sẽ đạt cho bằng được. Tuy nhiên, có trận chiến này của Thương Quân, quả nhân cũng không còn mối lo phía nam nữa!”
Tần Hiếu Công chậm rãi đứng lên, đi tới trước bản đồ liệt quốc được vẽ trên một tấm gỗ.
Nội thần vội ra lệnh: “Thắp đèn!”
Hai cung nữ đứng hầu mỗi người mang tới một cây đèn, đi tới trước tấm bản đồ, đứng hầu hai bên. Hiếu Công tiến lại gần, cầm bút chấm mực son, khoanh lấy sáu trăm dặm Thương Ư, viết một chữ “Tần” vào giữa vòng tròn đó.
Tần Hiếu Công viết xong, gật đầu hài lòng, ánh mắt dịch chuyển lên trên, từ từ dừng tại Hà Tây, lại đưa bút vạch một đường từ bắc xuống nam dọc theo Hà Thuỷ, kéo thẳng tới gần Âm Tấn, và cũng viết lên một chữ “Tần”.
Tần Hiếu Công lùi lại mấy bước, hai mắt nhìn chằm chằm vào vạch đỏ vừa vẽ.
Đây là ranh giới lãnh thổ hiện tại của Tần và Ngụy.
Từ phía xa vọng lại tiếng mõ cầm canh. Tần Hiếu Công dỏng tai lắng nghe, nội thần bèn khẽ giọng bẩm báo: “Đã canh hai rồi, chúa thượng!”
Tần Hiếu Công gật đầu, đi tới sát tấm bản đồ, hai mắt nhìn chăm chú vào con đường thông tới Hàm Cốc.
Sắc mặt Hiếu Công mỗi lúc một nặng nề, trán bắt đầu vã mồ hôi, bàn tay cầm bút hơi run rẩy. Đột nhiên, chân trái Hiếu Công loạng choạng, khiến cơ thể khẽ chao đảo.
Nội thần vội vã chạy lại đỡ, lo lắng hỏi: “Chúa thượng?”
Tần Hiếu Công gắng gượng đứng vững, sau đó lại hạ bút xuống Âm Tấn, vạch theo con đường thông đến Hàm Cốc ở bờ nam Hà Thuỷ, thẳng tới ải Hàm Cốc, ải Hào Quan, rồi đưa bút son khuyên thành hình tròn thật đậm tại hai ải Hàm Cốc, Hào Quan.
Nhưng Tần Hiếu Công còn chưa kịp vẽ xong, đột nhiên trước mắt tối sầm, hai chân mềm nhũn, cơ thể loạng choạng. Nội thần bất ngờ chưa kịp đỡ, Tần Hiếu Công đã ngã nhào xuống đất.
Nội thần vội vàng vực Hiếu Công dậy, hét lớn: “Chúa thượng! Chúa thượng…”
Doanh Tứ đang theo cung nhân đi đến trước cửa, nghe thấy tiếng hét, lập tức chạy vội vào: “Công phụ…”
Tần Hiếu Công hai hàm răng nghiến chặt, mép rỉ máu đen, hai mắt nhắm nghiền, đã bất tỉnh nhân sự. Nội thần và cung nữ đều kinh hoàng thất sắc, sững sờ không biết phải làm sao.
Doanh Tứ chạy vụt vào, đưa tay đỡ lấy Hiếu Công, hét gọi: “Công phụ! Công phụ…” Rồi quay sang quát nội thần. “Mau truyền thái y!”
Lúc này nội thần mới sực tỉnh, lập tức ba chân bốn cẳng chạy đi.
***
Tại thành Niết Dương nước Sở, trống trận vang rền, quân Tần phá vỡ cổng thành, quân Sở giữ thành chạy tán loạn như ong vỡ tổ. Hai tên lính Tần lao lên tường thành, giật phăng lá cờ chữ “Sở” xuống, thay bằng lá cờ chữ mang chữ “Tần”.
Trong vòng hộ tống của quân sĩ, Công Tôn Ưởng, Sư Lý Tật từ từ tiến vào thành Niết Dương. Thành Niết Dương kỳ thực đã nằm ngoài ranh giới Thương Ư, đi tiếp về phía đông sẽ là Nam Dương, trọng địa luyện kim của nước Sở. Tính cho đến nay, chỉ sau trận chiến Hà Tây đúng một năm, Công Tôn Ưởng nhân lúc nước Sở cử đại binh phạt Tống, không còn rảnh rỗi chú ý đến việc khác, đã một mạch chiếm liền sáu trăm dặm đất Thương Ư.
Công Tôn Ưởng vừa vào trong phủ ngồi xuống, thì mấy kỵ binh đã hoả tốc lao đến, xuống ngựa ngay trước cửa phủ, một người vội vã chạy thẳng vào trong. Công Tôn Ưởng nhận ra đó chính là ngự sử Địch Thanh, thuộc hạ của thượng đại phu Cảnh Giám.
Địch Thanh hối hả chạy vào trong sảnh, quỳ sụp xuống đất: “Hạ quan Địch Thanh khấu kiến Thương Quân!”
Công Tôn Ưởng thấy hắn mặt mũi hoảng hốt, không kịp đáp lễ đã hỏi dồn: “Địch Thanh, có chuyện gì mà gấp gáp làm vậy?”
Địch Thanh hạ giọng bẩm báo: “Chúa thượng đột nhiên trúng gió, hôn mê bất tỉnh. Thượng đại phu lệnh cho hạ quan đến mời Thương Quân trở về Hàm Dương nghị sự!”
Công Tôn Ưởng vừa nghe đã giật bắn mình, suy nghĩ một lát rồi dặn dò Sư Lý Tật: “Việc ở đây giao cả cho ngươi, hãy xây thành cao hơn, bảo vệ nghiêm ngặt, đề phòng quân Sở tiến chiếm lại. Đồng thời bố cáo với thần dân, nói rằng chúa thượng có chỉ, miễn cho bách tính một năm sưu thuế, không quan lại nào được sách nhiễu nhân dân, kẻ nào vi phạm, sẽ xử tội theo luật pháp nước Tần!”
Sư Lý Tật vòng tay nói: “Hạ quan tuân mệnh!”
Công Tôn Ưởng gọi người chuẩn bị xe ngựa, chỉ mang theo mấy chục kỵ sỹ, sau đó cùng Địch Thanh tiến thẳng về Hàm Dương.
Công Tôn Ưởng đi suốt ngày đêm, liên tục thay ngựa, chỉ trưa hôm sau đã đến được vùng núi Chung Nam. Công Tôn Ưởng ghìm cương, xuống ngựa, viết một bức thư đưa cho Địch Thanh: “Ngươi hãy hoả tốc tới Hàn Tuyền, đưa thư này cho Hàn Tuyền tiên sinh!”
Địch Thanh nhận lệnh, lập tức quay đầu ngựa, phóng như bay về phía Hàn Tuyền.
Công Tôn Ưởng lại đi tiếp một ngày, đến trưa ngày thứ ba thì tới được Hàm Dương. Vừa vào cổng phủ, đã thấy thượng đại phu Cảnh Giám đứng đợi sẵn.
Công Tôn Ưởng vội nói: “Cảnh huynh, mau cùng ta vào cung!”
Cảnh Giám lắc đầu. Công Tôn Ưởng ngạc nhiên. “Sao lại không được?”
“Điện hạ truyền khẩu dụ, toàn thể quan viên tạm thời không lên triều, không có chỉ ý của điện hạ, bất kỳ người nào cũng không được vào cung!”
Công Tôn Ương kinh ngạc, nhưng cũng nhanh chóng bình tĩnh trở lại: “Chúa thượng giờ thế nào rồi?”
“Hạ quan không biết! Nhưng có người trong cung nói với hạ quan, theo thái y nói, bệnh của chúa thượng không hề nhẹ! Đã bảy ngày rồi mà vẫn bất tỉnh nhân sự!”
Công Tôn Ưởng trầm tư một lúc, khẽ thở dài: “Than ôi, chúa thượng… Hiện giờ, việc cấp bách nhất chính là trị bệnh. Ta đã phái Địch Thanh tới Hàn Tuyền, nếu Hàn Tuyền tiên sinh xuống núi, may ra chúa thượng còn có cơ cứu được.”
Cảnh Giám vội hỏi: “Khi nào tiên sinh mới đến?”
“Ít nhất cũng phải ba canh giờ nữa!”
“Hạ quan sẽ đích thân ra cổng thành nghênh tiếp!”
Công Tôn Ưởng gật đầu nói. “Được! Tại hạ tạm quay về giải quyết vài việc trong phủ, đợi khi tiên sinh đến, chúng ta sẽ cùng vào cung yết kiến!”
Cảnh Giám vội vàng ra khỏi cửa, đi thẳng về phía cổng thành.
Ba canh giờ sau, quả nhiên Cảnh Giám, Địch Thanh đã trở về, cùng đi thẳng tới phủ Thương Quân, cũng chính là phủ đại lương tạo trước đây. Công Tôn Ưởng nghe thấy tiếng, vội vàng chạy ra, nhưng chỉ nhìn thấy nữ đệ tử Lâm tiên cô của Hàn Tuyền Tử, thì sững lại một thoáng, sau đó tiến lên vái chào: “Tiên sinh có khoẻ không?”
Lâm tiên cô vòng tay đáp lễ, nói: “Tiên sinh rất khoẻ. Tiên sinh nhận được thư của Thương Quân, lập tức sai tiểu nữ đi cùng với Địch tướng quân!”
“Đã khiến tiên cô phải vất vả!” Công Tôn Ưởng không kịp nói nhiều, vội dẫn Lâm tiên cô vào cung.
Trong hậu cung, lão thái hậu, Tần Công phu nhân, cung phi, công chúa, tất cả cùng quỳ trong sân, đang cầu khấn trời xanh phù hộ cho Hiếu Công.
Trong điện Di Tình, ngoài nội thần, ngự y, không có bất kỳ quan lại nào khác. Ngoài cửa tẩm cung, thái phó Doanh Kiền, điện hạ và mấy chục vị công tử của Tần Công cùng quỳ dưới đất, tất cả đều đang cầu khấn cho Tần Công.
Mấy viên thái y túc trực bên cạnh Hiếu Công, trên đầu, trên đùi của Hiếu Công cắm chi chít kim châm cứu. Hiếu Công vẫn bất tỉnh nhân sự, hơi thở vô cùng hư nhược.
Nội thần đi tới trước mặt Doanh Tứ, ghé tai nói nhỏ mấy câu. Doanh Tứ khép mắt im lặng một hồi, mới gật đầu nói: “Ồ, Thương Quân đến rồi ư, mau mời vào!”
Nội thần đi ra ngoài điện, một lát sau đã dẫn Công Tôn Ưởng vào tới nơi.
Công Tôn Ưởng quỳ xuống phía sau Doanh Tứ, Doanh Tứ nhìn thấy, vội vàng lùi lại một bước, quỳ xuống bên cạnh Công Tôn Ương, khóc mà gọi: “Thương Quân…”
Công Tôn Ưởng dập đầu nói: “Vi thần khấu kiến điện hạ!”
Doanh Tứ lạy đáp lễ: “Lần này Thương Quân đến, Doanh Tứ không thể ra nghênh đón, mong Thương Quân lượng thứ!”
“Điện hạ!” Công Tôn Ưởng cũng rơi lệ mà nói. “Xin đừng nói vậy, long thể của chúa thượng đã khá hơn chút nào chưa?”
Doanh Tứ lắc đầu.
“Vi thần đã mời được một vị tiên cô từ núi Chung Nam đến, y thuật cực cao thâm. Vi thần mong điện hạ cho phép tiên cô chẩn trị bệnh cho chúa thượng!”
Doanh Tứ suy nghĩ một thoáng, rồi gật đầu nói: “Mau mời thần y!”
Công Tôn Ương bèn vỗ tay, một lát sau, Cảnh Giám dẫn theo Lâm tiên cô vào điện. Nội thần bước ra, dẫn tiên cô tới trước giường của Hiếu Công. Mấy viên thái y đều lui xuống một bước, đứng hầu ở hai bên.
Lâm tiên cô đứng bên cạnh Hiếu Công, cách Hiếu Công chừng một bước, sau đó phát công. Một lúc sau, Lâm tiên cô từ từ lui ra. Công Tôn Ưởng thấy Lâm tiên cô sắc mặt ảm đạm, thì trong lòng nặng trĩu, bèn ra hiệu cho nội thần dẫn Lâm tiên cô sang phòng bên cạnh, sau đó gật đầu với Doanh Tứ.
Doanh Tứ hiểu ý, nên cùng Công Tôn Ưởng sang phòng bên.
Thấy không còn người khác nữa, Doanh Tứ bèn hỏi: “Xin hỏi thần y, công phụ mắc bệnh gì?”
“Chúa thượng nguyên âm hư cực, khí huyết xung tâm!”
“Có thể cứu được chăng?”
Lâm tiên cô khẽ lắc đầu: “Chúa thượng đã như cây đèn cạn dầu, bệnh đã nhập vào xương tuỷ!”
Công Tôn Ưởng sắc mặt tái mét, một lúc sau mới nói nên lời: “Mong tiên cô hãy phát thần công, chỉ cần cứu được chúa thượng, nước Tần không tiếc bất cứ thứ gì!”
Lâm tiên cô lại lắc đầu: “Bệnh của chúa thượng, đừng nói là tiểu nữ, cho dù tiên sinh có đến, cũng không thể làm gì hơn!”
Nghe thấy vậy, Doanh Tứ bật khóc thất thanh. Công Tôn Ưởng ngẫm nghĩ một lúc rồi hỏi: “Vậy, tiên cô có thể khiến chúa thượng tỉnh lại hay chăng?”
“Tiểu nữ sẽ thử xem!”
Lâm tiên cô lại tiến vào cung, bảo mọi người ra ngoài, sau đó rút tất cả kim châm cứu trên người Hiếu Công ra, ngồi ngay ngắn trước mặt Hiếu Công, hai mắt nhắm hờ, vận thần phát công. Một lát sau, Lâm tiên cô đã trán rịn mồ hôi, toàn thân nhiệt khí bốc lên nghi ngút. Lại nhìn Hiếu Công, thấy sắc mặt dần dần hồng hào, hơi thở bắt đầu đều đặn. Thêm một lát nữa, thấy lông mày và mí mắt của Tần Hiếu Công khẽ động.
Lâm tiên cô bèn thu công, lấy từ trong tay áo ra một hoàn thuốc, đưa cho nội thần: “Hãy cho chúa thượng uống đan dược này!”
Nội thần đưa cho thái y, thái y bón cho Hiếu Công uống.
Lâm tiên cô chậm rãi lui ra. Doanh Tứ vội hỏi: “Công phụ thế nào rồi?”
Lâm tiên cô nói: “Nửa canh giờ sau, chúa thượng sẽ tỉnh lại. Nhưng… hoàn thuốc đó, nhiều nhất cũng chỉ có thể giúp chúa thượng cầm cự được ba ngày, còn chuyện sau đó, tiểu nữ…”
Doanh Tứ vòng tay vái một vái thật sâu: “Doanh Tứ đa tạ thần y!”
Cảnh Giám bước tới, dẫn Lâm tiên cô sang phòng bên nghỉ ngơi.
Quả như lời tiên cô, nửa canh giờ sau, Tần Hiếu Công từ từ hồi tỉnh, hai mắt khẽ chớp, sau đó lại nhắm nghiền, đầu khẽ nhúc nhắc. Thái y thấy vậy thì mừng rỡ, lập tức chạy ra ngoài thông báo.
Doanh Tứ đang cùng Công Tôn Ưởng dập đầu ngoài cửa, nhìn thấy thái y, vội hỏi: “Thái y, công phụ thế nào rồi?”
“Khởi bẩm điện hạ, chúa thượng đã tỉnh lại rồi!”
Doanh Tứ thở phào một tiếng, tiếp tục cầu khấn. Một lát sau, nội thần đi ra, đứng trước cửa hô: “Chúa thượng có chỉ, truyền Thương Quân vào!”
Hiếu Công tỉnh lại, người đầu tiên muốn gặp lại là Thương Quân, khiến Doanh Tứ không khỏi kinh ngạc.
Công Tôn Ưởng chần chừ một lát, sau đó chậm rãi đứng dậy, đi vào cung, quỳ ở trước giường, khóc mà gọi: “Chúa thượng…”
Hiếu Công từ từ giơ tay lên, Công Tôn Ưởng thấy vậy cũng vội đưa tay lại. Quân thần hai người nắm chặt lấy tay nhau, Hiếu Công từ từ ứa hai hàng lệ, giọng run rẩy: “Có thể gặp được ái khanh, quả nhân đã mãn nguyện rồi!”
Công Tôn Ưởng khóc mà nói: “Chúa thượng còn rất khoẻ mạnh, sao lại nói lời này?”
Hiếu Công cười buồn bã, than thở: “Than ôi, có khoẻ hay không, quả nhân tự biết. Công Tôn ái khanh, quả nhân vốn định cùng khanh làm một việc lớn nữa, chẳng dè trời xanh không thương, đã gọi quả nhân đi gấp!”
“Dám hỏi chúa thượng, là việc lớn gì?”
“Ta đã đông chiếm Hà Thuỷ, nam đoạt Vũ Quan, chỉ cần có thêm Hàm Cốc, Hào Quan, sẽ trở thành nước tứ bề phong kín, hùng cứ Quan Trung, tiến có thể công, lui có thể thủ, lấy đó mà lập cơ nghiệp muôn đời. Đáng tiếc, quả nhân hận mình không còn thời gian nữa!”
“Lời của chúa thượng cũng chính là tâm tư bấy lâu nay của vi thần. Chúa thượng yên tâm, vi thần nhất định dốc hết tâm lực, quyết đoạt được Hàm Cốc!”
Hiếu Công cười gượng một tiếng: “Trong tình thế hiện nay, Hàm Cốc chỉ là việc nhỏ. Quả nhân gọi khanh đến, là có việc lớn cần giao phó!”
Công Tôn Ưởng khóc mà nói: “Chúa thượng có gì căn dặn, dù phải nhảy vào dầu sôi lửa bỏng, thần cũng quyết chẳng từ nan!”
“Quả nhân kiếp này may mắn mới gặp được Thương Quân. Nước Tần vì có Thương Quân nên mới có tân pháp; vì có tân pháp nên mới được thịnh vượng như hôm nay. Sau khi quả nhân chết đi, cho dù xảy ra chuyện gì, mong Thương Quân hãy nhẫn nhục gánh vách trọng trách, tuyệt đối không được để tân pháp chết yểu giữa đường!”
“Vi thần ghi nhớ!”
Hiếu Công hai mắt nhìn chăm chăm vào Công Tôn Ưởng, một hồi lâu mới chậm rãi nói: “Quả nhân còn có lời tâm phúc khác muốn giao phó!”
“Vi thần xin nghe!”
“Thái tử Doanh Tứ nhu nhược kém cỏi, dễ bị đám cựu đảng lợi dụng. Những kẻ đó đều là quyền quý trước đây, vốn dĩ bất mãn với tân pháp. Hôm nay còn quả nhân, họ không dám làm càn, sau khi quả nhân ra đi, chắc chắn họ sẽ gây khó dễ cho quân chủ mới, cản trở tân pháp!”
“Nếu như vậy, vi thần phải ứng phó thế nào?”
Hiếu Công quả quyết: “Công Tôn ái khanh, tất cả phải lấy tân pháp làm trọng. Nếu như quân chủ mới không phế bỏ tân pháp, Thương Quân hãy phò tá. Nếu quân chủ mới không theo tân pháp, Thương Quân hãy phế chúa lên thay!”
Công Tôn Ưởng toát mồ hôi lạnh, quỳ sụp xuống đất, khóc mà nói: “Chúa thượng, Công Tôn Ưởng xuất thân hàn sinh, may được chúa thượng ban ân nên mới có ngày hôm nay. Công Tôn Ưởng cho dù gan óc lầy đất, cũng tuyệt đối không làm chuyện phản nghịch. Chúa thượng!”
Công Tôn Ưởng liên tục dập đầu bình bịch xuống đất.
“Than ôi,” Tần Hiếu Công gật đầu nói. “Tấm lòng của ái khanh, lẽ nào quả nhân không biết?” Rồi chỉ vào bên giường. “Lại đây, Công Tôn ái khanh, hãy ngồi xuống đây!”
Công Tôn Ưởng dè dặt ngồi xuống bên cạnh Hiếu Công. Hiếu Công cất giọng run rẩy: “Người đâu!”
Nội thần vội vã đi vào.
“Truyền thái tử!”
Doanh Tứ rảo bước vào, quỳ ở trước giường, khấu đầu nói: “Nhi thần khấu kiến công phụ!
Hiếu Công nắm chặt tay Công Tôn Ưởng: “Doanh Tứ nghe chỉ! Bắt đầu từ hôm nay, con phải thờ Thương Quân theo lễ quốc phụ, không được lơ là!”
Doanh Tứ dập đầu: “Nhi thần tuân chỉ!”
“Tứ Nhi, hãy khấu kiến quốc phụ!”
Doanh Tứ chần chừ một lát, rồi quay sang dập đầu trước Công Tôn Ưởng: “Quốc phụ ở trên, xin hãy nhận của Doanh Tứ một lạy!”
Công Tôn Ưởng vội vàng xuống giường, phủ phục trước mặt Doanh Tứ: “Điện hạ, muôn lần xin đừng!”
Công Tôn Ưởng quay người, khấu lạy Hiếu Công: “Chúa thượng, sau khi chúa thượng băng hà, điện hạ sẽ là quân chủ mới của Đại Tần, Công Tôn Ưởng thân thế thấp kém, sao dám dùng địa vị quốc phụ để yết kiến quân chủ mới? Chúa thượng, lễ quân thần không thể phá vỡ, vi thần to gan mong chúa thượng hãy thu hồi mệnh lệnh!”
Hiếu Công xua tay nói: “Có ái khanh phò tá bên cạnh Tứ Nhi, quả nhân dưới cửu tuyền cũng cảm thấy an lòng. Hai ngươi lui ra đi, quả nhân mệt rồi!” Nói đoạn, từ từ khép mắt lại.
Công Tôn Ưởng lại bái lạy, khóc mà nói: “Chúa thượng bảo trọng, vi thần cáo lui!”
Doanh Tứ khấu bái: “Nhi thần cáo lui!”
Thấy Công Tôn Ưởng và thái tử đã đi xa, Hiếu Công mới từ từ mở mắt, nói gấp với nội thần: “Truyền thái phó!”
Doanh Kiền đang đợi ở ngoài vội vã đi vào, quỳ xuống khóc: “Quân huynh…”
Nhìn người em ruột của mình, Hiếu Công ứa nước mắt, xoa tay Doanh Kiền mà nói: “Quả nhân đi trước một bước, việc nhà việc nước, tất cả phải thoái thác lại cho tam đệ!”
Doanh Kiền khóc: “Quân huynh…”
Hiếu Công chỉ vào cạnh giường, Doanh Kiền bèn ngồi xuống.
Hiếu Công giơ tay, sờ lên chiếc mũi giả trên mặt Doanh Kiền: “Tam đệ ơi, đời này của quả nhân, nếu có điều gì phải hối tiếc nhất, thì đó chính là năm xưa đã cắt mũi của tam đệ. Than ôi, quả nhân… quả nhân không nên như vậy!”
Nghe Hiếu Công nhắc lại chuyện cũ, Doanh Kiền cũng đau đớn trong lòng, nghẹn ngào nói: “Quân huynh, là thần đệ có tội, thần đệ đáng bị trừng phạt!”
“Tam đệ,” Hiếu Công khẽ lắc đầu, “không phải đệ đáng bị trừng phạt, mà là quả nhân buộc phải phạt đệ, nước Tần buộc phải phạt đệ. Tam đệ, lúc đó không phải đệ chịu phạt thay cho Tứ Nhi, mà chịu phạt thay cho quả nhân, chịu phạt thay cho nước Tần!”
Doanh Kiền khóc không thành tiếng: “Quân huynh, thần đệ biết, thần đệ biết rồi!”
“Đệ biết rồi thì tốt!” Hiếu Công nhìn Doanh Kiền với ánh mắt hiền từ. “Việc này không thể trách Công Tôn Ưởng, mà ngược lại, khi quả nhân muốn dùng hình với đệ, Công Tôn Ưởng đã nhiều lần khẩn cầu, nói rằng muốn chịu hình thay đệ. Nhưng đệ thử nghĩ xem, quả nhân làm sao có thể để Công Tôn Ưởng chịu hình thay đệ được? Quả nhân phạt đệ, cũng đồng nghĩa với phạt thái tử, cũng đồng nghĩa với quả nhân tự phạt mình. Nếu quả nhân không phạt đệ, làm sao có thể thực thi tân pháp ở Đại Tần? Không có tân pháp, nước Tần sao được thịnh vượng như hôm nay?”
Doanh Kiền bắt đầu hiểu ra nỗi oan khuất của mình năm đó, liên tiếp gật đầu: “Quân huynh, thần đệ hiểu rồi!”
“Đệ đã hiểu, quả nhân cũng yên tâm rồi. Tam đệ, nước Tần khó khăn lắm mới có được chút vị thế, tuyệt đối không được đứt gánh giữa đường! Quả nhân sắp phải đi rồi, nhưng quả nhân không thể yên tâm. Điều khiến quả nhân không thể yên tâm, chính là Tứ Nhi. Than ôi, đứa con này, cũng đã đến tuổi ba mươi, nhưng vẫn chưa biết lo toan quốc sự!”
“Quân huynh, theo thần đệ thấy, điện hạ chưa chắc đã không biết lo toan quốc sự. Điện hạ hành sự độc đáo, cho dù là nghịch ngợm, cũng khác hẳn những kẻ tầm thường. Mặc dù đôi lúc điện hạ có phần ấu trĩ, nhưng ngẫm kỹ, lời nói việc làm của điện hạ không có chỗ nào sơ suất. Thần đệ nghĩ, điện hạ là người có chủ kiến, có thể làm nên đại sự!”
“Tam đệ nói vậy, quả nhân cũng thấy yên tâm ít nhiều. Có tam đệ và Thương Quân phò tá, Tứ Nhi trong buổi ban đầu hẳn cũng sẽ thuận lợi hơn. Những việc sau này, đều phải trông chờ vào bản thân Tứ Nhi. Nhân tiện hỏi một câu, lão thái sư có khoẻ không?”
Doanh Kiền ngẩn người: “Quân huynh muốn nói đến Cam Long?”
Hiếu Công khẽ thở dài: “Than ôi, con chim sắp chết, tiếng hót đau thương; con người sắp chết, nói lời thật tâm. Quả nhân cả đời cố chấp bảo vệ tân pháp, đã đắc tội với không ít người, đặc biệt là với lão thái sư. Quả nhân không còn nhiều thời gian nữa, không thể tới phủ tạ lỗi với lão thái sư, phiền tam đệ hãy truyền lại ý chỉ giúp quả nhân!”
Doanh Kiên ngần ngừ: “Thái sư luôn chống đối tân pháp, quân huynh làm vậy là…”
“Đi đi! Bất kể thế nào, thái sư cũng là cựu thần của tiên quân, đã đánh mấy chục trận lớn nhỏ cho nước Tần, đến nỗi đầy mình thương tích, không còn phần da nào lành lặn. Quả nhân còn nhớ, năm đó đại chiến với Ngụy, tiên quân chẳng may trúng tên, thái sư đã xông pha vào giữa trận quân Ngụy, liều mạng cứu thoát tiên quân. Tam đệ, đệ hãy nói với thái sư rằng, quả nhân không bao giờ quên công lao của thái sư. Bắt đầu từ hôm nay, quả nhân khôi phục chức thái sư, ban thưởng năm trăm lượng vàng!”
“Thần đệ tuân lệnh!”
Doanh Kiền hô dừng xe trước phủ lão thái sư Cam Long chừng hai chục bước.
Doanh Kiền bước xuống xe, đuổi bọn thuộc hạ đi, một mình tiến lại gần phủ thái sư.
Hai cánh cửa đen trùi trũi đóng im ỉm, trông cũ nát thảm hại, đừng nói là người khác, ngay cả Doanh Kiền cũng có thể một chân đạp tung. Doanh Kiền nhớ rõ, mười mấy năm trước, phủ thái sư huy hoàng biết chừng nào, trước cửa từ sáng tới tối ngựa xe nườm nượp, đừng nói là người bình thường, ngay cả quan viên nếu chưa tới chức trung đại phu cũng không dám lộ diện ở đây!
Vậy mà, quan trường mưa gió, nói biến là biến. Mười mấy năm trước, Công Tôn Ưởng biến pháp, Doanh Kiền và Cam Long đều là cựu đảng, kịch liệt phản đối, bị quân chủ thẳng tay trấn áp. Trong cựu đảng, Doanh Kiền bị xẻo mũi; Công Tôn Giả bị đánh năm mươi trượng, thích chữ lên mặt; Cam Long may nhờ có công lao hiển hách nên được miễn hình phạt, nhưng cũng bị bãi quan, ở nhà đóng cửa sám hối tội lỗi, an dưỡng tuổi già. Ai ngờ, chớp mắt đã mười mấy năm, thành viên của cựu đảng, hoặc bị giết, hoặc bị sung quân, vài người còn lại vì sợ tân pháp nên không ai dám bén mảng đến phủ thái sư.
Đến nay, trước phủ thái sư hoang tàn lạnh lẽo, phía trước cổng chính chỉ chừng một bước chân, cỏ mọc um tùm, cao lút đầu người, không ai cắt dọn. Nhìn khung cảnh này, thái sư Cam Long chắc hẳn đã lòng tựa tro tàn, không còn mơ mộng tái khởi.
Doanh Kiền khẽ thở dài, đi đến trước cổng, gõ nhẹ.
Không ai trả lời.
Doanh Kiền gõ mạnh vào cánh cổng, gọi lớn: “Lão thái sư, có trong phủ không?”
Một lát sau, trong viện có tiếng bước chân vọng lại, một người trạc năm chục tuổi bước ra mở cổng. Doanh Kiền vừa nhìn, liền nhận ra là lão quản gia trong phủ thái sư.
Lão quản gia thấy Doanh Kiền đến, nhất thời kinh ngạc sững sờ, một lúc sau mới định thần lại được, quỳ sụp xuống đất: “Lão nô khấu kiến thái phó!”
“Lão thái sư có trong phủ không?”
“Chúa công đang ở trong, xin thái phó chờ một lát, lão nô sẽ vào bẩm báo!”
Lão quản gia vội vã chạy vào trong phủ. Một lát sau, Cam Tuyền râu tóc bạc phơ được hai người con trai dìu đỡ, khó nhọc cất từng bước chân run rẩy đi ra khỏi phòng. Nhìn thấy Doanh Kiền, lão thái sư bỗng vùng mạnh hai tay, đi thẳng về phía trước. Doanh Kiền cũng chạy lại gần.
Hai người tiến đến cách nhau chừng chục bước chân, rồi cùng dừng lại.
Doanh Kiền nhìn lão thái sư, hô lớn: “Lão thái sư Cam Long tiếp chỉ!”
Nghe thấy có chỉ ý của Tần Công, Cam Long giật mình kinh hãi, cứ ngỡ là chiếu chỉ đến lấy mạng mình, lập tức sắc mặt trắng bệch, run rẩy quỳ xuống, khấu đầu sát đất. Doanh Kiền lấy chiếu thư từ trong tay áo ra, đứng giữa sân tuyên đọc, rồi phái người khiêng năm trăm lượng vàng vào.
Cam Long tuyệt đối không thể ngờ được lại là tin vui, nước mắt thành dòng, dập đầu bình bịch xuống đất: “Lão thần khấu tạ thiên ân!” Rồi hai tay tiếp chỉ, lại khấu bái rồi mới đứng dậy, khom lưng vái Doanh Kiền. “Thái phó đại nhân, xin hãy vào trong phủ trò chuyện!”
Vì không rõ Tần Hiếu Công có dụng ý gì, Doanh Kiền không tiện nán lại lâu, bèn vái đáp lễ mà nói: “Lão thái sư bảo trọng, Doanh Kiền còn có việc gấp phải đi, xin cáo từ tại đây!”
Cam Long ngẩn người, rồi đáp lễ: “Thái phó xin dừng bước, lão hủ còn có chút chuyện, muốn thỉnh giáo thái phó!”
“Lão thái sư có chuyện gì, xin cứ căn dặn!”
“Nghe nói chúa thượng long thể bất an, hiện giờ thế nào rồi?
Doanh Kiền ý tại ngôn ngoại: “Chúa thượng đã không có gì đáng ngại. Thái sư cũng nên chú ý bảo trọng quý thể!”
“Bảo trọng, bảo trọng!” Cam Tuyền gật đầu liên hồi. “Cái mạng già này là do chúa thượng ban cho, đâu dám không bảo trọng! Lão hủ cung tiễn thái phó đại nhân!”
Doanh Kiền và mọi người ra khỏi cửa, lên xe đi luôn.
Cam Long đứng nhìn theo đoàn người ngựa đến khi khuất hẳn, rồi mới trở vào trong phủ, quỳ xuống trước đống vàng, tay cầm chiếu thư, khóc hu hu thành tiếng: “Trời xanh ơi, cuối cùng trời xanh cũng có mắt!” Khóc lóc một chặp, bèn quay đầu gọi. “Người đâu!”
Lão quản gia vội bước tới: “Chúa công có gì căn dặn?”
“Mau mời Công Tôn đại nhân, Đỗ đại nhân, Bạch đại nhân, cùng tất cả những người cũ trước đây của ta, mời họ đến phủ!”
“Lão nô tuân mệnh!”
Mấy canh giờ sau, trước phủ thái sư, cảnh tượng đã hoàn toàn khác hẳn, cỏ dại trước cửa được dọn quang, sân cũng được hai người con trai cho gia nhân quét tước sạch sẽ. Từng cỗ xe kiệu lần lượt đỗ lại trước phủ, Công Tôn Giả và những người từng phản đối tân pháp, hoặc những người từng bị tân pháp trừng phạt lũ lượt kéo đến, phủ thái sư sau mười mấy năm lạnh lẽo hoang vắng, nay bỗng náo nhiệt khác thường.
Lão thái sư Cam Tuyền mặc trang phục mới tinh, đứng trước sảnh, lần lượt vái chào từng người: “Các vị đại nhân, mời!”
Lão quốc uý Đỗ Chí không giấu nổi niềm phấn khởi trong lòng, vội bước lên một bước, vòng tay nói: “ Lão thái sư, nghe nói chúa thượng…”
Cam Long hai mắt ứa lệ: “Ta mời các vị đại nhân đến đây, chính là muốn các vị đại nhân cầu khấn trời xanh, xin cho chúa thượng vượt qua được kiếp nạn này! Nào, chúng ta hãy bắt đầu!”
Nghe nói cầu khấn cho Hiếu Công, mọi người thảy đều kinh ngạc.
Công Tôn Giả sờ tay lên dòng chữ thích trên mặt, hậm hực nói: “Cái gì? Lão thái sư muốn chúng tôi cầu khấn cho ông ta? Hạ quan còn hận vì không để hôn quân chết sớm từ mười năm trước!”
Đỗ Chí cũng nói: “Đúng thế, lão thái sư, mười mấy năm nay, hôn quân đã bị Công Tôn Ưởng lừa bịp, mưu sát công thần, hại chúng ta người không ra người, ma chẳng ra ma, không nguyền rủa hôn quân chết sớm là đã may lắm, thái sư tại sao lại muốn chúng tôi cầu khấn cho hắn?”
Cam Long chậm rãi bước tới trước bàn dài đặt giữa chính sảnh: “Các vị đại nhân, hãy nhìn xem!”
Cam Long giật tấm vải đen ra, phía trên là chiếu thư và năm trăm lượng vàng vừa được ban tặng.
Trong những tiếng xuýt xoa, Cam Long từ tốn nói: “Chỉ mấy canh giờ trước, thái phó đại nhân đã đích thân tới phủ của lão hủ, tuyên đọc chiếu thư của chúa thượng, nói bắt đầu từ hôm nay sẽ khôi phục chức vị thái sư, thăng tước một cấp, thưởng cho năm trăm lượng vàng!”
Công Tôn Giả hết sức ngờ vực: “Lão thái sư, chúa thượng đang giở bài gì vậy?”
Cam Long mỉm cười: “Các vị đại nhân, cho dù chúa thượng giở bài gì đi nữa, thì cũng đã đến ngày chúng ta trỗi dậy rồi!”
“Xin thái sư hãy nói rõ!”
“Lão hủ đoán, ý chỉ này không phải xuất phát từ chúa thượng, mà xuất phát từ điện hạ!”
Mọi người thảy đều kinh ngạc: “Điện hạ?”
Cam Long gật đầu: “Đúng thế, Công Tôn Ưởng một mực khuyên chúa thượng thi hành tân pháp, sát hại trung lương, người phản đối đầu tiên là điện hạ, người dẫn đầu chống đối cũng là điện hạ. Hiện giờ chúa thượng trúng gió, chắc chắn là trời xanh báo ứng. Điện hạ là con có hiếu, đã thay mặt chúa thượng rửa nỗi oan khiên cho chúng ta, thay chúa thượng chuộc tội với trời cao!”
Mọi người theo nhau gật đầu.
“Điện hạ đã khôi phục chức tước cho lão hủ, chắc chắn sẽ không thể lãng quên các vị. Bây giờ, lão hủ sẽ dâng tấu, xin điện hạ sử dụng lại các cựu thần. Trong số các vị, những ai có tước không chức sẽ được trao chức vị, những ai chỉ có hư chức sẽ được nhận lại chức vị thực, những ai bị bãi chức sẽ được phục hồi chức cũ!”
Mọi người vui mừng quá đỗi, nhất tề quỳ xuống bái lạy: “Tạ ơn thái sư!”
“Lão hủ mong các vị đại nhân hãy vì điện hạ mà cầu khấn cho chúa thượng!” Rồi Cam Long dẫn đầu quỳ xuống.
Mọi người cũng lần lượt quỳ xuống.
Trong phủ Thương Quân, Công Tôn Ưởng ngồi giữa chính đường, đôi mày chau tít.
Xa Anh, Cảnh Giám ngồi ở hai bên, sắc mặt đầy lo âu.
Xa Anh khẽ ngẩng đầu: “Thương Quân, lúc này chúa thượng lại cất nhắc thái sư, như vậy là có ý gì?”
“Chắc chắn không phải là ý chỉ của chúa thượng!” Cảnh Giám tiếp lời. “Hạ quan cho rằng, hành động lần này hẳn do Doanh Kiền thao túng, là ý chỉ của điện hạ. Thái phó, thái sư, Công Tôn Giả đều là cựu đảng, đều là thầy của điện hạ, lại đều đã từng thay điện hạ chịu tội, điện hạ và họ vốn cùng một phe. Hiện giờ chúa thượng bệnh nặng, điện hạ đương chính, để báo ân cũ, tự nhiên sẽ kết bè kết phái với những người này.”
Xa Anh lo lắng nhìn Công Tôn Ưởng: “Thương Quân, tân pháp đã thi hành được nhiều năm, ăn sâu vào lòng dân, chúng ta tuyệt đối không được để họ khôi phục cựu chế, uổng phí mọi công sức trước đây.”
Cảnh Giám tiếp lời: “Một khi chúa thượng băng hà, điện hạ sẽ lên kế vị. Nếu tân quân muốn khôi phục cựu chế, chúng ta làm sao có thể ngăn cản?”
Xa Anh chau mày, một lúc, siết chặt hai tay: “Thương Quân, theo ý hạ quan, trước tiên hãy khống chế tất cả cựu đảng. Nếu họ dám to gan làm phản, chúng ta hãy ra tay trước, giết sạch bọn họ để thị chúng.”
“Cảnh huynh, Xa huynh!” Công Tôn Ưởng đưa mắt nhìn hai người, chậm rãi nói. “Việc này đến đây là kết thúc, hai vị không được hành động tuỳ tiện, đẩy Ưởng vào chỗ bất trung bất nghĩa!”
Xa Anh, Cảnh Giám đều sững sờ.
Công Tôn Ưởng thở dài: “Than ôi, hai vị có điều không biết, đại hạn của chúa thượng chính là mấy ngày này, tâm tư của chúa thượng, chúng ta vẫn chưa thể hiểu. Ta nghĩ, điện hạ không phải là kẻ ngốc, biến pháp là xấu hay tốt, chắc chắn điện hạ cũng tự hiểu rõ. Nếu như cựu đảng có hành động, ta nghĩ điện hạ sẽ có cách xử trí, các người bất kể là ai cũng không được ăn nói tuỳ tiện, làm điện hạ bấn loạn!”
Thấy Công Tôn Ưởng khẳng định chắc nịch, Xa Anh, Cảnh Giám không dám nói thêm gì nữa, gật đầu lui ra.
Thấy hai người đã đi khuất, Công Tôn Ưởng thở dài: “Than ôi, hai vị nhân huynh, hai vị đã từng nghĩ đến chưa? Nước Tần được như ngày hôm nay thực không dễ dàng, tuyệt đối không thể tự gây nội loạn!”
Trong điện Di Tình, trước giường Hiếu Công, Doanh Tứ quỳ lặng phắc trên đất. Nhìn dáng vẻ, hẳn đã quỳ rất lâu rồi.
Cuối cùng, Hiếu Công cũng khẽ cựa mình, hai mắt từ từ hé mở, khẽ gọi: “Tứ Nhi đấy ư?”
Doanh Tứ bật khóc: “Công phụ, là Tứ Nhi đây!”
Hiếu Công lần tìm tay Doanh Tứ, cố gắng gượng dậy. Nội thần thấy vậy, vội chạy tới đỡ lấy Hiếu Công, lót tấm chăn bông vào sau lưng Hiếu Công. Hiếu Công xua tay, nội thần hiểu ý, liền cùng đám cung nhân lui cả ra ngoài, tiện tay đóng cửa lại.
Thấy trong cung chỉ còn Doanh Tứ, Hiếu Công mỉm cười, sau đó chậm rãi nói: “Tứ Nhi, lúc nãy quả nhân vừa ngủ một giấc thật dài, mơ thấy một giấc mơ kỳ lạ!”
“Công phụ có thể kể cho nhi thần nghe chăng?”
Hiếu Công gật đầu: “Quả nhân đã mơ thấy liệt tổ liệt tông. Quả nhân hãy còn rất trẻ, giống như thuở nhỏ, còn nhỏ hơn con bây giờ. Liệt tổ liệt tông ngồi yên vị ở một nơi nào đó, không nhìn rõ nơi nào. Họ ngồi thành một hàng, người thì gật đầu, người thì mỉm cười với quả nhân. Sau đó lão thuỷ tổ ngồi ở chính giữa ra hiệu, tiên quân đứng dậy, không nói một lời, lập tức nắm tay quả nhân, dẫn quả nhân tới một nơi. Tất cả liệt tổ liệt tông đều đứng dậy, lẳng lặng đi theo sau.”
Doanh Tứ ngạc nhiên hỏi: “Một nơi? Là nơi nào vậy?”
Hiếu Công lắc đầu: “Quả nhân không biết, hình như cứ thế đi về phía tây, không phải đi, mà là bay. Chúng ta bay thẳng ra ngoài thành Hàm Dương. Bay được mấy chục dặm thì nhìn thấy một ngã ba, bên cạnh có một cây lớn, dưới gốc cây có một cái giếng.”
Doanh Tứ hai mắt mở tròn: “Giếng?”
“Đúng thế. Tiên quân dẫn quả nhân tới bên giếng. Liệt tổ liệt tông đều đứng vây quanh, sau đó bắt đầu di chuyển vòng tròn. Họ cứ thế xoay vòng mãi, quả nhân không nhớ rõ đã được bao nhiêu vòng. Sau đó, liệt tổ liệt tông chợt dừng lại, ngồi xuống xung quanh giếng. Đúng lúc đó, tiên quân lên tiếng.”
Doanh Tứ lúc này tim nảy lên tận họng, sốt sắng hỏi: “Tiên quân đã nói gì?”
“Tiên quân chỉ vào giếng mà nói: Doanh Cừ Lương, tiền đồ của nước Tần ở trong này, còn không lấy lên? Lời vừa dứt, tiên quân thình lình đẩy mạnh quả nhân một cái, quả nhân không kịp đề phòng, liền ngã nhào xuống giếng.”
Doanh Tứ kinh ngạc hỏi: “Công phụ rơi xuống giếng, có nhìn thấy gì không?”
Hiếu Công thở dài: “Chẳng nhìn thấy gì! Quả nhân giật mình rồi choàng tỉnh!”
Doanh Tứ trầm ngâm một lúc: “Công phụ, nhi thần lập tức đi ngay, nhất định sẽ tìm được giếng báu!”
“Tứ Nhi!” Hiếu Công trịnh trọng nói. “Trước đây quả nhân chưa bao giờ mơ thấy giấc mơ tương tự, quả nhân nghĩ, việc này hẳn không phải giả, nếu đã liên quan tới liệt tổ liệt tông, trong giếng chắc chắn có điều huyền diệu. Song việc này có liên quan tới tiền đồ nước Tần, con nhất định phải âm thầm tìm kiếm, không được để người ngoài biết!”
Doanh Tứ gật đầu, rồi từ từ lui ra, suy nghĩ một lát, sau đó gọi tới một vệ sĩ thân tín, mỗi người cưỡi một con ngựa, tiến thẳng ra cổng thành, theo đường cái đi về phía tây.
Ra khỏi thành ba mươi dặm, Doanh Tứ gặp một ngã ba, bên cạnh có một gốc cây lớn. Bên trái gốc cây, quả nhiên có một giếng cổ đã bỏ hoang.
Doanh Tứ cả mừng, liền chạy đến qùy xuống trước giếng, lạy liền mấy cái. Lạy xong, Doanh Tứ nhìn xuống giếng, nhưng không thấy bóng nước. Suy nghĩ một lát, liền nhặt viên đá ném xuống, chốc lát sau nghe thấy tiếng động khô khốc vọng lên, mới biết dưới giếng không hề có nước.
Doanh Tứ suy tính một lát, sau đó bảo thị vệ lấy sợi dây thừng, một đầu buộc quanh thắt lưng, một đầu buộc lên cành cây, rồi nói với hắn: “Tối qua bản cung nằm mơ thấy dưới giếng có báu vật, ngươi hãy xuống đó, lấy lên đây cho bản cung!”
Thị vệ không chút đắn đo, lập tức bám lấy sợi thừng leo xuống giếng. Thị vệ lần mò dưới đáy giếng một hồi, rồi mừng rỡ ngửa đầu lên nói lớn: “Điện hạ, tiểu nhân tìm thấy rồi, là một hộp đá, nằm sâu dưới bùn.”
Doanh Tứ phấn khởi nói: “Mau, bỏ vào trong túi, buộc vào dây thừng để ta kéo lên!”
Lát sau, Doanh Tứ đã kéo lên được một hộp đá. Doanh Tứ kiểm tra chiếc hộp, biết chắc chắn chính là vật này, thì đảo mắt nhìn quanh, thấy có một tảng đá lớn bằng cối xay, liền khuân lại gần, nhắm chặt mắt lại, rồi thẳng tay ném xuống giếng. Dưới giếng vọng lên một tiếng rú thảm thiết, sau đó không còn động tĩnh gì nữa. Doanh Tứ lại tìm thêm vài tảng đá nữa ném xuống, chôn vùi thị vệ dưới đáy giếng, sau đó treo túi lên lưng ngựa, quay về thành Hàm Dương.
Doanh Tứ mang theo chiếc túi, đi thẳng tới điện Di Tình.
Trước giường của Hiếu Công, không biết từ lúc nào đã treo một lồng chim, trong lồng có ba chú chim vàng anh ríu rít nhảy qua nhảy lại. Doanh Tứ lập tức dâng hộp đá tới trước mặt Hiếu Công, dập đầu mà nói: “Nhi thần làm theo lời cặn dặn của công phụ, đã tìm được hộp đá này ở dưới giếng báu!”
“Ồ?” Hiếu Công mở mắt, sắc mặt đầy vẻ ngạc nhiên. “Mau, mau mở ra xem!”
Doanh Tứ hết sức thận trọng đưa mũi kiếm bẩy hộp đá ra: “Công phụ, bên trong chẳng có gì cả, không có… Mà không, nhi thân nhìn thấy rồi, có một phiến đá nhỏ!”
Doanh Tứ lấy phiến đá ra, xem xét tỉ mỉ rồi kinh ngạc nói: “Công phụ, trên phiến đá có khắc chữ!”
Hiếu Công sốt sắng: “Chữ? Là chữ gì?”
Doanh Tứ bèn đọc: “Số Chu tám trăm, đỏ tận đen xuất; xưng đế thiên hạ, bốn biển đều phục. Lão Đam.”
Hiếu Công nhắm mắt suy nghĩ: “Lão Đam? Con hãy đọc lại lần nữa!”
“Số Chu tám trăm, đỏ tận đen xuất; xưng đế thiên hạ, bốn biển đều phục. Lão Đam.”
“Tứ Nhi, mau, dâng hương lên Lão Đam!”
Doanh Tứ bèn đặt phiến đá lên án, thắp nến châm hương.
“Bái lạy Lão Đam!”
Doanh Tứ liền dập đầu bái lạy.
“Tứ Nhi!” Hiếu Công giọng nói nặng trĩu tâm tư. “Đến hôm nay quả nhân mới biết, tại sao ngày trước Lão Đam bỏ Chu mà đi về phía tây, đến địa giới nước Tần chúng ta. Thì ra, từ lâu người đã hiểu rõ thiên cơ!”
Doanh Tứ mở trừng hai mắt: “Thiên cơ?”
Tần Công gật đầu: “Tứ Nhi có biết lời này của Lão Đam có thâm ý gì chăng?”
“Mong được công phụ chỉ giáo!”
“Số Chu tám trăm, nghĩa là vận khí của Chu thất chỉ có tám trăm năm. Đỏ tận đen xuất, ý nói vận khí của Chu thất đã tận, Đại Tần sẽ hưng!”
Doanh Tứ có vẻ chưa thực hiểu: “Nhi thần ngu muội, mong quân phụ nói rõ!”
“Tứ Nhi có biết tại sao Đại Tần ta lại lấy màu đen là quốc sắc hay không?”
“Tần là đức Thuỷ, Thuỷ có màu đen, vì vậy tiên tổ mới lấy màu đen làm quốc sắc.”
“Đúng vậy!” Hiếu Công gật đầu. “Nhà Thương là đức Mộc, quốc sắc là màu xanh. Nhà Chu là đức Hoả, quốc sắc là màu đỏ. Tần là đức Thuỷ, quốc sắc là màu đen. Trời cao tạo vật, khiến ngũ hành tương khắc. Khắc Mộc là Hoả, khắc Hỏa là Thuỷ, tức là Chu thay thế Thương, cuối cùng Tần sẽ thay thế Chu. Đó gọi là đỏ tận đen xuất. Vận số tám trăm năm của nhà Chu, đến nay đã được hơn bảy trăm năm. Nói cách khác, không quá trăm năm nữa, vận số nhà Chu sẽ tận! Liệt quốc trong thiên hạ, duy chỉ nước Tần ta có thể thay thế nhà Chu. Đây không phải ý ta, mà là ý trời!”
Doanh Tứ hít ngược một hơi khí lạnh, lặng đi một hồi lâu mới nói: “Công phụ…”
“Tứ Nhi, vương nghiệp này, đáng tiếc quả nhân đã bất lực, chỉ còn biết trông đợi vào con! Liệt tổ liệt tông cũng chỉ có thể trông đợi vào con!”
Doanh Tứ xúc động: “Công phụ, nhi thần nhất định không phụ thiên mệnh, chấn hưng Đại Tần, thống trị thiên hạ!”
Hiếu Công thở hắt ra một hơi dài, khẽ gật đầu: “Tứ Nhi, đây là thiên cơ, tuyệt đối không được để lộ cho ai biết. Nếu để các nước biết được, chắc chắn sẽ hợp sức phạt ta, đại hoạ ắt đến!”
“Nhi thần đã hiểu!”
“Băng dày ba thước, đâu phải do lạnh một ngày. Vương nghiệp cũng vậy, đâu phải một sớm một chiều mà thành tựu. Tứ Nhi, con hãy cất giữ hộp này, thờ cúng cẩn thận, chỉ được truyền lại cho thái tử kế vị.”
“Nhi thần xin nghe theo lời công phụ!”
“Tứ Nhi, thống trị thiên hạ, nhất thống lục hợp là sứ mệnh mà trời cao giao cho Đại Tần ta, là mệnh trời! Làm trái mệnh trời, trời không dung tha! Mong con luôn tự mình răn đe, không được một ngày xao nhãng!”
“Nhi thần xin ghi nhớ!”
Hiếu Công từ từ khép mắt lại, tựa như muốn ngủ. Doanh Tứ thu lấy hộp đá, thận trọng cất vào mật thất trong điện Di Tình. Thấy Hiếu Công muốn ngủ, Doanh Tứ đang định rời đi, thì Hiếu Công bỗng lại lên tiếng gọi khẽ: “Tứ Nhi!”
“Công phụ, có nhi thần!”
“Tân pháp là cái gốc hưng Tần, tuyệt đối không được phế bỏ!”
Doanh Tứ trịnh trọng gật đầu: “Nhi thần xin ghi tạc trong tim!”
“Tân pháp đã không thể phế, Tứ Nhi chắc đã biết phải đối đãi với Thương Quân thế nào?”
Doanh Tứ trầm tư hồi lâu: “Công phụ, không có Thương Quân sẽ không có tân pháp. Nhi thần nếu đã lấy tân pháp làm cái gốc hưng Tần, ắt phải dùng lễ quốc phụ để đối đãi với Thương Quân!”
Hiếu Công im lặng một hồi lâu, rồi chậm rãi hỏi: “Tứ Nhi, con có hiểu Thương Quân chăng?”
Doanh Tứ lắc đầu: “Nhi thần không hiểu!”
Hiếu Công hỏi: “Thương Quân dâng tấu, con có dám không nghe?”
“Nhi thần không dám!”
“Thương Quân miễn nhiệm quan viên, hưng binh chinh phạt, con có dám không nghe?”
Doanh Tứ không nói lời nào, một lúc sau mới lắc đầu.
Hiếu Công không hỏi nữa, từ từ khép mắt lại. Một lát sau, lại mở mắt ra, ngoảnh nhìn lồng chim treo bên cạnh, chăm chú nhìn ba con chim vàng anh nhảy nhót bên trong.
Doanh Tứ cũng nhìn theo, nhưng không hiểu ý.
Hiếu Công lại từ từ khép mắt lại, miệng ngâm:
Vàng anh bay qua lại,
Sà đậu xuống cành gai.
Theo Mục Công là ai?
Chàng Tử Xa Yêm Tức.
Mà đây chàng Yêm Tức,
Trội hơn cả trăm người.
Huyệt mộ vừa tới nơi,
Đã rụng rời kinh hãi.
Này cao xanh kia hỡi,
Nỡ giết người hiền lương?
Nếu như chuộc được chàng,
Đổi trăm thân chẳng tiếc!
Ngâm đến đoạn này, khoé mắt Hiếu Công ứa hai hàng lệ.
Đây là một bài thơ thuộc “Tần phong” trong “Thi”, Doanh Tứ từ nhỏ đã thuộc lòng, liền nối giọng ngâm tiếp:
Vàng anh bay qua lại,
Sà đậu xuống cành dâu.
Theo Mục Công ai đâu?
Chàng Tử Xa Trọng Hàng.
Mà chàng Trọng Hàng đấy,
Sức chống nổi trăm người.
Huyệt mộ vừa tới nơi,
Đã rụng rời kinh hãi.
Này cao xanh kia hỡi,
Nỡ giết người hiền lương?
Nếu như chuộc được chàng,
Đổi trăm thân chẳng tiếc!
Vàng anh bay qua lại,
Đậu xuống bụi gai rừng.
Ai theo với Mục Công?
Chàng Tử Xa Kiềm Hổ.
Mà đây chàng Kiềm Hổ,
Sức địch nổi trăm người.
Huyệt mộ vừa tới nơi,
Đã rụng rời kinh hãi.
Này cao xanh kia hỡi!
Sao giết người hiền lương.
Nếu như chuộc được chàng,
Đổi trăm thân chẳng tiếc.(1)
Giọng Hiếu Công càng thêm chậm chạp: “Tứ Nhi, ba con chim kia tuy tốt đẹp, nhưng lại là vật của quả nhân. Chúng hiểu quả nhân, quả nhân cũng hiểu chúng. Không có quả nhân, con sẽ không thể nuôi được. Quả nhân sắp phải ra đi, con lại không thể nuôi được, vậy hãy để chúng đi theo quả nhân!”
Doanh Tứ khóc mà gọi: “Công phụ…”
“Tứ Nhi, nghe nói con đang nuôi Tiểu Hắc Điêu, có chuyện này chăng?”
Doanh Tứ gật đầu.
“Phải nuôi cho thật tốt! Chỉ có chính tay con nuôi, con mới hiểu được chúng, chúng cũng mới hiểu được con. Hai bên hiểu nhau, mới có thể mưu việc lớn!” Hiếu Công nói xong, hai mắt từ từ khép lại.
Mặt trời đã lặn về tây, Tần cung dần chìm vào bóng tối.
Vào giờ Nhân định, trong cung vang vọng tiếng chuông tang. Lát sau, nhạc tang tấu lên, tiếng khóc than rền rĩ.
Vào giờ Thìn hôm sau, Doanh Kiền, thái phó đương triều của nước Tần, một trong tam công của Tần, cũng chính là em ruột của Tần Hiếu Công tuyên bố chiếu thư Hiếu Công truyền vị, thái tử nước Tần là Doanh Tứ kế vị, sử gọi là Huệ Văn Công.
Trong ngày Huệ Văn Công kế vị, ngay trong buổi chầu đầu tiên đã hạ liên tiếp hai đạo chiếu thư, một là bái Công Tôn Ưởng làm quốc phụ, hai là tuyên bố khôi phục chức tước cho mười ba thành viên cựu đảng gồm Công Tôn Giả, Đỗ Chí…
Hai chiếu thư được phát đi cùng lúc, khiến liệt quốc một phen chấn động.
Tại An Ấp nước Ngụy, thượng đại phu Trần Chẩn nhận được cấp báo, vội vào cung Ngụy, khấu kiến Ngụy Huệ Vương, kể lại toàn bộ sự biến trong cung Tần.
Ngụy Huệ Vương dường như không dám tin vào tai mình: “Ái khanh nói, Doanh Cừ Lương đã… đã chết rồi?”
Trần Chẩn khẽ bẩm: “Hồi bẩm bệ hạ, đúng vậy! Vi thần nhận được mật báo, Tần Công vừa băng hà vào tối qua, thụy hiệu Hiếu Công. Thái tử Doanh Tứ giờ Thìn hôm qua đã lên kế vị!”
“Doanh Tứ?” Ngụy Huệ Vương lặp lại, trầm ngâm một lúc, rồi ngẩng đầu nói. “Quả nhân nghe nói kẻ này không có chí tiến thủ, có chuyện đó chăng?”
“Lời bệ hạ chính phải!” Trần Chẩn đáp. “Theo vi thần được biết, Doanh Tứ trước khi kế vị, suốt ngày chỉ lêu lổng chơi bời với đám công tử, nào đi săn, nào chọi gà chọi dế, rất ít khi ngó ngàng đến chính sự, chỉ là phường giá áo túi cơm.”
“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài. “Doanh Cừ Lương cả đời háo cường, không ngờ lại sinh ra một đứa con như vậy, ông trời cũng thật công bằng! Xem ra Hà Tây của quả nhân phải lấy lại từ trong tay kẻ này! Công Tôn Ưởng hiện giờ thế nào?”
“Khi Doanh Tứ kế vị, đã bái Công Tôn Ưởng làm quốc phụ ngay trên điện, chính sự nhất nhất nghe theo hắn!”
Ngụy Huệ Vương khẽ gật đầu: “Ừm, tên này miệng còn hơi sữa, làm thế cũng là khó tránh! Có điều… còn Công Tôn Ưởng, quả nhân muốn lấy lại Hà Tây cũng chẳng phải dễ dàng!”
“Bệ hạ, Doanh Tứ còn cùng lúc hạ chiếu thư, khôi phục chức tước cho bọn Công Tôn Giả, Đỗ Chí, hiện giờ nước Tần cả tân đảng và cựu đảng đều có mặt trong triều, không còn như trước đây, một mình Công Tôn Ưởng thao túng!”
“Ồ?” Ngụy Huệ Vương tựa như vừa đánh hơi thấy điều gì, trầm tư hồi lâu, rồi ngẩng nhìn Trần Chẩn, giọng nói sang sảng, tinh thần phấn chấn. “Tần Công băng hà, tân quân kế vị, đây cũng được coi là việc lớn của liệt quốc, quả nhân không thể không lên tiếng. Quả nhân bận rộn quốc sự, không thể đích thân đi được, làm phiền ái khanh vất vả một phen, thay quả nhân đến phân ưu và chúc mừng, vẹn toàn lễ nghĩa!”
“Vi thần tuân chỉ!”
“Nên phân ưu thế nào, nên chúc mừng thế nào, hẳn ái khanh đã biết?”
“Khởi bẩm bệ hạ, vi thần đã có chủ ý!”
“Vậy thì tốt!” Ngụy Huệ Vương vô cùng phấn chấn. “Tân quân trọng dụng cựu đảng, triều Tần lần này quả là náo nhiệt. Ái khanh, đây chính là một màn kịch lớn, quả nhân có thể lấy lại Hà Tây hay không, đều dựa vào khanh!”
Trần Chẩn bái lạy: “Vi thần sẽ tận tâm tận lực, không phụ sứ mệnh!”
Điện Di Tình được Huệ Văn Công dùng làm linh đường của Hiếu Công, trong đường ánh nến sáng rực, linh cữu Hiếu Công đặt ở chính giữa.
Huệ Văn Công thân mặc hiếu phục, một mình quỳ trước linh đường, hầu bên cạnh là công tử Hoa.
Bên cạnh linh cữu treo một lồng chim, trong lồng là ba con chim vàng anh chuẩn bị mang tuỳ táng.
Hai mắt Huệ Văn Công nhìn chằm chằm vào lồng chim, miệng khẽ ngâm nga:
Vàng anh bay qua lại,
Sà đậu xuống cành gai.
Theo Mục Công là ai?
Chàng Tử Xa Yêm Tức.
Huệ Văn Công tuy ngoài miệng ngâm nga, nhưng đầu óc lại rối bời. Thay triều đổi đại, muôn việc bộn bề, nhưng việc nào lớn, việc nào nhỏ, việc nào gấp, việc nào thư, nhất định phải sắp đặt chu toàn.
Hiện tại, việc lớn nhất, gấp nhất, chính là ba con chim trong lồng kia. Tiên quân chỉ nói mang chúng theo, nhưng chúng là ai, mang theo bằng cách nào, tiên quân lại chẳng hé lộ nửa lời. Con chim thứ nhất, trong lòng Huệ Văn Công đã rõ. Còn hai còn nữa, lẽ nào là Xa Anh và Cảnh Giám? Nếu đúng là hai người họ, cũng đồng nghĩa với việc tuyên bố với toàn dân, biến pháp đã sai lầm, như vậy sẽ khiến biến pháp lung lay từ gốc, không hợp với ý nguyện của tiên quân. Hơn nữa, hai người đó có xứng được gọi là vàng anh chăng? Một người là thượng đại phu, một người là quốc uý, xét về cấp bậc, hai người họ chẳng qua chỉ là thuộc hạ của Thương Quân, không có Thương Quân, cũng không có họ. Nếu không phải họ, vậy hai con chim còn lại là ai?
Huệ Văn Công nhìn trân trân vào lồng chim, vắt óc suy nghĩ.
Đột nhiên, một tia sáng chớp loé qua trí não, khiến trước mắt như bừng tỏ, Huệ Văn Công bèn ngoảnh lại gọi: “Tiểu Hoa!”
Công tử Hoa lê gối lên trước một bước: “Chúa thượng, có thần đệ!”
“Việc Hắc Điêu đài, làm đến đâu rồi?”
“Khởi bẩm chúa thượng, thần đệ đang dốc toàn lực, hiện giờ đã có ba mươi sáu con Tiểu Điêu!”
“Tung ra toàn bộ, cơ hội luyện cánh đã đến rồi!”
“Thần đệ tuân chỉ!”
Huệ Văn Công trầm ngâm một lát: “Có biết tung đi đâu không?”
Công Tử Hoa gật đầu, đáp: “Biết! Thần đệ đã căn dặn, bảo chúng ngày đêm giám sát Công Tôn Ưởng, Xa Anh, Cảnh Giám!”
Huệ Văn Công lắc đầu.
“Chúa thượng, còn phải giám sát ai nữa?”
“Phía thái sư!”
Công Tử Hoa kinh ngạc: “Thái sư?”
“Còn nữa!” Huệ Văn Công giọng lạnh lẽo. “Số lượng Tiểu Điêu dường như vẫn hơi ít. Sớm mai, khanh hãy chọn lấy một đội từ trong thị vệ cung đình, khi nào có thời gian, lại chọn lấy một đội từ trong ba quân, nuôi khoảng dăm ba trăm con. Cũng không được chỉ có đàn ông, phải có cả đàn bà. Có thể vào trong dân gian, chọn một số kẻ tài sắc giỏi giang, nguyện hiến thân vì nước. Khanh phải nuôi dưỡng chúng thật tốt, huấn luyện chúng thành những Tiểu Hắc Điêu tai thính mắt tinh thiện chiến.” Rồi lấy ra một tấm kim bài. “Khanh hãy cầm tấm kim bài này đến quốc khố, cần bao nhiêu tiền bạc, hãy lĩnh bấy nhiêu!”
“Thần đệ lĩnh chỉ!”
Công tử Hoa ra khỏi Tần cung, lẩn vào trong một khu nhà cực kỳ kín đáo, gặp một đám người áo đen, bố trí sắp xếp một lượt. Một lát sau, đám người áo đen chia làm mấy nhóm, tản đi khắp phía.
Hai kẻ mặc áo đen vòng vèo một hồi, chẳng mấy chốc đã đến trước cổng phủ thái sư, thấy ngoài cửa đỗ rất nhiều xe ngựa, trong sân đèn nến sáng trưng, người ra kẻ vào tấp nập. Hai người khẽ gật đầu với nhau, vụt một tiếng đã bật mình lên nóc nhà, chạy dọc theo sống nóc đến dãy cuối cùng, rồi nấp vào bóng tối. Đúng vào lúc này, hai người thấy trước mặt có một bóng đèn lồng di chuyển lại gần. Là một người hầu soi đường, theo sau là một ông lão, lẩy bẩy đi vào trong sân.
Hai người mở to mắt nhìn, chính là lão thái sư Cam Long.
Cam Long chậm chạp bước đến một gian mật thất, đã có người mở sẵn cửa phòng. Thái sư tiến vào, kẻ cầm đèn đi sang phòng khác, ngồi đợi ở đó.
Hai người áo đen đã nhìn thấy tất cả, liền bật lên nóc nhà, chạy tới trước cửa sổ mật thất, dùng mũi dao chọc thủng một góc trên song cửa bịt sa, ghé mắt nhìn vào, quả nhiên trong mật thất có mấy người đang ngồi, ở hàng đầu là Công Tôn Giả và Đỗ Chí. Lúc này, tất cả mọi người đều đứng dậy, khom lưng vòng tay vái chào Cam Long. Cam Long chầm chậm bước tới vị trí chủ, khoanh chân ngồi xuống. Mọi người thấy vậy, cũng lục tục ngồi xuống theo.
Đỗ Chí khom người bẩm báo: “Lão thái sư, lúc nãy chúng tôi đã bàn bạc, sự việc không nên chậm trễ, hãy nhân cơ hội đại tang để trừ gian tặc!”
“Nhất định phải trừ!” Cam Long gật đầu. “Nhưng đại quyền quân chính đều nằm cả trong tay người này, các vị định trừ bằng cách nào?”
“Hạ quan nghĩ ra một kế, có thể trừ được gian tặc!”
Ánh mắt của Cam Long từ từ dịch chuyển sang Đỗ Chí.
“Gần đây, hạ quan đã thu nạp được mấy chục kẻ sĩ cảm tử, ai nấy võ nghệ cao cường, chỉ cần thái sư ra lệnh, thuộc hạ đảm bảo gian tặc sẽ đầu rơi xuống đất!”
Cam Long lắc đầu quầy quậy: “Bên canh Công Tôn Ưởng có ba nghìn vệ sĩ, toàn là cao thủ, phủ đại lương tạo lại là nơi phòng thủ nghiêm ngặt, các vị sao có thể hành thích?”
Đỗ Chí cười nham hiểm: “Thái sư yên tâm, hổ cũng có lúc ngủ gật. Hiện giờ hắn ở chỗ sáng, chúng ta ở chỗ tối, muốn giết hắn, lo gì không tìm được cơ hội?”
Cam Long lại lắc đầu: “Ai ở chỗ sáng, ai ở chỗ tối, không phải do các người nói suông. Công Tôn Ưởng hành sự khó lường, chắc chắn đã có phòng bị với chúng ta, chưa biết chừng xung quanh đây đã giăng đầy tai mắt của hắn. Nếu manh động, chẳng những không giết được, mà còn làm hỏng đại sự!”
Thấy lão thái sư thái độ dứt khoát, mọi người chỉ biết quay mặt nhìn nhau, không biết phải nói thế nào.
Cam Long khẽ thở dài, rồi chậm rãi nói: “Trong đầu các vị chỉ biết chém giết, chẳng thể nghĩ ra cách nào khác ư?”
Công Tôn Giả chau mày: “Phải chăng lão thái sư đã có diệu kế?”
“Các vị!” Cam Long đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người. “Chúa tể của quân chủ là trời cao, chúa tể của bề tôi là quân chủ. Công Tôn Ưởng có được ngày hôm nay, chẳng qua chỉ dựa vào một mình tiên quân. Nếu chúng ta muốn trừ người này, nhất định phải mượn sức của chúa thượng!”
Mọi người đổ dồn ánh mắt vào Cam Long.
Đỗ Chí thoáng do dự, rồi ngẩng đầu nói: “Từ khi kế vị đến nay, chúa thượng không những không gây khó dễ Công Tôn Ưởng, ngược lại còn bái hắn làm quốc phụ, chuyện gì cũng do dự không quyết, mọi việc đều theo ý gian tặc. Xin hỏi thái sư, chúa thượng nhu nhược như vậy, chúng ta phải mượn sức thế nào đây?”
Cam Long mỉm cười: “Ông chỉ nhìn thấy cái vỏ bề ngoài! Lão hủ nhìn thấy mới là chân tướng! Không giấu các vị, hôm nay ta phụng chỉ vào cung canh giữ bên linh cữu cho tiên quân, đột nhiên nhìn thấy trước linh cữu tiên quân treo một lồng chim, bên trong có ba con vàng anh đang nhảy nhót!”
Đỗ Chí nói xen vào: “Ba con chim thì có gì đặc biệt?”
“Hừm!” Công Tôn Giả xua tay ngăn lại. “Hãy nghe thái sư nói hết!”
Cam Long nói tiếp: “Ta nhất thời nổi hứng, nên đi thăm dò tả hữu, nội thần bèn cho ta biết, ba con chim đó là vật yêu quý của tiên quân, chúa thượng muốn dùng để tuẫn táng theo tiên quân! Các vị đại nhân, mọi người có hiểu được thâm ý trong đó chăng?”
Công Tôn Giả mở miệng ngâm liền: “Vàng anh bay qua lại, sà đậu xuống cành gai. Theo Mục Công là ai? Chàng Tử Xa Yêm Tức. Mà đây chàng Yêm Tức, trội hơn cả trăm người. Huyệt mộ vừa tới nơi, đã rụng rời kinh hãi. Này cao xanh kia hỡi, nỡ giết người hiền lương? Nếu như chuộc được chàng, đổi trăm thân chẳng tiếc!…”
Công Tôn Giả còn định ngâm tiếp, Đỗ Chí đã ngắt lời: “Đây chẳng phải bài ‘Hoàng điểu’ sao, có gì hay mà ngâm? Nước Tần trên dưới ai mà chẳng thuộc vanh vách!”
Cam Long gật đầu: “Đúng thế, đúng là ai cũng có thể đọc thuộc bài này, nhưng e rằng chẳng có mấy người hiểu được thâm ý bên trong. Công Tôn đại nhân có thể nói qua điển cố của bài thơ này chăng?”
Công Tôn Giả cao giọng nói: “Ngày trước Mục Công băng hà, có một trăm bảy mươi bảy người phải chôn sống để tuẫn táng, đứng ở hàng đầu là ba người con trai của họ Tử Xa. Ba người con trai họ Tử Xa đều chinh chiến vì Mục Công, lập được vô số công lao hiển hách. Họ có công mà phải chết, người Tần không ai không thương xót, nên đã viết ra bài thơ ‘Hoàng điểu’ để tưởng nhớ!”
Đỗ Chí bừng tỉnh: “Nói như vậy, ba con chim trước linh cữu của tiên quân, lẽ nào lại là…”
Công Tôn Giả lắc lư cái đầu: “Nếu tại hạ đoán không lầm, ba con chim đó chính là Công Tôn Ưởng, Cảnh Giám và Xa Anh!”
Cam Long nở một nụ cười âm trầm: “Hiểu được thì tốt. Chúa mới kế vị, cựu thần công cao mà không lui, đó là đại kỵ. Công Tôn Ương cả đời anh minh, nhưng vào thời khắc then chốt lại hồ đồ, thật là trời giúp ta!”
“Thế nhưng…” Đỗ Chí lại cắt ngang, “hiện nay đã không giống với thời Mục Công, nếu Công Tôn Ưởng không có hai lòng, chúa thượng cũng không thể vô cớ sát hại công thần được!”
“Lời của Đỗ đại nhân rất đúng!” Cam Long gật gù. “Sở dĩ lão hủ gọi các vị đến, cũng chính là để bàn chuyện này!” Đúng vào lúc này, lão quản gia gõ cửa bước vào, đi thẳng tới bên cạnh Cam Long, ghé sát tai thì thầm mấy câu. Cam Long sững người, lập tức đứng dậy nói: “Các vị đợi ở đây, ta sẽ quay lại ngay!”
Cam Long vội vàng cùng lão quản gia đi đến dãy nhà phía trước. Đây là chính đường trong phủ thái sư, khách lớn khách bé, tất cả đều được tiếp đón tại đây.
Trong chính đường có một người đang ngồi ngay ngắn, chính là Trần Chẩn.
Trần Chẩn nghe tiếng bước chân từ bên ngoài vọng vào, biết là thái sư đã đến, liền đứng dậy đi ra cửa, khom người đợi sẵn.
Lão quản gia chỉ vào Trần Chẩn: “Chúa công, chính là người này!”
Cam Long nhìn kỹ Trần Chẩn một lượt, nhưng không nhận ra là ai, liền băn khoăn hỏi: “Tiên sinh đây là…”
Trần Chẩn mỉm cười, vái sâu một vái: “Thượng đại phu nước Ngụy Trần Chẩn xin chào thái sư!”
Nghe thấy hai chữ “Trần Chẩn”, Cam Long vô cùng chấn động, đờ ra một thoáng mới vòng tay đáp lễ: “Lão hủ không biết thượng đại phu ghé thăm, không nghênh đón từ xa!” Rồi chỉ tay vào phòng khách. “Thượng đại phu, mời!”
Trần Chẩn đưa tay mời lại: “Thái sư, mời!”
Hai người vào phòng, chia ngôi chủ khách ngồi xuống.
Cam Long lại vòng tay: “Lão hủ chưa từng gặp thượng đại phu, nhưng đã nghe đại danh của thượng đại phu từ lâu. Hôm nay được gặp, quả thực hân hạnh!”
Trần Chẩn cười nói: “Trần Chẩn ngưỡng mộ uy danh của thái sư đã lâu, từ lâu đã mong được bái kiến, cuối cùng cũng có được cơ duyên. Lần này Trần Chẩn phụng chiếu đến Tần, nên mới có cơ hội đến thăm, mong được thái sư chỉ bảo!”
“Thượng đại phu không quản quý thể vất vả, nửa đêm hạ cố đến hàn xá, quả thực khiến lão hủ vô cùng áy náy!”
Lúc đó, tỳ nữ bưng khay vào, bày trà lên bàn. Cam Long đích thân rót một chén, hai tay bưng mời Trần Chẩn: “Thượng đại phu, mời dùng trà!”
Trần Chẩn hai tay nhận lấy, nhấp một ngụm, gật gù: “Trà của thái sư, quả nhiên khác hẳn trà của đại lương tạo!”
Cam Long thấy đối phương đã nói vào đề, bèn tiếp lời: “Nói vậy, chắc thượng đại phu đã uống qua trà của đại lương tạo?”
Trần Chẩn cười nói: “Cũng đã uống được mấy lần!”
“Ồ, mùi vị thế nào?”
Trần Chẩn tấm tắc: “Chua cay đắng mặn ngọt, năm vị đủ cả, mỗi lần uống đều khiến người ta sục sôi trong dạ!”
“Quả là trà ngon! Dám hỏi thượng đại phu, trà của lão hủ thế nào?”
“Trà của thái sư, thanh nhã mộc mạc, thật dễ uống, có điều mùi vị của trà… dường như hơi nhạt một chút!”
Cam Long trầm tư hồi lâu: “Lão hủ ngu muội, có lòng muốn khiến trà hội đủ năm vị, nhưng không biết phải làm thế nào, mong thượng đại phu chỉ giáo.”
“Theo thiển ý của Trần Chẩn, lão thái sư chỉ cần thêm vào một vị, thì có thể vượt qua trà của đại lương tạo.”
Cam Long ngẫm nghĩ một lát, rồi chậm rãi đứng dậy, vòng tay vái Trần Chẩn mà nói: “Xin thượng đại phu chỉ giáo!”
Trần Chẩn đứng dậy, đi tới cạnh Cam Long, ghé sát tai thì thầm một hồi, Cam Long gật đầu tới tấp, hết lời khen ngợi: “Vị mà thượng đại phu thêm vào, quả là cay hiểm. Nếu dâng trà này cho đại lương tạo, chắc chắn cũng khiến hắn ta sục sôi trong dạ!”
“Có điều… để ai dâng trà, lão thái sư đã có tính toán chưa?”
“Thượng đại phu yên tâm, dưới tay lão hủ đây không thiếu người dám chết.”
Trần Chẩn mỉm cười nói: “Thái sư quá lời! Để ai dâng trà, chỉ cần xem có thích hợp hay không, chứ không phải có dám chết hay không!”
Cam Long gật đầu khen ngợi: “Phải! Lời của thượng đại phu rất chí lý!”
“Nếu lão thái sư không chê, Trần Chẩn có một người rất thích hợp.”
“Người nào?”
“Môn khách của Công Tôn Ưởng!”
Cam Long kinh ngạc: “Chuyện này… sao có thể được?”
Trần Chẩn mỉm cười: “Lão thái sư, trong thiên hạ không có việc gì không làm được!” Rồi quay ra chỗ tối bên ngoài cửa, vỗ tay ba tiếng, thình lình một bóng người lao đánh vụt vào trong. Cam Long thất kinh, suýt nữa thì ngã ngửa ra đất.
Trần Chẩn vội đỡ Cam Long, quát mắng kẻ mới lao vào: “Chu đại hiệp, còn không bái kiến lão thái sư?”
Kẻ này vội dập đầu sát đất: “Chu Đà bái kiến thái sư!”
Cũng vào lúc này, công tử Hoa đích thân dẫn theo một người áo đen đột nhập vào phủ Thương Quân. Phủ Thương Quân canh gác nghiêm ngặt, nhưng vì hai người thông thạo đường lối nên chẳng mấy chốc đã lẻn vào được đến chính sảnh nơi Công Tôn Ưởng xử lý chính sự.
Công Tôn Ưởng, quốc úy Xa Anh, thượng đại phu Cảnh Giám thân mặc hiếu phục, ngồi yên lặng trước bàn, sắc mặt nghiêm trang.
Ngồi được một lúc, Công Tôn Ưởng đặng hắng một tiếng, rồi mở mắt nhìn Cảnh Giám: “Cảnh huynh, tiên quân nhập quan đã được một tuần, liệt quốc có phái sứ thần đến viếng chưa?”
Cảnh Giám ngẩng lên đáp: “Đã có mấy nước phái sứ thần đến. Sứ thần của các nước còn lại hẳn cũng đang trên đường.”
“Ồ, những người đã đến là ai?”
“Nghĩa Cừ Quân đích thân tới, nước Hàn, nước Triệu phái thái tử. Còn Tề, Sở, Yên, Vệ, Lỗ, Tống, và thêm hai nước Ba, Thục, do đường xa nên sứ thần đang trên đường. Còn về việc cử người nào đến, hạ quan vẫn chưa biết!”
“Ngụy Vương có phái sứ thần đến không?”
“Đến rồi, là thượng đại phu Trần Chẩn. Người này đến vào trước lúc hoàng hôn, hạ quan vẫn chưa nhận được danh thiếp của ông ta, nên vẫn chưa liệt kê vào!”
Công Tôn Ưởng quyết đoán: “Tiên quân băng hà, chúa thượng mới kế vị, lòng người trong nước hoang mang, nếu liệt quốc muốn đánh Tần, thời gian để tang chính là cơ hội tốt nhất. Chúng ta nhất thiết phải đề cao cảnh giác, thận trọng bang giao, không được hồ đồ, khiến chúa thượng thêm bấn loạn!”
Cảnh Giám gật đầu.
Công Tôn Ưởng quay sang Xa Anh: “Quốc uý đại nhân, hãy phái người tức tốc tới Hà Tây, Thương Ư, truyền lệnh cho quận thú Hà Tây Tư Mã Thác, quận thú Thương Ư Sư Lý Tật, căn dặn họ trong thời gian để tang, binh không cởi giáp, ngựa không tháo yên, cẩn thận đề phòng quân Ngụy, Sở!”
Xa Anh đáp lời: “Hạ quan tuân lệnh! Hạ quan còn có chuyện khác muốn bẩm báo!”
“Cứ nói!”
“Theo hạ quan được biết, mấy ngày nay, cựu đảng liên tục ra vào phủ thái sư, chắc chắn là có mưu đồ!”
Công Tôn Ưởng gật đầu: “Ta biết rồi!”
Cảnh Giám tiếp lời: “Thương Quân! Cựu đảng đối địch với tân pháp, hiện giờ đã hồi phục thế lực, chúng ta nên chuẩn bị mới đúng!”
Xa Anh cũng lên tiếng: “Hạ quan cho rằng, việc cấp bách hiện giờ là sự an toàn của Thương Quân. Đám người này tích hận quá sâu, hạ quan được biết, Đỗ Chí đã chiêu mộ được một đám người cảm tử, ngày đêm huấn luyện, hạ quan lo họ sẽ giở trò!”
Công Tôn Ưởng xua tay: “Hai người đã vất vả cả ngày, cũng nên về nghỉ sớm đi!”
Cảnh Giám, Xa Anh ngẩn ra, rồi khom lưng cáo từ.
Công Tôn Ưởng đưa mắt nhìn theo hai người ra khỏi cửa, rồi nhắm mắt lại, khẽ thở dài, tự nhủ thầm: “Than ôi, các người đâu có biết, thứ làm khuấy động sóng gió lúc này, phải đâu là vài con ếch?”
Công Tôn Ưởng ngồi thêm một lúc, mới đứng dậy đi vào thư phòng.
Công tử Hoa hiểu rõ thói quen của Công Tôn Ưởng, biết rằng ông ta đi xử lý công vụ, nên lập tức rút đi.
Sáng sớm hôm sau, trong điện Di Tình, ba con chim vàng anh vẫn nhảy nhót ríu rít trước linh cữu của Tần Hiếu Công. Công tử Hoa đi vào trong điện, đứng sau Huệ Văn Công, khẽ gọi: “Chúa thượng!”
Huệ Văn Công không nhúc nhích.
Công tử Hoa khựng lại một thoáng, rồi quỳ xuống dập đầu: “Chúa thượng, thần đệ Tiểu Hoa có việc quan trọng cần bẩm báo!”
Huệ Văn Công từ từ quay người lại.
“Đám cựu đảng gồm Công Tôn Giả, Đỗ Chí đã đến phủ thái sư bàn cách hãm hại Thương Quân. Thần đệ được biết, Đỗ Chí đã chiêu mộ được mấy chục tử sĩ, đang huấn luyện nghiêm mật trong cánh rừng già phía bắc thành Hàm Dương.”
Huệ Văn Công nói: “Biết rồi!”
“Còn nữa, tối qua vào giờ Nhân định, thượng đại phu nước Ngụy là Trần Chẩn đã ghé thăm phủ thái sư! Một canh giờ sau, lão thái sư đích thân tiễn ông ta ra về, mối quan hệ giữa hai người thực không phải bình thường.”
Huệ Văn Công cảm thấy hiếu kỳ: “Ồ, hắn đến làm gì?”
“Mới đầu nói dăm chuyện tầm phào, sau đó hai người thì thầm gì đó một lúc, rồi Trần Chẩn vỗ tay, một kẻ áo đen từ ngoài cửa lao vào, bái kiến thái sư.”
Huệ Văn Công ngẩng lên hỏi dồn: “Kẻ đó là ai?”
“Là môn khách trong phủ Thương Quân, tên gọi Chu Đà.”
Huệ Văn Công chìm vào suy tư, một lúc sau, dường như đã ngộ ra điều gì, bèn chậm rãi bật ra hai chữ: “Theo dõi!”
“Thần đệ tuân chỉ!”
“Phía phủ Thương Quân có động tĩnh gì không?”
“Trong phủ Thương Quân, tất cả đều bình thường, Thương Quân vẫn bận rộn quốc sự như thường ngày. Tối hôm qua, Xa Anh và Cảnh Giám biết được cựu đảng rục rịch, đến nhắc nhở Thương Quân cảnh giác, nhưng Thương Quân không có hành động gì.”
Huệ Văn Công thoáng kinh ngạc: “Ồ, ông ta đã biết, tại sao lại không hành động?”
“Thần đệ cũng lấy làm lạ. Tối qua, thần đệ tận tai nghe thấy Thương Quân giao việc Hà Tây, Thương Ư cho Xa Anh, vì lo Ngụy, Sở sẽ nhân lúc để tang mà tấn công ta!”
Huệ Văn Công gật đầu, chậm rãi nói: “Biết rồi!”
Công tử Hoa khấu lạy: “Thần đệ cáo lui!”
Công tử Hoa đứng dậy lui ra. Huệ Văn Công nhìn theo bóng công tử Hoa, sau đó quay sang nhìn lồng chim, thần sắc hoang mang.
Đêm hôm đó, trong phủ thái phó, Doanh Kiền đang ngồi đọc sách trước bàn, chợt nghe thấy ngoài cửa sổ có tiếng động lạ.
Doanh Kiền kinh sợ quát hỏi: “Ai?”
Lời chưa dứt, từ ngoài cửa sổ, một mũi phi tiêu phóng vụt vào trong. Doanh Kiền là người luyện võ, lập tức cúi đầu né tránh. Mũi phi tiêu bay vèo qua đỉnh đầu, cắm phập vào cột gỗ sơn son phía sau.
Doanh Kiền giật bắn mình, vội vàng lao người nằm phục xuống đất, ngẩng đầu lên nhìn, chỉ thấy phía ngoài cửa sổ có một bóng người vụt qua, sau đó là tiếng bước chân bỏ chạy. Doanh Kiền không kịp nghĩ ngợi, vội vàng đứng dậy hô lớn: “Có thích khách!” Rồi nhảy bật tới bên tường, lấy bảo kiếm xuống, mở cửa chạy ra.
Gia đinh nghe thấy tiếng hô, ào ào chạy đến. Có vẻ như thích khách bị lạc đường, nên cứ chạy loanh quanh trong viện, nhanh chóng bị gia đinh vây kín. Thích khách thấy không còn đường thoát thân, đành bó tay chịu trói.
Doanh Kiền dẫn thích khách vào hình thất, chưa kịp dùng hình thì thích khách đã cung khai tuốt tuột. Doanh Kiền tỉ mỉ hỏi cung, thấy sự việc nghiêm trọng, nên vội vàng dẫn thích khách vào cung ngay trong đêm.
Huệ Văn Công đang canh bên linh cữu, thấy Doanh Kiền vội vàng đi vào, biết rằng có chuyện chẳng lành, bèn hỏi: “Công thúc? Muộn thế này rồi…”
“Có người muốn hành thích vi thần, nhưng đã bị vi thần bắt được!”
Huệ Văn Công kinh ngạc hỏi: “Ồ, kẻ nào mà to gan đến vậy, dám hành thích cả công thúc?”
“Vi thần đã điều tra rõ, thích khách tên gọi Chu Đà, là một kiếm khách, hiện là môn khách dưới trướng Công Tôn Ưởng, phụng mệnh Công Tôn Ưởng đến hành thích vi thần. Thần còn điều tra rõ, trong danh sách hành thích của Công Tôn Ưởng tổng cộng có mười bốn người, vi thần đứng đầu trong số đó. Đây là lời khai của Chu Đà, đây là danh sách của Công Tôn Ưởng, trong đó có thái sư Cam Long, Công Tôn Giả, Đỗ Chí… Tất cả đều là cựu đảng!”
Doanh Kiền nói đoạn, hai tay trình lên tờ danh sách viết trên da dê và một bản cung khai.
Huệ Văn Công nhớ lại chuyện Chu Đà mà công tử Hoa đã bẩm báo lúc sáng, trong bụng đã rõ mười mươi, nhưng không để lộ ra mặt, chỉ nhận lấy tờ danh sách, đọc kỹ một lượt rồi khẽ gật đầu: “Đây đều là thế tộc, hẳn đều là kẻ thù của Thương Quân. Nhưng sau này công thúc đã tán thành biến pháp, tại sao Thương Quân còn ra tay với công thúc?”
“Vi thần cũng không rõ. Có lẽ người này sợ vi thần sẽ báo mối hận xẻo mũi năm xưa, nên đã ra tay trước!”
Huệ Văn Công ngẫm nghĩ một chốc rồi hỏi: “Chu Đà có ở đây không?”
“Đưa hắn lên!”
Hai thị vệ bèn áp giải Chu Đà vào trong.
Huệ Văn Công quan sát một lượt, thấy hắn hai chân run rẩy, đã biết là hạng ham sống sợ chết, nên không thèm hỏi, lập tức ra lệnh: “Lôi ra, tống vào đại lao!”
Thị vệ kéo Chu Đà ra ngoài, nhốt vào đại lao.
Huệ Văn Công suy nghĩ một lúc, nói: “Công thúc, Thương Quân là công thần của nước Tần, lại được phó thác trọng trách, tiên đế trước lúc lâm chung đã dặn quả nhân bái Thương Quân làm quốc phụ. Hiện giờ quả nhân chân đứng chưa vững, việc này không được tiếp tục điều tra, đến đây là chấm dứt!”
Doanh Kiền vội nói: “Đúng là Công Tôn Ưởng có công với Tần, nhưng ông ta cậy công hống hách, mang kiếm lên triều, mấy năm gần đây lại nuôi hàng trăm môn khách, đi thì ba nghìn giáp sĩ bảo vệ, ở thì gọi bầy kéo lũ, trong triều lại không dung ý kiến khác mình, triều thần ai không hợp ý, đều bị gán tội chống đối tân pháp. Kẻ ngông cuồng ngang ngược đến vậy, làm sao có thể cam chịu đứng dưới người khác? Lúc tiên quân tại thế, kẻ này hoặc giả còn biết e dè. Nay tiên quân đã khuất, vi thần lo rằng kẻ này sẽ sinh hai lòng. Tục ngữ có câu, phòng hoả khi chưa bén lửa, xin chúa thượng hãy quyết đoán, nhân cơ hội này diệt trừ hậu hoạ!”
“Công thúc tạm thời hãy về nghỉ ngơi, sau khi quả nhân điều tra rõ việc này, sẽ bàn tiếp.”
Lời vừa dứt, trong cung đột nhiên có tiếng người khóc lóc ồn ào.
Nội thần vội chạy vào bẩm báo: “Chúa thượng! Lão thái sư, Đỗ đại nhân, Công Tôn đại nhân và những người khác cùng vào cung, kêu khóc huyên náo, nhất định đòi gặp mặt chúa thượng!”
Huệ Văn Công nói: “Truyền!”
Buổi tối hôm đó, đúng là hôm Cảnh Giám trực trong cung, biết được sự tình, liền vội vàng đến phủ Thương Quân, thấy Công Tôn Ưởng chưa ngủ, vẫn đang duyệt đọc công văn. Xa Anh cũng có mặt, trên danh nghĩa là bẩm báo việc quân, nhưng thực chất là lo lắng cho sự an nguy của Công Tôn Ưởng, nên kiếm cớ đến bảo vệ.
Thấy Cảnh Giám sắc mặt hoảng hốt, Công Tôn Ưởng ngạc nhiên hỏi: “Cảnh huynh, có chuyện gì mà kinh sợ làm vậy?”
Cảnh Giám thở phì phò: “Thái phó, thái sư tố cáo Thương Quân tội mưu phản, hiện đang gây náo loạn trong cung!”
Công Tôn Ưởng kinh ngạc: “Mưu phản?”
“Thái phó bắt được một tên thích khách, nói là môn nhân Chu Đà của Thương Quân. Thái phó tìm ra một bản danh sách trên người hắn, liệt kê toàn người cựu đảng. Chu Đà nói, danh sách là do Thương Quân đưa cho hắn. Cam Long và những kẻ trong cựu đảng biết tin, liền vào trong cung, khóc lóc ồn ào, nói là Thương Quân muốn diệt sạch những người chống đối, đuổi cùng giết tận bọn họ!”
Xa Anh nắm tay đấm mạnh xuống bàn: “Cái gì mà mưu phản? Bè lũ quý tộc rắp tâm vu oan giá hoạ, rõ ràng chính chúng mới định làm phản! Thương Quân, hãy mau xuống lệnh, Xa Anh sẽ đi bắt hết chúng lại, là thật là giả, thẩm vấn sẽ biết ngay!”
Công Tôn Ưởng đầu mày nhíu chặt, quay sang nhìn Cảnh Giám: “Chúa thượng nói thế nào?”
Cảnh Giám lắc đầu: “Khi hạ quan xuất cung, họ vẫn đang khóc lóc. Chúa thượng trước nay luôn đứng về phía bọn người này, lần này Thương Quân ắt gặp bất lợi. Theo ý hạ quan, Thương Quân hãy đi lánh nạn một thời gian, đợi sau khi chân tướng phơi bày, chúa thượng tất sẽ gọi về!”
Công Tôn Ưởng suy nghĩ một lúc, rồi hỏi: “Lánh đi đâu được?”
“Thương Ư! Đó là đất phong của Thương Quân, nơi đó núi cao đường hiểm, quận thú lại là Sư Lý Tật, tuyệt đối an toàn. Hạ quan cho rằng, Thương Quân hãy lấy danh nghĩa đi tuần sát quân vụ, khởi hành ngay trong đêm nay. Nếu chúa thượng có hỏi, cứ để hạ quan ứng phó!”
Công Tôn Ưởng suy nghĩ một hồi lâu, rồi khẽ lắc đầu: “Không cần đâu!”
Cảnh Giám vội nói: “Nếu không đi, e rằng muộn mất!”
“Kẻ thực sự muốn lấy mạng Công Tôn Ưởng, không phải đám quý tộc kia, mà là ông trời. Trời muốn ta chết, ta biết trốn đi đâu?”
Cảnh Giám kinh ngạc: “Ý Thương Quân là…”
Công Tôn Ưởng thần sắc ủ ê, lắc đầu ngao ngán: “Hơn nữa, nếu tại hạ không đi, vẫn còn được tiếng đường đường chính chính. Còn nếu bỏ đi, thì chẳng khác nào tự nhận mình mưu phản!”
Nghe Công Tôn Ưởng nói vậy, Cảnh Giám cũng cảm thấy sự việc nghiêm trọng, nhất thời không biết nói gì.
Trong phòng thẩm vấn ở đại lao, Huệ Văn Công sắc mặt âm trầm, ngồi ngay ngắn, công tử Hoa và mấy kẻ áo đen đứng ở hai bên. Một lát sau, hai kẻ áo đen lôi Chu Đà vào hình thất.
Công tử Hoa quát lớn: “Chu Đà, có biết ai thẩm vấn ngươi không?”
Chu Đà ngẩng nhìn, rồi dập đầu sát đất: “Chu Đà khấu kiến chúa thượng!”
Huệ Văn Công cười nhạt, hỏi: “Chu Đà, ngươi biết tội chưa?”
“Tiểu nhân biết tội!”
“Ngươi mắc tội gì?”
“Tiểu nhân không nên nghe theo lời nghịch tặc Công Tôn Ưởng, chắp cánh cho hổ, mưu hại trọng thần triều đình!”
Huệ Văn Công cười lạnh lẽo: “Ngươi đúng là sống lâu thấy nhàm rồi! Tiểu Hoa, dựa theo tân pháp, tội khi quân phải xử phạt ra sao?”
“Khởi bẩm chúa thượng, xử tội lăng trì, tru di cửu tộc!”
Huệ Văn Công nhìn sang Chu Đà: “Chu Đà, ngươi đã nghe rõ chưa? Mặc dù cửu tộc nhà ngươi không ở đây, nhưng chịu hình lăng trì cũng không hề dễ chịu! Theo tội của ngươi, sẽ bị lóc ba nghìn sáu trăm nhát dao!”
Chu Đà khiếp sợ đến toàn thân run rẩy, dập đầu bình bịch: “Chúa… chúa thượng, tiểu… tiểu nhân biết tội.”
“Nếu ngươi nói ra sự thực, lấy công chuộc tội, quả nhân có thể giảm tội cho ngươi. Nếu có điều gì dối trá, quả nhân sẽ khiến ngươi sống không ra sống, chết chẳng ra chết!”
Chu Đà dập đầu nói: “Tiểu nhân sẽ nói! Không phải Thương Quân phái tiểu nhân đi hành thích, mà là thái sư Cam Long. Thái sư bảo tiểu nhân giả làm thích khách hành thích thái phó đại nhân, đổ tội phản nghịch lên đầu Thương Quân. Thái sư đã nói, nếu việc thành công, sẽ bảo vệ tiểu nhân bình an vô sự, lại thưởng trăm lượng vàng. Tiểu nhân nhất thời hồ đồ mới lấy oán trả ơn, hãm hại Thương Quân!”
“Một kẻ tiểu nhân như ngươi, làm sao lại gặp được thái sư?”
Chu Đà do dự một lát: “Là thượng đại phu Trần Chẩn nước Ngụy tiến cử!”
“Trần Chẩn ở tận nước Ngụy xa xôi, sao lại biết ngươi?”
“Tiểu nhân và lão quản gia Thích Quang của Trần Chẩn có giao tình. Trước khi đến Tần, tiểu nhân có đến nhờ cậy Thích Quang, từng làm môn nhân trong phủ thượng đại phu, nên mới gặp được thượng đại phu.”
“Ngươi đã là người của nước Ngụy, tại sao còn đến nước Tần?”
“Tiểu nhân vốn không muốn đến, là thượng đại phu sắp đặt. Thượng đại phu muốn tiểu nhân trà trộn vào phủ Thương Quân. Tiểu nhân niệm ân tri ngộ của thượng đại phu, nên mới đến Tần.”
Huệ Văn Công hít ngược một hơi dài, rồi chau mày: “Thượng đại phu và Thương Quân không thù không oán, cớ sao lại muốn thái sư hãm hại Thương Quân?”
“Hồi bẩm chúa thượng, tiểu nhân cũng từng hỏi thượng đại phu. Thượng đại phu nói, Thương Quân muốn diệt trừ thái sư, thái phó, khống chế đại quyền nước Tần, thượng đại phu và thái sư có giao tình thân thiết, nên mới nghĩ ra mưu kế, giúp thái sư diệt trừ Thương Quân!”
“Nói như vậy, ngươi hành thích thái phó, đổ tội cho Thương Quân, tất cả là mưu của Trần Chẩn?”
“Thưa phải!”
Huệ Văn Công gật đầu nói: “Tốt lắm! Ngoài Trần Chẩn và thái sư, còn có ai biết chuyện này?”
“Công Tôn đại nhân và Đỗ đại nhân.”
Huệ Văn Công ra hiệu, công tử Hoa bèn đưa bản cung khai lại: “Chu Đà, mau điểm chỉ!”
“Tiểu nhân đã khai hết sự thực, chúa thượng… xin người hãy tha cho tiểu nhân một mạng!”
“Biết rồi!” Huệ Văn Công gật đầu. “Ngươi cứ điểm chỉ trước, đợi quả nhân kiểm chứng lời khai, rồi mới có thể luận tội!”
Chu Đà nghe nói cũng có lý, lập tức viết tên, điểm chỉ lên tờ khai. Huệ Văn Công nhận lấy tờ khai, đọc qua một lượt, bỏ vào tay áo, sau đó hạ lệnh nhốt Chu Đà vào tử lao.
Một canh giờ sau, có binh tốt mang cơm vào đại lao. Chu Đà ăn mấy miếng, cảm thấy bất thường, liền trợn mắt oẹ ra, nhưng đã không kịp nữa. Chưa đến nửa canh giờ sau, hắn hai tay ôm bụng, lăn lộn vật vã, vừa lăn vừa kêu gào: “Chúa thượng, chúa… chúa thượng…”
Chu Đà đã ngờ oan cho Huệ Văn Công, vì người hạ độc hắn không phải Huệ Văn Công, mà là Cam thái sư. Đỗ Chí sau khi nhận được tin về Chu Đà, đã vội vàng đến phủ thái sư.
Cam Long sốt ruột hỏi: “Việc có ổn không?”
Đỗ Chí gật đầu.
Cam Long vuốt râu, nói: “Ừm, Công Tôn Ưởng giết người diệt khẩu, tội tăng một bậc! Chúng ta hãy đi bẩm tấu!”
Ngày hôm sau, Cam Long, Đỗ Chí, Công Tôn Giả lại dâng liền mười mấy bản tấu, tố cáo Công Tôn Ưởng tội giết người diệt khẩu, đòi Huệ Văn Công xử tội.
Huệ Văn Công xem qua tấu chương, gọi Doanh Kiền, công tử Hoa đến, nhìn Doanh Kiền nói: “Công thúc! Lão thái sư và những người này tố cáo Công Tôn Ưởng tội phản nghịch, nhất định muốn quả nhân luận tội. Quả nhân nghĩ đi nghĩ lại, Công Tôn Ưởng vừa là trọng thần mà tiên quân uỷ thác, vừa là quốc phụ của quả nhân, việc này… bảo quả nhân phải xử lý thế nào đây?”
Doanh Kiền bước lên một bước: “Chúa thượng, theo pháp luật của tiên quân, vương tử phạm pháp, tội như thứ dân. Công Tôn Ưởng mưu đồ bất chính, chứng cứ rõ ràng, phải xử tội theo luật pháp nước Tần!”
Huệ Văn Công mím chặt môi, trầm tư một lúc, rồi nói: “Được, vậy hãy làm theo lời công thúc. Tiểu Hoa!”
“Có thần đệ!”
“Khanh hãy đến phủ quốc uý, truyền khẩu dụ của quả nhân, nói rằng có người tố cáo Công Tôn Ưởng muốn nhân lúc để tang tiên quân mà mưu phản tác loạn, mưu sát trọng thần triều đình, sau khi sự việc thất bại, lại giết người diệt khẩu, đã phạm vào pháp chế Đại Tần, lệnh cho Xa quốc uý bắt Công Tôn Ưởng, điều tra rõ thực hư.”
“Thần đệ tuân chỉ!”
Doanh Kiền vội nói: “Chúa thượng…”
Huệ Văn Công quay sang Doanh Kiền: “Công thúc, có gì không ổn ư?”
Doanh Kiền nói: “Dựa theo luật nước Tần, bách tính phạm pháp sẽ do phủ tư đồ xét xử; thượng đại phu phạm pháp sẽ do Thái miếu xét xử. Công Tôn Ưởng phản nghịch, chúa thượng lại để quốc uý xét xử, đã làm trái Tần pháp. Hơn nữa, Xa Anh là thuộc hạ của Công Tôn Ưởng, để hắn xét xử, khó tránh nối giáo cho giặc, vi thần cho rằng không công bằng!”
“Công thúc, không cần nói nữa! Tiểu Hoa, truyền chỉ!”
Xa Anh nhận được khẩu dụ của Huệ Văn Công, kinh hoàng thất sắc, khấu đầu lĩnh chỉ xong, lập tức chọn lấy năm trăm binh tốt, tiến thẳng tới phủ Thương Quân.
Xa Anh hạ lệnh bao vây ngoài cổng, rồi một mình hộc tốc chạy vào trong phủ.
Trong chính sảnh, Công Tôn Ưởng đã cởi bỏ quan phục, hai mắt khép hờ, đang ngồi ngay ngắn. Cảnh Giám ngồi đối diện, hai mắt ứa lệ.
Xa Anh quỳ sụp xuống, khóc gọi: “Thương Quân…”
Công Tôn Ưởng mở mắt ra, nhìn Xa Anh: “Xa đại nhân đến đây, hẳn là phụng chỉ bắt tại hạ!”
Xa Anh nghẹn ngào: “Thương Quân…”
Công Tôn Ưởng chậm rãi đứng dậy: “Đi thôi, tại hạ đã chuẩn bị sẵn sàng!”
Xa Anh vội nói: “Thương Quân… Thương Quân hãy mau chạy đi! Hãy theo lời Cảnh huynh, đi ra cổng sau!”
Cảnh Giám cũng thúc giục: “Thương Quân, xe ngựa đều đã chuẩn bị xong xuôi, hạ quan sẽ cùng đi với người!”
Công Tôn Ưởng khẽ thở dài: “Than ôi, hai người theo tại hạ đã nhiều năm, lẽ nào còn chưa hiểu tại hạ! Xa đại nhân, đi thôi!”
Nói đoạn, Công Tôn Ưởng tay không chậm rãi bước khỏi đại sảnh, tiến ra ngoài cổng.
Trong phủ thái sư, Công Tôn Giả vuốt râu, sắc mặt tràn đầy mãn nguyện: “Hừm, thật không ngờ Công Tôn Ưởng cũng có ngày hôm nay!”
Đỗ Chí nghiến răng nói: “Gian tặc ngày nào còn chưa chết, ngày đó chúng ta vẫn chưa được yên. Tại sao không nhân đà làm tới, cùng dâng tấu, ép hắn phải chết ngay?”
“Đúng!” Công Tôn Giả tiếp lời. “Chúng ta chia nhau ra phát động, tất cả cùng lên tiếng, chúa thượng không muốn giết cũng không được!”
Cam Long vuốt chòm râu dài, nói: “Chỉ dựa vào mấy người, e rằng không được. Chúng ta tốt nhất nên thuyết phục thái phó, để ông ta bẩm lên lão thái hậu. Một lời của lão thái hậu, nặng bằng mười mấy bản tấu chương của chúng ta!”
Mọi người đều gật gù.
Cam Long chậm rãi quay sang Công Tôn Giả: “Ông là Thái miếu lệnh, các trọng thần công tộc, từ đại phu trở lên đều do Thái miếu xét xử. Tân pháp là do Công Tôn Ưởng đặt ra, dựa theo tân pháp, tội mưu phản sẽ xử thế nào?”
“Hạ quan đã tra rõ, dựa theo tân pháp, gian tặc sẽ phải chịu hình năm xe xé xác!”
“Ừm!” Cam Long mỉm cười. “Hình phạt này rất thích hợp với Công Tôn Ưởng. Các vị đại nhân, các vị hãy ghi rõ hình phạt này lên tấu chương, cho hắn nếm mùi bị xe xé xác! Còn phía thái phó, hãy để ta đến thỉnh cầu.”
Trong ngự thư phòng, trên bàn chồng chất tấu chương hoạch tội Công Tôn Ưởng, trên bản tấu nào cũng ghi rõ mấy chữ “năm xe xé xác nghịch tặc”.
Huệ Văn Công tiện tay lật xem, những dòng chữ đó cứ to đậm mãi lên.
Huệ Văn Công chau tít đôi mày, một nét cười lạnh lẽo hiện bên khoé miệng.
Trong đại lao, quan tư hình đích thân mang đồ ăn đến, bày trước mặt Công Tôn Ưởng. Sau đó, lại mang tới một vò rượu lâu năm, rót ra chén, cũng đặt trước mặt Công Tôn Ưởng, cung kính: “Thương Quân, mời dùng!”
Công Tôn Ưởng liếc nhìn rượu và thức ăn ngon bày trước mặt, chậm rãi hỏi: “Tư hình đại nhân, dựa theo tân pháp, những kẻ phạm tội như ta đều được ăn những thứ này ư?”
“Hồi bẩm Thương Quân, trong đại lao này, chỉ có Thương Quân được đãi ngộ như vậy.”
Công Tôn Ưởng đứng dậy: “Tư hình đại nhân, Công Tôn Ưởng thân mang trọng tội, thì phải đối xử cho giống với người phạm tội!”
Tư hình bèn quỳ xuống: “Hồi bẩm Thương Quân, cho hạ quan một trăm lá gan, hạ quan cũng không dám vi phạm tân pháp. Những thức này đều là do chúa thượng ban tặng. Có lệnh của chúa thượng, hạ quan mới bạo gan làm vậy, Thương Quân chẳng qua chỉ tạm ở đây để che mắt, sẽ không lưu lại lâu đâu!”
“Dựa theo tân pháp, vương tử phạm pháp, tội như thứ dân, huống hồ là Công Tôn Ưởng ta? Mong tư hình đại nhân hãy dẹp cơm rượu đi, Công Tôn Ưởng được phép ăn gì, ông hãy mang tới, nếu không, Công Tôn Ưởng khó mà nuốt trôi!”
“Hạ quan không dám. Nếu mang đồ ăn đi, hạ quan sẽ mang tội kháng chỉ!”
“Ta hỏi ngươi, là pháp lớn hơn, hay chỉ lớn hơn?”
“Hạ quan… pháp lớn, chỉ cũng lớn. Hai bên đều lớn, hạ quan không dám kháng lại bất cứ bên nào!”
Huệ Văn Công thình lình xuất hiện trước cửa: “Nói đúng lắm. Pháp lớn, chỉ cũng lớn!”
Tư hình ngoảnh đầu, nhìn thấy Huệ Văn Công, vội sụp xuống lạy: “Vi thần khấu kiến chúa thượng!”
Công Tôn Ưởng cũng quỳ xuống hô: “Tội thần Công Tôn Ưởng khấu kiến chúa thượng!”
Huệ Văn Công lệnh cho tư hình: “Lui ra!”
Tư hình lui đi, đóng cửa lại. Huệ Văn Công chìa tay nói: “Thương Quân, mời!”
Công Tôn Ưởng đáp: “Chúa thượng, mời!”
Cả hai cùng ngồi xuống.
Huệ Văn Công rót rượu, hai tay nâng chén đưa cho Công Tôn Ưởng, xong lại rót đầy chén của mình.
Huệ Văn Công hai mắt ứa lệ: “Thương Quân, Doanh Tứ kính người một chén!” Nói đoạn, một hơi uống cạn.
Công Tôn Ưởng thấy Huệ Văn Công nghẹn ngào, liền nâng chén mà nói: “Tội thần Công Tôn Ưởng tạ ơn chúa thượng ban rượu!” Rồi cũng một hơi uống cạn.
Huệ Văn Công rút khăn lụa ra lau nước mắt, nhìn Công Tôn Ưởng, cất giọng đau thương: “Thương Quân, Doanh Tứ nhốt ông vào đại lao, quả thực đã khiến ông phải chịu oan ức. Doanh Tứ biết ông không hề mưu phản, cũng sẽ không bao giờ mưu phản. Trong lòng Doanh Tứ, Thương Quân mãi mãi là quốc phụ. Có điều…” ngẫm nghĩ một lát, sắc mặt đầy vẻ bất lực, “giờ Doanh Tứ mới kế vị, rất nhiều việc không thể tự quyết. Huống hồ họ… Thương Quân hẳn cũng biết, đã có đủ nhân chứng, vật chứng, khí thế lấn lướt, lời lẽ bức bách. Họ đều là quý tộc thế phiệt, liền với huyết mạch công thất, ai nấy đều thúc ép Doanh Tứ. Có ân sư, công thúc của Doanh Tứ, có cậu, có cô của Doanh Tứ. Đến hôm nay, lại thêm thái hậu… Than ôi, Thương Quân, Doanh Tứ thực là non kém!” Nói đoạn, nước mắt chảy xuống ròng ròng.
Công Tôn Ưởng cứ nhìn Huệ Văn Công, một lúc sau, bèn rót đầy chén rượu, nâng chén mà nói: “Tội thần Công Tôn Ưởng kính chúa thượng một chén!”
Hai người cùng uống cạn.
Huệ Văn Công lại lau nước mắt, nhìn Công Tôn Ưởng: “Thương Quân, không phải ông không biết họ muốn hại ông, nhưng… Doanh Tứ không hiểu, tại sao Thương Quân lại không lánh đi?”
Công Tôn Ưởng mỉm cười: “Đi? Đi đâu? Đi thế nào?”
“Thương Quân có thể tạm thời tới Thương Ư lánh nạn, đó là vùng đất phong của ông. Ông muốn đi, trong nước Tần ai dám ngăn chặn?”
“Chúa thượng!” Công Tôn Ưởng mỉm cười. “Tội thần chưa kịp hành động, chúa thượng đã đoán trước được rồi, bảo tội thần làm sao dám hành động?”
Huệ Văn Công vội nói: “Quả nhân tuyệt đối không ngăn cản Thương Quân. Quả nhân phái quốc uý Xa Anh đến bắt ông, chính là để cho ông có cơ hội thoát thân. Thương Quân, chỉ cần ông đi khỏi đây, quả nhân cũng sẽ dễ ăn nói. Đợi khi sóng gió qua đi, quả nhân nhất định sẽ điều tra rõ vụ việc này, đến lúc đó, sẽ trả lại sự thanh bạch cho Thương Quân!”
Công Tôn Ưởng quỳ xuống, lại bái lạy: “Ân huệ của chúa thượng, Công Tôn Ưởng xin đa tạ! Xem ra, mặc dù chúa thượng vạn sự thánh minh, nhưng vẫn chưa hiểu được tội thần!”
Nghĩ đến lời dặn trước lúc lâm chung của Hiếu Công, Huệ Văn Công trong lòng chợt trầm ngay xuống: “Ồ, lời này có nghĩa gì?”
“Tội thần không đi, là bản thân tội thần không muốn sống nữa!”
Huệ Văn Công giật mình: “Con kiến còn biết chạy trốn, tại sao Thương Quân lại nói như vậy?”
“Con kiến sống tạm qua ngày, vì vậy mới là con kiến. Tội thần không muốn sống, vì vậy mới là tội thần. Tội thần từ lâu đã có ý chết, tội thần đã đợi ngày này mười mấy năm rồi!”
“Ý Thương Quân là, từ khi bắt đầu biến pháp, ông đã…”
Công Tôn Ưởng khẽ lắc đầu: “Không giấu chúa thượng, thời điểm mới thực hành biến pháp, tội thần rất sợ chết, ra vào lúc nào cũng phải mang theo ba nghìn hộ vệ, mọi việc đều thận trọng tuyệt đối, chỉ e gặp điều bất trắc. Nhưng nay thì không thế nữa. Nước Tần tân pháp đã vững, tội thần tâm nguyện đã thành, nếu còn sống tạm trên đời, hỏi còn ý nghĩa gì đây?”
Lời này của Công Tôn Ưởng, là đang bộc bạch nỗi lòng, một là ông không hề mưu phản, hai là ông sớm đã liệu được sẽ có ngày hôm nay, vì vậy không hề sợ hãi.
Huệ Văn Công thấy Công Tôn Ưởng lại nói vòng trở lại, trầm tư một lát, rồi chậm rãi nói: “Thương Quân tuyệt đối không được nghĩ như vậy. Không có Thương Quân, sẽ không có tân pháp; không có tân pháp, sẽ không có nước Tần thịnh vượng ngày nay, người trong cả nước ai nấy đều tai nghe mắt thấy. Thương Quân vì muốn sảng khoái cho mình mà dứt áo ra đi, chẳng phải sẽ đẩy Doanh Tứ vào chỗ bất nhân bất nghĩa hay sao? Thương Quân thử nghĩ xem, ông có đại công với nước, Doanh Tứ mới kế vị, vẫn chưa hỏi rõ trắng đen phải trái, trong lúc thi hài tiên quân còn chưa kịp lạnh đã giết công thần, quả thực…”
Công Tôn Ưởng dập đầu: “Ơn xá tội của chúa thượng, tội thần xin nhận. Tội thần có một lời, mong chúa thượng nghe cho!”
“Doanh Tứ xin rửa tai lắng nghe!”
“Tội thần vốn xuất thân hàn sinh, may mắn gặp tiên quân nên mới thực hiện được hoài bão một đời. Được tiên quân tận lực ủng hộ, tội thần đã thực thi biến pháp, giúp Tần đại trị. Nhưng sự có hai mặt, vật cực tất phản. Mặc dù nước Tần đã được đại trị, nhưng lòng người Tần lại bị tổn thương. Thường có câu, cứng quá sẽ gãy, mạnh quá sẽ yếu. Nay chúa thượng mới kế vị, chính là thời cơ trị thương tốt nhất, hãy dùng Ưởng làm vật trút giận, trị vết thương trong lòng người Tần!”
Lời Công Tôn Ưởng chí lý sâu xa, từ trước đến giờ Huệ Văn Công chưa từng nghĩ đến. Trầm tư một lúc, Huệ Văn Công bèn nói: “Thương Quân, việc này… sao có thể được?”
“Chúa thượng,” Công Tôn Ương đáp lời, “không có chuyện được hay không được. Có được ắt phải có bỏ. Chúa thượng muốn làm việc lớn, phải dám hy sinh. Không giấu chúa thượng, trí của tội thần đã kiệt; công của tội thần đã tận. Giờ tội thần giống như ngọn đèn cạn dầu, chẳng còn ích gì cho nước Tần nữa. Chưa nói đến tội ăn không ngồi rồi, mà hơn nữa, còn gây trở ngại cho chúa thượng thực hiện chí lớn. Nếu cái chết của tội thần có thể an ủi trái tim đã bị tổn thương của người Tần, thì tấm thân tàn của Công Tôn Ưởng cũng đâu cần phải tiếc?”
Những lời này của Công Tôn Ưởng, rõ ràng là muốn nói với Huệ Văn Công, người thực sự muốn giết ông ta không phải là bè đảng thái sư, mà chính là Huệ Văn Công. Huệ Văn Công càng nghe càng ớn lạnh, nhưng ngoài miệng vẫn nghẹn ngào: “Thương Quân…”
“Chúa thượng, Công Tôn Ưởng không chết, lòng dân không vững; lòng dân không vững, tâm chúa bất định; tâm chúa bất định, đại nghiệp của Tần sao có thể thực thi?”
Công Tôn Ưởng nói tới nước này, hiển nhiên đã thấu tỏ mọi sự. Huệ Văn Công bất giác rùng mình, trầm tư một hồi lâu, mới hạ quyết tâm, đứng dậy, quỳ xuống bái lạy mà nói: “Đại nghĩa của Thương Quân, Doanh Tứ xin khắc cốt ghi tâm. Thương Quân có điều gì căn dặn, Doanh Tứ nhất định sẽ làm theo!”
“Công Tôn Ưởng không có khẩn cầu nào khác, chỉ cầu chúa thượng đừng phế bỏ tân pháp!”
Huệ Văn Công lạy ba lạy trước trời mà thề rằng: “Trời xanh trên cao, Doanh Tứ xin thề, chỉ cần ngày nào còn tại vị, tuyệt đối không phế bỏ tân pháp!”
Công Tôn Ưởng cũng lạy liền mấy lạy: “Nghe được lời thề của chúa thượng, Công Tôn Ưởng đã có thể ngậm cười nơi chín suối!”
Huệ Văn Công chần chừ một lát, lại hỏi: “Sau Thương Quân, Doanh Tứ nên đi hướng nào?”
“Trong núi Chung Nam có cao nhân đắc đạo, hiệu Hàn Tuyền Tử, chúa thượng có thể đến cầu ông ta chỉ lối!”
Huệ Văn Công gật đầu nói: “Quả nhân cũng từng nghe nói đến người này!” Một lát sau lại hỏi. “Theo ý Thương Quân, trong số triều thần, người nào có thể tín nhiệm?”
“Văn có thể dùng Sư Lý Tật, võ có thể dùng Tư Mã Thác. Còn về người thay Ưởng, chúa thượng tự có huệ nhãn.”
“Công Tôn Diễn người Ngụy thế nào?”
“Trong trận chiến Hà Tây, người này tài trí không thua kém Ưởng!”
Huệ Văn Công vòng tay nói: “Đa tạ Thương Quân chỉ giáo!”
Công Tôn Ương nâng chén: “Vì nước Tần lại có minh quân, vì chúa thượng lại có nhân tài, xin hãy cạn chén này!”
Huệ Văn Công từ từ quỳ xuống, lạy liền ba lạy, nghẹn ngào nói: “Quốc phụ ở trên, xin nhận của Tứ Nhi một lạy!”
Sáng sớm hôm sau, Tần cung mở đại triều. Trong chính điện, hai ban triều thần cùng tề tựu đông đủ.
Huệ Văn Công đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, cất giọng sang sảng: “Các vị ái khanh, có tấu gì không?”
Cam Long bước lên trước: “Lão thần có tấu!”
“Ái khanh hãy nói!”
“Công Tôn Ưởng mượn danh nghĩa thực thi tân pháp, kết bè kết đảng, sát hại người khác ý, từ lâu đã có lòng phản nghịch. Nay lại nhân lúc tiên quân băng hà, phái thích khách mưu sát trọng thần triều đình, mưu phản soán vị. Để làm nghiêm pháp kỷ Đại Tần, lão thần tấu xin chúa thượng hãy trừng phạt nghiêm minh Công Tôn Ưởng, để an lòng dân!”
Công Tôn Giả cũng bước lên tấu: “Khởi tấu chúa thượng, điều lão thái sư vừa tấu, cũng chính là ý dân. Công Tôn Ưởng ỷ mình có công với nước, kiêu ngạo ngang ngược, lấy bạo lực ép người, thuận ta thì sống, nghịch ta thì chết, khiến dân chúng Đại Tần hoang mang sợ hãi, ai nấy đều trách than!”
Xa Anh đứng lên bẩm tấu: “Khởi tấu chúa thượng, vi thần cho rằng, chuyện thích khách còn nhiều điểm đáng ngờ, nhất định là có kẻ muốn hãm hại Thương Quân, mưu đồ khôi phục cựu chế, mong chúa thượng minh xét!”
Huệ Văn Công không nhìn Xa Anh, mà quay sang Công Tôn Giả: “Công Tôn ái khanh!”
Công Tôn Giả bước ra khỏi hàng bái lạy: “Có vi thần!”
“Vụ án Công Tôn Ưởng, sự tình trọng đại, ái khanh chưởng quản Thái miếu, sẽ do ái khanh điều tra. Mong ái khanh lấy sự thực làm trọng, xử lý công bằng nghiêm minh!”
“Vi thần lĩnh chỉ!”
Cam Long, Đỗ Chí đều nhìn nhau cười thầm.
Xa Anh lo lắng, đang định tấu tiếp thì Cảnh Giám đã kéo tay áo ngăn lại.
Vào tối hôm đó, trong điện Di Tình, lồng chim vàng anh vẫn được treo trước linh cữu Tần Hiếu Công. Trong lồng vẫn là ba con chim, nhưng một trong ba con đã rơi xuống giá, nằm co quắp dưới đáy lồng.
Nội thần đi vào, trình bản tấu chương của Công Tôn Giả. Huệ Văn Công lật xem, thấy viết: “Theo vi thần điều tra, tội mưu phản của Công Tôn Ưởng, bằng chứng đã rõ ràng, theo luật phải xử hình năm xe xé xác, tấu thỉnh chúa thượng phê chuẩn!”
Huệ Văn Công cầm bút, chậm rãi viết lên hai chữ “chuẩn tấu”, đoạn quẳng bút xuống đất.
Nội thần thấy con chim trong lồng đã chết, khẽ bẩm: “Chúa thượng, một con chim đã chết rồi!”
Huệ Văn Công ngẩng đầu nhìn lồng chim: “Lấy ra, ướp đá, làm cho nó một cỗ quan tài!”
Nội thần lĩnh chỉ, đi tới cạnh lồng chim, cẩn thận nhặt cái xác chim ra.
Trên pháp trường bên bờ Vị Thuỷ, gió bấc thét gào, tuyết rơi trắng xoá.
Trên giám hình đài, những kẻ đối đầu với tân pháp gồm Công Tôn Giả, Cam Long, Đỗ Chí đã ngồi ngay ngắn, tinh thần phấn khởi lạ lùng. Trần Chẩn và sứ thần của liệt quốc ngồi hàng thứ hai.
Hồi trống đầu tiên kết thúc, quan tư hình Công Tôn Giả hô lớn: “Giải nghịch tặc Công Tôn Ưởng!”
Đao phủ áp tải Công Tôn Ưởng đến nơi thụ hình, buộc dây thừng vào tứ chi và đầu, sau đó buộc đầu còn lại vào năm cỗ chiến xa quay theo năm hướng khác nhau. Công Tôn Ưởng hai mắt khép hờ, rất mực điềm tĩnh.
Hồi trống thứ hai vang lên. Trần Chẩn mang đến một hũ rượu, rót đầy một chén, đứng dậy rời khỏi chỗ, thong thả bước tới trước mắt Công Tôn Ưởng, gọi lớn: “Công Tôn huynh!”
Công Tôn Ưởng mở mắt ra, thấy trước mặt là Trần Chẩn, thì cất giọng nhạt nhẽo: “Trần huynh!”
Trần Chẩn nâng chén rượu lên, lời đầy ẩn ý: “Công Tôn huynh, hẳn huynh không thể ngờ rằng, lần này Trần Chẩn đến nước Tần, chính là vì Công Tôn huynh!”
Giọng Công Tôn Ưởng vẫn lạnh tanh: “Công Tôn Ưởng đã biết từ lâu!”
Trần Chẩn giật mình: “Vậy… huynh có nghĩ tới, sở dĩ hôm nay huynh phải ở đây, cũng là vì tại hạ?”
Công Tôn Ưởng bật cười: “Thì ra, Trần huynh luôn tự đề cao mình như vậy đấy!”
Trần Chẩn sững người: “Nói vậy là có ý gì?”
“Hôm nay Công Tôn Ưởng ở đây, chính là vì Công Tôn Ưởng muốn vậy, chứ không liên quan gì đến Trần huynh. Lần này Trần huynh đến, chẳng qua chỉ để góp vui mà thôi!”
Trần Chẩn bật cười: “Nói như vậy, là Công Tôn huynh chán ghét trần thế, nên không muốn sống nữa?”
“Không phải không muốn sống nữa, mà là cuộc sống đã hết thú vị! Trần huynh có biết chuyện Bá Nha, Tử Kỳ chăng? Tử Kỳ không còn nữa, Bá Nha không thiết gảy đàn. Tiên quân đã không còn, nếu Công Tôn Ưởng sống tiếp, há chẳng phải vô vị?”
Trần Chẩn khẽ gật đầu: “Công Tôn huynh không tiếc mạng sống để báo ơn tri ngộ, Trần Chẩn kính phục. Nhưng chết cũng có rất nhiều kiểu, theo trí của Công Tôn huynh, hẳn sẽ không bao giờ lựa chọn cách chết này?”
Công Tôn Ưởng cười lớn mà nói: “Người ta sống ở trên đời, khó nhất là sống thế nào cho oanh liệt. Thử hỏi Trần huynh, cách chết nào mới có được sự thịnh vượng của ngày hôm nay?”
Trần Chẩn nâng chén: “Công Tôn huynh là bậc anh hùng, Trần Chẩn kính phục! Xin Công Tôn huynh hãy cạn chén này, coi như tại hạ tiễn Công Tôn huynh lên đường!”
Công Tôn Ưởng nhận rượu, rồi đổ toẹt xuống đất.
Trần Chẩn mặt hơi biến sắc: “Công Tôn huynh…”
“Người vốn là đất, lại quay về với đất. Công Tôn Ưởng hôm nay trở về nhà, xin mượn chén rượu của Trần huynh để cảm tạ đất!”
Trần Chẩn sững sờ, miễn cưỡng nặn ra một nụ cười, ôm quyền nói với Công Tôn Ưởng: “Công Tôn huynh, lên đường bảo trọng!” Sau đó hậm hực trở về chỗ ngồi.
Hồi trống thứ ba vang lên.
Đỗ Chí giục giã: “Công Tôn đại nhân, trống đã dứt, hành hình thôi!”
Công Tôn Giả đang định ném lệnh tiễn đi, thì thượng đại phu Cảnh Giám một mình một ngựa lao như bay tới, hét lớn: “Khoan!”
Công Tôn Giả cười nham hiểm: “Ồ, thượng đại phu cũng nhàn rỗi đến đây xem xử hình nghịch tặc ư?”
Cảnh Giám cười nhạt, nói: “Công Tôn đại nhân, Cảnh Giám phụng mệnh của chúa thượng, đến đây tiễn chân Thương Quân.”
Công Tôn Giả sững người: “Lệnh của chúa thượng?”
Cảnh Giám lấy ra kim bài lệnh tiễn và một hũ ngự tửu, nói: “Đây là kim bài lệnh tiễn của chúa thượng, còn đây là ngự tửu do chúa thượng đích thân ban tặng, mời đại nhân kiểm tra!”
Công Tôn Giả kiểm tra, rồi gật đầu nói: “Được, mời thượng đại phu tới tiễn nghịch tặc lên đường!”
Cảnh Giám bưng rượu, từng bước tiến tới trước mặt Công Tôn Ưởng, phục lạy xuống đất, nâng rượu quá đầu: “Thương Quân, hạ quan phụng mệnh chúa thượng, đến tiễn đại nhân lên đường!”
Công Tôn Ưởng gật đầu nói: “Cảnh huynh, xin hãy quay về bẩm tấu lên chúa thượng, tội thần thân đã mất tự do, không thể lạy tạ!”
“Hạ quan nhất định sẽ chuyển tấu!”
Công Tôn Ưởng nhận lấy ngự tửu, lại nói: “Còn nữa, xin huynh hãy chuyển tấu với chúa thượng, nói rằng tội thần Công Tôn Ưởng muốn tặng chúa thượng một câu: Lập uy tại quân, lập tín tại dân, muốn thành nghiệp lớn, gốc phải vững bền!”
Cảnh Giám khóc lạy: “Thương Quân…”
Công Tôn Ưởng thở dài một tiếng: “Than ôi, nghĩ lại Công Tôn Ưởng ta, cả đời cúc cung tận tuỵ, đổi về lại là cái xác chia năm xẻ bốn! Lão Đam nói, ‘công thành thân nát’! Tại hạ công thành danh toại, nhưng không biết tiến thoái, cũng đáng đời lắm! Cảnh huynh, hãy nói lại với Xa tướng quân, hai người nhất định phải lấy Ưởng làm gương, tự biết trân trọng!”
Cảnh Giám nghẹn ngào nói: “Hạ quan đã nghe rõ!”
“Cảnh huynh, sau khi Ưởng đi rồi, nếu chúa thượng muốn lật lại vụ án này, huynh hãy đẩy cho thái phó!”
Cảnh Giám gật đầu.
Công Tôn Ưởng hai tay bưng bát, một hơi uống cạn bát rượu, sau đó đập vỡ tan tành, mỉm cười khẽ ôm quyền với Cảnh Giám: “Tại hạ đi trước một bước, Cảnh huynh bảo trọng!”
Cảnh Giám lạy liền ba lạy, bật khóc thất thanh: “Thương Quân, lên đường bình an!”
Lời Cảnh Giám vừa dứt, Công Tôn Ưởng đã hai mắt tối sầm, lảo đảo mấy cái rồi ngã vật xuống đất, miệng trào máu đen.
Đao phủ vội vàng chạy đến, thì Công Tôn Ưởng đã ngã lăn dưới đất, vội đưa tay lên mũi, thấy không còn hơi thở nữa, bèn cuống quýt chạy lại chỗ Công Tôn Giả: “Bẩm đại nhân, trong rượu có độc, nghịch tặc Công Tôn Ưởng đã trúng độc chết rồi!”
Cam Long thất kinh: “Sao lại như thế được?”
Công Tôn Giả giận đến run người, quăng ngay lệnh tiễn xuống, gầm lên: “Mau! Hành hình!”