Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 13
Trúng mưu kế, huynh đệ nhập lao
Thoát hiểm nạn, Bàng - Tôn lên núi

❊ ❊ ❊

Bắt được hai người Bàng Quyên, Tôn Tân, Đinh Tam hỉ hả lắm, bèn trở về phủ Trần Chẩn, bẩm báo lại toàn bộ sự việc cho Thích Quang. Thích Quang mừng rỡ, ngay trong đêm đó lập tức dẫn Đinh Tam tới gặp Trần Chẩn.

Trần Chẩn đang ngủ say, nghe thấy tiếng gõ cửa, hỏi ra là Thích Quang đến, biết có chuyện lớn, vội vã mặc áo rồi đi ra phòng khách.

Thích Quang dập đầu sát đất, hồ hởi nói: “Chúa công, tiểu nhân đã điều tra rõ, cái tên Long gia kia đích xác là Bàng Quyên, con trai của thợ may Bàng. Vừa rồi tiểu nhân đã bắt được hắn về quy án, đợi chúa công xử lý!”

“Bàng Quyên?” Trần Chẩn ngẫm nghĩ một lát, rồi gật gù. “Đáng lẽ phải nhận ra hắn từ đầu mới phải! Chẳng phải phía dưới chữ Bàng chính là chữ Long hay sao? Dẫn hắn lên đây!”

Thích Quang vỗ tay, Đinh Tam đang đứng đợi ở ngoài sân, lập tức áp giải Bàng Quyên, Tôn Tân lên.

Trần Chẩn liếc nhìn Thích Quang, hỏi: “Kẻ nào là Bàng Quyên?”

Thích Quang chưa kịp trả lời, Bàng Quyên đã chửi: “Trần Chẩn, ngươi là tên tiểu nhân đê tiện, là gian tặc nước Ngụy, Bàng Quyên hận không thể nhai nuốt thịt ngươi, lột sống da ngươi!”

Trấn Chẩn gườm gườm nhìn Bàng Quyên, thủng thẳng: “Tát!”

Thích Quang đi tới, tát cho Bàng Quyên mấy cái, khiến răng bên hàm trái của Bàng Quyên gãy mất một chiếc, miệng ứa máu tươi, bộ râu giả gắn trên cằm cũng văng xuống đất. Bàng Quyên nghiến răng kèn kẹt, hai mắt trợn trừng, rồi nhổ một miệng máu và răng gãy vào giữa mặt Thích Quang.

Thích Quang thẹn quá hoá giận, đưa tay áo lên chùi mặt rồi định tát tiếp, song Trần Chẩn lại gật gù tán thưởng: “Thằng ranh này khá đấy, ra dáng lắm!”

Bàng Quyên lại chửi một câu “gian tặc”, Trần Chẩn chau mày, liếc sang Đinh Tam: “Bịt miệng!”

Đinh Tam lập tức xé một miếng vải trên áo Bàng Quyên, nhét luôn vào miệng hắn, rồi cúi xuống nhặt bộ râu giả lên, tiến đến trước mặt Trần Chẩn, quỳ xuống đất, nửa như bẩm báo, nửa như kể công: “Chúa công nhìn xem, chính là bộ râu này hôm qua đã che mắt tiểu nhân! Nếu không phải vậy…” Chợt thấy ánh mắt Trần Chẩn từ từ chuyển sang Tôn Tân, thì câm bặt không dám nói nữa.

Trái ngược hẳn với vẻ giận dữ hung hãn của Bàng Quyên, Tôn Tân chỉ đứng yên tại chỗ, không sợ hãi, không tức giận, cũng không hề có vẻ lo lắng bất an, vẫn điềm nhiên như không.

Trần Chẩn quan sát Tôn Tân một lượt, rồi chậm rãi nói: “Nhìn khí độ của ngươi, chắc chắn chẳng phải hạng tầm thường. Ngươi là ai?”

Tôn Tân đáp: “Tôn Tân người nước Vệ xin chào thượng đại phu!”

“Tôn Tân?” Trần Chẩn giật mình. “Phải chăng là Tôn tướng quân trấn thủ thành Đế Khâu?”

“Chính tại hạ!”

Đừng nói là Trần Chẩn, ngay cả Bàng Quyên cũng cả kinh, đưa ánh mắt kinh ngạc nhìn sững vào Tôn Tân.

Trần Chẩn nhìn chăm chú một hồi nữa rồi gật gù nói: “Tại hạ đã nghe đại danh của Tôn tướng quân từ lâu. Khi bệ hạ phạt Vệ, tổ phụ Tôn Cơ của tướng quân tới nước Tề cầu cứu viện, phụ thân Tôn Thao, thúc phụ Tôn An của tướng quân đã liều chết bảo vệ Bình Dương, Tôn tướng quân cũng kiên quyết tử thủ thành Đế Khâu. Bốn ông cháu cha con họ Tôn nhà tướng quân đã khiến thượng tướng quân khổ sở không ít.” Rồi quay sang Thích Quang. “Mau cởi trói cho Tôn tướng quân!”

Lời vừa dứt, Tôn Tân liền lui lại mấy bước, chậm rãi nói: “Tại hạ đa tạ thượng đại phu khoan dung, có điều…”

“Ồ?”

“Tại hạ và Bàng thiếu gia tình như huynh đệ, không dám một mình hưởng tự do. Nếu thượng đại phu thương tình tại hạ, thì hãy thả cả Bàng thiếu gia ra!”

“Ồ!” Trần Chẩn liên tiếp gật gù, lại khen. “Tôn tướng quân thật là người nghĩa khí, không hổ danh là hậu duệ của Tôn Vũ Tử! Có điều Tôn tướng quân như viên ngọc bỏ vào chỗ tối, giao du với hạng cặn bã này, còn cam chịu làm người hầu của hắn, quả thực không sáng suốt!” Lại quay sang Đinh Tam. “Dẫn họ đi, phải canh chừng thật kỹ!”

Đinh Tam vâng lệnh, rồi dẫn hai người đi.

Thích Quang bước lại gần, khẽ hỏi: “Chúa công, phải xử lý thế nào?”

“Ngươi nói xem, nên xử lý thế nào?”

“Theo ý tiểu nhân, không làm thì thôi, đã làm thì phải…” Thích Quang đưa bàn tay cứa ngang cổ.

Trần Chẩn thở dài: “Ngươi thì chỉ biết đến giết người! Sự việc này đã liên quan tới Tôn tướng quân nước Vệ, tốt nhất là đưa lên quan phủ! Hơn nữa, Bàng Quyên đã giết chết ngư dân và tiều phu mà bệ hạ triệu kiến, phạm phải tội lớn, lần trước ở cửa Túc Tư lại sát hại mấy tên lính, tội càng thêm nặng, khó thoát án tử. Đối với kẻ đã chết chắc, sao ta phải tự mình ra tay? Còn về Tôn tướng quân, lần trước đã khiến thượng tướng quân nếm nhiều khốn khổ, tốt nhất nên mời thượng tướng quân xử lý.”

“Tiểu nhân tuân lệnh!”

Buổi trưa hôm sau, Bạch Hổ xách theo một bọc vải, mặt mũi hớn hở từ ngoài phố trở về, vừa vào trong sân đã cất tiếng gọi oang oang: “Phu nhân, phu nhân!”

Khởi Y vội vã từ trong nhà đi ra: “Phu quân, chàng về đấy ư?”

Bạch Hổ tươi cười giơ cái bọc lên cao: “Phu nhân, nàng xem, đây là thứ gì?”

Khởi Y nhận lấy, mở ra xem, thì ra chính là hộp nữ trang của mình, trong lòng cảm động, liền hỏi: “Phu quân, chàng chuộc nó về thật ư?”

“Đúng thế! Chủ tiệm ban đầu nhất quyết không chịu, sau đó ta doạ sẽ kiện hắn lên quan, hắn mới thấy sợ.”

Khởi Y bước tới, kéo lấy cánh tay Bạch Hổ, nhìn vào ngón áp út bị chính tay Bạch Hổ chặt đứt giờ đang băng bó kín mít, xót xa hỏi Bạch Hổ: “Còn đau không?”

Bạch Hổ gật đầu.

“Phu quân, chàng thật sắt đá!”

Bạch Hổ bật cười: “Không sắt đá, e rằng không thể cai được!”

Khởi Y đưa hộp nữ trang cho lão quản gia, rồi bước lại, ngả đầu vào lòng Bạch Hổ, đưa tay xoa bụng, nghẹn ngào nói: “Phu quân, Tiểu Bạch Khởi nghe thấy cũng rất vui mừng, cứ đạp loạn lên trong bụng thiếp!”

Nghe thấy những lời này, Bạch Hổ bỗng trào nước mắt. Bạch Hổ đỡ lấy Khởi Y, dìu vào trong nhà ngồi xuống. Lão quản gia ôm hộp nữ trang đi vào phòng trong, đặt lại vào ngăn bàn của Khởi Y như cũ.

Thấy lão quản gia đã đi vào phòng, Bạch Hổ ngẫm nghĩ một lát rồi căn dặn: “Lão quản gia, hãy lấy mười bảy lượng vàng đến Ngô phủ trả cho Ngô thiếu gia, nói rằng bản thiếu gia không bán nhà nữa. Hôm qua vay hắn mười sáu lượng, hôm nay trả thừa một lượng coi như tiền lãi!” Ngưng một lát, rồi giọng gằn xuống. “Lão hãy bảo hắn rằng, bản thiếu gia mong hắn biết điều mà nhận lấy vàng!”

Thấy Bạch Hổ như thể trở thành một người khác hẳn, lão quản gia cũng mừng ra mặt, vui vẻ vâng lời, rồi đi vào trong phòng Khởi Y, mở rương lấy ra mười bảy lượng vàng, nhanh nhẹn đi ra khỏi cửa.

Bạch Hổ thay đổi trang phục, đeo kiếm lên người, quay sang nói với Khởi Y: “Phu nhân, nàng hãy ở nhà nghỉ ngơi, ta đi ra ngoài có chút việc!”

“Việc?” Khởi Y ngạc nhiên. “Phu quân định đi đâu?”

Bạch Hổ cười: “Phu nhân yên tâm, không phải tới lầu Nguyên Hanh đâu!”

Bạch Hổ từ biệt Khởi Y, rảo bước ra khỏi cổng, đi một mạch thẳng tới hình ngục, đưa thẻ bài cầu kiến quan tư hình. Một lát sau, một tên cai ngục đi ra, dẫn Bạch Hổ vào cửa lớn của hình ngục, từ xa đã nhìn thấy quan tư hình đứng đón sẵn ngoài cửa.

Bạch Hổ khom lưng, vái dài một lễ: “Bạch Hổ xin chào tư hình đại nhân!”

Tư hình đáp lễ: “Tại hạ xin chào Bạch thiếu gia! Bạch thiếu gia, mời!”

Hai người dắt tay nhau đi vào trong phủ, chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Tư hình nhìn Bạch Hổ một lát, rồi cười vui vẻ: “Bạch thiếu gia tới thăm bản phủ, không biết có chuyện gì quan trọng?”

Bạch Hổ hơi ngượng nghịu, bèn vòng tay nói: “Tư hình đại nhân… lần này tại hạ đến, là muốn xem bộ trang phục ngục tốt của tại hạ có còn không?”

Tư hình bật cười: “Bạch thiếu gia, không dám giấu thiếu gia, lần trước thiếu gia đã ném bộ trang phục đó xuống đất rồi một đi không trở lại, tại hạ nghĩ thiếu gia không muốn mặc nên đã cho người khác rồi!”

Bạch Hổ mặt đầy thất vọng, nhất thời ngẩn ra.

“Vậy hôm nay Bạch thiếu gia đến đây, phải chăng là muốn mặc?”

Bạch Hổ mặt đỏ bừng, than thở: “Đại nhân có điều chưa biết, chuyện ngày hôm qua tựa như giấc mơ, hôm nay tỉnh mộng, tại hạ muốn được làm lại từ đầu, muốn làm ngục tốt dưới trướng đại nhân, không ngờ…” Nói đoạn, cười gượng gạo, khẽ lắc đầu.

“Ồ?” Tư hình đại nhân kinh ngạc, rồi gật gù nói. “Nếu là vậy, tại hạ có thể giúp được!” Nói đoạn đứng lên, đi lấy một bộ y phục, đưa cho Bạch Hổ. “Bạch thiếu gia, thiếu gia hãy thử bộ này xem sao!”

Bạch Hổ nhận lấy bộ y phục, vừa nhìn đã ngỡ ngàng: “Tư hình đại nhân, đây đâu phải trang phục ngục tốt?”

Tư hình lại cười: “Mặc kệ là trang phục gì, thiếu gia cứ mặc thử xem có vừa không?”

Bạch Hổ nhìn kỹ bộ y phục, thấy may bằng lụa, càng thấy hoài nghi, liền đưa mắt nhìn tư hình, thấy ông ta không có ý giễu cợt, nên cũng lần lượt mặc từng chiếc lên người. Tư hình bước lại gần, giúp chỉnh trang y phục, thắt đai lưng cho Bạch Hổ, sau đó lùi lại vài bước, ngắm nghía một lát, gật đầu hài lòng rồi gọi vọng ra phía cửa: “Người đâu!”

Hai tên lính đứng hầu ngoài cửa vội chạy vào.

Tư hình chỉ vào Bạch Hổ: “Vị này là quản ngục đại nhân mới, bắt đầu từ hôm nay sẽ cai quản toàn bộ nhà lao trong ngục, các ngươi phải phục dịch cho chu đáo!”

Trong ngục, chức quản ngục chỉ thấp hơn tư hình, trong triều cũng là tước hạ đại phu, cao hơn rất nhiều so với ngục tốt. Bạch Hổ bất ngờ, cứ đứng sững như trời trồng tại chỗ. Hai tên ngục tốt bèn quỳ xuống bái lạy: “Hạ quan khấu kiến quản ngục đại nhân!”

Bạch Hổ không trả lời, quay sang tư hình: “Tư hình đại nhân, thế này là…”

“Bạch thiếu gia, là tư đồ đại nhân đã căn dặn, tại hạ chẳng qua chỉ là vâng lệnh mà thôi!”

“Chu đại nhân?” Bạch Hổ lại giật mình.

“Đúng thế!” Tư hình lại cười. “Sáng sớm hôm nay, tư đồ đại nhân mang đến một bộ y phục, dặn tại hạ rằng lát nữa Bạch thiếu gia sẽ đến, nếu như thiếu gia vẫn muốn mặc bộ đồ ngục tốt, thì hãy để thiếu gia thử bộ này. Nếu mặc vừa, sẽ tặng lại cho thiếu gia! Bạch thiếu gia, thiếu gia nhìn xem, bộ y phục này không rộng không chật, thật vừa vặn!”

Bạch Hổ dường như vẫn chưa thể định thần. Tư hình bèn quay sang nói với hai tên ngục tốt đang quỳ dưới đất: “Còn quỳ ở đó? Mau đứng lên dẫn quản ngục đại nhân đi kiểm tra các nhà lao!”

Hai tên ngục tốt vội đứng dậy, vòng tay vái Bạch Hổ: “Quản ngục đại nhân, mời!”

Nằm ở phía trong cùng của hình ngục là nhà lao nhốt tử tù, mặt trước nhà lao là các song gỗ lớn bằng miệng bát, cửa cũng làm bằng song gỗ, phía ngoài khoá bằng ổ khoá lớn. Cứ đi mươi bước lại có một điểm canh, bốn tên ngục tốt chia làm hai ca, luân phiên canh gác ngày đêm. Khi đi tuần, ngục tốt nhìn qua song gỗ có thể biết được động tĩnh của tù nhân bên trong.

Ở trong gian ngục sâu nhất, Bàng Quyên, Tôn Tân đều bị xiềng chân, đang ngồi dựa vào tường.

Tôn Tân nhắm mắt ngồi xếp bằng, như đang dưỡng thần. Bàng Quyên hai mắt mở trừng trừng, nhìn sững vào cỗ xiềng đang khoá dưới chân. Xiềng rất nặng, là loại xiềng bằng đồng cỡ lớn dùng cho tử tù, nhìn bề ngoài, chắc hẳn đã được sử dụng khá lâu năm rồi.

Bàng Quyên nhìn một hồi lâu, không buồn ngẩng đâu lên, gọi: “Tôn huynh!”

Tôn Tân từ từ mở mắt, nhìn Bàng Quyên.

Bàng Quyên chỉ vào cái xiềng: “Có biết bao nhiêu người đã phải đeo cái xiềng này không?”

Tôn Tân lắc đầu.

“Trên xiềng có khắc dòng chữ ‘đúc năm Trùng Nhĩ(1) thứ mười’, đến nay chí ít cũng đã ba trăm năm. Đây là xiềng dành cho tử tù, tất cả những người mang nó đều chỉ sống được dài thì một năm, ngắn thì vài ngày. Tính bình quân, cứ cho là một năm hai người, dễ phải có đến sáu trăm người đã phải mang theo nó lên đoạn đầu đài!”

Đã đến nước này rồi mà Bàng Quyên vẫn còn tâm trạng ngồi tính toán không đâu. Tôn Tân quay đi, tiếp tục nhắm mắt dưỡng thần.

Bàng Quyên thở dài: “Tôn huynh, huynh thử nói xem, người ta sống ở trên đời, nếu như thế này, tức giống như tình cảnh hiện giờ của chúng ta, bị nhốt trong ngục, lại bị người ta khoá bằng thứ hình cụ này, sống ngày nào biết ngày đấy, chờ đợi đến ngày chém cổ, thì mẹ kiếp, chẳng phải vô nghĩa lắm ư?”

Tôn Tân như không nghe thấy, vẫn nhắm mắt ngồi im.

Bàng Quyên giận dữ: “Tối qua đúng là ma xui quỷ khiến, lại đi tin cái giống chó má kia! Nếu có kiếm trong tay, thì mấy tên vô lại đó, mẹ cha nó…” Rồi vung quyền đấm mạnh xuống đất.

Nói qua nói lại, thì ra là vì chuyện này. Tôn Tân khẽ thở dài, rồi chậm rãi nói: “Than ôi, chuyện này tất cả là lỗi của tại hạ. Bàng huynh muốn trách thì hãy trách tại hạ!”

Bàng Quyên ngẩng đầu nhìn Tôn Tân, thấy Tôn Tân vẫn điềm tĩnh như không, thì trong lòng khác nào mặt ao cuộn sóng. Tôn Tân thân phận tôn quý, là hậu duệ nhà tướng quân, lại là thú uý thành Đế Khâu, thống lĩnh hàng vạn binh lính, hôm nay bỗng dưng phải theo Bàng Quyên sa chân vào tình cảnh trớ trêu này, bị người ta nhốt vào nhà lao tử tù, ngẫm lại, chẳng phải càng đáng tiếc hay sao? Người ta vì mình mới thành ra như vậy, mà không mở miệng oán trách nửa lời, vậy mà bản thân mình lại luôn miệng than vãn, thực không biết xấu hổ!

Nghĩ đến đây, Bàng Quyên thấy mặt nóng bừng, liền đứng phắt dậy, từ từ quỳ xuống trước mặt Tôn Tân. Nghe thấy tiếng xích leng keng, Tôn Tân bèn ngẩng lên nhìn, thấy Bàng Quyên đã quỳ trước mặt, thì hốt hoảng kêu lên: “Bàng huynh, huynh làm gì thế?”

“Tôn huynh ở trên, xin nhận của Bàng Quyên một lạy!” Bàng Quyên nói rồi dập đầu luôn xuống đất.

Tôn Tân cũng vội chuyển từ ngồi sang quỳ, đỡ Bàng Quyên dậy, trách móc: “Bàng huynh, tại sao huynh lại làm như vậy?”

Bàng Quyên thở dài, nước mắt ứa ra: “Bàng Quyên thân hèn phận bạc, chết cũng không có gì đáng tiếc, nay lại làm liên luỵ đến Tôn huynh, tại hạ quả thực áy náy với lương tâm!”

“Bàng huynh nói sai rồi!” Tôn Tân nói. “Người ta sống ở trên đời, sống cũng vậy, chết cũng vậy, tất cả cũng chỉ vì một chữ duyên! Tôn Tân có duyên kết bạn với Bàng huynh, lại có duyên cùng đương đầu tử nạn, há chẳng phải chuyện đáng mừng trong đời người, sao có thể nói là liên luỵ?”

Bàng Quyên càng thêm cảm kích: “Tôn huynh trọng nghĩa, hôm nay Bàng Quyên mới hiểu. Bàng Quyên gia thế thấp hèn, là người cuồng ngạo, nếu như Tôn huynh không chê, Quyên nguyện cùng Tôn huynh kết nghĩa huynh đệ ngay trong tử lao này. Bắt đầu từ hôm nay, chúng ta tình như thủ túc, có phúc cùng hưởng có nạn cùng chia, sống chết có nhau!”

Tôn Tân nói: “Tại hạ được kết nghĩa kim lan cùng Bàng huynh, có thể cùng chung sống chết, đã mãn nguyện lắm rồi!”

Bàng Quyên nhìn quanh, cười gượng mà nói: “Tôn huynh, đáng tiếc ở đây không có hương nến, cũng chẳng có rượu, chúng ta chỉ có thể giản tiện mà thôi!”

“Kết nghĩa cốt ở tâm, không phải ở vật. Chúng ta có trời đất, thần linh chứng giám, cần gì đến hương nến, rượu thịt?”

“Lời này của Tôn huynh, Bàng Quyên nghe thật sảng khoái! Nào, chúng ta cùng lạy trời đất kết bái!”

Hai người bèn đứng dậy, đứng đối diện nhau, cùng vái đối phương một lễ, rồi từ từ quỳ xuống.

Đúng vào lúc này, hai tên ngục tốt dẫn Bạch Hổ đi tuần tới nơi. Bạch Hổ chỉ tay vào dãy nhà lao hỏi: “Đây là…”

Ngục tốt liền đáp: “Hồi bẩm quản ngục đại nhân, đây là dãy nhà lao dành cho tử tù!”

Bạch Hổ gật đầu nói: “Đi, xem thế nào!”

Ba người cùng lại gần, lần lượt quan sát từng gian nhà lao. Đi được mấy bước, từ xa bỗng nhìn thấy Bàng Quyên và Tôn Tân đang quỳ lạy lẫn nhau, Bạch Hổ rất đỗi ngạc nhiên, liền hỏi nhỏ: “Tại sao hai người họ lại quay mặt vào nhau mà quỳ thế kia?”

Hai tên ngục tốt cũng đã nhìn thấy, nhưng đều lắc đầu không hiểu.

Bạch Hổ hiếu kỳ: “Đi, tới đó xem sao!”

Ba người đi thẳng tới gian nhà lao cuối cùng, từ cách đó mấy gian đã nghe thấy tiếng Bàng Quyên đang thề với trời: “Trời đất chứng giám, Bàng Quyên và Tôn Tân cùng kết nghĩa kim lan trong chốn lao tù. Bàng Quyên nhỏ tuổi làm đệ, Tôn Tân lớn tuổi làm huynh. Nếu trời cao có mắt, hai huynh đệ chúng tôi có ngày sống sót, Bàng Quyên thề sẽ cùng Tôn huynh vào sinh ra tử, phú quý cùng hưởng. Nếu trái lời thề, nghìn tên xuyên tim!”

Bàng Quyên thề xong, Tôn Tân cũng thề: “Trời đất chứng giám, Tôn Tân người nước Vệ nguyện kết nghĩa huynh đệ sinh tử cùng Bàng Quyên, có phúc cùng hưởng có hoạ cùng chia. Nếu trái lời thề, bị sét đánh chết!”

Thề xong, hai người cùng lạy trời, đất và tứ phương mỗi phía ba lạy, rồi lại quay sang lạy nhau, xong xuôi mới đứng dậy. Nghe thấy tiếng người, hai người cùng quay lại. Bàng Quyên ngẩng đầu, nhìn thấy Bạch thiếu gia đứng ngoài song cửa, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, quả thực không thể tin nổi vào mắt mình, đưa tay dụi liền mấy cái, rồi nhìn Bạch Hổ chằm chằm không chớp mắt.

Có lẽ do trên mặt Bàng Quyên không còn râu ria, có lẽ do Bạch Hổ tuyệt đối không ngờ được Long gia lại ở trong này, nên vẫn chưa nhận ra người trước mặt. Bạch Hổ đứng một lát, rồi quay người định đi, Bàng Quyên vội gọi với theo: “Bạch thiếu gia!”

Nghe thấy tù nhân gọi đúng tên mình, Bạch Hổ kinh ngạc, quay người lại nhìn kỹ Bàng Quyên, ngờ vực hỏi: “Ngươi quen bản phủ ư?”

Bàng Quyên không biết là Bạch Hổ cố tình không nhận người quen, hay là đã quên mất chuyện ngày hôm qua thật, vì vậy không nói thêm lời nào nữa, chỉ nhìn sững vào Bạch Hổ. Bạch Hổ lại ngẫm nghĩ một chốc, nhưng vẫn không nhớ ra, bèn hỏi: “Ngươi là ai?”

Nghe vậy, Bàng Quyên lập tức sầm mặt xuống, cười nhạt: “Bạch thiếu gia đã không quen biết tại hạ, thì việc này cũng chẳng liên quan gì đến thiếu gia!”

Bạch Hổ càng nghe càng không hiểu, bèn ngoái nhìn hai tên ngục tốt, chỉ tay vào Bàng Quyên hỏi: “Kẻ này là ai?”

Một tên ngục tốt đáp: “Bẩm đại nhân, hai người họ được thượng đại phu đưa đến hồi sáng nay, nói là hung phạm bỏ trốn bắt về quy án, người bên trái tên Bàng Quyên, người bên phải tên Tôn Tân, là đồng mưu của Bàng Quyên! Thượng đại phu đặc biệt căn dặn, chúng là khâm phạm triều đình, phạm tội không thể dung thứ, chỉ chờ tư đồ đại nhân bẩm báo với bệ hạ là đem xử chém!”

Bạch Hổ chỉ tay vào Bàng Quyên: “Ngươi nói người này tên gọi Bàng Quyên?”

“Thưa phải!”

“Thượng đại phu nói người này mắc tội gì?”

“Bẩm đại nhân, tiểu nhân đã tra qua bản án, biết được kẻ này vô cùng ngang ngược!”

“Ồ, ngang ngược thế nào?”

“Hắn vốn là người ở phố Tây Nhai tại An Ấp, cha tên Bàng Hành, từng là thợ may của Chu thất. Bốn tháng trước, người này đã đột nhập vào phủ thượng đại phu, bị ngư dân và tiều phu biết được, nhưng vì tham tiền bạc, nên đã giết chết hai người này, cướp mất ba mươi lượng vàng mà bệ hạ ban thưởng. Hắn định ôm vàng bỏ trốn, nhưng lại bị hộ viện La Văn phát hiện, bèn nổi tính hung hãn, giết La Văn để diệt khẩu. Sau đó bỏ trốn đến cửa Túc Tư, lại sát hại một số quan quân ở đó, tiếp tục bỏ trốn. Quan quân lùng sục khắp nơi, không ngờ hắn lại trở về An Ấp, đột nhập vào trong phủ thượng đại phu, định tiếp tục giở thói côn đồ, may nhờ gia đinh đề phòng, giăng bẫy bắt được!”

Bàng Quyên nghe thấy vậy, chỉ cười nhạt một tiếng, cũng không giải thích, chỉ nhìn chằm chằm vào Bạch Hổ, lại hỏi: “Bạch thiếu gia thực sự không nhớ tại hạ ư?”

Bàng Quyên càng nói, Bạch Hổ càng cảm thấy người này quen quen, suy nghĩ một lát rồi đột nhiên vỗ đầu: “Ồ, ta nhớ ra rồi, có phải mấy tháng trước ngươi đã từng đến lầu Nguyên Hanh, còn hất đổ cả sòng bạc ở đó?”

Bàng Quyên gật đầu: “Xem ra, trí nhớ của Bạch thiếu gia vẫn còn rất tốt. Bạch thiếu gia thử nghĩ lại xem, trong lầu Nguyên Hanh, còn một người tên Long gia, Bạch thiếu gia có nhớ không?”

Nghe thấy hai chữ “Long gia”, Bạch Hổ giật nảy mình, nhìn kỹ Bàng Quyên, lúc này mới nhận ra, kêu lên thất thanh: “Ân…”

Chữ “công” còn chưa kịp thốt ra, Bạch Hổ đã kịp thời sực tỉnh, vội im bặt, sau đó gật đầu với Bàng Quyên, đặng hắng một tiếng, nói lớn: “Cái gì mà Long gia với Phụng gia, ta không quen biết, chắc ngươi nhận nhầm người rồi!” Sau đó quay sang nói với ngục tốt. “Kẻ này ngang ngược hung hãn, các ngươi phải canh chừng cho cẩn thận. Nếu để hắn trốn thoát, sẽ không gánh nổi tội đâu!”

Bạch Hổ cố tình chậm rãi nhấn mạnh hai chữ “trốn thoát”, có ý ngầm nói với Bàng Quyên, sớm muộn gì mình cũng đến ứng cứu. Bàng Quyên là người cơ trí, nên trong lòng đã hiểu, bèn nói: “Bạch thiếu gia đã không nhớ tại hạ, có lẽ Bàng Quyên nhận lầm người thật rồi. Bàng Quyên nhờ Bạch thiếu gia chuyển lời với gian tặc Trần Chẩn, cho dù ta có phải tới âm tào địa phủ, cũng phải kéo hắn theo!” Thấy ba người Bạch Hổ đã đi xa, Bàng Quyên không nhịn thêm được nữa, ngửa mặt lên trời cười một tràng dài.

Phủ quản ngục kề sát phủ tư hình. Bạch Hổ và hai tên ngục tốt trở về phủ, bảo hai người gọi tất cả thuộc hạ đến, lần lượt gặp mặt từng người, sau đó dặn dò mấy điều, phân công mỗi người một việc. Mọi người thảy đều dạ ran vâng lệnh. Bạch Hổ xua họ đi làm việc, rồi quay sang nói với hai tên ngục tốt: “Các người chú ý canh chừng, ta có chút việc, cần đến phủ tư đồ đại nhân một chuyến!”

Nghe là đến gặp tư đồ đại nhân, ngục tốt vội nói: “Xin đại nhân chờ cho một chút, tiểu nhân sẽ chuẩn bị xe cho đại nhân!”

Bạch Hổ kinh ngạc: “Chuẩn bị xe? Xe gì?”

“Bẩm, là xe ngựa của đại nhân!”

Lát sau, một hán tử trung niên trong trang phục ngục tốt đánh xe đến, dừng lại trước cổng. Ngục tốt chỉ tay vào người đánh xe nói: “Đại nhân, đây chính là người đánh xe của đại nhân. Lúc nào đại nhân muốn ra ngoài, cứ sai bảo người này!”

Bạch Hổ chưa kịp lên tiếng, người đánh xe đã mang ra một chiếc ghế thấp, đặt ở trước xe, khom lưng nói: “Quản ngục đại nhân, mời!”

Bạch Hổ bước lên ghế, rồi nhảy lên xe: “Đến phủ tư đồ!”

Xe ngựa của Bạch Hổ tới trước phủ tư đồ, từ xa đã nhìn thấy Trần Chẩn từ trong phủ đi ra, cáo biệt Chu Uy rồi lên xe rời đi. Chu Uy đang định trở vào phủ, nhìn thấy Bạch Hổ đến thì lập tức dừng bước, đứng lại chờ.

Bạch Hổ dừng xe từ xa, nhảy xuống đất, rồi vội chạy đến dập đầu trước Chu Uy: “Hạ quan Bạch Hổ khấu kiến tư đồ đại nhân!”

Chu Uy cười đáp: “Quản ngục đại nhân, mời đứng dậy!” Vừa nói, vừa đi đến bên Bạch Hổ, đưa tay đỡ hắn lên, rồi ngắm nghía một lượt từ trên xuống dưới: “Mặc bộ trang phục này, trông thật giống quan đại phu!”

Bạch Hổ chẳng còn tâm trạng nào nữa, lập tức đi vào chuyện chính: “Tư đồ đại nhân, lần này hạ quan đến là có chuyện muốn thương lượng!”

“Đây không phải nơi nói chuyện, mời vào trong phủ!”

Hai người đi vào trong phủ, Bạch Hổ lại quỳ xuống đất, không nói gì cả, chỉ khóc.

Chu Uy sững người, vội đỡ Bạch Hổ đứng dậy: “Quản ngục đại nhân, thế này là thế nào?”

Bạch Hổ khóc mà nói: “Tư đồ đại nhân, còn nhớ sự việc ngày hôm qua không?”

“Nhớ chứ, nhớ chứ!” Chu Uy bật cười. “Không những nhớ, mà chuyện đó lúc nào cũng như hiển hiện trước mắt! Bạch Hổ, lần này cậu có thể làm lại cuộc đời, ta, Công Tôn Diễn, còn có lão quản gia, Khởi Y đều rất vui mừng, dự định chờ thêm mấy ngày nữa, đợi chiếu thư bổ nhiệm của bệ hạ ban xuống, mọi người sẽ cùng đến trước mộ Bạch tướng quốc, bẩm báo lại chuyện này cho người biết!”

Bạch Hổ vội nói: “Điều hạ quan muốn nói, không phải chuyện này!”

Chu Uy kinh ngạc: “Vậy cậu muốn nói gì?”

“Đại nhân còn nhớ Long gia chăng?”

“Đương nhiên là nhớ! Người đó là một nhân tài, Công Tôn Diễn khen ngợi hắn hết lời, trên đường trở về, cứ liên miệng nói với ta về người này. Ta dự định lúc nào có thời gian sẽ tới thăm, tiến cử hắn vào triều làm việc. À, tiện đây xin hỏi một câu, cậu có biết hiện Long gia đang ở đâu không?”

Bạch Hổ gật đầu: “Nếu tư đồ đại nhân muốn gặp Long gia, có thể đến nhà ngục của hạ quan!”

“Nhà ngục?” Chu Uy kinh ngạc. “Tại sao Long gia lại ở đó?”

“Long gia là tên giả, người này tên thật là Bàng Quyên, chính là khâm phạm mà triều đình truy lùng suốt mấy tháng nay!”

Chu Uy thất kinh, một lúc sau mới định thần lại được: “Chuyện này là thế nào?”

Bạch Hổ thuật lại cho Chu Uy nghe lời nói của hai tên cai ngục. Chu Uy thở dài: “Ta biết người này, là hắn bị bức ép. Mấy tháng trước, Công Tôn Ưởng, Trần Chẩn và công tử Ngang kết bè kết đảng, xúi bẩy chúa thượng xưng vương, trong triều chỉ có Bạch tướng quốc và ta phản đối. Trần Chẩn nghe nói cha của Bàng Quyên có tài may vương phục nên đã bắt ông ta về phủ. Thợ may Bàng không chịu nghe lời, Trần Chẩn bèn tìm cách cưỡng ép, Bàng gia mới ra nông nỗi như bây giờ. Trần Chẩn vốn cho rằng việc làm của hắn quỷ thần không biết, nhưng làm sao có thể qua mắt được ta?”

Bạch Hổ vội nói: “Nhà họ Bàng đã bị oan ức, tại sao chúng ta không thả Bàng Quyên ra?”

Chu Uy lắc đầu: “Chuyện đâu có đơn giản như vậy? Bàng Quyên giết người, đã kết thành án, hình ngục đã điều tra, nhân chứng vật chứng đầy đủ. Mà chuyện Bàng Hành bị ép may vương phục, do Bàng Hành, La Văn đều đã chết, không có cách nào để đối chứng, chỉ dựa vào lời nói của một mình Bàng Quyên, căn bản không thể thoát tội! Hơn nữa, chuyện này đã định thành án, muốn lật lại, khó đấy!”

“Chu đại nhân… vậy phải làm thế nào?”

Chu Uy có vẻ sực nhớ ra điều gì, bèn ngẩng đầu lên hỏi: “Lúc nãy cậu nói, người đồng mưu của Bàng Quyên là Tôn Tân người nước Vệ?”

Bạch Hổ gật đầu: “Là hắn tự nói ra. Hạ quan có nghe hắn thề rằng, ‘Tôn Tân người nước Vệ nguyện kết nghĩa huynh đệ sinh tử cùng Bàng Quyên, có phúc cùng hưởng có hoạ cùng chia’.”

Chu Uy trầm ngâm suy nghĩ, rồi lẩm bẩm: “Chắc không phải là Tôn Tân thú uý thành Đế Khâu đấy chứ? Nếu đúng là người đó, thì thật xui xẻo!”

Bạch Hổ không hiểu: “Tại sao lại xui xẻo?”

“Tôn Tân chính là hậu duệ của danh tướng Tôn Vũ Tử thời Xuân Thu, ông nội của người này là Tôn Cơ, tướng quốc nước Vệ, ta đã từng gặp mặt, rất khâm phục tài đức của ông ấy, đúng là trung dũng gồm đủ, thấu hiểu lòng dân, có thể sánh ngang với Bạch tướng quốc. Trong hơn mười năm Tôn Cơ ở Vệ, nước Vệ đã thay da đổi thịt. Nếu không phải bệ hạ hưng binh chinh phạt, nước Vệ vẫn sẽ là vùng đất yên bình. Cha của Tôn Tân là Tôn Thao, thú thừa thành Bình Dương. Thúc phụ Tôn An là thú uý thành Bình Dương. Khi thượng tướng quân phạt Vệ đã thảm sát toàn thành, hai người đó đều xả thân vì nước, bảo toàn danh tiết cho gia tộc họ Tôn. Nghe nói trước đây không lâu, Bình Dương xuất hiện ôn dịch, Tôn tướng quốc đã đích thân tới thăm dân chúng mắc dịch, rồi cũng bị nhiễm dịch mà quy tiên. Như vậy, hiện nay toàn bộ nhà họ Tôn chỉ còn lại một mình Tôn Tân. Nếu quả đúng là người này, thượng tướng quân vốn tính thù dai, chắc chắn sẽ không chịu buông tha. Bệ hạ vì đại bại ở Hà Tây, hẳn cũng sẽ trút giận lên người này!”

“Tư đồ đại nhân, nói như vậy, về công về tư, về tình về nghĩa, chúng ta đều nên cứu họ mới phải!”

“Đây là vụ án trọng đại, làm sao có thể cứu được? Hơn nữa, Trần Chẩn cũng chẳng phải kẻ dễ ứng phó. Lúc nãy hắn đến đây, cũng chính là vì vụ án này, nói rằng bệ hạ rất chú ý, muốn ta xử lý công tâm. Đó là hắn đưa bệ hạ ra để ép ta, ta dám chắc lúc này hắn đang ở bên bệ hạ rồi. Hiện giờ, hai người họ đều bị hàm oan, nhưng e rằng khó thoát tội chết.”

Bạch Hổ hoang mang, vội quỳ xuống cầu xin: “Tư đồ đại nhân…”

Chu Uy suy nghĩ một lát, rồi ngẩng lên nói: “Cậu thấy thế này có được không? Hãy thử đem chuyện này bàn với Công Tôn Diễn xem sao, hắn là người mưu trí, không chừng sẽ có cách cứu được họ.”

Bạch Hổ nghe thấy vậy, chẳng kịp cáo từ, lập tức lao ra ngoài cổng, vội vã lên xe: “Mau, đến nhà Công Tôn Diễn!”

Bạch Hổ đến gặp Công Tôn Diễn, kể lại toàn bộ sự việc. Công Tôn Diễn suy nghĩ một lát rồi bật cười: “Chu tư đồ đã đồng ý thả họ ra rồi, cậu còn đến đây tìm ta làm gì?”

Bạch Hổ không hiểu: “Ông ta đồng ý lúc nào?”

Công Tôn Diễn lại cười lớn: “Xem kìa, đầu óc của cậu thật chẳng linh hoạt chút nào! Thử nghĩ xem, cậu là quản ngục đại nhân, hiện giờ phạm nhân nằm trong tay cậu, tư đồ nói ông ta không biết, rõ ràng là muốn cậu thả người!”

“Nhưng… hình ngục canh giữ nghiêm ngặt, tại hạ làm sao có thể thả đây?”

Công Tôn Diễn lại suy nghĩ một lát, rồi cười nói: “Nếu nói như vậy, tại hạ có một cách, thiếu gia hãy thử xem sao!”

Ngày thứ ba sau khi Bạch Hổ khoác lên mình trang phục quản ngục, chiếu thư bổ nhiệm của Ngụy Huệ Vương đã được ban tới. Chu Uy tuyên đọc chiếu thư xong, Bạch Hổ rất đỗi vui mừng, vòng tay vái quan tư hình: “Hạ quan chịu ơn của đại nhân, chẳng chút công lao mà lại có được chức vị này, trong lòng vô cùng áy náy, muốn bày một bàn rượu nhạt, ngõ hầu tỏ lòng cảm tạ!”

Tư hình vội nói: “Bạch thiếu gia không nói, tại hạ cũng đang nghĩ đến chuyện này. Trong hình ngục, kẻ đến người đi là chuyện bình thường, quan lại thăng chức điều động, đều cần tổ chức tiệc mừng. Thiếu gia lãng tử quay đầu, lại được chúa thượng cất nhắc, tiệc mừng càng phải tổ chức cho long trọng mới được. Xin hãy để tại hạ chủ trương, đưa tất cả quan lại trong hình ngục đến lầu Nguyên Hanh uống chén rượu, ý thiếu gia thế nào?”

“Hạ quan đa tạ ân điển của đại nhân! Nhưng hạ quan mới chân ướt chân ráo tới, không thể hậu bên này bạc bên kia, vì vậy muốn mời tất cả quan viên trong hình ngục, đặc biệt là thuộc hạ của hạ quan, cho đến cả ngục tốt, đều uống một chén rượu mừng. Nhưng hình ngục là nơi hệ trọng, cần phải có người canh giữ ngày đêm, thật khó xử!”

Tư hình ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Việc này thì dễ thôi! Tại hạ sẽ ra mặt, cho mang rượu thịt tới tận nơi, mọi người sẽ ăn mừng luôn tại hình ngục, như vậy chúc mừng và canh giữ vẹn cả đôi đường, thiếu gia thấy sao?”

“Nếu được vậy thì tốt quá!” Bạch Hổ vội lấy từ trong túi ra mười lượng vàng đưa cho quan tư hình. “Chút tiền lẻ này đại nhân hãy tạm thời cầm lấy lo liệu, còn rượu thịt ra sao, tất cả đều nhờ đại nhân làm chủ!”

Tư hình vội từ chối: “Tổ chức tiệc chúc mừng cho Bạch thiếu gia, sao lại có thể dùng tiền của thiếu gia được?”

“Nếu đại nhân không cầm, thì rượu này hạ quan không thể uống!”

Tư hình từ chối không được, đành phải nhận lấy mười lượng, sau đó chia việc cho thuộc hạ lo liệu.

Đến chập tối, trong phủ quản ngục bắt đầu vui vẻ náo nhiệt, rượu thịt ê hề. Bạch Hổ vốn tửu lượng tốt, song vì hôm nay có việc trọng đại nên không dám uống nhiều, từ chối được thì cố từ chối, không từ chối được mới miễn cưỡng uống một chén.

Rượu được ba tuần, thấy tư hình và mọi người đã say tuý luý. Bạch Hổ cầm bầu rượu lên, mang theo hai cái bát lớn và một con gà quay, hai cân thịt bò, một mình đi thẳng tới khu ngục tử tù. Hai tên ngục tốt đứng canh nghe tiếng bước chân lại gần, liền chạy ra xem, thấy Bạch Hổ đến thì vội quỳ xuống đất bái lạy: “Tiểu nhân khấu kiến quản ngục đại nhân!”

Bạch Hổ đặt rượu thịt xuống, đưa tay đỡ họ dậy: “Hôm nay là ngày vui của bản phủ, mọi người đều đang uống rượu, nhưng hai ngươi lại phải canh giữ ở đây, thật khiến bản phủ áy náy. Nào, bản phủ uống với các ngươi mấy bát!”

Quản ngục đại nhân đích thân tới hỏi thăm, lại tự tay kính rượu, hai tên ngục tốt cảm kích vô cùng, vội quỳ xuống nói: “Tiểu nhân đa tạ ân điển của đại nhân!”

Bạch Hổ đích thân xé gà quay thành từng miếng, đặt cùng với thịt bò, nói: “Nào, chúng ta vừa ăn, vừa uống, nhân tiện trò chuyện đôi câu!”

Hai tên ngục tốt bèn nói: “Đa tạ đại nhân ban thưởng!”

Bạch Hổ uống cùng hai người họ mấy bát, hỏi chuyện mới biết một người tên Phùng Quý, một người tên Trần Kỳ, đều là những người thật thà, đã có gia thất, thì do dự một lát, nhưng rồi cũng đành phải dằn lòng, hỏi sang chuyện khác: “Trong ngục có động tĩnh gì không?”

Phùng Quý đáp: “Bẩm đại nhân, không có động tĩnh gì!”

“Đây là nơi trọng yếu trong ngục, không được để xảy ra mảy may sai sót. Bản phủ là quan mới nhậm chức, mọi người lại đều đang trong phủ uống rượu, bản phủ rất không yên tâm, muốn đi kiểm tra một lượt, các ngươi dẫn bản phủ đi được chăng?”

Phùng Quý, Trần Kỳ vội đặt bát rượu và miếng thịt trong tay xuống, đưa tay áo chùi miệng, đốt đuốc dẫn Bạch Hổ đi kiểm tra nhà lao. Kiểm tra tới gian cuối cùng, Bạch Hổ chỉ tay vào trong lao: “Phùng Quý, nghe nói chúng là khâm phạm, phải canh chừng thật nghiêm ngặt. Ngươi mở cửa ra, để bản phủ vào xem thế nào!”

Phùng Quý bèn mở cửa nhà lao, cùng Bạch Hổ đi thẳng vào trong. Bàng Quyên, Tôn Tân đã sớm biết dụng ý của Bạch Hổ, nên chỉ nằm bất động trên đất.

Bạch Hổ nhìn hai người họ một lát, ngẩng đầu hỏi: “Xiềng trên chân chúng liệu có mở ra được không?”

Phùng Quý chỉ tay vào chìa khoá bên hông: “Hồi bẩm đại nhân, xiềng xích của tử tù đều giống nhau, chìa khoá này có thể mở được tất cả!”

Bạch Hổ gật đầu, rồi đi ra khỏi nhà lao. Phùng Quý đang mải khoá cửa, thì Bạch Hổ thình lình rút kiếm đâm Trần Kỳ. Phùng Quý nghe thấy tiếng kêu sau lưng, vội ngoảnh lại nhìn, đã thấy Trần Kỳ đổ phịch xuống đất, nhất thời kinh hoàng đứng chết trân tại chỗ. Bạch Hổ rút kiếm ra, chĩa mũi nhọn vào giữa ngực Phùng Quý.

Phùng Quý khiếp đảm, hai chân run bắn, lắp bắp: “Đại… đại nhân!”

Bạch Hổ thở dài: “Phùng Quý, lát nữa gặp Trần Kỳ, ngươi hãy nói với hắn là bản phủ có lỗi với các ngươi. Vợ con các ngươi, bản phủ sẽ nuôi dưỡng chu đáo!” Lời vừa dứt, mũi kiếm đã xuyên thấu qua lưng Phùng Quý.

Bạch Hổ lấy chùm chìa khoá đeo bên hông Phùng Quý, mở cửa nhà lao, mở xiềng xích cho Bàng Quyên và Tôn Tân, rồi lại kéo xác Phùng Quý, Trần Kỳ vào trong nhà lao, lấy kiếm của họ đưa cho Bàng Quyên, Tôn Tân, bảo hai người cởi quần áo của họ ra mặc vào: “Ân công, nơi này không phải chỗ nói chuyện, mau đi theo tại hạ!”

Bàng Quyên thoáng ngẫm nghĩ một lát, rồi đưa ngón tay chấm đẫm máu của hai tên ngục tốt, viết lên tường: “Mối thù giết cha, không đội trời chung; gian tặc Trần Chẩn, chờ ta ba năm! Bàng Quyên”.

Bàng Quyên viết xong, rồi cùng Tôn Tân đi theo Bạch Hổ, chạy thẳng ra ngoài.

Lúc gần đến cổng hình ngục, Bạch Hổ bảo hai người giả bộ say rượu, bá vai bá cổ nhau, lảo đảo đi ra. Lính canh cửa biết bên trong có tiệc rượu, lại thấy hai người mặc trang phục ngục tốt, có vẻ đã say mèm, nên không để ý thật giả, cho hai người đi ra.

Sau khi ra khỏi cổng hình ngục, hai người ẩn vào một chỗ khuất, chờ một lúc thì thấy Bạch Hổ vội vàng chạy tới. Bàng Quyên liền gọi lại, ba người cấp tốc theo phố mà đi, thẳng tới bên tường thành. Vì không có chiến sự nên trên mặt tường thành không có lính canh. Ba người chọn được một nơi kín đáo, Bạch Hổ mở chiếc túi mang theo, lấy ra hai bộ quần áo cho hai người thay đổi, sau đó lại lấy một sợi dây thừng quẳng lên trên mặt tường thành.

Làm xong mọi việc, Bạch Hổ mới quỳ xuống dập đầu nói: “Ân công, xin hãy nhận của Bạch Hổ một lạy!”

Bàng Quyên vội đỡ Bạch Hổ dậy: “Bạch thiếu gia mau đứng lên!”

Bạch Hổ bèn đứng dậy. Bàng Quyên nói: “Sao thiếu gia lại khấu lạy tại hạ? Nếu nói khấu lạy, phải là tại hạ lạy thiếu gia mới đúng! Nếu không có thiếu gia, chắc chắn tại hạ sẽ phải bỏ mạng!”

“Xin ân công đừng nói vậy! Không có ân công, thì Bạch Hổ ngày nay còn chẳng bằng giống súc sinh!”

“Được rồi, không nói chuyện này nữa!” Bàng Quyên chỉ sang Tôn Tân. “Bạch thiếu gia, đây là Tôn Tân, huynh đệ kết nghĩa trong nhà lao của tại hạ!”

Bạch Hổ vòng tay: “Bạch Hổ xin chào Tôn tướng quân! Đại danh của Tôn tướng quân, tại hạ đã ngưỡng mộ từ lâu!”

Tôn Tân vòng tay nói: “Tại hạ xin chào Bạch thiếu gia. Bạch thiếu gia thả chúng tôi đi, nếu bên trên điều tra ra, sẽ là tội chết!”

“Tôn tướng quân yên tâm, chuyện này đã có tại hạ lo liệu. Không nên chậm trễ nữa, hai người hãy đi mau!” Bạch Hổ nói xong, lại lấy từ trong người ra một vật, ấn vào tay Bàng Quyên. “Ân công hãy cầm lấy thứ này, rồi mau ra khỏi thành!”

Bàng Quyên nhận lấy, thấy nặng nặng, biết là túi tiền nên cũng không từ chối, cầm tay mà Bạch Hổ nói: “Huynh đệ tốt, hẹn ngày gặp lại!” Sau đó vái dài một lễ, rồi quay người bám dây đu lên, vượt qua thành. Tôn Tân cũng vòng tay từ biệt rồi trèo theo.

Bạch Hổ vẫy tay từ biệt hai người, rồi quay trở lại, nhanh chóng chìm vào bóng tối.

Trong phủ thượng đại phu, Trần Chẩn đang viết chữ trong phòng thì Thích Quang hấp tấp đi vào, chẳng kịp hành lễ đã lắp ba lắp bắp: “Chúa công, xảy… xảy ra chuyện lớn rồi!”

Trần Chẩn đặt bút xuống, liếc mắt nhìn ông ta: “Chuyện lớn gì?”

“Bàng Quyên, bọn chúng… trốn thoát rồi!”

Trần Chẩn giật bắn mình, hai mắt trợn trừng nhìn Thích Quang, có vẻ như không tin vào tai mình: “Bị nhốt trong nhà lao tử tù, làm sao lại trốn được?”

“Đã trốn thoát tối qua! Bàng Quyên giả bị đau bụng, lừa ngục tốt lại gần, giết chết hai tên ngục tốt, lấy chìa khoá trên người họ để mở khoá, rồi lại mặc quần áo ngục tốt để vượt khỏi thành!”

Trần Chẩn chau tít đôi mày: “Chu Uy có biết không?”

“Tiểu nhân đã cho người dò la, Chu Uy sau khi biết chuyện đã nổi trận lôi đình, lập tức cho dán thông cáo truy nã, bãi chức tư hình, dâng biểu tấu lên bệ hạ!”

“Ồ?”

Thích Quang bước lại gần một bước, nói khẽ: “Chúa công, tiểu nhân rất nghi ngờ sự việc này. Hình ngục của Đại Ngụy, tường vây trùng trùng, canh giữ nghiêm ngặt, mấy chục năm nay chưa từng có tử tù vượt ngục bao giờ. Nhưng chỉ trong mấy ngày, phạm nhân mà phủ ta đưa đến đã trốn thoát!”

“Theo ý của ngươi, chuyện này có liên quan tới tư đồ?”

“Tiểu nhân chỉ đoán như vậy! Còn nữa… tên Bàng Quyên còn dùng máu viết hai hàng chữ lên tường!”

“Dùng máu để viết? Viết gì?”

“Mối thù giết cha, không đội trời chung; gian tặc Trần Chẩn, chờ ta ba năm!”

Trần Chẩn bàng hoàng, một lúc sau mới thở dài mà nói: “Xem ra ngươi đã đoán đúng, không nên đưa họ tới quan phủ!” Rồi nét mặt lộ vẻ căm hận. “Chu Uy kia thật to gan, ngoài mặt thì đù đờ, mà hành sự thật ghê gớm, còn dám…”

“Chúa công nói rất đúng, Bàng Quyên chắc chắn do ông ta thả ra, chúa công hãy tố cáo chuyện này lên bệ hạ!”

Trần Chẩn suy nghĩ một hồi lâu, rồi lắc đầu nói: “Tố cáo phải có chứng cứ. Hình ngục là địa bàn của ông ta, ông ta dám thả người, chắc chắn đã có tính toán từ trước. Hơn nữa, chắc chắn Công Tôn Diễn cũng biết rõ chuyện ở lầu Nguyên Hanh. Hai người họ đã móc nối với nhau, nếu ta tố cáo, chắc chắn ông ta sẽ quay đầu cắn lại ta. Hiện giờ lầu Nguyên Hanh tiếng xấu khó giấu, nếu bệ hạ hay tin, lại mượn cớ điều tra, chẳng phải sẽ làm hỏng đại sự của ta ư? Hơn nữa, Chu Uy lại là quốc thích, nắm trong tay quyền cao chức trọng, rất được bệ hạ tin tưởng. Hiện giờ đang là thời khắc trọng yếu, chúng ta không thể vì chút chuyện vặt này mà tự làm mình rối loạn!”

“Chúa công nhìn xa trông rộng, tiểu nhân kính phục!”

Trần Chẩn cười nhạt nói: “Còn về tên Bàng Quyên, cứ để cho hắn sống, xem hắn làm được trò trống gì? Phái người đi tìm hắn, gặp được lập tức tiền trảm hậu tấu! Bất kể người nào, chỉ cần lấy được đầu Bàng Quyên, sẽ trọng thưởng trăm lượng vàng!”

“Tiểu nhân tuân lệnh!”

#?

Bàng Quyên, Tôn Tân trốn khỏi An Ấp, không đi đường lớn mà men theo đường mòn, chưa đến một ngày đã sang được địa phận nước Hàn.

Đến được nước Hàn, hai người cùng thở phào nhẹ nhõm, bước đi cũng tự tin hơn. Đi được vài dặm thì gặp một ngã ba, hai người cùng dừng bước.

Bàng Quyên đi lên phía trước, nhìn cột mốc bên đường, nói với Tôn Tân: “Hai ngả đường này, một đường đi về phía nam, có thể đến Nghi Dương; đường còn lại hướng bắc, có thể đến Thượng Đảng. Tôn huynh, chúng ta nên đi đường nào?”

“Hiền đệ muốn đi đâu?”

“Trong lòng Quyên chỉ có bốn chữ, báo thù rửa hận, ngoài ra không còn điều gì khác!”

Tôn Tân trầm ngâm suy nghĩ: “Tâm tư của hiền đệ, Tân có thể thấu hiểu. Có điều hiện giờ thời cơ chưa đến, nếu hiền đệ cứ làm liều, e rằng thù chưa báo được mà mạng đã mất!”

Bàng Quyên gật đầu nói: “Tôn huynh nói chí phải! Hiện giờ đệ cũng không biết nên đi đâu về đâu, Tôn huynh có nơi nào để đi chăng?”

“Lần này huynh lên đường, vốn định đến núi Vân Mộng!”

“Núi Vân Mộng? Tới đó làm gì?”

“Không giấu hiền đệ, khi còn ở nước Vệ, huynh đã được gặp cự tử Mặc gia. Ta rất kính phục cự tử, thành tâm bái làm sư phụ. Không ngờ cự tử lại bảo ta đến núi Vân Mộng bái sư học nghệ. Theo cự tử nói, trong núi Vân Mộng có một cao nhân đắc đạo, tên gọi Quỷ Cốc Tử, người này học vấn uyên thâm, không gì không biết. Huynh tin lời cự tử, nên muốn đến bái tiên sinh làm sư phụ. Vốn định tới cửa Túc Tư để vượt Hà Thuỷ, rồi đi thẳng tới núi Vân Mộng, không ngờ gặp phải kẻ trộm, sau đó lại gặp được hiền đệ, rồi mới xảy ra một loạt sự việc sau này.”

Bàng Quyên cười nói: “Xem ra, huynh đệ chúng ta đã có duyên từ kiếp trước, muốn tránh cũng chẳng được. Không biết huynh bái Quỷ Cốc tiên sinh là muốn học môn gì?”

Tôn Tân cũng cười mà nói: “Huynh bản tính ngu muội, ngoài binh pháp ra chẳng có niềm vui nào khác, vì vậy muốn tới bái tiên sinh để học cái đạo dụng binh!”

Bàng Quyên hai mắt mở to, hào hứng nói: “Đạo dụng binh? Đây cũng là ước nguyện trong lòng đệ!”

“Ồ? Hiền đệ đã nói vậy, thì huynh đệ chúng ta hãy cùng tới núi Vân Mộng, bái Quỷ Cốc tiên sinh làm sư phụ!”

“Được, đợi sau khi đệ tu học thành tựu, sẽ lại đến tìm gian tặc kia tính sổ!”

Tôn Tân nhìn hai con đường trước mặt, hỏi: “Hiền đệ, không biết đường nào đi tới núi Vân Mộng tiện hơn?”

Bàng Quyên chỉ tay vào con đường đi lên phía bắc: “Đường này!”

***

Núi Vân Mộng vào thu, cảnh sắc tuyệt diệu khác thường. Vì mới đầu thu nên lá cây vẫn chưa vàng úa, thời tiết cũng chưa trở lạnh, vừa không có cảnh tượng u sầu gió thu quét rụng lá cây, lại không còn cái nóng nực ngày hè, tươi đẹp mát mẻ, thực khiến người ta sảng khoái.

Tô Tần và Trương Nghi men theo khe núi, đắm mình trong làn gió thu hiu hiu, tâm trạng cũng phơi phới hệt như cảnh thu, tình thu trước mắt, bốn bàn chân bước đi mỗi lúc một nhanh. Qua mấy quãng đường quanh, họ tiến vào một sơn cốc, thấy nơi cửa cốc có dựng tấm bia đá, trên khắc hai chữ “Quỷ Cốc”.

Hai người dừng lại bên tấm bia đá, rồi cùng vái tấm bia một vái, sau đó mới tiếp tục đi vào trong cốc. Đi dọc theo con suối trong sơn cốc chừng hơn hai dặm, quả nhiên thấy trước mặt xuất hiện một thảo đường, trước thảo đường có một tiểu đồng đang ngồi. Bước lại gần, họ lập tức nhận ra đó chính là tiểu đồng đã gặp ở Lạc Dương, thì trong lòng mừng rỡ. Tiểu đồng khoanh chân nhắm mắt, ngồi trên bãi cỏ, thản nhiên như không có chuyện gì.

Trương Nghi bước lên trước một bước, vòng tay hỏi: “Xin hỏi tiểu đồng, nơi đây phải chăng là Quỷ Cốc?”

Tiểu đồng dường như không nghe thấy, vẫn ngồi yên bất động. Kỳ thực, ngay từ khi họ tiến vào trong cốc, tiểu đồng đã nhìn thấy. Tư thế này là do tiểu đồng cố tình bày ra cho hai người thấy.

Trương Nghi biết tiểu đồng đang giả bộ, nhưng không còn cách nào khác, nên đành vòng tay vái, cao giọng hỏi: “Xin hỏi tiểu đồng, nơi đây phải chăng là Quỷ Cốc?”

Tiểu đồng mở mắt ra, đưa mắt nhìn Trương Nghi một lượt, rồi bắt chước giọng điệu của người lớn, chậm rãi nói: “Khi các người tiến vào, có nhìn thấy một tấm bia đá khắc chữ lớn hay không?”

Trương Nghi gật đầu: “Có nhìn thấy!”

Tiểu đồng lại nhắm mắt lại: “Đã nhìn thấy rồi, vậy còn hỏi làm gì?”

Trương Nghi vỗ trán, quay sang Tô Tần cười ngượng nghịu: “Ôi, vừa vào trong cốc đã thành kẻ ngốc!” Rồi quay sang tiểu đồng. “Xin hỏi, Quỷ Cốc tiên sinh có nhà không?”

Tiểu đồng từ từ đứng dậy, ngoái đầu về phía gian thảo đường, cất tiếng gọi: “Chị Thiền Nhi, có khách đến!”

Một lát sau, Ngọc Thiền ăn mặc theo lối sơn nữ bước ra, nhìn thấy Trương Nghi, Tô Tần thì sững người ngạc nhiên, nhưng rồi nhanh chóng định thần, chậm rãi bước tiếp.

Vừa nhìn thấy Ngọc Thiền, tim Trương Nghi đã nảy lên thình thịch, mắt mở tròn nhìn nàng không chớp, cả người ngây ra như một gã đần.

Tô Tần cũng giật mình kinh ngạc, ghé sát tai ngân nga với Trương Nghi: “Là Vũ công chúa!”

Trương Nghi vẫn đứng đờ ra tại chỗ, dường như không nghe thấy Tô Tần nói gì.

Ngọc Thiền đi tới bên cạnh tiểu đồng. Tiểu đồng thấy họ vẫn đứng ngây ra, liền gọi lớn: “Chị Thiền Nhi ra rồi, có gì thì mau nói đi!”

Tô Tần đưa khuỷu tay huých khẽ Trương Nghi, Trương Nghi giật mình choàng tỉnh, vội vàng bước lên phía trước, vòng tay vái mà nói: “Trương Nghi xin chào Vũ công chúa!”

Ngọc Thiền cười nhạt mà nói: “Trương sĩ tử nhận nhầm người rồi, nơi này không có Vũ công chúa!”

Trương Nghi ngẩn người, rồi lại vái một vái: “Trương Nghi xin chào tiên cô!”

Ngọc Thiền giọng vẫn lạnh lùng: “Nơi này cũng không có tiên cô, tiểu nữ tên gọi Ngọc Thiền!”

Trương Nghi đành phải vái thêm một lễ nữa: “Trương Nghi xin chào Ngọc Thiền cô nương!”

Ngọc Thiền vòng tay đáp lễ: “Hai vị sĩ tử đến u cốc, không biết có chuyện gì?”

“Hồi bẩm cô nương, chúng tôi đến để bái kiến Quỷ Cốc tiên sinh!”

“Xin hỏi hai vị, bái kiến tiên sinh có việc gì?”

“Việc này…” Trương Nghi không tiện nói tiếp, bèn đưa mắt nhìn Tô Tần.

Tô Tần bước lên trước một bước, vòng tay vái một vái thật dài, rồi kéo dài giọng ngân nga: “Tại hạ Tô Tần người Lạc Dương, Tô Tần xin chào Ngọc cô nương! Vương thành gặp cầm sư trên đường, cầm sư đưa cho một cẩm nang. Cẩm nang chỉ tôi đến nơi này, mong được cô nương giúp một tay!”

Ngọc Thiền thấy Tô Tần không còn nói lắp nữa, lại ngâm ngợi nghe cũng vui tai, cộng thêm lúc ở trong cung cũng từng gặp chuyện túi gấm, sắc mặt tươi tỉnh hẳn lên, vái đáp lễ mà nói: “Ngọc Thiền xin chào Tô sĩ tử, xin hỏi sĩ tử, túi gấm ở đâu?”

Tô Tần lấy từ trong ngực áo ra một chiếc túi gấm, nâng hai tay đưa lại. Ngọc Thiền ra hiệu, tiểu đồng liền bước tới nhận lấy, đưa lại cho nàng.

Ngọc Thiền mở túi gấm ra đọc một lượt, rồi trả lại cho Tô Tần, nói: “Sĩ tử có túi gấm này, ắt đã có duyên với tiên sinh. Có điều hiện giờ tiên sinh đi vân du chưa về, Ngọc Thiền không thể giữ sĩ tử ở lại. Xin sĩ tử tạm thời xuống núi, đợi ngày tiên sinh trở về rồi hãy quay lại, được chăng?”

Trương Nghi vội hỏi: “Cô nương có biết khi nào tiên sinh trở về không?”

Chưa đợi Ngọc Thiền lên tiếng, tiểu đồng đã đáp lời: “Tiên sinh vân du, trước nay chưa từng có thời hạn cố định, có thể là mười ngày nửa tháng, có thể là nửa năm, cũng có thể là dăm ba năm!”

Trương Nghi thất kinh, quay sang nhìn Tô Tần: “Tô huynh, việc này…”

Tô Tần lại vòng tay vái, cất giọng hát: “Khẩn cầu Ngọc Thiền cô nương, giúp chúng tôi thêm một lần; xin cho chúng tôi lưu lại cốc, đợi ngày tiên sinh về thảo đường.”

Ngọc Thiền đáp: “Hai vị sĩ tử muốn ở lại trong cốc để đợi tiên sinh, tiểu nữ không phản đối. Chỉ có điều thảo đường nhỏ bé, lại không có nhiều phòng, hai vị sĩ tử sao có thể ở được?”

Trương Nghi nghe thấy vậy, vội nói: “Cô nương yên tâm, núi này sơn thuỷ tuyệt đẹp, nơi đâu cũng có thể ở, chúng tôi tuyệt đối không phiền đến cô nương!”

Tiểu đồng tiếp lời: “Ban ngày thì sơn thuỷ tuyệt đẹp, không vấn đề gì. Nhưng đêm dài đằng đẵng, các vị sẽ ở đâu?”

Trương Nghi nháy mắt: “Tiểu huynh đệ, nói cho cậu biết nhé, đến tối chúng tôi sẽ học theo họ Hữu Sào(2), trèo lên cây lớn, bện cành lá với nhau làm tổ, sau đó chui vào trong đó ngủ, vừa tránh được gió, lại tránh được cả mưa!”

Tiểu đồng liếc xéo Trương Nghi, cười khúc khích mà nói: “Trên cây kể ra cũng tốt, có điều trong núi này có báo đốm, chúng biết trèo cây, lại chuyên săn mồi ban đêm. Còn có mãng xà, nếu ban đêm chúng ngửi thấy mùi thức ăn ngon rồi bò lên cây, thì sĩ tử sẽ…”

Trương Nghi nghe tiểu đồng doạ, trong lòng cũng thấy rờn rợn, thì Tô Tần lại hát: “Cô nương có lòng giữ lại, Tô Tần đa tạ cô nương. Còn việc chỗ ăn chỗ ngủ, chúng tôi tự biết liệu đường!”

“Hai vị sĩ tử đã quyết ý ở lại, xin cứ tự nhiên!”

Nói xong, Ngọc Thiền quay người đi luôn vào trong thảo đường.

Tô Tần ngửa đầu nhìn trời, ra hiệu cho Trương Nghi rồi mình đi trước, đến trước gian thảo đường, đặt tay nải xuống. Trương Nghi cũng đi theo, cùng Tô Tần trèo lên một con dốc cao. Tô Tần phóng mắt nhìn khắp xung quanh, sau đó xuống dốc, đi đến một lũng núi cách thảo đường chừng hai trăm bước, quay trước quay sau quan sát một hồi, cảm thấy hài lòng, bèn nhìn Trương Nghi gật đầu.

Trương Nghi không hiểu, nhìn Tô Tần ngạc nhiên: “Tô huynh, huynh định làm gì?”

Tô Tần hát: “Nơi đây thích hợp đọc sách, có thể dựng lều làm nhà!”

“Dựng lều làm nhà? Dựng lều làm nhà như thế nào?”

“Hiền đệ hãy lấy rìu cưa, cùng huynh vào rừng chặt gỗ!”

Trương Nghi đi đến trước nhà cỏ, mượn tiểu đồng rìu và cưa. Tiểu đồng lấy ra một cây rìu, nói không có cưa. Trương Nghi nhìn cây rìu, thấy khá sắc, bèn vòng tay đa tạ, sau đó giắt vào hông, cùng Tô Tần lên núi. Một lúc sau, mỗi người đã vác theo một thân gỗ lớn trở xuống.

Hai người miệt mài đến tận tối, đã dựng được hơn mười thanh gỗ trong lũng núi. Vào lúc chập tối, thời tiết rất đẹp, tiểu đồng cho hai người mượn một manh chiếu cỏ và tấm chăn mỏng, hai người nằm ngủ luôn trên cỏ. Có lẽ do đã thấm mệt, nên họ chưa kịp trò chuyện gì đã ngủ say sưa.

Đến khi gần sáng, sương xuống dầm dề, trời trở lạnh buốt, hai người đều ướt mèm, thấm lạnh mà tỉnh giấc. Tô Tần biết không thể ngủ tiếp được nữa, bèn cùng Trương Nghi lên núi, lại hì hục đến khi trời tối, tiếp tục vác về hơn chục cây gỗ lớn nhỏ. Đến ngày thứ ba, Tô Tần mượn một chiếc liềm, hai người đi cắt cỏ về rải xuống đất. Sau đó là chuyển đá, cắt dây leo, bận rộn liền mấy ngày trời, cuối cùng cũng đã chuẩn bị đủ các vật liệu để dựng nhà.

Sau đó một vài ngày, hai người chỉ dựa vào đôi bàn tay, đã dựng được hai gian nhà cỏ giản dị trong lũng núi. Đến hoàng hôn ngày thứ mười, Tô Tần trèo lên nóc nhà, lợp xong bó cỏ cuối cùng.

Trương Nghi xuất thân công tử nhà giàu, chưa bao giờ phải làm việc nặng nhọc. Lần này đích thân dựng được hai gian nhà cỏ, trong lòng vô cùng phấn chấn, hết chạy ra cửa này lại chạy vào cửa kia hệt như trẻ nít, sau đó nhảy tưng tưng ra khỏi nhà, đi khoảng hai chục bước, nheo mắt lại ngắm nghía kiệt tác của mình.

Tô Tần nhìn ngang ngắm dọc một hồi, thấy đã hoàn thiện, lúc này mới trèo xuống thang, đưa tay vẫy Trương Nghi. Trương Nghi chạy như bay đến gần, miệng cười hi hả, vỗ bồm bộp vào vai Tô Tần: “Giỏi lắm Tô huynh, không ngờ huynh lại tài khéo đến thế! Ha ha ha, nếu để mình đệ ở đây, chắc đệ đã leo lên cây làm tổ rồi!”

Đúng lúc này, từ phía xa có tiếng tiểu đồng gọi vọng lại: “Hai vị sĩ tử, chị Thiền Nhi gọi hai vị tới ăn cơm!”

Nghe nói Ngọc Thiền thưởng cơm, hai người đều ngạc nhiên đến sững sờ. Trương Nghi mừng rơn mà nói: “Tô huynh, mau, chắc chắn nhị công chúa thấy chúng ta vất vả suốt mấy ngày nay nên mới ban thưởng đấy!”

Tô Tần xoa tay, vỗ đập lên người, phủi đi vụn cỏ bám trên quần áo, rồi cười ngượng nghịu.

Trên bãi cỏ trước thảo đường, tiểu đồng đã bày sẵn một âu cháo và hai cái bát trên bàn đá, trong âu có một cái muôi.

Ngọc Thiền ngồi khoanh chân trên cỏ, đưa mắt nhìn hai người, khẽ cười mà nói: “Mấy ngày nay, hai người chắc đã mệt nhoài, hãy lại đây ăn chút cháo loãng!” Rồi đưa mắt cho tiểu đồng.

Tiểu đồng cầm bát và muôi lên, múc đầy hai bát, rồi đặt trước mặt mỗi người một bát. Trương Nghi bưng bát lên, thấy không còn quá nóng, bèn húp soàn soạt liền mấy miếng, chép miệng kêu lên: “Thơm quá!” Rồi quay sang phía Ngọc Thiền. “Là cô nương nấu ư?”

Tiểu đồng đáp: “Đương nhiên là chị Thiền Nhi nấu rồi!”

Trương Nghi vốn sẵn có ý nịnh nọt, lập tức mở miệng khen liền: “Chậc chậc, Trương Nghi chưa bao giờ được ăn thứ cháo nào thơm ngon đến vậy!”

Ngọc Thiền phì cười: “Lời này của Trương sĩ tử, e rằng là do đói quá mà nên!”

Trương Nghi quay sang nhìn Tô Tần: “Có phải là do đói quá hay không, Tô huynh hãy nói xem!”

Tô Tần đang húp cháo, nghe vậy bèn nuốt vội xuống, ngẫm nghĩ một lát, rồi lại cất tiếng hát: “Tô Tần thành tâm khen ngợi, cháo này vị ngọt hương thơm!”

Trương Nghi quay sang cười với Ngọc Thiền: “Thấy chưa, không phải chỉ mình tại hạ thấy vậy đâu nhé!”

Ngọc Thiền chưa kịp đáp lời, tiểu đồng đã quay sang nói với Tô Tần: “Cháo chị Thiền Nhi nấu có ngon cỡ nào, cũng chẳng hay bằng sĩ tử hát!”

Ngọc Thiền lại bật cười thành tiếng, nhưng tiểu đồng không cười, mà tò mò nhìn Tô Tần: “Tiểu đồng nghĩ mãi không hiểu, tại sao Tô sĩ tử cứ mở miệng là hát thế?”

Tiểu đồng rõ ràng là đã biết còn cố hỏi. Tô Tần đỏ bừng mặt, luống cuống hồi lâu mới ngân nga: “Tô Tần bẩm sinh lưỡi cứng nhắc, không biết nói năng chỉ biết hát!”

Tiểu đồng cúi đầu suy nghĩ một lát, rồi gật gù nói: “Ồ, tiểu đồng hiểu rồi! Nếu Tô sĩ tử nói chuyện thì sẽ bị nói lắp, còn hát thì sẽ không bị lắp, có đúng vậy không?”

Tô Tần gật đầu.

Tiểu đồng lại ngẫm nghĩ rồi nói: “Tô sĩ tử, hát tuy nghe cũng hay đấy, nhưng lại phải mất công soạn lời. Nếu chỉ hát dăm ba ngày thì còn dễ soạn, nhưng nếu hát cả đời, hẳn Tô sĩ tử không thể nghĩ ra được nhiều lời hát đến vậy?”

Lời này đã nói trúng chỗ băn khoăn của Tô Tần, Tô Tần thở dài một tiếng rồi cúi đầu xuống.

Tiểu đồng tỏ vẻ thương cảm, đứng dậy nhìn Tô Tần, khẽ thở dài: “Nói lắp thật là bất tiện. Tô sĩ tử đã từng nghĩ đến chuyện chữa trị căn bệnh này hay chưa?”

Tô Tần càng cúi đầu thấp hơn.

Ngọc Thiền mỉm cười, quay sang nói với tiểu đồng: “Tiểu đồng yên tâm, bệnh này tiên sinh sẽ có cách chữa. Tiên sinh đã để lại cho Tô sĩ tử một túi gấm, hẹn Tô sĩ tử vào trong sơn cốc, cũng chỉ vì muốn giúp sĩ tử chữa dứt bệnh này. Có điều sĩ tử đến không phải lúc, lại đúng dịp tiên sinh đi ngao du, nên mới phải đợi chờ.”

Nghe Ngọc Thiền nói vậy, Tô Tần, Trương Nghi đều giật nảy mình. Lần này họ đến, chữa bệnh chỉ là thứ yếu, bái sư học đạo mới là mục đích chính. Lời này của Ngọc Thiền rõ ràng đã chặn mất đường đi của họ. Nhưng trên túi gấm viết rất rõ ràng, hai người cũng không tiện nói thêm, chỉ đưa mắt nhìn nhau rồi lại cắm cúi húp cháo.

Tiểu đồng vỗ trán: “Nghe chị Thiền Nhi nói vậy, tiểu đồng mới nhớ lại một việc. Lúc tiên sinh chuẩn bị lên đường đã để lại một túi thuốc, nói là để chữa bệnh lưỡi. Tiên sinh không nói gì thêm, cái lưỡi của tiểu đồng lại chẳng có vấn đề gì, không cần phải uống thuốc, nên cứ để thuốc ở đó, mới có mấy ngày mà đã quên bẵng đi mất!”

Ngọc Thiền trâm ngâm suy nghĩ một lát, rồi gật đầu nói: “Nếu nói như vậy, túi thuốc này chắc chắn là do tiên sinh để lại cho Tô sĩ tử. Hãy mang lại đây xem sao!”

Tiểu đồng thoăn thoắt chạy đi, một lát sau đã mang túi thuốc tới.

Ngọc Thiền mở ra xem, mừng rỡ mà nói: “Mau nhìn xem, chính là thuốc mà tiên sinh để lại cho Tô sĩ tử, còn có chữ viết nữa!”

Ngọc Thiền lấy ra một mảnh tre, thấy có viết hai hàng chữ: “Thuốc cho Tô Tần, mỗi ngày một viên; trăm ngày thuốc hết, nói lắp sẽ khỏi. Dùng ngâm thay hát, luyện tập hàng ngày; dùng nói thay ngâm, đầu lưỡi tự mềm.”

Tô Tần cầm lấy nhìn, rồi đặt bát cháo xuống, quỳ sụp xuống đất, ngửa mặt nhìn lên không trung, rơi lệ mà vái lạy: “Tiên sinh, Tô Tần…”

Có lẽ do quá cảm động, Tô Tần lạy liền ba lạy, rồi gục đầu xuống đất, không nói được lời nào nữa. Trương Nghi thấy Tô Tần cứ gục mãi trên đất, liền đưa tay đỡ dậy, bật cười mà nói: “Tô huynh, đừng vì vui quá mà quên mất lời tiên sinh. Tiên sinh đã bảo huynh dùng ngâm thay hát, luyện tập hàng ngày. Huynh đã hát lâu như vậy, bây giờ đến lúc phải ngâm rồi! Nào, trước tiên hãy ngâm một bài thơ, bài ‘Quan quan thư cưu’ đi!”

Tô Tần gật đầu, thấy Ngọc Thiền, tiểu đồng đều nhìn mình chăm chú, liền cất giọng ngâm:

Thư cưu ríu rít,

Trên cồn bãi sông.

Cô gái dịu dàng,

Sánh cùng quân tử.

So le rau hạnh,

Phải trái ven dòng.

Cô gái hiền thục,

Thức ngủ mơ mòng.

Mơ nàng chẳng gặp,

Thức ngủ nhớ nhung.

Nhớ nhung dằng dặc,

Trằn trọc bâng khuâng…(3)

Tô Tần ngâm một mạch hết bài thơ, quả nhiên không bị lắp chỗ nào.

Trương Nghi vỗ tay reo lên: “Đúng là phương pháp tuyệt hay! Nghe Tô huynh ngâm thơ, đâu có giống người nói lắp?”

Tô Tần mỉm cười, quay sang vòng tay vái Ngọc Thiền và tiểu đồng, ngâm rằng: “Tô Tần đa tạ tiểu đồng, Tô Tần đa tạ Ngọc Thiền cô nương!”

Ngọc Thiền, tiểu đồng đều vái đáp lễ. Tiểu đồng cười khanh khách mà nói: “Đúng là ngâm tốt hơn, không cần phải soạn sẵn câu từ, Tô sĩ tử muốn nói gì, cứ thuận miệng ngâm ra là được.”

Tô Tần mỉm cười với tiểu đồng, đang định nói thì thấy Ngọc Thiền đưa túi thuốc lại, rồi quét mắt qua Tô Tần, Trương Nghi, lập tức đổi giọng, chậm rãi nói: “Tô sĩ tử, túi gấm mà tiên sinh đưa cho sĩ tử đâu?”

Tô Tần đưa tay vào trong tay áo, lấy túi gấm ra, hai tay đưa lại, ngâm nga: “Hồi bẩm cô nương, túi gấm đây!”

Ngọc Thiền nhận lấy túi gấm, chẳng buồn nhìn đã nhét luôn vào trong tay áo, sau đó vái hai người một vái: “Tô sĩ tử, điều tiên sinh hứa với sĩ tử trong túi gấm đã được hoàn thành. Hai vị còn tiếp tục ở lại, chẳng phải là chuyện dư thừa ư?” Nói đoạn, chỉ tay vào âu cháo. “Cháo này, coi như tiểu nữ tiễn biệt hai vị. Hai vi sĩ tử ăn uống no rồi, có thể xuống núi!”

Lời vừa nói ra, Tô Tần, Trương Nghi lập tức chết sững, đặc biệt là Trương Nghi, người ngây ra như khúc gỗ, cái bát cắm trong tay nghiêng sang một bên, phần cháo còn chưa húp hết chảy cả ra ngoài, rớt xuống bãi cỏ, mà vẫn không hề hay biết.

Tiểu đồng thấy vậy, vội kêu lớn: “Trương sĩ tử, mau, cháo của sĩ tử đổ hết xuống đất rồi!”

Trương Nghi giật mình, cúi xuống nhìn bát cháo, rồi lại đầu lên, hai mắt nhìn chằm chằm vào Ngọc Thiền.

Ngọc Thiền cũng nhìn lại, rồi lạnh nhạt nói: “Trương sĩ tử cứ nhìn tôi như vậy là vì sao?”

Trương Nghi bừng tỉnh, liền đặt bát cháo xuống bàn: “Ngọc Thiền cô nương, nếu đã nói vậy, thì bát cháo này tại hạ sẽ không ăn nữa!”

Tiểu đồng cầm bát lên nhìn, rồi chỉ tay vào, cười toáng lên: “Trương sĩ tử, bát cháo đã sắp trơ cả đáy rồi, sĩ tử lại nói không ăn, như vậy sao được?”

Trương Nghi giở bài ương bướng: “Chỗ rơi trên đất hiện vẫn còn đó; chỗ đã ăn vào, tại hạ trả lại là được!” Nói đoạn, liền đi sang một bên, thò tay vào cổ họng móc liền mấy cái, chớp mắt, nửa già bát cháo đã ăn vào đều nôn ra bằng hết.

Ngọc Thiền lạnh lùng nhìn Trương Nghi, đợi hắn nôn xong mới nói: “Trương sĩ tử, bát cháo này chỉ là chút lòng thành của tiểu nữ. Sĩ tử ăn vào, coi như xem trọng tiểu nữ. Sĩ tử không ăn, tiểu nữ cũng chẳng còn gì để nói!”

Nói đoạn đi tới trước bàn đá, cầm lấy chiếc bát gỗ mà Tô Tần vừa đặt xuống, lại múc đầy, hai tay đưa cho Tô Tần: “Tô sĩ tử, xin mời!”

Tô Tần đưa hai tay ra nhận, khom lưng cúi đầu hành lễ với Ngọc Thiền, ngâm nga: “Tô Tần đa tạ Ngọc Thiền cô nương!”

“Tô sĩ tử uống hết bát cháo này, coi như đã là đa tạ!”

Tô Tần không nói thêm một lời, đưa bát cháo lên húp liền mấy hơi, hết veo phân nửa.

Trương Nghi thấy thái độ của Ngọc Thiền như vậy, trong lòng cuống quýt, nói không thành câu: “Trời… trời xanh chứng giám, tại hạ… tại hạ không có ý đó, không phải tại hạ coi thường cô nương, mà là… mà là…”

Ngọc Thiền đưa ánh mắt lạnh lẽo nhìn Trương Nghi, ngắt lời: “Trương sĩ tử, Tô sĩ tử, các vị coi trọng cũng được, coi thường cũng không sao, tất cả đều xứng đáng. Tiểu nữ không cảm kích, cũng chẳng buồn lòng. Có điều hai vị sĩ tử không thể tiếp tục ở trong sơn cốc này, cũng chẳng có lý do để ở tiếp nữa! Tiểu nữ mong hai vị hãy mau xuống núi cho, nếu không, đến khi tiên sinh trở về, chắc chắn sẽ trách mắng tiểu nữ!”

Tô Tần đã nhận ra, Ngọc Thiền kiên quyết muốn đuổi họ xuống núi. Lúc trước họ đã bàn nhau sẽ lên núi học nghệ, nay còn chưa gặp được tiên sinh mà đã bị đuổi đi, thực là nằm ngoài dự liệu.

Tô Tần húp cháo chậm lại, cúi đầu suy nghĩ tìm kiếm đối sách. Khi bát cháo vừa húp hết, cũng là lúc Tô Tần nảy ra một ý, liền đặt chiếc bát không lên mặt bàn, lại khom lưng trước Ngọc Thiền, ngâm nga: “Tô Tần đa tạ cháo ngon của cô nương!”

“Lời của tiểu nữ, Tô sĩ tử vẫn chưa trả lời!”

Tô Tần kéo dài giọng, nửa ngâm nửa hát: “Bây giờ Tô Tần sẽ trả lời cô nương!” Rồi tay nâng túi thuốc lên. “Tiên sinh để lại túi thuốc này, chỉ nói là có thể chữa khỏi bệnh cho tại hạ, nhưng thuốc có hiệu nghiệm hay không, vẫn còn chưa biết. Hơn nữa, sau khi uống thuốc, nếu tại hạ cơ thể khó chịu, biết phải làm sao? Cô nương là người nhân từ, tại hạ khẩn cầu cô nương hãy mở lòng từ bi, để hai chúng tôi ở lại trong cốc thêm vài ngày, một là đợi xem thuốc có hiệu nghiệm hay không, hai là cung kính chờ đợi tiên sinh. Nếu quả thật tiên sinh có thể chữa khỏi bệnh nói lắp cho tại hạ, với tại hạ khác nào có ơn tái sinh, bất kể thế nào, tại hạ cũng phải gặp mặt tiên sinh nói lời cảm tạ mới phải!”

Lời Tô Tần hợp tình hợp lý, Ngọc Thiền không có cách nào phản bác, cũng thấy nếu cứ khăng khăng đuổi họ đi, hiển nhiên không được ổn thoả cho lắm, bèn đưa mắt nhìn tiểu đồng.

Tiểu đồng cười khúc khích mà nói: “Chị Thiền Nhi, Tô sĩ tử đã nói như vậy, thì cứ để họ ở lại. Dù sao thì trong cốc cũng không có người ngoài, tiên sinh lại không ở đây, thêm hai người để nói chuyện, chẳng phải sẽ vui hơn ư?”

Ngọc Thiền quay sang nói với Tô Tần: “Tô sĩ tử đã muốn ở lại vài ngày, vậy xin cứ tự nhiên. Tiểu nữ vào trong nhà đây!”

Thấy Ngọc Thiền đã thong thả đi vào thảo đường, Trương Nghi xoạc hai bước đã tới trước bàn đá, vét hết cháo ra bát rồi húp liền mấy hơi, chép miệng than thở: “Hay thật, cô nương này thật biết cách hành hạ người khác! Tại hạ phục rồi!”

Mấy ngày sau đó, trời mưa dầm dề không ngớt. Vì đã có hai gian nhà cỏ nên Tô Tần, Trương Nghi cũng dễ sống hơn.

Buổi trưa hôm đó, Tô Tần kéo Trương Nghi vào rừng kiếm chút nấm dại để thêm món cho bữa ăn. Hai người khoác theo sọt tre, đi ra khỏi cửa, đang định lên núi thì thấy tiểu đồng từ trong thảo đường tung tăng chân sáo nhảy ra, từ xa đã cất tiếng gọi, rồi chạy lại gần nói nhỏ: “Hai vị sĩ tử, nói cho hai vị biết, tiên sinh đi vân du, vừa nãy đã trở về!”

Tô Tần, Trương Nghi đưa mắt nhìn nhau, rồi quẳng luôn sọt tre xuống đất, vội vàng chạy về thay quần áo tề chỉnh, rồi lại chạy sang gian thảo đường của Quỷ Cốc Tử.

Nghe thấy tiếng nói, Ngọc Thiền liền bước ra.

Trương Nghi vòng tay nói: “Nghe nói tiên sinh đã trở về, chúng tôi muốn đến bái kiến, phiền cô nương báo giúp một tiếng!”

Ngọc Thiền chỉ tay vào tấm rèm tre vừa buông xuống: “Tiên sinh vừa trở về, giờ đang nghỉ trưa!”

Tô Tần, Trương Nghi cùng nhìn qua bức rèm, quả nhiên thấy tiên sinh đang ngồi ngay ngắn bên trong, giống như đã nhập định. Trương Nghi, Tô Tần không nói lời nào, chỉ khuỵu hai đầu gối, cùng quỳ xuống, dập đầu sát đất chờ đợi.

Một canh giờ trôi qua, Quỷ Cốc Tử vẫn ngồi bất động.

Lại một canh giờ nữa, Quỷ Cốc Tử vẫn ngồi bất động.

Trương Nghi huých khuỷu tay vào Tô Tần, Tô Tần quay sang nhìn Trương Nghi. Trương Nghi nói khẽ: “Không biết làm sao mà tim tiểu đệ cứ như bị mèo cào, đau nhói lên từng chặp!”

Tô Tần ngâm nga: “Hiền đệ là vì chuyện gì?”

Trương Nghi dẩu mỏ về phía tấm rèm tre: “Huynh nói xem, phải chăng tiên sinh vẫn còn giận về chuyện ở Lạc Dương mà không chịu thu nạp đệ?”

Lời còn chưa dứt, Quỷ Cốc Tử đã dang rộng hai tay, vươn người mấy cái, rồi cất giọng ngâm: “Xào xạc chừ gió núi, thâm u chừ rừng dày. Người đẹp chừ có hẹn, thoả thích chừ lòng này.”

Trương Nghi giật mình, lè lưỡi, rồi lại dập đầu sát đất.

Ngọc Thiền nghe thấy tiếng người, liền chậm rãi bước vào sau bức rèm, bẩm báo với Quỷ Cốc Tử: “Hai vị sĩ tử ở ngoài núi cầu kiến tiên sinh, đã đợi nhiều ngày rồi!”

Quỷ Cốc Tử nói: “Ồ, có khách đến ư? Mau kéo rèm lên!”

Ngọc Thiền liền kéo rèm, Quỷ Cốc Tử quay lại, ngồi đối diện với hai người.

Tô Tần, Trương Nghi lạy liền ba lạy, rồi phủ phục xuống đất.

Quỷ Cốc Tử cười vang, nói: “Lão hủ vân du đã nhiều ngày, hôm nay mới trở về, vốn chỉ định nghỉ ngơi chốc lát, không ngờ chợp mắt liền mấy canh giờ, đã để khách phải đợi lâu!”

Tô Tần ngâm nga: “Vãn bối mạo muội tìm đến sơn cốc, đã quấy quả sự thanh tịnh của tiên sinh, mong tiên sinh thứ lỗi!”

Quỷ Cốc Tử lại cười vang: “Lão hủ nhớ ra rồi, ngươi chính là vị khách quan ở thành Lạc Dương! Là lão hủ đã mời ngươi đến, cớ sao lại nói là mạo muội? Trước khi lão hủ vân du, đã chế sẵn thuốc để lại trong cốc, tiểu đồng đã đưa cho khách quan hay chưa?”

Tô Tần lại lạy, ngâm: “Vãn bối đã nhận thuốc của tiền bối, mỗi tối một viên, đã uống được mấy ngày!”

Quỷ Cốc Tử gật đầu nói: “Uống rồi thì tốt. Đối với sĩ tử, mặc dù thuốc này có thể làm mềm lưỡi, nhưng lại chưa phải là thứ cốt yếu!”

Tô Tần nghe mà giật mình. “Ý tiền bối là… bệnh của vãn bối, đến thuốc này cũng không thể chữa khỏi?”

“Đúng thế!” Quỷ Cốc Tử đáp. “Chứng nói lắp của sĩ tử không phải bẩm sinh đã có, mà do hậu thiên dưỡng thành. Sĩ tử tâm khí cao, nhưng lại thiếu tự tin. Đối với sĩ tử, nói lắp không phải là bệnh, thiếu tự tin mới là bệnh thực.”

Tô Tần trầm ngâm một lát, rồi lại bái lạy: “Vãn bối đa tạ tiên sinh đã chỉ rõ chỗ mê muội!”

Ánh mắt Quỷ Cốc Tử chuyển sang Trương Nghi: “Ồ, vị khách quan này, lão hủ cũng đã nhớ ra! Hẳn không phải là đuổi tận lên núi để xé phướn của lão hủ đấy chứ?”

Trương Nghi giật bắn mình, toàn thân lạnh toát, vội dập đầu mà nói: “Vãn sinh không dám!”

“Đã không phải đến xé phướn của lão hủ, vậy sĩ tử đến đây làm gì?”

“Vãn sinh…” Trương Nghi đảo mắt, “vãn sinh xin bái phục chịu thua. Tiên sinh thần toán, câu nào cũng linh nghiệm, tại hạ còn nợ tiên sinh ba cái dập đầu, nên hôm nay tìm đến trả! Tiên sinh ở trên, xin nhận của Trương Nghi ba lạy!”

Lời vừa dứt, Trương Nghi đã lập tức dập đầu liền ba cái thật vang.

“Được rồi!” Quỷ Cốc Tử gật đầu nói. “Ba lạy lão hủ đã nhận, sĩ tử có thể đi rồi!”

Trương Nghi lo lắng, vội huých khuỷu tay sang Tô Tần. Tô Tần liền ngâm: “Vãn bối còn có một thỉnh cầu, mong được tiền bối chấp nhận!”

“Là cầu quẻ ư?”

“Vãn bối không cầu quẻ. Lần này vãn bối đến, chữa bệnh chỉ là thứ yếu, thực ra là muốn khẩn cầu tiên sinh một chuyện!”

“Sĩ tử cứ nói!”

“Vãn bối mong tiên sinh thu nhận hai người vãn bối ở lại hầu bên tả hữu, nghe tiên sinh dạy bảo.”

Quỷ Cốc Tử trầm ngâm một lát, rồi quay sang nói với Trương Nghi: “Vị khách quan này cũng muốn vậy ư?”

Trương Nghi vội bái lạy, nói: “Vãn sinh bất tài, muốn cùng Tô sĩ tử bái tiên sinh làm thầy!”

Quỷ Cốc Tử gật gù, rồi chậm rãi nói: “Tốt lắm, hai người có tâm cầu học, thật đáng mừng, cũng đáng khen. Hiện nay, kẻ có học nhiều vô số, bậc đại gia cũng đông đảo, có đám Mạnh Kha học Nho học của Trọng Ni, có đám Trang Chu học Đạo học của Lão Đam, có đám Tuỳ Sào Tử học Mặc học của Mặc Địch, có đám Công Tôn Ưởng, Thân Bất Hại hoằng dương pháp học, có đám Huệ Thi, Công Tôn Long mở phái danh thực, có đám Thuần Vu Khôn, Trâu Kỵ nổi tiếng nhờ ẩn ngữ, có đàm Hoàn Đoàn nổi danh vì ngụy biện, còn có Dương Chu, Bành Mông, Điền Biên, Thận Đáo, đều là đại gia, ai cũng viết sách lập thuyết, khai tông lập phái. Liệt quốc lại càng là trường học như nấm, học phong sôi nổi. Lão hủ muốn hỏi, tại sao hai người không đi theo họ, mà lại đến chốn thâm sơn cùng cốc này cầu bái một lão già quê mùa như ta?”

Nghe Quỷ Cốc Tử kể ra một mạch vô số cái tên, Trương Nghi hào khí dâng cao, lập tức đáp lời: “Vãn sinh đã quan sát khắp học vấn trăm nhà, hoặc là tuyên dương đạo lớn, hoặc là tìm tòi thuật nhỏ, phần lớn đều là cái thuật kiểu cách màu mè, không hề thực dụng!”

Quỷ Cốc Tử gật đầu, ung dung hỏi lại: “Tại sao không thực dụng, khách quan có thể nói rõ hơn chăng?”

Trương Nghi trầm ngâm suy nghĩ một lát, rồi dõng dạc đáp: “Cái học của Lão Trang xa rời trần thế, đề xướng vô vi mà trị, nhưng thiên hạ hiện nay, nếu như vô vi, căn bản sẽ không thể trị, bởi vậy nên không thể dùng. Cái đạo Khổng Mạnh lấy nhân nghĩa làm gốc, lấy lễ nhạc làm khuôn, nhưng thiên hạ từ lâu đã lễ băng nhạc hoại, bất nhân bất nghĩa, nên cũng khó thực hành. Cái học của Mặc, Dương, tu thân thì có thừa, nhưng trị thế lại không đủ, nên các chư hầu cũng bỏ đi mà không dùng. Cái học hình danh chỉ đề xướng lấy sức lực phục lòng người, khó lòng tiến xa; tranh cãi về danh thực, luận thuyết về ngụy biện, tất cả đều kiểu cách khiên cưỡng, không thể sử dụng. Còn về thuật dụng binh, thuật âm dương, đạo kinh doanh, thuyết nông tang, nhiều vô số kể, mặc dù hữu dụng, nhưng quá hẹp hòi, không đủ để cứu vớt đời loạn trước mắt!”

Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói: “Vì vậy nên sĩ tử mới chạy tới sơn cốc này ư?”

“Đúng vậy!” Trương Nghi buột miệng đáp liền. “Vãn sinh nghe nói tiên sinh có tài kinh thiên vĩ địa, học vấn trong thiên hạ không gì không biết, nên cùng Tô Tần bôn ba ngàn dặm đến đây, cầu bái tiên sinh làm thầy, dám mong tiên sinh chấp thuận!” Nói xong, lại dập đầu xuống lạy.

Quỷ Cốc Tử bật cười mấy tiếng, rồi thong thả nói: “Trương sĩ tử hẳn đã nghe nhầm rồi! Ngoài xem tướng đoán mệnh, lão hủ đây chẳng biết gì khác, lấy đâu ra tài kinh thiên vĩ địa? Hơn nữa, nghe những lời khi nãy của sĩ tử, có thể thấy sĩ tử đã học hết học vấn trăm nhà, lại tự biết phán đoán, lão hủ đây dù đã đọc được hai cuốn sách, cũng dám đâu sánh được với sĩ tử? Trước cửa nhà lão hủ chỉ có một khe suối nhỏ bé chảy qua, không đủ sức cho con rồng lớn như sĩ tử vùng vẫy!”

Lời Quỷ Cốc Tử khác nào một gáo nước lạnh giội thẳng xuống, khiến Trương Nghi lạnh toát từ đỉnh đầu tới tận gót chân, vội dập đầu lia lịa: “Vãn bối lỡ lời, mong tiên sinh rộng lòng tha thứ!”

Giọng Quỷ Cốc Tử vẫn vô cùng hoà nhã: “Lời nói là tiếng của tâm, sao lại lỡ được?” Rồi quay sang Ngọc Thiền. “Thiền Nhi, trời đã tối, hãy để vị khách quan này tạm nghỉ trong sơn cốc một đêm, sớm mai tiễn người này xuống núi!”

Lời còn chưa dứt, Quỷ Cốc Tử đã đứng dậy đi thẳng vào trong.

Trương Nghi cuống lên, miệng gọi “tiên sinh”, rồi đứng bật dậy định đuổi theo, nhưng bị Ngọc Thiền đưa tay chặn lại: “Trương sĩ tử!”

Trương Nghi vừa hổ thẹn vừa lo sợ, liếc Ngọc Thiền một cái, rồi hậm hực cùng Tô Tần quay về căn nhà cỏ mới dựng.

Trở vào nhà, Trương Nghi ôm đầu ngồi ủ ê một lúc, rồi chậm chạp đứng dậy, lặng lẽ đi thu dọn hành lý. Tô Tần thấy vậy, cũng đi về gian phòng của mình. Trương Nghi thấy lạ, bèn ngoảnh sang nhìn, thấy Tô Tần cũng đang thu dọn hành trang.

Trương Nghi vội hỏi: “Tô huynh, làm gì vậy?”

Tô Tần ngâm nga: “Cùng hiền đệ xuống núi!”

Trương Nghi vội cản Tô Tần lại: “Tiên sinh chỉ đuổi Trương Nghi, không nói Tô huynh phải xuống núi, Tô huynh nên ở lại Quỷ Cốc, thu dọn hành lý làm gì?”

Tô Tần lùi lại một bước, ngồi lên mép giường, thở dài một tiếng: “Hiền đệ đi rồi, huynh sao có thể ở lại?”

Trương Nghi thấy Tô Tần nói thật lòng, trong lòng cảm động, cười buồn một tiếng, sau đó vung tay vả mạnh vào miệng mình mấy cái, uất ức mà nói: “Đều trách cái miệng thối này, đệ thật đáng đời!”

Tô Tần suy nghĩ một lát, rồi chậm rãi ngâm: “Hiền đệ ngồi đợi một lát, hãy để huynh thử đi cầu xin tiên sinh lần nữa xem sao!”

“Chỉ e Tô huynh có cầu xin cũng vô dụng!”

Tô Tần ngâm: “Hiền đệ sao lại nói vậy?”

Trương Nghi than thở: “Than ôi! Tiểu đệ vốn cho rằng tiên sinh là người đắc đạo, hẳn sẽ rộng lượng khoan dung, ai ngờ lại hẹp hòi đến vậy! Rõ ràng là tiên sinh còn ghi hận chuyện ở Lạc Dương, nên không chịu thu nhận đệ!”

Tô Tần không nói thêm lời nào, lập tức đi thẳng ra khỏi nhà, đến trước gian thảo đường của Quỷ Cốc Tử, vào gặp Ngọc Thiền, nói rõ ý định. Ngọc Thiền đi vào trong động, một lát sau đã trở ra, nói với Tô Tần: “Tô sĩ tử, tiên sinh đồng ý gặp sĩ tử, mời vào!”

Gian thảo đường của Quỷ Cốc Tử được dựng thuận theo thế núi, trong phòng có một đường hầm nối thông với sơn động, thảo đường và sơn động hợp thành một thể, hài hoà như nhất. Tô Tần đi theo Ngọc Thiền, vòng vèo một hồi thì đến một nơi, phía trên có treo tấm rèm vải.

Ngọc Thiền đứng ngoài tấm rèm, khẽ giọng bẩm báo: “Tiên sinh, Tô sĩ tử đã đến!”

“Mời vào!”

Ngọc Thiền vén rèm lên, nói với Tô Tần: “Tô sĩ tử, mời!”

Tô Tần đi vào, khấu đầu sát đất, ngâm: “Vãn bối khấu kiến tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử lập tức hỏi thẳng: “Có phải ngươi đến để cầu xin cho Trương sĩ tử?”

“Vâng!”

“Nói đi!”

“Vãn bối và Trương sĩ tử đã kết nghĩa kim lan ở thành Lạc Dương, tình như thủ túc, cùng hẹn nhau đến Quỷ Cốc để bái tiên sinh làm thầy. Nay tiên sinh không nhận Trương Nghi, chỉ nhận vãn bối. Nếu vãn bối một mình ở lại, tức là đã làm trái lời thề khi kết nghĩa. Vãn bối to gan cầu xin tiên sinh hãy thu nhận cả Trương sĩ tử, mong được tiên sinh ân chuẩn!”

“Trong sơn cốc này chỉ có thiên đạo, không có trung nghĩa. Lão hủ thu nhận ngươi, một là vì ta và ngươi đã có hẹn ước từ trước, hai là thấy ngươi bản tính thuần phác, rất có tâm lực, nếu như khổ công tu luyện, hoặc giả có thể đắc đạo. Nếu ngươi không thể quên được trung nghĩa của thế gian, thì hãy cùng Trương sĩ tử xuống núi đi!”

Tô Tần im lặng suy nghĩ một lát, rồi lại dập đầu mà ngâm: “Khẩn cầu tiên sinh cho phép vãn bối nói thêm một câu. Vãn bối tiên thiên bất túc, tư chất ngu độn, tài hoa học thức còn xa mới bằng Trương sĩ tử. Vãn bối tuy tâm có thừa, nhưng lực không đủ, nếu ở lại đây tu luyện, e rằng sẽ làm mất mặt sư môn. Bởi vậy, vãn bối nguyện thay Trương sĩ tử xuống núi, cầu xin tiên sinh giữ Trương sĩ tử lại để tu học!”

Quỷ Cốc Tử lắc đầu, khẽ thở dài: “Than ôi, ngươi thực hồ đồ, việc tu thân ngộ đạo, lẽ nào có thể tuỳ tiện mang ra trao đổi?” Rồi quay sang Ngọc Thiền. “Thiền Nhi, vị khách quan này nói mình tiên thiên bất túc, tư chất ngu độn, không có lòng tin ở đây tu luyện. Nếu hắn đã muốn đi, vậy hãy để hắn cùng xuống núi luôn đi!”

Ngọc Thiền bước lại, vòng tay vái: “Tô sĩ tử, mời!”

Tô Tần cúi đầu ủ rũ bước ra khỏi thảo đường.

Trời đã tối mịt, Trương Nghi không nhìn rõ sắc mặt của Tô Tần, chỉ thấy một bóng đen từ xa đi lại, biết là Tô Tần nên vội chạy ra đón: “Tô huynh…”

Tô Tần đi lại gần, khẽ lắc đầu.

Trương Nghi ngửa cổ lên trời cười một tràng dài.

Tô Tần ngạc nhiên, ngâm: “Hiền đệ…”

Trương Nghi cười xong, rồi đi thẳng vào phòng, xách lấy tay nải đã chuẩn bị sẵn, khoác lên vai, vái Tô Tần mà nói: “Đệ đã sớm dự liệu được kết cục này! Hừ, Trương Nghi ta cả đời đã học qua vô số thầy, nào biết phục ai? Lần này khó khăn lắm mới tìm được một vị tiên sinh, ta thành tâm kính ý bái làm sư phụ, mà ông ta lại làm cao làm kỳ! Tô huynh, không cần đợi đến ngày mai nữa, chúng ta hãy chia tay ngay bây giờ, Trương Nghi xuống núi luôn đây!”

Tô Tần vội ngăn lại, ngâm: “Hiền đệ, đường núi khó đi, trời lại tối mịt mù không đèn không đuốc, có nôn nóng cũng không nên vội vã một lúc này. Đợi đến sáng mai, ta sẽ cùng lên đường với đệ!”

Trương Nghi kinh ngạc: “Cái gì, Tô huynh cũng đi?”

Tô Tần ngâm: “Y huynh đã quyết, lúc nãy đã từ biệt tiên sinh!”

“Tô huynh!” Trương Nghi cả kinh, vội nói. “Huynh làm như vậy, sao có thể được? Những lời khi nãy của tiểu đệ chẳng qua chỉ là nói bừa trong lúc giận, sao huynh có thể coi là thật? Tiểu đệ đã nhận ra, tiên sinh đích thực học vấn uyên thâm, nếu Tô huynh có thể ở lại học nghệ, đúng là cơ may trời ban. Không phải Trương Nghi không muốn bái sư, mà là không có phúc phận này! Tô huynh, Trương Nghi khẩn cầu huynh, mặc dù chúng ta là huynh đệ, nhưng kiểu gì huynh cũng phải nghe đệ một lời, tuyệt đối không được xốc nổi, vì đệ mà bỏ lỡ cơ hội một đời!”

Tô Tần buồn bã, chậm rãi ngâm: “Hiền đệ bất tất phải nhiều lời. Sáng mai gà gáy, chúng ta sẽ cùng lên đường!”

Trương Nghi thấy Tô Tần nói thực tình, biết không phải lời giả dối, trầm ngâm một lát rồi gật đầu nói: “Tiểu đệ sẽ theo ý Tô huynh! Giờ đã muộn rồi, chúng ta hãy đi ngủ sớm, sáng mai dậy sớm lên đường!”

Hai người trở vào nhà cỏ, buồn bã lên giường. Tô Tần nằm mãi, cứ trằn trọc qua lại, đến tận nửa đêm mới ngủ thiếp đi. Đến khi bừng tỉnh, trời đã sáng trưng. Tô Tần ngồi dậy, bước ra ngoài nhìn trời, nào phải gà gáy, mà lúc này hẳn đã quá giờ Thìn.

Tô Tần vội đi tới trước phòng Trương Nghi, thấy cửa phòng mở toang, trong lòng giật thột, vội chạy vào trong, thấy người không còn trong phòng nữa, chỉ thấy một tấm thẻ tre đặt trên bàn, trên thẻ tre viết: “Hậu nghĩa của Tô huynh, đệ xin ghi lòng tạc dạ. Tục ngữ có câu, trồng dưa được dưa, nay đệ không gặp phải cơ duyên này, cũng là đáng kiếp. Đệ xin xuống núi trước, mong Tô huynh ở lại chăm chỉ tu luyện, thành tựu đại nghiệp khanh tướng. Trương Nghi.”

Tô Tần không nói thêm một lời, vội khoác tay nải lên vai, không kịp từ biệt tiên sinh và Ngọc Thiền, lập tức men theo con đường nhỏ bên suối vội vã chạy đi.

Trong núi Vân Mộng, sương thu bảng lảng, mây mù vấn vít, không thấy mặt trời.

Bàng Quyên, Tôn Tân đang đi theo con đường mòn trong núi, bỗng thấy trước mặt xuất hiện một tảng đá lớn. Lại gần tảng đá, thấy có một con đường nhỏ, không cần nghĩ ngợi, lập tức đi theo. Đi được một hồi, bất giác lại vòng trở lại, đến bên cạnh tảng đá lớn.

Bàng Quyên đi đến bên tảng đá, quan sát kỹ lưỡng, sau đó gãi đầu nói: “Không đúng, Tôn huynh, hình như chúng ta lại quay về chỗ cũ rồi!”

Tôn Tân nhìn khắp xung quanh, cũng gật đầu nói: “Có vẻ chính là tảng đá lúc nãy!”

Hai người đứng ngẩn ra một hồi. Lát sau, Bàng Quyên chau mày, trèo lên một thân cây lớn, phóng mắt quan sát một lúc rồi tụt xuống, chỉ về một hướng, nói: “Tôn huynh, ở đằng kia lờ mờ như có bóng người, chúng ta hãy đi tới đó hỏi thăm xem sao!”

Tôn Tân và Bàng Quyên vội đi theo hướng đó, một lúc sau, quả nhiên thấy một người đang đi trên đường.

Người đến chính là Trương Nghi.

Trương Nghi mặt mũi ủ ê, cúi gằm đầu mà đi, bước chân nặng nề, lúc đi lúc dừng. Đang lúc ngẩn ngơ, bỗng nghe phía trước có tiếng bước chân vọng lại.

Trương Nghi ngẩng đầu lên nhìn, thấy Bàng Quyên, Tôn Tân đang đi đến gần, rồi dừng bước trước mặt, cùng khom lưng hành lễ với mình.

Trương Nghi đang rầu rĩ, làm gì còn tâm trí để ý đến họ, chỉ thờ ơ liếc mắt nhìn qua, rồi ngoảnh mặt sang hướng khác, tiếp tục bước đi.

Bàng Quyên thấy vậy, vội chạy lên trước chặn đường: “Nhân huynh xin dừng bước, tại hạ muốn hỏi một câu!”

Trương Nghi liếc xéo mắt nhìn: “Hỏi chuyện gì?”

“Xin hỏi, đến Quỷ Cốc đi đường nào?”

Trương Nghi trong lòng chấn động, đưa mắt quan sát hai người một chốc, rồi hỏi: “Quỷ Cốc? Hai người đến Quỷ Cốc làm gì?”

Bàng Quyên thấy Trương Nghi đã đáp lời, bèn vội nói: “Tới bái kiến Quỷ Cốc tiên sinh!”

Trương Nghi nhìn phục sức của hai người, bỗng hiểu ra, buột miệng hỏi liền: “Các người phải chăng muốn tới bái Quỷ Cốc tiên sinh học nghệ?”

Thấy đối phương một lời nói trúng, Bàng Quyên phấn chấn đáp: “Đúng vậy!”

“Hai người có hẹn trước với tiên sinh chăng?”

Bàng Quyên lắc đầu.

“Vậy… hai người đã từng gặp tiên sinh chưa?”

Bàng Quyên lại lắc đầu.

Trương Nghi trầm ngâm một lát, sau đó lại hỏi: “Hai người là ai? Từ đâu đến? Tại sao lại muốn lên núi bái Quỷ Cốc tiên sinh làm sư phụ?”

Bàng Quyên tỏ vẻ không vui: “Chúng tôi chỉ hỏi đường đi, nhân huynh không muốn nói thì thôi, sao lại hỏi nhiều đến vậy, là có ý gì?”

Trương Nghi hừ mũi một tiếng, đứng thẳng người định cất bước đi thì Tôn Tân vội bước lên, vòng tay vái mà nói: “Tại hạ Tôn Tân xin chào nhân huynh!”

Trương Nghi liếc nhìn một cái rồi đáp lễ: “Tại hạ Trương Nghi xin chào Tôn huynh!”

Tôn Tân lại vái, sau đó nói thực tình: “Tại hạ đến từ thành Đế Khâu, vị này là Bàng Quyên người An Ấp, là nghĩa đệ của tại hạ. Hai huynh đệ chúng tôi được cự tử Mặc gia mách bảo, đến núi Vân Mộng để bái Quỷ Cốc tiên sinh làm sư phụ, không ngờ lại bị lạc đường ở đây, mong Trương huynh giúp đỡ!”

Nghe Tôn Tân nói rõ thân thế, Trương Nghi bỗng nảy ra một ý, đảo mắt mấy cái, rồi mặt mũi hớn hở, gật đầu lia lịa, vòng tay cười mà nói: “Quả nhiên là hai vị, tại hạ đã đợi ở đây lâu rồi!”

Tôn Tân kinh ngạc: “Trương huynh là…”

Trương Nghi cười vang: “Không dám giấu hai vị, tại hạ phụng mệnh tiên sinh đến đây đón hai vị vào Quỷ Cốc!”

Bàng Quyên nghe mà trợn mắt líu lưỡi: “Tiên sinh… tại sao lại biết chúng tôi sẽ đến?”

Trương Nghi liếc xéo Bàng Quyên, rồi nói: “Tiên sinh là người đắc đạo, trước biết tám trăm năm, sau biết tám trăm năm, chuyện nhỏ nhặt thế này, sao lại không biết? Nói cho nhân huynh hay, tiên sinh không những biết được hai vị sẽ đến, mà còn biết chắc hai vị sẽ lạc đường, vì vậy tối qua đã dặn dò tại hạ, bảo tại hạ vào giờ Thìn hôm nay đến đây dẫn hai vị vào cốc. Tại hạ tính khí vội vàng, nghe nói có hai vị nhân huynh đến, trong lòng rất vui, nên đi đón hơi sớm. Lúc nãy cũng có hai người đi qua đây, tại hạ cứ ngỡ là hai bạn đồng học, đến hỏi hoá ra lại là người lên núi đốn củi. Tại hạ đang lúc bực bội thì gặp được hai vị. Tại hạ e sợ lại nhận nhầm người nên mới hỏi han hơi nhiều, không dè Bàng huynh đây lại nghi ngờ.”

Bàng Quyên vội vòng tay vái: “Bàng Quyên ngu muội, đã đắc tội nhiều, mong Trương huynh bỏ qua!”

Trương Nghi cười vang mà nói: “Bàng huynh bất tất phải khách khí, sau khi vào cốc, chúng ta sẽ trở thành huynh đệ một nhà!” Sau đó chìa tay mời. “Hai vị nhân huynh, xin mời, tiên sinh đang ở trong sơn cốc đợi hai vị!”

Bàng Quyên, Tôn Tân cùng đi theo Trương Nghi tiến về Quỷ Cốc. Vừa đi tới cửa sơn cốc thì thấy Tô Tần vai khoác tay nải hối hả đi tới. Trương Nghi bèn chạy lên trước đón Tô Tần, từ xa đã cất tiếng gọi: “Tô huynh!”

Tô Tần đang cắm cúi bước đi, chợt nghe thấy tiếng gọi liền ngẩng đầu lên, thấy Trương Nghi dẫn theo hai người đến, rất đỗi ngạc nhiên, vui mừng kinh ngạc lẫn lộn, liền cất tiếng ngâm: “Hiền đệ, đệ trở về rồi ư?”

Trương Nghi hớn hở: “Trở về rồi! Trở về rồi!” Sau đó quay sang Tôn Tân, Bàng Quyên, chỉ vào Tô Tần đang đi đến. “Đây là Tô Tần, sư huynh của tại hạ, cũng phụng mệnh tiên sinh đến đón hai vị!”

Bàng Quyên nhìn vào tay nải trên vai Tô Tần, đôi mày chau lại, nghi ngờ hỏi: “Đến đón chúng tôi, tại sao phải mang theo hành lý?”

Trương Nghi ngây ra một thoáng, rồi lập tức cười đáp: “Hai vị có điều không biết, vị Tô huynh này của tại hạ cũng là một người kỳ lạ, hễ mở miệng nói chuyện là không ngâm lại hát, hễ đi ra ngoài là phải mang theo tay nải!”

Nhớ lại lúc nãy Tô Tần có ngâm nga, Bàng Quyên bèn bật cười vang: “Chà chà, xem ra trên thế gian này đúng là kiểu người nào cũng có!”

Lời vừa dứt, Tô Tần đã bước đến nơi. Tôn Tân, Bàng Quyên cùng khom lưng vái chào: “Tại hạ xin chào Tô sư huynh!”

Bỗng chốc trở thành Tô sư huynh, Tô Tần ngây người, vội đáp lễ rồi ngâm: “Tô Tần xin chào hai vị nhân huynh!” Rồi quay sang Trương Nghi. “Hiền đệ, hai vị này là…”

Trương Nghi cười lớn mà nói: “Thực đúng như tiên sinh đã đoán, hai vị nhân huynh này quả nhiên đã lạc đường ở chỗ đó!”

Tô Tần càng nghe càng chẳng hiểu gì, chưa kịp hỏi thì Trương Nghi đã chỉ tay vào Tôn Tân, Bàng Quyên, cười nói: “Tô huynh, đệ xin giới thiệu, vị này là Tôn Tân người nước Vệ, đến từ Đế Khâu; vị này là Bàng Quyên người nước Nguy, đến từ An Ấp. Giống như hai chúng ta, hai người này cũng là huynh đệ kết nghĩa, nghe theo lời mách bảo của cự tử Mặc gia, đến đây cầu bái tiên sinh làm sư phụ, không ngờ lại bị lạc đường ở trước sơn cốc, cứ thế đi lòng vòng quanh một ngọn núi nhỏ. Ha ha ha, nếu không phải đệ kịp thời đến nơi, e rằng đến bây giờ họ vẫn đi vòng vèo quanh đó!”

Tô Tần lại càng chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra sao, song thấy Trương Nghi nháy mắt ra hiệu, nên đành phải vòng tay vái mà nói: “Hai vị nhân huynh, mời!”

Quỷ Cốc Tử đang ngồi trong động nhắm mắt dưỡng thần, thì Ngọc Thiền đi vào, khẽ bẩm báo: “Tiên sinh, lại có hai người nữa đến bái kiến!”

Quỷ Cốc Tử chau mày: “Người đến là ai?”

“Một người tên Tôn Tân, người thành Đế Khâu nước Vệ; một người tên Bàng Quyên, người An Ấp nước Ngụy.”

“Tô Tần, Trương Nghi đã xuống núi chưa?”

“Trương Nghi lúc gà gáy đã xuống núi, Tô Tần ngủ quên, nửa canh giờ sau mới tỉnh, thấy Trương Nghi đã đi nên vội vàng đuổi theo. Nhưng lúc nãy, hai người đó lại quay lại. Tôn Tân và Bàng Quyên được hai người họ dẫn vào đây!”

Quỷ Cốc Tử thở dài: “Ồ, nếu đã đến rồi, vậy hãy cho họ vào đi!”

Quỷ Cốc Tử đi cùng Ngọc Thiền ra khỏi sơn động, rồi ngồi xuống trong gian thảo đường.

Ngọc Thiền mở cửa, vái chào Tôn Tân, Bàng Quyên đang đợi phía ngoài: “Hai vị sĩ tử, tiên sinh mời vào!”

Tôn Tân, Bàng Quyên vội bước vào, dập đầu sát đất: “Vãn sinh khấu kiến Quỷ Cốc tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử đưa mắt nhìn hai người một lượt, chậm rãi hỏi: “Nghe nói các ngươi muốn đến bái sư?”

Vì đã được Trương Nghi giới thiệu, nên Bàng Quyên cũng mạnh dạn hơn nhiều, bèn nói rành rọt: “Vãn sinh Bàng Quyên ngưỡng mộ danh tiếng tiên sinh đã lâu, nên cùng nghĩa huynh Tôn Tân vào Quỷ Cốc, xin bái tiên sinh làm sư phụ, khẩn cầu tiên sinh thu nhận!”

Quỷ Cốc Tử đưa mắt quan sát Bàng Quyên một lượt: “Lão hủ trước nay không qua lại với bên ngoài núi, không biết cái danh tiếng mà ngươi vừa nói từ đâu mà đến?”

Bàng Quyên giật mình, không biết đối đáp thế nào, bèn đưa mắt nhìn sang Tôn Tân. Tôn Tân liền bái lạy mà nói: “Hồi bẩm tiên sinh, vãn bối Tôn Tân may mắn gặp được cự tử Mặc gia, chính cự tử đã chỉ điểm vãn bối tới đây bái sư!”

Nghe nhắc đến Tuỳ Sào Tử, Quỷ Cốc Tử đã hiểu ra mọi chuyện, bèn đưa mắt nhìn thẳng vào Tôn Tân, quan sát một hồi, rồi khẽ gật đầu: “Lão hủ cũng đã từng gặp vị cự tử này. Tôn sĩ tử, ngươi thử nói xem, tại sao cự tử lại bảo ngươi đến gặp ta?”

“Hồi bẩm tiên sinh, lần trước nước Vệ bị ôn dịch hoành hành, vãn bối đã may mắn được gặp cự tử. Vãn bối ngưỡng mộ cái đạo kiêm ái của cự tử, vốn muốn bái cự tử làm sư phụ, nhưng cự tử lại nhất quyết từ chối. Vãn bối cầu xin nhiêu lần không được, cuối cùng cự tử mới bảo vãn bối tới gặp tiên sinh. Cự tử nói rằng, tiên sinh là người đắc đạo, học vấn trong thiên hạ không gì không biết, nếu vãn bối bái tiên sinh làm thầy, có lẽ sẽ được thành tựu. Vãn bối không dám không nghe lời cự tử, nên đến đây cầu bái tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử lại nhìn Tôn Tân, thấy Tôn Tân diện mạo hiền hậu, phong thái thuần chân, đúng là một nhân tài tu đạo trời sinh, bèn nói: “Nhìn tướng mạo của ngươi, chính là người của Mặc đạo, cự tử lại từ chối không nhận ngươi làm đệ tử, hẳn là có nguyên do?”

“Hồi bẩm tiên sinh, vãn bối tư chất ngu muội, không có sở trường gì. Tất cả đệ tử Mặc gia đều có sở trường riêng, vãn bối thẹn mình không bằng, nên không dám miễn cưỡng cầu xin!”

“Ồ, ngươi có thể bẩm báo thực thà như vậy, thật đáng quý! Ngươi đã không có sở trường gì, vậy đến sơn cốc này là muốn học nghệ gì đây?”

“Hồi bẩm tiên sinh, mặc dù vãn bối không có sở trường, nhưng có sở thích!”

“Ồ, là sở thích gì?”

“Binh pháp chiến trận!”

“Ồ, đây quả nhiên là một sở thích. Nước Vệ có Tôn Cơ, ngươi có biết người này chăng?”

“Chính là tiên tổ phụ của vãn bối!”

Nghe thấy chữ “tiên”, Quỷ Cốc Tử giật mình, sững lại một lát rồi mới hỏi: “Ông ấy qua đời lúc nào?”

“Bẩm tiên sinh, ba tháng trước!”

Quỷ Cốc Tử “ồ” lên một tiếng, khép mắt lại một lúc, sau đó quay sang Bàng Quyên: “Còn vị khách quan này từ đâu đến? Cũng là để học binh pháp chiến trận ư?”

Bàng Quyên vội dập đầu nói: “Đúng vậy! Vãn bối đến đây, chính là muốn cùng Tôn huynh học binh pháp chiến trận!”

Quỷ Cốc Tử gật gù, rồi chậm rãi đứng dậy: “Hai vị sĩ tử, xem ra hai vị đi chuyến này đã uổng công rồi. Lão hủ lâu ngày sống trong núi thẳm, chỉ biết tu đạo luyện tiên, không biết binh pháp chiến trận. Hai người hãy mau xuống núi, tìm thầy khác đi!” Lời vừa dứt, chân đã bước vào trong động.

Bàng Quyên vô cùng kinh ngạc, đưa mắt liếc trộm, thấy Quỷ Cốc Tử không giống như đùa, thì vội nói: “Tiên sinh, tiên sinh chẳng phải đã phái người…”

Quỷ Cốc Tử đã đi đến cửa động, bèn ngoái đầu lại nói với Ngọc Thiền: “Thiền Nhi, tiễn khách!”

Ngọc Thiền liền vòng tay tiễn Tôn Tân, Bàng Quyên ra khỏi thảo đường, sau đó quay vào, đóng luôn cửa lại.

Hai người hoàn toàn không ngờ lại gặp phải kết cục thế này, cứ đứng sững sờ ngoài cửa một hồi lâu, rồi Bàng Quyên kéo phắt tay Tôn Tân, hùng hổ đi thẳng đến căn nhà cỏ của Tô Tần, Trương Nghi.

Tô Tần, Trương Nghi đang đứng chờ trên bãi cỏ trước cửa, thấy hai người đến, liền chạy ra đón. Bàng Quyên mặt mũi hằm hằm, đi thẳng tới trước mặt Trương Nghi, giận dữ: “Họ Trương kia, chẳng phải ngươi nói tiên sinh đã đoán được chúng ta sẽ đến, nên đã phái ngươi ra đón ư?”

Trương Nghi đã hiểu ra sự tình, bèn cười lớn mà nói: “Đúng là tại hạ đã nói như vậy!”

Bàng Quyên hừ mũi một tiếng: “Họ Trương kia, vậy ta hỏi ngươi, nếu đã như vậy, tại sao tiên sinh lại không thu nhận chúng ta làm đệ tử?”

Trương Nghi cũng bật cười lạnh lẽo: “Họ Bàng kia, tại hạ chỉ nói tiên sinh đoán được hai người sẽ đến, đâu có nói tiên sinh sẽ thu nhận hai người?”

Bàng Quyên sững người, há miệng đến vài lần mà không thốt được một lời, rồi ngồi phịch xuống, quay mặt đi, thở phì phì.

Trên bãi cỏ bỗng chốc yên ắng lạ thường, chỉ nghe thấy tiếng thở gấp của Bàng Quyên.

Tôn Tân đưa mắt nhìn Bàng Quyên, rồi chậm rãi đi tới trước mặt Tô Tần, Trương Nghi, vòng tay vái mà nói: “Tôn Tân khẩn cầu Tô huynh, Trương huynh, mong hai vị lựa lời nói với tiên sinh, mong tiên sinh thu nhận chúng tôi!”

Tô Tần khẽ thở dài, ngâm: “Tôn huynh có điều không biết, tại hạ và Trương hiền đệ cũng đến đây để cầu bái tiên sinh, nhưng tiên sinh…”

Bàng Quyên đứng bật dậy, hai mắt trợn trừng: “Ý huynh là, tiên sinh cũng chưa chịu thu nhận hai vị làm đệ tử?”

Tô Tần gật đầu.

Bàng Quyên ngây ra một lát, rồi đột nhiên vỡ lẽ, quay sang Trương Nghi cười lớn: “Ha ha…, mẹ cha nó, đúng là ông trời có mắt! Ha ha…”

Trương Nghi cười nhạt một tiếng, gườm gườm nhìn Bàng Quyên, vặc lại: “Có giỏi thì khiến tiên sinh thu nhận đi!”

Bàng Quyên cũng cười nhạt: “Huynh cho rằng tại hạ không thể?”

Trương Nghi hất hàm về phía thảo đường, mỉm cười nói: “Đi đi, Bàng huynh!”

Bàng Quyên lập tức quay phắt đi, sải bước tiến thẳng về phía gian thảo đường.

Tôn Tân cuống lên, vội gọi với theo: “Hiền đệ, đệ muốn làm gì?”

Bàng Quyên không quay đầu lại: “Không làm gì cả, đệ chỉ muốn mời tiên sinh ra, khẩn cầu tiên sinh thu nhận hai chúng ta làm đệ tử!”

Bàng Quyên cứ thế bước sầm sầm về phía trước, được hơn mười bước thì đi chậm dần, sau đó dừng bước, từ từ vòng lại.

Trương Nghi phì cười châm chọc: “Ồ, Bàng huynh, trống tấn công còn chưa nổi, sao đã vội đánh chiêng thu binh rồi?”

Bàng Quyên vặc lại: “Tại hạ sắp xung phong xuất trận, nhưng có người lại muốn ngồi không hưởng lợi, tại hạ không ngốc đến mức đó!”

“Hay lắm! Hay lắm!” Trương Nghi cố tình vỗ tay vài cái. “Bàng huynh biết tiến biết lui, biết tự lượng sức, tại hạ bội phục!”

Thấy hai người cứ mải đấu võ mồm, Tôn Tân khuyên: “Bàng đệ, Trương huynh, theo ý của tại hạ, chúng ta hãy nên ngồi xuống, cùng nhau bàn bạc, tìm ra kế sách vẹn toàn là hơn!”

Hai người không nói thêm gì nữa, rồi cùng ngồi xuống bãi cỏ, ngẫm nghĩ tính toán.

Ngồi một lúc, Trương Nghi chớp mắt thật mạnh, kêu lên: “Có rồi!”

Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía Trương Nghi.

Trương Nghi nói lớn: “Ngày nào tiên sinh không nhận, thì ngày đó chúng ta không chịu đi, thi gan với tiên sinh!”

Bàng Quyên vỗ tay nói: “Hay đấy! Quỷ Cốc này không phải của một mình tiên sinh, tiên sinh ở được, tại sao chúng ta không ở được?”

Tô Tần vội nói: “Không… không được!”

Trương Nghi nhìn Tô Tần: “Có gì mà không được?”

Tô Tần ngâm: “Chúng ta đến bái sư, không thể đến ép sư!”

Tôn Tân gật đầu lia lịa: “Lời Tô huynh rất chí lý, mọi chuyện trong thiên hạ đều không thể miễn cưỡng, chúng ta hãy nghĩ cách khác xem sao!”

Lại một hồi im lặng kéo dài hơn nữa.

Tôn Tân đột nhiên sực nhớ ra một điều, vội đưa tay vào trong tay áo, trước ánh mắt kinh ngạc của mọi người, chậm rãi lấy ra một túi gấm.

Bàng Quyên tò mò hỏi: “Tôn huynh, đây là vật gì?”

Tôn Tân cầm túi gấm trong tay, nói: “Lúc huynh chuẩn bị lên đường, cự tử đã giao túi gấm này cho huynh, dặn rằng sau khi vào Quỷ Cốc, nếu xảy ra chuyện không như ý, có thể mở ra xem. Nay sự việc quả thật đã ứng với lời cự tử, chúng ta hãy thử mở ra xem sao!”

Ba người đều quây cả lại.

Tôn Tân chậm rãi mở túi gấm ra.

Trong thảo đường, Ngọc Thiền đang ngồi tĩnh toạ, thì tiểu đồng hấp tấp đi vào, gọi khẽ: “Chị Thiền Nhi! Chị Thiền Nhi!”

Ngọc Thiền thu công, ngẩng mặt lên nhìn: “Có chuyện gì thế?”

Tiểu đồng chỉ tay ra ngoài cửa sổ: “Chị Thiền Nhi, hãy nhìn xem!”

Ngọc Thiền đứng dậy, đi tới bên cửa sổ, nhìn qua tấm rèm thì thấy Tô Tần, Trương Nghi, Tôn Tân, Bàng Quyên đang quỳ thành một hàng trên bãi cỏ, phơi đầu trần dưới ánh nắng mùa thu.

Ngọc Thiền mỉm cười lạnh nhạt: “Họ muốn quỳ, vậy thì cứ để họ quỳ!”

Tiểu đồng bèn gật đầu.

Đêm đã về khuya, trên bãi cỏ, bốn người Tô, Trương, Tôn, Bàng vẫn quỳ bất động. Tiểu đồng đứng bên cửa, liếc nhìn họ một cái, rồi đóng luôn cánh cửa lại. Một lát sau, ánh đèn trong thảo đường tắt phụt, xung quanh một màn tối mịt như bưng…

Trời đã sáng bạch, tiểu đồng trở dậy, vặn mình mấy cái rồi chậm rãi đi đến trước cửa. Rút then mở cửa, mắt vừa nhìn ra, đã vội nhắm tịt lại, đưa tay dụi liền vài cái.

Trên bãi cỏ, bốn người vẫn quỳ nguyên tại chỗ, đầu tóc, mặt mũi, quần áo đều ướt đẫm sương đêm.

Đến trưa, ánh nắng mặt trời còn gay gắt hơn hôm trước. Tiểu đồng suy nghĩ một lát, rồi bưng ra một nồi cháo và bốn cái bát, đặt trước mặt bốn người: “Các vị sĩ tử, cháo đến rồi, hãy ăn tạm một chút cho ấm bụng, mới có sức để quỳ tiếp chứ!”

Chẳng ai đáp lời tiểu đồng. Bốn người vẫn quỳ tại chỗ, hai mắt nhắm nghiền. Tiểu đồng gãi đầu gãi tai, rồi bưng cháo vào, sau đó mang ra một chậu nước, trong chậu đặt sẵn một cái bát: “Các vị sĩ tử, không ăn cháo cũng được, nhưng hãy uống lấy chút nước!”

Vẫn không ai động lòng.

Tiểu đồng ngẩn ra một lát, rồi múc một bát nước chìa tới trước mặt Tô Tần: “Tô sĩ tử, cơm có thể không ăn, nhưng nước thì phải uống. Nào, uống một chút nước cho mềm lưỡi!”

Tô Tần vẫn nhắm nghiền hai mắt, không ngó ngàng gì tới tiểu đồng.

Tiểu đồng lại đưa nước tới trước mặt Trương Nghi: “Trương sĩ tử, có muốn uống không, uống một hớp nhé!”

Trương Nghi cũng không buồn ngó ngàng. Tiểu đồng lại chuyển qua Tôn Tân, Bàng Quyên, song chẳng ai chịu mở mắt ra. Tiểu đồng không biết làm thế nào, liền đặt chậu nước vào giữa bốn người, sau đó quay người bước đi…

Lại một buổi sáng sớm. Tiểu đồng mở cửa, thấy bốn người vẫn quỳ trơ trơ tại đó. Tiểu đồng trợn mắt, chạy ào lại gần, nhìn vào chậu nước, thấy không vơi lấy một giọt.

Tiểu đồng hai mắt trợn tròn, không thể tin vào sự thể trước mắt, kêu toáng lên: “Này, các người muốn học tiên sinh tu tịch cốc(4) ư?”

Bốn người vẫn quỳ bất động…

Đến buổi sáng thứ tư, bốn người vẫn không nhúc nhích, có điều lúc này mặt đã vàng như sáp, cắn răng cố trụ.

Thời tiết trong núi nói thay đổi là thay đổi được ngay. Đến trưa, trong sơn cốc bỗng gió lớn tung trời, mây đen cuồn cuộn, chốc lát sau đã sấm chớp nhì nhằng, mưa rào sầm sập, bốn người đều ướt như chuột lột.

Tiểu đồng nhìn Ngọc Thiền, nói: “Chị Thiền Nhi, trời mưa rồi!”

Ngọc Thiền điềm nhiên nhìn ra ngoài cửa sổ, không nói một lời. Tiểu đồng lo cuống lên, thấy trên tường có manh áo tơi, vội chạy đến lấy xuống, đẩy cửa rồi lao thẳng vào màn mưa. Ngọc Thiền khẽ thở dài, quay người đi vào trong động.

Trong động, Quỷ Cốc Tử ngồi ngay ngắn trên nền đất, đang nhập định. Ngọc Thiền khẽ khàng vén tấm rèm vải, rón rén bước vào, từ từ quỳ xuống bên cạnh Quỷ Cốc Tử.

Quỳ được một lát, khoé miệng Quỷ Cốc Tử khẽ lay động: “Là Thiền Nhi chăng?”

Ngọc Thiền khẽ bẩm: “Là Thiền Nhi!”

“Có chuyện gì ư?”

“Vâng, tiên sinh. Bốn người đó vẫn quỳ ngoài kia!”

Quỷ Cốc Tử dường như không nghe thấy.

Sau một hồi yên lặng, Ngọc Thiền lại nói: “Họ đã quỳ ở đó suốt ba ngày rồi!”

Quỷ Cốc Tử vẫn ngồi bất động.

Lại im lặng một lúc, Ngọc Thiền nói tiếp: “Họ không ăn gì cả!”

Quỷ Cốc Tử vẫn ngồi yên.

Lại im lặng thêm một lúc nữa, Ngọc Thiền tiếp tục: “Họ không uống lấy một giọt nước!”

Vành tai Quỷ Cốc Tử khẽ lay động, song vẫn không lên tiếng.

Sau một hồi trầm lặng nữa, hai dòng nước mắt từ từ lăn xuống má Ngọc Thiền, giọng nàng càng khẽ: “Trời mưa lớn rồi, tiên sinh!”

“Than ôi!” Quỷ Cốc Tử cuối cùng cũng thở dài một tiếng. “Cái lão Tuỳ Sào Tử này!”

“Tuỳ Sào Tử?” Ngọc Thiền ngẩn người, đưa tay áo lau nước mắt. “Ý tiên sinh là họ đang làm theo lời mách nước của Tuỳ Sào Tử?”

“Phải!” Quỷ Cốc Tử gật đầu. “Cũng chỉ có ông ta mới nghĩ ra được khổ chiêu này! Mau ra gặp họ, nói rằng ta bảo họ đứng lên!”

Ngọc Thiền vâng lời, đứng dậy đi ra khỏi động.

Bên ngoài gian thảo đường, trận mưa núi mỗi lúc một thêm ồ ạt, bốn người vừa đói vừa rét, toàn thân run lẩy bẩy, ai nấy đều đưa tay ôm đầu, co ro quỳ trong mưa, bộ dạng rất đỗi thảm thương.

Tiểu đồng toàn thân ướt sũng, hết lôi người nọ lại kéo người kia, nhưng bốn người vẫn lì ra không chịu đứng dậy. Tiểu đồng cuống quá, giậm chân bật khóc: “Các vị sĩ tử, tiểu đồng xin các vị đấy!”

Ngọc Thiền điềm nhiên đứng trước cửa, đưa mắt nhìn một chốc, rồi lạnh lùng nói: “Bốn vị sĩ tử, hãy nghe đây, tiên sinh bảo bốn vị đứng lên!”

Bốn người đều nghe thấy rành rọt bên tai, chút sức tàn còn gắng gượng cầm cự bỗng chốc tiêu tan, lập tức đổ vật xuống đất như bốn đống bùn nhão.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử