Chính vào lúc Khuất Bình viết thư mời Tô Tần đến Sở, một đoàn kỵ mã hơn hai chục người trong trang phục Hồ đang ra roi thúc ngựa lao băng băng trên thảo nguyên bát ngát phía bắc Hoàn Sơn. Đoàn người ai nấy một tay giữ cương, một tay cầm cung, chân kẹp chặt lưng ngựa, cơ thể đổ rạp về phía trước, lên xuống nhịp nhàng theo nhịp vó ngựa phi. Bên cạnh mỗi kỵ sĩ đều có thêm một con ngựa không người cưỡi, khiến cho số ngựa tăng lên gấp đôi.
Vùng thảo nguyên mênh mông này trước kia là địa bàn của người Đại. Từ thời Triệu Tương Tử, nước Đại bị người Triệu diệt, đất Đại quy về đất Triệu, thành quận biên ải phía bắc của Triệu, cũng chính là quận Đại.
Kỵ sĩ đi đầu anh tuấn cương nghị, không phải ai khác, chính là vị vua thứ tám tính từ Triệu Tương Tử, Vũ Linh Vương Triệu Ung.
Theo sát sau lưng là cận thần thân tín của Triệu Ung, Phì Nghĩa.
Triệu Ung từ lâu đã không còn là cậu thiếu niên khi lần đầu gặp mặt Tô Tần nữa. Kinh qua vô số sự biến trọng đại, bước sang tuổi tam thập nhi lập, Triệu Ung đã trưởng thành chín chắn, khí huyết sung mãn. Vào thời khắc này, dẫn theo một đoàn thị vệ, Triệu Ung thoả sức phô bày tráng chí trên chốn thảo nguyên mênh mông bất tận.
Không biết chiến mã đã phi được bao lâu, phía trước đã thấy núi non trùng điệp. Triệu Ung thả lỏng dây cương, cho tuấn mã lao chậm lại, cơ thể cũng từ từ vươn thẳng trên lưng ngựa.
Đoàn ngựa phía sau cũng từ từ ghìm vó lại theo.
Phì Nghĩa thúc ngựa, tiến lên bên cạnh Triệu Ung.
“Chúa công, phía trước chính là khe Phi Hồ!” Phì Nghĩa giơ roi chỉ về phía một khe núi cách đó không xa.
“Nơi khanh nói, là ở trong khe Phi Hồ ư?” Triệu Ung nheo mắt, nhìn về phía khe núi.
“Chính phải. Vào trong khe núi, đi tiếp ba mươi dặm!” Phì Nghĩa ngước nhìn sắc trời, “nếu phi nhanh thêm chút nữa, trước khi trời tối có thể tới nơi.”
“Đổi ngựa!” Triệu Ung nhảy xuống khỏi tuấn mã, lại tung mình nhảy lên lưng con ngựa bên cạnh.
Tuỳ tùng cũng đồng loạt đổi ngựa, rồi nhìn sang Triệu Ung.
Triệu Ung ghì cương, hai chân thúc mạnh, giục ngựa lao thẳng về phía khe núi. Chúng vệ sĩ lập tức bám theo bén gót.
Trước cửa khe Phi Hồ có đặt quan ải của nước Triệu. Quân uý gác ải kiểm tra thẻ bài, mở cửa cho qua.
Đường núi gập ghềnh, hai bên đều là vách núi dựng đứng, đá núi nhấp nhô, ngẩng đầu nhìn lên, quả nhiên chỗ hẹp nhất chồn có thể nhảy qua được, nên khe này mới có tên “Phi Hồ”, tức chồn bay. Đi trong đường núi thế này, ngựa hay đến mấy cũng khó lòng phi nhanh được.
Dù là vậy, Vũ Linh Vương vẫn cứ thúc ngựa đi đầu, lao đi băng băng qua dưới chân tuyệt cốc lúc hẹp lúc rộng. Đám Phì Nghĩa không còn có thể đi song song, đành nối đuôi nhau thành một hàng dọc, bám theo sau Vũ Linh Vương. Đi chừng hơn hai chục dặm, đường núi lúc một hiểm trở, bất chợt, phía trước sừng sững một vách núi chắn ngang, che khuất cả ánh mặt trời.
Đây là lần đầu tiên Vũ Linh Vương tiến vào tuyệt đạo Phi Hồ. Mắt thấy đường đi bị chặn, Vũ Linh Vương đang băn khoăn, từ phía sau bỗng có tiếng nói vọng lại: “Chúa công, đã tới nơi rồi!”
Vũ Linh Vương ghìm ngựa, đưa mắt nhìn chăm chú vào vách núi phía trước.
Con đường núi rẽ sang bên trái vách đá, lượn vòng qua, tiếp tục chạy quanh co về phía đông nam. Vũ Linh Vương vừa quay ngựa sang trái, tiếng Phì Nghĩa lại vang lên: “Là bên phải.”
Lời nói vừa dứt, Phì Nghĩa xuống ngựa, tiến sang bên phải, chỗ đó có một kẽ đá hẹp, miễn cưỡng có thể lách qua. Phì Nghĩa kéo ngựa tiến vào đó, rồi vẫy tay với Vũ Linh Vương.
Vũ Linh Vương cũng nhảy xuống ngựa, dắt ngựa tiến vào. Phì Nghĩa đi trước mở đường, Vũ Linh Vương và chúng vệ sĩ bám sát theo sau, leo lên một con đường dốc kín đáo nằm khuất trong cỏ cây, đá tảng, chạy theo hướng tây bắc.
Đường núi mỗi lúc một dốc đứng, mỗi lúc một hiểm trở khó đi. Chừng hơn nửa canh giờ sau, khi ánh dương gần như tắt lịm, đoàn người ngựa mới ra tới được cửa khe.
Vừa bước ra khỏi khe núi, Vũ Linh Vương đã bàng hoàng kinh ngạc, gần như không tin vào mắt mình. Bầu trời mở rộng thênh thang, thảo nguyên trải dài ngút mắt, sáng lờ mờ dưới ánh nắng hắt của ngày tàn.
Một tốp lính Triệu ẩn mình trong bóng tối, âm thầm áp lại, lặng lẽ chặn kín đường lui, bao vây lấy họ tầng tầng lớp lớp.
Phì Nghĩa trình ra ấn điệp. Viên quân uý nhận lấy kiểm tra, đoạn khom lưng hành lễ, chỉ về phía nam. Phì Nghĩa lên ngựa, dẫn đường cho Vũ Linh Vương cùng đoàn người lao thẳng về phía nam, chốc lát sau, đã tới một khu doanh trại san sát.
Phóng mắt nhìn đi, chỉ thấy trại này nối tiếp trại kia, chỗ nào cũng thấy người Triệu ăn bận theo lối Hồ chăn dắt hàng vạn ngựa, tiếng người hô, tiếng ngựa hí, tiếng kim loại va đập hoà lẫn vào nhau, chốc chốc lại đan xen tiếng cừu be thảm thiết trước khi bị giết.
Vũ Linh Vương dừng lại trước doanh trại lớn nhất, xuống ngựa bước vào.
Giữa trại, có một người đang ngồi, gặm miếng đùi cừu lớn, mùi thịt nướng toả ra thơm nức. Chợt trông thấy cả đám người xồng xộc bước vào, người kia thoạt tiên sững sờ, tiếp đến ném vội đùi cừu xuống, đứng phắt dậy, chạy vòng qua án, quỳ xuống dập đầu hô: “Thần bộc Thạch Thác khấu kiến đại vương, khấu kiến chúa công!”
Thạch Thác là người Hồ, từ nhỏ đã theo Phì Nghĩa, trước là thư đồng, sau là thị vệ, sau nữa được Phì Nghĩa tiến cử làm phó tướng, thụ mệnh tới đây huấn luyện kỵ binh. Là thị vệ của vương thất, Thạch Thác đương nhiên biết mặt Vũ Linh Vương, vì thế mới dập đầu hành đại lễ.
“Này, ngươi ăn ngon quá nhỉ!” Vũ Linh Vương giơ chân đá cho hắn một cái, mắt dừng lại trên mâm thịt nướng to tướng, “đứng dậy mau, mang thịt nướng lại đây, chúng ta đói ngấu cả rồi!”
Nói đoạn, phăm phăm tiến lại chỗ của Thạch Thác, ngồi luôn xuống chiếu, cầm một tảng thịt nướng ném cho Phì Nghĩa, rồi nhặt một miếng khác đưa lên miệng ăn ngon lành.
Mọi người đều cười vui vẻ.
Vừa hay đúng giờ cơm tối, thịt cừu cũng đã nướng chín. Thạch Thác lớn tiếng gọi, vài tên lính nhanh nhẹn bưng vào mấy mâm lớn, dọn lên trước mặt mọi người. Đoàn người đều đã đói bụng, chẳng buồn khách khí, ngồi xuống ăn luôn. Còn chưa ăn hết, đã thấy hai tên lính khiêng vào một thùng sữa ngựa nóng hổi, múc cho mỗi người một bát lớn.
Ăn uống no nê rồi, Vũ Linh Vương cũng đã thấm mệt, bèn ngủ một giấc ngon lành trong trại. Đến tận sáng sớm hôm sau, mới giật mình choàng tỉnh bởi tiếng ngựa hí rền và tiếng vó ngựa rậm rịch.
Vũ Linh Vương ngồi bật dậy, thấy đám Phì Nghĩa, Thạch Thác đã đợi sẵn bên ngoài trại.
“Đại vương đến thật đúng lúc, hôm nay có bia sống!” Thạch Thác hào hứng bẩm báo.
“Bia sống?” Vũ Linh Vương ngạc nhiên, nhìn Thạch Thác dò hỏi.
“Ngày hôm qua,” Thạch Thác bẩm báo, “có vài tên gian tế Trung Sơn lẻn vào đây, bị chúng thần bắt sống. Chiếu theo lệ cũ tướng quân Phì Nghĩa đặt ra năm xưa, hễ bắt được gian tế, sẽ cho làm bia sống để binh sĩ ta tập kỵ xạ!”
“Bia sống ở đâu?” Vũ Linh Vương hỏi.
“Ở trong trường bia!” Thạch Thác giơ tay chỉ, “mạt tướng đã bố cáo, hôm nay đại vương giá lâm, tướng sĩ ai cũng lấy làm phấn chấn!”
Vũ Linh Vương không vội tới trường bia ngay, mà đi dạo một vòng quanh bãi cỏ, còn leo lên ngọn núi cao ở mé tây bắc. Đứng trên đỉnh núi, Vũ Linh Vương phóng mắt nhìn xa, cảnh sắc thu gọn trong tầm mắt. Bốn phía núi non bao bọc, ở giữa là đồng cỏ rộng rãi vuông vức, dài rộng đều chừng hai mươi dặm, tựa như một mặt án khổng lồ, thi thoảng mới có gò núi, khe rãnh nhô lên bên rìa “án vuông”. Trên mặt án, đất đai bằng phẳng, cây cỏ tốt tươi, chẳng khác nào mục trường của người Hồ.
“Quả là thần địa!” Vũ Linh Vương lấy làm phấn chấn, quay sang Phì Nghĩa khen ngợi.
“Đại vương anh minh,” Phì Nghĩa đáp, “đây là phúc địa trời ban cho đại vương làm nơi rèn tập kỵ xạ, đủ sức nuôi ba vạn chiến mã, năm vạn dê cừu, cung ứng cho ba vạn tướng sĩ luyện tập tại đây bảy tháng. Từ tháng Mười một tới tháng Ba năm sau, đất này lạnh giá, băng tuyết phủ lấp núi non, người không thể ở được.” Nói đoạn, chỉ vào binh lính trong bãi tập, “họ đều là tướng sĩ tinh nhuệ do thần đích thân tuyển lựa, gồm hai vạn người!”
“Tới trường bia!” Vũ Linh Vương khoát tay, sải bước như bay xuống núi, loáng cái đã ruổi ngựa tới nơi.
Gọi là trường bia, song không có một tấm bia nào, chỉ là một đồng cỏ bằng phẳng xanh tốt. Hơn chục gian tế Trung Sơn ngồi la liệt trên cỏ, bị trói giật cánh khuỷu ra sau lưng, sắc mặt kinh hãi. Kỵ binh nước Triệu ai nấy tay cung lăm lăm, hông giắt tên bén, đã sẵn sàng trên lưng ngựa, chỉ chờ Triệu Vương phát hiệu lệnh, lập tức biến hơn chục tấm bia sống trên kia thành nhím.
Người Triệu rất căm hận người Trung Sơn, nhất là gian tế do Trung Sơn phái tới, hễ mà bắt được, không nói nhiều lời, hoặc treo cổ, hoặc chém đầu. Mà trên đồng cỏ kín đáo này, bắn bia sống đương nhiên là cách xử trí được ưa chuộng nhất.
Bắn bia sống nghĩa là gì? Tức là cởi trói cho gian tế, để họ tự do chạy trên đồng cỏ, cho kỵ binh Triệu truy đuổi, lấy họ làm bia để tập kỹ nghệ cưỡi ngựa bắn cung. Đương nhiên, người Triệu cũng cho bia sống hai điều đảm bảo. Thứ nhất, kỵ binh không được phép bắn trong vòng hai chục bước; thứ hai, phàm kẻ nào có thể sống sót sau một khắc, sẽ được cứu chữa cho sống, song không được phép rời khỏi trường bia, phải ở lại đây cho người Triệu sai khiến, thực chất chính là làm nô lệ cho người Triệu. Do vậy, phải chạy thế nào để né tránh được trận mưa tên từ bốn phương tám hướng bủa lại trong vòng một khắc, đó là con đường sống sót duy nhất của kẻ làm bia sống.
Vũ Linh Vương vừa tới, tất thảy mọi ánh mắt đều đổ dồn cả lại.
Vũ Linh Vương đưa mắt nhìn khắp lượt hàng bia sống, phẩy tay với Thạch Thác, ra hiệu bắt đầu. Đoạn gỡ trường cung trên lưng xuống, cầm ở trên tay, tay kia đặt lên túi tên bên hông.
Thấy Triệu Vương cũng tham gia bắn bia, chúng quân sĩ càng thêm phấn chấn.
Thạch Thác hào hứng hô lớn: “Khai bia!”
Tù và rúc lên rền rĩ, ba chục tướng sĩ tham gia bắn bia đồng loạt gỡ cung khỏi lưng, rút tên khỏi túi, sẵn sàng lên ngựa xuất kích.
Vài tên lính Triệu chạy lại chỗ đám người Trung Sơn, tay chân thoăn thoắt cởi dây trói cho họ.
Cả đám người Trung Sơn cùng nhìn vào một chàng thanh niên ở giữa.
Chàng thanh niên khẽ đặng hắng một tiếng, hai mắt khép hờ, vẫn ngồi nghiêm trang bất động.
Cả đám người Trung Sơn như thể nhận được mệnh lệnh, đều dịch chuyển lại gần, ngồi vây quanh chàng, rồi bắt chước theo đó, hai mắt khép lại, ngồi im bất động.
Thạch Thác bực bội quát lớn: “Đám gian tế kia, đã nói rõ quy tắc với các ngươi rồi, cho các ngươi một khắc, ai thoát chết, sẽ được tha!”
Nhưng đám người Trung Sơn nhất quyết không ai chịu đứng dậy.
Người Trung Sơn không đứng dậy, không chạy đi, thì sao có thể làm bia sống? Không làm bia sống, thì chỉ là bia chết mà thôi, vậy thì đâu còn thích hợp với quy tắc bắn bia sống nữa.
Binh tướng Triệu ở đây chưa bao giờ gặp phải tình cảnh này, nhất thời ngỡ ngàng, đưa mắt nhìn nhau.
Vũ Linh Vương thúc ngựa, tiến lại trước đám người Trung Sơn, đi quanh một vòng, rồi trỏ cây cung vào chàng thanh niên ở giữa hỏi: “Này hậu sinh kia, ngươi người ở đâu, họ gì tên gì, hãy nói rõ!”
“Người Linh Thọ, Trung Sơn, họ Nhạc tên Nghị!” Chàng thanh niên không chút rúng động, mắt vẫn khép hờ, giọng sang sảng đáp.
“Nhạc Nghị?” Vũ Linh Vương lẩm bẩm nhắc lại, rồi lớn giọng hỏi tiếp, “hẳn là hậu duệ của Nhạc Dương?”
“Cháu đời thứ năm của tướng Nguỵ Nhạc Dương!” Nhạc Nghị lại rành rọt đáp.
Vũ Linh Vương quày ngựa trở về, giơ cung chỉ vào Thạch Thác, ra lệnh: “Tạm hoãn bắn bia, đưa người Trung Sơn về đại trại, quả nhân đích thân thẩm tra!” Nói đoạn, thúc ngựa đi thẳng.
Vũ Linh Vương về tới đại trại chưa lâu, Thạch Thác đã áp giải đám Nhạc Nghị tới.
“Nhạc Nghị,” Vũ Linh Vương nhìn thẳng vào thanh niên, qua đúng ba hơi thở, mới tiếp lời, “nói xem, cho làm bia sống, cớ sao ngươi lại ngồi yên mà không chạy?”
“Chạy cũng chết, không chạy cũng chết!” Nhạc Nghị bình thản đáp, “chạy, chết trong hoảng loạn; không chạy, chết trong yên ổn! Nhạc Nghị sống trong yên ổn, không muốn chết trong hoảng loạn!”
“Trung Sơn bốn bề đều là kẻ thù, chiến loạn triền miên, cớ sao lại nói sống trong yên ổn?”
“Đó là với những kẻ quyền quý như Trung Sơn Vương và họ Tư Mã mà thôi, chứ không phải là với họ Nhạc chúng tôi. Thân là hậu duệ của Nhạc môn, Nhạc Nghị luôn được yên ổn.”
“Ồ?” Vũ Linh Vương vô cùng kinh ngạc, “Trung Sơn Vương không trọng dụng họ Nhạc các ngươi ư?”
“Tiên vương vẫn trọng dụng, song đại vương hiện tại không trọng dụng nữa. Đại vương hiện tại chỉ trọng dụng họ Tư Mã.”
“Đã là bia sống, ngồi im sẽ chết chắc, tháo chạy may ra còn có cơ sống sót. Nghe nói họ đã nói rõ quy tắc với các ngươi, chỉ cần giữ được mạng sống trong một khắc, các ngươi sẽ được đặc xá kia mà!”
“Người Triệu sẽ không bao giờ chịu tha cho người Trung Sơn!”
“Ngươi không tin người Triệu?”
“Là người Triệu không tin người Trung Sơn!”
“Cớ sao lại nói rằng người Triệu không tin người Trung Sơn?”
“Vì một câu chuyện.”
“Câu chuyện gì?”
“Đông Quách tiên sinh và sói.”
Đông Quách tiên sinh và sói là câu chuyện ngụ ngôn của người Triệu, kể về Đông Quách tiên sinh đang trên đường sang Trung Sơn thì gặp con sói đang bị thợ săn truy đuổi. Con sói cầu xin Đông Quách tiên sinh cứu mạng. Tiên sinh liền cho sói vào bao, xếp sách lên trên, trốn thoát khỏi thợ săn. Đến khi thả sói, sói lại đòi ăn thịt Đông Quách tiên sinh.
“Câu chuyện này, quả nhân đã nghe. Ngươi hãy nói xem, Đông Quách tiên sinh là ám chỉ ai?”
“Người Triệu.”
“Còn thợ săn?”
“Người Ngụy.”
“Vì sao?”
“Bởi chuyện ngụ ngôn này là do người Triệu nghĩ ra. Người Triệu cho rằng, sau khi người Ngụy tiêu diệt Trung Sơn, chính người Triệu đã giúp người Trung Sơn đánh đuổi người Ngụy, nhưng người Trung Sơn sau khi phục quốc lại vong ân bội nghĩa, coi người Triệu là kẻ thù.”
“Quả nhiên là hậu bối của họ Nhạc,” Vũ Linh Vương phá lên cười lớn, đoạn đứng dậy, bước lại trước Nhạc Nghị, tự tay cởi dây trói, mời ngồi vào chỗ khách, “chỉ bằng cách giải thích câu chuyện này, quả nhân xá miễn cho ngươi tội gian tế.”
“Chúng tôi không phải gian tế!” Nhạc Nghị bình thản đáp.
“Ồ?”
“Vì mưu sinh nên Nhạc Nghị từ biệt mẹ, sang Lâu Phán mua ngựa, ngang qua đất này, thấy đường đi quanh co, thế núi kỳ vĩ, bèn dừng chân thưởng lãm. Thấy vách đá bên phải dính nhiều lông ngựa, dưới khe đá cũng có vết móng ngựa dày đặc, mới sinh lòng hiếu kỳ, bèn thử lân theo dấu vết, leo dốc hồi lâu, thì tới cửa khe, trông thấy chốn thần tiên hạ giới này, đang lúc tấm tắc ngắm nghía, thì bị bọn họ ập tới bắt, đổ riệt là gian tế.”
“Thì ra là vậy!” Vũ Linh Vương nhớ lại cảm giác của mình lúc mới nhìn thấy khe đá, đã hoàn toàn tin lời Nhạc Nghị.
“Nhạc Nghị cứ ngỡ lần này chết chắc, nào ngờ mạng chưa tới lúc tận, lại gặp được đại vương!” Nhạc Nghị nói rồi đứng dậy, khấu đầu, “đại vương ở trên, xin nhận của Nhạc Nghị, hậu duệ Nhạc Dương một lạy!”
Vũ Linh Vương đỡ hắn dậy, mời cùng dùng bữa.
Ăn xong, Vũ Linh Vương dẫn Nhạc Nghị cùng đi thăm thú đồng cỏ, thưởng thức thuật kỵ xạ của binh sĩ, hai bên trò chuyện rất tâm đầu ý hợp.
“Dám hỏi đại vương,” Nhạc Nghị chỉ vào các kỵ binh đang ruổi ngựa băng băng, giương cung bắn tên ở đằng xa, “cho người Triệu luyện thuật kỵ xạ của người Hồ, là để chinh phục người Hồ ư?”
“Chính phải.” Vũ Linh Vương chỉ về phía tây bắc, “kẻ thù lớn nhất của quả nhân, chính là nước Lâu Phàn mà ngươi đang tìm tới. Bao năm qua, họ thường xuyên quấy nhiễu quận Đại của quả nhân, khiến quả nhân không thể nhẫn nhịn.”
Nhạc Nghị cười nói: “Thực sự khiến đại vương không thể nhẫn nhịn, là người Trung Sơn, chứ không phải người Lâu Phàn. Có điều, trong mắt Nghị, đại vương nếu có được Lâu Phàn, thì sẽ có được Trung Sơn.”
“Vì sao kia?”
“Vì Lâu Phàn sinh ngựa tốt.” Nhạc Nghị chỉ vào đám binh sĩ đang phi ngựa trên bãi cỏ, “nếu không có ngựa tốt, thì kỵ binh của đại vương luyện tập cũng uổng công.”
Vũ Linh Vương hít ngược một hơi khí lạnh, nhìn sững vào Nhạc Nghị: “Ngạc Nghị, ngươi bao nhiêu tuổi?”
“Thưa, đã sống uổng mười bảy cái xuân thu.”
“Có muốn theo quả nhân diệt Trung Sơn của ngươi?”
“Dám hỏi đại vương, là diệt tông miếu của Trung Sơn, hay là diệt người Trung Sơn?”
“Đương nhiên là tông miếu của Trung Sơn.” Vũ Linh Vương cười nói, “không có người Trung Sơn, quả nhân được Trung Sơn cũng có ích gì?”
“Tiên tổ của Nghị đã từng theo tiên Ngụy Vương diệt từ đường Trung Sơn, Nghị bất tài, nếu đại vương không chê, cho Nghị theo đại vương diệt thêm lần nữa, cũng là may mắn của Nghị.”
Vũ Linh Vương phá lên cười lớn: “Không chê, không chê, quả nhân khao khát cầu hiền, gặp được đại hiền, sao có chuyện chê được?” Ngẫm nghĩ một lát, lại tiếp, “Nhạc Nghị, ngươi hãy cứ tới Lâu Phàn, mua ngựa tốt cho quả nhân. Cần thứ gì, bất kể bao nhiêu, quả nhân cũng cung ứng đầy đủ.”
“Nghị tuân mệnh!”
“Hãy nhớ, mua ngựa là giả, thám thính là thực. Người Lâu Phàn sợ người Triệu, ngươi là người Trung Sơn, họ không những không đề phòng, mà còn coi là đồng minh.”
“Nghị đã hiểu.” Nhạc Nghị im lặng một chốc, ngoảnh nhìn sang Vũ Linh Vương, “Nghị có một khúc mắc, không nói không được.”
“Cứ nói.”
“Đại vương có đồng cỏ này để luyện kỵ xạ là được rồi, duyên cớ vì đâu lại phải hà khắc đến vậy, bắt hết những người sa chân tới đây làm bia sống?”
“Ồ,” Vũ Linh Vương ngần ngừ một thoáng, “hẳn là e sợ họ tiết lộ bí mật, nhất là vói người Trung Sơn.”
“Đại vương bất tất phải lo lắng chuyện này.” Nhạc Nghị đáp, “kỵ xạ chẳng phải kỹ nghệ gì mới mẻ, người Hồ ai cũng thành thạo. Người Trung Sơn vốn là người Hồ, đa phần thông thạo thuật này, như Nghị từ nhỏ đã học kỵ xạ, mười hai tuổi đã có thể cưỡi ngựa bắn trúng vật ngoài trăm bước. Chỉ bởi người Trung Sơn ở đồng bằng đã lâu, quen nghề cấy cày trồng trọt, nên mới chuyển sang dùng xe.”
Vũ Linh Vương hít sâu vào một hơi.
“Nghị cho rằng,” Nhạc Nghị nhìn thẳng vào Vũ Linh Vương, “đại vương không những không cần giữ bí mật, mà ngược lại, cứ thoải mái cờ giong trống mở, cho cả nước mặc áo Hồ tập kỵ xạ, khiến người Triệu đều mặc trang phục người Hồ, đều rành cưỡi ngựa bắn cung, chẳng khác gì người Hồ.”
Vũ Linh Vương lại hít sâu vào một hơi.
“Đại vương nếu làm như vậy, thứ nhất có thể giao hảo với người Hồ, thứ hai có thể kéo dài mở rộng, không cần thiết phải hao tâm tổn sức bí mật đi xa luyện tập thế này.” Nhạc Nghị chỉ ra bên ngoài, “đại vương muốn làm nên đại nghiệp, chỉ dựa vào số dũng sĩ kia, còn lâu mới đủ; chỉ dựa vào đồng cỏ này, cũng không thể rèn được kỵ binh hùng hậu. Ngược lại, nếu người trong cả nước đều mặc áo Hồ, đều rành kỵ xạ, đại vương tự khắc không phải lo lắng thiếu kỵ binh, thoả sức rong ruổi khắp thiên hạ.”
Vũ Linh Vương như gặp tiên hiền, đứng dậy, khom lưng hành đại lễ trước Nhạc Nghị.
Vài ngày sau đó, Vũ Linh Vương suy ngẫm kỹ lưỡng, chủ ý đã quyết, lệnh cho Phì Nghĩa toàn lực sắp xếp cho chuyến đi của Nhạc Nghị tới Lâu Phàn, dặn Nhạc Nghị có chuyện gì, cứ bàn cùng Phì Nghĩa.
Mọi việc chuẩn bị xong xuôi, Vũ Linh Vương đích thân tiễn Nhạc Nghị ra tận đường Phi Hồ, uống rượu tiễn biệt dưới chân vách núi.
Từ biệt Nhạc Nghị rồi, đám Vũ Linh Vương lại theo khe núi về phía nam, thẳng tới ấp Lai Nguyên.
Lai Nguyên là đầu nguồn của Lai Thuỷ, toạ lạc giữa lòng núi Thái Hàng, bốn bề núi non bao bọc, ở giữa là bồn địa rộng bảy mươi dặm, tương đương với lãnh thổ của Chu thất hiện tại, xứng danh là bảo địa trời ban. Nước ở xung quanh bồn địa đều hội tụ về đây, trở thành đầu nguồn của Lai Thuỷ, chảy về phía đông bắc, băng qua trùng trùng núi thẳm khe sâu.
Vũ Linh Vương lần này tới đây, thăm thú đồng cỏ Phi Hồ là thứ yếu, thị sát ấp Lai Nguyên mới là việc chính.
Ấp Lai Nguyên nằm chính giữa bồn địa Lai Nguyên, Lai Thuỷ quanh co uốn khúc, bao bọc khắp ba hướng tây, nam, đông của thành ấp, hình thành nên tấm bình phong tự nhiên, xứng danh là toà thành dễ thủ khó công. Người Triệu năm xưa đã nhân lúc Lai Thuỷ đóng băng trong mùa đông giá để tấn công. Người Triệu nhắm trúng thời cơ binh mã Trung Sơn thay quân canh phòng vào ngày Đông chí, nhân lúc ba nghìn quân cũ chuẩn bị rời đi, ba nghìn quân mới còn chưa kịp tới, tập kích khi trời chưa sáng. Quân Trung Sơn tâm tư tản mạn mong ngóng ngày về, đến khi lính gác phát hiện ra sự tình, thì người Triệu đã dẫn quân tới tận đầu thành.
Cho dù là vậy, người Triệu vẫn phải thương vong đến hơn năm nghìn binh tốt mới chiếm được thành.
Sở dĩ Vũ Linh Vương bất chấp tất cả đánh chiếm ấp này, bởi nó chặn cứng giữa lòng Bắc Thái Hàng. Từ ấp này, về tây có thể theo sông Đường Thuỷ tới ấp Linh Khâu; về bắc có thể theo khe Phi Hổ thẳng tới thành Đại Vương. Quan trọng hơn là, từ ấp này tiến về đông bắc, men theo thung lũng sông Lai Thuỷ tới dãy núi Tử Kinh, người Yên đã lập quan ải tại đây, gọi là ải Tử Kinh, đi qua ải này, men theo thung lũng sông Bắc Dịch Thuỷ, sẽ tới được hạ đô Vũ Dương nước Yên. Từ ấp này tiến về phía nam, men theo thung lũng sông Đường Thuỷ, sẽ gặp một ngọn núi lớn, thuở xưa gọi là núi Hoàn Sơn, người Trung Sơn đặt một quan ải tại đây, gọi là ải Xì Chi. Xi nghĩa là chim diều hâu, Xi Chi nghĩa là đến diều hâu cũng không dám bay qua ải này, từ đó có thể thấy nơi đây hung hiểm nhường nào. Đi qua ải này, nếu tiếp tục men theo Đường Thuỷ xuống phía nam, sẽ thẳng tới hai trọng ấp của nước Trung Sơn, là thành Trung Nhân và thành Tả Nhân.
Nằm chính giữa mà chế ngự bốn đường, thông tới ba nước, đủ thấy vị trí trọng yếu của ấp Lai Nguyên, bởi vậy người Trung Sơn sau khi phục quốc đã coi đây là mệnh huyệt, quanh năm lúc nào cũng có sáu nghìn nhuệ binh đồn trú canh phòng. Năm xưa người Nguỵ Nhạc Dương chính nhờ đoạt được ấp Lai Nguyên, từ đó phá ải Xi Chi, vây khốn thành Trung Nhân và thành Tả Nhân, mới chế phục được người Trung Sơn. Nay người Triệu lại đánh chiếm ấp Lai Nguyên, khiến người Trung Sơn vô cùng kinh hãi. Trung Sơn Vương lập tức điều động trọng binh, cố thủ ải Xi Chi, phòng người Triệu tiếp tục tiến về nam.
Nhưng Vũ Linh Vương lại không tiến về nam, mà thấy đủ thì dừng, một mặt kết tình giao hảo với người Yên, thông thương qua ải Tử Kinh, một mặt tìm chỗ lập quan ải tại thung lũng sông Đường Thuỷ, tra xét nghiêm ngặt người Trung Sơn qua lại, đồng thời đặt quan lại cai trị ấp Lai Nguyên, gia cố tường thành, tích trữ quân nhu, điều mãnh tướng Ngưu Tán dẫn trọng binh tới trấn thủ.
Ngưu Tán dẫn đường, đưa Vũ Linh Vương, Phì Nghĩa đi thị sát một vòng, rồi quay về thủ phủ.
Vũ Linh Vương ngồi xuống chiếu chủ, khen ngợi việc phòng ngự của Ngưu Tán vài câu, đoạn quay sang Phì Nghĩa hỏi: “Nghe nói, đất này vốn là quê cũ của tổ tiên khanh, sau mới bị người Trung Sơn chiếm cứ, có đúng vậy không?”
“Than ôi,” Phì Nghĩa thở dài, “chuyện cũ nhắc đến thêm buồn!”
“Hãy nói đi, quả nhân muốn biết rõ!”
“Từ thời Thương Thang, họ Phì thần đã sinh sống ở giữa lòng rặng núi này, trồng trọt săn bắn, khi thiên hạ thanh bình, thì qua lại giao thương theo bốn ngả đường; khi thiên hạ loạn lạc, thì giữ chặt cửa ải, tự thành một cõi. Cho tới ba trăm năm trước, người Bạch Địch bị người Tấn bức bách, phải chạy về đông lánh nạn, mượn đường của tiên tổ. Tiên tổ thấy họ đang cơn nguy khốn, mới cho mượn đường, nào ngờ Bạch Địch vong ơn bội nghĩa, nhân lúc mượn đường, không những khách đoạt ngôi chủ, mà còn bày độc kế, bắt giữ tiên tổ, xua đuổi toàn bộ người trong tộc ra khỏi Tỉnh Hình, sống tạp cư cùng một gia tộc khác, tức họ Bành, còn họ chiếm cứ bảo địa này. Tiên tổ của thần không đủ sức đánh lại Bạch Địch, đành phải nhẫn nhịn nuốt nhục. Qua một trăm năm, người Tấn đánh về phía đông, người Bạch Địch mượn tay người Tấn, huỷ diệt từ đường của hai họ Bành và Phì. Song người Tấn cũng không tha cho Bạch Địch, chiếm luôn cả hai thành Trung Nhân, Tả Nhân của chúng. Lúc này, người Bạch Địch mới tỉnh ngộ, nhân lúc người Tấn nội chiến, bèn đánh đuổi người Tấn đi, lập nên nước Trung Sơn, tiếp tục duy trì cho tới ngày nay!” Phì Nghĩa kể đến đây thì im lặng, hiển nhiên không muốn nói nhiều về những ngày tháng đau buồn của dòng tộc.
“Xem ra,” Vũ Linh Vương lấy làm cảm khái, “có được đất này, sẽ có được thế bất bại; để mất đất này, sẽ bại trong tay kẻ khác.” Quay sang Ngưu Tán, “Ngưu tướng quân, quả nhân có được thế bất bại hay không, trông cậy cả vào khanh!”
“Mạt tướng dù gan óc lầy đất, cũng thề cùng sống chết với đất này!” Ngưu Tán nắm chặt tay quyền mà nói.
“Hôm trước, trên đồng cỏ,” Vũ Linh Vương nhìn về phía xa xăm, “thiếu niên Nhạc Nghị có nhắc tới một chuyện, đã nói trúng tâm tư của quả nhân. Nay quả nhân muốn bàn cùng hai vị, muốn thử nghe cao kiến thế nào.”
“Hẳn là chuyện mặc áo Hồ rèn kỵ xạ?” Phì Nghĩa hỏi.
“Chính phải.” Vũ Linh Vương nói tiếp, “Nhạc Nghị nói rất đúng, kỵ xạ không phải là kỹ nghệ mới mẻ, người Hồ đều đã thành thạo. Nhạc Nghị đưa ra kế sách, không cần bí mật luyện tập kỵ xạ ở thảo nguyên núi cao này, mà cứ cờ giong trống mở, khắp cả nước đều mặc theo lối Hồ mà rèn tập kỵ xạ. Quả nhân đã suy nghĩ mấy hôm liền, càng nghĩ càng cảm thấy kỳ diệu, càng nghĩ càng không ngủ được.”
“Dám hỏi đại vương, là sao lại không ngủ được?” Phì Nghĩa lại hỏi.
“Vì thế tục.” Vũ Linh Vương sắc mặt ưu tư, “người xưa có câu, kẻ có công lao hơn đời, ắt phải chịu tiếng không theo thế tục; kẻ có kiến giải độc đáo, ắt khiến người đời oán thán.^[Trích trong phần Triệu sách, Chiến Quốc sách.] Nếu quả nhân khiến người Triệu đều mặc áo Hồ, tập kỵ xạ, không biết người Triệu sẽ nói thế nào đây?”
“Đại vương,” Phì Nghĩa vòng tay đáp, “thần từng nghe, làm việc mà nghi ngại sẽ không thể thành công, hành động mà nghi ngại sẽ không có kết quả. Tự cổ chí kim, bậc chí đức không hùa cùng thế tục, người thành công không theo ý số đông. Năm xưa vua Thuấn nhảy múa trên đất của người Hữu Miêu, Vũ Đế loã thể trong nước của tộc Vô Y, đâu phải bởi họ phóng túng theo dục lạc, mà là nhập gia tuỳ tục trước, thi hành giáo hoá sau. Kẻ ngu si lơ mơ mù tịt đến tận khi việc đã xong rồi, còn bậc trí tuệ nhìn thấu suốt từ khi việc mới manh nha. Đại vương nếu đã muốn theo trang phục Hồ, thì cứ can đảm mà làm, còn có gì phải nghi ngại nữa?”
“Than ôi,” Vũ Linh Vương thở dài, “quả nhân đâu phải e ngại chuyện mặc áo Hồ, mà là e ngại bị người thiên hạ cười chê. Vẫn có câu, niềm vui của kẻ cuồng là nỗi buồn của kẻ trí; tiếng cười của kẻ ngốc là nỗi đau của người hiền. Nếu người trong nước có thể thuận theo lời quả nhân, đều mặc áo Hồ, vậy thì với Triệu, lợi ích từ đó thực không kể xiết!” Đoạn nắm chặt tay quyền, “giả sử có ngày đó thực, người Triệu dùng thuật kỵ xạ, thu phục đất Hồ mênh mông phương bắc, trừ bỏ mối hoạ tâm phúc Trung Sơn, dù người thiên hạ có chê cười quả nhân thế nào, quả nhân cũng há phải hối tiếc?”
Vũ Linh Vương đã quyết ý thực thi kế sách lâu dài, trong lòng phấn chấn, rời khỏi Lai Nguyên, men theo thung lũng sông Lai Thuỷ tiến về phía đông bắc, qua ải Tử Kinh, tiến vào nước Yên.
Suốt dọc đường, Vũ Linh Vương quan sát kỹ lưỡng đường sá thành trì, tập tục dân tình các nơi. Đương nhiên, Vũ Linh Vương không hề mạo hiểm, bởi bất luận ở Yên hay Trung Sơn, cung Triệu sớm đã bố trí mạng lưới gián điệp rộng khắp, nhất cử nhất động của Vũ Linh Vương, đều được mạng lưới này bảo vệ nghiêm ngặt.
Vào giờ Ngọ hôm nay, Vũ Linh Vương trong trang phục thương nhân người Hồ quận Đại nước Triệu đã tới hạ đô Vũ Dương của nước Yên. Vũ Dương nằm ở bờ bắc của Bắc Dịch Thuỷ, phía nam kiểm soát Dịch Thuỷ, phía tây chế ngự đường Tử Kinh, phía đông nam nhìn sang Tề, xứng đáng là vùng đất biên thành không thể mất ở phía nam nước Yên.
Vũ Linh Vương lần đầu tới thành ấp này, quyết định lưu lại vài ngày để nghiên cứu kỹ lưỡng về toà thành biên cương Yên quốc mà mình vẫn luôn canh cánh bên lòng.
Do được Lai Thuỷ, hai dòng Dịch Thuỷ cùng các nhánh sông hạ du bồi đắp lâu đời, mà các ấp quanh thành Vũ Dương đều đất đai bằng phẳng, màu mỡ phì nhiêu, người Yên còn đào kênh dẫn nước từ thượng lưu Dịch Thuỷ về tưới tiêu, nên thóc lúa hoa màu nơi đây bất chấp hạn hán hay lũ lụt vẫn bội thu quanh năm, tươi tốt bời bời, nhất là những cánh đồng lúa mạch trải dài bát ngát, vàng óng một vùng, nhìn thôi cũng đủ no mắt.
Dịch quán sớm đã sắp xếp sẵn sàng. Vũ Linh Vương vừa tới nơi, chẳng kịp nghỉ ngơi, đã kéo ngay Phì Nghĩa ra phố dạo quanh, thăm dò tình hình buôn bán.
Lúc trời nhập nhoạng, một cỗ xe nhẹ lao băng băng tới dịch quán của Vũ Linh Vương, một người ăn bận theo lối thương nhân đưa ra ám hiệu, được dẫn vào trong phòng của Vũ Linh Vương.
Đây chính là Tất Đán, gián điệp của Triệu ẩn tại Kế Thành. Tất Đán vốn là môn khách của Phụng Dương Quân, được Phụng Dương Quân sắp xếp ở Kế Thành, sau khi Phụng Dương Quân chết, bèn chuyển sang đầu quân cho An Dương Quân. Đến lúc Vũ Linh Vương kế vị, được An Dương Quân tiến cử, hắn được thăng chức hạ đại phu, vẫn tiềm phục ở nước Yên.
Tất Đán quỳ xuống dập đầu, rồi đưa tay vào áo trong lấy ra một cái túi, hai tay trình lên.
Vũ Linh Vương mở túi, lấy ra một mảnh lụa dài, trải lên mặt án, thấy bên trên viết dày đặc những chữ, phải đến hàng nghìn.
Vũ Linh Vương chăm chú đọc, đôi mày thoạt tiên chau tít, tiếp đến từ từ giãn ra, cho đến lúc đọc xong, mặt mũi lại tươi tinh hẳn, gấp gọn mảnh lụa như cũ, cẩn thận cất vào trong túi, đoạn nhìn thẳng vào Tất Đán, giơ túi lên hỏi: “Những điều viết trong đây, hẳn đều là thật?”
“Thần không dám nói bậy nửa lời!” Tất Đán lại dập đầu, khẽ giọng bẩm báo, “mấy năm lại đây, thần đã cài hơn hai chục người vào khắp trong ngoài cung Yên, những điều viết trong đây, đều là do họ tận mắt nhìn thấy, hoặc là tin đồn trong cung, không có lấy một lời hư giả!”
“Cung Yên có kịch hay rồi đây!” Vũ Linh Vương quay sang Phì Nghĩa, “thưởng cho Tất Đán và chúng dũng sĩ ba mươi dật vàng!”
Đúng như mật báo của gián điệp, màn kịch hay của cung Yên đã được mở màn từ khi Tử Khoái kế vị, vai chính là Tử Chi.
Dịch Vương băng hà, Tử Khoái nghiễm nhiên nối ngôi, triều thần nước Yên tuy có nghi hoặc, nhưng cũng không nói được gì. Tử Khoái thình lình tức vị, chưa kịp chuẩn bị, mọi việc trọng đại trong triều chính đều không có chủ ý, nhất nhất nghe theo Tử Chi.
Để có được ngày hôm nay, Tử Chi đã chuẩn bị rất lâu rồi, bởi vậy, việc Tử Khoái kế vị và đại lễ của tiên vương, Tử Chi đều sắp đặt gọn gàng chu đáo, triều thần không thể nhìn ra chút sơ suất nào. Những triều thần một mực trung thành với Dịch Vương, hoặc bị âm thầm trừ khử, hoặc bị kiểm soát gắt gao, không thể khuấy động nổi chút sóng gió.
Cung đình nước Yên bình lặng vượt qua biến cố.
Tuy nhiên, chỉ làm một quyền thần hiển nhiên không phải là tham vọng của Tử Chi. Trong huyết quản của Tử Chi cũng đang chảy dòng máu của Yên Hoàn Công, tham vọng có lớn cũng là dễ hiểu.
Sau khi thâu tóm đại quyền trong tay, Tử Chi liên tục hạ ba nước cờ. Thứ nhất, sắp xếp môn nhân của mình vào các chức vị quan trọng trong triều; thứ hai, cho Lộc Mao Thọ làm mai, kết thông gia với Tô môn, gả con gái trưởng cho con trai trưởng của Tô Đại, tâu lên Yên Vương phong Tô Đại làm khách khanh, cùng Lộc Mao Thọ hưởng bổng lộc thượng đại phu; thứ ba, chỉnh đốn quan viên địa phương, sắp đặt bộ tướng trung thành với mình trấn giữ các thành ấp và cửa ải trọng yếu của nước Yên, hình thành nên vây cánh của riêng mình.
Dần dà, tân vương Cơ Khoái đã quen với ngôi vị, bắt đầu bắt tay vào việc triều chính theo cách của mình, cũng là hạ ba nước cờ. Thứ nhất, phong con trai trưởng Cơ Bình làm thái tử; thứ hai, cất nhắc các cựu thần của tiên quân Văn Công đã bị Dịch Vương cách chức hoặc không trọng dụng, trong đó gồm cả Chử Mẫn; thứ ba, sai sứ sang Tề, nối lại quan hệ bang giao.
Cơ Bình đã mười tám tuổi, chín chắn đĩnh đạc, ngay sau hôm được lập làm thái tử, đã trình lên phụ vương một bản danh sách bổ nhiệm, bắt đầu cất nhắc người của mình. Đám cựu thần của Văn Công do Chử Mẫn cầm đầu cũng đều ủng hộ thái tử. Chẳng bao lâu sau, ngoài phe Tử Chi, trong triều ngoài nội nước Yên lại hình thành thêm một phe cánh nữa, chính là phe của thái tử.
Tử Chi không thể ngồi yên được nữa.
Tử Chi xưa nay nổi tiếng là người thận trọng kín đáo, tính cách ôn hoà, sống giản dị thanh bạch, hoàn toàn trái ngược với bề ngoài lưng hổ eo gấu, hàm én mày tằm.
Tuy nhiên, đó chỉ là trước khi trở thành tướng quốc nước Yên.
Giờ thì đã khác. Đại quyền đã nắm trong tay, Tử Chi không còn thận trọng kín đáo nữa, hành sự trở nên cao ngạo phô trương. Trước tiên, Tử Chi rời khỏi gian nhà cỏ từng được Tô Tần và Tử Khoái hết lời khen ngợi, chuyển tới phủ trạch nguy nga ở Kế Thành, mà độ xa hoa rộng lớn chỉ xếp sau vương cung mà thôi. Tiếp đến là chiêu hiền nạp sĩ rộng rãi, gần như hôm nào cũng bày tiệc đãi khách, môn khách tới nương nhờ trong phủ đông tới vài trăm, phàm những ai trò chuyện thấy hợp, đều được giao cho trọng trách. Thanh niên hiền tài của đất Yên, ngoại trừ số ít đầu quân cho thái tử, còn phần lớn đều tìm về dưới trướng Tử Chi.
Môn khách đông rồi, cung cách của Tử Chi cũng dần trở nên ngạo mạn. Bất kể là đi đâu, xung quanh Tử Chi cũng tiền hô hậu ủng, như thể muốn khoe cho thiên hạ biết, ta đây mới là chủ nhân của Kế Thành.
Đương nhiên, trong khi giao thiệp với đám môn khách này, Tử Chi cũng có nhiều tiểu xảo.
Hôm đó, đang ngồi đàm luận cùng khách, Tử Chi bất chợt giơ tay chỉ ra ngoài cửa, kinh ngạc kêu lên: “Chẳng phải có con ngựa trắng vừa đi ra khỏi cửa?”
Đường đường ở giữa phòng khách của phủ tướng quốc, làm sao có thể có ngựa trắng ra vào?
Các môn khách không biết phải đối đáp thế nào, đưa mắt nhìn nhau.
Một môn khách chạy ra ngoài, tìm quanh một vòng, quay vào bẩm báo: “Đúng là có một con ngựa trắng vừa đi ra ngoài, tiểu nhân hỏi thăm vài người, họ đều nói là có nhìn thấy. Lạ thật, ngựa trắng nhà ai mà lại tới nơi này?”
“Hay là long mã xuất hiện?” Một môn khách khác nghe ra ẩn ý, lập tức hùa theo.
“Phải đấy, phải đấy, hẳn là long mã!” Cả đám môn khách đều đua nhau gật gù.
Tử Chi phá lên cười lớn: “Chắc tại ta hoa mắt đấy thôi.”
Đám môn khách nghe vậy, thảy đều sượng sùng, nhất là kẻ lúc nãy chạy ra ngoài hỏi thăm, lúc này chỉ biết đứng cười giả lả như tự giễu mình.
“Tới giờ rồi, bày tiệc!” Tử Chi lấy làm hài lòng, liếc hắn một cái, quay sang quản gia hạ lệnh.
Quân gia sai người bày tiệc, không khí lại nhanh chóng trở nên sôi nổi. Sơn hào hải vị tựa như một làn gió, phút chốc đã thổi bay cơn sượng sùng ban nãy.
Tử Chi cùng đám môn khách đang lúc tiệc tùng cao hứng, thì thượng khanh nước Yên Lộc Mao Thọ tới. Là môn khách đầu tiên của Tử Chi, vị thế của Lộc Mao Thọ giờ đây khiến chúng môn khách thèm thuồng rỏ dãi, cũng kính trọng vô cùng, thấy Lộc Mao Thọ tới, bèn đua nhau đứng dậy kính rượu.
Nhưng Lộc Mao Thọ tới đây, không phải để uống rượu.
Lộc Mao Thọ tiến lại gần Tử Chi, ghé tai thì thầm vài câu.
“Thái tử sai sứ sang Tề cầu hôn?” Tử Chi sửng sốt, “không nghe đại vương nhắc đến chuyện này!”
“Đại vương cũng vừa mới tiết lộ với thần,” Lộc Mao Thọ hạ giọng, “qua cách nói, chắc chắn không phải đại vương nhất thời nghĩ ra. Dạo này, thái tử ngày nào cũng ở lì trong cung, thần cứ nghĩ thái tử lại muốn cất nhắc người nào, hoá ra là vì chuyện này!”
“Người Tề chính là ác mộng của nước Yên!” Tử Chi nghiến răng trèo trẹo.
“Biết làm sao được?” Lộc Mao Thọ nói, Tề Vương là cậu của đại vương, để thái tử nhận người thân, về tình về lý, đều là thoả đáng!”
“Ngươi hãy chuyển lời với đại vương, cứ nói là ý của ta, rằng thái tử tuổi còn non trẻ, nên để Tô khanh đi cùng! Tề Vương tin tưởng nhất là Tô Tần, song Tô Tần hiện đang mang bệnh, để em trai hắn hộ tống thái tử là thích hợp nhất.” Tử Chi trầm ngâm một lát, rồi căn dặn Lộc Mao Thọ.
“Thần xin đi ngay.”
Tử Chi quay sang một môn khách ở bên cạnh: Tới phủ khách khanh, có lời mời Tô đại nhân!”
Nghe nói sẽ được hộ tống thái tử sang Tề cầu hôn, Tô Đại vừa hào hứng vừa lo lắng. Hào hứng, bởi từ lúc rời Chu sang Yên, theo Tô Tần học thuật tung hoành đến nay, trước sau đã gần mười năm khổ học, cuối cùng cũng đã có đất dụng võ; còn lo lắng, là bởi lần đầu đi sứ, lại là đi sứ sang Tề, mà nước Tề đâu phải tầm thường, không chỉ là láng giềng đáng gờm của nước Yên, mà còn từng đánh cho đại quốc Ngụy, Tần đại bại, nếu bất cẩn làm hỏng việc, đời này của hắn coi như chấm dứt, bao nhiêu cực khổ gần chục năm qua cũng sẽ đổ sông đổ bể.
Tuy nhiên, Tô Đại lại không hề để lộ những tâm tư này, chỉ nhắm mắt ngồi nghiêm trang, ra bộ thâm trầm. Hắn ghi nhớ nằm lòng một câu Tô Tần từng nói, mấu chốt của thuật tung hoành, chính là ở chỗ lúc nào mở miệng và lúc nào ngậm miệng. Nếu chưa nghĩ thông, tốt nhất chớ nên mở miệng.
Tử Chi sốt sắng: “Việc này, nhất định phải nhờ ông mới được, những người khác đều không thể!”
“Về việc đi sứ lần này, tướng quốc hẳn có lời chỉ giáo?” Tô Đại lên tiếng.
Đúng vậy, hắn cần phải biết được Tử Chi muốn gì.
“Chỉ giáo gì kia?” Tử Chi đáp, “ông tới nước Tề, cứ bám sát Cơ Bình là được! À phải, nếu gặp Tề Vương, xin thay mặt tại hạ hỏi thăm một tiếng. Chuyện trước kia, chính là chuyện mười thành, bảo Tề Vương cứ an tâm.”
“Nếu Tề Vương không chịu gặp thái tử thì sao?” Tô Đại hỏi.
“Ồ…” Tử Chi ngẫm nghĩ một chốc, “nếu là như vậy, ông có thể tìm gặp Thuần Vu Tử. Người này thông minh mưu trí, mê rượu, mê tiền, mê đàn bà, năm xưa tới Yên, tiên quân đối đãi rất trọng hậu, tại hạ cũng từng mời rượu vài lần, còn đích thân đưa ông ta lên Yên Sơn nghỉ mát. Nghe nói giờ đây, ông ta đang làm tế tửu trong Tắc cung, ông cứ mang thêm chút tiền, để cầu ông ta nói giúp!”
“Tại hạ sẽ lấy danh nghĩa tướng quốc ư?” Tô Đại đưa mắt dò hỏi.
“Hãy lấy danh nghĩa của lệnh huynh Tô Tần.”
Buổi chầu hôm sau, Yên Vương Khoái quả nhiên hạ lệnh cho khách khanh Tô Đại hộ tống thái tử sang Tề cầu thân, nhiệm Viên Báo làm thị vệ. Đoàn sứ Yên đi đường thuận lợi, chưa đến một ngày đã tới Lâm Truy, vào nghỉ ở trạm dịch liệt quốc, trình quốc thư cầu thân lên cung Tề.
Tề Vương nhận được quốc thư, lại không triệu kiến.
Thái tử chờ liền ba ngày, vẫn không được vào yết kiến, lấy làm lo lắng, bèn gọi Tô Đại đến bàn.
Tô Đại bắt chước giống hệt điệu bộ của Tô Tần, nhắm mắt hồi lâu, đoạn đứng dậy, đi thẳng tới Tắc cung, lấy thân phận em trai Tô Tần, trình lên bái thiếp, cầu kiến tế tửu Thuần Vu Khôn.
Một lát sau, Thuần Vu Khôn lắc lư đầu trọc ra đón.
Tô Đại vái thật sâu, bắt chước ngữ khí của Tô Tần: “Tại hạ Tô Đại, em trai Tô Tần người Lạc Dương, khấu kiến tiền bối Thuần Vu Tử đại nhân!”
Thuần Vu Khôn phá lên cười lớn, lúc lắc đầu trọc cất giọng chế giễu: “Này em trai Tô Tần người Lạc Dương, gọi tiền bối thì được, gọi đại nhân thì sai rồi, lão trọc này không dám nhận. Ông là sứ giả nước Yên, là khách khanh do tân vương nước Yên mới phong, theo lý thì trọc này nên gọi ông là đại nhân mới phải!”
Vừa mới mở miệng đã bị bắt bẻ, Tô Đại trong lòng bối rối, vội vã vòng tay: “Tiền bối chỉ giáo rất phải!”
Nghe hắn đối đáp như vậy, Thuần Vu Khôn hết sức ngỡ ngàng. Người thiên hạ ai cũng biết Thuần Vu Khôn là người thích bông đùa, Tô Đại tự xưng là em trai Tô Tần, mà Tô Tần với Thuần Vu Khôn cũng coi là bạn bè thân thiết, Thuần Vu Khôn nói ra lời này, vốn là trêu chọc, nào ngờ đối phương không hiểu ý, lại nghiêm túc nhận sai.
Thuần Vu Khôn hiểu rằng người này không hợp nói đùa, săm soi Tô Đại một chốc, đoạn khẽ cười vài tiếng, lịch thiệp mà nói: “Sứ Yên đại nhân, chỗ này gió lớn, mời vào hàn xá!”
Hai người vào trong khách đường, vừa ngồi yên chỗ, Thuần Vu Khôn thu thần ngồi nghiêm trang, đoạn đi thẳng vào chuyện chính: “Sứ Yên đại nhân không quản nghìn dặm xa xôi, từ Yên sang Tề, bận rộn trăm công nghìn việc mà vẫn hạ cố tìm tới hàn xá, hẳn có việc cần dùng đến Khôn này?”
“Trăm công nghìn việc thì không dám!” Tô Đại trong lòng căng thẳng, vừa nói vài từ, đã thấy không thoả đáng, lại càng tâm tư rối loạn, vội vã vận khí ngưng thần, gắng gượng khiến mình bình tĩnh lại, rồi đọc ra một lèo những lời đã nghĩ sẵn trên suốt dọc đường tới Tề, “có kẻ bán ngựa tốt, đứng ở chợ suốt ba ngày liền, chẳng ai biết đó là tuấn mã. Kẻ bán ngựa tới gặp Bá Nhạc, mà giãi bày rằng: Tại hạ có con tuấn mã, nay muốn mang bán, đứng ngoài chợ đã ba ngày, mà không ai biết đó là tuấn mã. Tại hạ thỉnh cầu ngài tới xem giúp. Ngài chỉ cần đến nhìn một cái rồi đi, đi rồi lại ngoảnh đầu nhìn cái nữa. Tại hạ nguyện trả ngài thù lao một ngày để báo đáp. Bá Nhạc nhận lời, tới chỗ con ngựa ngắm nhìn một chốc rồi đi, đi vài bước lại ngoảnh nhìn cái nữa, song không nói gì. Bá Nhạc vừa đi khỏi, người ta liền xúm xít lại tranh nhau đòi mua ngựa, giá tiền tăng vọt gấp mười. Hôm nay vãn sinh đi sứ sang Tề, muốn dùng tuấn mã yết kiến Tề Vương. Song vãn sinh lần đầu sang Tề, lạ nước lạ cái, tới Tề đã ba ngày, mà không một ai nhìn đến. Dám hỏi tiền bối, có thể làm Bá Nhạc cho vãn sinh chăng? Để tạ ơn này, vãn sinh xin tặng tiền bối một cặp ngọc bích trắng, chút ít vàng ròng, mong tiền bối không chê!” Lời vừa dứt, bèn quay ra ngoài cửa vỗ tay.
Nghe tiếng vỗ tay, hai kẻ tuỳ tùng đang đứng ngoài cửa lập tức khiêng vào một rương nặng trịch.
Tô Đại mở nắp rương, cho Thuần Vu Khôn xem.
Trong rương xếp kín những thỏi vàng sáng rực. Giữa những thỏi vàng là một chiếc hộp, không nghi ngờ gì nữa, đựng trong hộp đó chắc chắn là “cặp ngọc bích trắng”.
“Chà chà,” nhìn vào trong rương, Thuần Vu Khôn xuýt xoa vài tiếng thật phô trương, “Khôn này bị giam chân trong Tắc Hạ, lâu lắm rồi không nhìn thấy nhiều vàng đến vậy. Chà chà, quả là hàng tốt!” Ngẩng đầu, nhìn sang Tô Đại, “tuấn mã ở đâu?”
“Ô dịch quán”.
“Hẳn là thái tử nước Yên?”
“Thái tử nước Yên Cơ Bình, gọi Tề Vương đương triều là ông cậu.”
Thuần Vu Khôn khẽ cười vài tiếng, lại nhìn chiếc rương: “Có rương vàng này, Khôn sẽ nhận lời. Sứ Yên hãy quay về trước, chăm sóc tốt cho tuấn mã. Sáng sớm ngày mai, hãy dẫn ngựa vào cung!”
“Cảm tạ tiền bối, vãn bối xin cáo từ!” Tô Đại vòng tay từ biệt.
Thuần Vu Khôn tiễn ra tới cửa, vòng tay khen ngợi: “Này kẻ bán ngựa, nhìn vào cách nói năng của anh khi nãy, quả không thua kém lệnh huynh!”
“Tạ ơn tiền bối khen ngợi!” Tô Đại như mở cờ trong bụng, lại vái chào lần nữa.
Vào lúc Tô Đại cầu kiến Thuần Vu Khôn, Tề Tuyên Vương cũng đang bàn chuyện nước Yên cùng tướng quốc Điền Anh.
Đất Hà Gián không chỉ tôm ngon cá béo, mà còn liền kề kinh đô Lâm Truy, xứng danh là bình phong phía bắc của kinh đô nước Tề, cũng là vùng đất hoãn xung giữa hai nước lớn Yên, Triệu, các đời Tề Vương đều muốn chiếm lấy nơi đây, để có thể kê cao gối ngủ. Vài năm trước, Uy Vương hao tổn bao nhiêu công sức mới giành được mười ấp, lại vì vài câu nói của Tô Tần mà hoàn trả toàn bộ.
Chuyện này, Tuyên Vương vẫn ghi nhớ nằm lòng.
Dịch Vương đột ngột băng hà, cháu ngoại Tử Khoái chấp chính, đối với Tuyên Vương, vừa là chuyện tốt, lại vừa không phải chuyện tốt. Nói là chuyện tốt, bởi vì Tử Khoái thân Tề, Tề Yên trước mắt hẳn sẽ không có giao tranh; nói không phải chuyện tốt, bởi vì là cậu, Tề thất lại không tiện tranh giành Hà Gián. Lúc này, Tử Khoái lại sai thái tử tới cầu hôn, Tuyên Vương thực không biết phải làm sao. Nếu như triệu kiến, việc tiếp theo càng không dễ xử trí; nếu không triệu kiến, thì thể diện biết để vào đâu.
Trì hoãn suốt ba ngày, Tuyên Vương vẫn không nghĩ ra được cách nào hay, bèn vời Điền Anh vào bàn bạc.
Nhìn vào sắc mặt, Điền Anh hẳn đã có mưu.
Quả nhiên là vậy.
“Dám hỏi đại vương,” Tuyên Vương vừa nói ra điều nan giải, Điền Anh đã lập tức hỏi một câu trúng ngay cốt tuỷ, “là muốn nước Yên được đại trị, hay là muốn nước Yên sinh nội loạn?”
“Ồ…” Tuyên Vương chép miệng mấy cái, “quả nhân chẳng muốn gì cả, chỉ muốn thu hồi mười ấp Hà Gián!”
“Vậy thì, chính là muốn Yên loạn.” Điền Anh tủm tỉm cười.
“Tử Khoái thành thực khiêm nhường, Tử Chi vụ thực chín chắn, nước Yên làm sao có thể loạn được? Bên ngoài có thể diện của ông cậu, bên trong có khúc xương cứng Tử Chi,” Tuyên Vương khẽ thở dài, “than ôi, đời này của quả nhân, mười ấp Hà Gián e là không đòi lại được!”
“Điều thần nhìn thấy, lại khác với điều đại vương nhìn thấy!” Điền Anh lại mỉm cười, “Tử Khoái quá nhu, quá nhu thì bất lực; Tử Chi quá cương, quá cương thì dễ gãy.”
“Một cương một nhu, chẳng phải bổ trợ lẫn nhau ư?” Tuyên Vương không hiểu.
“Đúng là cương nhu bổ trợ,” Điền Anh đưa ra lời giải, “nhưng nếu lại có thêm một cương khác nữa!”
“Một cương khác nữa?” Tuyên Vương ngơ ngác.
“Người này đang ở Lâm Truy!”
Ý khanh là, sứ Yên!”
“Chính phải, sứ Yên Cơ Bình, đích trưởng tử của Yên Vương, gọi đại vương là ông cậu.”
“Kẻ này cương thế nào?” Tuyên Vương lấy làm phấn chấn, ngả người lại hỏi.
“Đại vương hãy xem!” Điền Anh lấy ra một mật hàm, hai tay trình lên, “là do mật thám của thần từ cung Yên gửi về, Kế Đô nước Yên đang rất náo nhiệt!”
Tuyên Vương đọc xong, khép mắt ngẫm nghĩ, hồi lâu sau, mở mắt nhìn sang Điền Anh: “Tướng quốc hẳn có diệu kế ứng phó?”
“Diệu kế thì không có, nhưng, thần có một đối sách!” Điền Anh mỉm cười, đưa ra sách lược, “cung Yên hiện nay, sớm tối lên triều, cháu ngoại của đại vương ngồi ở giữa, bên trái là người của tướng quốc, bên phải là người của thái tử. Ở giữa bất lực, trái phải tranh giành, ngược lại thành ra cân bằng. Đối sách của thần là, đại vương hãy phá vỡ cục diện cân bằng này, sau đó ngồi xem cung Yên diễn kịch hay.”
“Phá vỡ thế nào?” Tuyên Vương nôn nóng hỏi.
“Nhiệt tình tiếp đãi cháu ngoại, giữ lại Lâm Truy, phàm là điều hắn muốn, đại vương cứ chấp thuận hết!”
“Vậy còn Tô Đại đi cùng hắn thì sao?”
“Để cho hắn về, báo tin cho Tử Chi! Theo như thần biết, Tô Đại đã kết thông gia với Tử Chi. Tử Chi nếu biết đại vương nguyện làm chỗ dựa cho thái tử, sẽ có phản ứng ra sao?”
Tuyên Vương đang định trả lời, bỗng có cung nhân bước vào bẩm báo: “Tế tửu học cung Thuần Vu tiên sinh cầu kiến!”
“Ồ, lão trọc tới rồi!” Tuyên Vương mừng rỡ, đứng lên, kéo Điền Anh dậy, “đi, theo quả nhân ra đón!”
Hai người ra ngoài nghênh đón, hành lễ xong xuôi, Tuyên Vương cười nói: “Quả là tâm ý tương thông. Tích Cương lâu rồi không gặp tiên sinh, đang định mời tiên sinh tới thưởng rượu, nào ngờ tiên sinh đã tới rồi.”
“Nghe nói đại vương mê ngựa, trọc này tới đây, là muốn giới thiệu một con!” Thuần Vu Khôn lắc lư đầu trọc mà nói.
“Là thiên lý mã ư?” Tuyên Vương phấn chấn ra mặt.
“Quý giá hơn cả thiên lý mã!”
“Ồ!” Tuyên Vương càng thêm hưng phấn, “tiên sinh nói mau, ngựa quý ở đâu?”
“Sáng sớm ngày mai, đại vương chỉ việc chờ trong chính điện, sẽ thấy được ngay!” Thuần Vu Khôn đáp.
“Ồ…” Tuyên Vương nhìn sang Điền Anh, thấy ông ta cũng đang sửng sốt, bèn hạ giọng hỏi, “tiên sinh định dắt ngựa vào giữa triều đường ư?”
“Phải, triều đường xuất hiện ngựa báu, há chẳng phải chuyện hay ư?”
“Ồ…” Tuyên Vương lắc đầu, “triều đường không phải nơi để xem ngựa, việc này nếu đồn ra ngoài, để sử quan ghi chép lại, thì quả nhân đây…” Lại lắc đầu quầy quậy.
“Thì đại vương sẽ lưu danh sử sách, há chẳng phải càng hay?” Thuần Vu Khôn vẫn lắc lư mà nói.
“Không được, không được,” Tuyên Vương luôn miệng phản đối, xua tay lia lịa, “việc này dứt khoát không được!”
“Đại vương,” Thuần Vu Khôn tiến lại gần một bước, hạ giọng, “ngựa báu nhường này, nếu để vuột mất, e rằng…” Khe khẽ lắc đầu.
“Tiên sinh,” Tuyên Vương đã bị Thuần Vu Khôn mê hoặc, “ngựa báu mà tiên sinh nói, rốt cuộc là…” Đưa mắt dò hỏi.
“Thiên kim mã!” Thuần Vu Khôn thủng thẳng đáp.
“Thiên kim mã?” Tuyên Vương ngạc nhiên, hai mắt nheo lại, “là được làm bằng ngàn vàng sao?”
“Không phải, không phải!”
“Không phải làm bằng ngàn vàng, mà lại gọi là thiên kim mã, còn muốn dắt vào triều đường…” Tuyên Vương vừa lẩm bẩm, vừa vắt óc suy nghĩ hồi lâu, rồi lắc đầu, nhìn thẳng vào Thuần Vu Khôn, “tiên sinh, hãy nói thẳng ra đi, cớ sao lại gọi là thiên kim mã? Là bởi đáng giá ngàn vàng ư?”
“Cộng thêm một cặp ngọc bích trắng tuyệt luân!”
“Gì kia?” Tuyên Vương trợn mắt, lại càng mơ hồ không hiểu.
Thuần Vu Khôn phá lên cười lớn, đoạn chỉ vào trong điện: “Đại vương chẳng phải muốn mời trọc này uống rượu ư? Vậy rượu ở đâu?”
Tuyên Vương kéo tay Thuần Vu Khôn, quay sang nội thần: “Truyền chỉ, bày rượu!”
Sáng sớm hôm sau, thiên kim mã mà Tuyên Vương đang chờ đợi trong chính điện cung Tề không phải ai khác, chính là thái tử nước Yên Cơ Bình.
Nhờ được Thuần Vu Khôn cổ vũ, Tô Đại không còn căng thẳng nữa, ứng đối giữa triều đường cũng khá trôi chảy. Tuyên Vương lấy làm phấn khởi, kéo Cơ Bình lại ân cần hỏi han, hàn huyên tới trưa, còn giữ lại hậu cung dùng ngự thiện, rồi sai vài vị công tử hộ tống đi thăm thú kinh thành, đến tối còn giữ lại ngủ trong cung, tiếp đãi trọng hậu đúng như thân thích thượng quý.
Ba ngày sau, thái tử sai Tô Đại quay về Yên phục mệnh, nói rằng mình sẽ ở lại nhà ông cậu thêm vài bữa nữa.
Tô Đại về tới Kế Thành, chưa vội vào vương cung ngay, mà tới phủ tướng trước, kể lại vắn tắt về chuyến đi sứ sang Tề.
Tử Chi nghe xong, đôi mày chau tít, hồi lâu mới thốt ra một câu: “Không về càng hay!” Im lặng một chốc, nhìn sang Tô Đại, “thông gia hẳn đã biết, nên tâu lên đại vương thế nào?”
Tô Đại nghe ra ẩn ý, hỏi lại: “Tướng quốc có điều gì muốn tại hạ trình tấu?”
“Than ôi,” Tử Chi thở dài, “cũng không có chuyện gì, chỉ có điều…than ôi!”
“Thông gia có khúc mắc gì khó nói ư?” Tô Đại đổi cách xưng hô.
“Không giấu thông gia,” Tử Chi lại thở dài, sắc mặt rầu rĩ, “ông hẳn cũng biết, đại vương đã ngồi lên ngôi báu như thế nào?”
“Ồ…” Tô Đại nhìn xoáy vào Tử Chi, “tiên vương băng hà, đại vương thân là thái tử, đương nhiên sẽ kế thừa ngôi báu!”
“Thông gia có điều không biết,” Tử Chi nói thẳng, “lúc đó, nếu không có tại hạ, đại vương không những không thể ngồi lên vương vị, mà e rằng đến mạng sống cũng khó bảo toàn!”
“Ồ?” Tô Đại sửng sốt.
“Không giấu thông gia,” Tử Chi nói tiếp, “trong cung Yên, người tiên vương không ưa nhất chính là đại vương đương triều. Nhưng đại vương lại là cháu ngoại của Tổ Vương, lại được lệnh huynh Tô tướng quốc hết lòng giúp rập, tiên vương không làm gì được, song cũng không muốn thấy mặt, nên mới đẩy tới tận Tạo Dương phương bắc. Tiên vương mấy lần muốn đổi thái tử, đều bị lệnh huynh ngăn trở. Lệnh huynh thân là tung ước trưởng, nắm quyền sáu nước, tiên vương không dám không nghe. Tại hạ thân là cựu thần của tiên quân Văn Công, lại thân thiết với đại vương đương triều, đương nhiên cũng bị tiên vương hết sức đề phòng. Tiên vương không những tước bỏ mọi binh quyền của tại hạ, mà còn theo dõi nhất cử nhất động, không cho phép tại hạ qua lại với đại vương…”
“Những chuyện này, tại hạ có biết.”
“Phải,” Tử Chi tiếp lời, “chuyện thông gia biết không hề ít, song có chuyện thông gia không biết, chính là tiên vương nhân lúc lệnh huynh vắng mặt, lại một lần nữa tin lời sứ Tần, toan phế thái tử, lập con trai của gái Tần, chính là công tử Chức. Lúc đó, tình thế cực kỳ nguy cấp, tiên vương đã soạn sẵn chiếu thư phế lập. Lệnh huynh hay tin, cấp tốc quay về Kế Đô, một lần nữa thuyết phục tiên vương. Nghe tin lệnh huynh về tới, sứ Tần bèn lẳng lặng bỏ đi. Không còn sứ Tần bên cạnh thúc ép, tiên vương chấp thuận mọi việc, không những lập tức xé bỏ chiếu thư phế lập, mà còn triệu hồi đại vương từ Tạo Dương trở về, lại lập làm thái tử. Lệnh huynh cho rằng chuyện đã ổn thoả, bèn lên đường tới Hàm Đan. Nào ngờ lệnh huynh vừa đi khỏi, sứ Tần lại thình lình quay về cung Yên. Đêm đó, tiên vương đột ngột băng hà, tại hạ dám chắc, tiên vương đã chết dưới tay gái Tần và sứ Tần kia. Người Tần sau khi mưu hại tiên vương, lại không tìm thấy chiếu thư phế lập, bởi chiếu thư trước đó là do tiên vương sai Lộc Mao Thọ soạn, nên người Tần đành phải gọi Lộc đại nhân vào cung. Lộc đại nhân vờ nhận lời, nói rằng có giữ bản gốc, muốn về nhà tìm lại, sau đó âm thầm báo cho tại hạ biết. Tại hạ vô cùng kinh hãi, mới giết chết tai mắt canh chừng, tìm gặp tướng quân Thị Bị, tập hợp thân hữu, phá mở cổng Tây, bắt sống sứ Tần và vương hậu, mời thái tử lại, đưa lên ngai vàng!”
“Chao ôi!” Tô Đại sửng sốt đến há hốc miệng, “tội giết vua, đáng tru di cửu tộc, cớ sao không trừng trị họ?”
“Trừng trị thế nào?” Tử Chi đáp, “vương hậu là trưởng nữ của đương kim Tần Vương, công tử Chức là cháu ngoại của đương kim Tần Vương, sứ Tần là em trai của đương kim Tần Vương, nếu đem xử tội, nước Yên sẽ kết oán với người Tần. Vì chuyện này, tại hạ cùng lệnh huynh Tô Tử
đã bàn bạc rất lâu, rồi mới tâu lên đại vương, không những không thể trị tội, mà còn phải phóng thích họ. Còn về tiên vương, người chết không thể sống lại, chỉ có thể hậu táng mà thôi. Nói gì thì nói, mọi tội nghiệt đều do tiên vương gây ra, âu cũng là gieo nhân nào gặp quả ấy!”
“Đúng vậy!” Tô Đại nhìn sang Tử Chi, quay về chuyện chính, “vậy ý thông gia muốn nói…”
“Việc trong cung, hẳn thông gia cũng thấy rõ rồi. Ngôi vị của đại vương nay đã vững chãi, tướng quốc này có cũng được mà không có cũng không sao, thông gia nói xem, như vậy có đáng buồn lòng hay không? Không giấu gì ông, mấy ngày nay, tại hạ chỉ muốn vứt bỏ gánh nặng này, quay về nhà cỏ!”
“Ồ…” Tô Đại lấy làm khó hiểu, “theo như tại hạ thấy, đại vương vẫn nhất nhất nghe theo lời tướng quốc, chứ đâu có…” Ngập ngừng dừng lại.
“Đó chỉ là bề ngoài, thực chất lại khác!” Tử Chi phẫn hận, “sớm tối lên triều, ông hẳn cũng nhìn thấy đấy, dãy bên này là của tại hạ, dãy bên kia là của thái tử. Tại hạ tiến cử vài người, thái tử cũng lập tức tiến cử vài người. Thái tử có dụng ý gì? Lẽ nào chẳng phải khó chịu với chức tướng quốc của tại hạ ư? Tại hạ với đại vương là vua tôi, thái tử với đại vương là cha con! Nước Yên sớm muộn cũng là của thái tử, nay thái tử hiềm khích tại hạ đến vậy, tới lúc lên ngôi, chẳng phải sẽ băm tại hạ thành vụn cám?”
“Vậy theo ý tướng quốc, tại hạ nên phục mệnh thế nào với đại vương?” Tô Đại lại quay về chuyện chính.
“Thông gia hãy nghĩ cách tâu bày, để đại vương biết được chuyện này. Đã dùng người thì chớ nghi ngờ, đã nghi ngờ thì chớ có dùng. Đại vương nếu không tin tại hạ, tại hạ sẵn sàng phong ấn ra đi. Đại vương nếu tin tại hạ, thì chớ sinh lòng nghi kỵ. Tại hạ lao tâm khổ tứ là vì ai? Chẳng phải là vì cha con đại vương đó sao?”
Tô Đại nhắm mắt ngẫm nghĩ một chốc rồi nói: “Ý của thông gia, tại hạ hiểu rồi!”
Hôm sau, Tô Đại vào cung phục mệnh, kể lại chi tiết chuyện đi sứ cầu hôn, đặc biệt là chuyện Tề Vương nhận cháu ngoại thế nào, khoản đãi thịnh tình ra sao, còn giữ lại trong cung nhiều ngày, nên mới sai Tô Đại về phục mệnh trước.
“Hay lắm, hay lắm!” Yên Vương phấn khởi ngợi khen, vòng tay hướng về phía Lâm Truy, “cậu ta không ghi thù cũ, chịu nhận Tử Bình, thực là phúc của người Yên!”
“Dám hỏi đại vương,” Tô Đại tiếp lời, “nước Tề là nước Tề, nước Yên là nước Yên, cớ sao đại vương lại nói Tề Vương chịu nhận thái tử là phúc của người Yên?”
“Tô khanh có điều không biết,” Yên Vương nhìn sang, lấy làm cảm khái, “hai nước Tề, Yên, vì đất Hà Gián mà nhiều lần tranh chấp. Hà Gián tuy lũ lụt thất thường, cũng không phải vùng lúa gạo, song có cửa sông Hà Thuỷ đổ ra biển làm bình phong, với Tề hay Yên, đều là có lợi. Hà Thuỷ đến đây chia làm ba nhánh, người Yên chiếm Bắc Hà Thuỷ, người Tề chiếm Nam Hà Thuỷ, còn nhánh ở giữa, chính là ranh giới giữa hai nước.”
“Nếu đã phân chia ranh giới, hà cớ gì còn tranh chấp?” Tô Đại không hiểu.
“Nói ra dài lắm.” Yên Vương giảng giải, “bởi nhánh Hà Thuỷ ở giữa thường lũ lụt đổi dòng, năm nay chảy bên đây, sang năm lại xối sang bên kia, mỗi năm một khác. Vậy nên ranh giới Hà Gián thành ra khó định. Chính vì ranh giới bất định, mà vào mùa cá béo tôm ngon, dân vùng biên cương hai nước thường xung đột trong khi đánh bắt, thậm chí còn động đến binh tốt. May sao tiên tổ Văn Công và tiên Tề Vương đều là người hiểu lẽ, tiên tổ sai người mai mối cầu thân, hỏi cưới ái nữ của tiên Tề Vương cho tiên phụ, chính là mẫu phi của quả nhân. Sau đó, tiên tổ Văn Công nghe theo thuyết hợp tung của Tô Tần, tới Mạnh Tân hội minh cùng sáu vị quân vương, tiên vương trong triều nhất thời hồ đồ, tin lời sứ Tần, phế bỏ mẫu phi, âm thầm cưới gái Tần. Ngoại công Tề Vương mới nổi giận, phái Điền Kỵ tập kích chiếm lấy mười ấp Hà Gián. Cả nước Yên chấn động, tiên tổ bất đắc dĩ, chỉ biết lệnh cho tướng quân Tử Chi dẫn quân kháng cự. Sau đó tiên tổ băng hà, tiên vương kế vị, chính thức phế bỏ mẫu phi, lập gái Tần làm hậu. Tề Vương giận càng thêm giận, sai Điền Kỵ khởi binh đánh tới Kế Thành. Mắt thấy nội bộ tung thân sắp gây nội chiến, Tô Tần cùng quả nhân vội tới Lâm Truy, thuyết phục ông ngoại hãy coi đại cục hợp tung làm trọng, trả lại mười ấp cho Yên. Ông ngoại chấp thuận, song buộc tiên vương phải lập ngay quả nhân làm thái tử. May sao tiên vương nhận lời, ân oán này mới tạm thời hoà hoãn. Nay tiên vương đã băng hà, quả nhân kế vị, phái Tô khanh hộ tống thái tử sang Tề cầu hôn. Cậu ta đã nhận Tử Bình, khiến hai nước từ đây vứt bỏ binh đao, há chẳng phải là phúc của người Yên ư?”
“Thì ra là vậy,” Tô Đại như đã hiểu ra, “nghe lời đại vương, thì người Yên quả là sợ hãi người Tề.”
“Than ôi,” Yên Vương khẽ thở dài, “không phải người Yên sợ người Tề, mà là không thể không sợ. Đất Tề trù phú, người Tề đông đúc, năm đô nước Tề quyền thuật nức tiếng thiên hạ, đánh bại cả hai nước lớn Ngụy, Tần, đích xác là nước lớn thế mạnh!”
“Chuyến này đến Lâm Truy, thần lại không cho là vậy!” Tô Đại khẽ cười mà đáp.
“Ồ?” Yên Vương nhìn sang dò hỏi.
“Nước lớn mạnh, không phải ở dân mà ở vua; quân lớn mạnh, không phải ở lính mà ở tướng; vua lớn mạnh, không phải ở uy mà ở đức.” Tô Đại dõng dạc.
“Khanh nói phải!” Yên Vương nghe lọt tai, nhìn thẳng vào Tô Đại, “là Tề Vương không đủ đức hạnh ư?”
“Đức của vua, là ở thu phục lòng bề tôi. Muốn thu phục lòng bề tôi, thì phải tin tưởng bề tôi. Nước Ngụy thời Văn Hầu, trị dân thì tin Lý Khôi, trị quân thì tin Ngô Khởi, mới có võ binh Đại Ngụy, mới khiến nước Ngụy lớn mạnh. Nước Tề thời Uy Công, trị dân thì tin Trâu Kỵ, trị quân thì tin Điền Kỵ, mới có quyền thuật nước Tề, mới khiến nước Tề lớn mạnh. Nước Tần thời Hiếu Công, trị dân thì tin Thương Ưởng, trị quân thì tin Tư Mã Thác, mới có chiến thắng Hà Tây. Quyền thuật nước Tề thắng được Bàng Quyên nước Ngụy, là do tiên Tề Công tin dùng Tôn Tẫn; quyền thuật nước Tề lại thắng người Tần, là do đương kim Tề Vương tin dùng Khuông Chương.” Tô Đại câu nào cũng xoáy sâu vào một chữ “tín”.
“Nghe lời khanh nói, lẽ nào cậu ta không tin bề tôi của mình?”
“Chính phải.” Tô Đại nói vào chuyện chính, “Khuông Chương lập đại công với Tề, nhưng lại không được phong thưởng xứng đáng. Người Tần bị đánh đuổi, nhưng Khuông Chương lại không được trọng dụng. Vì sao kia? Tề Vương nghe lời gièm pha, nói Khuông Chương là người bất trung bất hiếu, nên không tín nhiệm Khuông Chương. Trâu Kỵ có công lớn với nội trị nước Tề, song Tề Vương đương triều lại bỏ không dùng, mà dùng Điền Anh. Tuy nhiệm Điền Anh làm tướng, song vẫn không tin Điền Anh, chuyện bổ nhiệm miễn nhiệm triều thần, hay quyết sách trọng đại, đều không nghe Điền Anh. Điền Anh danh là tướng quốc, song lại chẳng có thực quyền, một bầu uất ức, một hôm quá chén, đã dốc bầu tầm sự với thần, thần mới biết Tề Vương không tin thần tử. Vua không tin bề tôi, bề tôi hoang mang lo lắng, lỡ xảy ra chuyện, ắt không dám tận lực. Bề tôi không tận lực, hành sự ắt bại.”
Yên Vương bàng hoàng chấn động.
“Thần cho rằng,” Tô Đại nói tiếp, Yên bất tất phải sợ Tề, bởi đức của đại vương hơn hẳn đương kim Tề Vương. Tướng quân Tử Chi ngoài có thể cầm quân ngự địch, trong có thể trị chính an dân, xứng danh là bậc đại tài, rất được đại vương tín nhiệm. Nếu như đại vương có thể tin tưởng tướng quốc hơn nữa, thần cho rằng, Yên ắt đại trị, Yên không những không phải sợ Tề, mà Tề ngược lại phải sợ Yên.”
“Quả nhân trước nay vẫn nhất nhất nghe theo tướng quốc kia mà!” Yên Vương ngạc nhiên hỏi.
“Đại vương có tín nhiệm tướng quốc hay không, thần không dám đoán bừa. Có điều, tướng quốc từng uống rượu với thần, hẳn do quá chén, mà buột miệng nói ra lời say.”
“Lời gì kia?” Yên Vương nôn nóng hỏi.
“Đã dùng người thì chớ nghi ngờ, đã nghi ngờ thì chớ có dùng.”
Yên Vương khép mắt lại, ngẫm ngợi hồi lâu, đoạn nhìn sang Tô Đại: “Xin Tô khanh hãy chuyển lời tới tướng quốc, với tướng quốc, quả nhân không chút nghi ngờ, việc của nước Yên, đều nghe theo tướng quốc!”
“Nếu là vậy, quả là may mắn của nước Yên!” Tô Đại đứng dậy, “thần sẽ chuyển lời!”
Tô Đại cáo từ, tới phủ tướng quốc, hồi bẩm Tử Chi.
Nghe hắn kể xong, Tử Chi vòng tay lia lịa, tặng cho một trăm dật vàng.
Chỉ bằng mấy lời nhàn tênh mà được những trăm dật vàng, Tô Đại kinh ngạc khôn xiết. Lại nghĩ tới Thuần Vu Khôn chẳng qua chỉ là tiến cử một người, mà còn được nhiều vàng hơn thế, Tô Đại lại càng thêm xuýt xoa. Về tới phủ, Tô Đại đóng cửa không tiếp khách, hồi tưởng kỹ lưỡng về hành trình đi sứ sang Tề và chuyện thuyết phục Yên Vương, nghiền ngẫm ý vị, xem xét được mất, lại càng thêm phấn chấn dùi mài thuật mà Tô Tần truyền dạy.
Mấy ngày sau đó, Yên Vương Khoái càng thêm nể sợ Tử Chi, đối đãi hết mực cung kính. Phàm Tử Chi tấu gì, Yên Vương đều phê chuẩn. Phàm Tử Chi nói gì, Yên Vương đều nghe theo. Trên triều đường, một số quan viên vốn theo thái tử, giờ âm thầm qua lại với môn nhân của Tử Chi, đổi hướng sang phủ tướng.
Cùng lúc ấy, Tử Chi lại tấu lên một chuyện đại hỷ, hai bộ tộc lớn của người Hồ ở Sơn Nhung đất Bắc, mỗi bộ tộc dẫn theo hơn bốn vạn bộ thuộc quy phục Yên thất. Hai bộ tộc lớn này cai quản hơn ngàn dặm thảo nguyên đất Bắc, tặng cho Yên thất vô số bò cừu, gần chục vạn ngựa hay, khiến thế Yên bỗng chốc lớn mạnh thêm nhiều. Mặc dù sự quy phục này chỉ là trên danh nghĩa, mặc dù người hay bò cừu, ngựa tốt, vẫn nằm trong tay của người Hồ, song nước Yên nhờ đó mà mở rộng hơn ngàn dặm lãnh thổ, biên cương an ổn, thủ lĩnh người Hồ xưa nay thường quấy nhiễu biên cương giờ đã vào chầu cúi đầu xưng thần, quả là chuyện chưa từng có trong sử nước Yên. Khắp nước Yên hân hoan, Yên thất đương nhiên ghi công lao này cho Tử Chi, bởi thủ lĩnh của hai bộ tộc này, một là hai em trai của phu nhân Tử Chi, một là anh rể của phu nhân Tử Chi.
Có thêm đại công này, Tử Chi càng nức tiếng trong triều ngoài nội, Yên Vương lại càng thêm nể là hơn nữa.
“Mao Thọ,” Tử Chi đắc chí mãn nguyện, cho gọi Lộc Mao Thọ lại, bày bàn cờ trước mặt, tươi cười mà nói, “năm xưa khi Tô Tần ở đây, từng dạy bản công đánh cờ. Bản công thoạt tiên không buồn để mắt, nhưng đến sau này, càng ngẫm nghĩ lại càng thấy thú vị.”
“Dám hỏi chúa công, đã ngẫm nghĩ ra điều gì thú vị?” Lộc Mao Thọ nghe ra ẩn ý, bèn vòng tay hỏi.
“Là thú vị của thế gian,” Tử Chi chỉ vào bàn cờ, “ví như bàn cờ này, chính là thiên hạ.” Chỉ vào một góc, “đây là nước Yên.” Chỉ vào toàn bộ bàn cờ, “thiên hạ rộng lớn, bản công sức yếu, không bao quát được hết, chỉ có thể dốc sức vào một góc này. Tuy góc này không lớn, song cũng là ngang dọc thành đạo, thú vị vô cùng.”
“Thú vị thế nào kia?” Lộc Mao Thọ không hiểu.
“Hãy xem,” Tử Chi đưa tay vạch vẽ trên bàn cờ, “nếu chúng ta khiến góc này lớn lên, cho tới khi rộng bằng cả bàn cờ, mà mặc kệ mọi thứ khác, thì sẽ thế nào?”
Lộc Mao Thọ nhìn trân trân vào bàn cờ, mặt bàn trống trơn, không có lấy một quân nào.
“Đây là thiên nguyên,” Tử Chi nhặt lấy một quân trắng, đặt vào chính giữa bàn cờ, “ngồi trấn chính giữa, hùng thị tám phương!”
Nghe đến đây, Lộc Mao Thọ mới bừng tỉnh, bèn nhấc quân trắng ra, nhặt một quân đen, đặt xuống chỗ đó, nhìn sang Tử Chi: “Dám hỏi chúa công, điều thú vị ấy, hẳn là thế này?”
Tử Chi phá lên cười sảng khoái: “Đánh cờ không phải như vậy.” Đoạn bày quân lên bàn cờ, trước tiên bày bốn góc, tiếp đến là bốn cạnh, rồi mới tiến vào chính giữa, “cờ, phải hạ từng quân một, không thể nóng vội!”
“Thần cho rằng,” Lộc Mao Thọ nhìn xuống bàn cờ, “thế cờ đã vào giữa bàn, chúa công đã đến lúc hạ quân ở thiên nguyên!”
Tử Chi lấy ra một quân, đưa cho Lộc Mao Thọ: “Quân cờ này, nên để ngươi đi mới phải!”
“Thần tuân lệnh!” Lộc Mao Thọ khum hai bàn tay, đỡ lấy quân cờ, nhìn chằm chằm vào thiên nguyên, lát sau lại nhìn sang Tử Chi, “dám hỏi chúa công, muốn đi thế võ hay đi thế văn?”
“Thế võ là gì, thế văn là gì, hãy nói thử xem!”
“Thế võ là phỏng theo tiên vương…”
Thế thì sao được?” Tử Chi lập tức xua tay, “đại vương không phải là tiên vương, mà là thân bằng của bản công, không được hành động lỗ mãng!” Nhìn xoáy vào Lộc Mao Thọ, “hãy nói về thế văn!”
“Khiến đại vương tự rời ngôi vị, tự mời chúa công ngồi vào!
“Chuyện này cũng được ư?” Tử Chi kinh ngạc hỏi.
“Thần đã nghĩ ra một kế, có lẽ sẽ thành công!”
“Thú vị đây!” Tử Chi gật gù, chỉ vào quân cờ bên cạnh thiên nguyên, “đây là vị trí của bản công hiện tại, chờ việc lớn hoàn thành, chỗ này sẽ dành cho ông, thế nào?”
“Thần không dám mơ tưởng!” Lộc Mao Thọ vòng tay đáp.
“Trong thiên hạ ngày nay, không có việc gì không mơ tưởng được!” Tử Chi nhìn xoáy vào Lộc Mao Thọ, “trong mắt bản công, ông là đệ nhất tài tử nước Yên, có ông ngồi ở ngôi tướng, bản công mới thấy vững chãi!”
“Tạ ơn chúa công, à, không phải,” Lộc Mao Thọ đổi ngồi thành quỳ, dập đầu hô, “thần Mao Thọ khấu tạ đại vương hậu ái.”
“Mau đứng dậy,” Tử Chi phẩy tay, “đại sự chưa định, hãy cứ gọi chúa công đã!”
Ba ngày sau, Lộc Mao Thọ vào cung yết kiến, tấu báo về việc hai trăm thiếu niên người Hồ đất Bắc muốn tới học ở Tích Ưng, Kế Thành.
“Đại vương,” tấu báo xong, Lộc Mao Thọ chuyển sang chuyện chính, “hai trăm thiếu niên này đều là con em quý tộc người Hồ. Người Hồ vốn man dã, đại vương nếu có thể giáo hoá họ bằng đạo của thánh hiền, bằng đức của Nghiêu Thuấn, khiến họ thấm nhuần đạo của thánh hiền Trung Nguyên, thì quả thực công ở hiện tại, đức mãi nghìn thu!”
“Hay lắm, hay lắm!” Vừa nghe nhắc tới đạo thánh hiền, Yên Vương đã khen liền hai tiếng, vòng tay hướng lên trời, “mấy trăm năm qua, đất Yên chịu vô vàn khổ sở bởi người Hồ. Nay trời xanh linh thiêng, để người Hồ quy về giáo hoá, quả là phúc của người Yên!”
“Đại vương thánh minh!” Lộc Mao Thọ thuận đà nói tiếp, “thần đang nghĩ, nếu đại vương truyền thụ cho họ chữ của Thương Hiệt, nhạc của chuông trống, thơ sử Xuân Thu, sáu thuật ngự xạ, đạo của tiên hiền, đức của Nghiêu Thuấn, người Hồ ắt sẽ cảm động mà tiếp nhận, từ đó kính ngưỡng triều ta, vĩnh viễn quy thuận!”
“Tốt lắm!” Yên Vương lại khen ngợi, “vậy chuyện của người Hồ, khanh hãy bàn cùng tướng quốc, mọi chuyện đều do tướng quốc sắp đặt!”
“Hồi bẩm đại vương,” Lộc Mao Thọ đáp, “thần đã bẩm với tướng quốc, nhưng tướng quốc nói, chữ của Thương Hiệt, nhạc của chuông trống, thơ sử Xuân Thu, sáu thuật ngự xạ còn có thể dạy, nhưng đức của Nghiêu Thuấn, e là khó thực thi!”
“Ồ?” Yên Vương ngả người lại hỏi, “cớ sao lại khó?”
“Khó là ở chỗ, nếu như truyền thụ, e rằng người Hồ không những không tin, mà còn bảo chúng ta lừa gạt!”
“Ồ…” Yên Vương ngạc nhiên, “sao có thể như vậy được? Đạo của tiên thánh, đức của Nghiêu Thuấn, người dân Hoa Hạ ta nghìn năm nay vẫn tuân theo, trăm đời nay vẫn dựa vào, đạo của ngày nay, đều bắt nguồn từ đó, sao họ có thể không tin?”
“Ví như việc này,” Lộc Mao Thọ giảng giải, “đức của Nghiêu Thuấn, là ở nhường thiên hạ. Vua Nghiêu trước tiên nhường thiên hạ cho Hứa Do, Hứa Do bỏ trốn không nhận; lại nhường thiên hạ cho Tử Châu Chi Phụ, Chi Phụ cáo bệnh không nhận. Sau hay tin Thuấn là người hiền, bèn gả hai con gái cho Thuấn, quan sát thấy đức hạnh cao cả, bèn nhường thiên hạ cho Thuấn. Vua Thuấn không phụ kỳ vọng, khiến thiên hạ đại trị, về già lại không truyền ngôi cho con trai, mà nhường thiên hạ cho Đại Vũ. Đại vương, đức của Nghiêu Thuấn, đều đã xa xưa, từ nhà Hạ, Thương cho tới đời Chu, trước sau trải qua không biết bao đời, thần chỉ nghe nói tới cháu con bất hiếu giết vua soán ngôi, chứ chưa từng nghe còn bậc thánh nhân quân tử nào nhường ngôi vị nữa. Đức của Nghiêu Thuấn, chỉ còn là truyền thuyết, đến thần còn không tin, huống chi là người Hồ man dã!”
Nghe Lộc Mao Thọ nói vậy, Yên Vương cứng họng, ngắc ngứ hồi lâu không thốt nổi một lời.
“Lời này, thần cũng đã nói với tướng quốc, với hiền tài của tướng quốc, cũng chưa biết phải xử trí thế nào, nên muốn thần tới thỉnh giáo đại vương, nói rằng đại vương từ nhỏ đã đọc sách thánh hiền, am hiểu đức của Nghiêu Thuấn. Thần tuy ngu dốt, song từ lâu đã biết đại vương làu thông sử sách, thông tỏ lễ nhạc, học vấn uyên thâm, nên dám mong đại vương chỉ giáo cho ngu thần, khai thông bế tắc!” Lộc Mao Thọ nhân đà tiến tới.
“Ờ…” Yên Vương vò đầu bứt tai, ấp a ấp úng không thành câu, “quả nhân…”
“Đại vương,” Lộc Mao Thọ nhắm đúng thời cơ, đưa ra lời giải, “thần có một cách, hoặc giả có thể hoá giải được chuyện này.”
“Ồ?” Yên Vương vội vã nhìn sang.
“Trăm nghe không bằng một thấy, nói khéo không bằng làm thực.” Lộc Mao Thọ cố tình lấp lửng.
“Ý khanh là…” Yên Vương đưa mắt dò hỏi.
“Cách của thần là, đại vương có thể hành đại lễ nhường ngôi ngay trong cung Yên này. Xưa có Nghiêu Thuấn nhường thiên hạ, nay có đại vương nhường nước Yên, thứ nhất lập nên chuẩn tắc cho thiên hạ, khiến những kẻ giết vua soán ngôi phải hổ thẹn; thứ hai khiến đám hậu bội người Hồ tin tưởng đạo đức thánh hiền của Hoa Hạ ta đời đời bất diệt; thứ ba có thể làm sáng tỏ đức của đại vương. Đại vương làm việc của thánh nhân, sẽ có danh dự của thánh nhân, theo kịp Nghiêu Thuấn, mỹ danh của đại vương ắt sẽ lẫy lừng thiên hạ, sử quan thiên hạ cũng sẽ ca ngợi hết lời, khiến đại vương ghi danh sử sách, lưu thơm vạn cổ!” Lộc Mao Thọ thao thao một tràng, toàn là lời hay ý đẹp như thêu hoa dệt gấm.
“Chuyện lưu thơm vạn cổ, quả nhân không quan tâm, chỉ cần khiến người Hồ không ngờ vực thánh đức cao thượng của Hoa Hạ ta, thì cách của khanh, cũng có thể thử. Có điều, theo như ý khanh, quả nhân nên nhường lại nước Yên cho người nào mới phải?” Yên Vương nhìn sang Lộc Mao Thọ.
“Đương nhiên là nhường cho người hiền!” Lộc Mao Thọ dõng dạc đáp, “thiên hạ đều nói Hứa Do hiền, nên vua Nghiêu mới nhường ngôi; thiên hạ đều nói Tử Châu Chi Phụ hiền, nên vua Nghiêu mới nhường ngôi; có người nói Thuấn là người hiền, vua Nghiêu mới gả con gái cho để thử, thử rồi tin rồi, mới nhường thiên hạ cho. Vua Thuấn nhường thiên hạ cho Vũ, cũng theo lý đó.”
“Vậy theo khanh thấy, trong thiên hạ ngày nay, ai là người hiền?”
“Người hiền trong thiên hạ thì nhiều, song không hợp với đại vương. Đại vương không phải vua Nghiêu, chỉ có thể nhường nước Yên, không thể nhường thiên hạ. Đại vương nếu nhường nước Yên, thì chỉ có thể chọn người hiền đất Yên.” Lộc Mao Thọ nhìn thẳng vào Yên Vương, “thần to gan dám hỏi đại vương, theo như mắt nhìn của đại vương, ở đất Yên này, ai là người hiền?”
“Nếu bảo quả nhân quyết đoán, thì ở đất Yên này, người hiền đức có hai, một là Tô Tần, hai là Tử Chi!” Yên Vương đáp.
“Dám hỏi đại vương,” Lộc Mao Thọ lại tiếp, “nếu đại vương muốn phỏng theo thánh vương đời xưa, thì trong hai người hiền này, đại vương muốn nhường nước Yên cho người nào?”
“Tô Tần.” Yên Vương buột miệng đáp liền.
“Thần lại không cho là vậy.”
“Ồ?” Yên Vương nhìn sang dò hỏi.
“Dám hỏi đại vương, người muốn nhường thiên hạ, hay chỉ nhường nước Yên?” Lộc Mao Thọ khẽ nheo mắt.
“Quả nhân chỉ có thể nhường nước Yên mà thôi.”
“Thần cho rằng, đại vương nếu muốn nhường thiên hạ, thì nên nhường cho Tô Tần. Song nếu chỉ nhường nước Yên, e rằng Tô Tần lại không thích hợp!”
“Người trị được thiên hạ, là bậc đại tài, lẽ nào không trị nổi một nước?” Yên Vương không hiểu.
“Tô Tần tuy là hiền tài, song lại là thường dân nước Chu. Chu dùng lễ nhạc để định thiên hạ, mà lễ, nghĩa coi trọng khác biệt. Yên là đất Chu Vương ban phong cho Chu Công Thiệu, nên thuộc về đại vương, vậy mà đại vương lại nhường đất Yên cho thường dân nước khác, quý tộc Yên thất ắt không ủng hộ. Quý tộc không ủng hộ, đại vương dù có nhường ngôi cho Tô Tần, e rằng Tô Tần cũng không ngồi vững. Thần đã nói rõ, Nghiêu nhường thiên hạ, đương nhiên phải chọn hiền tài trong thiên hạ. Còn đại vương chỉ muốn nhường nước Yên, đương nhiên cần phải chọn hiền tài của nước Yên.”
Yên Vương nhắm mắt suy nghĩ.
Lộc Mao Thọ cũng khép mắt lại.
“Lộc khanh,” Yên Vương mở mắt gọi, “quả nhân muốn nói với khanh rằng, xưa nay quả nhân chẳng hề lưu luyến ngôi vị Yên Vương, sở dĩ ngồi vào đây, chỉ là vì nước Yên. Nếu có thể khiến nước Yên tốt đẹp hơn, nếu có thể khiến người Yên có phúc hơn, quả nhân nguyện nhường ngôi này cho Tử Chi. Về hiền của Tử Chi, tài của Tử Chi, quả nhân rất mực an tâm. Quả nhân chỉ có một mối băn khoăn, chính là người Yên liệu có chấp nhận Tử Chi. Nếu quả nhân nhường ngôi mà khiến nước Yên nội loạn, há chẳng phải…”
“Đại vương lo lắng rất phải.” Lộc Mao Thọ vòng tay nói, “có điều, theo như thần biết, đại vương nếu nhường ngôi thực, không những không khiến nước Yên nội loạn, mà còn khiến người Yên càng thêm kính phục, nguyên nhân không có gì khác, chính bởi Tử Chi không hề cướp ngôi, mà là được đại vương nhường vị. Đại vương không bị bức ép, mà là thành tâm nhường cho hiền tài. Thánh đức nhường này, quả là nghìn năm có một, người Yên kính nể còn chẳng hết, sao có thể gây loạn được? Vả lại, đại vương vẫn ở trong cung, vẫn ở nước Yên, cho dù có người không hiểu rõ chân tướng, đại vương đứng ra giải thích, ủng hộ tân vương, còn ai có thể nói gì được nữa?”
“Nói cũng phải.” Yên Vương lại nhắm mắt suy ngẫm.
“Đại vương, nhường ngôi, chính là thực thi thánh đức thiên cổ của Nghiêu Thuấn, là đại sự của nước Yên, cũng là đại sự của đại vương. Đã là đại sự, đại vương cớ sao không rộng đường ngôn luận, thử lắng nghe ý của người hiền? Ví như, Tô Tần chẳng hạn.”
“Nghe nói Tô Tần hiện đang đổ bệnh, phải dưỡng bệnh ở Hàm Đan.”
“Tô Tần không có mặt, nhưng còn em trai Tô Tần, Tô Đại. Nghe nói Tô Đại hiền tài không kém gì anh, lần này đi sứ sang Tề, người Tề đều thán phục, ngay cả tế tửu Tắc cung Thuần Vu Khôn cũng có lời ngợi khen.”
“Truyền Tô Đại!” Yên Vương Khoái quay sang nội thần ra lệnh.
Được triệu vào cung, nghe nói Yên Vương Khoái muốn nhường ngôi, Tô Đại bàng hoàng chấn động.
“Theo thần được biết,” Tô Đại vòng tay nói, “việc nhường ngôi, thánh hiền thượng cổ có làm. Nay đã khác xưa, thiên hạ là tư, không còn quân vương nào nhường nước nữa. Nay đại vương nhường ngôi, có lẽ sẽ thành gương mẫu cho thiên hạ. Có điều…” Ngập ngừng không dám nói tiếp.
“Tô khanh cứ nói!”
“Nghe ý của đại vương, thì việc nhường ngôi, không phải vì nhường hiền, mà thực chất là muốn làm gương cho người Hồ, để thu phục lòng người Hồ. Nếu là như vậy, theo thần thấy, đại vương có thể ngoài mặt nhường nhưng thực tế lại không nhường!”
“Thế nào là ngoài mặt nhường nhưng thực tế lại không nhường?”
“Tức là lúc lên triều, đại vương tuyên chiếu nhường nước cho tướng quốc Tử Chi. Với hiền đức của tướng quốc, ắt sẽ không chịu nhận. Đại vương lại nhường, tướng quốc lại không nhận. Đại vương năm lần bảy lượt nhường, tướng quốc năm lần bảy lượt từ chối. Lúc này, đại vương không cần phải nhường nữa. Người Hồ thấy đại vương năm lần bảy lượt nhường nước Yên, mà tướng quốc năm lần bảy lượt từ chối, ắt sẽ vô cùng chấn động, từ đó thành tâm quy phục. Như vậy, đại vương vừa có được danh của Nghiêu Thuấn, thánh đức truyền khắp thiên hạ, lại vừa giữ được nước Yên, đại vương vẫn là Yên Vương, Tử Chi vẫn là tướng quốc. Quân thánh thần hiền, khắp thiên hạ ca tụng, không chỉ giáo hoá được người Hồ, mà khắp xa gần đều theo nhau quy phục.”
“Không được.” Yên Vương lập tức xua tay, “nhường là nhường, không nhường là không nhường, há có chuyện chỉ giả nhường cho có?”
“Nếu đại vương nhường thật, thì đúng là thánh nhân thời nay!” Tô Đại đứng dậy, dập đầu nói.
Ba ngày sau, vào buổi đại triều cung Yên, hơn trăm triều thần đứng đầy trong chính điện, trong đó bất đồ có thêm vài triều thần người Hồ.
Yên Vương Khoái tuyên chiếu, hết lời ca ngợi sự hiền tài của tướng quốc Tử Chi, lại nói nay mình tuổi cao sức yếu, không đủ sức cáng đáng quốc sự, muốn nhường lại vương vị cho tướng quốc Tử Chi.
Yên Vương không chút chuẩn bị, thình lình tuyên bố nhường ngôi, khiến khắp triều đường ồn ào chấn động, triều thần kinh hãi nhìn nhau.
Quả đúng như lời Tô Đại, Tử Chi trước tiên giả bộ bàng hoàng, tiếp đến dập đầu bình bịch, khóc lớn thành tiếng: “Đại vương, dứt khoát không được, đại vương…”
Mấy người Hồ thoạt tiên chưa hiểu, ngơ ngác quay sang tả hữu hỏi han, đến khi biết rõ, thảy đều trợn mắt ngạc nhiên.
Yên Vương thực lòng nhượng vị, đứng lên, bước xuống ngai vàng, đỡ Tử Chi dậy, dắt lên ngai vàng.
Tử Chi đi được hai bước, lại quỳ sụp xuống, dập đầu lia lịa, khóc mà nói: “Đại vương hiền đức, sánh ngang Nghiêu Thuấn, Cơ Chi đức gì tài gì, mà được đại vương hậu ái nhường này? Ơn tri ngộ của đại vương, Cơ Chi đến chết không quên. Song còn việc này, Cơ Chi thực không dám nhận! Trời xanh ở trên, Cơ Chi thỉnh cầu đại vương hãy suy nghĩ lại!”
“Cơ Khoái đã suy nghĩ nhiều ngày, vì nước Yên, vì dân Yên, Cơ Khoái thành tâm nhường hiền, mong tướng quốc chớ từ chối nữa!” Yên Vương lại nâng Tử Chi dậy, dẫn lại ngai vàng.
Tử Chi hoang mang ngồi xuống.
Khắp triều đường nhốn nháo sục sôi, đám lão thần Chử Mẫn đến giờ mới hiểu đã xảy ra chuyện gì, đua nhau tấu thỉnh Yên Vương nghĩ lại. Ngay cả thượng tướng quân Thị Bị cũng lên tiếng can ngăn Yên Vương.
Yên Vương dứt khoát không nghe, kiên quyết nhường ngôi.
Chờ Tử Chi ngồi yên rồi, Vương Khoái tháo vương miện ngay giữa triều đường, đặt lên đầu Tử Chi. Đoạn cởi bỏ vương phục, đặt trước ngai vàng, tiếp đến ngọc tỉ các loại, tất cả đều giao hết cho Tử Chi. Xong rồi bước lại trước ngai vàng, dẫn đầu quỳ xuống, dập đầu hô: “Đại vương ở trên, xin nhận của Khoái này một lạy!”
Triều thần có mặt đều bật khóc, cùng quỳ xuống.
“Đại vương!” Tử Chi gỡ vương miện, đặt lên mặt án, bước xuống ngai vàng, đỡ Vương Khoái dậy. Nhưng Yên Vương nhất quyết không chịu đứng lên.
Tử Chi ngoảnh đi, nghẹn ngào hô lớn: “Truyền chỉ, bãi triều!”
Chưa đầy ba ngày sau khi cung Yên xảy ra sự biến, thái tử Cơ Bình đã biết chuyện.
“Ông cậu…” Cơ Bình chạy vào cung Tề, quỳ phục xuống dưới chân Tề Tuyên Vương khóc lóc.
Tuyên Vương hỏi rõ nguyên do, cấp tốc triệu kiến Điền Anh.
Thấy Điền Anh tới, Tuyên Vương chỉ ra ngoài cửa: “Cháu hãy sang bên cạnh chờ một lát, để quả nhân bàn kế cùng tướng quốc, rồi sẽ lại gọi cháu vào sau.”
Cơ Bình vâng lời, sụt sùi đi ra.
Tuyên Vương nhìn Điền Anh cười lớn: “Nhân khanh gieo xuống, đã kết quả rồi.”
“Là hồng phúc của đại vương!” Điền Anh vòng tay chúc mừng.
“Than ôi,” Tuyên Vương thu lại nụ cười, thở dài một tiếng, “Cơ Khoái kia thực khiến người ta không thể hiểu nổi. Quả nhân đã nghĩ cả vạn lần, mà vẫn không tưởng tượng nổi sao hắn lại ngu muội đến thế, tự dưng đi bắt chước Nghiêu Thuấn nỗi gì! Còn Tử Chi kia, đúng là quả nhân đã quá coi thường hắn!”
“Dám hỏi đại vương, ý chỉ thế nào?” Điền Anh vào ngay chuyện chính.
“Quả nhân đang định hỏi khanh đây!”
“Theo ngu ý của thần,” Điền Anh ngẫm nghĩ chốc lát, “đại vương cứ hứa hẹn với thái tử, để hắn cản phá việc này bằng mọi giá. Với bản tính của Cơ Khoái, đúng là hắn không muốn làm vua thực, nhưng thái tử thì khác. Mấy hôm nay, thần thường qua lại chỗ thái tử, kể từ lúc sinh ra, hắn đã nhận định nước Yên là của hắn. Không có nước Yên, hắn dứt khoát không chịu sống trên đời. Tử Chi qua mặt Tử Bình, là bởi vẫn coi hắn là trẻ nít!”
“Sau đó thì sao?” Tuyên Vương hỏi.
“Thái tử cần tiền, đại vương hãy cho tiền; thái tử cần thương đao, đại vương hãy cho thương đao; thái tử cần quân, đại vương hãy điều binh…”
“Điều binh?” Tuyên Vương không hiểu.
“Đại vương có thể đồn quân ở Hà Gián, để trợ thế cho thái tử, khống chế Tử Chi. Song trước mắt, đại vương vẫn chưa thể dẫn quân vào Yên. Thái tử có đại vương làm chỗ dựa, ắt sẽ quyết chiến với Tử Chi. Có thái tử đối đầu, trong triều ngoài nội nước Yên ắt loạn. Nước Yên nếu loạn, lòng dân sẽ hoang mang sợ hãi, lúc đó, đại vương chỉ cần thừa cơ hành sự, có thể thành tựu dễ dàng, chớ nói một đất Hà Gián, cho dù…” Điền Anh lời đầy ẩn ý.
“Cứ theo lời ái khanh!” Tuyên Vương không còn do dự nữa, lập tức sai nội thần cho gọi Cơ Bình vào, an ủi một hồi, rồi tặng cho ba trăm dật vàng, hứa hẹn xuất ba vạn binh, đồn trú tại Hà Gián, biên giới Tề Yên, trợ uy cho hắn.
Được ông cậu hết lòng trợ giúp, Cơ Bình ý khí sục sôi, dập đầu khóc lớn, rút kiếm chặt phăng ngón tay, chỉ trời thề độc mà rằng, không đoạt lại được nước Yên, thân mình cũng như ngón tay kia.