Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 39
Hương Nữ cứu chồng rời đất Sở
Tô Tần dùng kế khích Trương Nghi

❊ ❊ ❊

Trong chính điện Đông cung nước Sở, thái tử Hoè lo lắng đi đi lại lại. Ngận Thượng đứng ở một bên, khom lưng cúi đầu, hai con mắt xinh đẹp cứ nhìn chằm chằm vào gót chân thái tử Hoè, liếc qua liếc lại theo bước chân của thái tử.

Thái tử Hoè bước chậm dần, sau đó dừng hẳn, quay sang Ngận Thượng: “Bệ hạ đang giận dữ, ngươi bảo bản cung phải nói với bệ hạ thế nào đây?”

“Khởi bẩm điện hạ,” Ngận Thượng vẫn cúi thấp đầu, môi khẽ mấp máy, “bất kể nói thế nào, điện hạ cũng vẫn phải nói. Hiện giờ, có lẽ cũng chỉ mình điện hạ mới có thể nói được!”

“Tại sao bản cung nhất định phải nói?”

“Vì Chiêu Dương hãm hại Trương Tử, chỉ có thể có hai cách giải thích, hoặc là vô tri, hoặc là có ý đồ khác!”

Chiêu Dương rõ ràng không phải kẻ vô tri, thái tử Hoè không cần suy nghĩ thêm, nhìn thẳng vào Ngận Thượng: “Nói đi, ông ta có ý đồ gì khác?”

“Ngoài sáng là vì chức lệnh doãn, trong tối là thách thức điện hạ!” Ngận Thượng nhằm thẳng vào tử huyệt.

“Thách thức bản cung?” Thái tử Hoè bước lên một bước, nhìn xoáy vào Ngận Thượng.

“Đúng vậy!” Ngận Thượng hơi ngẩng đầu, nói chắc nịch. “Trương Tử là do điện hạ mời đến, Chiêu Dương trong lòng biết rõ, nhưng tính kế hãm hại, thần cho rằng đây chính là không coi điện hạ ra gì, công khai thách thức!”

“Tại sao hắn muốn thách thức bản cung?”

“Là vì gia tộc họ Chiêu. Tài của Trương Tử cao gấp mười mấy lần Chiêu Dương, điều này không cần vi thần phải nói. Điện hạ trước nay lại qua lại thân thiết với người họ Khuất, họ Cảnh, duy chỉ có hiềm khích với họ Chiêu. Chiêu Dương hiểu rõ điều này, nên đã xúi giục bệ hạ, đẩy Trương Tử đến nước Việt xa xôi. Cảnh Xá qua đời, chức lệnh doãn bỏ ngỏ, Chiêu Dương đang lúc đắc ý, đột nhiên lại nghe tin Trương Tử phụng chỉ của điện hạ trở về, ông ta sẽ nghĩ thế nào?”

Thái tử Hoè hít vào một hơi thật sâu.

“Điện hạ!” Ngận Thượng lại thao thao một hồi. “Chiêu Dương đã chắc mẩm giành được chức vị của Cảnh Xá, nhưng Trương Tử đột ngột chen ngang, lại là do điện hạ tiến cử, bảo Chiêu Dương làm sao có thể không khiếp sợ? Chiêu Dương biết rõ, lúc này nếu không ra tay trừ Trương Tử, đợi sau khi điện hạ kế ngôi, gia tộc họ Chiêu sẽ chẳng còn cơ hội ngẩng đầu, nên mới quyết một trận sống mái, liều mạng tranh đoạt!”

“Ái khanh nói rất có lý, có điều…” Thái tử Hoè lại bước thêm mấy bước, đôi mày nhíu chặt, “bản cung đã xem qua bản tố cáo, dường như không thể tìm ra sơ hở!”

“Đúng vậy! Nhìn trước nhìn sau, cạm bẫy này được bố trí hết sức chu toàn. Với tài của Chiêu Dương, tuyệt đối không thể nghĩ ra được!”

“Phải lắm! Phải lắm!” Thái tử Hoè liên tiếp gật đầu. “Cơ mưu thấu đáo như vậy, với tài của Chiêu Dương, không thể nghĩ ra. Ái khanh có biết là mưu của ai không?”

“Thượng khanh nước Tần Trần Chẩn!”

Thái tử Hoè vô cùng kinh ngạc, bất giác “ồ” lên một tiếng, hai mắt nhìn sững vào Ngận Thượng.

“Vi thần được biết,” Ngận Thượng chậm rãi nói, “kẻ này năm ngoái từ Tần sang Sính, sống rất gần phủ của Chiêu Dương. Vi thần còn biết, nàng vũ nữ da trắng mà Chiêu Dương dâng tặng cho bệ hạ chính là do Trần Chẩn đưa từ Tần đến. Trần Chẩn đã giấu ả trong phủ hai năm, lúc này lại đột nhiên dâng tặng, ý đồ quả thực đáng nghi!”

Thái tử Hoè tiếp tục đi đi lại lại một hồi, rồi chợt dừng bước hỏi: “Trần Chẩn và Trương Tử không quen biết nhau, không thù không oán, cớ sao lại muốn hãm hại Trương Tử?”

Ngận Thượng thoáng ngẩn người, rồi cúi đầu đáp: “Vi thần không biết! Tuy nhiên, theo vi thần đoán, Trương Tử là bậc đại tài, nếu được trọng dụng ở Sở, sẽ gây bất lợi cho Tần. Trần Chẩn có quan hệ thân thiết với Chiêu Dương, theo lý thì phải bày mưu cho Chiêu Dương. Đáng tiếc một bực đại tài nhường ấy, không quản đường xa ngàn dặm đến Sở, giúp Sở lập được kỳ công cái thế, mà lại bị người ta ám toán, chết không minh bạch, đúng là nỗi đau của nước Sở. Hơn nữa, sớm muộn cũng đến ngày bệ hạ băng hà, điện hạ lên nắm đại quyền, nếu bên cạnh không có Trương Tử bày mưu, há chẳng phải là điều đáng tiếc?”

Ngận Thượng lời lời như tên sắc, câu nào cũng đâm trúng tim gan thái tử Hoè.

Thái tử Hoè không do dự thêm nữa, chau tít đôi mày, ngẩng đầu hỏi: “Theo ý ái khanh, bản cung nên hành sự thế nào?”

“Thứ mà bệ hạ bị mất, chẳng qua chỉ là một viên ngọc bích. Trương Tử dùng sức một người mà chiếm được nước Việt xa xôi ngàn dặm, công lao này đã có thể đền bù. Điện hạ hãy khẩn cầu bệ hạ, cầu xin bệ hạ hãy niệm đến đại công của Trương Tử mà miễn cho Trương Tử tội chết. Chỉ cần Trương Tử giữ được mạng sống, nhất định sẽ còn có ngày mai. Nếu Trương Tử bỏ mạng oan uổng, tất cả sẽ chấm hết!”

Thái tử Hoè bước thêm vài bước, rồi khẽ nhướng mày: “Biết rồi! Khởi giá đến đài Chương Hoa!”

“Thần tuân chỉ!”

Ngận Thượng chuẩn bị xong xe kiệu, ra roi thúc ngựa, chở thái tử Hoè đến đài Chương Hoa, cầu kiến Uy Vương.

Uy Vương vẫn chưa hết thịnh nộ, song cơn giận đã nguôi vài phần, thái độ ôn hoà hơn hẳn hôm qua.

Thái tử Hoè vội bước lên trước bái lạy: “Nhi thần khấu kiến phụ vương!”

“Có phải con đến để cầu xin cho Trương Nghi?” Uy Vương lập tức chặn họng, lạnh nhạt hỏi luôn.

“Nhi thần không dám!” Thái tử Hoè lại bái lạy, đáp. “Nhi thần cho rằng, ngọc Hoà thị bích là bảo vật trấn cung của ta, Trương Nghi lại cả gan dám lấy trộm ngay trước mặt mọi người, tội này không thể dung thứ! Đây là vụ án trọng đại, liên quan đến trụ quốc Chiêu Dương và mấy chục vị khách quý, vi thần rất muốn đích thân điều tra, cầu xin phụ vương ân chuẩn!”

Uy Vương ngẫm nghĩ một lúc, rồi gật đầu nói: “Được! Con hãy thay quả nhân hỏi thử Trương Nghi, quả nhân đối xử với hắn không bạc, còn định uỷ thác trọng trách cho hắn, cớ sao hắn lại lấy oán trả ơn, làm ra việc tày đình như vậy?”

“Nhi thần tuân chỉ!”

Thái tử Hoè lĩnh ngự chỉ xong, liền vội vàng đi đến phủ tư bại, được biết Hạng Lôi đang ở trong nhà lao thẩm vấn Trương Nghi.

Hạng Lôi là cháu ruột đằng nhà mẹ đẻ của Giang Quân phu nhân, cũng chính là em họ của Chiêu Dương. Biết rõ đây là vụ án động trời, lại có liên quan đến Chiêu Dương, nên Hạng Lôi không dám lơ là, dùng khốc hình tra tấn, một lòng muốn ép Trương Nghi nhận tội, nói ra tung tích của ngọc Hoà thị bích. Hạng Lôi đã dùng đủ loại cực hình ghê gớm, song Trương Nghi bản tính quật cường, thà chết cũng nhất quyết không chịu nhận.

Trương Nghi nhiều lần đau đớn chết giấc, lại bị té nước lạnh cho tỉnh lại, tiếp tục dùng hình cụ khác tra tấn. Khi thái tử Hoè đến nơi, Trương Nghi lại vừa ngất lịm trên đài hành hình. Hạng Lôi ra lệnh ngừng hình, ngục tốt hắt liền mấy lần nước lạnh, nhưng Trương Nghi vẫn không tỉnh lại. Hạng Lôi kinh hãi, vội đưa ngón tay lên trước mũi Trương Nghi, thấy vẫn còn hơi thở, liền lệnh cho người khiêng xuống khỏi đài hành hình.

Đúng lúc này, thái tử Hoè dưới sự hộ tống của Ngận Thượng và vài người khác sải bước đi đến.

Hạng Lôi thấy thái tử đến, vội vàng quỳ xuống bái lạy: “Vi thần Hạng Lôi khấu kiến điện hạ! Vi thần không biết điện hạ giá lâm, không nghênh đón từ xa, xin điện hạ thứ tội!”

Thái tử Hoè liếc thấy Trương Nghi đang nằm thõng thượt trên nền đất tựa như xác chết, trong lòng thắt lại, sầm mặt hỏi: “Ngươi đánh chết hắn rồi ư?”

Hạng Lôi đáp: “Bẩm điện hạ, phạm nhân chỉ tạm thời hôn mê bất tỉnh!”

Thái tử Hoè thở phào: “Không chết thì tốt! Đã nhận tội chưa?”

Hạng Lôi lắc đầu: “Kẻ này cứng đầu, thà chết cũng không chịu nhận!”

Thái tử Hoè đưa mắt nhìn Trương Nghi: “Đã không chịu nhận, vậy hãy khiêng xuống. Chăm sóc cho tử tế, không được để hắn chết!”

“Vi thần tuân chỉ!” Hạng Lôi vâng lệnh, vội lệnh cho ngục tốt khiêng Trương Nghi xuống, truyền ngục y cấp cứu.

Thái tử Hoè bước tới trước đài thẩm vấn, ngồi xuống chiếu: “Mang khẩu cung tới!”

Hạng Lôi trình lên bản khẩu cung.

Thái tử Hoè xem qua một lượt, lại cầm lấy bản án, đọc kỹ một hồi, rồi quay sang Hạng Lôi: “Có bản phụ không?”

“Có!”

“Mang bản phụ ra!”

Hạng Lôi lấy bản phụ ra, Ngận Thượng bèn thu lấy.

Thái tử Hoè chậm rãi đứng dậy: “Hạng ái khanh, Trương Nghi tính tình cứng rắn, không thể mạnh tay bức ép. Chẳng may đánh chết hắn, không thu được lời khai, không tìm được ngọc quý, bệ hạ trách tội, thì khanh khó lòng gánh vác!”

Hạng Lôi khấu đầu đáp: “Vi thần tuân chỉ!”

Thái tử Hoè sắp xếp xong xuôi, không kịp hồi cung, lập tức cùng Ngận Thượng đi thẳng tới đài Chương Hoa cầu kiến Uy Vương, bẩm báo: “Phụ vương, nhi thần thẩm tra án này, cảm thấy có rất nhiều nghi vấn!”

“Ồ?” Uy Vương vội hỏi. “Có điểm nào đáng nghi?”

Thái tử Hoè đặt một tập bản án phụ và bản khẩu cung của Trương Nghi lên mặt bàn, rồi chậm rãi nói: “Phàm là kẻ trộm cắp, chắc chắn phải có tính toán từ trước. Đến kẻ trộm vặt cũng còn phải dò đường, huống chi là kẻ trộm lớn đến phủ trụ quốc lấy trộm thiên hạ chí bảo? Hãy nhìn Trương Nghi, hôm trước về phủ, hôm sau đã được mời đến phủ Chiêu Dương dự tiệc, trước đó không hề biết đến chuyện thưởng ngọc, căn bản không thể trù tính trước, đó là điều thứ nhất!” Rồi chỉ tay vào bản án. “Theo ghi chép trong bản án, Trương Nghi một thân một mình đi dự tiệc, không hề có trợ thủ. Lại theo lời kể của nô bộc trong phủ Trương Nghi, sau khi Trương Nghi trở về Sính Đô, luôn ở trong phủ, không hề ra ngoài, cũng có nghĩa là Trương Nghi không có cơ hội tìm trợ thủ, đó là điều thứ hai. Theo nhi thần được biết, Trương Nghi không phải là kẻ hám của. Hơn nữa, Trương Nghi được bệ hạ sủng ái, thân đã làm tới chức Cối Kê lệnh, tiền đồ ở Sở rộng mở thênh thang, sao lại phải vì một viên ngọc mà đánh mất tương lai gấm vóc, đây là điều thứ ba. Trương Nghi chịu đủ cực hình tàn khốc, người bình thường khó lòng chịu đựng, dù đã nhiều lần chết giấc, song thà chết vẫn không nhận tội, nếu không phải bị oan ức, mà là trộm cắp thông thường, tuyệt đối không thể nhẫn nhịn như vậy, đây là điều thứ tư. Trương Nghi một mực khẳng định đã giao ngọc cho một nữ tử áo tía, nhi thần cho rằng, đây chưa hẳn đã là lời vô căn cứ. Vừa tới lượt Trương Nghi thưởng ngọc, trong phủ đột nhiên xảy ra hoả hoạn, quan khách đều nhốn nháo chạy đi cứu hoả, lúc này có người đến đòi ngọc, trong tình hình đó, Trương Nghi đương nhiên khó lòng phân biệt thật giả, cứ ngỡ là vu nữ đến lấy ngọc. Theo nhi thần điều tra, tất cả tân khách có mặt tại hiện trường đều nói, sắc mặt của Trương Nghi lúc đó không giống là giả, đó là điều thứ năm. Có năm điều này, nhi thần cho rằng…”

Uy Vương chau mày, xua tay ngắt lời, trầm giọng hỏi: “Nói như vậy, là Chiêu Dương đã hãm hại Trương Nghi?”

Thái tử Hoè lắc đầu: “Nhi thần cho rằng, Chiêu Dương không cố tình hãm hại Trương Nghi!”

“Tại sao không cố tình?”

“Cũng có mấy nguyên nhân!” Thái tử Hoè tiếp tục phân tích. “Một là việc này liên quan đến tông miếu, thân là hậu duệ của họ Chiêu, Chiêu Dương tuyệt đối sẽ không dối trời hại người trong tông miếu, bôi tro trát trấu vào gia tộc họ Chiêu. Hai là Chiêu Dương là người chí hiếu, ngọc này lại là vật cầu phúc đuổi tà cho mẫu thân, Chiêu Dương cũng tuyệt đối không dám giở trò, huống chi hoả hoạn lại xảy ra ngay trong phòng của Giang Quân phu nhân, Chiêu Dương cho dù có rắp tâm, cũng không thể bất chấp an nguy của mẫu thân. Ba là trong số những tân khách có mặt tại hiện trường, không phải tất cả đều là người của họ Chiêu, còn có người của họ Hoàng, họ Hạng, họ Khuất, họ Cảnh. Nhi thần đã đọc những lời làm chứng của họ, hoàn toàn khớp với lời khai của Chiêu Dương, Trương Nghi…”

“Quả nhân hỏi con,” Uy Vương lại ngắt lời, “Trương Nghi đã không trộm ngọc, Chiêu Dương cũng không hãm hại, vậy ngọc này đã đi đâu? Lẽ nào đã mọc cánh mà bay?”

Thái tử Hoè trầm tư một lúc, rồi nói nhỏ: “Lúc nãy trở về, trên đường đi nhi thần cũng đã suy nghĩ về chuyện này. Nhi thần nghĩ, ngọc này đã không phải vật bình thường, liệu có khi nào…”

Uy Vương chột dạ, nhổm người về phía trước, hỏi dồn: “Ý con là…”

“Nhi thần đang nghĩ, nhà họ Chiêu tế ngọc, khắp phủ nghiêm cấm màu tía, tại sao lại xuất hiện một người áo tía? Lại thêm vụ hoả hoạn xảy ra cũng thật trùng hợp, tỳ nữ cả ngày phục dịch đốt nến, mà nến chưa từng bị đổ, song lại đổ vào đúng hôm đó. Nhi thần dựa theo những ghi chép trong bản án, xâu chuỗi toàn bộ quá trình trước sau, xin phụ vương hãy xem thử. Giang Quân phu nhân có bệnh, Chiêu Dương mượn ngọc, phụ vương ân chuẩn, thầy cúng tế ngọc, ba mươi sáu nam tử dương cương, Trương Nghi trở về Sính Đô, Chiêu Vương mời dự tiệc, đến gia miếu thưởng ngọc, hoả hoạn trong phòng Giang Quân phu nhân, Trương Nghi cầm ngọc, nữ tử áo tía từ trên trời rơi xuống… Tất cả những điều này, giống hệt như ông trời cố ý sắp đặt, tình tiết liền mạch, ăn khớp đến không một kẽ hở.”

Uy Vương ngả người ra sau, hít vào một hơi dài, nhắm mắt suy nghĩ một hồi, sau đó mở mắt ra hỏi: “Hoè Nhi, nghe con nói vậy, lẽ nào là ông trời đã lấy mất ngọc này?”

Thái tử Hoè gật đầu liên hồi: “Nhi thần cho rằng, ngọc này từ sau khi vào đài Chương Hoa, hơn trăm năm nay chưa từng ra khỏi cửa cung nửa bước. Lần này mất tích, có lẽ là ý trời.”

Uy Vương suy nghĩ một lúc, chậm rãi gật đầu: “Ừm, con nói vậy cũng có lý, quả nhân không nên để ngọc xuất cung. Hôm đó cứ như bị trúng tà, Chiêu Dương vừa hỏi mượn, quả nhân lập tức đồng ý!” Dừng lại một lát, hỏi tiếp. “Theo ý con, quả nhân phải xử lý Trương Nghi thế nào?”

“Nhi thần cho rằng, chứng cứ của phía tư bại hoàn toàn xác thực, phía Trương Nghi lại giải thích không rõ ràng, sự việc đã gây chấn động, không thể không xử lý. Tuy nhiên, phụ vương trước nay thưởng phạt rõ ràng, đừng nói là Trương Nghi có thể bị hàm oan, cho dù hắn thực sự đánh cắp ngọc báu, cũng không thể bỏ qua đại công cái thế mà hắn đã lập cho nước Sở. Ngọc này cho dù giá trị liên thành, cũng không thể sánh được với vài ngàn dặm đất Việt. Trương Nghi thân là khách khanh, lại bôn ba hơn vạn dặm, trợ giúp ta một đòn diệt Việt, hoá giải khối ung nhọt lớn trong lòng, tại sao phụ vương không lấy công bù tội, miễn cho tội chết, đồng thời bố cáo thiên hạ, cho thấy sự thưởng phạt công tâm của phụ vương!”

Uy Vương lại trầm ngâm suy nghĩ một hồi, rồi gật đầu nói: “Con nói rất đúng, hãy làm theo như vậy! Con hãy nói với Trương Nghi, hắn muốn đi đâu thì đi, quả nhân và hắn một qua một lại, không ai nợ ai!”

Thái tử Hoè trong lòng kinh hãi, miệng mấp máy mấy cái, vốn định biện giải, nhưng sau cùng chỉ nói: “Nhi thần lĩnh chỉ!”

Một chiếc xe kiệu đỗ xịch trước cửa hình ngục.

Ngận Thượng liếc nhìn Hương Nữ, nói khẽ: “Tẩu phu nhân, chính là chỗ này!”

Hương Nữ bước xuống xe, đang định đi vào trong cổng, liền bị mấy giáp sĩ câm kích chặn lại. Ngận Thượng chạy tới, chìa cho họ xem kim bài đặc xá và chỉ dụ của Sở Vương. Môn uý nhận lấy, bảo họ đứng chờ ngoài cửa một lát, còn mình chạy vội vào trong.

Chừng nửa canh giờ sau, mấy tên ngục tốt xốc nách Trương Nghi kéo ra, rồi đặt xuống đất.

Thấy Trương Nghi khắp mình tơi tả máu me, mặt xám ngoét như người đã chết, Hương Nữ rú lên một tiếng “phu quân”, rồi lao vụt tới, ôm chặt vào lòng.

Trương Nghi khó nhọc mở mắt, khẽ mỉm cười với Hương Nữ, rồi lại nhắm mắt lại.

Ngoài cổng hình ngục có mấy cỗ xe ngựa đang đỗ, là người dân sống quanh đó đang chờ mối làm ăn. Ngận Thượng vẫy tay gọi một cỗ xe đến, ra lệnh cho ngục tốt nhấc Trương Nghi lên xe, rồi quay sang Hương Nữ, vòng tay vái mà nói: “Tẩu phu nhân, việc tại hạ nhận lời, giờ đã làm xong!” Rồi lấy từ trong tay áo ra một túi tiền, hai tay đưa lại. “Trong túi có mười đĩnh vàng, tạm tỏ tâm ý của tại hạ, xin tẩu phu nhân không chê!”

Mười đĩnh vàng là món quà khá hậu. Hương Nữ vốn tính khí cương liệt, lại thêm chuyện xảy ra mấy ngày trước, đương nhiên không chịu nhận bố thí của Ngận Thượng, lập tức vòng tay vái trả mà nói: “Hậu ý của đại nhân, tiểu nữ xin ghi nhận trong lòng. Còn tiền của đại nhân, xin hãy thu lại cho!”

Ngận Thượng mỉm cười, vẫn cứ đưa tới: “Tâm ý của tại hạ, tẩu phu nhân có thể không nhận, song chút tiền mọn này, tẩu phu nhân nhất định phải cầm. Hiện giờ, tẩu phu nhân không một xu dính túi, chưa nói đến chuyện khác, chỉ riêng tình trạng của Trương Tử thế này, cũng phải mời thầy thuốc chữa trị, tìm chỗ náu thân mới phải!”

Thấy Ngận Thượng đã nói như vậy, Hương Nữ cũng không tiện chối từ, bèn cầm lấy túi tiền, lại vái tạ: “Nếu đã nói như vậy, coi như tiểu nữ tạm mượn của đại nhân!”

Ngận Thượng không trả lời, nhảy lên xe kiệu, ôm quyền mà nói: “Tại hạ đi trước một bước, tẩu phu nhân hãy bảo trọng!”

Hương Nữ đáp lễ, sau đó bước lên xe, ngồi xuống, thận trọng ôm Trương Nghi vào lòng, để tránh xe đi đường xóc khiến hắn phải đau đớn.

Phu xe thấy Hương Nữ đã ngồi vững, liền ngoái đầu hỏi: “Phu nhân, đi đâu?”

Hương Nữ đang định trả lời, Ngận Thượng lại đột nhiên nhảy xuống xe, tiến lại gần nói: “Suýt chút nữa quên mất một việc lớn, xin tẩu phu nhân hãy nói lại với Trương Tử, bệ hạ có khẩu dụ rằng, nói với Trương Nghi, hắn muốn đi đâu thì đi, quả nhân và hắn một qua một lại, không ai nợ ai!”

Nghe thấy những lời tuyệt tình như vậy, Hương Nữ nước mắt ròng ròng, khẽ gật đầu, rồi quay sang nói với phu xe: “Bờ Lệ Thuỷ, lầu Thê Phượng!”

Phu xe đáp lớn: “Tới liền!” Rồi vung roi quất ngựa, lập tức lao đi.

Xe ngựa lộc cộc đi đến lầu Thê Phượng. Chủ quán ra đón, giật bắn mình khi nhìn thấy bộ dạng thảm hại của Trương Nghi, vội lớn tiếng gọi mấy người hầu lại, khiêng Trương Nghi lên căn phòng họ đã từng trọ trên lầu.

Hương Nữ quay xuống lầu, định trả tiền xe, nhưng phu xe nói: “Đại nhân gọi xe đã trả tiền rồi!”

Hương Nữ cảm động, cảm tạ phu xe xong, vội quay trở lên lầu.

Trương Nghi vừa đi khỏi, Hạng Lôi liền phái người cấp báo cho Chiêu Dương.

Chiêu Dương biết tin thái tử đích thân ra mặt ứng cứu Trương Nghi, vừa kinh ngạc, vừa thầm mừng vì mình đã tin lời Trần Chẩn, chừa lại một đường, không giết chết Trương Nghi. Nghĩ lại toàn bộ quá trình trước sau, Chiêu Dương càng thêm khâm phục Trần Chẩn, liền phái Hình Tài mời ông ta đến, bàn xem bước tiếp theo nên làm thế nào.

Trần Chẩn rảo bước đến phòng khách, chưa kịp tới cửa, đã thấy Chiêu Dương ra đón, liền vòng tay chúc mừng từ xa: “Đại nhân đại hỷ rồi!”

Chiêu Dương ngẩn người: “Ồ, đại hỷ từ đâu đến?”

“Đại nhân sắp có được chức lệnh doãn, lẽ nào còn không phải là đại hỷ?” Trần Chẩn cười ha hả mà nói.

Chiêu Dương càng thêm kinh ngạc: “Xin thượng khanh hãy nói rõ!”

Trần Chẩn chỉ tay vào ngưỡng cửa, cười vang mà nói: “Lệnh doãn đại nhân, cho dù muốn nói rõ, cũng không thể đứng ngoài cửa mà nói được!”

Chiêu Dương cũng bật cười, vòng tay vái, rồi chìa tay mời: “Thượng khanh đại nhân, mời!”

Hai người bước vào phòng khách, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

Chiêu Dương vòng tay, cất giọng thăm dò: “Quả đúng như lời thượng khanh, điện hạ đã đích thân ra mặt cứu Trương Nghi. Tại hạ nghĩ ngợi mãi chuyện này, càng nghĩ càng thấy lo lắng, nên mới mời thượng khanh tới đây, để nghĩ giúp một kế sách, mà thượng khanh lại…” Hơi nhổm người về phía trước, hạ thấp giọng. “Dám hỏi chức vị lệnh doãn này, từ đâu mà đến?”

“Xin hỏi đại nhân, nếu nước Sở một năm không lập lệnh doãn, liệu có được chăng?”

“Đương nhiên không được! Lệnh doãn là trụ cột của Sở, nếu không có lệnh doãn, chính lệnh không thông, sáu phủ hỗn loạn, ba quân bất trị, lâu tất sinh biến.”

“Thế còn ba tháng?”

“Cũng không thoả đáng. Theo thường lệ, nếu như lệnh doãn từ chức, trong vòng một tháng phải có lệnh doãn mới lên thay!”

“Vậy thì đúng rồi!” Trần Chẩn cười nói. “Lại hỏi đại nhân, trong trời đất nước Sở, ngoài Trương Nghi ra, còn ai có thể tranh đoạt chức lệnh doãn với đại nhân đây?”

Chiêu Dương ngẫm nghĩ một lúc, rồi lắc đầu.

“Trương Nghi đã thành phế nhân, chức vị của Cảnh Xá bỏ không đã gần một tháng, hiện giờ đại nhân đã sắp được ngồi lên bảo vị, nên tại hạ chúc mừng!”

“Thượng khanh nói sớm quá rồi!” Chiêu Dương vội nói. “Điều khiến tại hạ lo lắng cũng chính là chuyện này. Điện hạ đã cứu Trương Nghi ra, chắc chắn sẽ lại cực lực tiến cử trước mặt bệ hạ. Bệ hạ đã già, thiên hạ Đại Sở không lâu nữa sẽ là của điện hạ, bệ hạ trong lòng hiểu rõ chuyện này, nếu như điện hạ kiên trì, chưa biết chừng…” Dường như không dám nói tiếp, khẽ thở dài một tiếng, rồi lại chuyển sang chuyện khác. “Hơn nữa, sự việc ngọc Hoà thị bích cũng chưa được điều tra. Với tài của điện hạ, có lẽ đã nảy sinh nghi ngờ. Bệ hạ cũng chẳng phải người cố chấp, nếu như tỉnh ngộ, đốc thúc điều tra ráo riết…”

Trần Chẩn mỉm cười: “Đại nhân yên tâm, cho dù là điện hạ hay bệ hạ, đều sẽ không tiếp tục điều tra vụ án này nữa. Cho dù có điều tra, cũng chẳng còn ai đối chứng. Những người cần ngậm miệng đều đã ngậm cả, chỉ cần đại nhân không nói ra, có ai biết được? Còn về Trương Nghi, không biết đại nhân đã nghe thấy gì chưa? Tại hạ nghe nói, trước cửa hình ngục, Ngận Thượng đã nói với vợ Trương Nghi rằng, bệ hạ có khẩu dụ, ‘nói với Trương Nghi, hắn muốn đi đâu thì đi, quả nhân và hắn, một qua một lại, không ai nợ ai!’ Trụ quốc đại nhân, lời này của bệ hạ, chắc chắn là có ẩn ý sâu xa!”

“Ngay cả câu này ngài cũng nghe thấy?” Chiêu Dương cả kinh, đưa ánh mắt bàng hoàng nhìn sững vào Trần Chẩn.

“Ha ha ha!” Trần Chẩn cười lớn mấy tiếng. “Vì đại nhân, tại hạ đâu dám không chuyên tâm?”

“Đúng là bệ hạ có khẩu dụ này, có điều…” Chiêu Dương gật đầu nói, “khẩu dụ này phải giải thích thế nào, tại hạ xin thượng khanh chỉ giáo.”

“Khẩu dụ này ý nói, nước Sở không giống với Trung Nguyên, thực sự được tín nhiệm trong triều, chỉ có ba nhà Cảnh, Khuất, Chiêu. Tất cả những người nơi khác mà triều trước sử dụng, chẳng ai có kết cục tốt lành. Xa chưa nói tới, hãy nhìn Ngô Khởi bốn mươi năm trước, chính là một ví dụ. Trương Nghi diệt Việt lập được đại công, song cách hắn trị Việt lại khiến bệ hạ không thể yên tâm, trong lòng nơm nớp đề phòng!”

Chiêu Dương ngượng nghịu, cười gượng một tiếng: “Thực ra, đó chỉ là lời một phía của tại hạ!”

“Trọng điểm chính là ở đây!” Trần Chẩn thôi cười, khẳng định chắc chắn. “Bệ hạ chỉ thích nghe những lời một phía của đại nhân!”

Chiêu Dương ngẫm nghĩ một lát, rồi gật đầu lia lịa thán phục, vòng tay nói: “Nói chuyện với thượng khanh thực là sảng khoái. Đã nhắc tới chức lệnh doãn, vậy xin hỏi thượng khanh, tại hạ…” Dừng lại nửa chừng, đưa mắt nhìn Trần Chẩn.

Trần Chẩn cất giọng rành rọt, giống như tướng quân đang phát lệnh cho thuộc hạ: “Cần làm hai việc. Thứ nhất, động viên nguyên lão tiến cử đại nhân; thứ hai, truy bức Trương Nghi, đuổi ra khỏi nước!”

Lần này, tình cảnh của Trương Nghi quả thực vô cùng thê thảm.

Sau khi phu xe đi rồi, Hương Nữ trở về phòng, nhìn thấy khắp người Trương Nghi không còn chỗ nào lành lặn, lòng đau như xé, nước mắt giàn giụa, ôm lấy hắn khóc mà gọi: “Phu quân…”

Trương Nghi hai mắt nhắm nghiền, sắc mặt tái nhợt, trông chẳng khác nào xác chết. Nhớ tới lúc ở trước cửa hình ngục, Trương Nghi vẫn còn có thể mỉm cười, nhưng lúc này lại chẳng có phản ứng gì, Hương Nữ vô cùng kinh hãi, chẳng còn dám khóc lóc, lập tức đưa tay bắt mạch, thấy mạch vẫn còn, thì vội vàng gạt nước mắt chạy ra cửa, xuống lầu vòng tay vái chủ quán mà hỏi: “Xin hỏi chủ quán, gần đây có thầy lang nào không?”

Chủ quán vái đáp lễ: “Phu nhân chớ lo lắng, gần đây có một vị thầy lang chuyên chữa trị vết thương do đánh đập. Tại hạ thấy tình hình Trương đại nhân như vậy, đã phái tiểu nhị đi mời rồi. Phu nhân hãy đợi thêm một lát, chắc cũng sắp về đến.”

Lời vừa dứt, phía ngoài đã có tiếng bước chân vọng lại, quả nhiên là tiểu nhị đã về, một người đàn ông trung niên tay xách hòm vội vã rảo bước theo sau.

Chủ quán hành lễ với ông ta, rồi chỉ vào Hương Nữ nói: “Phu quân của vị phu nhân này bị người ta đánh trọng thương, phiền tiên sinh trị giúp!”

“Đa tạ chủ quán!” Hương Nữ vòng tay vái một vái thật sâu, rồi quay sang vòng tay với thầy lang. “Tiểu nữ làm phiền tiên sinh!” Rồi quay phía về cầu thang. “Xin mời tiên sinh!”

Thầy lang đáp lễ, cùng Hương Nữ lên lầu, vào phòng, xem xét thương thế của Trương Nghi. Quan sát một lúc, thầy lang cẩn thận tách rời tứ chi của Trương Nghi ra, nắn bóp một hồi, sau đó bắt mạch, bỗng giật nảy mình, quay sang Hương Nữ giục cuống lên: “Mau, mang nước nóng lại đây!”

Hương Nữ vội xuống lầu, rót nước nóng mang lên trên phòng, thấy thầy lang đang cẩn thận cầm dao rạch quần áo Trương Nghi. Rất nhiều chỗ, quần áo bết chặt với máu thịt thành một khối, không thể gỡ ra, thầy lang đành phải lấy khăn nhúng vào nước nóng, ngâm cho máu khô mềm ra, mới từ từ lột được.

Cuối cùng thầy lang cũng đã lột bỏ được hết lớp quần áo bết máu trên người Trương Nghi, rồi cẩn thận rửa sạch từng vết thương. Hương Nữ nhìn mà đau đớn tim gan, nước mắt ròng ròng. Trên người Trương Nghi da thịt tơi tả, thương thế rùng rợn, đừng nói là Hương Nữ, ngay cả thầy lang cũng phải kinh hãi run tay. Thầy lang vừa rửa vết thương, vừa lắc đầu than thở: “Than ôi, đúng là phường man rợ, muốn hành hạ đến chết người ta ư?”

Hương Nữ lau nước mắt, lòng như lửa đốt, nghẹn ngào hỏi: “Tiên sinh, phu quân… không có nguy hiểm gì chứ?”

Thầy lang gật đầu: “Không có gì nguy hiểm!” Im lặng một lát, lại lắc đầu. “Than ôi, bị thương đến mức này, nếu là người bình thường, có mấy cái thân cũng đã chết từ lâu. Sĩ tử có thể cầm cự được, đúng là kỳ tích!”

Nghe thấy vậy, Hương Nữ cũng thở phào, rồi khẽ giọng cảm tạ: “Tiểu nữ đa tạ tiên sinh!”

Thầy lang bận rộn luôn tay hơn nửa canh giờ mới rửa sạch được tất cả vết thương, sau đó lần lượt đắp thuốc lên. Hương Nữ bảo tiểu nhị mua một tấm lụa trắng về, xé thành dải dài, băng bó cẩn thận. Từ xa nhìn lại, trông Trương Nghi hệt như vừa quấn lên người một bộ đồ trắng toát.

Xong xuôi mọi việc, thầy lang bèn viết đơn thuốc, đưa cho Hương Nữ: “Phu nhân, thương thế của sĩ tử là ở bên trong chứ không phải bên ngoài. Ngoại thương không đáng lo, trong vòng một tháng có thể chữa khỏi, song nội thương mới là nghiêm trọng, không được xem thường. Phương thuốc này dùng để điều trị nội thương, trước tiên hãy uống ba ngày!”

Hương Nữ nhận đơn thuốc, cầm lấy túi tiền mà Ngận Thượng đã tặng, lấy ra ba đĩnh vàng, nâng hai tay đưa cho thầy lang: “Đa tạ tiên sinh! Chút phí chữa bệnh này, xin tiên sinh hãy nhận lấy!”

Thầy lang thấy là ba đĩnh vàng, vội đưa tay đẩy lại: “Phu nhân lễ trọng rồi! Ba đồng tiền đồng là đủ!”

“Tiên sinh bất tất phải khách khí!” Hương Nữ kiên quyết dúi ba đĩnh vàng vào tay thầy lang, “Ơn cứu mạng, đừng nói là ba đĩnh vàng, cho dù là ba mươi đĩnh cũng chưa đủ báo đáp!”

Hương Nữ tiễn thầy lang đi, rồi lấy một đĩnh vàng ra, bảo tiểu nhị đến hiệu thuốc bốc thuốc. Đến chập tối, tiểu nhị mới mang thuốc trở về, Hương Nữ đích thân sắc thuốc, bưng tới trước giường. Trương Nghi vẫn hôn mê bất tỉnh.

Thuốc nguội lại hâm nóng, hâm nóng rồi lại nguội, Trương Nghi vẫn bất tỉnh nhân sự. Hương Nữ hai mắt ứa lệ, nắm chặt tay Trương Nghi, quỳ trước giường suốt một đêm. Đến khi trời sáng, Hương Nữ mệt mỏi quá độ, không thể gắng gượng được thêm, bèn gục người xuống giường, mơ màng thiếp đi. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, Hương Nữ cảm thấy trên má nhột nhạt, thì giật mình mở choàng mắt ra nhìn, thì ra là Trương Nghi.

Trương Nghi đã tỉnh từ lâu, chăm chú nhìn Hương Nữ, thấy nàng khoé mắt ứa lệ, liền đưa cánh tay không bị băng kín, khẽ khàng lau nước mắt cho nàng.

Hương Nữ mừng rỡ reo lên: “Phu quân, chàng tỉnh rồi ư?”

Trương Nghi chớp mắt, rồi nở nụ cười: “Hương Nữ, nàng gặp ác mộng ư, còn khóc nữa!” Lời nói vô cùng chậm chạp, dường như phải rặn từng tiếng một.

Nhìn bộ dạng gắng gượng của Trương Nghi, nước mắt Hương Nữ lại trào ra giàn giụa, gật đầu: “Vâng! Vâng!”

“Nàng khóc trông thực xấu xí!”

“Vâng! Vâng!” Hương Nữ lại gật đầu liên hồi, nước mắt càng rơi lã chã.

“Cười lên xem nào!”

Hương Nữ lau nước mắt, gắng gượng nặn ra một nụ cười.

“Cười xấu quá! Phải thế này này!” Trương Nghi nói đoạn, bèn nhành miệng ra cười toe toét.

Thấy vậy, Hương Nữ cũng phải bật cười.

Có lẽ do quá mệt, Trương Nghi lại từ từ nhắm mắt lại.

Hương Nữ vội vàng châm đèn, mang thuốc đi hâm nóng, nếm thử một ngụm, sau đó bưng tới trước giường, múc ra một thìa, nói khẽ: “Phu quân, hãy uống thuốc đi, uống xong chàng sẽ đỡ hơn!”

Trương Nghi “ừ” một tiếng, mở mắt ra định ngồi dậy, nhưng vừa hơi cựa mình, toàn thân lập tức đau đớn kịch liệt, buột miệng kêu lên một tiếng.

Hương Nữ đặt bát thuốc xuống, vội hỏi: “Phu quân, đau ư?”

Trương Nghi cười gượng một tiếng, gật đầu.

Nước mắt của Hương Nữ lại rơi lã chã lên lớp băng trên người Trương Nghi, giọng nghẹn ngào: “Phu quân, toàn thân chàng không còn chỗ nào toàn vẹn. Chiêu Dương thực là tàn ác!” Rồi nức nở sụt sùi, đưa tay áo lên lau nước mắt.

Trương Nghi khẽ mỉm cười: “Nàng thử nhìn xem, cái này còn không?” Rồi há to miệng cho Hương Nữ xem.

Hương Nữ không hiểu ý, mở to mắt nhìn vào miệng Trương Nghi, hỏi: “Phu quân muốn hỏi cái gì còn không?”

Trương Nghi không trả lời, chỉ động đậy đầu lưỡi lên xuống qua lại.

“Ý phu quân là… lưỡi?”

Trương Nghi gật đầu, rồi làm mặt hề, đảo lưỡi liên tục.

Hương Nữ thấy vậy, không nhịn được, lại phì cười một tiếng: “Nếu nó không còn, phu quân còn nói năng được ư?”

Trương Nghi ngậm miệng lại, cười mấy tiếng, nói lớn: “Lưỡi vẫn còn, vậy là đủ rồi!” Rồi im lặng, thu lại nụ cười, ánh mắt loé ra vẻ lạnh lùng khinh miệt, hừ mũi một tiếng. “Hừm! Thằng cha Chiêu Dương quả nhiên ngu xuẩn, nếu thực sự muốn hại ta, đâu cần phải dùng cực hình, chỉ cần cắt béng nó đi là được!”

“Phu quân!” Hương Nữ lại ứa nước mắt, bưng bát thuốc lên, giọng trách móc. “Đã ra nông nỗi này, còn nói linh tinh gì thế! Mau uống thuốc đi!”

Ba ngày tiếp theo, Trương Nghi lúc mê lúc tỉnh, nhưng nhìn chung, cũng đỡ hơn ít nhiều. Đến ngày thứ ba, thuốc đã uống hết, trên lớp băng quanh vết thương, một số chỗ đã thấy máu thấm ra, cần phải thay băng mới. Đến tận khi trời tối, Hương Nữ vẫn không thấy thầy lang đến, lo lắng đứng ngồi không yên, liền xuống lầu hỏi tiểu nhị. Tiểu nhị cũng đang sốt ruột, lập tức co cẳng chạy đến nhà thầy lang, một lúc sau quay về, nói nhà thầy lang cửa khoá chặt, không biết đã đi đâu.

Hương Nữ ngẫm nghĩ một chốc, cảm thấy ông thầy lang đó là người thực thà, chắc chắn sẽ giữ lời hứa, hôm nay không đến, có lẽ đã gặp phải việc gì cấp bách.

Đợi tới sáng sớm hôm sau, thầy lang vẫn không thấy trở lại. Hương Nữ lại bảo tiểu nhị đi tìm, nhưng vẫn thấy cửa nhà khoá im ỉm.

Hương Nữ không còn cách nào khác, đành phải nhờ chủ quán tìm cho một thầy lang khác, rồi bảo tiểu nhị đi mời. Kết quả thực đáng giật mình, vừa nghe thấy ba chữ “lầu Thê Phượng”, tất cả mọi thầy lang gần xa đều lắc đầu từ chối. Tiểu nhị gặng hỏi lý do, người thì nói không có nhà, người thì nói không có thời gian, người lại nói y thuật kém, tóm lại không có ai chịu đến chữa trị. Thầy lang mở hiệu, chẳng qua là ngồi đợi người ta đến tìm đi chữa bệnh, nay có người đến tìm, nhưng không ai chịu làm, điều này khiến tiểu nhị rất đỗi băn khoăn.

Tiểu nhị đi suốt từ sáng đến chiều, chân đã mỏi rã rời nhưng vẫn không mời được một ai. Đang đi, tiểu nhị bỗng thấy trời đất tối sầm, ngẩng mặt nhìn lên, thấy mây đen kéo đến mù mịt, vội vàng vắt chân lên cổ chạy về quán trọ. Từ xa nhìn thấy chủ quán đang đứng bên bờ sông Lệ Thuỷ, cách cửa quán chừng mấy chục bước, đang trò chuyện với hai vị khách xa lạ, thái độ vô cùng cung kính.

Tiểu nhị vốn định trở về bẩm báo với chủ quán, thấy cảnh đó liền đi luôn vào quán trọ, leo lên lầu hai.

Hương Nữ nghe thấy tiếng chân, vội chạy ra đón: “Tiểu nhị, có mời được thầy lang không?”

Tiểu nhị khẽ lắc đầu, rồi kể lại toàn bộ sự việc gặp phải.

Hương Nữ cắn chặt môi, đứng lặng người một lúc, rồi đột nhiên cất tiếng hỏi: “Chủ quán có ở dưới không?”

Tiểu nhị chỉ tay ra ngoài: “Đang nói chuyện với khách bên bờ sông.”

Hương Nữ chậm rãi xuống lầu.

Chủ quán quay về, vừa lúc tới cửa, thấy Hương Nữ đi xuống, liền dừng bước, nhìn nàng với ánh mắt lạ lùng. Hương Nữ tiến lại mấy bước, vòng tay vái mà nói: “Ông chủ, tiểu nữ lại làm phiền ông rồi!”

Chủ quán không đáp lời, vẫn chỉ nhìn nàng với ánh mắt khác lạ.

Hương Nữ ngạc nhiên, khẽ hỏi: “Chủ quán, ông… làm sao vậy?”

Lúc này chủ quán mới định thần, liền thu ánh mắt lại, vòng tay đáp lễ: “Ồ, không có gì. Phu nhân… vừa rồi phu nhân nói gì?”

“Tiểu nữ lại muốn làm phiền ông chủ lần nữa!”

“Nói đi!”

“Tiểu nữ muốn đi ra ngoài một lúc, tạm thời giao lại phu quân cho ông chủ, nhờ ông chăm sóc giúp!”

“Phu nhân muốn đi đâu?”

“Phủ Cảnh tướng quân!”

Chủ quán ngẫm nghĩ một lúc, rồi thở dài: “Than ôi, tại hạ… cũng xin báo với phu nhân, tốt nhất… đừng nên đi!”

“Tại sao?” Hương Nữ kinh ngạc.

“Còn nữa, quán trọ nhỏ bé của tại hạ, e rằng… phu nhân không thể ở thêm được nữa!”

“Tại sao kia? Tiểu nữ tuyệt đối không nợ tiền!”

“Phu nhân!” Chủ quán thở dài sườn sượt, khẽ lắc đầu. “Không liên quan đến tiền bạc. Lúc nãy có người nói với tại hạ, nếu quán trọ này muốn tiếp tục mở cửa, nếu tại hạ muốn giữ được cái mạng, thì phu nhân và Trương đại nhân buộc phải rời khỏi đây ngay!”

Hương Nữ mặt tái nhợt, kinh hãi đứng lặng người. Hồi lâu, nàng mới định thần lại được, bèn cắn chặt môi, khẽ hỏi: “Giờ đã quá giờ Thân, trời lại đang dông gió, tiểu nữ có thể ở thêm một đêm, sáng mai sẽ đi sớm, được không?”

Chủ quán lắc đầu, cúi gằm mặt, rồi nói lí nhí: “Phu nhân, tại hạ cầu xin phu nhân, hãy đi ngay bây giờ, đi càng xa càng tốt!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Còn nữa, tại hạ muốn nói thêm một câu, ở trong Sính Đô này, ngoài vương cung, chẳng còn nơi nào dám chứa chấp phu nhân đâu!”

Hương Nữ không đáp lời nào, chỉ lặng lẽ quay lên lầu. Một lát sau, mang theo túi tiền xuống: “Ông chủ, xin hãy tính tiền.”

Chủ quán vòng tay vái dài một vái, từ chối: “Phu nhân, tại hạ không lấy tiền phòng đâu!”

Hương Nữ lấy ra ba đĩnh vàng, đưa cho chủ quán: “Ông chủ, chuyện nào ra chuyện đấy, tiểu nữ thuê trọ thì phải trả tiền phòng. Nếu ông không chịu tính tiền, tiểu nữ đành để lại ba đĩnh vàng này vậy!”

Chủ quán lại vái mà từ chối: “Phu nhân, không phải tại hạ không nhận, mà là tại hạ không dám nhận!”

“Tại sao lại như vậy?”

“Quán cũng có quy tắc của quán. Tại hạ mở quán, đã hứa cho phu nhân thuê phòng. Nếu phu nhân trả phòng thì mới tính tiền. Phu nhân chưa trả phòng, là tại hạ đuổi phu nhân đi, là người phá quy tắc, đúng ra còn phải bồi thường cho phu nhân, làm sao có thể nhận tiền? Phu nhân cứ nhất quyết trả tiền, là cưỡng ép tại hạ.”

Thấy chủ quán nói lời trượng nghĩa, Hương Nữ bèn vái dài đáp lễ: “Nếu đã nói như vậy, tiểu nữ xin được đa tạ. Tiểu nữ muốn cầu xin một việc nữa, xin ông chủ giúp đỡ.”

“Tại hạ nguyện giúp sức cho phu nhân!”

“Phu quân thương tích trầm trọng, tiểu nữ chân yếu tay mềm, không thể cõng nổi, xin chủ quán thuê giúp một cỗ xe ngựa, tốt nhất là có mái che. Nhìn sắc trời thế này, có lẽ sắp đổ mưa lớn. Đang lúc tối trời, chẳng may mưa xuống, lại không có mái che, e rằng phu quân… khó lòng chịu nổi!” Hương Nữ nói đến đây, trong lòng đau đớn, giọng cũng nghẹn ngào.

Chủ quán, tiểu nhị nghe mà cũng đau lòng, cùng ủ ê đưa tay áo quẹt nước mắt. Một lúc sau, chủ quán ngẩng đầu lên, quay sang tiểu nhị: “Tiểu nhị, đi, mau đóng xe ngựa, lắp mái che mới vào, rồi tiễn Trương đại nhân, Trương phu nhân ra khỏi thành!”

“Tiểu nhân tiễn đến đâu?”

“Tiễn ra khỏi Sính Đô, đến khi nào phu nhân tìm được một chỗ ở vừa ý hãy quay về!”

Hương Nữ vái tạ xong, quay trở lên lầu, thấy Trương Nghi vẫn đang nằm mê mệt.

Hương Nữ không muốn kinh động đến Trương Nghi, liền đứng dậy, định thu dọn đồ đạc. Song nhìn khắp căn phòng, ngoài thanh kiếm và túi tiền Ngận Thượng tặng, chẳng còn vật gì là của họ. Hương Nữ càng nghĩ càng buồn thảm, bèn gục đầu xuống người Trương Nghi, khóc nấc lên ai oán.

Ngoài cửa sổ, sắc trời mỗi lúc càng thêm u ám, trong phòng u ám, không còn nhìn rõ vật gì. Đột nhiên, một chớp sáng chói loà xẹt qua bầu trời đen thẳm, tiếp sau là tiếng sấm xuân rền rĩ, giống như đang ùng ục lăn tới từ chân trời xa tít.

Mưa đổ rào rào, mỗi lúc một lớn.

Mưa xuân quý như dầu. Đây là trận mưa lớn đầu tiên trong mùa xuân nước Sở, hàng bầy trẻ nhỏ sung sướng nô giỡn trong mưa, trên phố ngoài đồng thảy đều hoan hỷ.

Trong cung Chương Hoa, Sở Uy Vương hai mắt khép hờ, sắc mặt vui vẻ, nghiêng tai chăm chú lắng nghe tiếng mưa đập trên tàu lá chuối ngoài cửa sổ. Lắng nghe một lát, Uy Vương hé mắt, nhìn sang thái tử Hoè ngồi bên cạnh, hồ hởi nói: “Hoè Nhi, nghe tiếng mưa thực mạnh mẽ!”

Thái tử Hoè lặng lẽ ngồi trên chiếu, hai mắt nhắm hờ, thần tình u uất, dường như đây chẳng phải là trận mưa lành đã trông ngóng từ lâu.

Uy Vương thoáng ngẩn người, rồi không nói thêm gì nữa, thu ánh mắt lại, nhìn vào mặt bàn phía trước. Bên phải mặt bàn bày một chồng tấu chương, là do thái tử Hoè vừa mới trình lên. Sở Uy Vương lật giở một bản, đọc qua một lượt. Đọc xong, đặt sang bên trái, tiếp tục lật bản khác, liếc mắt một lượt, rồi lại chồng lên bản tấu vừa nãy. Uy Vương cứ lần lượt đọc hết bản này đến bản khác, các tấu chương bên phải từ từ được dời qua bên trái, lại chồng thành một đống ở đó.

Uy Vương đọc xong, ngẩng đầu nhìn thái tử Hoè: “Chỉ có chừng này thôi ư?”

Thái tử Hoè cũng mở mắt, khẽ gật đầu: “Khởi bẩm phụ vương, chỉ có chừng này!”

Uy Vương im lặng một lát, lại hỏi: “Ngoài Chiêu Dương ra, còn tiến cử người nào khác không?”

Thái tử Hoè lắc đầu.

Sau một hồi im lặng, Uy Vương dường như sực nhớ ra điều gì, chậm rãi ngẩng đầu lên: “Trương Nghi đi đâu rồi?”

“Nhi thần không biết!” Nói xong, thái tử Hoè dường như cảm thấy không thoả đáng, ngập ngừng một thoáng, lại thêm một câu. “Nhưng nhi thần nghe nói, hắn đã rời khỏi Sính Đô, lúc này có lẽ đang trên đường!”

“Đã rời khỏi Sính Đô?” Uy Vương có vẻ bàng hoàng, ngẫm nghĩ một lát, lại hỏi. “Đi đâu?”

“Nhi thần không biết!”

Uy Vương không nói thêm lời nào nữa, một lúc sau, lại đưa mắt nhìn vào chồng tấu chương trước mắt: “Số tấu chương này, ý con thế nào?”

“Nhi thần xin nghe theo chỉ ý của phụ vương!” Thái tử Hoè đờ đẫn đáp.

“Quả nhân đang hỏi con!” Sở Uy Vương cao giọng, có vẻ trách móc.

Thái Tử Hoè giật mình, vội lấy lại tinh thần: “Khởi bẩm phụ vương, nhi thần cho rằng, Trương Nghi đi rồi, e rằng khắp trong triều ngoài nội nước Sở, chỉ còn Chiêu Dương là thích hợp.”

Uy Vương khép mắt lại, tiếp tục trầm ngâm suy nghĩ.

Lại im lặng kéo dài.

“Ừm, con nói đúng!” Cuối cùng Uy Vương cũng mở mắt, gật đầu. “Việc này không thể lần lữa thêm được nữa! Tấn phong tả tư mã Chiêu Dương làm lệnh doãn, cai quản lục phủ! Tấn phong hữu tư mã Khuất Vũ làm tả tư mã, thượng trụ quốc Cảnh Thuý làm hữu tư mã!” Im lặng một lát, thì nhắm mắt lại. “Mau đi ban chỉ!”

Thái tử Hoè đứng dậy, khấu bái: “Nhi thần lĩnh chỉ!”

***

Vào lúc hoàng hôn, trên con đường dịch đạo dẫn từ Sính Đô đến thành cổ Tương Dương, một cỗ xe ngựa đang di chuyển chật vật. Cơn mưa lúc to lúc nhỏ, tấp lên mái che mới lắp, rào rào từng đợt.

Xe đi mỗi lúc một chậm, rồi đột nhiên xóc mạnh một cái, khựng lại không đi được nữa. Tiểu nhị vội nhảy xuống xe, thấy bánh bên trái đã sa xuống một hố bùn sâu. Tiểu nhị luống cuống, vừa đánh ngựa vừa đẩy xe, bánh xe lắc qua lắc lại, song càng lún sâu hơn.

Hương Nữ thò đầu ra ngoài hỏi: “Tiểu nhị, lại bị sa lầy ư?”

Tiểu nhị gật đầu: “Đúng thế, phu nhân, lại bị lún xuống hố bùn rồi!”

Hương Nữ nhảy xuống xe, săm soi một lúc, rồi cùng tiểu nhị ráng sức đẩy liền mấy cái, bánh xe cứ nhích lên lại rơi xuống, càng lún sâu hơn, cuối cùng không nhúc nhích được nữa. Hương Nữ trong lòng lo sợ, ngước mắt nhìn trời, thấy đã sắp sập tối. Phóng mắt nhìn quanh, thấy bốn bề đồng không mông quạnh, không một bóng nhà, chỉ thấy sợi mưa mịt mờ từ trời đổ xuống, dệt thành một màn mưa xuân dày đặc. Ngoài đồng, những chỗ trũng đều đã ngập úng, từ xa nhìn lại, chỉ thấy mênh mông vũng nọ tiếp vũng kia, dưới ánh sáng ngày tàn ảm đạm, trở nên mông lung mờ ảo.

Hương Nữ hỏi: “Xin hỏi tiểu nhị, đây là nơi nào?”

Tiểu nhị chỉ về một đồi đất ở phía trước: “Hồi bẩm phu nhân, đi qua đồi đất kia, chính là Kỷ Thành. Nếu như thời tiết tốt, chúng ta đã đến từ trưa rồi!”

“Bây giờ phải làm thế nào đây?” Hương Nữ chau tít đôi mày, lo lắng nhìn xuống hố bùn.

Tiểu nhị vỗ vỗ vào mông ngựa, khẽ lắc đầu: “Phu nhân, hết cách rồi. Đi suốt một ngày một đêm, ngựa cũng chẳng còn sức nữa. Xem ra chúng ta đành phải ngủ lại một đêm bên vũng bùn này, đợi ngày mai trời sáng sẽ nghĩ cách khác!”

Hương Nữ lo lắng đến phát khóc: “Phu quân thương thế trầm trọng, lại thêm đi đường xóc nảy, nếu không kịp thời chữa trị, e rằng không thể cầm cự nổi!”

Tiểu nhị ngồi thụp xuống, ôm đầu suy nghĩ, một lúc, lại lắc đầu: “Phu nhân, tiểu nhân đã từng đi qua con đường này, quanh đây trước không làng mạc, sau không quán xá, cách Kỷ Thành còn khoảng hai mươi dặm nữa. Hơn nữa, con ngựa này quả thực không còn…” Đang nói, đột nhiên khựng lại, đứng phắt dậy, rồi vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ reo lên. “Phu nhân, nghe xem, có người đang đến!”

Hương Nữ nghiêng tai lắng nghe, quả nhiên có tiếng xe ngựa từ phía sau vọng lại.

Thoáng chốc, một cỗ xe ngựa đã chạy đến bên cạnh. Người đánh xe nhảy xuống, đi thẳng tới chỗ họ. Hương Nữ ngẩng đầu nhìn, thấy người này đầu đội nón lá, thân mặc áo nâu, liền bước lên trước một bước, vòng tay hành lễ: “Tiểu nữ xin chào tiên sinh!”

Người này cũng vái đáp lễ: “Tại hạ xin chào cô nương!” Rồi chỉ tay vào xe ngựa. “Cô nương, có chuyện gì thế?”

Hương Nữ đáp: “Xe bị sa xuống hố lầy, tiểu nữ bất lực, xin tiên sinh giúp đỡ!”

Người đội nón không nói thêm nửa lời, bước sang vệ đường, nhặt lấy hơn chục hòn đá, đưa cho Hương Nữ, còn mình đứng cạnh bánh xe bên trái, nói: “Cô nương, hễ bánh xe nhúc nhích, lập tức nhét đá xuống dưới bánh xe. Nhúc nhích một cái, nhét một viên đá, đến khi lấp đầy hố, bánh xe sẽ được đẩy lên!” Rồi quay sang tiểu nhị. “Đánh xe đi!”

Tiểu nhị quát ngựa, còn người đội nón gắng sức đẩy xe. Bánh xe vừa lay động, Hương Nữ lập tức nhét đá xuống dưới bánh, một lát sau, quả như lời người đội nón, bánh xe bên trái đã thoát khỏi hố bùn.

Người đội nón đi sang bên cạnh, tới rửa tay ở rãnh nước bên đường, rồi ngẩng đầu nhìn Hương Nữ: “Cô nương là…”

Hương Nữ bèn cảm tạ: “Công Tôn Yến đa tạ tiên sinh. Xin hỏi đại danh của tiên sinh!”

Người này bỏ nón xuống, vòng tay cười nói: “Chỉ là việc nhỏ, bất tất phải khách khí. Tại hạ Giả Xá Nhân, hân hạnh được gặp cô nương!” Rồi ngước nhìn lên chiếc xe. “Trời mưa lớn như vậy, cô nương định đi đâu?”

Hương Nữ cúi đầu, một lát sau mới ngẩng lên đáp: “Tiểu nữ muốn đến Kỷ Thành!”

“Phía trước là Kỷ Thành rồi!” Người đội nón đi tới bên con ngựa, nhìn một chốc rồi nói với Hương Nữ. “Xem ra con ngựa này không thể đi nổi nữa. Nếu cô nương đồng ý, hãy sang ngồi cùng xe với tại hạ!”

Hương Nữ quan sát kỹ người này, thấy không giống phường gian trá, lại ngoảnh đầu nhìn, thấy đó là một cỗ xe tứ mã cao lớn, bèn gật đầu nói: “Tiểu nữ đa tạ tiên sinh. Nhưng… tiểu nữ còn có một thỉnh cầu, phu quân tiểu nữ thân mang trọng thương đang nằm trên xe, cũng xin tiên sinh không vứt bỏ.”

“Đương nhiên rồi!” Giả Xá Nhân nói xong, bèn bước lên xe, vừa nhìn thấy Trương Nghi, đã kinh hãi kêu lên. “Vị sĩ tử này bị thương không nhẹ! Mau, khiêng lên xe!”

Ba người hợp sức chuyển Trương Nghi sang xe của Giá Xá Nhân.

Tiểu nhị quay sang Hương Nữ, vòng tay nói: “Phu nhân có xe rồi, tiểu nhân có thể quay về được chưa? Ông chủ đang chờ tiểu nhân!”

Hương Nữ gật đầu, rồi lấy ra hai đĩnh vàng: “Đa tạ tiểu ca. Xin hãy nhận lấy!”

Tiểu nhị hết lời từ chối, song Hương Nữ nhất quyết không chịu, nên đành phải nhận, sau đó đánh chiếc xe không sang một bên nhường đường cho Giả Xá Nhân, rồi quay đầu xe, vái chào đến mấy lần, mới đánh xe trở về.

Giả Xá Nhân ra roi thúc ngựa, tiến về phía Kỷ Thành.

Khi đến Kỷ Thành, đã quá canh ba. Giả Xá Nhân tìm được một quán trọ, bảo chủ quán mang nước nóng tới, đến cơm cũng không kịp ăn, lập tức rửa sạch các vết thương trên người Trương Nghi, nặn bỏ mủ. Điều khiến Hương Nữ vô cùng kinh ngạc là Giả Xá Nhân dường như đã biết rõ bệnh tình của Trương Nghi, thuốc thang sẵn sàng, hệt như một thầy lang lão luyện, động tác thành thục, chẳng mấy chốc đã giúp Trương Nghi đắp xong thuốc mới, rồi đưa mấy gói thuốc cho Hương Nữ, giục nàng mau mau đi sắc.

Chăm sóc cho Trương Nghi xong xuôi, cũng vừa lúc chủ quán mang cơm nước lên. Hương Nữ bón cho Trương Nghi ăn nửa bát cháo loãng, thấy Trương Nghi lại ngủ thiếp đi, mới qua dùng cơm cùng Giả Xá Nhân.

Ăn được mấy miếng, Hương Nữ từ từ đặt đũa xuống, ngước nhìn Giả Xá Nhân, hỏi: “Giả tiên sinh, rốt cuộc tiên sinh là ai?”

Giả Xá Nhân cười nói: “Tại hạ quên không giới thiệu, tại hạ là người buôn bán, từ Hàm Đan đến. Vốn định đến Sính Đô nhập hàng phương nam, không ngờ tình hình thay đổi, thành ra công cốc.”

“Ồ!” Hương Nữ khẽ gật đầu, song ánh mắt vẫn bán tín bán nghi. “Tiểu nữ cứ ngỡ tiên sinh là thầy thuốc.”

Giả Xá Nhân lại cười: “Người làm ăn buôn bán quanh năm đi nam về bắc, khó tránh những lúc đau đầu chóng mặt, nên tại hạ mới học thêm chút y thuật. Hòm thuốc kia, tại hạ thường xuyên mang theo bên cạnh, một là để dùng cho mình, hai là nếu chẳng may gặp phải việc gấp, cũng dễ bề ứng phó. Hôm nay, chẳng phải đã có tác dụng rồi ư?” Nói đoạn, cười lớn vài tiếng, nghiêng đầu nhìn Hương Nữ. “Tại sao phu nhân lại hỏi như vậy?”

“Không có gì!” Hương Nữ thở phào. “Tiểu nữ chỉ hiếu kỳ mà thôi!”

Giả Xá Nhân cười nói: “Nếu là vậy, tại hạ cũng xin hiếu kỳ mà hỏi một câu, tại sao sĩ tử lại bị thương trầm trọng đến vậy?”

Hương Nữ cảm thấy đối phương không giống như người của Chiêu Dương phái đến, nên đã kể lại toàn bộ sự việc Trương Nghi bị hãm hại cho ông ta nghe.

Giả Xá Nhân ra vẻ kinh ngạc: “Đại danh của Trương đại nhân, tại hạ ở Hàm Đan cũng nghe nói tới. Lần này đến Sính Đô, cả kinh thành đều đồn đại chuyện Trương đại nhân trộm ngọc Hoà thị bích, lúc đầu tại hạ không tin, sau đó… sau đó cũng phải tin, không ngờ câu chuyện lại có nhiều uẩn khúc đến vậy!” Rồi thở dài một tiếng. “Than ôi, thế đạo này…”

Hương Nữ ứa nước mắt, cúi gằm mặt không nói gì.

Một lúc sau, Giả Xá Nhân hỏi: “Xin hỏi phu nhân, hai người dự định đi đâu?”

Hương Nữ khẽ lắc đầu, nước mắt lăn dài: “Đã tới bước này rồi, tiểu nữ cũng chẳng còn nhà để quay về nữa. Sau này đi đến đâu, phải đợi phu quân chữa lành thương tích, rồi để phu quân quyết định. Xin hỏi tiên sinh, phu quân… không có gì đáng ngại chứ?”

“Phu nhân yên tâm!” Giả Xá Nhân cười nói. “Bệnh của Trương đại nhân, cứ giao cho Xá Nhân!”

Hương Nữ lại vòng tay hành lễ, nói: “Tiểu nữ đa tạ tiên sinh tương trợ!”

Ngày hôm sau, Giả Xá Nhân bảo chủ quán chuyển họ sang một khu nhà yên tĩnh, đi mua thuốc về, đóng chặt cửa, hạn chế ra vào, để Trương Nghi tĩnh tâm dưỡng thương.

Nhờ có Giả Xá Nhân chữa trị và Hương Nữ hết lòng chăm sóc, thương thế của Trương Nghi nhanh chóng hồi phục, chưa đầy nửa tháng đã có thể xuống giường đi lại. Trương Nghi và Giả Xá Nhân cũng trở thành bạn tốt, ngày ngày đàm thiên thuyết địa, nói chuyện kim cổ.

Lại thêm vài ngày nữa, cung Sở ban chiếu lệnh, Chiêu Dương thăng chức lệnh doãn. Giả Xá Nhân đọc được cáo thị, liền quay về kể lại cho Hương Nữ.

Hương Nữ hỏi: “Giả tiên sinh, phu quân có thể lên đường được chưa?”

Xá Nhân gật đầu nói: “Nếu như đi chậm thì không có gì đáng ngại!”

Hương Nữ vội nói: “Giả tiên sinh, nơi này không ở được nữa. Đến khi Chiêu Dương lên nắm quyền, chắc chắn hắn sẽ không tha cho phu quân!”

Giả Xá Nhân gật đầu, cùng Hương Nữ đi vào trong phòng bàn với Trương Nghi.

Trương Nghi cười vang mà nói: “Đây là tin tốt lành, hai người có gì lo lắng?”

“Tin tốt lành?” Giả Xá Nhân, Hương Nữ đều ngẩn người.

“Tại hạ vốn chẳng có thù oán gì với Chiêu Dương, ông ta hãm hại tại hạ, chẳng qua chỉ vì chức vị lệnh doãn. Nay ông ta đã được như ý nguyện, tại hạ đã không còn nguy hiểm nữa. Vả lại, nếu người này thực lòng muốn hại chết tại hạ, cũng chẳng phải đợi đến lúc này. Khi ở trong ngục, cho dù tại hạ có mười cái mạng, cũng chết lâu rồi!”

Nghe Trương Nghi nói vậy, Giả Xá Nhân, Hương Nữ đều gật gù, cũng cảm thấy yên tâm.

“Tuy nhiên,” Trương Nghi quay sang Giả Xá Nhân, “quả thực nơi này không thể ở lâu, đã đến lúc chúng ta phải đi rồi. Hơn nữa, Giả huynh là người làm ăn buôn bán, cũng không thể vì tại hạ mà để lỡ công việc!”

Giả Xá Nhân đáp: “Buôn bán là việc nhỏ. Trương Tử muốn đi đâu, có thể nói cho tại hạ biết chăng?”

Trương Nghi suy nghĩ hồi lâu, thở dài sườn sượt: “Than ôi, nói tới chuyện này, tại hạ cũng không biết phải thế nào. Mấy ngày nay tại hạ đã nghĩ đi nghĩ lại, nhưng nghĩ mãi mà vẫn chưa biết nên đi đâu.”

“Phu quân!” Hương Nữ nói chen vào. “Nếu chúng ta không sợ Chiêu Dương, vậy hãy đến núi Tra Nha. Đó là địa bàn của thiếp, đến đó, chúng ta sẽ không còn lo lắng!”

Trương Nghi cười gượng một tiếng: “Nếu chỉ để không phải lo lắng, ta đi đâu chẳng được, sao phải đến sơn trại nhà nàng?”

Hương Nữ biết Trương Nghi có chí lớn, sắc mặt hơi đỏ lên, mím chặt môi không nói gì nữa.

“Theo ý của tại hạ,” Giả Xá Nhân khẽ đặng hắng một tiếng, rồi vòng tay nói, “Trương Tử có thể tới nước Hàn. Năm ngoái, tại hạ từng đến Trịnh Thành, cũng hiểu qua về tình hình nước Hàn. Sau khi Thân Bất Hại qua đời, Hàn Hầu một lòng tìm kiếm người thay thế, song đến nay vẫn chưa gặp được ai. Với tài của Trương Tử, chắc chắn sẽ được trọng dụng!”

“Phò tá nước nhỏ, sao thoả được chí lớn?” Vừa dứt lời, Trương Nghi liền cảm thấy thất thố, vội vàng ôm quyền nói thêm một câu. “Xin đa tạ Giả huynh!”

Nhưng Giả Xá Nhân làm như không nghe thấy, bật cười mà nói: “Nước Ngụy thế nào? Ngụy Vương trong có Huệ Tử, ngoài có Bàng Quyên, thế nước lại trở nên cường thịnh, hoặc giả có thể thoả được chí lớn của Trương Tử. Hơn nữa, Trương Tử lại là người nước Ngụy, cũng có thể nghĩ đến việc lập nghiệp ở quê hương!”

“Nước Ngụy bảy năm về trước, miệng hùm gan sứa; nước Ngụy ngày hôm nay, trong ngoài khô kiệt, chẳng qua là miếng thịt ngon đặt bên miệng người khác mà thôi!” Trương Nghi lại lắc đầu, cất giọng hờ hững. “Hơn nữa, tại hạ và Bàng Quyên cũng từng có hiềm khích, không muốn ở cùng một triều!”

Giả Xá Nhân suy nghĩ một lúc: “Còn nước Tề thế nào?”

Trương Nghi lắc đầu than thở: “Than ôi, Giả huynh có điều không biết, mặc dù Tề là nước mạnh, nhưng cũng khó thoả chí của tại hạ.”

“Sao Trương Tử lại nói vậy?” Giả Xá Nhân kinh ngạc. “Đất Tề rộng hàng nghìn dặm, dân chúng đông đúc, vua tôi hiền minh, phong tục khai hoá, từ thời Xuân Thu đã xưng bá thiên hạ, hiện giờ cũng được coi là nước lớn…”

“Giả huynh mới chỉ biết một mà thôi!” Trương Nghi chậm rãi nói. “Kẻ thành được đại sự, tất phải có được thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Tề phía đông giáp biển lớn, phía tây giáp Tam Tấn, ba mặt nam, bắc, tây đều không có nơi hiểm yếu để phòng thủ, lợi công không lợi thủ, chẳng may có chuyện bất trắc, chỉ còn cách dựa lưng vào biển mà đánh. Trong ba cái trên, tạm thời không nói tới thiên thời, mặc dù Tề có được nhân hoà, nhưng không có được địa lợi.”

“Nếu nói như vậy, Trương Tử nên đến nước Tần!”

Nghe thấy hai chữ nước Tần, Trương Nghi thần sắc đại biến, ánh mắt toé lửa, lạnh nhạt nói: “Xin Giả huynh đừng nói đến nước Tần!”

“Ồ?” Lúc này Giả Xá Nhân cũng nhớ tới lời dặn của Tô Tần trước lúc từ biệt, đột nhiên cảm thấy tò mò, vờ ngạc nhiên hỏi. “Nước Tần bốn phía hiểm ải, dân giàu nước mạnh, Tần Công tuổi trẻ tài cao, hiền minh tột bực, cả ba thứ thiên thời, địa lợi, nhân hoà đều có cả, đáng là nơi dụng võ của Trương Tử, cớ sao Trương Tử…”

Trương Nghi siết chặt nắm đấm đến kêu lên răng rắc, lời nói rít qua kẽ răng: “Người Tần giết chết tiên phụ, bức tử tiên mẫu, bá chiếm toàn bộ gia sản tổ tiên, tại hạ đời này chưa diệt được Tần, thề không cam chịu!”

“Ồ!” Giả Xá Nhân đã hiểu ra, vội ôm quyền vái mà nói. “Tại hạ không biết Trương Tử có thù nhà, đã nói lời xúc phạm, xin Trương Tử đừng để bụng!”

Trương Nghi dường như cũng nhận ra mình hơi quá lời, bèn vái đáp lễ, giọng điệu hơi hoà hoãn trở lại: “Là tại hạ nóng giận thái quá, tâm địa hẹp hòi, khiến Giả huynh cười chê rồi. ‘Lễ’(1) có câu, “thù giết cha không đội trời chung”, cả nhà tại hạ bị hại trong tay người Tần, lần này đến Sở một là để thoả chí lớn, hai là muốn mượn tay người Sở giúp tại hạ báo thù. Nước Sở rộng lớn trù phú, tại hạ vốn cho rằng đó là một con mãnh hổ, nhưng thật không ngờ lại là hổ giấy, chỉ biết doạ người!”

Giả Xá Nhân gật gù, cúi đầu suy nghĩ một hồi, rồi ngẩng lên hỏi: “Trương Tử có thực sự muốn báo thù?”

“Điều này có thể là giả được ư?”

“Nếu nói như vậy, tại hạ có một câu, không biết Trương Tử có muốn nghe chăng?”

“Tại hạ xin lắng nghe!”

“Tại hạ vừa từ Hàm Đan đến, trước lúc lên đường có nghe Tô Tử đang được trọng dụng ở Triệu, được Triệu Hầu bái làm tướng quốc, nghe nói muốn hợp tung Tam Tấn. Một nước Nguỵ đã đủ mạnh rồi, nếu như Tam Tấn hợp lại, thiên hạ còn ai địch nổi? Nếu Tô Tử hoàn thành được chí này, chắc chắn sẽ trở thành kẻ địch của người Tần. Trương Tử đã không có nơi nào để đi, tại hạ thiết nghĩ…” Giả Xá Nhân đưa mắt nhìn Trương Nghi, dừng lại nửa chừng.

Trương Nghi lại sầm mặt, cúi gằm đầu xuống, hai tay siết cứng vào nhau, dường như muốn xé xác đối phương thành trăm mảnh.

“Tại hạ thiết nghĩ…” Giả Xá Nhân vờ như không nhìn thấy, vẫn nói tiếp, “hay là Trương Tử hãy đến Hàm Đan. Trương Tử và Tô Tử là đồng môn, Tô Tử chắc chắn sẽ tiến cử ngài. Thường có câu, thiên thời địa lợi không bằng nhân hoà, Trương Tử là đại tài, Tô Tử cũng là đại tài, nếu hai người liên thủ hợp sức, lo gì không thành đại nghiệp? Tam Tấn hợp tung, lại có cơ mưu của hai vị, phía đông có thể chế ngự Tề, phía nam có thể chế ngự Sở, còn về phía tây, nước Tần dù có là tảng đá ngoan cố, rồi cũng sẽ bị sức mạnh này nghiền thành cám vụn!”

Sau một hồi trầm tư dài dằng dặc, cuối cùng Trương Nghi cũng ngẩng đầu lên, cười gượng một tiếng, lắc đầu thở dài: “Than ôi! Số phận quả thực trêu ngươi! Khi ra khỏi Quỷ Cốc, tại hạ tự cho rằng mình thông minh hơn người, có thể thành công trước một bước, vì vậy đã nói lời ngông cuồng. Không ngờ… đã hai năm rồi, tại hạ vẫn chỉ là ếch ngồi đáy giếng, chẳng có gì trong tay. Nhìn sang Tô Tần, chẳng nói lời nào, nhưng đã thành tựu đại nghiệp, danh tiếng lẫy lừng thiên hạ.”

“Trương Tử chớ nên nói vậy!” Giả Xá Nhân bật cười mà nói. “Trương Tử dùng ba tấc lưỡi đánh bại Việt Vương Vô Cương, giúp Sở đoạt được đất Việt, thiên hạ không ai không biết. Người ta sống ở trên đời, lập được đại công nhường này, cũng coi như sống không uổng phí. Trương Tử, theo ý của tại hạ, đừng nên do dự nữa, hãy lập tức lên đường đến Hàm Đan!”

Lại một hồi im lặng nữa trôi qua, rồi Trương Nghi ngẩng đầu, nhìn ra ngoài cửa, thở dài một tiếng: “Than ôi, thiết nghĩ Trương Nghi ta, đường đường là một đại trượng phu, thế mà đến hôm nay, lại trở thành rồng bơi bãi cạn, đã chẳng còn chốn nào dụng võ!” Lại im lặng một lúc, cười nhạt một tiếng. “Việc trên thế gian, thật đáng nực cười. Quanh quẩn một vòng, cuối cùng lại phải đến nhờ cậy hắn!” Rồi khẽ lắc đầu. “Quả thực tại hạ không thể đến Hàm Đan được!”

“Trương Tử càng nói càng xa rồi!” Giả Xá Nhân lại cười. “Thành bại trong đời, không thể luận theo trước mắt. Nghe nói Tô Tử du thuyết Tần không thành, thất chí về quê, bộ dạng rách rưới thảm hại, còn tệ hơn cả Trương Tử bây giờ không biết bao nhiêu lần. Hơn nữa, lần này Trương Tử đến đó là để hợp tác với Tô Tử, chứ không phải đến để nhờ cậy. Trong làm ăn buôn bán, chỉ mưu lớn chứ không mưu nhỏ, nếu Trương Tử muốn thành đại nghiệp, sao lại không gạt bỏ chút sĩ diện cỏn con này?” Nói đoạn, đưa mắt nhìn sang Hương Nữ.

“Phu quân!” Hương Nữ tiếp lời. “Giả tiên sinh nói rất phải, phu quân đã kết nghĩa cùng Tô huynh, chắc hẳn Tô huynh sẽ không chê bai!”

“Chê bai?” Trương Nghi lừ mắt lườm Hương Nữ. “Ta đến với hắn, đã là nể mặt hắn lắm rồi! Nếu như hắn dám chê bai, thì ta…”

Nghe thấy lời này, Giả Xá Nhân biết Trương Nghi đã xuôi, bèn cười ha hả, đứng dậy nói: “Việc không nên chậm trễ, tại hạ sẽ đi chuẩn bị xe!”

Trương Nghi tỏ ra ngần ngại: “Như vậy chẳng phải làm lỡ việc làm ăn của Giả huynh ư?”

Giả Xá Nhân cười vang mà nói: “Có thể kết bạn với Trương Tử, đó mới là mối làm ăn lớn nhất của tại hạ. Hơn nữa, tại hạ từ Hàm Đan đến, giờ cũng phải quay về. Đường dài dằng dặc, có Trương Tử, phu nhân đồng hành, còn gì vui bằng?”

Trương Nghi vòng tay nói: “Nếu đã nói vậy, tại hạ xin đa tạ Giả huynh!”

***

Công tử Hoa từ Đại Lương trở về cung Tần, đang bẩm báo lại tình hình nước Ngụy, thì nội thần bước vào, trình lên mật báo của Trần Chẩn gửi về từ Sính Đô.

Huệ Văn Công mở ra xem, vừa liếc nhìn, đột nhiên đứng phắt dậy, sắc mặt hồ hởi, ánh mắt dán chặt vào bản mật báo, phá lên cười sảng khoái.

“Chúa thượng, có tin tốt lành ư?” Hai con mắt của công tử Hoa cũng dán chặt vào Huệ Văn Công, khẽ giọng hỏi.

“Tin tốt, tin tốt, rất tốt!” Huệ Văn Công lại cười vang, đáp liên miệng.

“Dám hỏi chúa thượng, là tin tốt gì vậy?” Thấy Huệ Văn Công vui mừng lộ ra nét mặt, công tử Hoa đoán rằng không phải chuyện tuyệt mật, liền tiện miệng hỏi tiếp.

Huệ Văn Công cất bức thư vào trong tay áo, lại cười lớn một chặp, mới ngồi xuống chỗ, phấn khởi nói: “Đúng là việc tốt song hành! Khanh vừa báo tin Tôn Tẫn đã rời khỏi phủ Bàng Quyên, tạm thời thoát khỏi miệng hùm, Trần ái khanh cũng lập tức có tin vui báo về. Khanh thử đoán xem, đó là tin vui gì?”

Công tử Hoa khẽ đảo con ngươi: “Nước Sở gặp hoạ rồi ư?

Huệ Văn Công lắc đầu: “Tai hoạ là tin buồn, không phải tin vui.”

“Sở Vương lâm bệnh? Hoặc đã… băng hà rồi?”

“Khanh thật là…” Huệ Văn Công chỉ tay vào công tử Hoa cười nói, “chỉ nghĩ tới những chuyện xui xẻo. Băng hà là việc tang tóc, sao có thể là tin vui được?”

“Vậy thì…” Công tử Hoa lắc đầu, “thần đệ không đoán ra!”

“Ta biết khanh sẽ không thể đoán ra!” Huệ Văn Công lấy bức mật báo từ trong ống tay áo ra, lại đọc một lượt, cười đến không khép nổi miệng. “Thượng trụ quốc Chiêu Dương và Trương Nghi tranh giành chức lệnh doãn, Chiêu Dương thấy không tranh nổi nên đã cầu cứu Trần ái khanh. Trần ái khanh giúp Chiêu Dương nghĩ ra diệu kế, bày cạm bẫy, vu cho Trương Nghi lấy cắp ngọc Hoà thị bích, bảo vật trấn cung của Sở Vương, rồi bắt Trương Nghi nhốt vào ngục, đánh đập tra tấn đến thập tử nhất sinh. Sau đó, nhờ thái tử Hoè ra mặt ứng cứu nên Trương Nghi mới giữ được mạng sống. Ha ha ha, anh tài một thuở, lần này lại trở thành đạo tặc trong thiên hạ, ha ha ha!”

“Quả nhiên là việc tốt!” công tử Hoa cũng bật cười. “Thần đệ sẽ lập tức lên đường, đi đón tên trộm đó về đây!”

“Không! Không! Không!” Huệ Văn Công lập tức lắc đầu. “Không phải vội, kịch hay phải diễn từ từ! Nghe nói kẻ này tâm cao khí ngạo, để hắn nếm chút mùi khổ sở đã!”

“Chúa thượng!” Công tử Hoa vội nói. “Trương Tử là bậc đại tài, chẳng may bị người khác cướp mất…”

“Ngoài quả nhân ra, còn có vị quân chủ nào muốn dùng một tên trộm cắp?” Huệ Văn Công càng nói càng phấn chấn. “Hơn nữa, nghe Trần ái khanh nói, người này tâm chí không thua kém Tô Tần, hắn không đến Tần mới là lạ!”

Công tử Hoa ngẫm nghĩ một lúc, rồi vòng tay nói: “Chúa thượng thánh minh!”

“Này Tiểu Hoa!” Huệ Văn Công ngẩng đầu nhìn. “Tranh chấp lớn hiện nay không phải chỉ ở một thành một trì, mà là anh tài trong thiên hạ. Tôn Tử là bậc đại tài, phải đưa bằng được về Tần, nhưng cũng không được quá hấp tấp, nếu không Bàng Quyên sẽ sinh nghi. Lần này khanh trở về, hãy nghỉ ngơi mấy hôm, tạm thời không đi Đại Lương vội!”

“Chúa thượng muốn thần đệ làm việc gì?”

“Đi Hàm Đan một chuyến!”

“Đi Hàm Đan?”

“Đúng, đi đón Trương Tử!”

“Trương Nghi?” công tử Hoa tròn mắt, kinh ngạc nhìn Huệ Văn Công.

“Phải!” Huệ Văn Công gật đầu, thu nụ cười lại. “Mấy ngày trước thượng đại phu báo tin, nói là muốn đến Hàm Đan chờ Trương Nghi, sẽ về chậm mấy hôm. Lúc đó quả nhân còn không hiểu, nhưng giờ thì đã hiểu rồi. Lúc nãy khanh nói cũng đúng, ta phải đề phòng vạn nhất. Khanh hãy đến Hàm Đan một chuyến, phối hợp với thượng đại phu, nhất định phải đưa được Trương Nghi lành lặn trở về!”

“Thần đệ lĩnh chỉ!”

***

Giả Xá Nhân chở vợ chồng Trương Nghi đi hơn bốn mươi ngày đêm, cứ ngày đi đêm nghỉ, tới buổi trưa hôm nay đã đến được Hàm Đan.

Vừa vào cổng thành nam, lập tức có người chặn xe, giao cho Giả Xá Nhân một bức thư. Giả Xá Nhân đọc xong, nhét vào trong tay áo, căn dặn người đó: “Hãy về nói lại vói chủ nhân của ngươi, ta tiễn khách xong sẽ lập tức tới ngay.”

Người đó đi rồi, Giả Xá Nhân quay sang Trương Nghi, khẽ thở dài một tiếng: “Ôi, việc buôn bán thực là phiền phức, chưa về đến nhà thì đã có người đợi sẵn ở đây, cứ như là đoán được trước vậy!”

Trương Nghi bật cười một tiếng, tỏ vẻ thông cảm.

Giả Xá Nhân ra roi thúc ngựa, chốc lát đã tới quán trọ Phong Vân. Chủ quán thấy là Giả Xá Nhân, vội chạy ra đón. Giả Xá Nhân chỉ vào hai vợ chồng Trương Nghi giới thiệu: “Đây là Trương Tử, bạn thân của Tô tướng quốc, còn đây là phu nhân của Trương Tử, từ nước Sở đến, tạm thời ở lại đây, làm phiền tới quý quán!”

Chủ quán mặt mũi tươi cười, vòng tay nói: “Giả tiên sinh yên tâm, Trương Tử là khách quý, tại hạ sẽ hầu hạ chu đáo!” Rồi quay sang Trương Nghi, Hương Nữ, khom lưng vái dài. “Quán trọ sơ sài, Trương Tử, phu nhân nếu không chê, xin mời vào trong chọn phòng!”

Chủ quán dẫn họ băng qua đại sảnh, đi đến sân sau, dừng lại trước một căn phòng, mở cửa ra rồi vái mà nói: “Trương Tử, phu nhân, xin hãy xem thử khu nhà này, không biết có vừa ý chăng?”

Trương Nghi vừa đưa mắt nhìn đã ngỡ ngàng, thật là khí thế phi phàm, rộng rãi sáng sủa, hai dãy nhà, sáu gian phòng, trang trí xa hoa, đồ đạc không thiếu thứ gì. Hương Nữ vội nói: “Ông chủ, khu nhà này rộng quá, có thể đổi cho khu nhỏ hơn không?”

Chủ quán do dự một lát, đưa mắt nhìn Giả Xá Nhân. Giả Xá Nhân chưa kịp lên tiếng, Trương Nghi đã xua tay, cười ha hả mà nói: “Không lớn, không lớn, sẽ ở đây!”

Chủ quán quay sang tiểu nhị, gọi lớn: “Tiểu nhị, khách ở khu Giáp, mang hành lý tới!”

Trên đường đi, Hương Nữ đã phải mua thêm không ít đồ dùng, gói thành hai bọc lớn. Tiểu nhị từ xa dạ một tiếng, lập tức mỗi tay xách một bọc đi thẳng tới nơi.

Sắp xếp xong xuôi, Giả Xá Nhân quay sang Trương Nghi, Hương Nữ, vòng tay nói: “Trương Tử, tẩu phu nhân, việc tiếp theo đã có Tô tướng quốc, tại hạ cũng thấy yên tâm rồi. Tại hạ có chút việc làm ăn phải xử lý gấp, không thể bồi tiếp được nữa!”

Trương Nghi, Hương Nữ cùng vòng tay đáp lễ: “Đa tạ Giả huynh!”

Trương Nghi, Hương Nữ tiễn Giả Xá Nhân ra khỏi quán trọ, lưu luyến từ biệt, rồi quay vào trong phòng.

Vừa vào trong phòng, Hương Nữ đã sập cửa đánh “rầm”, rồi nói với Trương Nghi: “Phu quân, đã hết tiền rồi, sao có thể ở khu nhà này được?”

“Chẳng phải trong túi vẫn còn ư?”

Hương Nữ lấy túi tiền mở ra xem, bên trong chỉ còn mấy xu tiền đồng, chẳng còn đĩnh vàng nào hết. Hương Nữ bấm ngón tay tính toán rồi nói: “Ngận đại nhân biếu tặng tổng cộng mười đĩnh vàng, trả cho thầy thuốc hết ba đĩnh, đưa cho tiểu nhị một đĩnh để mua thuốc, khi tiểu nhị quay về lại tặng cho hai đĩnh. Còn lại mấy đĩnh, trên đường đã tiêu pha gần hết rồi!”

Trương Nghi khẽ chau mày: “Nàng thử tìm lại xem, có sót chỗ nào không?”

Hương Nữ cười buồn, giọng nói có phần trách móc: “Trên đường đi, Giả tiên sinh nhiều tiền như vậy mà còn biết tiết kiệm, chúng ta trên người chẳng có tiền, nhưng lại tiêu xài phung phí, còn dư chừng này cũng đã nhiều lắm rồi!”

Trương Nghi trầm ngâm một hồi, rồi bật cười: “Phu nhân yên tâm, hiện giờ chủ quán vẫn chưa biết chúng ta nhẵn túi, cứ tạm thời ở đây mấy hôm. Đợi sau khi gặp được Tô Tần, đừng nói là chút tiền mọn này, cho dù là trăm lượng vàng cũng chẳng phải chuyện lớn.”

“Vâng!” Nghĩ đến Tô Tần, Hương Nữ yên tâm gật đầu, dịu dàng ngả vào người Trương Nghi.

Sáng hôm sau, Hương Nữ thức dậy từ sớm, rửa mặt chải đầu xong liền lấy bộ áo mũ mới mà Giả Xá Nhân tặng cho Trương Nghi khi ở Trịnh Đô nước Hàn, giúp Trương Nghi mặc vào. Trương Nghi đứng trước gương ngắm nghía một lúc, rồi quay sang Hương Nữ, cười hỏi: “Có vừa không?”

“Vâng!” Hương Nữ đưa tay chỉnh lại vai áo, gật đầu hài lòng.

“Ta là phượng hoàng thất thế, mặc dù đã ngã một cú thảm hại, song phong thái không thể đánh mất được!” Trương Nghi bật cười mấy tiếng, khẽ nhún vai, cất tờ danh thiếp vừa viết tối qua vào trong tay áo, đưa tay vẫy Hương Nữ. “Ta đi đây!”

Hương Nữ đứng tựa cửa, đưa ánh mắt chan chứa tình ý nhìn Trương Nghi bước qua đại sảnh. Hương Nữ đang định quay người trở vào, bỗng thấy Trương Nghi lộn trở lại, liền chạy ra đón: “Phu quân, chàng quên gì ư?”

“Không quên gì!” Trương Nghi gãi đầu, vẻ hơi lúng túng. “Chỉ là bỗng dưng sực nhớ ra một chuyện. Nghi và Tô Tần là bạn đồng môn nhiều năm, trước đây thường trêu chọc lẫn nhau. Chốc nữa gặp hắn, ắt hắn sẽ mời Nghi uống rượu, chắc chắn cũng sẽ theo Nghi về quán trọ, có lẽ sẽ ngủ cùng giường với Nghi. Nếu như gặp nàng, biết nàng là… thê tử của Nghi, chắc chắn sẽ hết lời trêu chọc, khiến Nghi phải phát ngượng!”

Hương Nữ ngẩn người: “Ý phu quân là…”

“Ý Nghi là…” Trương Nghi đắn đo một lát, “lát nữa Tô huynh đến, nàng hãy xưng là Hương công chúa của nước Ngô, lần này đến Triệu, vừa hay đồng hành với Nghi…”

Chưa đợi Trương Nghi nói xong, Hương Nữ đã bật cười thành tiếng: “Phu quân, không phải nói như thế! Vòng vo phức tạp, nghe thực phiền hà. Khi Tô huynh đến, phu quân hãy nói rằng Hương Nữ là nô tỳ kiêm hộ vệ, đi theo hầu hạ phu quân, như vậy là được rồi!”

“Như vậy… làm sao có thể được?”

“Có gì mà không được?” Hương Nữ cười khúc khích. “Thực tế cũng đúng là như vậy mà!”

Trương Nghi cười vang, rồi yên tâm bước ra khỏi quán.

Trương Nghi đã dò la từ trước, biết rằng hôm nay không phải ngày lên triều, vì vậy cũng không cần gấp gáp, cứ thong thả đi tới phủ tướng quốc, cũng chính là phủ Phụng Dương Quân trước đây.

Có lẽ do Trương Nghi tới quá sớm, nên cánh cổng sơn son trước phủ Tô Tần vẫn đóng im im. Trương Nghi đi tới bên con sư tử đá ngoài cổng, tỳ một chân lên mông con vật, khệnh khạng đứng chờ, đồng thời nhẩm tính xem lát nữa gặp Tô Tần sẽ phải nói năng thế nào. Tóm lại, tuyệt đối không được để Tô Tần coi thường.

Một lát sau, cánh cổng chợt kêu len cọt kẹt rồi từ từ mở toang, một người cầm chổi đi ra, đang định quét tước, đột nhiên thấy Trương Nghi đang đạp chân lên con sư tử đá, liền quát lớn: “Ngươi là ai, sao dám đạp lên sư tử của phủ tướng quốc?”

Sắp được gặp Tô Tần, Trương Nghi vốn đang khí sắc hí hửng, đột nhiên lại bị ăn quát, khiến hắn nổi khùng, trừng mắt nhìn người kia một cái, đạp thêm mấy phát nữa lên mông sư tử đá, rồi cười hềnh hệch mà nói: “Ta cứ đạp đấy, ngươi làm gì được nào?”

Người này không nói năng gì, lập tức chạy ngược trở vào.

Một lúc sau, một đám gia đinh chạy ùa ra, nhâu nhâu xông lại vây lấy Trương Nghi.

Trương Nghi khẽ đảo con ngươi, thầm nghĩ nếu giờ ẩu đả với bọn này, lát nữa gặp Tô Tần cũng khó ăn khó nói, bèn hạ chân xuống, khẽ ôm quyền, cười hì hì mà nói: “Mấy người các vị ra đón khách đó ư? Đi đi! Đón khách cũng không tới lượt các ngươi, mau đi gọi chủ nhân của các ngươi ra đây!”

Nghe Trương Nghi nói năng ngang ngược, đám gia đình đều khựng cả lại, một môn nhân lớn tuổi hơn cả trong đám bèn ôm quyền hỏi: “Tiên sinh là ai?”

“Họ Trương tên Nghi. Mau đi tìm chủ nhân của các ngươi, gọi ra đây đón khách!”

Môn nhân ngẩn người kinh ngạc, đưa mắt nhìn đám gia đinh, lại quay sang nhìn Trương Nghi thăm dò, rồi vòng tay hỏi: “Tiên sinh có biết chủ nhân nhà chúng tôi là ai không?”

Trương Nghi cười vang vài tiếng, nói lớn: “Chẳng phải là họ Tô tên Tần hay sao?”

“Tiên sinh có danh thiếp không?”

“Có! Có! Có!” Trương Nghi lấy danh thiếp từ trong tay áo ra đưa cho môn nhân.

Môn nhân xem xong, bèn ôm quyền nói: “Xin tiên sinh đợi cho một lát, tiểu nhân lập tức vào bẩm báo chúa công, rồi sẽ ra nghênh đón.”

Môn nhân đi vào, một lát sau lại chạy ra, vái Trương Nghi một vái, rồi đưa trả lại danh thiếp: “Tiên sinh, vô cùng tạ lỗi, chúa công tối qua vào cung, cả đêm không về, mời tiên sinh hôm sau lại đến!”

“Ồ! Hắn vào cung rồi ư?” Trương Nghi ngẩn ngơ hồi lâu mới thốt ra được một câu, nhận lấy danh thiếp, sau đó chậm chạp quay bước ra về.

Ngày hôm sau, Trương Nghi lại đến, đưa danh thiếp cho môn nhân. Môn nhân đi vào, sau đó lại trở ra, trả lại danh thiếp, vái mà nói: “Hôm qua tướng quốc vẫn chưa trở về, xin tiên sinh mấy hôm nữa lại đến!”

“Hắn đi đâu?” Trương Nghi hỏi.

“Không giấu tiên sinh,” môn nhân tiến lên một bước, ghé tai thầm thì, “nghe nói là theo hầu chúa thượng đi săn ở Lộc Uyển!”

“Khi nào mới trở về?” Trương Nghi sốt ruột hỏi.

Môn nhân lắc đầu: “Không biết được! Hầu chúa thượng đi săn, chí ít cũng phải dăm ba ngày!”

Tô Tần không có trong phủ, có sốt ruột cũng chẳng ích gì. Trương Nghi đứng đực ra hồi lâu, thở ngắn than dài một chặp, rồi lại lầm lũi ra về.

Lại qua bảy ngày nữa, Trương Nghi không còn một xu dính túi, chẳng khác nào ngồi trên đống lửa, ngày nào cũng đến hỏi thăm, cuối cùng đến hôm nay, được chủ quán trọ cho biết tướng quốc đại nhân đã hồi phủ, bèn lập tức đến cầu kiến.

Môn nhân vòng tay vái mà nói: “Đúng là tướng quốc đã trở về, tiên sinh đợi cho một lát, tiểu nhân sẽ vào bẩm báo!” Rồi nhận lấy danh thiếp của Trương Nghi, quay người trở vào.

Trương Nghi đứng ở ngoài cổng, chờ đợi suốt một canh giờ, môn nhân mới hùng hục chạy ra, vừa thở hổn hển vừa vái mà nói: “Để… để tiên sinh… đợi lâu, thực… thực có lỗi!”

Trương Nghi vội hỏi: “Chúa công của ngươi đâu?”

“Chúa… chúa công đang… đang tiếp khách, nghe nói là… sứ thần nước Hàn, đang bàn… đại sự. Tại hạ đã… đã bẩm báo rồi, chúa công cũng… đã nhận danh thiếp, hẹn tiên sinh… giờ Thìn sáng mai… hãy đến!”

Trương Nghi nộ khí bốc lên ngùn ngụt, quát lớn: “Đại sự cái gì? Ngươi mau vào báo với Tô Tần, nói là có Trương Nghi đến thăm, bảo hắn mau ra cổng nghênh tiếp!”

Môn nhân vội vòng tay nói: “Tiểu nhân… không dám. Tiểu nhân khẩn cầu tiên sinh hãy trở về cho, ngày mai… lại đến!” Hơi thở đã điều hoà trở lại, hai tay đưa ra một tấm thẻ, nói. “Đây là thẻ báo, giờ Thìn ngày mai, tiên sinh mang thẻ này đến, sẽ không cần bẩm báo nữa!”

Trương Nghi giậm chân mấy cái, nhưng cũng chẳng làm gì được, đành phải nhận lấy thẻ báo, hậm hực quay về.

Thực ra, trong mấy ngày nay, Tô Tần không tiếp sứ thần nước Hàn, cũng chẳng phải theo Triệu Hầu đi săn, mà ngày nào cũng ngồi trong phủ, nghe Giả Xá Nhân kể về tình hình nước Sở và tình cảnh của Trương Nghi. Lúc này đang kể đến đoạn Chiêu Dương bày kế hãm hại Trương Nghi, khiến Tô Tần nghe mà hai mắt thẫn thờ.

Giả Xá Nhân kể xong một đoạn, bưng chén trà lên nhấp một ngụm.

Tô Tần hồi tưởng kỹ càng một lượt sự việc ngọc Hoà thị bích, nhắm mắt suy nghĩ một lúc, rồi chau mày hỏi: “Nhìn vào cạm bẫy này, từ đầu đến cuối, tuy về đại thể vẫn còn sơ sót, nhưng về mặt chi tiết lại kín kẽ liền mạch, không một sơ hở. Nghe nói Chiêu Dương là người thô lỗ, làm sao có thể chu toàn như vậy được?”

“Là do Trần Chẩn bày mưu!” Giả Xá Nhân chép miệng mấy tiếng, chậm rãi nói. “Trần Chẩn nhận uỷ thác của Tần Công, đã ở nước Sở hơn hai năm nay. Loại trừ Trương Nghi cũng chỉ là một trong số rất nhiều công lao ông ta đã lập được.”

Tô Tần thở dài một tiếng: “Than ôi, quân chủ liệt quốc, chỉ có Tần Công là bậc đại tài. Vừa có mưu rộng chí cao, lại biết cách dùng người, mưu sự luôn vẹn toàn chu đáo. Nếu người này vào Quỷ Cốc, được tiên sinh chỉ dẫn, thì thiên hạ thái bình chỉ còn là thời gian.”

Xá Nhân vòng tay nói: “Tô Tử lúc nào cũng nghĩ tới thiên hạ thái bình, thực khiến người ta khâm phục.”

“Giả huynh nói vậy là không hiểu tại hạ rồi!” Tô Tần cười buồn mà nói. “Trên đường chạy trốn khỏi Hàm Dương, tại hạ vẫn chưa nghĩ được như vậy. Khi cầm dùi nhọn đâm vào đùi trong căn lều cỏ rách nát đầu thôn Hiên Lý, tại hạ vẫn chưa nghĩ được như vậy!”

“Ồ, lúc đó Tô Tử nghĩ thế nào?”

“Lúc đó tại hạ chỉ nghĩ đến mình. Chỉ nghĩ đến chuyện tại sao tại hạ du thuyết Tần không thành, làm cách nào mới có thể xoay chuyển số phận, để kiếp này có được thành tựu huy hoàng.”

Giả Xá Nhân gật đầu, hỏi: “Từ khi nào Tô Tử bắt đầu nghĩ cho thiên hạ?”

Tô Tần nhớ tới cầm sư, nhớ tới tuyệt khúc đêm ấy, bất giác đau buồn thương cảm, cúi đầu rầu rĩ một hồi, tiếng nói như bật ra từ sâu trong cổ họng: “Là do nghe được tiếng đàn của một người!” Im lặng hồi lâu, lại thốt ra một câu. “Tiếng đàn của người này vô cùng tuyệt diệu, xứng danh là thiên hạ đệ nhất cầm!”

Giả Xá Nhân đang lắng tai muốn nghe tiếp, nhưng Tô Tần lại cười buồn một tiếng, đổi sang chuyện khác, vòng tay nói: “Không nhắc đến chuyện này nữa. Nghe nói đi cùng Trương Nghi còn có một nữ tử nữa, cô ta là ai?”

“Là phu nhân của hắn!” Giả Xá Nhân đáp. “Nữ tử này là hậu duệ của Công Tôn Hùng, đại phu nước Ngô xưa kia. Cha cô ta là Công Tôn Điệt, vì muốn báo thù cho tiên tổ nên đã quyết chiến với Việt Vương Vô Cương, rồi cùng chết với kẻ thù.”

“Ồ?” Tô Tần rất đỗi hiếu kỳ. “Cô ta tên gì?”

“Công Tôn Yến! Bẩm sinh trên người đã có hương thơm lạ, nên còn gọi là Hương Nữ. Hương Nữ thông minh lanh lợi, võ nghệ cao cường, nhưng tâm địa hiền lương, không những là một phu nhân tốt, mà còn là một kỳ nữ!”

“Tốt quá! Tốt quá!” Tô Tần khen ngợi luôn miệng. “Hiền đệ có phúc như vậy, thật đáng mừng, tại hạ cũng thấy yên tâm!”

Giả Xá Nhân thoáng kinh ngạc: “Ồ, tại sao Tô Tử lại vui vì chuyện này?”

“Vì tại hạ nợ người này một nữ tử!”

Giả Xá Nhân đang định vặn hỏi đến cùng, thì quản gia Viên Báo đã bước vào bẩm báo: “Chúa công, tại hạ đã nhận danh thiếp của Trương Tử, hẹn Trương Tử giờ Thìn ngày mai quay lại. Trương Tử nổi giận đùng đùng, đã quay về rồi!”

Giả Xá Nhân cười nói: “Tô Tử đối xử với Trương Tử như vậy, đừng nói là Trương Tử, dù là tại hạ cũng sẽ phải uất giận.”

Tô Tần bật cười một tiếng: “Giả huynh, kịch hay thực thụ vẫn chưa bắt đầu đâu!” Rồi quay sang Viên Báo. “Mọi việc ngày mai đã chuẩn bị xong cả chưa?”

“Khởi bẩm chúa công,” Viên Báo đáp, “tất cả đã chuẩn bị xong xuôi. Từ giờ Thìn đến giờ Ngọ, tại hạ đã sắp xếp kín kẽ cả rồi!”

“Vũ công đã đến chưa?”

“Bẩm, đến rồi! Trâu huynh đã dẫn họ đi bày sân khấu, chắc lúc này cũng đang bận túi bụi!”

“Tốt lắm!” Tô Tần suy nghĩ một lúc, lại ngẩng đầu hỏi. “Còn phía người Tần thế nào?”

“Tất cả vẫn như cũ. Tuy nhiên hôm qua lại có thêm một quý tộc tìm đến, Sư Lý tiên sinh tỏ ra rất cung kính với người này!”

Tô Tần quay sang Giả Xá Nhân, cười nói: “Hẳn công tử Hoa đã đến rồi! Nghe nói người này ở lì tại Đại Lương, hai mắt không lúc nào rời khỏi Tôn Tẫn, nhưng lần này Tần Công lại phái hắn tới đây, xem ra cũng đã hay tin Trương Tử đã đến. Xem ra lần này, người Tần nhất quyết phải có được Trương Tử bằng được!”

Giả Xá Nhân kinh ngạc: “Tô Tử, dường như điều gì Tô Tử cũng biết?”

Tô Tần cười vang. “Đây là bản tính! Làm nghề nào thì tinh thông nghề đấy mà!” Quay sang Viên Báo. “Hãy hẹn Sư Lý tiên sinh giờ Ngọ sáng mai đến phủ, nói rằng bản tướng mời ông ta đến xem một vở kịch hay!”

Trương Nghi đi một mạch thẳng về quán trọ, ngồi phịch xuống giữa phòng, mặt mũi tái xanh tái xám, thở hồng hộc.

Hương Nữ đoán rằng Trương Nghi lại bị từ chối, cũng định khuyên nhủ mấy câu, nhưng lại không biết mở miệng thế nào. Muốn không khuyên, song thấy bộ dạng của Trương Nghi như vậy, cũng thấy đau lòng, nên đành phải đến ngồi cạnh hắn, im lặng một lúc, rồi hỏi khẽ: “Tô huynh vẫn chưa về ư?”

Trương Nghi thình lình đứng bật dậy, hung hãn giật phắt lấy tấm gương đồng bên cạnh ném thẳng ra cửa. Tấm gương đồng va trúng cột trụ hành lang, rớt xuống đất đánh “choang” một tiếng. Trương Nghi giẫm mạnh chân xuống nền nhà, đùng đùng nổi giận: “Từ nay về sau, nàng không được gọi hắn là Tô huynh nữa! Loại người bạc tình bạc nghĩa này không xứng!”

Nghe thấy tiếng gương đồng va đập, chủ quán trọ vội vàng chạy đến. Chỉ nghe tiếng bước chân rậm rịch, chủ quán trọ đã xuất hiện trước cửa, nhặt tấm gương đồng lên, rồi rón rén bước lại gần, khẽ gọi: “Trương Tử…”

Trương Nghi mặt trắng bệch, chỉ đứng một chỗ thở phì phò.

Chủ quán đặt tấm gương đồng trở về chỗ cũ, đứng khom lưng đợi một lát, sau đó hỏi thăm dò: “Xin hỏi Trương Tử, tướng quốc đại nhân… vẫn chưa về ư?”

“Cái gì mà chưa về?” Trương Nghi vừa mở miệng, lập tức bắn như nỏ liên châu. “Hắn không muốn gặp ta! Ông chủ, ông thử nói xem, trước khi vào Quỷ Cốc, chúng ta ăn cùng mâm ngủ cùng giường, tám bái kết nghĩa. Sau khi vào Quỷ Cốc, lại là đồng môn suốt năm năm trời, dù có là cục đá, thì cũng phải ấm lên mới phải. Thế mà… thế mà kẻ này…” Càng nói càng giận dữ, không thốt nên lời.

“Trương Tử hãy bớt giận, cứ từ từ nói!” Chủ quán khuyên nhủ. “Lẽ nào tướng quốc đại nhân không chịu nhận người quen?”

Trương Nghi lại thở phì phì một lát, rồi kể lại toàn bộ sự việc vừa xảy ra cho chủ quán nghe.

Chủ quán nghe xong, không những không trách mà còn bật cười thành tiếng: “Đây là chuyện tốt, cớ sao Trương Tử lại phải nổi giận?”

“Đối xử lạt lẽo đến vậy, còn tốt nỗi gì?” Trương Nghi vẫn lửa giận ngùn ngụt.

Chủ quán vẫn cười hì hì: “Trương Tử có điều không biết, tướng quốc đại nhân là người bận rộn nhất trong thành Hàm Đan này, có thể nói là trăm việc bù đầu, cả ngày không lúc ngơi tay. Tại hạ nghe nói, tướng quốc đại nhân ngay cả ăn cơm cũng không được yên, một bữa ăn đứng dậy đến ba lần! Trương Tử đến nhiều lần vẫn không gặp được, cũng chẳng phải chuyện khó hiểu. Hơn nữa, tướng quốc đại nhân đã nhận danh thiếp của Trương Tử, hẹn Trương Tử giờ Thìn sáng mai đến, như vậy đã là phá lệ rồi, người khác muốn còn chẳng được, mà Trương Tử lại giận dữ đến vậy là cớ làm sao?”

Trương Nghi bình tâm suy nghĩ lại, thấy lời chủ quán cũng không phải là không có lý, liền thở dài, lắc đầu nói: “Than ôi, ông chủ có điều không biết, nếu như đổi lại là người này đến nhờ vả tại hạ, đừng nói là sứ thần nước Hàn, cho dù là chúa thượng triệu kiến, tại hạ cũng sẽ dời lại nửa ngày!” Lại thở dài một tiếng. “Than ôi, thôi bỏ đi, không nói nữa. Đợi ngày mai gặp mặt, xem hắn nói thế nào?”

Giờ Thìn hôm sau, Trương Nghi thức dậy từ sớm, rửa mặt chải đầu xong xuôi, lại ngồi ủ dột trong phòng một lúc, bỗng nảy ra một ý, liền đi tìm chủ quán, bảo ông ta kiếm cho một bộ quần áo rách rưới.

Chủ quán ngỡ ngàng, rồi ôm quyền hỏi: “Xin hỏi Trương Tử, rách đến mức độ nào mới được?”

Trương Nghi ngẫm nghĩ một thoáng: “Giống như đám ăn mày trên phố là được.”

Chủ quán không biết Trương Nghi định làm trò gì, nhưng cũng bảo tiểu nhị đi tìm. Tiểu nhị ra khỏi cửa, vừa may gặp được một gã ăn mày, chẳng nói chẳng rằng, lập tức kéo phăng về quán, lột lấy mớ quần áo trên người, ném cho gã bộ quần áo mới. Không ngờ gã ăn mày nhất quyết không chịu, cứ thế trần trùng trục vừa khóc lóc la lối, nằng nặc đòi lại bộ quần áo rách.

Trương Nghi bước tới, cầm lấy bộ quần áo rách ngắm nghía, thấy vừa ý, liền cười nói với gã ăn mày: “Này tên ăn mày kia, đừng có kêu gào nữa! Bộ quần áo hành nghề này, tại hạ chỉ mượn tạm, trước khi trời tối sẽ mang trả. Còn ba bữa cơm hôm nay, ta sẽ cho ngươi no bụng!” Rồi bảo tiểu nhị mang lại mấy cái màn thầu, vứt cho gã.

Gã ăn mày nghe nói chỉ mượn tạm nên cũng yên tâm, liền mặc bộ quần áo mới vào, rồi ngồi thu lu ở góc tường ăn bánh.

Trương Nghi cầm bộ quần áo rách về phòng, cởi quần áo mới ra, mặc áo rách vào, đứng ngắm nghía trước gương một lúc. Đang hớn hở hài lòng thì Hương Nữ từ phòng trong bước ra, thấy Trương Nghi lôi thôi nhếch nhác thì giật mình kinh hãi: “Phu quân… chàng… chàng làm cái gì thế này?”

“Nàng đến thật đúng lúc!” Trương Nghi cười hí hửng mà hỏi. “Nàng xem, có vừa vặn không?”

Hương Nữ vội nói: “Phu quân, chàng đừng đùa nữa! Hôm nay đi gặp Tô tướng quốc, sao có thể ăn mặc như ăn mày thế kia?”

Trương Nghi hừ mũi một tiếng: “Lần này ta đi, chính là muốn cho hắn phải xấu mặt!” Lại đứng trước gương ngắm nghía một hồi, thấy còn thiếu một cái mũ, suy nghĩ một thoáng, liền lấy chiếc mũ mới từ trên giá xuống, vần vò thật lực, sau đó đi ra bãi bùn ở bên ngoài, quăng quật một hồi, rồi lại nhặt lên vò cho kỳ nhàu nhĩ, sau đó mới đội lên đầu, đứng ngắm trước gương, hỉ hả mà nói. “Thế này mới đủ bộ!”

Hương Nữ cố khuyên không được, đành phải đưa thẻ báo cho Trương Nghi. Ra đến cổng, chủ quán nhìn thấy, cũng thất kinh, chạy lại khổ sở khuyên can một hồi, nhưng Trương Nghi nhất quyết không nghe, vẫn ăn mặc như vậy nghênh ngang đến phủ tướng quốc.

Do phải mất công chuẩn bị, khi Trương Nghi đến phủ tướng quốc, đã quá giờ Thìn, trước phủ ngựa xe nườm nượp, vô cùng tấp nập. Quan lớn quý tộc của nước Triệu xếp thành hàng dài trước cổng, đều đang chờ gặp mặt.

Trương Nghi xốc lại tinh thần, ngẩng cao đầu bước thẳng tới trước cổng. Môn nhân thấy có gã ăn mày đi đến, lập tức quát dừng. Trương Nghi bèn rút thẻ báo từ trong tay áo ra, thẳng tay ném vèo xuống đất. Môn nhân nhặt lên, đọc kỹ, lúc này mới nhận ra đây chính là người hôm qua hẹn gặp. Vì có thẻ báo nên môn nhân cũng không dám đuổi, rì rầm bàn bạc một lúc, sau đó mở ra một cánh cửa nhỏ bên cạnh, vòng tay vái mà nói: “Tiên sinh, mời!”

Trương Nghi trừng mắt nhìn họ, vốn định mắng mỏ mấy câu, nhưng lại nhìn thấy trước cổng, người đến đã dồn thành một đám đông, thảy đều áo cừu quần gấm, vàng giắt ngọc đeo, không ai không mở to mắt nhìn mình chòng chọc, tò mò như nhìn thằng hề, Trương Nghi đành phải cố gắng nhẫn nhịn, hừ mũi một tiếng, chẳng thèm nhìn họ lấy một cái, đi thẳng sang cổng chính, ngẩng đầu ưỡn ngực, sải bước mà vào.

Mọi người thảy đều kinh hãi. Đám môn nhân cũng nhất thời chết sững, đến khi định thần lại được, thì Trương Nghi đã vào đến trong sân. Đám môn nhân hốt hoảng, đưa mắt nhìn nhau, sau đó có hai người chạy như bay vào, chặn Trương Nghi lại, đồng thời cấp tốc báo cho quản gia.

Viên Báo vội vã đi ra, thấy là Trương Nghi, khẽ vái mà nói: “Tại hạ Viên Báo xin chào tiên sinh!”

Trương Nghi nhìn cách ăn mặc của đối phương, biết hắn là quản gia, cũng vòng tay đáp lễ: “Tại hạ Trương Nghi xin chào quản gia!” Dừng lại một lát, hỏi tiếp. “Chúa công của ngươi có trong phủ không?”

Viên Báo liếc xéo Trương Nghi, lạnh nhạt nói: “Chúa công đang bận quốc sự, tiên sinh có việc gì quan trọng?”

“Việc gì?” Trương Nghi cười nhạt một tiếng. “Tại hạ là bạn cũ của hắn, nay đến tìm hắn, ngươi mau đi bẩm báo, bảo hắn ra đây nghênh tiếp!”

Viên Báo khinh khỉnh nhìn Trương Nghi, rồi quay sang chất vấn môn nhân: “Vị tiên sinh này có thẻ báo không?”

“Có! Có! Có!” Môn nhân vội vàng đưa tấm thẻ báo mà Trương Nghi vừa ném xuống đất cho quản gia xem.

Viên Báo xem qua, quay sang Trương Nghi, vòng tay vái mà nói: “Tiên sinh, nhìn vào thẻ này, đúng là chúa công có hẹn, nhưng chúa công hẹn vào giờ Thìn, bây giờ đã là giờ Tỵ rồi, sao tiên sinh lại đến muộn như vậy?”

“Ờ…” Trương Nghi không biết phải nói gì.

“Tiên sinh!” Viên Báo lại vái mà nói. “Chúa công vừa từ Lộc Uyển về, còn rất nhiều quốc sự đợi chúa công xử lý. Nếu Trương Tử không ngại, xin hãy theo tại hạ tạm thời sang phòng bên chờ một lát, đợi chúa công xong việc sẽ tới gặp tiên sinh!”

Trương Nghi há miệng mấy lần, nhưng cũng không còn cách nào khác, đành phải ôm quyền mà nói: “Xin nghe lời quản gia!”

Viên Báo dẫn Trương Nghi đi dọc theo hành lang dài hun hút, thẳng tới một khu nhà. Cách ăn mặc của Trương Nghi khiến cho hắn đi đến đâu thu hút ánh nhìn đến đấy, ai thấy cũng chụm đầu bàn tán, thậm chí đám nô bộc đang quét dọn trong sân cũng chỉ chỉ trỏ trỏ, xì xầm nhỏ to, cười cợt ầm ĩ. Mãi tới lúc này Trương Nghi mới cảm thấy hối hận, cứ cúi gằm mặt xuống mà đi.

Hai người đi vào trong sân, Viên Báo dẫn Trương Nghi tới phòng bên ngồi đợi. Ở đây có hai hàng chiếu dài, trước chiếu đặt mấy chiếc bàn thấp, bày sẵn nước trà. Có mấy vị khách đang ngồi ngay ngắn trên chiếu, rõ ràng cũng đang đợi tướng quốc triệu kiến.

Viên Báo dừng bước, vái mà nói: “Tiên sinh hãy đợi ở đây. Hôm nay đông khách, tại hạ không bồi tiếp được nữa!”

Trương Nghi đáp lễ, tìm một chỗ trống ngồi xuống. Mấy vị khách kia đều không biết Trương Nghi, cứ nghĩ hắn là ăn mày, vốn chẳng ai muốn ngồi cùng chiếu. Nhưng thấy Trương Nghi do quản gia đích thân dẫn đến, không hiểu đầu cua tai nheo thế nào, nên không ai dám lên tiếng, đành phải đưa tay áo bịt mũi, ngồi dạt sang một bên. Trương Nghi cũng chẳng thèm đếm xỉa đến bọn họ, lầm lì nhắm mắt ngồi yên.

Chỗ này cách phòng chính không xa, Tô Tần đang ở trong phòng tiếp khách. Mặc dù không nhìn thấy Tô Tần, nhưng Trương Nghi lại rất thính tai, đặc biệt khi ở trong Quỳ Cốc đã từng học qua công phu tĩnh toạ, nên tất cả những đối thoại trong phòng, Trương Nghi đều nghe rõ không sót một chữ. Tô Tần quả thực đang xử lý quốc sự, việc này nối tiếp việc kia, thành thục quyết đoán. Một người cáo từ đi ra, Viên Báo liền đứng ngoài cửa, gọi người khác vào. Người đang ngồi đợi bên cạnh Trương Nghi nghe thấy tiếng gọi, liền đáp lời, đứng dậy đi sang. Bên này có người vừa đi, phía sau lại có người mới đến, cứ như vậy vào vào ra ra, liên tục không ngừng nghỉ.

Trương Nghi đợi đúng hai canh giờ, đã đến giờ Ngọ, mở mắt nhìn quanh, thấy trong phòng đã không còn một bóng người, phía ngoài cũng không thấy có người mới đến. Nghiêng tai lắng nghe, Tô Tần vẫn đang nói chuyện với ai đó, có lẽ đã là người cuối cùng.

Một lúc sau, người đó đứng dậy cáo lui. Trương Nghi thở hắt ra một hơi dài, trong miệng lẩm bẩm: “Than ôi, xem ra ta đã hiểu lầm Tô huynh rồi! Vật đổi sao dời, không thể suy nghĩ giống như khi còn trong Quỷ Cốc. Quan sát nửa ngày hôm nay, thấy Tô huynh cũng chẳng dễ chịu gì!”

Nghĩ là vậy, Trương Nghi cũng cảm thấy bình tâm hơn một chút. Lại qua một lúc nữa, vẫn chưa thấy Tô Tần triệu kiến, Trương Nghi trong lòng sốt ruột, nhưng lại thầm nghĩ bụng, có lẽ do Tô Tần quá mệt, hẳn đang tranh thủ chợp mắt một lát, nên lại tiếp tục nhắm mắt chờ đợi.

Vừa đợi được một lát, phía ngoài lại có người vào báo thượng đại phu nước Tần đến thăm. Tô Tần liền truyền vào gặp, Viên Báo dẫn Sư Lý Tật vội vàng đi vào. Vì trong phòng chính không còn khách, Sư Lý Tật không đi vào phòng bên mà đi thẳng vào phòng chính. Trương Nghi có thể nghe ngóng thấy cảnh Tô Tần đứng dậy nghênh đón, hành lễ, rồi hai bên cùng ngồi xuống trò chuyện.

Trương Nghi tĩnh tâm lắng nghe, thấy hai người không hề nói về quốc sự, mà tán chuyện đông tây, đàm thiên thuyết địa. Trương Nghi loáng thoáng nghe thấy Sư Lý Tật nhắc đến chuyện xem kịch, Tô Tần bèn bật cười, nói là đã đến giờ Ngọ, hãy cùng nhau ra vườn sau, vừa xem kịch vừa dùng bữa. Sư Lý Tật vui vẻ đồng ý, rồi hai người dắt tay nhau đi ra khỏi cửa.

Trương Nghi liếc thấy Tô Tần đã ra khỏi cửa, lập tức chỉnh trang áo xống, ngồi ngay ngắn lại, hai mắt khép hờ, khẽ đặng hắng một tiếng. Song Tô Tần chẳng hề liếc sang lấy một cái, cũng làm như không hề nghe thấy tiếng động, vừa đi vừa cười nói với Sư Lý Tật, băng qua lối đi chính chỉ cách Trương Nghi chừng mười mấy bước, đi thẳng ra khỏi khu nhà. Viên Báo và những người khác cũng lặng lẽ đi theo sau, chẳng ai để tâm đến Trương Nghi đang ngồi ở phòng bên, dường như Trương Nghi không hề tồn tại.

Điều này khiến Trương Nghi nộ khí xung thiên. Nhìn thấy đám người đã đi xa, đến tiếng bước chân cũng không nghe thấy nữa, Trương Nghi giận đến mặt mũi tái xanh, mắt long sòng sọc, bàn tay siết chặt. Đưa mắt nhìn quanh, thấy trong nhà không còn một bóng người, liền đứng vụt dậy, nhấc bổng chiếc bàn trước mặt lên, đập thẳng cánh xuống một chiếc bàn khác, rồi quay ra ngoài cửa quát lớn: “Người đâu!”

Tiếng đập phá chát chúa và tiếng quát hung hãn như sấm động của Trương Nghi quả nhiên đã gọi được mấy tên gia đinh đến. Họ xông cả vào, thấy Trương Nghi giận dữ đến vậy, thảy đều ngẩn ra không biết làm gì.

Trương Nghi quát lớn: “Gọi chủ nhân của các ngươi đến đây!”

Một người vội vàng chạy đi bẩm báo. Viên Báo nhanh chóng chạy đến, thấy bộ dạng của Trương Nghi như vậy, vội vàng vòng tay vái, rồi cười nói: “Thật tạ lỗi, lúc nãy bận quá, đã không tiếp đãi tiên sinh chu đáo!”

Trương Nghi không thèm đáp lễ, nổi giận đùng đùng: “Gọi Tô Tần đến đây!”

“Ờ…” Viên Báo thoáng ngần ngừ, rồi lại vái mà nói. “Xin tiên sinh đợi cho một lát, tại hạ lập tức đi bẩm báo!” Một lát sau, Viên Báo quay trở lại, vòng tay vái mà nói: “Tiên sinh, chúa công có lời mời!”

Nghe thấy ba chữ “có lời mời”, Trương Nghi cũng thấy nguôi giận một phần, nhưng vẫn không đáp lễ, chỉ “ừm” một tiếng, mặt hầm hầm đi theo Viên Báo ra vườn sau.

Đi vòng vèo một lúc, hai người đi đến một khu nhà khác, từ xa đã nghe thấy bên trong rộ lên từng tràng tiếng cười nói, hoan hô, tiếng trống “thùng thùng” liên hồi kỳ trận, tựa như đang tấu nhạc.

Trương Nghi cố ghìm lửa giận, ngạo mạn đi đến bậc tam cấp, rồi dừng bước trước dãy bậc.

Viên Báo chìa tay nói: “Tiên sinh, mời vào!”

Trương Nghi dừng lại, vốn dĩ là muốn đợi Tô Tần xuống đón, nhưng thấy Viên Báo nói vậy, đành cố nén giận bước lên bậc thềm.

Vừa bước vào trong cửa, Trương Nghi lại càng lửa giận sôi trào, vì ở giữa sân dựng một sân khấu lớn bằng gỗ, trên đó có hai nam hai nữ đang nhảy múa, những tiếng “thùng thùng” vừa nãy chính là chân họ giậm lên sân khấu phát ra. Phía sau sân khấu, đối diện với cửa chính, dưới hành lang đại sảnh, Tô Tần ngồi ngay ngắn ở vị trí chính giữa, Sư Lý Tật, công tử Hoa ngồi hai bên, vừa ăn uống vừa xem nhảy múa, thỉnh thoảng lại bật lên từng tràng cười sảng khoái. Trước mặt mỗi người đều bày một chiếc bàn bày la liệt rượu ngon, sơn hào hải vị.

Vừa nhìn thấy rượu thịt, Trương Nghi bỗng thấy bụng đói cồn cào. Tối qua giận dữ, hầu như không nuốt được gì. Sáng sớm lại bận việc quần áo, cũng chẳng có bụng dạ nào mà ăn uống. Lúc nãy ngồi đợi suốt nửa ngày trời, trong lòng ấm ức, đến nước trà bày trên bàn cũng không thèm nhấp lấy một ngụm. Đến lúc này, mặc dù Trương Nghi không có lòng dạ nào nghĩ đến ăn uống, nhưng cái bụng lại chẳng chịu yên, cứ sôi lên ùng ục, giờ nhìn thấy rượu thịt, lại càng réo vang hơn nữa.

Trương Nghi cố gắng chịu đựng, liếc nhìn Tô Tần, thấy hai mắt hắn chỉ dán lên sân khấu, không hề để mắt đến mình. Trương Nghi đang định lên tiếng, Viên Báo đã rẽ sang bên phải, chìa tay ra mời. Trương Nghi bèn miễn cưỡng đi theo, sang phía hành lang bên phải, ở đây cũng bày một cái bàn, sau bàn trải một chiếc chiếu.

Viên Báo chỉ vào chiếu, rồi vòng tay nói: “Tiên sinh, mời ngồi!”

Trương Nghi há miệng đến mấy lần, trừng mắt giận dữ nhìn Tô Tần một cái, rồi hậm hực ngồi xuống. Tô Tần vẫn chưa nhìn thấy Trương Nghi, tiếp tục cùng với Sư Lý Tật mải mê xem múa hát.

Trên sân khấu, đám nam nữ nhảy nhót càng hăng, khiến hai người xem đến quên cả ăn uống, cứ mê mải dán mắt lên sân khấu.

Viên Báo vòng tay nói: “Cũng vừa hay đến thời gian dùng bữa, nếu tiên sinh không chê, hãy dùng một bữa cơm đạm bạc tại đây!”

Trương Nghi vốn chẳng muốn ăn, song bụng đói cồn cào khó chịu. Nghĩ lại, thấy mình trước nay chỉ xử tệ với người khác chứ chưa bao giờ xử tệ với bản thân, cho dù tức giận, cũng phải no bụng trước đã. Nghĩ đến đây, Trương Nghi khẽ “ừm” một tiếng, coi như đồng ý.

Viên Báo bèn vỗ tay, một người hầu liền bưng mâm tiến lại, lần lượt bày từng món lên bàn. Trương Nghi vừa liếc thấy, nộ hoả lại bùng lên rừng rực, vì chỉ thấy vỏn vẹn hai đĩa thức ăn nhỏ, một rau một mặn, một chén trà thô, một bát cơm tẻ. Viên Báo thấy cơm rau đã bày xong, liền vòng tay vái mà nói: “Tiên sinh dùng bữa, tại hạ cáo lui!” Rồi không đợi Trương Nghi đáp lời, đã quay ngoắt đi luôn.

Trương Nghi nghiến răng trèo trẹo, mấy lần kích động, chỉ muốn hất tung chiếc bàn, lao tới trước mặt Tô Tần, chỉ thẳng vào mặt hắn chửi rủa một trận cho hả giận, làm ầm ĩ lên cho sự việc tanh bành, nhưng lại cố gắng nín nhịn. Dù gì đi nữa, hiện giờ cũng đang ở trong nhà người ta, mình lại áo quần rách rưới, quả thực trông chẳng khác gì kẻ ăn mày, được ban cho một bữa cơm, coi như đã không tệ. Hơn nữa, cho tới giờ, nhìn vào bề ngoài, Tô Tần vẫn chưa hề nhìn thấy Trương Nghi, đám hạ nhân đối xử với hắn như vậy cũng là thường tình, đúng là mắt chó không biết nhìn người. Cũng được, đây đều là bằng chứng, đợi lát nữa gặp mặt, xem Tô Tần có thấy hổ thẹn, có chết nghẹn hay không?

Nghĩ như vậy, Trương Nghi lại gắng gượng nén nộ hoả xuống, bưng bát đũa lên, nuốt hận mà uống trà ăn cơm.

Màn múa trên sân khấu đã sang đoạn cao trào, hai nam hai nữ lắc đầu lắc mông điên đảo, tám mũi chân không ngừng đá hất, giẫm đạp vùn vụt trên sân khấu, lúc nặng lúc nhẹ, song rất đỗi nhịp nhàng trầm bổng, âm điệu vui tai. Thú vị hơn nữa là trong đám có một người giỏi khẩu kỹ, vừa nhảy, trong miệng vừa phát ra đủ loại âm thanh, nghe hệt như âm nhạc, lại hoà quyện khéo léo với tiếng giậm chân, hợp thành bản nhạc rất vui nhộn. Sân khấu cũng thật đặc biệt, có hình tròn, sơn màu đỏ, trong rỗng, hệt như một chiếc trống lớn. Mấy người chân đi guốc gỗ, dùng mũi guốc tiếp đất, gõ lên sân khấu, chẳng khác nào dùi gõ trống, phát ra những tiếng “thùng thùng” giòn giã.

Đám người Tô Tần xem say sưa đến quên hết mọi thứ xung quanh, cả ba đều nhịp mũi chân xuống đất, hai tay gõ bàn, bất giác tạo ra đủ loại âm thanh, phối hợp với tiết tấu trên sân khấu. Tuy nhiên, với Trương Nghi, mỗi một tiếng gõ chẳng khác nào dao cứa vào tim. Đang bực bội khó chịu không để đâu cho hết, thì màn múa thình lình kết thúc. Tô Tần xua tay, đám vũ công nam nữ đều lui cả xuống.

Công tử Hoa vòng tay hỏi: “Xin hỏi tướng quốc, đây là vũ đạo gì mà thú vị đến vậy? Hôm nay tại hạ đúng là đã được đại khai nhãn giới!”

Tô Tần đáp: “Công tử thích là may mắn lắm rồi! Đây là điệu múa giậm guốc nhọn, là vũ đạo đặc biệt của Hàm Đan, nơi khác không có!”

“Giậm guốc nhọn?” Công tử Hoa vội hỏi. “Tên gọi này có nghĩa là gì?”

“Công tử đã nghe chuyện học đi ở Hàm Đan chưa?”

“Đã nghe! Kể rằng có người Thọ Lăng đến Hàm Đan học đi, kết quả là cách đi của Hàm Đan đã không học được, đến cả cách đi vốn có của mình cũng quên mất. Tại hạ cảm thấy rất quái lạ, cho dù có dốt nát đến đâu chăng nữa, cũng không thể dốt nát tới nỗi đến đi cũng không học nổi chứ?”

Tô Tần cười vang vài tiếng, rồi chỉ lên sân khấu, nói: “Thứ mà người Thọ Lăng đó học chính là điệu múa này. Nếu công tử không phục, ở kia có một đôi guốc nhọn, có thể lên sân khấu đi thử xem sao.”

Công tử Hoa quả nhiên bước lên sân khấu thực, cầm lấy đôi guốc nhọn, từ từ xỏ vào, bắt chước theo bộ dạng của mấy vũ công vừa rồi, kiễng gót nhón mũi lên, không ngờ vừa đi được một bước, đã “oái” một tiếng, ngã chổng vó xuống sàn, khiến cho mọi người được trận cười nghiêng ngả. Có vẻ như cú ngã đã khiến công tử Hoa trật cổ chân bên phải, khập khiễng bước xuống sân khấu, vừa đi vừa nhăn nhó mặt mũi, khiến mọi người lại cười rộ lên.

Mỗi một tiếng cười của họ chẳng khác nào lưỡi đao chém tới. Lúc này, Trương Nghi thực sự không thể nhẫn nhịn thêm được nữa, thình lình quát lên thật lớn: “Đủ rồi!” Lời vừa dứt, chiếc bàn trước mặt đã bị hất tung lên, trà thô cơm nhạt văng tung toé đầy đất.

Mấy người giật nảy mình, đều quay cả lại nhìn.

Tô Tần mặt hơi biến sắc, ngoái lại hỏi: “Kẻ nào dám làm ồn ở đó?”

Viên Báo vội chạy đến, quỳ xuống khấu đầu đáp: “Xin chúa công bớt giận, là một vị khách!”

“Khách nào?” Tô Tần liếc mắt nhìn Trương Nghi, giận dữ quát lớn. “Một kẻ ăn mày mà cũng dám làm loạn, đuổi hắn đi!”

Viên Báo vội nói: “Chúa công bớt giận, người này nói rằng tên là Trương Nghi, bạn cũ của chúa công!”

Nghe thấy hai chữ “Trương Nghi”, Sư Lý Tật, công tử Hoa đều giật nảy mình, đưa mắt nhìn nhau, sau đó cùng quay sang nhìn Trương Nghi, rồi lại nhìn Tô Tần, không biết hắn đang diễn trò gì?

“Ồ?” Tô Tần cũng sững lại một thoáng. “Là Trương Nghi, Trương hiền đệ ư?” Ngẫm nghĩ một lát, rồi lại làm bộ săm soi Trương Nghi một lượt từ đầu đến chân, lắc đầu mà nói. “Không thể nào! Trương hiền đệ là bậc phong lưu nức tiếng, làm sao lại có bộ dạng này được? Gọi hắn lại đây!”

Viên Báo vâng lệnh, liền đứng dậy đi tới trước mặt Trương Nghi, vòng tay nói: “Trương tiên sinh, chúa công gọi tiên sinh đến!”

Trương Nghi vội đứng dậy, bước nhanh về phía Tô Tần, dừng lại cách Tô Tần mấy bước chân, ngửa cổ lên, chỉ tay vào Tô Tần quát: “Thằng ranh Tô Tần kia, ngươi mở to mắt ra mà nhìn, xem có quen biết người đứng trước mặt ngươi không?”

Tô Tần săm soi một lượt từ đầu tới chân, rồi phá lên cười mấy tiếng, đã không ôm quyền, cũng chẳng đứng dậy, chỉ kéo dài giọng mà chậm rãi nói: “Ồ, đúng thực là Trương Nghi Trương hiền đệ!” Rồi chỉ tay vào một chiếu ở bên cạnh. “Ngồi! Ngồi! Ngồi đi!”

Trương Nghi làm gì chịu ngồi, vẫn chỉ tay thẳng mặt Tô Tần lớn giọng quát mắng: “Thằng ranh Tô Tần! Nghi lúc nào cũng coi ngươi là trượng phu, không ngờ chỉ là kẻ tiểu nhân bỉ ổi, vừa mới đắc chí đã quên hết nghĩa tình!”

“Trương hiền đệ!” Tô Tần lạnh nhạt đáp lời. “Sao có thể nói như vậy được? Nếu nói đắc chí, phải là hiền đệ đắc chí mới đúng. Hiền đệ ở Sở đã làm nên đại sự kinh thiên động địa, chấn động liệt quốc, nghe nói gần đây còn thình lình phát đại tài. Hiền đệ đắc chí đến vậy, mà lại đến Hàm Đan giả nghèo giả khổ, cải trang thành bộ dạng thế này, phải chăng là muốn giễu cợt tại hạ?”

Nghe Tô Tần cạnh khoé về việc ngọc Hoà thị bích, coi Trương Nghi chính là kẻ trộm, Trương Nghi mới đột nhiên bừng tỉnh, bàn tay run bắn, giận sôi máu mà quát lên như sấm: “Ngươi… tên tiểu nhân kia! Ta…ta…” thở phì phì vài tiếng mới bật được vài chữ, “ta và ngươi đoạn tình…” Nộ khí tắc nghẽn trong cổ họng, khiến hắn không thể thốt ra nốt hai chữ “tuyệt nghĩa”.

Tô Tần cười vang mấy tiếng: “Trương hiền đệ, chớ nên vội nói nặng lời! Hiền đệ đến phủ của tại hạ, cố ý giễu cợt tại hạ, tại hạ đã niệm tình nghĩa trước đây nên mới không truy cứu lỗi lầm. Người hiểu hiền đệ trong thiên hạ, ngoài tiên sinh ra, chỉ còn tại hạ. Hiền đệ tâm cao khí ngạo, lại được đắc chí ở Kinh Sở, nếu không phải có chuyện lớn, tuyệt đối sẽ không đến lánh nạn ở nước nhỏ. Nói đi, có việc gì cần kíp, tại hạ tuy sức mọn lực mỏng, nhưng giả sử giúp được, tại hạ cũng sẽ hết lòng!”

Trương Nghi đâu có thể nhẫn nhịn thêm được nữa, giậm chân mà nói: “Ngươi… ngươi…Tiểu nhân! Ngươi… ngươi giỏi lắm!” Rồi quay ngoắt người, rảo bước định đi.

Tô Tần lập tức gọi giật lại: “Khoan đã!”

Trương Nghi dừng bước, quay đầu đưa ánh mắt phẫn hận nhìn Tô Tần.

Tô Tần quay sang Viên Báo đứng hầu bên cạnh: “Người này mặc quần áo ăn mày mà đến, không tống tiễn sẽ không may mắn. Mau, thưởng cho hắn mười lượng vàng!”

Viên Báo dường như cũng đã chuẩn bị sẵn, liền bước lên, móc từ trong tay áo ra mười lượng vàng đưa cho Trương Nghi: “Đây là mười lượng vàng, xin tiên sinh hãy nhận lấy!”

Lúc này, Trương Nghi cũng đã trấn tĩnh trở lại, cầm lấy mười lượng vàng, rồi thẳng tay ném luôn xuống đất, giơ chân giẫm đạp vài cái, quay sang Tô Tần nhổ toẹt một bãi nước miếng, ngửa mặt lên trời cười một tràng dài, sau đó ngẩng cao đầu, nghênh ngang bước đi.

Nhìn theo bóng Trương Nghi xa dần, cho đến khi khuất hẳn, Tô Tần dường như cũng biến thành một con người khác, chạy đuổi theo đến tận cổng, thấy Trương Nghi đã mất tăm, thì đau đớn quỳ sụp xuống đất, khóc lớn mà kêu lên: “Hiền đệ… hiền đệ ơi!” Vừa khóc, vừa dập đầu lia lịa xuống đất, do động tác quá mạnh, nên bật lên những tiếng bình bịch.

Viên Báo cũng chạy đến nơi, quỳ xuống bên cạnh Tô Tần, ứa lệ cố đỡ Tô Tần dậy: “Chúa công…”

Nhìn Tô Tần lúc thế này lúc thế kia, hai bộ mặt, hai thái độ, khiến cho Sư Lý Tật, công tử Hoa nhìn mà sững sờ ngơ ngác.

Ngẩn ra một lát, Sư Lý Tật bèn chậm rãi bước tới, dìu Tô Tần đứng dậy, trở về chỗ ngồi. Thấy Tô Tần vẫn nước mắt ròng ròng, nghẹn ngào không thôi, cảm thấy khó hiểu liền hỏi: “Tô Tử… Tô Tử đang diễn màn kịch gì vậy?”

Tô Tần định thần lại, đưa tay áo lau nước mắt, thở dài một tiếng: “Than ôi, tại hạ làm như vậy, chẳng phải là vì các vị thì vì ai đây?”

“Vì chúng tôi?” Công tử Hoa kinh ngạc, quay sang Sư Lý Tật, thấy ông ta cũng mặt mày ngơ ngác.

Tô Tần gật đầu, rồi nói rành rọt từng tiếng: “Hai vị đã có thể trở về! Hãy nói với Tần Công rằng, người mà Tô Tần tiến cử sắp đến rồi!”

Mãi tới lúc này, Sư Lý Tật mới đột nhiên bừng tỉnh, vội vàng vòng tay vái Tô Tần: “Đa tạ Tô Tử! Đa tạ Tô Tử!”

“Còn nữa!” Tô Tần không đáp lễ, tiếp tục nói. “Trương Nghi nhiều đời sống ở Hà Tây, gia nghiệp, phần mộ tổ tiên và gia miếu đều ở Trương Ấp, Thiếu Lương!” Ngừng lại một lát, quay sang Viên Báo. “Ta mệt rồi, tiễn khách!” Rồi chậm chạp đứng dậy, chẳng buồn nhìn đến Sư Lý Tật, công tử Hoa, lảo đảo bước ra khỏi cửa giống như người say rượu.

Viên Báo không yên tâm, liền vòng tay tạ lỗi hai vị khách, sau đó bám theo Tô Tần, vội vàng đi về phía Thính Vũ các.

Nhìn theo bóng hai người, Sư Lý Tật dường như cũng có điều nghĩ ngợi, bèn quay sang công tử Hoa: “Tử Hoa, hãy mau quay về bẩm báo với chúa thượng, truy thu trả lại toàn bộ gia sản của Trương Tử, tu sửa gia miếu, phần mộ tổ tiên. Tại hạ ở đây đợi Trương Tử, tuyệt đối không được để xảy ra sơ xuất!”

“Hạ quan tuân lệnh!”

Trước cửa quán trọ Phong Vân, chủ quán, Hương Nữ đang đứng bên ngoài trông ngóng, từ xa đã nhìn thấy Trương Nghi xoạc cẳng xồng xộc đi về, sắc mặt giận dữ, bèn đưa mắt nhìn nhau, chẳng ai dám nói câu nào.

Trương Nghi bước tới cửa, cũng chẳng buồn nhìn họ, chỉ cúi đầu lầm lì đi thẳng vào trong, đưa chân đạp tung cánh cửa, sau đó quay người đóng sập lại. Hương Nữ do dự, rồi cũng thận trọng bước theo phía sau, mở cửa phòng ra, thấy Trương Nghi không ở đấy, biết là hắn đã vào phòng trong. Hương Nữ vốn định vào khuyên giải mấy câu, nhưng do dự một lát rồi lại dừng bước.

Đúng vào lúc này, phía ngoài có người gõ cửa. Hương Nữ ra mở, hoá ra đó là gã ăn mày lúc sáng.

Gã ăn mày vẫn ở lì trong quán, thấy Trương Nghi quay về, lập tức đến gõ cửa. Hương Nữ chau mày, sợ Trương Nghi nghe thấy nên chỉ nói nhỏ: “Ngươi hãy đợi thêm một lát, ta sẽ trả quần áo cho ngươi!”

Gã ăn mày nói lớn: “Không được, không được! Tôi đã đợi suốt cả ngày ở cái nơi quỷ tha ma bắt này rồi, buồn chân buồn tay muốn chết! Mau gọi vị đại nhân kia ra, trả lại áo cho tôi!”

Hương Nữ tức giận, trách mắng gã: “Ngươi thật là! Dẫu rằng ta lấy quần áo của ngươi, nhưng chẳng phải cũng đã trả cho ngươi một bộ rồi ư? Lấy quần áo mới đổi quần áo rách, thế mà ngươi lại không biết điều!”

Nghe nói vậy, gã ăn mày lập tức cởi tuột bộ quần áo trên người ra, ném thẳng xuống đất: “Ai cần quần áo đẹp của nhà chị? Mặc thứ này ra ngoài, đến bát cháo loãng cũng chẳng xin được mà ăn!”

Hương Nữ thấy gã gần như đã trần trùng trục thì xấu hổ đỏ bừng mặt, vội quay người đi, gọi: “Tiểu nhị, mau đuổi hắn đi!”

Tiểu nhị nghe tiếng liền chạy đến, lôi kéo gã ăn mày. Đang lúc giằng co gay gắt, bỗng thấy Trương Nghi trở ra, sải vài bước đã tới trước mặt gã ăn mày, vung tay chụp lấy gã, xô một cú thật lực. Gã ăn mày ngã phệt mông xuống đất, đau đến suýt trào nước mắt.

Trương Nghi vụt một cái đã cởi phăng mớ quần áo rách rưới trên người ra, ném thẳng xuống đất, quát lớn: “Cút! Cút cút cút! Cút đi!”

Gã ăn mày chưa từng gặp phải cơn thịnh nộ nào khủng khiếp đến vậy, sợ hãi đến run rẩy, suýt vãi cả ra quần, vội vàng vơ lấy bộ quần áo rách, vừa bò vừa lết ra khỏi cửa.

Trương Nghi phủi tay, trở vào trong phòng, đứng thở hồng hộc một lúc rồi ngồi phịch xuống chiếu, nhắm hai mắt lại, mặc cho hai giọt lệ to tướng ứa ra khoé mắt, lăn dài trên má, rơi lộp độp xuống nên nhà.

Sáng sớm hôm sau, trong Thính Vũ các, Giả Xá Nhân đang cùng Tô Tần trò chuyện, Viên Báo đi vào bẩm báo: “Chúa công, đã sắp đến giờ Thìn, tất cả mọi thứ đã chuẩn bị xong xuôi!”

Tô Tần gật đầu, vòng tay nói với Giả Xá Nhân: “Tại hạ xin nhờ cậy vào Giả huynh!”

Giả Xá Nhân vòng tay đáp lễ: “Tô Tử yên tâm, tại hạ nhất định sẽ đưa Trương Tử tới Hàm Dương an toàn, tiến cử lên Tần Công!”

“Chỉ cần đưa đến Hàm Dương là được!” Tô Tần điềm đạm nói. “Giả huynh không cần tiến cử!”

“Tại sao lại như vậy?” Giả Xá Nhân ngẩn người nhìn Tô Tần.

“Nếu Tần Công không biết dùng Trương Nghi, thì còn gọi gì là thánh quân?”

“Phải!” Giả Xá Nhân gật đầu nói. “Thế nhưng, tại hạ vẫn có một điều lo lắng, cũng muốn nhắc nhở Tô Tử!”

“Giả huynh cứ nói!”

“Trên đường đi, tại hạ và Trương Tử trò chuyện rất nhiều, biết được Trương Tử là bậc kỳ tài. Tô Tử không những không mời Trương Tử liên thủ lập nghiệp, ngược lại còn dốc hết tâm sức, ép hắn đến Tần. Trương Tử đến Tần, chắc chắn sẽ trở thành kình địch của Tô Tử. Lẽ nào Tô Tử không sợ đại nghiệp hợp tung sẽ bị huỷ hoại trong tay Trương Tử ư?”

Tô Tần trầm tư hồi lâu, khẽ thở dài một tiếng: “Nếu quả thực như vậy, cũng là ý trời!”

“Nói vậy là có ý gì?”

“Giả huynh có điều không biết, khi còn ở Quỷ Cốc, tiên sinh đã dự đoán, cái đạo thái bình trong thiên hạ chỉ có hai con đường, một là liệt quốc nhất thống, hai là chư hầu hoà thuận. Chí của hiền đệ là ở nhất thống, sẽ không tán đồng thuyết hợp tung của tại hạ. Không cùng đường, khó mưu sự. Tại hạ chí tại hợp tung, hiền đệ chí tại nhất thống, hiền đệ và tại hạ không thể sánh vai liên thủ. Muốn thành đại nghiệp, ắt phải đồng lòng. Hai người khác lòng, không những khó thành đại nghiệp, ngược lại còn sinh trở ngại. Hơn nữa, hiền đệ và tại hạ mặc dù đi hai con đường khác nhau, nhưng lại quy về cùng một đích. Cho dù hiền đệ thành công hay tại hạ thành công, mục tiêu chung vẫn là thiên hạ đại đồng. Điều này tại hạ cũng rất hiểu hiền đệ.”

“Nỗi khổ tâm của Tô Tử, liệu có thể nói cho Trương Tử biết chăng?”

Tô Tần trầm tư hồi lâu, rồi khẽ lắc đầu: “Không cần!” Lại suy nghĩ một lúc nữa, rồi từ từ đứng dậy. “Nếu hiền đệ nhất quyết phá hoại kế sách hợp tung của tại hạ, có bao nhiêu công lực, hãy cứ để hiền đệ thi triển ra hết! Sắp đến giờ Thìn rồi, tại hạ xin cung tiễn Giả huynh!”

Trong quán trọ Phong Vân, Trương Nghi cả đêm không ngủ, cứ thế ngồi lặng trong phòng, nhắm mắt suy tính. Hương Nữ ngồi cùng Trương Nghi cả đêm, nhưng đến khi trời sáng, lại mệt quá ngủ thiếp đi, tới khi tỉnh lại thì mặt trời đã lên cao, đã đến giờ Thìn. Hương Nữ vội vã chải đầu rửa mặt, đang định kiếm chút đồ ăn thì bên ngoài có tiếng gõ cửa. Hương Nữ ra xem, thì ra là chủ quán trọ. Chủ quán vòng tay nói: “Xin chào phu nhân!”

Hương Nữ thấy trong tay chủ quán cầm sổ sách, đã hiểu rõ nguyên do, liền vòng tay nói: “Xin chào ông chủ!”

“Trương Tử có ở đây không?”

“Ông chủ muốn tính tiền trọ ư?”

Chủ quán có phần ái ngại, cười gượng một tiếng: “Phu nhân và Trương Tử ở trọ đã lâu, quán của tại hạ vốn nhỏ lãi ít, vì vậy tại hạ muốn… muốn phu nhân trả trước một khoản tiền để tiện xoay vòng.”

Hương Nữ mỉm cười, vòng tay nói: “Đây là điều đương nhiên. Phu quân đang nghỉ ngơi, hãy để tiểu nữ tính tiền với ông chủ, được chăng?”

Chủ quán vội nói: “Được! Được! Được!”

“Chỗ này không tiện nói chuyện, ông chủ hãy đến phòng sổ sách trước, tiểu nữ sẽ đến ngay!” Hương Nữ nói xong, liền quay trở vào phòng, cầm lấy bảo kiếm Tây Thi rồi đóng cửa đi ra, thấy chủ quán vẫn đứng đợi ngoài cửa, liền rảo bước đi theo ông ta tới phòng sổ sách.

Chủ quán bày sổ lên bàn, nói với Hương Nữ: “Khu nhà đó vốn là phòng xa hoa nhất trong bản quán, thường chỉ dành cho khách quý, một ngày tám mươi đồng tiền bố. Những thứ mà Trương Tử và phu nhân sử dụng thường ngày cũng đều là đồ thượng phẩm, đây là bản kê chi tiết, xin phu nhân hãy kiểm tra!”

“Không cần kiểm tra, ông chủ cứ tính là được rồi!”

Chủ quán lấy bàn tính ra, gẩy tanh tách một hồi, rồi chỉ tay vào bàn tính mà nói: “Tổng cộng là tám lượng vàng ba mươi hai xu đồng. Hai vị là bạn của Giả tiên sinh, lại có quan hệ thân thiết với tướng quốc đại nhân, tại hạ sẽ giảm cho ba mươi hai xu đồng, phu nhân chỉ cần trả tám lượng vàng là được.”

“Không dám giấu ông chủ,” Hương Nữ điềm đạm nói, “phu thê chúng tôi lánh nạn đến đây, tiền bạc mang theo đã cạn, vốn định đến nhờ vả Tô tướng quốc, ai ngờ lại xảy ra sự việc bất ngờ, phu quân vì thế mà sinh giận dữ, cả đêm không ngủ. Hiện giờ tình cảnh ngặt nghèo, đừng nói là tám lượng vàng, cho dù là nửa lượng cũng chẳng có. Nếu ông chủ nhất định muốn đòi…” vừa nói vừa đặt thanh bảo kiếm lên bàn, “tiểu nữ chỉ có vật này thế chấp.” Nói đoạn tuốt kiếm khỏi vỏ, giọng điệu càng thêm bình thản. “Dám hỏi ông chủ, kiếm này có thể đổi tạm tám lượng vàng chăng?”

Chủ quán xem kỹ bảo kiếm, bất giác hít ngược một hơi khí lạnh. Chưa nói tới cái khác, chỉ riêng bao kiếm cũng đáng giá cả trăm lượng vàng. Suy nghĩ một lúc, chủ quán khẽ đẩy trả bảo kiếm, mỉm cười hỏi: “Ngoài vật này ra, phu nhân còn vật nào khác không?”

Hương Nữ lắc đầu.

Chủ quán hỏi tiếp: “Hai vị có người quen ở Hàm Đan không?”

Hương Nữ lại lắc đầu.

Chủ quán lại ngẫm nghĩ một lúc, rồi gật đầu nói: “Đã như vậy, tạm thời tại hạ sẽ giữ lại kiếm này, đợi sau khi phu nhân trả đủ tiền, tại hạ sẽ hoàn trả nguyên vẹn!”

“Đa tạ ông chủ!” Hương Nữ đáp khẽ một câu, rồi cầm kiếm lên, chậm rãi tra vào trong vỏ, nhìn lướt qua một lần cuối cùng, rồi đứng dậy, quay người trở về phòng.

Hương Nữ rảo bước một mạch về đến phòng, đóng cửa lại, tựa lưng vào cánh cửa, không nén nổi đau xót, nước mắt cứ thế tuôn chảy. Buồn bã một hồi, Hương Nữ bèn lau nước mắt, gượng trấn tĩnh lại, nhẹ nhàng đi vào trong sảnh, đắn đo một thoáng, rồi quỳ xuống trước mặt Trương Nghi.

Chẳng cần hỏi nhiều, Trương Nghi cũng biết đã xảy ra chuyện gì, bèn trầm giọng hỏi: “Phu nhân đã mang bảo kiếm đi thế chấp rồi ư?”

“Phu quân!” Hương Nữ gượng cười, điềm đạm nói. “Thiếp và chủ quán đã thương lượng xong, chỉ là tạm thời thế chấp, sau này sẽ chuộc lại!”

Trương Nghi từ từ mở mắt ra, nhìn thẳng vào Hương Nữ, cười buồn một tiếng, rồi khẽ lắc đầu: “Cần thế chấp thì cứ thế chấp, chẳng phải chỉ là một thanh kiếm thôi ư?”

“Đúng thế!” Hương Nữ sắc mặt buồn bã, giọng thoáng nghẹn ngào. “Thiếp cũng biết, nó chẳng qua chỉ là một thanh kiếm!”

“Phu nhân!” Trương Nghi trong lòng chua xót, nhìn Hương Nữ đăm đăm, lại cười buồn một tiếng. “Lần này Nghi bị làm nhục, còn liên luỵ đến phu nhân… phải chịu thiệt thòi…”

“Phu quân!” Hương Nữ nhích lại gần mấy bước, ngả vào lòng Trương Nghi. “Chỉ cần có phu quân, thiếp chẳng tiếc điều gì!”

Đúng vào lúc này, ngoài cửa lại có tiếng gõ vọng vào. Trương Nghi cho là chủ quán lại đến, tức giận nói: “Gõ cái gì! Thanh kiếm đó đáng giá cả ngàn lượng vàng, lẽ nào còn chưa đủ hay sao?”

“Đủ rồi, đủ rồi!” Lời vừa dứt, người đến đã mở cửa bước vào.

Trương Nghi, Hương Nữ đều giật mình, ngẩng đầu lên nhìn, thì ra là Giả Xá Nhân.

“Giả tiên sinh!” Hương Nữ mừng rỡ kêu lên.

Giả Xá Nhân tay cầm bảo kiếm bước thẳng vào trong, ngồi xuống đối diện với Hương Nữ, đặt thanh kiếm lên trên bàn, ôm quyền vái mà nói: “Than ôi, Trương Tử, tại hạ… đã đến chậm một bước rồi!”

Trương Nghi vội đẩy Hương Nữ ra, vòng tay đáp lễ, cười buồn mà nói: “Đã khiến Giả huynh cười chê!”

Giả Xá Nhân thở dài nói: “Mấy ngày nay, việc làm ăn buôn bán có chút rắc rối, tại hạ phải vội vã rời Hàm Đan để đến Thượng Đảng, vì nhớ đến hai vị nên cấp tốc trở về, nhưng đã chậm chân, hại tẩu phu nhân suýt nữa thì đánh mất bảo bối.”

“Than ôi!” Trương Nghi cũng thở dài buồn bã. “Thời thế trêu ngươi, khiến Giả huynh đã phải bận lòng!”

“Ông chủ quán này không phải người xấu, mà là người làm ăn đàng hoàng, có điều ông ta làm ăn vốn nhỏ, chưa từng làm việc lớn bao giờ, đã vì một chút tiền mà làm tẩu phu nhân phải khó xử!” Giả Xá Nhân ôm quyền nói với Hương Nữ, rồi đưa trả bảo kiếm. “Tẩu phu nhân, tiền trọ tại hạ đã trả hết, xin hãy giữ lại bảo kiếm của phu nhân!”

Hương Nữ nhận lấy bảo kiếm, vòng tay nói: “Tiểu nữ đa tạ tiên sinh!”

“Than ôi!” Giả Xá Nhân thở dài, tự trách mình. “Có gì đáng đa tạ đâu? Đều là trách tại hạ. Nếu không phải tại hạ ra sức khuyên Trương Tử tới Hàm Đan, thì đã không xảy ra những việc không vui này!” Quay sang Trương Nghi. “Xin hỏi Trương Tử, bước tiếp theo dự tính thế nào?”

Trương Nghi rít ra hai chữ qua kẽ răng: “Đến Tần!”

“Đến Tần?” Giả Xá Nhân ra vẻ ngạc nhiên. “Vậy… vậy còn thù nhà của Trương Tử…”

“Trước khác, giờ khác!” Trương Nghi cười gượng một tiếng, rồi giải thích. “Việc trước mắt, không thể tính đến thù nhà được nữa!”

“Cũng tốt!” Giả Xá Nhân gật gù. “Trương Tử đặt nước trước nhà, tại hạ kính phục! Xin hỏi Trương Tử, định bao giờ lên đường?”

“Tại hạ muốn đi ngay lập tức, có điều… hiện giờ trong túi chẳng có lấy một xu, khó lòng đi được!”

“Việc này không khó! Tại hạ cũng đang định tới Hàm Dương một chuyến, vừa hay có thể đi cùng hai vị.”

Trương Nghi vô cùng kinh ngạc, ngẩng đầu hỏi: “Giả huynh đến Hàm Dương làm gì?”

“Ồ, là thế này!” Xá Nhân cười cười giải thích. “Nghe nói trên núi Chung Nam có một loại linh chi vô cùng quý giá, nếu mang về Lâm Truy, có thể kiếm được một món hời. Tại hạ từ lâu đã muốn đến đó xem rõ thực hư, có điều cứ bận rộn việc vặt, chưa thể lên đường. Nay có Trương Tử đồng hành, đúng là hai đường đều vẹn!”

Trương Nghi trầm ngâm một lát rồi vòng tay nói: “Đa tạ Giả huynh đã thành toàn!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử