Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 18
Chuốc vạ miệng, Miên Hương tàn hoa phấn
Giữ mánh lới, Bàng Quyên hủy binh thư

❊ ❊ ❊

Lầu Miên Hương cách lầu Nguyên Hanh không xa, chỉ chừng hai tầm tên bắn, mới được xây hai năm nay, nghe nói có chỗ dựa rất chắc chắn, người thì nói là một vị thiếu gia máu mặt, người lại bảo là hoàng thân quốc thích.

Công tử Hoa ăn vận như một thiếu gia giàu có, phe phẩy quạt lông, đi thẳng vào cửa lớn.

Má mì từ xa đã thấy, hớn hở chạy ra nghênh đón: “Vị thiếu gia này trông lạ quá, hẳn là lần đầu tiên đến đây?”

Công tử Hoa đưa mắt liếc ngang liếc dọc mấy cái, tiếp tục phe phẩy cánh quạt: “Nghe nói quý phủ nhiều hoa thơm cỏ lạ, bản thiếu gia muốn được mở mang tầm mắt, nên đến đây chiêm ngưỡng hoa thơm!”

“Vậy thì thiếu gia đã đến đúng chỗ rồi đấy!” Má mì nhanh nhẹn dẫn công tử Hoa đến đài Thưởng Hoa, mời ngồi xuống trước bàn, rồi vỗ tay gọi. “Các cô nương đâu, mau ra đón khách!”

Tiếng nhạc dìu dặt vang lên. Chốc sau, một thiếu nữ xiêm y trắng muốt đi trước dẫn đầu, hai mươi mấy cô gái xinh tươi như hoa theo sau, khoan thai lướt ra, đi qua hành lang cánh cung phía trước lầu trên, rồi tản ra đứng bên những cây cột chạm trổ, bày đủ kiểu làm duyên làm dáng, phô diễn vẻ yêu kiều, từng cặp mắt đong đưa liếc lại.

“Thiếu gia,” má mì chỉ tay vào đám cô nương, giọng đầy tự hào, “trong rừng hoa kia, có bông nào vừa mắt không?”

Công tử Hoa liếc qua một lượt, rồi sập cánh quạt trong tay cái “roẹt”, hai mắt nhắm lại.

Má mì xua tay, các cô nương yểu điệu khom lưng cúi chào, dịu dàng vâng một tiếng, rồi khoan thai lui đi trong tiếng nhạc.

“Thiếu gia thật đặc biệt!” Má mì giơ ngón tay cái lên trước mặt công tử Hoa, rồi lại vỗ tay, gọi lớn. “Mời Tứ Hương ra đây!”

Tiếng nhạc lại dìu dặt vang lên, bốn mỹ nữ tươi trẻ kiều diễm hơn hẳn uyển chuyển cất bước theo tiếng nhạc, đi theo một cô nương áo tía, từ một hướng khác thong thả bước ra. Cả bốn mỹ nữ đều ăn bận giản dị, phấn son phơn phớt, tay mang đàn cầm sáo tiêu, đứng dàn hàng trên đài hoa hình cánh cung, mỗi người một tư thế, nét mặt thẹn thùng nhìn công tử Hoa.

“Thiếu gia!” Má mì chỉ tay vào bốn thiếu nữ. “Bốn nàng này là Tứ Hương Xuân Hạ Thu Đông, sắc tài toàn vẹn, nổi danh An Ấp, chính là bộ mặt của lầu Miên Hương!”

Công tử Hoa đưa mắt nhìn ra, nhìn kỹ bốn người, hồi lâu vẫn không tỏ thái độ gì.

“Thiếu gia,” má mì nhìn thẳng vào công tử Hoa, hỏi, “trong Tứ Hương, có cô nào vừa mắt không?”

“Nghe nói còn có một hương, không biết có thể chiêm ngưỡng hoa dung hay chăng?”

Má mì xua tay. Trong tiếng nhạc, Tứ Hương xoay người lui ra.

“Con mắt của thiếu gia thực là sành điệu!” Má mì tiến sát lại gần công tử Hoa, hạ giọng nói nhỏ. “Nô gia sẽ cho thiếu gia chấm luôn Địa Hương.”

Không đợi công tử Hoa lên tiếng, má mì đã vỗ tay, nói lớn: “Thiếu gia chấm Địa Hương, mời Địa Hương xông hương tiếp khách!”

Tiếng nhạc lại ngân lên lần nữa.

“Thiếu gia, mời vào phòng!” Má mì cười rinh rích, chìa tay ra mời.

Công tử Hoa khẽ gật đầu, đứng dậy đi theo má mì, chậm rãi bước lên lầu trên, theo hành lang đến một căn phòng rộng rãi, hoa lệ.

“Thiếu gia, mời ngồi!” Má mì mời công tử Hoa ngồi xuống, ân cần giới thiệu. “Không giấu thiếu gia, Địa Hương cô nương vốn là công chúa của họ Lý trên núi Long Môn. Mười năm về trước, họ Lý vốn là vọng tộc quyền quý, sau đó gặp chuyện bất hạnh, ngày càng suy bại. Công chúa sớm mất cha mẹ, phải sống cùng huynh trưởng. Huynh trưởng mang theo gia sản rời khỏi núi Long Môn đến An Ấp, vốn định nhờ cậy một người quen để xin một chức sai nha, không ngờ chức còn chưa xin được, đã nợ lầu Nguyên Hanh một món nợ bạc lớn. Huynh trưởng hết cách, đành phải bán cô em cho bản lầu với giá rất cao. Địa Hương cô nương phẩm tính thanh cao, không tiếp đàn ông tầm thường. Người nhân phẩm cao quý như thiếu gia đây, nô gia cảm thấy hữu duyên nên mới cho gọi cô nương!”

Lời vừa dứt, từ phía ngoài đã có tiếng bước chân vọng lại, một cô nương khoan thai bước qua ngưỡng cửa. Công tử Hoa ngước nhìn, quả nhiên thấy cô nương này thoát tục khác thường, vóc dáng thanh tú, nhan sắc yêu kiều, cử chỉ đoan trang, phục sức hài hoà, tay ôm một cây cổ cầm đầu phượng, đôi mắt to trong suốt long lanh vô cùng khả ái.

Cô nương nhún gối chào, quay sang má mì cất giọng du dương: “Địa Hương xin chào mẫu thân!”

“Địa Hương,” má mì chỉ vào công tử Hoa, “vị thiếu gia này từ xa đến, con hãy tiếp đãi chu đáo!”

Địa Hương cô nương liếc mắt nhìn trộm, thấy công tử Hoa quả nhiên hình dung anh tuấn, phong thái ngời ngời, cũng thấy trong tâm rung động, bèn cúi đầu, cất giọng oanh vàng thỏ thẻ: “Tiện thiếp xin chào thiếu gia!”

Thanh đó, hương đó, khiến công tử Hoa trong lòng xao xuyến. Thế nhưng, lần này công tử Hoa đến đây không phải để thưởng hoa, mà còn chuyện lớn cần làm, bèn cố gắng kìm nén lửa tình, quay sang nói với má mì: “Địa Hương cô nương quả nhiên tuyệt sắc, thiếu gia đây coi như đã được mở rộng tầm mắt!”

Thấy công tử Hoa xếp quạt lại, quay mặt đi, Địa Hương cô nương có phần sượng sùng, đỏ mặt quay sang nói với má mì: “Mẫu thân, nếu không còn chuyện gì khác, Địa Hương xin trở về phòng!” Nói đoạn liền quay người, khoan thai bước ra khỏi cửa tựa như lúc đến.

Má mì trợn mắt há miệng, dằn dỗi với công tử Hoa: “Thiếu gia của tôi ơi, người đẹp đến vậy mà vẫn chưa lọt mắt ư?”

“Nghe nói quý lầu còn có một hương nữa, không biết có thật chăng?”

“Thiếu gia muốn nói tới Thiên Hương cô nương?”

Công tử Hoa phe phẩy cánh quạt: “Ở chỗ bà, hẳn cũng không nên giấu giếm mới phải!”

“Thiếu gia quả là người cao nhã!” Má mì khen một câu, rồi thở dài. “Than ôi, chỉ có điều Thiên Hương cô nương…”

Công tử Hoa hơi sầm mặt xuống: “Cô nương làm sao?”

“Không giấu thiếu gia…” má mì do dự một lát, rồi ghé sát tai công tử Hoa, hạ giọng thì thào, “Thiên Hương cô nương là người của thái tử gia, tuyệt đối không tiếp khách.”

Công tử Hoa lôi ra một túi tiền nặng trịch, đặt lên mặt bàn: “Chút tiền lẻ này, bản thiếu gia mua nàng hai canh giờ, chỉ cần được nhìn ngắm chốc lát, nghe nàng trò chuyện, chắc là được chứ?”

Má mì mở túi tiền ra, thấy toàn vàng thỏi, hai mắt đảo lia lịa một hồi, đoạn vơ ngay lấy túi tiền, cao giọng nói: “Thiếu gia! Ngài hãy đợi ở đây, nô gia sẽ đích thân đi mời cô nương đến!”

“Không cần!” Công tử Hoa đứng dậy, phe phẩy quạt. “Ta muốn tận mắt chiêm ngưỡng khuê phòng của Thiên Hương cô nương, coi như không đi uổng chuyến này!”

“Phải rồi! Phải rồi!” Má mì cười khanh khách. “Nô gia sẽ dẫn thiếu gia lên lầu, mời đi phía này!”

Gặp được sứ giả nước Tần Sư Lý Tật, coi như Trần Chẩn đã bỏ được tảng đá đè nặng trong lòng, trở về liền ngủ một giấc ngon lành.

Sáng sớm hôm sau, Trần Chẩn ngồi trên giường hồi lâu, hồi tưởng một lượt những chuyện hôm qua, đặc biệt là cuộc yết kiến Ngụy Huệ Vương, suy ngẫm kỹ lưỡng từng tình tiết, rồi mới thoải mái vươn người, thong dong bước ra sân.

“Chúa công, người đã nghỉ ngơi xong rồi đấy ư?” Thích Quang từ xa nhìn thấy, vội vã chạy lại, khom lưng chào hỏi.

Trần Chẩn vươn vai, vặn vẹo chân tay: “Này lão Thích, ta đang định tìm ngươi đây.”

“Tiểu nhân xin nghe lời căn dặn!”

“Không giấu gì ngươi, hiện giờ đã đến thời điểm hệ trọng. Nếu lần này lại không thành nữa, hẳn cuộc đời ta cũng chỉ dừng lại tại đây mà thôi!”

“Chúa công nhất định sẽ thành công!” Thích Quang nói chắc nịch.

“Tại sao ngươi lại khẳng định như vậy?”

“Còn phải nói nữa? Bệ hạ hai lần đích thân dìu chúa công dậy, lại để chúa công ngồi ở chỗ của Bạch tướng quốc trước đây, ý tứ chẳng phải đã rõ ràng hay sao?”

“Ha ha!” Trần Chẩn cười nói. “Mặc dù là vậy, nhưng nước mưa chưa rơi xuống đầu, mới chỉ nổi sấm thì vẫn chưa gọi là mưa.”

“Nghe chúa công nói vậy, phải chăng vẫn còn điều gì lo lắng?” Thích Quang hỏi.

“Đúng thế!” Trần Chẩn khẽ lắc đầu. “Chính là tay Công Tôn Diễn kia. Ngươi phải theo sát hắn, xem có những ai ra vào nhà hắn.”

“Chúa công!” Thích Quang chau mày. “Nếu quả thực là kẻ này ngáng đường, theo ý của tiểu nhân, cứ trừ khử hắn đi là xong!”

“Nhà ngươi đấy…” Trần Chẩn lừ mắt, “những điểm khác đều tạm, có điều cả ngày chỉ biết nghĩ đến trừ khử kẻ này thủ tiêu kẻ kia, như vậy không ổn! Thường có câu, tha được cho ai thì cứ tha, đối nhân xử thế, phải biết để lại đường lui cho mình. Ngươi thử nghĩ xem, Công Tôn Diễn không phải đơn thương độc mã, còn có bao nhiêu người trợ giúp cho hắn, hy vọng vào hắn. Đặc biệt là Chu Uy kia, từ năm ngoái đã chỉ mong đưa Công Tôn Diễn ngồi lên ngôi tướng quốc. Trong thời khắc hệ trọng này, chúng ta tuyệt đối không được sơ suất, chỉ sai một ly thôi sẽ thành công cốc. Hơn nữa, ngay cả một tên Bàng Quyên các ngươi còn không trừ khử được, nói gì tới Công Tôn Diễn? Ngươi vẫn chưa hiểu được hắn ghê gớm đến mức nào đâu, cái khác không nói, chỉ riêng thanh kiếm Ngô Câu trong tay hắn thôi cũng đủ khiến các ngươi bạt vía. Đó là thanh kiếm mà lão Bạch Khuê tặng lại cho hắn, nghe nói năm xưa Ngũ Tử Tư từng dùng, chém sắt như cắt đậu phụ!”

Thích Quang ngậm miệng, không dám nói thêm gì nữa.

“Đi đi! Căn dặn đám Đinh Tam, cho dù nhìn thấy gì cũng chỉ được ghi nhớ trong lòng, không được gây chuyện phiền phức!”

“Tiểu nhân tuân mệnh!”

Thích Quang lập tức phái Đinh Tam và một đám thuộc hạ nhanh nhẹn, hoặc cải trang thành thợ giày, hoặc hoá trang thành tiểu thương, quanh quẩn ở gần nhà Công Tôn Diễn, từ sáng đến tối không rời mắt khỏi cánh cổng gỗ mục nát cũ kỹ.

Vào lúc quá trưa, một người đàn ông lạ mặt dung mạo thanh tú đi thẳng tới nơi, nhìn dáng điệu, có vẻ như lần đầu tiên đến chốn này, quan sát một hồi lâu, lại hỏi một người đi đường, sau đó mới dừng lại trước cổng, gõ liền mấy tiếng. Thấy không có ai trả lời, bèn lên tiếng gọi: “Có ai ở nhà không?”

Công Tôn Diễn lê đôi guốc gỗ đi ra, quan sát một lượt, vẫn thấy không hề quen biết.

Người đến vòng tay hỏi: “Có phải Công Tôn tiên sinh không?”

Công Tôn Diễn gật đầu: “Nhân huynh là…”

Người đến lấy từ trong tay áo ra một thứ: “Tại hạ vô tình nhặt được thẻ tre này, nghe nói là của tiên sinh, nay đến để trả lại.”

Công Tôn Diễn nhận lấy nhìn, thấy chính là mảnh tre mà mình đã đưa cho Chu Uy, thì giật mình kinh ngạc, đưa mắt nhìn chằm chằm vào người đến, vòng tay đáp lễ: “Là tại hạ không cẩn thận đánh rơi, đa tạ nhân huynh!”

Người đến, chính là tỳ nhân đã cải trang.

Tỳ nhân lại vòng tay: “Công Tôn tiên sinh, tại hạ có một thỉnh cầu, mong tiên sinh tác thành.”

“Nhân huynh xin cứ nói!”

“Tại hạ đã đọc được một vài chữ trên thẻ tre, cảm thấy vô cùng thích thú. Nhưng thẻ tre này trước sau gián đoạn, khiến tại hạ ngứa ngáy trong tâm. Tại hạ rất muốn đọc thêm những thẻ khác, không biết ý tiên sinh thế nào?”

“Những thẻ tre này đều là đích thân tại hạ viết!” Công Tôn Diễn đáp. “Nếu nhân huynh có nhã hứng, xin mời vào hàn xá đọc tiếp.”

Tỳ nhân đa tạ, rồi theo Công Tôn Diễn vào trong, đi thẳng đến chính đường.

Thấy đống thẻ tre cuộn thành từng bó bày trên mặt đất, tỳ nhân ngẩn người, Công Tôn Diễn mời ngồi cũng không nghe thấy, vô thức ngồi thụp xuống đất, cầm luôn lên đọc.

Tỳ nhân đọc hết tấm này đến tấm khác, lại đọc hết bó này đến bó khác, hoàn toàn chìm đắm trong “Hưng Ngụy thập sách” của Công Tôn Diễn. Công Tôn Diễn ngồi bên cạnh, ánh mắt không rời khỏi đối phương.

Tỳ nhân đọc một mạch suốt một canh giờ, có thể là do ngồi lâu đâm mệt, nên ngồi bệt luôn xuống đất.

Công Tôn Diễn chậm rãi đứng lên, rót một bát nước trắng từ trong ấm, đặt lên bàn, vòng tay nói: “Tại hạ chẳng có gì khác, chỉ có nước trắng để mời nhân huynh mà thôi!”

Tỳ nhân cầm lấy bát nước, uống ừng ực một hơi, rồi đặt cái bát không xuống, vòng tay nói với Công Tôn Diễn: “Đa tạ tiên sinh!” Rồi chỉ tay vào cuộn thẻ tre trên đất. “Tiên sinh viết thật sâu sắc, đáng tiếc tại hạ trí nhớ kém cỏi, không thể nhớ cho hết được. Tại hạ có một thỉnh cầu, mong được tiên sinh chấp thuận.”

“Nhân huynh xin cứ nói!”

“Tại hạ muốn mang những cuộn thẻ tre này về hàn xá để từ từ nghiền ngẫm, không biết ý tiên sinh thế nào?”

“Ồ, việc này…” Công Tôn Diễn có vẻ băn khoăn.

“Đây là tâm huyết của tiên sinh, tại hạ hiểu!” Tỳ nhân mỉm cười. “Tiên sinh thấy như thế này có được chăng? Tại hạ mang một cuộn về đọc, đọc xong sẽ trả lại và mượn cuộn tiếp theo!” Rồi tháo lấy một miếng ngọc bội từ bên thắt lưng, đặt lên mặt bàn. “Dùng miếng ngọc bội này làm vật thế chấp, mong tiên sinh đồng ý.”

Công Tôn Diễn liếc nhìn miếng ngọc bội, biết ngay ông ta là nhân vật thế nào, liền cầm ngọc bội đưa trả lại, cười nói: “Nhân huynh khách khí rồi! Chẳng qua là tại hạ tuỳ hứng viết ra, nếu nhân huynh muốn đọc, tại hạ vui còn chưa hết, nói chi đến nhận vật thế chấp?”

Công Tôn Diễn lấy dây thừng buộc thẻ tre thành hai bó lớn, tổng cộng năm cuốn, đưa cho tỳ nhân: “Vốn định để nhân huynh mang đi hết, có điều chỗ này quá nặng, tại hạ lo nhân huynh mang đi không tiện, nên trước tiên để huynh mang đi một nửa. Đợi nhân huynh đọc xong, nếu vẫn còn có ý muốn đọc tiếp, chỉ cần phái người đến lấy là được.”

Tỳ nhân vòng tay vái tạ, rồi cáo từ ra về. Công Tôn Diễn tiễn ra đến cổng, nhìn theo tỳ nhân mỗi tay xách một bó sách tre, từ từ khuất dạng. Đang định quay vào, bỗng một cỗ xe ngựa phóng vụt đến, đột ngột dừng khựng lại cách Công Tôn Diễn chừng hai mươi bước.

Công Tôn Diễn đang sững người ngạc nhiên, thì thấy một người nhảy xuống xe, xua tay với phu xe. Phu xe lập tức đánh xe đi ngay.

Người vừa nhảy xuống là Sư Lý Tật. Nhưng ông ta đã cải trang, lúc này trông giống một thương nhân thu mua đồ cổ.

Sư Lý Tật đi thẳng tới trước cổng nhà Công Tôn Diễn, vòng tay thi lễ: “Xin hỏi tiên sinh, đây có phải là phủ của Công Tôn Diễn tiên sinh?”

Công Tôn Diễn gật đầu.

“Xin hỏi tiên sinh, Công Tôn Diễn tiên sinh có trong phủ không?”

“Tại hạ chính là Công Tôn Diễn, nhân huynh là…”

Sư Lý Tật lại vòng tay hành lễ: “Tại hạ Mộc Vũ Khuy, nghe đại danh của tiên sinh đã lâu, hôm nay tìm đến bái kiến!”

Công Tôn Diễn vòng tay đáp lễ: “Nhân huynh khách khí rồi. Tại hạ và Mộc huynh xưa nay không hề quen biết, Mộc huynh đến tệ xá, không biết có gì chỉ giáo?”

Sư Lý Tật giải thích: “Tại hạ thích chơi đồ cổ, hôm trước mua được một thanh kiếm, nghe nói là kiếm Ngô Câu. Người ta đồn rằng đây là thanh kiếm của Ngô Vương Hạp Lư, về sau ban tặng cho công thần Ngũ Tử Tư. Tại hạ không biết thật giả, đã dò hỏi khắp nơi, nghe nói tiên sinh am hiểu về kiếm, nên mới đến đây nhờ chỉ giáo.”

Nghe nói là kiếm của Ngũ Tử Tư, Công Tôn Diễn liền mỉm cười nói: “Nhân huynh đã là khách, vậy mời huynh vào hàn xá trò chuyện.”

Hai người đi vào chính đường, Công Tôn Diễn theo lệ thường lại rót ra một bát nước trắng: “Nhân huynh, mời uống nước!”

Sư Lý Tật ngồi ngay ngắn, hai tay nhận lấy bát nước, nhấp một ngụm nhỏ giống như thưởng trà, ngẫm ngợi một lúc, rồi khen: “Nước ngon!”

Công Tôn Diễn mỉm cười: “Người có thể cảm nhận được mùi vị của nước trắng, chắc chắn không phải tầm thường. Nhân huynh hãy đưa bảo kiếm ra!”

Sư Lý Tật mở hộp gấm mang theo, lấy ra bảo kiếm.

Công Tôn Diễn nhận lấy, quan sát một hồi, gõ búng mấy cái, lại hà hơi vào bảo kiếm, rồi chậm rãi nói: “Đây là kiếm giả!”

“Ồ…” Sư Lý Tật giả bộ kinh ngạc, “tại hạ bỏ ra trăm lượng vàng mới mua được kiếm này, sao có thể là kiếm giả?”

“Mộc huynh hãy nhìn xem,” Công Tôn Diễn chỉ vào thanh kiếm giả. “Kiếm này bề ngoài mặc dù trông giống Ngô Câu, nhưng lưỡi kiếm hơi khác. Ngô Câu thực nhọn nhưng không lộ, sắc nhưng không sáng, kiếm khí bức người, chém tới đâu là cắt sắt như cắt bùn, giết người không thấy máu. Nhìn kiếm này, lưỡi kiếm sáng loáng, nhưng không hề thấy kiếm khí, chỉ có thể để ngắm, mà không dùng được.”

Sư Lý Tật nhận lấy bảo kiếm, lại quan sát kỹ càng, dường như không tin cho lắm. Nhìn thấy có cái đe sắt gần đó, liền bước lại, vung kiếm chém xuống, đe không sứt mẻ chút nào, nhưng thanh kiếm lại gãy làm đôi.

“Quả nhiên là kiếm giả!” Sư Lý Tật rầu rĩ than. “Mộc mỗ đời này chẳng có mong muốn gì khác, chỉ thích Ngô Câu, không ngờ lại liên tiếp bị lừa, cả trăm lượng vàng chốc lát đã thành vô ích, ngay cả bóng dáng của Ngô Câu cũng không được thấy. Thật đáng buồn thay!”

Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn Sư Lý Tật, mỉm cười nói: “Nếu Mộc huynh muốn thấy Ngô Câu, đâu có gì khó?”

“Ồ?” Sư Lý Tật tỏ vẻ mừng rỡ, nhưng lập tức lại đổi sang ủ rũ. “Không phải lại là kiếm giả đấy chứ?”

Công Tôn Diễn cười nhạt, đi tới bên tường, lấy thanh kiếm của Ngũ Tử Tư mà Bạch Khuê ban tặng xuống, đặt lên mặt bàn: “Mộc huynh, hãy nhìn kiếm này.”

Sư Lý Tật cầm lấy bảo kiếm, vừa khẽ rút, lập tức một luồng hàn khí vọt ra khỏi vỏ. Thổi khẽ một hơi, kiếm ngân lên u u. Búng thử, thấy kêu leng keng.

Sư Lý Tật hết lời khen ngợi: “Bảo kiếm, quả là bảo kiếm!”

“Mộc huynh hãy nhìn xem.” Công Tôn Diễn chỉ vào kiếm, giảng giải. “Đây mới thực là kiếm của Ngũ Tử Tư, được đúc bởi kiếm sư nổi tiếng một thời là Can Tương, ở đây có dòng minh văn của Can Tương. Về sau, kiếm này rơi vào tay Ngô Vương Hạp Lư, sau khi phá Sở, Hạp Lư đã tặng lại kiếm cho Ngũ Tử Tư. Về sau, Ngũ Tử Tư dùng kiếm này tự vẫn.” Nói đoạn, mang kiếm đến trước đe sắt, vung tay chém xuống, đe sắt liền bị phạt bay một góc, song lưỡi kiếm vẫn không hề hấn gì.

“Công Tôn huynh!” Sư Lý Tật vòng tay nói. “Kiếm này có thể bán chăng? Mộc mỗ nguyện bỏ ra ngàn vàng!”

Công Tôn Diễn lắc đầu: “Đây là kiếm do tiên sư tặng cho, cho dù là vạn lượng, tại hạ cũng không thể bán!”

Sư Lý Tật lại vòng tay vái: “Tại hạ không biết, vô tình mạo phạm tiên sư, mong Công Tôn huynh thứ tội!”

Công Tôn Diễn cười nói: “Mộc huynh đã không biết, vậy cũng bất tất phải khách khí!”

Sư Lý Tật nhìn vào đống thẻ tre trên đất: “Công Tôn huynh đang đọc sách quý gì vậy?”

“Mộc huynh cười chê rồi!” Công Tôn Diễn khẽ cười. “Chỉ là tại hạ tuỳ hứng viết ra, chẳng phải sách quý gì!”

“Ồ? Là trước tác của Công Tôn huynh ư? Tại hạ xin đọc qua, được chăng?”

“Mộc huynh xin cứ tự nhiên!”

Sư Lý Tật cầm lấy một cuộn thẻ tre, ngồi ngay ngắn, thu liễm tinh thần rồi giở đọc. Mới đọc được mấy dòng, lập tức lộ vẻ kính trọng, liên miệng tấm tắc: “Sách hay! Sách hay lắm! Có điều…” Nói rồi lại ngập ngừng.

“Có điều làm sao?”

“Đặt nhầm chỗ rồi!”

“Theo ý của Mộc huynh, nên đặt ở chỗ nào?”

“Nên đặt trên bàn của quân chủ, khiến nó trở thành chính lệnh thiết thực.”

Công Tôn Diễn sững sờ, một lúc sau mới khẽ thở dài.

“Công Tôn huynh!” Sư Lý Tật than tiếc. “Sách cất trong xó, dù hay đến đâu cũng là vô dụng! Kiếm cất trong vỏ, dù sắc đến mấy cũng có ích gì?”

“Than ôi!” Công Tôn Diễn thở dài. “Tâm sự của tại hạ, Mộc huynh đã hiểu cả rồi!”

Sư Lý Tật đặt sách xuống, ôm quyền mà nói: “Công Tôn huynh, tại hạ mạo phạm làm phiền, mong huynh bỏ quá cho. Giờ không còn sớm nữa, tại hạ còn có chút việc bận, xin được cáo từ!”

Công Tôn Diễn tiễn ra đến ngoài cổng.

Sư Lý Tật mỉm cười, vòng tay vái Công Tôn Diễn, nói lớn: “Tại hạ cáo từ, Công Tôn huynh xin dừng bước!”

Sư Lý Tật đi được mấy bước, thấy trong bụi cây có bóng người động đậy, gần đó còn có một tên thợ giày liếc ngang liếc dọc, lập tức hiểu rõ nội tình, nên lại quay đầu lại, nói lớn: “Công Tôn huynh, kiếm tốt hẳn có chỗ dùng!”

Thấy Sư Lý Tật đã đi xa, Đinh Tam dặn dò thuộc hạ tiếp tục canh gác, còn mình vội vàng về phủ, bẩm báo lại cho Thích Quang tất cả những gì tai nghe mắt thấy. Thích Quang cảm thấy sự việc nghiêm trọng, vội dẫn hắn đi gặp Trần Chẩn.

Trần Chẩn chau mày hồi lâu, mới ngẩng lên hỏi: “Người đó đi về hướng nào?”

“Hồi bẩm chúa công,” Trần Chẩn đáp, “tiểu nhân bám theo hắn, thấy hắn rẽ vào một con phố, đã có xe ngựa đón sẵn. Người này lên xe ngựa rồi lao đi. Tiểu nhân lo lắng, vội vàng chạy đuổi theo. May mà trên phố đông người, xe ngựa không đi nhanh được, nên tiểu nhân mới có thể đuổi kịp.”

Trần Chẩn sốt ruột: “Ta hỏi ngươi, rốt cuộc xe ngựa đi về đâu?”

“Tiểu nhân bám theo sau, từ xa nhìn thấy xe ngựa dừng tại ngự hoa viên của vương cung. Ở đó có cánh cổng sau, xe ngựa dừng ở đó, người này xuống xe, xách bó sách đi vào bên trong.”

“Ồ?” Trần Chẩn hít ngược một hơi khí lạnh. “Nói mau, người đó tuổi chừng bao nhiêu? Vóc dáng diện mạo thế nào?”

“Chừng bốn mươi tuổi, dáng người tầm thước, không gầy không béo, mặt mũi thanh tú. Đúng rồi, không có râu, nhìn giống như thái giám.”

Trần Chẩn biết đó là tỳ nhân, mặt mày biến sắc, một hồi lâu vẫn không nói nên lời.

Hai mắt Thích Quang nhìn chằm chằm vào Trần Chẩn, lắp bắp gọi: “Chúa công…”

“Đinh Tam!” Trần Chẩn đột ngột quay sang Đinh Tam. “Ngươi nói hắn tay xách hai bó sách, có nhìn rõ không?”

“Bẩm chúa công, tiểu nhân nhìn thấy rất rõ ràng. Toàn bộ đều là sách mới, sợi dây thừng buộc sách hình như cũng rất mới.”

“Biết rồi!” Trần Chẩn xua tay. “Đi đi, tiếp tục theo dõi!”

Đinh Tam bèn lui ra.

“Chúa công!” Thích Quang lo lắng hỏi. “Liệu may bó sách đó có phải viết về lầu Nguyên Hanh? Chưa biết chừng tiểu tử kia sớm đã biết rõ chân tướng, chỉ đợi đến thời khắc quyết định này để tấu lên chúa thượng, làm hỏng đại sự của chúa công!”

Trần Chẩn bất giác ớn lạnh sống lưng, vội nói: “Mau, chuẩn bị xe, đến dịch quán!”

“Phải rồi!” Thích Quang giờ mới sực tỉnh. “Sư Lý Tật lén lút đi gặp thằng cha này, chắc chắn là biết rõ nội tình.”

Hai người vội vàng tới dịch quán, công tử Hoa liền mời Trần Chẩn vào chính sảnh.

Thấy Trần Chẩn liếc ngang liếc dọc, công tử Hoa liền vòng tay cười nói: “Thượng đại phu sáng sớm đã ra ngoài, giờ vẫn chưa về. Nếu Trần đại nhân không chê, bản công tử sẽ hầu chuyện đại nhân một lát!”

“Công tử khách sáo rồi!” Trần Chẩn vòng tay nói. “Mấy ngày nay tại hạ luôn muốn đến thăm hai vị, nhưng chẳng có lúc nào rảnh rỗi. Hôm nay có thời gian nên vội tìm đến. Thế nào, công tử thấy lầu Miên Hương ra sao?”

Công tử Hoa bật cười sảng khoái, nói. “Nơi thượng đại phu giới thiệu, đương nhiên là miễn bàn!”

“Công tử đã gặp được Thiên Hương cô nương chưa?”

“Tứ Hương Xuân Hạ Thu Đông, còn có Địa Hương, Thiên Hương, bản công tử đều đã gặp, quả là quốc sắc thiên hương!”

“Ồ?” Trần Chẩn rất đỗi kinh ngạc. “Không giấu gì công tử, những thiếu gia giàu có trong thành An Ấp này, đừng nói tới Thiên Hương, ngay cả muốn gặp được Địa Hương cũng khó. Công tử vừa xung trận, lập tức được gặp cả hai, thực là vận khí phi phàm!”

Công tử Hoa bật cười, khẽ nhún vai: “Bản công tử chỉ có chút tài mọn này, khiến thượng đại phu cười chê rồi! Nhắc tới việc này, bản công tử có một việc muốn thỉnh giáo đại nhân.”

“Nếu tại hạ biết, sẽ không dám giấu!”

“Bản công tử gặp được Thiên Hương cô nương, trò chuyện rất tâm đầu ý hợp. Không giấu thượng đại phu, trò chuyện đến hồi vui vẻ, bản công tử vốn muốn cùng nàng qua một đêm xuân, không ngờ Thiên Hương cô nương một mực từ chối. Bản công tử bức bách dữ quá, Thiên Hương cô nương liền tiết lộ một điều bí mật, liên quan đến thái tử của quý quốc. Bản công tử cũng e sợ gây ra hiểu lầm giữa hai nước, nên đành từ bỏ. Có điều sau đó…” Công tử Hoa cố tình ngập ngừng.

“Sau đó thế nào?” Trần Chẩn vội hỏi.

“Sau đó cũng chẳng có chuyện gì cả. Bản công tử nghe nàng gảy đàn, cùng nàng đánh cờ, nói đủ các chuyện đông tây nam bắc. Có thể nhận ra, Thiên Hương cô nương rất hiểu thái tử của quý quốc, với thái tử một mực tình thâm!”

“Ồ? Nàng ấy nói những gì?”

“Nói rất nhiều chuyện!” Công tử Hoa lại bật cười vang. “Hình như có nhắc tới An Quốc Quân. Nghe giọng điệu, có vẻ điện hạ có điều bất mãn với An Quốc Quân, nói An Quốc Quân không những đánh mất Hà Tây, mà còn ngụy báo quân tình, đổ tội đánh mất Hà Tây cho phó tướng Long Giả.”

Trần Chẩn chau tít đôi mày, vừa như lẩm bẩm một mình, lại vừa như đang hỏi: “Điện hạ trước nay không quan tâm chính sự, lẽ nào lại là giả?”

“Việc này thì…” công tử Hoa dang rộng hai tay, “bản công tử không thể biết được.”

Đúng lúc này, Sư Lý Tật từ bên ngoài trở về. Hai người chào nhau, rồi chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Công tử Hoa cáo từ, chậm rãi lui ra.

Thấy công tử Hoa đã đi xa, Trần Chẩn lo lắng nói: “Sư Lý huynh, lần này tại hạ đến là muốn hỏi huynh một việc!”

“Trần huynh cứ nói!”

“Nghe nói hôm nay, Sư Lý huynh đã tới gặp Công Tôn Diễn?”

Sư Lý Tật gật đầu, kể lại một lượt về cuộc gặp gỡ Công Tôn Diễn.

Trần Chẩn sốt ruột: “Sư Lý huynh có nhìn thấy một số cuốn sách?”

“Đúng thế!” Sư Lý Tật trả lời. “Tại hạ nhìn thấy hai cuốn, bày ở chính đường. Tại hạ hiếu kỳ nên đã tiện tay mở xem, thấy không có phần đầu, liền hỏi Công Tôn Diễn, thì hắn nói vừa có người mượn đi rồi. Tại hạ hỏi là ai đã mượn, hắn nói không biết. Kẻ này thật thú vị, sách quý như vậy mà lại cho một người không quen biết mượn đi.”

“Sách quý gì kia?” Trần Chẩn hai mắt mở to.

Sư Lý Tật hết lời khen ngợi: “Là sách hay! Các cuốn sách đều viết về phương cách cai trị nước Ngụy, tên là ‘Hưng Ngụy thập sách’. Tại hạ đọc qua mấy trang, cảm thấy hơi giống với biến pháp của Thương Quân.”

“‘Hưng Ngụy thập sách’?” Trần Chẩn há hốc miệng. “Là do hắn viết ư?”

“Đúng thế!” Sư Lý Tật lại khen ngợi vài câu, rồi than thở. “Không giấu Trần huynh, theo thiển kiến của tại hạ, người này đáng ra không nên ở trong gian nhà nát kia!”

“Than ôi!” Trần Chẩn lại ngẩn ngơ một lát, rồi thở dài sườn sượt.

“Tại sao Trần huynh lại thở dài?”

“Sư Lý huynh có biết người mượn sách là ai không?”

Sư Lý Tật lắc đầu.

“Là nội thần của bệ hạ!”

“Ồ?” Sư Lý Tật kinh ngạc. “Nói như vậy, hiện giờ những cuốn sách đó đã được đặt trên án của bệ hạ rồi?”

“Đúng thế!” Trần Chẩn vẻ rầu rĩ, tiếp tục thở dài. “Than ôi, lần này coi như xong rồi!” Nói đoạn, ủ ê chảy nước mắt, ngẩng đầu lên trời than vãn. “Ông trời ơi, tại sao ông lại không thể cho Trần Chẩn này một con đường?”

Sư Lý Tật như không nghe thấy lời thở than của Trần Chẩn, chỉ chau tít đôi mày, rõ ràng là đang suy nghĩ về tình huống bất ngờ vừa được biết.

“Sư Lý huynh!” Trần Chẩn đột nhiên sực nhớ ra một chuyện. “Còn nhớ mấy ngày trước đích thân huynh đã hứa với tại hạ, sẽ giúp tại hạ trừ khử kẻ này? Sự việc cấp bách, Sư Lý huynh…” Rồi dừng lại không nói nữa, hai mắt nhìn chằm chằm vào Sư Lý Tật.

“Đúng thế!” Sư Lý Tật cũng đã kịp định thần, mỉm cười nói. “Tại hạ đến gặp Công Tôn Diễn, cũng chính là vì việc này. Không giấu Trần huynh, lúc nãy trên đường về, tại hạ đã nghĩ ra một kế, may ra có thể thành công.”

“Sư Lý huynh mau nói!”

Sư Lý Tật vẫy tay, Trần Chẩn liền ghé sát lại.

Sư Lý Tật thầm thì một hồi, Trần Chẩn ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi chậm chạp gật đầu: “Kế này một mũi tên trúng hai đích, quả là một nước cờ hay. Có điều, việc này hệ trọng, mong Sư Lý huynh để tại hạ suy nghĩ thêm.”

“Tại hạ chúc Trần huynh thành công, sớm bước lên ngôi tướng quốc!”

“Đa tạ Sư Lý huynh!”

Tỳ nhân cơ thể mảnh khảnh yếu ớt, phải xách theo hai bó thẻ tre lớn, lại phải đi một quãng đường dài, khi trở về đến cung thành đã hổn hà hổn hển. Ngồi thở một lúc, tỳ nhân mới dần lại sức, bèn gọi hai tên thái giám đến, bảo mỗi người xách một bó, đi thẳng tới ngự thư phòng.

Ngụy Huệ Vương đang đọc tấu chương, thấy tỳ nhân mang đến hai bó sách lớn, thì hết sức ngạc nhiên.

Tỳ nhân cho đặt sách vào trong phòng, bảo hai thái giám lui ra, rồi quỳ xuống nói: “Lão nô phụng chỉ đến thăm dò Công Tôn Diễn, nay về phụng mệnh.”

Ngụy Huệ Vương không nhìn tỳ nhân, mà chỉ nhìn vào hai bó sách: “Thứ gì đây?”

Tỳ nhân đứng dậy, cầm lấy một bó, đi đến trước mặt Huệ Vương, đặt lên bàn: “Bệ hạ, đây là bộ ‘Hưng Ngụy thập sách’ mà Công Tôn Diễn mới viết, lão nô đã xem qua, nay mượn về đây để bệ hạ đọc thử.”

“Ngươi đã đọc qua?”

“Lão nô mới đọc lướt qua, chưa xem chi tiết, vẫn phải đợi bệ hạ bình xét.”

Ngụy Huệ Vương mới đọc hai dòng đã lập tức chấn động, liền chỉnh trang y phục ngồi ngay ngắn, cắm cúi đọc say sưa.

Tỳ nhân từ từ lui ra, đứng hầu ngoài cửa.

Ngụy Huệ Vương đọc một mạch đến tận khi mặt trời lặn, mà tay vẫn không rời khỏi sách. Thấy trời đã tối, tỳ nhân liền vào thắp đèn, khẽ nói: “Bệ hạ, đã đến giờ ngự thiện, còn lại hãy để ngày mai đọc tiếp cũng không muộn.”

Ngụy Huệ Vương cũng đã thấy mệt, bèn đưa tay dụi mắt, vươn vai vặn mình, rồi giơ ngón tay cái lên, nói với tỳ nhân: “Hôm nay ngươi đã làm được một việc rất tốt, quả nhân sẽ ghi công cho ngươi!”

Tỳ nhân xúc động đến ứa nước mắt, quỳ xuống khấu lạy: “Bệ hạ…”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương ngạc nhiên hỏi. “Quả nhân muốn thưởng cho ngươi, ngươi khóc cái gì?”

Tỳ nhân vội đưa tay áo lau nước mắt, đổi khóc thành cười, nhưng giọng vẫn nghẹn ngào: “Lão nô cứ vui sướng… là lại thất thố như vậy!”

“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương muôn phần cảm khái, thở dài mà nói. “Quả nhân đã ghi công rất nhiều người, cũng đã ban thưởng cho rất nhiều người, chỉ có ngươi chưa từng được thưởng, quả thực là thiếu sót của quả nhân! Kỳ thực, công của ngươi lớn hơn bất cứ người nào khác, nếu như không có ngươi, quả nhân đã trở thành một kẻ mắt mù, tai điếc. Công lớn như vậy, quả nhân nên trọng thưởng từ lâu mới phải!”

“Bệ hạ!” Tỳ nhân nước mắt như mưa, lại dập đầu lạy. “Lão nô không phải vui vì chuyện này.”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương kinh ngạc. “Ngươi không phải vui vì chuyện này, vậy ngươi vui vì cái gì?”

“Lão nô vui thay cho bệ hạ. Nước có hiền thần, bệ hạ biết được, lão nô vui lắm!”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương lại một phen cảm khái. “Là quả nhân đã đánh giá thấp ngươi. Lại đây, hãy ngồi xuống bên cạnh quả nhân.”

Tỳ nhân bước tới, ngồi xuống cạnh Ngụy Huệ Vương.

Ngụy Huệ Vương khẽ vuốt mái tóc dài của tỳ nhân, cảm thán mà rằng: “Nhìn ngươi hiện giờ, lại khiến quả nhân nhớ tới trước đây. Còn nhớ lúc ngươi mới nhập cung chăng? Lúc đó, quả thực là lục cung thất sắc, bao nhiêu mỹ nhân cũng không ai sánh được với ngươi.”

“Nô tài vẫn nhớ!” Tỳ nhân càng dựa sát vào Huệ Vương. “Là do bệ hạ yêu lầm!”

“Lúc trước là yêu lầm, nhưng giờ là yêu thật!” Ngụy Huệ Vương khẽ vỗ lên người tỳ nhân tựa như vỗ về mỹ nhân. “Quả nhân có được ngươi, chẳng khác nào có được số sách quý này. Ngày mai, ngươi hãy tiếp tục đến mượn nốt năm cuốn còn lại, quả nhân sẽ đóng cửa đọc liền ba ngày ba đêm.”

“Bệ hạ!” Tỳ nhân ngẩng lên. “Có được sách quý sao bằng có được người? Nếu bệ hạ có lòng này, ngày mai nô tài sẽ đi mời Công Tôn Diễn vào cung.”

Huệ Vương lắc đầu.

“Bệ hạ?”

“Này tỳ nhân!” Ngụy Huệ Vương nhìn vào bó thẻ tre. “Chưa đọc hết sách của Công Tôn ái khanh, sau khi gặp ái khanh, quả nhân sẽ chẳng biết nói gì, hỏi gì cả. Thử nghĩ xem, quả nhân vừa mở miệng, Công Tôn ái khanh liền nói, bệ hạ, điều này vi thần đã viết trong sách, bệ hạ chưa đọc ư? Quả nhân sẽ phải đối đáp thế nào? Như vậy, chẳng phải ngươi muốn để quả nhân mất mặt trước quần thần hay sao?”

“Bệ hạ!” Tỳ nhân tựa vào lòng Huệ Vương, khẽ thở dài. “Nô tài biết rồi!”

Sáng sớm, trong hậu hoa viên của cung thái tử, không một gợn gió.

Trong hồ sen, làn nước trong veo như mặt gương, lác đác vài chiếc lá sen điểm xuyết. Huệ Thi lặng ngắm bóng mây vụt qua đáy nước, cảm khái cất tiếng thở dài, buột miệng ngâm nga: “Nước bất động giờ động chừ, tháng năm thời loạn. Người không mê giờ mê chừ, muôn sự lỡ làng.”

Thái tử Thân đang bước lại gần, nghe thấy rõ ràng, liền buột miệng khen: “Hay lắm!”

Nghe thấy tiếng nói, Huệ Thi quay người lại, vòng tay thi lễ: “Huệ Thi bái kiến điện hạ!”

Thái tử Thân khen ngợi: “Hay cho câu ‘nước bất động giờ động chừ’, ‘người không mê giờ mê chừ’. Âm vận nước Sở thốt qua lời tiên sinh, quả nhiên là tuyệt cú thiên cổ!”

“Có gì mà tuyệt cú thiên cổ!” Huệ Thi cười gượng. “Chỉ là nhìn nước khởi hứng mà thôi. Thiết nghĩ Huệ Thi này tuổi đã tứ tuần, nhưng đến nay vẫn như một áng mây trôi lướt qua đáy nước, không lưu chút gợn, bất giác thấy thương cảm!”

“Sao tiên sinh lại ví mình với mây trôi? Tiên sinh phải là cá côn trong nước mới đúng.”

“Than ôi!” Huệ Thi lại thở dài. “Điện hạ có điều không biết, cho dù có là cá côn, nếu không có nước Bắc Minh cho nó bơi lội, cũng chỉ có thể chết trong nước ao hồ mà thôi.”

“Tiên sinh chớ lo, nước Bắc Minh đã gần ngay trước mặt!”

“Điện hạ!” Huệ Thi thoáng ngạc nhiên. “Sao lại nói vậy?”

“Ngụy Thân đã tiến cử tiên sinh lên phụ vương, phụ vương từ lâu cũng đã nghe danh tiếng của tiên sinh, nói rằng sẽ tìm cơ hội đến thỉnh giáo tiên sinh. Tối qua Ngụy Thân cùng dùng bữa với phụ vương, có hỏi về chuyện này, phụ vương hẹn trưa nay đưa tiên sinh vào cung, mời tiên sinh dùng trà ở đình hóng mát trong ngự hoa viên.”

“Trưa nay? Vào giờ nào?”

“Giờ Thân! Phụ vương thích yết kiến quần thần vào giờ đó. Phụ vương kiến văn sâu rộng, am hiểu học vấn trong thiên hạ, tin rằng có thể trở thành tri âm của tiên sinh.”

Huệ Thi vái sâu một vái: “Đa tạ điện hạ tiến cử.”

Thái tử Thân đáp lễ, rồi thuận miệng nói tiếp: “Ngụy Thân còn một chuyện muốn thỉnh giáo tiên sinh.”

“Xin điện hạ cứ nói!”

“Gần đây trong thành An Ấp đồn rằng khi xảy ra cuộc chiến Hà Tây, Công Tôn Diễn đã sớm nhận ra âm mưu của Công Tôn Ưởng, nhưng công tử Ngang thân là tướng quân lại không nghe lời khuyên can của Công Tôn Diễn và Long tướng quân, khăng khăng một ý, khinh địch tấn công, nên mới chuốc lấy thảm bại. Công Tôn Diễn trong đêm đã dẫn quân tập kích doanh trại địch, giết cả vạn quân, nhưng công tử Ngang cướp công về mình, lại đổ vấy nguyên do bại trận lên đầu Long tướng quân.”

Huệ Thi khẽ gật đầu: “Còn gì nữa không?”

“Ồ!” Thái tử Thân lại thở dài. “Chỉ riêng việc này đã đủ nghiêm trọng lắm rồi. Tiên sinh, ngài bảo Ngụy Thân phải làm sao đây? Nếu cứ báo lên, với công tử Ngang sẽ là đại tội, với Ngụy Thân sẽ là tàn hại người thân. Dù sao công tử Ngang và Ngụy Thân cũng cùng một cha, phụ vương sẽ phải xử lý con trai mình thế nào? Nếu giấu giếm không báo, để tám vạn binh sĩ chết trong oan uổng, bảy trăm dặm Hà Tây mất về tay giặc, tương lai lại càng đáng lo hơn nữa! Công tử Ngang to gan làm bừa, đảo lộn trắng đen, nếu tiếp tục nắm giữ binh quyền, tướng sĩ trên dưới ắt sẽ xa lánh, triều chính cũng trở nên trong đục khó phân. Nếu lại có đại chiến, bi kịch há chẳng tái diễn?”

Đến An Ấp mấy ngày nay, đây là lần đầu tiên Huệ Thi nghe thấy thái tử nói về quốc gia đại sự, lại thành tâm thành ý đến nhường này, bất giác trong lòng cảm động: “Than ôi, người đời đều nói thái tử chỉ biết chơi hoa thưởng nguyệt, không màng quốc sự, chỉ biết làm mọt sách, không quan tâm đến người sống, xem ra người ta chỉ biết một mà không hiểu rõ nội tình!”

Thái tử Thân thở dài: “Tiên sinh có điều không biết, phụ vương mọi sự chuyên quyền, công tử Ngang lại thích phô tài, Ngụy Thân còn dùng được vào việc gì đây?”

Huệ Thi đồng tình: “Lão Đam có câu, ‘người đại trí trông giống kẻ ngu si, người đại khéo trông giống kẻ vụng về’, hình dung về thái tử như vậy, hẳn không phải quá.”

“Tiên sinh quá khen!” Thái tử Thân vòng tay nói. “Việc Hà Tây, xin hỏi tiên sinh có kế sách vạn toàn chăng?”

“Việc này điện hạ nghe ai nói?” Huệ Thi hỏi.

“Ồ…” Thái tử Thân bỗng đỏ bừng mặt, “là một hồng nhan tri kỷ của Ngụy Thân.”

Huệ Thi mỉm cười: “Nếu thảo dân đoán không nhầm, vị hồng nhan tri kỷ này hẳn là Thiên Hương cô nương của lầu Miên Hương?”

Thái tử Thân kinh ngạc: “Tại sao tiên sinh lại biết?”

“Chuyện tất cả mọi người trong thành đều biết, sao Huệ Thi có thể không biết?”

Thái tử Thân không dám nói thêm lời nào.

“Thảo dân thực sự muốn biết, một chuyện cơ mật đến vậy, cớ sao Thiên Hương cô nương lại biết được?”

“Người biết việc này không chỉ có Thiên Hương cô nương. Trong lầu Miên Hương, ai ai cũng biết.”

“Ồ?” Huệ Thi hít vào một hơi thật sâu, nhắm mắt lại suy nghĩ một hồi, rồi lắc đầu nói. “Lời đồn đại, có thể rước hoạ sát thân!”

“Ha ha ha, tiên sinh nặng lời rồi!” Thái tử Thân bật cười. “Thiên hạ thái bình, chỉ mấy lời đồn đại sao có thể rước hoạ sát thân?”

“Thảo dân chỉ nói vậy, có tin hay không là tuỳ điện hạ!”

“Tiên sinh, việc Hà Tây phải tính thế nào?”

“Thảo dân muốn biết, là điện hạ thực sự quan tâm tới quốc gia đại sự, hay chỉ vì Thiên Hương cô nương?”

Thái tử Thân thở dài: “Ngụy Thân thân là thái tử, sao có thể không quan tâm tới quốc gia đại sự? Hơn nữa, trước đây phụ vương mọi việc chuyên quyền, vốn chẳng nghe lời Ngụy Thân, cũng không cho phép Ngụy Thân nhúng tay vào. Hiện giờ phụ vương đã thay đổi, Ngụy Thân cũng nên làm một việc gì đó.”

“Tốt lắm!” Huệ Thi gật gù. “Điện hạ suy nghĩ như vậy, đúng là may mắn của nước Ngụy. Theo ý thảo dân, sự việc Hà Tây liên quan đến quốc gia xã tắc, danh tiếng vương tộc, tốt nhất không nên lật lại. Có điều… thảo dân có lời muốn nói, không biết điện hạ có muốn nghe chăng?”

“Tiên sinh cứ nói.”

“Thảo dân nghe nói An Quốc Quân có mối quan hệ thân thiết với thượng đại phu Trần Chẩn. An Quốc Quân là một kẻ tầm thường, có thể giở thủ đoạn ở Hà Tây, bảo toàn tính mạng, chắc chắn là mưu của Trần Chẩn. Nghe nói Trần Chẩn một lòng muốn ngồi lên ghế tướng quốc, mà theo thảo dân thấy, người này tâm cao khí ngạo, tính toán khôn khéo, mưu mô trí trá, nhưng thiếu lương tri, càng không cần nói đến chính đạo. Người không theo chính đạo, chắc chắn chẳng phải hiền tài, không thể làm tướng quốc. Bệ hạ hiện giờ đang cân nhắc, tại sao điện hạ không tiến cử Công Tôn Diễn, một là có thể cất nhắc người hiền, hai là có thể chế ngự công tử Ngang?”

“Ngụy Thân đã từng tiến cử. Phụ vương thấy Huệ Thân tiến cử, bèn phái tỳ nhân tới thăm dò. Nghe nói tỳ nhân mang theo hai cuộn thẻ tre trở về, phụ vương đọc liền hai ngày, quên ăn quên ngủ.”

Huệ Thi cười nói: “Nếu đúng như vậy, thì thảo dân đã quá lo xa rồi!”

“Tuy nhiên, tiên sinh nhắc nhở cũng rất đúng!” Thái tử Thân nói tiếp. “Ngụy Thân vẫn phải theo dõi sát sao việc này, hôm nay nhân tiện, sẽ đi hỏi phụ vương.”

Vào giờ ăn trưa, thái tử Thân phụng mệnh tới ngự thiện phòng dùng cơm cùng Huệ Vương, nhưng không thấy Huệ Vương đâu.

Thái tử Thân đợi một lúc, thấy Huệ Vương vẫn chưa đến, suy nghĩ một lát rồi tự ngồi xuống trước bàn, sai thái giám chấp sự tại ngự thiện phòng đi mời bệ hạ. Thái giám vừa ra khỏi cửa, từ xa đã nhìn thấy Huệ Vương cùng tỳ nhân, công tử Ngang đang theo con đường nhỏ quanh co dưới bóng cây đi tới.

Thái giám vội lên tiếng: “Điện hạ, bệ hạ đã tới!”

Thái tử bèn ra đón, quỳ xuống trước cửa.

Ngụy Huệ Vương đi tới trước mặt, chìa tay ra, cười mà nói: “Thân Nhi, mau bình thân!”

Thái tử Thân tạ ơn, đứng dậy, tiến tới đỡ Huệ Vương đi tới trước bàn ăn.

“Ngồi đi, ngồi đi!” Ngụy Huệ Vương ngồi vào chỗ, rồi gọi mọi người. “Đều là người một nhà, hãy cứ tự nhiên. Ngang Nhi, con ngồi bên này, Thân Nhi, con ngồi bên kia, còn ngươi,” tay chỉ vào tỳ nhân, “hãy ngồi bên cạnh quả nhân!”

Mọi người lần lượt ngồi vào chỗ theo sắp xếp của Ngụy Huệ Vương.

“Lát nữa quả nhân còn có việc lớn, nên giờ không uống rượu!” Huệ Vương cầm đũa gắp một miếng thịt hươu, đưa vào miệng. “Nào, động đũa thôi, vừa ăn vừa nói chuyện!”

Cả ba đều là những người thân cận nhất của Huệ Vương, giờ lại thấy Huệ Vương nói vậy, nên cũng không khách sáo nữa, ai nấy tự cầm lấy đũa, bắt chước Huệ Vương, gắp thịt hươu ăn.

Ăn được một lúc, Huệ Vương nhìn công tử Ngang, nói: “Ngang Nhi, lúc nãy con cũng đã đọc mấy dòng, hãy thử nói xem, sách này viết thế nào?”

Công tử Ngang phá lên cười, nói: “Theo nhi thần thấy, văn chương khá hay, viết cũng mạch lạc rõ ràng, có điều…”

Huệ Vương nhìn công tử Ngang: “Có điều làm sao?”

Công tử Ngang do dự một lát, quyết định không nói nữa, cười trừ mà nói: “Nhi thần chẳng qua chỉ đọc vài dòng, không đầu không cuối, sao biết hay dở?”

Huệ Vương cười lớn: “Ngang Nhi, hẳn là ý con muốn nói, nhi thần chỉ thích luận múa đao múa kiếm, đọc không hiểu những thứ rắc rối này ư? Thế thì thôi vậy!”

Thấy Huệ Vương nói vậy, tỳ nhân và thái tử Thân đều bật cười.

“Vâng, vâng!” Công tử Ngang thuận gió bẻ măng, cũng cười hề hề. “Tâm tư của nhi thần, phụ vương đã rõ như lòng bàn tay!”

Mọi người lại cười một chặp nữa, Huệ Vương quay sang thái tử Thân: “Thân Nhi, tối qua quả nhân có được một bộ sách hay, con có thời gian, nhất định phải đọc cho thật kỹ.”

Thái tử Thân sớm đã biết chuyện, nhưng vẫn vờ hỏi: “Xin hỏi phụ vương, là sách gì?”

“Tên là ‘Hưng Ngụy thập sách’, quả nhân đã đọc năm cuốn, cuốn nào cũng chỉ rõ chỗ yếu hại!”

“Sách hay như vậy, không biết do người nào viết?”

“Chẳng phải con đã tiến cử với quả nhân một người tên gọi Công Tôn Diễn sao? Chính là do người này viết!”

Vừa nghe thấy ba chữ “Công Tôn Diễn”, công tử Ngang đã giật nảy mình, miệng đang ăn miếng thịt gà rừng bỗng đờ ra quên cả nhai.

Nhìn thấy công tử Ngang ngây ra như tượng, Ngụy Huệ Vương phì cười: “Ngang Nhi, sao con lại ngẩn ra thế?”

Công tử Ngang định thần lại, ngoảnh sang nhả miếng thịt gà vào ống nhổ, rồi quay lại nói: “Bẩm phụ vương, nhi thần được biết cuốn sách vừa đọc là sách hay, nên cảm thấy thích thú quá.”

Huệ Vương cười vang: “Lại giúp quả nhân vui cười rồi! Con ư, từ nhỏ chỉ ham mê đao kiếm, thấy sách là đau đầu, lúc nào thấy thích thú với sách vở, chắc hẳn mặt trời mọc ở đằng tây!”

Mọi người lại được một trận cười nghiêng ngả.

Huệ Vương quay sang tỳ nhân: “Lát nữa ngươi hãy đến nhà Công Tôn Diễn, mang nốt năm cuốn sách còn lại về đây.”

“Bệ hạ, lát nữa người đã hẹn với Huệ Tử, lão nô…”

“Ồ, phải rồi, phải rồi!” Ngụy Huệ Vương vỗ trán. “Quả nhân già rồi, đãng trí quá. Lát nữa đúng là phải gặp Huệ Tử để bàn về học vấn. Đây là việc lớn, chốc nữa ngươi hãy đến kho sách, tìm những thẻ tre viết về cuộc tranh luận giữa Huệ Tử và Công Tôn Long, chọn lấy một ít đến đây, để quả nhân đọc qua một lượt, tránh khi gặp Huệ Tử lại không biết nói chuyện gì.”

Tỳ nhân đứng dậy, cầm khăn lụa khẽ chấm lên môi: “Lão nô no rồi, giờ xin cáo lui!” Rồi đứng dậy lui ra, vội vàng đi theo con đường nhỏ đến ngự thư phòng.

Công tử Ngang đâu còn hứng thú ăn uống, cũng kiếm cớ có việc gấp, cáo từ Huệ Vương, rồi vội vã về phủ.

Công tử Ngang chân trước bước vào cửa, Trần Chẩn chân sau đã vào theo.

Vừa thấy Trần Chẩn, công tử Ngang không kịp hành lễ đã vội nói: “Mau, ông đến đúng lúc lắm, bản công tử đang định tìm ông!”

Trần Chẩn thấp thỏm đi theo công tử Ngang vào thư phòng, thấy công tử Ngang sắc mặt sa sầm, liền hỏi: “Công tử khí sắc không tốt, có chuyện gì chăng?”

“Có chuyện lớn rồi!” Công tử Ngang nói. “Thái tử Thân trước nay không hề có chủ kiến, lần này lại tiến cử Công Tôn Diễn lên phụ vương. Phụ vương cũng tin tưởng, đã phái tỳ nhân đến nhà Công Tôn Diễn, mang về một bó thẻ tre, là bộ ‘Hưng Ngụy thập sách’ do Công Tôn Diễn viết. Phụ vương đọc được, không nỡ rời tay, nhất định bắt bản công tử và thái tử Thân cùng đọc. Xem tình hình này, có lẽ sẽ cất nhắc Công Tôn Diễn làm tướng quốc mất!”

Trần Chẩn đến đây cũng chính là vì việc này, thấy công tử Ngang đã biết rõ sự tình, thì không nói thêm lời nào, chỉ than ngắn thở dài: “Than ôi, nếu Công Tôn Diễn làm tướng quốc, hạ quan thì không sao, chỉ sợ công tử…”

“Đúng thế!” Công tử Ngang vội nói. “Bản công tử cũng đang lo lắng việc này đây! Sự việc Hà Tây, hắn biết rõ đầu đuôi. Nếu phụ vương triệu kiến hắn, hẳn sẽ hỏi về việc Hà Tây, hắn ghi hận bản công tử trong tim, chắc chắn sẽ phun ra tất cả. Vậy… bây giờ phải làm sao đây?”

“Chỉ sợ chưa đợi đến lúc hắn nói ra, bệ hạ đã biết rồi!”

Công tử Ngang kinh ngạc: “Thượng đại phu, sao lại nói vậy?”

“Hạ quan nghe nói, trong thành An Ấp đã có lời đồn đại về sự việc Hà Tây.”

“Ông…” công tử Ngang đưa tay túm chặt tay áo Trần Chẩn, “nói mau, lời đồn thế nào?”

“Nói rằng công tử không nghe lời Long tướng quân và Công Tôn Diễn, khăng khăng quyết chiến với Tần, kết quả đã trúng kế dụ địch của Công Tôn Ưởng, toàn quân chết thảm. Công Tôn Diễn đêm đến dẫn quân tập kích trại địch, lập được công lớn, nhưng công tử lại tham lam cướp công, rồi đổ tội bại trận Hà Tây lên đầu Long tướng quân…”

Công tử Ngang sắc mặt trắng bệch, không thốt được nửa lời.

“Than ôi, hạ quan…” Trần Chẩn thở dài, định nói nhưng lại thôi, chỉ cúi mặt lắc đầu.

Công tử Ngang đột ngột ngẩng phắt đầu lên: “Tin đồn xuất phát từ đâu?”

“Hạ quan đã điều tra, xuất phát từ lầu Miên Hương!”

“Lầu Miên Hương?” Công tử Ngang sững người. “Tại sao họ lại biết?”

“Họ kể nghe rất chi tiết sinh động, giống như chính mắt họ nhìn thấy vậy. Lúc đầu hạ quan cũng băn khoăn, nếu họ đã biết từ trước, tại sao bây giờ mới có lời đồn? Hạ quan đã phái người đi dò la khắp nơi, cuối cùng cũng đã rõ được uẩn khúc bên trong.”

“Là uẩn khúc gì?”

“An Quốc Quân có điều không biết, hạ quan phụng mệnh bệ hạ, âm thầm theo dõi sứ thần nước Tần là Sư Lý Tật. Lần này hắn đến đây, giảng hoà chỉ là giả, xúi bẩy làm phản mới là thực.”

“Xúi bẩy làm phản?” Công tử Ngang không hiểu. “Xúi bẩy người nào làm phản?”

“Công Tôn Diễn!”

“Hả?”

“Mấy ngày gần đây, Sư Lý Tật nhiều lần đến gặp Công Tôn Diễn, còn cải trang lén lút ra vào, đóng cửa trò chuyện nhiều giờ. Phó sứ công tử Hoa của hắn lại đến lầu Miên Hương tìm Thiên Hương cô nương.”

“Nếu nói như vậy…” công tử Ngang như sực tỉnh mộng, “lẽ nào người Tần đã đem chuyện ở Hà Tây nói với Thiên Hương cô nương?”

“Đúng thế!”

Công tử Ngang kinh ngạc: “Nếu nói như vậy, Ngụy Thân hẳn đã biết rõ sự tình?”

“Hiện giờ vẫn chưa chắc chắn!”

“Ồ?”

“Mấy ngày nay hạ quan đã phái người theo dõi lầu Miên Hương, chưa thấy điện hạ đến đó.”

Công tử Ngang thở phào một hơi dài: “Chưa đến thì tốt! Nếu việc này để Ngụy Thân biết được, sẽ hỏng bét.”

“Công tử, hôm nay điện hạ không đến, chưa chắc ngày mai đã không đến!”

“Thượng đại phu có kế sách gì chăng?”

“Hạ quan có một kế, may ra có thể giải quyết êm thấm.”

“Nói mau!”

Trần Chẩn ghé tai thì thầm. Công tử Ngang nghe xong, do dự không quyết.

“Công tử!” Trần Chẩn sốt ruột. “Không trừ Công Tôn Diễn, nước không thể yên!”

“Được rồi!” Công tử Ngang nghiến răng. “Cứ làm theo ý ông!”

Lúc xế chiều, tại đình hóng mát ở hậu hoa viên trong cung Ngụy, Ngụy Huệ Vương, Huệ Thi ngồi sát mép nước, cùng trò chuyện sôi nổi.

Ngụy Huệ Vương ngước mắt nhìn trời, liền chuyển chủ đề, thu thần mà nói: “Nghe tiên sinh giảng về cái học danh thực, quả nhân giống như nghe được sách trời, thực là đã được thụ giáo. Quả nhân còn có một số việc quốc sự phiền tạp muốn thỉnh giáo tiên sinh, mong tiên sinh chỉ điểm.”

“Bệ hạ, xin cứ nói!”

“Nhà Chu thất thế, thiên hạ chia năm xẻ bảy. Nước Ngụy từ thời tiên tổ Văn Hầu đến nay, luôn thi hành nhân nghĩa, thay Chu thất vỗ yên thiên hạ. Thời gian kéo dài, quả nhân vô cùng mệt mỏi. Để danh hợp với thực, quả nhân đành phải làm theo ý trời, xưng vương vào năm trước. Không ngờ liệt quốc đều có hai lòng, coi quả nhân là thù địch. Người Tần càng là mối hoạ trong tâm, đảo lộn thị phi, bày gian kế chiếm mất Hà Tây của Ngụy. Ngày nay nước Ngụy bốn bề ngự địch, quả nhân một mình chống đỡ gian nan, tình thế cấp bách. Xin hỏi tiên sinh phải ứng phó thế nào?”

“Chính là thứ lúc nãy bệ hạ nhắc tới, việc mà bệ hạ hỏi cũng là vấn đề danh thực. Những việc bệ hạ đã làm, không gì không nhằm khiến danh phù hợp với thực, vốn dĩ không nên trách cứ. Còn về việc liệt quốc vì điều này mà phản đối, kỳ thực ý của họ lại không phải ở điều này!”

Ngụy Huệ Vương nghe vậy, trong lòng chấn động, ngả người về phía trước, hỏi dồn: “Xin hỏi tiên sinh, vậy liệt quốc có ý gì?”

“Thảo dân cho rằng, nước lớn cũng thế, nước nhỏ cũng vậy, tranh chấp danh thực chẳng qua chỉ là cái cớ. Đối với chư hầu, thực sự chỉ có hai việc quan trọng.”

“Là việc gì?”

“Thứ nhất là thời, thứ hai là thế.”

“Xin tiên sinh nói rõ hơn!”

“Thời tức thiên thời, thế tức quốc lực. Ngày trước Văn Hầu độc bá thiên hạ, chẳng phải vì Văn Hầu có ba đầu sáu tay, mà là Văn Hầu giỏi nương thiên thời, giỏi mượn ngoại thế. Tuy nhiên, thứ mà Văn Hầu dùng là thiên thời lúc bấy giờ, thứ mà Văn Hầu mượn là ngoại thế lúc bấy giờ. Thiên hạ ngày nay đã khác hẳn trước kia, bệ hạ cũng nên thuận theo thời thế ngày nay, thay đổi kế sách, may ra có thể nương thời mượn thế, đứng vững nơi bất bại.”

Ngụy Huệ Vương hít sâu một hơi: “Quả nhân ngu muội, xin tiên sinh nói rõ về thời thế ngày nay.”

“Như bệ hạ đã biết, thời ngày nay là Chu thất càng suy, liệt quốc càng mạnh, thiên hạ càng loạn. Thế ngày nay là liệt quốc tuy đông, nhưng thành đại thế chỉ có bảy nước là thất cường, Ngụy chỉ là một trong số đó. Luận về thất cường, mấy chục năm gần đây, thực thi biến pháp đồ cường chỉ có bốn. Một là nước Sở, có biến pháp của Ngô Khởi; hai là nước Hàn, có biến pháp của Thân Bất Hại; ba là nước Tề, có biến pháp của Trâu Kỵ; bốn là nước Tần, có biến pháp của Công Tôn Ưởng. Bốn nước này sau khi biến pháp, quốc thế đều tăng, hơn trước rất nhiều, bất cứ nước nào cũng có thể đối đầu với Ngụy!”

Ngụy Huệ Vương chìm trong suy tư, một lát sau lại hỏi: “Theo tiên sinh nói, quả nhân chỉ còn biết để mặc cho các nước mạnh ức hiếp ư?”

Huệ Thi lắc đầu: “Không đúng!”

“Ồ, tiên sinh có cách ứng phó chăng?”

“Thuận thời mở thế, mượn thế đánh thế!”

“Xin tiên sinh nói rõ!”

“Thuận thời tức là thừa nhận hiện trạng, thừa nhận thế của nước khác, không được cậy sức cưỡng cầu; mở thế tức là hưng bản vụ thực, trữ đầy quốc khố, tăng cường quốc lực; mượn thế tức là kết giao với nước khác, lợi dụng thế của nước khác, tuyệt đối không được gây bất hoà với láng giềng bốn phía; đánh thế tức lợi dụng thế lực bên ngoài, để đánh vào thế địch!”

“Lời của tiên sinh rất chí lý!” Ngụy Huệ Vương nghe mà trong lòng sốt sắng, nghiêng người về trước vội hỏi. “Theo kiến giải của tiên sinh, quả nhân hiện nay có thể mượn thế nào, đánh thế nào?”

“Bảy thế chiến quốc, Ngụy nằm ở giữa. Nằm ở giữa mà phải chiến đấu với bốn bề, nước ắt nguy ngập. Theo quan sát của Huệ Thi, thế nước Tề tranh tại Tứ Hạ, thế nước Sở tranh tại Việt, vì vậy giữa Tề, Sở và Ngụy không có tranh chấp lớn, thế đó có thể mượn. Hàn, Triệu và Ngụy đều thuộc Tam Tấn, vốn cùng một nhà, môi hở răng lạnh, kỳ thực không có tranh chấp lợi hại, tranh chấp đều ở thế nước Tần, nên thế của hai nước này cũng có thể mượn. Tranh chấp lớn nhất với bệ hạ, chỉ ở thế nước Tần.”

Ngụy Huệ Vương vòng tay vái Huệ Thi: “Được nghe lời của tiên sinh, tựa như vén lên bức màn che mắt. Quả nhân lại xin được hỏi, làm thế nào mới có thể mượn thế của các nước?”

Huệ Thi đáp ngay không chút do dự: “Dời đô!”

“Dời đô?” Ngụy Huệ Vương sững sờ. “Dời đô đi đâu?”

“Có thể dời tới Đại Lương!” Huệ Thi nói tiếp. “Đô thành nước Việt nằm tại Hàm Đan, đô thành nước Hàn nằm tại Tân Trịnh, đô thành nước Tề nằm tại Lâm Truy, đô thành nước Sở nằm tại Sính Đô. Bốn đô thành này đều cách xa An Ấp, bất lợi cho kết giao. Chỉ có đô thành Hàm Dương của Tần nằm gần An Ấp, một khi Tần Ngụy giao tranh, quân Tần chỉ cần hành quân một ngày đã áp sát, bất lợi cho bệ hạ mượn thế bên ngoài. Nếu bệ hạ dời đô đến Đại Lương, cùng kết giao hoà hảo với bốn nước, Tần ắt không dám manh động.”

Đúng vào lúc đó, tỳ nhân bước vào: “Bệ hạ, thượng đại phu cầu kiến!”

Ngụy Huệ Vương chau mày: “Nói với ông ta, quả nhân đang bận, bảo ông ta ngày mai hãy đến!”

“Nô tài nói rồi, nhưng thượng đại phu nói rằng có việc gấp, không thể chậm trễ!”

“Trần Chẩn kia cũng thật là…” Ngụy Huệ Vương lầm bầm, rồi xua tay. “Được rồi, tuyên ông ta vào yết kiến!”

Tỳ nhân vâng lệnh, quay người đi khỏi đình hóng mát.

Ngụy Huệ Vương vòng tay với Huệ Thi: “Lời của tiên sinh rất hợp với ý quả nhân. Có điều dời đô là việc trọng đại, hãy để quả nhân suy nghĩ thêm rồi mới định đoạt. Bây giờ trời đã muộn, quả nhân còn có việc phải làm, hôm khác lại xin được thỉnh giáo tiên sinh!”

Huệ Thi bái lạy sát đất: “Huệ Thi cáo lui!”

Huệ Thi đi ra, vừa bước xuống dưới đình hóng mát thì gặp ngay Trần Chẩn đi lên. Sự việc Huệ Thi đặt câu hỏi ở chợ Đông đồn đại ồn ào, Trần Chẩn sớm đã nghe thấy. Vì những mệnh đề của Huệ Thi đều hoang đường trái khoáy, nên bị người dân trong thành An Ấp truyền tai nhau thành chuyện cười, Trần Chẩn cũng không để bụng. Thấy Huệ Thi ở đây, Trần Chẩn không hề cảm thấy ngạc nhiên, vì ông ta biết rõ Huệ Vương thích bàn luận học thuật.

Vì có chuyện tranh đường ở ngoài thành An Ấp, nên hai người cũng coi như đã biết nhau. Huệ Thi hơi vòng tay, nói: “Huệ Thi xin chào thượng đại phu!”

“Trần Chẩn xin chào Huệ Tử!” Trần Chẩn tuy trong lòng vướng chuyện gấp, nhưng vẫn đáp lễ. “Hiện giờ tại hạ phải yết kiến bệ hạ, hôm khác nhất định sẽ đến nhờ Huệ Tử chỉ giáo.”

Lời vừa dứt, Trần Chẩn đã bước lên đình.

Nhưng người ta thường nói, oan gia ngõ hẹp. Đường lên đình hóng mát chỉ là một lối đi nhỏ, Huệ Thi lại đang đứng giữa đường, cũng giống hệt cảnh tượng lần trước ở ngoài thành An Ấp, không một chút ý nhường nhịn. Trần Chẩn cũng không dám ngang ngược ở nơi này, nên đành phải vòng vào khóm hoa ở bên cạnh, hấp tấp đi lên.

Trần Chẩn đi lên đình, dập đầu trước mặt Huệ Vương: “Vi thần khấu kiến bệ hạ!”

“Ái khanh miễn lễ!” Ngụy Huệ Vương chỉ vào chỗ Huệ Thi vừa ngồi. “Ngồi đi!”

Trần Chẩn đứng dậy, rồi ngồi xuống.

“Nghe nói ái khanh có việc gấp, vậy hãy nói đi!”

“Khởi bẩm bệ hạ, vi thần phụng chỉ theo dõi sứ thần nước Tần Sư Lý Tật, quả nhiên đã phát hiện người này có âm mưu.”

“Ồ? Là âm mưu gì?”

“Mấy ngày gần đây, người này khá bận rộn, liên tục ra vào phủ Long Giả, phủ Chu Uy, lại còn cải trang, lấy tên Mộc Vũ Khuy, một mình lẻn vào phủ Công Tôn Diễn, hai người đóng cửa trò chuyện suốt nhiều canh giờ. Lúc ra khỏi cổng, Sư Lý Tật còn cẩn thận dặn dò, ‘kiếm tốt hẳn có chỗ dùng’.”

“Kiếm tốt hẳn có chỗ dùng?” Ngụy Huệ Vương nhăn mày nhíu trán, lẩm bẩm một mình. “Nói vậy là có ý gì?”

“Lúc đầu vi thần cũng không biết. Tối qua vi thần vô tình phát hiện được một bí mật, nên mới hiểu ra.”

“Là bí mật gì?”

“Phó sứ của Sư Lý Tật là công tử Hoa nhiều lần đến lầu Miên Hương tìm hoa ghẹo liễu, lúc đầu vi thần không để ý, nhưng tối qua đột nhiên được biết trong lầu Miên Hương truyền ra lời đồn đại, nói rằng việc đại bại ở Hà Tây đều là do bệ hạ, không liên quan gì đến Long Giả. Bệ hạ xử phạt Long tướng quân chẳng qua là tìm người thế tội mà thôi!”

Ngụy Huệ Vương sắc mặt sa sầm: “Những kẻ nào thường đến lầu Miên Hương?”

“Chuyện này…” Trần Chẩn do dự. “Vi thần không dám nói!”

“Ồ?” Ngụy Huệ Vương ngạc nhiên. “Còn có người ái khanh không dám nói ư?”

Trần Chẩn cúi thấp đầu, không nói thêm gì.

“Trần Chẩn!” Ngụy Huệ Vương sốt ruột, quát lên. “Ngươi cứ ấp a ấp úng, úp úp mở mở như vậy, lẽ nào muốn giấu giếm quả nhân?”

Trần Chẩn vội vàng đứng dậy, dập đầu sát đất, khóc lóc mà nói: “Vi thần không dám! Vi thần…”

Ngụy Huệ Vương hạ giọng: “Đã không dám, vậy hãy nói thẳng ra.”

“Chuyện này…” Trần Chẩn cố ý lắp bắp. “Khởi bẩm bệ hạ, người đó là… là… là điện hạ!”

“Ngươi…” Ngụy Huệ Vương đập bàn quát lớn, “nói láo!”

“Bệ hạ!” Trần Chẩn liên tiếp dập đầu, khóc hu hu. “Vi thần không dám nói láo! Gần một năm trở lại đây, điện hạ cứ năm ba ngày lại đến lầu Miên Hương một lần, trong thành An Ấp không ai không biết!”

Ngụy Huệ Vương nhắm chặt hai mắt, vẻ vô cùng chua xót.

“Bệ hạ!” Trần Chẩn tiếp tục vừa khóc vừa kể lể. “Nghe nói điện hạ say mê một cô nương trong đó, tên gọi Thiên Hương. Cô nương đó từ khi quen biết điện hạ đã không tiếp khách ngoài nữa, chỉ là người của riêng điện hạ…”

“Đừng nói nữa!” Ngụy Huệ Vương quát lớn cắt lời, rồi lập tức đứng phắt dậy, bỏ lại Trần Chẩn, phất tay áo bước đi.

Nhìn Ngụy Huệ Vương giận dữ bỏ đi, khoé miệng Trần Chẩn lộ ra một nét cười nham hiểm.

Sáng sớm, người lấy nước gạo quảy theo hai thùng gỗ, vừa đi vừa hát ư ử, tiến đến cổng bên của lầu Miên Hương.

Người này đặt thùng gỗ xuống, cất tiếng gọi: “Này, mở cửa, đến lấy nước gạo đây!”

Bên trong không có tiếng đáp. Người này gọi thêm mấy tiếng, cổng vẫn đóng im ỉm.

Người lấy nước gạo lầm bầm: “Quái lạ nhỉ, chết hết cả rồi hay sao?” Rồi đưa tay đẩy mạnh vào cánh cổng. Cánh cổng cót két một tiếng rồi mở ra. Người này quảy thùng gỗ lên, vừa bước qua cổng, đột nhiên rú lên thất thanh: “Ôi mẹ ơi!” Rồi quẳng cả thùng gỗ, chạy trối chết ra ngoài.

Lát sau, một đám binh sĩ từ phủ tư đồ rầm rập chạy đến, vây chặt lấy lầu Miên Hương, đến con kiến cũng không chui lọt. Do sự việc nghiêm trọng, nên cả tư đồ Chu Uy cũng vội vàng chạy đến.

Nhìn thấy Chu Uy, Bạch Hổ, lúc này đã được thăng chức làm ngự sử trong phủ tư đồ, vội vã từ trong lầu chạy ra: “Khởi bẩm tư đồ đại nhân, trên lầu dưới lầu không còn ai sống sót, hầu hết là bị giết khi đang ngủ, đếm được bốn mươi hai thi thể, trong đó có ba nam nghi là khách làng chơi ở lại!”

Đã bao năm nay, trong thành An Ấp chưa xảy ra vụ án mạng nào nghiêm trọng đến vậy. Chu Uy chau tít đôi mày, đi vào trong lầu kiểm tra một vòng, quả nhiên chỉ thấy xác chết ngổn ngang. Thiên Hương, Địa Hương, Tứ Hương Xuân Hạ Thu Đông và cả má mì, từ trên xuống dưới, không một ai thoát nạn, ngổn ngang đầy đất, thật thê thảm không nỡ nhìn.

Đúng vào lúc này, một tên lính từ bên ngoài hộc tốc chạy vào, tay cầm một chiếc giày dính đầy máu: “Báo, tìm được chiếc giày này ở góc phố, ngờ là nghi phạm đánh rơi khi bỏ chạy!”

Chu Uy nhận lấy chiếc giày, quan sát kỹ lưỡng.

Bạch Hổ liếc nhìn, kinh ngạc nói: “Đại nhân, chiếc giày này là…”

“Ồ, ngươi biết nó?”

Bạch Hổ chần chừ: “Hạ quan… hạ quan…”

Chu Uy trong lòng chấn động: “Nói đi!”

Bạch Hổ hạ thấp giọng thì thào: “Là giày của Công Tôn huynh!”

“Ồ!…” Chu Uy kinh ngạc. “Không thể nào!”

“Chắc chắn là giày của Công Tôn huynh. Đây là chiếc bên trái, đã đi nhiều tháng, gót mòn đến lộ đế, chỗ ngón chân cái bị thủng một lỗ nhỏ, đại nhân xem có đúng không?”

Chu Uy lật giày lại xem, quả nhiên giống hệt như mô tả.

Chu Uy chau tít đôi mày, suy nghĩ một lát, rồi quyết đoán: “Bạch ngự sử, đi bắt Công Tôn Diễn!”

“Đại nhân!” Bạch Hổ vội nói. “Việc này có nhiều uẩn khúc, chắc hẳn có người vu oan hãm hại!”

Than ôi! Chu Uy khẽ thở dài. “Ta cũng biết là có người hãm hại. Nhưng chiếc giày này là vật chứng duy nhất, hiện giờ Công Tôn Diễn cũng là nghi phạm duy nhất. Hơn nữa, cho dù là người nào hãm hại, thì chân tướng cũng vẫn sẽ là chân tướng.”

“Hạ quan tuân lệnh!”

Bạch Hổ dẫn theo binh lính, vội vã chạy đến nhà Công Tôn Diễn. Đi được một lúc, Bạch Hổ dừng chân, căn dặn mọi người: “Công Tôn Diễn võ công cao cường, ám khí lợi hại. Bây giờ mọi người hãy cùng ta trở về phủ, lấy khiên, cung tên, sau đó hãy đi bắt người!”

Binh lính cùng vâng dạ, đều quay về phủ tư đồ.

Cùng lúc đó, một cỗ xe ngựa lao như bay đến trước cửa nhà Công Tôn Diễn. Công tử Hoa nhảy vụt xuống xe, không kịp gọi đã đẩy tung cánh cổng lao thẳng vào trong.

Công Tôn Diễn đang luyện kiếm trong sân, thấy có khách không mời lao vào, lập tức thu thế, đưa mắt nhìn chằm chằm vào đối phương.

“Phải chăng là Công Tôn tiên sinh?” Công tử Hoa vừa vái vừa hỏi.

“Chính tại hạ!”

“Tiên sinh, đại hoạ sắp giáng xuống đầu rồi, còn ở đây luyện kiếm?”

“Đại hoạ?” Công Tôn Diễn cười nhạt. “Tại hạ không gây thù chuốc oán với ai, thì gặp đại hoạ gì được?”

“Lầu Miên Hương xảy ra án mạng, quan phủ nghi ngờ do tiên sinh gây ra, đang đến bắt tiên sinh đó!”

Công Tôn Diễn kinh ngạc: “Ngươi là ai?”

“Tại hạ là bạn của Mộc Vũ Khuy tiên sinh, phụng mệnh Mộc tiên sinh đến cứu ngài!”

“Mộc tiên sinh?” Công Tôn Diễn đang nghi hoặc, thì một người phi ngựa lao như bay đến, tung mình xuống ngựa, đưa cho Công Tôn Diễn một phong thư rồi lập tức phóng đi ngay.

Công Tôn Diễn mở thư ra đọc, nhận ra chữ của Bạch Hổ: “Lầu Miên Hương xảy ra án mạng, thảm sát bốn mươi hai mạng người. Hiện trường phát hiện một chiếc giày dính máu, điều tra được là giày của Công Tôn huynh. Chu tư đồ biết có người hãm hại, nhưng vẫn lệnh cho tại hạ đến bắt huynh. Sự việc hệ trọng, tại hạ cho rằng Công Tôn huynh mau trốn đi là thượng sách. Không kịp nói rõ, nửa canh giờ sau tại hạ sẽ đến bắt huynh.”

Công Tôn Diễn chết lặng.

“Công Tôn huynh!” Công tử Hoa thúc giục. “Mau đi thôi, chần chừ sẽ không kịp nữa!”

Công Tôn Diễn vẫn không nhúc nhích.

“Công Tôn huynh!” Công tử Hoa lại giục. “Giữa đô thành Đại Ngụy, ngay dưới mắt bệ hạ mà có kẻ dám vào lầu Miên Hương giết người, vu oan giá hoạ cho Công Tôn huynh, hẳn có thế lực hậu thuẫn. Công Tôn huynh dù muốn làm rõ trắng đen, cũng không phải là vào lúc này!”

Công Tôn Diễn lúc này mới định thần lại được, thở dài một tiếng, chạy vội vào nhà, mang theo hai bó sách còn lại đi ra khỏi cổng, nhảy lên xe ngựa của công tử Hoa.

Công tử Hoa ra roi quất ngựa, vội vã lao đi.

Màn tranh giành kịch liệt chức tướng quốc đã khép lại bằng huyết lệ của vô số hương sắc lầu Miên Hương và cuộc bỏ trốn vội vàng của Công Tôn Diễn.

Mấy ngày sau đó, trong chính điện của cung Ngụy thiết đại triều. Vì có chỉ dụ đặc biệt, văn quan võ thần từ trung đại phu trở lên toàn bộ thượng triều, khiến triều đường đông nghẹt như kiến. Thượng đại phu Trần Chẩn dường như đã có dự cảm, hôm nay phục sức chỉnh tề, mặt tươi rói một nụ cười đắc ý. Công tử Ngang cũng rất vui vẻ, mặc dù đã bị tước mất binh quyền, nhưng vẫn mặc giáp trụ, uy phong lẫm liệt đứng đầu chư tướng.

Ngụy Huệ Vương vẫn ngồi uy nghiêm trên ngai vàng giống như những buổi đại triều khác, mặt không cảm xúc. Đối lập với đó, thái tử Thân lộ rõ vẻ đau buồn. Có lẽ là do Thiên Hương cô nương vô cớ chết thảm, nên thái tử tự dằn vặt mình, bởi lúc trước Huệ Thi đã cảnh báo, nhưng thái tử không chịu nghe, dẫn tới phát sinh thảm án! Cũng có lẽ do phụ vương sớm tối nhắc đến chuyện Thiên Hương cô nương trước mặt thái tử, nghiêm khắc trách mắng. Hoặc cũng có lẽ là cả hai, nên sau khi thượng điện, lúc nào cũng mặt ủ mày chau, hai mắt vô thần luôn nhìn xuống đất.

Việc lớn đầu tiên mà đại triều xử lý chính là vụ án mạng trong lầu Miên Hương. Chu Uy bước lên một bước, bẩm tấu lại một lượt toàn bộ tình tiết vụ án, cuối cùng nói: “Tại hiện trường nhặt được một chiếc giày dính máu, qua điều tra, phát hiện đó là giày chân trái của Công Tôn Diễn. Vi thần đã phái người đến bắt, nhưng Công Tôn Diễn đã bỏ trốn, vi thần đang điều đại binh tìm kiếm khắp nơi!”

Chu Uy bẩm tấu xong, toàn bộ chính điện lặng im phăng phắc, không khí hết sức nặng nề.

Ngụy Huệ Vương từ tốn hỏi: “Còn gì nữa không?”

“Vi thần cho rằng, án này có nhiều điểm khả nghi, vi thần ngờ rằng, hoặc giả có người rắp tâm hãm hại, vu oan giá hoạ.”

“Có điểm gì đáng nghi?”

“Theo vi thần được biết, Công Tôn Diễn hành sự ngay thẳng, trước nay không hề qua lại với kỹ viện, càng không có thù oán gì với lầu Miên Hương, nên không hề có động cơ giết người, đó là thứ nhất. Chiếc giày nhặt được ở hiện trường là của nghi phạm, nhưng đế giày lại không dính bùn đất, không giống như giày người ta đang đi. Ngoài ra, sau khi tra xét, thấy chiếc giày còn lại của nghi phạm vẫn nằm trong phủ Công Tôn Diễn, không có dấu vết được đi gần đây. Vi thần cho rằng, nghi phạm không thể nào đi một chiếc giày để hành hung được!”

“Đã không hành hung, vậy tại sao phải bỏ trốn?”

Chu Uy bị hỏi khó, lắp bắp nói: “Điều này… vi thần cũng không rõ!”

“Chu ái khanh, quả nhân biết khanh có qua lại thân thiết với nghi phạm, liệu có ý thiên vị chăng?”

Chu Uy quỳ xuống, khấu đầu: “Bệ hạ…”

“Được rồi!” Ngụy Huệ Vương xua tay. “Chu ái khanh, quả nhân còn không hiểu khanh hay sao? Bình thân, án này khanh không cần điều tra nữa! Trần ái khanh…”

Trần Chẩn bước lên trước: “Có vi thần!”

“Vụ án mạng ở lầu Miên Hương sẽ do khanh tiếp quản điều tra. Bất kể liên quan đến ai, hễ điều tra ra, đều nghiêm khắc trừng trị!”

Trần Chẩn nói lớn: “Vi thần tuân chỉ!”

Ngụy Huệ Vương liếc nhìn quần thần, chậm rãi nói: “Các vị ái khanh, việc này coi như mở đầu cho buổi đại triều hôm nay. Bây giờ quả nhân sẽ thông báo hai việc lớn!”

Triều thần nghe vậy, thảy đều chấn động, đặc biệt là Trần Chẩn, lập tức đứng thẳng người, mắt nhìn chằm chằm vào Huệ Vương.

Ngụy Huệ Vương nói lớn: “Nước không thể lâu ngày không có tướng quốc. Từ sau khi Bạch tướng quốc quy tiên, quả nhân luôn lo lắng chọn người để trao cho trọng trách. Đến nay, quả nhân đã tìm được nhân tài xứng đáng. Việc lớn đầu tiên mà quả nhân muốn tuyên bố, chính là bái tướng quốc.”

Có thể do căng thẳng quá độ, có thể bởi hy vọng quá lớn, nên trong thời khắc quyết định này, cổ họng Trần Chẩn đột nhiên ngứa ngáy, không thể nhịn nổi mà bật ho thành tiếng. Cho dù tiếng ho cực khẽ, nhưng tất cả mọi ánh mắt trong triều đường vẫn đổ dồn cả lại, dường như chức vị tướng quốc mới sắp được chiếu cáo, chính là thượng đại phu Trần Chẩn.

Đúng vào lúc này, Ngụy Huệ Vương quay sang tỳ nhân, chậm rãi nói: “Tuyên Huệ Tử thượng điện!”

Tỳ nhân cao giọng hô: “Bệ hạ có chỉ, tuyên Huệ Tử thượng điện!”

Quần thần đều giật mình kinh ngạc.

Trần Chẩn, công tử Ngang đưa mắt nhìn nhau.

Huệ Tử vẫn ăn mặc theo lối sĩ tử, bước từng bước chậm rãi lên cung điện, đi qua cửa điện, dập đầu bái lạy Huệ Vương: “Huệ Thi người Tống khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương quay sang tỳ nhân: “Tuyên chỉ!”

Tỳ nhân lấy ra một đạo chiếu thư từ trong tay áo, cất giọng sang sảng: “Huệ Thi người Tống nghe chỉ!”

Huệ Thi lại dập đầu: “Huệ Thi kính cẩn nghe chỉ!”

Tỳ nhân tuyên đọc: “Huệ Thi người Tống, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, am hiểu danh thực, thông tỏ thời thế, xứng đáng là bực đại hiền trong thiên hạ. Từ hôm nay, quả nhân bái Huệ Tử làm tướng quốc Đại Ngụy, thống lĩnh văn võ bá quan, xử lý triều chính trong ngoài. Khâm thử!”

Huệ Thi khấu bái: “Huệ Thi lĩnh chỉ!”

Ngụy Huệ Vương liếc nhìn tỳ nhân, tỳ nhân hiểu ý, bèn đặt ngự chỉ xuống, nâng ấn tướng quốc lên, hai tay dâng lên Ngụy Huệ Vương.

Huệ Vương tay cầm đại ấn, nói lớn: “Mời tướng quốc bình thân, nhận ấn!”

Huệ Thi tiếp tục bái lạy, đứng dậy nhận lấy ấn tướng quốc, hai tay nâng ấn, từ từ lùi về chỗ cũ, lại hành đại lễ, rồi đứng dậy bước tới chỗ của Bạch Khuê trước đây.

Một cơn hoa mắt chóng mặt ập tới khiến Trần Chẩn chao đảo mấy cái mới gắng gượng lấy lại được thăng bằng.

Ngụy Huệ Vương liếc xéo Trần Chẩn, giả như không thấy, chậm rãi nói: “Chư vị ái khanh, quả nhân sẽ chiếu cáo việc lớn thứ hai, đó là trong vòng ba tháng, sẽ dời đô đến Đại Lương!”

Dưới chân núi Thuý Sơn, trước mộ Bạch Khuê, Công Tôn Diễn đặt hai bó sách còn lại xuống trước bia mộ, lạy liền ba lạy, khóc mà nói: “Công Tôn Diễn đã phụ sự uỷ thác của tướng quốc, nay đến đây nhận tội!” Nói xong liền châm lửa, đốt cháy hai bó thẻ tre.

Nhìn đống thẻ tre cháy bùng bùng, Công Tôn Diễn lại lạy mấy lạy, nghẹn ngào nói: “Tướng quốc đại nhân, không phải Diễn không báo đáp Ngụy, mà Ngụy đã phụ Diễn!”

“Công Tôn huynh!” Công tử Hoa bước lên một bước. “Nơi này không nên ở lâu, chúng ta hãy đi nhanh là hơn!”

“Than ôi!” Công Tôn Diễn thở dài não nề. “Không giấu ân công, tại hạ đã chẳng còn nơi nào để đi nữa!”

“Công Tôn huynh!” Công tử Hoa nói. “Mộc huynh có vài mối làm ăn ở Hàm Dương, đã để lại thư cho Tiểu Hoa, dặn Tiểu Hoa hãy đến thành Hàm Dương. Nếu Công Tôn huynh không có nơi nào để đi, vậy hãy cùng Tiểu Hoa đến Hàm Dương, sau đó ai đi đường nấy, huynh thấy thế nào?”

“Tại hạ là người bị truy nã, e rằng sẽ làm liên luỵ đến ân công và Mộc huynh.”

“Lời này sai rồi! Mộc huynh không phải hạng trọng lợi khinh nghĩa, Tiểu Hoa cũng chẳng phải phường tham sống sợ chết, Công Tôn huynh nói đến liên luỵ, há chẳng phải hơi quá lời?”

“Ân công và Mộc huynh liều mạng cứu giúp, bảo Công Tôn Diễn phải báo đáp thế nào đây?”

“Công Tôn huynh có thể coi hai chúng tôi là bạn, đã là báo đáp lớn rồi!”

Công Tôn Diễn nhìn bia mộ Bạch Khuê lần cuối, sau đó cùng công tử Hoa đi thẳng xuống núi, không ngoái đầu lại.

Hai người bỏ lại xe ngựa, mỗi người cưỡi một con chiến mã, dưới sự bảo vệ của hai kẻ áo đen, nhanh chóng chạy sang nước Hàn. Họ đi qua Thượng Đảng, rồi vòng về Thiếu Lương Hà Tây, chẳng bao lâu đã tới Hàm Dương.

So với mấy tháng trước, quanh cung Hàm Dương đã thay đổi rất nhiều. Ở bên phải cổng chính của cung thành, vốn dĩ là con phố dịch quán của liệt quốc, đã được sửa thành phố Sĩ Tử theo chiếu dụ của Huệ Văn Công, quán trọ, dịch quán mọc lên như nấm sau mưa.

Công tử Hoa dừng lại trước một quán trọ sang trọng, chỉ vào con phố Sĩ Tử, nói với Công Tôn Diễn: “Công Tôn huynh hãy xem, Tần Công mới lên ngôi, đã chiêu hiền nạp sĩ khắp liệt quốc, nên mới đặt tên phố này là phố Sĩ Tử, chuyên dùng để tiếp đãi các sĩ tử từ liệt quốc đến Tần. Các sĩ tử nghe tiếng tìm đến nhiều vô số kể, nhiều thì một ngày có đến mấy chục, ở chật cả con phố. Chúa thượng sắp đặt quan viên sát hạch, lựa theo tài năng mà dùng.”

“Vậy ư?” Công Tôn Diễn thật lòng khen ngợi. “Xem ra hoài bão của Tần Công chẳng hề thua kém tiên công!”

“Đương nhiên rồi!” Công tử Hoa cười nói. “Nước trên sông cả, sóng sau đè sóng trước, quân chủ nước Tần, đời sau hơn đời trước!” Rồi chỉ vào quán trọ. “Đây là quán trọ do bằng hữu của Mộc tiên sinh mở, Mộc tiên sinh đã gửi thư đến trước, Công Tôn huynh hãy tạm nghỉ chân nơi này!”

“Đa tạ Mộc tiên sinh, tại hạ lạ người lạ đất, cung kính chẳng bằng tuân lệnh.”

Nghe tiếng ngựa hí, tiểu nhị vội vàng chạy ra, thấy là công tử Hoa liền quay đầu gọi: “Chưởng quầy, đại công tử đến rồi!”

Giả Xá Nhân từ bên trong đi ra, vòng tay trước công tử Hoa nói: “Xá Nhân xin chào công tử!”

“Giả tiên sinh!” Công tử Hoa chỉ vào Công Tôn Diễn nói. “Vị này chính là Công Tôn tiên sinh, bạn của Mộc tiên sinh, muốn dừng chân ở đây mấy hôm, tiền phòng sẽ trả một lần.”

Giả Xá Nhân liếc nhìn Công Tôn Diễn, vòng tay vái chào: “Tại hạ Giả Xá Nhân xin chào Công Tôn tiên sinh!”

Công Tôn Diễn vòng tay đáp lễ: “Tại hạ Công Tôn Diễn xin chào Giả tiên sinh!”

“Công Tôn tiên sinh, mời!”

Sắp xếp xong xuôi, công tử Hoa vòng tay nói với Công Tôn Diễn: “Công Tôn huynh, đi ngựa đường xa, chắc tiên sinh cũng đã mệt rồi, hãy nghỉ ngơi trước! Tiểu Hoa còn chút việc phải làm, đi một lát sẽ về!”

“Ân công xin cứ tự nhiên.”

Lúc trời gần tối, công tử Hoa quay trở lại quán trọ, gõ cửa phòng Công Tôn Diễn: “Công Tôn tiên sinh, Mộc tiên sinh đến thăm ngài đây!”

“Ồ!” Công Tôn Diễn ngạc nhiên. “Mộc tiên sinh… hiện ở đâu?”

“Ở ngay nhã phòng phía trước, đang cung kính đợi Công Tôn huynh!”

Công Tôn Diễn đi theo công tử Hoa vòng qua hai dãy nhà, nhìn thấy một khu phòng còn hoa lệ hơn nữa, Sư Lý Tật đang đứng đợi sẵn trước cửa.

Từ xa nhìn thấy, Sư Lý Tật đã vội bước ra vái chào: “Công Tôn huynh!”

Công Tôn Diễn dừng bước đáp lễ: “Mộc huynh!”

“Được biết Công Tôn huynh đã trở về an toàn, tại hạ cũng thấy yên tâm!”

“Lần này gặp nạn, may nhờ Mộc huynh liều mạng cứu giúp, tại hạ cảm kích vô cùng.”

“Công Tôn huynh quá lời rồi, tại hạ thực không dám nhận, vì người thực sự cứu Công Tôn huynh không phải tại hạ, mà là đại ông chủ của tại hạ!”

“Vậy ư?” Công Tôn Diễn kinh ngạc. “Dám hỏi Mộc tiên sinh, ông chủ hiện đang ở đâu?”

“Nghe nói Công Tôn huynh đến, ông chủ đã đích thân đến đây bày tiệc tẩy trần, đang chờ trong sảnh!” Sư Lý Tật chìa tay mời. “Công Tôn huynh, mời!”

Công Tôn Diễn đi theo Sư Lý Tật đến phòng khách, quả nhiên thấy có hai người đang ngồi trong phòng, phục sức rất lịch thiệp nho nhã, không hề có dáng vẻ thương gia.

Vừa thấy Công Tôn Diễn đi đến, hai người liền đứng cả dậy.

Sư Lý Tật bái lạy, nói: “Ông chủ, Công Tôn tiên sinh đã đến!”

Công Tôn Diễn vòng tay vái chào: “Công Tôn Diễn xin chào ông chủ!”

Ông chủ này, chẳng phải ai khác, chính là Huệ Văn Công. Huệ Văn Công quan sát Công Tôn Diễn một lượt từ đầu đến chân, rồi vòng tay đáp lễ: “Đã nghe đại danh của tiên sinh từ lâu, hôm nay mới được gặp mặt, quả là nhân tài anh tuấn!” Rồi chỉ vào Trúc Viễn. “Xin giới thiệu, vị này là Trúc tiên sinh, đây mới là ông chủ của quán trọ này.”

Công Tôn Diễn vòng tay vái chào: “Công Tôn Diễn xin chào Trúc tiên sinh!”

Trúc Viễn đáp lễ: “Tại hạ xin chào Công Tôn tiên sinh!” Rồi chỉ tay xuống chiếu. “Công Tôn tiên sinh, mời ngồi!”

Mọi người lần lượt ngồi xuống chiếu. Trúc Viễn vỗ tay, Giả Xá Nhân bèn lệnh cho người hầu mang rượu và thức ăn lên, bày đầy các bàn.

Huệ Văn Công đích thân rót rượu, hai tay đưa mời Công Tôn Diễn, xong lại rót đầy chén của mình, rồi bảo tất cả mọi người cùng nâng lên: “Hoan nghênh Công Tôn tiên sinh đã đến nước Tần! Ta xin mượn một chén rượu của Trúc tiên sinh, để tẩy trần cho Công Tôn tiên sinh!”

Công Tôn Diễn nâng chén, nói: “Đa tạ ông chủ!”

Mấy người cùng nâng chén, rồi cùng uống cạn.

Huệ Văn Công đặt chén không xuống, đưa mắt nhìn Công Tôn Diễn: “Xin hỏi Công Tôn tiên sinh, lần này đến nước Tần, có dự tính gì chăng?”

“Hồi bẩm ông chủ,” Công Tôn Diễn vòng tay nói, “tại hạ đã là người phiêu bạt, giờ chỉ mong kiếm đủ cơm ăn!”

“Nếu nói như vậy,” Huệ Văn Công khẽ gật đầu, “ta có một mối kinh doanh, nếu tiên sinh không chê, có thể cùng lập nghiệp, tiên sinh thấy thế nào?”

“Dám hỏi ông chủ, kinh doanh việc gì?”

Huệ Văn Công nhìn Trúc Viễn, thấy Trúc Viễn gật đầu, liền nói rành rọt từng chữ: “Việc thiên hạ!”

Công Tôn Diễn vốn đã ngờ vực về thân phận thực sự của Mộc tiên sinh, công tử Hoa. Lần này đến nước Tần, trên đường đi lại càng thấy nghi vấn trùng trùng. Chỉ có điều sự việc đột ngột, bản thân cũng chẳng có đường lui, nên đành phải nhắm mắt đưa chân, phó mặc cho số phận. Lần này gặp được ông chủ, lại nghe ông ta nói vậy, Công Tôn Diễn đã đoán được nội tình, đưa mắt quan sát Huệ Văn Công kỹ lưỡng, lại nhìn kỹ Sư Lý Tật, công tử Hoa, Trúc Viễn, càng thêm khẳng định, lúc này không còn ngờ vực gì thêm, lập tức đứng dậy dập đầu bái lạy: “Thảo dân Công Tôn Diễn có mắt như mù, không biết chúa thượng giá lâm, xin chúa thượng thứ tội!”

“Ái khanh hãy bình thân!” Huệ Văn Công đứng lên, đỡ Công Tôn Diễn dậy. “Quả nhân đã tưởng nhớ đến ái khanh từ lâu, mong mỏi bao ngày, cuối cùng hôm nay cũng đã được gặp mặt, khiến quả nhân vui mừng khôn xiết! Quả nhân kính ái khanh một chén!”

Công Tôn Diễn hai tay nâng chén, nước mắt đầm đìa: “Công Tôn Diễn có tài đức gì mà được chúa thượng hậu ái đến vậy?”

Huệ Văn Công cười sảng khoái: “Quả nhân là người tham tài bậc nhất trong thiên hạ, tiên sinh là chí bảo của thiên hạ, quả nhân sao có thể thấy bảo vật mà không yêu?”

Nhớ lại hồi ở Ngụy, Công Tôn Diễn bất giác cảm thán: “Chỉ trong vài ngày, Công Tôn Diễn từ Ngụy sang Tần, khác nào từ cõi chết sang cõi sống. Đúng là hai vị quân chủ, hai bầu trời khác!”

“Công Tôn ái khanh,” Huệ Văn Công mỉm cười, “quả nhân đảm bảo với khanh, bầu trời này của quả nhân sẽ để ái khanh được sải cánh tung bay.”

Mười ngày sau, trong buổi đại triều của cung Tần, Huệ Văn Công ban chiếu, bái Công Tôn Diễn làm đại lương tạo thay cho Công Tôn Ưởng, cai quản toàn bộ văn võ bá quan.

Liệt quốc thảy đều chấn động.

Tần, Ngụy hai nước biến động kịch liệt, kịch hay màn màn nối tiếp, khiến tứ tử trong Quỷ Cốc nhìn mà trợn mắt há miệng.

Tất cả mọi tin tức đều được truyền đến từ cửa Túc Tư. Do trong núi không có muối, và cũng cần tiếp thêm các nhu yếu phẩm cần thiết hàng ngày như gạo, mì, dầu, vải, nên bốn đệ tử trong Quỷ Cốc cứ cách một vài tháng lại xuống núi một lần, trước tiên vượt Kỳ Thuỷ, sau lại vượt Hà Thuỷ đến cửa Túc Tư mua sắm. Từ núi Vân Mộng đến cửa Túc Tư khoảng trăm dặm, phải băng qua đoạn đường núi khá dài, vì vậy họ thường phải xuất phát từ sáng sớm, đến chiều mới tới nơi, buổi tối nghỉ lại cửa Túc Tư, trưa hôm sau lên đường trở về, sẩm tối mới về đến cốc.

Do cuộc sống trong núi tẻ nhạt vô vị, nên được đến cửa Túc Tư mua bán quả là một cơ hội tốt đẹp, vì vậy Bàng Quyên, Trương Nghi lần nào cũng tranh nhau đi. Đặc biệt là Trương Nghi vốn ham rượu, rượu trữ trong núi lại không nhiều, không gặp dịp quan trọng thì không được uống, vì vậy chỉ có xuống núi mới được uống thoả thích. Tuy nhiên, cho dù hai người tranh giành thế nào, tiểu đồng thân làm đại sư huynh luôn sắp xếp rất công bằng, dù Tô Tần, Tôn Tân không tranh giành, nhưng cơ hội cũng vẫn như nhau.

Hôm nay đến lượt Bàng Quyên và Tôn Tân xuống núi. Bàng Quyên liệt kê những đồ vật cần thiết rồi nhét vào tay áo, trời vừa sáng đã cùng Tôn Tân nhanh chóng lên đường.

Trên đường đi, Bàng Quyên không giống mọi ngày, không nói một lời, cứ thế lầm lũi mà đi. Tôn Tân vốn đã ít nói, lúc này đi sau vài bước chân, cũng chỉ lặng lẽ bám theo. Vượt qua Kỳ Thuỷ, đến một ngã ba, một đường đến bến đò, một đường đi Triều Ca. Bàng Quyên chẳng buồn ngẩng đầu, cứ thế đi thẳng về phía Triều Ca.

Tôn Tân ngạc nhiên dừng bước, thấy Bàng Quyên cứ đi phăm phăm, Tôn Tân cuống lên, gọi lớn: “Hiền đệ, đi đâu vậy?”

Bàng Quyên nghe thấy tiếng gọi, ngoảnh đầu lại nhìn, lúc này mới phát hiện mình đi nhầm đường, vội vàng quay lại, vừa đi vừa ngượng nghịu dang hai tay với Tôn Tân, lắc đầu cười nhăn nhó, như đã biết sai.

Tôn Tân cười nói: “Nhìn dáng vẻ của hiền đệ, hẳn là đang có tâm sự.”

Bàng Quyên thở dài: “Than ôi!”

“Hiền đệ có tâm sự gì, có thể nói cho huynh biết được chăng?”

“Đi thôi, việc này không nên nói ra là hơn!” Bàng Quyên lại cúi đầu lầm lũi bước đi.

Tôn Tân thấy hắn không chịu nói, nên cũng không miễn cưỡng, lại lặng lẽ đi theo sau.

Đi thêm một đoạn, lại là Bàng Quyên không nhịn nổi nữa, bèn đứng khựng lại, quay đầu nhìn Tôn Tân: “Tôn huynh, sáng sớm nay khi huynh gọi đệ, đệ đang nằm mơ thấy một người.”

“Mơ thấy người nào?”

“Than ôi!” Bàng Quyên khẽ thở dài. “Một người không nên mơ thấy.”

Tôn Tân cười nói: “Mơ mộng luôn trái ngược, có gì nên với không nên?”

“Tôn huynh có điều không biết, đúng là đệ rất không nên mơ thấy người đó.”

“Mau nói đi, là ai? Từ lúc nào hiền đệ lại học được cái kiểu nói năng lấp lửng như vậy?”

“Nếu đệ nói ra, Tôn huynh không được cười đệ!”

Tôn Tân phì cười: “Rốt cuộc là người nào mà khiến hiền đệ trở nên bí hiểm đến vậy?”

“Sư tỷ!”

Tôn Tân thoáng ngẩn người, rồi cười lớn mà nói: “Việc này thì có gì lạ? Hai hôm trước ta cũng mơ thấy sư tỷ, trong mơ sư tỷ dạy ta châm cứu, sư tỷ chìa tay ra, bảo ta châm kim lên đó, nhưng ta đâu có dám…”

Bàng Quyên không muốn nghe tiếp, ngắt lời mà nói: “Đấy là giấc mơ bình thường, chẳng có gì lạ, còn giấc mơ của đệ…

“Ồ? Hiền đệ mơ như thế nào?”

“Than ôi,” Bàng Quyên thở dài, “vô cùng dơ dáy!”

“Hiền đệ!” Tôn Tân vẻ đã hiểu ra, gật đầu cười mà nói. “Điều này cũng chẳng có gì đáng trách. Đệ ở trong mộng và đệ lúc tỉnh táo là hai người hoàn toàn khác nhau, không thể đánh đồng làm một!”

“Tôn huynh có điều không biết,” Bàng Quyên lắc đầu, “đối với người khác, có thể là hai chuyện khác nhau, nhưng đối với đệ, lại là một chuyện.”

“Nói như vậy, lẽ nào hiền đệ đã đem lòng yêu sư tỷ?”

Bàng Quyên trịnh trọng gật đầu.

Thì ra, từ hôm sinh nhật Ngọc Thiền, thân thể ngà ngọc của Ngọc Thiền đã in sâu trong tâm khảm Bàng Quyên, mấy ngày gần đây lại càng thêm ám ảnh, khiến Bàng Quyên bứt rứt đến khổ sở vô cùng.

“Hiền đệ!” Tôn Tân khẽ gật đầu. “Nói thực lòng, sư tỷ quả thật rất khả ái, đừng nói là đệ, mà tất cả đàn ông trên cõi đời này không ai là không thấy rung động.”

“Tôn huynh nói rất đúng!” Bàng Quyên càng nói càng xúc động. “Nhưng đệ… huynh cũng biết đấy, đúng là đệ… không nên… không nên yêu nàng, đệ… ôi, đệ… đệ… thực đốn mạt!” Nói đoạn, quỳ sụp xuống đất, vung quyền đấm thùm thụp vào đầu mình.

“Sư đệ đừng nghĩ vậy! Người ta sống ở trên đời, có thể yêu, cũng có thể hận, yêu thích là cảm xúc bình thường của con người, không thể nói là đốn mạt!”

“Tôn huynh có điều không biết,” Bàng Quyên vội nói, đệ… đệ đích xác là kẻ đốn mạt!” Rồi lại vung quyền toan đấm vào đầu, nhưng bị Tôn Tân ngăn lại.

“Hiền đệ,” Tôn Tân khuyên giải, “ta hiểu tâm trạng của đệ. Nếu hiền đệ thực lòng yêu sư tỷ, thì hiền đệ hãy thú thực với sư tỷ. Nếu hiền đệ không tiện nói ra, khi có cơ hội, ta sẽ nói giúp đệ. Có đồng ý hay không là ở sư tỷ, còn việc thích sư tỷ, yêu sư tỷ, lại là chuyện của hiền đệ, đệ thấy có đúng không?”

“Không! Không!” Bàng Quyên vội xua tay rối rít. “Tôn huynh, huynh… huynh hiểu lầm đệ rồi!”

“Hiểu lầm?” Tôn Tân ngạc nhiên.

“Không giấu Tôn huynh,” Bàng Quyên bắt đầu kích động, “đệ tâm cao khí ngạo, một lòng muốn làm đại sự, lập nên đại nghiệp kinh thiên động địa. Cũng là có cơ duyên nên đệ mới gặp được Tôn huynh, cùng vào Quỷ Cốc, được bái tiên sinh làm thầy. Thế nhưng… nhưng đệ đang làm những gì thế này? Than ôi, sư tỷ chế giễu đệ, chế giễu hay lắm. Nghĩ đến sư tỷ, một lòng hướng đạo, vì đạo mà sẵn sàng vứt bỏ tất cả, còn Bàng Quyên đệ… Than ôi, chỉ cần nghĩ đến những lời sư tỷ đã nói vào tối hôm đó, đệ lại cảm thấy… mình thật đốn mạt!” Rồi lại vung tay đấm vào đầu bình bịch.

Những lời bộc bạch và hoài bão to lớn của Bàng Quyên khiến Tôn Tân cảm động: “Hiền đệ…”

“Không giấu Tôn huynh, đệ đã suy nghĩ suốt dọc đường, cho đến lúc nãy, coi như đã hạ quyết tâm!” Bàng Quyên nói đoạn, sụp gối quỳ luôn xuống đất, ngửa mặt lên trời mà thề. “Trời xanh ở trên, Bàng Quyên xin thề, từ ngày hôm nay, Bàng Quyên nhất quyết đoạn tuyệt tư tình, chuyên tâm học nghiệp, nếu trái lời thề, sẽ như…” hai mắt liếc quanh, thấy bên cạnh có một gốc cây nhỏ, liền rút bảo kiếm, vụt một tiếng chém ngang thân cây, “… sẽ như gốc cây này!”

Kể cũng lạ, sau khi thề xong, Bàng Quyên bỗng thấy nhẹ nhõm lạ lùng, lập tức đứng thẳng dậy, rảo bước vùn vụt về phía bến đò, dọc đường nói nói cười cười, không còn bộ dạng ủ ê lầm lũi như lúc mới lên đường nữa.

Gần đến giờ Thân, hai người đã lên được đò, đi tới cửa Túc Tư. Bàng Quyên mua đủ những thứ cần thiết, bèn kéo Tôn Tân đi tìm quán trọ, sắp xếp xong chỗ nghỉ đêm, thấy trời vẫn còn sáng, liền gọi chủ quán thái ít thịt bò, thêm vài món ăn, một hũ rượu, đặt hết thức ăn vào trong giỏ, bảo Tôn Tân xách, còn mình ôm theo hũ rượu, cười mà nói với Tôn Tân: “Chỗ này uống rượu thực chẳng thú vị gì, đệ sẽ dẫn huynh tới một nơi!” Nói đoạn, liền đi trước dẫn đường.

Tôn Tân đi theo Bàng Quyên, lát sau đã đến bờ sông. Hai người đi dọc con đê một lúc, thì gặp một gốc cổ thụ.

“Là chỗ này!” Bàng Quyên chỉ tay vào gốc cây, nói.

Hai người ngồi xuống dưới gốc cây, bày thức ăn và rượu ra. Bàng Quyên rót đầy hai chén, bưng lên đưa cho Tôn Tân, lại nâng chén của mình lên, nói: “Tôn huynh, uống rượu ở nơi này thế nào?”

“Hay lắm, hay lắm!” Tôn Tân khen ngợi. “Hiền đệ chọn được chỗ này uống rượu, thật sảng khoái!”

“Không chỉ sảng khoái đâu, đệ chọn nơi này là còn có ý khác.”

“Hiền đệ cứ nói!”

Bàng Quyên chỉ vào gốc cổ thụ: “Tôn huynh có biết, cây này là do ai trồng không?”

Tôn Tân lắc đầu.

“Đại tướng quân Ngô Khởi!”

“Ồ!” Tôn Tân ngẩng nhìn lên tán cây, gật đầu nói. “Nghe nói năm xưa khi hai nước Triệu Ngụy tranh đoạt bến đò này, Ngô Khởi đã từng đến đây.”

“Đâu chỉ có từng đến đây? Ngụy, Triệu giao tranh ở đây nhiều năm, cửa Túc Tư mấy lần đổi chủ, chẳng ai chiếm được thế thượng phong. Ngụy Hầu sốt ruột, đã phái Ngô Khởi xuất chinh. Ngô Khởi chỉ mang theo hai ngàn binh mã, còn chưa kịp đến nơi thì người Triệu đã nghe tiếng mà tháo chạy. Ngô Khởi không đánh mà chiếm được cửa Túc Tư, thấy phong cảnh nơi này tuyệt đẹp, nên đã trồng cây bên bờ để kỷ niệm. Sau này, người dân nơi đây liền gọi cây này là cây Ngô Khởi.”

“Tại sao hiền đệ lại biết được những chuyện này?”

“Lần trước đệ đi tìm thúc phụ, trên đường đã nghe kể. Tôn huynh, hai ta hãy cạn chén vì Ngô Khởi tướng quân!”

Hai người cùng nâng chén, ngửa cổ đón gió, một hơi uống cạn, cảm thấy sảng khoái tận tâm can.

Hai người uống được một chặp, trời đã tối mịt, ánh trăng vằng vặc chiếu xuống mênh mang, mặt sông lấp loáng ánh bạc, cảnh tượng vô cùng tráng lệ.

Bàng Quyên hào tình trỗi dậy, phóng mắt nhìn dòng nước Hà Thuỷ bao la mà nói: “Xin hỏi Tôn huynh, thiên hạ ngày nay, huynh phục ai nhất?”

Tôn Tân trả lời ngay không chút đắn đo: “Tiên sinh!”

“Đây là điều đương nhiên!” Bàng Quyên cười nói. “Đừng nói là huynh, đệ cũng phục. Nhưng ý đệ là ngoài tiên sinh ra, huynh phục ai nhất?”

“Thế thì nhiều lắm, ví như Tuỳ Sào Tử tiền bối…”

“Đệ không hỏi cái này!” Bàng Quyên xua tay ngắt lời. “Đệ hỏi là trong những vị tướng quân điều binh đánh trận, huynh phục những ai?”

Tôn Tân ngẫm nghĩ một lát, rồi gập ngón tay liệt kê: “Điền Kỵ nước Tề, Công Tôn Ưởng nước Tần, Chiêu Dương và Khuất Cái nước Sở, Long Giả nước Ngụy, Phụng Dương Quân nước Triệu, Tử Chi nước Yên, Thân Bất Hại nước Hàn…”

“Tôn huynh ơi!” Bàng Quyên phá lên cười lớn. “Những người mà huynh vừa kể, chẳng có ai khiến đệ phục cả. Huynh thử nói xem, những người này đã lập được chiến tích nào đáng kể?”

“Ồ…” Tôn Tân ngần ngừ một lát. “Trong cuộc đại chiến Hà Tây, Công Tôn Ưởng lấy yếu thắng mạnh, một lần ra quân đánh bại hai mươi vạn võ binh nước Ngụy, như vậy có được coi là chiến tích chăng?”

“Ha ha ha!” Bàng Quyên lại cười lớn. “Đối đầu với một kẻ bị thịt như công tử Ngang, đừng nói là Công Tôn Ưởng, ngay cả hạng Chiêu Dương, Khuất Vũ, Long Giả, Điền Kỵ cũng có thể thủ thắng.”

“Nếu nói như vậy,” Tôn Tân gãi gãi đầu, “ta cũng không biết. Xin hỏi hiền đệ phục ai?”

Bàng Quyên lại uống cạn một chén rượu, mắt nhìn vào ánh trăng bàng bạc trên sông, chậm rãi nói: “Thiên hạ ngày nay, đệ vẫn chưa thể tìm ra một người đáng phục. Nếu như tính cả trước đây, đệ chỉ phục duy nhất một người, đó chính là người đã trồng cái cây này, tướng quân Ngô Khởi.”

“Đương nhiên rồi!” Tôn Tân cười nói. “Ngô Khởi tướng quân uy chấn thiên hạ, có ai không phục!”

“Nghe nói tổ tiên của Tôn huynh là Tôn Vũ Tử được tôn xưng là binh gia đệ nhất thiên hạ, Tôn huynh có ấn tượng gì không?”

“Nghe ông nội của huynh nói, tiên tổ dụng binh giỏi ở chỗ lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều, dùng mấy vạn quân Ngô đánh bại quân Sở hùng mạnh, giết hàng chục vạn quân địch, khiến ta nghe mà bội phục. Còn về việc tiên tổ có phải binh gia đệ nhất thiên hạ hay không, ta không dám nói bừa.”

“Đệ có một suy nghĩ, Tôn huynh thử nói xem, nếu tiên tổ Tôn Vũ Tử của Tôn huynh và Ngô Khởi tướng quân đối trận với nhau, không biết ai sẽ chiến thắng?”

Tôn Tân ngẩn ra một thoáng, rồi cười nói: “Đấy là việc không thể xảy ra.”

“Giả định đó là sự thật thì sao?”

Tôn Tân suy nghĩ một lúc: “Tiên tổ sẽ thắng!”

Bàng Quyên phá lên cười: “Thì ra Tôn huynh cũng biết thiên vị đấy. Được, Tôn Vũ Tử là tiên tổ của Tôn huynh, Tôn huynh nói vậy đương nhiên cũng hợp tình hợp lý.”

“Không phải huynh thiên vị!” Tôn Tân giải thích. “Cho dù Tôn Vũ Tử không phải tiên tổ, huynh cũng sẽ nói như vậy.”

“Ồ? Tại sao Tôn huynh lại khẳng định như vậy?”

“Tiên tổ dụng binh một đời, chưa từng thất bại.”

Bàng Quyên lại cười lớn một tràng: “Đệ còn cho rằng có nguyên nhân nào khác, té ra là như vậy. Nếu luận theo thắng bại, Ngô tướng quân không hề thua kém tiên tổ của Tôn huynh. Theo đệ được biết, Ngô Khởi ở Ngụy thì Ngụy mạnh, ở Sở thì Sở mạnh. Khi ở Ngụy, đại chiến tổng cộng bảy mươi sáu trận, toàn thắng sáu mươi tư trận, hoà mười hai trận, không bại trận nào. Tây phục Tần, bắc dẹp Triệu, đông quét Tề, nam chế Sở, mở rộng đất đai ngàn dặm. Sau khi đến Sở, lại càng đánh đông dẹp tây, mở rộng lãnh thổ nghìn dặm!”

“Cho dù không bại trận nào, cũng không thể so sánh được!”

“Tại sao lại không thể so sánh?”

“Tiên tổ có một cuốn binh thư đệ nhất thiên hạ, nhưng chưa từng nghe Ngô Khởi tướng quân có trước tác nào.”

Bàng Quyên nhớ lại Quỷ Cốc Tử từng nói về cuốn binh thư của Tôn Vũ Tử, nhất thời không còn lời nào đối đáp.

Tôn Tân nâng chén rượu lên, cười nói: “Ai hơn ai kém, ai thắng ai bại, đều chẳng phải là sự thực, hiền đệ bất tất phải cần để bụng. Nào, chúng ta hãy cùng uống hết chỗ rượu này!”

Bàng Quyên chậm rãi nâng chén, hai mắt nhìn xuống mặt nước mênh mang, như có điều gì nghĩ ngợi.

Sau khi trở về Quỷ Cốc, trong lòng Bàng Quyên đã có thêm một tâm sự, bèn tìm kiếm khắp trong động sách của Quỷ Cốc Tử, cắm cúi suốt mấy ngày trời, quả nhiên không tìm thấy bất cứ cuốn sách nào của Ngô Khởi.

Vào một buổi trưa, Bàng Quyên đang suy nghĩ về chuyện này thì thấy Quỷ Cốc Tử bước tới.

Bàng Quyên lập tức đứng dậy, dập đầu sát đất: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”

“Bàng Quyên!” Quỷ Cốc Tử ngăn lại. “Ta đã từng nói, nếu không có việc lớn thì không cần hành đại lễ. Con đứng dậy đi!”

Nhưng Bàng Quyên không đứng dậy, tiếp tục dập đầu: “Tiên sinh, đệ tử có điều chưa hiểu, muốn được thỉnh cầu tiên sinh.”

Nghe thấy vậy, Quỷ Cốc Tử lập tức khoanh chân ngồi xuống, chậm rãi hỏi: “Nói đi, con có điều gì chưa hiểu?”

Bàng Quyên cũng đổi từ quỳ thành ngồi, rồi ngẩng lên hỏi: “Xin hỏi tiên sinh, Tôn Vũ Tử bản lĩnh ra sao?”

“Là danh tướng thiên cổ!”

“Vậy còn tướng Ngụy Ngô Khởi?”

“Cũng là danh tướng thiên cổ!”

“Đã cùng là danh tướng thiên cổ, vậy nếu để hai người họ đối trận trên chiến trường, ai sẽ thủ thắng?”

Quỷ Cốc Tử đáp ngay không chút do dự: “Tôn Vũ Tử sẽ thắng!”

“Ồ!” Bàng Quyên kinh ngạc. “Tại sao lại như vậy?”

“Điều con muốn hỏi là chuyện này ư?” Dường như Quỷ Cốc Tử không muốn trả lời, toan đứng dậy bỏ đi.

Bàng Quyên vội nói: “Tiên sinh, đệ tử vẫn còn có điều muốn hỏi!

Quỷ Cốc Tử lại ngồi xuống: “Nói đi!”

Bàng Quyên mắt đảo một vòng: “Nghe nói Ngô Khởi tướng quân từng viết một bộ binh thư, có chuyện này chăng?”

“Con nghe ai nói?”

Bàng Quyên ngần ngừ một thoáng: “Khi đệ tử còn ở An Ấp, nghe thấy người ta đồn như vậy.”

Quỷ Cốc Tử gật đầu xác nhận: “Đúng vậy, Ngô Khởi từng viết một cuốn sách, tên gọi ‘Binh pháp Ngô Khởi’.”

Bàng Quyên tiện miệng tìm bừa một lý do, không ngờ lại có được đáp án, khó tránh mừng rỡ pha lẫn thấp thỏm, buột miệng hỏi: “Hay quá! Vậy tiên sinh đã từng nhìn thấy cuốn sách này chưa?”

“Đã thấy!” Quỷ Cốc Tử đáp. “Ngô Khởi sinh thời từng gặp lão hủ một lần, lão hủ may mắn được đọc qua cuốn sách.”

“Nếu đã có sách, vậy tại sao đệ tử tìm mà không thấy?”

“Số phận của cuốn sách này cũng chẳng khác gì cuốn ‘Binh pháp Tôn Tử’. Ngô Khởi đến cuối đời mới viết sách này, sau khi viết xong, Ngô Khởi muốn tặng cho Sở Vương, nhưng Sở Vương đột ngột băng hà. Ngô Khởi lo sợ cuốn sách lọt vào tay kẻ xấu, nên đã tự đốt đi.”

“Đốt rồi ư?” Bàng Quyên cả kinh, vẻ thất vọng lộ rõ trên nét mặt, bàng hoàng hồi lâu mới ngẩng lên hỏi. “Tiên sinh, tại sao tiên sinh biết được Ngô tướng quân đã tự tay đốt đi?”

“Vì khi Ngô Khởi đốt sách, ta đứng ngay bên cạnh!” Lời vừa dứt, Quỷ Cốc Tử đứng ngay dậy, cất bước đi luôn.

Bàng Quyên thoáng sững sờ, rồi lập tức đứng dậy, đuổi theo mấy bước, hỏi lớn: “Tiên sinh, cuốn thánh thư đó quả thực không còn bản nào truyền lại hay sao?”

“Chắc là không!” Quỷ Cốc Tử không buồn quay đầu lại. “Cho dù có, cũng phải là người hữu duyên mới có được!”

Nghe thấy vậy, Bàng Quyên trong lòng chấn động, lập tức dừng bước, rồi quay trở lại, khoanh chân ngồi xuống, khổ sở suy nghĩ.

Bên tai Bàng Quyên lại vang lên lời nói của Quỷ Cốc Tử: “Ngô Khởi sinh thời đã từng gặp lão hủ… Lo sợ cuốn sách lọt vào tay kẻ xấu, nên đã tự đốt đi… Khi Ngô Khởi đốt sách, ta đứng ngay bên cạnh… Chắc là không. Cho dù có, cũng phải là người hữu duyên mói có được.”

“Chắc là không?” Bàng Quyên lẩm bẩm một mình. “Tại sao tiên sinh lại nói ‘chắc là không?’. Ý tại ngôn ngoại của câu này chính là ‘có’. Đúng, chắc chắn sách này vẫn còn, và đang nằm trong tay tiên sinh. Nếu không, câu ‘người hữu duyên’ kia phải giải thích thế nào?”

Bàng Quyên hai mắt sáng rực, toàn thân run rẩy, lập tức đứng dậy, tâm trạng vô cùng kích động, đi đi lại lại trên bãi cỏ, tự nhủ: “Nếu như ta đoán không sai, ‘Binh pháp Ngô Khởi’ đang nằm trong tay tiên sinh. Trong Quỷ Cốc này, tất cả đều là hư giả, chỉ có cái này mới là thật.”

Thế nhưng, phải làm thế nào mới có được món hàng thật này? Bàng Quyên trấn tĩnh trở lại, khoanh chân ngồi xuống, tiếp tục vắt óc suy nghĩ.

Quỷ Cốc Tử có một thói quen, nếu không ngồi thiền trong động thì cứ đến giờ Thân lại dạo bộ dọc theo con suối, đi cùng ông lúc là tiểu đồng, lúc là Ngọc Thiền, có khi chỉ đi một mình. Quỷ Cốc Tử rất đúng giờ, luôn ra khỏi cửa động vào giờ Thân, đi theo con suối khoảng nửa canh giờ thì quay lại, đi thêm nửa canh giờ, đến khi giờ Thân kết thúc cũng là lúc về đến cửa động.

Vào giờ Thân hôm nay, Quỷ Cốc Tử cũng giống như thường lệ, đi dạo theo con đường mòn. Đang đi, chợt nghe thấy có tiếng nói vọng lại từ khu rừng trước mặt: “Thầy nói, thuật do đạo chế ngự, cũng do đạo sử dụng. Đạo là cội gốc, thuật là mũi nhọn. Thầy nói, thuật dụng binh là ở chiến thắng, đạo dụng binh là ở ngừng chiến. Nên người khéo dùng binh, không đánh mà khuất phục được quân địch. Thầy nói, người không đánh mà khuất phục được quân địch, không đấu sức ở chiến trường, mà giỏi mưu lược, giỏi trù tính trong trướng. Kẻ giỏi mưu lược, trù tính trong trướng mà chiến thắng ngoài ngàn dặm, có thể biến can qua thành ngọc lụa, có thể dùng hai lượng phá nghìn cân. Thầy nói, kẻ phục thiên hạ, bắt đầu từ phục bản thân. Thầy nói, suy nghĩ không cốt ở chu toàn, mà cốt ở thận trọng; mưu tính không cốt ở kín kẽ, mà cốt ở âm hiểm; lời nói không cốt ở nhiều, mà cốt ở tinh. Thầy nói, núi không quý ở cao, mà quý ở có tiên; nước không quý ở sâu, mà quý ở có rồng; đọc sách không quý ở nhiều, mà quý ở tinh, quý ở lĩnh ngộ…”

Quỷ Cốc Tử khẽ mỉm cười, rồi đi đến chỗ phát ra tiếng nói, thấy Bàng Quyên tay cầm bó thẻ tre, đang lắc lư người mà đọc ra rả.

Liếc thấy Quỷ Cốc Tử, Bàng Quyên càng đọc to hơn: “Thầy nói, cuốn ‘Đạo đức’ của tiên thánh Lão Đam, ta cả đời không biết đã đọc mấy nghìn vạn lượt, nhưng đến nay vẫn chưa hoàn toàn triệt ngộ. Mới biết mấy chữ, đọc qua vài cuốn sách, có gì đáng khoe? Thầy nói, kẻ tự cho mình hiểu biết lại không hề thông minh, kẻ tự khoe khoang lại không hề có công lao, người ta sống trên đời, sao có thể tự coi mình là thông minh được?”

Quỷ Cốc Tử nghe đến đây, liền quay người bước đi.

Đúng vào lúc Quỷ Cốc Tử chuẩn bị bỏ đi, Bàng Quyên đã đặt sách xuống, dập đầu sát đất: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử đành phải quay người lại, cười hỏi: “Bàng Quyên, những câu con vừa đọc là từ sách nào?”

Bàng Quyên cười ngượng nghịu, nâng bó thẻ tre lên: “Đều là những điều tiên sinh hàng ngày dạy bảo. Đệ tử ngu độn, nên đành phải dùng đến cách này, ghi chép tất cả những lời nói thường ngày của tiên sinh vào sách, để thường xuyên đọc lại.”

Quỷ Cốc Tử lại cười: “Con đúng là người có tâm. Nhưng những lời ta nói, nếu chỉ ra rả ngoài miệng cũng là vô dụng. Quan trọng là phải ghi nhớ trong tâm, thời thường cảm ngộ.”

“Đệ tử ghi nhớ lời dạy của tiên sinh!”

“Nếu ghi nhớ được, hoặc giả có thể thành tựu!”

Bàng Quyên lại khấu bái sát đất, giọng đầy thương cảm: “Tiên sinh, như tình cảnh hiện tại, đệ tử chỉ e chẳng thành tựu được việc gì, lại làm nhục đến sư môn!”

“Tại sao con lại cho rằng mình không thành tựu được việc gì?”

“Đệ tử tài học nông cạn, tâm khí cao ngạo, từ khi còn nhỏ đã sùng bái Ngô Khởi tướng quân, lấy công nghiệp của Ngô Khởi tướng quân làm chí nguyện cả đời. Nhưng… đệ tử tâm có thừa mà sức không đủ, nghe nói tiên sinh và Ngô Khởi tướng quân từng là bằng hữu, ắt là thấu hiểu về Ngô Khởi, đệ tử khẩn cầu tiên sinh hãy nói riêng với đệ tử vài câu, đệ tử nhất định sẽ ghi khắc trong tâm, suốt đời cảm ngộ.”

Quỷ Cốc Tử nhìn Bàng Quyên một lúc, rồi gật đầu nói: “Hiếm khi con hiếu học thế này! Nói đi, con muốn biết chuyện gì về Ngô Khởi?”

“Đệ tử khẩn cầu tiên sinh truyền thụ cho ‘Binh pháp Ngô Khởi’!”

Quỷ Cốc Tử khẽ mỉm cười: “Nói vậy là con khẳng định trong tay ta có cuốn ‘Binh pháp Ngô Khởi’?”

Bàng Quyên nghe thấy vậy, lập tức hiểu rõ, vội vàng lạy liền ba lạy: “Đệ tử ngu muội, khẩn cầu tiên sinh truyền lại sách này cho đệ tử, đệ tử nhất định sẽ chuyên tâm nghiền ngẫm, mong thành tựu lớn, không phụ ơn thầy!”

Quỷ Cốc Tử cúi đầu ngẫm nghĩ, hồi lâu sau mới chậm rãi gật đầu: “Được thôi! Thánh thư trong thiên hạ, cũng nên truyền lại cho người hữu duyên. Con đã chọn lựa sách này, cũng coi như người hữu duyên. Giờ con hãy trở về, tắm gội sạch sẽ, đến giờ Tý đêm nay đến động của ta!”

Bàng Quyên lập tức lạy liền mấy lạy, xúc động đến bật khóc mà nói: “Đệ tử đa tạ tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử bèn quay đi, tiếp tục dạo bộ dọc con suối.

Nhìn theo bóng Quỷ Cốc Tử xa dần, Bàng Quyên trong lòng trăm hoa đua nở, vụt nhảy cẫng lên, hai tay nắm chặt, sung sướng đến phát cuồng, một hồi lâu sau mới sải rộng bước chân, mặt mũi hớn hở trở về nhà cỏ.

Trở về nhà, Bàng Quyên càng nghĩ càng đắc ý, lập tức lấy ra bộ quần áo sạch sẽ, vừa đi vừa hát nghêu ngao, đến thẳng bờ suối. Bàng Quyên tắm rửa sạch bong từ đỉnh đầu đến gót chân, lại lấy bồ kết vò kỹ tóc tai, thay quần áo sạch tinh tươm rồi quay trở về nhà cỏ. Ăn cơm tối xong, Bàng Quyên đến tìm tiểu đồng, kiếm cớ xin mấy nén hương, vào giờ Thân định liền đóng chặt cửa phòng, thắp hết hương lên, thành tâm kính ý, khấu đầu sát đất, chờ đợi đến giờ Tý.

Mặc dù Bàng Quyên làm mọi việc rất gọn gàng kín kẽ, không lộ chút sơ hở, nhưng vẫn không thể qua mắt người có tâm. Ngửi thấy mùi hương thơm ngát toả ra từng đợt từ phòng Bàng Quyên, Trương Nghi càng nghĩ càng ngờ, nằm ở trên giường mà hai mắt mở thao láo, dỏng tai lắng nghe, toàn thân tập trung theo dõi động tĩnh bên phòng Bàng Quyên, xem hắn định giở trò gì.

Cứ thế đợi đến lúc trăng lên giữa trời, Trương Nghi bỗng nghe thấy cửa phòng Bàng Quyên kêu lên cót két. Một lát sau, thấy tiếng bước chân của Bàng Quyên từ từ xa dần trên con đường trước cửa. Trương Nghi vẫn mặc nguyên quần áo nằm trên giường theo dõi, nghe rõ mồn một, vội vàng bật dậy, lặng lẽ bám sát theo sau.

Trong động, Quỷ Cốc Tử đang ngồi ngay ngắn, trên mặt bàn phía trước có đặt hai bó sách thẻ tre.

Bàng Quyên vào động, quỳ sụp xuống đất: “Đệ tử khấu kiến ân sư!”

“Bàng Quyên,” Quỷ Cốc Tử chỉ tay lên mặt bàn, chậm rãi nói, “đây chính là cuốn ‘Binh pháp Ngô Khởi’ mà con một lòng muốn có.”

Bàng Quyên tim đập rộn ràng, nhưng không dám đưa tay ra lấy, chỉ nhìn trân trân vào Quỷ Cốc Tử: “Tiên sinh…”

“Nếu muốn đọc, con hãy cầm đi!”

“Tiên sinh!” Bàng Quyên cố kìm nén nhịp tim nhảy loạn, ngẩng lên hỏi. “Lúc trước người từng nói, Ngô Khởi đã tự tay đốt sách, vậy cuốn sách này có phải thật không?”

“Sách này là tâm huyết một đời của Ngô Khởi, vốn có hai bản chính phụ, Ngô Khởi coi như bảo bối, không bao giờ cho người khác xem. Trước lúc lâm chung, Ngô Khởi đã đưa bản phụ cho lão hủ, chỉ đốt bản chính.”

Bàng Quyên sung sướng muốn phát cuồng: “Ý tiên sinh là, cuốn này là cuốn duy nhất còn lại trên đời?”

“Theo ta được biết, sách này chính là độc bản. Nếu có thêm bản khác, thì từ lâu đã trở thành báu vật tranh giành của người đời.”

Bàng Quyên nước mắt ròng ròng, dập đầu bình bịch: “Tiên sinh, đệ tử tạ ơn… tiên sinh!”

“Không cần phải tạ ơn ta. Nếu muốn tạ ơn, hãy tạ ơn Ngô Khởi!”

Bàng Quyên sững người: “Ngô Khởi tướng quân?”

“Đúng thế!” Giọng của Quỷ Cốc Tử vẫn điềm tĩnh như không. “Lúc Ngô Khởi tặng sách, đã căn dặn ta rằng, nếu muốn truyền lại sách này cho người khác, thì hãy truyền cho người nước Ngụy. Hôm nay ta truyền lại sách này cho con, chẳng qua là làm theo ý nguyện của Ngô Khởi mà thôi.”

Bàng Quyên dập đầu sát đất: “Ngô Tử ở trên, xin nhận của Bàng Quyên ba lạy!”

Thấy Bàng Quyên bái lạy xong, Quỷ Cốc Tử lại lên tiếng: “Bàng Quyên, sách này cho con đọc ba ngày. Sau ba ngày phải mang trả lại ta!”

“Đa tạ tiên sinh ban sách!” Bàng Quyên lại bái tạ rồi đứng dậy, nâng hai cuốn thẻ tre lên, cung kính lùi ra khỏi cửa động, rồi mới quay người đi về.

Trở về đến nhà cỏ, Bàng Quyên chẳng còn thiết đến ngủ nghê, lập tức chong đèn đọc thâu đêm.

Đến khi trời sáng, Bàng Quyên đã đọc hết hai cuốn thẻ tre. Nghe thấy Tôn Tân, Tô Tần, Trương Nghi đều đã dậy, đang vận động chân tay trên bãi đất trống, Bàng Quyên liền giấu kín cuốn sách đi, mở cửa ra khỏi phòng, bước lên bãi cỏ, vặn hông đá chân, lại luyện kiếm một hồi, sau đó mới xuống suối rửa mặt.

Đó là một ngày đẹp trời, mọi người theo thường lệ, cùng vào động tàng thư chọn sách, đọc sách. Bàng Quyên chọn lấy hai cuốn sách bình thường, trở về nhà cỏ, đổi lấy cuốn “Binh pháp Ngô Khởi”, rồi cắp đến đỉnh Hùng Kê, tìm lấy một nơi yên tĩnh, nhìn quanh không thấy bóng ai, liền ngồi xuống dưới một gốc cây cổ thụ, vừa đọc, vừa nhẩm thuộc lòng: “Ngô Khởi mặc áo nhà Nho, dùng cơ mưu quân sự để yết kiến Ngụy Văn Hầu. Văn Hầu nói, quả nhân không thích chuyện quân sự. Khởi nói, thần dùng cái hiển hiện để đoán cái ẩn vi, dùng quá khứ để xét đoán tương lai, cớ sao chúa thượng lại nói lời không thật lòng…”

Thời gian vùn vụt, chớp mắt đã đến giữa trưa. Tối qua cả đêm không ngủ, giờ lại đọc suốt nửa ngày trời, Bàng Quyên không gắng gượng nổi nữa, đầu đau nhức khó chịu vô cùng, nên đành đặt cuốn sách xuống, dựa vào gốc cây ngủ thiếp đi. Vừa chợp mắt, Bàng Quyên đột nhiên giật bắn mình, mở choàng mắt ra, ôm chặt hai cuốn thẻ tre vào trong lòng.

Ôm sách trong lòng, Bàng Quyên lại không thấy buồn ngủ nữa. Bàng Quyên mở một cuốn ra, giở một mạch đến tận cuối, đặt sang một bên, rồi tiếp tục dỡ cuốn kia ra, cũng giở đến tận cuối, cảm thấy đầu óc tê rần từng chặp, lại cuộn sách lại, lẩm bẩm một mình: ‘“Binh pháp Ngô Khởi’ tổng cộng có bốn mươi tám chương, ta đã đọc cả nửa ngày trời mà chỉ thuộc có sáu chương. Tiên sinh chỉ cho ta mượn ba ngày. Trong ba ngày phải đọc thuộc bốn mươi tám chương, không biết sẽ phải cực khổ thế nào. Chẳng may bỏ sót một câu, chẳng phải đáng tiếc lắm ư?” Lại nhắm mắt suy nghĩ một hồi, đột nhiên mở bừng mắt ra. “Đúng rồi, tại sao ta không chép lấy một cuốn, sau đó giao lại cuốn này cho tiên sinh, một là có thể phục mệnh, hai là còn có cái lưu lại, để sau này từ từ lĩnh ngộ.”

Nghĩ đến đây, Bàng Quyên lập tức mặt mày giãn nở, liền đứng dậy, tìm lấy một hốc cây, giấu hai cuốn sách vào trong đó, sau đó co cẳng chạy về nhà cỏ, lấy bút mực và một mớ thẻ tre, quay trở lại gốc cây, bắt đầu sao chép.

Chép một mạch đến tận khi trời tối, Bàng Quyên mới chỉ chép được có một nửa. Bàng Quyên ngẫm nghĩ một lát, rồi mang cuốn “Binh pháp Ngô Khởi” bản gốc trở về, giấu đám thẻ tre vừa sao chép và bút mực vào hốc cây, lại lấy cành khô che lên, đi quanh nhòm ngó một hồi, thấy đã an toàn tuyệt đối, lúc này mới xách theo hai cuốn sách xuống núi, vừa đi vừa hát nghêu ngao.

Tối đó, Bàng Quyên yên tâm vì đã có diệu kế sao chép, nên không phải suy nghĩ về bộ binh pháp nữa, ngủ rất say sưa. Sáng sớm hôm sau, Bàng Quyên vẫn theo lệ trả sách, sau đó trở về phòng đổi lấy hai cuốn thẻ tre lặng lẽ đi lên núi Đông Sơn. Vì trong lòng thắc thỏm, nên suốt dọc đường, Bàng Quyên hết rẽ ngang lại rẽ dọc, vòng vèo đến vài khúc mới tìm đến gốc cây, nhìn thấy mọi thứ vẫn y nguyên, thì mừng thầm trong bụng, ngồi xuống tiếp tục sao chép.

Hai ngày trôi qua, cuối cùng Bàng Quyên cũng đã chép xong toàn bộ cuốn sách vào thẻ tre, xỏ dây đóng thành sách. Để thuận tiện mang theo, Bàng Quyên viết chữ rất nhỏ, bản gốc vốn có hai cuốn, nhưng bản sao sau khi xâu lại chỉ còn một cuốn. Bàng Quyên ngắm nghía một lúc, rồi tự tay đề hai chữ “Ngô Khởi” để phân biệt với cuốn sách gốc “Binh pháp Ngô Khởi”.

Bàng Quyên đứng dậy, tiếp tục nhìn ngắm một lúc nữa rồi khẽ mỉm cười, đưa cuốn sách lên mũi hít ngửi, tự khen: “Thơm quá!”

Thấy trời gần tối, thời hạn ba ngày đã đến, Bàng Quyên bèn thận trọng cất cuốn sách mới sao chép vào trong hốc cây, lại phủ cành khô lá mục lên che đậy kỹ lưỡng, rồi mang theo bản chính “Binh pháp Ngô Khởi” xuống núi, vừa đi vừa hát vui vẻ.

Đi được mấy bước, Bàng Quyên bỗng đứng khựng lại, tự nhủ: “Sách này là cuốn độc bản trên đời, đến nay mới chỉ mình ta được đọc. Tôn Tân và ta cùng học binh pháp, hôm nay sư phụ truyền cho ta, chưa biết chừng hôm khác sẽ lại truyền cho Tôn Tân. Nếu như Tôn Tân cũng đọc được sách này, há chẳng phải sẽ ngang bằng với ta hay sao? Mặc dù Tôn Tân là huynh trưởng, con người cũng rất tốt, nhưng việc này không giống những việc khác, sách quý nhường này, tuyệt đối không được để lọt vào tay người thứ hai. Hơn nữa, lần trước Tôn Tân có được sách quý, cũng giấu ta đến núi Đông Sơn, một mình âm thầm đọc. Tôn Tân đã có ý đề phòng ta, thì ta cũng không nên cứ làm thằng ngốc!”

Bàng Quyên ngồi xuống dưới một gốc cây ven đường, dựa thân cây suy nghĩ hồi lâu, rồi nghiến răng tự nhủ: “Sách này đã lọt vào tay ta, đâu thể để người khác chạm đến?” Rồi hai mắt đảo một vòng, cầm hai cuốn thẻ tre lên, quay người đi thẳng lên đỉnh Hùng Kê.

Một lúc sau, Bàng Quyên đã lên đến đỉnh núi, lại do dự thêm một hồi nữa, rồi mới hạ quyết tâm, tự nhủ: “Muốn thành đại sự, quyết không được có lòng nhân của đàn bà!”

Nghĩ là vậy, Bàng Quyên cũng không chần chừ thêm nữa, giơ cuốn sách lên, thẳng tay quật mạnh vào vách đá. Chỉ nghe “rào” một tiếng, bó thẻ tre đã đứt tung toé, rơi đầy mặt đất. Bàng Quyên nhặt lấy đám thẻ tre, ném từng mảnh xuống vực sâu không đáy. Nhìn thấy thẻ tre bay tứ tung, tả tơi rơi xuống, Bàng Quyên khẽ thở dài một tiếng, rồi phủi tay, quay người đi thẳng xuống núi.

Khi Bàng Quyên đã đi xa, từ sau một bụi cây bỗng thấy Trương Nghi thò đầu ra.

Mấy ngày nay, Trương Nghi giống như một bóng ma, chẳng còn tâm trạng nào mà đọc sách, chỉ âm thầm theo dõi Bàng Quyên. Trương Nghi đi lên đỉnh núi, tìm kiếm quanh quẩn một hồi, nhặt được hai chiếc thẻ tre mà Bàng Quyên đã bỏ sót trên mặt đất, cho vào trong tay áo, bật ra hai tiếng cười ranh mãnh, rồi quay người xuống núi. Lại đi tới trước hốc cây mà Bàng Quyên giấu sách, lật tung đám cành khô, lấy ra cuốn “Ngô Khởi” mà Bàng Quyên đã cẩn thận sao chép xong xuôi, ngắm nghía một hồi, gật đầu khen ngợi: “Thằng cha này cũng khéo léo thực, chỉ có điều lòng dạ hơi thâm hiểm!”

Trương Nghi vừa hát ư ử vừa đi về. Đi được mấy bước, chợt nhìn thấy dưới đất có một đống gì đen sì sì, cứ ngỡ là con rắn cuộn tròn, vội vã lùi lại mấy bước. Giương mắt nhìn kỹ, thì nhận ra đó là một bãi phân lợn rừng, vẫn còn rất mới, có lẽ mới bĩnh ra tối qua. Trong đầu Trương Nghi bỗng nảy ra một ý, liền tìm lấy mấy cành cây, cẩn thận hốt bãi phân lợn lên, quay trở lại hốc cây, nhét vào nơi giấu sách của Bàng Quyên. Thấy vẫn chưa đủ, Trương Nghi lại tìm thêm một cành cây nữa, cày xới rối loạn xung quanh một chặp, rồi bẻ lấy một cành cây tươi, cẩn thận xoá hết các dấu chân, lúc này mới gật đầu hài lòng, cắp theo cuốn “Ngô Khởi” của Bàng Quyên, lại vừa hát vừa đi xuống núi.

Bàng Quyên trở về trong cốc, nhưng không vào gặp Quỷ Cốc Tử theo thời gian đã hẹn, mà đứng đợi bên bờ suối một lúc, đến khi trời tối sập, mới lặng lẽ đi vào động.

Trong động không có ai khác, chỉ thấy một mình Quỷ Cốc Tử đang ngồi ngay ngắn, dường như đang đợi Bàng Quyên.

Bàng Quyên đi vào, hai chân nhũn ra, quỳ sụp xuống đất, nước mắt ròng ròng: “Tiên sinh…”

Quỷ Cốc Tử thấy trong tay Bàng Quyên không có sách, lại quỳ xuống trước mặt mình, thì khẽ thở dài: “Vẫn chưa đọc xong ư?”

Bàng Quyên càng tỏ vẻ đau lòng, dập đầu bình bịch xuống đất, khóc mà nói: “Tiên sinh, đệ tử… đệ tử có lỗi với tiên sinh, đệ tử đáng chết! Tiên sinh…”

“Nói đi, đã xảy ra chuyện gì?”

Bàng Quyên nghẹn ngào nói: “Buổi chiều hôm nay, đệ tử lên đỉnh Hùng Kê đọc sách. Vì đọc mệt quá, nên nằm xuống ngủ thiếp đi, đặt cuốn sách ở bên vách núi. Không ngờ trong sơn cốc thình lình nổi lên một cơn gió xoáy dữ dội, cuốn cả bộ sách bay xuống vực sâu. Đệ tử sợ hãi, vội chạy xuống vách núi tìm kiếm, nhưng không thấy tung tích đâu cả. Đệ tử biết mình đã gây ra tội lớn, lại tìm kiếm suốt nửa ngày nữa, đến tận khi trời tối vẫn chẳng thể tìm ra, đành phải quay về, nghe tiên sinh xử tội.”

Quỷ Cốc Tử nhắm mắt im lặng.

Bàng Quyên tiếp tục dập đầu, khóc lóc: “Tiên sinh, đợi đến sáng mai, Bàng Quyên sẽ tiếp tục xuống vách núi tìm kiếm. Nếu thực sự không tìm được thánh thư, đệ tử… đệ tử thật không còn mặt mũi nào gặp tiên sinh nữa? Làm sao có thể đối diện với anh linh Ngô Khởi tướng quân?”

Quỷ Cốc Tử từ từ mở mắt ra, chậm rãi nói: “Bàng Quyên, con không cần tìm nữa!”

Bàng Quyên càng khóc dữ: “Tiên sinh coi trọng đệ tử như vậy, nhưng đệ tử thực chẳng ra gì. Tiên sinh có đánh có mắng thế nào, đệ tử cũng cam lòng chịu phạt.”

“Than ôi!” Quỷ Cốc Tử khẽ thở dài. “Không ngờ tâm huyết cả đời của Ngô Khởi lại theo gió bay đi!” Im lặng một lát, bèn ngẩng đầu nhìn Bàng Quyên. “Bàng Quyên, con đọc ba ngày, đã thuộc hay chưa?”

“Đệ tử nhận được thánh thư, không dám biếng nhác, suốt ba ngày qua chuyên tâm đọc thuộc, mặc dù chưa thể ghi nhớ hoàn toàn, nhưng cũng đã nhớ được ý chính, có điều lĩnh ngộ.”

“Con nhớ rồi thì tốt. Về đi, ta mệt rồi!”

Bàng Quyên lại bái lạy mà nói: “Tiên sinh bảo trọng, đệ tử cáo lui!”

Bàng Quyên đi rồi, Quỷ Cốc Tử ngồi trầm ngâm suy nghĩ một lát, rồi khẽ gọi: “Thiền Nhi!”

Ngọc Thiền nghe tiếng gọi, liền bước ra.

“Sáng sớm ngày mai, con hãy cùng tiểu đồng đi theo sơn cốc, vòng xuống dưới đáy vực Hùng Kê, nhìn thấy các mảnh thẻ tre rơi vãi, hãy nhặt hết mang về.”

Buổi trưa hôm sau, Ngọc Thiền và tiểu đồng mỗi người ôm theo một bó thẻ tre, đi vào trong thảo đường.

“Tiên sinh,” Ngọc Thiền bẩm báo. “Đây là tất cả những gì có thể tìm được!”

Ngọc Thiền tìm lấy sợi dây, định xâu những thẻ tre rời rạc thành sách.

“Không cần đâu!” Quỷ Cốc Tử xua tay ngăn lại. “Tiểu đồng, con hãy mang chúng ra ngoài thảo đường, châm lửa đốt đi.”

Tiểu đồng vâng lệnh, rồi ôm bó thẻ tre ra ngoài thảo đường, quẹt đá lửa châm cỏ mồi, đang định đưa thẻ tre lên mồi lửa thì Ngọc Thiền giơ tay ngăn lại: “Khoan!”

Tiểu đồng dừng lại, nhìn Quỷ Cốc Tử.

Ngọc Thiền băn khoăn hỏi: “Tiên sinh, sách quý là vậy, đốt đi há chẳng đáng tiếc lắm ư?”

Quỷ Cốc Tử không chút động lòng, nói với tiểu đồng: “Đốt đi!”

Tiểu đồng châm lửa, ngọn lửa nhanh chóng bùng lên. Thoáng chốc, đống thẻ tre đã hoá tro tàn.

Nhìn đống tro, Ngọc Thiền vẫn không chịu thôi, lại hỏi: “Tiên sinh! Bàng Quyên, Tôn Tân đều học binh pháp, sách này Bàng Quyên đã đọc, nhưng Tôn Tân chưa từng đọc qua, tại sao tiên sinh lại đốt đi?”

Quỷ Cốc Tử không trả lời, chỉ thở dài một tiếng, rồi quay người đi vào trong động.

Ngày hôm nay, Bàng Quyên không đi đâu, chỉ ở lì trong phòng.

Buổi trưa, Bàng Quyên ra khỏi nhà cỏ, nhìn thấy tiểu đồng phía xa, liên gọi khẽ: “Đại sư huynh!”

Tiểu đồng chạy đến: “Gọi ta có việc gì?”

“Lúc nãy sư đệ nhìn thấy sư huynh, sư tỷ đi đâu về, hình như có cầm thứ gì đó trong tay, xin hỏi sư huynh là báu vật gì vậy?”

“Báu vật?” Tiểu đồng cười khúc khích. “Làm gì có báu vật nào? Trời vừa sớm, chị Thiền Nhi đã kéo ta đi xuống đáy vực, tìm nhặt vài cái thẻ tre!”

Bàng Quyên thất kinh: “Nhặt được về chưa?”

“Có đại sư huynh ta ra tay, chẳng lẽ không nhặt được ư?” Tiểu đồng liếc xéo Bàng Quyên, khoé miệng nhếch lên, trông thật láu lỉnh. “Không giấu sư đệ, chị Thiền Nhi tìm thấy một bó, sư huynh ta cũng tìm thấy một bó. Bên dưới vách núi, lác đác đây một cái, kia một cái, khiến ta tìm nhặt mệt muốn chết, thôi đừng nói nữa!”

Bàng Quyên đưa tay ra hiệu: “Nhiều bằng này không?”

Tiểu đồng gật đầu: “Cũng khoảng chừng đó!”

Bàng Quyên sững sờ, rồi lẩm bẩm một mình: “Đúng là đồ ngốc, sao không đốt đi cho rồi?”

Tiểu đồng nghe thấy, lại cười khúc khích, rồi thuận miệng kể tiếp: “Bàng sư đệ, đệ đoán đúng rồi đấy! Chúng ta vừa về, tiên sinh đã bảo sư huynh mang đi đốt, lửa cháy đùng đùng!”

“Cái gì?” Bàng Quyên kinh hãi. “Sư huynh nói lại xem nào!”

Tiểu đồng cao giọng: “Tiên sinh bảo bản sư huynh đốt rụi hai bó thẻ tre đó rồi!”

Bàng Quyên như không tin nổi vào tai: “Thật không?”

“Ơ hay!” Tiểu đồng trợn mắt. “Sư đệ không tin đại sư huynh ư? Là đại sư huynh ta tự tay châm lửa đốt, còn có thể giả được ư?”

“Tin! Tin! Tin!” Bàng Quyên vội vái mà đáp luôn miệng, nói quấy quả thêm vài câu với tiểu đồng, rồi phất tay mà đi.

“Đốt rồi?” Bàng Quyên vừa đi vừa lẩm bẩm. “Không đúng, tại sao tiên sinh lại phải đốt đi? Theo tính cách của tiên sinh, nếu không muốn truyền cho người khác, thì trên đời này bất cứ ai cũng không thể có được. Còn nếu tiên sinh muốn truyền, cho dù có đốt cũng chỉ uổng công. Vì vậy tiên sinh hoàn toàn không cần thiết phải mang đốt.”

“Nhưng sự thực là, tiên sinh đã đốt rồi!” Bàng Quyên dừng bước, trầm ngâm suy nghĩ. “Đại sư huynh không biết nói dối, việc này chắc chắn là sự thực. Xem ra tiên sinh đã quyết tâm đốt cuốn sách này! Còn nữa, tiên sinh để đại sư huynh mang ra ngoài đốt giữa ban ngày ban mặt, rõ ràng là muốn để mọi người nhìn thấy. Tiên sinh truyền thụ sách này cho ta, như vậy là muốn cho ta thấy. Tại sao tiên sinh lại làm như vậy? Lẽ nào tiên sinh đã nhìn thấu tâm can của ta, cũng thực tâm truyền lại cuốn sách quý này cho một mình ta? Hoặc cũng có thể do tiên sinh thấy ta không trả sách, nên giận ta mà cố ý đốt sách đi?”

Bàng Quyên suy đi nghĩ lại, cuối cùng vẫn không thể đoán ra được nguyên do, chỉ tổ càng nghĩ càng thêm rối bời, bèn cười gượng mà nhủ thầm: “Thôi mặc kệ đi, là tiên sinh tự đốt chứ không phải là ta đốt. Hơn nữa, tiên sinh đốt đi cũng tốt, nếu sách này còn ở trong cốc, ta cũng không thể ngủ ngon.”

Nghĩ là vậy, tâm trạng của Bàng Quyên cũng nhẹ nhõm hơn hẳn, bèn nghĩ thầm: “Được rồi, tiên sinh đã kết thúc mọi việc ở đây, coi như không còn chuyện gì nữa. Ta cũng phải đi xem báu vật của mình mới được!”

Bàng Quyên lại ngâm nga vài khúc hát, vẻ mặt đầy mãn nguyện, đi về phía đỉnh Hùng Kê.

Trong lòng đã thanh thản, Bàng Quyên cũng chẳng cần rẽ ngang rẽ dọc, mà đi thẳng đến gốc cây, nhưng thấy xung quanh hỗn loạn tanh bành, rõ ràng đã bị ai phá phách.

Bàng Quyên kinh hãi rụng rời, thoắt cái đã mặt cắt không còn giọt máu, vội vã chạy bổ tới hốc cây, thò tay vào trong hốc, nhưng lại thọc đúng một bãi phân lợn.

Bàng Quyên lòng như lửa đốt, không đếm xỉa tới dơ bẩn, vội vã bới móc hết đống phân lợn trong hốc ra ngoài, lại khua khoắng trong hốc một hồi lâu, song chỉ tìm được bút nghiên và mấy tấm thẻ tre còn thừa lại, mà không thấy tăm hơi cuốn “Ngô Khởi” mà mình đã dày công sao chép đâu cả.

Hốc cây không lớn, không lọt nổi thân người. Bàng Quyên sục sạo vào tất cả những chỗ có thể với đến, nhưng chẳng thấy một thẻ tre nào nữa. Bàng Quyên như hoá rồ, lại điên cuồng tìm kiếm khắp xung quanh gốc cây, nhưng vẫn không thấy tung tích của bó sách. Nó đã không cánh mà bay!

Sau một hồi quýnh quáng, Bàng Quyên cũng từ từ bình tĩnh lại, quay về phía trước hốc cây, vừa quan sát vừa suy đoán: “Nơi này vô cùng kín đáo, trong Quỷ Cốc chưa từng có người đến đây. Hơn nữa, mấy ngày nay ta cũng không hề để lộ dấu vết, ba người Tôn Tân, Tô Tần, Trương Nghi hẳn đều không hay biết!” Lại nhìn vào vết phân lợn nhoe nhoét trên tay, quan sát cảnh tượng tan hoang xung quanh, đột nhiên sực tỉnh. Bãi phân lợn ở đâu tự dưng lại chui vào hốc cây này? Phải chăng chỗ này là một hang ổ lợn rừng, lợn rừng thấy ổ bị chiếm, nên đã giận dữ mà tha cuốn sách đi mất? Ừ, cũng có thể là như vậy! Ta hãy tìm kiếm xem sao, có lẽ đã bị con lợn chết tiệt kia tha đi mất rồi!”

Tìm kiếm một lúc, quả nhiên Bàng Quyên phát hiện trong rừng có dấu chân lợn, thì vui mừng quá đỗi, rút ngay bảo kiếm ra, lần theo dấu chân lợn đến bên bờ suối thì không thấy tăm hơi đâu nữa.

Bàng Quyên gột rửa các vết ô uế trên chân tay người ngợm, ngồi nghỉ một lát trên một tảng đá ven suối, sau đó ủ rũ quay trở về nhà cỏ, ngồi khoanh chân trên giường, nhăn nhó suy nghĩ.

Đột nhiên, trong óc Bàng Quyên bỗng vụt qua một ý nghĩ: “Ngoài tiên sinh ra, trong Quỷ Cốc không còn ai biết chuyện này. Lẽ nào lại là tiên sinh? Liệu có phải sau khi tiên sinh trao binh thư cho ta, vì không yên tâm nên đã âm thầm theo dõi, thấy ta sao chép thêm một cuốn, cảm thấy bất mãn nên đã trộm đi. Có vẻ không đúng, tiên sinh là người có đạo, làm sao có thể làm những chuyện như vậy được? Hay là tiên sinh bảo sư tỷ làm? Cũng không phải! Nếu là sư tỷ, chắc chắn sẽ không bỏ phân lợn vào trong đó! Hành động này chỉ tay Trương Nghi kia mới có thể nghĩ ra, nhưng chuyện binh thư, tiên sinh tuyệt đối sẽ không để Trương Nghi biết. Hay là đại sư huynh? Cũng không giống, nếu như đại sư huynh đã làm việc này, sư huynh tuyệt đối không có khả năng giả bộ hồn nhiên chân thực như buổi ban ngày. Còn nữa, sư tỷ và sư huynh vất vả lắm mới nhặt được thẻ tre trở về, tại sao tiên sinh nhất định phải đốt đi?”

Bàng Quyên càng nghĩ càng rối bời, sau cùng đứng bật dậy: “Không nghĩ nữa, ta phải đi hỏi tiên sinh mới được, xem tiên sinh nói thế nào!”

Bàng Quyên đi tới trước gian thảo đường của Quỷ Cốc Tử, thấy Ngọc Thiền đứng ngoài cửa, thì vòng tay vái mà hỏi: “Xin hỏi sư tỷ, tiên sinh có nhà không?”

“Có!”

“Nhờ sư tỷ bẩm báo với tiên sinh, Bàng Quyên cầu kiến!”

Giọng Ngọc Thiền hờ hững: “Vào đi, tiên sinh đang đợi sĩ tử!”

Nghe nói tiên sinh đang đợi, Bàng Quyên giật mình cả kinh, thấp thỏm đi vào trong thảo đường, quả nhiên thấy Quỷ Cốc Tử đang ngồi ngay ngắn trên chiếu.

Bàng Quyên quỳ sụp xuống đất, dập đầu mà nói: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”

“Đứng dậy đi!”

“Đệ tử không dám!” Bàng Quyên lại dập đầu nói. “Hôm qua đánh mất binh thư, đệ tử buồn bực vô cùng, cả đêm không ngủ được. Hôm nay nghe nói sư huynh, sư tỷ đã tìm được số thẻ tre bị gió cuốn mang về, đệ tử cũng thấy yên lòng, nên đến để tạ tội với tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói: “Về chuyện mất sách, kẻ có tội là gió, không phải là con, tại sao con phải tạ tội?”

“Tiên sinh nói phải, thế nhưng… sách là do đệ tử mượn, đệ tử…”

“Này Bàng Quyên!” Quỷ Cốc Tử khẽ thở dài, sắc mặt nghiêm lại, như muốn dạy bảo. “Con hãy nhớ kỹ lời của sư phụ: vô ý phạm lỗi, lỗi có lớn đến đâu cũng là lỗi nhỏ; cố ý phạm lỗi, lỗi có nhỏ đến đâu cũng là lỗi lớn. Lỗi lớn cũng được, lỗi nhỏ cũng được, nếu chịu hối cải, đều không đáng sợ, chỉ sợ sai mà không hối, sai lại thêm sai.”

Bàng Quyên dập đầu, khóc mà nói: “Lời giáo huấn của tiên sinh, đệ tử ghi lòng tạc dạ!”

Quỷ Cốc Tử cười gượng một tiếng: “Không cần ghi tạc! Con có thể nhớ được một chút cũng đã tốt rồi.”

“Tiên sinh!” Bàng Quyên ngẩng lên. “Đệ tử có một chuyện không hiểu!”

“Nói đi!”

“Nghe nói tiên sinh đã đốt hết số thẻ tre nhặt về, đệ tử nghĩ mãi vẫn không hiểu.”

“Không hiểu chỗ nào?”

“‘Binh pháp Ngô Khởi’ là thánh điển binh học, cớ sao tiên sinh nhất định phải… phải huỷ nó?”

“Được!” Quỷ Cốc Tử cất giọng sang sảng. “Con đã hỏi, vậy lão hủ cũng sẽ cho con biết. Khi Ngô Khởi tặng sách từng căn dặn ta, sách này chỉ được truyền cho một người, cho đọc ba ngày. Ta đã truyền lại cho con, con cũng đã đọc liền ba ngày, như vậy là đã thực hiện được lời hứa năm xưa, sách này cũng thành vô dụng. Ta đốt nó đi, chẳng qua là đem trả lại cho Ngô Khởi mà thôi.”

Bàng Quyên thở hắt ra một hơi: “Thì ra có chuyện này mà đệ tử không biết. Đệ tử chỉ cảm thấy sách tốt như vậy, đốt đi thực đáng tiếc!”

“Ồ!, Bàng Quyên!” Quỷ Cốc Tử lại thở dài. “Ta có lời muốn nói với con, sách tốt là ở đọc tốt, đọc tốt là ở ngộ tốt. Tâm có tạp niệm, chỉ đọc không ngộ, cho dù sách tốt đến đâu cũng thành vô dụng.”

Bàng Quyên cúi gằm mặt, nói lí nhí: Đệ tử xin ghi nhớ lời dạy bảo của tiên sinh!”

“Đi đi!”

Ra khỏi thảo đường, Bàng Quyên tìm đến một nơi yên tĩnh, ngửa mặt nằm xuống, tự nhủ trong lòng: “Thì ra tiên sinh đốt sách là vì lý do này, xem ra ta đã ngờ vực thái quá. Than ôi, cũng tại ta tự cho mình thông minh, chỉ vì lén lút sao chép mà đọc không chuyên tâm, khó khăn lắm mới có được sách quý, nhưng lại không biết để tâm vào đọc, chỉ có sáu chương đầu tiên là đọc thuộc, còn lại bốn mươi hai chương còn lại, hoàn toàn chẳng nhớ lấy một mảy may.”

Thở ngắn than dài một chặp, Bàng Quyên lật người đứng dậy: “Không được, ta phải nhanh chóng chép lại sáu chương kia! Nếu không, chẳng may quên mất đoạn nào, há chẳng đáng tiếc lắm ư?”

Rồi Bàng Quyên rảo bước trở về nhà cỏ, đóng chặt cửa phòng, mài mực, chuẩn bị thẻ tre, vừa nhẩm đọc vừa chép. Đang chép, bên ngoài bỗng nghe có tiếng bước chân vọng lại. Bàng Quyên giật bắn mình, vội ngưng thần lắng nghe. Thì ra là Trương Nghi đi đọc sách trở về, vừa đi vừa huýt sáo, tiếng guốc gỗ gõ lọc cọc dần lại gần, tiến thẳng về phía nhà cỏ. Vì đã có hiềm khích từ trước, nên gần đây hai người bằng mặt không bằng lòng, gần như không hề qua lại với nhau, Bàng Quyên không để tâm, tiếp tục sao chép.

Bước chân không nhanh không chậm, cũng chẳng hề chệch hướng, tiến thẳng tới trước cửa phòng của Bàng Quyên. Bàng Quyên sững lại, vừa đặt bút xuống, cửa phòng thình lình bị xô mạnh một cái. Vì Bàng Quyên chốt cửa rất chặt, nên Trương Nghi đẩy liền mấy cái thì chuyển sang gõ, rồi gọi toáng lên: “Bàng nhân huynh…”

Bàng Quyên cuống lên, vội lật chăn ra, giấu hết thẻ tre vào trong, rồi làm ra bộ ngái ngủ, vừa dụi mắt vừa mở cửa: “Ai đấy? Đang ngủ mà om sòm gì thế?”

Trương Nghi bước vào trong phòng, quét mắt về phía giường, thấy không giống như vừa có người ngủ, lại thấy trong nghiên có mực mới mài, trong lòng đã đoán được mấy phần, liền cười nói: “Ha ha ha, này Bàng nhân huynh, nếu như có lão phu tử Trọng Ni ở đây, huynh đoán xem sẽ xảy ra chuyện gì?”

Bàng Quyên ngạc nhiên: “Xảy ra chuyện gì?”

Trương Nghi lại cười mấy tiếng, chỉ lên giường mà nói: “Lão phu tử nếu thấy huynh lười biếng ngủ ngày, chắc chắn sẽ lắc đầu mà than rằng: than ôi, gỗ mục không thể chạm trổ, tường đất mục không thể trét, sau đó sẽ đi tới, xắn tay áo, chùng vạt áo, ôm lấy đống chăn, đi ra ngoài ném thẳng lên nóc nhà!” Lời vừa dứt, liền xăm xắn bước lại như muốn ôm chăn.

Bàng Quyên vội vàng chặn lại, cười hì hì mà nói: “Lão phu tử là bậc tu dưỡng thế nào, đâu có giống bộ dạng của Trương huynh đây? Hơn nữa, sao Trương nhân huynh có thể ví tại hạ với Tể Dư? Tể Dư ngày nào cũng ngủ lười, còn tại hạ lại là hoàng hoa khuê nữ nhập động phòng, hôm nay mới là lần đầu tiên.”

“Nói cũng phải!” Trương Nghi gật gù liên hồi, rồi cười thâm thuý. “Mấy ngày hôm nay trông Bàng huynh ngẩn ngơ phờ phạc, hẳn là có tâm sự gì chăng, khiến huynh đến ngủ cũng chẳng được ngon giấc?”

Bàng Quyên liếc xéo Trương Nghi, cười lớn rồi đuổi khách: “Nếu Trương huynh có chuyện gì, hãy mau nói ra, nếu không thì tại hạ đi ngủ đây!”

Trương Nghi đảo mắt một vòng: “Bàng huynh không nói, suýt nữa thì tại hạ quên mất. Ở ngoài núi xảy ra một chuyện lớn, tại hạ đến để báo cho Bàng huynh biết.”

“Ồ?” Bàng Quyên vội hỏi. “Là chuyện lớn gì?”

Trương Nghi cố tình úp mở: “Thiên cơ bất khả lộ!” Rồi cười lớn mấy tiếng, quay người đi ra khỏi cửa.

Bàng Quyên hấp tấp cất bước đuổi theo, vẫy tay gọi: “Trương huynh…”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử