Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 88
Phá thế bí, Lãnh Hướng ly gián
Về cố hương, Trần Chẩn thỏa lòng

❊ ❊ ❊

Kể từ khi gấp rút điều đi năm vạn đại quân từ Thương Ư, Sở Hoài Vương không còn xua quân đánh thành nữa, mà lệnh cho quân Sở lui về Nghiêu Quan. Người Tần cũng không tiến thêm lấy một bước, im ắng cố thủ sau ải Lam Điền.

Ải Nghiêu Quan đã được tôn tạo dưới thời Thương Quân, có thể phòng ngự từ hai hướng. Người Sở sau khi chiếm ải, lại sửa sang thêm, dỡ bỏ toàn bộ bậc cấp ở mặt tây ải, biến thành phòng ngự một hướng, đồng thời đào hào trước ải, đặt nhiều hố bẫy, để phòng người Tần đánh tới. Tương tự, người Tần cũng đào hào sâu trước ải Lam Điền, bố trí cạm bẫy và rải chông sắt dày đặc để phòng người Sở.

Hai bên đều cố thủ quan ải phía mình, đối luỹ với nhau. Và thế là trọng tâm của chiến trường đã chuyển từ phía tây Thương Ư sang phía đông Thương Ư.

Đến lúc quân Tề kéo tới, đại quân năm nước đã tề tựu đông đủ xung quanh trọng ải Phương Thành phía bắc nước Sở. Cụ thể như sau: tuyến Lỗ Quan tại cổng bắc Phương Thành, có sáu vạn liên quân Tần, Hàn; bên ngoài Diệp Thành cổng đông, có ba vạn võ binh Đại Sở, đối đầu với mười một vạn quân cần vương và quân trấn thủ Phương Thành do Trang Kiêu, Cảnh Khuyết thống lĩnh; phía nam Uyển Thành, trung tâm của Phương Thành, là sáu vạn quân năm đô nước Tề do Khuông Chương thống lĩnh, đối đầu với sáu vạn quân vương sư Đại Sở từ Thương Ư điều tới.

Phương Thành của Sở kỳ thực không phải hình vuông, mà tường thành chỉ bao quanh ba mặt, chu vi những hơn bốn trăm dặm. Tường thành phía tây được xây dựa theo thế núi, tiếp giáp với đầu phía đông của con đường sơn cốc Thương Ư, nối liền với cửa ải Hắc Thuỷ. Phía bắc là mặt chính của Phương Thành, cũng là hướng phòng ngự chủ đạo, trước kia vốn để phòng ngự người Trịnh, sau khi nước Trịnh bị diệt vong thì chuyển sang phòng ngự Tam Tấn, mà chủ yếu là Hàn, Nguỵ. Khi nước Sở mở mang bờ cõi lên phương bắc, Phương Thành đã nằm lọt vào trong lãnh thổ nước Sở, nên mặt phía đông từ lâu đã không còn ý nghĩa phòng ngự nữa. Song vào lúc này, khi người Nguỵ đánh tới, mặt thành phía đông của Phương Thành lại trở nên hữu dụng.

Duy có mặt phía nam là nội địa Đại Sở, người Sở không bố trí phòng thủ, trong khi năm vạn quân ngũ đô của Khuông Chương vừa hay tràn tới từ đây. Đây chính là nguyên do khiến Hoài Vương lo sợ, phải cho Đường Miệt dẫn vương sư ngự địch.

Đường Miệt đi rồi, Hoài Vương vẫn chưa an tâm, lại phái Cảnh Thuý trấn giữ Uyển Thành, điều động gia binh của các phong quân và quân trấn thủ các thành trì trên đất Uyển, sẵn sàng chi viện cho Phương Thành bất cứ lúc nào. Còn về tuyến Nghiêu Quan, đã có Hoài Vương đốc trận, nên tướng sĩ cũng an tâm, tạm không có gì đáng ngại.

Sau khi gấp rút điều binh khiển tướng, chiến địa các nơi đều thành thế giằng co, tình hình tạm thời yên ắng, các bên tham chiến cấp tốc vận chuyển lương thảo quân nhu, sẵn sàng để đánh lâu dài.

Thấy liên quân Hàn, Tần công chiến hơn tháng trời mà vẫn không chút tiến triển, Hàn Tuyên Vương chưa từng kinh qua đại sự giờ bắt đầu đứng ngồi không yên, cho gọi Trương Nghi, Lãnh Hướng vào cung, thỉnh giáo chiến sự.

Khi hai người vào cung, đã thấy Công Trọng ngồi đó, hiển nhiên vua tôi hai người đã nghị sự lâu rồi.

Hành lễ xong xuôi, Tương Vương vào ngay chuyện chính, sắc mặt cấp thiết hỏi về chiến sự Phương Thành, sợ rằng nếu cứ kéo dài, ắt sẽ có điều bất trắc.

“Nghe nói đại vương thích đi săn, có đúng vậy chăng?” Nhìn vào sắc mặt lo lắng của Tương Vương, Trương Nghi vòng tay hỏi.

“Chính phải!” Tương Vương đáp, “quả nhân từ khi bảy tuổi đã theo tiên vương đi săn trong vườn ngự uyển.”

“Dám hỏi đại vương, đã từng săn thỏ hay chưa?”

“Thỏ ư?” Tuyên Vương lộ vẻ coi thường, “quả nhân mười tuổi đã săn rồi, một mũi tên trúng giữa lưng!”

“Lại hỏi đại vương, đã từng săn gấu?”

“Tất nhiên là có!” Tương Vương đắc ý ra mặt, “từ năm mười bảy tuổi.”

“Cũng một mũi tên trúng lưng?”

“Chà, đâu có dễ vậy!” Tương Vương mặt mày hớn hở, hoa chân múa tay mà kể, “đó là một con gấu già, cực kỳ hung dữ, quả nhân bắn liền năm phát, cả năm mũi tên đều bắn trúng lưng, nhưng nó không những không sợ, mà còn lao lên xe chiến, nhảy bổ vào quả nhân. May sao quả nhân sớm đã đề phòng, lúc nó chưa kịp đứng vững đã đâm ngay một thương trúng bụng!”

“Có chết ngay không?” Trương Nghi cười hỏi.

“Không! Con gấu ngã xuống khỏi xe, khiến mũi thương của quả nhân gãy rời. Quả nhân mất thương, đành phải lắp tên kéo cung mà bắn tiếp, con gấu đau quá, ngoắt đầu bỏ chạy. Quả nhân nào chịu buông tha, bèn giục phu xe đánh xe đuổi theo, bắn thêm năm mũi tên nữa, mới giết được nó.”

“Đại vương thần dũng!” Trương Nghi khen ngợi, rồi chỉ về phương nam, “so với con gấu lớn Đại Sở, thì con gấu già mà đại vương săn được chẳng thấm vào đâu, huống hồ lần này, đại vương lại muốn chặt mất một bàn tay gấu, còn kéo thêm cả một bên chân gấu nữa đó, đại vương!”

“Phải, phải,” Tuyên Vương gật đầu lia lịa, “khanh nói chí phải!”

“Đại vương thánh minh.” Trương Nghi vòng tay nói tiếp, “nhớ năm xưa thần giúp Sở diệt Việt, mất tới một năm rưỡi; giúp Tần diệt Ba Thục, mất tới mười tháng trời. Nay thần lại giúp đại vương đánh gấu, muốn chặt tay gấu, róc thịt gấu cho đại vương nhắm rượu, có thể vội vàng được chăng?”

Tương Vương phá lên cười lớn: “Không vội, không vội, quả nhân không vội.” Đoạn liên tiếp vòng tay với Trương Nghi, “việc ở Phương Thành, quả nhân xin uỷ thác cả cho khanh!”

Sau khi rời khỏi cung Hàn, Trương Nghi tới phủ Lãnh Hướng, cười hỏi: “Lãnh huynh, sự việc hôm nay, huynh thấy thế nào?”

“Dường như người nôn nóng là Công Trọng.” Lãnh Hướng đáp, “Trương huynh cũng thấy, từ đầu tới cuối ông ta không nói một lời, mặt căng như trống!”

“Lãnh huynh hẳn biết, Công Trọng vì đâu mà nôn nóng?” Trương Nghi hỏi.

“Vì lo lắng.”

“Lo lắng gì kia?”

“Người Tề và người Nguỵ.” Lãnh Hướng đáp, “Nguỵ tuy đồn quân, song chưa đánh lấy một lần, còn nghe nói người Nguỵ có vẻ rất hữu hảo với người Sở, ra phố chợ còn ăn cơm uống rượu cùng nhau.”

Trương Nghi cười nhạt: “Tướng Nguỵ Công Tôn Hỷ là cháu ruột của Công Tôn Diễn!”

“Chẳng trách!” Lãnh Hướng bật cười.

“Nguỵ Vương chịu xuất binh cho có, tại hạ đã cảm kích lắm rồi.” Trương Nghi đăm chiêu, “hiện tại, quan trọng nhất là ở người Tề! Không giấu Lãnh huynh, điều tại hạ lo lắng nhất, chính là người Tề đột ngột lui binh!”

“Lui binh?” Lãnh Hướng sửng sốt, “người Tề lặn lội ngàn dặm đường xa mà tới, sao tự dưng lại lui binh được?”

“Vì Tô Tần.”

“Nghe Trương huynh nói, Tô Tần đang cùng Triệu Vương bắc chinh đất Hồ kia mà!”

“Tại hạ dự cảm, Tô Tần đã trở về rồi.” Trương Nghi nhìn về phía Hàm Đan, “theo như tình thế trước mắt, Tô Tần sẽ không chịu ngồi yên. Với người này, nước cờ độc địa nhất chính là du thuyết Tề Vương, khiến Khuông Chương rút quân về. Tề nếu lui binh, Nguỵ cũng sẽ lui quân. Lúc đó, Hàn Vương sẽ càng thêm lo lắng. Nếu người Hàn cũng rút quân nốt, thì ván cờ này sẽ khó khăn đây.”

“Trương Tử hẳn đã có kế ứng phó?”

“Nghe nói Lãnh huynh và Cảnh Thuý có chút giao tình, có đúng vậy chăng?”

“Chú của Cảnh Thuỷ là Cảnh Giám, khi Thương Quân còn sống, tại hạ thường qua lại với ông ta.”

“Từng gặp mặt chưa?”

“Đã gặp.”

“Hay lắm.” Trương Nghi lại vòng tay nói, “phiền Lãnh huynh tới đất Sở một chuyến tìm gặp Cảnh Thuỷ”

“Để làm gì kia?”

Trương Nghi vẫy tay, Lãnh Hướng nghiêng người lại, ghé sát tai nghe.

Trương Nghi thì thào một chập, Lãnh Hướng ngồi thẳng dậy, vòng tay lĩnh mệnh.

“Ông là…” Khi Lãnh Hướng cải trang thường dân được quản gia dắt vào trong thư phòng, Cảnh Thuý nhìn chằm chằm vào ông ta hồi lâu mà không nhận ra.

“Tại hạ Lãnh Hướng, vốn là người trong phủ Thương Quân, xin quấy quả Cảnh đại nhân!” Lãnh Hướng vái dài mà nói.

“Chao ôi, hoá ra là Lãnh huynh đấy ư!” Cảnh Thuý vội vàng đáp lễ, níu tay Lãnh Hướng mà nói, “tại hạ đúng là tuổi già hoa mắt, đến Lãnh huynh cũng không nhận ra, đáng chết, đáng chết!”

“Là Lãnh Hướng già rồi, diện mạo cũng khác!” Lãnh Hướng chỉ vào mái tóc bạc phơ và bộ quần áo vải thô của mình, cười nói.

“Phải rồi, phải rồi!” Cảnh Thuý buông lời cảm khái, rồi dắt Lãnh Hướng tới chỗ chiếu khách, còn mình ngồi xuống chiếu chủ, nhìn thẳng vào Lãnh Hướng mà hỏi, “kể từ sau khi Thương Quân ra đi, tại hạ không còn nghe thấy tin tức gì của Lãnh huynh nữa, cứ ngỡ Lãnh huynh đây đã…” Lắc đầu, “không ngờ trời cao phù hộ, Lãnh huynh vẫn được bình an. Không biết những năm qua, Lãnh huynh ẩn thân chốn nào?”

Lãnh Hướng bèn từ tốn kể lại những biến cố xảy ra trong những năm qua, gồm cả chuyện nhận bà mẹ mù của Thương Quân làm mẹ mình, đưa về nhà phụng dưỡng, cho đến chuyện cưới vợ sinh con, sống ẩn dật tại đất Hàn.

“Hay lắm!” Cảnh Thuý nghe chuyện, lấy làm cảm khái, “hồi Thương Quân ngộ nạn, tiên thúc công Cảnh Giám buồn thương suốt nhiều ngày, còn lập bài vị cho người, thờ trong một góc tông đường, lúc lâm chung còn dặn dò tại hạ chớ quên ngày kỵ của Thương Quân. Tại hạ thực không ngờ, giao tình giữa đôi bên lại sâu sắc đến vậy!”

“Phải,” Lãnh Hướng gật đầu, “năm xưa khi tiên Hiếu Công luận công phong thưởng, đã đưa ra ba vùng đất phong, một là Hà Tây, hai là Kỳ Sơn, ba là Nam Trịnh, tại hạ khuyên nên chọn Nam Trịnh, song Thương Quân không chịu, lại thỉnh cầu đất Thương Ư, hẳn là muốn được ở gần Cảnh huynh!”

“Nhưng rồi Thương Quân lại cưỡng chiếm đất Ư, châm ngòi tai hoạ cho hai nước. Để rồi giờ đây, cục diện Thương Ư mới rối bời thế này!”

“Than ôi,” Lãnh Hướng thở dài, “chuyện thành ra thế này, Thương Quân cũng chưa từng nghĩ tới. Theo như lời Thương Quân, thì năm xưa chiếm cứ mười lăm ấp Ư Thành, cũng vì vạn bất đắc dĩ, Cảnh đại nhân hẳn cũng hiểu, làm vậy là để đề phòng đương kim Tần Vương. Lúc đổ, Thương Quân đã biết tiên quân nước Tần bệnh nặng, không còn sống được bao lâu nữa. Tân quân qua lại mật thiết với cựu đảng, Thương Quân lo sợ ngày sau bất lợi, nếu có chuyện gì bất trắc, trong tay chỉ có mười lăm ấp đất Thương thôi thì khác nào lấy trứng chọi đá. Thương Quân từng nói với tại hạ, trước tiên sẽ chiếm Ư Thành để lấy lòng tân quân, nếu tần quân vẫn không chịu buông tha, người sẽ mang toàn bộ sơn cốc Thương Ư tới cậy nhờ Cảnh đại nhân, kết minh với Sở. Chỉ là không ngờ, than ôi, một ván cờ hay, cuối cùng lại bị huỷ về tay Tư Mã Thác. Thương Quân quả thực không biết dùng người!”

Hai người than thở một hồi, Cảnh Thuý bèn hỏi: “Dám hỏi Lãnh huynh, trong lúc binh hoang mã loạn, huynh bất chấp nguy hiểm lặn lội tới tận đây, là bởi chuyện gì?”

“Vì Cảnh đại nhân.”

“Ồ?” Cảnh Thuý ngả người về trước, vòng tay, “Lãnh huynh cứ nói!”

“Như vừa nói với Cảnh huynh,” Lãnh Hướng đáp lời, “tại hạ đã lâu không màng thế sự. Nhưng gần đây, không hiểu người nào đã nói lộ với Hàn Vương, mà Hàn Vương nhiều lần sai người tới tận cửa triệu vời, tại hạ không thể từ chối, đành phải vào cung, nhận bổng lộc của Hàn Vương, được phong làm thượng khanh. Sau đó, qua lời Hàn Vương và tướng Hàn là Công Trọng Minh mà biết được chuyện ở Phương Thành. Nhớ tới Phương Thành là quản hạt của Cảnh huynh, tại hạ lo lắng tới mất ăn mất ngủ, vậy nên mới lựa thời cơ, lẳng lặng tìm tới đất Uyển, để báo tin cho Cảnh huynh biết mà chuẩn bị trước!”

“Họ đã nói những gì?” Cảnh Thuý nôn nóng hỏi dồn. “Sự việc Phương Thành là do tướng quốc nước Tần Trương Nghi khơi ra,” Lãnh Hướng cất giọng rành rọt, “Cảnh huynh đã biết, sự việc Thương Ư cũng là do Trương Nghi châm ngòi. Vì đó mà khiến Sở Vương nổi cơn thịnh nộ, dấy binh cả nước phạt Tần, người Tần chống đỡ không nổi, toàn bộ Tần thất đều đang trách tội Trương Nghi. Vì muốn giải vây cho Tần nên Trương Nghi mới sang Hàn, bởi lẽ tân Hàn Vương hồi ở Tần từng qua lại thần thiết với Trương Nghi. Thấy Trương Nghi tới, Công Tôn Diễn đã treo ấn từ quan, rời Hàn sang Nguỵ, lập tức được Nguỵ Vương phong làm tướng quốc, hẳn là người này sớm đã liệu sẵn cho mình đường lui. Trương Nghi thỉnh cầu Hàn Vương phát binh cứu Tần, Hàn Vương tuy không muốn kết oán với Sở, song lại không thể đắc tội với Tần, nên chần chừ không quyết. Trương Nghi lại nói đã giao ước với hai nước Nguỵ, Tề xuất binh, đại quân chẳng bao lâu sẽ tới. Thấy Nguỵ, Tề đều xuất binh cả, Hàn Vương cũng đành chấp thuận, nhưng đòi Tần cũng phải xuất binh. Người Tần bèn rút lấy ba vạn quân từ Tây Hà, hợp binh với Hàn, tiến tới Lỗ Quan. Nguỵ Vương vì sự việc Tương Lăng năm xưa nên tiến quân tới Diệp Thành. Với Cảnh đại nhân, Hàn, Nguỵ đều không có gì đáng ngại, mấu chốt là ở Tề Vương!”

“Tề Vương sao kia?”

“Nghe Trương Nghi nói, Sở Vương không biết vì đâu lại cho sứ thần lăng mạ Tề Vương ngay giữa triều đường, khiến Tề Vương nổi giận, không những đem nấu sứ thần, mà còn phái sứ tới Hàm Dương kết minh với Tần, giao hẹn cùng phạt Sở. Phạt Sở không phải chuyện nhỏ, vả lại binh sĩ Tề phần nhiều đang bị cầm chân tại nước Yên, Tề Vương trong lúc cấp bách đã điều Khuông Chương về, giao cho sáu vạn nhuệ binh. Chủ ý của Khuông Chương và Điền Anh là đánh lấy Hạ Đông, thừa cơ đắc lợi, song Tề Vương không chịu, muốn Khuông Chương chiếm Uyển Thành trước, rồi đánh thốc tới Sính Đô, ép Sở Vương phải cắt nhượng Uyển Thành…”

“Ồ…” Cảnh Thuý nheo mắt, “đất Uyển quá xa xôi, cách nước Tề trùng trùng sông núi, dù đại vương ta có cắt nhượng cho, Tề Vương cũng làm sao.”

“Tề Vương lại không nghĩ vậy, ông ta làm thế, phần nhiều là để trút giận mà thôi. Cảnh đại nhân, xin hãy thử nghĩ mà xem, trên khắp nước Sở có nơi nào quan trọng hơn được Uyển Thành? Tiên Sở Vương cớ sao lại dựng Phương Thành ở đó?”

“Phải,” Cảnh Thuý gật đầu, “Lãnh huynh nói đúng lắm!” Lại nheo mắt một hồi, “thảo nào người Tề vòng vèo một quãng đường dài rồi chọc thẳng vào chỗ yếu của ta!”

“Đó là phong cách dụng binh của Khuông Chương!”

“Lãnh huynh hẳn có diệu kế phá địch.” Cảnh Thuý nhìn thẳng vào Lãnh Hướng.

“Người Tề đã hai lần phạt Nguỵ, bất hoà với Nguỵ. Sẵn lòng giúp Tề, chỉ có Hàn và Tần, song người Nguỵ đồn quân tại Diệp Thành, vừa hay ngăn cách Tề với Hàn, Tần, nên thực chất, Tề đã trở thành cánh quân cô độc. Khuông tướng quân dụng binh thế này, có thể gọi là kiêu binh. Thử nghĩ mà xem, người Tề hai lần đánh bại Đại Nguỵ, một lần đánh bại cường Tần, vừa rồi lại diệt nước Yên, xứng danh thiên hạ vô địch. Vô địch ắt kiêu. Cánh quân cô độc của Khuông Chương vào sâu trong đất Sở, cứ như vào chốn không người, hoàn toàn không coi người Sở là gì trong mắt, đủ thấy họ ngạo mạn nhường nào. May sao Sở Vương ứng phó kịp thời, điều vương sự về chặn đứng, bằng không, chưa biết chừng trên Uyển Thành lúc này đã cắm cờ Tề.”

“Lãnh huynh muốn nói, ta hãy diệt quân Tề trước?”

“Diệt quân Tề, e rằng không phải chuyện dễ dàng.” Lãnh Hướng cười gượng mà đáp, “Khuông tướng quân là mãnh tướng, năm xưa tập kích Hạng Thành, suýt còn bắt sống Chiêu Dương. Sau đó đánh bại Tần, tiêu diệt Yên, danh tiếng lẫy lừng liệt quốc, cho tới hôm nay, chưa từng chiến bại lần nào.”

“Tướng quân Đường Miệt cũng chưa từng chiến bại lần nào!”

“Vậy ư?” Lãnh Hướng làm bộ ngạc nhiên, “tại hạ chưa từng nghe nói tới người này. Có điều, lần này Khuông tướng quân dẫn cánh quân cô độc vào sâu trong lãnh địa, cũng là một cơ may cho Đường tướng quân.”

“Than ôi,” Cảnh Thuý khẽ thở dài, “kẻ này dám cả gan mạo hiểm, hẳn đã nắm rõ tình thế trong tay. Bắc có Hàn, Tần, đông có Nguỵ, xung quanh Phương Thành nguy hiểm trùng trùng, tại hạ… cũng lo không xuể.”

“Cảnh đại nhân xin chớ lo lắng,” Lãnh Hướng chỉ về phía bắc, “quân Hàn, Tần bị chặn lại ở Lỗ Quan, không phải là không đánh nổi, mà là người Hàn không muốn đánh. Người Hàn muốn người Tần đánh trước, người Tần cũng muốn người Hàn đánh trước, hai bên đều có tính toán riêng, Lỗ Quan sẽ không bao giờ hạ được. Lại nhìn sang Diệp Thành, tướng quân Nguỵ là Công Tôn Hỷ, mà Công Tôn Hỷ là cháu ruột của Công Tôn Diễn. Trương Nghi tới Nguỵ cầu viện binh, Nguỵ Vương nhớ tới mối thù Tương Lăng xưa nên mới xuất binh. Song Công Tôn Diễn hiện là tướng quốc nước Nguỵ, Công Tôn Diễn vốn bất hoà với Trương Nghi, nên không chịu dốc sức vì Tần. Vậy nên quân Nguỵ hạ trại đồn quân, cho tới nay vẫn chưa có một xe một tốt nào khiêu chiến với Sở, nghe nói quân tướng hai bên rất hoà thuận với nhau, khiến Trương Nghi uất hận khôn tả. Trong ba nước, thực lòng muốn tiêu diệt Sở, chỉ có người Tề, nếu không, làm gì có chuyện bất chấp đường xa mà đánh tới!”

“Tạ hạ hiểu rồi.” Cảnh Thuý vòng tay, “tạ ơn Lãnh huynh chỉ giáo!”

“Cảnh đại nhân bất tất phải khách khí!” Lãnh Hướng đáp lễ rồi đứng dậy, “giờ tại hạ phải về đây, tránh để Hàn Vương sinh lòng ngờ vực.”

“Lãnh huynh, hay là hãy ở lại đất Sở đi. Với tài của Lãnh huynh, chắc chắn sẽ được đại vương trọng dụng!”

“Than ôi,” Lãnh Hướng thở dài, chỉ vào mái tóc bạc phơ, “tại hạ già rồi, không còn tưởng đến chuyện kiến công lập nghiệp nữa. Vả lại, tại hạ đã lập gia thất, vợ con đang đợi ở nhà!”

Rồi không kịp uống lấy một ngụm nước, Lãnh Hướng vội vã ra về.

Tiễn Lãnh Hướng đi rồi, Cảnh Thuý trở lại thư phòng, càng nghĩ càng thấy Lãnh Hướng nói phải, sự tình quá ư khẩn cấp, bèn tức tốc lên xe, tìm tới doanh trại của Đường Miệt.

Nghe Cảnh Thuý kể lại đầu đuôi, Đường Miệt trầm ngâm suy nghĩ.

“Lãnh Hướng kia…” Đường Miệt ngẩng đầu nhìn Cảnh Thuý, ánh mắt dò hỏi.

“Theo bản tướng biết,” Cảnh Thuý hiểu hắn muốn hỏi gì, bèn giải thích, “hồi Tần Vương giết Thương Ưởng, cũng bắt giam cả Lãnh Hướng. Thương Ưởng trước khi chết chỉ có một thỉnh cầu, chính là xá tội cho Lãnh Hướng, bởi Thương Ưởng còn có một mẹ già mù loà, không ai chăm lo. Tần Vương nể tình Thương Ưởng từng lập đại công, mới miễn cưỡng đồng ý, Lãnh Hướng nhờ thế mà giữ được tính mạng, quay về nước Hàn sống tới giờ.” Dừng lại một chốc, tiếp lời, “lần này ông ta mạo hiểm tới đây, chính là vì tiên thúc công Cảnh Giám. Năm xưa tiên thúc công vì mười lăm ấp Ư Thành mà xung đột với Thương Ưởng, song thúc công và Lãnh Hướng lại có giao tình thân thiết. Hồi Thương Ưởng còn ở Ư Thành, Lãnh Hướng nhiều lần lui tới đất Uyển, đều có gặp gỡ bản tướng. Sau khi Thương Ưởng ngộ nạn, Lãnh Hướng mới không tới nữa.”

“Nếu là như vậy, Lãnh Hướng đúng là thực lòng muốn giúp ta.” Đường Miệt không còn hồ nghi nữa, nhìn sang Cảnh Thuý hỏi, “tướng quân là phó tướng, ứng phó thế nào, mạt tướng kính cẩn nghe lệnh!”

“Sự việc cấp bách trước mắt, chính là đánh tan quân Tề!” Cảnh Thuỷ nhìn thẳng vào Đường Miệt, “chỉ cần ta đánh bại người Tề, Nguỵ, Hàn ắt sẽ lui binh. Nguỵ, Hàn nếu lui, chỉ còn ba vạn quân Tần, đâu thể làm gì ta nữa. Lúc đó, ta không còn phải lo lắng phía đông, sẽ rảnh tay để dốc toàn lực cho phía tây, Tần Vương muốn không phục cũng khó. Còn như đánh Tề thế nào, hẳn tướng quân đã có diệu kế?”

“Cảnh tướng quân,” Đường Miệt trải rộng địa đồ, chỉ vào một chỗ cách hạ du sông Tỷ Thuỷ không xa, “kế sách của mạt tướng là, đã đánh thì phải đánh cho không còn đường về. Mạt tướng dự định xuất ba vạn quân, băng qua Tỷ Thuỷ ở chỗ này, vòng tới Tất Dương, cắt đứt đường lương thảo, chặn đứng đường lui của họ, ép Khuông Chương quyết chiến với ta tại sông Tỷ Thuỷ. Thế nhưng, nếu như chia đôi số quân của mạt tướng, vậy thì binh lực tại chiến trường chính lại thành thưa thớt.”

“Tướng quân chớ lo,” Cảnh Thuý tiếp lời, “bản tướng có thể điều hai vạn quân từ Lỗ Quan, Diệp Thành tới chỗ tướng quân, cộng thêm một vạn quân trấn thủ Uyển Thành, vậy thì binh lực trong tay tướng quân cộng lại không dưới sáu vạn. Lại rút thêm ba vạn từ đất Đặng, đất Nhương về, tổng cộng là mười hai vạn, vậy là gấp đôi người Tề. Hơn nữa, người Tề bốn bề thọ địch, binh lực cũng phải phân tán.”

“Hay lắm!” Đường Miệt lấy làm phấn chấn.

Hai người bàn bạc xong xuôi, Đường Miệt lập tức cho gọi chư tướng thuộc hạ tới trại trung quân, phân công sắp đặt. Còn Cảnh Thuý gấp rút quay vê Uyển Thành, một mặt soạn chiến báo tàu bày vắn tắt về tình thế hiện tại cùng sách lược ứng phó, chuyển tới Nghiêu Quan, một mặt gấp rút điều quân trấn thủ các nơi Diệp, Lỗ, Đặng, Nhương, bắt đầu vây bủa.

Thượng du của Tỷ Thuỷ là sông Tất Thuỷ, xuất phát từ một vùng núi thấp ở phía đông nam Uyển Thành rồi chảy về tây, tới đất Đường mé nam Uyển Thành thì đổi tên là Tỷ Thuỷ.

Quân Tề men theo bờ nam của sông Tỷ Thuỷ để tiến về tây. Đến phía đông nam đất Uyển thì Tỷ Thuỷ vòng xuống phía nam, được hơn mười dặm lại rẽ về tây, đổ vào sông Dục Thuỷ, cuối cùng nhập lưu với Đan Thuỷ, qua Hán Thuỷ chảy vào Giang Thuỷ.

Đây chính là nơi Đường Miệt lựa chọn để nghênh chiến quân Tần.

Đường Miệt dàn quân thành hình chữ nhất, kiểm soát toàn bộ đoạn bờ sông phía tây dài hơn mười dặm. Khuông Chương cũng lệnh cho ba quân hạ trại dọc theo bờ đông Tỷ Thuỷ, đối đầu với quân Sở bên kia sông.

Quãng sông Tỷ Thuỷ này rất rộng, nước chảy lững lờ, bãi cát hai bên bờ có màu vàng nâu, hạt cát khá thô, vừa nhìn đã thấy rất thích hợp để chọn làm chiến địa.

Nước Sở dốc hết binh lực cả nước để phạt Tần, nên thành ấp các nơi ngoài quân trấn thủ, không còn lấy một binh một tốt. Quân Tề sau khi vào Sở, chỉ đi đường lớn, không đánh thành trì, suốt dọc đường hành quân suôn sẻ, không bị ai cản trở, cho tới tận đất này, mới bị Đường Miệt chặn lại.

Quân Tề liên tiếp đánh bại Đại Nguỵ, giết chết Bàng Quyên, chủ tướng lại là mãnh tướng Khuông Chương từng thắng Tần, diệt Yên, lúc này một mình tiến sâu vào trong đất Sở, đánh thẳng tới hậu phương của Phương Thành, nên dù Đường Miệt chưa từng chiến bại, song cũng không dám khinh suất, mà thận trọng bố trí phòng ngự suốt dọc bờ sông Tỷ Thuỷ.

Khuông Chương sai tìm gỗ lạt tại chỗ, dựng trại kiên cố dọc theo bãi sông, cắt cử người ngày ngày thám thính động tĩnh phía quân Sở, đồng thời liên lạc thường xuyên với ba quân Nguỵ, Hàn, Tần, chuẩn bị sẵn sàng để đánh lâu dài.

Khuông Chương cũng không muốn tiến sâu thêm nữa, bởi lẽ mục tiêu mà Khuông Chương định sẵn, cũng là quanh đây. Chỉ có đồn quân tại đây, phía nam bức bách Sính Đô, uy hiếp đất Uyển, mới có thể tạo ra thanh thế, thúc ép Sở Vương giảng hoà. Tề Tuyên Vương đã khăng khăng muốn cứu Tần, thì không thể không tham gia cuộc chiến này, thân là chủ tướng, Khuông Chương chỉ có thể khuấy đảo cho thêm loạn, chẹn cứng ngay tim đối thủ, là đã đạt được mục đích rồi.

Sáng sớm hôm nay, Khuông Chương vẫn như thường lệ, sải bước tới bên sông Tỷ Thuỷ, đi tuần tra dọc theo bờ sông, chốc chốc liếc nhìn sang phía doanh trại của Đường Miệt bên bờ đối diện.

Giờ là đầu hè, sau vài trận mưa rào, nước sông dâng lên đáng kể, nhưng mặt sông đã bắt đầu lắng trong trở lại, phản chiếu sắc trời xanh biếc.

Ráng sớm hắt xuống sáng bừng doanh trại quân Sở phía bên kia, Khuông Chương không cần lên cao cũng nhìn thấy rành rành trận thế của người Sở. Một số nơi bố trí phòng ngự dày đặc, một số nơi lại thưa thớt hơn hẳn. Đến trước những chỗ phòng ngự thưa thớt, Khuông Chương tiến lại sát bên mép nước, nhặt một cục đá, ném thật mạnh ra giữa lòng sông. Cục đá chìm nghỉm, phát ra tiếng vang trầm đục. Khuông Chương biết, đó là những chỗ nước sâu.

Tuần tra xong một lượt, Khuông Chương quay về đại trại, thấy bữa sáng đã bày sẵn, bèn ngồi xuống định ăn. Chợt bên ngoài có ngựa phi nước đại tới nơi, viên quân uý tung mình xuống ngựa, trình lên một túi vải màu đen niêm phong kín mít.

Khuông Chương mở túi ra xem, trong lòng giật thót.

Trong túi đựng một tấm lụa, quấn quanh một con đại bàng đen tạc từ gỗ. Đại bàng rất nhỏ, song chế tác cực kỳ tinh xảo. Trên lụa vẽ một tấm địa đồ hình thế mô tả vắn tắt về động tĩnh bất thường của quân Sở, ghi chú kỹ lưỡng tuyến đường di chuyển cũng như số quân và nơi đồn trú của mỗi lộ quân, thời gian là vào nửa đêm hôm qua. Theo như tấm địa đồ này, thì Đường Miệt đã tách ra ba vạn quân, vào đêm qua men theo Tỷ Thuỷ tiến lên phía bắc chừng mười dặm thì vượt sang bờ đông, bày trận cách chỗ quân Tề hai mươi dặm về phía đông, nhằm cắt đứt đường lui của người Tề. Hai vạn quân trấn thủ từ Lỗ Quan, Diệp Thành, Uyển Thành cũng đang hành quân tới bờ bắc Tỷ Thuỷ; ba vạn quân trấn thủ đất Đặng, đất Nhương đêm qua cũng bắt đầu tiến sang phía đông, di chuyển đến phía nam của trại quân Tề. Cho tới lúc này, người Sở đã hoàn tất thế cục bao vây bốn phía, nhìn vào đích đến của các lộ quân, thì ngoài Đường Miệt đang ở ngay bờ bên kia Tỷ Thuỷ, cả ba lộ quân đều đang cách quân Tề chừng hai chục dặm.

Hiển nhiên, người Sở đã bố trí xong xuôi chiến lược vây bủa, mục đích là tiêu diệt toàn quân Tề.

Sự biến này không nằm ngoài dự liệu của Khuông Chương, cũng là sự biến mà Khuông Chương không mong muốn nhất.

Kể từ khi quân Tề vào Sở, Khuông Chương nghiêm lệnh ba quân không được quấy nhiễu dân chúng, không được động đến thành trì, từ lúc đóng quân tại đây, cũng không mảy may xâm phạm người Sở, chính là muốn nói với người Sở rằng, Khuông Chương không hề có ý giao chiến với Sở, chẳng qua là phụng mệnh xuất binh mà thôi.

Thế nhưng, người Sở…

“Túi này ở đâu ra?” Khuông Chương nhìn sang quân uý hỏi.

“Sáng sớm nay có kẻ buộc vào mũi tên bắn lại, tướng sĩ tuần tra của thuộc hạ nhặt được.”

Khuông Chương nhìn kỹ con hắc điêu một hồi, khế khép mắt lại.

Rõ ràng, đây là tin tình báo mà hắc điêu nước Tần do thám được, nên đã dùng cách này để cấp báo cho Tề.

Vừa lúc đó, lại có thám mã phi như bay lại, là kỵ sĩ tuần tra của quân Tề, báo rằng nhìn thấy rất đông quân Sở cách đây chừng hai chục dặm phía sau lưng, đang bài binh bố trận, tình thế đúng như tin báo của hắc điêu nước Tần.

Khuông Chương phẩy tay ra hiệu cho mọi người lui ra, rồi vừa ăn sáng, vừa suy ngẫm về sự biến thình lình bên phía địch, vắt óc nghĩ kế đối phó.

Với tình hình hiện tại, trận này không thể không đánh. Ăn xong, Khuông Chương lấy túi gấm đựng thư “chỉ xem không đánh” của Tô Tần ra, ngắm nghía một hồi, rồi đặt xuống bên cạnh chiếc túi đen mà người Tần gửi tới, truyền lệnh chư tướng ba quân tới đại trại nghe lệnh.

Ngày hôm đó, doanh trại quân Tề vẫn im ắng như thường nhật, mọi thứ đều như chứng tỏ, người Tề không mảy may hay biết về kế sách vây diệt của Sở.

Đêm đó, lúc trời gần sáng, không gian đen kịt một màu. Năm nghìn kỵ binh dùng vải gai bọc kỹ móng ngựa, âm thầm men theo Tỷ Thuỷ đi khoảng hơn hai chục dặm về phía hạ du, đến những quãng sông sâu nhất, lẳng lặng lội xuống sông, bởi sang bờ đối diện. Những chỗ này, thứ nhất cách doanh trại Sở khá xa, thứ hai nước quá sâu, đoạn giữa sông sâu đến hơn trượng, người Sở hầu như không bố trí phòng ngự, thậm chí không đặt lấy một trạm gác.

Sau khi năm nghìn kỵ binh đã qua sông cả, lập tức chia quân hai ngả, ba nghìn kỵ binh men theo để Tỷ Thuỷ, lao như gió cuốn đến chỗ phòng bị nghiêm ngặt nhất trong doanh trại Sở. Tại đây, lòng sông bằng phẳng, sông rộng nước nông, chỗ sâu nhất chưa tới thắt lưng, bộ binh có thể lội qua, vậy nên người Sở phòng thủ rất kỹ, cung thủ nỏ thủ dày đặc. Tuy nhiên, vào thời khắc đêm sâu tăm tối nhất ngay trước bình minh, binh lính canh phòng đều đang gà gật hoặc say giấc, đến khi nghe thấy động tĩnh, thì kỵ binh Tề đã tới tấp nhảy xuống khỏi ngựa, ào tới trước mặt như lốc xoáy, phần lớn còn chưa kịp kháng cự đã đầu lìa khỏi cổ.

Bên này vừa khai chiến, đông đảo lính Tề sớm đã chờ sẵn bên kia bờ Tỷ Thuỷ lập tức rào rào nhảy xuống nước như một bầy ếch, bì bõm lội qua sông, nhanh chóng lao vào trận chiến.

Quân Sở toàn tuyến tan rã, phòng tuyến mười dặm bên sông nháy mắt đã bị người Tề chiếm đoạt.

Trong lúc trận chiến đang bùng nổ bên sông, hai nghìn kỵ binh còn lại xộc thẳng vào chỗ sâu nhất trong quân doanh Sở, đua nhau ném những bó đuốc cháy bùng lên nóc trại Sở. Lều trại quân Sở đa phần đan bằng đay thô, để chống nước mưa, còn quét thêm một lớp dầu trẩu dày, vừa chạm phải đuốc là bốc cháy đùng đùng. Lính Sở giật mình choàng tỉnh, đã thấy người Tề đánh vào giữa trại, thảy đều kinh hãi rụng rời, bỏ chạy tan tác, cảnh tượng vô cùng hỗn loạn.

Bộ binh vượt sông mà sang còn đồng hơn nữa, ập vào trại Sở, thế như dời non lấp biển. Năm nghìn kỵ binh ban đầu lại trở lên lưng ngựa, vòng đến sau lưng quân Sở, dàn quân thành thể bao vây, sau đó thúc ngựa phi nhanh, lao thẳng vào những lính Sở đang cuống cuồng tháo chạy. Lính Sở phần lớn chưa kịp mang giáp, có kẻ thậm chí chưa kịp mang binh khí, bị chiến mã nước Tề giày đạp, tiếng kêu gào thảm thiết vang lên không ngớt.

Lính Tề vượt sông đã có chuẩn bị từ trước, đều buộc vải trắng trên cánh tay, cứ vung thương nhắm vào bóng người không mang vải trắng mà đâm. Trong khi lính Sở bị đánh bất ngờ, không hề phòng bị, trong bóng tối nhập nhoạng, chỉ biết thấy người là đâm, ngộ sát quân mình không ít. Tới khi trời sáng, doanh trại Sở gần như cháy rụi, binh sĩ tử thương hai vạn có dư, bị bắt sống đến vài nghìn, chỉ chưa đầy nghìn người trốn thoát.

Quân Sở từ Diệp Thành, Lỗ Quan, Uyển Thành lúc này cũng đã tới bờ bắc Tỷ Thuỷ, nhìn sang bên này lửa cháy rực trời, tiếng hô tiếng hét dậy đất, ai nấy kinh tâm táng đởm.

Khai chiến trước bình minh, đến khi mặt trời mọc thì kết thúc, trước sau chưa đầy một canh giờ, mãnh tướng thiện chiến nhất của Sở là Đường Miệt cùng ba vạn nhuệ binh dưới trướng đã bị sáu vạn quân Tề vượt Tỷ Thuỷ đánh cho tan tác tơi bời, gần như toàn quân tận diệt, chủ tướng Đường Miệt cũng bỏ mạng trong đám loạn quân.

Cảnh Thuý hay tin, rụng rời chết lặng, lập tức soạn chiến báo cấp tốc gửi tới Nghiêu Quan, đồng thời lệnh cho toàn quân Sở ở bờ bắc Tỷ Thuỷ cấp tốc lui về, lại phải người phi ngựa lên thượng du Tỷ Thuỷ gọi cánh quân của Đường Miệt đang chờ sẵn để chặn đường quân Tề rút hết về Uyển Thành, lệnh cho quân trấn thủ đất Đặng, Nhương phía nam quân Tề bày trận sẵn sàng, đề phòng quân Tề thừa thắng thẳng tiến xuống phía nam, đánh tới Sính Đô.

Song Khuông Chương lại không thừa thắng tiến quân, mà ngược lại, còn lệnh cho ba quân quay về bờ đông Tỷ Thuỷ. Quân Tề rút về, thấy nơi quân mình hạ trại vẫn còn nguyên như cũ, lại tiếp tục đóng quân ở đó.

Khuông Chương soạn chiến báo gửi cho Tề Vương, thuật lại tỉ mỉ đầu đuôi về cuộc đại chiến với người Sở. Ngay sau khi chiến báo gửi đi được một hôm, Khuông Chương cũng nhận được chỉ lệnh lui quân của Tề Vương, bèn lập tức nhổ trại khởi hành, theo tuyến đường cũ rời khỏi đất Sở.

Tuy nhiên, tình thế chiến lược Đại Sở đối địch bốn nước liên hoành giống như một chuỗi móc xích, mà trận chiến Thuỳ Sa và cái chết của Đường Miệt chính là đã dịch chuyển móc xích đầu tiên, khiến toàn bộ các chiến trường rùng rùng chuyển động.

Cũng vào đêm Khuông Chương bất ngờ tập kích Đường Miệt, thì Tần, Hàn cũng nhất tề nổi dậy, liên quân đông đến hàng vạn ào ào leo lên tường Phương Thành ở phía tây Lỗ Quan. Bởi Cảnh Thuý đã điều đi hai vạn quân trấn thủ, chưa kịp bổ sung người mới, nên quãng tường thành này phòng thủ rất mỏng yếu, nháy mắt đã bị liên quân Tần, Hàn đột phá. Liên quân đột nhập được vào Phương Thành, lập tức xông tới Lỗ Quan, liên quân bên ngoài Lỗ Quan cũng nhất tề đánh vào quan ải. Trước đòn nội công ngoại kích, Lỗ Quan nhanh chóng thất thủ, quân trấn thủ Phương Thành hoàn toàn tan rã, tử thương vô số kể.

Không còn bị tấm bình phong Phương Thành cản trở, liên quân Tần, Hàn chịu nín nhịn đã lâu giờ không còn kiêng dè gì nữa, ồ ạt tấn công, thế như chẻ tre, Quân lính của Trang Kiều chống đỡ không nổi, liên tục thoái lui, khó khăn lắm mới ổn định được trận thế tại tuyến Dục Thuỷ phía bắc Uyển Thành, gấp rút dựng lại phòng tuyến. Trang Kiều điểm lại binh mã, thấy đã tổn thất quá nửa, chẳng biết làm sao, đành bẩm báo quân tình lên Hoài Vương và vương thúc, xin cấp viện binh.

Lỗ Quan bị phá, quân trấn thủ Diệp Thành thấy đại thế đã mất, bỏ thành mà chạy, để lại cho võ binh Đại Nguỵ một toà thành trống rỗng.

Móc xích tiếp theo, là Tư Mã Thác.

Sau khi công chiếm được quận Kiềm Đông, Tư Mã Thác thừa thắng xông lên, quân không dừng bước ngựa không dừng vó, thẳng đường đánh lên phía bắc. Quân Tần chia làm hai lộ, một lộ đường bộ, một lộ đường thuỷ, suốt dọc đường thanh thế tưng bừng, người Sở kinh hãi dắt díu nhau chạy về Sính Đô lánh nạn. Khắp Sính Đô hoang mang náo loạn, thái tử Hoành vốn chưa từng kinh qua đại sự, một ngày gửi liền ba cấp báo cầu cứu Hoài Vương.

Đường Miệt tử trận, Kiềm Đông Nam đã mất, Phương Thành thất thủ, Trang Kiều cầu cứu, Uyển Thành lâm nguy, và còn Sính Đô… Hoài Vương đầu óc rối bời, không còn bình tâm được nữa, đành phải truyền chỉ lui quân.

Thế nhưng hai quân đang trong thế giằng co, muốn lui binh đâu phải chuyện dễ dàng, huống hồ lính Sở lúc này đã không còn tâm trí nào mà giao chiến, thấy Hoài Vương rời đi, sĩ khí liền tiêu tan cả. Phía quân Tần thì hoàn toàn trái ngược, ai nấy khí thế sục sôi, không màng sống chết, tấn công dữ dội vào Nghiêu Quan.

Nghiêu Quan thất thủ, liền ngay sau đó, Thương Thành, Vũ Quan cũng lần lượt bị công phá. Tàn quân Nguỵ Chương đang ẩn nấp tại Bắc Sơn cũng thừa thế đánh ra, nhanh chóng lấy lại Ư Thành và Tích Ấp.

Quân Sở toàn tuyến tan rã.

Nguỵ Chương hội quân với công tử Hoa, men theo thung lũng sông Đan Thuỷ tiến xuống phía nam, rồi rẽ về tây đến sông Hán Thuỷ, lại ngược dòng Hán Thuỷ mà lên, đánh giáp công quận Hán Trung. Đồng thời với đó, công tử Tật cũng dẫn cánh quân Tần tại Nam Trịnh đánh tới phía đông. Vương thúc hai mặt ngự địch, dốc hết sức chống trả không lại, cuối cùng đành bỏ Hán Trung, lui về Phòng Lăng đất Dung.

Sau khi chiếm được Phương Thành, liên quân Tần, Hàn tiếp tục tấn công cánh quân của Trang Kiều. Trang Kiều, Cảnh Thuý không dám tham đánh, bèn bỏ Uyển Thành thoái lui. Trang Kiều hợp quân với vương thúc, còn Cảnh Thuý rút về phòng thủ các thành ấp tại Đặng, Tương, Nhương, gắng gượng giữ vững tấm bình phong cuối cùng của Sinh Đô.

Hoài Vương bôn ba đường xa, cấp tốc về Sính, vừa kinh sợ lại vừa giận dữ, đổ bệnh trên đường.

Cho tới lúc này, cuộc đại chiến phạt Tần do Hoài Vương phát động trong cơn thịnh nộ đã kết thúc bằng việc Tần liên hoành bốn nước tấn công người Sở từ mọi hướng. Sở Hoài Vương đã không thể thu hồi Thương Ư thì chớ, lại còn tổn thất gần hai chục vạn binh, đánh mất hai quận Kiềm Đông, Hán Trung cùng một vùng lãnh thổ rộng lớn xung quanh Phương Thành, kinh đô ô kim Uyển Thành cùng vùng đất phía bắc bị người Hàn chiếm đoạt, chừng chục ấp phía đông Diệp Thành rơi vào tay người Nguỵ. Duy có người Tề đã châm môi lửa đầu tiên cho đám cháy dữ dội này, do đã rút quân từ trước nên không can dự vào chuyện nghị hoà, cũng không thu được lợi lộc nào cả.

Người Tề cũng không rảnh rang để nhìn đến lợi lộc gì tại đây nữa.

Sau khi nhận được tiệp báo đại thắng quân Sở do Khuông Chương gửi về, Tề Tuyên Vương lấy làm mừng rỡ, cho bày đại yến chiêu đãi quần thần. Sau một hồi chúc tụng hân hoan, vui say tận hứng, lúc quay về hậu cung, Tuyên Vương bước chân loạng choạng, phải có hai cung nhân dìu đỡ. Về đến tẩm cung, muốn nôn ra mà không nôn được, rồi cứ thế mụ mị đổ xuống giường ngủ li bì.

Ngủ một giấc này, Tề Tuyên Vương không bao giờ tỉnh dậy được nữa.

Sớm hôm sau, cung nhân đúng giờ tới hầu Tề Vương dậy, gọi liền mấy tiếng không thấy đáp, sờ thử vào tay, thấy đã lạnh ngắt tự bao giờ. Đưa tay lại bên lỗ mũi, đã không còn thấy hơi thở nữa, liền cuống quýt gọi ngự y.

Sau nhiều lần chẩn đoán, chúng ngự y đều cho rằng, Tuyên Vương đã băng hà từ lúc nửa đêm, nguyên nhân là do uống rượu quá nhiều, hưng phấn quá độ mà dẫn đến chứng hỷ tầm phong.

Hệt như tiền Uy Vương, Tề Tuyên Vương băng hà đúng lúc nhận được tin vui thắng trận của quân Tề.

Hôm đó, thái tử nước Tề Điền Địa nghiễm nhiên lên ngôi, sử gọi là Tề Mẫn Vương.

Tô Tần vốn đã rời khỏi Lâm Truy, còn chưa tới A Thành, nhận được tin dữ, vội vã quay lại.

Khuông Chương kiên quyết lựa chọn xuất binh từ Uyển Thành, nhờ đó đã giúp cho vùng đất Hạ Đông nước Sở tránh được một trường huyết chiến, và hành trình trở về cố hương của Trần Chẩn cũng nhờ đó mà được suôn sẻ.

Rời khỏi ấp phong của Chiêu Dương, Trần Chẩn và Lâm Đông mỗi nhà đi một con thuyền, từ đó lấy thuyền làm nhà, cứ theo đường sông giao thoa chằng chịt mà đi, đủng đỉnh thong dong, không chút vội vã. Trước tiên ra sông Hoài Thuỷ, rồi ngược dòng Hoài Thuỷ mà lên, sau đó rẽ sang Dĩnh Thuỷ.

Dĩnh Thuỷ là chi lưu lớn nhất của Hoài Thuỷ, mặt sông rộng rãi, nước sông trong vắt lững lờ, rất thích hợp cho tàu thuyền đi lại. Hai con thuyền của nhà Trần Chẩn và Lâm Đông được thuê từ Sính Đô, là loại thuyền mui sang trọng chuyên dùng chở khách, nổi bật giữa vô số thuyền hàng bận rộn ngược xuôi.

Thuyền mui ngược dòng Dĩnh Thuỷ đi khoảng bốn trăm dặm thì rẽ vào một nhánh sông nhỏ hơn, lại tiếp tục ngược dòng mà tiến. Đi chừng hai chục dặm, thì thấy thấp thoáng đằng xa có một toà thành cổ.

Trần Chẩn một tay đỡ phu nhân Y Na, một tay dắt con gái Trần Hợp Ngọc sải bước đến trước mũi thuyền, sắc mặt vô cùng phấn chấn.

Y Na đã mang thai từ khi còn ở ấp phong của Chiêu Dương, lúc này bụng đã lùm lùm, thân hình cũng đầy đặn thêm không ít. Vợ Lâm Đông là Tiểu Đào Hồng nói chắc như đinh đóng cột là con trai, khiến Trần Chẩn lấy làm vui sướng. Con gái Trần Hợp Ngọc đã cao bằng nửa người lớn, mang trong mình hai dòng máu, xinh đẹp lạ thường, sắc da màu trắng ửng vàng, trong vàng lại ửng hồng, chất da mịn như ngà ngọc. Mái tóc dài sắc đen ánh đỏ, lăn tăn gợn sóng. Đôi mắt to tròn sống động, long lanh như nước. Đầu mày cuối mắt, đều đã toát lên khí chất của một đại mỹ nhân. Trần Chẩn cưng con gái như bảo bối, sớm chiều nhìn thấy, nụ cười không tắt trên môi. Còn đích thân dạy dỗ cho thi thư lễ nhạc.

“Cha,” Trần Hợp Ngọc ngước mắt nhìn Trần Chẩn, “kia là nhà của chúng ta ư?”

“Phải!” Trần Chẩn chỉ về phía lầu thành đằng xa, “nơi đó gọi là Uyển Khâu!”

Uyển Khâu chính là nơi Trần Chẩn sinh ra và lớn lên, nay vẫn là chốn phồn hoa đô hội. Nơi đây từng đặt mộ táng của hoàng đế Phục Hy, cũng từng là kinh đô của nước Trần, vốn là một thuộc quốc của triều Thương, sau đó lại được Chu thất sắc phong. Đất này vẫn luôn là kinh đô của nước Trần cho tới tận khi Trần bị Sở diệt vào hơn trăm năm trước.

Thuyền cập bến, Lâm Đông tìm vài cỗ xe ngựa, chất đồ đạc lên xe, trả cho hai nhà thuyền mỗi nhà ba mươi hoàn vàng, cho họ quay về Sính.

Trần Chẩn dẫn đường, xe ngựa dừng lại trước một cửa hiệu cũ kỹ trên một con phố trong thành Uyển Khâu.

Mọi người cùng ngẩng lên nhìn, thấy trên mi cửa treo một tấm biển xưa cũ còn loáng thoáng nhận ra bốn chữ “hàng gốm họ Trần”.

Trần Hợp Ngọc lẩm nhẩm đọc rồi nói: “Cha, đây là một cửa hàng bán đồ gốm, con đã thấy nhiều ở Sính Đô!”

Trần Chẩn bật cười: “Đồ gốm Sính Đô còn lâu mới bằng chỗ chúng ta đây.”

Cánh cửa mở ra, tiểu nhị ngỡ là khách tới, vội bước ra đón.

“Gọi ông chủ ra đây!” Trần Chẩn nói với tiểu nhị.

Tiểu nhị vâng dạ rồi chạy tọt vào trong, lát sau, từ bên trong bước ra một ông cụ, trông thấy Trần Chẩn thì sững lại, nhìn chăm chú một hồi, đoạn khẽ giọng nói: “Vị khách quan này trông quen mắt quá…”

“Ông hãy nhìn kỹ lại đi!” Trần Chẩn tiến lại vài bước, đứng ngay trước mặt ông cụ.

“Ngài đây là…” Ông lão lại nhìn kỹ một hồi, “là Chẩn thiếu gia đó sao?”

“Chú Thích,” Trần Chẩn gọi lớn, gần như nghẹn ngào, “chính là Chẩn đây!”

“Thiếu gia!” Ông cụ quỳ phịch xuống đất, nước mắt ròng ròng, “cuối cùng… cậu cũng trở về rồi!”

“Chú Thích.” Trần Chẩn cũng ứa lệ, nâng ông cụ dậy, “trông chú vẫn còn khoẻ mạnh lắm!”

“Khoẻ, khoẻ, đều là nhờ phúc của thiếu gia!” Ông cụ quay sang tiểu nhị, “mau, chúa công nhà ta đã về, hãy gọi tất cả ra đây nghênh đón chúa công!”

Tiểu nhị chạy vụt vào trong, chốc sau đã dẫn ra hơn chục thợ gốm khắp người lấm lem, sắp thành hàng chỉnh tề hai bên.

Dẫn theo Y Na và Hợp Ngọc, Trần Chẩn chậm rãi bước vào căn nhà đã rời đi từ lúc mười lăm tuổi mà chưa một lần quay lại.

Khu nhà rất rộng rãi, là một trạch phủ bốn dãy, dãy đầu tiên là cửa hàng, dãy thứ hai và dãy thứ ba là xưởng gốm, dãy thứ tư là nơi ở của gia chủ, kể từ sau khi Trần Chẩn ra đi, vẫn để trống không có người ở, hiện đang được Thích quản gia tạm thời dùng làm nhà kho, bên trong xếp đây đồ gốm bán thành phẩm.

Hàng gốm họ Trần là do tổ tiên của Trần Chẩn là công tử Trì gây dựng.

Sau khi nước Trần diệt vong, người họ Trần phân tán trong thiên hạ, công tử thứ năm của Trần Mẫn Công là Trần Trì không biết học được nghề làm gốm từ đâu, hai mươi năm sau dẫn cả nhà già trẻ lớn bé quay trở về đất cũ, mở một hàng gốm tại khu phố sầm uất làm kế sinh nhai.

Làm gốm vốn là nghề của tiên tổ họ Trần. Tổ tiên của nước Trần là vua Thuấn, do vua Thuấn từng sống tại Quy Thuỷ vùng Kỳ Sơn, nên hậu duệ của ông lấy họ Quy. Sau đó bộ tộc họ Quy theo vua Đại Vũ trị thuỷ mà di cư về phía đông, dựng nước tại Uyển Khâu, đặt tên là nước Trần. Sau đó nhà Thương hưng thịnh, nước Trần quy thuận nhà Thương, chuyên làm đồ gốm cho người Thương, người Thương lại mang gốm đó bán khắp thiên hạ, Uyển Khâu vì đó mà được gọi là kinh đô gốm. Tiếp đến, nhà Chu trỗi dậy, nước Trần lại theo về với Chu. Sau khi Chu Vũ Vương diệt Thương lập quốc, biết được Quy Mãn là hậu duệ đích tông của vua Thuấn, bèn gả trưởng nữ cho, phong làm quan đào chính2 của Đại Chu, tấn phong tước hầu, cho lập nước ở Uyển Khâu, tên nước vẫn là Trần. Sau khi Quy Mãn chết, thuỵ hiệu là Trần Hồ Công. Sau Hồ Công, trải qua hai mươi lăm đời nữa, đến đời Trần Mẫn Công thì bị người Sở tiêu diệt.

Công tử Trì là người có hoài bão, mục đích thực sự không phải là làm gốm hay mưu sinh, mà là phục hưng nước Trần, nối lại hương hoả đã tuyệt. Cũng chính bởi thế mà công tử Trì không đặt trọng tâm vào nghề gốm, mà truyền lại kỹ nghệ cho nô bộc, giao hiệu gốm cho lão quản gia trông nom, rồi chuyên tâm dạy dỗ thi thư lễ nhạc cho con cái.

Sau công tử Trì, lại trải qua bốn đời nữa, tới đời cha Trần Chẩn là Trần Khánh, hy vọng phục quốc càng thêm mờ mịt, chí nguyện phục quốc của tổ tiên Tử Trì đã hoàn toàn tiêu tan. Trần Chẩn mệnh khổ, được ba tuổi thì cha mất, ba năm sau mẹ cũng qua đời, Trần Chẩn do quản gia họ Thích nuôi lớn. Quản gia Thích Quang trong phủ Trần Chẩn hồi ở nước Nguỵ chính là con trai trưởng của chú Thích.

Trong nhà không thể ở được nữa, Trần Chẩn dẫn vợ con đi thăm một vòng quanh cửa hiệu, kể cho họ nghe về thời hoàng kim của họ Trần, đợi Lâm Đông quay về, liền đặt hai phòng trong quán trọ sang trọng nhất thành Uyển Khâu, để hai nhà vào ở.

Sáng hôm sau, Trần Chẩn dặn chú Thích và Lâm Đông chuẩn bị đồ cúng, còn mình dẫn mẹ con Y Na và mẹ con Đào Hồng dạo chơi trong thành Uyển Khâu.

Uyển Khâu vẫn là Uyển Khâu, nhưng sau khi nước Trần bị diệt, đã không còn là đô thành của một nước nữa, nên lụn bại đi nhiều. Người Uyển Khâu hoặc bỏ xứ ra đi, hoặc lưu lại trong thành, làm gốm mưu sinh, vậy nên trong thành tiệm gốm nhan nhản khắp nơi, dưới sông thuyền bè qua lại, cũng đa phần là chuyên chở đồ gốm.

Thảm hại hơn cả là cung thành nước Trần. Sau khi mất nước, cung Trần trở thành tài sản của vương thất nước Sở, dần dần bị vương thất lãng quên, suốt mấy chục năm không được sửa sang tôn tạo, đã đổ nát hoang tàn. Cho tới thời Sở Uy Vương, không biết là ai đã nhớ tới khối gia tài này, mới mang bán đi, người mua là thương nhân buôn gốm lớn nhất Uyển Khâu. Thương nhân này thường sống ở Định Đào nước Tống, bèn biến nơi này thành xưởng gốm, nên lại càng tàn tạ hơn trước. Hồi Trần Chẩn ở Nguỵ, vào lúc hiển vinh, từng nghĩ tới việc mua lại cung thành này, song ý nghĩ đó chỉ lướt qua trong đầu, bởi lẽ trong lòng Trần Chẩn lúc đó không có Uyển Khâu, lại càng không có chí hướng phục hưng nước Trần.

Trần Chẩn dẫn gia quyến đi dạo quanh thành một lượt, thấy Lâm Đông đã sửa soạn xong đồ cúng, bèn đưa mọi người tới tiên miếu.

Tiên miếu nước Trần nằm ở góc tây nam của Uyển Thành, hơn trăm năm trước đã bị người Sở phá dỡ. Bởi là di chỉ tiên miếu nên không ai dám dựng nhà tại đó, người Sở bèn trồng ít cây tạp nham, lúc này đã mọc rậm rạp thành rừng, có cây đã to đến một vòng ôm. Hồi Tử Trì trở về, muốn dựng từ đường tại đó, nhưng người Sở không cho. Đến khi Tử Trì chết đi, con cháu mới âm thầm lập một từ đường trong rừng cây, đề bốn chữ “Từ đường họ Trần”, không lâu sau thì bị phát giác, báo lên huyện doãn Uyển Khâu, huyện doãn tới tận nơi xem xét, thấy chỉ viết là “từ đường”, bèn mắt nhắm mắt mở cho qua. Sau vài đời sửa sang tôn tạo, tới đời Trần Chẩn, từ đường đã khang trang đẹp đẽ hơn nhiều, vào ngày đại tế, có không ít tông thân họ Trần tìm về cúng bái. Hồi Trân Chẩn còn nhỏ, mỗi dịp tế lễ, Trần Chẩn đều được mẹ dẫn tới đây. Sau khi mẹ qua đời, chú Thích lại thay mẹ dẫn Trần Chẩn tới.

Đồ cúng bày biện xong xuôi, hương nến đã châm, Trần Chẩn lần lượt bái lạy liệt tổ liệt tông, rồi sai Lâm Đông đánh trống, còn mình gõ phẫu, cho Y Na, Đào Hồng và con gái Hợp Ngọc nhảy múa giữa từ đường. Y Na tuy đang mang thai, song nhờ công phu có sẵn, dáng múa vẫn rất mực uyển chuyển. Đào Hồng và Hợp Ngọc được Y Na truyền nghệ, thế múa cũng khá đẹp mắt.

Trong tiếng nhạc, Trần Chẩn cao giọng hát:

Nàng múa dìu dặt,

Trên gò Uyển Khâu.

Ý tình chan chứa,

Đâu dám mong cầu.

Gõ trống rộn rã,

Trên gò Uyển Khâu.

Suốt đông đến bạn

Lông cò trắng phau.

Gõ phẫu lách cách,

Trên gò Uyển Khâu.

Suốt đông đến bạn

Lông cò trên đầu.3

Cứ hát rồi lại hát, Trần Chẩn nước mắt giàn giụa.

“Cha khóc đấy ư?” Điệu vũ kết thúc, Hợp Ngọc bước lại, mở to mắt hỏi, “cha đang hát gì thế?”

“Hát về Uyển Khâu, quê hương chúng ta.” Trần Chẩn gọi chú Thích mang mực và thẻ tre lại, viết ra lời ca cho Hợp Ngọc xem.

“Cha giải thích đi, con đọc không hiểu.” Hợp Ngọc nói. Mọi người cũng xúm lại nhìn.

Trần Chẩn cười lên vài tiếng: “Nếu muốn hiểu bài thơ này, hãy theo ta!”

Trần Chẩn dẫn họ ra khỏi từ đường, tới cổng thành nam, leo lên lầu thành, đứng tại nơi cao nhất rồi phóng mắt nhìn ra tứ phía.

Bốn bề xa xa đều có núi thấp nhấp nhô, trải dài trập trùng. Hai con sông từ vùng núi thấp phía bắc chảy lại, giống như hai dải đai ngọc quanh co uốn lượn, che chắn cho Uyển Khâu ở giữa.

“Cớ sao lại gọi là Uyển?” Trần Chẩn chỉ vào đồi núi xung quanh, “chính là bốn phía nhô cao, ở giữa trũng thấp, giống như cái đĩa. Mọi người hãy xem, Uyển Khâu của ta phải chăng giống như một cái đĩa lớn?”4

Mọi người đều gật gù khen phải.

Trần Chẩn lại chỉ vào hai dòng sông, một dòng phía đông, chính là con sông mà họ đã đi thuyền tới, một dòng nữa phía tây xa hơn chút ít. Cả hai dòng sông đều chảy theo chiều từ bắc tới nam, rồi đổ vào Dĩnh Thuỷ, sau đó lại nhập lưu với Hoài Thuỷ.

“Cha,” Trần Hợp Ngọc cũng nhìn hai con sông, rồi như đã phát hiện ra điều gì, “bài thơ cha vừa ngâm là nhắc tới hai con sông này?”

“Phải!” Trần Chẩn xoa đầu Hợp Ngọc, “hãy xem, dòng nước đó tươi đẹp biết bao, uốn lượn như hai dải lụa, như đang múa lượn dìu dặt xung quanh Uyển Khâu. Sóng biếc dập dờn, như gõ trống gõ phẫu, như ca như múa, suốt từ xuân sang hạ, từ thu sang đông, từ năm này qua năm khác, tình ý triền miên, bảo vệ cho Uyển Khâu mà không đòi hỏi điều gì.” Rồi nhìn sang Y Na, “giống như mẹ con đối với cha con ta vậy.” Lại chỉ vào bụng của Y Na, rồi chỉ xuống dòng sông, “cũng giống như mẹ con, hai dòng sông ấy còn thai nghén dưỡng dục cho cỏ cây, sinh vật, và cả con người Uyển Khâu. Tất cả đều phải mang ơn tư dưỡng của sông ấy.”

“Cha, Ngọc Nhi biết rồi!” Hợp Ngọc gật đầu như đã hiểu, “đến khi Ngọc Nhi lớn lên, cũng có thể thai nghén dưỡng dục như vậy, phải không?”

“Phải, con gái,” Trần Chẩn cười nói, “đến khi con tìm thấy Uyển Khâu của mình!”

Chúng nhân đều cười.

“Con nhớ rồi, thưa cha!” Hợp Ngọc trịnh trọng gật đầu, “nhưng con phải làm thế nào mới tìm được Uyển Khâu cho con?”

“Ồ!” Trần Chân khẽ vuốt mái tóc bồng bềnh của cô bé, “người đó có lẽ sẽ như thế này!” Rồi lim dim mắt, lại khe giọng ngâm nga:

Bên bờ đầm nước,

Có bồ, hoa sen.

Có người đẹp ấy,

Thương nhớ không quên.

Thẫn thờ thức ngủ,

Lệ chảy triền miên.

Bên bờ đầm nước,

Cơ bộ, hoa lan

Có người đẹp ấy,

Cao lớn, dịu dàng.

Thẫn thờ thức ngủ,

Lòng buồn mênh mang.

Bên bờ đầm nước,

Cỏ bồ, sen hồng.

Có người đẹp ấy,

Cao lớn, đoan trang.

Thẫn thờ thức ngủ,

Trằn trọc mơ màng.5

“Cha, thế còn bài thơ này nói về ai?” Hợp Ngọc tò mò hỏi Trần Chẩn.

“Nói về một người đẹp ấy, tên là Hạ Cơ.”

“Hạ Cơ là ai?”

“Là con gái của Trịnh Mục Công, được gả đến nước Trần ta, phu quân của nàng là quan đại phu tên gọi Hạ Ngự Thúc. Hạ Cơ chính là đệ nhất mỹ nhân thời ấy, không biết bao nhiêu đàn ông đã ngã rạp quanh nàng.”

“Đẹp đến vậy ư?” Y Na tò mò hỏi.

“Phải, chín người đàn ông vì nàng mà chết, hai gia tộc vì nàng mà diệt vong.”

“Ái chà!” Đào Hồng kinh ngạc kêu lên.

“Cha,” Hợp Ngọc ngạc nhiên nhìn Trần Chẩn, “lẽ nào còn có người đẹp hơn mẹ con ư?”

Trần Chẩn cười lớn: “Tuy không thể so sánh được, song mẹ con thời trẻ cũng đã từng hại cha thẫn thờ thức ngủ như vậy đấy!”

Mọi người đều bật cười.

Tuy nhiên, quê nhà có đẹp đến mấy, vẫn không thể giữ chân con chim ưng đã từng tung hoành thiên hạ. Vài ngày sau đó, Trần Chẩn làm liền mấy việc, thứ nhất là đưa cả nhà đi tảo mộ tổ tiên họ Trần; thứ hai là xây thêm một gian bên cạnh từ đường, đặt bài vị của quản gia Thích Quang vào đó; thứ ba là giao phó việc hương khói từ đường cho chú Thích chăm lo; thứ tư là lập khế ước, tặng lại hàng gốm họ Trần và toàn bộ gia sản cho chú Thích.

Sắp xếp việc nhà ổn thoả rồi, Trần Chẩn xuất tiền mua năm cỗ xe tử mã, lựa chọn vài tráng nam đáng tin cậy từ trong đám thợ, cùng mình lên đường sang Triệu.

Năm cỗ xe tử mã thẳng tiến về phía bắc. Đi qua đất Tống, Trần Chẩn bỗng nhớ tới Huệ Thi, bèn tìm một khách điểm tại kinh đô Hoài Dương cho cả nhà trọ lại, còn mình tự đánh xe tới Mông Ấp.

Song trạch viện của Huệ Thi giờ hoang vắng im lìm. Trần Chẩn hỏi thăm láng giềng, mới biết Huệ Thi đã qua đời hơn nửa năm trước.

Trần Chẩn thương cảm một hồi, rồi đưa cho người hàng xóm vài đồng tiền, nhờ dẫn tới cửa hàng mua đồ cúng tế, sau đó theo ông ta rời thành, tới một cánh rừng.

“Chính là ở đây, đất tổ của nhà ông ấy!” Người hàng xóm chỉ vào một vạt rừng già mà nói.

Trần Chẩn xuống xe, mang theo đồ cúng, đi vào trong rừng, dừng lại trước một gò mộ mới. Hiển nhiên, đây chính là nơi an nghỉ của Huệ Thi.

Trân Chẩn đưa mắt nhìn quanh, thấy mộ địa rất rộng, mồ mả trập trùng, nghe nói gia tộc Huệ Thi đã từng lẫy lừng một thuở. Tuy nhiên, những chỗ đẹp tổ tiên đều đã chiếm cả, tới đời Huệ Thi, chỉ có thể an táng bên rìa.

Bên gò mộ mới trồng bốn cây bách lớn, là dời từ nơi khác lại trồng. Ánh mắt Trần Chẩn dừng lại trên tấm bia đá trước mộ. Không có văn bia như thường lệ, chỉ có và con chữ lờ mờ, đường nét phóng dật. Trân Chẩn dò đoán hồi lâu, mới nhận ra ba chữ, “tử phi ngư”.6

Trần Chẩn sửng sốt, quay sang hỏi người hàng xóm: “Anh chắc chắn đây là mộ của Huệ tướng quốc?”

“Đúng là mộ của ông ấy mà,” người hàng xóm chỉ vào nấm mồ, “chính tay tôi và vài người bạn nữa đào huyệt!”

“Nhưng sao trên bia lại không thấy đề tên Huệ Tử?”

“Thế viết cái gì?” Người hàng xóm không biết chữ, đương nhiên không đọc được.

"Tử phi ngư.”

“Ối chao,” người hàng xóm thở hắt ra, “lúc chôn cất ông ấy, chúng tôi đâu có dựng bia! Tấm bia này không biết là do ai lập.” Ngẫm nghĩ một lát, lại nói, “phải rồi, đại nhân có thể đi hỏi Trang Chu, không chừng là ông ấy lập cũng nên.”

“Ồ?” Trân Chẩn ngạc nhiên, “khi mai táng Huệ Thi, Trang Chu không tới ư?”

“Hừm, ông ta mà tới ư?” Người hàng xóm nhún vai, hừ mũi mà nói, “vợ ông ta chết, ông ta còn gõ chậu ca hát nữa kia.” Rồi hạ giọng, chỉ vào nấm mộ, “hồi ông ấy mới từ nước Sở quay về, vốn dĩ sống cũng tử tế lắm, nhưng sau đó thường xuyên qua lại với cái tay Trang Chu điên khùng kia,” đưa tay chỉ vào ngực, “thì cái này không còn bình thường nữa.”

“Không bình thường thế nào?” Trần Chẩn gặng hỏi.

“Áo không giặt, đầu không chải, mặt không rửa, có nhà không ở, có giường không ngủ, từ sáng chỉ tối cứ theo cái tay điên khùng kia lang thang khắp nơi, hễ đi là đi bặt đến mấy ngày, nhiều khi cả tháng không về. Đến lúc trở về, cũng lôi thôi nhếch nhác y như tay Trang Chu kia, cách xa vài trượng đã ngửi thấy mùi hôi nồng nặc, đi ngang qua họ là phải bịt mũi. Hai người đó hay nằm dài sưởi nắng, bắt rận trên người, bắt rồi còn không nỡ giết, lại nâng niu thả vào trong bụi cỏ. Bị muỗi đốt, cũng không đập chết, mà chỉ cười ha hả nhìn nó hút máu mình, đại nhân bảo, thế có điên khùng hay không?” Người hàng xóm lắc đầu ngán ngẩm.

Trần Chẩn bật cười: “Nghe cũng thú vị thật đấy.” Rồi lại hỏi, “tay điên khùng họ Trang kia vẫn ổn chứ?”

“Ổn chứ sao không!” Người hàng xóm chỉ xuống dòng sông, “lúc này không biết đang vật vờ ở chỗ nào rồi!”

“Tìm ông ta giúp tôi, tôi trả thêm anh hai đồng, được chứ?” Trần Chẩn ra điều kiện.

“Được, được, được!” Người hàng xóm rối rít nhận lời rồi co cẳng chạy đi ngay.

Trần Chẩn bày biện đồ cúng trước mộ phần của Huệ Thi, châm hương, rồi nhìn vào bia mộ mà buồn rầu than thở: “Than ôi, lão Huệ Tử, đến nay tại hạ đã định được tâm, mới tìm tới nơi này, vì tưởng nhớ đến ông, muốn được lắng nghe ông luận bàn về danh thực vài bữa, nào ngờ tới muộn mất rồi. Vừa nãy nghe người kia kể vài câu, tại hạ coi như đã hiểu được ông, lại càng đố kỵ với ông hơn nữa. Tại hạ đố kỵ ông, không phải vì ông chiếm mất ngôi tướng quốc của tại hạ, mà vì ông đã gặp được tri kỷ của đời người. Năm xưa Du Bá Nha gặp được Chung Tử Kỳ, kết thành tri âm, Tử Kỳ chết, Bá Nha đập đàn. Nay ông may mắn gặp được Trang Chu, cùng con người thông đạt đó ngao du bốn phương, khám phá huyền cơ trời đất, thì đời này còn gì đáng tiếc? Đáng thương cho Trần Chẩn này, rời Trần từ mười lăm tuổi, mệt nhoài đuổi theo danh lợi, song đến cuối cùng vẫn là vớt trăng đáy nước. Giờ tóc đã bạc, chân đã mỏi, cũng đã chán ghét thế sự, song suy đi nghĩ lại, thiên hạ rộng lớn, lại chẳng có chỗ để về. Quê nhà đã thành quá vãng, đất Sở không thể dừng chân. Thiên hạ huyên náo, liệt quốc tranh giành, con đường tương lai biến hoá đa đoan, giờ muốn tìm một nơi yên bình sống nốt tuổi tàn, cũng thành xa xỉ. Tại hạ ngưỡng mộ ông, một vì có danh thực, hai vì có Trang Chu, ba vì có chốn dưỡng già. Lại nghĩ Chẩn này, miệt mài xuôi ngược, cho tới nay vẫn hoàn tay trắng. Công danh lợi lộc đã từng che mờ hai mắt, cuối cùng cũng như áng phù vân. Cố hữu, tri âm, chính là thứ Chẩn này trân quý nhất. Thời thế hiện nay, khiến Chẩn kính trọng, duy có ba người, một là lão Huệ Tử đây, hai là Thuần Vu Tử, ba là Tô Tử. Nhưng ba người đó, đều là trăng sao sáng rực trên cao, Chẩn chỉ có thể ngước nhìn mà không tài nào với tới.” Lặng nhìn tấm bia chốc lát, lại tiếp, “ví như ba con chữ này, ‘tử phi ngư’, lại là câu đố gì đây?”

Đang lúc ngậm ngùi cảm khái, thì người hàng xóm lúc nãy chạy như bay lại, từ xa đã hô lên rối rít: “Đại nhân, đại nhân, tìm thấy ông Trang điên rồi!”

Trần Chẩn đứng dậy, đợi anh ta chạy lại gần rồi vội đi theo, quả nhiên trông thấy Trang Chu ở trên bãi sông Cối Thuỷ cách đó không xa. Trần Chẩn đưa cho người hàng xóm hai đồng tiền bố, rồi rảo bước xuống bãi cát.

Trang Chu đang nằm dài trên bãi sông sưởi nắng, hai mắt lim dim.

“Trang tiên sinh?” Trần Chẩn bước lại gần, khom lưng vái chào.

Trang Chu he hé mắt, liếc xéo một cái, lại khép mắt như cũ.

“Trang tiên sinh,” Trần Chẩn lại vái, “tại hạ Trần Chẩn, có điều nghi hoặc lớn muốn cầu tiên sinh chỉ giáo!”

“Trang Chu không phải tiên sinh, ông tìm nhầm người rồi!” Trang Chu mắt lim dim.

“Thế… gọi là Trang chân nhân, được chăng?” Trần Chẩn hỏi.

Trang Chu cất tiếng ngáy pho pho.

“Trang Tử?”

Trang Chu vẫn ngáy.

“Trang huynh?”

Tiếng ngáy của Trang Chu lại càng vang dậy. “Trang Chu!” Trần Chẩn sốt ruột, gọi thẳng họ tên.

Tiếng ngáy ngừng bặt, giọng Trang Chu lại vang lên: “Nói đi, anh có gì nghi hoặc?”

“Tử phi ngư?”

“Đến mép nước!”

Trần Chẩn ngẩn ra một lát, rồi cũng bước lại bên mép nước.

“Thấy cá chăng?”

“Có!”

“Cá vui chăng?”

“Bơi lội tung tăng, rất vui.”

“Ông không phải cá, sao biết cá vui?” Trang Chu liếc xéo mà hỏi.

“Phải, phải,” Trần Chẩn thốt nhiên bừng tỉnh, “tại hạ không phải là cá, đương nhiên không biết được niềm vui của cá.” Dừng lại một chốc, vẫn ngẩn ngơ không hiểu, “ông đề ba chữ này trên bia mộ Huệ Thi, hẳn có thâm ý gì khác?”

“Ông không phải ta, sao biết ta không biết cá vui?” Trang Chu lại buông ra một câu không đầu không cuối.

“Ồ?” Trần Chẩn gãi đầu gãi tai, nhăn nhó một hồi, lẩm bẩm nhắc lại, “ông không phải ta, sao biết ta không biết cá vui?” Rồi lại ngẩng đầu, “Xin hỏi Trang… Trang Chu, dòng chữ trên bia, rốt cuộc nên hiểu thế nào?”

“Như thế này, ông hãy nghe.” Trang Chu ngồi dậy, chẳng buồn nhìn đến Trần Chẩn, vèo một cái trượt mông xuống tới mép nước, bất thần phá lên cười lớn, đoạn nhảy ùm xuống sông, đầu không ngoảnh lại, cứ thế bơi đi thẳng.

Rõ ràng, tràng cười của Trang Chu chính là lời giải.

Nhìn theo bóng Trang Chu xa dần, Trần Chẩn thở dài cảm khái, thần tình ngơ ngẩn.

Lăng mộ của họ Điền nước Tề đặt ở phía nam Lâm Truy, bên bờ nam Truy Thuỷ, cách Truy Thuỷ không xa. Người đầu tiên được mai táng tại đây lại không phải là tổ tiên của họ Điền Tề, Điền Hoàn, mà là quân chủ lập nước Điền Tề Thái Công Hoà và Điền Tề Hoàn Công Ngọ Hai lăng nằm song song theo hướng đông tây, đặt ở trên núi Đỉnh Túc. Lăng của Uy Vương nằm cách đó một dặm về tây, còn lăng của Tuyên Vương đương nhiên nằm cạnh cha mình.

Vương lăng của họ Điền vị trí đắc địa, nam dựa núi Tắc Sơn, bắc nhìn sông Truy Thuỷ, đông kề núi Đỉnh Túc, lúc an táng Tuyên Vương, chúng học giả Tắc cung không ai không hết lời khen ngợi, chỉ ngoại trừ một người, Trâu Diễn.

Đương nhiên, vị trí đặt lăng không phải do Trâu Diễn chọn. Tìm đất dựng lăng là việc của thái miếu nước Tề, do thái miếu lệnh chủ trì. Dưới thái miếu lệnh còn có một nhóm thuật sĩ phong thuỷ chuyên tìm chọn đất lành để xây lăng cho vương thất, cũng không tới lượt Trâu Diễn lên tiếng.

Vào ngày an táng Tuyên Vương, hàng vạn người Lâm Truy xuất thành tống tiễn, duy có Trâu Diễn vắng mặt, một mình âm thầm tìm tới trước đại lăng của Điền Tề Thái Công và Hoàn Công, lặng lẽ đứng nhìn hồi lâu.

Càng nhìn, trong lòng Trâu Diễn càng thêm lo lắng.

Trâu Diễn lên xe ngựa, đánh về phía nam, leo lên núi Tắc Sơn, đứng trên đỉnh núi phóng mắt nhìn xuống khu lăng mộ, sau đó lại đổi sang chỗ khác quan sát, ước lượng, đo đạc kỹ lưỡng.

Cứ thế bận rộn suốt ba ngày, bỏ ăn bỏ ngủ, tới sáng sớm ngày thứ tư thì tìm tới chỗ tế tửu học cung Tắc Hạ.

Người ra mở cửa lại không phải Thuần Vu Không mà là tân tế tửu vừa được Tề cung bổ nhiệm không lâu, Tuân Huống.

Tuân Huống đến từ đất Triệu, khi vừa tới Tắc cung, không xe không ngựa, vai gánh hai sọt, một sọt đựng hơn chục cuốn thẻ tre, một sọt là dăm món hành lý. Khiến các học giả Tắc Hạ rất đỗi ngạc nhiên, đó là mấy cuộn thẻ tre đều là trước tác của chính Tuân Huống. Đến Tắc cung được ba ngày, Tuân Huống đã thỉnh cầu khai đàn, vừa đăng đàn đã lôi ngay Mạnh lão phu tử mới rời khỏi Lâm Truy chưa lâu ra phê phán dữ dội, phản bác thuyết tính thiện của Mạnh Tử, đề xướng thuyết tính ác của chính mình, khiến cử toạ đều chấn động.

Vài tháng trước, Thuần Vu Khôn trúng phong hàn, thoạt tiên cứ ngỡ không sao, nào ngờ nửa tháng sau, bệnh tình trở nặng, rồi ốm liệt giường. Chuyện Thuần Vu Khôn lâm trọng bệnh đã kinh động tới cung Tề, Tuyên Vương đích thân tới thăm, hỏi về chuyện học cung, Thuần Vu Khôn bèn tiến cử Tuân Huống tiếp quản chức tế tửu. Tuyên Vương lập tức triệu kiến Tuân Huống, thấy người này râu còn chưa mọc đủ, cứ ngỡ gọi nhầm người, phải tới khi học cung lệnh kiêm thượng khanh Điền Văn bẩm báo rõ, mới định thần trở lại, ba hôm sau ban chiếu, nhiệm Tuân Huống tạm thay chức tế tửu học cung.

Chiếu mệnh này khác nào tảng đá ném xuống mặt nước lặng, khắp học cung một phen náo động, vài chục Tắc Hạ tiên sinh không một ai chịu phục, đều cho rằng Thuần Vu Khôn già cả lú lẫn mất rồi.

Tuy nhiên, chiếu mệnh không thể trái, Trâu Diễn cũng không làm gì được. Muốn can gián Tề Vương, buộc phải qua ải tế tửu trước, bằng không sẽ là vượt phận.

“Trông tiên sinh vầng trán chau tít thế kia,” Tuân Tử mời Trâu Diễn ngồi vào chiếu khách, vòng tay hỏi thẳng, “hẳn là có chuyện hệ trọng?”

“Diễn có một việc,” Trâu Diễn khẽ vòng tay, “phiền tế tửu lâm thời hãy bẩm báo lên học cung lệnh, để tấu báo Tề Vương!”

Trâu Diễn cố tình nhấn mạnh hai chữ “lâm thời”.

“Dám hỏi là chuyện gì?” Tuân Huống khẽ cười, vòng tay hỏi.

“Chuyện liên quan tới hai lăng của tiên quân Thái Công, Hoàn Công!”

“Ồ?” Tuân Huống khẽ ngả người lại, “lăng tiên quân làm sao?”

“Vị trí đặt lăng không ổn!”

“Dám hỏi tiên sinh, vị trí đặt lăng có chỗ nào không ổn?” Tuân Huống khẽ chau mày hỏi.

“Là thế này,” Trâu Diễn liếc xéo Tuân Huống một cái, “Diễn đưa tiên vương nhập lăng, nhân tiện quan sát hai lăng đó, trong lòng ớn lạnh, quay về mất ngủ ba ngày. Nhận thấy việc này có liên quan tới xã tắc nước Tề, Diễn không dám chậm trễ, mới chiểu theo quy định của Tắc cung bẩm báo lên tế tửu, xin tế tửu chuyển lời tới cung lệnh để tấu báo lên Tề Vương, hãy gấp rút di dời lăng mộ của hai tiến quân đi chỗ khác, nếu không sẽ xảy ra chuyện khó lường.”

“Tiên sinh vẫn chưa nói rõ vị trí đặt lăng có gì không ổn?” Tuân Huống khẽ nheo mắt, hỏi lại.

“Có nói, e rằng tế tửu cũng không hiểu!” Trâu Diễn liếc xéo khuôn mặt non choẹt của vị tế tửu trẻ măng, ngữ điệu và sắc mặt đều toát lên vẻ coi thường.

“Vậy ư?” Tuân Huống ngồi thẳng người dậy, sửa ngay vạt áo, đằng hắng lấy giọng, bày ra tư thế sẵn sàng tranh biện, “tiên sinh còn chưa nói, sao đã khẳng định tại hạ không hiểu?”

“Thôi được,” Trâu Diễn chỉ về phía nam, “hai lăng tiên quân đặt huyệt giữa ba ngọn núi, ba ngọn núi đó thành thể chân vạc lộn ngược. Vạc là lễ khí của bậc vương, vậy nên ba ngọn núi đó mới có tên là Đỉnh Túc, tức chân vạc. Núi Đỉnh Túc chạy dài về phía tây nam, nối liền với Tắc Sơn, lại tiếp tục chạy về phía tây nam, nối liền với núi Vọng Lỗ. Lại tiếp tục chạy về tây nam, nối liền với núi Thái Sơn. Thái Sơn là núi vua trong thiên hạ, tự cổ chí kim, là nơi thánh vương tế lễ trời đất. Khí thánh vương của Thái Sơn men theo địa mạch chạy về phía đông bắc, rồi thoát ra giữa ba chân vạc. Hai lăng tiên vương vừa hay đặt huyệt tại đó, không chệch một ly, chặn đứng vương khí. Vương khí không thoát được thì oán, oán thì nguy, xã tắc nước Tề chắc hẳn không thể lâu bền.”

Tuân Huống càng nheo mắt như hai đường kẻ chỉ.

Trâu Diễn không nói thêm nữa, nhìn chằm chằm vào viên tế tửu trẻ tuổi.

“Dám hỏi Trâu tiên sinh,” Tuân Huống chợt mở bừng mắt, ánh nhìn như đuốc, rọi thẳng vào Trâu Diễn, “cớ sao tiên sinh lại nhất quyết là núi Đinh Túc phải liền mạch với Tắc Sơn, núi Tắc Sơn phải liền mạch với núi Vọng Lỗ, núi Vọng Lỗ phải liền mạch với núi Thái Sơn?”

“Truy Thuỷ bắt nguồn từ đó!” Trâu Diễn thấy Tuân Huống hỏi một câu “ngoại đạo” đến vậy, thì khẽ hừ một tiếng mà đáp cộc lốc.

“Truy Thuỷ bắt nguồn từ núi Vọng Lỗ, cớ sao lại liền mạch với Thái Sơn?” Tuân Huống lại hỏi.

“Diễn đã nói rồi, có nói, tế tửu cũng không hiểu được, đúng chưa?” Ánh mắt Trâu Diễn đầy vẻ coi thường.

“Tiên sinh vẫn chưa trả lời tại hạ!” Tuân Huống vẫn khăng khăng.

“Nước không liền, núi liền!” Trâu Diễn đáp gọn lỏng đoạn quay mặt nhìn ra ngoài cửa.

“Vừa nãy tiên sinh có nhắc tới vương khí, vương khí di chuyển thuận theo mạch khí, dám hỏi tiên sinh, mạch khí mà vương khí đi theo, rốt cuộc là theo nước hay theo núi?” Tuân Huống thình lình đưa ra câu hỏi.

“Núi sông nương tựa, mạch khí vừa theo núi, cũng vừa theo nước.”

“Cũng có nghĩa là,” Tuân Huống tiếp lời, “vương khí của Thái Sơn, trước là đi theo sơn mạch, tới núi Vọng Lỗ thì lại đi theo thuỷ mạch, cho tới núi Tắc Sơn và núi Đinh Túc, có phải vậy không?”

“Phải!”

“Nếu so sơn mạch với thuỷ mạch, cái nào hơn?”

“Sơn mạch!”

“Ba năm trước, tại hạ từng du ngoạn đến Thái Sơn,” Tuân Huống nói tiếp, “đứng cao trên đỉnh Thái Sơn, phóng mắt nhìn đi, thấy khắp đông, tây, nam, bắc Thái Sơn đều có núi, hoặc đối diện, hoặc nối liền. Nếu như sơn mạch hơn thuỷ mạch, vậy thì mạch núi Thái Sơn trập trùng bất tuyệt, kéo dài tới tận Thanh Châu, như vậy thì khí thánh vương cớ sao lại bỏ sơn mạch mà chạy theo thuỷ mạch được?”

“Than ôi,” Trâu Diễn thở hắt ra, “chuyện này, thật khó mà giảng giải cho tế tửu hiểu được!”

“Trâu tiên sinh, Tắc cung lấy học thuật làm trọng, hẳn không có đạo lý nào là không thể giảng giải rõ ràng.” Tuân Huống quyết không buông tha, “nếu như ngay cả tại hạ mà tiên sinh cũng không thể giải thích cho rõ ràng, vậy thì khi gặp đại vương, tiên sinh sẽ giải thích thể nào? Nếu không thể giảng giải rõ, nhẹ thì là tung tin thất thiệt, nặng thì là yêu ngôn hoặc chúng. Mê hoặc đại chúng thì không sao, nhưng nếu mê hoặc đại vương.” Dừng lại nửa chừng, nhìn sang Trâu Diễn đầy ẩn ý.

Trâu Diễn phá lên cười lớn, rồi quay ngoắt lại, nhìn thẳng vào Tuân Huống, “tế tửu đại nhân, đây chính là đạo biện luận của đại nhân ư?”

“Không phải, chỉ là nói lý mà thôi.”

“Đã là nói lý, vậy Diễn tạm hỏi đại nhân, hẳn có biết về sinh khí?” Trâu Diễn vặn hỏi.

“Là khí sinh, phát của vạn vật?” Tuân Huống hỏi thay lời đáp.

“Diễn lại hỏi đại nhân, sau khi người ta chết đi, hẳn còn sinh khí?”

Đây là một câu hỏi khó. Nếu vạn vật đều có sinh khí, vậy thì người chết vẫn là người, người vẫn thuộc về vạn vật, đương nhiên cũng phải có sinh khí.

Tuy nhiên…

Tuân Huống khép mắt ngẫm nghĩ chốc lát, rồi mở mắt đáp: “Có sinh khí.”

“Khí từ đâu sinh ra?”

“Từ vật sinh ra. Người chết là xác, xác là vật, có vật tức có khí. Có điều, khí sinh ra từ xác chết, không gọi là sinh khí.”

“Không gọi là sinh khí, vậy gọi là gì?”

“Tử khí.”

“Tế tửu quả nhiên kiến văn uyên bác!” Trâu Diễn vòng tay nói, “có điều, theo như Diễn thấy, khí đó không gọi là tử khí, mà gọi là âm khí. Âm dương tương hoá, sinh tử giao tiếp, khí hoá khí tiếp, đều là sinh khí cả!”

“Tên gọi khác nhau, thực chất là một.” Tuân Huống vòng tay đáp lễ.

“Thôi được, vậy hãy gọi nó là tử khí. Tử nếu có khí, khí ắt sẽ hành, dám hỏi tử khí di chuyển theo đâu?” Trâu Diễn lại hỏi.

“Theo đất.” Tuân Huống đáp ngay.

“Tế tửu nói phải!” Trâu Diễn khẽ vỗ tay, “vì thế người ta xưa nay đa phần chôn dưới đất. Lại hỏi tế tửu, tử khí cớ sao lại di chuyển theo đất?”

Tuân Huống hít sâu một hơi, lại nhắm mắt lại.

Rõ ràng, câu hỏi này nằm ngoài sở học của Tuân Huống.

“Tại hạ ngu độn, xin tiên sinh chỉ giáo!” Qua ba hơi thở, Tuân Huống vòng tay, thành khẩn đáp.

“Tử khí, với Diễn, là sinh khí âm.” Trâu Diễn dõng dạc giảng giải, giống như đang truyền dạy cho học trò, “sinh khí âm dương, động thì thành gió, bay lên thì thành mây, giáng xuống thì thành mưa, di chuyển thì theo đất. Khí men theo đất, sinh ra vạn vật. Đất là thể của sinh khí, khí là mẹ của nước. Có đất thì sinh khí, có khí thì sinh nước. Khí di chuyển theo đất, nương theo địa thế, thế đi thì khí sinh, thể dừng thì khí tụ. Vì thế nơi mai táng, không thể tuỳ tiện, nên thuận theo hình thế mặt đất, tìm nơi khí tụ. Về thế, cao trên nghìn thước là thế, cao trên trăm thước là hình. Thế tới hình dừng, gọi là nơi tụ khí. Nơi tụ khí, tức là toàn khí. Đất toàn khí, có thể chọn làm huyệt đẹp, để chôn xương cốt…”

“Tuân Huống thụ giáo,” Tuân Huống vòng tay, cắt ngang lời Trâu Diễn, “đất toàn khí mà tiên sinh vừa nói, tục gọi là bảo địa phong thuỷ, vừa có thể dựng nhà ở, lại vừa có thể chôn thi hài. Có điều,” chỉ về phía núi Đinh Túc, “có liên quan gì tới núi Đinh Túc?”

“Sinh khí của trời đất, là ngũ hành Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Ngũ hành tương sinh, sẽ có sinh mệnh. Người ta có được hình hài từ cha mẹ, hình hài của cha mẹ nhận được sinh khí của trời đất, người con cũng sẽ nhận được. Khí cảm mà ứng, phúc của ma quỷ cũng tác động đến con người. Vậy nên núi đồng đổ sập chuông đồng cũng reo, đây gọi là trời người cảm ứng. Xương cốt của cha mẹ nếu được mai táng ở nơi toàn khí, khí tụ không tan, sẽ mang phúc ấm cho con cái; nếu như ngược lại, sẽ tổn hại đến đời sau.” Trâu Diễn đáp.

“Theo lời tiên sinh,” Tuân Huống nheo mắt, chỉ về phía nam, “thế tới hình dừng, là nơi tụ khí. Núi Thái Sơn cao đến nghìn nhẫn, phía dưới là núi Vọng Lỗ cao năm trăm nhẫn, là thế; xuống tiếp nữa là núi Tắc Sơn, cao một trăm nhẫn, là hình; lại xuống tiếp nữa, là núi Đỉnh Túc, cao ba mươi nhẫn, là hình dừng. Lại theo như lời tiên sinh, vương khí khởi từ Thái Sơn, nếu như dừng ở núi Đinh Túc, thì núi Đinh Túc há chẳng phải nơi toàn khí?”

“Chính phải!”

“Đã là toàn khí, thì phải là nơi phong thuỷ tuyệt hảo mới phải. Tiên vương táng ở huyệt này, đáng lý ra sẽ ban phúc cho nước Tề, cớ sao tiên sinh lại nói hai lăng chẳng lành, gây hoạ cho xã tắc?”

“Là điểm huyệt không đích đáng, thưa tế tửu đại nhân!” Trâu Diễn đã hết kiên nhẫn, “ba núi chân vạc, vừa là nơi tụ vương khí, cũng là nơi tiết vương khí. Hai lăng tiên quân lại chặn đúng lối ra của vương khí, không chệch một ly, vương khí bị giam hãm dưới đất, muốn tiến không được, muốn lùi không xong, muốn thoát ra mà không có đường ra, uất kết lâu dần sinh oán, oán thì sẽ thương, bởi vậy chẳng lành.”

“Than ôi,” Tuân Huống thở dài, “khi Huống ở đất Triệu, đã nghe đại danh của tiên sinh, biết tiên sinh giỏi đàm thiên thuyết địa, bác cổ thông kim, chuyện lạ kỳ trong thiên hạ, không gì không biết. Nay được thụ giáo, mới vỡ lẽ thiên địa mà đại nhân đàm thuyết, cổ kim mà đại nhân thông hiểu, đa phần là chuyện hoang đường.”

5 “Tế tửu.” Trâu Diễn tức uất, chỉ mặt Tuân Huống, gằn giọng hỏi, “nói xem, lời của Trâu Diễn, hoang đường ở đâu?”

“Tiên nhân giảng bừa về trời người cảm ứng, sao không hoang đường?” Tuân Huống khơi ra một luận đề.

“Dám hỏi tế tửu lâm thời, thế nào là trời người cảm ứng?” Trâu Diễn đã nổi giận, ánh mắt bức bách, toàn thân căng thẳng, lại gằn từng tiếng.

“Trời người cảm ứng,” Tuân Huống dõng dạc mà rằng, “tức là người hành sự ứng với sự vận hành của trời, nếu ứng theo thích đáng thì cát, ứng theo không thích đáng thì hung. Sao trời xoay chuyển, nhật nguyệt soi sáng, bốn mùa luân phiên, âm dương biến hoá, mưa gió điều hoà, tất cả những thứ ấy, đều có cái tình thường hằng Vạn vật trên đời, được nó hài hoà thì sinh, được nó nuôi dưỡng thì thành. Thường tình của trời, không phải đến thời vua Vũ mới có, cũng không phải gặp thời vua Kiệt mà mất. Nhật nguyệt tinh thần, thời vua Vũ hay thời vua Kiệt đều giống như nhau, vậy mà thời Vũ thì trị, thời Kiệt thì loạn, có thể thấy, là trị hay loạn, không phải tại trời. Xuân sinh hạ trưởng, thu thâu đông tàng, thời vua Vũ hay thời vua Kiệt đều giống như nhau, vậy mà thời Vũ thì trị, thời Kiệt thì loạn, có thể thấy, là trị hay loạn, không phải tại thời. Được đất thì sinh, mất đất thì chết, thời vua Vũ hay thời vua Kiệt đều giống như nhau, vậy mà thời Vũ thì trị, thời Kiệt thì loạn, có thể thấy, là trị hay loạn, không phải tại đất…”

“Đủ rồi!” Trâu Diễn thực sự không thể nghe tiếp được nữa, giũ mạnh tay áo, gần như gầm lên, “vô tri nhường này, cũng đòi nói về trời người cảm ứng?”

“Dám hỏi Trâu tiên sinh, tại hạ vô tri ở đâu?” Tuân Huống nén giận, cố giữ hoà khí mà hỏi.

“Nhật nguyệt tinh thần là hằng thường, song cách vận hành lại không hằng thường, hoàng đạo xích đạo, thiên biến vạn hoá. Xuân sinh hạ trưởng là hằng thường, song cách vận hành lại không hằng thường, gió mưa nóng lạnh, thiên biến vạn hoá. Đại địa sinh dưỡng là hằng thường, song cách vận hành lại không hằng thường, bãi bể nương dâu, thiên biến vạn hoá. Từ đó mà thấy, trời thời vua Vũ khác với trời thời vua Kiệt, thời thời vua Vũ khác với thời thời vua Kiệt, địa thời vua Vũ khác với địa thời vua Kiệt. Đây là thường thức về trời đất, dám hỏi tế tửu, là không biết, hay là cố tình không biết?” Trâu Diễn nói liền một hơi, rồi không đợi Tuân Huống kịp phản bác, đã đứng bật dậy, sải bước đi ra khỏi cửa.

Tuân Huống đứng dậy, đuổi theo vài bước, dừng lại trước cửa, nhìn theo bóng Trâu Diễn xa dần, khẽ “hừ” một tiếng, rồi cao giọng nói với theo: “Khí độ nhường này, cũng đòi luận thiên?”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử