Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 73
THỬ NGƯU ĐAO, TẢ ĐỒ THANH LỌC
GIỞ TÂNG BỐC, TẦN SỨ KẾT BÈ

❊ ❊ ❊

Thư của Tô Tần đã tới.

Khuất Bình vội vã mở xem, đọc đi đọc lại vài lượt, cất thư vào túi gấm, nhắm mắt suy ngẫm.

Bên tai Khuất Bình như văng vẳng giọng nói của Tô Tần: “Khuất Bình hiền đệ, thấy chữ như gặp mặt. Sở Vương dùng đệ, chính là Sở Vương sáng suốt. Hiền đệ có đất dụng võ, đáng để chúc mừng. Đại Sở là bình phong sau lưng của tung thân, cũng là chướng ngại lớn cho kế sách nhất thống thiên hạ của Tần, nên nay Trương Nghi mới đích thân tới Sính, hòng mưu đồ lớn. Nhận được mật thư của hiền đệ, ta bèn lập tức khởi hành, nào ngờ ngay lúc lên đường, Triệu Vương lại từ đất Bắc quay về, triệu vào cung yết kiến, muốn cả nước thay phong đổi tục, mặc áo Hồ tập kỵ xạ để chế ngự người Hồ, chế Tần từ tây bắc, muốn ta trợ giúp. Lại thêm Yên thất sinh biến, Yên Vương Khoái đột ngột nhường ngôi cho tướng quốc Tử Chi, hẳn sẽ sinh loạn. Yên loạn, Tề ắt mưu Yên. Yên, Tề xung đột, khác nào lửa cháy sân sau, đại cục hợp tung tất lâm vào nguy cấp. Ta đã suy nghĩ nhiều ngày, quyết định tạm chưa đến Sở, mọi việc xin để hiền đệ chèo chống. Hiền đệ có điều băn khoăn, hãy hỏi Trần Chẩn. Trần Chẩn đa mưu túc trí, ngu huynh tin tưởng người này, cũng mong hiền đệ chớ hồ nghi…”

Khuất Bình hiểu rõ, trong thời gian tới, chí ít là ngay trước mắt đây, mình sẽ phải một mình đối mặt với Trương Nghi, bởi người Tô Tần tiến cử, Trần Chẩn, hiện đang ở tận nước Tề xa xôi, chưa biết bao giờ mới về đất Sính.

Đối với Khuất Bình, quốc sự trong đại nhất bây giờ, chính là cải chế.

Còn việc cải chế thế nào, Khuất Bình sớm đã suy nghĩ kỹ, bởi vậy, hiến lệnh đầu tiên đưa ra, chính là xoá bỏ đặc quyền thế tập của phong quân, loại bỏ những chức quan ăn không ngồi rồi, có chức mà không có trách, để trọng dụng hiền tài.

Sở dĩ Khuất Bình đưa điều này vào hiến lệnh đầu tiên, là bởi nghĩ tới việc thực thi mọi hiến lệnh cải chế sau này đều cần phải trưng dụng đến quan viên các cấp, mà những viên quan ấy đa phần ngồi không ăn bám, hoặc không làm việc gì, hoặc không làm nổi việc gì. Mặt khác, khá nhiều kẻ chỉ có tên trong sổ sách chứ không có chức vụ thực, khá nhiều kẻ chỉ nhờ vào các mối quan hệ hôn nhân hoặc tông tộc, tức trong gia tộc chỉ cần có một người làm lệnh doãn, thì hầu hết quan lại dưới quyền đều do lệnh doãn đó bổ nhiệm, về cơ bản đều có quan hệ máu mủ ruột rà, dây mơ rễ má với nhau. Giữa các lệnh doãn cũng sẽ dùng người nhà của nhau, kết thông gia với nhau, từ đó hình thành một mạng lưới chằng chịt, khẽ rút dây là động cả rừng. Những kẻ làm quan nhờ quan hệ hôn nhân tông tộc phần nhiều là dạng vô năng. Còn có một phần quan lại là do thế tập chức vị từ cha ông, được ghi danh trong sổ sách của vương thất, chức vị cha truyền con nối từ đời này sang đời khác, nhận bổng lộc đầy đủ mà hầu như chẳng làm gì. Ví như có một vị hồ doãn nọ, đã thế tập đến đời thứ mười tám, tới đời hiện tại, sớm đã chuyển khỏi cố hương, không còn cai quản sông hồ gì nữa, song vẫn lãnh lương bổng vương thất từ chức vị hồ doãn của mười tám đời trước.

Không trừ bỏ những quan lại dư thừa ăn bám ấy, thứ nhất, về sau vương lệnh rất khó thi hành; thứ hai, quốc khố tiêu hao nghiêm trọng; thứ ba nuôi báo cô những kẻ vô công rồi nghề, dân chúng sẽ oán thán bất công.

Để thêm ổn thoả, trước khi tấu lên Sở Vương, Khuất Bình cho mời ba người Cảnh Lý, Khuất Dao, Chiêu Tuy tới, cùng bàn bạc về hiến lệnh đầu tiên.

Đợi ba người chuyền tay nhau đọc xong, Khuất Bình thu lại, nghiêm trang hỏi: “Chư vị đại nhân, bốn người chúng ta xuất thân từ ba dòng họ lớn của Đại Sở, đều là tâm phúc của đại vương, cũng cùng có liên quan tới tương lai của Đại Sở. Trận chiến Tích Thuỷ, chúng ta đại bại, mọi người đã rõ nguyên nhân, là do người Tần có được vũ khí ô kim sắc bén.” Nhìn sang Chiêu Tuy, “nhờ Chiêu huynh đây lao tâm khổ tứ, binh xưởng của ta đã rèn được vũ khí ô kim, không thua kém gì binh khí của Tần. Đây là việc đáng mừng. Có điều lúc này, tại hạ xin chư vị hãy trả lời thành thực một câu, giả sử lại giao chiến với Tần lần nữa, giả sử quân ta vẫn đông hơn địch nhiều lần, giả sử tướng sĩ ta đã có vũ khí ô kim giống hệt như Tần, vậy thì trong các vị đây, có ai dám khẳng định rằng ta sẽ chắc thắng Tần không?”

Ba người đưa mắt nhìn nhau.

Rõ ràng, câu hỏi của Khuất Bình, họ đều chưa từng nghĩ tới.

“Nếu bảo tại hạ nói,” Khuất Bình đưa mắt lướt qua ba người, rồi gằn mạnh từng tiếng, “ta vẫn không thể thắng Tần! Vì sao kia? Bởi vì, chế độ của ta không bằng được Tần!”

Cả ba người đều hít sâu vào một hơi.

“Chư vị đại nhân,” Khuất Bình lấy cuốn Thương Quân thư ra, bày lên trên án, “cuốn sách này, tại hạ đã nghiền ngẫm nhiều lần, đại vương cũng đã đọc qua, chư vị nếu có thời gian, cũng xin mời đọc thử. Chư vị đều hiểu Tần pháp, mà Tần pháp đều dựa vào sách này. Những điều viết trong sách này, Tần pháp cũng quy định như vậy cả. Đàn ông Tần chỉ làm một việc, cày ruộng và đánh trận. Đàn bà Tần cũng chỉ làm một việc, chuẩn bị cho cày ruộng và đánh trận. Cày ruộng là để đánh trận, đánh trận là để mở thêm ruộng cày.” Dừng lại một chốc, nói tiếp, “ngoài việc này ra, mọi chuyện vui chơi, mọi thú tiêu khiển đều là xa hoa vô bổ, sẽ bị Tần pháp trừng trị. Còn như Tần pháp trừng trị thế nào, chư vị hẳn đều đã nghe nói tới.”

Cả ba đều nhìn vào cuốn Thương Quân thư.

“Chư vị đại nhân,” Khuất Bình nói tiếp, “Phục Hy diễn dịch đạo trời mà thành Dịch. Dịch, có nghĩa là biến.

Đạo trời vận hành mạnh mẽ, đạo tức là biến, phong tục, thế đạo không lúc nào không biến đổi. Tiên tổ đặt ra quy chế, là thuận theo tình thế trong thời của tiên tổ, nay thời thế đã đổi thay, sớm đã khác xa thời tiên tổ, cớ sao chúng ta cứ nhất quyết phải phỏng theo quy tắc tiên tổ đặt ra? Nhìn sang liệt quốc thiên hạ, đều đã cải chế cả rồi. Ngụy, Tề, Hàn, Tần đều có thay đổi lớn, nhất là Tần, đã thực thi biến pháp của Thương Quân, chúng ta dứt khoát không thể bưng mắt bịt tai coi như không biết! Hôm qua tại hạ nhận được thư của Tô Tần, nói rằng gần đây, Triệu Vương ở Hàm Đan cũng đang rầm rộ cải chế, khiến cả nước mặc theo lối Hồ, rèn tập kỵ xạ, quả là đại biến phi thường. Trông vào những việc đó, đại vương ta nhìn xa trông rộng, quyết chí nhân theo thời thế, thay đổi tổ chế, khiến cho Đại Sở ta trở nên hùng cường.” Chỉ vào hiến lệnh trên án, “hiến lệnh này, là do tại hạ phụng vương mệnh soạn ra, hiến lệnh cải chế đầu tiên sắp sửa ban hành. Trước khi tấu báo lên đại vương, tại hạ muốn mời chư vị xem trước, có chỗ nào không thoả đáng, mong chư vị cứ nói thẳng ra, chớ nên giữ lại trong lòng!”

“Tả đồ đại nhân,” Chiêu Tuy vòng tay, “những điều đại nhân vừa nói, tại hạ hoàn toàn tán thành. Cựu chế cần thay đổi, cựu chế cũng buộc phải thay đổi, nhưng thay đổi thế nào, thay đổi từ đâu, sẽ quyết định sự thành bại của toàn bộ kế sách.” Dừng lại một chốc, chỉ vào hiến lệnh, “đại nhân nay muốn xoá bỏ thế tập, trừ bỏ dư quan, tại hạ cho rằng không thoả đáng.”

“Không thoả đáng chỗ nào?”

“Đây là khúc xương khó gặm nhất!” Chiêu Tuy đáp lời, “năm xưa Ngô Khởi cải chế, nguyên nhân thất bại, cũng chính là đây. Thế tập là nền tảng lập quốc của Sở, tiền bối trồng cây, hậu bối hưởng bóng mát, đó là đạo lý hiển nhiên. Nay nếu như xoá bỏ, e rằng sẽ có vô số kẻ phản đối. Còn như quan lại dư thừa, có thể cắt giảm, song cần tiệm tiến từng bước, cắt giảm từ từ từng chỗ, dứt khoát không thể ồ ạt một lần, bằng không sẽ rất gian nan.” Ngẫm nghĩ một chốc, “tóm lại một câu, theo tại hạ thấy, hiến lệnh này hãy nên tạm hoãn, để làm nước cờ thứ hai.”

“Vậy theo ý Chiêu huynh, nước cờ đầu tiên, nên bắt đắu từ đâu?”

“Khuyến khích cày ruộng và đánh trận.”

Khuất Bình nhìn sang Cảnh Lý, thấy hắn mỉm cười gật gù, thì lại nhìn sang Khuất Dao.

“Tại hạ xin nghe theo tả đồ!” Khuất Dao vòng tay nói.

“Chiêu huynh, Cảnh huynh,” Khuất Bình nhìn sang hai người, “tại hạ biết cắt giảm quan lại dư thừa là việc rất khó khăn, bởi lẽ kiểu gì cũng liên quan tới bạn bè thân thích. Tuy nhiên, tại hạ đã suy nghĩ không biết bao nhiêu ngày đêm, mới quyết định đưa việc này vào hiến lệnh đầu tiên. Vì sao kia? Vì bất công. Người trước trồng cây đúng là để người sau hưởng mát, nhưng người trước trồng cây, người sau hưởng mát ba đời, năm đời còn có thể được, chứ hưởng cả muôn đời thì không ổn. Thứ nhất, rất không công bằng hợp lý; thứ hai, dung dưỡng tính lười biếng; thứ ba, tuyệt đường của hiền năng. Sinh ra đã giàu sang, thì còn cần gì ý chí? Đương nhiên, tuy nói là vậy, nhưng với thực tế nước Sở, việc này là bất đắc dĩ. Năm xưa Ngô Khởi cải chế, đúng như Chiêu huynh nói, trước là thưởng người có công, sau là xoá bỏ phong quân, kết quả đã thất bại, là vì sao? Điệu Vương băng hà chỉ là một nguyên nhân, còn một nguyên nhân khác nữa, đó là phủ doãn các nơi trên đất Sở sớm đã hình thành mạng lưới quan lại dây mơ rễ má rộng khắp, mạng lưới này còn chưa bị phá, thì vương mệnh soạn ra sẽ không thể thi hành!” Nói đến đây, chợt đấm mạnh xuống án, “muốn phá cục, phải phá lưới trước. Lưới này chưa phá, có cải chế thế nào cũng chỉ uổng công mà thôi.”

Thấy Khuất Bình nói tới nước này, Chiêu Tuy, Cảnh Lý đều im lặng.

“Chư vị đại nhân,” Khuất Bình lấy làm cảm khái, “sở dĩ tại hạ đưa việc này vào hiến lệnh đầu tiên, còn có một nguyên nhân thực tế, đó là quốc khố đã cạn kiệt rồi. Đổi mới binh khí, tích trữ lương thảo, thao diễn binh mã, đều cần tới tiền bạc, mà quốc khố hiện nay, chớ nói có dư, ngay cả chi phí cho vương cung cũng thiếu trước hụt sau. Vậy thuế khoá thu được đã đi đâu hết cả? Phần lớn đã thất thoát theo đủ cách. Thất thoát đi đâu? Là chảy vào trong kho của phong quân, phủ doãn, chảy vào trong nhà của hàng vạn quan lại dư thừa. Nước Sở trên dưới rốt cuộc có bao nhiêu dư quan đang ngồi không ăn rỗi, tin chắc chư vị còn rõ hơn tại hạ!”

Chiêu Tuy, Cảnh Lý khẽ thở dài, cúi đầu không nói.

“Chư vị đại nhân,” Khuất Bình than thở, “sâu mọt của nước Sở nhiều vô số kể, gốc rễ ăn sâu, hút kiệt máu mỡ của người dân. Nhà quan xa hoa, nhà dân chết đói, Đại Sở không thể tiếp tục như vậy được! Trận chiến Tích Thuỷ, hàng vạn tướng sĩ máu đổ thành sông mới khiến đại vương đau đớn hạ quyết tâm, lập hiến cải chế. Để sửa thói xa hoa, tiết kiệm của công, đại vương đã đi đầu làm gương, trong cung không đi xe vua, ngoài cung không bắt hồi tỵ, ngự thiện giản dị, năm ngày mới ăn thịt một lần, không chỉ có thế, còn đích thân trồng trọt trong ngự hoa viên, hậu phi các cung cũng chăn tằm dệt vải, không son phấn xa hoa. Những chuyện này không phải tin đồn, mà là chính mắt tại hạ trông thấy.”

Ba người đều ngẩng đầu nhìn Khuất Bình, lại hít sâu một hơi.

“Chư vị đại nhân,” Khuất Bình khó kìm cơn kích động, “đại vương đã tự mình nêu gương, chúng ta thân là thần tử, có lý nào lại không hành động? Hành động thế nào? Cắt giảm dư quan! Bắt đầu từ đâu? Từ ba dòng họ lớn của Đại Sở, ba họ Khuất, Chiêu, Cảnh đương nhiên phải đi đầu!” Nhìn sang Khuất Dao, cất giọng quyết đoán, “đại doãn, hãy soạn ra danh sách dư quan của Khuất môn, phàm những quan lại nào chỉ ngồi không ăn lộc, giữ chức mà không làm gì, đều thanh lọc hết!” Lại nhìn sang Chiêu Tuy, Cảnh Lý, “Chiêu huynh, Cảnh huynh, hai huynh cũng soạn ra danh sách dư quan trong các trạch phủ của tông tộc mình, rồi chúng ta cùng xem xét, sau đó tấu báo lên đại vương cùng với hiến lệnh, chờ đại vương ngự phê xong, sẽ ban vương mệnh bố cáo khắp nơi, để dân chúng cùng giám sát, không bỏ sót dù một dư quan!”

Ba người cùng gật đầu.

Mấy người đã nói làm là làm. Khuất Dao phỏng theo họ Cảnh, Cảnh Lý phỏng theo họ Chiêu, Chiêu Tuy phỏng theo họ Khuất, ba người đối chiếu sổ sách các nơi, dựa theo quy định trong hiến lệnh của Khuất Bình, mau chóng tìm ra những viên quan dư thừa chỉ giữ chức mà ăn không ngồi rồi, cùng những chức vị thế tập đã quá năm đời. Sau khi danh sách đã lập, ba người lại cùng đối chiếu xem xét một lượt, rồi Khuất Bình lại cùng ba người kiểm tra kỹ lưỡng, chắc chắn không có sai sót gì, mới coi như xong việc.

Mọi người ra về, nhưng Khuất Bình giữ Chiêu Tuy lại, hỏi han về vụ án muối. Chiêu Tuy đáp rằng, lệnh doãn đang đốc thúc phủ tư bại điều tra ráo riết. Nghe tư bại nói, đạo tặc ra tay vào ban đêm, lại đều bịt mặt, sau khi vào rừng đã phân tán tháo chạy, hầu như không để lại manh mối nào, muốn phá án nhanh không phải chuyện dễ.

Khi Chiêu Tuy về tới Chiêu phủ, đã gần canh một, thấy trong phòng Chiêu Dương vẫn sáng ánh đèn, bèn bước vào.

Chiêu Dương nằm nghiêng trên giường, Hình Tài đứng hầu bên cạnh.

Từ sau khi Trương Nghi tới Sính, Chiêu Dương không đêm nào ngủ ngon giấc, cứ tối đến, trước mắt lại như hiển hiện cảnh tượng của buổi thưởng ngọc trong Chiêu phủ năm xưa.

Đương nhiên, tất cả đều là mưu của Trần Chẩn. Tuy mưu kế chẳng lấy làm vẻ vang, song kết quả cũng đã đuổi được Trương Nghi đi, giúp Chiêu Dương có được ngôi lệnh doãn hằng ao ước. Chỉ có một điều đáng tiếc, đó là viên ngọc đã mất, bị Trần Chẩn ném xuống đầm Vân Mộng bặt tăm mất tích.

Giờ đây, Trương Nghi lại quay về Sở với thân phận sứ Tần, trong khi kẻ có thể đối phó với Trương Nghi là Trần Chẩn lại đang ở tận nước Tề. Chiêu Dương trong lòng thấp thỏm, đêm đã về khuya, bèn gọi Hình Tài tới ngồi hầu.

“Phụ doãn,” Chiêu Tuy rảo bước vào trong, “thấy đèn còn sáng, biết là phụ doãn chưa ngủ.”

“Cũng định đi ngủ rồi, đang trò chuyện chốc lát với chú Hình đây.” Chiêu Dương ngồi thẳng dậy, “có chuyện gì sao?”

“Vâng,” Chiêu Tuy ngồi xuống mép giường, kể lại vắn tắt sự việc hôm nay, rồi nói, “tả đồ muốn lập danh sách dư quan của các nhà, đối chiếu kín kẽ, quyết không cho phép nể tình.” Đoạn lấy ra bản danh sách cắt giảm của họ Chiêu trình lên, “đây là danh sách của phủ ta, con đã kiểm tra kỹ lưỡng, quả thực đều là những kẻ giữ chức ăn không, có vài kẻ đã giữ chức nhiều đời rồi, song chẳng làm việc gì hết.”

Chiêu Dương xem danh sách, đôi mày chau tít, hồi lâu sau, chuyển cho Hình Tài. Hình Tài xem một lượt, lại trả cho Chiêu Tuy.

“Đây mới chỉ là khởi đầu việc cải chế của tả đồ.” Chiêu Dương nói tiếp, “nghe tả đồ nói, đại vương dốc sức vì nước, muốn học theo liệt quốc, cải cách tổ chế, quyết chí đánh Tần, thu hồi toàn bộ Thương Ư, giam chặt người Tần ở Quan Trung!”

“Ta tưởng người này còn muốn chiếm lấy Hán Trung, kẹp chặt Ba Thục kia chứ.” Chiêu Dương cười nhạt, quay sang Hình Tài, hất hàm về phía bản danh sách, “ngươi thấy sao?”

“Chúa công,” Hình Tài gãi đầu, “đây là một tổ ong khổng lồ, không chỉ liên quan tới một nhà hai nhà, mà là nghìn nhà, vạn nhà, tả đồ lần này rầy rà to rồi. Có lẽ tả đồ đã quên mất năm xưa Ngô Khởi chết ra sao.”

“Than ôi,” Chiêu Dương khẽ thở dài, quay sang Chiêu Tuy, “Tuy Nhi, ý con thế nào?”

“Hồi bẩm phụ doãn” Chiêu Tuy đáp, “Tuy Nhi ủng hộ tả đồ, việc này thực sự không nên. Liệt quốc đều đã cải chế, dân thường lập công sẽ được phong thưởng, bất luận tổ tiên lập công lớn ra sao, con cháu đời sau nếu không nỗ lực, cũng không có tư cách hưởng thụ đặc quyền của tổ tiên. Duy chỉ nước Sở chúng ta, một người lập công, trăm đời hưởng phúc, song hậu duệ của họ đa phần bất tài vô dụng, chèn ép hiền năng, nếu cứ thế này, Đại Sở ta sẽ lâm nguy mất. Nhưng ý Tuy Nhi có khác với tả đồ, cắt giảm dư quan là chuyện trọng đại, có thể dành đến bước sau, còn bước đầu tiên, nên từ khuyến nông khuyến chiến!”

“Con có nói với tả đồ?”

“Vâng. Nhưng tả đồ không đồng ý. Tả đồ nói, năm xưa Ngô Khởi thất bại, chính bởi chỗ này. Hiến lệnh phải dựa vào quan lại để thực thi, nên bước cải chế đầu tiên, nhất thiết phải bắt đầu từ quan lại. Cắt giảm dư quan là để dành chỗ cho kẻ hiền năng ủng hộ cải chế.”

“Tả đồ nói phải.” Chiêu Dương gật đầu, “tuy nhiên, Hình Tài nói đúng, hắn đã chọc phải tổ ong lớn. Song nếu qua được cửa ải này, hắn sẽ thành công.”

“Theo phụ doãn thấy, tả đồ có qua được ải này không?”

“Nếu Trương Nghi không tới, có lẽ sẽ qua được.”

“Chúa công,” Hình Tài xen ngang, “muốn đấu với Trương Nghi, phải có Trần đại nhân mới được. Có cần mời Trần đại nhân lập tức quay về?”

“Ngươi mau đi sắp xếp, gọi hắn về ngay.”

“Lão nô thụ mệnh!” Hình Tài đáp rồi đứng dậy, lập tức đi ngay.

“Phụ doãn,” đợi Hình Tài đi khuất, Chiêu Tuy mới nói khẽ, “nếu không ngoài dự đoán, buổi chầu ngày mai, hẳn tả đồ sẽ dâng hiến lệnh lên đại vương, cùng với ba bản danh sách cắt giảm dư quan, ứng phó thế nào, xin phụ doãn chỉ dạy.”

“Than ôi,” Chiêu Dương thở dài, “với họ Chiêu ta, cắt giảm dư quan chỉ là chuyện nhỏ, Trương Nghi kia mới là chuyện lớn! Năm xưa vì viên ngọc Hoà thị bích, ta đã kết mối thù sâu với hắn.”

“Vậy phải làm sao đây?”

“Nếu biết phải làm sao, thì ta đã không phải mất ăn mất ngủ.” Chiêu Dương cười nhăn nhó, “trước có ô kim, sau có muối Ba, mối quan hệ giữa Trương Nghi và đám vương thúc ngày càng khăng khít, đến cả Ngận Thượng cũng hùa theo. Ngận Thượng vốn là chủ nhân của Nam cung, nay Nam cung được đại vương sủng ái, thực sự không phải điều tốt đẹp với chúng ta. Hình Tài nói phải, đối phó được Trương Nghi, duy có Trần Chẩn. Trước khi Trần Chẩn quay về, có tả đồ ra mặt, che chắn giúp chúng ta, hẳn cũng không phải chuyện xấu, con thấy phải không?”

“Phụ doãn nói chí phải,” Chiêu Tuy gật đầu, “tả đồ chủ trương kết Tề chống Tần, là muốn chặn đường người Tần. Trương Nghi lần này tìm tới, kiểu gì cũng sẽ xung đột với tả đồ.”

“Tuy Nhi, con cứ dốc lòng trợ giúp tả đồ, còn mọi việc khác, hãy để ta lo liệu!”

“Tả đồ có hỏi về chuyện cướp muối, con đã trả lời, phụ doãn đang điều tra.”

“Sớm đã điều tra ra rồi.”

“Là ai kia?”

“Chiêu Thử.”

“A?” Chiêu Tuy kinh hãi.

“Trước khi sự việc xảy ra, Chiêu Thử đã nói hết với ta, Ngạc Quân bảo hắn đi cướp muối Tề, hắn không biết phải làm sao, mới tới hỏi ta, ta bảo hắn cứ làm theo lời Ngạc Quân. Vào lúc này, cả năm mươi xe muối Tề đều đang giấu kín dưới hầm sâu, ta có thể lấy ra bất cứ lúc nào.”

Chiêu Tuy không nói nên lời: “Vậy giờ có…có lấy ra không?”

“Chờ thêm chút nữa.” Chiêu Dương đáp, “chuyến muối này là vòng thòng lọng tròng trên cổ họ, lúc nào lấy, lấy thế nào, cần đợi Trần thượng khanh quay về rồi tính! Về chuyện bày trò, hắn giỏi hơn chúng ta!”

“Nhưng người Sính đang mong có muối ăn!”

“Chuyến thứ hai đã tới Uyển Thành, người Uyển đã có muối ăn rồi. Nếu nhanh hơn chút nữa, sau bảy tám ngày là về tới Sính. Chuyến hàng này gồm một trăm năm mươi xe, ta cho năm mươi xe về Sính, một trăm xe còn lại từ đất Uyển chia lẻ tới các thành ấp khác, có lẽ không còn ai cướp.”

“Hay quá!” Chiêu Tuy nắm chặt tay quyền, “có điều, người Sính phải chịu đựng thêm vài ngày nữa.”

“Chịu khổ ít hôm cũng tốt.” Chiêu Dương tiếp lời, “chịu khổ rồi, họ mới hiểu được mùi vị của muối. Bất kể thế nào, họ Chiêu ta cũng phải mở hiệu muối ở Sính Đô, không có cơ duyên nào tốt đẹp hơn lúc này!”

Hôm sau, Khuất Bình vào cung dâng hiến lệnh, vừa hay Ngận Thượng cũng đang vào bẩm tấu.

“Tả đồ, khanh tới thật đúng lúc,” Hoài Vương đưa ra quốc thư của sứ Tần do Ngận Thượng vừa trình lên, “sứ Tần Trương Nghi đệ trình quốc thư, xin cầu hôn Nguyệt công chúa, lại muốn yết kiến quả nhân, kết tình láng giềng hoà mục. Theo ý khanh, quả nhân có nên triệu kiến kẻ này không?”

“Hồi bẩm đại vương,” Khuất Bình đáp, “Tần Sở kết thân, láng giềng hoà mục là chuyện tốt đẹp, đại vương theo lý nên gặp. Có điều, thần cho rằng, sứ Tần không chỉ là sứ Tần, mà còn là tướng quốc nước Tần. Tướng Tần đi sứ vì hai việc, thứ nhất kết tình hữu hảo, đây là quốc sự, đại vương có thể phái lệnh doãn tiếp đón. Thứ hai, cầu hôn là cầu hôn Nguyệt công chúa, mà Nguyệt công chúa hiện đang trong phủ Kỷ Lăng Quân, đại vương có thể để Kỷ Lăng Quân chủ trì chuyện cầu hôn!”

Chỉ vài câu ngắn ngủi, Khuất Bình đã sổ toẹt toàn bộ công sức tiếp đón của Ngận Thượng trong mấy ngày nay, thậm chí còn tỏ ý trách cứ hắn vượt phận bao đồng. Để Ngận Thượng tiếp đón sứ Tần là ý chỉ của Hoài Vương, hơn nữa khi Ngận Thượng thụ mệnh, Khuất Bình cũng có mặt ở đó, còn ra mặt ủng hộ việc sứ Tần cầu hôn. Tuy nhiên, vào lúc này, Khuất Bình lại đột ngột nói ra những lời này, chớ nói Ngận Thượng, ngay cả Hoài Vương cũng ngỡ ngàng sửng sốt. Hai người đưa mắt nhìn nhau, đều không biết phải nói gì mới phải. Nhất là Ngận Thượng, chỉ biết đỏ mặt tía tai mà không biết phản bác thế nào, mặt đầy oan ức nhìn lên Hoài Vương.

Hoài Vương đảo mắt vài vòng, bật cười mấy tiếng, cất giọng giảng hoà: “Khuất ái khanh, khanh nói phải lắm, nhưng khanh có điều không biết, nhớ năm xưa, khi Trương Nghi ở Sở, bởi vài chuyện cũ mà gây hiểu lầm với Chiêu khanh, nay để hai bên bàn quốc sự, có điều bất ổn. Còn như chuyện cầu hôn, đã là cầu hôn cho Tần Vương, thì không còn là việc nhà mà là việc nước, Kỷ Lăng Quân cũng không tiện ra mặt!”

“Là thần nông cạn,” Khuất Bình mỉm cười, vòng tay với Ngận Thượng như tạ lỗi, đoạn quay sang Hoài Vương, “ý thần muốn nói, sứ Tần Trương Nghi không phải kẻ tốt lành, lần này đi sứ sang đây, bụng dạ khó lường, rất mong đại vương hãy ứng phó thận trọng!”

“Tả đồ đại nhân,” Ngận Thượng lập tức vặc lại, “có câu đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại. Sứ Tần tới đây là để cầu thân, đại nhân hà cớ gì lại giữ thành kiến nhường vậy?”

“Thượng quan đại nhân,” Khuất Bình nhìn thẳng vào Ngận Thượng, cất giọng trịnh trọng, “người có trí, nhìn quá khứ mà biết tương lai. Nếu trí nhớ của đại nhân không tệ, hãy cứ nhẩm lại mà xem, kể từ khi làm tướng quốc nước Tần tới nay, Trương Nghi đã có bao giờ thực lòng kết tình láng giềng hoà mục? Theo Nguyên được biết, phàm những nơi Trương Nghi đến giúp, không nơi nào không gặp tai ương. Trương Nghi sang nước Thư, mượn sức người Thư tiêu diệt Ba, Thục rồi, nước Thư cũng diệt vong. Trương Nghi sang nước Ngụy, đuổi Huệ Tử đi, giữ chức tướng quốc Ngụy nhiều năm, trước phạt Triệu, sau phạt Hàn, khiến cho cường Ngụy kho lẫm trống trơn, sức dân kiệt quệ, thái tử, tướng lĩnh cùng vài vạn giáp binh tuẫn thân sa trường. Còn như Hàn, Triệu tổn thất thế nào, không cần nói thêm. Nay đại vương vừa mới kết tình giao hảo với Tề, Trương Nghi lại sang kết thân, thần quả thực…” Dừng lại nửa chừng, mắt nhìn thẳng vào Hoài Vương.

Khuất Bình lời lời rành rọt, chứng cứ rõ ràng, Ngận Thượng nhất thời á khẩu, không thể phản bác, há miệng vài lần rồi im bặt.

“Phải lắm, phải lắm!” Hoài Vương đã nhận ra ẩn ý sâu xa của Khuất Bình, liên tiếp gật gù, “tả đồ nói chí phải! Trương Nghi sớm không tới, muộn không tới, lại nhằm đúng lúc quả nhân kết minh với Tề mà tới, ý đồ thực rất đáng ngờ, quả nhân không nên gặp hắn.” Quay sang Ngận Thượng, “thượng quan đại phu, khanh hãy tới hiểu dụ sứ Tần, nói rằng quả nhân gần đây bận rộn trăm bề, thực không có lúc nào rảnh rỗi. Đợi qua vài bữa, quả nhân nhất định sẽ thỉnh giáo sứ Tần!”

Ngận Thượng vái mà nói: “Thần lĩnh chỉ!” Đoạn ôm quyền lui ra.

“Khuất ái khanh,” chờ cho Ngận Thượng đi xa rồi, Hoài Vương mới nhìn sang Khuất Bình, “rốt cuộc là khanh muốn giở trò gì vậy?”

“Hồi bẩm đại vương,” Khuất Bình vòng tay, “thần đâu có giở trò gì, thần thực lòng cảm thấy, sứ Tần lần này tới đây, chỉ là mượn danh cầu hôn, chắc chắn còn có dụng ý sâu xa nào khác!”

“Khanh nói thử xem.”

“Thần vừa nhận được tin,” Khuất Bình bẩm tấu, “sở dĩ muối Ba ngoài chợ tăng giá gấp tám, là do người Tần nhúng tay vào. Người Tần mua ô kim của ta với giá gấp ba, lại trả hết tiền trước, số vàng ước tính tới vài nghìn dật. Sau khi bị đại vương ngăn cấm, người Tần không chịu cho vương thúc trả lại tiền, mà yêu cầu bồi thường bằng muối Ba, tính theo thị giá. Vậy nên đám vương thúc mới trữ muối không bán, khiến muối Ba tăng giá vùn vụt, hơn nữa còn vét sạch kho muối chuyển cho người Tần trước khi muối Tề về tới Sính, để kiếm lời lớn.”

Hiển nhiên, Hoài Vương chưa kịp suy nghĩ sâu xa hơn, nên mừng rỡ mà nói: “Buôn bán thế này, người Tần chẳng phải lỗ to? Với Sở cũng đâu phải là chuyện xấu!”

“Tự cổ chí kim, đã là làm ăn, không ai lại muốn thua lỗ cả. Chuyện trái khoáy ắt có âm mưu!” Khuất Bình thong thả đáp, “nếu không nằm ngoài dự liệu của thần, trong chuyện lần này, là người Tần cố tình chịu lỗ, hơn nữa kẻ nghĩ ra mưu này, chính là Trương Nghi!”

“Ồ…” Hoài Vương ngạc nhiên, “Khuất ái khanh nói vậy, hình như có điều phi lý. Thế này mà cũng gọi là mưu, nếu là quả nhân, e đã lấy đầu hắn mất rồi. Buôn bán là để kiếm lời, đến kẻ ngốc cũng biết là không được thua lỗ, huống hồ vụ buôn bán này, đâu phải là con số nhỏ? Người Tần có giàu đến mấy, hẳn cũng phải dốc kiệt quốc khố!”

“Đại vương anh minh!” Khuất Bình vòng tay, “Trương Nghi xưa nay chỉ chuyên buôn bán lớn. Nhìn vào hiện tại, vụ kinh thương lớn của hắn đã thành công rồi!”

“Sao kia?” Hoài Vương trợn mắt, “lỗ vài nghìn dật, mà bảo là thành công ư?”

“Ô kim, muối Ba đều chỉ là bề ngoài, thứ Trương Nghi thực sự muốn kinh thương, chính là Đại Sở ta. Mưu đồ của hắn là gì? Làm loạn lòng dân ta, mê hoặc triều chính ta. Nếu nhìn vào đây, thì việc kinh thương của hắn đã thành công rồi. Dùng lợi dụ ta, khiến đại vương suýt nữa giết chết Ngạc Quân; lại dùng lợi dụ ta, khiến muối Sở đắt đỏ, vương thân thất đức. Đại vương mang muối Tề về ứng cứu, vậy mà lại có kẻ dám cướp trắng ngay trước mặt đại vương, hơn nữa tới nay vẫn chưa thể phá án. Theo như thần thấy, vụ án này không phải không thể phá, mà e là không dám phá!”

“Ý khanh là, lệnh doãn không dám phá?”

Khuất Bình im lặng.

“Há có lý này!” Hoài Vương nổi giận đùng đùng, “tả đồ nghe chỉ!”

Khuất Bình vòng tay: “Thần lĩnh chỉ!”

“Vụ án cướp muối Tề, chuyển cho phủ tả đồ điều tra, hạn mười ngày phá án!”

“Thẫn lĩnh chỉ!” Khuất Bình đáp lời, tiến lên một bước, “đại vương, thần xin nói tiếp lời ban nãy, Trương Nghi lần này tới Sở, chỉ có thể nói rõ một điều, người Tần đang nhằm tới ta. Tiếc thay đám vương thúc vương thân chỉ mê muội với lợi ích trước mắt mà không nhận ra nguy hiểm cận kề! Theo như thần thấy, người Tần sớm đã bày cục ở Sính. Ví như, cách đây không lâu, người Tần đã cho dựng một thanh lâu ở Sính, đặt tên là lầu Phẩm Hương, chuyên bày chuyện tà dâm, khiến không ít công tử quyền quý đắm chìm mê mẩn, tối ngày say sưa với đàn hát ca vũ, không còn ý chí. Năm xưa trước khi Tần, Ngụy xảy ra trận chiến Hà Tây, người Tần cũng từng dựng thanh lâu ở An Ấp, gọi là lầu Miên Hương. Thái tử nước Ngụy thường lui tới đó. Lầu Phẩm Hương hiện nay, theo như thần biết, cũng có không ít vương công quý tộc ra vào. Đối diện với lầu Phẩm Hương còn có sòng bạc, gọi là lầu Nguyên Cát, cũng vừa mới dựng. Năm xưa ở An Ấp nước Ngụy, gần lầu Miên Hương cũng có sòng bạc tên gọi Nguyên Hanh.” Dừng lại một chốc, nói tiếp, “dù là lầu Phẩm Hương hay lầu Nguyên Cát, cũng đều thình lình mọc lên chỉ trong một năm. Nghĩ đến hai lầu ở An Ấp trước đại chiến Hà Tây, thần không khỏi rùng mình ớn lạnh!”

“Tra xét!” Hoài Vương đấm mạnh xuống án, nhìn xoáy vào Khuất Bình, “phủ tả đồ lập tức tra xét rõ!”

“Thần thụ mệnh.” Khuất Bình đáp lời, lại tấu, “còn nữa, Trương Nghi lần này đi sứ sang Sở, đã là sứ thần, song lại không thấy có văn điệp thông quan tại quan ải ta, chứng tỏ khi hắn vào biên giới ta, chưa phải với tư cách sứ thần. Thần đã phái người điều tra, biết được hắn bí mật tới đất phong của vương thúc trước, rồi sau đó mới trống giong cờ mở tới Sính Đô. Hôm nay, Trương Nghi muốn yết kiến đại vương, hẳn là nghĩ rằng mọi việc đã sắp xếp vẹn toàn, nên muốn tới đây mê hoặc đại vương đó.”

Sắc mặt Hoài Vương càng tối sầm.

“Đại vương, thời gian khẩn cấp lắm rồi. Việc cấp bách của ta hiện tại, không phải là ứng phó sứ Tần, mà hãy gác sứ Tần sang một bên, cho Ngận đại nhân ứng phó với hắn, còn đại vương hãy dồn toàn lực vào biến pháp cải chế, để củng cố nền móng cho ta, để tăng cường sức lực của ta!”

“Khanh nói phải lắm!” Hoài Vương chầm chậm ngẩng đầu, dường như sực nhớ ra điều gì, nhìn vào ống tay áo rộng của Khuất Bình, “vật trong tay áo của khanh, có thể lấy ra được rồi!”

“Đại vương anh minh!” Khuất Bình mỉm cười, lấy tấu chương ra, hai tay trình lên.

Hoài Vương đón lấy, mở xem. Khuất Bình nhắm mắt, ngồi nghiêm chờ đợi.

“Chỉ thế này thôi ư?” Hoài Vương đọc xong, có phần thất vọng nhìn sang Khuất Bình.

“Còn có danh sách cắt giảm dư quan của ba họ Khuất, Cảnh, Chiêu.” Khuất Bình lại lấy ra ba cuộn da dê nhỏ, bên trên viết dày đặc những chữ, “chỉ riêng họ Chiêu, sau khi tra xét kỹ lưỡng, số người ngồi không ăn bám đã không dưới năm trăm, họ Cảnh hơn bốn trăm, họ Khuất ít nhất cũng phải ba trăm năm mươi sáu người. Ba họ cộng lại, tới một nghìn bốn trăm ba mươi người, rải rác khắp các thành ấp trên đất Sở!”

“Than ôi!” Hoài Vương xem lướt qua một lượt, buột miệng kêu lên.

Đến khi đọc xong, Hoài Vương ngẩng đầu hỏi: “Còn gì nữa không?”

“Thần nhận vương mệnh, tạo từng hiến, hành từng lệnh. Đây là hiến lệnh đầu tiên!”

“Vậy tiếp theo?” Hoài Vương nôn nóng hỏi.

Khuất Bình chỉ vào tim: “Ở đây.”

Hoài Vương có phần thất vọng, ánh mắt dò hỏi: “Hãy tạm nói sơ qua.”

“Hồi bẩm đại vương,” Khuất Bình vòng tay, “hiến lệnh thứ hai của thần là khuyến khích nông tang, khai hoang, mở chợ, xoá bỏ độc quyền buôn bán của phong quân các nơi, cho thứ dân được tự do kinh thương! Còn như suối muối, mỏ khoáng, tất cả đều thu hồi về vương thất!”

“Được lắm!” Hoài Vương lấy làm phấn chấn, “đây chính là điều quả nhân muốn!” Dừng lại một chốc, nheo nheo mắt hỏi, “phải rồi, khanh nói để thứ dân được tự do kinh thương, vậy thuế khoá phải trưng thu thế nào?”

“Đều quy về vương thất, do vương thất đặt quan lại trưng thu.”

“Được lắm,” Hoài Vương gật gù, “còn mức thuế, khanh hẳn đã nghĩ tới?”

“Theo ý thần, mười phần thu một.”

“Mười phần thu một?” Hoài Vương sửng sốt, “mức thuế này, dường như quá thấp?”

“Đại vương,” Khuất Bình đáp, “chỉ có thuế thấp mới khiến dân giàu. Chỉ có dân giàu, Đại Sở mới có thể cường thịnh vô địch!”

“Hay thì có hay đấy, thế nhưng…” Hoài Vương cười gượng, “thu ít thuế như vậy, còn ai muốn cày ruộng? Còn ai muốn đánh cá? Như thế há chẳng phải khích lệ dân chúng đi buôn bán ư? Trọng nông khinh thương, đó mới là gốc rễ trị quốc!”

“Thần lại nghĩ,” Khuất Bình giải thích, “mở nhiều chợ búa, ắt phải cần nhiều hàng hoá. Người người săn tìm hàng hoá, thì hàng hoá sẽ đắt lên. Hàng hoá đắt lên, tự nhiên sẽ có người cày ruộng, đánh cá.”

Hoài Vương vuốt râu một hồi, khẽ gật gù: “Phải, có lý. Sau đó thì sao?”

“Xoá bỏ quyền thế tập vĩnh viễn của phong quân, đổi thành thế tập hữu hạn, tức là tập ấm của tổ tiên, chỉ được trong vòng ba đời, như vậy sẽ khuyến khích đời sau kiến công lập nghiệp, để mong phong thưởng. Phàm là dân Sở, cày nhiều có thưởng, thắng trận tính công. Binh lính không phân biệt sang hèn, đều theo công lao mà ban thưởng! Còn như công lao tính toán thế nào, phải căn cứ vào luật lệ Đại Sở, cần soạn thêm hiến lệnh khác.”

“Khuất ái khanh,” Hoài Vương nhìn thẳng vào Khuất Bình, như thể gợi ý, “còn nhớ quả nhân từng nói, mong khanh có thể trở thành Thương Ưởng của Sở.”

“Vâng.”

“Đã là Thương Ưởng, khanh hẳn từng nghĩ tới pháp của Thương Ưởng?”

Thấy Hoài Vương vẫn chưa quên chuyện này, Khuất Bình chợt thấy chua xót trong lòng. Về Thương Quân thư và pháp của Thương Quân, Khuất Bình và Hoài Vương không chỉ bàn đến một lần. Hoài Vương cũng đã tán thành ý của Khuất Bình, nhưng thời khắc này, Hoài Vương lại nhắc tới, có thể thấy Hoài Vương vẫn chưa hết băn khoăn.

“Đại vương…” Khuất Bình ngập ngừng muốn nói lại thôi.

“Than ôi,” Hoài Vương thở dài, rồi cầm lên một cuốn thẻ tre đặt bên án, chính là Thương Quân thư mà Khuất Bình đã đưa cho, “bộ kỳ thư mà khanh tặng cho quả nhân, quả nhân cứ rảnh rỗi lại giở đọc, đọc đi đọc lại, thấy quả là tuyệt diệu. Tuy lời khanh nói cũng rất phải, nhưng Thương Quân quả thực rất biết lo nghĩ cho quốc gia. Nếu trăm họ ai cũng chỉ chăm chăm lo cho nhà mình, thì lấy ai dốc sức vì đất nước? Không có đất nước, thì nhà ở đâu ra?”

“Đại vương,” Khuất Bình khép mắt ngẫm nghĩ chốc lát, rồi chậm rãi tiếp lời, “Tần pháp quả đúng như đại vương nói, có lợi cho nước, có lợi cho vua, song thần đã suy nghĩ rất nhiều, và vẫn luôn cho rằng, Tần pháp có ba điều lợi, cũng có ba điều bất lợi, không hoàn toàn thích hợp với người Sở!”

“Khanh nói xem, là ba điều lợi gì, ba điều bất lợi gì?”

“Ba điều lợi, đó là lợi cho đất nước, lợi cho chiến tranh, lợi cho trước mắt.”

“Vậy còn ba điều bất lợi?”

“Là trái ngược lại, bất lợi cho dân, bất lợi cho hoà thuận, bất lợi cho lâu dài.”

Hoài Vương trầm ngâm suy nghĩ.

“Đại vương,” Khuất Bình thuận đà tiếp lời, “nhìn khắp cổ kim, phàm những bậc quân chủ mưu cầu ba điều lợi trên, đều là những kẻ thất đức, tàn bạo, thiển cận. Còn tam thánh ngũ đế, vua hiền đời thịnh, tất cả chỉ suy nghĩ đến ba điều lợi trái ngược, thứ nhất là lợi cho bách tính thiên hạ, thứ hai là lợi cho thiên hạ thái bình, thứ ba là lợi cho vận nước dài lâu. Nhìn vào đó, nên thần mới không muốn phỏng theo Tần pháp, mà chỉ gạn lọc tinh yếu từ trong đó, ví như khuyến nông khuyến chiến, khích lệ khai khấn ruộng hoang, xe tơ dệt lụa, cắt giảm dư quan, dùng người hiền tài. Căn cứ vào tình hình thực tế của nước Sở, để lập ra hiến chế mới.”

“Được rồi,” Hoài Vương có vẻ không vui, song vẫn gật đầu, hơi ngồi thẳng dậy, “nếu khanh đã nghĩ vậy, cứ theo ý khanh, tiếp tục soạn hiến lệnh mới!” Dừng lại một thoáng, nói tiếp, “nghe lời khanh vừa nói, tình thế đã rất cấp bách, thời gian không chờ đợi ta. Vậy nên, khanh không cần phải tạo dần từng hiến, quả nhân cũng không cần phải thi hành từng lệnh nữa. Bệnh nặng cần thuốc mạnh, dao sắc cắt bòng bong!”

“Thần thụ mệnh!”

Hôm sau, cung Sở mở đại triều, Hoài Vương ban bố từng hiến lệnh cải chế do Khuất Bình soạn thảo, hạ chỉ cho phủ tả đồ điều tra vụ án cướp muối. Hiến lệnh rất dài, đến hơn năm trăm chữ, giảng giải rõ ràng về các cựu chế cần thay đổi, cùng phạm vi, kỳ hạn, cách thức, thưởng phạt, ngôn từ súc tích gãy gọn. Người tuyên hiến lệnh là Khuất Bình, giọng nói sang sảng, khí thế hăng hái, từng câu từng chữ rành mạch rõ ràng. Ban bố cùng lúc với hiến lệnh, còn có danh sách dư quan cần cắt giảm của ba họ Khuất, Cảnh, Chiêu.

Khắp triều đường chấn động.

“Các khanh,” Hoài Vương thần thái điềm tĩnh, giọng nói nghiêm trang, đưa mắt nhìn khắp bá quan trong triều, từ lệnh doãn Chiêu Dương cho tới người cuối cùng, “Đại Sở ta từ khi lập quốc, chỉ là một mảnh đất cỏn con, cho tới ngày nay, đã mở rộng hơn năm nghìn dặm, nhân khẩu hơn hai ngàn vạn. Đều là nhờ công lao chinh chiến của liệt tổ liệt tông. Cho tới khi quả nhân tức vị, trước sau trải hai trận chiến, một trận Tương Lăng, ta thắng; một trận Tích Thuỷ, ta bại. Thắng bại là chuyện thường tình của binh gia, vốn không quá đáng trách. Nhưng quả nhân muốn các khanh biết rõ một điều, đó là quốc khố của ta đã trống rỗng! Hẳn các khanh sẽ không tin, đường đường là một Đại Sở nước lớn thế mạnh, sao quốc khố lại sạch không cho được? Quả nhân cũng không tin. Quả nhân đã ba lần phái người kiểm tra quốc khố, nhưng tra đi tra lại, thực sự đã cạn kiệt rồi. Cạn kiệt tới mức độ nào? Sau trận Tích Thuỷ, đến tiền phủ tuất cho tướng sĩ tử thương, quốc khố cũng không đủ cấp phát! Quả nhân buộc phải lấy từ trong cung. Song trong cung cũng đang thiếu tiền vàng, cung doãn hết cách, buộc phải cắt giảm mọi chi tiêu. Trẫm nói ra, không sợ các khanh chê cười, để bổ sung cho chi phí, Nam cung Trịnh hậu đã dẫn đầu, nuôi tằm dệt vải trong cung, các cung khác cũng đều học theo. Vào lúc này, trong hậu cung của quả nhân, không còn ai tô son điểm phấn, nam cày nữ dệt, không có một ai ngồi không hưởng lộc!”

Những chuyện này, họ đều đã nghe đồn, giờ nghe Hoài Vương xác thực, bá quan ai nấy đều cúi gằm đầu.

“Các khanh,” Hoài Vương cất giọng nặng nề, “quả nhân nói ra những lời này, không phải muốn các khanh cũng làm theo như vậy, chỉ là muốn các khanh hiểu rõ, nước Sở ta đã quá nghèo! Tuy nhiên, nước Sở có nghèo thực không? Các khanh hãy nói thử xem!”Ánh mắt uy nghiêm lại quét qua khắp lượt quần thần.

Không một ai lên tiếng.

“Quả nhân biết, Đại Sở ta không hề nghèo. Đại Sở ta sản vật phong phú, dân chúng cần lao, các nhà các hộ, ai ai cũng giàu. Chỉ tính riêng các khoản thuế khoá vào quốc khố hàng năm, đã tới vài nghìn dật. Nhưng quả nhân rất lấy làm lạ, số tiền này đi đâu cả? Nay quả nhân đã điều tra rõ,” Hoài Vương cầm lấy danh sách dư quan của ba họ, đập mạnh xuống án, “đều đã chảy hết vào đây!”

Bá quan ai nấy giật nảy mình, toát mồ hôi lạnh.

“Đây mới chỉ là danh sách dư quan thế tập của ba họ Khuất, Cảnh, Chiêu, tổng cộng đã hơn một nghìn bốn trăm kẻ, trong số đó, những kẻ giữ chức ngồi không còn tạm chấp nhận được, đằng này có không ít kẻ thậm chí chẳng giữ một chức gì, chỉ nhờ quan tịch tổ tiên mà đời đời ăn lộc vương thất, khiến cho gần một phần ba quốc khố của quả nhân chảy hết vào túi riêng của họ,” Hoài Vương lại đập mạnh bản danh sách xuống án, “hết năm này qua năm khác!”

Thấy Hoài Vương nổi cơn thịnh nộ, bá quan không dám ho he, triều đường lặng phắc như tờ.

“Quả nhân tuyên chỉ, kể từ hôm nay, việc này buộc phải kết thúc!” Ánh mắt uy nghiêm của Hoài Vương chiếu thẳng vào Chiêu Dương đứng đầu hàng ngũ.

Mọi ánh mắt cũng đổ dồn cả vào Chiêu Dương.

“Lệnh doãn nghe chỉ!” Hoài Vương lớn tiếng.

“Thần chờ chỉ!” Chiêu Dương bước lên một bước, dập đầu hô.

“Ngay lập tức, chiếu lệnh này do phủ lệnh doãn toàn quyền thực thi, không được phép sai sót!” Hoài Vương hất hàm, nội doãn bèn bước lên, trao lại chiếu mệnh và danh sách cắt giảm dư quan của ba họ cho Chiêu Dương.

“Thần thụ mệnh!” Chiêu Dương hai tay đỡ lấy.

“Lệnh doãn,” Hoài Vương tiếp lời, “nội trong ba ngày, phải cắt bỏ toàn bộ số quan dư thừa của ba họ Khuất, Cảnh, Chiêu kê trong danh sách, lập thành cáo thị công bố khắp nơi! Các dòng tộc, các môn hộ, các phủ doãn khác, cũng lập tức ban lệnh, học theo ba họ này, tự báo tự cắt. Phàm nhà nào có ý giấu giếm, không báo không cắt, hễ điều tra ra, nhẹ thì lưu đày tới ấp biên cương, nặng thì xử tội kháng chỉ!”

Quần thần đưa mắt nhìn nhau.

Phủ Kỷ Lăng Quân nằm ở chính giữa khu vực sầm uất nhất của Sính Đô, chiếm đến mười hai mẫu đất, chia làm hai nửa, trạch viện sáu mẫu và hoa viên sáu mẫu. Tại chỗ giao nhau giữa hai khu là một dòng nước uốn lượn chảy qua khu trạch viện, ở giữa vườn hoa có một hồ nước lớn rộng đến hai mẫu, chỗ nước nông bên hồ trồng hoa sen và hoa súng, ven bờ lại trồng đủ các loại lan và liễu.

Toạ lạc cạnh hồ sen là một sảnh đường bằng trúc rất tao nhã, rộng thênh thang, trên cửa đề bốn chữ “Kỷ thị Chung trì” (hồ Chuông họ Kỷ). Phía dưới xà ngang của sảnh đường treo một dàn chuông, chia thành ba tầng, tổng cộng tám cụm, trong đó chuông nữu mười chín chiếc, chuông dũng bốn mươi lăm chiếc, chuông phó một chiếc, tổng cộng sáu mươi lăm chiếc, vô cùng tráng lệ.

Trong trăm nhạc, vương thúc yêu nhất là nhạc chuông, thường cùng người trong tộc gõ chuông tiêu khiển.

Buổi chiều hôm nay, lại tới giờ tấu chuông, vương thúc cầm dùi, đứng trước quả chuông nữu nhỏ nhất, gõ khẽ để giữ nhịp. Năm người Bành Quân, Xạ Cao Quân, Phùng Hầu Sửu, Tây Dương Quân, Cố Hầu, người cầm dùi nhỏ, người cầm chày lớn, đứng sau dàn chuông chia nhau diễn tấu. Ba mươi mốt mỹ nữ nhạc công, mỗi người một món nhạc cụ, đủ loại gỗ đá tơ trúc hoà âm. Năm mỹ nữ vốn dĩ gõ chuông, giờ không có việc gì làm, đứng hầu bên cạnh.

Hôm nay, mấy vị quân hầu cùng diễn tấu khúc Lộc minh trong Tiểu Nhã. Một khúc nhạc còn chưa tấu xong, bỗng nghe có tiếng bước chân gấp gáp vọng lại, Tử Khải hối hả bước vào, giơ tay ra hiệu dừng lại.

Nhưng mọi người đều không để tâm, vẫn tiếp tục mải mê diễn tấu.

“Dừng lại, dừng lại,” Tử Khải giơ tay hô lớn, “có chuyện lớn rồi!”

Tiếng chuông lập tức im bặt. Vương thúc phẩy tay, đám nhạc công bèn vội lui ra. Mấy vị phong quân cũng dừng tay gõ, cùng bước cả lại.

Vương thúc nhìn Tử Khải, hỏi: “Chuyện gì?”

“Vương thúc xin hãy xem!” Tử Khải lấy từ trong ống tay áo ra một bản sao của chiếu lệnh vừa ban bố, hai tay dâng lên.

Vương thúc đón lấy, xem xong, đưa cho mấy vị phong quân cùng đọc.

“Vào lúc này, e là đã dán cáo thị khắp nơi.” Tử Khải chỉ ra ngoài.

Mấy vị chuyền tay nhau xem, rồi đưa mắt nhìn nhau.

“Xem ra phụ vương đã hành động thật rồi!” Tử Khải nói tiếp, lại lấy ra tờ danh sách cắt giảm dư quan của ba họ, “đây là số dư quan bị cắt giảm của ba họ Khuất, Cảnh, Chiêu, nếu tính ra, số lượng quả thực kinh người!”

Mấy người lại chuyền tay nhau xem, ai cũng bàng hoàng thảng thốt.

“Lệnh quái gì vậy?” Xạ Cao Quân ném toẹt bản chiếu lệnh xuống đất, “tập ấm chỉ được ba đời, ta đây là đời thứ ba, vậy thì con cháu của ta sẽ thế nào đây?”

“Phải đấy,” Bành Quân sắc mặt sa sầm, “tôi cũng đã hai đời!”

“Phùng Hầu,” Xạ Cao Quân nhìn sang Phùng Hầu Sửu, “nhà của ngươi là đời thứ mấy rồi?”

“Than ôi,” Phùng Hầu Sửu nhăn nhó, “tới đời tại hạ đã là thứ bảy. Theo như chiếu lệnh này, thì đất phong của tại hạ…Ôi thôi!”

Vương thúc liếc nhìn bọn họ, cúi xuống nhặt chiếu lệnh lên, cẩn thận phủi nhẹ vài cái, rồi nhìn sang Tử Khải: “Vậy ba họ kia có nói gì không?”

“Cháu không biết.” Tử Khải đáp, “Chiêu Dương nhận mệnh thực thi chiếu lệnh.”

“Ông ta có nhận mệnh?”

“Vâng, ngay lập tức!”

“Lạ thực!” Vương thúc lẩm bẩm, “về lý mà nói, dòng họ Chiêu sẽ bị cắt giảm nhiều nhất, sao ông ta lại chịu nhận mệnh?”

“Ông ta đâu dám không nhận?” Xạ Cao Quân cười nhạt, “vương huynh sớm đã gai mắt với ông ta!”

“Phải,” Bành Quân tiếp lời, “trong thời khắc nguy cấp này, ông ta không thể không nhận.”

“Lệnh này hẳn do tả đồ soạn thảo?” Vương thúc quay sang Tử Khải.

“Không phải hắn, còn ai vào đây?” Tử Khải đáp, “nghe Nam cung nói, đại vương còn muốn để hắn thay thế chức vị của Chiêu Dương!”

Tất thảy đều sửng sốt.

“Tin này, là đại vương nói với Nam hậu ư?” Vương thúc nhìn xoáy vào Tử Khải.

“Không phải, là Nam hậu nghe Ngận Thượng kể lại.” Tử Khải đáp, “nói rằng cách đây vài hôm, đại vương đã từng bàn chuyện với Ngận Thượng, bảo ông ta tiến cử lệnh doãn mới.”

“Ngận Thượng nói sao?”

“Ngận Thượng tiến cử tả đồ, phụ vương rất vui, còn khen ông ta có con mắt tinh đời!”

“Ồ?” Bành Quân kinh ngạc, “cớ sao Ngận Thượng lại tiến cử thằng ranh đó? Ngoài dăm bài thơ phú, hắn chỉ giỏi làm càn!”

Vương Thúc khép mắt suy nghĩ một hồi, nhìn sang Tử Khải: “Khải Nhi, lâu rồi chú không đánh cờ, hãy gọi sứ Tần sang đây.”

Tử Khải bèn sai người tới dịch quán, đưa danh thiếp mời Trương Nghi tới.

Hai người bày cờ, đánh được nửa chừng, vương thúc chợt ném quân cờ đi, vòng tay nói: “Trương Tử hay cờ, Mị Thu nhận thua.”

“Vương thúc chưa thua, chẳng qua trong lòng vướng bận với một người mà thôi!” Trương Nghi đáp lễ, cười nói.

“Dám hỏi Trương Tử,” vương thúc nhìn thẳng vào Trương Nghi, “trong lòng ta đang vướng bận với ai?”

“Tả đồ Khuất Bình.”

“Trương Tử thực tinh tường!” Vương thúc cười nói, “theo Trương Tử thấy, tả đồ liệu có thể thành sự?”

“Chỉ mình tả đồ, khó thành đại sự. Nếu thêm một người, cũng khó nói đấy.”

“Thêm ai?”

“Chiêu Dương.”

Theo Trương Tử thấy, Chiêu Dương sẽ giúp Khuất Bình ư?”

“Giúp!”

“Ồ…” Vương thúc im lặng chốc lát, “ba họ Chiêu, Khuất, Cảnh đấu đá đã lâu, đều muốn nắm quyền trong triều, nên xét về lý, Chiêu Dương chắc hẳn không muốn nhường lại chức vị lệnh doãn cho họ Khuất!”

“Đó là trước đây, còn lúc này, ông ta sẽ nhường!”

“Vì sao kia?”

“Bởi vì tại hạ,” Trương Nghi chỉ vào mũi mình, “họ Chiêu muốn khống chế tại hạ, Khuất Bình chính là vũ khí sắc bén. Có điều,” nhìn xoáy vào vương thúc, “Khuất Bình nếu nắm đại quyền, e rằng những tháng ngày bình yên của vương thúc sẽ không còn nữa.”

“Trương Tử nói phải.” Vương thúc vòng tay, “ứng phó thế nào, vẫn mong Trương Tử chỉ giáo!”

“Chỉ giáo thì không dám,” Trương Nghi đáp, “cách đây không lâu, Ngận đại nhân cũng từng hỏi tại hạ chuyện này, tại hạ đã tặng cho Ngận đại nhân ba chữ, 'chất cho cao'.”

“Muốn khiến cho đổ, phải chất cho cao; muốn quật xuống đất, phải nâng quá đầu.” Vương thúc buột miệng đọc liền, “nếu nói là vậy, việc Ngận Thượng tiến cử Khuất Nguyên, là do Trương Tử chỉ bảo?”

Trương Nghi bật cười vài tiếng: “Vương thúc quả nhiên là vương thúc!”

“Theo ý Trương Tử, nếu có Chiêu Dương giúp đỡ, Khuất Bình có thể thành sự?”

Trương Nghi lắc đầu: “Ngoài Chiêu Dương, còn cần thêm một người!”

“Ai kia?”

“Trần Chẩn!”

“Ồ?” Vương thúc lấy làm sửng sốt, nhìn sững vào Trương Nghi.

“Biến pháp không ở pháp, cải chế không ở chế.”

“Vậy thì ở cái gì?” Vương thúc ngả người lại hỏi.

“Ở người.” Trương Nghi đáp, “hãy nhìn liệt quốc biến pháp, Ngụy dùng Lý Khôi, Tề dùng Trâu Kỵ, Tần dùng Thương Ưởng, Hàn dùng Thân Bất Hại. Bốn người này đều là kẻ mưu mô âm hiểm, giỏi quyền biến, cho nên bốn nước đó đều cải chế thành công. Năm xưa nước Sở cải chế, tiên Điệu Vương trọng dụng khách khanh Ngô Khởi. So với bốn người kể trên, Ngô Khởi còn độc địa hung tàn hơn nữa, không chuyện gì không dám làm. Chỉ tiếc tiên Điệu Vương băng hà quá sớm, khiến cho đại nghiệp nước Sở sắp thành lại bại. Thời thế hiện nay, người mưu mô âm hiểm như bốn kẻ trên, người độc địa hung tàn như Ngô Khởi, chỉ lác đác như sao buổi sớm. Duy có khách khanh Trần Chẩn, luận về mưu mô tuy không bằng bốn người kia, song luận về âm hiểm lại còn vượt trội. Tiếc là đại vương lại bỏ không dùng.”

“Trương Tử nói phải,” vương thúc lấy làm thán phục, “buổi chầu sáng nay, đại vương ban bố một lệnh, đã hành động rồi!” Đưa tay sắp lại bàn cờ, “than ôi, hãy nói vào chuyện chính đi, Mị Nguyệt tuổi không còn nhỏ nữa, Trương Tử tới đây là để cầu hôn, nên tập trung vào việc này mới phải!”

“Than ôi,” Trương Nghi buông thõng hai tay, “tại hạ mấy lần thỉnh cầu yết kiến, mà đại vương năm lần bảy lượt từ chối, nhất quyết không chịu gặp. Đại vương bình chân như vại, Nghi cũng không thể vội được!” Lắc đầu, “không giấu vương thúc, ở mãi dịch quán, tại hạ đã ngán ngẩm lắm rồi. Đại vương nếu vẫn không triệu kiến, tại hạ dự định sẽ tới đất Việt du ngoạn một phen. Trị Việt một năm, tại hạ vẫn rất lưu luyến đất Việt.”

Vương thúc hiểu ra dụng ý của Trương Nghi, phá lên cười lớn: “Chuyện du ngoạn đất Việt, Trương Tử tốt nhất hãy nói với đại vương. Nghe nói năm xưa, nhạc phụ của Trương Tử cùng chết chung với Việt Vương, quả là tráng cử chấn động lòng người!”

“Thực không nỡ nhìn.” Trương Nghi cười gượng, “nhưng tại hạ…chỉ có thể giương mắt đứng nhìn!”

“Nhắc tới chuyện này, Mị Thu nhớ tới một việc.”

“Vương thúc xin hãy nói!”

“Theo như Thu biết, vương huynh sớm đã úp mở về chuyện phế lệnh doãn, có ý tìm hiền tài thay thế. Thu cho rằng, người thích hợp nhất để trị Sở, không còn ai khác ngoài Trương Tử, có lòng tiến cử Trương Tử lên vương huynh, không biết ý Trương Tử thế nào?”

“Tại hạ tài hèn học mọn, e rằng không lọt vào mắt của đại vương!”

“Chuyện này Trương Tử chớ lo, cứ giao cho Thu!”

Trương Nghi vòng tay: “Tạ ơn vương thúc yêu mến!”

Thấy Trương Nghi nhận lời, vương thúc rất vui, thu quân cờ lại, đưa hộp quân đen cho Trương Nghi, “hãy chơi một ván mới.”

Ngay sau hôm vương mệnh ban bố, trong phủ Chiêu Dương bỗng nhộn nhịp chưa từng. Xe ngựa hàng đoàn cứ rậm rịch hết đến lại đi, họ hàng thân thích, bà con thân tộc, bạn bè người quen, già trẻ lớn bé lũ lượt dắt díu nhau xuống xe, chen chúc chật kín trước cổng Chiêu môn.

Chiêu Dương nhắm mắt ngồi trong thư phòng ở hậu hoa viên, không tiếp ai hết.

Người đến cũng không nhiều lời, người già có ghế ngồi, người trẻ tuổi ngồi dưới đất, trẻ nhỏ không dám nô đùa, mặt mũi ỉu xìu ngồi bên cạnh người lớn. Trạch viện Chiêu môn chẳng mấy chốc đã nghìn nghịt những người, ước chừng phải đến bốn năm trăm, còn đông hơn cả người tới dự lễ tang lão phu nhân năm xưa.

Không một ai khóc lóc, không một ai ồn ào, tất cả chỉ ngồi im lặng. Đám nô bộc Chiêu phủ dưới sự đôn đốc của Hình Tài, qua lại như con thoi giữa đám đông để phục vụ trà nước.

Sắc trời gần tối, Chiêu Tuy về phủ, trông thấy cảnh tượng này thì giật mình kinh hãi.

Nhận ra Chiêu Tuy, vô số ánh mắt cùng đổ dồn cả lại.

Một cụ già gắng gượng đứng dậy khỏi chỗ, run rẩy bước về phía Chiêu Tuy. Cụ già này là anh họ của tiên tổ mẫu Giang phu nhân, Chiêu Dương gọi ông ta là cậu ba, còn Chiêu Tuy phải gọi là ông cậu, được tính là lão trưởng bối lớn tuổi nhất trong họ tộc bên ngoại của Chiêu môn.

Chiêu Tuy vội rảo bước lại, đỡ lấy ông ta, chào: “Ông cậu ba!”

“Tuy Nhi,” ông lão níu tay Chiêu Tuy, “cuối cùng thì cũng đợi được anh về!”

“Ông cậu,” Chiêu Tuy biết rõ nhưng vẫn vờ hỏi, “có chuyện gì sao?”

“Có chuyện đấy.” Ông lão nhìn chằm chằm vào Chiêu Tuy, “nghe nói danh sách của họ ta là do anh soạn?”

“Ông cậu, cháu…” Chiêu Tuy ấp úng.

“Than ôi,” ông lão thở dài, “ông cậu biết là anh bất đắc dĩ, đều do thằng ranh họ Khuất kia bức bách, thế nhưng…Tuy Nhi,” tay run run chỉ vào đám đông trong sân, “anh đưa tất cả họ vào trong danh sách, là muốn…muốn đổ cả nhà ông già này sau này phải uống gió Tây Bắc mà sống ư?”

“Ông cậu…”

“Tuy Nhi,” không để Chiêu Tuy nói hết, ông lão đã cắt ngang, “đừng nói gì thêm nữa, ông cậu chỉ cầu xin anh một điều, anh nói với thằng nhóc họ Khuất kia, hãy nể tình mà chừa lại cho ông già này, cho những người ở đây một con đường sống. Hãy nói với hắn, già này quỳ xuống cầu xin hắn…” Nói đoạn quỳ sụp ngay xuống.

Những người phía sau cũng lục tục quỳ xuống theo.

“Ông cậu!” Chiêu Tuy cũng lật đật quỳ xuống, bật khóc thành tiếng.

Thế nhưng, cáo thị đã dán khắp nơi, muốn thay đổi thực khó tày trời. Chiêu Tuy không biết phải nói gì, mọi người cũng đều hiểu rõ sự việc có lẽ đã an bài, song họ muốn tỏ thái độ, và buộc phải tỏ thái độ. Phong hiệu, đất phong, đặc quyền của họ, đều do tiên vương ban tặng, đều được biên vào sổ sách, chiếu mệnh của tiên vương vẫn được thờ cúng trong từ đường, làm sao có thể xoá bỏ toàn bộ chỉ bởi một tờ cáo thị?

Hai bên cùng mặt đối mặt quỳ một lúc, Chiêu Tuy đỡ ông lão quay lại chỗ ngồi, đoạn nặng nề lê bước tiến về phía thư phòng của Chiêu Dương.

Chiêu Tuy gõ cửa, người ra mở cửa là Chiêu Thử. Chiêu Tuy đưa mắt nhìn, thấy ngồi trong phòng là đám hậu sinh Chiêu Ngư, Chiêu Đà, Chiêu Chương, hiện đang làm việc tại các phủ doãn trong Chiêu môn.

Chiêu Ngư nhích sang bên cạnh nhường chỗ, Chiêu Tuy bèn ngồi xuống bên cạnh.

Chiêu Tuy vừa ngồi yên chỗ, Hình Tài đẩy cửa bước vào, khom lưng đứng chờ. Chiêu Dương bèn đưa mắt nhìn sang.

“Chúa công, lại có mấy nhà tìm tới, lão nô khuyên nhủ thế nào cũng không chịu về, nói rằng sẽ ngồi đợi tới sáng.”

Chiêu Dương nhắm mắt lại.

“Chúa công,” Hình Tài hạ giọng, “xem ra, sắp lớn chuyện rồi.”

“Cảnh môn thế nào?” Chiêu Dương lại hỏi.

“Người tuy không nhiều bằng nhà chúng ta, nhưng chửi bới hăng lắm. Còn bên Khuất môn, không ít người réo thẳng tả đồ ra chửi, mắng hắn là kẻ phá gia chi tử trong môn!”

“Biết rồi.” Chiêu Dương phẩy tay. Hình Tài bèn khom lưng lui ra.

Chiêu Dương ngẩng đầu, nhìn sang Chiêu Tuy: “Buổi chầu hôm nay có gì mới không?”

“Tả đồ không tới.”

“Ồ?”

“Có lẽ đang bận soạn thảo hiến lệnh tiếp theo.”

Những người có mặt thảy đều đưa mắt nhìn nhau.

“Sứ Tần hẳn có động tĩnh?” Chiêu Dương nhìn sang Chiêu Đà.

“Chiều hôm kia rời khỏi dịch quán, tới phủ vương thúc, gần canh một mới trở về, ở bên đó khoảng ba canh giờ. Hôm qua và hôm nay đều ở trong dịch quán, không thấy có hành động nào khác thường.”

“Phủ vương thúc?” Chiêu Dương lẩm bẩm, đoạn nhìn sang Chiêu Thử.

“Vương thúc mời hắn tới đánh cờ, đánh hai ván, bất phân thắng bại.” Chiêu Thử đáp. Kể từ sau khi cùng chịu tù tội với Tử Khải, hai người đã trở thành bạn bè sinh tử có nhau, phàm vương thân có việc gì quan trọng, Tử Khải cũng kể hết cho hắn nghe. Ngược lại, Chiêu Thử lại luôn giấu nhẹm việc mình sớm tối ra vào phủ Chiêu Dương.

“Chỉ là đánh cờ?” Chiêu Dương nheo nheo mắt.

“Nghe Tử Khải nói, Trương Nghi tới chỗ vương thúc, nói rằng đại vương có ý để tả đồ thế chỗ cho chú, còn vương thúc chủ trương tiến cử Trương Tử. Xem ra, ngôi vị của chú sắp gây tranh chấp rồi!”

Mấy kẻ hậu sinh sắc mặt đều lộ vẻ giận dữ.

Chiêu Dương nhắm mắt suy nghĩ, rất lâu sau mới ngẩng lên, đưa mắt nhìn khắp lượt, cất giọng nặng nề: “Qua vài ngày nữa, Trần thượng khanh sẽ về đến Sính. Trước khi Trần thượng khanh trở về, mấy người các ngươi không được hành động tuỳ tiện, song cần phải hết lòng trợ giúp Khuất Bình. Còn lão hủ ư, cũng nên nhượng lại vị trí này rồi!”

“Sao kia?” Chiêu Tuy sửng sốt, “không phải phụ doãn muốn nhường chức cho Khuất Bình đấy chứ?”

“Than ôi,” Chiêu Dương khẽ thở dài, “hiện tại, người có thể bước lên chức vị này, chỉ có hắn mà thôi.”

Mấy người ngơ ngác nhìn nhau.

Hiển nhiên, so với Trương Nghi, thì nhường chức lệnh doãn cho Khuất Bình, đối với Chiêu môn vẫn còn có thể chấp nhận được.

“Các ngươi về cả đi.” Chiêu Dương phẩy tay, khép hờ mắt lại, “lão hủ cần viết một tờ biểu!” Dừng lại một chốc, lại gọi, “Chiêu Tuy, Chiêu Thử ở lại!”

Đợi mấy người kia lui ra cả, Chiêu Dương nhìn sang Chiêu Tuy: “Tuy Nhi, từ ngày mai, hãy ngoài mặt nghe lời Khuất Nguyên, bên trong nghe theo vương thúc!”

“Phụ doãn?” Chiêu Tuy kinh ngạc.

“Chiêu Thử,” Chiêu Dương không đếm xỉa tới hắn, quay sang Chiêu Thử, “còn nhớ vương thúc đã hứa sẽ dành cho cháu một chức huyện doãn, giờ đã tới lúc cháu nên tới thỉnh cầu ông ta rồi.”

“Chuyện này…” Chiêu Thử ngỡ ngàng.

“Còn nữa, hãy tìm lấy một cơ hội, tiến cử Tuy Nhi với vương thúc!”

Chiêu Thử hít sâu một hơi, hồi lâu sau mới vòng tay đáp: “Cháu xin cung kính vâng lời!”

“Phụ doãn,” Chiêu Tuy chỉ ra bên ngoài, “nhà ông cậu đang đòi sống đòi chết ngoài kia, phải làm thế nào đây?”

“Còn làm thế nào được nữa? Ta sẽ dâng tấu thỉnh.”

“Tấu thỉnh?” Chiêu Tuy sửng sốt, “tấu thỉnh đại vương thu hồi chiếu lệnh ư?”

“Chiếu lệnh là tâm huyết bấy nay của đại vương, có thể thu hồi được sao?” Chiêu Dương cười gượng, rồi chỉ ra ngoài, “hãy nhìn đi, ngoài kia đều là những ai? Đều là những kẻ tham lam vô độ, ăn tàn phá hại. Ăn lộc vua, thì phải làm việc cho vua, đó là chuyện hiển nhiên. Nhưng họ thì sao? Thuế một đồng không nộp, lao dịch một người không xuất, khư khư chức vị, ăn không ngồi rồi hết đời này qua đời khác, mà không có chút biết ơn, coi tất cả là chuyện đương nhiên! Đến loài cầm thú còn biết thế nào là thiên kinh địa nghĩa. Ở loài cầm thú, ông bà cha mẹ có giỏi bắt mồi, có giỏi đá đạp, có giỏi cắn xé đến mấy, nếu con cháu vô dụng, thì chỉ có thể biến thành xác chết dưới vuốt, mồi ngon trong bụng kẻ mạnh mà thôi!” Càng nói càng thêm giận dữ, hừ một tiếng thật lớn, “theo ta thấy, tả đồ làm vậy, vẫn chưa đủ dứt khoát! Cứ chờ mà xem, bảy trăm năm từ đường, năm nghìn dặm giang sơn của Đại Sở, sớm muộn cũng sẽ bị huỷ trong tay đám người này!”

Thấy Chiêu Dương nói về họ hàng thân thích của mình với giọng gay gắt đến vậy, cả Chiêu Tuy và Chiêu Thử đều sững sờ kinh ngạc.

Sáng sớm, tiếng chim hót bên ngoài cửa sổ Nam cung đã được thay thế bằng tiếng thoi đưa dệt vải của đám cung nhân, cung nữ.

Hoài Vương đã tỉnh giấc, song chưa vội dậy ngay, vẫn nằm im trên giường, quả là chuyện xưa nay chưa từng thấy. Hoài Vương kê hai tay xuống dưới gáy, hai mắt mở trừng trừng nhìn lên xà chạm rường vẽ trên trần nhà.

Hình chạm trổ trên rường xà là quốc điểu của nước Sở, Chu Tước, trông rất giống phượng hoàng, sống động như đang bay.

Hoài Vương mắt nhìn trân trân Chu Tước, song tâm trí lại không để ở đó, bên tai vẫn như văng vẳng giọng nói của Khuất Bình:

"…Nhìn khắp cổ kim, phàm những bậc quân chủ mưu cầu ba điều lợi trên, đều là những kẻ thất đức, tàn bạo, thiển cận. Còn tam thánh ngũ đế, vua hiền đời thịnh, tất cả chỉ suy nghĩ đến ba điều lợi trái ngược, thứ nhất là lợi cho bách tính thiên hạ, thứ hai là lợi cho thiên hạ thái bình, thứ ba là lợi cho vận nước dài lâu. Nhìn vào đó, nên thần mới không muốn phỏng theo Tần pháp, mà chỉ gạn lọc tinh yếu từ trong đó, ví như khuyến nông khuyến chiến, khích lệ khai khẩn ruộng hoang, xe tơ dệt lụa, cắt giảm dư quan, dùng người hiền tài. Căn cứ vào tình hình thực tế của nước Sở, để lập ra hiến chế mới.”

Hoài Vương hai mắt khép hờ, sắc mặt rầu rĩ, nhủ thầm: “Than ôi, Khuất Bình, khanh lanh lợi tinh tường, thông minh tuyệt đỉnh, cớ sao lại không thấu hiểu suy nghĩ của quả nhân? Có lợi cho đất nước, có gì không tốt? Có lợi cho chiến tranh, có gì không tốt? Có lợi cho ở gần, có gì không tốt? Thế nhưng khanh, sao khanh cứ khăng khăng làm ngược lại, sao cứ một điều tam hoàng ngũ đế, hai điều thánh đức minh quân. Có những chuyện chỉ dùng để nói mà thôi, chứ đâu thể coi là thật? Ví như ba điều lợi của khanh. Lợi cho dân là tốt, nhưng giờ đây khanh cắt giảm dư quan, có ai trong số đó không phải là dân? Nếu có lợi cho họ, quốc khố chẳng phải sẽ cạn kiệt! Lợi cho hoà thuận đương nhiên là tốt, nhưng khanh đã từng nghĩ đến, có tấc đất nào của Sở có được nhờ hoà thuận? Lợi cho lâu dài cũng không sai, mưu sự đương nhiên cần phải lâu dài, nhưng quả nhân sống được bao lâu? Đại nghiệp thiên thu cần phải nhiều đời tiếp nối, chỉ dựa vào một quả nhân, cộng thêm một Khuất Bình, liệu có thể dựng nên cơ nghiệp muôn đời? Ta và khanh có làm tốt đến mấy, chỉ cần gặp phải một kẻ bất tài, sẽ tan tành hết. Vả lại, cho dù là chuyến bay vạn dặm, cũng cần xuất phát từ bước đầu tiên trên đất…”

Hoài Vương đang đắm chìm trong suy nghĩ, Trịnh Tụ chợt bước vào, tay dắt theo Tử Lan. Trên tay Tử Lan cầm thanh kiếm gỗ.

“Phụ vương,” Tử Lan chạy tới bên giường, “con chờ người bên ngoài đã lâu! Tối qua phụ vương đã nói sẽ dạy con luyện kiếm!”

Hoài Vương bật cười, nhảy luôn xuống giường: “Đi!”

“Lan Nhi,” Trịnh Tụ nhắc nhở, “phụ vương còn chưa rửa mặt chải đầu, con hãy ra ngoài tự luyện trước đã!”

Tử Lan vâng lời, tung tăng chạy ra.

Trịnh Tụ giúp Hoài Vương thay áo, rửa mặt chải đầu.

“Đại vương,” Trịnh Tụ vừa chải tóc cho Hoài Vương, vừa cất giọng dịu dàng, “Lan Nhi ngày một lớn khôn, thần thiếp có một thỉnh cầu, mong đại vương ân chuẩn.”

“Nàng cứ nói.”

“Thấy Lan Nhi cũng lanh lợi hoạt bát, thần thiếp muốn tìm cho nó một người thầy, để tránh không có ai quản thúc mà sinh ngang ngược!”

“Ồ, nàng đã chọn được ai rồi ư?”

“Văn võ bá quan trong triều, thần thiếp chỉ ưng một người, tả đồ Khuất Bình.” Trịnh Tụ cười đáp, “so với luyện kiếm, Lan Nhi thích thơ phú hơn!”

Hoài Vương cười đáp: “Được!”

Trịnh Tụ tươi cười hỏi: “Dám hỏi đại vương, bao giờ có thể cho Lan Nhi bái sư?”

“Tuỳ nàng.”

“Ban nãy tư tế có tới, nói rằng ngày kia chính là ngày tốt lành để tế lễ miếu Vu Hàm. Mấy hôm nay, thần thiếp đã lựa chọn được hai mươi tám cung nữ lanh lợi, đều là xử nữ, giao do tư tế ngày đêm huấn luyện để chuẩn bị cho đại lễ. Tư tế nói, hiện tại mọi việc đều đã xong xuôi, chỉ thiếu một vu dương, muốn mời Khuất đại nhân đảm nhiệm.

Thần thiếp đã đồng ý với tư tế, cho mời tả đồ vào cung chuẩn bị việc tế lễ. Thần thiếp cũng mời cả thượng quan đại nhân, chờ họ tới, thần thiếp sẽ…”

“Cứ theo ý ái phi.”

Khi Khuất Bình theo Bạch Vân cùng tới miếu Vu Hàm, đã gần buổi trưa. Trịnh Tụ và Ngận Thượng chờ đã khá lâu rồi. Bàn xong chuyện tế lễ, Trịnh Tụ bèn mời cả ba tới Nam cung.

Bốn người bước vào Nam cung, thấy cung điện đã biến thành phường dệt, các cung nhân phần lớn đang mải mê làm việc.

“Hai vị đại nhân, tư tế, mời tới hoa viên!” Trịnh Tụ chìa tay nói.

Bốn người cùng tiến vào hậu hoa viên, thấy Hoài Vương cũng ở đó, đang dạy Tử Lan cầm gáo đồng múc nước trong thùng tưới rau. Thấy mấy người họ, Hoài Vương tươi cười dẫn Tử Lan lại đón.

Khuất Bình, Ngận Thượng cùng hành lễ: “Thần khấu kiến đại vương, khấu kiến công tử!”

Hoài Vương cười lớn, xua tay: “Không phải đa lễ!” Chỉ về phía đình hóng mát bên cạnh, “hãy vào đình kia ngồi.” Nói đoạn dắt tay Tử Lan, cùng đi tới đình hóng mát.

Ngôi đình rất rộng, đã sắp xếp chỗ ngồi đầy đủ. Hoài Vương, Trịnh Tụ ngồi vào chiếu chủ, Khuất Bình, Bạch Vân ngồi bên trái, Ngận Thượng một mình ngồi bên phải, Tử Lan khép nép đứng một bên.

Hoài Vương hỏi han chuyện đại lễ miếu Vu Hàm xong, bèn nhìn sang Tử Lan: “Lan Nhi, lại đây!”

Tử Lan bước lại, ngồi xuống bên cạnh Hoài Vương. Hoài Vương kéo Tử Lan, chỉ vào Khuất Bình nói: “Lan Nhi, hãy lại bái kiến sư phụ!”

Tử Lan liền quỳ xuống, dập đầu trước Khuất Bình.

“Đại vương,” Khuất Bình sửng sốt, “chuyện này…là thế nào?”

Hoài Vương mỉm cười, nhìn sang Trịnh Tụ.

“Khuất Tử,” Trịnh Tụ vòng tay, “Lan Nhi đã học chữ, đã thuộc thi thư, Khuất Tử văn chương nức tiếng thiên hạ, bản cung muốn để Lan Nhi theo học Khuất Tử, mong Khuất Tử đừng chê!”

“Nương nương, thần…” Khuất Bình lo lắng nhìn sang Hoài Vương.

Hoài Vương khẽ cười: “Lan Nhi, hãy ngâm một bài cho sư phụ nghe thử!”

Tử Lan ngẩng đầu, rụt rè nhìn sang Khuất Bình:

“Cây đẹp trong trời đất,

Quất hợp đất này a.

Bản tính không thay đổi,

Sinh tại nước nam a.

Rễ sâu khôn dời chuyển,

Bởi vì một lồng a.

Lá xanh…lá xanh…”

Tử Lan không nhớ được câu tiếp theo, luống cuống nhìn sang Trịnh Tụ.

Hoài Vương bật cười, bế Tử Lan lên, nhìn sang Khuất Bình: “Khuất ái khanh, học trò của khanh ngâm thế nào?”

“Ngâm hay lắm!” Khuất Bình cười đáp.

“Đại vương,” Trịnh Tụ tiếp lời, “Khuất đại nhân vẫn chưa đồng ý, có lẽ là không ưng thuận học trò này rồi!”

Hoài Vương nhìn sang Khuất Bình.

“Chuyện này…thần…” Khuất Bình có phần bối rối, “cung kính thụ mệnh!”

“Tạ ơn Khuất Tử!” Trịnh Tụ vòng tay, “bản cung còn có một thỉnh cầu, cũng mong Khuất Tử tác thành!”

“Nương nương, thỉnh cầu thì thần không dám,” Khuất Bình đã trấn tĩnh lại, vòng tay đáp, “nếu có chỗ nào cần đến thần, xin nương nương cứ dặn dò!”

“Là thế này,” Trịnh Tụ nhìn thẳng vào Khuất Bình, “Tụ vốn là dân mất nước, nhờ duyên may nên mới được cùng thiên hạ đệ nhất tài tử cung phụng đại vương, thật lấy làm vinh hạnh! Tụ từ nhỏ đã ưa thơ phú, tiếc là tài hèn học mọn, không thể thành văn. Nay gặp ngày lành, trước mặt đại vương, thượng quan đại nhân cùng tư tế, Tụ mới bạo gan thỉnh cầu Khuất Tử ban cho một bài thơ, để Tụ tự tay thêu lên gấm, treo trên chính đường, để ngày ngày được chiêm ngưỡng!”

“Được nương nương yêu mến, thần lấy làm lo lắng.” Khuất Bình ngẫm nghĩ chốc lát, lại vòng tay, “có điều, xin nương nương hiểu cho, làm thơ viết phú, phải có tâm nhàn chí nhã, hôm nay gấp gáp, thần e khó thành thơ hay, sẽ làm hỏng nhã hứng của nương nương. Xin nương thương cho thư thả vài ngày, đợi thần tâm bình khí nhàn, sẽ lại dâng thơ cho nương nương, được chăng?”

“Được, được chứ.” Trịnh Tụ tươi cười đáp, “cảm tạ Khuất Tử, Tụ xin chờ đợi thơ hay!”

Bản tấu mà Chiêu Dương trình lên Hoài Vương, chính là xin từ chức lệnh doãn, đại khái nói rằng mình tuổi tác đã cao, sức yếu nhiều bệnh, mà lệnh doãn là chức vị hệ trọng, khiến mình lực bất tòng tâm.

Hoài Vương hiểu rõ Chiêu Dương cớ sao lại từ chức, cũng vừa hay đúng với ý mình, đang nghĩ cách ứng phó thì nội doãn vào bẩm báo, có vương thúc yết kiến.

Trong các thân vương, em ruột Mị Thu là người khiến Hoài Vương vừa kính vừa sợ. Kính, là bởi vương thúc chưa từng có ý tranh giành ngôi vị, lại luôn ủng hộ mình, cho dù trong các con trai của tiên vương, Mị Thu là người có tư cách nhất để ngồi lên ngôi báu. Sợ, là bởi Mị Thu lòng dạ thâm sâu, luôn giữ khoảng cách với Hoài Vương, ngôn hành cử chỉ chỉnh chu, lúc nào cũng nhất nhất giữ đúng chừng mực quân thần, huynh đệ.

Với một vương đệ như vậy, Hoài Vương xưa nay không dám sơ suất, lập tức sửa ngay vạt áo, đích thân ra đón. Trước hành lễ quân thần, sau huynh đệ hàn huyên, đoạn Hoài Vương dắt tay vương thúc, bước vào chính điện.

“Thần đệ tới đây, là có một việc quan trọng cần bẩm tấu.” Vương thúc vào ngay chuyện chính.

“Hiền đệ cứ nói.”

“Chị gái mất sớm, để lại hai con một trai một gái, ngoảnh đi ngoảnh lại, đều đã lớn khôn, nhất là cháu gái Mị Nguyệt đã tròn mười tám, nên gả chồng rồi. Gái lớn không nên giữ, vì chuyện hôn nhân của Nguyệt Nhi, thần đệ lo lắng không ít, nhưng mãi không ai lọt vào mắt con bé. Lần này sứ Tần tới đây kết tình láng giềng hoà mục, cũng là cầu hôn cho Tần Vương, quả là một mối tốt. Mấy năm nay, Nguyệt Nhi ở bên thần đệ, thần đệ biết con bé thông minh lanh lợi, giờ được vào hậu cung Tần, với ta không phải là chuyện xấu. Nên thần đệ muốn…”

“Ngu huynh đã hiểu dụ Ngận Thượng, việc sứ Tần cầu hôn, do hiền đệ chủ trì. Hiền đệ có thể sắp đặt cho long trọng, cần thứ gì, hiền đệ cứ sai bảo Ngận Thượng.”

“Tạ ơn vương huynh tin tưởng!” Vương thúc vòng tay đáp.

“Hiền đệ tới vừa đúng lúc, ngu huynh đang có đại sự cần bàn.” Hoài Vương cầm lấy bản tấu xin từ chức của Chiêu Dương, đưa lại.

Vương thúc đỡ lấy, đọc qua một lượt, lại để xuống án.

“Chiêu Dương đã già thực rồi,” Hoài Vương nhìn thẳng vào vương thúc, “lại đúng lúc nước Sở nhiều việc rối ren, không đủ sức đủ tài, không thể gánh vác. Chức lệnh doãn không phải chức thường, ngu huynh muốn lắng nghe ý của hiền đệ.”

“Lệnh doãn là để phò tá vương huynh, nên để vương huynh quyết định mới phải!” Vương thúc cười nói, “quân thần hoà hợp, mới có thể thành tựu đại sự.”

“Hiền đệ hẳn có tiến cử?”

“Vương huynh nếu nhất quyết muốn thần đệ nói, thần đệ xin tiến cử một người, Trương Nghi.”

“Trương Nghi rất tốt, là bậc đại tài, có điều người này…” Hoài Vương ngập ngừng chốc lát, “hiện đang là sứ Tần, lại là tướng quốc của Tần Vương, giữ quyền cao chức trọng ở Tần, chưa chắc đã chịu nhận!”

“Trương Nghi có chịu nhận hay không, vương huynh cớ sao không thử hỏi?” Vương thúc cười nói.

“Truyền chỉ,” Hoài Vương không còn cách nào khác, đành phải quay sang nội doãn, “có lời mời sứ Tần Trương Nghi vào cung yết kiến!”

Khi Trương Nghi tới yết kiến, vương thúc xưa nay vốn không dính dáng tới việc triều chính đã chọn cách tránh mặt, cáo từ về phủ.

Để tỏ ý tuỳ tiện, Hoài Vương đổi sang đón tiếp Trương Nghi tại thiên điện, cũng không mặc vương phục.

Hành lễ xong xuôi, Hoài Vương vòng tay nói: “Lượng thứ, nghe Ngận đại phu nói, Trương Tử tới Sính đã nhiều ngày, nhưng ngặt vì quả nhân bận rộn chính sự, nên đã tiếp đón chậm trễ.”

“Đại vương chớ khách sáo!” Trương Nghi vòng tay đáp lễ, “năm xưa sau khi Nghi xuống núi, lập tức tới Sở, sớm đã coi Sở là nhà. Lần này tới Sở, danh nghĩa là sứ thần, thực chất là trở về đất cũ. Đại vương cho Nghi thời gian để thăm thú chốn xưa, thăm hỏi bạn cũ, Nghi cảm tạ còn không hết!” Nói đoạn, bật cười sảng khoái, rồi hạ thấp giọng, “không giấu đại vương, phàm những nơi trước kia từng qua lại ở Sính Đô, Nghi đều đã ghé thăm hết lượt, giờ đang tính tới Ngô, Việt ngao du!”

Trương Nghi nhắc tới Ngô, Việt, rõ ràng có ý muốn kể công.

“Than ôi,” Hoài Vương hiểu rõ ẩn ý, chỉ biết thở dài, “nhắc tới chuyện xưa, Sở có được Ngô, Việt, không thể không kể đến công lao của Trương Tử. Chỉ tiếc năm xưa do hiểu lầm mà Sở để mất Trương Tử. Quả nhân mỗi khi nhớ tới chuyện này, lại lòng đau như cắt!”

“Là Nghi vô phúc, không có duyên hầu hạ đại vương!”

“Chuyện đã qua không thể níu kéo; chuyện tương lai có thể trông mong.” Hoài Vương ngả người lại hỏi, “giả sử tương lai ở ngay trước mặt, dám hỏi Trương Tử, có muốn bỏ Tần theo Sở hay không?”

“Tương lai đó của đại vương, Nghi dù có lòng, e rằng…” Trương Nghi dừng lại, im lặng hồi lâu, đoạn chỉ tay vào bụng mình, “e rằng cũng không có gan!”

“Trương Tử vì sao lại nói rằng không có gan?”

“Nghi đã từng gan dạ ngút trời, đáng tiếc là từ khi bị lệnh doãn đại nhân của Đại Sở bỏ ngục, gan dạ ấy đã teo lại mất rồi. Đại vương nay nếu nhắc lại, ngộ nhỡ lệnh doãn đại nhân lại lôi một viên ngọc bích nữa ra…” làm bộ kinh hãi, “Nghi đã khiếp sợ tới tận xương tuỷ!”

“Không giấu Trương Tử,” Hoài Vương cầm bản tấu từ chức của Chiêu Dương lên, “Chiêu Dương tuổi cao sức yếu, không kham nổi quốc sự, đã dâng tấu xin cáo quan về quê.”

“Ồ?” Trương Nghi khẽ đảo con ngươi, đoạn vòng tay đáp, “tạ ơn đại vương hậu ái! Có điều, lệnh doãn là chức vị cao, kẻ đức mỏng tài hèn khó lòng kham nổi. Nghi tài sơ đức mọn, dám hỏi đại vương, cớ sao lại vứt bỏ đại tài bên cạnh không dùng, mà tìm đến Nghi?”

“Đại tài bên cạnh?” Hoài Vương nheo mắt, “là ai vậy, quả nhân ngu độn, xin Trương Tử chỉ giáo.”

“Tả đồ Khuất Bình!”

“Trương Tử cớ sao lại nói người này là đại tài?”

“Người này không chỉ là đại tài, mà còn là thánh tài!”

“Đại tài và thánh tài có gì khác nhau?”

“Đại tài có thể phò tá đại vương trở thành minh quân một thuở, độc bá một phương, giống như đương kim lệnh doãn đối với đại vương. Thánh tài có thể phò tá đại vương trở thành thánh vương một đời, nhất thống thiên hạ, giống như Tử Nha năm xưa đối với Vũ Vương Đại Chu vậy!”

Hoài Vương ngả người lại: “Nếu phân chia như vậy, thì tài của Trương Tử là tài gì?”

“Quái tài,” Trương Nghi khẽ cười, “có thể phò tá quân chủ ít đạo trở thành ma vương đời loạn!”

Hoài Vương phá lên cười lớn, đưa tay trỏ vào Trương Nghi: “Kẻ tự tâng bốc mình thế này, quả nhân hôm nay mới thấy lần đầu!” Lại cười mấy tiếng, “Trương Tử quả là thú vị!” Quay sang nội doãn, “bày rượu!”

Sau tiệc rượu, Trương Nghi cáo từ, đi thẳng tới phủ trạch của Ngận Thượng, kể lại mọi việc, từ chuyện được vương thúc tiến cử lên Hoài Vương, đến chuyện Hoài Vương vời tới, rồi đến chuyện hắn tiến cử Khuất Bình lên Hoài Vương.

“Ối!” Ngận Thượng cuống lên, “Trương huynh muốn đẩy họ Khuất kia lên ngôi lệnh doãn thật ư? Trương huynh không biết đại vương sủng ái hắn đến độ nào đâu, nghe nói còn tắm chung một hồ, kỳ lưng cho nhau nữa!”

“Thật sao?” Trương Nghi bật cười hỏi lại.

“Là chuyện chưa từng có trong cung Sở!” Ngận Thượng nói, “hồ đó, tại hạ biết, gọi là hồ thơm, xưa nay đại vương chỉ cho phép sủng phi xuống cùng, còn thái giám, thậm chí cả nội doãn cũng không được phép chạm xuống nước. Họ Khuất kia không những xuống hồ, mà còn được đại vương đích thân kỳ lưng cho!”

“Thật sao?” Trương Nghi lại cười.

“Hiện tại, người đại vương tin tưởng nhất, chính là họ Khuất, sớm đã có ý cho hắn làm lệnh doãn rồi!”

“Nghe nói Khuất đại nhân gần đây bận rộn, là bận việc gì thế?”

“Phá vụ án muối.” Ngận Thượng cười nham hiểm, “Chiêu Dương nếu quẳng gánh đi, thì hắn sẽ phải lăn lưng ra mà chống đỡ. Chiêu Dương lúc này từ chức, chỉ vì một nguyên do: cắt giảm dư quan. Họ Khuất kia chưa trải sự đời, cứ tưởng là chuyện dễ chơi chắc.”

“Còn bận gì nữa?”

“Nam cung mời hắn dạy Tử Lan, còn nhờ hắn tặng thơ, hắn đều đã đồng ý cả. Còn bên miếu Vu Hàm, sáng sớm mai tế lễ, Bạch tư tế nhất quyết muốn hắn làm vu dương, hắn cũng đã nhận lời. Và còn việc soạn hiến lệnh, đại vương dùng hắn chỉ để cải chế, mà nếu muốn cải chế…” Ngận Thượng dừng lại nửa chừng.

“Tốt lắm, tốt lắm!” Trương Nghi gật gù khen ngợi, từ từ khép mắt lại, hồi lâu sau mới lên tiếng, nửa như tự nhủ, nửa như nói với Ngận Thượng, “Ngận đại nhân, có biết về Bạch tư tế chăng?”

“Ở đất Sở này, ngoài Khuất Bình ra, không ai hiểu nàng ta bằng tại hạ!” Ngận Thượng hạ giọng thì thào, “đại vương mê mẩn nàng ta, ngày ngày tơ tưởng, chỉ muốn có được nàng. Nhưng trong lòng nàng ta chỉ có một người, chính là họ Khuất kia, đối với đại vương dửng dưng nhạt nhẽo. Đại vương cũng chẳng biết làm sao.”

“Bất kỳ cô gái nào, đại vương đều có thể có được, duy chỉ tư tế này thì không!”

“Vì sao kia?” Ngận Thượng ngạc nhiên hỏi.

“Bởi vì nàng ta là cháu gái ruột của đại vương!”

“A?” Ngận Thượng trợn trừng mắt, há hốc miệng, hồi lâu sau mới nói được nên lời, “ý Trương huynh muốn nói, nàng ta là…”

“Không sai, là con gái của vương thúc!” Trương Nghi thản nhiên đáp, “mẹ của nàng ta vốn là tư tế miếu Vu Hàm, năm xưa vương thúc mưu chiếm suối muối của người Ba, mới đóng giả lái buôn muối tới núi Vu Hàm, khi lên núi tế bái miếu đại thần, tình cờ gặp tư tế. Hai người yêu thương quyến luyến, có với nhau một con gái, chính là vị Bạch tư tế kia. Sau đó, vương thúc dẫn quân đánh vào suối muối, tàn sát người Ba, tư tế kia mới nhận rõ chân tướng, bởi quá hổ thẹn với người Ba nên đã nhảy xuống vực sâu tự vẫn.”

Ngận Thượng hít ngược một hơi khí lạnh.

“Đại nhân có biết, Bạch tư tế vì sao lại mang họ Bạch?” Ngận Thượng ánh mắt dò hỏi.

“Sau khi tư tế kia tự tận, cô con gái được một ẩn sĩ tên gọi Hát Quan Tử nuôi nấng. Ẩn sĩ đó họ Bạch, là hậu duệ dòng đích của Bạch Công Mị Thắng, con trai của Sở Bình Vương, sống ẩn dật nhiều năm trong núi Vu Hàm đất Ba, tinh thông số lý, học vấn uyên thâm, được người Ba tôn là bậc tiên tri!”

“Ối chao!” Ngận Thượng kinh ngạc kêu lên.

“Mẹ của Bạch tư tế, kỳ thực chính là con gái của ẩn sĩ Hát Quan Tử, bà ta là vu nữ đất Ba, truyền nhân của tư tế miếu Vu Hàm núi Vu Hàm!”

“Ối chao!” Ngận Thượng lại kêu lên tiếng nữa, hít ngược hai hơi, lặng đi một chốc mới thốt nên lời, “chuyện bí mật nhường này, sao Trương huynh biết được?”

Trương Nghi khẽ cười vài tiếng: “Chuyện này là bí mật ở Sính Đô, nhưng tại đất Ba thì chẳng lạ gì. Không giấu Ngận huynh, khi tại hạ chinh phạt đất Ba, có qua lại thân thiết với một vài người Ba, phàm chuyện của người Ba, tại hạ đều biết. Miếu Vu Hàm núi Vu Hàm là thánh địa của người Ba, tại hạ càng không lạ lẫm. Ngận huynh cũng biết, tại hạ bản tính hiếu kỳ, có lẽ nào lại không hào hứng với tư tế trong miếu và truyền kỳ về tư tế?”

Ngận Thượng bái phục sát đất.

Do sáng hôm sau sẽ cử hành lễ tế miếu Vu Hàm, để cho vẹn toàn, Ngận Thượng đã hẹn trước với Nam hậu diễn tập một lượt nghi thức, nên không dám dông dài, vội tiễn Trương Nghi về, rồi hối hả vào cung, thấy Nam hậu đã chờ sẵn trong miếu. Đàn tế đã dựng xong, dưới sự chủ trì của Bạch Vân, các nhạc sư và vu nữ lễ phục trang trọng, cùng đăng đài diễn tập nghi thức tế lễ.

Diễn tập rất suôn sẻ. Nam hậu lấy làm phấn khởi, mời Bạch Vân, Ngận Thượng tới hậu hoa viên thưởng trà. Bạch Vân lấy cớ phải chuẩn bị đại lễ, xin cáo từ trước. Chỉ còn Ngận Thượng ở lại trò chuyện cùng Nam hậu trong đình hóng mát của hậu hoa viên.

Thấy cơ hội đã tới, Ngận Thượng bèn kể lại toàn bộ câu chuyện về tư tế mà Trương Nghi vừa nói. Trịnh Tụ nghe mà hai mắt trợn trừng kinh ngạc.

“Chao ôi!” Trịnh Tụ đưa tay ôm ngực, “nếu tư tế là con gái ruột của vương thúc, cũng tức là cháu gái ruột của đại vương?”

“Chính phải,” Ngận Thượng gật đầu, “đại vương và vương thúc cùng một mẹ sinh ra, tư tế là máu mủ ruột rà của vương thất.”

“Thảo nào vương thúc quan tâm tư tế đến vậy!” Trịnh Tụ như đã hiểu ra.

“Vương thúc quan tâm như thế nào kia?” Ngận Thượng tò mò hỏi.

“Vào hôm cầu thần dụ để trừng phạt Tử Khải, vương thúc cứ như bị trúng tà, từ đầu tới cuối, ánh mắt không lúc nào rời khỏi tư tế, khiến ta lấy làm khó hiểu. Sau đó Tử Khải chuyển lời, muốn ta chăm lo cho tư tế, ta mới gặng hỏi hắn nguyên do, hắn nói là ý của vương thúc. Ta cứ ngỡ vương thúc có tình ý riêng tư, muốn tranh giành với đại vương, đến giờ mới hiểu.” Dừng lại một thoáng, lại tiếp, “may sao đại vương vẫn biết kiềm chế, bằng không, há chẳng phải là loạn…” Vội im bặt không dám nói tiếp.

“Đâu chỉ có vậy,” Ngận Thượng tiếp lời, “nếu tính theo vương thúc, thì tư tế là cháu ruột của đại vương; nhưng nếu tính theo dòng dõi của Bạch Công, thì tư tế chính là em họ của đại vương đó!”

Trịnh Tụ bật cười: “Đều tốt cả. Em họ cũng được, mà cháu ruột cũng được, đều là người thân của đại vương. Là người thân của đại vương, cũng chính là người thân của bản cung, từ nay về sau, bản cung coi tư tế là người nhà, không cần phải đề phòng nàng ấy nữa! Mấy hôm nay qua lại với nàng ấy, cảm thấy nàng ấy quả thực phi thường, tâm trong như nước.”

Miếu mới hoàn tất, đại lễ cận kề. Đây là đại lễ đầu tiên do Bạch Vân chủ trì, lại ở ngay trong cung Sở, nên nàng không tránh khỏi hồi hộp. Mọi việc đều đã sắp đặt ổn thoả, hiện giờ, nàng cần phải khiến mình bình tâm tĩnh khí. Mà có thể giúp nàng bình tâm lại, chỉ có một nơi, chính là nhà cỏ của Khuất Bình.

Trời còn chưa tối, nàng đã quay về, ngồi bên chậu lan trong phòng, tĩnh tâm ngưng thần, đợi Khuất Bình về nhà.

Đến tận giờ Nhân định, mới có tiếng xe ngựa lọc cọc chạy vào sân. Khuất Bình đã trở về. Bé gái con thiếu phụ chạy ra đón.

“Thưa chú, chị về rồi!” Cô bé hân hoan báo tin, xưng hô có phần lộn xộn.

“Ở đâu?” Khuất Bình vội hỏi.

“Trong phòng.”

Khuất Bình vội sải bước vào phòng, vừa đi vừa gọi lớn: “Tư tế?”

Lời còn chưa dứt, chân đã bước qua cửa phòng, rồi chợt khựng lại.

Trong phòng khói mờ vấn vít, sực nức hương lan. Dưới ánh nến tờ mờ, Bạch Vân ngồi trong chậu tắm, hoàn toàn loã thể.

Khuất Bình đứng sững như ngây. Nhưng không lui ra. Hai chân Khuất Bình như đóng đinh xuống đất.

Thế nhưng, trong lòng Khuất Bình, không hề gợn lên mảy may kích động, tim cũng không loạn nhịp, chỉ có tâm tư như bị thứ gì hút lấy, không thể phản ứng, cứ thế đứng im bất động, hai luồng nhãn quang xuyên qua màn sương khói mông lung, dừng lại trên thân mình thiếu nữ.

Bạch Vân hoàn toàn bất động, không nói năng gì, hai mắt khép chặt, ngâm mình trong làn nước hoa lan. Mái tóc đen ướt đẫm buông dài trước ngực, nhỏ nước tí tách.

Thời gian như ngưng trệ. Một người đứng ngây trên bậu cửa. Một người ngồi im trong chậu nước thơm.

Không biết bao lâu sau, Khuất Bình chợt reo lên, giọng rất khẽ nhưng hào hứng: “Có rồi!”

“Có gì kia?” Bạch Vân cũng lên tiếng.

“Bài thơ cho Nam cung nương nương!”

“Vậy ư?” Bạch Vân khẽ cười, “ngâm thử xem.” Khuất Bình bèn cao giọng ngâm nga:

Tắm nước lan này gội hương,

Mặc sắc thắm này y thường.

Mây phấp phới chừ đã đến,

Ánh rực rỡ chừ lạ thường.

Mây thần đậu xuống cung thọ,

Cùng nhật nguyệt chiếu sáng bừng

Cưỡi xe rồng mặc đế phục,

Nàng ngao du khắp muôn phương.

Mây rực rỡ kìa giáng xuống

Rồi bay bổng kìa lưng chừng

Thu Ký Châu trong tầm mắt,

Dạo bốn bể này vô cùng.

Tưởng nhớ nàng chừ than thở,

Lòng thổn thức chừ vấn vương.

“Đại nhân nghĩ xa xôi quá.” Bạch Vân mỉm cười, rồi chợt đứng dậy, bước ra khỏi chậu.

“Nàng định đi đâu?” Khuất Bình vội dời ánh mắt đi chỗ khác, lùi lại nhường lối.

“Về núi Vu Hàm.” Bạch Vân với lấy tấm khăn, quấn quanh người, rồi khoan thai mặc áo, “đại nhân từng tới núi đó chưa?”

“Đã tới.” Khuất Bình đáp ngay.

“Mới tới ư?” Bạch Vân cười hỏi.

“Ồ?” Khuất Bình ngạc nhiên, “sao nàng biết?”

“Đại thần Vu Hàm cho Bạch Vân biết!” Bạch Vân cười khúc khích, rồi chỉ vào phòng Khuất Bình, “nước tắm đã sửa soạn xong xuôi, hãy về tắm gội trai giới. Đại lễ sáng mai, đại thần Vu Hàm không muốn thấy một vu dương toàn thân ô uế!”

Đêm đó, cả Khuất Bình và Bạch Vân đều không ngủ, ngồi tĩnh toạ trong phòng đến sáng. Tới khi nghe văng vẳng tiếng mõ canh tư, bèn lên đường tới cung thành, đến canh năm thì tới miếu Vu Hàm. Sớm đã có cung nhân túc trực, sửa soạn cho đại lễ.

Tới rạng sáng, khi phương đông vừa hửng, mặt trời vừa nhô khỏi chân trời, lễ tế bắt đầu. Hoài Vương cùng các phi tần, cung nhân, công tử, công chúa, chừng vài trăm người đứng vòng trong vòng ngoài trước đàn tế, phục sức đủ màu hoa lệ. Đám vương thúc, Ngận Thượng cũng dẫn theo quyến thuộc dự lễ, ngồi bên tả hữu Hoài Vương.

Vu nhạc được diễn tấu bởi nhạc phường của vương cung. Hai mươi tám cung nữ được tuyển lựa mình mặc vu phục, nhảy múa trong tiếng nhạc. Sau màn vũ nhạc, tư tế đăng đài, triệu mời vu dương, cùng nhảy điệu vũ Vu Hàm.

Múa xong rồi, vu dương và tư tế cùng tiến lại chỗ Hoài Vương, dắt tay Hoài Vương cùng Trịnh Tụ cùng tiến lên đàn tế.

Vu dương vỗ tay, vu nhạc lại nổi, sương khói từ bên hai đàn tế bay lên, từ từ lan toả vào trong đàn tế, chẳng mấy chốc đã giăng mờ mịt, bao phủ lấy Hoài Vương, Trịnh Tụ, vu dương, tư tế và đám vu nữ.

Vu dương cao giọng ngâm nga: “Trời rộng mênh mông, đất dày bát ngát, Sở Vương nghênh thỉnh, Ba thần Vu Hàm. Đại thần Vu Hàm, mặt nam thần nữ, cai quản bầu không, sấm chớp mây gió. Hôm qua giờ Tỵ, gió tràn Nam cung; Vân Trung Quân tới; ban thơ nương nương.” Đoạn khom lưng trước Trịnh Tụ, “Nam cung nương nương, xin hãy nhận áng thơ đẹp Vân Trung Quân.”

Trịnh Tụ tới lúc này mới hiểu dụng ý của Khuất Bình khi mời mình đăng đài, vội vàng đáp lễ.

Vu nhạc vang lên, vu dương cất giọng ngâm nga:

Tắm nước lan này gội hương

Mặc sắc thắm này y thường.

Các vu nữ cùng cao giọng hoà nhịp:

Mây phấp phới chừ đã đến,

Ánh rực rỡ chừ lạ thường.

Tư tế tiếp lời:

Mây thần đậu xuống cung thọ,

Chiếu sáng rực cùng ánh dương

Chúng vu nữ lại hát:

Cưỡi xe rồng mặc đế phục,

Nàng ngao du khắp muôn phương.

Vu dương hát tiếp:

Mây rực rỡ kìa giáng xuống

Rồi bay bổng kìa lưng chừng

Thu Ký Châu trong tầm mắt,

Dạo bốn bể này vô cùng.

Tư tế hát theo:

Tưởng nhớ nàng chừ than thở,

Lồng thổn thức chừ vẩn vương.

Chúng vu nữ lặp lại:

Tưởng nhở nàng chừ than thờ,

Lòng thổn thức chừ vấn vương.

Chúng vu nữ hát câu cuối liền ba lượt, trong lúc hát, xếp thành một vòng tròn, lại cố tình để Trịnh Tụ đứng đầu, vây quanh Hoài Vương. Vu dương, tư tế đứng bên ngoài vòng tròn đó, một trái một phải, như gió như mây.

Khói mờ lững lờ lan toả, đàn tế chợt ẩn chợt hiện, huyền hoặc như cõi thần tiên.

Trịnh Tụ bỗng dưng ứa lệ.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử