Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 28
Đập nồi dìm thuyền, Tô Tần quyết chí
Đêm tuyết qua ải, xứ lạ cầu danh

❊ ❊ ❊

Lại nói về Tô Tần, sau khi chia tay Trương Nghi, nhanh chóng sải bước tiến về Lạc Dương. Tuy nhiên, chỉ một lúc sau, bước chân Tô Tần dần dần chậm lại. Sau khi xuất sơn, còn chưa kịp cất bước đầu tiên, kế hoạch đã bị Trương Nghi đoán trúng, khiến Tô Tần phải suy nghĩ rất nhiều.

Muốn mưu cầu thiên hạ, ắt phải hiểu thấu thiên hạ. Trước kia, trong tầm mắt chỉ có Lạc Dương, sau khi vào Quỷ Cốc, tuy tầm mắt đã mở rộng, song đa phần chỉ là gián tiếp. Tình thế liệt quốc, hoặc là chỉ trong tưởng tượng, hoặc là hiểu qua sách vở, hoặc là biết nhờ nghe ngóng, còn thực hư ra sao, quả tình Tô Tần không hề hay biết. Trương Nghi đang tới Sở, còn Tôn, Bàng đã phò tá Ngụy, nhờ mấy người này mà Tô Tần cũng nắm được chút ít tình hình của Sở, Ngụy. Nước Tần là mục tiêu của Tô Tần, nước Yên có Cơ Tuyết, cũng có thể tạm thời bỏ qua không tính đến. Trong số những nước lớn, vẫn còn ba nước Tề, Triệu, Hàn, Tô Tần mù tịt chẳng biết gì.

Suy nghĩ hồi lâu, Tô Tần quyết định tạm thời không về nhà, mà rẽ sang phía đông. Đi ròng rã một tháng trời thì đến Lâm Truy, lưu lại Tắc Hạ. Các học thuyết nổi tiếng trong thiên hạ đều tập trung ở Tắc Hạ, nơi đây có thể nói là nhân tài như mây, môn phái như rừng. Các vị Tắc Hạ tiên sinh mỗi người một thuyết, phản biện lẫn nhau, thực sự đã khiến Tô Tần đại khai nhãn giới. Tô Tần ở đây không phải lo chuyện ăn uống, lại có chỗ tốt để ở, cuộc sống cũng khá tiêu dao, loáng cái đã vài tháng trôi vèo. Trong thời gian đó, Tô Tần không hề có một lời lẽ khoe khoang, đừng nói là Quỷ Cốc tiên sinh, dù là Bàng Quyên, Tôn Tẫn, cũng tuyệt nhiên không nhắc tới, chỉ lẳng lặng quan sát tình thế của liệt quốc. Trước hết là Sở phạt Tống, sau là Ngụy chiếm Hạng Thành, đánh bại quân Sở, ép Chiêu Dương rút quân, sau đó người Việt xuống phía nam đánh Sở, Sở Ngụy cầu hoà, Chiêu Dương rút về nam đối phó với người Việt.

Một loạt những sự kiện chấn động liệt quốc đã khiến các học giả Tắc Hạ phải trợn mắt cứng họng, duy có Tô Tần là hiểu rõ thực hư. Sau khi nở một nụ cười đầy ẩn ý, vào mùa hè năm đó, trong lúc hơn hai mươi vạn quân Việt chui vào trong miệng túi giăng sẵn của người Sở, Tô Tần đã khoác tay nải trên vai, đi sang nước Triệu, ở lại Hàm Đan vài tháng, đợi tới mùa thu lá rơi mới quay trở về quê hương Lạc Dương.

Khi đi qua Lạc Thủy, lá vàng đã rụng gần hết, tiết trời vừa chớm sang đông. Khác hẳn với vẻ thảm hại khi bỏ nhà ra đi vào sáu năm về trước, Tô Tần lúc này tâm hồn phơi phới, khí thế tràn trề. Tô Tần vượt qua Lạc Thuỷ, rồi xắn quần lội qua Y Thuỷ, dương dương tự đắc bước chân lên đỉnh đồi ở phía bắc thôn Hiên Lý, nơi từ thuở ấu thơ đã trèo lên không biết bao nhiêu lần.

Tô Tần khoác tay nải trên lưng, đứng hiên ngang trên đỉnh đồi, phóng mắt nhìn xuống ngôi làng đã sinh ra và nuôi lớn bản thân đã bao năm tháng. Từ chỗ này, Tô Tần đã nhìn thấy mồn một cây xuân trụi lá trong sân nhà họ Tô. Phía dưới chân đồi là bãi đập lúa của thôn, chính giữa bãi đập lúa là những đống rạ chất cao ngất ngưởng. Vài con chó đang đuổi nhau chạy quanh bãi đập, có lẽ do mải nô giỡn nên chúng đã quên bẵng nhiệm vụ, không hề để ý tới vị khách không mời là Tô Tần. Một đàn gà mái đang bới tìm thức ăn dưới đống rạ, một gã gà trống với bộ lông đẹp mã ngẩng đầu ưỡn ngực, tự hào ngắm nghía đàn “thê thiếp”, chốc chốc lại kêu lên lục cục.

Thôn Hiên Lý vẫn giống hệt như sáu năm trước đây, không khác là mấy so với tưởng tượng của Tô Tần vào những đêm khua thanh vắng trong Quỷ Cốc. Tô Tần tựa như rơi trở về hiện thực, lắc đầu khe khẽ, thở dài một tiếng, rồi chậm rãi bước xuống sườn đồi.

Phía tây ngọn đồi, cách chân đồi chừng hai tầm tên bắn có một bãi dâu rộng. Trong bãi dâu, vài người đàn bà đang cầm kéo lúi húi cắt tỉa cành dâu. Trong đám, có một người đàn bà lớn tuổi hơn cả, chính là vợ của Tô Lệ, bên trái chị ta là Chu Tiểu Hỷ, người đã từng cùng Tô Tần bái đường sáu năm về trước. Còn bên phải chị ta là một thiếu phụ lạ mặt, bụng hơi lùm lùm, hiển nhiên đang mang thai, xem chừng là vợ của Tô Đại.

Vợ Tô Lệ vô thức ngẩng đầu, lập tức nhìn thấy Tô Tần vừa bước xuống chân đồi, bèn dụi mắt định thần nhìn kỹ, thấy đúng là hắn, thì mừng rỡ quay sang Tiểu Hỷ kêu lên: “Em hai, mau lên, phu quân của em về rồi kìa!”

Tiểu Hỷ giật mình, đỏ bừng mặt nói: “Chị dâu… chị lại đùa em rồi!”

“Lần này là thật!” Vợ Tô Lệ chỉ tay vào hình bóng Tô Tần đang xa dần. “Em xem kìa, chính là người kia, đang đi về phía nhà chúng ta đấy!”

Chu Tiểu Hỷ nhìn theo hướng tay chị dâu chỉ, quả nhiên thấy một người, vai đeo tay nải, thủng thẳng bước qua bãi đập lúa, vẻ như muốn vào trong thôn. Tuy nói đã kết hôn sáu năm, cũng đã từng bái đường, song Chu Tiểu Hỷ khi đó lòng dạ rối bời, lại bị khăn đỏ che kín mặt, do vậy chưa từng nhìn rõ mặt Tô Tần. Lúc này, thấy bóng người kia, nào dám chắc chắn, chỉ biết đứng lặng mà nhìn.

Vợ Tô Đại cũng chưa từng thấy mặt người anh chồng, lúc này cũng thúc giục: “Chị hai, mau lên, anh hai đã trở về rồi, chị hãy mau mau về nhà đi!”

Tiểu Hỷ vẫn đứng trơ trơ, ngẩn ngơ nhìn theo bóng Tô Tần. Mãi một hồi lâu, mới rụt rè quay sang nhìn vợ Tô Lệ, ngập ngừng hỏi: “Chị dâu, người đó… là… là… chàng ấy ư?”

Vợ Tô Lệ vội nói: “Chao ơi! Này cô em tôi ơi, tới lúc nào rồi mà vẫn còn hỏi câu này? Chị dâu đã sống cùng một nhà với chú ấy hơn một năm trời, còn không nhận ra ư? Em mau về đi, nếu không, vị phu quân quý hoá của em chưa biết chừng lại đi ngay cũng nên. Nếu lại đi tiếp vài năm nữa, xem em có cuống quýt lên không?”

Tiểu Hỷ vẫn đứng thẫn thờ bất động, hai mắt ngơ ngẩn nhìn vào bãi dâu, chiếc kéo trong tay rơi luôn xuống đất. Không biết có phải do xúc động hay vì nguyên do nào khác, hai hàng nước mắt cứ thế trào ra, lăn dài trên má, rơi lã chã xuống vạt lá dâu vừa bị gió thu thổi rụng tơi bời trên đất.

Trong sân nhà họ Tô, một bé trai tầm hơn năm tuổi đang chơi đùa với hai đứa trẻ khác trước cổng gỗ sơ sài. Tô Tần tiến lại gần, đi vòng qua chúng, đang định bước vào trong cổng, thì đứa bé chạy tới chặn lại: “Này, chú định làm gì thế? Đây là nhà cháu!”

Tô Tần ngồi xuống, mỉm cười hỏi: “Cháu tên gì?”

Đứa bé nhìn Tô Tần, đáp: “Cháu tên là Thiên Thuận!” Rồi chỉ vào bé trai tầm ba tuổi và bé gái bên cạnh. “Đây là em trai cháu, Địa Thuận, còn đây là con gái nhà chú ba.”

Tô Tần lại cười hỏi: “Cha cháu là Tô Lệ phải không?”

Đứa bé ngạc nhiên, chớp chớp đôi mắt to tròn, nhìn Tô Tần ngờ vực: “Ồ, sao chú biết?”

Tô Tần bật cười đáp: “Chú còn biết ông cháu, bà cháu, mẹ cháu và chú ba của cháu nữa!”

Đứa bé nghênh nghênh đầu nhìn Tô Tần: “Chú là ai?”

Tô Tần đang định trả lời thì mẹ Tô Tần là Tô Diêu thị đang nhào bột trong bếp chuẩn bị làm bánh, nghe thấy có tiếng nói, vội vã bước ra, nhìn thấy Tô Tần, thì không dám tin vào mắt, đưa tay dụi liên hồi: “Tần Nhi?”

“Mẹ!” Tô Tần đứng bật dậy, chạy ào lại gần.

Tô Diêu thị vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, hai dòng lệ cứ thế trào ra, vừa đưa ống tay áo lên quệt nước mắt vừa nói: “Tần Nhi! Con ơi, mẹ nhớ con đến chết!”

Tô Tần sống mũi cay sè, quỳ xuống trước mặt Tô Diêu thị: “Mẹ, Tần Nhi bất hiếu, đã làm mẹ phải đau lòng!”

Tô Diêu thị chợt ngây người, quên mất hai tay dính đầy những bột, vội thụp xuống kéo Tô Tần dậy, kinh ngạc nhìn sững vào hắn mà nói: “Tần Nhi, hình như con… con không còn nói lắp nữa?”

Tô Tần gật đầu: “Vâng, con hết nói lắp rồi!”

Tô Diêu thị lại chảy nước mắt, quỳ sụp xuống đất, lạy trời ba lạy, khóc sụt sùi mà nói: “Ông trời trên cao, thân già này xin cảm tạ người! Tần Nhi đã khỏi nói lắp rồi…”

Thiên Thuận chạy bổ lại, kéo Tô Diêu thị mà hỏi: “Bà ơi, sao bà lại khóc?” Rồi giơ nắm đấm bé xíu dứ dứ về phía Tô Tần, tức giận. “Sao chú dám bắt nạt bà tôi?”

Thiên Thuận hăm he muốn lao lên đánh, Tô Diêu thị bèn kéo thằng bé lại, nói: “Thiên Thuận, đừng hỗn, đây là chú hai của cháu!”

Thiên Thuận dừng lại, đưa mắt nhìn Tô Tần từ đầu đến chân: “Bà ơi, có phải chú hai nhà thím hai thọt không?”

Tô Diêu thị trách mắng: “Thím hai là thím hai, cháu không được gọi là thím hai thọt nghe chưa! Nếu còn gọi nữa, bà sẽ vả vào miệng đấy!”

Thiên Thuận cười khúc khích, nói: “Bà ơi, Thiên Thuận biết lỗi rồi!”

“Biết lỗi thì tốt!” Tô Diêu thị chỉ ra phía ngoài thôn. “Thiên Thuận, cháu mau ra đồng gọi ông nội, nói là chú hai đã trở về!”

Thiên Thuận “vâng” một tiếng, co giò chạy thẳng ra ngoài thôn. Chạy được khoảng hai dặm, thì hét tướng lên gọi Tô Hổ đang bận rộn làm đồng ở tít đằng xa: “Ông ơi… ông…”

Tô Hổ đang đánh trâu cày ruộng cùng Tô Lệ và Tô Đại, nghe thấy tiếng gọi, bèn dừng trâu lại, đưa ánh mắt hiền từ nhìn đưa cháu trai, nói lớn: “Thiên Thuận, chạy từ từ thôi, không ngã đấy!”

Thiên Thuận chạy lại gần Tô Hổ, vừa thở hổn hển vừa nói: “Ông ơi, có người đến nhà, bà nói người đấy là chú hai của cháu, bảo cháu đi gọi ông về!”

Tô Đại mừng rỡ reo lên: “Cha, anh hai đã về rồi!”

Tô Hổ mắt vụt sáng, song lại sầm ngay mặt xuống, suy nghĩ một lát, rồi hỏi Thiên Thuận: “Thiên Thuận, ông hỏi này, chỉ có một mình chú hai cháu về ư?”

Thiên Thuận gật đầu: “Vâng!”

“Chú hai… có ngồi xe cưỡi ngựa không?”

Thiên Thuận lắc đầu.

“Cũng không mang theo vật gì ư?”

“Có!” Thiên Thuận trả lời. “Chú hai khoác theo một tay nải to tướng, đã ố vàng, trông cũ rích!”

Tô Hổ thở dài một tiếng, khẽ gật đầu, nói với Tô Lệ, Tô Đại: “Cái thằng này đi lang thang suốt mấy năm trời, cuối cùng cũng đã hồi tâm chuyển ý, ông trời đúng là có mắt! Tô Đại, con mau ra chợ mua một miếng thịt béo về đây, mua thêm một cái thủ lợn, bảo mấy mẹ con nó làm vài món ngon. Trong nhà đang có sẵn bình rượu lâu năm chưa mở nắp, hôm nay mấy cha con ta phải uống vài chén cùng nhau mới được!”

“Vâng!” Tô Đại nói xong, liền nhấc bổng Thiên Thuận lên, đặt ngồi trên cổ mình. “Nào, chú ba đưa cháu ra chợ chơi, mua thịt về cho cháu ăn thoả thích!”

Thiên Thuận mừng rơn, vỗ tay ríu rít: “A, có thịt ăn, có thịt ăn!”

Thấy Thiên Thuận hớn hở như vậy, Tô Hổ cười vui vẻ, quay sang Tô Lệ nói: “Thằng hai đã về rồi, con cũng về đi, xem nó có gầy không, nghe xem nó nói những chuyện gì. Bảo với nó, cha cày nốt chỗ ruộng này sẽ về ngay!”

Tô Lệ gật đầu, cắm cúi thu dọn dụng cụ.

Buổi tối hôm đó, tại chính đường nhà họ Tô, đèn đuốc sáng trưng.

Trên bức tường chính của chính đường vẫn treo bức hoành phi đề bốn chữ “Thiên đạo thù cần”, phía dưới bức hoành phi kê chiếc bàn dài, thờ cúng Thần Nông và bài vị liệt tổ liệt tông nhà họ Tô. Phía trước bài vị đặt một thủ lợn đã luộc chín, một con vịt béo và một con gà quay, ở giữa chính đường kê hai chiếc bàn nối liền nhau, xung quanh trải chiếu. Tô Hổ cùng Tô Lệ, Tô Tần, Tô Đại, Thiên Thuận, Địa Thuận xếp thành hàng dài bước vào. Tất cả nam giới trong nhà, dẫn đầu là Tô Hổ, rồi tới ba anh em Tô Lệ, tiếp đến là hai anh em Thiên Thuận, đều quỳ xuống trước bàn.

Tô Hổ sau khi thực hiện đại lễ ba lạy chín dập đầu, bèn lầm rầm khấn: “Thần Nông tiên tổ, liệt tổ liệt tông trên trời cao linh thiêng, hậu duệ Tô Hổ bất tài cùng đám con cháu Tô môn khấu bái tổ tiên, khẩn cầu tổ tiên lắng nghe lời cầu nguyện của Tô Hổ. Tô Hổ có đứa con Tô Tần chẳng ra gì, không để tâm tới việc đồng áng, sáu năm về trước bỏ nhà ra đi, bỏ quê bỏ quán, phiêu bạt đó đây, nếm trải đủ nỗi khổ tha hương. Nhờ có liệt tổ liệt tông trên cao linh thiêng cảm hoá, đứa con bất hiếu Tô Tần đã tỉnh ngộ, biết đường trở về. Giờ Thân hôm nay, lãng tử đã quay đầu, trở về nhà cũ. Tô Hổ trong lòng vui vẻ, chuẩn bị chút lễ vật, kính dâng lên liệt tổ liệt tông linh thiêng trên cao!”

Khấn xong, Tô Hổ vẩy bát rượu xuống đất trước mặt bàn thờ, lại lạy liền mấy lạy. Tô Hổ lạy xong, tới ba người Tô Lệ, Tô Tần và Tô Đại cùng khấu lạy, cuối cùng là hai anh em Thiên Thuận và Địa Thuận.

Thấy đám con cháu đã bái lạy xong xuôi, Tô Hổ đặng hắng khẽ một tiếng, đứng dậy bước trở về chiếu chủ trong phòng, khoanh gối ngồi xuống. Ba anh em Tô Lệ và hai anh em Thiên Thuận cũng lần lượt ngồi xuống theo đúng thứ tự lớn nhỏ.

Tô Tần đứng dậy, quỳ xuống trước mặt Tô Hổ, dập đầu nói: “Con bất hiếu Tô Tần khấu bái phụ thân!”

Tô Hổ cất giọng hiền từ: “Đứng dậy đi!”

Thấy Tô Tần đã đứng dậy, Tô Hổ bèn quay sang Thiên Thuận, nói: “Thiên Thuận, giờ chưa tới bữa ăn, cháu dẫn Địa Thuận ra ngoài chơi một lát. Lúc nào tới bữa, ông sẽ gọi cháu!”

Thiên Thuận và Địa Thuận thòm thèm nhìn những thức ăn ngon lành bày trên bàn, nuốt nước bọt đánh ực, rồi dắt tay nhau chạy ra ngoài.

Tô Hổ lại đặng hắng một tiếng, nhìn một lượt ba người con trai, nói: “Tô Lệ, Tô Tần, Tô Đại, các con nghe đây!”

Ba người con trai đều nhìn chăm chú vào cha.

Tô Hổ từ từ di chuyển ánh mắt tới Tô Tần: “Lệ Nhi, Tần Nhi, Đại Nhi, mấy năm nay, cha ngày đêm vắt óc suy tính, một lòng chỉ muốn các con chuyên tâm vào việc đồng áng, các con có biết vì sao không?”

Ba anh em đều lắc đầu.

Tô Hổ ngẩng đầu nhìn lên bức hoành phi, chỉ tay mà nói: “Chính là vì bức hoành phi này!”

Tô Tần nhìn bức hoành phi, thấy bên trên có đóng ngọc tỷ của Đại Chu thiên tử, biết là vật do thiên tử ban tặng. Kỳ thực, từ nhỏ Tô Tần đã quen thuộc với bức hoành phi này, song chưa từng hỏi về xuất xứ của nó, cũng như chưa từng hỏi về suy nghĩ trong lòng cha.

Tô Hổ chăm chú ngắm nhìn bức hoành phi, bùi ngùi xúc động mà nói: “Tô môn đời đời sống ở thôn Hiên Lý, tổ tiên là nông nô, mấy đời làm ruộng cho thiên tử Đại Chu. Tới đời cụ tổ Tô Văn, cần cù cấy cày, không lỡ nông vụ, tám năm liền thóc lúa được mùa, vào năm Chu An Vương thứ hai mươi hai, được tiến cử làm kiệt dân (nông dân giỏi giang), được mời vào cung cùng với tám mươi tám kiệt dân chọn từ tám mươi tám ấp xung quanh, vinh dự được thiên tử Đại Chu khen thưởng. Ngày vào cung, thiên tử long nhan hoan hỷ, đặc xá cho cụ tổ thoát kiếp nông nô, ban cho cụ tổ làm bình nông, cấp cho một thửa ruộng. Cụ tổ tâm niệm long ân của thiên tử, trước lúc lâm chung đã để lại tổ huấn, dặn dò con cháu đời sau lấy nông làm gốc, đời đời làm kiệt dân của thiên tử, trồng cấy cho thiên tử!” Dừng lại một lát, ho húng hắng mấy tiếng. “Cha đây từ sau khi làm trụ cột gia đình, không lúc nào quên lời dạy của cụ tổ. Nay cha đã năm mươi ba tuổi, gân cốt rệu rã, sức khoẻ không còn như trước, cuộc đời này coi như không nói đến nữa. Trước khi trở về với đất, cha chỉ có một ước nguyện, chính là nhìn thấy ba người các con có thể trồng ra được cánh đồng tốt tươi, được bái kiến thiên tử giống như cụ tổ, lại được thiên tử nhà Chu khen thưởng, mang vẻ vang về cho liệt tổ liệt tông của Tô môn!”

Nói tới Chu thiên tử, Tô Hổ lòng vui phơi phới, hai mắt sáng rực. Hơn hai mươi năm qua, đây là lần đầu tiên Tô Tần nghe thấy tâm sự trong lòng Tô Hổ, cảm động vô cùng, nhìn cha chăm chú hồi lâu. Trên vầng trán ông đã chằng chịt nếp nhăn, tuy mới qua tuổi năm mươi, mà trông còn già nua hơn cả ông lão bảy mươi.

Đúng vậy, cha chưa từng hiểu Tô Tần, Tô Tần cũng chưa từng hiểu cha. Lúc này đây, Tô Tần chợt cảm thấy mình đã bắt đầu xích lại gần cha, bắt đầu hiểu cha, và cũng là lần đầu tiên nhận ra cha đã già đi.

Tô Tần lại quỳ xuống, nghẹn ngào nói: “Tô Tần bất hiếu, hôm nay mới hiểu được lòng cha!”

“Tần Nhi,” Tô Hổ cũng cảm động nói, “con đã hiểu được lòng cha, giờ cha có nhắm mắt cũng không còn gì hối tiếc!” Quay sang Tô Lệ, Tô Đại. “Ba con Tô Lệ, Tô Tần, Tô Đại nghe đây, cha đã suy nghĩ nhiều ngày, đàn ông hai mươi tuổi làm lễ đội mũ, ba mươi tuổi lập thân. Tô Đại đã qua tuổi ba mươi, đáng lẽ cũng phải lập thân rồi. Tô Tần, Tô Đại cũng đã qua tuổi đội mũ, đều đã có gia thất riêng, cha không nên trói buộc các con nữa. Hôm nay Tô Tần đã biết quay đầu hối cải, cha quyết định nhân dịp này, phân chia gia sản, mong các con hãy tự cai quản gia đình, tự lực lập nghiệp, tự tạo tiền đồ!”

Tô Đại vội nói: “Thưa cha, nhà này vẫn nên để cha cai quản thì tốt hơn. Có cha làm trụ cột, anh em chúng con mới thấy vững dạ!”

“Đừng nói nữa!” Tô Hổ nhìn Tô Đại, nói khẽ. “Trong nhà chẳng có của nả gì, chỉ có một thửa ruộng do tổ tiên để lại, cũng được trăm mẫu, cha sẽ phân chia theo quy tắc cổ xưa của Chu thất, ba anh em các con mỗi người hai mươi mẫu, bốn mươi mẫu còn lại tính là ruộng công, do cha mẹ tạm thời quản lý. Ba anh em con cứ chiếu theo nông chế của nhà Chu, công trước tư sau. Cũng có nghĩa là, đến mùa gieo trồng cấy hái, làm ruộng công trước, làm ruộng tư sau. Để tiết kiệm, các nhà vẫn ăn ở cùng nhau. Mọi việc nhà đều do mẹ chồng nàng dâu chăm lo, một ngày ba bữa, mấy chị em dâu thay phiên nhau nấu, dâu trưởng trông nom bếp núc. Qua hai năm, khi mỗi nhà đều có sản nghiệp riêng, sẽ chia bếp sau.”

Ba anh em đưa mắt nhìn nhau.

Tô Lệ ngẫm nghĩ một lát, gật đầu nói: “Cha đã quyết định, Lệ Nhi thân là trưởng nam, xin được nghe theo!”

Tô Đại nóng ruột, đưa mắt nhìn sang Tô Tần, muốn Tô Tần phản đối. Nào ngờ Tô Tần đã không phản đối thì chớ, còn gật đầu nói: “Tần Nhi cũng xin nghe theo sự sắp xếp của cha!”

Tô Đại chẳng còn cách nào khác, buộc phải đồng ý.

Tô Hổ thở phào một tiếng: “Hay lắm, nếu cả ba anh em đều không phản đối, việc này đã quyết định xong, ngày mai cha sẽ đến chỗ lý chính, bảo ông ta sửa khế ước ruộng. Giờ mới chớm đông, đúng lúc nông nhàn, phân chia gia sản sẽ không ảnh hưởng đến việc đồng áng.”

Ba anh em cùng nói: “Chúng con xin nghe theo cha sắp đặt!”

Tô Hổ cười vang mà nói: “Tốt lắm, quyết định như vậy đi. Giờ thì ăn cơm!” Rồi quay ra ngoài cửa gọi to. “Thiên Thuận, Địa Thuận, ăn cơm thôi!”

Hai anh em đã đứng chực sẵn ngoài cửa từ lúc nào, chỉ chờ có vậy, chưa kịp đáp lời đã lao bổ vào trong phòng, không nhịn nổi thèm, lập tức thò tay vào mâm. Theo lễ tiết Chu thất, đàn ông con trai ăn cơm ở chính đường, còn Tô Diêu thị cùng đám con dâu và cháu gái ăn ở phòng bên. Uống được vài tuần rượu, Tô Đại thấy Tô Tần đứng dậy đi ra ngoài, cũng vội vã theo ra, nhìn thấy Tô Tân đi thẳng về phía nhà xí.

Tô Đại đứng đợi một lát dưới tán cây xuân, thấy Tô Tần bước ra khỏi nhà xí, bèn gọi: “Anh hai, cha biết anh không muốn làm ruộng, lần này chia nhà, rõ ràng là muốn giữ chân anh, vì sao anh lại đồng ý?”

“Chao ôi,” Tô Tần thở dài mà nói. “Đều là do anh hai không tốt, hại cha mẹ, còn khiến anh cả và em phải lo lắng vì mình! Lần này trở về, anh hai không có việc gì khác, mục đích chỉ là về thăm cả nhà. Anh hai bất hiếu, không thể chăm sóc cha mẹ, mọi việc lớn nhỏ trong nhà, đều mong em chăm lo giúp.”

Tô Tần nói xong, cúi gập người trước Tô Đại.

“Anh hai,” Tô Đại nghe mà giật thột. “Anh nói vậy, lẽ nào lại muốn đi nữa?”

Tô Tần gật đầu.

“Bao giờ đi?”

“Đã về rồi, chắc sẽ ở lại vài ngày!”

“Vậy thì tốt!” Tô Đại cười nói. “Anh hai đi liền mấy năm đằng đẵng, chưa nói đến chuyện khác, em đây đã nhớ anh không chịu nổi. Không giấu anh hai, khi anh mới bỏ nhà ra đi, em cũng chẳng thiết làm ruộng nữa, trong đầu chỉ nghĩ tới vinh hoa phú quý, sớm tối nghe tiếng xe ngựa mà bần thần không yên. Tâm tư đó cũng giống hệt như anh hai khi còn ở nhà!”

Tô Tần cười cười, vỗ nhẹ vai Tô Đại: “Giống, cũng không giống!”

“Vâng!” Tô Đại gật đầu nói. “Nghe anh hai nói chuyện, đã thấy khác hẳn thường. Anh hai, anh hãy nói cho em biết, những năm vừa qua anh đã đi đâu? Còn nữa, tật nói lắp của anh làm thế nào lại chữa khỏi được?”

Tô Tần không muốn nói nhiều, bèn chỉ tay vào trong nhà: “Vào trong trước đã, cha đang đợi chúng ta uống rượu!”

Tô Đại cười cười, cùng Tô Tần trở vào chính đường.

Hôm nay Tô Hổ rất vui, nâng chén không ngừng, ba anh em Tô Lệ ngồi hầu rượu ông. Bốn cha con uống tới tận giờ Nhân định thì Tô Hổ và Tô Lệ không kham nổi nữa, về phòng ngủ trước.

Trời đã về khuya, Tô Đại vẫn ngồi uống rượu cùng Tô Tần. Vợ Tô Đại đặng hắng vài tiếng thật lớn bên ngoài cửa, Tô Đại hiểu ý vợ, bèn cười nói với Tô Tần: “Anh hai, khuya rồi, anh vừa trở về, chắc cũng đã mệt, hãy về phòng nghỉ ngơi cho sớm. Ngày mai anh em ta lại uống rượu, trò chuyện tiếp.”

Tô Tần cười khẽ một tiếng, nói với Tô Đại: “Em ngủ trước đi, anh còn muốn suy nghĩ mấy việc.”

Tô Đại biết Tô Tần không muốn về phòng, bèn cười mà nói: “Anh hai, anh đi bặt mấy năm trời, hại chị dâu nhớ anh muốn chết. Có chuyện gì cứ để đó nghĩ sau, chị dâu đang đợi anh trong phòng đấy!”

Tô Tần không buồn để ý tới Tô Đại, bưng bát rượu lên, ngửa cổ uống ừng ực.

Tô Đại cho rằng anh hai xấu hổ, bèn đứng dậy ôm quyền, cười nói: “Anh hai, vợ em đang giục rồi, em về phòng trước đây!”

Tô Tần gật đầu, cũng vòng tay chào.

Tô Đại ra khỏi chính đường, cùng vợ trở về gian nhà một cửa của hai vợ chồng. Mấy năm Tô Tần đi vắng, đại viện nhà họ Tô liên tục thêm nhân khẩu, Tô Hổ bèn cho xây thêm hai khu nhà nhỏ ở quanh nhà chính, một khu cho gia đình Tô Tần, một khu cho gia đình Tô Đại. Gia đình Tô Lệ sống ở phía sau gian nhà chính, khu nhà này được xây từ trước khi Tô Tần bỏ nhà ra đi. Tô Hổ, Tô Diêu thị và hai đứa cháu trai, một đứa cháu gái sống ở gian chính.

Tô Tần nghe loáng thoáng tiếng đóng cửa, tiếp đó là tiếng cài then lạch cạch. Sau đó không gian lại tĩnh lặng như tờ.

Đêm mỗi lúc một khuya.

Tô Tần ngồi uống thêm một lúc nữa, cảm thấy người nóng rực, bèn đứng dậy đi ra sân, ngồi xếp bằng dưới gốc cây xuân, hai mắt nhắm lại.

Đêm chớm đông, trời trong trăng sáng, hơi lạnh tái tê. Tô Tần một phần vì uống nhiều rượu, một phần vì từng luyện công phu trong sơn cốc, bởi vậy không cảm thấy lạnh.

Lúc này, duy có đèn trong phòng Tô Tần vẫn còn sáng tỏ. Tô Tần biết có người đang đợi mình, song vẫn bất động, cứ ngồi xếp bằng dưới đất. Không biết thời gian đã trôi qua bao lâu, Tô Tần chợt nghe thấy tiếng cửa cót két. Một lát sau, có bóng người từ từ bước tới, rồi ngồi xuống bên cạnh Tô Tần.

Tô Tần không cần nhìn cũng biết, đó là mẹ mình.

Tô Diêu thị ngồi bên Tô Tần một lúc, rồi nói khẽ: “Tần Nhi, ngoài trời lạnh lẽo, con ngồi đây sẽ bị cảm lạnh mất, mau vào giường nghỉ đi!”

Tô Tần mở mắt, nhìn mẹ, không nói gì.

Tô Diêu thị khẽ thở dài một tiếng: “Tần Nhi, mẹ biết trong lòng con khổ sở, nhưng còn con dâu, nó cũng buồn khổ lắm!”

Tô Tần không nhịn nổi nữa, cúi đầu nghẹn ngào: “Mẹ!”

Tô Diêu thị vỗ nhẹ vào lưng Tô Tần, giống như khi hắn còn bé.

Trong dãy nhà nhỏ của Tô Tần, Chu Tiểu Hỷ đứng thẫn thờ tại một góc khuất trong cửa, nhìn về phía hai mẹ con đang ôm nhau khóc, bất giác nước mắt cứ thế tuôn rơi. Một lát sau, Tiểu Hỷ quay người bước vào trong phòng, đưa đôi mắt đẫm lệ nhìn sững hồi lâu vào những chăn những đệm mà mình đã trải sẵn. Trên giường là ba tấm chăn lụa mới tinh, bên trên có hình đôi uyên ương do Tiểu Hỷ tự tay thêu từ thời con gái. Vào hôm thành thân, Tô Tần bỏ nhà ra đi, Tiểu Hỷ chưa một lần dùng đến, vẫn cất kỹ tới tận hôm nay.

Đứng lặng một lát, Tiểu Hỷ cắn răng nâng ống tay áo lên lau nước mắt, lại lấy từ trong góc nhà ra hai tấm chăn cũ kỹ mà ngày thường mình vẫn đắp, lôi manh chiếu cứng từ dưới gầm giường ra, trải ở góc tường, rồi trải một tấm chăn lên trên, sau đó nằm xuống đó, trùm kín người bằng tấm chăn còn lại.

Ánh đèn dầu leo lét hắt bóng chập chờn lên tấm chăn cũ kỹ mà Tiểu Hỷ đã đắp suốt sáu năm trời. Tấm chăn khẽ rung từng chặp theo tiếng nấc.

Khi Tô Tần trở về phòng, Tiểu Hỷ đã ngủ say. Tô Tần lặng nhìn một lát, khe khẽ thở dài, rồi lấy một tấm chăn mới ở trên giường xuống, đắp lên cho Tiểu Hỷ. Sau đó mặc nguyên quần áo, leo lên giường, kéo chăn trùm kín người.

Sáng hôm sau, Tô Hổ dậy rõ sớm, cầm theo khế đất, vội vã tới nhà lý chính. Tô Tần húp xong hai bát cháo loãng mẹ nấu, quay trở về phòng, mở tay nải, chọn lấy một bộ quần áo tươm tất mặc vào người, rồi đi ra ngoài cổng.

Vừa đặt chân đến cổng thì Tô Lệ cũng về đến nơi, thấy Tô Tần ăn mặc như vậy, bèn nở một nụ cười chất phác mà hỏi: “Em hai, định đi đâu ư?”

Tô Tần gật đầu.

“Định tới vương thành?”

“Vâng!”

Tô Lệ thò tay vào ống tay áo, lần mò một lúc, lôi ra một túi tiền bố, nhét vào tay Tô Tần. Tô Tần ngạc nhiên, đang định đẩy trả lại anh, thì Tô Lệ đã cười hồn hậu, quay người đi vào trong sân.

Tô Tần nhìn kỹ túi tiền bố, thấy đồng nào đồng nấy sáng lấp lánh, không biết đã được cất giữ trong tay áo anh trai đã bao nhiêu lâu. Tô Tần thấy trong lòng chua xót, nhìn theo bóng dáng Tô Lệ, khẽ thở dài một tiếng, nhét túi tiền vào trong ống tay áo, rồi đi ra phía ngoài thôn.

Hôm nay trời tạnh ráo, không có gió Bắc, trong vương thành ở Lạc Dương, trời cao mây nhạt, nắng toả ấm áp, người đi đường đành phải cởi bỏ những tấm áo bông dày, để tiện đi lại làm việc.

Cũng giống như sáu năm về trước, Tô Tần vừa đi trên phố lớn, vừa nhìn ngắm xung quanh. Đường phố Lạc Dương cũng như Hiên Lý, giống hệt năm xưa, không có gì thay đổi, tuy nhiên xem chừng càng buồn tẻ hơn trước. Khi đi qua cửa hàng gạo mà mình từng vác gạo thuê năm đó, Tô Tần dừng bước, nhìn cửa hàng vẫn y nguyên, song ông chủ đã đổi người. Tô Tần vốn dĩ định vào hỏi han, song nhìn thấy vẻ mặt ông chủ mới khó đăm đăm, nên lại thôi.

Tô Tần sải bước tới Quý Nhân Cư, tìm đến khu nhà mà trước đây Trương Nghi từng trọ học, song thấy ngoài cửa cỏ dại tua tủa cao quá gối, đều đã héo khô. Cánh cổng khoá trái im ỉm, nhìn ổ khoá đồng hoen gỉ, hẳn là từ sau ngày hai người ra đi, cũng không mở thêm lần nào nữa. Tô Tần nhớ ơn ông chủ đã từng cho mình ngủ nhờ một đêm, tìm tới nhà ông thăm hỏi, song chẳng thấy ai. Hỏi thăm người quanh đó, mới biết ông chủ đã mắc bệnh qua đời ba năm về trước.

Nghĩ tới thời gian thấm thoắt, thế sự vô thường, Tô Tần bất giác thở dài thườn thượt, rời khỏi Quý Nhân Cư, đi về phía vương cung.

Trở về Lạc Dương lần này, một trong những việc lớn mà Tô Tần muốn làm là bái kiến thiên tử. Khi ở trong núi, Tô Tần từng nghĩ tới việc chấn hưng Chu thất, mượn cờ thiên tử nhà Chu để nhất thống loạn thế, khiến thiên hạ quay về với lễ chế đầu thời Chu. Song sau khi đi qua Tề, Triệu, suy nghĩ này đã tiêu tan như bọt nước. Lần này tìm đến yết kiến, Tô Tần chỉ có một mục đích, chính là thay mặt sư tỷ Cơ Vũ, càng là thay mặt Cơ Tuyết, thăm hỏi vị phụ vương bất hạnh khổ đau kia.

Trước cổng chính Chu cung, lá rơi đầy đất, hai cánh cổng đỏ sẫm mở toang, mỗi bên có hai giáp sĩ đứng gác. Nhìn từ xa, bốn giáp sĩ toàn thân giáp trụ, cầm kích đứng nghiêm trang, uy nghi rất mực. Nhưng khi bước lại gần, Tô Tần mới nhìn rõ sự thực. Bốn giáp sĩ mỗi người một tư thế, có hai người thậm chí dựa hẳn vào cây kích, mí mắt sụp xuống, hình như đang ngủ gật. Hai giáp sĩ còn lại tuy không tựa kích, song dáng vẻ cũng rất uể oải. Tô Tần nhìn họ, đoán chừng đều đã qua tuổi bốn mươi, chắc chắn đều là những lão binh cáo già.

Tô Tần đi thẳng tới trước cổng, bốn giáp sĩ vẫn không hề phản ứng, dường như không chú ý tới Tô Tần. Tô Tần không dám xông bừa vào, đành phải dừng bước, đặng hắng khẽ một tiếng, vòng tay vái chào: “Người Chu Tô Tần cầu kiến thiên tử bệ hạ Đại Chu, làm phiền quân sĩ bẩm báo!” Bốn người lúc này mới giật mình choàng tỉnh, lấy lại tinh thần, xoay kích cầm ngang, bốn cặp mắt đổ dồn vào Tô Tần săm soi. Tô Tần lại vòng tay hành lễ, đưa bái thiếp, dõng dạc lặp lại: “Người Chu Tô Tần cầu kiến thiên tử bệ hạ Đại Chu, làm phiền quân sĩ bẩm báo!”

Một giáp sĩ nhận lấy bái thiếp, đưa mắt quan sát Tô Tần một lượt từ trên xuống dưới, thấy Tô Tần mình mặc áo vải, không ngồi xe ngựa, cũng chẳng có người hầu, lập tức tỏ ý coi thường, đã không đáp lễ, lại còn lừ mắt, hách dịch hỏi lớn: “Ngươi là người Chu, nhà ở đâu?”

Tô Tần lại vòng tay vái, đáp: “Thôn Hiên Lý, phía đông Y Lạc!”

“Hiên Lý ư?” Một giáp sĩ khác nói xen vào. “Tại hạ đi qua vùng đó rồi, toàn là nông nô, cả nhà lẽo đẽo theo sau đít trâu!”

Đám giáp sĩ cười ồ cả lên.

Tô Tần đang bực bội trong lòng, thì giáp sĩ lên tiếng đầu tiên bước lại, hít hít ngửi ngửi quần áo Tô Tần, gật gù nói: “Phải đấy, trên người hắn đúng là toàn mùi phân trâu!”

Đám giáp sĩ lại cười rộ lên khoái chí.

Tô Tần không ngờ lại bị người khác giễu cợt ở đây, nhất thời ngây ra như phỗng.

Một giáp sĩ thấy Tô Tần không đi, bèn trợn trừng mắt nhìn, quát lớn: “Còn không đi mau, muốn ăn gậy à?”

Sự việc xảy ra quá bất ngờ, mặt Tô Tần một chập nóng bừng, rồi lại một chập trắng bệch, song vẫn đứng ngây tại chỗ. Giáp sĩ giậm mạnh chân, gõ kích liên hồi xuống đất: “Cái đít trâu thối này, còn không mau cút đi?”

Tô Tần lúc này mới như choàng tỉnh khỏi cơn ác mộng, lật đật bỏ đi, phía sau vọng lại từng tràng cười nhạo hả hê của đám giáp sĩ, kèm thêm những câu giễu cợt: “Hừm, một tên khố rách áo ôm, cả ngày lẽo đẽo đít trâu mà cũng đòi triều kiến thiên tử! Đại Chu thiên tử tuy thế đã suy, song cũng đâu dễ gặp như vậy?”

Tô Tần vừa thẹn vừa giận, bước phăm phăm qua liền hai con phố, mới thả lỏng bước chân, càng nghĩ càng bực bội. Cùng với đó, niềm tự ti đã vùi sâu tận đáy lòng cũng bị nỗi sỉ nhục này khơi dậy. Tô Tần bỏ mũ xuống, cầm trên tay ngắm nghía một hồi, lại nhìn bộ quần áo mặc trên người, thở dài một tiếng, tự nhủ một mình: “Than ôi, thế đạo ngày nay đúng là mắt chó khinh người, xuất thân kém cỏi như ta đây, nếu không có mũ áo đàng hoàng, đến cánh cổng cũng không vào được!”

Đang suy nghĩ dằn vặt, ánh mắt Tô Tần chợt liếc thấy đằng xa có một tiệm may nhìn khá khang trang, bỗng nảy ra một ý, vội vã bước lại gần.

Tiệm may này bài trí cầu kỳ, mặt ngoài xa hoa, bên trong treo đầy các loại trang phục, đai mũ, giày tất cắt may tinh xảo, còn có rất nhiều loại lông da, vải vóc, màu sắc rực rỡ, chất liệu thượng đẳng. Tấm biển treo trên cửa để năm chữ vàng lấp lánh “Vương thành đệ nhất tiễn”(1), song xem ra, việc kinh doanh không mấy nhộn nhịp. Lạc Dương vương khí đã mất, trăm nghề tiêu điều, những hộ giàu có ngày càng ít ỏi, nên tiệm may này cũng vắng tanh vắng ngắt.

Nghe tiếng bước chân, gã thợ làm thuê trong tiệm vội vã ra đón, song nhìn cách ăn mặc của Tô Tần, lập tức quay ngoắt người bước trở vào trong. Thấy Tô Tần cũng đi vào theo, gã lấy làm ngạc nhiên, đứng dựa bên quầy, khinh khỉnh hỏi: “Khách quan có gì sai bảo?”

Tô Tần nhìn một lượt các loại trang phục đủ màu đủ kiểu treo trong tiệm, thấy ưng ý một bộ trang phục sĩ tử, bèn chỉ vào bộ trang phục mà hỏi: “May cả bộ thế này hết bao nhiêu?”

Gã thợ nghe hỏi vậy, quay ra nhìn Tô Tần từ đầu đến chân, phì cười mà nói: “Không giấu khách quan, bộ này không hợp với khách quan đâu!”

Tô Tần cười nhạt một tiếng, nghiêm mặt hỏi: “Ta hỏi ngươi bao nhiêu tiền?”

Gã thợ thấy Tô Tần mặt mày sừng sộ, cũng đã nhận ra thái độ của mình bất nhã, không hợp với kinh thương, vội vã vòng tay vái, cười giả lả mà nói: “Khách quan, đây là trang phục danh sĩ, gồm ba bộ, bộ xuân thu, bộ hè và bộ đông, không bán riêng lẻ. Bộ xuân thu và bộ hè đều may bằng vải mua từ Sính Đô nước Sở, còn bộ đông may bằng da dê chính hiệu lấy từ Yên, Triệu. Ba bộ này năm ngoái giá mười lượng vàng, năm nay buôn bán kém, ông chủ giảm giá, chỉ còn tám lượng thôi!”

Tô Tần thò tay vào ống tay áo, lôi túi tiền bố ra, cầm trong tay, vái đáp lễ: “Đặt tiền cọc được không?”

Gã thợ thấy Tô Tần chỉ có một túi tiền lẻ, biết rằng không phải khách mua, thì nguýt dài một cái, lắc đầu nói: “Tiệm may này là đệ nhất vương thành, trong Lạc Dương không có nhà thứ hai, do vậy không nhận đặt cọc. Khách quan nếu muốn mua thực, phải trả hết tám lượng, mười ngày sau tới lấy…”

Không đợi gã nói hết câu, Tô Tần đã quay ngoắt người, sải bước khỏi cửa, sau lưng vẳng lại tiếng chê bai khinh miệt của gã thợ: “Hừm, kẻ này đúng là… Đã nói là bộ này không thích hợp rồi, còn không tin!”

Giờ đã là giữa trưa, mọi nhà đều đang ăn cơm, trên phố vắng lặng như tờ. Tô Tần vốn định tới thăm cầm sư, song sau những chuyện không vui này, đã hết cả hứng thú, bụng cũng chẳng hề thấy đói, nên cứ thất thểu bước đi trên phố một cách vô định, bàn tay mân mê túi tiền lẻ mà Tô Lệ dúi cho lúc sáng, trước mặt lại hiện lên thái độ giễu cợt của đám giáp sĩ và sự khinh thường ra mặt của gã thợ may.

Tô Tần rẽ vào một con ngõ không rộng lắm, định từ đây đi tắt về nhà. Đi chưa được bao xa, nghe thấy phía sau có tiếng rầm rập đuổi tới. Tô Tần ngoảnh đầu nhìn, thấy một con chó đen cúp đuôi vừa sủa vừa chạy bổ đến, hai tráng hán mỗi người cầm một khúc gậy, hô hoán đuổi theo sau. Tô Tần vội nép vào bên đường, con chó đen vọt qua bên cạnh, chạy chưa được vài bước, lại thấy phía trước xuất hiện một hán tử nữa, tay gậy lăm lăm đứng chắn ở đầu kia con ngõ.

Thấy không còn lối thoát, con chó đen đành quay đầu lại, chạy tới bên chân Tô Tần, nằm phục xuống trước mặt hắn, run lên lẩy bẩy, nhìn Tô Tần với ánh mắt van lơn, miệng rên ư ử. Ba tráng hán cầm gậy ập tới từ trước sau, con chó đen càng run dữ hơn, tiếng rên càng thảm thiết, chui tọt vào giữa hai chân Tô Tần.

Một tráng hán lên tiếng: “Này người anh em, tránh ra!”

Tô Tần đưa mắt nhìn họ, đã không tránh ra, ngược lại còn ngồi xuống, đưa tay vuốt ve con chó. Con chó run rẩy, thè lưỡi liếm khẽ ngón tay Tô Tần, miệng vẫn rên ư ử, mắt nhìn Tô Tần không chớp, cái đuôi ngoe nguẩy liên tục, vẻ như nịnh nọt để cầu xin cứu giúp.

Tô Tần vỗ vỗ vào đầu con chó, ngẩng nhìn một tráng hán: “Vì sao các người lại đuổi nó?”

Tráng hán đáp lời: “Chúng tôi làm trong tiệm bán thịt, mới mua được mấy con chó, vừa nãy bất cẩn, để sổng mất con này!”

Tô Tần vẫn che chắn cho con chó: “Mua bao nhiêu tiền?”

“Mười đồng!”

Tô Tần tiện tay ném luôn túi tiền bố xuống dưới chân tráng hán: “Con chó này, tôi xin mua!”

Ba tráng hán đưa mắt nhìn nhau, dường như không dám tin. Một tráng hán nhặt túi tiền lên, sờ sờ đếm đếm một hồi, rồi quay sang hai tráng hán kia nói: “Ồ, hắn nói thực đấy, cả một túi luôn!”

Tô Tần nhìn ba tráng hán hỏi: “Đủ chưa?”

Ba người rối rít: “Đủ rồi! Đủ rồi!”

Tô Tần lạnh lùng nói: “Đã đủ rồi, còn không đi mau!”

Ba tráng hán thấy kiếm được món hời, sợ Tô Tần đổi ý, vội vã chuồn ngay.

Thấy ba người đã đi xa, con chó đen mới chui ra từ giữa hai chân Tô Tần, lại nhìn Tô Tần vẫy vẫy đuôi, rồi cứ cọ mình vào bên chân Tô Tần, dường như muốn bày tỏ niềm cảm kích vô biên.

“Quả là một con vật thông minh!” Tô Tần khẽ thở dài một tiếng, vỗ khẽ vào đầu nó: “Chú mày về nhà đi!”

Con chó đen không nhúc nhích, chỉ ngồi im dưới đất, nghiêng đầu sang một bên, hai mắt tròn xoe nhìn Tô Tần.

Tô Tần lại khẽ thở dài, vuốt ve nó mà nói: “Chắc chú mày không còn chỗ nào để về phải không? Vậy thì đi theo ta. Nhớ rằng, từ này về sau chú mày tên là Mực nhé!”

Con chó dường như hiểu lời Tô Tần, lại liếm chân hắn vài cái. Tô Tần vừa đứng dậy, con Mực đã chạy lên phía trước, đi được vài bước thì dừng lại, quay đầu nhìn Tô Tần, ngoe nguẩy vẫy đuôi.

Khi Tô Tần và con chó về tới Hiên Lý, trời đã nhá nhem. Con Mực nhìn thấy trong trạch viện có nhiều người, sợ hãi đứng nép ngoài cổng. Tô Tần vỗ nhẹ vào đầu nó, nói: “Này Mực, vào đi, đây là nhà mới của chú mày!”

Tô Tần dẫn con chó vào trong nhà, thấy Tô Đại vẫy tay gọi mình, bèn đẩy con Mực đến dưới gốc cây xuân, một mình bước vào trong sảnh đường. Tô Hổ ngồi ngay ngắn dưới chiếu, Tô Lệ, Tô Đại ngồi ở bên cạnh, đều đang đợi Tô Tần. Tô Tần vừa nhìn thấy, vội vàng ngồi xuống.

Không khí hết sức trang nghiêm. Trên tường vẫn treo bức hoành phi, bài vị tổ tông phía dưới bức hoành phi vẫn chưa cất đi, thủ lợn và gà vịt vẫn ở nguyên chỗ cũ.

Chính giữa đại đường, trên mặt bàn trước mặt Tô Hổ đặt ngay ngắn ba tờ khế ruộng, bên trên đóng ấn quan của phủ tư nông Đại Chu.

Tô Hổ khẽ đặng hắng một tiếng, đưa mắt nhìn ba anh em một lượt, nói khẽ: “Lệ Nhi, Tần Nhi, Đại Nhi, như tối qua cha đã nói, hôm nay cha đã nhờ lý chính chia ruộng. Đây là ba tờ khế ruộng, mỗi tờ hai mươi mẫu, trong đó có mười mẫu ruộng khô, năm mẫu ruộng nước và năm mẫu đất trồng dâu. Đây đều là những ruộng màu mỡ, còn số đất cằn cỗi, cha giữ lại làm đất công, ba anh em các con có ý kiến gì không?”

Lúc này, chẳng ai biết phải nói gì, chỉ cúi đầu im lặng.

Tô Hổ lại đưa mắt nhìn họ: “Nếu không có ý kiến gì, mỗi người hãy cầm lấy một tờ!”

Ba anh em chẳng ai nhúc nhích, vẫn cúi gằm mặt, dường như không nghe thấy.

Tô Hổ gật đầu nói: “Ồ, các con vẫn sĩ diện như vậy, cha buộc phải quyết định vậy. Tô Lệ, con là trưởng nam, lấy trước đi!”

Tô Lệ đứng dậy, quỳ xuống trước liệt tổ liệt tông, bái lạy xong xuôi, lại quay sang khấu bái Tô Hổ, rồi quay người cầm lấy một tờ khế ruộng. Tô Hổ gật gù, nhìn sang Tô Tần với ánh mắt hiền từ. Tô Tần không dám nhìn cha, cúi đầu bái lạy tổ tiên, lại lạy cha, rồi tiện tay lấy một tờ. Tờ còn lại là của Tô Đại.

Tô Hổ thấy ba con đã cầm khế ruộng trong tay, nước mắt rưng rưng mà nói: “Lệ Nhi, Tần Nhi, Đại Nhi, cha già rồi, sau này chỉ biết trông cậy vào các con!” Dừng lại một lát, lên giọng nói tiếp. “Chúng ta là nông dân, ruộng vườn là mạng sống của nông dân. Có ruộng trong tay, đi đường mới dám thẳng lưng. Không có ruộng trong tay, cuộc sống không còn hy vọng. Các con từ nhỏ đã thấy rồi, ở Hiên Lý này, ngoài nhà lý chính, chỉ mỗi Tô gia ta là có ruộng, còn lại đều là nông nô, mười nhà thì có đến chín nhà làm thuê cho lý chính. Nông nô phải sống ra sao? Từ đầu năm tới cuối năm, đầu tắt mặt tối làm lụng cho nhà người khác. Chút ruộng cỏn con này, tuy chẳng thấm tháp vào đâu, song cũng là cơ nghiệp mà tổ tiên ta để lại. Cha lực bất tòng tâm, không thể mở rộng thêm mẫu nào để làm mở mày mở mặt tổ tiên. Thật may vì cha đã nuôi được ba anh em con khôn lớn, cũng coi là có chút công lao khó nhọc, không đến nỗi chẳng nói được gì trước mặt ông cha. Những điều khác cha không tính tới, hôm nay mỗi người đã được chia hai mươi mẫu ruộng, cha mong sao mai sau, các con có thể mở rộng ruộng đất, khiến hai mươi mẫu thành ba mươi mẫu, bốn mươi mẫu, năm mươi mẫu. Nếu ai trong ba con có thể mở rộng ruộng đất của mình, hãy tới trước mộ cha, nói với cha một tiếng, cha sẽ cầu phúc cho các con!”

Nghe tới đây, Tô Lệ mắt đỏ hoe, quỳ xuống dập đầu nói: “Cha, con nhất định sẽ tận lực!”

Tô Hổ không đáp lời Tô Lệ, mà chuyển ánh mắt sang Tô Tần: “Tần Nhi, không ai hiểu con bằng cha. Tuy con lêu lổng, song bẩm tính thông minh, nếu biết chuyên tâm vào ruộng vườn, dù là tiên tổ, cũng chưa chắc đã theo kịp con!” Rồi nhìn sang Tô Lệ, Tô Đại. “Không giấu hai con, cha có một dự cảm, trong ba người các con, người thực sự có thể mở rộng ruộng đất, e rằng chỉ có Tần Nhi. Người thực sự có thể bái kiến Chu thiên tử, có thể đọ cao thấp với nhà lý chính, e rằng cũng chỉ có Tần Nhi. Tần Nhi, con đi biền biệt mấy năm trời, khiến cha… cha lòng đau như cắt! Nay con đã trở về, cha mừng lắm, thực sự mừng lắm thay!” Nói tới đây, có lẽ do xúc động thái quá, Tô Hổ hai tay bưng mặt, bật khóc rưng rức.

Thấy cha nói ra những lời này, lại xem trọng mình đến vậy, Tô Tần trong lòng quặn thắt. Ngoài việc đọ cao thấp với lý chính, còn Chu thiên tử, Chu vương hậu, Tô Tần đều đã gặp rồi, còn cả hai công chúa của Chu thiên tử… Tuy nhiên, những sự việc này, Tô Tần đều không thể nói ra. Hơn nữa, dù có nói ra, ở Hiên Lý này, có ai chịu tin?

Điều Tô Tần có thể làm vào lúc này, chỉ là từ từ quỳ xuống, lạy cha ba lạy: “Là con trai bất hiếu, có lỗi với cha!”

Thấy Tô Tần hiện tại trái ngược hẳn với Tô Tần mấy năm về trước, Tô Hổ vui mừng không kể xiết. Mấy cha con trò chuyện thêm một lúc nữa thì Tô Diêu thị bưng đồ ăn lên. Tô Hổ đứng dậy, lầm rầm khấn vài câu, cất bài vị đi, hạ đồ cúng xuống, xé lấy một nửa gà, vịt, đưa cho Tô Diêu thị, bảo mang sang phòng bên cho mấy mẹ con ăn.

Sáng hôm sau, Tô Tần rửa mặt, chải đầu, ăn sáng xong xuôi thì ra khỏi cổng. Con Mực đã chờ sẵn, vẫy đuôi rối rít chạy tới, liếm chân Tô Tần.

Tô Tần vỗ vỗ vào người con chó: “Mực này, theo ta tới Y Lý một chuyến!”

Con Mực vẫy đuôi chạy lên trước.

Chu thất ở Lạc Dương vẫn thực thi chế độ hương lý như thời Tây Chu, dưới hương là lý, đứng đầu lý là lý chính. Thôn Hiên Lý và vài thôn khác bên bờ đông Y Thuỷ gộp thành một lý, gọi chung là Y Lý, lý chính họ Lưu tên Quyền, tổ tiên là quan đại phu thời Uy Liệt Vương, có trăm thửa ruộng, là một trong những gia đình giàu có trong phạm vi mười dặm vuông quanh đây. Vài đời sau, do không chăm lo nông nghiệp nên Lưu gia suy yếu, điền sản giảm xuống chỉ còn tám mươi thửa. Cho tới thời Lưu Quyền, thông thạo nông nghiệp, lại giỏi kết giao, được tư nông đại nhân tiến cử làm lý chính, gia nghiệp từ đó chấn hưng, ruộng đất mở rộng tới hơn một trăm hai mươi thửa. Trong hơn hai mươi hộ ở Hiên Lý, ngoại trừ Tô gia, toàn bộ đều là tá điền cho nhà họ Lưu. Ruộng của Tô gia là do Chu thiên tử đích thân ban tặng, tuy Lưu Quyền thèm nhỏ dãi, song cũng không dám làm gì.

Y Lý thời Xuân Thu là một ấp cổ, có thành có hào, song do lâu năm không tu sửa, chẳng ai canh giữ, đã biến thành một bức tường đất. Trước đây, trong ấp vốn có vài trăm hộ sinh sống, đều là nông nô của Chu thất giống như Tô gia. Một trăm năm qua, thời thế thay đổi, Chu thất suy vi, nông nô ở đây phần lớn đã chuyển tới nơi khác sinh sống, chỉ còn lại khoảng trăm hộ, trở thành tá điền cho nhà họ Lưu. Nhà lý chính Lưu Quyền ở giữa thành ấp, trạch viện vườn tược diện tích cũng phải tới vài chục mẫu, ở bên bờ Y Thuỷ này, cũng được coi là một nhà hào phú.

Tô Tần vừa bước tới cổng, mấy con chó to nhà lý chính nhìn thấy con Mực, lập tức xổ ra sủa ầm ĩ, khiến con Mực sợ hãi cụp đuôi, nép sát vào chân Tô Tần. Đã có người vào trong bẩm báo, lý chính bước ra đón, nhận ra Tô Tần, liền quát bầy chó lui ra, vòng tay hướng về phía Tô Tần vái chào: “Cứ tưởng là ai, hoá ra là khách quý!”

Tô Tần vái đáp lễ mà nói: “Tô Tần xin chào lý chính!”

Lý chính kinh ngạc: “Ồ, cậu hai không nói lắp nữa ư?”

Tô Tần cười cười thay cho câu trả lời. Lý chính mời Tô Tần vào phòng khách. Người hầu đã pha sẵn trà, bày lên mặt bàn.

Lý chính mời trà, cười nói: “Hôm qua, cha cậu tới đây, có kể tường tận chuyện của cậu. Thường có câu, lãng tử quay đầu quý hơn vàng. Cậu hai đã biết hồi tâm chuyển ý, đừng nói là cha cậu vui mừng, mà lý chính ta đây thực lòng cũng thấy vui lây. Vì thế, khi cha cậu nói muốn đổi khế ruộng, Lưu mỗ đồng ý ngay, tức tốc chuẩn bị xe ngựa, cùng ông ấy tới phủ tư nông, nháy mắt đã xong xuôi mọi việc. Cậu hai, cậu cứ chăm chỉ làm ruộng, Lưu mỗ đã hứa với cha cậu, nếu cậu làm ruộng tốt, Lưu mỗ nhất định sẽ tiến cử cậu lên tư nông đại nhân. Chỉ cần tư nông đại nhân hài lòng, chưa biết chừng cậu còn có thể bái kiến thiên tử!”

Tô Tần mỉm cười nói: “Xin hỏi lý chính, ruộng đất giống như của nhà tôi, một mẫu đáng giá bao nhiêu tiền?”

Lý chính giật mình kinh ngạc: “Gì kia, vừa chia ruộng làm riêng, đã muốn mua đất rồi? Ha ha ha, có chí khí!” Rồi đảo con ngươi một vòng. “Cậu hai này, nói thực với cậu, đất nhà cậu là đất thượng đẳng, đáng tiền lắm đấy. Nếu cậu muốn mua, cũng phải vài lượng vàng mới được!”

Tô Tần lại cười: “Vậy là bao nhiêu lượng?”

Lý chính cúi đầu suy nghĩ, một lát sau mới ngẩng lên nói: “Đất ruộng có nhiều loại, không thể nói ngay được, có ruộng cạn, ruộng nước, có ruộng dâu, còn có đất rừng, mỗi loại một giá. Nếu giống như ruộng đất nhà cậu, còn cần phải xem từng khoảnh đất. Giá cụ thể thế nào, Lưu mỗ khó lòng nói cho chuẩn được.”

Tô Tần lần trong tay áo rút ra bản khế ruộng của mình, đặt lên mặt bàn: “Giống như mảnh ruộng này thì thế nào?”

Lý chính xem xét kỹ lưỡng, nức nở khen ngợi: “Ồ, cậu hai, Lưu mỗ chúc mừng cậu! Không nói dối cậu, cậu được chia đúng mảnh ruộng tốt nhất nhà rồi đấy, không những ở đầu nguồn nước, mà chất đất cũng màu mỡ vô cùng! Ruộng này tốt đấy!”

Tô Tần thu lại nụ cười, ánh mắt nhìn xoáy vào lý chính: “Lý chính đại nhân, tại hạ hỏi đại nhân, ruộng này đáng giá bao nhiêu tiền?”

Lý chính ngẩn ra một lát, do không hiểu ý đồ thực sự của Tô Tần, nên chỉ biết cười xoà mà nói: “Được rồi, được rồi, để Lưu mỗ xem kỹ chút nữa!” Rồi cầm lấy bản khế ruộng, cẩn thận cân nhắc một hồi. “Thế này nhé, ruộng cạn một mẫu ba lượng vàng, ruộng nước một mẫu bốn lượng vàng, còn ruộng dâu này, một mẫu ít nhất cũng được hai lượng vàng!”

Tô Tần gật đầu nói: “Lý chính đại nhân, cảm tạ đại nhân đã ước tính giúp. Lần này tại hạ tới đây, có một chuyện muốn làm phiền đại nhân!”

Lý chính cười nói: “Có gì mà phiền! Lưu mỗ đã là lý chính, đương nhiên sẽ hết lòng giúp đỡ mọi người!”

Tô Tần chỉ vào khế ruộng: “Đây là hai mươi mẫu ruộng mà tại hạ được chia ngày hôm qua. Trừ năm mẫu đất trồng dâu, còn lại là mười mẫu ruộng cạn, năm mẫu ruộng nước, theo như đại nhân nói, trị giá năm mươi lượng vàng. Do tại hạ bán gấp, chỉ lấy bốn mươi lượng, phiền lý chính đại nhân tìm người mua giúp!”

“Cậu hai,” lý chính sửng sốt, “chuyện này… làm sao có thể?”

Tô Tần cười nói: “Sao kia, lý chính đại nhân cảm thấy khó khăn ư?”

Lý chính hết nhìn Tô Tần, lại nhìn bản khế ước, cố ý chau mày lại, thở dài một tiếng: “Chuyện khác thì không có gì khó, chỉ có điều Lưu mỗ biết ăn nói thế nào với cha cậu?”

Tô Tần vòng tay nói: “Xin lý chính đại nhân tạm thời giữ kín chuyện này giúp, đừng vội nói với cha tại hạ!”

“Được, Lưu mỗ sẽ giúp cậu việc này. Dám hỏi cậu hai lúc nào cần tiền?”

“Càng sớm càng tốt!”

Lý chính cúi đầu ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng lên nói: “Nhiều tiền như vậy, cậu hai lại cần gấp, bảo Lưu mỗ tìm đâu ra người mua?”

Tô Tần liền hỏi: “Vậy theo ý của lý chính đại nhân, nên thế nào mới phải?”

Lý chính lại nghĩ ngợi một hồi, rồi cười nói: “Thế này đi, cậu hai nếu cần tiền gấp, chút điền sản này hãy tạm thời gửi ở chỗ Lưu mỗ. Bất kỳ lúc nào, nếu cậu hai hồi tâm chuyển ý, chỉ cần trả đủ gốc và lãi cho Lưu mỗ thì mười lăm mẫu ruộng tốt này vẫn là của cậu hai!”

“Vậy còn tiền?”

Lý chính khẽ thở dài một tiếng: “Mấy năm nay đều mất mùa, nhà Lưu mỗ cũng không dư dả. Cậu hai nếu cần gấp, Lưu mỗ chỉ có thể gom được ba mươi lượng.”

“Ba mươi lượng thì ba mươi lượng!”

Lý chính trong lòng mừng thầm, đứng dậy đi vào phòng trong, lát sau đã cầm ra ba mươi lượng vàng đặt lên bàn: “Cậu hai đếm đi, đây là ba mươi lượng, cậu viết cho tờ biên nhận. Còn đây là hai bản khế ruộng mới, một bản là khế ruộng mười lăm mẫu, điểm chỉ dưới tên Lưu mỗ. Còn bản kia là khế ước năm mẫu ruộng dâu, cậu cũng viết tên, điểm chỉ vào, đợi lát nữa Lưu mỗ tới phủ tư nông đại nhân đóng ấn quan, coi như xong việc. Khế ruộng của năm mẫu ruộng dâu, Lưu mỗ tự khắc sẽ sai người đưa lại cho cậu.”

Tô Tần viết xong biên nhận, viết tên, điểm chỉ vào hai bản khế ruộng, cầm lấy vàng, rồi vái mà nói: “Tại hạ đa tạ lý chính! Khế ruộng của năm mẫu ruộng dâu, đóng ấn quan xong, nhờ lý chính tạm thời giữ hộ. Đợi một tháng sau, phiền lý chính giao lại cho anh cả Tô Lệ của tại hạ, rồi nói rõ nguyên nhân với anh ấy.”

Lý chính đáp lễ, gật đầu nói: “Lưu mỗ sẽ làm theo lời dặn của cậu hai!”

Tô Tần ra khỏi nhà lý chính, đuổi con Mực về nhà, còn mình đi thẳng tới Lạc Dương, vào tiệm may Vương thành đệ nhất tiễn. Thấy người tới lại là Tô Tần, gã thợ ngồi ở sau quầy chẳng buồn đứng dậy, cất giọng khinh khỉnh: “Khách quan đại nhân hẳn không phải tới đây đặt may bộ trang phục sĩ tử kia chứ?”

Tô Tần liếc xéo gã một cái, lôi ra tám lượng vàng từ trong ống tay áo, ném leng keng xuống nền nhà: “Đây là tám lượng vàng. Mười ngày sau, ta sẽ đến lấy!” Nói xong, quay người bước đi luôn.

Gã thợ trợn tròn hai mắt, đứng thộn ra tại chỗ. Tấm rèm bỗng vén sang một bên, ông chủ bước vội ra, lớn tiếng quát mắng: “Thằng mù kia, suýt nữa để vuột mất món hời của ta! Còn không mau mời khách quan kia quay lại! Không có số đo, may thế nào đây?”

Gã thợ giật nảy mình, với vội cuộn thước da, lao ra khỏi cửa tiệm, thấy Tô Tần đã đi khá xa, bèn co giò đuổi theo, cao giọng gọi với: “Khách quan dừng bước!”

Tô Tần đứng lại, lạnh lùng hỏi: “Sao thế, thiếu tiền ư?”

Gã thợ thở hổn hển quỳ sụp xuống đất: “Dạ đủ rồi, tiểu nhân muốn xin số đo của khách quan!” Miệng nói, hai tay liến thoắng đo trên đo dưới.

Đúng lúc này, từ phía xa vẳng lại một điệu đàn réo rắt du dương, tuyệt diệu lạ thường, tựa như tiếng nhạc chốn thần tiên.

Tô Tần trong lòng chấn động, nghiêng tai lắng nghe, rồi hai chân cứ thế vô thức lần tìm về phía có tiếng đàn. Gã thợ không dám ngăn lại, đành đứng vội dậy, lẽo đẽo đi theo phía sau, ước chừng vài số đo cuối cùng trên vai Tô Tần, rồi thở phào một tiếng, cúi gập người mà vái dài: “Khách quan đi nhé!”

Tô Tần nghe mà như không thấy, vẫn ngơ ngẩn đi theo tiếng đàn. Đi được khoảng gần một dặm thì tới bên ngoài bức tường sơn son của vương thành, Tô Tần nhìn thấy cầm sư hai mắt nhắm nghiền, ngồi tựa lưng vào một gốc ngô đồng cao lớn, say sưa gảy đàn. Trước mặt cầm sư bày một cái bát mẻ, trong bát có hai xu tiền đồng, còn một đồng xu rơi trên mặt đất bên cạnh bát, hẳn là do người qua đường ném xuống bị bắn ra ngoài.

Từng cơn gió lạnh lẽo thổi ào qua, cuốn bay đám lá khô rụng, xao xác rẽ trên mặt đất. Cầm sư ăn mặc phong phanh, áo quần lam lũ, trông chẳng khác gì kẻ ăn mày. Nơi đây quá ư hiu quạnh, hầu như không có người qua lại, vài đồng xu kia, hẳn cũng là tiền bố thí của những người lần theo tiếng nhạc mà tới.

Tô Tần nín thở, đứng lại cách cầm sư chừng vài bước chân. Cầm sư không hề hay biết, mười ngón tay khô khao nứt nẻ vẫn điêu luyện lướt như mây trôi trên các phím đàn. Tiếng đàn lúc cao vút, lúc thê lương, như khóc như than, như sầu như oán.

Tô Tần cứ đứng thẫn thờ bất động, hai mắt khép hờ, dùng tâm thức lắng nghe. Nghe được một lúc, Tô Tần chết lặng, hai dòng lệ tuôn trào nơi khoé mắt, lã chã rơi trên đất lạnh. Tô Tần tiến lên vài bước, từ từ quỳ xuống trước mặt cầm sư, khấu bái sát đất.

Hai hàng nước mắt già nua cũng trào ra từ đôi mắt cầm sư. Tiếng đàn ngừng bặt.

Tô Tần lạy ba lạy, vừa khóc vừa nói: “Vãn sinh Tô Tần khấu kiến tiên sinh!”

Cầm sư mở bừng mắt: “Tô sĩ tử miễn lễ!”

Tô Tần lại bái lạy mà nói: “Tiếng đàn của tiên sinh xuất thần nhập hoá, hôm nay Tô Tần đã được nghe thấy âm nhạc đích thực!”

Cầm sư đưa mắt nhìn Tô Tần, chậm rãi gật đầu: “Lão hủ chỉ gảy bừa, được Tô sĩ tử khen ngợi, đã thấy mãn nguyện rồi! Tô sĩ tử có rảnh rỗi, xin tới hàn xá của lão hủ trò chuyện chốc lát được chăng?”

Tô Tần lại bái lạy mà nói: “Vãn sinh tới đây là vì muốn thăm tiên sinh!” Rồi bước lại gần, đỡ cầm sư đứng dậy, giúp ông thu dọn bát, tiền và đàn, rồi dìu cầm sư chầm chậm bước đi theo con đường rải sỏi men theo tường vương cung.

Hai thầy trò đi được một lúc thì tới Thái học. Bước vào cổng chính, Tô Tần phóng mắt nhìn quanh, thấy cảnh tượng còn hoang lương hơn cả sáu năm về trước, khắp nơi cỏ dại um tùm, bất giác cảm thấy muôn phần chua xót.

Cầm sư dẫn Tô Tần bước vào một căn nhà xập xệ, rồi khoanh chân ngồi xuống một manh chiếu rách. Tô Tần nhìn quanh, chỉ thấy có bốn bức tường trơ trọi, thứ giá trị nhất chính là cây đàn cũ kỹ vừa mang theo về.

Tô Tần nhìn sững vào cây đàn, hồi lâu sau, mới quay sang nhìn cầm sư: “Khúc nhạc tiên sinh vừa gảy, vãn sinh ngỡ như tiếng nhạc thần tiên, nghe mà bất giác trào nước mắt.”

Cầm sư không nói gì, chỉ ngồi xuống trước cây đàn, chậm rãi nói: “Tô sĩ tử muốn nghe, lão hủ sẽ gảy thêm khúc nữa!” Rồi hai tay lướt nhẹ trên phím, dây đàn ngân nga, lại thành một khúc, âm điệu lại càng bi thiết não nề, tựa như đang kể lể về nỗi thê lương của những năm tháng cùng tận kiếp người, cũng lại tựa như đang nỉ non về kết cục bi tráng của một vương thất. Tô Tần nghe mà nước mắt lại thổn thức tuôn rơi.

Cầm sư gảy xong bản nhạc, vuốt nhẹ cây đàn mà hỏi: “Xin hỏi sĩ tử, khúc này thế nào?”

“So với khúc ban nãy, lại càng thêm bi thiết.”

“Dám hỏi sĩ tử, bi thiết ở chỗ nào?”

“Gảy đàn dưới gốc cây, tiên sinh chỉ là xót thương cho một người. Còn vừa rồi gảy đàn, tiên sinh lại là xót thương cho một nước, nên pha lẫn dư âm bi tráng, bởi vậy, vãn sinh cảm thấy bi thiết hơn nhiều.”

Cầm sư than thở mà rằng: “Than ôi, mới có vài năm ngắn ngủi, mà Tô sĩ tử đã hoàn toàn đổi khác, đúng là tạo hoá trêu ngươi!”

Tô Tần vái mà nói: “Tiên sinh nhã tấu, vãn sinh nói bừa, có chỗ nào không phải, xin tiên sinh lượng thứ!”

Cầm sư vái đáp lễ, hai tay vỗ nhẹ thân đàn, chậm rãi nói: “Không giấu sĩ tử, khúc nhạc lão hủ vừa gảy dưới gốc cây là dành cho vương hậu. Vượt qua tường son, cách đó không xa chính là tẩm cung của vương hậu. Vương hậu sinh tiền rất thích nghe lão hủ gảy đàn. Hơn sáu năm qua, lão hủ chỉ ngồi bên ngoài bức tường son, ngày ngày diễn tấu vài khúc cho vương hậu nghe, trước gảy ‘Cao sơn’, sau dạo ‘Lưu thuỷ’. Khúc nhạc mà sĩ tử nghe thấy, chính là tiếng lòng của lão hủ sau khi tấu xong hai khúc nhạc kia. Còn khúc nhạc vừa gảy ở đây, chính là than thở cho thân phận lão, cũng là xót xa cho Đại Chu hiện tại. Tô sĩ tử nghe nhạc mà hiểu được tiếng lòng của lão, quả là tri âm, thực khiến lão hủ khâm phục!”

“Khúc nhạc tiên sinh vừa tấu, xứng đáng là thiên hạ đệ nhất, dù Bá Nha có sống lại, cũng không thể sánh bằng!”

Nghe thấy bốn chữ “thiên hạ đệ nhất”, cầm sư thở dài ảo não: “Hỡi ôi, lão hủ đây số phận hẩm hiu, luân lạc đến bước đường này, đã khốn khổ lắm rồi, xin sĩ tử đừng chê cười nữa!” Nói xong, trong lòng sầu thảm, nước mắt lã chã như mưa.

Tô Tần sửng sốt, vội vã đổi ngồi thành quỳ, khấu đầu lia lịa mà nói: “Vãn sinh tuyệt đối không có ý chế giễu tiên sinh, xin tiên sinh lượng thứ!”

Cầm sư đưa ống tay áo lên lau nước mắt, nở một nụ cười thê thảm mà nói: “Sĩ tử mau đứng dậy! Là lão hủ tự thấy bi thương, không liên quan gì tới sĩ tử!”

Tô Tần đứng dậy, thẫn thờ nhìn vị cầm sư bị vận mệnh ruồng bỏ, không biết phải nói gì.

Cầm sư lại cười: “Sĩ tử ra đi lần đó, hẳn đã gặp được Quỷ Cốc tiên sinh?”

Tô Tần gật đầu.

Ánh mắt cầm sư tràn đầy ngưỡng mộ: “Sĩ tử hẳn đã trở thành học trò của Quỷ Cốc tiên sinh?”

“Vãn sinh đã theo học Quỷ Cốc tiên sinh năm năm!”

Cầm sư cúi rũ đầu xuống, hồi lâu sau mới thở dài sườn sượt mà nói: “Sĩ tử quả thực may mắn, lão hủ xin chúc mừng sĩ tử!” Im lặng một lúc, lại thở dài. “Than ôi, sĩ tử và lão hủ đều là người cầu học, song cơ duyên lại khác hẳn nhau. Đừng nói là năm năm, lão hủ đây chỉ mong được Quỷ Cốc tiên sinh chỉ điểm cho một ngày, thì kiếp này đã coi như mãn nguyện!”

Tô Tần sực nhớ ra Trương Nghi đã từng nói rằng, cầm sư khao khát được trở thành học trò của Quỷ Cốc tiên sinh, song không được như ý, thì không giấu nổi vẻ tò mò, nhổm người lên hỏi: “Nếu được bái Quỷ Cốc tiên sinh làm thầy, tiên sinh muốn học thuật gì?”

“Muốn học thuật gì ư?” Cầm sư ngạc nhiên. “Lão hủ cả đời chỉ có duyên với dây đàn. Ngoài học đàn, còn học được thuật gì đây?”

“Ồ!…” Tô Tần ngẩn người. “Tiên sinh muốn bái Quỷ Cốc tiên sinh làm thầy, lẽ nào chỉ để học đàn?”

Cầm sư gật đầu khẳng định.

“Vãn sinh dám hỏi tiên sinh, vì sao nhất định phải cầu Quỷ Cốc tiên sinh học đàn?”

“Than ôi!” Cầm sư than thở. “Sĩ tử có điều không biết, cả đời lão hủ không mong cầu gì khác, chỉ thích gảy đàn. Từ thuở nhỏ, lão hủ đã đi mòn giày sắt, cầu học khắp lượt danh sư trong thiên hạ. Khi tới tuổi ba mươi, lão cứ ngỡ mình đã học thành tài, liền tới Chu thất, lập đài đấu đàn trên phố, muốn thi thố kỳ nghệ với thiên hạ…”

Nói tới đây, cầm sư sắc mặt sượng sùng, bèn dừng lại không nói nữa.

“Sau đó thì sao?”

“Hỡi ôi!” Cầm sư lại than thở. “Chuyện này rất mực hoang đường, mỗi lần nhớ lại, lão hủ lại hổ thẹn muốn chết.”

“Tiên sinh đã bị đánh bại ư?”

“Không phải!” Cầm sư lắc đầu, chậm rãi nói. “Lão hủ lập đài ba năm dưới chân thiên tử, cầm sư liệt quốc biết tiếng, đua nhau kéo đến không dưới mười người, ai cũng bị đánh bại dưới dây đàn của lão. Thiên tử biết tiếng, mời lão vào cung diễn tấu. Vương hậu nghe xong, hết lời khen ngợi, còn mời lão làm cầm sư trong cung, sau đó lại lệnh cho lão dạy đàn cho hai công chúa. Lão hủ thấy mình như bước trên mây xanh, dương dương tự đắc không biết trời cao đất dày, tự viết dưới cửa này năm chữ lớn ‘Thiên hạ đệ nhất cầm’.”

Tô Tần trợn tròn hai mắt, nhìn sững vào cầm sư, không thể tin rằng vị cầm sư già nua khiêm nhường đang ngồi trước mặt mình xưa kia lại từng có lúc cao ngạo tự đại nhường vậy.

Cầm sư trầm ngâm hồi lâu, lại cất lên một tiếng thở dài não nề đầy nhạc cảm: “Hỡi ôi, lão hủ không coi ai ra gì, tự cho mình là đệ nhất thiên hạ. Cho tới một đêm trăng sáng sao thưa, lão hủ kê đàn dưới nguyệt, dạo phím ngân nga. Lão hủ vừa gảy xong một khúc, đang trong lúc lâng lâng, bỗng mơ hồ nghe thấy có tiếng đàn từ xa vẳng lại…”

Lại im lặng một hồi lâu. Cầm sư dường như đang hồi tưởng lại tiếng đàn văng vẳng trong đêm hôm đó.

Rất lâu sau, cầm sư mới như trở về từ cõi xa xăm, kể tiếp: “Tiếng đàn đó chẳng khác nào tiếng nhạc trời, lão hủ chưa từng nghe thấy âm thanh nào tuyệt diệu đến vậy, bỗng chốc lặng người, ngỡ rằng đó không phải cõi nhân gian. Sững sờ hồi lâu, nhận thấy tiếng đàn lúc xa lúc gần, tuyệt đối không phải là ảo giác, lão mới kinh ngạc, lần theo tiếng mà tìm. Đi mãi, đi mãi, không biết đã đi bao xa, tiếng đàn vẫn ở phía trước, lúc bổng lúc trầm, lúc ẩn lúc hiện. Lão cứ tìm cho tới tận bên bờ Lạc Thuỷ, mới nhìn thấy một ông lão đôi mày bạc trắng ngồi ngay ngắn dưới gốc cây liễu. Thấy lão lại gần, tiếng đàn ngừng bặt. Lão chẳng nói chẳng rằng, lập tức khấu bái sát đất, khẩn cầu ông lão thu nhận mình làm đệ tử. Ông lão chẳng nói lấy một câu, chỉ ngồi nghiêm trang tại chỗ. Lão quỳ mãi, quỳ mãi, quỳ suốt hai canh giờ, mà ông lão kia vẫn ngồi im bất động, đã không nói, cũng không gảy đàn, càng không chấp nhận lời khẩn cầu thống thiết của lão. Khi trăng lên tới giữa trời, ông lão đột nhiên giơ hai tay ra, vụt một cái vạch ngang mặt đàn. Chỉ nghe thấy một tiếng vọng chói tai, tiếng đàn chẳng khác gì tiếng trời long đất lở, xói thẳng vào tai như muốn thủng màng nhĩ. Lão hủ kinh hãi ngã vật xuống đất, đến khi định thần trở lại, bóng ông lão kia đã ung dung nơi xa tít. Lão vội đứng dậy đuổi theo, song nào có đuổi kịp, chỉ biết ngửa cổ lên trời mà hét thật lớn: ‘Xin hỏi tiên sinh rốt cuộc là người hay thần?’ Từ đằng xa liền vọng lại một câu trả lời: ‘Lão hủ không phải thần, mà là Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng!”’

Tô Tần nghe đến ngẩn ngơ, mắt nhìn cầm sư không chớp.

Cầm sư húng hắng ho một tiếng, thở dài thườn thượt: “Chao ôi, cái đêm hôm đó, thực không hiểu lão hủ đã vượt qua bằng cách nào. Khổ sở đợi tới khi trời sáng, lão trở về nhà, lập tức gỡ tấm biển treo trên cửa xuống, đạp vỡ nát. Sau đó, lão năm lần bảy lượt tới núi Vân Mộng, song Quỷ Cốc tiên sinh không chịu gặp, cuối cùng chỉ tặng cho lão hủ bốn chữ ‘tâm động đàn động’. Từ đó về sau, suốt ngày đêm lão chẳng thiết làm gì, chỉ ngẫm nghĩ về bốn chữ của Quỷ Cốc tiên sinh, ‘tâm động đàn động’!”

Tô Tần cảm phục tận đáy lòng, nói: “Nghe tiếng đàn hôm nay, biết rằng tiên sinh đã lĩnh ngộ được rồi!”

“Đúng vậy!” Ánh mắt cầm sư quét qua căn nhà dột nát, quét qua đám lá khô đầy đất, rồi quay đầu nhìn vào cái bát mẻ và ba xu tiền đồng, nở một nụ cười thê thảm. “Lão đã lĩnh ngộ được rồi!” Lại nhắm chặt mắt, hồi lâu, nước mắt chảy dài, lặp đi lặp lại. “Lão đã lĩnh ngộ được rồi!”

Tô Tần vô cùng xúc động, rất muốn làm điều gì đó giúp cầm sư. Nhớ tới chỗ vàng trong ống tay áo, lại nhìn vào cỗ xe kiệu cũ kỹ rách nát ở góc sân, trong đầu chợt nảy ra một ý, bèn chỉ vào cỗ xe hỏi: “Cỗ xe kia là của tiên sinh ư?”

“Phải!” Cầm sư đưa mắt nhìn cỗ xe. “Là của thiên tử ban tặng lão hủ. Thời thế thay đổi, tất cả đều đã tan hoang, cỗ xe này giờ chỉ còn là một đống đồng nát.”

“Tiên sinh có muốn bán cỗ xe này không?”

Cầm sư cười buồn: “Nếu sĩ tử thích, hãy cứ lấy đi, nói chuyện bán mua làm gì?”

Tô Tần móc túi tiền từ trong ống tay áo ra, lấy ra mười hai lượng vàng, đặt lên mặt bàn, nói: “Tiên sinh, cỗ xe này giá năm lượng, vãn sinh xin được mua. Còn năm lượng, phiên tiên sinh mua giúp vãn sinh một con ngựa tốt. Hai lượng còn lại, phiền tiên sinh nhờ người sửa sang lại xe. Mười ngày nữa, vãn sinh sẽ quay lại lấy!”

“Sĩ tử,” cầm sư đưa mắt nhìn đống vàng. “Chuyện này… sao có thể được?”

“Cứ quyết định vậy đi! Tiên sinh xin hãy bảo trọng, vãn sinh cáo từ!” Nói xong, Tô Tần đứng dậy, vòng tay hành lễ với cầm sư, rồi quay người bước đi.

Cầm sư cũng đứng dậy, ngẩn ngơ nhìn theo bóng Tô Tần xa dần.

Tới ngày thứ mười, trời còn chưa sáng hẳn, Tô Tần đã trở dậy, đi tới đi lui trong sân một hồi lâu. Con Mực dường như cũng có linh cảm, cứ bám sát theo chân chủ, không rời nửa bước.

Cây xuân cao lớn trong sân đã rụng sạch lá, cành cây trơ trụi, trên cành khô lủng lẳng một tổ chim đen trũi, Tô Tần biết đây là tổ chim khách. Chẳng hiểu vì sao, từ hôm Tô Tần trở về nhà, trong tổ không có lấy một con chim.

Trời vừa sáng, Tô Lệ ra khỏi giường, mở cửa phòng, thấy Tô Tần đang đứng trong sân nhìn lên tổ chim khách, bỗng thấy chột dạ, vội bước lại, nhìn Tô Tần hỏi: “Em hai, hôm nay có chuyện gì mà dậy sớm thế?”

“Muốn cùng anh cả ra ngoài đi dạo một lát!”

Tô Lệ gật đầu, cùng Tô Tần bước ra phía ngoài thôn, tới bãi đập lúa. Con Mực bám sát theo sau, chạy tới chạy lui bên chân Tô Tần, miệng kêu ư ử.

Tô Tần chần chừ một lúc, rồi nói với Tô Lệ: “Anh cả, em sắp đi rồi!”

Tô Lệ lặng im hồi lâu, rồi ngẩng đầu hỏi: “Đi đâu?”

“Nước Tần!”

Tô Lệ gật gật đầu, không nói gì nữa.

Tô Tần chỉ vào con chó, chậm rãi nói: “Anh cả, túi tiền của anh, em… đã dùng để mua con Mực này!”

Tô Lệ sững người, trợn mắt nhìn Tô Tần sửng sốt, mãi sau, mới ngoái đầu nhìn sang con Mực, gật gật đầu.

“Em đi rồi, con Mực… giao lại cho anh!”

Tô Lệ lại gật đầu.

Tô Tần lấy từ trong tay áo ra một đĩnh vàng, đưa cho Tô Lệ: “Lượng vàng này, coi như em trả lại cho anh.”

Tô Lệ đứng ngây người một lát, rồi đẩy trả đĩnh vàng: “Em hai, sao lại làm thế?”

Tô Tần lại dúi vào tay anh: “Anh cả, anh cầm lấy đi. Nó ở trong tay em, khác với ở trong tay anh.”

Tô Lệ dường như sực hiểu, tay run run cầm lấy đĩnh vàng, nâng trên hai tay, nước mắt từ từ ứa ra: “Em hai, mảnh ruộng của em… đã bán rồi?”

Tô Tần nghẹn ngào đáp: “Vâng!”

Tô Lệ đau đớn, đưa tay bưng chặt lấy hai mắt, ngồi thụp xuống đất, chết lặng hồi lâu, cuối cùng mới thốt lên một câu: “Em… bán cho nhà lý chính phải không?”

Tô Tần lại gật đầu: “Vâng, bán cho nhà lý chính!”

Tô Lệ lại cúi gằm mặt, hồi lâu sau, cắn chặt răng, không nói thêm lời nào nữa.

“Anh cả,” Tô Tần chậm rãi nói. “Em giữ lại năm mẫu ruộng trồng dâu, coi như… coi như là của cô ấy. Mấy ngày nữa, anh hãy tới nhà lý chính cầm khế ruộng về, nói rõ với cô ấy.”

Tô Lệ gật đầu.

“Còn nữa…” Tô Tần ngập ngừng một lát. “Nhờ anh cả nói lại với cha chuyện này.”

“Được!”

“Nói với mẹ rằng, Tân Nhi sẽ không đi lầm đường.”

“Được!”

Tô Tần từ từ quỳ xuống, lạy Tô Lệ mà nói: “Anh cả, xin nhận của em một lạy.”

Tô Lệ cũng lạy lại em trai vài lạy, rồi bốn bàn tay nắm chặt lấy nhau.

Tô Tần buông tay ra, đứng dậy bước đi.

Tô Lệ ngẩn ngơ một lát, vội đuổi theo vài bước, gọi: “Em hai!”

Tô Tần dừng bước, ngoảnh đầu lại: “Anh cả!”

Tô Lệ nghẹn ngào nói: “Nếu một ngày không đi nổi nữa, hãy… quay về!”

Tô Tần nhìn sững vào Tô Lệ, hồi lâu, gật đầu, rồi lập tức quay người, sải bước đi vội vã. Con Mực dường như cũng hiểu, song vẫn rầu rĩ trước cảnh biệt ly, lặng lẽ phủ phục dưới chân Tô Lệ, nhìn theo bóng Tô Tần xa dần, khẽ rên lên ư ử.

Bầu trời mây giăng xám xịt, gió Bắc ào ào.

Trong cung thành rộng lớn mà vắng lặng như tờ, lá rơi kín đất, vun thành từng đống, xoáy tròn trong gió lạnh, xào xạc liên hồi. Không ai quét dọn, cũng chẳng ai nhìn đến.

Trong ngự thư phòng không đốt lửa, Chu Hiển Vương đang ngồi lặng lẽ trước bàn hẳn là thấy lạnh, bèn mở mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, khép chặt vạt áo cừu thêm chút nữa, rồi lại nhắm hai mắt lại.

Bên ngoài có tiếng chân vọng vào. Nội tể mở cửa chính, kéo rèm vải, bước vào trong phòng, khẽ bẩm báo: “Khởi bẩm bệ hạ, ngự sử đại nhân cầu kiến!”

Chu Hiển Vương vẫn nhắm mắt, thờ ơ nói: “Truyền ngự sử vào!”

Ngự sử đại nhân bước vào, bái lạy mà nói: “Vi thần khấu kiến bệ hạ!”

“Có việc gì, nói đi!”

Ngự sử đại nhân chậm rãi nói: “Khởi bẩm bệ hạ, Nhan thái sư… đã quy tiên rồi!”

“Lão thái sư?” Chu Hiển Vương giật nảy mình, mở choàng mắt, nhìn ngự sử trân trối, hồi lâu mới thốt nên lời: “Bao giờ?”

“Giờ Tý đêm qua!”

Chu Hiển Vương lại nhắm nghiền hai mắt, im lìm không nói một lời.

Thời gian như ngưng trệ. Rồi Chu Hiển Vương đột nhiên lên tiếng, lẩm bẩm trong miệng: “Đi cũng tốt!” Dừng lại một lát, rồi đột ngột lớn giọng lặp lại. “Đi cũng tốt, đi cũng tốt!”

Ngự sử đại phu nghẹn ngào: “Trước khi quy tiên, thái sư đã gắng dùng hết sức tàn để thảo ra bản tấu chương này, nhờ vi thần dâng lên bệ hạ!” Rồi lấy từ trong ống tay áo ra một bản tấu chương, cung kính nâng lên trên đỉnh đầu bằng hai tay.

Nội tể bước lại, đỡ lấy tấu chương, trình lên Hiển Vương.

Chu Hiển Vương chẳng buồn xem, lạnh nhạt nói: “Đọc đi!”

Nội tể thu lại tấu chương, dõng dạc đọc: “Bệ hạ, lão thần sắp đi rồi. Đại Chu trải qua bảy trăm năm sóng gió, ngày một sa sút, cuối cùng phải tới tình cảnh hiện tại, đều là vì lão thần phò tá kém cỏi. Lão thần bất tài, chẳng còn mặt mũi nào khấu kiến tiên vương, nay quét sơn đen lên mặt, mong che đi nỗi hổ thẹn. Trước lúc ra đi, vi thần muốn tâu lời huyết lệ, khẩn cầu bệ hạ lắng nghe. Trời không thể một ngày không trăng, nước không thể một ngày không hậu. Vương hậu đã băng hà hơn sáu năm, bệ hạ ngày đêm đau khổ, thề không lập hậu mới, thực khiến lão thần lo lắng. Lão thần đã nhiều lần khuyên can, mà bệ hạ không nghe. Đại Chu tuy suy, song vẫn là Đại Chu. Long thể của bệ hạ, càng phải giữ gìn. Lão thần đi rồi, tấu này coi như dùng cái chết để can gián…”

Nội thần đọc xong, gấp tấu chương lại, đặt trả lên mặt bàn Hiển Vương.

Chu Hiển Vương trầm ngâm một hồi, rồi ngẩng lên nói với ngự sử: “Lão thái sư đã tận lực, cũng đã tận trung rồi. Truyền chỉ, rửa sạch sơn đen trên mặt lão thái sư, mai táng bên mộ tiên vương theo lễ công, cả nước để tang một ngày.”

Ngự sử khấu đầu nói: “Vi thần thay lão thái sư đa tạ long ân của bệ hạ!”

“Còn nữa,” Chu Hiển Vương chậm rãi nói, “cho đại vu chúc truyền cáo với lão thái sư khẩu dụ của quả nhân, trăng đã lặn rồi, sao có thể sáng trở lại? Trời sắp sập rồi, long thể còn có ích chi? Lời can gián của lão thái sư, quả nhân không thể làm theo!”

Ngự sử bật khóc mà nói: “Vi thần lĩnh chỉ! Bệ hạ vạn an, vi thần cáo lui!”

Ngự sử bái lạy rồi lui ra. Chu Hiển Vương lại nhắm mắt, bầu không khí chết lặng lại một lần nữa bao trùm khắp thư phòng, chỉ chốc chốc vẳng lại tiếng gió thổi ào ào, tiếng lá bay xao xác bên ngoài, và tiếng giọt đồng hồ thi thoảng vọng lên bên cửa.

Lại một hồi lâu nữa, Chu Hiển Vương bỗng mở choàng mắt, nhìn vào chiếc đồng hồ nước, rồi quay ra ngoài cửa gọi: “Người đâu!”

Nội tể vội vã bước vào.

“Nhìn đồng hồ xem, giờ nào rồi?”

Nội tể bước lại trước đồng hồ, xem xong bèn bẩm báo: “Hồi bẩm bệ hạ, đã tới giờ Thìn!”

Chu Hiển Vương vội vàng đứng dậy: “Nhanh lên, tới cung Tịnh An!”

Nội tể vội bước lại, đỡ lấy Chu Hiển Vương, hai người sải bước tiến về phía cung Tịnh An. Cung chính đã đứng hầu sẵn ở đó, khấu kiến Hiển Vương xong, bèn đưa Hiển Vương tới trước giường phượng.

Hiển Vương khoanh chân ngồi xuống, nhắm mắt ngưng thần.

Ngồi được một lát, Hiển Vương mở mắt, nhìn cung chính với ánh mắt băn khoăn: “Giờ Thìn đã tới, sao không nghe thấy tiếng đàn?”

Cung chính cũng ngạc nhiên: “Hẳn là cầm sư ngủ quên rồi chăng?”

Nội tể lắc đầu: “Trừ ngày mưa tuyết, cầm sư xưa nay rất đúng giờ, cứ tới giờ Thìn là gảy đàn, giờ Tỵ là dừng đàn, sáu năm qua ngày nào cũng như ngày nào, chưa từng có chuyện sai giờ.”

Hiển Vương sững người: “Không lẽ cầm sư ốm rồi ư?”

Nội tể vẫn lắc đầu: “Hôm qua nghe tiếng đàn của cầm sư, không giống với người bị bệnh.”

Hiển Vương lại thần ra một lát, rồi quay sang cung chính: “Các ngươi không quên mỗi ngày bỏ vài đồng xu đấy chứ?”

Cung chính vội đáp: “Khởi bẩm bệ hạ, chưa quên ngày nào. Dù là ngày mưa, cũng có người mang tới.”

Hiển Vương lại ngẩn người: “Hay là đã để cầm sư nhận ra rồi?”

Cung chính lắc đầu nói: “Không thể! Cầm sư gảy đàn, chưa từng mở mắt. Hơn nữa, người nô tài sai tới bỏ tiền đều cải trang thành dân thường, tới vào các giờ khác nhau, chẳng khác gì khách qua đường. Có lúc ba đồng, có lúc năm đồng, có lúc một đồng. Nô tài tính toán cả rồi, nếu không bệnh tật gì, cầm sư chắc chắn không phải lo chuyện ăn mặc.”

“Vậy thì tốt!” Hiển Vương thở phào. “Cầm sư là người tự trọng, không muốn nhận bố thí của người khác. Hãy đợi thêm một lát nữa, hẳn là cầm sư có chuyện gì nên chậm trễ một chút thôi!”

Mọi người lại đợi thêm một lát, vẫn không nghe thấy tiếng đàn, bắt đầu lo lắng.

Hiển Vương ngẫm nghĩ một thoáng, nói với cung chính: “Ngươi hãy sai người ra ngoài xem thử, liệu có phải cầm sư đã xảy ra chuyện gì không?”

Cung chính phái vài cung nhân nhanh chóng đi ra ngoài. Khoảng nửa canh giờ sau, quay lại bẩm báo: “Khởi bẩm bệ hạ, cầm sư không có ở ngoài cung!”

Hiển Vương vội hỏi: “Cầm sư ở đâu?”

“Thần không biết. Có điều, vừa nãy thần dò la trên phố, có nghe được tin tức của cầm sư.”

“Ồ, tin gì vậy?”

“Có người nói với vi thần rằng,” cung chính do dự một lát mới hạ giọng bẩm báo, “không hiểu vì sao cầm sư phát tài nhanh thế. Mấy ngày nay, cứ sau buổi trưa là đi dạo quanh phố, hôm trước còn đi sửa sang lại cỗ xe kiệu, hôm qua lại mua một con ngựa tốt. Thần ngờ rằng, cầm sư có lẽ sắp sửa đi xa!”

Nghe những lời này, Hiển Vương mặt mày biến sắc, thẫn thờ một lát, rồi thở dài thườn thượt, đột nhiên nước mắt tuôn rơi, lẩm bẩm một mình: “Lão thái sư đi rồi. Còn cầm sư… cũng sắp cao chạy xa bay, rời bỏ quả nhân rồi! Cầm sư… cầm sư… rời bỏ quả nhân rồi! Cầm sư nói đi là đi rồi! Vương hậu, Tuyết Nhi, Vũ Nhi, lão thái sư, rồi giờ là cầm sư, mọi người đều lần lượt rời xa quả nhân mà đi… Đi rồi, đi rồi, đi hết cả rồi! Than ôi…”

Hiển Vương càng nói càng chậm, càng nói càng đau lòng, giọng nói cứ nhỏ dần, cuối cùng hai tay bưng mặt khóc hu hu hệt như trẻ nít. Nội tể, cung chính và những người có mặt mắt thấy tai nghe cảnh tượng này, thảy đều đau đớn trong lòng, đồng loạt quỳ sụp xuống đất, khóc thất thanh, đua nhau dập đầu dưới đất, vọng lên những tiếng “bịch bịch” lộn xộn.

Mọi người đang lúc thống thiết, bỗng có cung nhân canh gác trong đại điện phía trước hối hả tiến lại, bước vào trong cửa, đang định bẩm báo, thấy cảnh tượng này thì đứng khựng lại. Nội tể nghe tiếng bước chân, quay đầu lại nhìn, thấy cung nhân hớt hải chạy đến, bèn đứng dậy, kéo cung nhân sang một bên hỏi: “Có chuyện gì mà cấp bách thế?”

Cung nhân nói: “Cung môn uý bẩm báo, có sĩ tử cầu kiến bệ hạ!”

“Sao?” Nội tể sửng sốt. “Là sĩ tử nào? Từ đâu tới?”

“Tên gọi Tô Tần, nói là tới từ núi Vân Mộng!”

“Núi Vân Mộng?” Nội tể ngẫm nghĩ một lát, đột nhiên như sực nhớ ra, vội giục. “Mau lên, mời sĩ tử vào!”

Cung nhân vội vàng lui ra.

Nội thần quay lại, bước tới bên Hiển Vương, khẽ bẩm báo: “Khởi bẩm bệ hạ, có sĩ tử từ núi Vân Mộng tới, nói là muốn cầu kiến bệ hạ!”

Hiển Vương đang trong cơn sầu thảm, nghe thấy vậy, bèn ngước cặp mắt đẫm lệ nhìn nội thần, sửng sốt: “Núi Vân…” Chữ “Mộng” còn chưa kịp thốt ra khỏi miệng, Hiển Vương đã tinh thần phấn chấn, đứng bật dậy hỏi liền. “Mau lên, cao sĩ ở đâu?”

“Lão nô đã sai người cho truyền!”

Hiển Vương phấn khởi ra mặt, đi đi lại lại trong cung vài vòng, đột nhiên quay sang nội tể nói: “Chỗ này không phải nơi tiếp đón cao sĩ. Truyền cao sĩ tới ngự thư phòng yết kiến!”

Nội tể vội nói với cung chính: “Bệ hạ có chỉ, truyền cao sĩ núi Vân Mộng tới ngự thư phòng yết kiến!” Nói xong, đỡ Hiển Vương bước nhanh về phía ngự thư phòng.

Tô Tần ăn mặc sang trọng, đúng kiểu cách danh sĩ, khác một trời một vực so với Tô Tần trước đây. Được hai cung nhân dẫn đường, Tô Tần rảo bước đi vào cổng cung Đại Chu.

Đây là lần thứ hai Tô Tần vào cung. Lần đầu tiên cách đây sáu năm, lúc đó Tô Tần chỉ là một kẻ thứ dân gỡ vương bảng, bị giáp sĩ áp giải vào cung, trong lòng kinh hãi, chẳng còn tâm trí đâu mà nhìn ngắm quang cảnh xung quanh. Lần này thì khác, thời thế thay đổi, bản thân đã tu luyện năm năm ở Quỷ Cốc, lại từng du ngoạn Tắc Hạ, tuy chưa thành danh, song đã mang tâm thái xem thường thiên hạ. Giờ vận lên mình bộ trang phục hào nhoáng, cũng coi như là danh sĩ phong lưu, do vậy từ lúc bước vào cửa cung, Tô Tần đã không chút rụt rè, mà ngẩng cao đầu, cất bước đĩnh đạc. Ngược lại, hai cung nhân vẻ khúm na khúm núm, bước líu ríu chạy trước chạy sau Tô Tần.

Sắc trời xám xịt, gió Bắc từng cơn, cỏ hoa héo úa, cây cối trơ cành, lá cây rụng đầy mặt đất không người quét dọn, một vẻ tiêu điều bao phủ khắp cung thành, trông rất đỗi hoang lương. Nhớ lại khúc nhạc cầm sư vừa gảy vài ngày trước, Tô Tần bất giác thở dài, bước chầm chậm lại.

Đi chưa được bao xa đã tới chính cung. Nhìn toà kiến trúc, quả là hùng vĩ. Trước điện là một khoảng sân rộng rãi, bày một hàng chín chiếc đỉnh lớn, cao đến ngang trán, phía dưới còn có chân đế. Tô Tần tuy thân cao tám thước, song đứng bên đỉnh, nếu không kiễng chân, hẳn cũng không thể nhìn được vào bên trong.

Nếu không nhìn thấy cảnh tượng tiêu điều bao phủ cung thành, chỉ trông chín chiếc đỉnh kia, hẳn bất cứ người nào cũng phải cúi đầu sùng kính.

Tô Tần đi qua chín chiếc đỉnh, đang than dài thở ngắn, bỗng có cung nhân truyền chỉ ở phía trước: “Bệ hạ có chỉ, truyền cao sĩ núi Vân Mộng tới ngự thư phòng yết kiến!”

Hai cung nhân vội vã quay lại, dẫn Tô Tần đi vòng qua chính điện, hướng tới ngự thư phòng. Sau vài khúc rẽ, một cung nhân bèn nói: “Đã tới ngự thư phòng, xin Tô Tử chờ cho một lát!”

Nội tể nghe tiếng liền bước ra đón, dẫn Tô Tần vào trong phòng.

Chu Hiển Vương ngồi ngay ngắn trên ngai vàng. Tô Tần bước tới, quỳ xuống bái lạy: “Thảo dân Tô Tần khấu kiến bệ hạ!”

Chu Hiển Vương chưa kịp đáp lời, lập tức sốt sắng hỏi ngay: “Tô Tử có phải tới từ núi Vân Mộng?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Tô Tần lại bái lạy, “thảo dân Tô Tần đúng là tới từ núi Vân Mộng!”

Trong ánh mắt Chu Hiển Vương bừng lên một vẻ trông chờ: “Tô Tử tới từ núi Vân Mộng, hẳn có biết Quỷ Cốc tiên sinh?”

“Quỷ Cốc tiên sinh chính là ân sư của thảo dân!”

“Sao kia?” Hiển Vương vô cùng kinh ngạc, đứng dậy bước tới trước mặt Tô Tần, đích thân đỡ Tô Tần dậy, nhìn kỹ Tô Tần một lượt từ đầu đến chân, gật gù nói. “Tô Tử quả nhiên là cao sĩ!” Rồi chỉ vào vị trí khách phía trước mặt. “Tô Tử, mời ngồi!”

Tô Tần vòng tay vái tạ: “Thảo dân đa tạ long ân của bệ hạ!”

Chu Hiển Vương trở lại chỗ ngồi, Tô Tần cũng ngồi xuống chỗ. Nội tể sai cung nữ bưng trà thơm lại, bày lên bàn. Tô Tần nâng chén lên, nhấp một ngụm, rồi đặt xuống.

Chu Hiển Vương cố gắng kiềm chế cơn xúc động trong lòng, ngả người về phía trước, khẽ hỏi: “Xin hỏi Tô Tử, bên cạnh Quỷ Cốc tiên sinh, phải chăng có một nữ tử?”

Tô Tần vòng tay đáp: “Khởi bẩm bệ hạ, bên cạnh tiên sinh quả có một nữ tử, chính là sư tỷ của thảo dân.”

“Sư tỷ?” Chu Hiển Vương ngây người, vẻ thất vọng hiện trên nét mặt, song vẫn chưa chịu bỏ cuộc, lại nhoài người hỏi tiếp. “Bên cạnh Quỷ Cốc tiên sinh còn có nữ tử nào khác không?”

“Bên cạnh tiên sinh, chỉ có mình sư tỷ là nữ tử.”

“Vậy…” Chu Hiển Vương khựng lại một lát mới hỏi tiếp, “sư tỷ của Tô Tử tên gọi là gì?”

“Ngọc Thiền!”

“Ngọc Thiền?” Chu Hiển Vương mắt bỗng sáng ngời. “Phải chăng vị sư tỷ đó có đeo một con ve sầu bằng ngọc trắng trên cổ?”

“Khởi bẩm bệ hạ, con ve sầu ngọc không lúc nào rời khỏi người sư tỷ!”

“Là Vũ Nhi!” Chu Hiển Vương vui mừng tột độ, nước mắt ứa ra giàn giụa, vội vàng đưa ống tay áo lên lau, quay sang nội tể, giọng đầy kích động. “Ngươi nghe thấy gì chưa? Là Vũ Nhi, Vũ Nhi của quả nhân!”

Nội tể cũng vui mừng quá đỗi, nước mắt cứ thế tuôn rơi, phải quay mặt đi hướng khác.

Nhìn cảnh tượng này, trong lòng Tô Tần bất giác trào dâng một nỗi xót xa, khoé mắt cay sè, nước mắt cũng suýt trào ra, bèn đưa ống tay áo lên thấm vội.

Hiển Vương lại lau nước mắt, quay sang Tô Tần, nghẹn ngào hỏi: “Xin hỏi Tô Tử, Vũ… Vũ Nhi… có khoẻ không?”

Tô Tần gật đầu, giọng cũng nghẹn lại: “Khởi bẩm bệ hạ, sư tỷ mọi việc đều tốt đẹp!”

“Vũ Nhi làm gì trong núi?”

“Theo Quỷ Cốc tiên sinh tu đạo.”

“Tô Tử có thể kể chuyện của Vũ Nhi chăng?”

Tô Tần gật đầu, kể tường tận một lượt từ chuyện Ngọc Thiền học y thuật thế nào, tu đạo ra sao, rồi tới những chuyện thường ngày diễn ra trong núi. Chu Hiển Vương nghe mà tinh thần phấn chấn, sắc mặt rạng ngời, chỉ hận một nỗi không thể vứt bỏ mọi ưu phiền trước mắt, đi ngay tới Quỷ Cốc, cùng Vũ Nhi của ông tu đạo.

Kể chuyện hồi lâu, Chu Hiển Vương bèn hỏi: “Các sĩ tử đều đã xuất sơn, cớ sao Vũ Nhi… Vũ Nhi vẫn không xuống núi?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Tô Tần vái mà nói, “trần thế nhơ nhớp, sư tỷ tâm hồn cao khiết, không muốn rời núi.”

Chu Hiển Vương cúi thấp đầu, suy nghĩ một lát, rồi từ từ ngẩng lên, khẽ gật đầu: “Vũ Nhi không xuống núi… không xuống núi…” Thở dài một tiếng, rồi cao giọng. “Không xuống núi cũng tốt! Vũ Nhi không xuống núi, tốt lắm, thực là tốt lắm! Biết được tin của Vũ Nhi, quả nhân cũng đã trút bỏ được tâm sự nặng trĩu trong lòng!” Dừng lại một lát, dường như chợt nhớ ra điều gì, lại sốt sắng hỏi. “Xin hỏi Tô Tử, bao giờ lại lên núi?”

Tô Tần lắc đầu: “Thảo dân xuống núi, sẽ không quay về nữa!”

“Ồ?” Chu Hiển Vương vội hỏi. “Tô Tử có dự định gì chăng?”

Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng đầu lên hỏi: “Thảo dân có một lời, dám hỏi bệ hạ có muốn nghe chăng?”

“Tô Tử cứ nói!”

“‘Dưới khắp gầm trời, đâu chẳng đất vua. Men khắp bến bờ, đâu không thần tử’. Phóng mắt nhìn ra, thiên hạ vốn là thiên hạ của bệ hạ, vạn dân vốn là dân chúng của bệ hạ. Song giờ đây lễ băng nhạc hoại, cương thường rối loạn, chư hầu tranh bá, bách tính lầm than. Thảo dân thực lòng muốn biết, liệu bệ hạ có ý nguyện dẹp loạn phục chính, trung hưng Chu thất?” Nói tới đây, Tô Tần nhìn chằm chằm vào Chu Hiển Vương, ánh mắt tràn đầy kỳ vọng.

Chu Hiển Vương cúi đầu, trầm ngâm suy nghĩ. Hồi lâu sau, Chu Hiển Vương mới ngẩng lên, cười gượng một tiếng, khẽ lắc đầu: “Lời Tô Tử nói, từng là chí nguyện của quả nhân hai mươi lăm năm về trước, bởi lẽ lúc đó, quả nhân huyết khí phương cương, cứ ngỡ việc gì cũng làm được. Song giờ đây đã hết rồi! Quả nhân đã nhìn thấu, thiên hạ là thiên hạ, dân chúng là dân chúng, quả nhân là quả nhân…” Rồi dừng lại, khép hờ hai mắt, dường như tất cả những chuyện trước mắt chẳng còn liên quan gì tới mình, mãi hồi lâu mới thốt ra câu cuối cùng. “Họ muốn tranh giành, cứ để họ tranh giành đi!” Nói tới đây, Chu Hiển Vương nhắm nghiền mắt lại.

Tô Tần thở dài một tiếng, đứng dậy khấu lạy mà nói: “Bệ hạ có thể nhìn thấu suốt những điều này, thảo dân đã thấy yên tâm rồi. Bệ hạ bảo trọng, thảo dân cáo lui!”

Nghe thấy hai chữ “cáo lui”, Chu Hiển Vương lại mở mắt, nhìn kỹ Tô Tần một chốc, rồi khẽ thở dài một tiếng: “Tô Tử muốn đi, quả nhân cũng không thể nài ép ở lại. Quả nhân vốn định ban thưởng vật gì đó cho Tô Tử, song nhìn áo mũ của Tô Tử, thì chỗ quả nhân đây quả thực còn bần hàn hơn nhiều. Nói ra Tô Tử đừng cười, Chu thất túng thiếu, đã năm năm nay quả nhân chưa may một bộ trang phục mới!”

Nghe những lời này, Tô Tần mặt nóng ran, như thể vừa bị một cái tát tai trời giáng, vô cùng hối hận, đáng lẽ không nên mặc bộ áo cừu sang trọng này vào cung, ra vẻ giàu có trước mặt thiên tử. Lại nghĩ đường đường là Chu thất, vậy mà năm năm qua, thiên tử không may nổi một bộ trang phục mới, Tô Tần càng thấy đau xót trong lòng.

Trầm ngâm một lát, Tô Tần lại lạy ba lạy: “Thảo dân đa tạ lòng hậu ái của bệ hạ! Bệ hạ bảo trọng, thảo dân cáo lui!” Lại lạy thêm lần nữa, rồi mới đứng dậy, từ từ lui ra.

Chu Hiển Vương nhắm mắt lại, nói với nội tể: “Thay quả nhân cung tiễn Tô Tử!”

Tô Tần ra khỏi vương thành, đi thẳng tới tiệm may Vương thành đệ nhất tiễn. Ông chủ đích thân bước ra đón, tự tay gói ghém mấy bộ trang phục sĩ tử còn lại cho Tô Tần, rồi tiễn ra tận cửa.

Tô Tần đi thẳng tới Thái học, đến trước nhà của cầm sư, thấy cổng đóng, bèn đập cổng, song bên trong không có tiếng đáp. Tô Tần lại gõ thêm mấy lần nữa, vẫn không nghe thấy động tĩnh gì, bèn đẩy mạnh. Bên trong không khoá, cánh cổng kẽo kẹt bật tung ra.

“Tiên sinh!” Tô Tần lớn tiếng gọi.

Trong nhà không có một ai, chỉ có một con ngựa buộc dưới gốc cây, bên cạnh là một bó cỏ khô, sát tường là cỗ xe ngựa hôm trước. Tô Tần trong lòng kinh hãi, chạy xộc vào trong phòng. Đừng nói là người, đến cả cây đàn và cái bát mẻ của cầm sư cũng chẳng thấy đâu nữa.

Tô Tần sực nhớ ra một chuyện, vội bước về phía cỗ xe, thấy đã được sửa sang chỉn chu, trang trí lộng lẫy. Tô Tần thò đầu vào trong xe, bên trong có một tay nải, trong tay nải là bốn đĩnh vàng, bên cạnh có một tấm thẻ tre, viết rằng: “Mua ngựa sáu lượng, sửa xe hai lượng, số vàng thừa này, sĩ tử hãy cầm lấy. Chúc sĩ tử thuận buồm xuôi gió, muôn sự như ý. Lão hủ đi đây!”

Tô Tần cầm bốn đĩnh vàng trong tay, đứng sững sờ hồi lâu, mới chạy vội ra cổng, nhìn hút theo con đường phía trước mặt, quỳ sụp xuống đất, khóc nức nở mà rằng: “Tiên sinh ơi… là Tô Tần đã đuổi tiên sinh đi rồi!”

Tô Tần đánh xe ngựa đi về phía tây, hơn mười ngày sau thì tới Hào Quan.

Hào Quan do người Ngụy chiếm giữ. Tô Tần nộp thuế quan xong, tiếp tục đi về phía tây, hai ngày sau thì tới con đường cổ Hàm Cốc. Cỗ xe ngựa của Tô Tần lóc cóc chạy men theo con đường núi chật hẹp kẹp giữa hai vách núi, khoảng hai canh giờ sau, phía trước bỗng như sáng bừng. Cách đó không xa, có một phiến đá lớn sừng sững dựng đứng, bên trên viết hai chữ “Tần giới”.

Tô Tần nhảy xuống xe, phóng tầm mắt nhìn về phía xa, chỉ thấy hai bên núi cao dựng đứng, ở giữa là con đường hẹp chạy quanh co. Phóng tầm mắt tới nơi xa nhất, chính là cửa ải Hàm Cốc do thần tử nhà Chu dựa vào địa thế mà xây dựng từ thời Xuân Thu. Nhìn con đường độc đạo dựa vào thế núi này, quả là “một người giữ ải, vạn người khó qua”. Sau một hồi quan sát, Tô Tần bỗng bùi ngùi than thở: “Cửa ải hùng vĩ nhường này, dù có nghìn xe vạn mã, cũng biết triển khai thế nào đây?”

Tô Tần thúc ngựa tới trước cửa ải, thấy có vài chục lính canh gác đứng dàn hàng ở hai bên cửa ải rộng lớn. Trong cửa ải có hai con đường, một đường nhập quan, một đường xuất quan. Số người chờ đợi qua ải vào Tần rất đông, đang lần lượt bị tra xét, nộp thuế quan.

Tô Tần xếp ở cuối hàng, thấy bên cạnh là một ông lão, bèn vòng tay vái mà hỏi: “Xin hỏi lão trượng, thuế quan phải nộp thế nào?”

Lão trượng vái đáp lễ: “Hồi khách quan, đi người không nộp ba mươi Tần tệ, nếu có xe ngựa, nộp tám mươi Tần tệ. Nếu là thương nhân mang theo hàng hoá thì dựa vào giá trị của hàng hoá để tính, mười nộp một!” Rồi đưa mắt nhìn cỗ xe ngựa của Tô Tần. “Như khách quan đây, phải nộp tám mươi Tần tệ.”

Tô Tần hỏi: “Vãn sinh không có Tần tệ, nộp thế nào?”

Lão trượng chỉ tay vào một căn phòng bên cạnh: “Đó là nơi đổi tiền, có thể đổi Tần tệ.”

Tô Tần ngẩng nhìn, quả nhiên thấy bên cạnh có một gian phòng đổi tiền, bèn cảm tạ lão trượng, đi lại chỗ đó, lấy từ trong ống tay áo ra một lượng vàng, đổi được một trăm Tần tệ.

Tô Tần đánh xe tới cửa ải, một viên quan uý nhìn kỹ Tô Tần một lượt rồi hỏi: “Khách quan hẳn là sĩ tử tới Tần?”

Tô Tần vái mà nói: “Sĩ tử Lạc Dương Tô Tần bái kiến quan nhân!” Rồi lấy ra tám mươi Tần tệ, cung kính đưa cho quan uý bằng hai tay.

Quan uý không cầm lấy, mà ngồi vào bàn viết vài chữ “sĩ tử Lạc Dương Tô Tần” vào một cuốn thẻ tre, ghi rõ ngày, giờ, rồi bảo Tô Tần điểm chỉ vào.

Tô Tần điểm chỉ xong, quan uý nói: “Tô Tử có thể qua cửa ải được rồi!”

Tô Tần chìa ra số Tần tệ trong tay, ngạc nhiên hỏi: “Vậy chỗ thuế quan này…”

Quan uý chỉ tay vào vách tường bên cạnh: “Tô Tử xin hãy đọc!”

Tô Tần quay đầu lại nhìn, thấy trên vách tường dán một tờ thông cáo, bên trên viết một hàng chữ lớn: “Tần Công thủ dụ, phàm sĩ tử nhập Tần, đều không phải nộp thuế quan.”

Quan uý lại vái lần nữa, rồi chìa tay ra, làm động tác mời qua, cười mà nói: “Quan uý Hàm Cốc kính mời Tô Tử nhập Tần!”

Tô Tần vái tạ quan uý, rồi đánh xe qua cửa ải.

Đi qua cửa ải khoảng hơn chục bước, Tô Tần ghìm ngựa lại, ngoảnh đầu nhìn về phía tờ thông cáo, gật gù, khen thầm trong dạ: “Tần Công có lòng cầu hiền tinh tế tới mức này, hẳn sẽ thành đại sự!”

Có được ấn tượng tốt đẹp ban đầu, Tô Tần trong lòng phơi phới, tự tin rằng nước cờ của mình đã đi đúng chỗ. Tô Tần ra roi thúc ngựa, khi trời tối thì tới Hồ Thành, tìm một quán trọ nghỉ lại qua đêm.

Đêm đó, gió Bắc ồ ạt tràn về, thời tiết chuyển lạnh đột ngột. Đi tiếp về phía trước chính là Âm Tấn dưới chân Hoa Sơn, đường đi vẫn gập ghềnh khúc khuỷu, ngộ nhỡ tuyết rơi, chắc chắn không thể băng qua. Tô Tần trong lòng lo lắng, thức dậy rõ sớm, trời còn chưa sáng đã vội lên đường. Tới Âm Tấn, trời đã mờ sáng. Âm Tấn sớm đã bị người Tần chiếm cứ, đổi về tên cũ là Ninh Tần. Đi qua Ninh Tần liền tới Vũ Thành, vẫn là đường núi quanh co. Nhìn thời tiết này, Tô Tần lo sợ tuyết rơi lỡ việc, thấy ngựa vẫn khoẻ, bèn tiếp tục hành trình về tây, áng chừng đến tối sẽ trú lại Vũ Thành.

Đi được hơn mười dặm, quả nhiên trời đổ mưa tuyết mù mịt, gió như dao cứa, ào ào thổi thốc vào trong cổ. Gió cuộn tuyết bay mù mịt, vần vũ kín trời, chẳng bao lâu, toàn bộ vùng núi đã một màu trắng xoá, không còn phân biệt nổi đâu là đường, đâu là hố rãnh.

Tô Tần đi thêm một lúc nữa, tuyết đã phủ một lớp dày trên mặt đường.

Tô Tần sợ ngã xuống khe núi, bèn nhảy khỏi xe ngựa, đi trước dẫn đường, dò dẫm mà bước từng bước một, chậm chạp nhích lên. Lại đi thêm một đoạn nữa, sắc trời tối dần. Tô Tần không dám đi tiếp, muốn quay trở lại Ninh Tần, song đã muộn rồi. Tô Tần bắt đầu lo lắng, hối hận vì đã cố chấp ý mình, giờ ở vào nơi hoang vắng chẳng có thôn làng quán xá, tiến thoái lưỡng nan, không tiến không lùi lại càng nguy hiểm. Chưa nói đến cảnh một mình ở nơi hoang vắng, chỉ với gió tuyết như trước mắt, cũng khó lòng cầm cự nổi.

Đúng lúc này, phía trước xuất hiện hai ngả đường, không thấy có bất cứ một cột mốc đề tên. Tô Tần nhìn kỹ hai ngả đường, thấy rộng tương đương nhau, đều bị tuyết trắng phủ dày, không thể phân biệt rõ đâu là đường cái, đâu là đường rẽ. Tô Tần do dự một lát, thời tiết thế này, ngộ nhỡ đi sai đường, hậu quả khó mà tưởng tượng. Tô Tần dừng ngựa trước hai ngã rẽ, nhìn bên này một hồi, lại ngó bên kia một chặp, vẫn không thể quyết định được nên đi đường nào.

Tô Tần đang lúc hoang mang, bỗng thấy trên một ngả đường có một người đang tiến lại, khắp mình đầy tuyết, trên đầu quấn một chiếc khăn. Tô Tần mừng rỡ, vội vã bước lại đón đầu, gần tới nơi thì thấy đó là một bé gái mới lớn, trông bộ dạng giống như cư dân nơi này.

Tô Tần cúi gập người vái chào: “Xin hỏi cô nương, tại hạ muốn tới Vũ Thành, thì đi đường nào?”

Tiểu cô nương vái đáp lễ, chỉ vào con đường mình đang đi: “Quan nhân muốn tới Vũ Thành, hãy theo đường này!”

Tô Tần lại vòng tay nói: “Cảm tạ cô nương!”

Tiểu cô nương quan sát Tô Tần từ đầu tới chân, cười hỏi: “Quan nhân không phải người vùng này?”

“Hồi cô nương, tại hạ là người Lạc Dương Đông Chu, đang định tới Hàm Dương.”

“Nơi này cách Vũ Thành hơn hai mươi dặm, trời đã tối rồi, phía trước là đường núi dốc. Quan nhân lạ đường lạ đất, một mình đi trong đêm gió tuyết thế này, e rằng…” Tiểu cô nương ngập ngừng dừng lời.

Tô Tần than thở mà rằng: “Tại hạ vốn định nghỉ chân ở Ninh Tần, song lại nghĩ trời đột ngột chuyển lạnh, ngộ nhỡ tuyết rơi, lỡ mất việc lớn, mới vội lên đường gấp, định tới Vũ Thành ngay trong đêm. Nghe người ta nói, đi qua Vũ Thành thì không còn gập ghềnh nữa, nào ngờ… mưa tuyết tự dưng lại lớn thế này!”

Tiểu cô nương chỉ vào ngả đường còn lại, nói: “Tiểu nữ sống ở ngôi làng phía trước kia. Nếu quan nhân không chê, hãy tới nhà tiểu nữ nghỉ tạm một đêm, đợi mai trời sáng, lên đường cũng chưa muộn.”

Tô Tần vái lia lịa: “Tại hạ cảm tạ cô nương!”

Tô Tần bảo tiểu cô nương lên xe chỉ đường, một lát sau đã tới một thôn xóm.

Tiểu cô nương sống ở đầu thôn, trong một khu nhà khá rộng. Có một ông lão đang đứng trên sườn đồi cao trước cửa, dõi mắt nhìn ra phía xa. Tiểu cô nương bảo Tô Tần dừng ngựa, rồi nhảy xuống xe, cao giọng gọi: “Ông ơi!”

Ông lão không ngờ cháu gái mình trở về bằng xe ngựa, mừng rỡ kêu lên: “Đi lâu như vậy giờ mới về, cháu làm ông lo quá, đang đứng ngóng cháu đây!”

“Ông ơi, cháu có dẫn về một người!” Tiểu cô nương chạy lại gần ông, chỉ về phía cỗ xe ngựa.

Tô Tần cũng đã xuống xe, tiến lại gần, vái chào ông lão: “Vãn sinh Tô Tần bái kiến lão trượng!”

Ông lão nhìn Tô Tần một lượt, thấy quần áo sang trọng, xe đẹp ngựa tốt, biết không phải nhân sĩ bình thường, bèn gạt tiểu cô nương sang bên cạnh, vòng tay đáp lễ: “Lão hủ bái kiến quan nhân!”

Tô Tần lại vòng tay nói: “Lão trượng, vãn sinh là sĩ tử Lạc Dương, định tới Hàm Dương mưu sinh, đi qua vùng này, gặp đúng lúc trời tối, gió lớn tuyết dày, tình cảnh nguy khốn. Vãn sinh đang không biết phải làm sao thì may quá gặp được tiểu cô nương tốt bụng đây, bèn theo cô nương về xin tá túc một đêm, mong được lão trượng đồng ý.”

Tiểu cô nương níu tay ông, nũng nịu nói: “Ông ơi, là cháu mời vị quan nhân này về nhà mình đấy!”

Tô Tần lại vòng tay: “Lão trượng yên tâm, sáng sớm mai, vãn sinh sẽ lên đường ngay. Phí trọ đêm nay, vãn sinh sẽ trả đúng như phép tắc của quán trọ.”

Ông lão sầm ngay mặt xuống: “Sao quan nhân lại nói những lời như vậy! Quan nhân là quý khách, lão hủ gia cảnh bần hàn, muốn mời còn chẳng được, nói gì tới chuyện tiền nong?” Rồi quay sang tiểu cô nương. “Thu Quả, có quý nhân tới, mau gọi cha ra tiếp khách!”

Tiểu cô nương Thu Quả đắc ý liếc nhìn Tô Tần, rồi nhảy chân sáo đi vào, khuất sau cánh cổng gỗ. Ông lão quay sang Tô Tần, vái mà nói: “Quan nhân, mời vào hàn xá!”

Tô Tần đáp lễ: “Vãn sinh cảm tạ lão trượng đã chấp thuận cho ở lại!”

Vừa nói tới đây, từ trong sân vọng lại tiếng bước chân hối hả, Thu Quả cùng một hán tử cụt một cánh tay vội vã bước ra, phía sau còn có bốn năm đứa trẻ nữa. Hán tử nhìn Tô Tần mỉm cười, không hành lễ gì, chỉ đi thẳng tới bên xe, dắt ngựa vào trong cổng. Tô Tần vốn định chào hỏi, song thấy hán tử như vậy, cũng chỉ mỉm cười, rồi theo lão trượng vào trong nhà.

Hán tử cụt tay tháo ngựa khỏi xe, dắt ngựa tới tàu ngựa ở sân sau. Vừa vào trong sân, ông lão đã lớn tiếng nói vọng về phía bếp: “Bà nó ơi, có khách quý từ ngoài cửa ải tới, giết gà, mổ vịt, mở bình rượu lâu năm, làm vài món ngon nhé!”

Từ trong bếp có tiếng đàn bà đáp lời: “Biết rồi!”

Ông lão quay sang Tô Tần, cười nói: “Quan nhân, mời vào phòng khách!”

Tô Tần theo ông lão vào trong phòng, phân ngôi chủ khách ngồi xuống, rồi vòng tay vái mà nói: “Vãn sinh tới đây quấy rầy, lão trượng đã không trách, lại còn tiếp đãi nhiệt tình, chuyện này…”

“Quan nhân chớ nên khách khí,” lão trượng vòng tay đáp lễ. “Người Tần có tục, phàm là khách từ xa tới hàn xá, nhất thiết phải giết gà mổ vịt, bày tiệc thiết đãi. Quan nhân từ ngoài cửa ải tới, chính là khách quý, vì thời gian gấp rút, mới phải sơ sài thế này!”

Chưa đầy nửa canh giờ sau, hai thiếu phụ đã bưng rượu và thức ăn lại. Hán tử cụt tay sắp xếp xe ngựa xong, cũng quay trở vào. Ba người cùng ngồi uống rượu, trò chuyện. Tô Tần được biết thôn này gọi là thôn Tiểu Tần, người sống ở đây đa phần mang họ Tần. Khi Âm Tấn chưa được thu hồi, do làng này liền kề Âm Tấn, nên được tính là biên giới nước Tần, luôn có quân đội đồn trú, bởi vậy con đường phía trước cũng được sửa sang rộng rãi thêm. Ngày nay đến tận Hàm Cốc cũng đã thuộc về nước Tấn, nơi đây thành ra vắng vẻ, hiếm khi có khách lui tới. Hôm nay là trận tuyết lớn đầu tiên từ lúc vào đông, người Tần gọi đây là hỷ tuyết. Tô Tần vừa hay tới đúng hôm nay, quả là đã mừng lại thêm mừng, đối với người trong nhà, đây được coi là chuyện lớn.

Tô Tần và ông lão chuyện trò rôm rả, ý hợp tâm đầu, rượu cũng đã quá đà vài chén. Ăn uống xong xuôi, hán tử cụt tay dẫn Tô Tần tới một gian phòng, bên trong đã chuẩn bị sẵn một thùng nước nóng để tắm rửa. Thu Quả mang tới vài bộ quần áo sạch, để ở đó, rồi đóng cửa đi ra. Tô Tần tắm rửa, mặc quần áo xong, hán tử cụt tay bèn dẫn Tô Tần vào gian phòng bên cạnh. Trong phòng đã đốt lò sưởi, không khí ấm sực không vương một hơi giá lạnh.

Tô Tần tắt đèn, chui vào trong chăn. Mấy hôm nay, ngày nào cũng bôn ba trên đường, đa phần lại là đường núi gập ghềnh, người đã mệt nhừ, bữa tối nay lại thêm chút men rượu, được ngâm mình trong nước nóng, toàn thân thư thái vô cùng, vừa nằm xuống đã chìm vào giấc ngủ say sưa.

Nửa đêm, Tô Tần tỉnh lại, cảm thấy mót tiểu, đang định ra ngoài giải quyết, chợt nghe thấy bên ngoài vọng lại tiếng chân giẫm lạo xạo trên tuyết.

Tiếng động mỗi lúc một rõ, tiến thẳng đến trước cửa phòng. Tô Tần đang kinh dị, cửa phòng bỗng cót két một tiếng rồi hé mở, một luồng khí lạnh xộc thẳng vào trong. Tô Tần mở mắt ra nhìn, thấy một bóng đen lách mình vào trong, sau đó nhanh chóng khép cửa lại như cũ.

Tô Tần cả kinh, song suy nghĩ một thoáng, quyết định nhắm mắt lại, giả vờ đang ngủ say, xem thử kẻ kia muốn làm gì. Bóng đen cũng không lên tiếng, lẳng lặng lần tới bên giường, rồi bắt đầu cởi bỏ quần áo.

Trong nháy mắt, bóng đen đã cởi hết quần áo ngoài, chỉ còn lại một bộ đồ lót, đang định leo lên trên giường thì Tô Tần đã giật nảy người, ngồi bật dậy, quát lớn: “Ai?”

Bóng đen kinh hãi, ngã nhào xuống đất, co rúm người lại, toàn thân run bắn. Tô Tần cảm thấy không phải người xấu, vội thổi một mồi lửa, thắp sáng đèn dầu, quay đầu nhìn người kia, sửng sốt bật kêu lên: “Thu Quả?”

Tiểu cô nương Thu Quả vẫn rúm ró dưới nền nhà, mặt như màu đất, không nói được câu nào.

“Thu Quả cô nương,” Tô Tần thở phào một tiếng. “Canh ba nửa đêm, cô nương tới đây có việc gì thế?”

Thu Quả dường như cũng đã định thần lại, bèn nhổm dậy quỳ trên nền đất, sợ sệt nói: “Là ông tôi bảo tôi tới đây!”

“A?” Tô Tần kinh ngạc. “Lão trượng bảo cô nương tới đây làm gì?”

“Ngủ cùng quan nhân!”

“Ngủ cùng tại hạ?” Tô Tần kinh hãi. “Vì sao lão trượng lại làm vậy?”

“Ông tôi muốn tôi sinh một chắt nam. Ông nói, quan nhân nho nhã, có tướng làm quan, nếu ngủ cùng quan nhân, có thể sinh quý tử.”

“A…” Tô Tần càng bàng hoàng. “Tiểu cô nương còn ít tuổi như vậy, sao có thể sinh con được?”

“Quan nhân yên tâm,” tiểu cô nương đáp, “tôi đã mười ba, hai tháng trước đã thấy tháng, mẹ tôi nói có thể sinh con được rồi.”

“Thu Quả cô nương!” Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, rồi nói. “Chuyện này nhất quyết không thể được, cô nương hãy mau quay về đi!”

Thu Quả lắc đầu nói: “Tôi không thể quay về. Nếu tôi quay về, ông sẽ mắng tôi là đồ vô dụng!”

Tô Tần cuống lên: “Chuyện này… không thể được?”

Thu Quả van nài: “Quan nhân, hãy cho tôi ngủ lại đây! Trời lạnh thế này, tôi sẽ ủ ấm chân cho quan nhân!”

Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, khẽ thở dài rồi hỏi: “Thu Quả cô nương, cô nương ở phòng nào?”

“Tôi ngủ chung giường với bà nội!”

“Nghe lời tại hạ, mau mặc quần áo vào, về ngủ với bà đi! Còn ông của cô nương, đợi ngày mai, tại hạ sẽ giải thích với lão trượng.”

Thu Quả gật đầu, mặc quần áo vào, mở cửa phòng đi ra. Tô Tần nghe tiếng chân bước lạo xạo xa dần, rồi có tiếng mở cửa cót két vẳng lại, mới yên tâm đi ra ngoài tiểu tiện.

Khi trở lại phòng, Tô Tần càng nghĩ càng lo, bèn tìm một thanh gỗ, chống chặt bên trong cửa.

Buổi sáng hôm sau, Tô Tần mở cửa phòng, thấy tuyết trên mặt sân đã rơi dày cả thước. Lão trượng, Thu Quả và ba thiếu phụ đang xúc tuyết ngoài cổng, còn hán tử cụt tay lúi húi sửa chữa chiếc xe đẩy một bánh bằng bàn tay còn lại. Mấy đứa trẻ đang nghịch tuyết, cười đùa ầm ĩ, huyên náo cả một góc sân.

Nhìn thấy Tô Tần, hán tử cụt tay chẳng chút ngượng ngùng, chủ động chào hỏi: “Quan nhân, đêm qua ngủ có ngon không?”

Tô Tần gật đầu: “Ngủ rất ngon!” Rồi tiến lại gần, xem anh ta làm việc.

Giờ là ban ngày, nên Tô Tần vừa nhìn đã thấy rõ, đây là một hộ gia đình khá sung túc, bèn tiện miệng hỏi: “Tần huynh, xem gia cảnh nhà anh, cuộc sống cũng rất khấm khá. Hẳn gia đình anh là hộ lớn trong thôn?”

Hán tử cụt tay lắc đầu, nói: “Làm gì có chuyện đó! Người Tần chúng tôi nhà nào cũng thế này, còn lâu mới được xem là hộ lớn.”

“Nói như vậy, người Tần các anh quả là no ấm.”

Hán tử cụt tay cười giòn vài tiếng, rồi lại cắm cúi làm việc. Anh ta buộc một sợi dây thừng lớn vào chiếc xe đẩy, định thắt nút lại, song do chỉ có một cánh tay, cố mấy lần mà vẫn không thể thắt thành nút, bèn quay sang Tô Tần cười nhăn nhó mà nói: “Khổ quá, thiếu một cánh tay, làm gì cũng bất tiện!”

“Để tôi!” Tô Tần bước lại, chỉ loáng cái đã thắt xong sợi dây thừng.

Thắt nút xong, Tô Tần thấy tò mò, cười hỏi: “Tần huynh, tiện thể muốn hỏi anh một câu, vì sao lại mất cánh tay kia?”

Hán tử cụt tay cười buồn mà nói: “Sáu năm trước bị người Ngụy chém đứt!”

“Sáu năm trước? Nói như vậy, Tần huynh từng tham gia đại chiến Hà Tây?”

Hán tử cụt tay khẽ gật đầu, không giấu vẻ tự hào: “Phải! Một cuộc đại chiến như vậy, làm sao thiếu tôi được? Không giấu quan nhân, ba anh em chúng tôi đều đi cả!”

Tô Tần ngạc nhiên hỏi: “Theo Tần pháp, chẳng phải là bốn đinh lấy một sao? Cớ sao ba anh em Tần huynh đều đi cả?”

“Đúng là bốn lấy một,” hán tử cụt tay giải thích. “Nhà chúng tôi rút trúng em hai. Tuy nhiên bọn chó Ngụy chiếm Hà Tây của ta sáu mươi năm, Tần Công muốn thu hồi, người Tần ai cũng phấn chấn. Nghe nói nhân lực không đủ, Tần Công hiệu triệu người Tần tình nguyện tòng quân, tôi và em ba tranh nhau đi. Cha tôi nói, không phải tranh giành, nếu muốn đi, cả hai cùng đi. Vì thế mà ba anh em chúng tôi đều tham gia trận chiến này.”

“Ồ, hoá ra là vậy! Vậy hai người em của anh đâu rồi?”

Hán tử cụt tay sắc mặt ảm đạm, hồi lâu mới nói: “Cả hai… đều đã tuẫn thân vì nước!”

“Ồ?” Tô Tần sững lại một lát. “Dám hỏi Tần huynh, họ đã tuẫn thân như thế nào?”

“Là thế này,” hán tử cụt tay chậm rãi kể. “Riêng trong phạm vi hơn chục làng xóm quanh chỗ chúng tôi đã tập hợp được một đội quân nghìn người, đầu quân vào trung quân của Thương Quân, theo Thương Quân đi đánh Ngụy. Vào hôm đại chiến, chúng tôi hừng hực khí thế, phấn khởi chém giết suốt một buổi sáng, đúng là hả dạ. Không giấu quan nhân, chỉ riêng mình tôi đã chém chết bảy tên chó Ngụy, cứ chém được một tên, tôi lại cắt lấy một tai trái, đợi đến khi kết thúc trận chiến sẽ đi lĩnh thưởng.” Dừng lại một lát, mới nói tiếp. “Theo Tần pháp, cứ chém chết ba tên địch, phong tước một cấp. Hôm đó, ba anh em chúng tôi giết chết tổng cộng mười lăm tên Ngụy, đáng lẽ sẽ được phong tước ba cấp. Nào ngờ rạng sáng hôm sau, khi chúng tôi đang ngủ say sưa, chó Ngụy bất ngờ tập kích, khiến chúng tôi trở tay không kịp, đội quân nghìn người của chúng tôi gần như bị tàn sát toàn toàn, chẳng còn mấy ai sống sót. Hai em trai tôi lúc lâm nạn, một người vừa tỉnh giấc, một người vẫn đang ngủ mơ. Tôi nghe thấy có tiếng động lạ, bật dậy với lấy kiếm, vừa ra khỏi cửa trại thì một tên lính Ngụy vung đao chém tới, không kịp né tránh, chỉ kịp đưa tay lên đỡ. Thế là cả cánh tay rơi luôn xuống, tôi đau quá ngất lịm đi!” Anh ta dường như chìm đắm trong hồi ức xa xăm, hồi lâu sau mới thở dài não nề, nói tiếp. “Khi tỉnh lại, tôi thấy mình nằm trên giường, thầy thuốc đang đắp thuốc. Đương nhiên, bảy cái tai của chó Ngụy treo ở trong trại cũng không tìm thấy đâu nữa.”

“Tần huynh có hối hận không?”

“Hối hận?” Hán tử cụt tay liếc xéo Tô Tần. “Hối hận thì đâu phải là người Tần?”

“Nghe Tần huynh nói vậy, người Tần hẳn là rất thích đánh trận?”

Hán tử cụt tay ngẫm nghĩ một lát, rồi lắc đầu nói: “Có ai thích đánh trận đâu? Cầm thương ra sa trường, chẳng qua là việc bất đắc dĩ mà thôi!”

Tô Tần lấy làm lạ hỏi tiếp: “Đã không thích, Tần huynh vì sao không hối hận?”

“Không thích khác hoàn toàn với hối hận. Sinh ra là người Tần, Tần có chiến sự, sao có thể trốn tránh?”

Tô Tần sửng sốt: “Nói như vậy, người Tần đều sẵn sàng xả thân vì nước?”

Hán tử cụt tay không trả lời, từ từ di chuyển ánh mắt dõi về phía đỉnh núi xa xăm, một lát sau, bỗng ngâm nga khe khẽ:

“Ai nói không có áo?

Cùng anh chung áo hào.

Vua dấy quân chinh chiến,

Ta sửa sang giáo mâu,

Ta anh cùng theo nhau.”

Hán tử cụt tay âm sắc trầm trầm, giọng hát tràn đầy xúc cảm. Tô Tần vô cùng xúc động, cũng cất tiếng ngâm cùng:

“Ai nói không có áo?

Cùng anh chung áo trong.

Vua dấy quân chinh chiến,

Ta sửa sang mâu kích,

Ta anh cùng xung phong.

Ai nói không có áo?

Cùng anh chung áo choàng.

Vua dấy quân chinh chiến,

Ta sửa sang binh giáp,

Cùng anh ra sa tràng.(2)

“Không giấu quan nhân!” Hán tử cụt tay dừng ngâm. “Nếu nói hối hận, tại hạ chỉ hối hận một việc, chính là không thể tử chiến đường đường chính chính trên sa trường, mà lại để cho một tên chó Ngụy đánh lén, phạt đứt cánh tay!”

Tô Tần xúc động nghẹn ngào, trong lòng thầm nghĩ: “Hiểu nghĩa mà sinh dũng! Tấn có được thần dân sẵn sàng tử chiến, nếu không phải nội bộ tự loạn, liệt quốc sao có thể địch nổi?”

Tô Tần đang mải suy nghĩ, hán tử cụt tay bỗng nheo mắt lại, nhìn về phía núi xa, bất giác cảm thương thở dài thườn thượt, nửa như tự nhủ, nửa như nói với Tô Tần: “Than ôi, thật đáng tiếc! Tất cả trai tráng đều đã chết rồi, chết hết rồi, đều chết trong rạng sáng ngày hôm đó. Giờ nhà nào cũng chỉ còn lại toàn quả phụ, đám thiếu nữ mới lớn đừng nói là tìm một đấng phu quân tử tế, dù muốn tìm người què cụt như tôi đây cũng khó!”

Tô Tần cuối cùng đã hiểu vì sao tối qua Thu Quả lại xin ngủ cùng, khẽ thở dài một tiếng mà nói: “Chuyện đêm qua, mong Tần huynh thấu hiểu!”

Hán tử cụt tay gượng cười: “Quan nhân không ưng tiểu nữ, là do nó không có phúc phận!”

“Tần huynh!” Tô Tần nhìn thẳng vào hán tử, chậm rãi nói. “Người Tần có nguyên tắc của người Tần, người Chu có nguyên tắc của người Chu. Không phải là tại hạ không thích, mà là tại hạ có nguyên tắc của tại hạ.”

Hán tử cụt tay cười vang: “Xem ra, quan nhân là người làm đại sự. Chuyện cỏn con này, quan nhân hãy quên đi!”

Tô Tần cũng cười một tiếng: “Tần huynh không hổ danh là người Tần, thật hào sảng!”

Đúng vào lúc đó, Thu Quả bưng một chậu nước ấm lại, đặt trước mặt Tô Tần, đôi má ửng đỏ, không còn vẻ tự nhiên giống như hôm qua nữa, lí nhí nói: “Quan nhân, mời rửa mặt!”

Tô Tần đỡ lấy chậu nước, bất giác liếc nhìn Thu Quả. Hôm nay gió ngừng tuyết tạnh, Thu Quả không quấn khăn sùm sụp trên đầu, lại là ban ngày nên Tô Tần thấy rõ, tiểu cô nương khuôn mặt thanh tú, xinh xắn đáng yêu, tuy cơ thể vẫn còn mảnh dẻ, nét mặt non nớt, song cũng đã chớm dậy thì, bắt đầu bước vào tuổi xuân xanh.

Nhớ lại chuyện đêm qua, Tô Tần chợt nóng bừng mặt, nhìn Thu Quả cười gượng: “Cảm tạ Thu Quả cô nương!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử