Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 66
Mắc mưu ly gián, chủ tướng đào vong
Nhận kí tử sinh, quân sư độn thổ

❊ ❊ ❊

Chiến bại cầu hoà là điều mất mặt không gì bằng. Ngụy Huệ Vương lựa chọn Chu Uy, vừa là chọn người đúng tài, cũng là không còn sự lựa chọn nào khác, bởi lẽ phạt Triệu là do Trương Nghi, Bàng Quyên chủ trương, bảo hai người này đi sứ, sẽ chẳng có ai dám vác mặt đi. Thái tử Thân là quân chủ tương lai, để thái tử đi thì còn gì là thể diện đất nước. Huệ Thi là thích hợp nhất, song đã bỏ đi rồi, Bạch Hổ vị thế chưa đủ, phái hắn đi sợ làm hỏng việc, người có thể đứng ra thay mặt Ngụy thất, chỉ còn lại lão thần Chu Uy. Song Chu Uy bản tính thật thà, xét về tài đối đáp, mưu lược, vẫn chưa đủ độ.

Tuy nhiên, là nước chiến bại, tài mưu lược, đối đáp có giỏi tới đâu cũng vô dụng mà thôi, thành khẩn không chừng lại được việc.

Chu Uy không thể thoái thác, ngay ngày hôm sau đánh xe rời khỏi Đại Lương. Nhưng ông ta không đến thẳng Lâm Truy như sứ thần bình thường, mà thẳng tới đại doanh trung quân của nước Tề sớm đã đóng tại cửa Túc Tư. Cũng khéo trùng hợp, Chu Uy người còn chưa tới, từ xa đã nhìn thấy thái tử nước Tề Tích Cương áp tải lương thảo vượt đường xa nghìn dặm tới khao quân.

Chu Uy hạ trại tại chỗ, đợi cho Tích Cương nghỉ ngơi một đêm, sáng sớm hôm sau mới vào trại cầu kiến. Chu Uy vốn dĩ phản đối chiến sự, lần này cầu hoà lại càng cung kính, hai tay dâng lên quốc thư, quỳ dài dưới đất.

Tích Cương ban chỗ, sau khi đọc kỹ quốc thư, bèn đưa cho Tôn Tẫn. Tôn Tẫn đọc lướt qua, lại chuyển cho Điền Kỵ.

“Chu thượng khanh!” Điền Kỵ cười nhạt một tiếng, vứt toẹt quốc thư xuống đất. “Nếu là chuyện nhà của thượng khanh, cầu hoà không khó, nhưng nếu là chuyện của Ngụy thất, đương nhiên phải do người của Ngụy thất ra mặt!”

Lời nói hống hách, chẳng hề nể mặt Chu Uy.

“Điền tướng quân có điều không biết,” Chu Uy sắc mặt ngượng ngập, cười gượng một tiếng, vòng tay mà nói, “đại vương tuổi cao sức yếu, không thể bôn ba, điện hạ gần đây lại nhiễm phong hàn, không đi xa được, Ngụy thất đã chẳng còn ai phù hợp nữa. Tuy Chu Uy không phải thân tộc của Ngụy thất, song là rể trưởng của Ngụy môn, nay phụng vương chỉ cầu hoà, mong tướng quân nể tình chút ít.”

“Ý của tại hạ là,” Điền Kỵ cũng cảm thấy lỡ lời, vòng tay đáp lễ, rồi giải thích, “kẻ nào gây chuyện, kẻ đó nên đến mới phải! Thượng khanh là rể của Ngụy môn, vậy Bàng Quyên không phải ư? Ngụy Vương muốn khai chiến thì nghe theo Bàng Quyên, giờ muốn cầu hoà, cớ sao không bảo người này đến?”

Chu Uy thở dài sườn sượt, cúi gằm mặt xuống.

Điền Kỵ đang định nói tiếp, Tích Cương đã giơ tay ngăn lại, nói với Chu Uy: “Ngụy Vương nghĩ cho bách tính, có lòng cầu hoà, Tích Cương vui mừng lắm lắm. Có điều sự việc trọng đại, cho phép Tích Cương suy nghĩ, bẩm báo lên phụ vương, rồi mới có thể trả lời thượng khanh!”

“Tạ ơn điện hạ khoan dung, có điều… chiến sự một ngày chưa dừng, bách tính một ngày không yên, Chu Uy khẩn cầu điện hạ niệm tình nghìn vạn sinh linh mà sớm ngày định đoạt!”

“Thượng khanh hãy tạm quay về doanh trại, ngày mai lại tới, được chăng?” Tích Cương suy nghĩ một lát, rồi khách khí nói.

Chu Uy đứng dậy, lần lượt tạ ơn từng người, rồi lui khỏi doanh trại.

“Ngụy Anh nhận thua cầu hoà, chư vị ái khanh cùng bàn bạc xem, có nên chấp thuận không?” Tích Cương đưa mắt nhìn về phía ba người Điền Kỵ, Tôn Tẫn và Điền Anh.

“Không chấp thuận!” Điền Kỵ không chút do dự, lập tức đáp lời. “Bàng Quyên bại trận, tướng sĩ Ngụy chí khí suy sụp, giờ chính là thời cơ tốt đẹp cho ta phục thù! Hơn nữa, người Ngụy đã bị quân ta vây khốn ở bờ kia Hà Thuỷ, trước có người Triệu, sau có đại quân ta, muốn về chẳng được, muốn tiến không xong, khác gì tên bay hết tầm, chẳng còn sức mà đánh trả, chỉ có đường chờ chết!”

“Điền tướng quân, ý tướng quân thế nào?” Tích Cương nhìn vào phó tướng Điền Anh ngồi phía cuối cùng.

Điền Anh đang chăm chú đọc quốc thư của Ngụy thất vừa bị Điền Kỵ ném xuống đất, lúc này thấy Tích Cương hỏi đến, bèn đặt quốc thư xuống đáp lời: “Thần đã thăm dò biết được, tình hình đúng như lời chủ tướng, võ binh Ngụy gần như bị tận diệt, chủ tướng Bàng Quyên đã bỏ chạy, bên kia bờ Hà Thuỷ sĩ khí sa sút, chịu không nổi một đòn. Tuy nhiên…” Nhìn sang Tôn Tẫn, “cuộc chiến Quế Lăng sở dĩ thắng lợi, là nhờ diệu kế của quân sư, có nên đánh tiếp hay không, điện hạ xin hãy hỏi quân sư!”

Tích Cương mỉm cười, di chuyển ánh mắt sang Tôn Tẫn.

“Thần cho rằng,” Tôn Tẫn mỉm cười, vòng tay nói, “phàm chiến đều là vì hoà, hoà không thành thì chiến, chiến chỉ là bất đắc dĩ mà thôi. Ngụy đã cầu hoà, nếu ta vẫn cố chấp mà chiến, gọi là hiếu chiến. Hiếu chiến là phi nghĩa, kẻ sĩ không đâm đầu vào chỗ chết!”

“Chuyện này không thể!” Điền Kỵ thoạt tiên sững sờ, rồi lập tức phản đối. “Chỉ cần bản tướng hạ lệnh một tiếng, xem ba quân Đại Tề có kẻ nào dám không xung phong lâm trận?”

“Điều tướng quân vừa nói, gọi là dùng uy để phục. Dùng uy để phục, tướng sĩ kẻ chết sẽ oán hận, oán hận ắt sinh sát khí; kẻ sống sẽ sợ hãi, sợ hãi ắt không dám tiến.” Tôn Tẫn bình thản đáp lời.

“Tôn huynh…” Điền Kỵ gay gắt. “Lẽ nào cứ thế bỏ qua cho Bàng Quyên ư?”

“Hai quân giao chiến, không thể chỉ vì oán hận cá nhân. Hơn nữa, không biết đủ mà dừng, gọi là tham cầu. Tham cầu tất bại.” Tôn Tẫn vẫn ung dung đáp.

“Ý Tôn huynh là, nếu ta đánh tiếp, sẽ bại?” Điền Kỵ không phục.

“Ngụy tuy bất lợi, cũng chỉ là mất đi hai vạn binh sĩ, bên kia bờ Hà Thuỷ vẫn có gần bảy vạn tướng sĩ cảm tử, nếu bị bức đến đường cùng, ắt sẽ liều mạng chống trả, sĩ khí ngược lại sẽ lên cao. Một chọi với một, thắng thua khó mà lường trước! Dồn đến đường cùng không còn lối sống, giết địch một nghìn, ta cũng tổn thất tám trăm, trận Quế Lăng đã thấy rõ rành rành!”

Nhớ tới sự dũng mãnh của võ binh Ngụy trong trận Quế Lăng, Điền Kỵ bất giác rùng mình ớn lạnh.

“Còn nữa,” Tôn Tẫn vẫn thong thả tiếp lời, “Ngụy chiếm cứ phía tây Hà Thuỷ, từ cửa Túc Tư tới Nghiệp Thành đều là đất Ngụy, có hơn sáu mươi vạn dân, lương thảo đủ dùng cho một năm. Ngược lại nhìn vào quân ta, cung ứng khó khăn, nếu giao chiến lâu dài, khí tất suy, lực tất kiệt. Còn như nước Triệu, chỉ cần người Ngụy không để mất Phẫu Khẩu, người Triệu sẽ không có sức đánh trả. Người Ngụy bắc chiếm Hàm Đan, nam giữ Hà Thuỷ, đối đầu với ta, tướng quân sẽ ứng phó thế nào?”

Điền Kỵ không nói gì nữa.

Sáng sớm hôm sau, Chu Uy quay trở lại, Điền Tích Cương chấp nhận cầu hoà, rồi đùn đẩy trách nhiệm sang tay người khác, nói: “Đại vương ta đồng ý với thỉnh cầu của người Triệu mà xuất binh, thượng khanh nếu thực lòng cầu hoà, nên hỏi người Triệu. Nếu người Triệu đồng ý, tại hạ sẽ lập tức lui binh!”

Chu Uy chỉ mong đợi câu nói này, lập tức bái tạ, lên đường tới Hàm Đan, bái kiến Trương Nghi, bàn bạc điều kiện cầu hoà, rồi mang sứ tiết ra khỏi thành, vào doanh trại Triệu yết kiến Triệu Vương.

Trong đại trướng trung quân nước Triệu, sát khí hừng hực, bề tôi nước Triệu không ai không ngùn ngụt căm hờn, nhao nhao phản đối cầu hoà, cho rằng hiện tại là cơ hội tốt nhất để phản kích Ngụy, dù là An Dương Quân xưa nay điềm đạm là thế, cũng phản đối chuyện nghị hoà.

Rõ ràng, người Triệu đã phải chịu tổn hại quá lớn. Năm xưa, họ Trí nước Tấn liên kết với Hàn và Ngụy tấn công Triệu hơn một năm trời, nhấn chìm Tấn Dương trong biển nước đến mấy chục ngày, người Triệu phải “treo nồi mà nấu, đổi con mà ăn”, song đô thành vẫn trụ vững. Còn hôm nay, Bàng Quyên dẫn quân Ngụy dễ dàng cắt đứt ải Phẫu, thình lình vây bức Hàm Đan, người Triệu sao có thể nhẫn nhịn nổi!

Quần thần sục sôi, Triệu Ung tuổi nhỏ cương cường cũng khí thế hừng hực, đang định hạ chỉ, bỗng phía trước vang lên một tiếng đằng hắng khe khẽ.

Là Tô Tần. Từ đầu tới cuối vẫn ngồi phía trước Triệu Vương, lặng im không hé răng nửa lời.

Triệu Ung nhìn sang, quần thần cũng đều nhìn sang.

Sắc mặt Tô Tần chất chứa ưu tư.

“Tô ái khanh!” Triệu Ung lúc này mới sực nhớ tới vị cứu tinh của nước Triệu đang ở ngay bên cạnh, cảm thấy có phần thất lễ, vội vòng tay nói. “Người Ngụy phạt Hàm Đan của ta, Triệu, Ngụy không đội trời chung, nay Ngụy cầu hoà, quần thần đều muốn đánh, ái khanh có cao kiến gì chăng?”

“Tạ ơn đại vương hỏi đến.” Tô Tần vòng tay đáp lời. “Dám hỏi đại vương, lấy gì mà đánh? Đánh được bao lâu?” Rồi vòng tay hướng vào quần thần. “Chư vị đại nhân, giao chiến phải nhìn vào thực lực, không phải nhìn vào ý chí. Người Ngụy phía tây chiếm ải Phẫu, phía đông trấn Hà Thuỷ, phía nam là đất Ngụy, phía bắc là Trung Sơn, ta là thú bị vây, đã mất máu quá nhiều. Không giành được ải Phẫu, ta không thể tiếp máu, Hà Thuỷ hiểm trở, quân Tề không thể nóng vội vượt sông. Chỉ dựa vào sức hiện tại của ta mà quyết chiến với Ngụy, dám hỏi chư vị, chắc thắng được mấy phần? Chư vị nhà cửa đa phần ở Hàm Đan, cha mẹ thân bằng cũng đều ở Hàm Đan, máu nhuộm Hàm Đan, người thân lâm nạn, quân Ngụy cũng không cần phải xót thương, như vậy, Hàm Đan sẽ vì đó mà gà bay trứng vỡ, chỉ còn một vùng đổ nát thê lương.”

Lời Tô Tần vừa hợp tình hợp lý, lại đúng sự thực, khiến quần thần mới đó còn ý khí ngút trời, lúc này bỗng như bong bóng xì hơi, chốc lát đã xẹp lép.

“Chư vị đại nhân!” Tô Tần đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, vẻ mặt ưu tư ban nãy đã được thay bằng ánh mắt đầy khiêu khích, tựa như đang tìm kiếm sự phản bác. “Kho lương của ta đều ở Hàm Đan, người già yếu, bệnh tật, đàn bà, trẻ nhỏ đều ở Hàm Đan, thành cao hiểm trở cũng ở Hàm Đan, đều đã bị người Ngụy chiếm cứ, nếu ta bao vây, kết quả sẽ ra sao? Hơn nữa, ta biết lấy gì để bao vây? Hàm Đan đã liền một dải với Nghiệp Ấp, Chương Thuỷ không còn là trở ngại, người của ta tuy đông, song binh lính có thể chiến đấu lại chưa đầy năm vạn. Nay công và thủ đã giao hoán, ta lấy năm vạn chọi với bảy vạn, lấy không hiểm trở chọi với hiểm trở, lấy ý chí chọi với cường địch, không phải là hành vi của kẻ sáng suốt.”

Triệu Ung đã bị thuyết phục hoàn toàn, hít sâu một hơi: “Nên làm thế nào, xin ái khanh chỉ giáo!”

“Hồi bẩm đại vương!” Tô Tần quay mặt lại, nhìn sang Triệu Ung. “Theo như thần thấy, thượng sách hiện nay chính là giảng hoà với Ngụy, chấm dứt chiến tranh, cho dân nghỉ ngơi, hồi phục nguyên khí quốc gia. Ta tuy không chống cự nổi, song Ngụy cũng chịu không thấu, nay người Ngụy chủ động nghị hoà, thế là có lợi cho ta, đại vương nên thuận thế đẩy thuyền, giảng hoà với Ngụy, thu hồi đất đai trước đây của ta.”

“Triệu Ung kính cẩn nghe theo Tô Tử, phiền Tô Tử cùng Chu Uy bàn bạc chuyện nghị hoà!” Triệu Ung không nói gì thêm, lập tức quyết đoán.

“Tạ ơn đại vương giao phó trọng trách!” Tô Tần vòng tay nói. “Có điều, nếu thần ra mặt lại là không thoả, bởi thần tuy là tướng quốc Triệu, song cũng kiêm tướng quốc các nước khác!”

“Ồ…” Triệu Ung rõ ràng đã quên bẵng mất chuyện này. “Dám hỏi tướng quốc, người nào ra mặt mới thích hợp?”

“Thần tiến cử Phì Nghĩa đại nhân.”

***

Một tháng sau, phía nam thành Hàm Đan, trước dòng Chương Thuỷ cuồn cuộn về đông, sứ Ngụy Chu Uy cùng sứ Triệu Phì Nghĩa, sứ Tề Điền Anh, sứ Tần Sư Lý Tật, sứ Trung Sơn Trương Đăng cùng lập minh ước Chương Thuỷ. Theo minh ước này, người Ngụy trả lại vô điều kiện Hàm Đan và những vùng đất khác đã chiếm đóng cho Triệu; Tề, Tần và Trung Sơn rút quân vô điều kiện; Triệu và Trung Sơn lấy Hoè Thuỷ làm ranh giới, vĩnh viễn không xâm phạm lẫn nhau.

Một cuộc đại chiến thiên hạ kéo dài cả năm trời với sự tham dự của liệt quốc các phương, hai tháng sau khi quân Tề vây Ngụy, Bàng Quyên bại trận Quế Lăng, cuối cùng đã kết thúc bên bờ Chương Thuỷ.

Nói về lợi ích trước mắt, liệt quốc đều thua, kẻ thắng duy nhất là Trung Sơn, bởi lẽ cuối cùng đã giành lại được vùng đất chiến lược trọng yếu bấy lâu khao khát là Hạo Ấp từ tay người Triệu, về lý mà nói đã có được Hoè Thuỷ hiểm yếu. Vài năm sau, Trung Sơn cho xây dựng một dải tường thành chiến sự dọc theo bờ bắc Hoè Thuỷ, từ Hà Thuỷ phía đông thẳng tới chân núi Thái Hàng, thành thế đối đầu với người Triệu.

Tuy nhiên, nhìn về lâu dài, kẻ thắng thực sự vẫn là người Tần. Trương Nghi liên hoành thành công, hợp tung bất hoà, ba nước Triệu, Ngụy, Tề đều tổn thương nặng nề, còn nước Tần chẳng qua chỉ điều động đại quân tới chân thành Tấn Dương thị uy một vòng, gần như không mảy may sứt mẻ.

Đại quân nước Ngụy chinh chiến cả năm trời mà chẳng thu được chút công lao, rệu rã ủ ê vượt sông Hà Thuỷ, trở về Đại Lương. Chồng chất trên xe chiến đa phần không phải là chiến lợi phẩm, mà là quan tài của tướng sĩ tử trận ở các nơi trên đất Triệu. Trên khắp nước Ngụy, lại một lần nữa tiếng khóc vang trời, mọi nhà mọi hộ, các thôn các ấp, đâu đâu cũng thấy cảnh đưa tang.

Trương Nghi ngồi trong xe quân nhu, theo tam quân từ Hàm Đan trở về Đại Lương, suốt chặng đường đi, gần như chẳng nói năng với ai câu nào, trong lòng hỗn độn muôn mối cảm, vừa thất vọng hụt hẫng, lại vừa mãn nguyện.

Tới gần cửa Túc Tư, Trương Nghi hô dừng xe tại ngã ba đường mà năm xưa đã qua lại không biết bao lần, dặn bộ tướng dẫn quân đi tiếp, còn mình và vài tuỳ tùng rẽ vào trong núi, cho đám đông dừng cả dưới chân núi, chỉ dẫn theo một tâm phúc đi về phía Quỷ Cốc.

Tới trước lối vào Quỷ Cốc, có lẽ vì không muốn gặp Ngọc Thiền, Trương Nghi ngồi xuống phía trước tảng đá đề hai chữ “Quỷ Cốc”, tiện tay viết vài chữ, dặn tâm phúc vào trong khe núi, giao cho một người gọi là đại sư huynh.

Chỉ chốc lát sau, một đạo nhân trẻ vóc người dong dỏng, vạt áo phất phơ, tóc dài xoã vai, dung mạo thanh tú rảo bước theo sau gã tâm phúc tiến lại gần, nhìn thấy Trương Nghi, từ xa đã dừng lại, vòng tay mà nói: “Sư đệ, lâu không gặp, vẫn khoẻ chứ?”

“Đại sư huynh!” Trương Nghi nhìn chằm chằm vào đạo nhân, rõ ràng không nhận ra, hồi lâu sau, mới vái dài một vái, giọng nói không giấu nổi niềm xúc động. “Đã cao thế rồi ư?

“Đúng vậy!” Tiểu đồng cười vang. “Cái khác chẳng thấy tiến triển, mỗi cái thân này cao lên mà thôi. Có vài lần xuống núi, nghe nói sư đệ phong quang lẫm liệt lắm rồi!”

“Không một thành tựu, hổ thẹn vô cùng!” Trương Nghi vội buông lời khiêm tốn.

“Sư đệ hổ thẹn gì kia?” Tiểu đồng dường như không nghe ra ý khiêm nhường, nhìn thẳng vào Trương Nghi, truy hỏi đến cùng.

“Hổ thẹn…” Trương Nghi đảo con ngươi một vòng, “hổ thẹn với uỷ thác của tiên sinh, hổ thẹn với kỳ vọng của sư huynh!”

“Sư đệ hổ thẹn quá nhiều rồi!” Tiểu đồng nở một nụ cười. “Tiên sinh hoặc giả có uỷ thác thực, song đại sư huynh ta lại chưa từng kỳ vọng gì cả.” Rồi đổi giọng, hỏi thẳng vào chuyện chính. “Được rồi, không vòng vo nữa, sư đệ lần này đến đây, hẳn là muốn thăm chị Thiền Nhi?”

“Không… không phải!” Thấy tiểu đồng vẫn thông minh lanh lợi như ngày nào, lại còn nhắc tới Ngọc Thiền, Trương Nghi có phần bối rối, ngắc ngứ một câu, rồi nhanh chóng trấn tĩnh lại, dừng lời một lát, lấy lại thần thái, nhìn vào tiểu đồng hỏi. “Tiên sinh có nhà không?”

“Tiên sinh đang bế quan!” Tiểu đồng buông lời chặn họng. “Sư đệ đã trở về, cớ sao không theo sư huynh vào cốc, thăm lại chốn xưa?”

Trương Nghi cười gượng, từ từ khép mắt lại.

Tiểu đồng biết hắn không muốn gặp Ngọc Thiền, bèn cười nói: “Nên về thăm lại chốn xưa, chị Thiền Nhi vẫn thường nhớ đến sư đệ đấy!”

Trương Nghi mím chặt môi, một lát sau, lại cười gượng một tiếng, nói: “Phiền đại sư huynh chuyển lời tới sư tỷ, nói rằng Nghi tạ ơn sư tỷ nhớ đến. Nay dẫn quân trở về, trên đường qua cửa Túc Tư, nhìn thấy núi này, cảm khái dâng trào, cứ thế bất giác đi vào trong núi lúc nào không biết. Được gặp đại sư huynh, Nghi đã mãn nguyện lắm rồi, sẽ không vào cốc nữa.”

“Sư đệ lần này tới đây,” tiểu đồng chỉ vào trước ngực Trương Nghi, nói, “nếu đã có chuyện, sao chẳng nói ra cho nhẹ lòng?”

Trương Nghi sững sờ: “Đại sư huynh, sao… sao sư huynh biết sư đệ có chuyện?”

“Ha ha ha, nếu như không biết, chẳng phải là đã xưng bừa sư huynh trước mặt tướng quốc đại nhân rồi ư?”

“Đại sư huynh thần thông, tại hạ bội phục!” Trương Nghi đang không biết phải mở miệng thế nào, giờ được lời như cởi tấm lòng. “Sư đệ lần này tới đây, đúng là có một chuyện. Năm xưa sư đệ xuống núi, trước khi đi đã tặng cho sư huynh một cuốn thẻ tre, dám hỏi sư huynh có còn nhớ chăng?”

“Đúng là có việc này!” Tiểu đồng chẳng chút nghĩ ngợi, lập tức trả lời. “Chỉ có điều, cuốn thẻ tre đó sư huynh đây chẳng biết dùng vào việc gì, hình như ngay mùa đông năm đó đã đem làm củi đốt rồi.”

Nghe thấy hai chữ “hình như”, Trương Nghi trong lòng hiểu rõ, im lặng một lát, rồi vòng tay nói: “Phiền đại sư huynh nghĩ kỹ lại xem, ngộ nhỡ lúc đó cầm nhầm thì sao?”

“Sư đệ hãy đợi một lát,” tiểu đồng đáp lời, “đợi sư huynh quay về xem thử, nếu như chưa đốt, sẽ mang trả ngay cho sư đệ.”

Tiểu đồng quay về trong cốc, đi vào thảo đường, nói với Ngọc Thiền: “Là Trương Nghi tới.”

“Ồ?” Ngọc Thiền thoáng ngạc nhiên. “Hắn tới có việc gì?”

“Còn nhớ cuốn binh thư mà năm xưa tiên sinh dặn chúng ta xuống dưới vách núi đỉnh Hùng Kê nhặt về rồi lại mang đốt đi không? Bàng Quyên đã lén lút chép ra một bản, giấu trong hốc cây, bị Trương Nghi âm thầm lấy mất. Khi sắp xuống núi, Trương Nghi đã tặng cho tiểu đồng cuộn thẻ tre đó, tiểu đồng bèn tiện tay quẳng xuống dưới gầm giường. Bây giờ hắn lại tới đòi, có trả không?”

Ngọc Thiền ngẫm nghĩ một lát, rồi kéo tiểu đồng cùng vào trong động.

Quỷ Cốc Tử mắt vẫn khép chặt, quay về phía Ngọc Thiền, song lại nói cho tiểu đồng nghe: “Đã là vật của hắn, hắn vì muốn đòi nên mới tới đây, hãy trả cho hắn đi.”

Tiểu đồng vâng lời, quay về thảo đường, tìm bó thẻ tre dưới gầm giường, đoạn đi thẳng ra cửa cốc, đưa trả cho Trương Nghi.

“Tiên sinh!” Thấy tiểu đồng đã đi xa, Ngọc Thiền mới khẽ khàng hỏi. “Hắn mang đi, ắt giao cho Bàng Quyên, chẳng phải sẽ bất lợi cho Tôn Tẫn ư?”

“Thuận theo tự nhiên!” Quỷ Cốc Tử bình thản nói. “Chỉ là một bộ sách mà thôi, đâu có gớm ghê đến thế.” Lại nhắm mắt suy ngẫm một hồi, rồi mở mắt, lấy ra một đơn thuốc, cầm bút viết thêm một vị ở phía dưới, đưa cho Ngọc Thiền. “Thiền Nhi, con theo đơn này, vào trong núi hái thuốc, làm thành thuốc hoàn, đưa cho Tô Tần, bảo hắn tặng cho Tôn Tẫn, sẽ có lợi cho Tôn Tẫn!”

Ngọc Thiền nhìn đơn thuốc chăm chú, lát sau, kinh ngạc kêu lên: “Tiên sinh, đơn thuốc này…”

“Hoàn thuốc được làm từ đơn này,” Quỷ Cốc Tử chậm rãi nhắc lại một chuyện quá vãng xa xưa, “chính là hoàn thuốc mà năm xưa Tuỳ Sào Tử đã nhờ người tặng cho mẫu hậu của con đó!”

“Thuốc của Tuỳ Sào Tử, là của tiên sinh?” Ngọc Thiền kinh ngạc hỏi.

“Đúng vậy!” Quỷ Cốc Tử gật đầu. “Hồi mới quen Tuỳ Sào Tử, lão hủ đã thấy người này ôm ấp thiện niệm cứu đời, bèn tặng cho ông ta rất nhiều bài thuốc cứu thế, trong đó có đơn thuốc này.”

“Vậy…” Ngọc Thiền nhìn vào mấy chữ mới viết thêm phía dưới, “tiên sinh cho thêm vị này, là vì sao?”

“Có thể thành thuốc chết.”

“Thuốc chết?” Ngọc Thiền giật nảy mình, lắp bắp hỏi lại.

“Tôn Tẫn uống thuốc này, thân thể sẽ chết ngay lập tức, song hồn phách vẫn ở lại, một tháng sau, thân thể tự khắc hồi sinh.”

Ngọc Thiền hít ngược vào một hơi: “Tiên sinh, sự tình… thực sự nghiêm trọng đến thế ư?”

“Than ôi!” Quỷ Cốc Tử khẽ khép mắt lại, hồi lâu sau, mới thở dài một tiếng. “Tôn Tẫn không chết, Bàng Quyên sẽ không chịu buông tha, loạn lại càng thêm loạn. Chờ cho Tôn Tẫn vượt qua kiếp nạn này, cuộc cờ của hai người hoặc giả sẽ tới hồi kết thúc.”

Nghe thấy tiếng thở dài thườn thượt của Quỷ Cốc Tử và hai chữ “kết thúc” sau cùng, nghĩ tới Bàng Quyên có lẽ sẽ phải đối mặt với quả báo, Ngọc Thiền giật thót trong lòng, bất giác rùng mình ớn lạnh.

***

Phạt Triệu thất bại, cả nước tang thương, thần dân nản lòng nhụt chí, chỉ có Huệ Vương lại không suy sụp sau khi chiến bại như những lần khác, chỉ nằm bẹp trên giường vài ngày, lại đã tinh thần bừng bừng, bất ngờ xuất hiện trên triều đường Đại Ngụy, hơn nữa chỉ xử lý một chính sự duy nhất, gia phong Vũ An Quân Bàng Quyên ba nghìn hộ, một vạn lao dịch, thưởng ba trăm đĩnh vàng.

Binh bại mà lại được phong thưởng, thật khó tưởng tượng, đúng là chuyện lạ kỳ trong liệt quốc.

Triều thần thảy đều bàng hoàng kinh ngạc, đưa mắt nhìn nhau.

Bàng Quyên quỳ sụp dưới đất, khóc mà cảm tạ: “Thần mang tội chết, xin đại vương thu hồi mệnh lệnh! Thần dụng binh sai lầm, bại trận Quế Lăng, thiệt hại võ binh hai vạn, Hàm Đan vừa chiếm được lại vuột khỏi tay, sắp thành lại bại, khẩn cầu đại vương nghiêm trị cực hình, thần có chết vạn lần cũng không oán thán!”

“Vũ An Quân, khanh hãy nhớ, quả nhân không phải phong thưởng cho khanh, mà là cho ba quân tướng sĩ!” Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, cất giọng sang sàng, lý lẽ hùng hồn. “Chư vị ái khanh, lần này phạt Triệu, quả nhân cũng thấy đau thương, thế nhưng đêm qua, quả nhân đột nhiên thông tỏ một điều! Quả nhân đã thông tỏ chuyện gì? Chính là, từ lúc lên ngôi tới nay, quả nhân đông thảo tây phạt, nam chinh bắc chiến, có thể nói đã kinh qua vô số trận, song khiến quả nhân thống khoái thực sự, lại chỉ có một, chính là phạt Triệu lần này! Chư vị ái khanh, lần phạt Triệu này, Bàng tướng quân dụng binh như thần, kế sách tinh mật, đánh cho người Triệu trở tay không kịp, chiếm được cả kinh đô Hàm Đan, nêu cao uy vũ của Đại Ngụy ta! Đánh tan tác nhuệ binh nước Triệu, chiếm hạ kinh đô nước lớn, cho dù là danh tướng Ngô Khởi, cũng chưa từng lập được công lao nhường đó.

Thấy Huệ Vương nói ra lời này, khắp triều đường lặng bặt, chỉ còn tiếng Bàng Quyên khóc hu hu dưới đất: “Đại vương…”

“Chư vị ái khanh!” Huệ Vương vẫn chưa tận hứng, giọng nói hào hùng. “Đánh tan quân Triệu, hạ được Hàm Đan, giải toả cơn giận dữ ngấm ngầm trong lòng quả nhân suốt bao năm qua, thực khiến quả nhân hởi lòng hởi dạ! Tạm chưa tính đến chuyện này, lại càng khiến quả nhân thấy an ủi hơn nữa, là Bàng tướng quân đã huấn luyện cho Đại Ngụy ta hàng vạn dũng sĩ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, xông pha không chùn bước! Quả nhân sớm tối đọc chiến báo Quế Lăng, không lúc nào không rơi lệ. Hai vạn võ binh ta sa vào đường cùng, đối đầu với quân Tề đông đảo gấp bội, vậy mà không một ai thoái lui, quyết chiến tới người cuối cùng, chém chết hai vạn địch! Ba trăm quân sĩ của ta, trải qua một đêm kịch chiến, đều bị thương nặng, song thà chết không chịu đầu hàng. Riêng tướng quân Thanh Ngưu, chỉ dựa vào sức một mình, bảo vệ được chủ tướng đột phá trùng vây, đánh đâu tan đấy, thế như chẻ tre, khiến quân Tề nhìn mà vỡ mật. Quả nhân nào có tài đức gì đâu, mà lại có được tướng tài nhường vậy? Quả nhân nào có uy nhân gì đâu, mà có được tử sĩ nhường này!”

Nghe Huệ Vương khen thưởng tướng sĩ như vậy, triều thần thảy đều thán phục, gật đầu lia lịa, đều nhìn Bàng Quyên bằng ánh mắt tán thưởng.

Bàng Quyên phủ phục sát đất, mông chổng lên trời, càng khóc lóc thảm thiết.

“Than ôi!” Huệ Vương thở dài một tiếng. “Chư vị hiền thần, bại trận Quế Lăng, lỗi không phải ở Vũ An Quân, lỗi không phải ở tam quân, mà lỗi ở một mình quả nhân! Là quả nhân ngu muội, nhìn không ra gian kế nghi binh của người Tề, liên tiếp hạ chiếu thư, chỉ lệnh Bàng tướng quân rút quân, khiến Bàng tướng quân nôn nóng cứu chúa, nghìn dặm gấp gáp quay về, mới sa vào tuyệt địa. Cứ nghĩ tới chuyện này, quả nhân lại hối hận khôn nguôi. Quả nhân có lỗi với những tướng sĩ trận vong! Than ôi thương thay!…”

Huệ Vương đưa tay che mặt, nghẹn ngào mãi không thôi.

Những lời gan ruột cộng với tiếng than thở của Huệ Vương khiến Bàng Quyên lại càng nước mắt ròng ròng, cứ thế gào khóc thống thiết ngay giữa triều đường. Quần thần có mặt cũng đều xúc động, không ai không nức nở. Triều đình Đại Ngụy đã phấn chấn trở lại từ trong những tiếng khóc bi thương.

Khi tiếng khóc dần lắng xuống, Huệ Vương một lần nữa giao lại triều chính cho thái tử Ngụy Thân, rồi được tỳ nhân dìu đỡ, che mặt rời khỏi triều đường.

Chỉ lệnh đã ban xuống, song tư đồ Bạch Hổ cai quản kho lẫm lại không kiếm đâu ra ba trăm đĩnh vàng để khen thưởng theo lệnh Huệ Vương.

Mà đừng nói là ba trăm đĩnh, thậm chí đến một trăm đĩnh Bạch Hổ cũng không đào đâu ra.

Theo chiếu lệnh tuyển dụng võ binh Đại Ngụy, phàm võ binh tử trận, cả nhà được miễn thuế khoá và lao dịch mười năm, bên cạnh đó, phủ tư đồ phải trả hết một lần ba đĩnh vàng tiền tử tuất. Tướng sĩ tử trận ở Triệu và Quế Lăng tổng cộng gần ba vạn, chỉ riêng khoản tiền này đã gần mười vạn đĩnh, nếu cộng thêm cả tiền phủ tuất cho tướng sĩ bị thương, dù có bán toàn bộ quốc khố các ấp cũng chẳng đủ.

Tuy nhiên, chỉ lệnh đã ban bố, không thể không thực thi. Bạch Hổ không biết làm thế nào, đành tấu báo thực tình lên thái tử.

“Ngân khố vẫn là chuyện nhỏ, kho lương không đủ mới là chuyện lớn. Từ năm ngoái tới nay, mưa gió bất thường, vào dịp hè thu Hà Đông lại gặp nạn mưa đá, khiến vụ thu mất mùa nghiêm trọng, lương thực dự trữ đã dùng hết vào chiến sự Hàm Đan, hiện giờ gặp đúng nạn đói mùa xuân, đang trong kỳ giáp hạt, kho lương các nơi hầu như không vét nổi một thạch thóc cứu đói, nghe nói có người đói quá phải gán vợ đợ con…” Bạch Hổ nói nửa chừng thì nghẹn lại.

“Than ôi!” Thái tử Thân thở dài một tiếng. “Huệ tướng quốc đi rồi, Trương tướng quốc, Chu thượng khanh đều chưa trở về, Thân không có lấy một người để bàn bạc, giờ lại gặp đại sự nhường này, biết làm thế nào mới phải đây, than ôi…” Lại than thở một hồi. “Chuyện ba trăm đĩnh vàng, Thân sẽ tạm thời nói rõ với Vũ An Quân, trước mắt phủ tư đồ hiện có hai việc gấp phải làm ngay, thứ nhất là tìm cách cứu đói, thứ hai là phủ tuất tử sĩ thương binh.”

“Quốc khố đã cạn, lấy gì để phủ tuất đây?”

“Những người chưa được phát tiền phủ tuất, đợi Thân tấu lên phụ vương, hoặc lấy ruộng đất để bù, hoặc tạm thời nợ đó, đợi sau vụ hè, có thuế thu về, sẽ trả thêm lợi tức.”

“Như vậy cũng được, thần sẽ trù tính vụ này.”

Tiễn thái tử Thân về rồi, Bàng Quyên trong lòng nặng trĩu. Hắn không bận tâm tới ba trăm đĩnh vàng ban thưởng của Huệ Vương, mà chỉ bận tâm tới tình cảnh quẫn bách của quốc gia mà thái tử vừa nói rõ. Gần một năm qua, Bàng Quyên chỉ dốc hết tâm tư vào việc quân, rất hiếm khi ngó ngàng đến các việc khác, còn như dân chúng đói khổ, hắn lại càng chẳng chút lưu tâm, dù Bàng Thông có đôi lần bẩm báo, song hắn cũng đâu có lòng dạ nào mà nghe. Nay thái tử tới tận cửa nói lại, hắn mới cảm thấy sự việc cấp bách.

Đúng vào lúc này, Bàng Thông hấp tấp đi vào, nói: “Đại ca, mau lên, phủ Thanh Ngưu có chuyện rồi.”

“Hả!” Bàng Quyên thất kinh, vội hỏi. “Nói mau, xảy ra chuyện gì?”

“Già trẻ lớn bé, dễ đến vài trăm thân quyến đang chen chúc kéo tới phủ Thanh Ngưu đòi tiền phủ tuất, Thanh Ngưu một đĩnh cũng không đào đâu ra, đang quỳ trong sân khóc lóc!”

Trời ơi, một hán tử sắt thép giữa rừng đao thương cũng không hề biết sợ, vậy mà chỉ vì vài đồng tiền phủ tuất mà phải khóc lóc quỳ ở trong sân, Bàng Quyên không rét mà run, chẳng kịp nói năng, co giò chạy thẳng một mạch tới phủ Thanh Ngưu.

Trong trận Quế Lăng, nếu không có Thanh Ngưu, Bàng Quyên thực không dám tưởng tượng kết cục sẽ ra sao. Vì bảo vệ Bàng Quyên, Thanh Ngưu bị thương cùng mình, trong đó có hai chỗ bị thương tới tận xương. Có câu “thương gân động cốt một trăm ngày”, vì thế, dưới sự đôn đốc nghiêm khắc của Bàng Quyên, Thanh Ngưu ngoan ngoãn ở yên trong phủ tĩnh dưỡng, nào ngờ hôm nay…

Từ sau khi được Bàng Quyên cứu sống trước quỷ môn quan, Thanh Ngưu cảm ân đội đức, việc gì cũng nhất nhất nghe theo Bàng Quyên, phàm là chinh chiến, đều bất chấp sống chết, lập nhiều chiến công, trở thành hổ tướng số một dưới trướng Bàng Quyên, thống soái đội quân hổ bôn uy dũng bậc nhất Đại Ngụy. Ngụy Huệ Vương luận công khen thưởng, ban cho Thanh Ngưu một toà trạch phủ, nằm cùng một con phố với trạch phủ của Bàng Quyên, chỉ cách ba hộ, nên loáng cái, Bàng Quyên đã chạy tới nơi, từ xa nhìn thấy trước cổng phủ Thanh Ngưu quả nhiên đã cả một đám đông xúm xít, đều mặc đồ tang.

Bàng Quyên sải bước lại gần, Bàng Thông hô to: “Hương thân phụ lão, xin hãy nhường đường, Bàng tướng quân đã tới!”

Nghe nói là Bàng Quyên, đám đông lập tức quây kín lại, quỳ sụp xuống trước mặt hắn.

Bàng Quyên an ủi vài câu, đám người mở ra một khe nhỏ, đủ cho Bàng Quyên đi qua để vào trong sân, bất đồ thấy trong sân trắng toát áo tang, Thanh Ngưu băng bó quanh đầu đang phủ phục dưới sân, một thiếu phụ trẻ măng ôm con quỳ ở bên cạnh hắn, đứa bé khóc ngằn ngặt. Thiếu phụ tên gọi Thuý Bình, là con gái của cựu lão tướng Long Giả đã xả thân vì nước. Thuý Bình học võ công từ nhỏ, ái mộ anh hùng, chồng nàng vốn là tỳ tướng tả quân dưới trướng Long Giả, Long Giả tử chiến Hoàng Trì, không có con trai nối dõi. Sau khi chồng mất, Thuý Bình ở goá vài năm, Bàng Quyên hai năm trước đã mai mối cho Thanh Ngưu, kết hôn được một năm thì sinh được một con trai, nay đã hai tuổi, lưng hổ eo gấu, rất ra dáng một Thanh Ngưu nhỏ.

“Thanh Ngưu huynh đệ!” Bàng Quyên vội rảo bước lại gần, ngồi xuống bên cạnh Thanh Ngưu.

Nghe thấy giọng Bàng Quyên, Thanh Ngưu kêu lên một tiếng dài bi thiết: “Tướng quân…” Rồi khóc không thành tiếng.

Bàng Quyên quay sang Bàng Thông: “Mau, đỡ Thanh Ngưu huynh đệ về phòng, hắn không được phép đi lại!”

Bàng Thông gọi hai người hầu lại, không nhiều lời, dìu thẳng Thanh Ngưu về phòng, đặt lên giường, giao cho Thuý Bình chăm sóc.

Hơn hai trăm gia quyến mình bận áo tang, nam nữ già trẻ đều có, đồng loạt quỳ ở trong sân, cả khoảng sân rộng lớn là thế chật cứng không còn chỗ trống, không có tiếng khóc, cũng không ai nói câu nào, tất cả mọi thỉnh cầu, đều cất lên trong im lặng.

“Thông đệ!” Bàng Quyên quay sang Bàng Thông. “Trong nhà có còn vàng không?”

Bàng Thông tiến sát lại gần, hạ giọng bẩm báo: “Có, song không nhiều.”

“Bao nhiêu?”

“Trăm hai mươi dật!”

“Nói to lên!” Bàng Quyên nghiêm giọng ra lệnh. “Có bao nhiêu vàng?”

“Trăm hai mươi dật!” Bàng Thông cũng lớn giọng trả lời, hết thảy người có mặt đều nghe mồn một.

“Bạc thì sao?”

“Năm trăm tám mươi dật!”

“Đất phong tổng cộng có bao nhiêu điền sản?”

“Ờ… Ba trăm mười tỉnh!”

“Bán sạch tất cả điền sản, trong nhà một dật vàng bạc cũng không giữ lại, toàn bộ dùng để phủ tuất tướng sĩ trận vong!”

“Đại ca!” Bàng Thông lặng người kinh hãi, hạ thấp giọng thì thào. “Trong phủ cũng cần phải chi tiêu, còn có ba mươi đĩnh vàng, là… là của hồi môn đại vương tặng cho tẩu phu nhân, không thể động vào.”

“Không có gì là không thể động vào, vì tẩu phu nhân của ngươi cũng là người nước Ngụy!” Bàng Quyên gằn mạnh từng tiếng, rồi quay sang đám đông, giọng đầy kích động. “Chư vị phụ lão hương thân, dũng sĩ của chúng ta đã đổ máu, Bàng Quyên ta, và cả phu nhân ta, dù phải lên trời xuống đất, cũng tuyệt đối không để người thân của họ lại phải rơi lệ!” Rồi không đợi đám người đáp lời, siết chặt nắm tay, đầu không ngoảnh lại, cứ thế sầm sập bước đi.

Trong sân ngoài cổng, mọi người đều nghe thấy rõ, ai nấy sụt sùi rơi lệ. Không ai nói thêm một lời, thảy đều xúc động nghẹn ngào, lặng lẽ theo sau Bàng Quyên mà tản đi.

Mối nguy này cuối cùng đã được hoá giải chỉ bằng vài lời hào tráng dứt gan dứt ruột của Bàng Quyên. Tuy nhiên, dù mối nguy đã được giải quyết, song tâm tư của Bàng Quyên vẫn không hề cảm thấy nhẹ nhõm, mà lại càng thêm trĩu nặng.

Trở về tới phủ, Bàng Quyên giam mình trong tĩnh phòng, cũng chính là thư phòng cất giữ rất nhiều sách song hắn lại hiếm khi giở đến, rồi ngồi nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ trước những cuộn thẻ tre phủ đầy bụi bặm.

Tim Bàng Quyên đang nhỏ máu, không phải là vì ngân khố của hắn, không phải là vì điền sản của hắn, cũng không phải là vì những giọt nước mắt và nỗi vô vọng của đám thân quyến tử sĩ tới đòi phủ tuất.

Tất cả những điều đó, đều không lọt vào tầm nhìn của Bàng Quyên, cũng không xứng đáng để hắn bận tâm tới.

Tim hắn đang nhỏ máu vì gần hai vạn võ binh một tay hắn huấn luyện nên đã bị tận diệt chỉ trong một sớm. Vì những võ binh này, hắn đã tiêu tốn không biết bao nhiêu thời gian, lại càng đổ vào không biết bao nhiêu tâm huyết, giờ muốn gây dựng lại, sẽ gian nan biết nhường nào!

Đang lúc đau buồn, bên ngoài bỗng vọng lại tiếng bước chân, cửa phòng chưa gõ đã mở ra, một người đi thẳng vào, bước chân rất khẽ.

Ở trong phủ này, dám tự tiện ra vào tĩnh phòng chỉ có một người, chính là phu nhân Thuỵ Liên

“Phu nhân!” Bàng Quyên chẳng buồn nhìn đã ra giọng “đuổi khách”. “Nàng cứ về đi, ta muốn yên tĩnh một chút!”

Người tới lại không đi ra, mà chầm chậm ngồi xuống đối diện với hắn.

“Phu nhân, về đi, đừng nghe Thông đệ, chưa tới mức vạn bất đắc dĩ, ta tuyệt đối không động tới món hồi môn của phu nhân đâu!” Bàng Quyên lại nói một câu, hiển nhiên là đang giải thích.

“Bộp bộp bộp!” Người tới khẽ vỗ tay.

Bàng Quyên mở choàng mắt, kinh ngạc bật kêu lên: “Trương huynh!”

Chính là Trương Nghi.

“Về lúc nào thế?” Bàng Quyên hấp tấp hỏi.

“Vừa xong. Còn chưa kịp hồi phủ, đã tới thẳng chỗ Bàng huynh, đói bụng sắp chết rồi!”

“Người đâu!” Bàng Quyên quay ra phía ngoài gọi lớn.

“Không cần!” Trương Nghi cười nói. “Tại hạ đã gặp Thông đệ rồi, hắn đang đi lo liệu.” Rồi nhìn thẳng vào Bàng Quyên. “Trông thần sắc Bàng huynh, tâm sự chồng chất, dường như đang vô cùng phiền muộn.”

Bàng Quyên cười gượng gạo.

“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng. “Một cuộc cờ hay, chỉ thiếu một chút xíu nữa là thắng cuộc!”

“Đúng vậy!”

“Nói thử xem, Bàng huynh đang phiền muộn chuyện gì?”

“Ngoài võ binh, còn có thể là chuyện gì đây?” Bàng Quyên lại cười gượng, lắc đầu. “Hơn hai vạn huynh đệ, bất cứ người nào cũng là hán tử hàng đầu, chỉ qua một đêm, đã chẳng còn một mống.”

Trương Nghi bật cười vài tiếng: “Tại hạ cho rằng, điều đang khiến Bàng huynh phiền muộn lại không phải là những võ binh tử trận!”

“Ồ?” Bàng Quyên nhìn sang.

“Võ binh, có thể gây dựng lại; tiền bạc, lương thảo, có thể tích luỹ lại. Hơn nữa, dù ta tổn thất ở Quế Lăng, song lại có thu hoạch ở Hàm Đan. Rút quân về đây, thứ công tử Tự chở theo lại không phải chỉ có mỗi quan tài!”

“Ý Trương huynh là…” Bàng Quyên mừng rỡ.

“Quốc khố Hàm Đan, tại hạ sớm đã kiểm kê kỹ lưỡng, những thứ có thể chuyển được về, đều ở trong quan tài cả!”

“Bao nhiêu?” Bàng Quyên gắng kìm nén niềm hoan hỷ. “Vàng không dưới vạn dật, của cải khác cũng có một chút, hẳn cũng giải quyết được khó khăn trước mắt.”

“Tốt!” Bàng Quyên vỗ mạnh xuống bàn, im lặng một lát, sắc mặt lại sầm xuống. “Than ôi, chẳng qua cũng chỉ như muối bỏ biển mà thôi!”

“Cứ có được chỗ muối này đã rồi tính tiếp.” Trương Nhi hai mắt nhìn thẳng vào Bàng Quyên. “Khiến Bàng huynh phiền muộn thực sự, lại không phải chuyện này! Bàng huynh có muốn nghe chăng?”

“Quyên muốn nghe rõ!”

“Là Tôn huynh!” Trương Nghi thu lại nụ cười. “Một cuộc cờ chắc thắng mười mươi, phút chốc đã bị huỷ hoại về tay một Tôn huynh từ trên trời rơi xuống.”

“Đích xác!” Bàng Quyên nặng nề buông ra một tiếng, hai hàm răng nghiến vào nhau kèn kẹt.

“Theo tại hạ thấy,” Trương Nghi liếc xéo Bàng Quyên. “Tôn huynh chẳng có gì ghê gớm. Ví như cứu Triệu lần này, mưu kế của Tôn huynh gọi là ‘tránh thực đánh hư’, không có gì mới lạ. Kỳ thực, Bàng huynh sớm đã dự liệu được rồi, hiện giờ nghĩ lại, trước tiên Bàng huynh chuyển hướng tấn công Hàm Đan, chính là một đòn hữu hiệu. Nếu như lúc đó, Bàng huynh trở về chi viện Đại Lương, chính là mắc bẫy Tôn huynh. Sở dĩ Tôn huynh thắng trận Quế Lăng, không phải Tôn huynh mưu lược cao siêu, chỉ là Tôn huynh thắng ở chỗ tối, Bàng huynh không ngờ Tôn huynh đang ở Tề, cho rằng chỉ phải đối đầu với Điền Kỵ mà thôi! Nếu như Bàng huynh biết trước Tôn huynh ở Tề, kết cục chắc chắn đã khác, tin chắc Bàng huynh sẽ…”

“Đúng vậy!” Bàng Quyên thở hắt ra một hơi. “Nếu biết Tôn huynh đang ở doanh trại Tề, tại hạ sẽ không đi nước cờ hiểm đó, tại hạ sẽ điều binh khiển tướng, từ từ quần nhau với hắn trong lãnh thổ ta, khiến hắn tiêu hao đến chết!”

“Chính xác!” Trương Nghi khen ngợi. “Hơn nữa, khi còn trong Quỷ Cốc, theo tại hạ biết, Bàng huynh luôn hơn Tôn huynh một bực, chưa bao giờ bại trước Tôn huynh!”

“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài một tiếng. “Mỗi thời mỗi khác!”

“Nói vậy nghĩa là sao?”

“Không giấu Trương huynh, kỳ thực, khi ở trong núi, tại hạ mạnh hơn Tôn huynh; sau khi hạ sơn, mưu của Tôn huynh đã vượt xa tại hạ!”

“Ồ?” Trương Nghi trợn mắt. “Có chuyện này ư?”

“Bởi lẽ Tôn huynh có được ‘Binh pháp Tôn Tử’ từ tiên tổ Tôn Vũ Tử, còn tại hạ thì… than ôi!” Bàng Quyên lại thở dài thườn thượt, ủ ê lắc đầu.

“Binh pháp của Tôn Vũ Tử thì có gì ghê gớm?” Trương Nghi bĩu môi. “Khi ở trong cốc, tại hạ nghe đại sư huynh nói, Bàng huynh sớm đã có được binh pháp Ngô Tử. Tại hạ không hiểu về binh pháp, lẽ nào binh pháp Ngô Tử lại không địch nổi binh pháp Tôn Tử? Không giấu Bàng huynh, nghe tiên sinh nói, binh pháp Ngô Tử và binh pháp Tôn Tử một chín một mười, tại hạ rất đỗi hiếu kỳ, nếu Ngô Khởi giao đấu với Tôn Vũ, sẽ như thế nào nhỉ?”

“Tại hạ cũng từng băn khoăn về chuyện này.” Bàng Quyên cười gượng một tiếng, đáp lời. “Tuy nhiên, hiện giờ, tại hạ đã không còn thắc mắc nữa!”

“Ồ?”

“Bởi lẽ Tôn Tẫn có được toàn bộ cuốn ‘Binh pháp Tôn Tử’, còn tại hạ…” Bàng Quyên ngần ngừ một lát, rồi cúi gằm mặt, “lại chưa được nhìn thấy toàn bộ diện mạo của ‘Binh pháp Ngô Tử’!”

“A?” Trương Nghi trong lòng hiểu rõ nhưng vẫn cố tình hỏi. “Thế thì quái lạ thật đấy, rõ ràng tại hạ nghe đại sư huynh nói, tiên sinh đã giao cho Bàng huynh toàn bộ quyển ‘Binh pháp Ngô Tử’ rồi kia mà!”

“Than ôi!” Bàng Quyên bị truy hỏi đến cùng, đành thở dài một tiếng, kể sơ qua một lượt chuyện tiên sinh giao sách khi còn trong Quỷ Cốc, rồi nói. “Than ôi, cũng vì tại hạ muốn kiệm sức, cho rằng chép ra một bản để tiện dùng sau này, từ từ lĩnh hội, nào ngờ lại bị con lợn rừng tha đi mất. Cũng vì tại hạ đa nghi, lo sợ tiên sinh lại truyền sách này cho Tôn huynh, nên đã ném cuốn sách xuống vách núi, rồi nói bừa là bị gió thổi rơi, ngỡ rằng tiên sinh sẽ không truy cứu. Nào ngờ tiên sinh cứ tưởng tại hạ đã thuộc lòng sách này, bèn sai sư huynh, sư tỷ nhặt toàn bộ thẻ tre về, một mồi lửa thiêu rụi. Chao ôi…” Lại thở than tiếc nuối.

“Trời!” Trương Nghi làm ra vẻ kinh hãi. “Bàng huynh, sao huynh không nói sớm? Bộ binh pháp này, tại hạ đã từng nhìn thấy rồi.”

“A?” Bàng Quyên giật mình sửng sốt. “Chuyện bí mật đến vậy, sao Trương huynh lại nhìn thấy được?”

Trương Nghi bật cười vài tiếng. “Bàng huynh không biết đấy thôi, hôm đó đại sư huynh và sư tỷ mỗi người xách theo một bó thẻ tre về cốc, vừa hay gặp tại hạ và Tô Tần, tại hạ hỏi là sách gì, đại sư huynh nói, là sách hỏng, không biết ai đã ném xuống dưới vách núi, sư phụ sáng sớm nay bảo đi nhặt về, mệt gần chết. Tại hạ hiếu kỳ, lại gần đòi xem, sư tỷ không cho, giục đi, đại sư huynh thấy tại hạ cứ nằng nặc đòi xem, bèn cho tại hạ liếc mắt qua một chốc.”

Thấy Trương Nghi nói năng kín kẽ không chút sơ hở, Bàng Quyên tin ngay, nghe hắn nói được “liếc mắt qua một chốc”, thì trong lòng khấp khởi, thuận miệng hỏi ngay: “Nghe nói Trương huynh đọc qua là thuộc, có nhớ được chăng?”

“Nhớ chứ, nhớ chứ!” Trương Nghi lúc lắc cái đầu. “Tại hạ chẳng có tài cán gì khác, chỉ có mỗi bản lĩnh này!”

“Vậy…” Bàng Quyên đảo con ngươi một vòng. “Trương huynh có thể đọc một chương cho tại hạ mở mang tầm mắt hay không?”

“Không biết Bàng huynh muốn nghe chương nào?”

“Chương đầu tiên!”

“Bàng huynh nghe này!” Trương Nghi khép hờ hai mắt, thong thả ngâm nga. “Ngô Khởi mặc áo nhà Nho, dùng cơ mưu quân sự để yết kiến Ngụy Văn Hầu. Văn Hầu nói, quả nhân không thích chuyện quân sự. Khởi nói, thần dùng cái hiển hiện để đoán cái ẩn vi, lấy quá khứ để xét đoán tương lai, sao chúa thượng lại nói lời không thật lòng? Nay chúa thượng quanh năm bốn mùa cho giết thú lột da, sơn son ra ngoài, tô màu xanh đỏ, vẽ hình voi tê giác. Da ấy mặc vào mùa đông thì không ấm, mặc vào mùa hè thì không mát. Rèn kích dài hai trượng bốn thước, kích ngắn một trượng hai thước. Xe bọc kín da, che bánh phủ trục, nhìn thì không thấy đẹp đẽ, ngồi đi săn thì không thấy nhẹ, không biết chúa thượng dùng vào việc gì? Nếu như để chuẩn bị cho tiến đánh lùi phòng, mà không đi tìm người biết sử dụng, chẳng khác nào đưa gà mái ấp đi đánh nhau với cáo, đưa chó con đang bú sữa đi khiêu khích cọp, tuy có lòng chiến đấu, song cũng chỉ là tự tìm cái chết! Ngày xưa vua tộc Thừa Tang, chỉ tu văn đức mà phế bỏ võ bị nên đất nước diệt vong. Vua tộc Hữu Hộ, cậy đông hiếu dũng nên xã tắc huỷ diệt. Vua sáng suốt biết nhìn gương đó, mà ắt phải trong lo tu sửa văn đức, ngoài lo huấn luyện võ bị. Bởi vậy, đối đầu với địch mà không dám tiến, không được coi là nghĩa; thấy xác quân sĩ chết trận mới buồn thương, không đáng gọi là nhân. Thế là Văn Hầu tự tay trải chiếu, phu nhân bưng chén, bày tiệc mời Ngô Khởi tại miếu đường, lập làm đại tướng, trấn giữ Tây Hà. Giao chiến với chư hầu bảy mươi sáu trận, toàn thắng sáu mươi tư trận, còn lại đều hoà, mở rộng bờ cõi bốn phía, chiếm ngàn dặm đất, đều là công của Khởi…”

“Chính xác, chính xác!” Thấy Trương Nghi đọc vanh vách không sai một chữ, Bàng Quyên kinh ngạc không để đâu cho hết, tấm tắc khen ngợi, rồi vội vàng hỏi. “Dám hỏi Trương huynh, ‘Binh pháp Ngô Tử’ tổng cộng bốn mươi tám chương, Trương huynh có thuộc hết toàn bộ không?”

“Đã là chuyện xưa cũ, có thuộc hết toàn bộ hay không, tại hạ thực không dám chắc. Bàng huynh hãy mang rượu lại đây, đợi tại hạ uống đến ngà ngà say, chưa biết chừng lại đọc hết ra được đấy!” Trương Nghi lấp lửng.

Bàng Quyên không nhiều lời, lập tức gọi Bàng Thông bày tiệc rượu. Uống được nửa vò, Trương Nghi hào khí bừng bừng, nhận lấy bút son, mượn hơi men viết ra một lèo hai mươi tư chương trong tổng số bốn mươi tám chương, rồi kêu mệt, trở về phủ ngủ vùi một đêm, hôm sau quay lại Bàng phủ, uống thêm nửa vò rượu nữa, lại viết ra nốt hai mươi tư chương cuối. Nội dung Trương Nghi chép ra, chính là từ bản sao mà Bàng Quyên đã đối chiếu với bản gốc mà viết ra từng chữ một, lại là toàn văn, trong khi Bàng Quyên chỉ giữ được sáu chương đầu, hơn nữa là do hắn viết lại theo trí nhớ. Bàng Quyên không tự tin lắm với trí nhớ của mình, vẫn luôn hoài nghi sáu chương này liệu có lệch lạc gì so với bản gốc hay không, nay được thấy nguyên văn, dần dần nhớ lại cảm giác khi sao chép trộm năm xưa, cứ xuýt xoa than thở mãi không thôi, vô cùng thống khoái.

Trương Nghi viết đến đâu, Bàng Quyên đọc đến đấy, Trương Nghi viết xong, Bàng Quyên cũng đọc xong, bèn vòng tay khen ngợi thực lòng: “Trương huynh quả là bực kỳ tài, đã lâu như vậy rồi mà vẫn nhớ không sai một chữ, thực khiến tại hạ thán phục!”

“Ha ha ha, Bàng huynh giờ đây đã được đọc toàn văn, hẳn đã có thể so tài cao thấp với Tôn huynh rồi!”

“Đó chính là mong muốn của tại hạ.” Bàng Quyên siết chặt nắm tay, hậm hực nói. “Không giấu Trương huynh, tại hạ bình sinh chỉ có một nguyện vọng, chính là trở thành đệ nhất binh gia trong thiên hạ. Nào ngờ tiên sinh lại ngấm ngầm giao cho Tôn huynh ‘Binh pháp Tôn Vũ Tử’, khiến tại hạ uất ức trong lòng. Có sách này rồi, tại hạ sẽ lập tức chỉnh đốn võ binh, cùng Tôn huynh quyết đấu thực thụ!”

“Bàng huynh nhất định sẽ thắng!” Trương Nghi khen ngợi một câu, rồi tiếp. “Khi còn trong cốc, tại hạ mang máng Tôn huynh từng nói một câu, bảo là trong binh thư của tiên tổ Tôn huynh có viết, đại ý là ‘thượng sách dụng binh, chính là không đánh mà khuất phục được quân địch’, tại hạ thiết nghĩ rất đúng. Chuyện nước Tề, tại hạ đã có sách lược ‘không đánh mà khuất phục được quân địch’, Bàng huynh hoặc giả không cần thiết phải xông pha sa trường.”

“Như vậy thì không khoái trá! Có điều,” Bàng Quyên do dự một lát, rồi nhổm người về phía trước hỏi, “dám hỏi Trương huynh có diệu kế gì?”

Trương Nghi thì thầm bên tai một hồi.

Bàng Quyên hít sâu vào một hơi, ôm quyền nói: “Trương huynh tuyệt lắm, đây đúng là ‘giết người không thấy máu’!”

***

Trong doanh trại Tề, Mâu Tân sau khi thất bại trong cuộc chiến Tương Lăng, tiếp đến lại để Bàng Quyên chạy thoát nên đã bị Điền Kỵ giáng liền ba cấp, giờ chỉ còn là một tướng quèn, đang ngồi uống rượu giải sầu với mấy ái tướng tâm phúc lúc này cấp bậc đều đã cao hơn hắn.

Rượu vào lời ra, Mâu Tân sẵn hơi men trong người, không kìm chế nổi miệng lưỡi nữa, lè nhè kể tội, nói Điền Kỵ và Trâu tướng quốc có mối tư thù, nay nhân dịp phạt Ngụy, đã lấy việc công báo thù tư, lại nói rằng bắt sống Bàng Quyên là lập công cực lớn, bản thân không thể bỏ qua cơ hội này, sở dĩ né tránh, là vì chiến mã kinh sợ, tất cả tướng sĩ đều có thể làm chứng. Mâu Tân càng buồn bực càng uống nhiều, càng uống nhiều càng nói lắm, càng nói lắm lại càng buồn bực, cuối cùng nói toẹt ra tuốt tuột mọi chuyện đấu đá cả công khai lẫn ngấm ngầm suốt bao năm qua giữa hai phủ Trâu, Điền, khiến đám tâm phúc nghe mà kinh tâm động phách.

Mấy người đang hậm hực trút giận, bỗng nghe “vèo” một tiếng, một mũi tên lao vọt vào, cắm phập lên một trụ gỗ trong trướng.

Vách trướng có tai!

Cả đám người kinh hoàng đến tỉnh cả rượu, mấy bộ tướng lảo đảo đuổi theo ra ngoài cửa trướng, song đến một bóng ma cũng chẳng thấy. Lại quay vào trong trướng, thấy Mâu Tân vẫn đang chết lặng nhìn sững vào mũi tên kia. Một viên bộ tướng bước vội lên, rút mũi tên ra, cảm thấy khác thường, lại quan sát mũi tên thấy có chốt nắp, bèn vặn mở ra xem, thấy bên trong có quấn một vuông lụa, bên trên viết chi chít những chữ. Viên bộ tướng này lại không biết chữ, chau mày nhìn một lát, bèn nói: “Tướng quân mau lại xem, bên trên có chữ!”

Mâu Tân cũng đã tỉnh rượu, xem xét một hồi, hai mắt đột nhiên trợn tròn, tim đập thình thịch như muốn bắn ra khỏi lồng ngực.

“Tướng quân, viết gì vậy?” Viên bộ tướng vừa rút tên đã nhận ra sự bất thường, vội vàng hỏi.

“Ha ha ha, không có gì to tát, chỉ là một mối làm ăn mà thôi!” Mâu Tân cẩn thận nhét bức thư vào trong ống tay áo, đứng dậy, vòng tay nói. “Chư vị huynh đệ, tại hạ có việc gấp phải tới Lâm Truy ngay, nếu Điền tướng quân có hỏi, làm phiền chư vị nói giúp!”

Mâu Tân lập tức mang theo ba con ngựa khoẻ, luân phiên đổi ngựa, phi như bay về Lâm Truy ngay trong đêm, vừa vào trong phủ tướng quốc, đã gọi lớn một tiếng: “Chúa công!” Rồi quỳ sụp dưới chân Trâu Kỵ mà khóc hu hu.

“Mâu tướng quân!” Trâu Kỵ thở dài một tiếng, chậm rãi đỡ hắn dậy. “Chuyện của khuyển tử, lão hủ đã biết rồi, còn cần phải cảm tạ tướng quân!”

“Chúa công hãy xem!” Mâu Tân thôi khóc, lần trong ống tay áo lôi ra bức mật thư, hai tay trình lên.

Trâu Kỵ đỡ lấy, đọc từ đầu đến cuối, hít ngược một hơi khí lạnh, rùng mình một cái, bất giác lảo đảo.

Bởi lẽ thư này không phải viết cho ai khác, mà chính là viết cho tướng Tề Điền Kỵ, người ký tên, chính là Công Tôn Diễn nức tiếng liệt quốc.

Thư viết rằng:

“Tử Kỳ huynh đài,

Thư trước biết được, cạm bẫy đã giăng sẵn sàng ở rừng Hoa Lâm ngoài thành Tương Lăng hai mươi dặm về nam, chuyên đợi ngựa hoang tới. Tại hạ đã hẹn Trịnh huynh vào giờ Thân ngày mai dụ ngựa vào tròng, nhất định sẽ diệt được ngựa này để thoả lòng huynh. Tại hạ trọng nghĩa không trọng lợi, tiền vàng thù lao, không cần nhắc tới.

Tê Thủ khấu đầu.”

“Tử Kỳ! Tê Thủ!” Trâu Kỵ gắng gượng đứng vững, gằn mạnh từng tiếng, giọng nói như thể rít qua kẽ răng.

Tử Kỳ là tự của Điền Kỵ, còn Tê Thủ là biệt hiệu của Công Tôn Diễn.

“Chúa công!” Mâu Tân đã đứng dậy, cất giọng căm hận. “Lệnh công tử đã bị Điền Kỵ kia hại chết oan ức!”

“Hạo Nhi của ta… đã bị người ta hại chết!” Trâu Kỵ nước mắt giàn giụa, khóc không thành tiếng.

“Chúa công!” Mâu Tân không bỏ lỡ thời cơ thêm dầu vào lửa, khóc lóc kể lể. “Lệnh công tử bị người ta hãm hại, mạt tướng có mọc miệng khắp người cũng không thể nào giải thích, chỉ biết giương mắt nhìn lệnh công tử bị… bị Điền Kỵ kia đưa lên đoạn đầu đài. Chúa công, nếu không bắt được bức thư này, thì mạt tướng…” Rồi cứ thế quỳ mọp dưới đất khóc nức nở.

Trâu Kỵ đau thương một hồi, bỗng sực nhớ ra điều gì, bèn lau nước mắt, cẩn thận đặt mật thư của Công Tôn Diễn lên bàn, xem xét kỹ lưỡng, rồi nhớ ra khi Công Tôn Diễn còn là tướng quốc nước Tần từng gửi quốc thư tới Tề, bèn sai người tìm lại bản sao cất ở phủ tướng quốc, đối chiếu kỹ lưỡng, thấy nét chữ giống hệt nhau, rõ ràng mật thư ở trước mặt chính là do Công Tôn Diễn viết.

Trâu Kỵ không còn nghi ngờ gì nữa, dẫn ngay Mâu Tân vào trong Tín cung, khóc rống lên trước điện.

“Trâu ái khanh!” Thấy lão tướng quốc khóc lóc thảm thiết, Uy Vương vô cùng kinh hãi. “Có chuyện gì vậy?”

Trâu Kỵ cũng không giải thích, khóc hu hu một chập, rồi đặt cái gói mang theo bên mình xuống trước mặt Uy Vương, bái lạy sát đất, nghẹn ngào mà rằng: “Đại vương nhân từ, thần Trâu Kỵ thỉnh cầu đại vương, nể tình lão thần tận trung với Tề thất bao nhiêu năm qua, mà thu hồi tướng ấn, để trao cho hiền tài khác!”

“A!” Uy Vương lại càng ngơ ngác. “Trâu ái khanh, khanh tự dưng từ chức, rốt cuộc là vì chuyện gì?”

“Hồi bẩm đại vương!” Trâu Kỵ sụt sùi. “Không phải thần không muốn tận trung, mà là thần… không dám tận trung nữa! Có kẻ lập mưu tính kế, tìm cách hại chết đứa con độc nhất của thần, bước tiếp theo, hẳn là tới lượt lão thần, thần… đã năm mươi sáu rồi, chắc chỉ còn vài năm dương thọ, thỉnh cầu đại vương thu hồi tướng ấn, cho phép lão thần về quê an dưỡng tuổi già, chết được toàn thây!”

“Trâu ái khanh!” Uy Vương đã nghe ra nguồn cơn, nghiêm mặt nói. “Khanh hãy bình thân, có gì từ từ nói!”

Trâu Kỵ lấy từ trong tay áo ra bức mật thư, hai tay trình lên, nói: “Oan khuất của thần, ở hết trong thư này!”

Uy Vương cầm lấy bức thư, nheo mắt đọc, sắc mặt dần sa sầm, hồi lâu, quay sang nội tể: “Triệu ngự sử!”

Ngự sử tới, Uy Vương giao mật thư cho ngự sử, nói: “Kiểm tra thật giả!”

Ngự sử cầm thư đi, đến nửa canh giờ sau, mới quay trở lại bẩm báo: “Thần đã kiểm tra, nét chữ giống hệt chữ Công Tôn Diễn.” Nói rồi, lôi ra bản chính của quốc thư nước Tần cất giữ từ mấy năm trước, hai tay trình lên.

Uy Vương khẽ xua tay, nói: “Khanh đã kiểm tra rồi, quả nhân không cần xem nữa.” Quay sang Trâu Kỵ. “Trâu ái khanh, khanh hãy nói xem, thư này từ đâu mà có?”

Trâu Kỵ bảo nội tể truyền gọi Mâu Tân vào.

Mâu Tân vào điện, tấu trong nước mắt: “Phạt Ngụy lần này, đại vương niệm tình mạt tướng trung dũng, cho mạt tướng làm chủ tướng hữu quân. Mạt tướng thống lĩnh hữu quân, đương nhiên có quyền bổ nhiệm tiên phong. Mạt tướng đã thử tài Trâu Hạo, thấy người này văn võ song toàn, binh pháp thao lược không thua kém gì mạt tướng, nên phá cách bổ nhiệm làm tiên phong, cũng đã viết biểu báo lên đại trướng trung quân. Đại quân tới Tống, Điền tướng quân hạ trại ở Định Đào, sai mạt tướng dẫn hữu quân vây đánh Tương Lăng. Cường binh phía Ngụy đều ở đất Triệu, Tương Lăng yếu ớt, mạt tướng muốn đánh một trận chiếm lấy, nhưng Điền tướng quân không cho, lệnh mạt tướng chỉ vây không đánh, khiêu chiến dưới chân thành, bố trí nghi binh ở cánh rừng ngoài thành. Thần tuy khó hiểu, song vẫn tuân lệnh, bố trí nghi binh ở ngoài thành. Qua vài ngày liền, rùa Ngụy vẫn rụt đầu không ra. Tới ngày thứ ba, Trịnh Khắc đột nhiên xông ra, chẳng nói chẳng rằng, giao chiến với Trâu tướng quân, song không thắng nổi, nên đã tan tác bỏ chạy. Trâu tướng quân dẫn binh đuổi theo, nào ngờ rơi vào bẫy của Công Tôn Diễn. Mạt tướng hay tin, cảm thấy có điều gian trá, vội vã dẫn quân tới cứu viện, song đã muộn mất rồi, từ xa nhìn thấy Trâu tướng quân rơi vào trùng vây, mà vẫn liều mình chiến đấu. Mạt tướng dẫn quân xông vào, bất chấp sống chết cứu lấy Trâu tướng quân, do không hiểu rõ địch tình, không dám tham đánh, mà quay trở về doanh trại. Nào ngờ về doanh trại chưa được bao lâu, đã thấy Điền tướng quân hằm hằm tìm tới, chẳng nói chẳng rằng, trói nghiến Trâu tướng quân vẫn còn đang mệt mỏi nằm nghỉ trong trướng, áp giải tới đại trướng Định Đào. Mạt tướng hay tin, tức tốc tới Định Đào, vừa hay thấy Trâu tướng quân bị đao phủ đẩy ra ngoài trướng, áp giải tới ngoài cửa trướng chém đầu. Mạt tướng bất chấp tất cả, vội vào trong trướng bẩm rõ sự tình, Điền Kỵ chẳng thèm để vào tai, đổ hết tội lỗi lên người mạt tướng, nói mạt tướng tự ý bổ nhiệm tiên phong, ươm mầm hoạ lớn, hạ lệnh chém đầu mạt tướng, may có quân sư Tôn Tẫn thỉnh cầu, Điền Kỵ không tiện cãi cố, mới chịu bỏ qua, song lập tức bãi chức chủ tướng hữu quân của mạt tướng, mạt tướng bị o ép, chịu nhục tới nay…”

Chu Uy Vương nghe xong, sai ngự sử mang chiến báo của Điền Kỵ lại, đọc kỹ một lượt, thấy thời gian, địa điểm, sự kiện, tình tiết đều trùng khớp với lời kể của Mâu Tân, có điều cách giải thích hoàn toàn khác nhau.

Trước chứng cứ rành rành, Uy Vương đã tin là thực. Uy Vương biết rõ hai người Điền, Trâu bất hoà, chỉ không ngờ Điền Kỵ lại to gan lớn mật đến vậy, vì trả thù riêng mà không tiếc thương sinh mệnh của sáu nghìn tướng sĩ viễn chinh, nhất thời giận đến môi miệng run lên bần bật, an ủi Trâu Kỵ xong, quay sang nội tể chiếu lệnh Điền Kỵ lập tức trở về Lâm Truy, vào cung thỉnh tội.

Điền Kỵ là chủ tướng tam quân viễn chinh nước Tề, trọng thần của triều đình, người tuân chỉ xét xử đương nhiên là thái tử đương triều. Nhận được chiếu lệnh, Tích Cương bàng hoàng kinh hãi, vội vã cho triệu Điền Anh vừa mới từ hội thề Chương Thuỷ hồi cung phục mệnh tới bàn bạc.

“Khởi bẩm điện hạ!” Điền Anh trầm ngâm hồi lâu, rồi bẩm tấu. “Thần cho rằng, việc này có nhiều điểm đáng ngờ. Thân là phó tướng, thần hầu như tham dự tất cả quyết sách. Tương Lăng là nơi người Ngụy nhất quyết phải giữ, nên thành cao hào sâu, dễ phòng khó đánh, chỉ vây mà không đánh là mưu kế dài lâu của Tôn tướng quân, mục đích là giảm bớt thương vong, yên lòng người Tống, ép Ngụy Vương triệu hồi Bàng Quyên, chứ không được công chiếm cướp thành, quyết chiến với Ngụy ở Tương Lăng. Xét về mưu lược, xứng là thượng sách. Khi Điền tướng quân hạ lệnh, thần cũng có mặt ở đó, là Mâu Tân chủ động thỉnh mệnh, chứ không phải Điền tướng quân rắp tâm mưu hại. Điền tướng quân là tướng, tính khí cương trực, dụng binh cẩn trọng, yêu quân như con, dứt khoát không có chuyện vì trả thù riêng mà coi sinh mạng hơn năm nghìn tướng sĩ như cỏ rác. Huống hồ, Điền tướng quân ôm nhục mười năm, cuối cùng đã có cơ hội quyết chiến rửa nhục, sao lại có thể chưa chiến đã cố tình tiêu hao quân mình? Hơn nữa, Trâu công tử tòng quân, được Mâu Tân đặc cách cho làm tiên phong, về lý mà nói cần phải báo lên trung quân, nhưng đừng nói là chủ tướng, thần là phó tướng cũng không hề hay biết. Sau khi sự việc xảy ra, thần và chủ tướng mới biết Trâu Hạo là lệnh lang của tướng quốc! Đã không biết, thì sao lại nói là rắp tâm được?”

“Đúng vậy!” Tích Cương sắc mặt trầm ngâm, hai mắt nhìn trân trân vào cái gọi là “bằng chứng rành rành” mà Uy Vương vừa chuyển tới. “Nhưng ngự sử đã kiểm tra, thư này đúng là bút tích của Công Tôn Diễn! Lời ái khanh nói, đều là suy đoán, nhưng thư này lại là vật thực. Nếu là sự thực, Điền Kỵ sẽ bị khép vào tội chết. Tề mà không có Điền Kỵ, Tích Cương không thể tưởng tượng!”

“Thần còn một điểm nghi ngờ!” Điền Anh không cần biết bút tích là giả hay thật, tiếp tục phân tích. “Chuyện vây khốn Trâu Hạo, thần biết là mưu kế của Công Tôn Diễn, bèn lập tức sai người điều tra rõ ràng, theo tin đáng tin cậy báo về, Công Tôn Diễn sau khi từ Tần về Ngụy, vẫn ở ngoại ô Đại Lương cày cấy, chưa làm quan lấy một ngày, lần này tới Tương Lăng giúp Trịnh Khắc, chỉ là quyết định cá nhân, không phải Ngụy Vương trao mệnh. Công Tôn Diễn có lẽ đã liên lạc với Trịnh Khắc, chứ không thể liên lạc với Điền tướng quân được. Thứ nhất, hai người này xưa nay chưa từng qua lại, Điền tướng quân dù muốn thông đồng với địch, cũng phải liên lạc với Trịnh Khắc mới đúng, chứ không thể là với Công Tôn Diễn. Hơn nữa, Điền tướng quân cũng không hề hay biết Công Tôn Diễn lại đột nhiên xuất hiện ở Tương Lăng!”

“Ái khanh nói chí phải!” Tích Cương cũng cho là vậy, ngẫm nghĩ một lát, lại nói. “Tuy nhiên, dưới gầm trời này, phàm việc gì cũng có thể xảy ra. Đã là thông đồng bí mật, thì không thể kết án bằng suy luận thông thường.” Dừng lại một lát, rồi dứt khoát. “Phiền ái khanh tới A Ấp một chuyến, mời Điền tướng quân hồi cung điều tra. Sự việc không điều tra không rõ ràng, lý lẽ không tranh luận không sáng tỏ, ái khanh nói có phải không?”

“Thần tuân mệnh!”

Điền Anh nhận chỉ, lập tức lên đường, chỉ vài ngày đã tới trướng trung quân ở A Ấp, vào trong trướng Tôn Tẫn, kể sơ qua một lượt về chuyện này và bút tích của Công Tôn Diễn.

“Than ôi!” Tôn Tẫn nghe xong, thở dài một tiếng, chỉ vào hai đầu gối của mình nói. “Hai đầu gối của tại hạ, chính là đã bị một bức thư giả khoét mất!”

“Ý quân sư là, bức thư này do Bàng Quyên làm giả?” Điền Anh thoáng sững sờ.

“Đúng cũng vậy, mà không đúng cũng vậy, sự việc đã xảy ra rồi.”

“Theo ý quân sư, nên làm thế nào mới phải?”

“Báo cho Điền tướng quân, để tướng quân biết rõ sự tình.”

Điền Anh vội tới trướng Điền Kỵ, kể hết mọi chuyện.

Còn chưa kịp nghe hết, Điền Kỵ đã nghiến răng ken két, đập bàn quát lên: “Tiểu nhân Mâu Tân, gian tặc Trâu Kỵ, hại chết sáu nghìn tướng sĩ của ta còn chưa tính sổ, lại còn nghĩ ra quỷ kế, hãm hại tại hạ. Hãy xem ta dẫn quân đánh về Lâm Truy, giết chết Mâu Tân, tính sổ với lão tặc Trâu Kỵ.”

Điền Anh hiểu rõ Điền Kỵ chỉ là nhất thời giận dữ, đợi Điền Kỵ nguôi ngoai cơn giận, bèn ra sức khuyên can một hồi, bảo Điền Kỵ cứ tạm thời hồi cung, giải thích rõ ràng với Uy Vương. Điền Kỵ ngẫm nghĩ một lát, nói: “Hồi cung không khó, chỉ có điều hiện tại còn nhiều việc quân cần giải quyết, đợi tại hạ xử lý xong, vài ngày nữa sẽ lập tức hồi cung, cùng với gian đồ Mâu Tân và lão tặc Trâu Kỵ đối chất rõ ràng trước công đường, xem ta ăn tươi nuốt sống bọn họ!”

Đêm khuya tăm tối, tai vách mạch rừng, cuộc trò chuyện giữa hai người sớm đã bị một kẻ áo đen nghe không sót một câu, rồi quay về ngay trong đêm, mật báo với Mâu Tân. Trâu Kỵ lại mang chuyện này đến làm ầm làm ĩ tại Tuyết cung. Uy Vương nổi trận lôi đình, không hỏi nguyên do, lập tức sai nội tể mang chiếu thư tức tốc tới A Ấp. Thấy vẫn không yên tâm, Trâu Kỵ lệnh cho Công Tôn Hãn cùng đi theo. Đoàn người tới đại trướng tam quân, nội tể tuyên chỉ, cách chức chủ tướng của Điền Kỵ, thu hồi ấn thụ chủ tướng tam quân, bổ nhiệm Điền Anh làm chủ tướng, áp giải nghịch tặc Điền Kỵ về cung trị tội.

Đường đường là chủ tướng tam quân, chốc lát đã bị nhốt vào trong xe tù, áp giải tới Lâm Truy, khiến toàn quân xôn xao náo loạn. Đám vệ sĩ tâm phúc của Điền Kỵ nhận được tin dữ, kinh hãi rụng rời, bất chấp tất cả đuổi theo ra khỏi cổng doanh trại, chặn đứng xe tù đã đi được vài dặm, cưỡng chế quay trở lại đại trướng trung quân, quỳ bên ngoài trướng, cầu xin tân chủ tướng Điền Anh.

Nội tể ngỡ là quân sĩ làm phản, trong lúc hoảng loạn, nghiêm khắc hạ lệnh cho Điền Anh trấn áp.

Nhìn thấy tướng sĩ bất mãn kéo tới mỗi lúc một đông, Điền Anh không tiện dùng vũ lực, bèn mềm mỏng khuyên nhủ, rồi quay trở vào trong trướng, nói với nội tể: “Giằng co nãy giờ, cũng đã muộn rồi, tể công chi bằng đợi tới giờ Thìn sáng mai hãy lên đường, mạt tướng sẽ đích thân áp giải, được chăng?”

Nội tể nhìn sang Công Tôn Hãn.

Công Tôn Hãn hiểu rõ đám đông giận dữ không thể mạo phạm, ngẩng nhìn sắc trời rồi nói: “Vậy cũng được!”

Đêm đó, Điền Anh cấp tốc tới trướng Tôn Tẫn, gấp rút bàn bạc.

“Sự việc đã tới nước này,” Tôn Tẫn ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nói, “Điền tướng quân không nên về cung!”

“A…” Điền Anh ngần ngừ một lát, hỏi. “Nếu không về, chẳng phải là thừa nhận tội danh?”

“Nếu đã bị người ngoài vu cáo, thừa nhận cũng thế, mà không thừa nhận cũng vậy, đại vương trong cơn thịnh nộ, phán đoán ắt sẽ sai lầm. Trâu tướng quốc đang đau đớn vì mất con, hẳn cũng không còn lý trí. Huống hồ họ có chứng cứ trong tay, Điền tướng quân có miệng khó cãi, nếu như về cung, cũng là lành ít dữ nhiều!”

“Nếu vậy, phải làm thế nào?”

“Bỏ trốn!”

“Bỏ trốn? Trốn thế nào?”

“Có thể ngấm ngầm phái những tướng sĩ đã cản đường xe tù hôm nay cướp tướng quân đi, trốn khỏi đất này, tạm thời tới nơi khác lánh nạn. Tỳ vết không che được ánh ngọc, đợi thời thế thay đổi, ắt sẽ có ngày chân tướng phơi bày. Lúc đó, ta lại bẩm báo sự thực lên chúa thượng, chúa thượng sẽ trả lại danh phận cho tướng quân.”

“Xin kính cẩn nghe theo lời quân sư!”

Ngay đêm đó, đám bộ tướng gây rối lúc ban ngày đã phá xe tù, đưa Điền Kỵ bỏ trốn mất tăm. Điền Anh tự mình gánh hết tội lỗi trị quân không nghiêm, dâng biểu thỉnh tội.

***

Sau hội thề Chương Thuỷ, người Ngụy rút lui đúng như giao hẹn, Triệu Ung dẫn theo hơn mười vạn quân quay trở lại Hàm Đan, đứng trước kho tàng đã bị người Ngụy cướp bóc sạch trơn và cảnh tượng hoang tàn mà người Ngụy để lại, hạ quyết tâm dốc sức phục hưng đất nước.

Bao việc dang dở đến tay, Tô Tần đi sớm về muộn, vất vả bôn ba bên ngoài, hôm nay đến tận tối mịt mới mệt mỏi rã rời trở về tới phủ.

Thu Quả bước ra đón, giúp Tô Tần tháo đai cởi áo, đưa vào phòng tắm, hầu hạ tắm táp xong xuôi, rồi bày bàn rượu, bưng lại mấy món ăn do nàng đích thân nấu nướng. Có lẽ do mệt, cũng có lẽ do nhiễm lạnh, Tô Tần cứ nhìn bàn ăn, mãi không động đũa.

“Tiên sinh!” Thu Quả nhìn Tô Tần chăm chăm, nước mắt ứa ra. “Quả Nhi… biết là không ngon, ngay sáng sớm nay Quả Nhi đã ra chợ mua cá thịt, nhưng… đi khắp cả chợ, đừng nói là thịt, đến rau cũng hiếm, đã mã xấu lượng ít, giá lại cao ngất ngưởng, đắt không biết bao nhiêu lần so với lúc trước khi chúng ta ra khỏi thành, nên Quả Nhi…” Nói nửa chừng thì nghẹn ngào, đưa ống tay áo lên lau nước mắt.

Thu Quả vào sống trong phủ tướng quốc với danh phận là con gái nuôi của Tô Tần, tuy nhiên, ngoài một lần duy nhất gọi Tô Tần là nghĩa phụ vào hôm làm lễ nhận cha nuôi, sau đó dù có người ngoài hay không, Thu Quả đều không gọi thế nữa, sớm tối gặp mặt, đều chỉ gọi là tiên sinh.

“Quả Nhi!” Tô Tần mỉm cười, giải thích. “Là cha đã ăn ở trong cung rồi, đại vương ban cho cha rất nhiều thứ ngon, cá thịt đầy ắp cả một bàn lớn, khiến cha ăn đến no căng bụng!”

“Tiên sinh nói dối!” Thu Quả bước tới trước mặt Tô Tần, hít ngửi vài lượt trên đầu, trên người hắn. “Nếu đã ăn rồi, sao lại không ngửi thấy mùi thức ăn?”

Tô Tần chỉ vào Thu Quả, cười mà nói: “Con ơi, sao không chịu động não một tí? Dù mùi thức ăn có nhiều đến mấy, cũng bị cả thùng nước nóng to tướng của con rửa trôi hết rồi còn đâu!”

“Quả Nhi ngốc thật!” Thu Quả lúc này mới nhớ Tô Tần vừa tắm xong, thì nhoẻn miệng cười khúc khích, đang định nói tiếp, bỗng nghe thấy có tiếng bước chân vọng lại, vội vàng bước ra đón, thì ra là quản gia Viên Báo.

“Chúa công!” Viên Báo bẩm báo. “Có khách tới cầu kiến, đã đưa vào phòng khách đợi rồi!”

“Mời vào!” Tô Tần vừa dứt lời, lại cảm thấy không ổn, vội đứng dậy ra đón, bất đồ nhìn thấy người đang đợi mình chính là đại sư huynh tiểu đồng trong Quỷ Cốc, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, vội vòng tay chào: “Đại sư huynh, không ngờ lại là huynh!”

Tiểu đồng lại không đáp lễ, chỉ cười cười, chỉ vào bụng mà nói: “Tướng quốc đại nhân, hãy mau thưởng chút đồ ăn, đại sư huynh đói rồi!”

“Đại sư huynh, mời!” Tô Tần vòng tay nhường đường.

Tiểu đồng đúng là đói thực, vừa ngồi xuống bàn, chẳng nói câu nào, đã cắm cúi ăn cho đến kỳ no, sau đó lấy ra một túi gấm đưa cho Tô Tần, nói: “Sư đệ, vật này là chị Thiền Nhi gửi cho sư đệ, dặn sư đệ nửa đêm mới được mở ra!”

Nghe nói là của Ngọc Thiền gửi đến, Tô Tần trong lòng run bắn, vì không biết là vật gì, lại dặn nửa đêm mới được mở, nên quả thực không tiện từ chối, đành hai tay nhận lấy, cất vào trong ống tay áo, vòng tay nói: “Nhờ đại sư huynh chuyển lời tới sư tỷ, Tô Tần vô cùng cảm tạ!”

Tiểu đồng không nói thêm một lời, lập tức đứng dậy cáo biệt. Tô Tần giữ không được, đành phải tiễn ra ngoài phủ, nhìn theo tới khi bóng đại sư huynh khuất hẳn trong màn đêm, thở ngắn than dài hồi lâu, mới trở vào trong phủ.

Thu Quả cũng đã thu dọn xong xuôi, châm hương thơm, bày đàn, lại buông tay áo gảy đàn như thường lệ.

Tô Tần khép mắt lắng nghe một khúc, rồi cười nói: “Thu Quả, đêm khuya rồi, con hãy về nghỉ đi. Cha… cũng mệt rồi!

“Tiên sinh!” Thu Quả đẩy đàn sang bên cạnh, xoay nghiêng khuôn mặt lại hỏi. “Quả Nhi có một chuyện không rõ. Người vừa tới trẻ hơn tiên sinh rất nhiều, cớ sao tiên sinh lại gọi là sư huynh?”

Tô Tần vốn đã đứng dậy, lại ngồi trở xuống, kể cho Thu Quả nghe mọi chuyện ở Quỷ Cốc, giải thích nguyên do tại sao lại phải gọi là đại sư huynh, và chuyện đại sư huynh đã dẫn dắt bốn người họ tu đạo trong núi ra sao.

“Thế còn chị Thiền Nhi?” Thu Quả nhìn chăm chăm vào Tô Tần, hỏi tiếp. “Người đó là ai?”

“Nàng ấy ư?” Tô Tần khẽ nhổm người dậy. “Nàng là sư tỷ của mấy người chúng ta!”

Thu Quả vẫn truy hỏi: “Vậy chị Thiền Nhi đó, hẳn là rất thích tiên sinh?”

Tô Tần lừ mắt nhìn nàng, quở trách: “Thiền Nhi là sư tỷ của cha, con nên gọi nàng là dì mới phải, tiểu bối không thể xưng hô bừa bãi.”

“Sư tỷ cái gì?” Thu Quả mím chặt môi. “Làm gì có sư tỷ nào lại nghìn dặm gửi đồ tới cho sư đệ, còn bắt sư đệ nửa đêm mới được mở ra xem?”

Tô Tần cứng họng, mặt mũi đỏ gay, rồi đứng phắt dậy, sải bước vào phòng ngủ, vừa đi vừa nói: “Con bé này, đừng có nghĩ lung tung, mau đi ngủ đi!”

“Không đời nào!” Thu Quả bám sát theo sau, cong môi mà nói. “Đêm nay, Quả Nhi sẽ ngủ trong phòng tiên sinh, ngủ ngay trên giường tiên sinh, cứ thế đợi tới nửa đêm, xem tiên sinh có mở cái túi thơm đó ra được không!”

“Quả Nhi!” Tô Tần thấy nàng cứ thế theo vào tận trong phòng thật, thì dừng lại, đẩy nàng ra khỏi cửa, nói. “Con gái lớn rồi nói ra những lời thế này mà không biết xấu hổ! Đi mau, nếu không, cha gọi Viên Báo đến lôi cổ con ra đấy.”

“Không đi, không đi, Quả Nhi dứt khoát không đi!” Thu Quả bám chặt lấy then cửa, nước mắt ứa ra, giận dỗi nói. “Trừ khi tiên sinh cho Quả Nhi xem cái thứ mà người đàn bà kia từ nghìn dặm gửi tới là bảo bối gì!”

“Được rồi, được rồi!” Tô Tần mỉm cười. “Quả Nhi ngoan, ngày mai cha nhất định sẽ cho con xem túi thơm! Hôm nay mệt rồi, cha muốn được nghỉ ngơi.”

Tô Tần nhẹ nhàng an ủi, vừa dỗ dành vừa đẩy Thu Quả ra khỏi cửa, rồi cài chặt then, nghe tiếng Thu Quả nức nở xa dần, mới quay vào phòng nằm xuống. Đợi tới nửa đêm, Tô Tần trở mình ngồi dậy, thắp đèn, mở túi gấm ra, chỉ thấy bên trong có một hoàn thuốc màu nâu sẫm, bên cạnh còn một vuông lụa, chữ viết bên trên, đúng là nét chữ thanh thoát của Ngọc Thiền.

Tô Tần đọc kỹ một lượt, hít sâu một hơi, đốt vuông lụa đi, thổi tan tàn tro, rồi ra ngoài đi tiểu, sau đó lên giường, chìm vào giấc ngủ.

Trời còn tờ mờ sáng, Thu Quả vẫn canh cánh bên lòng chuyện chiếc túi gấm của Ngọc Thiền, bèn hấp tấp tới phòng ngủ của Tô Tần, khẽ đẩy cửa, không thấy cài then, thì rón rén bước vào trong. Trên giường, Tô Tần đang say giấc nồng. Thu Quả đứng trước giường, nhờ ánh sáng hắt vào qua song cửa sổ, nhìn Tô Tần với ánh mắt chan chứa thâm tình. Người đàn ông đó, với nàng, chẳng phải là yêu, chẳng phải là hận, cũng chẳng phải là oán, vừa muốn chạm tới, lại vừa muốn thoát ra, người đàn ông mà số phận đã ban tặng cho nàng, song lại nhẫn tâm tách nàng ra xa, người đàn ông đã từng chịu ơn nàng, nhưng hiện giờ, nàng lại không thể không làm chuyện khuất tất với người đó. Bên khoé mắt nàng, lệ đã ứa ra.

Tô Tần dường như đang mê ngủ, khẽ mấp máy môi vài cái, lại trở mình ngủ tiếp.

Thu Quả bất ngờ nhìn thấy, trên ngực áo vừa hé mở của Tô Tần có đeo một con ve bằng vàng.

Nhớ tới “chị Thiền Nhi” mà người tối qua nhắc tới, Thu Quả hờn ghen trỗi dậy, tìm kiếm lục lọi khắp nơi, thấy túi gấm vẫn ở trong ống tay áo của Tô Tần, bèn khẽ khàng lấy ra, thấy túi đã mở, bên trong chẳng có thứ gì, chỉ có một hoàn thuốc.

Thu Quả ngỡ ngàng, ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi đặt hoàn thuốc trở lại chỗ cũ.

Tới gần trưa, Trâu Phi Đao dẫn Mộc Hoa vào phủ, thấy Thu Quả cũng ở đó, bèn kiếm cớ đưa nàng ra ngoài.

Thu Quả đi rồi, Mộc Hoa đưa ra một túi gấm, là của Cơ Tuyết, bên trong chỉ có một món đồ thêu, là một bức tranh, thêu một bàn tay ngà ngọc đang vuốt ve cái bụng căng tròn. Nhìn vào bàn tay đó, Tô Tần như thể trông thấy một khuôn mặt xinh đẹp tràn trề hạnh phúc.

Thấy Cơ Tuyết bày tỏ thẳng thắn, không chút kiêng dè như vậy, Tô Tần trong lòng run bắn, khẽ hỏi: “Mộc huynh, công chúa ổn chứ?”

“Tất cả đều rất ổn!” Mộc Hoa đáp lời.

“Kế cung có quấy nhiễu không?”

“Trước mắt thì không. Công chúa nhờ người mời một bà mo tới, nói là làm phép cho tiên quân, sau đó tuyên bố hậu viện là cấm địa, ngoài thân tín, bất kỳ ai cũng không được phép bén mảng. Kế cung dường như cũng đã lãng quên nơi này, chẳng một ai ngó ngàng đến nữa.”

“Mộc huynh!” Tô Tần nhìn thẳng vào Mộc Hoa, căn dặn. “Đối với tại hạ, sự an nguy của công chúa vô cùng quan trọng!”

“Chúa công yên tâm!” Mộc Hoa trịnh trọng gật đầu. “Mọi việc ở Hàm Đan đã xong xuôi, sư phụ Khuất Tương đã tới đất Yên, ngày đêm trông chừng. Có sư phụ ở đó, tin rằng không xảy ra chuyện gì bất trắc!”

Tô Tần thở phào một tiếng, đang định trò chuyện tiếp với Mộc Hoa thì Trâu Phi Đao quay trở vào, theo sau còn có một người nữa, chính là Mộc Thực.

Mộc Thực cũng đưa ra một túi gấm, bên trong là mật thư do đích thân Tôn Tẫn viết.

Thực đáng kinh ngạc, hai anh em sinh đôi này cứ như thể đã bàn bạc từ trước, đến từ hai nơi khác nhau, cùng đem tới những tin tức quan trọng nhất từ hai người mà Tô Tần quan tâm nhất trên cõi đời này, một mừng một lo, một sinh một tử, đã thế lại chỉ cách nhau khoảng thời gian chưa đầy một nén hương.

Đọc xong thư của Tôn Tẫn, Tô Tần bất giác sờ vào trong ống tay áo, thấy túi thơm vẫn còn, bèn khẽ hỏi Mộc Thực: “Quân sư ổn không?”

“Hiện tại vẫn ổn.” Mộc Thực đáp. “Người bị hãm hại là Điền tướng quân, không phải quân sư. Tề Vương sai người bắt Điền tướng quân nhốt vào xe tù, là quân sư đã thuyết phục Điền Anh đại nhân thả Điền tướng quân đi.”

“Điền tướng quân trốn tới đâu rồi?”

“Qua Tống vào Sở, có lẽ là tới Uyển Thành. Điền tướng quân có giao tình với Cảnh Thuý nước Sở, nói là sẽ đến cậy nhờ Cảnh Thuý.”

“Vậy thì tốt rồi!” Tô Tần viết một bức thư, lấy túi gấm ở trong ống tay áo ra, kiểm tra hoàn thuốc, thấy không có gì bất thường, bèn đút vào trong túi gấm cùng với bức thư, khâu kín lại rồi đưa cho Mộc Thực. “Mộc huynh hãy lập tức tới A Ấp, tận tay giao túi gấm này cho Tôn Tẫn.”

***

Điền Kỵ bỏ trốn, Điền Anh trấn áp không nổi, khắp doanh trại rối tung rối mù. May sao chiến sự đã kết thúc, biên giới nước Ngụy cũng không có gì bất thường, Điền Anh tấu thỉnh Tề Vương giải tán quân năm đô, lập tức nhận được ân chuẩn. Các tướng sĩ tới từ năm đô đều nóng lòng muốn được về nhà, hối hả chuẩn bị hành trang, bên ngoài ngoại ô A Ấp, doanh trại tam quân đều bận rộn tất bật.

Mộc Thực cầm lệnh bài thông hành do đại trướng trung quân đặc biệt cấp phát, dễ dàng qua cửa doanh trại, nhân lúc trời tối, tới thẳng trại của Tôn Tẫn mà không bị ai chú ý. Tôn Tẫn nhận ra Mộc Thực, tìm cách đuổi hết tuỳ tùng ra ngoài. Mộc Thực xé lớp áo nâu, lấy ra chiếc túi thơm từ trong lần vải lót, trình lên. Tôn Tẫn mở túi, lấy vuông lụa ra, thấy là nét chữ quen thuộc của Tô Tần, viết rằng: “Kính cẩn trình Tôn huynh”, tiếp đó viết: “Kinh hãi hay tin Điền tướng quân ngộ nạn, lòng đệ đau như cắt. Được biết Tôn huynh vẫn bình yên vô sự, đệ cũng được an ủi phần nào. Chiều muộn hôm qua, đại sư huynh đích thân tới tệ xá, chuyển tới đệ túi thơm của sư tỷ, trong túi là vật tiên sinh gửi tặng cho huynh, chính là thuốc chết, huynh hãy uống vào, ba canh giờ sau dược tính phát tác, chết một tháng sẽ tỉnh. Hậu sự của huynh, đã có tại hạ lo liệu. Cấp bách, Tần đệ kính bái.”

Tôn Tẫn đọc xong, nhìn sang Mộc Thực, hỏi: “Tô tướng quốc vẫn ổn chứ?”

Mộc Thực gật đầu.

“Bẩm lại tướng quốc, nói rằng tại hạ xin đa tạ.” Tôn Tẫn vòng tay cảm tạ, rồi lấy hoàn thuốc ra bỏ vào trong miệng, chiêu một ngụm nước uống xuống, rồi đem đốt bức thư cùng với túi gấm, nhìn Mộc Thực mỉm cười. “Mộc Thực huynh đệ, tại hạ không giữ huynh đệ nữa!”

Mộc Thực quỳ xuống, dập đầu ba cái, rồi đứng dậy rời đi, biến mất vào trong bóng tối.

Sáng ngày hôm sau, tuỳ tùng vào trong trướng, định hầu Tôn Tẫn rửa mặt chải đầu, thì phát hiện ra Tôn Tẫn hơi thở gấp gáp, đã hôn mê bất tỉnh trên giường, vội vã báo lên Điền Anh.

Điền Anh lập tức đến ngay, cho triệu đông đảo thầy lang tới chẩn bệnh, song đều không đoán ra được bệnh gì. Nhìn Tôn Tẫn bệnh tình mỗi lúc một thêm nguy kịch, hơi thở có ra mà không có vào, sắc mặt trắng bệch, mạch tượng huyền tế, nhịp tim cứ thế chậm dần, nhìn vào đều thấy lành ít dữ nhiều, Điền Anh không dám chậm trễ, vội sai quân ruổi ngựa cấp tốc báo lên Uy Vương, đồng thời nhắn cho Thuỵ Mai biết bệnh tình của Tôn Tẫn.

Uy Vương hay tin kinh hãi rụng rời, lệnh cho ngự y cấp tốc tới chữa trị. Thuỵ Mai sắp tới ngày lâm bồn, bỗng đâu nhận được tin dữ, bất chấp bụng mang dạ chửa, cũng nằng nặc leo lên xe chiến tới A Ấp. Đường đi gập ghềnh, lại thêm trong lòng nôn nóng, Thuỵ Mai thân thể khó kham, tới ấp Lịch Hạ bên bờ Tế Thuỷ thì vỡ ối. Đi theo xe có bà đỡ, còn có cả ngự y, Thuỵ Mai lại là thai thứ hai, nên sinh nở thuận lợi, được một con trai.

Sau khi sinh, cơ thể yếu ớt, ngự y dặn nàng tạm thời ở lại Lịch Hạ nghỉ ngơi, đợi sức khoẻ hồi phục hãy tới A Ấp, nhưng Thuỵ Mai nhất quyết không chịu, dứt khoát đòi theo ngự y tới chỗ Tôn Tẫn.

Đoàn người đi ngày đi đêm, song đến khi tới được doanh trại, đã muộn mất rồi, Tôn Tẫn đã tắt thở vài ngày trước đó. Thuỵ Mai đau đớn, ôm lấy thi thể Tôn Tẫn khóc ngất mấy lần, may mà có ngự y ở bên, kịp thời cứu được tính mạng.

Hai đại công thần cứu Triệu, chưa đầy một tháng, người thì bỏ trốn, người thì ốm chết, binh lính năm đô không ai không thấy đau buồn. Nhiều tướng sĩ đã trên đường hồi hương, lại lộn trở về tiễn đưa Tôn Tẫn.

Thuỵ Mai không chịu đựng nổi những giày xéo thân tâm, cuối cùng đổ bệnh.

“Tẩu phu nhân!” Điền Anh tới thăm Thuỵ Mai, trước khi ra về bèn hỏi. “Quân sư đã nhập liệm, mai táng nơi đâu, tẩu phu nhân ý tứ thế nào?”

“Tạ ơn tướng quân quan tâm!” Thuỵ Mai nước mắt giàn giụa. “Tôn Tẫn mai táng nơi đâu, phận đàn bà không dám quyết định. Dưới gầm trời này, người hiểu Tôn Tẫn, không ai hơn được Tô huynh, phiền tướng quân hãy mời Tô huynh tới đây, tang lễ thế nào, mai táng nơi đâu, Thuỵ Mai nhất nhất nghe theo Tô huynh.”

“Nếu nói như vậy, tẩu phu nhân cứ yên tâm!” Điền Anh đáp lời. “Năm ngày trước, Điền Anh đã phái người phi ngựa tới Hàm Đan, nếu không có gì bất trắc, Tô Tử lúc này hẳn đang trên đường tới đây rồi.”

Quả đúng như vậy, hai ngày sau, Tô Tần tới nơi, phủ phục trước linh cữu Tôn Tẫn, khóc lóc thảm thiết.

Điền Anh lại hỏi nên mai táng ở đâu, Tô Tần đáp lời: “Lá rụng về cội. Đất tổ, từ đường của Tôn huynh đều ở Chân Ấp, chúng ta hãy đưa Tôn huynh về quê tổ chôn cất, có lẽ sẽ giúp Tôn huynh được thoả nguyện.”

“Xin kính cẩn theo lời Tô đại nhân!” Điền Anh bèn hạ lệnh đưa quan tài lên đường, đồng thời tấu báo lên cung Tề về việc cử hành tang lễ Tôn Tẫn.

Phường bát âm rền rĩ tấu nhạc tang, ba mươi hai vị tướng quân chia thành bốn nhóm, mỗi nhóm tám người, thay phiên nhau khiêng quan tài, hơn vạn tướng sĩ đều mặc áo sô gai, cả đoàn người ngựa đông đảo, nghìn nghịt tiến về Chân Ấp, chôn cất quan tài Tôn Tẫn tại đất tổ.

Vài ngày sau, chiếu lệnh của Uy Vương cũng tới, truy phong Tôn Tẫn là Định Quốc Quân, thực ấp nghìn hộ, lại phát trăm đĩnh vàng, tu sửa từ đường và đất tổ của họ Tôn, lập bia dựng đền thờ tưởng niệm.

***

Do Hắc Điêu có mặt khắp nơi, nên Trương Nghi gần như lập tức nhận được tin Tôn Tẫn qua đời, khiến hắn rụng rời kinh hãi.

“Đến một cọng lông mũi của tại hạ cũng không chịu tin!” Bàng Quyên cười khẩy một tiếng, nhún vai nói. “Không giấu Trương huynh, cái trò này Tôn Tẫn đã giở ra nhiều lần lắm rồi. Tại hạ không hề nói oan, con người Tôn huynh hết sức khó lường, năm xưa hắn giả điên giả dại, đến cả phân cũng bốc nhét vào trong miệng, tại hạ thương xót hắn, chăm sóc hắn, còn hắn thì sao? Trương huynh hẳn cũng đã biết, từ đầu tới cuối, hắn chỉ lừa dối tại hạ. Lần này, không chỉ lừa tại hạ, mà còn lừa cả Trương huynh!”

“Sống là sống, mà chết là chết, lừa thế nào được?” Trương Nghi trách Bàng Quyên một câu, rồi thở dài nói. “Bàng huynh, bất luận thế nào, bốn người chúng ta đều là đệ tử đồng môn, có đấu có đá ra sao, thì những tháng năm trong Quỷ Cốc cũng từng ăn chung một nồi, đọ tài một chỗ, tình nghĩa đó, không gì có thể chia cắt được. Tại hạ tin rằng Tôn huynh đã chết thật, có lẽ Tôn huynh không kham nổi nữa. Cơ thể tàn tật, bôn ba nghìn dặm, lại phải moi gan vắt óc ra đấu trí đấu dũng với Bàng huynh, cộng thêm cảnh ngộ của Điền Kỵ, hẳn là Tôn huynh…”

“Có cách rồi!” Bàng Quyên đảo con ngươi vài vòng. “Nghe Trương huynh nói, Tôn huynh đã lấy công chúa Thuỵ Mai, sinh được một nam một nữ, thực hay quá! Tại hạ sẽ sai Bàng Thông hộ tống phu nhân Thuỵ Liên tới Chân Ấp thăm hỏi, một là an ủi chị gái, hai là thay mặt chúng ta phân ưu, nhân tiện thăm dò thực hư, chẳng phải càng tốt ư!”

“Cứ theo ý Bàng huynh!”

Linh cữu Tôn Tẫn chôn dưới đất chưa tới bảy ngày, Bàng Thông và Thuỵ Liên đã tới nơi. Tô Tần phụ trách việc tang sớm đã tỏ tường, sắp xếp mọi việc không một mảy may sơ suất, cứ mặc cho Bàng Thông đi lại thoải mái, tuỳ ý nghe ngóng thăm dò. Thuỵ Mai vẫn không hề hay biết nội tình, khóc lóc thảm thiết, thấy em gái tới thăm, thì càng nước mắt như mưa, nức nở một hồi lại ngất lịm.

Bàng Thông dò la vài ngày, xem xét lăng mộ và chiếu phong của Tề Vương, lại quan sát lời nói sắc mặt, thám thính khắp nơi, tập hợp tin tức từ mọi ngả, kết luận vẫn chỉ có một: Tôn Tẫn đã chết thực.

Chân Ấp nhỏ bé heo hút, làm gì cũng bất tiện. Thuỵ Liên sống ở Đại Lương đã quen, chưa nổi vài ngày, đã quyết định trở về.

“Chị ơi!” Thuỵ Liên mắt ngấn lệ nói với Thuỵ Mai. “Tôn tướng quân đi rồi, tâm nguyện của chị thôi hãy coi như xong. Chốn này hẻo lánh, chị lại một mình nuôi hai con mọn, nhất là thằng bé này vẫn chưa đầy tháng, bất tiện vô cùng. Hay là, chị hãy theo em về Đại Lương, trở về sống trong phủ thái tử. Có thái tử bên cạnh, em cũng cảm thấy yên tâm phần nào. Hơn nữa, em cả ngày rỗi rãi, cũng tiện ghé qua thăm chị. Phu quân em yêu trẻ nhỏ, chắc chắn sẽ đối xử tốt với hai cháu, nhất là thằng bé này, đợi nó lớn lên, em sẽ nhờ phu quân dạy nó binh pháp, chưa biết chừng lại sẽ là một tướng quân!”

“Cảm tạ ý tốt của em!” Thuỵ Mai nói. “Con gái lấy chồng khác nào bát nước đổ đi, chị đã được gả cho họ Tôn, sống là người của họ Tôn, chết là ma của họ Tôn. Tổ ấp của họ Tôn là ở đất này, Tề Vương hậu đãi họ Tôn, lại còn phong cho nghìn hộ, đủ để nuôi sống cả nhà. Hơn nữa, thi thể phu quân còn chưa lạnh, vẫn đang nằm trơ trọi trong quan tài dưới lòng đất, em bảo chị sao có thể…” Rồi lại khóc nức nở.

Thuỵ Liên hiểu rõ tính tình của Thuỵ Mai, chỉ biết than thở vài tiếng, rồi bịn rịn chia tay.

Chân Ấp cách Đại Lương chỉ hơn ba trăm dặm, Thuỵ Liên chưa tới vài ngày đã về đến nhà, kể lại kỹ càng mọi chuyện. Bàng Quyên lúc này mới tin Tôn Tẫn chết thực, thở phào một tiếng, song lại không tránh khỏi hụt hẫng trong lòng, lúc này mới thấm thìa nỗi tiếc thương tri âm đã mất.

Đêm xuống, trong hậu hoa viên phủ Bàng Quyên, khu nhà năm xưa Tôn Tẫn từng sống và giả điên đã được sắp đặt thành linh đường của Tôn Tẫn, nam nữ già trẻ trong phủ đều mặc áo tang, mời vu sư làm lễ, nhạc tang nỉ non. Bàng Quyên trong lòng bi thiết, khóc lớn thành tiếng.

Đang lúc Bàng Quyên khóc lóc thảm thiết thì Trương Nghi tới, hai người ngồi trước linh đường của Tôn Tẫn, bày một bàn thức ăn và bốn cái chén, bê tới một hũ rượu, vừa uống giải sầu, vừa ôn lại những chuyện đã qua. Sẵn có hơi men, Bàng Quyên kể lại vanh vách mọi chuyện năm xưa, từ chuyện hắn ra tay giúp Tôn Tẫn thoát khỏi tình cảnh quẫn bách trong quán rượu, chuyện Tôn Tẫn đã bất chấp tính mạng giúp lại hắn, theo hắn về quê cứu cha, rơi vào bẫy của Trần Chẩn mà phải vào tù, rồi chuyện Bạch Hổ giải cứu hai người, đều là những chuyện tốt đẹp mà Tôn Tẫn đã làm cho hắn, giọng nói tràn đầy cảm kích biết ơn, tuyệt không một lời oán trách.

Trương Nghi nghe mà thương cảm, mãi hồi lâu mới than thở mà rằng: “Hôm nay, tại hạ coi như đã nhìn thấy một Bàng huynh chân thực!”

“Than ôi, Trương huynh!” Bàng Quyên cũng than thở mà nói. “Trên đời này, hiểu tại hạ, thương tại hạ, không ai bằng được Tôn huynh. Hiểu Tôn huynh, cũng không ai bằng tại hạ. Năm xưa tại hạ nghe được câu chuyện Bá Nha và Tử Kỳ, lấy làm nực cười, hôm nay mới biết, tri âm khó tìm. Tại hạ và Tôn huynh cùng sống trên đời, vừa là địch thủ, lại là tri âm, đáng lẽ nên nâng đỡ lẫn nhau, cùng làm nên sự nghiệp, nào ngờ… Đại nghiệp chưa thành, tri âm đã mất, bảo tại hạ không đau xót sao được!”

Nghĩ tới mình và Tô Tần, Trương Nghi cũng không khỏi bùi ngùi than thở, trong lòng đau xót, cùng Bàng Quyên nâng chén liên hồi, uống tới say khướt.

***

Hôm nay tiết Thanh minh, vừa hay con trai tròn hai tháng, Thuỵ Mai dặn dò đầy tớ giết lợn mổ gà, cúng tế long trọng.

Mặt trời đã lặn về tây, trăng sáng sao thưa, trong từ đường nhà họ Tôn, không có người ngoài. Thuỵ Mai mang theo hai đứa nhỏ chậm rãi tiến tới trước dãy linh vị của liệt tổ hệt tông, lần lượt tế bái.

Từ đường lặng phắc như tờ, chỉ nghe thấy tiếng gió đưa cành liễu vọng lại trong vườn giữa tiết mùa xuân.

Linh vị cuối cùng chính là của Tôn Tẫn. Nhìn vào bài vị của phu quân, dòng lệ đang kìm nén của Thuỵ Mai lại tuôn trào. Nàng khẽ nâng đứa bé trai đang ngủ say lên, vừa sùi sụt vừa thì thầm: “Phu quân, hãy nhìn xem, nhìn con trai của chúng ta, nó giống hệt phu quân. Nó sinh ra trên đường bôn ba, nó rất ngoan, chưa bao giờ khóc quấy, nó… nó đang đợi chàng đặt cho một cái tên. Phu quân, chàng hãy lên tiếng đi…”

Thuỵ Mai đang khóc thảm thiết, sau lưng bỗng vang lên một giọng nói sang sảng: “Đặt tên là Tôn Nam!”

Trong buổi đêm thanh vắng, giữa từ đường trống trải không một bóng người, giọng nói kia, khác nào sét đánh giữa trời quang.

Thuỵ Mai lặng người kinh hãi.

Thuỵ Mai toàn thân run rẩy.

Thuỵ Mai như thể bị sét đánh ngang tai, lông tóc dựng ngược, thậm chí không dám cả rùng mình.

Cúc Nhi nghe thấy rành rành, quay phắt đầu lại, lập tức mừng rỡ, reo toáng lên: “Mẹ, nhìn xem, là cha!” Rồi đứng vụt dậy, lao ra phía cửa.

Tiếng gọi của con gái khiến Thuỵ Mai bừng tỉnh, vội quay đầu lại nhìn.

Dưới ánh đèn bập bùng, một chiếc xe lăn đỗ ngay giữa cửa, trên xe một người ngồi ngay ngắn, chính là phu quân Tôn Tẫn chứ còn ai.

Phía sau xe lăn, Tô Tần đang vịn tay đẩy, mỉm cười.

Sau nữa, là Trâu Phi Đao và Mộc Thực.

“Trời ơi!” Không biết là do sung sướng quá đỗi, hay ngỡ rằng mình gặp ma, Thuỵ Mai kinh hãi rú lên một tiếng, ngã xuống ngất lịm.

Buổi sáng hôm sau, dân chúng Chân Ấp sửng sốt phát hiện ra đại trạch họ Tôn không một bóng người, từ đường Tôn gia vẫn y hệt như hôm qua, chỉ là không thấy ba mẹ con Thuỵ Mai đâu nữa.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử