Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 31
Luận phá thiên cơ, Tô Tần chuốc họa
Hoàn hương tay trắng, chị dâu rẻ khinh

❊ ❊ ❊

Tô Tần tới Hàm Dương vào đầu đông, chớp mắt đã qua hai tháng. Hiện tại sắp sang năm mới, cung Tần vẫn không thấy hồi âm. Đừng nói là Tô Tần, ngay cả Trúc Viễn cũng đứng ngồi không yên.

Sáng sớm hôm nay, Trúc Viễn dặn thuộc hạ chuẩn bị xe ngựa tốt, ra khỏi cổng đông thành Hàm Dương, đánh xe về phía đông nam đến núi Chung Nam. Gần trưa, Trúc Viễn đến chân núi, tìm một quán trọ gửi lại xe ngựa, chọn lấy một con ngựa khoẻ, thắng yên cương, tung mình nhảy lên, theo đường núi mà đi. Do núi cao giá rét, tuyết phủ đầy đường, nên hành trình rất đỗi gian nan. Đến chập tối ngày thứ ba, Trúc Viễn mới về tới Hàn Tuyền.

Hành lễ với Hàn Tuyền Tử xong xuôi, Trúc Viễn bèn kể sơ qua tình hình Tô Tần tới Tần và tài trí của Tô Tần, giọng điệu không giấu nổi lo lắng: “Bẩm tiên sinh, theo lý mà nói, Tô Tử chính là hiền tài mà Tần Công đang tìm kiếm, nhưng Tần Công tới tận hôm nay vẫn chần chừ chưa chịu triệu kiến, đệ tử nghĩ mãi mà không hiểu!”

Hàn Tuyền Tử ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng đầu lên hỏi: “Tô Tần có bàn luận chính sự?”

Trúc Viễn gật đầu.

“Tô Tần luận thế nào?”

“Tô Tử vừa tới Hàm Dương, Xá Nhân đã nhận ra đây không phải người tầm thường, bèn kể lại cho đệ tử nghe, đệ tử bèn cho Tô Tử ngay hôm sau khai đàn luận chính. Trong luận đàn, Tô Tử quả nhiên kiến giải phi phàm, đứng cao nhìn xa, bao quát thiên hạ, chỉ ra đại thế của thiên hạ là nhất thống, liệt quốc tất yếu sẽ quy về Tần, và còn nói rằng, Tô Tử đã có ba kế sách thượng, trung, hạ để phò tá Tần.”

“Ồ?” Hàn Tuyền Tử khẽ chau mày. “Là ba kế sách gì?”

“Thượng sách, còn gọi là đế sách, có thể khiến nước Tần đứng ở ngôi một mà bình định liệt quốc. Trung sách, còn gọi là bá sách, có thể khiến nước Tần uy phục thiên hạ, thống lãnh chư hầu. Hạ sách, còn gọi là bang sách, có thể khiến nước Tần yên ổn ở Quan Trung, dân chúng an cư lạc nghiệp, quân chủ kê cao gối ngủ.”

“Than ôi!” Hàn Tuyền Tử khẽ thở dài. “Tô Tần kia đúng là thông minh thái quá!”

Trúc Viễn lộ vẻ ngạc nhiên: “Tiên sinh?”

Hàn Tuyền Tử chậm rãi nói: “Chó cắn người thường không sủa, chó sủa thường không cắn người. Liệt quốc thiên hạ đua nhau xưng vương, đa phần chỉ là trên danh nghĩa. Còn người thực sự muốn thống trị thiên hạ, duy có Tần Công!”

“Ý tiên sinh là…” Trúc Viễn bỗng như bừng tỉnh, “Tô Tử không nên nói lộ ra suy nghĩ trong lòng Tần Công?”

Hàn Tuyền Tử lại khẽ thở dài: “Đúng vậy! Đừng nói là Tô Tần, dù là lão hủ, cũng chỉ có thể ám chỉ mà thôi. Trong suy nghĩ của Tần Công, nhất thống thiên hạ là sách lược lâu dài, chỉ có thể làm, không thể nói!”

Trúc Viễn cắn chặt môi, hồi lâu mới nói: “Là đệ tử đã hại Tô Tử rồi! Nếu không để Tô Tử khai đàn luận chính, sẽ không có sự thể này!”

Hàn Tuyền Tử khép mắt ngưng thần, lại chìm trong suy nghĩ, hồi lâu sau mới mở mắt mà nói: “Tất cả đều đã an bài, là Tần không có được Tô Tử!”

Trúc Viễn lộ vẻ sốt ruột: “Đệ tử vất vả suốt mấy năm trời, chỉ là để tìm kiếm đại tài cho Tần Công. Khó khăn lắm mới tìm được Tô Tử, nếu là như vậy…” ngẫm nghĩ một hồi, bèn nói, “đệ tử sẽ lại tiến cử lên Tần Công, để Tần Công giữ Tô Tử lại!”

Hàn Tuyền Tử cười buồn một tiếng, khẽ lắc đầu nói: “Tu Trường, đã là an bài, hà tất phải miễn cưỡng?”

Trúc Viễn kinh ngạc đứng ngây tại chỗ.

“Còn nữa, sau khi quay về, con hãy giục Tô Tần mau chóng rời khỏi Hàm Dương. Nếu không, không chừng còn rước phải họa sát thân!”

Trúc Viễn trợn mắt kinh hãi.

***

Huệ Văn Công ngồi trong thư phòng, mắt khép lim dim, nội thần cúi đầu đứng hầu bên cạnh.

Hồi lâu, Huệ Văn Công mới bật ra một câu: “Mấy ngày nay, Tô Tần kia làm những chuyện gì?”

“Khởi bẩm chúa thượng,” nội thần trả lời, “lúc thì đọc sách, lúc thì tản bộ trên phố. Có điều, cách đây mười ngày, Tô Tần có ra khỏi thành hai lần.”

“Ồ?” Huệ Văn Công mở to mắt. “Đi đâu?”

“Theo tin báo của Hắc Điêu đài, người này hoặc là ra đồng ruộng, hoặc là vào thôn xóm, cùng người dân trò chuyện trên trời dưới bể, hỏi han những việc như thu hoạch, nộp lương, binh dịch, không có hành vi gì quá đáng. Thần cho rằng đó chỉ là chuyện vụn vặt, nên đã không kinh động tới chúa thượng.”

“Than ôi!” Huệ Văn Công ngẫm nghĩ một lát, gật đầu than thở. “Người này đúng là đại tài, có lẽ quả nhân nên gặp hắn!” Lại im lặng hồi lâu. “Truyền đại lương tạo yết kiến!”

“Thần lĩnh chỉ!”

Chưa đầy nửa canh giờ sau, Công Tôn Diễn đã tới.

Hành lễ xong xuôi, quân thần ngồi đối diện nhau, Huệ Văn Công đi thẳng vào việc chính, cười mà nói: “Lần trước ái khanh và thượng đại phu ra sức tiến cử Tô Tần, quả nhân cũng định gặp mặt hắn xem sao, không ngờ bận rộn tối ngày mà quên bẵng mất. Vừa nãy quả nhân ngủ gật, đột nhiên sực nhớ ra, sợ rằng lại quên như lần trước, mới vội cho mời ái khanh tới!”

Công Tôn Diễn trong lòng hồi hộp, không biết nên nói thế nào cho phải. Mấy năm qua, Công Tôn Diễn đã hiểu rõ Tần Công, cũng rất khâm phục Tần Công. Tuy nhiên, Bàng Quyên, Tôn Tẫn thình lình xuất hiện, tình thế liệt quốc mỗi năm một biến động, ba năm một đại biến, rối ren hỗn loạn, nhìn mà hoa mắt, chẳng khác nào ngắm hoa trong sương. Rất nhiều sự biến, đến tài trí như Công Tôn Diễn cũng không thể nhìn cho thấu đáo. Tần Công đã trọng dụng Công Tôn Diễn làm đại lương tạo, song vẫn giương cờ gióng trống, dốc sức cầu hiền ở liệt quốc, cho thấy đã không còn hài lòng về Công Tôn Diễn nữa. Tuy Công Tôn Diễn không đủ sức nhìn thấu thời thế, song lại biết mình biết người. Thoạt tiên do nghĩ chưa thông, Công Tôn Diễn đương nhiên cũng thấy buồn khổ trong lòng. Tuy nhiên, sau khi gặp được Tô Tần, Công Tôn Diễn thực lòng khâm phục, quyết ý nhường hiền, muốn sánh vai chung sức cùng Tô Tần, phò tá Tần Công hoàn thành đại nghiệp. Nào ngờ tình thế lại không như dự tính, Tần Công không những không gặp Tô Tần, lại phái Sư Lý Tật đi sứ sang Ngụy muốn cầu Tôn Tẫn, thực sự khiến Công Tôn Diễn không tài nào hiểu nổi.

Thấy Công Tôn Diễn không nói năng gì, chỉ ngồi ngẩn ngơ tại chỗ, Huệ Văn Công cười hỏi: “Ái khanh, sao thế?”

Công Tôn Diễn định thần trở lại, vội vòng tay nói: “Vi thần xin lắng nghe lời chỉ bảo của chúa thượng!”

Huệ Văn Công dường như đã đoán được Công Tôn Diễn đang nghĩ gì, lại cười nói: “Mấy năm qua, phố Sĩ Tử người qua kẻ lại tấp nập, sĩ tử liệt quốc đã khiến quả nhân đầu óc quay cuồng. Nếu Tô Tử đã là bậc đại tài, quả nhân muốn thử gặp mặt một lần xem sao. Hiện tại Sư Lý ái khanh vắng mặt, đành phải làm phiền ái khanh sắp xếp giúp cho!”

“Vi thần lĩnh chỉ !” Do dự một lát, Công Tôn Diễn mới nói. “Vi thần sẽ lập tức đi mời Tô Tử vào cung yết kiến chúa thượng.”

“Không, không!” Huệ Văn Công lắc đầu quầy quậy.

“Bậc đại tài như Tô Tử, quả nhân phải đích thân đến thỉnh giáo mới phải, nào dám làm phiền tới quý thể của Tô Tử?”

Công Tôn Diễn nghe ra sự khác lạ trong lời nói của Tần Công, bỗng thấy chột dạ: “Ý chúa thượng là…”

Huệ Văn Công cười vang mà nói: “Nghe nói phố Sĩ Tử mở Luận Chính đàn, vô cùng thú vị, từ lâu quả nhân đã muốn tới đó nghe thử một lần, song chưa có cơ duyên. Nay có Tô Tử ở đó, quả nhân muốn hợp hai làm một, mời Tô Tử khai đàn lần nữa, thứ nhất để biết thế nào là Luận Chính đàn, thứ hai là muốn rửa tai lắng nghe cao luận của Tô Tử, cùng Tô Tử và sĩ tử thiên hạ luận bàn chính trị đương thời, ái khanh thấy sao?”

Công Tôn Diễn suy nghĩ một lát, rồi chậm rãi nói: “Vi thần cho rằng không thoả đáng!”

“Có gì không thoả đáng?”

“Phố Sĩ Tử vàng thau lẫn lộn, chúa thượng công khai xuất đầu lộ diện, chẳng khác gì đưa thân tới chốn hiểm nguy, ngộ nhỡ có điều gì sơ sảy, vi thần…”

Huệ Văn Công bật cười mà nói: “Ái khanh quá lo xa rồi! Năm xưa Văn Vương cầu hiền, đã không ngại hạ mình tới tận bến sông Vị Thuỷ. Quả nhân cầu hiền, chẳng qua chỉ là đi vài bước trước cửa nhà mình, có gì sơ sảy được?”

Công Tôn Diễn chần chừ một lát: “Chúa thượng đã quyết định, vi thần sẽ lập tức sắp xếp. Tuy nhiên, ngày nào thích hợp, vẫn xin chúa thượng định đoạt.”

“Nghe nói Luận Chính đàn mở vào giờ Thân, vậy thì hãy định vào giờ Thân ngày mai!” Huệ Văn Công lập tức quyết đoán. “Khanh hãy căn dặn đàn chủ làm cho rầm rộ. Quả nhân ở trong triều ngột ngạt đã lâu, cũng muốn nghe thử chút âm thanh bên ngoài.”

“Vi thần tuân chỉ!”

Công Tôn Diễn cáo lui, băn khoăn bước ra khỏi cửa cung, ngẫm nghĩ một hồi, rồi rẽ sang phố Sĩ Tử, đứng ngẩn ngơ ở đầu phố một chốc, định bụng tới Anh Hùng cư, báo tin cho Trúc Viễn ngay. Song suy đi tính lại, thấy không thoả đáng, lại quay trở về trước cửa cung, lên xe ngựa hồi phủ, lệnh cho ngự sử trong phủ cầm thiếp đi mời đàn chủ tới bàn chuyện.

Ngự sử dẫn về lại không phải Trúc Viễn, mà là Giả Xá Nhân.

Công Tôn Diễn ra tận cổng phủ đón, từ xa nhìn thấy Giả Xá Nhân, không kịp hành lễ, đã hỏi ngay: “Trúc tiên sinh đâu?”

Giả Xá Nhân thoáng ngẩn người, rồi vòng tay nói: “Khởi bẩm đại lương tạo, Trúc tiên sinh đã quay về núi Chung Nam rồi!”

Công Tôn Diễn sửng sốt, ngẩn ra hồi lâu mới nói: “Vậy thì hỏng rồi!”

Giả Xá Nhân đưa mắt nhìn ngự sử, rồi lại nhìn Công Tôn Diễn: “Có chuyện gì vậy?”

“Giờ Thân ngày mai, chúa thượng muốn tới Luận Chính đàn cùng Tô Tử bàn luận chính sự!”

“Cùng Tô Tử luận chính sự?” Giả Xá Nhân thoáng ngạc nhiên, nhưng ngay sau đó lại chuyển sang mừng rỡ, nói. “Đúng là việc tốt! Tô Tử đã chờ đợi mấy tháng trời, khắp phố Sĩ Tử bàn tán xôn xao, các sĩ tử thấy Tô Tử không được dùng, Luận Chính đàn không mở, cho rằng đường công danh đã đóng. Một số người hết kiên nhẫn đã rời bỏ Hàm Dương, tìm tới nơi khác!”

“Trúc tiên sinh đi vắng, biết làm thế nào đây?”

“Có thể tấu lên chúa thượng, xin đổi ngày khác chăng?”

Công Tôn Diễn lắc đầu: “Chúa thượng một khi đã quyết, khó lòng thay đổi?”

Giả Xá Nhân cúi đầu ngẫm nghĩ, một lát sau, cất giọng quyết đoán: “Khi Trúc tiên sinh đi, có trao lại quyền xử lý mọi việc trong đàn cho thảo dân. Hiện tại sự việc cấp bách, Luận Chính đàn sẽ do thảo dân đứng ra lo liệu, đại lương tạo thấy sao?”

Công Tôn Diễn thấy cũng không còn cách nào hơn, đành gật đầu nói: “Nếu đã như vậy, buổi nghị chính ngày mai, làm phiền Giả tiên sinh đứng ra thay mặt đàn chủ.”

Giả Xá Nhân vòng tay nói: “Đại lương tạo nếu không có việc gì nữa, thảo dân xin cáo từ.”

Công Tôn Diễn cũng vòng tay nói: “Giả tiên sinh ra về cẩn thận.”

Giả Xá Nhân quay người, vừa nhảy lên xe, Công Tôn Diễn đã gọi giật lại: “Khoan đã!”

Giả Xá Nhân lại nhảy xuống xe, nhìn Công Tôn Diễn: “Đại lương tạo còn có việc gì sai bảo?”

Công Tôn Diễn nói đầy ẩn ý: “Chúa thượng có chỉ, buổi luận chính ngày mai, phải làm cho rầm rộ!”

“Đại lương tạo cứ yên tâm,” Giả Xá Nhân gật đầu cười nói, “phố Sĩ Tử lâu rồi không khai đàn luận chính, đám sĩ tử đã trông chờ mỏi mắt từ lâu!”

Rồi Giả Xá Nhân ra roi thúc ngựa, gấp rút trở về phố Sĩ Tử, vội vàng tới khách sạn Vận Lai.

Nhìn thấy Giả Xá Nhân, Tô Tần bèn vái chào: “Ồ, là Giả huynh đấy ư? Mời!”

Giả Xá Nhân còn chưa bước vào cửa, đã mặt mày rạng rỡ, vòng tay nói: “Chúc mừng Tô huynh, tin vui tới rồi!” Tô Tần ngạc nhiên hỏi: “Tin vui gì kia?”

“Giờ Thân ngày mai, chúa thượng sẽ giá lâm phố Sĩ Tử, nghe Tô huynh luận chính!”

“Chúa thượng giá lâm?” Tô Tần sửng sốt, ngẫm nghĩ một lát, lại ngẩng lên hỏi. “Vẫn ở Luận Chính đàn ư?”

Giả Xá Nhân trịnh trọng gật đầu: “Đại lương tạo đích thân giao cho tại hạ việc này. Đại lương tạo còn nói, chúa thượng có chỉ, buổi luận chính ngày mai phải làm cho rầm rộ. Chúa thượng đã quá lo xa, chúa thượng đích thân giá lâm phố Sĩ Tử nghe sĩ tử luận chính, đây là việc chưa từng có ở Luận Chính đàn, có muốn không rầm rộ cũng khó!”

Tô Tần lại ngẫm nghĩ một hồi, rồi thò tay vào trong túi, định lấy vàng ra trả phí khai đàn.

Giả Xá Nhân nhìn thấy, bèn ngăn lại, cười mà rằng: “Lần luận chính này là miễn phí!”

Tô Tần ngạc nhiên: “Luận Chính đàn không thể vì tại hạ mà phá bỏ quy tắc.”

“Tô huynh yên tâm,” Giả Xá Nhân cười vang mà nói. “Nếu chúa thượng đích thân tới nghe, phí khai đàn sẽ do quan phủ chi trả. Hơn nữa, việc trọng đại này, không phải hễ ai muốn nghe cũng được, tại hạ sẽ bán vé vào, không lỗ đâu mà sợ!”

“Nếu được vậy, Tô Tần xin cảm tạ Giả huynh!”

Giả Xá Nhân giọng đầy quan tâm: “Chúa thượng đích thân tới nghe, Tô huynh nên chuẩn bị kỹ lưỡng, tại hạ cũng phải về sắp xếp cẩn thận. Việc trọng đại thế này, Trúc tiên sinh lại không có ở đây, không được phép có sơ sảy!”

“Xin trông cậy cả vào Giả huynh!”

Vào ngày hôm sau, mới tới giờ Mùi, trên phố Sĩ Tử đã có người gõ chiêng hô lớn: “Chư vị sĩ tử, tin vui tin vui, Luận Chính đàn hôm nay lại khai đàn, người khai đàn vẫn là sĩ tử Lạc Dương Tô Tần! Cuộc luận chính lần này là sự kiện hy hữu, chúa thượng ngự giá quang lâm tới nghe, là chuyện chưa từng có ở Luận Chính đàn. Ai tới nghe luận chính, mang theo ba mươi đồng tiền hoàn(1), tới Luận chính đàn ghi danh lấy thẻ, dựa theo số trên thẻ mà vào!”

Tin sốt dẻo mau chóng lan truyền, khiến các sĩ tử bàn tán xôn xao. Có người phấn chấn nói lớn: “Chư vị sĩ tử, mau tới nghe thôi! Tô Tử lại khai đàn, Tần Công ngự giá nghe luận chính, quả là chuyện xưa nay chưa từng có!”

Có người tiếp lời: “Trời ơi, vào nghe mất những ba mươi đồng hoàn, số tiền không hề nhỏ!”

“Ba mươi đồng hoàn có đáng là bao? Có thể tận mắt chứng kiến uy phong của Tần Công, bỏ ra chút tiền cỏn con này cũng đáng!”

“Than ôi!” Một sĩ tử thở dài, lắc đầu ra chiều tiếc nuối. “Đáng tiếc là trong túi tại hạ chẳng còn đủ tiền, không có diễm phúc chứng kiến!”

Một sĩ tử khác móc ba mươi đồng hoàn từ trong ống tay áo ra: “Nhân huynh chớ nên buồn lòng, tại hạ cho nhân huynh vay tạm ba mươi đồng hoàn, hãy mau đi lấy thẻ. Nếu còn lề mề, e rằng có tiền cũng chẳng mua được!”

Sĩ tử này nhận lấy ba mươi đồng hoàn, vái tạ liên hồi: “Đa tạ nhân huynh! Đa tạ nhân huynh!” Rồi quay người vội vã đi về phía Anh Hùng cư.

Sắp tới giờ Thân, phố Sĩ Tử huyên náo lạ thường, trên phố quả nhiên có vài trăm giáp sĩ rầm rập kéo tới, cứ năm bước lại có một người, đứng dọc theo con phố. Trước cổng Anh Hùng cư, mỗi bên đứng chục giáp sĩ.

Đám sĩ tử tay cầm thẻ lần lượt đi vào luận đàn. Giáp sĩ kiểm tra thẻ bài cẩn thận, khám xét toàn thân rồi mới cho từng người vào.

Trong Luận Chính đàn, mọi thứ vẫn như cũ, duy có chỗ ngồi là thay đổi, ở giữa kê một bàn chính, hai bên trái phải bàn chính có hai chỗ trống. Theo như sắp xếp của Công Tôn Diễn, trong đàn không còn đặt chỗ bình phán, phàm là sĩ tử có thẻ, đều có thể ngồi vào bất kỳ chỗ trống nào trước luận đàn.

Đúng vào giờ Thân, tiếng chiêng vang rên, Giả Xá Nhân thay mặt đàn chủ từ phòng bên bước ra, quay mặt về phía đông đảo sĩ tử, lớn tiếng tuyên bố: “Chư vị sĩ tử, giờ Thân đã tới, Luận Chính đàn khai đàn!”

Lời vừa dứt, ngoài cửa bỗng ồn ào khác thường, tiếp đó là tiếng chân bước rậm rịch, nội thần cao giọng hô lớn: “Chúa thượng giá lâm!”

Đám sĩ tử lũ lượt đứng dậy, bước dạt sang hai bên, mở ra một lối đi rộng khoảng hai bước chân ở giữa, quỳ xuống khấu đầu sát đất.

Giả Xá Nhân vội bước lên vài bước, tới trước đám sĩ tử, dập đầu nói: “Thảo dân Giả Xá Nhân và sĩ tử liệt quốc khấu kiến chúa thượng!”

Huệ Văn Công mỉm cười, bước vào qua lối đi vừa mở, tiến thẳng tới chiếu chủ, ngồi xuống rồi phẩy tay nói: “Giả tiên sinh, sĩ tử liệt quốc, bình thân!”

Giả Xá Nhân và đám sĩ tử đồng loạt khấu đầu hô: “Tạ ơn chúa thượng!”

Tiếp đến, tiền thái phó Doanh Kiền, đại lương tạo Công Tôn Diễn bước lên trước, hành lễ xong thì lần lượt ngồi vào hai chỗ trống bên trái phải Huệ Công. Đám sĩ tử lục tục trở về chỗ, ngồi xuống.

Lại một tiếng chiêng vang lên. Giả Xá Nhân dõng dạc: “Mời người khai đàn, sĩ tử Lạc Dương Tô Tần!”

Cánh cửa bên lịch kịch mở ra. Tô Tần xuất hiện, bước tới trước mặt Huệ Văn Công, dập đầu hô lớn: “Sĩ tử Lạc Dương Tô Tần khấu kiến chúa thượng!”

Huệ Văn Công quan sát kỹ Tô Tần một lượt, mỉm cười mà nói: “Tô Tử bình thân!” Rồi chỉ vào vị trí khách bên phải. “Mời ngồi!”

Tô Tần lại bái lạy: “Tạ ơn chúa thượng!” Rồi đứng dậy, tới vị trí khách đầu tiên bên phải ngồi xuống.

Giả Xá Nhân bước lên vài bước, ngồi xuống sau lưng Tô Tần.

Huệ Văn Công rời mắt khỏi Tô Tần, đưa ánh mắt ôn tồn nhìn khắp lượt đám đông sĩ tử, vòng tay vái liên hồi mà nói: “Hoan nghênh chư vị sĩ tử đã tới chốn hẻo lánh này! Doanh Tứ nghe nói, các vị từ bốn phương tám hướng về đây, còn có vị từ tận Ngô, Việt, Yên tìm tới, đúng là không quản nghìn dặm xa xôi. Doanh Tứ còn nghe nói, chư vị đều học vấn uyên thâm, thân mang tuyệt kỹ. Chư vị coi trọng Doanh Tứ đến vậy, Doanh Tứ lẽ ra nên sớm ngày gặp gỡ, để cảm tạ thịnh tình của chư vị!” Rồi cười buồn một tiếng, lại vòng tay mà nói. “Tuy nhiên, chư vị có điều không biết, đất Tần tuy hẻo lánh, song việc vụn vặt lại không hề ít. Thứ nhất, những việc không tên cứ dai dẳng không buông, thứ hai, loạn trong giặc ngoài không ngớt, Doanh Tứ bận rộn suốt ngày đêm vẫn không xử lý hết, chẳng có nổi chốc lát rảnh rang, thực là muôn phần bất đắc dĩ! Chư vị sĩ tử, nếu có chỗ nào chậm trễ muộn màng, Doanh Tứ thành thực tạ lỗi, mong chư vị lượng thứ!” Nói đoạn đứng dậy vòng tay, cung kính cúi gập người về phía chư sĩ tử.

Hành động của Huệ Văn Công, tuy là khách sáo, song cũng khiến xúc động lòng người, đám sĩ tử có mặt đều đổi ngồi thành quỳ, dập đầu sát đất, có vài người thậm chí còn sụt sùi rơi lệ.

“Chư vị sĩ tử, bình thân!” Huệ Văn Công nói rồi ngồi xuống trước.

Đám sĩ tử cũng lục tục ngồi xuống, ánh mắt thảy đều đổ dồn vào Huệ Văn Công.

Huệ Văn Công quay người, vòng tay hướng về Tô Tần: “Doanh Tứ nghe danh Tô Tử đã lâu, từ lâu đã muốn đến thỉnh giáo, song nguyên nhân chậm trễ, hẳn cũng bất tất phải nói ra. Doanh Tứ lần này tới đây, thứ nhất là muốn gặp gỡ chư vị sĩ tử, thứ hai là muốn lắng nghe cao luận của Tô Tử.”

Tô Tần vòng tay đáp lễ mà nói: “Chúa thượng bận trăm công nghìn việc, còn bớt thời giờ vàng ngọc hạ cố tới đây, thảo dân được nhận ân sủng mà trong lòng kinh sợ, cảm động khôn xiết!”

Huệ Văn Công đưa tay về phía Công Tôn Diễn, mỉm cười mà nói: “Nghe Công Tôn ái khanh nói, trong buổi luận chính lần trước, Tô Tử có nhắc tới thượng sách trị Tần, muốn chỉ giáo cho Doanh Tứ. Nay Doanh Tứ xin rửa tai lắng nghe.”

“Tô Tần ăn nói ba hoa, luận bừa chính sự, không ngờ làm kinh động tới chúa thượng, trong lòng lấy làm kinh sợ!”

“Tô Tử bất tất phải khiêm tốn,” Huệ Văn Công lại cười một tiếng. “Doanh Tứ tới đây chính là muốn nghe cao luận của Tô Tử, hà tất phải nói tới ba chữ ‘làm kinh động’! Doanh Tứ bất tài, xin Tô Tử chỉ giáo!”

Theo kế sách đã nghĩ sẵn từ đêm qua, Tô Tần quyết định không nói vòng vo, mà đi thẳng vào chuyện chính, thổ lộ mọi điều ấp ủ trong lòng, bèn ôm quyền mà rằng: “Chúa thượng tấm lòng bao dung, Tô Tần lấy làm cảm khái. Tô Tần bất tài, có ba kế sách có thể trị Tần, dám hỏi chúa thượng muốn nghe kế sách nào?”

“Là ba kế sách gì?”

“Ba kế sách thượng, trung, hạ. Thượng sách có thể khiến thiên hạ quy về một mối, gọi là đế sách. Trung sách có thể khiến chư hầu thần phục, gọi là bá sách. Hạ sách có thể an cư lạc nghiệp một phương, gọi là bang sách.”

Huệ Văn Công vẫn mỉm cười: “Doanh Tứ muốn nghe thượng sách!”

“Thượng sách thực ra là đạo trị loạn!” Tô Tử dõng dạc nói. “Trị loạn thời cổ đại, không nằm ngoài hai nghiệp vương, bá. Vương nghiệp thời cổ, tức là đạo mà Thương Thang, Chu Vũ đã thực thi, chính là trừng trị kẻ ác, cứu vớt dân lành, thay thế thiên tử vô đạo. Bá nghiệp thời cổ, tức là đạo của Tề Hoàn, Tấn Văn, là kết minh chư hầu, đánh dẹp bên ngoài, vỗ yên bên trong, làm minh chủ thiên hạ.”

Huệ Văn Công cười hỏi: “Vậy còn trị loạn ngày nay?”

“Tần cho rằng, thời thế thay đổi, đạo trị loạn cổ xưa không còn phù hợp với loạn cục ngày nay nữa. Trị loạn ngày nay, duy có một cách: chiến tranh diệt nước, nhất thống thiên hạ.”

Huệ Văn Công vẫn giữ nguyên nét cười: “Doanh Tứ muốn nghe cụ thể hơn!”

“Từ ngày Bình Vương dời đô về đông, Chu thiên tử hữu danh vô thực, chỉ còn trên danh nghĩa, nên việc thay ngôi thiên tử đã không còn phù hợp. Từ khi ba nhà phân Tấn, liệt quốc ngày càng tranh giành kịch liệt, khiến dân chúng lầm than, minh chủ thiên hạ cũng đã thành việc lỗi thời. Tần cho rằng, sở dĩ thiên hạ đại loạn, là vì phân trị. Phân trị tất tán, tán tất loạn, loạn tất tranh, tranh tất bất trị. Do vậy, muốn trị lý thiên hạ hiện nay, cần bắt đầu từ gốc, khiến thiên hạ quy về một mối. Chỉ cần thiên hạ quy về một mối, chỉ cần liệt quốc không còn tồn tại, sẽ thực hiện được xe cùng cỡ trục, dân cùng tập tục, pháp cùng một luật, lệnh cùng thi hành, chính lệnh có thể thông qua quan lại các cấp mà thực thi, khiến dân chúng an cư lạc nghiệp.”

“Điều Tô Tử đang nói đến, hẳn là thế giới đại đồng. Tuy nhiên…” Huệ Văn Công mỉm cười, đổi giọng, “đã tuyệt diệu như vậy, thì đế nghiệp thiên cổ như lời Tô Tử nói, liệu có liên quan gì tới Doanh Tứ?”

Tô Tần ôm quyền mà nói: “Theo như Tần thấy, thành được đại nghiệp này, không ai khác ngoài chúa thượng!”

“Ồ?” Huệ Văn Công ra vẻ ngạc nhiên. “Tô Tử dựa vào đâu mà nói vậy?”

“Khởi bẩm chúa thượng,” Tô Tần vẫn không hiểu ra ẩn ý của Huệ Văn Công, lại dõng dạc nói tiếp. “Thiên hạ nhất thống, ắt giao tranh lớn; giao tranh ắt diệt nước, diệt nước ắt dựa vào thực lực. Nhìn vào thiên hạ hiện tại, chư hầu tuy đông, nhưng có thực lực, lại chỉ có ba nhà Tần, Sở, Tề. Tề phải dựa lưng vào biển giao chiến, giàu mà không dũng. Sở rộng lớn mà không yên trị, dân chúng chưa được giáo hoá. Duy có Tần, chính thông nhân hoà, dân giàu nước mạnh, pháp luật nghiêm minh, bốn phía có quan ải hiểm trở, chiếm trọn thiên thời, địa lợi, nhân hoà, không có lý gì đại nghiệp không thành.”

Huệ Văn Công vẫn mỉm cười: “Nghe lời Tô Tử, Doanh Tứ vô cùng phấn chấn! Theo ý Tô Tử, Doanh Tứ nên thực hiện đế sách như thế nào?”

Tô Tần trong lòng đã sớm đã có dự tính, lập tức tâu bày: “Đế nghiệp kỳ vĩ, không thể một bước là thành. Tần cho rằng, chúa thượng có thể phân thành ba bước. Bước thứ nhất, xưng vương chính danh; bước thứ hai, xa thân gần đánh; bước thứ ba, thâu tóm thiên hạ.”

Huệ Văn Công trong lòng bàng hoàng chấn động, song mặt vẫn không biến sắc, chỉ mở to hai mắt, nhoài người lên trước, chậm rãi nói: “Xin Tô Tử giải thích rõ hơn!”

Tô Tần dõng dạc: “Danh không chính thì ngôn không thuận. Thiên hạ đã ở trong thời đại nhiều vương, tới nay, xưng vương cùng Chu thiên tử đã có năm nhà. Tống Công, Trung Sơn Quân xưng vương, có thể xem là trò cười, song ba nước Sở, Ngụy, Tề xưng vương, lại là sự thực hiển nhiên. Trong ba nước mạnh, Tề, Sở đều đã xưng vương, duy Tần vẫn là công quốc. Thực chất là vương quốc, mà lại chịu nhún trong cái danh công quốc, về mặt khí thế, đã giảm mất ba phần. Nếu chúa thượng xưng vương, Tần sẽ danh tương ứng với thực. Lúc này, chúa thượng dùng vương mệnh để chinh phạt, thân xa đánh gần, từng bước công chiếm, thôn tính các nước láng giềng xung quanh, đợi thời cơ chín muồi, sẽ có thể thâu tóm thiên hạ, hoàn thành đế nghiệp.”

Nghe tới đây, đám sĩ tử có mặt thảy đều há miệng trợn mắt, tiếng xuýt xoa tán thưởng rộ lên tứ bề.

Doanh Kiền, Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn nhau, cùng gật gù tán thưởng, trên mặt lộ rõ niềm phấn chấn.

Huệ Văn Công thu lại nụ cười, trầm ngâm một lát, rồi ngẩng đầu, nhìn thẳng vào Tô Tần: “Lời của Tô Tử, quả nhân nghe như sách trời, tâm mắt sáng tỏ. Có điều…” dừng lại một lát mới nói tiếp, “những lời Tô Tử vừa nói, đa phần đều là điểm mạnh của Tần. Vậy có biết điểm yếu của Tần chăng?”

Nghe Huệ Văn Công đổi cách xưng hô là quả nhân, Tô Tần trong lòng giật thột, vội vòng tay nói: “Xin chúa thượng chỉ giáo!”

Huệ Văn Công không nhìn Tô Tần nữa, mà đưa ánh mắt nhìn khắp lượt chúng sĩ tử: “Theo Tô Tử nói, thiên hạ nhất thống, ắt có đại chiến; đại chiến ắt diệt nước; diệt nước ắt phải dựa vào thực lực. Thực lực của đất nước, trước hết ở quân lực; quân lực hùng mạnh trước hết ở nhân lực. Theo quả nhân biết, tổng số dân nước Tần không quá bốn trăm vạn, trừ đi người già và trẻ nhỏ, số còn lại không quá hai trăm vạn, số tráng đinh có thể chinh chiến không quá chín mươi vạn. Tần có quy định bốn đinh lấy một, nhưng dù có làm theo thông lệ của liệt quốc là ba đinh lấy một, thì số tráng đinh có thể chinh chiến cũng không tới ba mươi vạn. Dù là ba mươi vạn này, cũng không thể mang dùng toàn bộ, do Tần có ba vùng không thể xuất chinh, một là vùng biên giới tây bắc, phải chống Nhung Địch; hai là đất cũ Hà Tây, để vỗ yên dân chúng; ba là vùng núi Thương Ư, để cứu tế bần cùng. Theo đó mà tính, số tráng đinh có thể xuất chinh thực sự chỉ có hai mươi vạn người. Với hai mươi vạn người này, giữ được đất đã là may mắn, nói gì tới mưu cầu xa xôi?”

Huệ Văn Công lời nói hữu lý xác thực, tự nói ra điểm yếu của Tần, khiến chúng sĩ tử đều tâm phục khẩu phục, gật gù thừa nhận. Song Tô Tần lại trong lòng kinh hãi, bởi lẽ những lời Huệ Văn Công vừa nói vốn không phải là sự thực, khác hoàn toàn với những gì Tô Tần đã tìm hiểu được gần đây.

“Đấy mới chỉ là nhân lực!” Huệ Văn Công tiếp tục. “Lại nhìn vào tài lực, thiên hạ đều nói đất Tần giàu có hùng mạnh, kỳ thực không phải vậy! Theo quả nhân được biết, Tần tuy biến pháp cải chế đã hai mươi năm, tài lực được củng cố, song thực chất, chỉ vừa thoát khỏi cảnh túng quẫn đói nghèo, dân chúng chẳng qua mới chỉ đủ ăn mà thôi. Tính riêng từng nhà, có lẽ đã đến mức no đủ, song quốc khố vẫn cứ trống trơn!”

Chúng sĩ tử đều kinh ngạc, còn Tô Tần lại càng thêm hoang mang nghi hoặc.

Huệ Văn Công thấy vậy, khẽ đặng hắng một tiếng, cười gượng rồi chìa tay nói: “Chư vị có lẽ không tin, cho rằng quả nhân không nói thực, đang cố ý giả nghèo giả khổ. Chư vị sĩ tử, đã là con người, ai cũng có lòng chuộng hư vinh, trong các vị đây, liệu có ai muốn lộ ra điểm yếu của mình? Thiên hạ đều nói nước Tần biến pháp giàu mạnh, song không ai biết, được giàu chỉ là lê dân. Tiên quân vì muốn khích lệ trồng trọt nông tang, đã thực thi biến pháp mà không thay đổi tô thuế, chế độ tô thuế vẫn theo quy chế của tiên tổ, mười phần thu một. Nước Tần theo tân pháp, xoá bỏ nông nô, cho phép nông nô khai khẩn ruộng đất, nông nô do không có tài sản tích luỹ, quan phủ đã không thu thuế, ngược lại còn trợ giúp cho họ, mười năm không thu thuế, năm năm không trưng binh. Sở dĩ người Tần ủng hộ tân pháp, đều là vì đó!” Dừng lại một lát, lại đưa mắt nhìn khắp lượt sĩ tử, sắc mặt rầu rĩ. “Không giấu chư vị, trong kho tàng của quả nhân, không có nổi một vạn đĩnh vàng, chưa đầy trăm vạn thạch thóc.” Rồi quay sang Doanh Kiền. “Công thúc cai quản quốc khố nhiều năm, xin hỏi những lời Doanh Tứ vừa nói, có chỗ nào không đúng chăng?”

Doanh Kiền gật đầu thừa nhận.

“Chư vị sĩ tử!” Huệ Văn Công lại gượng cười một tiếng, giọng chùng xuống. “Quả nhân không sợ chê cười tự vạch áo cho người xem lưng, chỉ là muốn chứng thực với chư vị, quả nhân không hề nói dối!” Rồi quay sang Tô Tần. “Chút của cải mỏn mọn này, dùng để đối phó với mất mùa đói kém còn chưa đủ, nói gì tới mưu cầu xa xôi?”

Chúng sĩ tử đều gật gù khâm phục.

Tô Tần đến tận lúc này mới nhận ra ý tứ của Tần Công, bèn vòng tay nói: “Chúa thượng thấu hiểu thực tình đất nước như lòng bàn tay, lời lời xác thực, Tô Tần lấy làm hổ thẹn. Người đời đều nói người Tần giàu có, Tô Tần nay mới biết uẩn khúc bên trong. Không có dòng nhỏ, lấy đâu ra sông lớn? Dân không giàu có, nước sao lớn mạnh? Biến pháp của Thương Quân, quả là kế sách lớn lao chưa từng có xưa nay.”

Huệ Văn Công khẽ gật đầu: “Tô Tử hiểu được như vậy, quả nhân cũng thấy an ủi phần nào!” Rồi đưa mắt nhìn về phía chúng sĩ tử phía dưới, thở dài một tiếng. “Than ôi, theo lý mà nói, đàn bà khéo đến mấy cũng không thể thổi cơm không gạo. Nước Tần nhân lực không đủ, tài lực túng thiếu, dù Doanh Tứ có lòng nhất thống thiên hạ, cũng không đủ sức!”

Tô Tần cúi đầu, chìm trong suy tư.

Doanh Kiền, Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn nhau, sắc mặt ngơ ngác, không biết quân chủ có ý đồ gì.

Huệ Văn Công từ từ di chuyển ánh mắt về phía Tô Tần: “Những lời Doanh Tứ vừa nói, đều là nguyên nhân bên ngoài. Tô Tử hẳn không biết, vẫn còn một nguyên nhân nữa.”

Tô Tần ngước mắt nhìn Tần Công.

Huệ Văn Công nhấn mạnh từng chữ, ngữ khí đanh thép: “Chu thất tuy đã suy vi, song thiên hạ vẫn là thiên hạ của Đại Chu, liệt quốc vẫn là thần tử của Đại Chu. Sở, Ngụy, Tề, Tống có thể không thừa nhận Đại Chu thiên tử, Hàn, Triệu, Yên, Trung Sơn có thể không thừa nhận Đại Chu thiên tử, song Doanh Tứ không dám không nhận. Bởi Tần thất và Chu thất cùng nguồn cội tổ tiên, vốn là một nhà, dòng máu Chu thất vẫn đang chảy trong người Doanh Tứ. Do vậy, chỉ cần Chu thiên tử vẫn còn, chỉ cần Chu thất chưa tuyệt tự, Doanh Tứ dù có sức mạnh, cũng không thể làm việc bất trung bất hiếu, đẩy tiên tổ vào chỗ bất nghĩa bất trung!”

Những lời này, khác nào mắng thẳng vào mặt Tô Tần.

Tô Tần mặt đỏ bừng, ngượng ngùng lúng túng, cúi gằm mặt không biết phải đối đáp ra sao.

Toàn bộ sảnh đường lặng im phăng phắc, chúng sĩ tử sắc mặt đều lộ vẻ kinh hãi.

Huệ Văn Công quay đầu, lại đưa mắt nhìn chúng sĩ tử, nghiêm nghị nói: “Chư vị sĩ tử đều đã thấy rõ, mấy năm gần đây, liệt quốc Trung Nguyên đua nhau xưng vương, duy có Doanh Tứ không dám vượt Lôi Trì nửa bước, cũng là vì nguyên do này!” Lại đưa ánh mắt nhìn vào Tô Tần. “Do vậy, đế sách Tô Tử vừa nói tuy hay, song không phải là phương thuốc trị Tần hữu hiệu. Thứ nhất, Doanh Tứ thấy mình chưa đủ lông đủ cánh, thành tựu chưa có gì, không đủ lực thực thi. Thứ hai, Doanh Tứ vốn là người thường, khó quên gốc rễ, không có tâm thực hiện.”

Tô Tần vẫn im lặng không nói.

“Được rồi!” Thấy khí thế đã vừa đủ, Huệ Văn Công ngữ điệu cũng chậm rãi bớt, khoé miệng lộ một nét cười. “Hôm nay Doanh Tứ may mắn được nghe cao luận của Tô Tử, được lợi không nhỏ. Lúc này cũng đã muộn rồi, Doanh Tứ còn có việc phải làm, không thể trò chuyện thoả thích cùng Tô Tử và chư vị sĩ tử. Đợi Doanh Tứ giải quyết xong công việc bộn bề trước mắt, sẽ lại chọn ngày tới đây, cùng chư vị và Tô Tử đàm luận thiên hạ.”

Tô Tần đứng dậy, quỳ xuống bái lạy: “Thảo dân khấu tạ long ân của chúa thượng!”

Huệ Văn Công chậm rãi đứng dậy, nội thần bèn hô lớn: “Chúa thượng khởi giá hồi cung!”

Đám sĩ tử lũ lượt đứng lên, lại rẽ ra một lối đi, đồng loạt quỳ xuống hai bên, dập đầu đồng thanh nói: “Cung tiễn chúa thượng!”

Huệ Văn Công lại đưa mắt nhìn chúng sĩ tử một lượt, rồi sải bước ra ngoài.

Doanh Kiền, Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn nhau, lại nhìn Tô Tần vẫn phủ phục dưới đất, khẽ thở dài một tiếng, rồi vội vã đứng dậy, rảo bước theo Tần Công. Các sĩ tử có mặt thấy quân chủ và quần thần đã ra về hết, cũng lẳng lặng rời khỏi Anh Hùng cư, từ đầu tới cuối không ai nói một lời.

Gió bắc gầm gào, đất trời băng giá.

Trên Luận Chính đàn, Tô Tần vẫn quỳ ở đó, sắc mặt thẫn thờ. Đứng cách Tô Tần không xa là Giả Xá Nhân, đang lặng lẽ nhìn Tô Tần, có vẻ muốn bước lại khuyên nhủ vài câu, hoặc kéo Tô Tần dậy, song chẳng hiểu sao lại lần chần chưa nhúc nhích.

Không biết thời gian đã trôi qua bao lâu, từ ngoài bỗng vọng lại tiếng xe ngựa lóc cóc. Giả Xá Nhân giật mình, rảo bước ra ngoài cửa, nhìn thấy sư huynh Trúc Viễn đã trở về, bèn vội bước ra đón, kể vắn tắt lại toàn bộ sự việc Tần Công tới nghe luận chính cho Trúc Viễn nghe.

Trúc Viễn nghe xong, thở dài sườn sượt, không nói lời nào, chậm rãi bước tới trước mặt Tô Tần, khẽ gọi: “Tô Tử!”

Tô Tần ngẩng đầu lên, đờ đẫn nhìn Trúc Viễn.

Trúc Viễn lời đầy ẩn ý: “Trời có gió mưa khó đoán, Tô Tử hãy nhìn trời mà xem, nói lạnh là lập tức lạnh ngay. Tô Tử không nên cứ ở đây mãi!” Dừng lại một lát, lại nói rõ ràng hơn nữa. “Đi thôi! Tô Tử tốt nhất nên rời khỏi chốn này, càng nhanh càng tốt!” Rồi đặt tay lên vai Tô Tần, ấn mạnh một cái, thở dài một tiếng, rồi bước vào phòng trong.

Tô Tần bất giác rùng mình ớn lạnh, đưa mắt nhìn ra ngoài, thấy sắc trời đã đổi, mây đen vần vũ, gió bắc ào ào, quả nhiên đã thình lình trở lạnh.

Nghe tiếng đóng cửa nặng nề của Trúc Viễn vọng lại cách đó không xa, Tô Tần từ từ đứng dậy, khó nhọc kéo lê bước chân, chậm rãi trở về quán trọ.

Hoàng hôn hôm đó, tuyết rụng bời bời, mặt đất một màu trắng xoá.

Trong khách sạn Vận Lai, Tô Tần ngồi thẫn thờ trong phòng, mắt nhìn trân trân vào cây hoè già ngoài cửa sổ. Tuyết rơi gần một canh giờ đã phủ kín thân cây một lớp áo choàng trắng muốt, trên chạc cây to đâm ngang mà Ngô Tần từng treo cổ, cũng phủ kín một lớp tuyết dày.

Tô Tần đang ngẩn ngơ nhìn cây hoè già, chợt nghe thấy tiếng gõ cửa.

Tô Tần giật mình, mở cửa ra xem, hoá ra là chủ quán.

Chủ quán vái sâu một vái, cười hỏi: “Xin hỏi Tô Tử, chỗ này ở có được chăng?”

Tô Tần vái đáp lễ, cười gượng mà nói: “Tốt lắm, cảm tạ ông chủ đã quan tâm!”

Chủ quán lại cười: “Tô Tử ở tệ quán đã hơn hai tháng, chỗ tiền đặt cọc cũng hết từ lâu, tiền ăn, tiền sinh hoạt đều đang nợ tệ quán. Tệ quán vốn ít lãi thấp, Tô Tử xem thử…”

Tô Tần trong lòng tê tái, biết rằng chủ quán đã nhận ra mình tiền đồ vô vọng, hẳn là tới đây đuổi khách, bèn thu lại nụ cười, điềm đạm nói: “Ông chủ chớ khách khí, đã thuê phòng trọ ắt phải trả tiền. Làm phiền ông chủ tính giúp, tại hạ còn thiếu bao nhiêu?”

Chủ quán đã chuẩn bị từ trước, bèn lấy từ trong ống tay áo ra một tấm thẻ tre, đưa cho Tô Tần: “Tại hạ đã tính xong cả rồi, mời Tô Tử hãy xem!”

Tô Tần cầm lấy tấm thẻ tre, đọc qua một lượt, kinh ngạc kêu lên: “Tại hạ chỉ ở có hai tháng, đã trả năm đĩnh vàng rồi, sao vẫn còn nợ nhiều như vậy?”

Chủ quán mỉm cười nói: “Hồi bẩm Tô Tử, từng khoản đều được ghi rõ ràng, bản quán dứt khoát không thu thừa một đồng hoàn. Tô Tử bắt đầu tới trọ ở bản quán vào buổi chiều ngày hối(2) tháng mười, tới nay đã qua hai ngày hối và hai ngày nữa. Theo quy định của bản quán, phải tính tròn là ba tháng, tiền thuê trọ là mười hai lượng. Tô Tử một ngày ăn ba bữa, tổng tiền ăn là năm lượng. Ngoài ra còn tiền quét dọn nhà ở, tiền giặt quần áo, tiền trà nước, tiền nước nóng, tiền nuôi ngựa, tiền thức ăn cho ngựa, tiền chuồng lán cho ngựa, tiền trông coi xe ngựa và vài khoản lặt vặt khác nữa, tổng cộng là ba lượng. Như vậy toàn bộ chi phí là hai mươi lượng. Tô Tử đã trả trước năm lượng, còn nợ mười lăm lượng.”

Tô Tần hoả bốc tận đỉnh đầu, sắc mặt tím tái: “Tính toán như vậy, khác nào hắc điếm cắt cổ?”

Ông chủ vẫn cười nói: “Bản quán uy tín đã lâu, chưa từng bắt chẹt khách trọ, cớ sao Tô Tử lại nói như vậy?”

“Được, vậy tại hạ xin hỏi ông chủ, tiền nhà trọ mỗi tháng bốn lượng, ông chủ đã đồng ý giảm cho một lượng, tại sao vẫn là bốn lượng?”

Chủ quán ngẫm nghĩ một lát, rồi vỗ đầu, cười nói: “Ồ, phải, phải, tại hạ nhớ ra rồi, đúng là có chuyện này! Thế này nhé, bản quán giảm cho một lượng, Tô Tử trả nốt mười bốn lượng là đủ.”

“Ông chủ…” Tô Tần tức uất, “mỗi tháng ba lượng, tại hạ chỉ ở hai tháng hai ngày, nếu tính tròn là ba tháng, cùng lắm cũng chỉ chín lượng mà thôi!”

“Tô Tử hẳn đã hiểu nhầm rồi!” Chủ quán cười cười mà nói. “Tại hạ đúng là đã nói sẽ bớt cho Tô Tử một lượng, song chỉ bớt tháng đầu tiên, các tháng sau không bớt.”

Tô Tần cười nhạt một tiếng: “Giờ thì tại hạ đã hiểu, tại sao vị nhân huynh kia lại treo cổ tự vẫn trong quán trọ của ông!”

Chủ quán nghe vậy, cảm thấy mất mặt, nụ cười mỉm liền biến thành cười gượng: “Chuyện nào ra chuyện đấy, Tô Tử đừng có lôi người khác vào!”

“Được!” Tô Tần lạnh lùng lên tiếng đuổi khách. “Ông về đi! Còn thiếu bao nhiêu, ngày mai tại hạ sẽ trả hết cho ông!”

Chủ quán cúi gập người cười nói: “Tô Tử hẳn không phải là người quỵt nợ, ngày mai trả cũng được. Tô Tử hãy nghỉ ngơi, tại hạ cáo lui!”

Chủ quán vừa đi khỏi, Tô Tần đóng sập cửa lại, sắc mặt tái mét, đi tới đi lui trong phòng, mở tay nải, lôi túi đựng tiền ra, lục đi lục lại, cũng chỉ còn ba lượng. Lại lần tìm trên người, cũng chỉ được bốn, năm đồng xu, nhất thời đứng bần thần, ngẫm nghĩ một lát, rồi bấm tay nhẩm tính: “Bán ruộng tổng cộng ba mươi lượng, đưa anh cả một lượng, trả tiền may quần áo tám lượng, mua ngựa và sửa sang xe ngựa tám lượng, khai đàn ba lượng, đặt cọc năm lượng, ở Hàm Cốc đổi tiền Tần một lượng…”

Tô Tần tính đi tính lại, quả nhiên chỉ còn sót lại chừng này. Tô Tần lại cúi đầu đi tới đi lui trong phòng, tay cầm tấm thẻ tre ghi các khoản tiền còn thiếu mà chủ quán để lại, lẩm bẩm một mình: “Tính như vậy, đúng là ép người quá đáng. Tiền trọ đương nhiên phải bao gồm tiền quét dọn, tiền nước nóng. Lại còn tính cả tiền nuôi ngựa, đúng là lần đầu tiên nghe thấy. Xe ngựa giữ hộ cũng thu tiền, thật không thể tưởng tượng nổi. Có trách thì trách lúc ta mới tới thuê không hỏi cho rõ ràng, hiện tại ông ta nói gì chẳng phải nghe theo. Thôi kệ, cỗ xe ngựa của cầm sư hẳn cũng có chút giá trị, đợi ngày mai ta bán đi lấy tiền, trả cho ông ta là được.”

Sáng sớm hôm sau, Tô Tần ngủ dậy, thấy tuyết đã ngừng rơi, vội ra sân sau đóng ngựa vào xe, đánh ra ngoài chợ. Chủ quán sợ Tô Tần bỏ trốn, sai người bám theo sau. Tô Tần nhìn thấy, tức uất đến nghẹn họng, chỉ muốn mau chóng tìm được người mua xe, trả hết khoản tiền cắt cổ cho ông ta, rồi rời xa mảnh đất đau thương này.

Hôm nay là ngày hai mươi tám tháng chạp, do là tháng thiếu, chỉ qua một ngày nữa là hết năm, bởi vậy trong chợ người qua kẻ lại tấp nập, chỗ nào cũng thấy người Tần rộn ràng mua sắm hàng tết. Tô Tần tìm một nơi náo nhiệt dừng xe lại, cắm tấm thẻ đã chuẩn bị sẵn lên trên xe, bên trên đề hai chữ “Bán xe”. Chỉ mấy phút sau, quả nhiên có vài người tới xem, ngắm nghía cỗ xe một thôi một hồi. Một người trong số đó còn bò rạp xuống đất, xem xét trục xe.

Tô Tần ăn mặc sang trọng mà lại đứng ở đây bán xe, cũng cảm thấy có chút mất mặt, do vậy không thèm để ý tới anh ta, chỉ khép hờ hai mắt, đứng ở bên cạnh. Xem xét một lúc, người này bèn đứng dậy, phủi tuyết dính trên người, hỏi Tô Tần: “Cỗ xe này, quan nhân định bán bao nhiêu?”

Tô Tần đã quyết từ trước, trả lời ngay: “Mười hai lượng.”

Người kia lại chui xuống gầm xe, xem xét kỹ lưỡng lần nữa, rồi lắc đầu nói: “Xe cũ rồi, quan nhân mới sửa lại cách đây không lâu!”

Tô Tần gật đầu.

Người kia lại phủi tuyết dính trên người, khẽ thở dài: “Quan nhân ơi, nói thật với quan nhân, cỗ xe này vừa cũ vừa nát, trang trí cũng bình thường, ít nhất cũng đã dùng cả trăm năm rồi. Trên trục xe còn có vết nứt, chẳng dùng được mấy nữa. Quan nhân cũng biết đấy, mua xe chủ yếu là mua trục xe, nếu trục xe không tốt, cả cỗ xe cũng coi như bỏ đi.”

Nghe người kia nói rõ ràng đến vậy, Tô Tần hiểu rằng đã gặp người hiểu xe, bèn vội hỏi: “Theo ý tiên sinh thì đáng giá bao nhiêu?”

Người kia chìa ra bốn ngón tay.

Tô Tần kinh ngạc nói: “Bốn lượng? Chưa tính cỗ xe này, chỉ riêng tiền sửa sang, tại hạ đã bỏ ra hai lượng rồi.”

Người kia cười nói: “Không giấu quan nhân, cỗ xe này vốn có giá sáu lượng, do qua sửa chữa nên trừ đi hai lượng, trục xe có vết nứt, trừ tiếp một lượng. Tại hạ thấy trên xe có một số vật trang trí, nên thêm cho một lượng, mới thành bốn lượng.”

Xe ngựa là vật dụng của gia đình giàu sang, nên Tô Tần vốn không am hiểu, người kia lại ăn nói gẫy gọn, lý lẽ đâu ra đấy, khiến Tô Tần nghe mà hoang mang, nhăn nhó suy nghĩ một lát, hồi lâu mới kêu ca: “Tại hạ đang cần gấp mười hai lượng, nếu không đã chẳng bán làm gì!”

“Ha ha, đúng vậy!” Người kia cười nói. “Tất cả những người bán xe ngựa đều là vì cần tiền gấp. Nếu không, có xe có ngựa chẳng tốt hơn ư? Có ai muốn đi bộ đâu?”

“Tám lượng được chứ?” Tô Tần mặc cả.

Người kia nhún vai, đi thẳng.

Mấy người đứng xung quanh lần lượt tản đi. Tô Tần cuống lên, lớn tiếng gọi: “Tiên sinh, dừng bước!”

Người kia quay lại, những người khác thấy vậy cũng lại quây tới.

Tô Tần cười nói: “Tại hạ xin tặng luôn ngựa, chỉ cần mười hai lượng.”

Người kia bước tới phía trước con ngựa, xem xét răng miệng, khen ngợi: “Ồ, ngựa cũng được đấy, nhưng chỉ đáng giá năm lượng.”

Tô Tần vội nói: “Tiên sinh, tại hạ chỉ bớt một lượng. Mười một lượng, được chăng?”

Người kia lại lắc đầu: “Xe ngựa của quan nhân như thế này, tại hạ trả chín lượng đã là nhiều lắm rồi. Không giấu tiên sinh, tại hạ cũng đã có xe ngựa. Giờ là cuối năm, mọi người đều bận rộn lo sắm tết, đón năm mới, làm gì có ai muốn mua xe? Tại hạ trông sắc mặt quan nhân, biết là đang rất cần tiền, mới mua giúp quan nhân. Nếu quan nhân không bán, đường ai nấy đi là xong!”

Tô Tần thấy chẳng còn cách nào khác, đành nghiến răng: “Thôi được, chín lượng thì chín lượng!”

Người kia lôi túi tiền từ trong ống tay áo ra, đếm đủ chín lượng, đặt vào tay Tô Tần.

Tô Tần nhận lấy, nhìn cỗ xe ngựa lần cuối, rồi quay người bước vội đi.

Tô Tần vừa bước đi, đám người phía sau đã reo cười ầm ĩ. Chẳng bao lâu sau, kẻ vừa mua xe kia đã đứng ngay tại chỗ cũ rao oang oang: “Mau lại mà xem, xe kiệu của Đại Chu thiên tử, hoàn toàn bằng đồng nguyên chất, đồ cổ trăm năm, giá khởi điểm ba mươi lượng, mau mau tới xem!”

Tô Tần nghe mà mặt đỏ tía tai, lòng đau xót như dao cứa. Rõ ràng, kẻ kia đã lừa phỉnh Tô Tần, thấy Tô Tần không hiểu gì về hàng hoá mà ép giá. Nghĩ cũng đúng, chỉ tính riêng lượng đồng để làm cỗ xe, nếu đun nóng chảy, không biết sẽ đúc được bao nhiêu tiền hoàn? Tô Tần nghĩ mà đau đớn, song cũng chẳng có lý do gì để quay lại đòi, đành rảo bước đi mau, vừa hổ thẹn vừa buồn bã rời khỏi khu chợ.

Về tới quán trọ, Tô Tần ngồi chưa nóng chỗ, đã nghe thấy tiếng gõ cửa. Mở cửa ra, quả nhiên gặp ngay bộ mặt cười nhăn nhở của lão chủ quán.

Chủ quán vòng tay nói: “Tô Tử bán xe ngựa rồi ư?”

Tô Tần không trả lời, lấy chín lượng vàng từ trong túi ra, cộng thêm ba lượng vàng còn lại, đặt cả lên mặt bàn.

Chủ quán liếc mắt nhìn, cười cười mà nói: “Tô Tử, mới được mười hai lượng, vẫn thiếu hai lượng nữa.”

Tô Tần giận dữ, rít qua kẽ răng: “Chỉ có chừng đấy thôi!”

Chủ quán vẫn giữ nguyên nụ cười trên mặt, song giọng nói đã có chút châm biếm: “Tô Tử làm nghiệp lớn, hai lượng vàng cỏn con này, hẳn sẽ không quỵt đấy chứ?”

Một cảm giác ghê tởm trào dâng từ tận đáy lòng. Tô Tần lấy ra hai bộ trang phục sĩ tử chưa mặc lần nào, lạnh lùng nói: “Hai bộ trang phục này may mới ở Lạc Dương, cùng với bộ tại hạ đang mặc tổng cộng là tám lượng. Không tính bộ tại hạ đang mặc, tính riêng hai bộ này, một bộ là trang phục xuân thu, một bộ là trang phục hè, ít nhất cũng có giá bốn lượng. Tại hạ chưa mặc lần nào, tạm đổi lấy hai lượng, được chứ?”

Chủ quán liếc qua hai bộ trang phục, cười khinh khỉnh mà nói: “Mũ áo may theo số đo của Tô Tử, bảo tại hạ dùng thế nào đây? Hơn nữa, những y phục này chỉ hợp để cho quý nhân mặc, tại hạ thân hèn, làm gì có phúc hưởng? Mà nói thực, dù có phúc được hưởng, bộ mũ áo kiểu này, ở Hàm Dương tại hạ chỉ cần một lượng là đã mua được, làm gì có giá hai lượng?”

Tô Tần giận sôi máu, cởi phăng tấm áo đang mặc trên người, ném luôn lên bàn: “Thêm bộ này nữa, đã đủ chưa?”

Chủ quán nhìn Tô Tần, đoán chừng trên người hắn cũng chẳng còn thứ gì đáng giá nữa, mới ra bộ thở ngắn than dài, lên giọng bất đắc dĩ: “Chậc chậc! Thôi được rồi, làm người cũng nên rộng lượng. Nể tình Tô Tử thuê trọ bản quán lâu ngày, tại hạ cũng không so đo với Tô Tử nữa. Có thể đi được rồi, Tô tiên sinh!”

Tô Tử khoác tay nải lên vai, trừng mắt hằn học nhìn chủ quán một cái, rồi sải bước đi luôn.

Từ trên cây hoè già trong sân, một con chim sà xuống, nhảy tưng tưng trên sân một hồi, rồi bay lên đỗ trên chạc cây nơi Ngô Tần từng treo cổ tự vẫn, kêu lích chích vài tiếng, khiến một cụm tuyết rơi xuống lả tả.

Sau buổi nghị chính công khai với Tô Tần tại Luận Chính đàn, Huệ Văn Công khó khăn lắm mới gạt bỏ được hai chữ “đế sách” của Tô Tần ra khỏi đầu, song lại rơi vào một mối lo âu khác.

Sau khi khởi giá về cung, Huệ Văn Công ngồi một mình trước bàn, đôi mày chau tít, trầm lặng hồi lâu, rồi thình lình giáng mạnh nắm đấm xuống bàn, mặt đằng đằng sát khí, giận dữ lẩm bẩm: “Cái gì mà xưng vương chính danh? Cái gì mà xa thân gần đánh? Cái gì mà thâu tóm thiên hạ? Quả nhân khổ sở suy nghĩ suốt bao năm qua, khó khăn lắm đến gần đây mới tìm ra được con đường chính sự tương lai của nước Tần, mà tên này chỉ dăm ba câu đã nói toạc ra trước bàn dân thiên hạ! Tô Tần này rõ ràng muốn chết!” Rồi đứng phắt dậy, đi tới đi lui trong phòng. “Kẻ này đúng là đi guốc trong bụng quả nhân. Nếu không diệt trừ, không biết sẽ còn phá hỏng bao nhiêu việc lớn!”

Huệ Văn Công lại đi quanh vài vòng nữa, rồi trở về trước bàn ngồi phịch xuống, lớn tiếng gọi: “Người đâu!”

Nội thần vội bước vào: “Có thần!”

“Báo với Hắc Điêu, cho kẻ này tiêu biến vĩnh viễn!”

“Thần lĩnh chỉ!”

Nội thần lui ra cửa, quay người đang định đi, thì Huệ Văn Công lại gọi giật: “Khoan đã!”

Nội thần dừng bước, quay người lại.

Huệ Văn Công chậm rãi nói: “Ngươi hãy tạm lui ra, để quả nhân suy nghĩ lại!”

Cũng trong buổi chiều hôm đó, đoàn xe sứ đi Ngụy trở về, rầm rập tiến vào cổng đông thành Hàm Dương.

Lúc gần tới cung Tần, Sư Lý Tật nói với công tử Hoa: “Công tử mau vào cung phục mệnh chúa thượng, tại hạ tới phố Sĩ Tử một chuyến, xem Tô Tử có còn ở đó không.”

Công tử Hoa cười nói: “Đã về đến nơi rồi, sớm muộn gì cũng phục mệnh, đâu phải vội vàng một chốc lát. Trên đường đi nghe thượng đại phu luôn miệng nhắc tới Tô Tần, hẳn người này bản lĩnh rất đỗi phi thường, Tiểu Hoa cũng muốn gặp mặt hắn xem sao.”

Sư Lý Tật bật cười, rồi hai người lại cùng nhau ngồi xe thẳng tới khách sạn Vận Lai, dừng xe trước cổng, vội vã vào trong, đi thẳng tới nơi Tô Tần ở, gõ cửa vài cái, song không thấy ai trả lời.

Chủ quán bước lại, nhìn thấy công tử Hoa, vội khấu bái sát đất: “Thảo dân khấu kiến công tử!”

Công tử Hoa chỉ vào phòng của Tô Tần: “Tô Tử có ở đây không?”

Chủ quán thấy công tử Hoa quan tâm tới Tô Tần như vậy, trong lòng sợ hãi, ấp úng nói: “Tô Tử… sáng… sáng nay… trả phòng… đi rồi!”

“Đi rồi?” Công tử Hoa thấy chủ quán nói năng ấp úng, liền sầm ngay mặt xuống. “Đi như thế nào?”

“Bẩm… bẩm…” Chủ quán giọng càng run rẩy, “Tô Tử tiêu hết tiền, không còn tiền trọ, sáng nay ra chợ bán xe ngựa, rồi cuốc bộ bỏ đi rồi!”

Công tử Hoa cười nhạt một tiếng, đang định hỏi tiếp thì Sư Lý Tật đã kéo lại, quay sang chủ quán hỏi: “Có biết Tô Tử đi đâu không?”

Chủ quán lắc đầu. Sư Lý Tật hất hàm ra hiệu cho công tử Hoa, hai người bước ra khỏi nhà trọ, đi tới Anh Hùng cư. Một lát sau, công tử Hoa bước ra khỏi Anh Hùng cư, huýt sáo một tiếng, lập tức có vài người xuất hiện, cùng công tử Hoa đi thẳng tới khách sạn Vận Lai.

Chủ quán nhìn thấy công tử Hoa quay lại, sắc mặt âm trầm, lại thấy vài người đi cùng ai nấy đằng đằng sát khí, lập tức mặt mày tái mét, không đợi hỏi tới, đã quỳ sụp xuống đất, lắp bắp nói: “Công… công tử gia, Tô… Tô Tử để… để lại… mũ áo…”

Công tử Hoa lạnh lùng nhìn chủ quán: “Nói mau, còn gì nữa?”

Trong ngự thư phòng, Huệ Văn Công ngồi ngay ngắn, hai mắt nhắm lại, đôi mày chau tít, vẫn đang suy nghĩ về chuyện của Tô Tần.

Đột nhiên, Huệ Văn Công mở choàng mắt, lôi một tấm thẻ tre từ dưới bàn lên, mặt trước viết chữ “sát”, mặt sau viết chữ “xá”, cầm lên xem xét kỹ một hồi, rồi tung lên không trung. Tấm thẻ tre lộn vài vòng trên cao rồi rơi xuống đất, nảy lên một cái, nằm im lìm.

Huệ Văn Công không bước đến xem tấm thẻ tre, mà từ từ nhắm mắt lại.

Không biết bao lâu sau, Huệ Văn Công mới từ từ mở mắt, nhìn quanh quất tìm kiếm, thấy tấm thẻ rơi sát chân tường, mặt phải ngửa lên, hiện rõ một chữ “sát” lạnh lẽo.

“Than ôi!” Huệ Văn Công tràn đầy thất vọng, thở dài tiếc nuối. “Tô Tử, không phải quả nhân không biết trân trọng hiền tài, mà là ông trời không dung ngươi!”

Huệ Văn Công đang than thở, thì nội tể bước vào báo: “Khởi bẩm chúa thượng, thượng đại phu, công tử Hoa đi sứ Ngụy đã trở về, đang đợi bên ngoài cầu kiến.”

Huệ Văn Công bèn ngồi ngay ngắn lại: “Truyền!”

Sư Lý Tật, công tử Hoa song song bước vào cửa, khấu đầu: “Vi thần khấu kiến chúa thượng!”

Huệ Văn Công phẩy tay: “Hai vị ái khanh, bình thân!”

Sư Lý Tật, công tử Hoa cảm tạ, đứng dậy rồi ngồi xuống.

Huệ Văn Công hỏi: “Chuyến đi này có tin tốt lành chăng?”

Sư Lý Tật lắc đầu nói: “Đúng như chúa thượng dự đoán, Bàng Quyên quả nhiên không dung Tôn Tẫn, vu cho Tôn Tẫn tội mưu phản. Ngụy Vương không phân biệt thật giả, tin lời Bàng Quyên, hạ lệnh xử trảm Tôn Tẫn. Bàng Quyên và quần thần cầu xin, Ngụy vương mới đổi sang tẫn hình, thích chữ lên mặt, giờ Tôn Tẫn đã trở thành phế nhân rồi!”

Huệ Văn Công dường như sớm đã liệu trước kết quả này, mặt không hề biến sắc, trầm ngâm hồi lâu mới hỏi: “Tôn Tẫn có biết Bàng Quyên hại mình không?”

Sư Lý Tật lại lắc đầu: “Tôn Tẫn không những không biết, ngược lại còn lấy làm cảm kích trước ơn cứu mạng của Bàng Quyên. Sau khi hành hình, Bàng Quyên đón Tôn Tẫn về phủ, chăm sóc vô cùng chu đáo. Hành động của Bàng Quyên đã khiến cả nước Ngụy chấn động, ai nghe thấy cũng cảm động, đều nói Bàng Quyên là người có tình có nghĩa.”

Huệ Văn Công khẽ gật đầu: “Bàng Quyên kia quả là mưu mô thủ đoạn. Thế nhưng…” Nói đến đây thì dừng lại, đầu mày lại chau tít.

“Chúa thượng?” Sư Lý Tật nhìn thấy, bèn bước lại gần hỏi.

“Nếu đã là như vậy, tình thế xem ra càng tệ hơn!”

Sư Lý Tật ngạc nhiên hỏi: “Cớ sao lại tệ hơn?”

“Ái khanh không biết ư?” Huệ Văn Công chậm rãi nói. “Nếu Tôn Tẫn không chịu hình, Tôn, Bàng ắt có tranh chấp. Hai người tranh chấp, sẽ có lợi cho ta. Hiện tại Tôn Tẫn đã thành phế nhân, tất không còn tâm tranh chấp nữa. Bàng Quyên lại có ân chăm sóc, Tôn Tẫn lấy làm cảm kích, hẳn sẽ tìm cách báo đáp. Tôn Tẫn bị tổn thương đến cơ thể, song trí tuệ vẫn vẹn toàn. Bàng Quyên vốn là hổ tướng, lại có Tôn Tẫn mưu tính giúp, khác nào hổ mọc thêm cánh. Nếu trí của Tôn Tẫn kết hợp với dũng của Bàng Quyên, hẳn không gì địch nổi!”

Nghe Huệ Văn Công nói vậy, Sư Lý Tật, công tử Hoa đều kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau. Rồi Sư Lý Tật vội vàng nói: “Vi thần thực sự chưa nghĩ tới chuyện này!”

Huệ Văn Công trầm ngâm một lát, ngẩng nhìn Sư Lý Tật: “Sư Lý ái khanh, khanh hãy tìm cách khiến cho Tôn Tẫn biết rõ chân tướng sự việc. Dựa vào trí tuệ của Tôn Tẫn, nếu đã hiểu ra chân tướng, tất có kế ứng phó, ít nhất cũng không để Bàng Quyên lợi dụng. Nếu không có Tôn Tẫn, Bàng Quyên sẽ chỉ là một con mãnh thú, tuy biết nhe nanh múa vuốt, song không đáng sợ.”

“Quả là diệu kế!” Sư Lý Tật thán phục gật gù, nhưng rồi lại nói. “Chỉ có điều… vi thần đi sứ sang Ngụy, lần trước khiến Công Tôn Diễn ra đi, lần này lại khiến Tôn Tẫn bị hại, người Ngụy hẳn sẽ đề phòng vi thần. Muốn làm việc này, tốt nhất chúa thượng nên cử người khác.”

Không đợi Huệ Văn Công lên tiếng, công tử Hoa đã chủ động thỉnh mệnh: “Chúa thượng, Tiểu Hoa xin được đi chuyến này!”

“Được!” Huệ Văn Công đồng ý. “Tiểu Hoa quả là người phù hợp, quả nhân chuẩn tấu!” Rồi quay sang Sư Lý Tật. “Còn chuyện gì nữa không?”

“Chúa thượng!” Sư Lý Tật vòng tay nói. “Vi thần từng mời Tôn Tẫn đánh cờ, qua trò chuyện biết được, Quỷ Cốc Tử thu nạp bốn đệ tử, là Bàng Quyên, Tôn Tẫn, Trương Nghi và Tô Tần. Tôn, Bàng tinh thông binh học, Tô, Nghi tinh thông mưu học. Nghe Tôn Tẫn nói, trong số các đệ tử Quỷ Cốc, hắn kính trọng nhất Tô Tần, ca ngợi Tô Tần có thể làm nên đại sự. Sở dĩ vi thần gấp rút trở về, chính là vì chuyện này. Chúa thượng, Bàng Quyên đã một lòng với Ngụy, Tôn Tẫn lại thành phế nhân, chỉ còn Tô Tử…”

“Nói như vậy…” Huệ Văn Công kinh ngạc thất sắc, “đến tài của Trương Nghi cũng không bằng Tô Tần?”

“Hẳn là như vậy!” Sư Lý Tật gật đầu nói. “Từ đầu tới cuối, Tôn Tẫn chưa một lần nhắc tới Trương Nghi. Vi thần mới gặp Tôn Tẫn lần đầu, cũng ngại hỏi tường tận.”

Huệ Văn Công khép mắt lại, chìm vào suy nghĩ, hồi lâu sau, mới ngẩng lên nhìn Sư Lý Tật: “Sư Lý ái khanh, khanh mau đi gặp Tô Tần, truyền tới yết kiến lập tức!”

“Muộn rồi!” Sư Lý Tật khẽ thở dài. “Trên đường trở về, vi thần tiện đường rẽ vào phố Sĩ Tử, định vào thăm Tô Tử. Song chủ quán nói, Tô Tử đã đi rồi!”

“Đi rồi?” Huệ Văn Công sửng sốt. “Đi lúc nào?”

“Sáng nay!”

Huệ Văn Công trầm ngâm suy nghĩ, một lát sau, đột nhiên lại trở nên bình thản như không, dang tay mà nói: “Người này muốn đi thì cứ để cho hắn đi! Sư Lý ái khanh, khanh đi đường vất vả, hẳn đã mệt rồi, hãy về nghỉ ngơi vài ngày cho khoẻ. Tiểu Hoa ở lại!”

Sư Lý Tật sững sờ, rồi đứng dậy, khấu đầu nói: “Vi thần cáo lui!”

Chính vào lúc lui ra, ánh mắt Sư Lý Tật vô tình liếc qua tấm thẻ tre ở sát chân tường, nhìn thấy bên trên rành rành một chữ “sát”, tim liền nảy lên một cái, bước chân bất giác lảo đảo.

Huệ Văn Công ngạc nhiên hỏi: “Ái khanh?”

Sư Lý Tật đứng vững trở lại, vội vòng tay nói: “Vi thần cáo lui!”

Huệ Văn Công chậm rãi đứng dậy, đi ra phía cửa, dõi mắt nhìn theo Sư Lý Tật một đoạn xa, mới quay trở lại, nhìn chằm chằm vào công tử Hoa: “Tiểu Hoa, đệ vừa mới trở về, liệu sức khoẻ có chịu nổi không?”

Công tử Hoa vỗ ngực bồm bộp: “Quân huynh yên tâm, Tiểu Hoa khoẻ lắm!”

“Chịu nổi thì tốt!” Huệ Văn Công dừng lại một lát, rồi hạ quyết tâm, nghiến răng nói. “Tô Tần rời Hàm Dương, hẳn sẽ qua ải Hàm Cốc về phía đông. Đệ chọn lấy vài tên Tiểu Điêu tháo vát, đuổi theo kẻ này, giết ngay tại chỗ!”

Công tử Hoa trợn trừng mắt kinh hãi, đứng chết lặng hồi lâu mới định thần trở lại: “Giết Tô Tử? Nghe thượng đại phu nói, Tô Tử là đại tài kia mà!”

“Đại tài cái gì?” Huệ Văn Công lừ mắt nhìn công tử Hoa. “Kẻ khuấy động dư luận để mong đắc sủng, giữ hắn lại, chỉ tổ chuốc họa!”

“Nhưng…” Công tử Hoa vẫn đứng ngây ra ngơ ngác.

“Đừng hỏi nhiều lời, mau phụng chỉ!”

Thấy Huệ Văn Công lời lẽ quyết đoán, quyết không thương lượng, công tử Hoa không dám hỏi thêm gì nữa, bèn quỳ xuống khấu đầu mà nói: “Thần đệ tuân chỉ!”

Thấy công tử Hoa đã đi xa, Huệ Văn Công chậm rãi bước lại phía chân tường, nhặt tấm thẻ tre lên, trở về bàn ngồi xuống, lật mặt sau tấm thẻ tre, nhìn vào chữ “xá” mà thở dài thườn thượt, rồi nhắm mắt lại.

Công tử Hoa lòng đầy nghi hoặc bước ra khỏi cửa cung, gọi xe ngựa lại, đi về phía Hắc Điêu đài.

Vừa rẽ qua một khúc ngoặt thì nhìn thấy xe ngựa của Sư Lý Tật chắn ngang góc phố, Sư Lý Tật đứng phía trước xe, có vẻ đang đợi công tử Hoa.

Công tử Hoa dừng xe, hỏi Sư Lý Tật: “Thượng đại phu vì sao lại đứng đợi ở đây?”

“Kính chờ công tử!”

“Chờ tại hạ?” Công tử Hoa ngẩn người, nhưng rồi hiểu ra ngay, bèn nhảy xuống xe ngựa, hỏi khẽ. “Vì Tô Tần ư?”

Sư Lý Tật gật đầu: “Nếu tại hạ đoán không nhầm, chúa thượng giữ công tử lại, hẳn là muốn công tử truy sát Tô Tử.”

Công tử Hoa kinh ngạc: “Sao thượng đại phu lại biết?”

Sư Lý Tật khẽ thở dài: “Khi tại hạ lui ra, vô tình nhìn thấy một tấm thẻ tre rơi trên nền đất, bên trên đề một chữ ‘sát’. Tại hạ đoán rằng, đây là chữ chúa thượng viết riêng cho Tô Tử. Từ đó tại hạ suy đoán, chúa thượng sớm đã hiểu rõ tài trí của Tô Tử, sợ rằng sau khi Tô Tử xuất quan, sẽ được liệt quốc trọng dụng, để lại hậu họa, do đó mới quyết định trừ khử Tô Tử.”

Công tử Hoa vội nói: “Chúa thượng đã biết Tô Tử là đại tài, cớ sao không dùng?”

Sư Lý Tật trầm ngâm hồi lâu, rồi lắc đầu nói: “Tại hạ cũng không biết! Dựa vào trí tuệ của chúa thượng, không dùng Tô Tử, hẳn có nguyên do.”

Công tử Hoa cũng gật đầu nói: “Phải, thượng đại phu nói rất đúng, chúa thượng mưu sự nhìn xa trông rộng, không dùng Tô Tử, tất có nguyên do. Chỉ có điều…” Ngập ngừng một lát, “Tô Tử là đại tài, nay phải giết đi, bảo tại hạ ra tay thế nào đây?”

“Tại hạ đợi công tử ở đây cũng chính là muốn nói với công tử chuyện này. Đừng nói là công tử không thể ra tay, mà ngay cả chúa thượng cũng chưa thực sự quyết đoán.”

“Ồ?” Công tử Hoa trợn tròn mắt. “Chúa thượng vẫn chưa quyết đoán ư?”

“Đúng vậy!” Sư Lý Tật trịnh trọng gật đầu. “Mặt trước của tấm thẻ tre viết chữ ‘sát’, vậy mặt sau hẳn là viết chữ ‘xá’. Thẻ tre nằm ở góc tường, dứt khoát là chúa thượng chưa thể quyết định, mới nhờ tới tấm thẻ tre, nghe theo ý trời, không ngờ mặt ngửa lại mang chữ ‘sát’!”

Thấy Sư Lý Tật chỉ ra điều này, công tử Hoa dường như cũng đã lờ mờ hiểu, ngẫm nghĩ một lúc rồi gật đầu nói: “Đã là theo ý trời, tại hạ chỉ có thể giết Tô Tử mà thôi!”

“Việc khó quyết, mới phải nghe theo ý trời. Chúa thượng đã nghe theo ý trời, nhưng trong lòng rõ ràng không muốn giết Tô Tử. Công tử nếu ra tay, về sau nếu chúa thượng hối hận, công tử chẳng phải sẽ…” Sư Lý Tật bỏ lửng nửa chừng, nhìn công tử Hoa.

“Ờ…” Công tử Hoa cúi đầu, trầm ngâm suy nghĩ, một lúc sau mới ngẩng đầu nhìn Sư Lý Tật. “Theo thượng đại phu, tại hạ nên hành sự thế nào?”

“Xin hỏi công tử, chúa thượng hạ chỉ thế nào?”

“Ý chỉ của chúa thượng là ‘đuổi theo kẻ này, giết ngay tại chỗ’.”

Sư Lý Tật cười nói: “Chúa thượng đã có ý chỉ, công tử không thể trái lệnh. Tuy nhiên, chúa thượng lại không yêu cầu công tử phải xách thủ cấp Tô Tử về phục mệnh, chỉ bảo công tử đuổi theo Tô Tử, giết hắn ngay tại chỗ, còn công tử có đuổi được hắn hay không, thì…” Nói tới đây, dừng lại nhìn công tử Hoa bằng ánh mắt đầy ẩn ý.

Công tử Hoa đã hiểu ra, ôm quyền mà nói: “Cũng không còn sớm nữa, tại hạ phụng chỉ đuổi người, xin được đi trước!”

Sư Lý Tật cũng ôm quyền nói: “Chúc công tử thuận lợi!”

***

Gió cuốn tuyết rơi mỗi lúc một thêm dữ dội. Khắp vùng Tần Xuyên rộng lớn, tuyết trắng mênh mông.

Tuyết lành báo bội thu, đối với người Tần, cuối năm tuyết rơi dày, chính là điềm may mắn. Tuy nhiên, đối với Tô Tần hiện chỉ còn vài đồng hoàn trong người, thì trận tuyết lớn này rõ ràng là tai họa. Sau khi vội vàng rời khỏi khách sạn Vận Lai, Tô Tần tới một quán ăn, vét hết số tiền hoàn còn lại mua bánh bao, đút vào trong tay nải, rồi lập tức rời khỏi Hàm Dương.

Do quần áo ấm đã bị lão chủ quán tham lam bóc lột hết, trên người Tô Tần giờ đây chỉ còn lại hai lượt áo vải mỏng, đi trong gió lạnh tuyết lẽo nhường này, đương nhiên khó lòng chịu thấu. Cách duy nhất làm ấm cơ thể chính là đi thật nhanh, do vậy, sau khi ra khỏi cổng đông thành Hàm Dương, Tô Tần sải bước quần quật, theo con đường cái quan bên bờ nam Vị Thuỷ cắm cúi đi miết về phía đông.

Tô Tần chỉ có một hy vọng, chính là cố gắng đi được tới thôn Tiểu Tần. Tô Tần tin rằng, chỉ cần sống sót để đi tới đó, hán tử cụt tay chắc chắn sẽ giúp đỡ mình. Do trong người chẳng còn lấy một xu, Tô Tần không dám nghỉ chân ở quán ven đường, ăn mặc lại phong phanh, nên chỉ có thể đi liên hồi không nghỉ để không phải rét cóng. Tới chập tối ngày hôm sau, sau một ngày một đêm đi bộ liên tục, vượt qua hơn ba trăm dặm đường, Tô Tần cuối cùng đã tới được Vũ Thành.

Vũ Thành cách thôn Tiểu Tần không đầy ba mươi dặm. Tô Tần nhìn sắc trời, không dám lề mề, càng rảo bước nhanh hơn. Do khắp nơi tuyết phủ trắng xoá, Tô Tần không nhận ra đường đi, đang lúc do dự, vừa hay gặp một người khách bộ hành, mới hỏi được đường tới Ninh Tần. Tô Tần cảm tạ xong, lại gấp rút đi tiếp.

Đây là một con đường cái quan rộng rãi, vốn dĩ xe lớn có thể đi được. Tuy nhiên từ Vũ Thành tới Ninh Tần, đã bắt đầu vào vùng núi, chưa nói đến đường đi quanh co khúc khuỷu, mà còn rất nhiều dốc lớn vực sâu, chỉ hơi sơ sẩy là có thể trượt chân ngã xuống vực như chơi.

Đi hơn chục dặm thì bóng tối bắt đầu buông xuống. Gió tuy đã ngừng thổi, song tuyết lại mỗi lúc một thêm mù mịt. Chưa đầy hai canh giờ, tuyết đã phủ trên mặt đường non nửa thước. Do là tuyết mới, nên đi lại vô cùng tốn sức, Tô Tần càng đi càng chậm, bước thấp bước cao, nặng nề khó nhọc. Đi chậm lại, càng dễ thấm lạnh. Áo quần thấm ướt mồ hôi sau một buổi chiều đi mải miết không nghỉ, giờ dính bết vào người, chẳng khác gì lưỡi dao sắc buốt.

Tệ hại hơn là Tô Tần đã ăn hết chiếc bánh bao cuối cùng từ lâu. Đi suốt ngày đêm không nghỉ, chưa nói đến mệt mỏi mất sức, lại càng không thể bụng rỗng. Đi liền vài trăm dặm đường ngập tuyết, dù là người khoẻ mạnh cũng khó lòng kham nổi, huống hồ Tô Tần lại rét cóng đói mềm.

Do là cuối năm, trên đường không một bóng người. Tô Tần đói rét thê thảm, mệt mỏi khó kham, gắng hết sức lực leo lên được một đỉnh dốc, ước chừng lộ trình tiếp theo ít nhất cũng còn hơn chục dặm. Nhìn vào tình trạng hiện thời, đừng nói là hơn chục dặm, dù là một dặm cũng đã quá xa xôi.

Tô Tần bước lại bên lề đường, vốc hai vốc tuyết bỏ vào miệng trệu trạo nuốt xuống. Nhìn thấy một gốc cây nhỏ, định bẻ cây làm gậy chống, nào ngờ bẻ mấy lần liền mà thân cây vẫn dẻo dai khác thường, bẻ vặn kiểu gì cũng không gãy. Tô Tần không dám lãng phí sức lực, đành khẽ thở dài, trượt xuống chân dốc dọc theo con đường. Lại đi thêm vài bước, thì thấy phía trước xuất hiện một bãi đất trống, cạnh đó hình như có nhà ở.

Rõ ràng, đây là một quán trọ sơ sài chuyên phục vụ khách qua đường. Tô Tần nhìn kỹ, thấy bên trong có ánh đèn le lói.

Tô Tần đắn đo một lúc, rồi chậm chạp bước tới trước cửa, phủi tuyết dính trên người, gõ cửa khe khẽ.

Bên trong vọng ra tiếng làu bàu: “Ai thế? Năm hết tết đến cũng không để cho người ta yên?” Một lát sau, cánh cửa kêu đánh “két” một tiếng, rồi mở ra một khe hẹp, một cái đầu tròn tròn thò ra qua khe cửa.

Tô Tần vừa nhìn, đã giật mình kinh ngạc, bởi lẽ cái đầu kia không chỉ giống hệt lão chủ khách sạn Vận Lai, mà nhìn kỹ, quả nhiên đúng là cùng một người. Tô Tần giật mình lùi lại một bước, người run bắn, chưa kịp nói gì, người kia đã săm soi Tô Tần một lượt từ đầu tới chân, lại làu bàu: “Quan nhân muốn ăn cơm phải không?”

Tô Tần định thần trở lại, lần mò trong ống tay áo trống rỗng một cách vô thức.

Chủ quán nhìn Tô Tần một hồi, thấy hắn ăn mặc phong phanh, bèn gật đầu nói: “Vào trong ngồi đi, bên ngoài lạnh lắm!”

Chủ quán nói xong, quay người bước vào, đi xuống bếp, mở nồi, lấy ra hai chiếc màn thầu mới hấp, lại múc một bát canh xương từ trong nồi đất trên bếp lò, rồi mang ra ngoài, ngẩng đầu nhìn quanh, thì không thấy người đâu nữa.

Chủ quán ngẩn người, nhìn ra phía cửa, thấy cánh cửa vẫn khép hờ như lúc nãy, bèn lớn tiếng trách móc: “Quan nhân, mau vào đi, gió lạnh lùa hết vào phòng rồi!”

Ngoài cửa vẫn lặng im phăng phắc.

Chủ quán bước ra cửa nhìn, chỉ thấy tuyết rơi trắng xoá, song không thấy một bóng người. Ông ta đứng thần ra một lúc, dụi mắt: “Ồ, người đâu rồi?” Lại ngó nghiêng một hồi, lẩm bẩm. “Chẳng lẽ là ma hiện?” Rồi khép cửa lại, trở vào trong nhà, đứng thừ người một lúc, gật đầu tự nhủ. “Phải rồi, chắc chắn là ma! Đêm giao thừa, ai còn lang thang ngoài đường nữa? Vả lại, người này ăn mặc phong phanh, mặt mày tái mét, chẳng nói một lời…”

Nghĩ đến ma, chủ quán sợ đến hai chân nhũn ra, người run rẩy lạnh toát, quay người lấy gậy chống chặt cánh cửa. Vừa định quay vào, lại thấy bên ngoài vang lên tiếng ngựa hí. Ngay sau đó, vài kỵ sĩ rầm rập lao tới. Chủ quán đang sững sờ kinh hãi thì bảy tám kỵ sĩ đã dừng lại bên ngoài, có người nhảy xuống ngựa, tiến lại gõ cửa. Chủ quán đắn đo một lát, mới bỏ gậy chống ra, cầm trong tay, từ từ mở cửa.

Người gõ cửa chính là công tử Hoa.

Sau khi về tới Hắc Điêu đài, công tử Hoa chọn ra hơn hai chục thuộc hạ tháo vát, lại sai Hắc Điêu giỏi vẽ phác họa ra chân dung Tô Tần, sau đó dẫn đám thuộc hạ ra khỏi cổng đông thành Hàm Dương. Sau khi nghe lời Sư Lý Tật, công tử Hoa trong lòng đã có dự tính, suốt dọc đường đi, theo cung cách gió tuy lớn nhưng mưa lại nhỏ, đoàn người trông thì có vẻ vội vàng khẩn cấp đấy, song thực chất lại rất lề mề. Mỗi khi gặp một ngã rẽ, công tử Hoa lại dừng lại ngần ngừ, phân tích ngược xuôi mãi mới quyết định đi hướng nào, dẫn đám người tiếp tục truy đuổi. Khi tới các thành ấp như Hý, Vũ Thành, công tử Hoa lại sai người tìm vào tất cả các quán trọ lục soát, sục sạo suốt mấy canh giờ. Rồi lại chia bớt người theo các ngả, cầm chân dung tìm kiếm theo lối khác, còn mình dẫn theo vài kỵ sĩ đuổi về phía Ninh Tần.

Chủ quán nhìn thấy là kỵ sĩ trong cung, thì thở phào nhẹ nhõm, bước ra đón, vòng tay vái chào: “Quan nhân hẳn là muốn nghỉ chân?”

Công tử Hoa vừa xoa tay giậm chân vừa, gật đầu hỏi: “Có gì ăn không?”

“Có, có!” Chủ quán vội vã trả lời. “Có bánh bao nóng, có canh thịt bò!”

“Tốt lắm!” Công tử Hoa quay sang đám thuộc hạ, nói. “Mọi người dừng chân, uống xong canh nóng lên đường cũng chưa muộn!”

Đám người lần lượt xuống ngựa, buộc vào gốc cây gần đó, xuýt xoa bước vào trong quán. Chủ quán ôm lại vài bó cỏ khô, đặt xuống phía trước mấy con ngựa, rồi quay trở vào phòng, đóng cửa, châm đèn, cười nói: “Các vị quan gia, hiện là đêm giao thừa, thảo dân có đủ canh thịt, màn thầu, thịt bò, bánh bao, sủi cảo, còn có rượu lâu năm nữa!”

Công tử Hoa căn dặn: “Mỗi người một bát canh thịt, hai cái bánh bao, thêm năm cân thịt bò, hai vò rượu!”

“Có ngay!”

Chủ quán đi xuống bếp, một loáng sau đã bưng đồ ăn và hai bình rượu lâu năm lên, rót ra chén. Đám người lập tức ăn ngấu nghiến. Được một lúc, công tử Hoa lôi ra một tấm da dê từ trong ngực áo, trải lên trên bàn, quay sang hỏi ông ta: “Xin hỏi ông chủ, có nhìn thấy người này không?”

Chủ quán vừa nhìn, lập tức nhận ra ngay người vừa mới đứng ngoài cửa lúc nãy, trong lòng sợ hãi, miệng lắp bắp: “Có… có thấy!”

“Ồ?” Công tử Hoa thoáng giật mình. “Hắn ở đâu?”

“Đi… đi rồi!”

“Đi bao giờ?”

“Khoảng… nửa canh giờ!”

Đám người mừng rỡ, đứng bật cả dậy định đi ngay. Công tử Hoa bèn cười nói: “Các ngươi không phải vội, trước mắt chỉ có một con đường, hắn ta còn đi đâu được nữa? Mọi người cứ ăn uống no nê, kiểu gì chẳng bắt sống được tên đó đưa về!”

Đám người lại ngồi xuống, ăn uống hết chỗ rượu thịt còn lại, trả tiền xong xuôi, mới vui vẻ bước ra khỏi cửa.

Lúc này, tuyết lại càng mù mịt hơn nữa.

Đám người lên ngựa, đội tuyết đuổi theo hơn chục dặm, vẫn không thấy một bóng người. Trên mặt đất cũng không có lấy một dấu chân. Đuổi tới ngã rẽ hướng về thôn Tiểu Tần, công tử Hoa ghìm ngựa dừng lại, quan sát kỹ lưỡng một hồi, lờ mờ nhận ra một đường vết chân kéo dài đã gần như bị phủ kín dưới trận mưa tuyết dữ dội vừa nãy, hướng về phía đầu thôn, thì ngẫm nghĩ một hồi, rồi chỉ vào con đường cái quan, nói với thuộc hạ: “Các ngươi hãy đuổi theo đường lớn, hắn chưa chạy xa được đâu! Còn ngã rẽ này dẫn đến một thôn, ta sẽ tới đó xem sao!”

Đám thuộc hạ vâng lệnh, thúc ngựa rầm rập đuổi theo đường cái quan. Công tử Hoa nhảy lên ngựa, ngoặt sang lối rẽ, đi chưa đầy hai dặm, khi sắp tới thôn Tiểu Tần, quả nhiên thấy một bóng đen đang bước xiêu vẹo phía trước. Công tử Hoa ghìm ngựa, quan sát bóng người từ phía xa.

Cái bóng loạng choạng ngả nghiêng, như không còn đủ sức để đi tiếp nữa. Chưa được vài bước, bèn trượt chân ngã nhào. Cái bóng gắng gượng bò dậy, song vật vã đến mấy lần vẫn không tài nào đứng lên được. Công tử Hoa đang lo lắng, lại thấy cái bóng nhúc nhích, song là chật vật bò về phía trước.

Bò một lúc, bóng người cuối cùng cũng đã tới được một hộ gia đình ở đầu thôn, vịn tay vào khung cổng, gắng gượng đứng dậy, dùng chút sức lực cuối cùng đập vào cánh cổng.

Có tiếng chó sủa vang.

Nghe thấy chó sủa, bóng người “huỵch” một tiếng đổ vật luôn xuống tuyết. Công tử Hoa giật thột, đang định thúc ngựa lên, lại nghe tiếng chó sủa càng dữ hơn nữa. Trong sân có ánh đèn loé lên.

Nhìn thấy đèn sáng, công tử Hoa mới thở phào một tiếng, quay đầu thúc ngựa, đuổi theo đám kỵ sĩ ban nãy.

Đêm giao thừa.

Người Tần có phong tục thức đợi giao thừa. Những người khoẻ mạnh sẽ thức cả đêm, cho tới tận khi gà gáy, đợi người khách đầu tiên tới xông đất, chúc mừng năm mới.

Cả nhà hán tử cụt tay từ già đến trẻ đều chưa ngủ, đang quây quần ngồi quanh bếp lò trong phòng khách nghe lão trượng kể chuyện vui, chốc chốc trong nhà lại rộ lên những tràng cười vui vẻ. Người Tần thích cát lợi, vào đêm giao thừa, không được nói chuyện tang tóc, chỉ được nói chuyện may mắn. Tiếng cười càng nhiều, càng may mắn. Do vậy, dù là người nghiêm khắc nhất, vào đêm giao thừa, cũng sẽ nói dăm ba câu hài hước.

Lão trượng đang kể cho con cháu nghe chuyện đi săn trong núi từ thời trai tráng. Trong đêm tối, lão nhân tưởng con báo đốm là con la nên đã nhảy lên cưỡi. Đang định cưỡi nó về nhà, vừa hay trời sáng, nhìn lại mới thấy té ra là một con báo, sợ đến toát mồ hôi hột, vội vàng túm chặt lấy cổ nó, sống chết cũng không dám nhảy xuống. Con báo bực quá, chỉ muốn hất văng lão trượng xuống, nên cứ thế chạy vòng tròn, chạy đến khi chính nó cũng phải hoa mắt chóng mặt. Khi lão trượng đánh liều nhảy xuống, con báo đốm vẫn đang chạy vòng tròn trên bãi đất trống. Nhân lúc nó vẫn hùng hục chạy, lão trượng vội vã chuồn khỏi cánh rừng. Chuyện này vừa nghe đã biết là bịa, nhưng lão trượng kể chuyện hóm hỉnh, sinh động như thật, khiến cả nhà chốc chốc lại cười ồ lên thích thú.

Mọi người đang cười nói rộn ràng, chợt nghe thấy tiếng chó sủa bên ngoài. Lão trượng dừng kể, Thu Quả làm ra vẻ kinh hãi, nhìn lão trượng hỏi: “Ông ơi, hay là con báo đốm chóng mặt quá lượn tới tận cửa nhà ta rồi?”

Mọi người lại cười ồ lên.

Chó càng sủa to hơn nữa, lão trượng nghiêng tai nghe ngóng, rồi lắc đầu nói: “Không phải báo đốm! Hẳn là ai đó đã nhầm giờ, tới chúc Tết sớm quá!”

Thu Quả cười nói: “Vẫn còn sớm thế này mà ông đã muốn nhận lễ của người ta!”

Thấy chó vẫn sủa, hán tử cụt tay đứng dậy, mở cửa ra xem. Thu Quả thấy vậy, vội tranh chạy ra trước, tới bên cổng, mở cánh cổng gỗ ra, song chẳng nhìn thấy gì. Thu Quả ngó nghiêng thêm một hồi, vẫn không thấy ai, đang định quay vào thì chú chó lao thẳng ra ngoài, chạy xộc đến chỗ Tô Tần đang nằm sóng soài trên tuyết, sủa ầm ĩ. Thu Quả nhìn xuống, quả nhiên thấy có một bóng người tuyết phủ kín mít, vội kêu toáng lên: “Cha ơi, mau ra đây, có người tuyết!”

Hán tử cụt tay vội vàng chạy lại, cúi người xuống nhìn, ngạc nhiên la lớn: “Tô quan nhân!”

Tô Tần không hề lên tiếng.

Hán tử cụt tay đưa tay lên mũi Tô Tần, thấy vẫn còn hơi thở, vội giục: “Tiểu Quả, mau đỡ một tay!” Nói đoạn, đưa cánh tay còn lại ra, kéo Tô Tần dậy, rồi ngồi thụp xuống đất. Thu Quả đỡ Tô Tần lên lưng hán tử cụt tay, hán tử liền cõng Tô Tần lên, chạy vội vào trong nhà.

Thu Quả đóng cổng lại, rồi cũng chạy vào theo.

Khi Tô Tần dần dần tỉnh lại, đã là quá nửa đêm. Tô Tần cảm thấy cơ thể ấm sực, mở mắt ra nhìn, thấy mình đang nằm trên chiếc giường lò quen thuộc, trên người đắp hai tấm chăn. Trên mặt bàn bên cạnh đã đặt sẵn một bát canh gừng, vẫn đang bốc khói nghi ngút.

Một lát sau, cánh cửa mở ra, Thu Quả đẩy cửa bước vào, bưng lại một chậu tuyết trắng, đặt trước giường, lật chăn lên, kéo một chân Tô Tần ra, bốc một nắm tuyết, nhẹ nhàng xoa lên chân hắn.

Tô Tần bỗng trào nước mắt, nhìn Thu Quả, cất giọng yếu ớt: “Cô nương!”

Nghe thấy tiếng nói, Thu Quả reo lên sung sướng: “Quan nhân đã tỉnh lại rồi! Vừa rồi làm tiểu nữ sợ muốn chết, định cho quan nhân húp chút canh gừng, mà không tài nào cạy được miệng ra!”

Thu Quả nói xong, đỡ Tô Tần ngồi dậy, bê bát canh gừng lại, bón cho Tô Tần từng thìa một, rồi quay ra ngoài cửa gọi lớn: “Cha ơi, cha… quan nhân tỉnh rồi!”

Bên ngoài vọng lại tiếng chân bước trên tuyết. Một lát sau, hán tử cụt tay đẩy cửa bước vào.

Tô Tần nhìn hán tử, gượng cười mà nói: “Tạ ơn Tần huynh!”

Hán tử cụt tay cười mà nói: “Quan nhân tỉnh lại thì tốt quá! May mà có con bé này, nó tìm thấy quan nhân bên ngoài cổng. Nếu nó không ra mở cổng, e rằng quan nhân đã bỏ mạng rồi!”

Tô Tần quay sang Thu Quả: “Đa tạ ơn cứu mạng của cô nương!”

Thu Quả cười bẽn lẽn: “Quan nhân, mau uống canh gừng cho ấm!”

Uống hết bát canh gừng, Tô Tần thấy trong người tỉnh táo hơn nhiều. Lúc này, lão trượng bưng lại một bát cháo loãng. Tô Tần gắng sức cử động, muốn vái chào lão trượng một cái mà không tài nào nhấc nổi hai tay.

Lão trượng xua tay ngăn Tô Tần lại: “Quan nhân chớ cử động! Quan nhân vừa đói vừa lạnh cóng nên mới ngất đi, không đáng ngại. Mà quan nhân cũng thật là, vào hôm tuyết lớn thế này lại ăn mặc phong phanh, dù có là người sắt cũng không chịu nổi. Hãy húp bát cháo loãng này trước cho ấm bụng, đợi tới chiều mai mới có thể ăn đồ cứng được. Còn nữa, lão hủ bảo con bé kia xoa tuyết cho quan nhân, nếu không, lớp da trên người e rằng cũng không giữ nổi.”

Tô Tần nghẹn ngào: “Đa tạ… đa tạ lão trượng!”

***

Vào đêm giao thừa, công tử Hoa và đám thuộc hạ Hắc Điêu đuổi tới Ninh Tần, đến ngày hôm sau lại tìm tới ải Hàm Cốc, đương nhiên chẳng thu được kết quả gì. Công tử Hoa bố trí hai người ở lại Hàm Cốc quan, bảo họ giữ tấm chân dung để tìm người, còn mình và vài người khác trở về Hàm Dương, nghỉ ngơi một lát, rồi xách một tay nải vào cung phục chỉ.

Nghe nói công tử Hoa cầu kiến, Huệ Văn Công vội ra nghênh đón, không kịp hành lễ, đã đưa mắt nhìn khắp một lượt từ đầu tới chân hắn. Quan sát một chặp, nét mặt có vẻ giãn ra, rồi chậm rãi hỏi: “Xem ra, khanh vẫn chưa tìm thấy Tô Tử?”

Công tử Hoa gật đầu, nét mặt rầu rầu: “Là do thần đệ vô dụng!”

“Vào trong nói chuyện!” Huệ Văn Công trong lòng thanh thản, ung dung đi trước.

Công tử Hoa bước theo sau, quỳ sụp xuống đất, đang định thỉnh tội thì Huệ Văn Công xua tay: “Bình thân!”

Công tử Hoa đứng dậy, ngồi xuống, kể lại đầu đuôi một lượt quá trình truy đuổi, cuối cùng nói: “Khi ra khỏi Hàm Dương, Tô Tử trên mình chỉ phong phanh manh áo mỏng, trong người không còn nổi một đồng. Mấy ngày qua gió tuyết dữ dội, lại là ngày cuối năm, Tô Tần thân là danh sĩ, tuyệt đối không chịu xin ăn. Sau khi qua Vũ Thành, thần đệ tới một quán ven đường, chủ quán nói là Tô Tần vừa rời khỏi đấy. Thần đệ gấp rút đuổi theo, đuổi tới tận cửa ải Hàm Cốc cũng chẳng thấy người đâu. Có lẽ đường núi gập ghềnh khúc khuỷu, sườn núi cheo leo, không chừng Tô Tần đã trượt xuống vực sâu, chết cóng nơi đồng hoang mất rồi!”

Huệ Văn Công trầm ngâm hồi lâu, khẽ thở dài, chậm rãi nói: “Cũng tốt! Tô Tử chết hay sống, hãy tuân theo ý trời!” Rồi im lặng, ánh mắt dừng lại trên chiếc tay nải công tử Hoa mang theo. “Là vật gì vậy?”

“Là mũ áo của Tô Tử.” Công tử Hoa mở tay nải, đặt lên mặt bàn.

Huệ Văn Công nhìn một lượt, gật đầu nói: “Phải, là mũ áo của hắn!” Im lặng một lát, mới như sực nghĩ ra, ngạc nhiên ngẩng nhìn công tử Hoa. “Ồ, tại sao mũ áo của hắn lại ở chỗ của đệ?”

“Là thần đệ thu lấy từ chỗ lão chủ quán ác tâm của khách sạn Vận Lai.”

“Chủ quán ác tâm?”

Công tử Hoa gật đầu, lời lẽ hết sức bi thương: “Tô Tử nợ tiền trọ của lão, bán xe bán ngựa, đến cả bộ quần áo mặc trên người cũng phải cởi ra gán nợ. Thần đệ thấy nghi ngờ, đòi lão cho xem hoá đơn của Tô Tử, mới biết lão là kẻ ác tâm. Tô Tử chỉ ở trọ trong quán hai tháng hai ngày, lão lại thu tiền trọ đủ ba tháng. Lão lại còn thu thêm đủ loại tiền khác, đến cả nước nóng để tắm, chỗ đỗ xe ngựa, lão cũng tính tiền. Thần đệ tính toán lại, thấy lão thu trội của Tô Tử chí ít năm lượng, bức ép Tô Tử tới mức bán hết ngựa, xe, còn phải gán nợ cả bộ quần áo mặc trên người!”

“Là quán trọ nào?”

“Khách sạn Vận Lai!”

“Khách sạn Vận Lai?” Huệ Văn Công khẽ chau mày, ngẫm nghĩ một lát. “Sĩ tử treo cổ tự vẫn lần trước, hình như cũng thuê ở quán trọ này?”

“Đúng vậy!” Công tử Hoa gật đầu xác nhận. “Thần đệ điều tra biết được, Ngô Tần cũng nợ tiền trọ của người này, bị bức ép quá không còn cách nào, mới tìm đến cái chết!” Rồi lôi ra một bản tấu. “Đây là lời khai của chủ quán. Đây là lời khai của tiểu nhị trong quán trọ!”

Huệ Văn Công đùng đùng nổi giận: “Hừm, quả nhân cầu hiền nạp sĩ, đến thuế quan cũng không nỡ thu. Kẻ này được lắm, kiếm đủ tiền trọ, tiền cơm mà còn chê ít, vẫn nghĩ cách moi thêm, tham lam vô độ, đúng là không muốn sống!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Chiếu theo luật pháp nước Tần, thương gia ác tâm như vậy, nên xử tội thế nào?”

“Thương gia bất lương, ép người vào chỗ chết, tội này đáng xử chém ngang lưng!”

“Được! Vậy thì xử chém ngang lưng kẻ này trước bàn dân thiên hạ!”

Công tử Hoa nghe vậy, vội nói: “Quân huynh, không thể được!”

“Vì sao không thể?”

“Người này thấy thần đệ thẩm tra gay gắt, đã lôi lão thái hậu ra làm bình phong, nói là cháu họ xa của lão thái hậu.”

“Lão thái hậu?” Huệ Văn Công dường như cũng cảm thấy khó xử, đôi mày chau tít, ngẫm nghĩ một hồi, rồi quyết đoán. “Vậy thì lập tức đóng cửa hắc điếm, tịch thu toàn bộ gia sản, đuổi kẻ này tới vùng sơn cốc Thương Ư, cho hắn một căn nhà dột nát, để hắn ngày ngày đóng cửa tự sám hối lỗi lầm.”

“Thế còn lão thái hậu, nên nói thế nào đây?”

“Tha cho hắn một mạng chó đã là tốt lắm rồi!”

“Thần đệ lĩnh chỉ!”

***

Mồng năm Tết, trời đã có nắng, mặt đất ấm áp trở lại. Tuyết ở những nơi có ánh mặt trời bắt đầu tan chảy, song ở những nơi khuất bóng trong rừng núi, khe sâu, vẫn là tầng tầng tuyết trắng.

Sáng hôm nay, bên ngoài cánh cổng gỗ nhà hán tử cụt tay, cả nhà lão trượng lục tục đi tiễn Tô Tần lên đường. Tô Tần đã hồi phục hoàn toàn, mặc chiếc áo nâu vạt xanh, khoác ngoài tấm áo ngắn vải thô, trên đầu vấn mảnh khăn trắng giống như người Tần, nhìn từ xa, trông chẳng khác gì một người Tần thực thụ.

Hán tử cụt tay xách tay nải của Tô Tần ra khỏi cổng, ngắm nghía Tô Tần kỹ lưỡng một hồi, gật gù nói: “Ồ, nếu đi trên đường, thấy quan nhân ăn vận thế này, ai cũng nghĩ là một người Tần thực thụ!”

Tô Tần ngượng nghịu nhìn lại mình một lượt, rồi quỳ sụp xuống, hướng vào lão trượng, lạy liền ba lạy, lại dập đầu nói: “Ân một giọt nước, trả cả dòng sông. Ân cứu mạng của lão trượng, Tô Tần ngày sau nhất định sẽ báo đáp!”

Lão trượng bước lại, nhẹ nhàng đỡ Tô Tần đứng dậy: “Quan nhân nói như vậy là khách khí quá rồi! Đừng nói là quan nhân, dù là kẻ ăn mày, người Tần cũng không thể giương mắt đứng nhìn hắn chết rét trước cửa nhà mình!”

Hán tử cụt tay tiếp lời: “Đúng đấy, Tô quan nhân, nếu không chê Tần huynh cụt tay này, lúc nào gặp khó khăn, cứ tới đây tìm tôi!”

Tô Tần quay sang hán tử cụt tay, vái một vái thật sâu: “Hậu nghĩa của Tần huynh, Tô Tần xin ghi lòng tạc dạ!”

Hán cử cụt tay đáp lễ, rồi đưa tay nải cho Tô Tần.

Tô Tần khoác chéo tay nải lên vai, lần lượt vái chào từ biệt từng phụ nữ trong nhà, song không thấy Thu Quả đâu, thì ngạc nhiên hỏi: “Thu Quả cô nương đâu?”

Lão trượng quay vào trong sân gọi lớn: “Tiểu Quả!”

Thu Quả xúng xính quần áo mới, mặt mày hớn hở, lưng khoác một tay nải nhỏ bước ra khỏi cổng, ngượng ngùng bước đến bên cạnh Tô Tần, cơ thể mảnh mai khiến người ta nhìn mà thương xót.

Lão trượng vòng tay nói: “Quan nhân, sức khoẻ của quan nhân vẫn chưa bình phục, trên đường cần người chăm sóc. Con bé này tuy ngốc nghếch, song cũng biết ấm biết lạnh, hãy để con bé đi theo chăm sóc cho quan nhân!”

Tô Tần kinh ngạc, rồi lập tức nói ngay: “Lão trượng, chuyện này dứt khoát không thể!”

Lão trượng sững người: “Tô Tử hẳn là chê Tiểu Quả?”

Tô Tần vội vái dài mà nói: “Lão trượng, cho phép Tô Tần nói một lời!”

“Xin quan nhân cứ nói!”

“Ân nghĩa sâu nặng của cả nhà lão trượng, Tô Tần cả đời không quên. Tô Tần đã nhận Tần huynh cụt tay đây làm anh thì Thu Quả cũng coi như là con gái của Tô Tần. Nay Tô Tần lang bạt kỳ hồ, hà cớ phải để Thu Quả phải chịu khổ theo? Cùng lắm ba năm nữa, đợi Tô Tần có chút sự nghiệp, sẽ quay lại đón Thu Quả sau. Tô Tần đã coi cô bé như con một, chắc chắn không để Thu Quả phải thiệt thòi!”

Lão trượng nhìn Thu Quả, lại nhìn Tô Tần, rồi gật đầu nói: “Quan nhân đã có nỗi khổ tâm trong lòng, lão hủ đây cũng không miễn cưỡng. Tiểu Quả chỉ cần biết ở nhà đợi quan nhân là được!” Rồi quay sang Thu Quả. “Tiểu Quả, quan nhân đã nói ba năm sau quay lại đón cháu, cháu có đồng ý đợi không?”

Thu Quả mắt ngấn lệ, gật đầu.

Tô Tần lại vòng tay vái dài: “Tô Tần đã hứa, quyết không nuốt lời!”

Hán tử cụt tay tháo lấy chiếc túi buộc bên thắt lưng xuống: “Đây là một chút lương khô và vài đồng bạc lẻ, để quan nhân dùng trên đường đi.”

Tô Tần nhận lấy, lại vái mà nói: “Tạ ơn Tần huynh!” Rồi lại vái chào mọi người một lần nữa. “Đa tạ chư vị! Tô Tần cáo từ!”

Đoàn người bịn rịn tiễn Tô Tần ra tận đường cái quan, cứ đứng nhìn theo bóng Tô Tần khuất dần, tới lúc chỉ còn là một chấm đen nhỏ xíu.

***

Công tử Hoa không tìm được Tô Tần, Huệ Văn Công lại thở phào nhẹ nhõm.

Dù thế nào đi nữa, Tô Tần không phải chết trong tay mình, Huệ Văn Công cũng thấy nhẹ nhõm hơn nhiều. Cảm giác đó chẳng khác gì một gã keo kiệt gặp được bảo bối vô giá, biết mình không thể có được, thà huỷ hoại cũng không muốn người khác chạm vào. Song nếu đích thân phá huỷ, lại không nỡ ra tay. Ngược lại, nếu như bảo bối tự hỏng, tuy trong lòng có xót xa, song cũng thấy dễ chịu hơn.

Người tài mến tài. Trong lòng Huệ Văn Công, quả thực cũng thấy vô cùng thương tiếc. Sau khi công tử Hoa đi khỏi, Huệ Văn Công tiện tay với lấy bộ áo cừu của Tô Tần ra, lật đi lật lại ngắm nghía hồi lâu, hình dung về tình cảnh mà Tô Tần đã phải trải qua, trước mắt như hiện lên cảnh tượng Tô Tần mình không áo ấm, ăn mặc phong phanh, trong túi không có lấy một xu, một mình lặn lội trong gió tuyết căm căm, lấy tuyết làm cơm, lê bước khó nhọc đến khi ngất lịm, lăn xuống vực sâu thăm thẳm, bị tuyết lở chôn vùi. Nghĩ tới đây, bỗng lòng đau quặn thắt, nước mắt tuôn rơi.

Suốt mấy ngày sau, Huệ Văn Công không lúc nào thôi trăn trở chuyện này, ăn cơm cũng chẳng thấy mùi vị. Trong số các học trò Quỷ Cốc, Bàng Quyên một lòng với Ngụy, Trương Nghi quyết chí ở Sở, Tôn Tẫn đã thành phế nhân, duy có Tô Tần là người tài có thể sử dụng, đã thế còn hạ mình tìm tới tận cửa, nếu thực sự chết thảm như vậy, chẳng phải đáng tiếc lắm ư?

Nghĩ tới đây, Huệ Văn Công lại thấy đau đớn trong lòng.

Không dùng Tô Tần, liệu có phải là quyết định đúng đắn? Còn dùng Tô Tần, liệu có phải là sai lầm? Huệ Văn Công chìm trong trầm tư trăn trở.

Kỳ thực, mấy tháng nay, Tô Tần đã khiến Huệ Văn Công suy nghĩ không biết bao nhiêu lần, nhưng quả tình chuyện này vô cùng nan giải, bên cạnh lại không có lấy một người để bàn bạc. Trúc Viễn không thể, Công Tôn Diễn không thể, Sư Lý Tật không thể, Tiểu Hoa không thể, tất cả triều thần đều không thể, dù là nội thần cả ngày cận kề bên cạnh, cũng không thể.

Duy chỉ một người có thể, chính là tiên quân.

Nghĩ tới đây, Huệ Văn Công đứng dậy, truyền nội thần tới cung Di Tình, gặp lão nội tể, bảo lão đứng đợi ngoài cửa, rồi một mình ngồi trước giường tiên quân, lại chìm vào suy nghĩ.

Không biết bao lâu sau, trong đầu Huệ Văn Công bỗng loé lên một suy nghĩ. Tài của Tô Tử, hôm nay không dùng, ngày mai ắt sẽ dùng tới. Đế sách không thể công khai thực thi, vẫn có thể ngấm ngầm thực thi. Bản thân Huệ Văn Công đã thông qua Luận Chính đàn mà xoá bỏ các dư luận bất lợi, cớ sao lại không thể lùi một bước, lấy danh nghĩa “tôn sĩ” mà giữ Tô Tần lại trong cung, cho Tô Tần một hư chức nào đó, không dùng công khai thì dùng ngấm ngầm, đợi thời cơ chín muồi, lại chuyển từ ngấm ngầm sang công khai, cùng hắn liên thủ, hoàn thành đại nghiệp?

Nghĩ tới đây, Huệ Văn Công chợt thấy trong lòng thắt lại. Đúng vậy, bậc đại tài như Tô Tử, nghìn năm mới có một người. Mấy năm qua Huệ Văn Công đã vất vả tìm kiếm, khổ sở chờ đợi, chẳng phải đều vì người này ư? Người này đã tới rồi, cũng đã bộc lộ tài năng rồi, vậy mà…

Lại tiếp tục suy nghĩ về ngôn hành của Tô Tần trong mấy tháng qua. Tô Tần chân ướt chân ráo tới nơi, muốn gặp mặt quân chủ, trước hết phải luận về chính sự; muốn luận về chính sự, nhất thiết phải luận về thiên hạ. Lời Tô Tần nói, cũng là lời sĩ tử liệt quốc thường nói, chỉ là Tô Tần nhìn xa hơn, trông rộng hơn mà thôi. Tất cả đều trách bản thân, là bản thân Huệ Văn Công có tật giật mình.

Huệ Văn Công càng nghĩ càng hối hận, bèn đứng dậy, bước lại trước linh vị Hiếu Công, quỳ xuống khấn rằng: “Quân phụ, Tứ Nhi vô dụng, đã bỏ lỡ một đại tài. Tô Tử lần này ra đi, lần này ra đi…”

Huệ Văn Công đột nhiên khựng lại, ngẩn ngơ một hồi, rồi đứng phắt dậy, vội vàng mở cửa đi ra ngoài, lớn giọng nói với nội thần: “Mau mời thượng đại phu yết kiến!”

Sư Lý Tật thấy cung nhân giục giã cuống quýt, không biết đã xảy ra chuyện gì, bèn tất tả vào cung. Nội thần đã chờ sẵn, liền dẫn Sư Lý Tật vào ngự thư phòng. Hành lễ quân thần xong xuôi, khi ngồi xuống chiếu, Sư Lý Tật mới nhìn thấy công tử Hoa cũng đã ngồi ở đó. Nhìn thần sắc, hẳn cũng vừa vội vã tới.

Huệ Văn Công đưa mắt nhìn hai người, chậm rãi nói: “Hai vị ái khanh, quả nhân gấp rút cho gọi hai vị tới đây, vẫn là vì chuyện của Tô Tử!”

Sư Lý Tật trong lòng kinh ngạc, cho rằng âm mưu của hai người họ đã bị quân chủ phát giác, vội nhìn sang công tử Hoa, thấy công tử Hoa cũng đang trợn mắt nhìn sang phía mình, biết rằng hắn cũng không hề hay biết, vội quay lại nhìn Huệ Văn Công, giả như không biết mà hỏi: “Xin hỏi Tô Tử làm sao?”

“Hỡi ôi!” Huệ Văn Công nhìn Sư Lý Tật, than thở mà rằng. “Sư Lý ái khanh, quả nhân nghe nói Tô Tử đã bán hết xe, ngựa, gán nợ quần áo, tay không đi bộ rời khỏi Hàm Dương, trong lòng cảm thấy vô cùng áy náy. Hôm nay ngồi ngẫm nghĩ lại, tuy luận điệu của Tô Tần không sát thực, song cũng xứng mặt nhân tài. Khi Tô Tần rời đi, ăn mặc phong phanh, không một đồng dính túi, lại gặp đúng ngày gió tuyết dữ dội, đất trời lạnh lẽo, chuyện an nguy vô cùng đáng ngại. Quả nhân nghe được sự tình, đã sai Tiểu Hoa đuổi theo, muốn mời hắn trở về, cho hắn một chức quan nào đó. Nào ngờ, Tiểu Hoa đuổi tới tận ải Hàm Cốc, vẫn không thấy bóng người đâu!”

Sư Lý Tật nhìn Huệ Văn Công không chớp mắt, tim đập thình thình.

Dừng lại một lát, Huệ Văn Công nói tiếp: “Sư Lý ái khanh, quả nhân đoán rằng, tình cảnh hiện tại của Tô Tử, chỉ có hai khả năng. Thứ nhất là chết cóng chốn hoang vu vì đói rét, thứ hai là gặp nạn không chết, được cứu sống. Quả nhân gọi ái khanh tới đây, là muốn ái khanh điều tra rõ việc này. Nếu Tô Tử thoát được hiểm nạn, ái khanh hãy mời hắn trở lại Hàm Dương, quả nhân sẽ hạ mình tới đón, cung kính tạ tội, xem xét tài năng mà trọng dụng. Còn nếu Tô Tử đã chết cóng nơi đồng hoang, đó là sai lầm của quả nhân. Ái khanh hãy mang thi hài của Tô Tử về Hàm Dương, quả nhân sẽ đích thân cúng tế, mai táng long trọng theo nghi lễ quốc sĩ, đồng thời tới Thái miếu sám hối lỗi lầm, để răn đe bản thân!”

Sư Lý Tật đứng dậy, khấu bái sát đất nói: “Vi thần thay Tô Tử khấu tạ long ân của chúa thượng!”

Huệ Văn Công quay sang công tử Hoa: “Tiểu Hoa, khanh hãy chuẩn bị xe ngựa, lập tức tới Đại Lương, tìm cách để Tôn Tẫn hiểu rõ chân tướng sự việc. Nếu có thể đưa được Tôn Tẫn về Tần, quả nhân coi như khanh đã lập được đại công!”

“Vi thần tuân chỉ!”

Vài ngày sau, Sư Lý Tật sau khi tích cực “điều tra”, cuối cùng được lý chính dẫn tới thôn Tiểu Tần, đến trước cổng nhà hán tử cụt tay. Nghe thấy tiếng người gọi cổng, lão trượng và hán tử cụt tay vội bước ra, nhìn thấy lý chính dẫn theo một quan nhân đứng đợi bên ngoài. Lão trượng không biết là ai, bèn vòng tay vái chào lý chính. Lý chính nói: “Thượng đại phu trong triều Sư Lý đại nhân có chuyện muốn hỏi lão!”

Nghe nói người này là thượng đại phu, lão trượng và hán tử cụt tay vội vàng quỳ xuống đất bái lạy: “Thảo dân khấu kiến thượng đại phu đại nhân!”

Sư Lý Tật bước lên đỡ lão trượng dậy, vái chào mà hỏi: “Lão đại nhân, nghe nói vào đêm giao thừa, nhà lão đã cứu sống một người, có chuyện này chăng?”

Lão trượng vái đáp lễ, nói: “Khởi bẩm đại nhân, quả thực có chuyện này!”

“Người được cứu là ai vậy?”

“Họ Tô tên Tần, người Đông Chu!”

“Vậy hắn đâu rồi?”

“Đã đi được vài ngày. Nếu đoán không sai, giờ này có lẽ đã qua ải Hàm Cốc, tới Thằng Trì rồi.”

“Ồ!” Sư Lý Tật mặt đầy thất vọng, lại hỏi tiếp: “Người này có để lại lời nhắn nhủ gì không?”

Lão trượng lắc đầu.

Nhưng hán tử cụt tay lại lớn tiếng đáp: “Tô quan nhân hẹn rằng, sau ba năm nữa sẽ quay trở lại thôn Tiểu Tần!”

“Thật ư?” Sư Lý Tật quay sang hán tử cụt tay, hỏi ngay. “Vì sao Tô Tử lại quay lại?”

Hán tử cụt tay rất đỗi tự hào: “Để đón con gái thảo dân!”

“Đón con gái ngươi?” Sư Lý Tật vẻ như không hiểu, bèn ngẩng đầu hỏi. “Con gái ngươi đâu?”

Hán tử cụt tay ngoảnh vào trong nhà gọi to: “Tiểu Quả, mau ra đây!”

Thu Quả “vâng” một tiếng chạy ra, đứng tựa vào khung cửa, mở to mắt, rụt rè nhìn đám người lạ trước cổng. Thấy họ đều đổ dồn mắt nhìn mình, thì mặt đỏ bừng, vội nấp sau cánh cửa.

Sư Lý Tật thấy là một đứa bé gái, ngẫm nghĩ một lát rồi quay sang hán tử cụt tay hỏi: “Vì sao Tô Tử lại đón con gái ngươi?”

“Khởi bẩm đại nhân!” Hán tử cụt tay chỉ vào Thu Quả đang đứng lấp ló sau cánh cửa. “Tô quan nhân hai lần gặp nạn, đều được con bé này cứu sống. Cha thảo dân nói rằng, con bé có duyên với Tô quan nhân, muốn con bé đi theo hầu hạ Tô quan nhân, song Tô quan nhân thấy con bé còn ít tuổi, nói là để lui lại ba năm, mới quay lại đón.”

Sư Lý Tật sửng sốt một hồi, rồi bật cười mà nói: “Hay lắm, hay lắm, bản phủ chúc mừng ngươi, cũng chúc mừng con gái ngươi! Ba năm sau, Tô Tử tới đây hỏi vợ, đừng quên báo với bản phủ một tiếng, để bản phủ tới uống chén rượu mừng!”

Hán tử cụt tay không dám tin vào tai mình: “Đại nhân nói thật ư?”

“Bản phủ đã nói, đương nhiên là thật!” Sư Lý Tật lại nhìn Thu Quả lần nữa, thấy cô bé mặt mũi thanh tú, trông rất khả ái, trong lòng bỗng nảy ra một ý, bèn chỉ vào Thu Quả nói với hán tử cụt tay. “Bản phủ muốn cho Thu Quả tới nhạc phường học vài năm, đợi ba năm Tô Tử quay lại rước, cũng hiểu chút học vấn lễ nghi, như vậy mới xứng đôi với Tô Tử.”

“Được! Được!” Hán tử cụt tay cảm kích kéo Thu Quả lại dập đầu tạ ơn.

Sư Lý Tật quay sang lý chính dặn dò: “Hộ dân này có nghĩa cử cứu người hoạn nạn, đáng được khen thưởng, tăng tước hai bậc, thưởng ba mươi lượng vàng. Ngươi hãy về làm tấu báo, trực tiếp trình lên bản phủ, bản phủ sẽ chuyển lên chúa thượng ngự phê. Còn cô nương này, hãy đưa thẳng tới nhạc phường!

Lý chính vòng tay nói: “Hạ quan tuân chỉ”.

***

Trong phòng dệt vải nhà họ Tô, Tiểu Hỷ đang cắm cúi dệt trước khung cửi, bỗng nghe ngoài sân vọng lại tiếng cười nói.

Tiểu Hỷ nghe ra giọng của chị dâu cả và vợ Tô Đại. Giờ đang là buổi trưa, trời nắng đẹp, họ đang chọn kén tằm trong sân. Tiểu Hỷ ngẩng đầu nhìn ra ngoài sân, thấy chị dâu cả đang xoa cái bụng lùm lùm của vợ Tô Đại, cười cười nói nói: “Em ba, nhìn cái bụng thế này, chắc chắn là con trai rồi!”

Vợ Tô Đại trong lòng sung sướng, song ngoài miệng lại cười hỏi: “Xin hỏi chị dâu, dựa vào đâu mà nói là con trai?”

“Em không hiểu được đâu!” Chị dâu cả cười nói. “Nếu sinh con trai, thấy trước không thấy sau. Nhìn bụng em chỉ thấy trước không thấy sau, chắc chắn là con trai rồi!”

“Thế nào là thấy trước không thấy sau?” Vợ Tô Đại mở to mắt hỏi.

“Là chỉ nhìn thấy bụng từ phía trước, nếu nhìn từ phía sau, sẽ không nhận ra là đang mang bầu, vẫn như người bình thường ấy. Em dâu sắp sinh rồi mà bên eo vẫn thẳng, còn không phải là con trai ư?”

“Tạ ơn lời vàng ngọc của chị dâu!”

Tiểu Hỷ nghe vậy, trong lòng đau đớn như bào. Nghĩ tới mình khi ở nhà mẹ đẻ mãi không có ai tới hỏi, khó khăn lắm mới có được một đấng lang quân, làm vợ người ta đã sáu năm rồi, tới nay vẫn còn là xử nữ, bất giác cảm thấy đau xót cho mình, bèn dừng tay dệt, gục đầu trên khung cửi, song lại không dám khóc thành tiếng, chỉ lặng lẽ nấc lên từng hồi.

Chị dâu cả không nghe thấy tiếng thoi đưa, bèn ngó vào trong phòng dệt, thấy Tiểu Hỷ đang khóc lóc, thì vội đứng dậy bước vào phòng. Vợ Tô Đại thấy vậy, cũng ôm bụng đi theo. Tiểu Hỷ thấy hai người tiến lại, vội vàng cầm thoi lên.

Chị dâu cả nhìn Tiểu Hỷ, nói: “Em hai, hãy nghỉ tay một lát!”

Tiểu Hỷ ngẩng đầu, mắt còn ngấn lệ, cố nặn ra một nụ cười.

Chị dâu khẽ thở dài: “Nhìn hai vệt nước mắt trên má em kia, hẳn là lại nhớ tới quan nhân của em ư?”

Nước mắt lại lăn dài trên hai má, Tiểu Hỷ chỉ cúi đầu lặng im không nói.

Vợ Tô Đại an ủi: “Chị hai, sớm nay em nghe thấy tiếng chim khách kêu trên cây xuân, hẳn là anh hai sắp về rồi!”

“Này em hai!” Chị dâu cả cười nói. “Em còn ở đây dệt vải làm gì? Chú hai đến đất còn đem bán hết, hẳn là đã hạ quyết tâm. Người ta một khi đã quyết tâm, chưa biết chừng sẽ làm nên sự nghiệp! Mấy ngày trước, chị đi chợ ở Y Lý, trên đường vừa hay gặp tư nông đại nhân đi tuần. Tư nông đại nhân đi ở phía trước, phía sau có vài chục người đi theo, đến đám người có máu mặt ở quanh đây cũng không dám lại gần. Bình thường lý chính vênh vang là thế, nhưng hôm ấy chỉ bám theo tít đằng sau, nhìn cái lưng lom khom, trông y như cánh cung ấy!” Dừng lại một lát, lại nói. “Chậc chậc, tư nông đại nhân mới oai phong làm sao, chị đây cứ nghĩ tới, trong lòng lại thấy… Chà chà…”

Vợ Tô Đại tiếp lời: “Nếu anh hai có thể trở thành đại phu gì gì đó, thì chị hai đúng là khổ tận cam lai!”

“Phải đấy, phải đấy!” Chị dâu cả tiếp lời. “Em hai này, nếu chú hai làm quan thực, chưa biết chừng còn oai phong hơn cả tư nông đại phu ấy chứ. Tới lúc đó, chà chà, chú hai về quê, ngựa đẹp, xe sang, tiền hô hậu ủng, vàng chất thành đống. Em hai, tới lúc đó, em đừng có chỉ biết sung sướng một mình, mà quên mất chúng ta là chị em dâu đấy nhé!”

Hai người một xướng một họa, chọc cho Tiểu Hỷ đang khóc cũng phải bật cười, đưa ống tay áo lên lau nước mắt, đang định dệt vải tiếp thì chị dâu cả bước lại, giật lấy con thoi, nắm tay Tiểu Hỷ khăng khăng kéo ra khỏi khung cửi, muốn đưa ra ngoài sân nghỉ ngơi.

Hai người đang lôi kéo nhau, con Mực vẫn nằm dưới gốc cây xuân trong sân đột nhiên ngỏng đầu, hai tai dựng đứng, miệng “ử” lên một tiếng, rồi vẫy đuôi tít mù, sủa lên rối rít, lao ra khỏi cổng.

Ba người đang ngơ ngác, bỗng nghe thấy ngoài cổng có tiếng chân bước. Chốc lát sau, một người Tần râu ria đầy mặt, mệt mỏi phờ phạc xuất hiện ở trước cổng. Con Mực hết liếm chân lại dụi người, mừng rỡ sủa ngậu lên quanh người này.

Ba người phụ nữ sững sờ tại chỗ.

Mãi một lúc sau họ mới nhận ra, người đang đứng trước cổng chính là Tô Tần!

Nhìn thấy bộ dạng thảm hại của Tô Tần, chị dâu cả định thần lại đầu tiên, bước ra giữa sân, hừ mũi một tiếng, giọng đầy châm chọc: “Ối chao ôi, lời vừa ra khỏi miệng, người đã về thật rồi!”

Tô Tần lảng tránh ánh mắt giễu cợt của chị dâu cả, cúi gằm mặt xuống không nói lời nào, bước vào trong sân, đặt tay nải xuống, ngẩn ngơ một hồi, rồi ngồi xuống dưới gốc cây xuân. Con Mực chạy tới bên Tô Tần, vẫy đuôi rối rít, liếm lấy liếm để.

Chị dâu cả bước lại trước mặt Tô Tần, săm soi Tô Tần một lượt, giọng nói càng thêm cay nghiệt: “Chú hai này, chị dâu nghe nói chú làm quan lớn, nhưng nhìn cách ăn mặc của chú, thật chẳng khác gì ăn mày. À mà chị hiểu rồi, chú hai hẳn là đang cải trang vi hành ư?” Rồi quay sang vợ Tô Đại. “Em ba này, ngựa đẹp xe sang của chú hai hẳn là ở phía sau, chị em mình ra đầu thôn tiếp đón đi chứ, chớ nên thất lễ với chư vị quan gia!”

Chị dâu cả nói xong, liền ngoay ngoảy bước luôn ra khỏi cổng. Vợ Tô Đại liếc nhìn Tô Tần, do dự một lát rồi gọi to: “Chị dâu!”

“Em ba, sao thế?” Chị dâu cả ngoảnh mặt lại hỏi.

Vợ Tô Đại nói khẽ: “Anh hai vừa mới về, hẳn là chưa ăn uống gì. Hay là, chị em ta vào bếp nấu chút cơm canh cho anh hai?”

Tuy nói là chia nhà, song nhà họ Tô vẫn thổi chung một bếp, Tô Diêu thị quản lý thóc gạo, vợ Tô Lệ trông coi bếp núc, mỗi lần nổi lửa nấu cơm đều do chị ta quyết định. Vợ Tô Lệ liếc nhìn Tô Tần, thấy hắn ăn vận trang phục của người Tần, thì bĩu môi nói: “Em ba này, em không phải lo bò trắng răng! Chú hai là người cao quý, ăn sơn hào hải vị quen rồi, làm gì nuốt nổi mấy thứ đạm bạc trong nhà này? Hơn nữa, bếp cũng hết củi từ lâu, lấy gì để nấu đây?”

Tô Tần mặt lúc đỏ lúc tái, cúi gằm đầu không nói.

Tiểu Hỷ trong lòng rối bời, nghe thấy những lời này, nước mắt trào ra giàn giụa, vốn định bước xuống khung cửi, lại sợ Tô Tần không nhìn tới, cũng sợ chị dâu cả chế giễu, nên chỉ ngồi thẫn thờ tại chỗ.

Đúng lúc này, Thiên Thuận dẫn Địa Thuận và đứa em gái cười nói chạy về. Vừa bước vào cổng, nhìn thấy một người lạ đang ngồi dưới gốc cây, thì khựng lại, rồi thận trọng tiến lên vài bước, săm soi hồi lâu mới nhận ra Tô Tần, reo lên: “A, chú hai!”

Hai đứa em nghe thấy anh nói vậy, cũng đã nhận ra, ríu rít chạy lại chỗ Tô Tần. Vợ Tô Lệ lập tức nghiêm giọng quát: “Thiên Thuận, Địa Thuận, mau ra ngoài!”

Ba đứa trẻ nghe thấy vậy, vội lùi lại, nhìn vợ Tô Lệ ngơ ngác.

Vợ Tô Lệ thủng thẳng nói: “Thiên Thuận, ngựa đẹp xe sang của chú hai ở ngoài thôn ấy, con mau dẫn Địa Thuận và em gái ra đầu thôn mà xem xem xe đã về tới nơi chưa?”

Thiên Thuận nghe vậy, mừng rỡ đáp: “Vâng ạ!” Rồi dẫn em trai, em gái chạy như bay ra khỏi cổng, vừa chạy vừa reo lên: “Đón xe đẹp! Đón xe đẹp của chú hai!”

Thấy mấy đứa trẻ đã chạy đi hết, vợ Tô Lệ liếc xéo Tô Tần, lại hừ mũi một tiếng, nói với vợ Tô Đại: “Em ba này, chúng ta cũng ra đầu thôn đón xe ngựa đi!” Vừa nói vừa kéo vợ Tô Đại đi ra khỏi cổng.

Tiểu Hỷ mũi cay sè, gục đầu trên khung cửi, bật khóc nức nở. Vừa khóc được hai tiếng, lại sợ Tô Tần nghe thấy, bèn gắng gượng nuốt lệ, cắn chặt răng, cầm con thoi lên, vừa nức nở vừa đưa khung dệt vải. Một lát sau, tiếng khung cửi đã kẽo kẹt vang lên, tiếng này nối tiếp tiếng kia, lúc chậm, lúc nhanh, nước mắt cũng cứ thế lăn thành hàng dài trên má, giọt liên tiếp xuống mảnh vải đang dệt dở, thánh thót như châu rơi.

Tô Tần ngồi lặng phắc như hoá đá dưới gốc cây, nước mắt cũng ứa ra bên khoé mắt nhắm nghiền, rơi lã chã xuống đất. Con Mực ngoan ngoãn ngồi bên cạnh Tô Tần, giương đôi mắt nhìn Tô Tần không chớp, không biết làm thế nào để khiến vị đại ân nhân từng cứu mạng mình được vui lòng.

Sau khi Tô Tần bỏ đi, Tô Hổ biết được con trai đã bán hơn chục mẫu ruộng tốt được chia cho lý chính, thì bàng hoàng uất hận, ngã lăn ra chết giấc. Sau được đại phu cứu sống, tuy giữ được tính mạng, song bán thân bất toại, nằm liệt trên giường. Đừng nói là làm việc, đến tự chăm sóc bản thân cũng không thể, đại tiểu tiện không thể khống chế, chẳng khác gì đứa trẻ sơ sinh. Từ sau khi cha chồng mắc bệnh, ba cô con dâu không thể đỡ đần được gì, hai người con trai cũng suốt ngày làm lụng cật lực ngoài đồng ruộng, nên Tô Hổ đã trở thành gánh nặng của Tô Diêu thị.

Sông Y Thuỷ chảy lại từ phía tây bắc thôn Hiên Lý, cách đầu thôn khoảng hai dặm, người dân trong thôn mỗi khi giặt quần áo, đều mang ra Y Thuỷ. Mấy hôm nay, nước sông không còn đóng băng, cứ sau bữa cơm trưa, thấy trời nắng ấm, Tô Diêu thị lại bê chậu quần áo đầy ra sông giặt.

Nước sông lạnh buốt, chẳng khác gì nước băng, song Tô Diêu thị cũng không còn cách nào khác. Tới mùa đông, phụ nữ trong thôn đa phần đều giặt quần áo ở giếng, vì nước giếng ấm hơn. Song Tô Diệu thị không dám tới đó giặt, bởi quần áo của Tô Hổ quá nặng mùi hôi hám, bà sợ khiến mọi người khó chịu.

Giặt xong chậu quần áo đầy, hai tay Tô Diêu thị đã tím tái, lạnh buốt đến tê dại. Tô Diêu thị đưa hai tay lên miệng, hà hơi vài cái cho bớt lạnh, rồi đút tay vào trong người ủ ấm một chốc, sau đó mới bê chậu quần áo lên, nặng nhọc leo lên đê, rẽ xuống con đường nhỏ dẫn vào trong thôn.

Mới có vài tháng trôi qua, Tô Diêu thị đã già đi trông thấy, bước đi run rẩy, phải dừng lại nghỉ đến hai lần mới tới được đầu thôn.

Nhìn thấy ba đứa cháu nội đang đứng trên đỉnh dốc ngỏng cổ trông về phía xa, Tô Diêu thị dừng bước, lớn tiếng hỏi: “Thiên Thuận, các cháu mau xuống đi, đứng đó làm gì thế?”

Thiên Thuận đáp: “Bà ơi, chúng cháu đang đợi xe ngựa!”

“Mấy đứa ngốc kia, tự dưng ở đâu ra xe ngựa?”

“Là xe ngựa của chú hai!”

“Chú hai?” Tô Diêu thị sửng sốt. “Chú hai ở đâu?”

Thiên Thuận hồ hởi nói: “Chú hai về rồi, đang ngồi ở trong sân! Mẹ cháu nói, chú hai còn có ngựa đẹp xe sang, bảo chúng cháu ra đây đợi xem!”

Tô Diêu thị không kịp nói thêm lời nào, vội vã bê theo chậu quần áo, loạng choạng rảo bước chạy vào trong thôn. Còn cách cổng nhà khoảng hơn chục bước chân, con Mực đã chạy ra khỏi cổng, vẫy đuôi rối rít đón bà.

Tô Diêu thị bước qua cánh cổng gỗ, song không nhìn thấy Tô Tần đâu, chỉ thấy một người Tần ngồi đờ đẫn dưới gốc cây xuân. Tô Diêu thị thấy tim mình thắt lại, đưa mắt nhìn quanh, vẫn không thấy bóng dáng Tô Tần, chỉ thấy Tiểu Hỷ đang ngồi dệt vải trong phòng, tiếng khung cửi bập bõm lúc nhanh lúc chậm.

Tô Diêu thị sửng sốt, nếu là Tô Tần, tại sao Tiểu Hỷ vẫn ngồi dệt vải? Còn nếu không phải, vậy người này là ai?

Tô Diêu thị nghĩ bụng, người này hẳn là bạn cùng về với Tô Tần, trong lòng lấy làm lo lắng, vội bước lại vài bước, khẽ giọng hỏi: “Ồ! Nhà có khách ư?” Thấy người kia vẫn không nói gì, lại tiến thêm vài bước, đến dưới gốc cây xuân.

Tới lúc này, Tô Tần mới ngẩng đầu lên, nước mắt lăn dài, đổi ngồi thành quỳ, dập đầu mà gọi: “Mẹ!”

Tô Diêu thị sững sờ, chậu gỗ trên tay rơi thẳng xuống đất, quần áo văng tung toé.

Hồi lâu sau, Tô Diêu thị mới định thần lại được, vội bước lại gần, ôm lấy đầu Tô Tần, khóc nấc lên mà nói: “Tần Nhi, Tần Nhi của mẹ, con ơi, mẹ nhớ con đến chết!”

Tô Tần gục đầu vào lòng Tô Diêu thị, cũng bật khóc nức nở.

Tiếng khung cửi trong phòng dệt lại càng hối hả, càng vang vọng hơn nữa.

Hai mẹ con khóc lóc một hồi, Tô Diêu thị bỗng đẩy Tô Tần ra: “Tần Nhi, con đói bụng chưa? Mau theo mẹ xuống bếp, mẹ nấu gì cho con ăn.”

Tô Diêu thị quay người, lập cập bước vào trong bếp. Tô Tần đứng dậy đi theo, tới trước bếp lò ngồi xuống, giúp mẹ nhóm lửa. Lại nhìn phía trước bếp lò, củi xếp thành đống, đâu phải đã hết củi?

Tô Tần đun nước sôi, Tô Diêu thị chần mấy quả trứng, lại hâm nóng mấy chiếc bánh bao, bày ra trước mặt Tô Tần: “Tần Nhi, mau ăn đi!”

Tô Tần bưng bát trứng chần, song lại bần thần chưa động đũa.

Tô Diêu thị mắt nhìn con trai đăm đắm, giục: “Tần Nhi!”

Tô Tần cuối cùng cũng thốt lên một câu: “Cha… có khoẻ không?”

Nghe thấy con trai hỏi vậy, Tô Diêu thị nước mắt giàn giụa, khóc mà nói: “Hai tháng trước, cha con ra ruộng cày cho con, thấy có người khác đang cày, cha con tới hỏi lý chính, lý chính đưa khế đất ra, lúc đó cha con mới biết con đã bán ruộng. Nhìn thấy chữ ký của con, cha đã chết ngất tại chỗ, sau đó…”

Tô Tần kinh hãi: “Cha con làm sao rồi?”

Tô Diêu thị gạt nước mắt: “Thầy thuốc nói, ông ấy trúng gió, liệt nửa người bên phải, từ sáng tới tối nằm liệt trên giường, đến đại tiểu tiện còn không biết, nào có khác gì người chết chưa chôn?”

Tô Tần nước mắt đầm đìa, mắt nhìn trân trân vào bát một hồi, rồi bưng bát lên, chậm rãi bước ra khỏi bếp, đi lên gian nhà chính.

Tô Hổ đang nằm trên giường lò trong phòng, gần tường đệm một tấm chăn dày, nên trông ông như nửa ngồi nửa nằm. Tô Hổ người tuy bị liệt, song tai lại không điếc. Tô Tần về nhà, ông đã biết từ lâu. Mỗi lời nói vẳng lại từ trong sân, ông đều nghe rõ mồn một. Thấy Tô Tần bước vào, ông liền quay đầu ngoảnh mặt đi chỗ khác.

Tô Tần vén rèm cửa, bước vào phòng, đặt bát trứng chần lên mặt bàn trước giường, quỳ xuống trước mặt Tô Hổ, khóc mà gọi: “Cha!”

Tô Hổ không thèm ngoảnh lại, cứ ngồi im phăng phắc.

Không biết đã qua bao lâu, bát trứng chần đã nguội ngắt, Tô Hổ vẫn không nói nửa lời, còn Tô Tần vẫn quỳ dưới đất.

Cuối cùng, Tô Hổ khẽ thở hắt ra một hơi dài não nề, từ từ ngoảnh mặt lại, nhìn Tô Tần: “Về rồi ư?”

Tô Tần càng cúi đầu thấp hơn.

“Về thì tốt rồi!” Tô Hổ lại khẽ thở dài.

Tô Tần bật khóc mà nói: “Cha ơi, là con trai bất hiếu… con trai bất hiếu!”

Từ trong đôi mắt già nua của Tô Hổ, hai hàng nước mắt từ từ lăn chảy.

Hồi lâu sau, ông mới đưa cánh tay còn cử động được lên, lau nước mắt, lặp đi lặp lại một câu: “Về thì tốt rồi!”

Tô Tần lại dập đầu sát đất, khóc gọi nghẹn ngào: “Cha!”

Lại một quãng im lặng thật lâu nữa, Tô Hổ đưa mắt nhìn Tô Tần, thiết tha khuyên nhủ: “Tần Nhi, nông dân vẫn cứ là nông dân, hãy chấp nhận số phận! Con cũng đã tới tuổi lập thân, nếu cứ tiếp tục lang thang rày đây mai đó, biết lúc nào mới dừng lại đây?”

Tô Tần dập đầu sát đất, nghẹn ngào không nói nên lời. Tiểu Hỷ không biết đã vào phòng từ lúc nào, âm thầm quỳ xuống sau lưng Tô Tần.

“Than ôi!” Tô Hổ thở dài. “Còn chút ruộng đất kia, bán cũng đã bán rồi. Chỉ cần con quyết chí thay đổi, cha tin rằng, rồi có một ngày, sẽ lấy lại được!” Nói đoạn, lại nhìn sang Tiểu Hỷ. “Còn nữa, vợ con là người tốt, con không thể đối xử như vậy với nó!”

Nghe những lời này, Tiểu Hỷ không kìm nén nổi, oà lên khóc nức nở, vừa khóc vừa gọi: “Cha ơi!”

Tô Tần lại càng dập đầu sát đất.

“Lui ra đi!” Tô Hổ lại ngoảnh mặt nhìn ra chỗ khác.

Tô Tần vẫn không nhúc nhích, lại một lúc nữa, mới lẩm bẩm gọi khẽ: “Cha!”

Tô Hổ ngoảnh mặt lại, nhìn Tô Tần: “Còn chuyện gì, nói đi!”

“Túp lều ở bãi đập lúa, con muốn mượn vài ngày, mong cha cho phép!”

Tô Hổ lập tức sầm ngay nét mặt, đau đớn nhắm nghiền hai mắt lại, hồi lâu sau mới mở mắt ra, hỏi: “Tần Nhi, con thực sự muốn sa lầy tới cùng ư?”

Tô Tần cúi gằm mặt, không nói gì.

“Tính khí của con, đúng là ương ngạnh hơn cả lão trâu già này!”

Tô Tần càng cúi đầu thấp hơn.

“Hỡi ôi!” Tô Hổ trầm ngâm hồi lâu, thở dài thườn thượt mà rằng. “Nếu thực sự muốn dùng, thì cứ dùng đi!”

Tô Tần lại dập đầu bình bịch: “Tạ ơn cha đã đồng ý!”

Tô Tần lạy thêm vài lạy, rồi đứng dậy bước ra khỏi cửa phòng, tới giữa sân, nhặt tay nải lên, cầm lấy mấy chiếc bánh bao mẹ vừa hâm nóng, nặng nề lê bước về phía bãi đập lúa ở phía bắc thôn. Con Mực hăm hở chạy theo sau, nhảy loi choi quanh chân Tô Tần, không rời nửa bước.

Tô Tần đi về phía túp lều, mở cửa, nhìn khắp lượt bên trong, thấy bốn phía đều hở thông thổng, trên nóc còn có một lỗ thủng to cỡ cái đấu. Một cơn gió thổi qua, thốc đám tuyết chưa tan hết rơi xuống lả tả, hệt như xơ liễu ngày xuân.

Tô Tần lập tức đi tìm rơm rạ, bận rộn một hồi, chẳng mấy chốc đã bịt kín lỗ hổng trên mái, dùng gậy và dây thừng chống chắc túp lều. Lại lấy rơm bịt kín những chỗ gió lùa, sửa sang lại cánh cửa mục nát.

Đến khi trời tối, việc sửa sang đã tạm xong xuôi, Tô Tần nhìn kỹ một lượt, lấy làm hài lòng, bèn trở về nhà, vào phòng lấy hai tấm chăn cũ và manh chiếu mà Tiểu Hỷ vẫn dùng, quay trở lại lều, rải một lớp rơm ở dưới rồi trải chiếu lên trên, làm cho mình một cái ổ để ngủ. Con Mực ngoan ngoãn nằm phục bên cạnh.

Tô Tần vừa nằm xuống một lúc, chợt thấy con Mực sủa lên mừng rỡ, vẫy đuôi chạy ra phía cửa. Một lát sau, cửa lều cọt kẹt mở ra, Tiểu Hỷ đẩy cửa bước vào.

Tô Tần ngồi bật dậy, ngỡ ngàng nhìn Tiểu Hỷ.

Tiểu Hỷ bưng theo một bát canh gừng còn bốc khói, ngần ngừ một lát, rồi tập tễnh bước lại, quỳ xuống bên cạnh Tô Tần, nâng bát canh qua đầu, ứa nước mắt mà nghẹn ngào nói: “Về nhà ngủ đi! Ở nhà có giường lò, còn túp lều này, hãy để Hỷ Nhi ngủ lại!”

Tô Tần thấy trong lòng đau xót, bèn đưa tay đỡ lấy bát canh, cố gắng trấn tĩnh lại, ôn tồn nói: “Về đi, để bát canh lại, giường lò nàng cứ nằm! Nhớ lấy, sau này đừng đến đây nữa!”

Tiểu Hỷ im lặng, ngẩn ngơ hồi lâu, mới vái mấy vái, nuốt lệ lui ra, cẩn thận khép cửa lại.

Bên ngoài, đất trời lạnh giá, lặng phắc như tờ.

Tiểu Hỷ đứng thẫn thờ trên cánh đồng tuyết trắng chưa tan hết, mặc cho gió lạnh buốt giá thổi như roi quất vào người.

Hôm nay là ngày mười lăm tháng giêng, đêm nay là đêm nguyên tiêu. Trăng tròn vành vạnh treo lơ lửng giữa trời, ánh trăng lạnh lẽo tràn trề chảy xuống, chiếu lên khuôn mặt trắng bệch đẫm nước mắt của Tiểu Hỷ.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử