Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 54
Khuấy đảo Hà Tây, Ngụy Ngang quyết chí phục thù
Cứu vãn hợp tung, Tô Tần tìm thầy thỉnh giáo

❊ ❊ ❊

Đêm đông tịch mịch, gió lạnh ào ào.

Có lẽ do quá lạnh, có lẽ do quá mệt mỏi, có lẽ thấy không phải cấp thiết tấn công người Ngụy đã bị dồn vào chân tường, quân Tần đánh chiếm vùng sơn cốc thấy Bàng Quyên lui binh, cũng nhân lúc trời tối rút vào trong ải Hàm Cốc, đóng chặt cửa quan nghỉ ngơi. Quân Ngụy trải qua nhiều ngày kịch chiến, mệt mỏi khó kham, cũng ôm thương chống đao, đốt lửa trong trại, mặc nguyên áo giáp mà ngủ.

Có một người không tài nào ngủ nổi, chính là chủ soái Bàng Quyên, ngồi bên sa bàn, hai đầu lông mày chau tít như liền thành một khối.

Tình thế đã tới hồi cực kỳ nguy cấp. Trước trận chiến, Bàng Quyên dự tính đến cả vạn khả năng, chỉ không ngờ kết quả lại bi thảm như hiện tại. Trước mắt, xem ra Tô Tần đã đúng. Lần này phạt Tần, là do hắn đầu óc nhất thời mê muội, nôn nóng thái quá mà nên hoạ. Ba nước Yên, Tề, Sở chưa đánh đã tự ý bỏ về, quân Triệu đã đi xa, quân Hàn cũng đã rút lui. Công Trọng tuy có để lại ba nghìn tay nỏ trợ giúp phòng ngự như đã hẹn, song toàn bộ đều trấn thủ trước ải Nhạn Linh, có cũng như không, bất cứ lúc nào đều có thể chuồn mất dạng. Chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, sáu nước phạt Tần mới đó còn khí thế ngút trời, vậy mà chớp mắt đã chỉ còn trơ lại võ binh Ngụy một mình đối diện hiểm nguy, bị người Tần giáp công hai mặt giữa hai ải Hào, Hàm.

Đau lòng hơn nữa là Trương Mãnh đã bỏ mình vì nước, gần nửa quân lính tinh nhuệ của Đại Ngụy hoặc tử chiến theo Trương Mãnh, hoặc đi theo công tử Ngang. Còn lại tám vạn tướng sĩ bên mình, thực sự đủ sức chiến đấu chỉ có ba nghìn dũng sĩ của Thanh Ngưu và ba vạn trung quân, mà hai đội quân này trong trận chiến kịch liệt vài ngày trước đã thương vong không ít.

Tướng giỏi dù bại cũng không loạn. Bàng Quyên chau mày tụ thần, vận hết công phu tĩnh định đã tu luyện được từ khi còn trong Quỷ Cốc, vắt óc nghĩ kế.

Bàng Quyên không sợ quân Tần, cũng không lo quân Ngụy phải đơn độc đối đầu nguy hiểm, song cục thế hiển nhiên bất lợi cho hắn. Thứ nhất không có quân chi viện, thứ hai thiếu thốn lương thảo, càng ở thế thua kém về binh lực. Khúc Ốc, Thiểm Ấp không thể giữ, mà cũng giữ không nổi nữa.

Khúc Ốc, Thiểm Ấp có thể mất, song Hào Quan dứt khoát không được mất, đây là giới hạn cuối cùng của Bàng Quyên. Tần đã chiếm được Hàm Cốc, nay lại có được Hào Quan, thì đường tiến về phía đông đã không còn trở ngại, có thể tiến thẳng tới vương thành Chu thất. Sáu nước phạt Tần do một mình hắn khởi xướng, vậy mà không những không phạt nổi Tần, nay đến Hào Quan và vương thành Đại Chu cũng để người Tần đoạt mất, thì chủ soái là hắn sẽ còn mặt mũi nào đây? Sử sách sẽ chép về hắn thế nào đây?

Nghĩ tới ghi chép trong sử sách, Bàng Quyên bất giác rùng mình ớn lạnh. Đúng vậy, hắn cần thu phục Hào Quan, giữ lấy ải Hào, đây là đại sự hàng đầu mà hắn buộc phải thực hiện bằng được trong tình cảnh hiện tại.

Bàng Quyên đưa tay cầm lấy thư cấp báo của Lý Nghĩa Phu, khép mắt một hồi, lại chìm vào suy nghĩ. Tư Mã Thác có được Thằng Trì mà không giữ, lại phóng hoả thiêu trụi kho lương, thả quân Triệu đi, chỉ có một cách lý giải, đó là binh lực không đủ.

Bàng Quyên mở mắt nhìn vào sa bàn, từ từ di chuyển ánh nhìn tới sườn núi hai bên ải Hiệp Thạch. Ngẫm nghĩ một hồi, Bàng Quyên gọi tới một số lính trấn thủ Hào Quan còn sót lại sau chiến bại, qua một lão binh biết được có một khe núi ẩn khuất thông thẳng tới sườn núi, cách lầu cửa quan chưa đầy trăm bước, hơn nữa lại được nhà kho che chắn, có thể băng qua. Trong khe ngầm cây cối um tùm, không có đường đi, hiếm người biết đến, dù là tướng giữ cửa quan cũng không hay biết. Lão binh này vài tháng trước do đuổi theo một con lợn rừng bị thương mà vô tình phát hiện ra khe này.

Bàng Quyên phấn khởi ra mặt, dẫn lão binh tới trước sa bàn, để ông ta đánh dấu rõ vị trí khe núi, rồi lập tức gọi Thanh Ngưu lại, lệnh cho hắn dẫn quân hổ bôn lên đường ngay trong đêm, theo chỉ dẫn của lão binh, tìm tới khe núi.

Sáng sớm hôm sau, khi sắc trời còn lờ mờ chưa tỏ, Bàng Quyên điểm tướng trong đại doanh, rút ra một vạn tay nỏ phối hợp với hai vạn hữu quân bày thế trận Trăng Non, giống như một lưỡi liềm sắc bén phong toả kín mít ải Hàm Cốc, lại lệnh cho vài tướng dẫn theo binh lính bản bộ, trấn thủ các tuyến đường trọng yếu ở hai phía nam bắc của ải Hiệp Thạch.

Tất cả đều đã bố trí xong xuôi, Bàng Quyên đích thân dẫn theo trung quân, khí thế hừng hực, một lần nữa xông thẳng tới ải Hiệp Thạch, tới trước cửa ải bày trận, sẵn sàng liều mạng quyết đánh hạ cho bằng được, thúc trống vang trời, hò la như sấm, tấn công điên cuồng hết lần này đến lần khác.

Chính vào lúc người Tần toàn thần cố thủ quan ải, bỗng một đội quân hổ báo đột ngột xông thẳng tới sau lưng, kẻ nào kẻ nấy cao to lực lưỡng, diện mạo quái dị, hệt như thần binh hạ phàm. Dẫn đầu là Thanh Ngưu, tay cầm rìu lớn, bổ ngang chém dọc, hạ gục tất cả những kẻ ngáng đường. Người Tần kinh hãi, thế trận đại loạn, Tư Mã Thác thấy không địch nổi, vội hạ lệnh rút lui, không ngờ đường dưới núi đều có phục binh, người Tần không còn đường chạy, thương vong trầm trọng. Tư Mã Thác chỉ dẫn theo được hơn trăm người liều chết đột phá trùng vây, chạy về đoạn Hà Thuỷ phía bắc.

Hà Thuỷ mênh mông trống trải, không có đường đi, cũng không có chỗ ẩn náu, trong mắt người Ngụy, đây chính là đường chết. Lính Ngụy ai nấy khí thế hừng hực, dũng mãnh bội phần, sát khí ngút trời, những tiếng hô “bắt sống Tư Mã Thác”, “phục thù cho Trương tướng quân” oang oang điếc óc.

Tư Mã Thác giáp trụ bết máu, thương tích đầy mình, trường thương, mũ trụ đều đã rơi sạch, chỉ còn lại thanh đoản kiếm đẫm máu, dẫn tàn quân nhảy xuống lòng sông Hà Thuỷ, men theo lớp băng cứng ven sông bước thấp bước cao chạy về phía thượng lưu. Quân Ngụy đuổi theo hơn chục dặm, mắt thấy đã sắp đuổi kịp đến nơi, bỗng từ trong bụi rậm xồ ra một đội quân Tần dũng mãnh đánh tạt ngang sườn. Người Ngụy thấy người Tần thế đông, không dám liều lĩnh, người Tần cũng không ham đánh, chỉ bảo vệ đám Tư Mã Thác lui về Hàm Cốc.

Chính vào lúc Bàng Quyên dốc toàn lực truy sát Tư Mã Thác, thì quân Tần trong ải Hàm Cốc cũng không màng sống chết dốc hết sức lực đánh ra phía ngoài. Lính nỏ phía quân Ngụy đã bắn hết tên, được lính trường thương yểm trợ, vừa đánh vừa lui, một dải sơn cốc dài hẹp nằm giữa hai ải Hàm, Hào, đến cả các ấp như Khúc Ốc, Thiểm Ấp đều bị Công Tôn Diễn đoạt lại.

Bù lại, trong cuộc chiến ở ải Hiệp Thạch, người Ngụy đã tiêu diệt hơn chục tướng Tần, chém đầu gần vạn quân Tần, bắt sống vài nghìn lính Tần, suýt nữa còn bắt sống được Tư Mã Thác, dù sao cũng đã lấy lại được chút thể diện cho Bàng Quyên.

Đại quân lui về đến Thằng Trì, Bàng Quyên bố trí phòng ngự, kiểm tra tổn thất, sau khi sắp xếp ổn thoả, chợt nhớ tới công tử Ngang, lập tức phái thám mã hoả tốc tìm đến, bảo hắn lui quân, đồng thời lệnh cho Thanh Ngưu dẫn năm vạn quân, vượt sông qua bến đò Mao Tân, băng qua núi Trung Điều, tới ải Lâm Tấn tiếp ứng.

***

Ở Hà Tây, đối đầu với công tử Ngang là quận thú Hà Tây tân nhiệm Ngô Thanh.

Hai người đều là mãnh tướng, song Ngô Thanh còn xa mới bằng đối thủ, bởi lẽ công tử Ngang từ nhỏ đã thông thạo binh pháp, say mê việc binh, lại trải qua nhiều thử thách máu lửa và thất bại đau thương mà đúc rút nên giáo huấn sâu sắc. Khoan nói tới chuyện này, khác hẳn với quận thú Ngô Thanh gần một năm qua thuận buồm xuôi gió, sung túc an nhàn, công tử Ngang đã nhận được sự kèm cặp, rèn giũa của Bàng Quyên và Tô Tần, tâm trí ngày càng chín chắn, giờ đây hắn lại có thêm chí khí hy sinh vì tổ quốc, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, về mặt khí thế lại càng hơn hẳn.

Để đánh tốt trận này, công tử Ngang đã khổ công nghiên cứu suốt mấy tháng trời. Bàng Quyên lệnh cho hắn tấn công nghi binh, gây rối Hà Tây, thu hút sự chú ý của chủ lực quân Tần, song công tử Ngang lại không nghĩ như vậy. Hắn muốn biến Hà Tây thành chiến trường chính để tiêu diệt người Tần.

Vào đêm trước lúc xuất binh, công tử Ngang triệu tập bộ tướng, chỉ vào Hà Thuỷ, cất giọng hào hùng: “Chư vị tướng sĩ, chư vị đều đã nhìn thấy, ngay bên kia sông chính là Hà Tây, là Hà Tây của người Ngụy chúng ta! Mười năm trước, Hà Tây rơi vào tay Tần, tám vạn tướng sĩ phải đổ máu, đều là lỗi lầm của tại hạ. Hôm nay, tại hạ chỉ có một suy nghĩ, chính là thu phục Hà Tây, rửa mối nhục này! Chư vị xem đây!” Nói đoạn rút kiếm phạt đứt phăng một thân cây bên sông. “Nếu không thành công, tại hạ sẽ như cây này!”

“Thu phục Hà Tây, rửa mối nhục này!” Chư tướng khí thế sục sôi, đua nhau rút kiếm phạt cây.

Tới giờ đã định, công tử Ngang nhìn thấy xa xa phía Phong Lăng có khói bốc ngùn ngụt, biết rằng Trương Mãnh lén vượt sông thành công, lập tức dẫn đại quân vượt sông trên mặt Hà Thuỷ rộng chừng vài dặm gần Phần Âm.

Nơi này lòng sông rộng lớn, nước Hà Thuỷ chảy lững lờ, chỗ bãi nông đều đã đóng băng, nơi nước sâu chảy xiết rộng chỉ vài chục trượng. Người Tần sớm đã chuẩn bị sẵn rất nhiều thuyền bè, bắc gỗ làm cầu, tưới nước lên cho đóng thành băng, dùng dây thừng chằng buộc với nhau thành chuỗi, từ bờ này thuận theo dòng đẩy sang bờ kia.

Đi qua Hà Thuỷ là tới Thiếu Lương, quận phủ của Hà Tây Ngô Thanh không dám lơ là, sớm đã dàn tuyến phòng ngự dọc bờ sông, bày sẵn thế trận sẵn sàng trực chiến.

Chính vào lúc hai bên kẻ công người thủ kịch liệt trên bãi sông, từ phía sau lưng người Tần bất ngờ xông ra một cánh quân Ngụy đông nghịt. Hoá ra, vài ngày trước, công tử Ngang đã điều động một đội kỳ binh, đều trùm vải trắng, nhìn từ xa lẫn vào màu tuyết, từ Bì Ấp vượt sông, men theo mé tây núi Long Môn vòng qua đồng mộng hoang vu tại Tịch Cô, Phồn Bàng, âm thầm từ bắc xuống nam như những bóng ma, chọc thẳng vào Thiếu Lương.

Quân Tần trước sau ngự địch, cuống cuồng ứng chiến, thương vong nặng nề. Ngô Thanh dẫn tàn quân rút vào trong thành Thiếu Lương, kiên cường cố thủ không ra.

Cùng lúc này, một đội kỳ binh khác do công tử Ngang điều động cũng đã vượt sông thành công ở phía tây bắc Tấn Bản, đoạn này nước sông chảy xiết, tưởng chừng không thể vượt qua, nên người Tần cũng không chú ý phòng ngự. Sau đó, ngựa không dừng vó thẳng tiến về phía ải Lâm Tấn.

Khi quân Ngụy tới ải Lâm Tấn, trời vẫn chưa sáng hẳn, trên cửa quan quân Tần còn đang ngon giấc. Người Ngụy đập cửa ải, lính gác còn tưởng là người buôn bán, vừa làu bàu vừa mở cửa quan. Nào ngờ vài nghìn lính Ngụy ồ ạt tràn vào như ong vỡ tổ, gần như chẳng cần giao chiến đã chiếm lại được cửa quan, kiểm soát được cửa ải quan trọng bên bờ Hà Thuỷ.

Tiếp đó, công tử Ngang bỏ qua Thiếu Lương, chia năm vạn đại quân thành tám tuyến, theo đúng kế hoạch ban đầu, tuyến nào cũng như hổ đói tìm mồi, lần lượt đột kích các cửa ải trọng yếu tại Hà Tây, đánh thành chiếm đất, tự cung cấp quân nhu. Công tử Ngang thống lĩnh một vạn binh trấn thủ ải Lâm Tấn, một mặt bắc cầu phao tại bến sông, thông tới Hà Đông, mặt khác ở giữa điều động, hô ứng chặt chẽ với binh mã các lộ.

Vài vạn binh mã tấn công Hà Tây tuy không phải là võ binh tinh nhuệ, song thảy đều hừng hực khí thế, chất chứa căm thù, dũng mãnh gấp bội, một địch cả mười. Trong nháy mắt, khắp vùng đồng hoang rộng lớn tại Hà Tây, đâu đâu cũng thấy lính Ngụy tung hoành chiếm đánh. Một số người dân Ngụy trong lòng vốn đã ít nhiều bất mãn với pháp chế hà khắc của Tần, thấy đồng hương đánh tới thì đua nhau trở giáo, chạy về phe Ngụy. Hơn hai mươi thành ấp tường không kiên cố, binh lực mỏng yếu chỉ trong vòng ba ngày đã lần lượt cắm lên cờ Ngụy. Trường thành nhiều nơi bị phá, khói bốc cuồn cuộn tứ bề. Một cánh quân Ngụy vượt qua trường thành, xông tới Lạc Thuỷ, đánh thẳng vào ải Đại Lệ. Do Hà Tây hầu hết đã thuộc về người Tần, nên ải Đại Lệ cũng không còn ý nghĩa quân sự, gần như bỏ ngỏ, chỉ có chưa đầy trăm lính canh giữ, người Ngụy không tốn bao nhiêu sức lực đã cướp được ải Đại Lệ về tay. Sau khi cướp được cửa ải, người Ngụy một mặt càn quét người Tần dọc tuyến Lạc Dương, một mặt dựng luỹ phòng thủ, nhấn chìm thuyền bè, chặn đứng đường chi viện của người Tần.

Quân giữ Hà Tây rối bời trước chiến thuật chia quân đánh du kích của công tử Ngang, nhất thời không rõ rốt cục có bao nhiêu quân hợp tung đánh tới. Những thành ấp chưa thất thủ không còn tâm trí đâu mà để ý đến chuyện khác, đua nhau đóng cửa né tránh giao chiến.

Ngô Thanh liên tục sai thám mã cấp báo lên Tần Công.

Quân Ngụy tiến đánh bất ngờ, vượt sông chớp nhoáng, hơn nữa sau khi vượt sông, lại bôn tập đường dài tập kích ải Lâm Tấn, chia quân tấn công Hà Tây, toàn bộ thế cờ liền mạch trước sau, kín kẽ khăng khít, vòng này nối tiếp vòng kia, dù là Huệ Văn Công cũng nhìn mà kinh hãi.

Tuy nhiên, lúc này Huệ Văn Công vẫn đang dốc hết sức lực truy sát tàn quân Trương Mãnh kẹt trong khe núi, chẳng còn rảnh rỗi đâu mà để ý đến phía tây.

Hay tin người Tần đốt đứt cầu phao, vây khốn cánh quân của Trương Mãnh trong đường Hàm Cốc, công tử Ngang đang chỉ huy quân Ngụy càn quét Hà Tây bàng hoàng kinh hãi, suy ngẫm hồi lâu, rồi truyền lệnh cho các lộ quân từ bỏ những thành trì đã chiếm, hợp quân một chỗ, đột kích Ninh Tần, kiểm soát Đồng Quan, từ phía tây đánh thông tới đường Hàm Cốc, tiếp ứng cho Trương Mãnh.

Ninh Tần chính là Âm Tấn của Ngụy trước đây, phía bắc tiếp giáp Hà Thuỷ, phía nam liền với Hoa Sơn, chặn ngang đường thông với Hàm Cốc, đúng là cửa ngõ chiến lược phía tây ải Hàm Cốc. Đánh rắn phải đánh trúng tim, kế sách này của công tử Ngang vừa hay giáng trúng chỗ yếu hại của đường quan ải.

Do quân Tần tại đây đa phần đã được điều động tới đường Hàm Cốc truy đuổi Trương Mãnh, nên quân trấn thủ còn lại ở Ninh Tần chỉ khoảng bảy nghìn, đa phần là không đủ khoẻ mạnh để tham gia dã chiến. Số quân có thể chiến đấu thực thụ chỉ có ba nghìn quân hộ vệ của Huệ Văn Công, song trách nhiệm của đội quân này là hộ giá Tần Công, không phải ra trận chống địch. Vài vạn quân Ngụy quay mũi giáo, đột phá Lạc Thuỷ tập kích tới nơi, khiến tình thế trở nên cực kỳ nguy cấp. Huệ Văn Công hạ lệnh đóng chặt cổng thành, dốc toàn lực phòng ngự, bản thân cũng mặc áo giáp, tay cầm trường kích, cùng Sư Lý Tật leo lên lầu thành, đích thân chỉ huy quân chống trả.

Từ xa nhìn thấy Tần Công, lính Ngụy càng thêm hưng phấn gấp bội, công tử Ngang hai mắt vằn tia máu, giằng lấy dùi gỗ, thúc trống công thành. Lính Ngụy hè nhau khiêng theo công cụ phá thành, đánh thẳng vào cổng thành và tường thành trong tiếng trống chiến rền vang của đích thân chủ soái.

Huệ Văn Công và Sư Lý Tật sánh vai đứng trên lầu cổng thành, hai mắt nhìn chăm chăm vào quân Ngụy đông như kiến cỏ đang ùa lại gần.

Thế địch tràn đến như thác lũ, song Huệ Văn Công lại không để mắt tới, chỉ nhìn chăm chú vào công tử Ngang đang điên cuồng gõ trống, vẻ hết sức hiếu kỳ.

“Chúa thượng!” Sư Lý Tật nhìn theo ánh mắt của Huệ Văn Công, đôi mày chau tít. “Vi thần nghĩ mãi không hiểu, đúng là chuyện quái lạ dưới gầm trời, kẻ bất tài vô dụng kia mà cũng có lúc phát lộ uy phong.”

“Ha ha ha!” Huệ Văn Công vẫn nhìn chăm chú, phá lên cười lớn. “Khanh đúng là nhìn người qua khe cửa, chỉ biết xem thường người khác. Quả nhân nói cho khanh hay, kẻ này không phải hạng bất tài vô dụng, mà là một chiến tướng trời sinh!”

“Chiến tướng cái gì?” Sư Lý Tật cất giọng khinh khỉnh. “Thương Quân lúc sinh thời coi thường nhất kẻ này.”

“Thương Quân còn coi thường một người nữa, là Trần Chẩn. Mấy năm qua, khanh hẳn cũng thấy Trần Chẩn không phải phường vô dụng?”

“Quả là vậy!” Sư Lý Tật bần thần một lát, rồi cười mà cất giọng thực tình. “Trần Chẩn vừa vào tay chúa thượng, cứ như thể thoát thai hoán cốt!” Đoạn chỉ vào công tử Ngang. “Chúa thượng hẳn không phải muốn thu nạp luôn kẻ này đấy chứ?”

“Coi như khanh đã đoán đúng!” Huệ Văn Công thu ánh mắt về, dừng cười, cất giọng rành rọt. “Sư Lý ái khanh, truyền chỉ, bắt sống công tử Ngang, kẻ nào trái lệnh, chém!”

“Vi thần lĩnh chỉ!” Sư Lý Tật hiển nhiên đã hiểu thấu ý đồ của quân chủ, bèn quay sang phía quân uý đang túc trực, dõng dạc tuyên chỉ. “Truyền ý chỉ của chúa thượng tới tất thảy tướng sĩ giữ thành: bắt sống công tử Ngang, kẻ nào trái lệnh, chém!”

Ý chỉ “bắt sống công tử Ngang” mau chóng được truyền đi, chẳng mấy chốc, quân Tần giữ thành người người lĩnh chỉ, ai nấy đều hưng phấn, một trận đại chiến khốc liệt giữa hai bên phá thành và tử thủ lập tức mở màn. Tới ngày thứ ba, cánh quân Tần tại đường Hàm Cốc đã được rảnh rang, theo nhau kéo về, quân giữ thành xa gần như Nhạc Dương, Vũ Dương cũng hay tin đua nhau tới cứu giá, tứ phía hợp lại, lúc này vở kịch lớn mới coi như hạ màn.

Công tử Ngang như thể đã thành tinh, mở màn tuyệt diệu, mà hạ màn cũng xuất sắc. Sau khi từ miệng từ binh Tần hay tin Trương Mãnh bỏ mình vì nước, lại nhìn thấy lính Tần ồ ạt kéo tới chi viện, biết chắc không thể chiếm nổi Ninh Tần, lập tức gióng chiêng thu quân, rút lui về phía ải Lâm Tấn.

Song người Tần lại không chịu bỏ qua.

Chỉ lệnh của Huệ Văn Công đã truyền tới mọi binh sĩ, lính Tần vì muốn lập công đầu, không ai không hùng dũng gấp bội, suốt đường bao vây truy quét tới cùng. Trải qua nhiều ngày bôn ba, lại thêm liên tục đánh thành, lính Ngụy đuối sức đáng kể, mệt mỏi vì ứng chiến, tử thương vô số, đành rút lui tới Lạc Thuỷ, nhưng vẫn bị người Tần bám riết không buông. Công tử Ngang một mặt chỉ huy kháng cự, mặt khác lệnh cho các tướng sĩ ném hết các quân nhu mang theo, gồm cả chiến xa xuống sông. Mùa đông nước Hà Thuỷ vốn cạn, lại thêm thời tiết giá lạnh, chỗ nước nông đã đóng băng hoàn toàn, chỉ nơi dòng sâu là nước còn chảy xiết, trong nháy mắt đã bị lấp nghẽn, người Ngụy bắt đầu giẫm đạp qua đó mà vượt sông, chiếm lấy trận địa bờ sông bên kia.

Nhìn thấy quân Ngụy sắp chạy thoát, quân Tần tức nổ đom đóm mắt, truy sát càng quyết liệt.

Công tử Ngang cởi bỏ mũ trụ, giao cho tham tướng thân cận là Mục Trang, nói: “Mục tướng quân, hãy đem vật này về giao cho chủ soái! Đi mau!”

Mục Trang biết hắn muốn liều chết, làm gì chịu đi, bèn quỳ xuống khóc mà cầu xin: “Tướng quân hãy rút lui trước, mạt tướng xin đi đoạn hậu!”

“Ngươi dám kháng quân lệnh?” Công tử Ngang nghiêm giọng quát lớn. “Đi mau! Nhớ truyền quân lệnh của ta, chiến đấu tới người cuối cùng, giữ bằng được ải Lâm Tấn, để bảo lưu mảnh đất bàn đạp cho Đại Ngụy ta.”

Mục Trang và chư tướng sĩ không ai không rơi lệ từ biệt.

Hai mươi vệ sĩ thân cận dứt khoát không chịu đi, đều tháo hết mũ trụ giao cho Mục Trang, thề sống chết cùng chủ tướng.

Quân Tần xông tới như thác.

Công tử Ngang xoã tóc, oai phong lẫm liệt đứng giữa đầu cầu. Hai mươi tử sĩ xếp thành hai hàng trái phải, kiên gan tử thủ ở đầu cầu.

Tướng Tần phẩy tay ra hiệu, lính Tần đồng loạt dừng lại cách họ ngoài hai mươi bước.

Công tử Ngang tóc dài kín vai, đứng hiên ngang trước gió. Hai mươi tử sĩ cùng xoã tóc đi chân trần, thương kích trên tay đều có chỗ sứt mẻ, thấm đẫm máu tươi, áo giáp cũng không còn nguyên vẹn.

Lính Tần thảy đều chấn động, mọi ánh mắt đổ dồn vào tướng Tần.

Tướng Tần giơ tay, vài chục cung thủ tiến lên vài bước, lắp tên vào cung.

Hai mươi tử sĩ mặt không biến sắc, vẫn đứng nghiêm trang lẫm liệt.

Tướng Tần thình lình vung tay, tên sắc đồng loạt bắn ra rào rào, hai mươi tử sĩ đều ngã gục tại chỗ, duy có công tử Ngang vẫn tay nắm ngân thương đứng hiên ngang.

Hai bên tiếp tục kiên gan lui về.

Tướng Tần phẩy tay, đám cung thủ hạ cung lùi về, lính bộ tiến lên vây bủa.

Ước chừng quân Ngụy rút xa rồi, công tử Ngang mới múa tít ngân thương, gầm lên một tiếng: “Giết!” Rồi lao mình vào trận quân Tần, xông thẳng về phía tướng Tần.

Tướng Tần lật đật lùi lại né tránh.

Công tử Ngang tả xung hữu đột, lính Tần cũng tránh trái né phải, đã không trốn chạy, cũng không ứng chiến, chỉ từ từ dồn hắn vào giữa.

Công tử Ngang như vào chốn không người, cứ thế một mình xông pha thêm một chặp, rồi cười dài một tràng, quăng trường thương xuống đất, rút bảo kiếm ra, kề sát bên cổ, đang định cứa ngang, chợt từ phía xa vang lên tiếng gọi: “Thượng tướng quân!”

Công tử Ngang liếc mắt nhìn về phía đó, thì thấy một cỗ chiến xa đang lao như bay tới, đứng trên xe là Sư Lý Tật, bèn cười khinh khỉnh mà nói: “Thượng đại phu tới đây hẳn là muốn tiễn đưa bản tướng? Vậy hãy mang rượu lại đây!”

“Tại hạ xin chào thượng tướng quân!” Sư Lý Tật nhảy xuống chiến xa, tiến lên vài bước, vòng tay hành lễ mà nói. “Tại hạ quả thực là muốn uống rượu tiễn đưa thượng tướng quân, tiếc là chưa tới lượt!”

“Nói vậy là sao?”

“Bởi vì…” Sư Lý Tật dừng lại một lát, khoé mắt liếc về phía một quân uý đứng phía sau công tử Ngang, thấy hắn đã hiểu ý, bèn nói tiếp, “sớm đã có một người khác muốn uống rượu tiễn đưa thượng tướng quân!”

“Là Doanh Tứ chăng?” Công tử Ngang nhếch mép cười nhạt.

“Không phải!”

“Ồ?” Công tử Ngang thoáng ngạc nhiên. “Không phải Doanh Tứ, vậy là ai?”

“Tử Vân công chúa!”

Trong thời khắc cấp bách này, Sư Lý Tật đột ngột bật ra cái tên Tử Vân công chúa, khiến công tử Ngang không khỏi giật nảy trong lòng.

Lời chậm việc nhanh, chính vào khoảnh khắc công tử Ngang chỉ thoáng chút phân tâm, quân uý phía sau đã thình lình phóng tới một thương, đầu thương đâm thẳng vào khuỷu tay công tử Ngang không chệch một ly, thuận thế hất mạnh, thanh bảo kiếm “xoảng” một tiếng rơi luôn xuống đất.

Lính Tần lập tức ào ào lao tới, đè cổ công tử Ngang xuống, trói nghiến lại, áp giải về Ninh Tần.

***

Công tử Ngang khách đoạt ngôi chủ, chiến công lừng lẫy Hà Tây, không chỉ sát thương gần hai vạn quân Tần, khuấy loạn Hà Tây đến đất trời đảo ngược, mà còn đánh chiếm và giữ được ải Lâm Tấn, bất ngờ thêm vào một mảng màu rực rỡ cho cuộc đại chiến phạt Tần của sáu nước do Bàng Quyên phát động lần này.

Nhận được chiến báo Hà Tây cùng với mũ trụ của công tử Ngang và hai mươi tử sĩ, Bàng Quyên quỳ sụp xuống đất, khóc lóc thống thiết, lệnh cho ba quân mặc áo sô chịu tang, cử hành hợp táng cho hai mươi mốt chiếc mũ trụ ở ải Lâm Tấn theo nghi lễ thượng tướng, phong Mục Trang làm thú thừa ải Lâm Tấn, sai Thanh Ngưu dẫn một vạn quân đóng trại ở bờ kia Hà Thuỷ nhằm tiếp ứng, thấy đại quân Tần đã rút lui, không có dấu hiệu khả nghi, mới thu quân quay về đất Lương.

Chiến báo gửi về, Ngụy Huệ Vương đứng tại chỗ đọc ngay. Đọc tới đoạn Trương Mãnh tuẫn thân, Hàn, Triệu rút quân, người Tần chiếm ải Hào Quan, Ngụy Huệ Vương như sét đánh ngang tai, chết lặng mất một lúc, sau đó hai mắt tối sầm, cơ thể lảo đảo mấy cái rồi đổ vật xuống sàn.

Ngụy Huệ Vương đổ bệnh.

Kể từ lúc đó, Ngụy Huệ Vương không lên triều nữa, từ sáng tới tối nhốt mình trong ngự thư phòng, chỉ giữ lại tỳ nhân hầu hạ bên cạnh.

Buổi chiều hôm nay, tỳ nhân khẽ giọng bẩm báo: “Bệ hạ, Vũ An Quân đã dẫn quân về đến!”

Ngụy Huệ Vương khẽ hé mắt: “Ồ, là Bàng ái khanh ư? Về thì tốt rồi!”

“Bệ hạ, Vũ An Quân yết kiến, đang ở ngoài cửa.”

“Vậy ư?” Ngụy Huệ Vương chậm chạp ngồi dậy. “Truyền vào!”

Bàng Quyên thân mặc áo sô, hai tay trói quặt sau lưng, lê gối tới trước mặt Huệ Vương, khóc thảm thiết mà gọi: “Bệ hạ…”

“Ái khanh!” Huệ Vương nhìn sững vào hắn một hồi. “Khanh đang làm gì vậy?”

“Phạt Tần thất bại, tam quân xuất chinh không có công lao, sáu vạn tướng sĩ đổ máu, lương thảo bị thiêu huỷ, để mất đất Thiểm… Tất cả những chuyện này, đều là do vi thần vô dụng, khẩn cầu bệ hạ ban cho thần tội chết, để tạ tội với dân chúng nước Ngụy!” Bàng Quyên phủ phục dưới đất, để lộ tấm lưng trần, trên lưng không phải cắm cành gai, mà là ba thanh sắt chi chít gai nhọn.

“Than ôi!” Huệ Vương thở dài não nề. “Phạt Tần chưa thành, không phải lỗi do chiến đấu, ái khanh cớ sao lại nói những lời này?”

Bàng Quyên khóc thất thanh: “Bệ hạ…”

“Ái khanh, chiến báo quả nhân đã xem cả rồi. Ái khanh không phải vô dụng, tướng sĩ không phải không lập được công. Còn như nói thất bại, lại chưa thực đúng. Ta chưa thành công, người Tần cũng chưa thủ thắng. Tần giết vài vạn tướng sĩ của ta, ái khanh cũng đã càn quét vài vạn quân Tần. Tướng sĩ ta tuy hy sinh sáu vạn, song cũng đã chém chết từng đấy quân Tần. Ta tuy mất lương thảo, song cũng đã khuấy đảo Hà Tây, khiến người Tần tổn thất không nhỏ. Ta tuy mất đất Thiểm, song được ải Lâm Tấn… So sánh hai bên, ái khanh và người Tần coi như hoà nhau, tuy không lập nên đại công, song cũng chưa tới nỗi đại bại!” Huệ Vương quay sang tỳ nhân. “Cởi trói cho Bàng ái khanh, bày chỗ!”

Tỳ nhân rút bỏ thanh sắt, cởi trói cho Bàng Quyên.

“Phụ vương!” Bàng Quyên lạy tạ, lau nước mắt, đổi cách xưng hô, đứng dậy đi lại chỗ chiếu bên cạnh ngồi xuống, siết chặt nắm đấm, nghiến răng uất hận mà nói. “Cuộc chiến này chưa thể thành công, nhi thần vô cùng phẫn uất! Nhi thần không phục!”

“Quyên Nhi, là những phẫn uất gì? Hãy nói cho phụ vương nghe.”

Bàng Quyên lôi từ trong ống tay áo ra một bản tấu, hai tay trình lên: “Phụ vương hãy xem!”

Huệ Vương cầm lấy, đọc lướt qua vài dòng, tiện tay đặt xuống, thở dài mà nói: “Quyên Nhi, không giấu gì con, không chỉ mình con, mà phụ vương đây cũng thấy phẫn uất. Hợp tung cái gì? Minh ước cái gì? Giờ thì quả nhân đã nhìn thấu tỏ, hai con chó già Hùng Thương và Điền Nhân Tề để quả nhân giữ chức tung ước trưởng thực không có ý đồ tốt đẹp, vừa bắt đầu đã giăng bẫy hại ta!”

“Phụ vương!” Bàng Quyên giận dữ mà nói. “Hai con chó già này vẫn chỉ là thứ yếu, kẻ thực sự hại ta chính là giặc Triệu!”

“Ồ?” Huệ Vương hít ngược một hơi dài. “Triệu Ngữ?”

“Đúng vậy!” Bàng Quyên nhìn vào bản tấu, nói. “Chi tiết cụ thể, nhi thần đã viết cả trong đó, xin phụ vương ngự lãm.” Huệ Vương lại cầm tấu chương lên tay, chau mày đọc hết một lượt, rồi nện nắm đấm đánh “rầm” xuống bàn mà gầm lên: “Triệu Ngữ khinh ta quá lắm!”

“Đúng vậy!” Bàng Quyên uất hận nói. “Nhìn lại cuộc chiến này, người Triệu phát binh muộn nhất, chủ tướng Phì Nghĩa không tới, phái phó tướng Lý Nghĩa Phu đi cho lấy lệ. Khi tấn công Hàm Cốc, Lý Nghĩa Phu sợ địch chùn bước, khác hẳn Công Trọng xông xáo liều mạng. Hay tin người Tần cắt đứt ải Hào Quan của ta, nhi thần hạ lệnh lui binh, Lý Nghĩa Phu chủ động lĩnh mệnh, vi thần mới đâu ngỡ hắn muốn lập công chuộc tội, nào ngờ quân Triệu qua cửa quan, không hề kinh qua sát phạt, ba quân không tổn hại đến mảy may. Không những thế, lại còn gửi cấp báo, nói Hào Quan không thấy quân Tần. Nhi thần nghe hắn nói vậy, mới lơ là cảnh giác, dẫn quân trở về, nào ngờ người Tần phục binh ồ ạt xông ra, tổn thất trầm trọng. Nhi thần vắt óc suy tính, cũng bày kỳ binh đánh bọc sườn quân Tần, vốn muốn bắt sống Tư Mã Thác cho hả giận, nào ngờ để hắn chạy thoát! Phụ vương, người Triệu lần này giậu đổ bìm leo, chuyện này mà chịu được thì còn chuyện gì không chịu được?”

Có lẽ do quá kích động, Huệ Vương thở hồng hộc, uất ức tới nghẹn họng, mặt mày tím tái. Tỳ nhân vội bước lại, vỗ liên hồi lên lưng Huệ Vương. Huệ Vương mới dần dần hồi lại được, thở sâu mấy hơi, gắng gượng trấn tĩnh.

Tỳ nhân đưa mắt ra hiệu cho Bàng Quyên, không cho hắn nói tiếp nữa.

Bàng Quyên đứng dậy, dập đầu sát đất mà nói: “Phụ vương, nhi thần…”

Biết Bàng Quyên vẫn còn chuyện nghiêm trọng khác, Huệ Vương nhìn thẳng vào hắn: “Quyên Nhi, cứ nói đi!”

“Nhi thần… Phụ vương… chỉ có bấy nhiêu thôi, nhi thần…” Bàng Quyên lại dập đầu xuống, sắc mặt đầy vẻ đau thương.

“Quyên Nhi, nói đi, còn chuyện gì nữa?”

“Phụ vương!” Bàng Quyên khóc rống lên. “An Quốc Quân đã…”

“Ngang Nhi? Ngang Nhi làm sao?” Huệ Vương hỏi dồn.

“An Quốc Quân đã… bỏ… bỏ mình… vì nước rồi…” Bàng Quyên dập đầu lia lịa xuống sàn.

Lúc này, ngoài tiếng dập đầu bình bịch và tiếng khóc thảm thiết của Bàng Quyên, trong điện không còn một âm thanh nào khác.

Không biết bao lâu sau, Bàng Quyên mới thôi khóc, nghẹn ngào mà nói: “Bệ hạ, bại tướng Bàng Quyên to gan… thỉnh công cho An Quốc Quân.”

“Chuẩn tấu!” Sau một hồi im lặng kéo dài, Huệ Vương cất giọng khàn đặc. “Phạt Tần lần này, tuy bại vẫn vinh, muốn thỉnh công gì cho ai, ái khanh hãy soạn biểu tấu!” Rồi quay sang tỳ nhân. “Truyền chỉ Thái miếu lệnh, lập bài vị cho Ngang Nhi ở chính điện.”

***

Sau khi đến Tuyết cung đòi về mười thành cho Yên Vương, Tô Tần không kịp tới phủ Điền Kỵ thăm Tôn Tẫn, đã lập tức lên đường tới Hàm Cốc, để có thể quan sát chiến sự được gần hơn, nhằm hỗ trợ Bàng Quyên, đồng thời dặn công tử Khoái mau chóng trở về Kế Thành, phục mệnh Dịch Vương.

Tô Tần đi suốt ngày đêm không nghỉ, vừa tới đất Vệ đã nhận được tin dữ Bàng Quyên bại trận, quân hợp tung tan rã.

Dù đã dự liệu từ trước, song Tô Tần vẫn không khỏi bàng hoàng chấn động, đám Trâu Phi Đao, Viên Báo kinh hãi tới trợn mắt há miệng. Đối với họ, hợp sức mạnh sáu nước để đánh quân một nước, mà lại thảm bại tan tành, thực sự ngoài sức tưởng tượng.

Đến khi trấn tĩnh trở lại, Tô Tần bảo phu xe ra roi thúc ngựa, lao nhanh đến Đại Lương.

Suốt dọc đường đi, trên khắp đất Ngụy tiếng khóc than dậy đất, đô thành Đại Lương càng là bao trùm trong không khí tang tóc cực độ, trên phố lớn không còn thấy nụ cười, không còn sắc màu xanh đỏ, chỉ thấy người người áo sô khăn trắng, ngay cả tiếng chuông đồng báo giờ trên đỉnh Thái miếu cũng đậm vẻ bi thương.

Tô Tần chưa vào dịch quán đã đi thẳng tới cửa cung, song thấy cửa cung đóng chặt, không một bóng người.

Tô Tần nhờ người vào bẩm báo Huệ Vương, rất lâu sau, mới thấy tỳ nhân cử nội thần túc trực ra truyền chỉ, nói bệ hạ long thể bất an, bảo hắn tạm thời về dịch quán nghỉ ngơi, chờ chỉ yết kiến. Tô Tần cũng thấy mình quá nóng vội, bèn vòng tay từ biệt, quay về dịch quán.

Triều thần nước Ngụy không một ai ra tiếp đón họ. Quan lại, thị tùng trong dịch quán cũng không thấy ra chào, tuy không đuổi khách, song sắc mặt lạnh tanh, dẫu trời đang giá rét căm căm, song đừng nói là đốt lửa sưởi ấm, ngay cả một chén nước nóng cũng chẳng có.

Đường đường là tướng quốc sáu nước, lại bị đối xử thất lễ như vậy ngay trong dịch quán chuyên tiếp đón quan viên liệt quốc tại kinh đô đất nước của tung ước trưởng, thực là một trò cười lớn trong thiên hạ. Trâu Phi Đao hằm hằm tức giận, muốn tìm người hỏi cho ra nhẽ, song bị Tô Tần ngăn lại.

Viên Báo ra phố, đến nhập nhoạng tối thì chở về một xe thức ăn, đồ dùng, lại thêm vài sọt than và hai hũ rượu. Mỗi người một chân một tay, gần nửa canh giờ sau mới tạm thu xếp ổn thoả.

Sách lược hợp tung vừa mới mở màn đã bị xé toang, chỗ rách không chỉ có một. Đêm đến, Tô Tần suy đi tính lại, quyết định tìm gặp Bàng Quyên. Sáu nước hợp tung, nước trung tâm là Ngụy, tung ước trưởng lại là Ngụy Huệ Vương. Lần này phạt Tần, Ngụy bị Tề, Sở xúi giục, xung phong đi đầu, nên tổn thất đương nhiên cũng nặng nề nhất. Trước khi yết kiến Huệ Vương, Tô Tần muốn tìm hiểu chi tiết tình hình cuộc chiến, muốn biết rõ quân hợp tung đã chiến bại ra sao, và bại ở chỗ nào. Nếu không, sẽ khó lòng tính toán nước cờ tiếp theo, cũng không thể hàn gắn mâu thuẫn giữa các nước hợp tung. Là chủ soái phạt Tần, đương nhiên Bàng Quyên hiểu rõ nội tình hơn ai hết.

Tô Tần đã nghĩ ra cách ứng phó Bàng Quyên, thế nên sáng sớm hôm sau liền tự tin sải bước phăm phăm tới phủ Vũ An Quân, không ngờ lại bị cự tuyệt từ ngoài cổng. Quản gia Bàng Thông mình mặc áo tang, đi ra trước cổng vòng tay nói rằng, Vũ An Quân nhận được cấp báo từ vùng biên cương, đã lên đường tới Hà Tây ngay trong đêm.

Nhìn vào ánh mắt láo liên của Bàng Thông, Tô Tần biết chắc hắn đang nói dối, Bàng Quyên không tới biên cương, hơn nữa còn đang ở ngay trong phủ. Tuy nhiên, Bàng Quyên đã không chịu gặp, có nói trắng ra cũng chẳng ích gì. Tô Tần thở dài một tiếng, vòng tay cáo biệt, bảo phu xe tới phủ tướng quốc.

Huệ Thi đang vùi đầu đọc tấu báo. Sau đại chiến, có cả núi công việc cần xử lý. Huệ Vương không lên triều, tấu báo lớn nhỏ từ khắp nơi gửi về đều chất chồng trên bàn Huệ Thi. Huệ Thi chuyên về cái học danh thực, thích bàn chuyện trên trời dưới biển, thích luận việc lớn lao không ưa việc nhỏ nhặt, ghét nhất là phải xử lý những chuyện vụn vặt cụ thể. Bình thường, những việc này đều giao cả cho Chu Uy, Bạch Hổ, song mấy hôm nay, hai người này đang phải bận rộn bù đầu để xử lý các hậu quả tại tiền tuyến, Chu Uy ở Thằng Trì, Bạch Hổ ở ải Lâm Tấn, Huệ Thi buộc phải còng lưng gánh vác.

Huệ Thi đang đọc tới hoa mắt chóng mặt, nghe nói có Tô Tần tới thăm, tinh thần phấn chấn hẳn lên, bèn đẩy chồng tấu báo sang một bên, sải bước đi ra, đón Tô Tần vào chính đường.

Hai người không buồn khách sáo, lập tức đi thẳng vào đề. Tô Tần hỏi liền mấy chuyện đang nóng lòng muốn biết, song Huệ Thi lại không trả lời ngay. Đợi Tô Tần hỏi xong, Huệ Thi nhấc lên một chồng chiến báo mà Bàng Quyên gửi tới, chuyển sang bàn Tô Tần: “Điều Tô đại nhân muốn biết, hẳn đều ở đây cả!”

“Tạ ơn tướng quốc!” Tô Tần vòng tay cảm tạ, rồi cầm lên đọc ngấu nghiến một lượt, đôi mày chau tít, rồi khẽ lẩm bẩm như tự nhủ. “Thảo nào bệ hạ không cho yết kiến, dịch quán không chịu đốt lửa, hoá ra là vì vậy!”

“Đúng vậy!” Huệ Thi gật đầu. “Bàng chủ soái trút hết mọi oán hận lên đầu các nước hợp tung, nhất là nước Triệu, cho rằng nước Triệu ngấm ngầm cấu kết với Tần, bán rẻ nước Ngụy.”

“Chuyện này không thể!” Tô Tần vội nói. “Bán rẻ nước Ngụy không phải là nước Triệu, cũng không phải nước Hàn, mà là…”

“Là Sở và Tề, phải không?” Thấy hắn ngập ngừng, Huệ Thi bèn tiếp lời.

Tô Tần khẽ nhếch mép, nặn ra một nụ cười khổ sở thay cho câu trả lời.

“Than ôi!” Huệ Thi khẽ thở dài. “Tại hạ thực tình không hiểu nổi, cùng là cao đồ của Quỷ Cốc, mà Bàng chủ soái sao đến điều này cũng không nhìn ra, bị người khác bán rẻ, vậy mà vẫn…” Rồi lắc đầu ngao ngán, cũng dừng lại không nói nữa.

“Huệ tướng quốc!” Tô Tần trầm ngâm hồi lâu, rồi vòng tay nói. “Tại hạ có đôi lời muốn tâu lên bệ hạ, mong tướng quốc giúp cho!”

“Than ôi!” Huệ Thi lại thở dài. “Không giấu gì Tô Tử, trận chiến này đã làm tiêu tan tất cả hy vọng và mộng ước của bệ hạ, hiện giờ bệ hạ không lên triều, cũng không chịu gặp ai. Nghe người trong cung nói, bệ hạ từ sáng tới tối chỉ ngồi ngẩn ngơ trong thư phòng, đứng nói là triều thần bình thường, dù là vương hậu tần phi, cũng không chịu gặp. Vài ngày trước công tử Tự bị bệnh, sốt cao mê sảng, khiến cả cung kinh động, vương hậu ba ngày liền chẳng ăn chẳng nói, bệ hạ đến một lời hỏi thăm cũng không. Theo tại hạ biết, trong chư vị công tử, ngoài thái tử, bệ hạ sủng ái nhất là công tử Tự.”

“Ồ…” Tô Tần hít vào một hơi dài, khép hai mắt lại.

Hồi lâu, Tô Tần mới mở mắt ra, nói: “Tướng quốc đại nhân, hội thề sáu nước, mực còn chưa ráo, lời thề vẫn còn bên tai, đại nghiệp hợp tung vừa mới khởi sự đã tiêu tan tức thì, tại hạ thực không cam tâm. Ngụy thuộc Tam Tấn, là then chốt của thiên hạ, nếu nước Ngụy rút lui, sẽ nguy hại tới hợp tung, xin tướng quốc đại nhân minh xét!”

“Tô đại nhân!” Huệ Thi hít vào một hơi dài, trên gương mặt hiện một nét cười gượng gạo. “Tại hạ tuy bất tài, song cũng hiểu được đạo lý này. Tuy nhiên, liệt quốc phạt Tần, ngoài Yên, Tề bất hoà không tính đến, Tam Tấn Ngụy, Hàn và Sở đều có tổn thất, duy có quân Triệu không mảy may thương tổn, Bàng Quyên dựa vào đó mà khẳng định nước Triệu bán rẻ Ngụy, ba quân tướng sĩ cũng đều tận mắt nhìn thấy, bảo bệ hạ sao có thể nghĩ khác?”

“Đây là kế ly gián của người Tần!”

“Đúng vậy! Người Tần làm thế, là để ly gián. Tuy nhiên, sự thực vẫn mạnh hơn hùng biện, nước Triệu có trăm miệng cũng chẳng thể biện bạch. Tại hạ cho rằng, hiện tại việc cấp bách của Tô Tử không phải là yết kiến bệ hạ, mà là mau chóng tới nước Triệu, điều tra chân tướng sự việc, rồi quay về giải thích với bệ hạ, trả lại sự trong sạch cho người Triệu. Chỉ có xoá bỏ hiểu lầm, Tam Tấn mới có thể hoà hợp trở lại. Chỉ khi Tam Tấn hoà hợp trở lại, hợp tung mới không tan rã.”

“Đa tạ đại nhân chỉ giáo!”

Tô Tần đứng dậy cáo lui, trở về dịch quán, suy ngẫm suốt nhiều giờ, cảm thấy lời Huệ Thi rất thiết thực khả thi, hơn nữa cũng là cách giải quyết duy nhất, nên gọi mọi người lập tức lên đường, thẳng tiến tới Hàm Đan.

Từ Đại Lương tới Hàm Đan phải đi qua cửa Túc Tư, rồi từ đó vượt Hà Thuỷ, thẳng tới Chương Thuỷ.

Vừa tới cửa Túc Tư, Tô Tần đã nhảy vụt xuống khỏi xe, sải bước trên con phố đã từng quen thuộc vô cùng, chốc chốc còn rẽ vào một vài cửa hàng nhỏ bé. Tô Tần vẫn nhận ra nhiều người bán hàng ở đây, tuy nhiên chẳng có lấy một ai trong số họ nhận ra Tô Tần. Đúng vậy, nay đã khác xưa, họ tuyệt đối không thể ngờ được rằng, vị đại quan nhân khí thế hiên ngang trước mặt lại là tên thư sinh khố rách áo ôm cứ vài tháng lại tới đây mua hàng vào năm đó.

Tô Tần tới một cửa hiệu, chọn mua vài súc lụa và vải tạp, kim chỉ, mấy tấm chăn gấm, vài túi gạo, bột, dầu tương mắm muối và một số đồ nhật dụng không có sẵn trong núi, chia vào vài sọt trúc lớn, còn mua thêm mấy chiếc đòn gánh và dây thừng, chất cả lên xe.

Nơi đây lòng sông Hà Thuỷ rất rộng, toàn bộ đã đóng băng, băng rất dày, bên trên còn phủ một lớp tuyết trắng, chịu được trọng lượng của cỗ xe. Đám Tô Tần dễ dàng đánh xe băng qua Hà Thuỷ, tới ngã ba thì rẽ về phía núi Vân Mộng.

Xe tới trước núi, Tô Tần bảo đám Viên Báo quay về cửa Túc Tư, tìm quán trọ nghỉ chân, còn mình và Trâu Phi Đao chọn ra vài tráng sĩ, gánh theo các sọt trúc, đi về phía Quỷ Cốc.

Năm năm sống trong Quỷ Cốc, quãng đường núi này Tô Tần đã đi không biết bao nhiêu lần, nhắm mắt cũng không sợ lạc. Tuy nhiên, lúc này đang độ giữa đông, núi cao giá rét, sau mấy trận mưa tuyết lớn trước đó, tuyết vẫn chưa tan, phóng mắt nhìn ra, chỉ thấy một vùng mênh mông trắng xoá, không thấy đường đi. Dù là người trong núi, vào mùa này cũng hiếm khi ra ngoài. Đám Tô Tần vừa lần dò tìm đường, vừa thay nhau gánh sọt, lúc đi lúc dừng, khi đến được sơn cốc, mặt trời đã lặn xuống núi tây.

Trong sơn cốc, tuyết phủ trắng xoá một màu, tĩnh lặng tới nghẹt thở, tĩnh lặng tới đáng sợ. Thảo đường phía xa cũng chìm trong tuyết dày bao phủ, nếu không tới gần sẽ không thể nhìn ra. Trong sơn cốc không một dấu chân người, thậm chí tới dấu chân muông thú thường gặp năm xưa cũng tuyệt nhiên không thấy. Phóng mắt nhìn đi, phía thảo đường quen thuộc không thấy khói bếp bốc lên, về lý mà nói, giờ đã tới lúc thổi cơm chiều.

Lẽ nào… Tô Tần bất giác rùng mình kinh sợ, bàn chân cũng bất giác rảo bước nhanh hơn. Không, tiên sinh sẽ không chọn nơi tiên cảnh khác, tiên sinh chắc chắn vẫn ở đây! Tiên sinh chắc chắn biết rõ hắn đang gặp phải trở ngại lớn, chắc chắn sẽ đoán được hắn sẽ về núi lúc này để cầu xin chỉ giáo, chắc chắn đã ngồi trong thảo đường tươi cười chờ sẵn!

Đã tới thảo đường!

Tô Tần phẩy tay. Đám người dừng lại cách thảo đường hơn trăm bước chân, đặt đòn gánh xuống.

Tô Tần tiến từng bước về phía thảo đường, âm thanh duy nhất trong sơn cốc lúc này chính là tiếng giày lạo xạo giẫm trên nền tuyết.

Trước cửa thảo đường không có lấy một dấu chân. Cánh cửa thảo đường đóng im ỉm, bên trong tối om không một chút ánh đèn, cũng không thấy hơi hướng của con người.

Tim Tô Tần như ngừng đập.

Tô Tần dừng lại trước cửa thảo đường, khép hai mắt, hít vào một hơi thật sâu, rồi khẽ khàng gõ cửa.

Cánh cửa lập tức mở ra.

Đứng sau cửa là Ngọc Thiền y phục trắng muốt.

“Sư… sư tỷ…” Tô Tần quá đỗi bất ngờ, giật lùi một bước, miệng lắp bắp.

Ngọc Thiền không đáp lời, chỉ đứng im bất động, vóc hình như cây ngọc trước gió, chỉ có đôi mắt to tròn nhìn sững vào Tô Tần không chớp, như thể đứng trước mặt nàng là một giống quái vật lạ lẫm.

Tô Tần trấn tĩnh trở lại, vội vã vòng tay nói: “Sư tỷ, lâu nay có khoẻ không?”

Ngọc Thiền không đáp, hai mắt vẫn mở to, nhìn Tô Tần đăm đăm.

Ánh mắt khác thường của Ngọc Thiền khiến Tô Tần hoang mang. Sau khi bình tâm trở lại, Tô Tần cũng nhận ra câu hỏi vừa rồi có chút nực cười. Người ta đang đứng sờ sờ ra đấy, mà mình lại vô duyên vô cớ hỏi có khoẻ không, thực là sáo rỗng, sắc mặt bỗng đỏ bừng, bèn vái một vái dài: “Sư tỷ, lãng tử Tô Tần… đã trở về nhà!”

“Đã trở về nhà!” Ngọc Thiền thì thầm nhắc lại, lại ngơ ngẩn thêm một chặp, mới định thần lại được, khẽ mỉm cười, vòng tay đáp lễ. “Ngọc Thiền xin chào Tô huynh!” Rồi đứng né sang một bên, chìa tay nói. “Tô huynh, mời!”

Tô Tần bước vào, đưa mắt nhìn khắp một lượt thảo đường, không thấy tiên sinh, tiểu đồng đâu, bèn quay sang Ngọc Thiền hỏi: “Tiên sinh có khoẻ không?”

“Vẫn khoẻ!” Ngọc Thiền khẽ gật đầu.

“Sư huynh có khoẻ không?”

“Cũng vẫn khoẻ!” Ngọc Thiền lại gật đầu, ánh mắt vẫn nhìn hút vào Tô Tần, giọng đầy quan tâm. “Tô huynh… đã gầy đi nhiều!”

“Phải!” Tô Tần cố làm ra vẻ ung dung, cười cười, rồi co duỗi cánh tay mấy cái. “Gầy bớt cũng tốt, đi lại cũng nhẹ nhõm hơn.”

Giọng Ngọc Thiền càng thêm lo lắng quan hoài: “Ấn đường xanh đỏ, xem ra Tô huynh có việc không thuận lợi. Râu tóc dựng đứng, xem ra Tô huynh thần trí căng thẳng. Nếp nhăn hằn ngang trên trán, xem ra Tô huynh suy nghĩ quá nhiều. Tóc mai điểm bạc, xem ra Tô huynh lao lực quá sức. Xuống núi mấy năm, cuộc sống của Tô huynh có vẻ không được như ý?”

Thấy Ngọc Thiền quan sát tinh tế đến vậy, quan tâm sâu sắc đến vậy, Tô Tần trong lòng trào dâng một nỗi xót xa, phải cố gắng kìm nén để khỏi bật khóc, song giọng nói vẫn run rẩy, lại vái dài mà nói: “Tô Tần bất tài, đã để sư tỷ phải lo lắng!”

Ngọc Thiền im lặng không nói.

Tình cảnh đang lúc ngượng ngập, bỗng từ xa vọng lại tiếng xoa tay và tiếng hít hà. Hoá ra, đám Trâu Phi Đao đi liên tục suốt ngày không thấy lạnh, lúc này dừng lại, áo trong đẫm mồ hôi chẳng khác gì lưỡi dao băng giá cứa vào da thịt, rét buốt khó kham. Tô Tần nhìn Ngọc Thiền cười khẽ, rồi mở cửa đi ra, vẫy tay về phía đám Trâu Phi Đao. Đám người bèn gánh sọt lên, tiến lại gần, đứng ở trước cửa.

“Trâu huynh!” Tô Tần chỉ vào gian nhà cỏ của bốn người vẫn còn nguyên cách đó không xa. “Huynh và các huynh đệ hãy tới mấy gian nhà cỏ kia nghỉ ngơi, đốt lửa sưởi ấm, ngủ tạm đêm nay.”

Trâu Phi Đao gật đầu, dẫn đám người đi về phía nhà cỏ. Tô Tần khiêng toàn bộ sọt tre vào trong thảo đường, lấy ra từng thứ một, Ngọc Thiền cũng giúp một tay, mọi thứ mau chóng được sắp xếp gọn gàng. Tô Tần cười nói: “Những thứ này đều mua lúc chiều nay khi đi qua cửa Túc Tư, hẳn là sẽ được dùng đến.”

“Đúng là kịp thời!” Ngọc Thiền mỉm cười đáp. “Đã nửa tháng nay ở đây không nổi lửa.”

“Ồ?” Tô Tần kinh ngạc. “Mọi… mọi người…”

“Đừng lo!” Ngọc Thiền lại cười. “Thiền Nhi quen rồi, hiện giờ đang tịch cốc(1), đừng nói là nửa tháng không ăn ngũ cốc, dù là một tháng cũng chẳng sao.”

“Sư tỷ…” Tô Tần nước mắt ứa ra. “Tịch cốc là một chuyện, nhịn ăn lại là chuyện khác, mọi người…” Nói nửa chừng, đã nghẹn ngào không thành tiếng.

“Phải, đúng là có hơi sơ ý. Thiền Nhi và sư huynh vốn định xuống núi mua sắm, nào ngờ gặp liền hai trận tuyết lớn, phủ kín đường núi. Sư huynh khăng khăng đòi đi, song Thiền Nhi khuyên nhủ can ngăn, nói là hãy nhân cơ hội này để thi tài cao thấp một phen, xem công lực của chúng ta có thể nhịn ăn được bao lâu. Vậy mà, vừa mới tịch cốc được nửa tháng, Tô huynh đã mang lương thực tới. Tô huynh chớ nên hiểu lầm!” Lời nói vừa dứt, Ngọc Thiền bật cười khanh khách, trông rất thư thái tự nhiên.

Tô Tần nhìn kỹ sắc mặt Ngọc Thiền, thấy quả là nàng không có vẻ gì khó ở. Ngày đông giá rét nhường này, trong thảo đường không đốt than lửa, Ngọc Thiền lại ăn mặc phong phanh, vậy mà nàng không hề có vẻ lạnh, ngược lại da dẻ hồng hào, ánh mắt sắc sảo, cử chỉ linh hoạt, thậm chí còn trẻ trung xinh đẹp, hoạt bát hơn hẳn mấy năm về trước. Chỉ là trong những đường nét mảnh mai đã thấp thoáng nét đẹp mặn mà của người thiếu nữ trưởng thành mà trước đây Tô Tần chưa phát giác ra.

“Thật không ngờ, mấy năm không gặp, công phu của sư tỷ, sư huynh đã cao thâm đến nhường này, nếu không tận mắt chứng kiến, tại hạ hẳn không tin là thật!” Tô Tần vô cùng thán phục, cất lời khen ngợi tự đáy lòng.

“Tô huynh quá khen!” Ngọc Thiền cười đáp. “Tiên sinh có thế nửa năm không ăn, nửa tháng không uống, Thiền Nhi và sư huynh cùng lắm chỉ có thể tịch cốc sáu mươi ngày, nhịn nước không quá nổi ba ngày, còn xa mới đạt tới hoả hầu.”

“Sư tỷ, sư huynh dám so sánh cùng tiên sinh, đã đủ để Tô Tần kính phục!” Tô Tần thành tâm khen ngợi, rồi chuyển sang chuyện chính. “Sư tỷ, sư đệ lần này trở về là muốn bái kiến tiên sinh, phiền sư tỷ bẩm báo giúp.”

Ngọc Thiền có vẻ lúng túng: “Thực không may, tiên sinh đã đi vân du từ trước khi tuyết đổ.”

“Ồ…” Tô Tần sửng sốt.

“Tô huynh!” Ngọc Thiền chỉ vào chỗ ngồi bên cạnh. “Cứ đứng mãi thế này thật không hay, hãy ngồi xuống nói chuyện thì hơn. Tiên sinh đi vắng, đêm đông dằng dặc, Thiền Nhi cũng có nhiều điều muốn trò chuyện với Tô huynh.”

“Tại hạ…” Tô Tần bình tâm trở lại, ấp úng một tiếng, thấy Ngọc Thiền đã ngồi xuống chiếu, đành bước lại, đứng ở bên cạnh. “Đại sư huynh đâu? Tại hạ sẽ đi tìm sư huynh, ba chúng ta sẽ cùng trò chuyện thâu đêm.”

“Ngồi xuống đi!” Ngọc Thiền chỉ tay vào chiếu. “Sư huynh không tới đâu.”

“Vì sao? Sư huynh…” Tô Tần ngẩn người.

“Vì ba hôm trước, sư huynh đã nhập định!”

“Ồ…” Tô Tần không còn lý do nào khác, đành từ từ ngồi xuống, nét mặt lộ rõ vẻ bối rối.

“Chia tay mới đó đã vài năm, Thiền Nhi kiến văn hạn hẹp, dưới núi náo nhiệt, Tô huynh có thể kể vắn tắt vài lời được chăng?” Ngọc Thiền mắt vẫn nhìn Tô Tần đăm đăm.

“Sư tỷ muốn nghe, Tô Tần không dám giấu. Chỉ có điều trời đã tối muộn, đi cùng tại hạ còn có vài huynh đệ nữa, Tô Tần muốn tới xem họ thu xếp thế nào, rồi sẽ quay lại ngay.”

“Thiền Nhi kính cẩn chờ đợi!” Ngọc Thiền mỉm cười với Tô Tần, khẽ gật đầu.

Tô Tần đứng dậy, tiến lại chỗ lương thực vừa dỡ xuống, xúc lấy ít gạo, tìm một chiếc nồi đồng dùng để nấu cơm, rồi đi thẳng ra ngoài. Khi Tô Tần quay trở lại, trong thảo đường đã đốt cháy hai cành thông, than bắt đầu đượm hồng, ấm áp hơn không biết bao lần so với lúc nãy. Trên chiếc bàn trước chiếu bày vài đĩa hạt khô, một bình trà đã pha sẵn, hai chén đựng đầy trà được đặt gần chậu than để giữ ấm.

“Đa tạ sư tỷ, đã để sư tỷ phải đợi lâu!” Tô Tần ngồi ngay ngắn xuống chiếu, vòng tay mà nói.

“Chớ nên khách sáo. Nếu muốn đa tạ, Thiền Nhi phải đa tạ Tô huynh mới phải!” Ngọc Thiền chỉ vào mấy súc vải và số kim chỉ bên cạnh. “Những thứ này Thiền Nhi rất thích, từ ngày ra khỏi cung, đã lâu lắm rồi không may vá thêu thùa.”

“Sư tỷ thích thì tốt quá!” Tô Tần cười hồn hậu. “Tô Tần vốn dĩ định mua cho tiên sinh và sư tỷ mỗi người một bộ y phục, song lại sợ kích thước không vừa, nên mới nghĩ ra hạ sách, khiến sư tỷ phải vất vả.”

“Có Tô huynh tới, Thiền Nhi sẽ không tịch cốc nữa!” Ngọc Thiền tươi cười, nhón lấy hạt khô, bóc vỏ, khoan thai đưa vào miệng, khẽ nhấp một ngụm trà. “Tô huynh, mời!”

Tô Tần cũng bóc một hạt, nhấm nháp với trà thơm.

“Nói đi, Tô huynh, Thiền Nhi rửa tai chờ nghe!”

“Các việc dưới núi, rối loạn bộn bề, hệt như một mớ bòng bong, không biết sư tỷ muốn nghe chuyện gì?”

“Hãy nói về chuyện của Tô huynh! Bất kể việc lớn việc nhỏ, Thiền Nhi đều muốn nghe hết, Tô huynh hãy cứ từ từ mà kể.” Khi nói ra lời này, ánh mắt Ngọc Thiền rực sáng, nỗi niềm yêu thương trào dâng trong từng cử chỉ.

Tô Tần khẽ rung động trong lòng, hơi ngoảnh mặt đi chỗ khác, né tránh ánh nhìn của Ngọc Thiền, đặng hắng khẽ một tiếng lấy giọng, rồi bắt đầu kể chuyện mình và Trương Nghi xuống núi thế nào, chia tay ra sao, rồi chuyện Trương Nghi tới nước Việt, du thuyết Việt Vương, lại đi sang Sở, bày mưu diệt Việt, sau đó bị hãm hại mà tháo chạy khỏi nước Sở thế nào, nghĩ ra kế trâu vãi phân vàng ra sao… Tất cả mọi chuyện, Tô Tần đều kể lại sống động và tường tận từ đầu chí cuối, chỉ giấu nhẹm chuyện Trương Nghi đã thành thân với Hương Nữ và chuyện mình dùng kế ép hắn tới Tần.

Ngọc Thiền không có phản ứng gì, chỉ ngồi im lặng, khép mắt lắng nghe.

Tô Tần kể tới khô cổ rát họng, mãi mới kể xong hết đầu đuôi, rồi cúi đầu nhấp một ngụm trà. Ngọc Thiền khẽ hé mắt hỏi: “Chuyện của Trương sĩ tử đã hết chưa?”

“Hết… hết rồi!” Tô Tần ngẩn người, ấp úng đáp.

“Trương sĩ tử quả là thú vị!” Ngọc Thiền quay sang nhìn hắn cười nói. “Còn chuyện nào thú vị nữa không, Thiền Nhi vẫn muốn nghe nữa.”

Tô Tần tiếp tục kể chuyện Tôn Tẫn và Bàng Quyên, thuật lại Bàng Quyên đố kỵ thế nào, hãm hại Tôn Tẫn ra sao, Tôn Tẫn phải giả điên tránh hoạ thế nào… Ngọc Thiền nghe mà đau đớn xuýt xoa, thổn thức nghẹn ngào. Khi nghe tới đoạn Thuần Vu Khôn ra tay cứu giúp, Tôn Tẫn và Thuỵ Mai công chúa chạy sang đất Tề lánh nạn, Ngọc Thiền mới thở phào một tiếng, khẽ nói: “Kết cục này, tiên sinh sớm đã đoán ra!”

“Đúng vậy!” Tô Tần gật đầu. “Khi Tôn huynh xuống núi, tiên sinh đã đổi tên Tôn huynh thành Tẫn, tại hạ và Trương huynh đều không hiểu. Nào ngờ, sự việc sau này đều đã ứng nghiệm.”

“Tô huynh!” Ngọc Thiền nhìn thẳng vào Tô Tần. “Lẽ nào huynh không muốn kể về mình ư? Là Thiền Nhi… không đủ tư cách để nghe chăng?”

“Sư… sư tỷ…” Tô Tần trong lòng rối bời, bệnh nói lắp bỗng dưng tái phát. “Sư… sư đệ… đang… đang… đang định kể đây!”

“Kể đi!” Ngọc Thiền phì cười. “Cứ nói như thế, lâu lắm rồi mới nghe thấy giọng nói lắp của Tô huynh.”

“Tại… tại hạ…” Tô Tần mặt đỏ bừng, “tại hạ xin kể đây.”

Tô Tần uống hết một chén trà, lại rót tiếp một chén khác, cho thêm vài viên than vào chậu lửa, để mình bình tâm trở lại, rồi bắt đầu kể chuyện của mình, thuật lại từ khi xuống núi chu du liệt quốc, sau đó về nhà, được cha chia đất phân nhà, rồi lại bán ruộng đất tổ tiên, sắm sanh áo quần sang trọng tới Chu thất, được Chu Vương tiếp đãi ra sao, bày tỏ nỗi nhớ nhung Ngọc Thiền thế nào, rồi khẩn thiết bảo hắn kể chuyện về Ngọc Thiền trong núi; kể về nỗi hoài niệm vương hậu của Chu Vương; kể về lão cầm sư hàng ngày gảy đàn cho vương hậu ở ngoài cửa cung cấm…

Ngọc Thiền dù có định lực tới mấy, cũng không nén nổi nước mắt đầm đìa, vài lần nâng khăn thấm lệ, nhưng hai luồng ánh mắt vẫn xuyên qua màn lệ nhoà, dịu dàng chiếu lên gương mặt rất đỗi thân quen, tuy còn trẻ song dạn dày sương gió ở ngay trước mặt, nghe như nuốt lấy từng lời của Tô Tần.

Tô Tần hai mắt khép hờ, ngữ điệu không nhanh không chậm, sắc diện không hề biến đổi, cứ chậm rãi kể lại từng câu về tất cả những chuyện đã xảy ra với hắn trong suốt mấy năm nay. Rằng hắn đã xe sang ngựa đẹp tới Tần như thế nào, chẳng biết lượng sức, nghênh ngang đắc chí khai đàn luận chính tại Hàm Dương ra sao, lĩnh hội về Tần pháp thế nào, chịu nhục ở Tần ra sao. Sau đó là chuyện chạy trốn khỏi Tần, suýt nữa bỏ mạng nơi đất khách quê người, rách rưới thảm hại về quê, rồi ở trong túp lều cỏ đầu thôn mà lĩnh ngộ được lời giáo huấn của cầm sư, tìm ra sách lược trị thế. Kể về chuyện nửa đêm bất chợt nghe đàn, trong tâm chấn động, rồi ngộ ra sách lược hợp tung trong khi chôn cất lão cầm sư. Rồi chuyện rời nhà tới Triệu thực thi kế sách hợp tung thiên hạ, rồi lại tiếp tục từ Triệu tới Yên, được gặp phu nhân nước Yên, rồi chuyện phu nhân nước Yên hỏi thăm Ngọc Thiền ra sao, nhớ nhung Ngọc Thiền thế nào. Rồi sau đó được Yên Công trọng dụng, trợ giúp mình thực thi đại nghiệp hợp tung ra sao…

Kể về mình, Tô Tần trở nên chọn lọc, không hề nhắc đến những sự nghiệp lừng lẫy như khẩu chiến sáu nước, phát dương đại nghiệp hợp tung, tập hợp sáu nước hội thề ở Mạnh Tân, được đeo ấn vàng của sáu nước, mà chỉ kể lại những sự hoang đường vô lý, ân hận đớn đau và phản tỉnh sâu sắc của bản thân, cùng niềm cảm ân sâu nặng đối với Cơ Tuyết và lão Yên Công. Thậm chí có vài lần quá xúc động, Tô Tần thậm chí còn suýt thổ lộ về mối tình nồng nàn giữa mình và Cơ Tuyết để Ngọc Thiền đừng nên dành tình cảm cho hắn, tuy nhiên, lời ra đến miệng, lại bị gắng gượng nuốt xuống.

Không phải Tô Tần không muốn nói, không dám nói, mà là hắn không thể nói, cũng không nói được nên lời. Cơ Tuyết dù gì cũng là phu nhân của lão Yên Công, mối tình giữa hai người họ chính là giẫm đạp lên Chu lễ, nếu như thổ lộ, khác nào mũi dao đâm nát trái tim Ngọc Thiền.

Chẳng biết trời đã sáng tự lúc nào, bên ngoài thảo đường đã nghe thấy tiếng kêu lích chích của những chú chim cần mẫn.

Có lẽ nói suốt đêm đã mệt, có lẽ cũng đã kể hết những gì cần kể, Tô Tần nhắm chặt hai mắt, lặng im hồi lâu, không nói thêm câu nào nữa.

“Nghe Tô huynh kể chuyện, thật là thú vị!” Ngọc Thiền vòng tay cảm tạ, rồi chậm rãi nói. “Một ngày trong núi bằng vài năm ngoài núi. Thiền Nhi ở trong núi này, ngày lại qua ngày, êm đềm như nước, những sự việc thế gian dần dần nhoà nhạt, ngay cả nỗi nhớ cũng biến thành tiếng đàn mơ hồ phiêu lãng, lúc đứt lúc nối, thi thoảng lắm mới chợt vang lên một tiếng, rồi mau chóng tan biến trong sơn cốc. Cùng là từng ấy năm, Tô huynh lại có nhiều kỳ ngộ, nhiều kỳ thú, nhiều cảm ngộ nhường này, thật khiến Thiền Nhi ngưỡng mộ!”

“Sư tỷ nói vậy, thực khiến Tô Tần hổ thẹn!” Tô Tần vòng tay nói.

“Dám hỏi Tô huynh,” Ngọc Thiền di chuyển ánh mắt về phía hàng dãy vật dụng mà Tô Tần mới chuyển đến tối qua, “Tô huynh tới đây, là để thăm tiên sinh, và mang đến những thứ kia ư?”

“Không giấu sư tỷ,” Tô Tần trầm ngâm hồi lâu, rồi thở dài sườn sượt mà nói, “Tô Tần hợp tung gặp phải trở ngại, tiến thoái lưỡng nan, lần này tới là muốn thỉnh cầu tiên sinh chỉ giáo sách lược, nào ngờ tiên sinh lại… vân du mất rồi!”

“Ồ?” Ngọc Thiền khẽ mỉm cười. “Chuyện này hẳn cũng thú vị. Tô huynh hãy nói thử xem, đã gặp phải trở ngại gì, tiến thoái lưỡng nan ra sao? Thiền Nhi bất tài, nghĩ không ra cách hoá giải, nhưng có thể nghe được chứ?”

Thấy Ngọc Thiền hỏi vậy, Tô Tần cũng chẳng tiện nói gì, đành kể vắn tắt về cục thế khốn đốn trước mắt, rồi thở dài sườn sượt mà nói: “Than ôi, khi tại hạ và Trương sư đệ xuống núi, tiên sinh đã bày ra một thế cục cho hai người tại hạ, dùng đạo đánh cờ để ví von với việc trị thế, và dặn dò rằng, cái đạo thiên hạ thái bình, duy có hai cách, một là nhất thống thiên hạ, hai là chư hầu hoà thuận. Trương sư đệ có hỏi, trong hai cách này, cách nào hay hơn. Tiên sinh trả lời rằng, lòng người không còn thuần phác như xưa, chư hầu đều mang lòng tư lợi, muốn chư hầu hoà thuận, khác nào bảo hổ lột da. Thiên hạ đã giống như người mang ung nhọt trong mình, duy có cách hạ nhanh dao sắc, thi hành thủ thuật phi phàm, mới có thể thành công. Bởi vậy nhất thống chính là thượng sách. Tại hạ bỏ thượng sách nhất thống, đi lựa chọn hạ sách mà khổ sở thực thi. Nay xem ra, mọi thứ đúng như tiên sinh nói, tại hạ đã dốc kiệt tâm tư để khiến chư hầu hợp tung, song sáu nước đều có tâm riêng, đều mưu lợi riêng, khó mà hoà hợp.”

“Dám hỏi một câu, Tô huynh vì lẽ gì mà bỏ đi thượng sách nhất thống?”

“Tại hạ và Trương sư đệ phán đoán gần giống nhau, trong sáu nước, nước có thể nhất thống thiên hạ, hoặc là Tần, hoặc là Sở. Trương sư đệ có thù với nước Tần, đã chọn nước Sở, tại hạ bèn quyết định đến Tần. Tại hạ tìm tới Hàm Dương, sống vài tháng ở Tần, dần dần lĩnh hội về Tần pháp, cảm thấy Tần pháp diệt nhân dục, tuyệt nhân luân, trái với đạo trời. Người Tần chỉ biết tuân theo pháp, chỉ biết nghe theo mệnh, Tần pháp có thể biến người Tần trở thành loài dã thú trong chinh chiến. Nếu để mặc cho giống dã thú này tàn sát bừa bãi, thiên hạ dù có nhất thống, cũng sẽ không thể thái bình dài lâu. Chính vì suy nghĩ này mà tại hạ ăn không ngon, ngủ không yên, nên đã rời khỏi nước Tần, vắt óc tìm sách lược ứng phó, cuối cùng quyết định chọn cách thứ hai mà tiên sinh đã nói, hợp tung liệt quốc, chế ngự nước Tần. Hợp tung vốn là để dừng chiến tranh, nào ngờ hợp tung mới thành, đã khiến ải Hàm Cốc biến thành chiến trường đẫm máu, dân chúng điêu linh, thực trái ngược với mong muốn của tại hạ. Sáu nước phạt Tần, hợp tung bất lợi, liệt quốc nảy sinh hiềm khích nghi ngờ, tại hạ thực sự rơi vào bế tắc.”

Nghe Tô Tần thuật lại một mạch về những tâm nguyện của mình, Ngọc Thiền vô cùng xúc động, đứng dậy vái Tô Tần một vái dài mà nói: “Thiền Nhi xin thay mặt bách tính thiên hạ kính lễ với Tô huynh!”

Tô Tần cũng vội đứng dậy, cúi gập người trước Ngọc Thiền: “Đại lễ của sư tỷ, thật khiến Tô Tần vô cùng hổ thẹn!”

“Tiên sinh đi vắng, dám hỏi Tô huynh có dự định gì?”

“Quân hợp tung chiến bại, người Ngụy nghi ngờ người Triệu cấu kết với người Tần, nên sinh lòng thù hận. Bởi vậy, tại hạ muốn tới nước Triệu, điều tra rõ thực hư.”

“Ồ…” Ngọc Thiền thoáng sững sờ, trầm ngâm một lát, rồi giọng đầy lo lắng. “Tô huynh đường xa vất vả, lại qua một đêm không ngủ, hẳn giờ đã mệt lắm rồi. Hôm nay hãy tạm nghỉ ngơi một ngày, rồi mai lên đường, được chăng?”

“Tạ ơn ý tốt của sư tỷ!” Tô Tần vòng tay. “Thiên hạ nguy cấp, tại hạ còn tiếc gì tấm thân hèn!” Trên gương mặt hiện lên một nét cười gượng gạo, nói thêm một câu. “Hơn nữa, được trò chuyện cùng sư tỷ, tại hạ chẳng hề thấy mệt. Được sư tỷ khích lệ, tại hạ giờ đây khác nào rồng hổ?”

Ngọc Thiền nhìn Tô Tần đăm đăm, một lát sau mới vòng tay mà nói: “Tô huynh khăng khăng muốn đi, Thiền Nhi cũng không miễn cưỡng níu giữ. Đường sá xa xôi, hãy để Thiền Nhi nấu cho Tô huynh một bát cháo nóng!” Rồi quay người lấy gạo, đi xuống nhà bếp bên cạnh thảo đường bận rộn một hồi.

Khi mặt trời lên khỏi Đông Sơn chừng một cây sào, đám Tô Tần và Trâu Phi Đao đã ăn no cháo nóng, từ biệt Ngọc Thiền lên đường.

Đoàn người vừa tới cửa sơn cốc, thình lình bắt gặp một người đứng chặn ngay giữa đường, là một trang nam tử anh tuấn phiêu dật, tiên phong đạo cốt, áo trắng phất phơ.

Dù nam tử này hai tay trống không, tướng mạo ôn hoà, song vẫn khiến Trâu Phi Đao đi đầu giật mình sững lại, đang định lên giọng tra hỏi, thì Tô Tần đã đưa tay ngăn lại, bước lên trước vài bước, nhìn người kia chăm chú.

Nhìn một lát, Tô Tần cảm thấy quen quen, song lại không dám chắc, bèn vòng tay hỏi: “Tiên sinh là…”

Người này khẽ mỉm cười, vòng tay đáp lễ: “Tiểu đồng xin chào Tô sư đệ!”

“Đại sư huynh!” Tô Tần lúc này đã nhận ra, lập tức chạy vụt lại, nắm chặt tay lấy tay người đó, nước mắt ứa ra. “Đại sư huynh!”

Bốn bàn tay siết chặt lấy nhau.

Một lát sau, Tô Tần mới rút tay về, lau nước mắt, ngắm nghía kỹ lưỡng từ đầu tới chân tiểu đồng, cảm khái thốt lên: “Đại sư huynh thoắt cái đã biến thành một trang nam tử nhường này, nếu đại sư huynh không nói ra, sư đệ thực tình không dám nhận.”

“Phải rồi!” Tiểu đồng nở một nụ cười hiền hoà. “Từ sau khi các sư đệ xuống núi, tiểu đồng chẳng tiến bộ được gì, duy có thân người cứ cao lên vùn vụt, chỉ uống nước lã cũng không thể hãm lại.”

“Tối qua nghe sư tỷ nói, sư huynh viễn du tiên cảnh, phải mấy ngày nữa mới trở về, sư đệ bận rộn việc thế tục, không thể chờ lâu, đành phải ôm tiếc nuối mà lên đường, nào ngờ… lại được gặp sư huynh ở đây.”

“Sư đệ đã trở về, tiểu đồng còn viễn du được chăng?” Tiểu đồng lại cười, lấy từ trong tay áo ra một túi gấm, hai tay đưa lại. “Tiên sinh đoán rằng sư đệ hẳn sắp về, trước khi xuất du, đã gửi lại túi gấm này, dặn tiểu đồng giao cho sư đệ.”

“Tiên sinh…” Tô Tần hai tay đỡ lấy túi gấm, quỳ sụp xuống đất, ngước nhìn bầu không lạy liền mấy lạy, bật khóc mà nói. “Đệ tử bất tài, đến giờ… đến giờ lại phải làm phiền tới tiên sinh!”

Đợi Tô Tần kính lễ xong, tiểu đồng mới lùi lại một bước, vòng tay mà nói: “Đường đi trắc trở lại xa xôi, sư đệ lên đường bảo trọng!”

Tô Tần cũng lùi lại một bước, vòng tay nói: “Sư huynh cũng bảo trọng!”

Ngọc Thiền đứng ngoài cửa thảo đường, nhìn theo đám Tô Tần càng đi càng xa, rồi khuất hẳn sau một tảng đá lớn, mới thở dài một tiếng, quay người trở vào trong thảo đường, khép cửa lại, tựa lưng vào cửa, mặc cho nước mắt tuôn rơi lã chã.

Buồn bã một hồi, Ngọc Thiền liền gạt nước mắt, múc nước lạnh rửa mặt, rồi chậm rãi đi vào trong động.

Ngoài núi giá buốt, song trong động lại ấm sực. Tiến lại phía trước tấm rèm vải, Ngọc Thiền dừng bước, đợi trấn tĩnh lại, rồi mới vén rèm, khoan thai bước vào.

Trên một tấm da báo hoa văn lốm đốm, Quỷ Cốc Tử đang ngồi nghiêm trang.

Ngọc Thiền cũng ngồi xuống một tấm da thú chênh chếch trước mặt ông, khẽ nói: “Tiên sinh, Tô Tần đi rồi!”

Quỷ Cốc Tử không đáp.

Trong động tĩnh mịch như tờ, ngay đến hơi thở của hai người một già một trẻ dường như cũng ngưng đọng.

Cuối cùng, một tiếng thở dài bỗng bật ra từ trong cổ họng Quỷ Cốc Tử, dù rất khẽ khàng, song trong sơn động tĩnh mịch như chết, chẳng khác nào tiếng gió rít trong hang trống, hổ gầm chốn rừng xa, mồn một bên tai, ý vị sâu thẳm.

“Dám hỏi tiên sinh, tiếng thở dài này hẳn là vì Tô Tần?” Ngọc Thiền không để lỡ thời cơ, lại lên tiếng.

“Phải!” Quỷ Cốc Tử khẽ gật đầu.

“Tiên sinh,” Ngọc Thiền giọng đầy lo lắng, “Thiền Nhi có một chuyện không hiểu.”

“Nói đi!”

“Tô Tần lặn lội băng tuyết mà tới đây, cớ sao tiên sinh lại tránh mặt không gặp?”

“Thiền Nhi, con đã nhìn thấy sư tử đực chưa?”

Ngọc Thiền lắc đầu.

“Khi sư tử đực còn bé, chỉ quanh quẩn bên chân cha mẹ, nhưng sẽ có một ngày, nó phải rời xa cha mẹ, đi chinh phục thế giới bên ngoài. Khi nó rời nhà, đi một bước ngoái đầu ba lần.”

“Bởi nó biết, nó sẽ không bao giờ trở về nữa, phải không?”

“Đúng vậy!”

“Nếu… nó gặp nạn, đầy mình thương tích thì sao?”

“Nó sẽ tìm lấy một chỗ, tự liếm vết thương cho mình.”

“Tiên sinh!” Ngọc Thiền cắn chặt môi. “Ý tiên sinh là, Tô Tần tới đây…”

“Thiền Nhi, Tô Tần là một con sư tử đực, tới đây không phải để liếm vết thương, mà là tìm cách phá giải cục thế nguy nan trước mắt.”

“Tiên sinh!” Ngọc Thiền mở to mắt. “Tiên sinh biết hết rồi ư?”

“Không những biết hết, mà lão hủ còn bảo tiểu đồng đưa cho hắn cách phá giải!”

Ngọc Thiền thở phào một tiếng, dịch lại gần ông, cúi gục đầu xuống, áp sát vào đầu gối ông. Hồi lâu sau, mới nghiêng mặt nhìn Quỷ Cốc Tử, khẽ hỏi: “Tiên sinh, Thiền Nhi không hiểu về thiên hạ, không hiểu về trị thế, vốn cũng không có ý định tìm hiểu. Song… từ ngày Tô Tần xuống núi, Thiền Nhi lại cứ vô thức mà vấn vương với những chuyện này.”

“Thiền Nhi!” Quỷ Cốc Tử nhìn Ngọc Thiền với ánh mắt hiền từ. “Vương vấn là tình, không hiểu là hiểu. Khi con dần dần thông với đạo, vạn vật trong thiên hạ đều sẽ nằm cả trong lòng bàn tay!”

“Tiên sinh đã kỳ vọng quá cao, Thiền Nhi thực sự không hiểu. Ví dụ như những chuyện dưới đây, Thiền Nhi quả tình không thể nhìn thấu.”

“Cứ nói đi!”

“Tô Tần chọn cách hợp tung để ứng phó với loạn thế hiện nay, có phải là cách thức chính đáng không?”

“Trị lý quốc gia, không có cách thức chính đáng, cũng không có cách thức tà vậy. Thiên hạ có bệnh, chư tử mỗi người tự bắt một mạch, tự kê một đơn, đều có chỗ hay dở. Tuy nhiên, xét cho đến cùng, tuy khác đường song cùng quy về đạo, như trăm sông hợp dòng về biển. Đạo là gốc của trời đất, biển là vực của đồng bằng.”

Ngọc Thiền trầm ngâm hồi lâu, khẽ “vâng” một tiếng, rồi ngẩng đầu hỏi tiếp: “Nghe Tô Tần nói, Trương Nghi đang ở Tần, ắt sẽ nghĩ kế liên hoành ứng phó với hợp tung. Thiền Nhi đã hiểu đạo lý tung hoành, song vẫn còn một điều chưa sáng tỏ, đó là kế hợp tung của Tô Tần, mục đích là ở liệt quốc chung sống hài hoà; còn kế liên hoành của Trương Nghi, mục đích là ở nhất thống thiên hạ. Chung sống hài hoà và nhất thống, đối đầu kịch liệt, như nước lửa tương khắc, mà đại thế thiên hạ, lại chỉ dung nạp một kết cục, hai người họ mỗi người đều chỉ nắm một đầu, theo tiên sinh, ai sẽ thắng đây?”

“Nhìn về lâu dài, Tô Tần tất thắng. Còn nhìn vào hiện tại, Trương Nghi sẽ chiếm thượng phong.”

“Tiên sinh!” Ngọc Thiền hít vào một hơi dài, vừa như bẩm báo, vừa như giải thích giúp Tô Tần. “Nghe Tô Tần nói, hắn thoạt tiên tới nước Tần, muốn giúp nước Tần nhất thống thiên hạ, song thấy luật Tần hà khắc, pháp Tần độc đoán, nước Tần đang dần biến thành một con dã thú chiến tranh. Luật pháp là hình, hình là thuật, thuật lưu hành trong thiên hạ, mà không có đạo chế ngự, hậu quả không thể tưởng tượng. Tô Tần vô cùng sợ hãi nên mới rời khỏi nước Tần, vùi đầu đọc bản ‘Âm phù’ mà tiên sinh chú thích, đã ngộ ra sách lược tung thân chế hoành. Còn sách lược của Trương Nghi, chẳng qua chỉ là suy nghĩ của Tô Tần khi mới tới Tần mà thôi!”

“Con nói rất đúng!” Quỷ Cốc Tử khẽ gật đầu, song lại lắc đầu ngay tức thì. “Cũng không hoàn toàn đúng.”

“Thiền Nhi ấu trĩ, xin tiên sinh giải thích.”

“Tô Tần từ bỏ kế sách giúp Tần nhất thống, là đã nhìn thấy viễn cảnh không tốt đẹp của pháp trị và chuyên chế của Tần, chứng tỏ hắn đã nhìn xa hơn Trương Nghi. Song con đường liệt quốc cùng trị mà hắn đang thúc đẩy, lại giống như đi thuyền ngược dòng, vất vả gấp bội mà thành tựu chẳng mấy.”

“Vì sao?”

“Liệt quốc nếu muốn thực sự cùng trị, quyết không phải chuyện dễ dàng. Nền móng của cùng trị là hạn chế tư dục, coi thiên hạ là chung. Nay thiên hạ tư dục đầy rẫy, Tô Tần lấy lợi hại khắc chế tư dục, lấy sợ hãi khắc chế lòng tham, chọn cách lấy độc trị độc, tuy có thể thu được hiệu quả nhất thời, song muốn duy trì hiệu quả này lại như đi thuyền ngược dòng, vô cùng khó khăn. Trừ bỏ cái riêng tư của sáu nước đã khó như vậy, huống chi là khiến họ đều vì việc chung?”

“Nếu theo lời tiên sinh, thành công trong tương lai hẳn là Trương Nghi?”

“Tương lai ai sẽ thành công, tự có ý trời quyết định. Luận theo tình thế trước mắt, Trương Nghi nỗ lực nhất thống, là thuận theo đại thế của thiên hạ, giống như thuyền đi xuôi dòng, ít vất vả mà hiệu quả gấp bội.”

“Nhưng…” Ngọc Thiền vẫn không cam tâm, “tiên sinh, nghe Tô Tần nói, nếu trong tương lai, người Tần thực sự nhất thống, chắc chắn sẽ thực thi cường quyền hà khắc, gặp nhau trên đường chẳng dám chào hỏi, quan lại chuyên quyền, dân chúng đồ thán. Một thiên hạ như vậy, hẳn không phải là điều tiên sinh mong muốn?”

“Bởi vậy nên ta mới nói, Tô Tần là nhìn về lâu dài. Còn hiện tại,” Quỷ Cốc Tử lấy ra một bàn cờ từ dưới bàn, chỉ vào những đường dọc ngang trên bàn cờ, mỉm cười nói, “chỉ có dọc mà không có ngang, khó lòng thành cục.” Rồi thuận tay lấy ra hai hộp cờ. “Nào, Thiền Nhi, hãy cùng lão hủ tung hoành một ván, được chăng?”

Ngọc Thiền đứng dậy, châm cháy hai cành thông, khiến trong động sáng bừng, sau đó, ngồi xuống đối diện với Quỷ Cốc Tử, cầm lấy hộp quân đen, cười mà nói: “Tiên sinh, Thiền Nhi xin đi trước!”

***

Trên con đường dịch đạo dẫn tới Hàm Đan, một cỗ xe tứ mã lớn đang lăn bánh khó nhọc trên mặt đường phủ dày tuyết trắng, bánh xe nghiến trên những tảng băng kết từ tuyết đọng, nước, bùn, phát ra những tiếng vỡ lạo xạo.

Trong khoang xe, Tô Tần hai mắt nhắm nghiền, đôi mày rậm chau tít.

Chốc lát sau, Tô Tần bỗng mở trừng mắt, rút từ trong ống tay áo ra chiếc túi gấm mà tiểu đồng đã trao cho, rũ ra một miếng da dê nhỏ.

Tô Tần mở miếng da dê, thấy có bốn hàng chữ viết bằng mực đen, là một bài kệ mười sáu chữ.

Tung hoành thành cục,

Giữ lấy điều trung.

Thiên hạ đại ngã,

Công tư tư công.

Tô Tần hít sâu một hơi dài, rồi khép mắt lại.

“’Tung hoành thành cục’,” Tô Tần lẩm bẩm, “là tiên sinh đã thừa nhận yếu sách trị thế của ta và Trương sư đệ. “’Giữ lấy điều trung’, vốn là lời vua Thuấn răn dạy vua Vũ, tiên sinh dẫn ra đây, có lẽ là răn đe ta phải thận trọng giữ lấy đạo trung chính hoà hợp. Trung chính hoà hợp tức không được thiên lệch, là chuẩn tắc mà tung thân phải giữ gìn, không có gì nghi vấn. ‘Thiên hạ đại ngã’? Đối lập với đại ngã, là tiểu ngã, tiểu ngã là riêng, đại ngã là chung, thiên hạ đại ngã hẳn là thiên hạ của công, thiên hạ của công chính là mục đích sau cùng mà tiên sinh đã đặt ra cho đại cục hợp tung. Vậy còn câu ‘công tư tư công’ nên hiểu thế nào đây? Là sách lược khả thi mà tiên sinh định ra vì thiên hạ của chung ư? ‘Thiên hạ đại ngã, công tư tư công’, nếu căn cứ theo mạch ý nghĩa trước sau, có thể lý giải như vậy. Nếu lý giải như vậy, thì công tư tư công là thế nào? Ngộ nhỡ lý giải như vậy không đúng thì sao…”

Tô Tần lại mở mắt, ánh mắt dừng trên hàng chữ cuối cùng của bài kệ.

Bốn chữ “công tư tư công” rành rành trước mắt.

Hai đầu mày mỗi lúc càng thêm nhíu chặt.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử