Ngay hôm Huệ Vương băng hà, Doanh Đãng lên ngôi kế vị, sử gọi là Vũ Vương.
Doanh Đãng là trữ quân đã được Huệ Vương chiếu cáo thiên hạ từ nhiều năm trước, lại thêm được đám lão thần công tử Tật, công tử Hoa, Tư Mã Thác một lòng ủng hộ, nên việc đăng cơ không gặp bất kỳ trở ngại nào.
Sau bảy ngày cả nước đại tang, là bốn mươi chín ngày thủ hiếu, Doanh Đãng ngoài việc sắp đặt lại một lượt triều thần, không làm bất cứ việc gì khác, chỉ túc trực bên linh cữu Huệ Vương.
Ngày thứ bảy sau khi Huệ Vương băng hà, Trương Nghi về đến Hàm Đan, phủ phục bên linh cữu, gào khóc thảm thiết.
Đến tuần thất thứ ba, sứ Triệu Trần Chẩn tới điếu viếng Tần Huệ Vương, mang theo hậu lễ của Triệu Vương. Trong chư vương liệt quốc, Doanh Đãng chỉ phục Triệu Vũ Linh Vương, nhất là việc cả nước Triệu mặc Hồ phục rèn kỵ xạ, chinh phạt hai nước Lâm Hồ, Lâu Phiền, giờ lại đánh đoạt Trung Sơn, thực khiến người ta nghe mà sảng khoái.
Doanh Đãng đích thân dẫn Trần Chẩn tới bên linh cữu Huệ Vương. Trần Chẩn vừa sụp lạy dập đầu, đấm đất gào khóc, vừa kể lể những ơn nghĩa của Huệ Vương với mình năm xưa. Rồi hai tay vịn linh cữu, lại thở than bị thiết: “Than ôi, đến gia quyến của Chẩn bây giờ, cũng là do đại vương ban tặng. Sớm tối nhìn lũ trẻ trong nhà, Chẩn không lúc nào nguôi nhớ tới đại vương. Mọi thứ của Chẩn bây giờ, có gì không phải ơn huệ của đại vương. Ân tình của đại vương, thần Chẩn biết lấy gì báo đáp… lấy gì báo đáp… lấy gì báo đáp?”
Rồi lại dập đầu hành lễ mà khóc lớn.
Vũ Vương đứng cạnh, nghe mà xúc động tâm can, trong lòng buồn thương thổn thức, cũng đứng bên linh cữu mà nhỏ lệ. Đám thần bộc có mặt không ai không đau xót, tiếng khóc vang vọng khắp linh đường.
Điếu viếng xong rồi, Vũ Vương nhiệt tình khoản đãi Trần Chẩn, còn thỉnh cầu Trần Chẩn về Tần, lại phụng sự Tần, thậm chí còn có ý bái làm tướng quốc, thay thế Trương Nghi. Trần Chẩn cảm tạ, rồi hồi tấu rằng, đợi hoàn tất sứ mệnh về Triệu phục mệnh Triệu Vương rồi, mới có thể tính tới chuyện sang Tần phụng sự. Vũ Vương là người hào sảng, lập tức ban cho không ít vàng bạc cùng hai nàng mỹ nữ.
Trần Chẩn tạ ơn xong, mới từ biệt rời cung.
Trạm dịch liệt quốc cách phủ tướng quốc không xa, di bộ hai khắc là tới.
Chập tối, cơm nước xong xuôi, Trần Chẩn thủng thẳng đi bộ tới trước cổng phủ, trình lên bái thiếp.
Thấy là sứ thần nước Triệu, lính canh cửa không dám chậm trễ, vội vào bẩm báo Trương Nghi.
Khoảng nửa canh giờ trôi qua, sắc trời đã tối mịt, mới thấy có người ra đón.
Là quản gia của phủ tướng quốc, Tiểu Thuận.
Tiểu Thuận dẫn Trần Chẩn đi vòng vèo trong phủ một chốc, tiến vào một khu nhà nhỏ, mời vào trong đó, rồi trở ra luôn.
Trong nhà tối đen như mực, chỉ thấy gian chính leo lét một ngọn đèn.
Trần Chẩn bước vào, thấy trong nhà không có ai, giữa sảnh trải hai tấm chiếu, một chủ một khách.
Trần Chẩn đặng hắng một tiếng, không thấy có ai đáp lại. Ngẫm nghĩ chốc lát, Trần Chẩn bèn ngồi xuống chiếu khách, nhắm mắt dưỡng thần.
Cứ thế ngồi mãi, ngồi mãi tới tận nửa đêm, đĩa đèn đã cháy cạn dầu mà vẫn không thấy ai xuất hiện.
Tiếng gà đã gáy râm ran, đèn đã tắt ngấm tự bao giờ, Trần Chẩn vẫn ngồi nguyên đó.
Lại qua một canh giờ, mặt trời đã lên cao quá một con sào, cách đó không xa vọng vào tiếng nô bộc gọi mời ăn sáng, song không phải gọi Trần Chẩn.
Lại qua nửa canh giờ nữa, chợt nghe có tiếng bước chân vọng lại, rồi từ ngoài cổng có một người sải bước tiến vào.
Người đó dừng lại giữa sảnh, đứng im đến một khắc, rồi đi quanh Trân Chẩn ba vòng, sau đó phịch một tiếng ngồi xuống chiếu chủ.
“Chà chà chà!” Đối phương chặc lưỡi liền ba cái.
Trần Chẩn mở mắt, vòng tay lên tiếng: “Sứ Triệu Trần Chẩn bái kiến tướng quốc đại nhân!”
Trương Nghi không đáp lễ, chỉ cười nhạt vài tiếng: “Tối qua nghe báo, nói rằng sứ Triệu tới thăm, còn nói là Trần Chẩn đại nhân, tại hạ lấy làm khó hiểu. Tại hạ nghĩ mãi, nghĩ mãi, nghĩ suốt một đêm, tới tận lúc này vẫn chưa thể nghĩ thông, Trần thượng khanh của Đại Sở sao nháy mắt lại biến thành sứ Triệu thế này?”
“Tại hạ lấy làm hổ thẹn, để tướng quốc đại nhân phải hao tâm tổn trí rồi!” Trần Chẩn lại vòng tay, “tại hạ dắt díu vợ con sang Triệu, hay tin tiên vương băng hà, bèn nhận lời uỷ thác của Triệu Vương, tới Hàm Dương điếu viếng.”
“Sứ Triệu tới đây là để điếu viếng tiên vương, cớ sao lại không vào cung?”
“Đã vào cung rồi!”
“Ồ,” Trương Nghi hít vào một hơi rất khoa trương, “thứ lỗi, thứ lỗi, là tại hạ vô trị! Dám hỏi sứ Triệu, lần này quang lâm tệ phủ, lại rình chờ suốt một đêm, hẳn có lời vàng ý ngọc muốn chỉ giáo tại hạ?”
“Không phải rình chờ, mà là ngồi chờ.”
“Ha ha, là tại hạ nói sai rồi, xin lượng thứ.” Trương Nghi ôm quyền, “có thể ngồi suốt một đêm, cũng đủ thấy được công phu, tại hạ xin tỏ lòng kính phục!” Lại vòng tay lần nữa, rồi ngả người lại hỏi, “sứ Triệu trăm công nghìn việc, tới đây là để điếu viếng tiên vương, nay đã hoàn thành sứ mệnh, lẽ ra phải nhanh chóng quay về Hàm Đan phục mệnh Triệu Vương mới phải, nhưng lại tới đây rình, à quên, tới đây ngồi chờ ở tệ phủ suốt cả một đêm, hẳn là phải có nguyên do!”
“Nguyên do thì có đấy.”
“Là vì Triệu Vương, là vì tiên vương, hay vì Sở Vương?”
“Đều không phải.”
“Ồ, tại hạ hiểu rồi, là vì Chiêu Dương!” Trương Nghi khẳng định.
“Cũng không phải.”
“Nói như vậy,” Trương Nghi ngả người ra phía sau, “hẳn vì bản thân sứ Triệu?”
“Không phải.”
“Ồ?” Trương Nghi ngồi thẳng dậy, nhìn chăm chú vào Trần Chẩn, hào hứng ra mặt, “nói xem, là vì ai?”
“Một người không hề xa lạ với tướng quốc đại nhân,” Trần Chẩn vòng tay hướng lên không trung, rồi mới đưa ra câu trả lời, “tại hạ cung kính ngồi chờ đại nhân suốt một đêm, chỉ vì đã nhận lời uỷ thác của tướng quốc sáu nước Tô Tần!”
Trương Nghi sững sờ, bất giác hít sâu vào một hơi.
“Không giấu Trương đại nhân,” Trần Chẩn tiếp lời, “lần này tại hạ đi sứ sang Tần, là do Tô Tử tiến cử lên Triệu Vương. Tô Tử tiến cử tại hạ là vì hai việc, một là điếu viếng tiên vương, hai là bái kiến Trương đại nhân.”
Trương Nghi chầm chậm thở ra, giọng điệu đã hết vẻ bỡn cợt, ôm quyền mà hỏi: “Tô huynh… có điều gì muốn nói ư?”
“Tô huynh của đại nhân nói,” Trân Chẩn khép hờ hai mắt, như đang hồi tưởng, “tiên Tần Vương đã băng hà, Trương huynh e khó được yên thân. Trần huynh hãy thay tại hạ tới thăm dò, nếu Trương huynh vui vẻ, tại hạ sẽ an tâm; nếu Trương huynh không vui…” Liếc mắt nhìn Trương Nghi một cái, dừng lại giữa chừng.
Trương Nghi chờ đợi hồi lâu, cuối cùng không nén nổi sốt ruột bèn giục: “Tô huynh nói sao nữa?”
“Hãy tới Sơn Đông, tại hạ sẽ cung kính đợi ngoài ải Hàm Cốc!”
Trương Nghi nhắm mắt lại.
Thời gian chậm chạp trôi qua. Trương Nghi vẫn ngồi lặng phắc, không nói một lời.
“Trương Tử,” Trần Chẩn lên tiếng trước, thay đổi cách xưng hô, “mấy chục năm gió bụi, cho đến cuối cùng, tại hạ coi như đã hiểu ra một lý.”
“Lý gì?” Trương Nghi hỏi.
“Cái lý mà một người đến chết cũng không hiểu được.”
“Ai?” Trương Nghi nhìn xoáy vào Trần Chẩn.
“Hôm nay trời đẹp, nếu Trương Tử rỗi rãi, có thể cùng tại hạ đi thăm!”
Trương Nghi lấy làm hiếu kỳ, đứng vụt dậy: “Đi!” Trần Chần khẽ xoa bụng, nhăn mặt mà nói: “Trương Tử ăn no rồi, còn chỗ này của tại hạ thì đang lép kẹp!”
Trương Nghi cười lớn, kéo luôn Trần Chẩn đến thiện phòng, ăn uống no nê rồi mới sai Tiểu Thuận đánh xe, theo chỉ dẫn của Trần Chẩn đi tới chân núi Chung Nam.
Đường càng đi càng hẹp, cuối cùng thì không còn đường nữa.
Trần Chẩn, Trương Nghi xuống xe, men theo một khe suối mà đi ngược lên thượng nguồn, chừng hơn trăm bước thì thấy một nấm mộ.
Nấm mộ hoàn toàn hoang lạnh, trên mộ gai góc mọc đầy, không có văn bia, không có hương hoả, cũng không một dấu chân người.
Trần Chẩn im lặng đứng bên ngôi mộ hồi lâu, không nói một lời.
“Ai đây?” Trương Nghi tò mò nhìn nấm mộ.
“Thương Quân.” Trần Chẩn đáp.
“A?” Trương Nghi kinh ngạc, hết nhìn nấm mộ lại nhìn sang Trần Chẩn, “Trần đại nhân sao lại biết… người này được chôn ở đây?”
“Người này không phải được chôn ở đây. Sau khi ngũ mã phân thây, đầu mình tứ chi của người này đều đã bị kẻ thù băm vằm rồi chia nhau mang đi, sau đó bị họ làm gì, tại hạ cũng không biết được. Dưới mộ này chỉ chôn mạnh áo cùng vài món tóc, dăm miếng xương vụn còn sót lại mà thôi.”
“Sao ông biết được?” Trương Nghi bán tín bán nghi.
“Chính tay tại hạ đã nhặt nhạnh những thứ đó. Áo của Thương Quân bị xé rách nát, tại hạ nhìn mà đau lòng, mới vào trong ngục, nhặt lấy những quần áo cũ người này từng mặc. Tại hạ vẫn thấy chưa đủ, mới khẩn cầu Doanh Kiền cho xin một bộ áo mũ đại lương tạo mà Thương Quân từng mặc, rồi đem chôn tất cả tại đây.”
Trương Nghi hít ngược vào một hơi.
“Trương Tử có biết Thương Quân vì đâu mà chết?” Trương Nghi đưa mắt nhìn sang.
“Là bị tại hạ hại chết.”
Trương Nghi vừa mới điều hoà được hơi thở, lúc này lại hít vào một hơi.
Trần Chẩn từ từ ngồi xuống, đối diện với nấm mồ, đoạn chậm rãi kể lại một lượt những ân oán giữa mình và Thương Quân cho Trương Nghi nghe, rằng Thương Quân phụng mệnh Tần Công đi sứ sang Nguỵ, lừa gạt Nguỵ, tập kích Hà Tây thế nào, còn mình phụng mệnh Nguỵ Vương đi sứ sang Tần, hãm hại Thương Quân thế nào, ép Thương Quân phản nghịch, bắt sống Thương Quân ra sao, rồi Huệ Vương xử Thương Quân cực hình ngũ mã phân thây bên bờ Vị Thuỷ thế nào. Chuyện nghe lắt léo quanh co, lâm ly bi tráng, khiến Trương Nghi có khác nào được nghe truyền kỳ thượng cổ.
“Trương Tử có muốn biết vào lúc lâm chung, Thương Quân đã đánh cược gì với tại hạ?” Trần Chẩn nhìn sang Trương Nghi.
“Nghi muốn nghe!” Trương Nghi vòng tay đáp.
Vào thời khắc này, với Trần Chẩn trước mặt, Trương Nghi không những phải nhìn bằng con mắt khác, mà còn kính ngưỡng khôn xiết. Từ lúc cha sinh mẹ đẻ, Trương Nghi đã tranh đấu với người ta không biết bao phen, song chưa từng dụng tâm kín kẽ tinh vi đến vậy, cũng chưa từng kinh qua những chuyện kinh tâm động phách nhường này.
“Thời khắc đó,” Trần Chẩn chậm rãi kể lại, “đầu và tứ chi Thương Quân đều đã bị buộc vào năm cỗ chiến xa, tại hạ thỉnh cầu đại vương được tiễn Thương Quân lên đường. Tại hạ kính rượu cho Thương Quân, đổ hết một hũ đầy, chỗ rượu tràn ra ngoài, bèn dùng rửa mặt, để hắn được thể diện lên đường. Nhân lúc đó, tại hạ cũng kể sơ qua cho Thương Quân biết tại hạ hãm hại hắn thế nào. Tại hạ nói rằng, để Công Tôn huynh chịu cảnh phân thây ở Tần, kỳ thực không phải bản ý của Chẩn! Bản ý của Chẩn, chỉ là muốn nước Tần phế bỏ hình pháp hà khắc, thực thi nhân chính, đức trị thiên hạ, ban ân trạch đến muôn đời!”
“Thương Quân nói sao?” Trương Nghi nôn nóng hỏi. “Thương Quân phá lên cười mà nói, Trần huynh viên vông quá rồi!”
“Vậy Trần huynh đáp lại thế nào?” Trương Nghi thuận thế đổi cách xưng hô.
“Tại hạ đáp rằng, Chẩn biết Công Tôn huynh không chịu chấp nhận chuyện đó, nhưng Công Tôn huynh trước đây có bao giờ từng nghĩ, mình sẽ có kết cục thân tử danh diệt như ngày hôm nay?”
“Ông ta nói sao?” Trương Nghi lại sốt sắng truy vấn.
“Thương Quân nói rằng, thân này có thể tử, song danh này không diệt, còn như Trần huynh, có diệt hay không cũng khó nói lắm.”
“Quả là một trang hảo hán.” Trương Nghi khen ngợi, rồi nhìn sang Trần Chẩn.
“Nghe hắn nói vậy,” Trần Chẩn kể tiếp, “tại hạ nào có chịu phục, bèn đánh cược với Thương Quân, thời hạn là ba mươi năm. Thời gian tựa thoi đưa, ngoảnh đi ngoảnh lại đã tới hạn ba mươi năm rồi.”
“Trần huynh cảm thấy mình đã thắng rồi chăng?” Trương Nghi nhìn xoáy vào Trần Chẩn.
Trần Chẩn nhún vai, gượng cười đáp.
“Trần huynh thừa nhận Thương Quân đã thắng?”
“Tại hạ sao có thể thừa nhận Thương Quân đã thắng?” Trần Chẩn sắc mặt đăm chiêu, dõi mắt nhìn xa xăm, “có điều, từ khi tiên Tần Vương Doanh Tứ tiếp tục thực thi Tần pháp, xử tử đám lão thần Cam Long, tại hạ đã hiểu, Thương Quân thắng rồi, chí ít có thể nói rằng, cho tới hiện tại, Thương Quân đã thắng. Còn như tương lai, hắn có thể thắng được bao lâu nữa, tại hạ thực sự không biết. Than ôi,” thở dài rầu rĩ, “tại hạ, và cả Tô huynh của Trương Tử, quả tình không mong hắn cứ thắng mãi!”
“Cho nên, Tô huynh mới để Trần huynh tới đây, Trần huynh mới dẫn tại hạ tới nơi này?” Trương Nghi nhìn xoáy vào Trần Chẩn.
“Cứ coi là vậy.” Trần Chẩn thu lại ánh mắt, nhìn sang Trương Nghi, “lẽ nào Trương huynh thực sự mong cả thiên hạ nhất thống dưới pháp của Thương Quân? Dùng dân gian trị dân lành, lấy dân yếu trị dân mạnh, cày ruộng chỉ để chiến tranh, chiến tranh chỉ để cày ruộng, cả thiên hạ đều mặc một màu áo, đều nghe một kiểu nhạc, đều thờ chỉ một người, đều hát chỉ một điệu. Trương huynh thực lòng muốn sống trong một thiên hạ như vậy thật ư?”
Trương Nghi lắc đầu.
“Đã không muốn, cớ sao không chịu từ bỏ?”
Trương Nghi dịch chuyển ánh mắt, nhìn vào nấm đất phía trước, hồi lâu sau, đầu không ngoảnh lại mà nói với Trần Chẩn: “Phải rồi, vừa nãy Trần huynh nói rằng đã ngộ ra một cái lý mà người dưới nấm đất kia đến chết chưa thể ngộ ra, giờ thì nói được rồi chứ.”
“Dám bỏ.” Trần Chẩn chậm rãi bật ra hai tiếng.
“Không bỏ không được.” Trương Nghi tiếp lời, ánh mắt vẫn không rời khỏi nấm mồ.
“Phải lắm.” Trần Chẩn cũng đưa mắt nhìn lại, “kẻ chôn suông dưới nấm đất kia, không nỡ phế bỏ pháp của mình, bởi đã đặt cược quá nhiều vào pháp đó. Hay là Trương huynh cũng không nỡ bỏ đấy chăng?” Lại nhìn về phía xa xăm, “tại hạ loáng thoáng nghe rằng, sau khi diệt Ngô, Phạm Lãi muốn bỏ đi, bèn khuyên đại phu Văn Chủng đi cùng, nói rằng thỏ chết thì giết chó, chim hết thì bẻ cung, tiếc rằng Văn Chủng không nghe. Văn Chủng cớ sao lại không nghe? Bởi lẽ không nỡ bỏ nước Việt, bởi lẽ đã đặt cược quá nhiều vào nước Việt!” Ngửa cổ nhìn trời, thở dài thườn thượt, “than ôi, chết rồi thành cát bụi, vạn sự đều hư vô, thiên hạ này có rộng đến mấy, có tưng bừng đến mấy, cũng nào có liên quan gì tới ta, tới ngươi, tới hắn?”
Trương Nghi không đáp, chỉ đứng thẫn thờ.
Không biết đã đứng như vậy bao lâu, Trương Nghi mới quay người, chậm chạp bước về chỗ xe ngựa.
Trần Chẩn bái biệt Thương Quân, rồi cũng đi theo.
Về tới phủ, Trương Nghi bày tiệc rượu tiếp đãi Trần Chẩn, xưng huynh gọi đệ thân thiết, hai người cùng uống thoả thuê. Bao nhiêu ân oán trước đây, đều tiêu tan theo từng hũ rượu.
Ngay sáng hôm sau, Trần Chẩn mang theo châu báu cùng hai mỹ nữ mà Tần Vũ Vương ban tặng, rời Tần về Triệu, Trương Nghi không ra tiễn.
Trương Nghi giam mình trong căn nhà khuất nẻo nơi Trần Chẩn đã đợi suốt đêm, ngồi trên chiếu khách Trần Chẩn từng ngồi, suốt từ sáng sớm cho tới đêm khuya, rồi lại từ đêm khuya tới tận khi trời sáng.
Năm nước tung thân, người Triệu lại ung dung nuốt gọn Trung Sơn, Tần Vũ Vương hết sức bồn chồn, không còn tâm trí đâu mà ngồi yên thủ hiếu nữa, một mặt sai công tử Hoa tung một lượng lớn hắc điêu tới Trung Sơn thám thính tình hình, mặt khác triệu tập trọng thần bàn kể ứng phó.
Đây là lần đầu tiên Vũ Vương triệu tập trọng thần nghị sự kể từ sau khi đăng cơ. Thân là tướng quốc, Trương Nghi đương nhiên phải đến, hơn nữa chiếu theo chế độ triều đình, ngôi vị là ở hàng đầu bá quan.
Ngoài đám Doanh Tật, Doanh Hoa, Tư Mã Thác, Cam Mậu, có một sự thay đổi quan trọng, đó là chỗ của Nguỵ Chương đã không còn, và bên cạnh Vũ Vương có thêm hai chỗ nữa, một của Nhậm Bỉ, một của Ô Hoạch.
Ngự sử phụ trách ghi chép không thay đổi, vẫn là Xa Vệ Quân.
Trong cuộc triều nghị lần này, toàn bộ triều thần đều mang hiếu phục. Vũ Vương ngồi giữa, hai đại lực sĩ ngồi sát hai bên tả hữu, vậy nên chỗ của Trương Nghi và đám Doanh Tật đều phải đẩy xuống phía sau.
Quần thần đưa mắt nhìn nhau, song tất cả đều lặng im, không ai dám ho he một lời.
Mắt thấy cảnh tượng này, Trương Nghi bỗng thấy trong lòng ớn lạnh, bên tai chợt văng vẳng lời nói của Trần Chẩn: “Kẻ chôn suông dưới nấm đất kia, không nỡ phế bỏ pháp của mình, bởi đã đặt cược quá nhiều vào pháp đó. Hay là Trương huynh cũng không nỡ bỏ đấy chăng?”
Phải, đúng là Trương Nghi không nỡ từ bỏ, bởi lẽ Trương Nghi cũng đã đặt cược quá nhiều ở Tần. Hiểu Thương Quân, là Hiếu Công; hiểu Trương Nghi, là Huệ Vương. Hoài bão một đời của Thương Quân, là biến pháp cường Tần; hoài bão một đời của Trương Nghi, là liên hoành chế tung. Huệ Vương giết Thương Quân, song vẫn tiếp tục dùng pháp của Thương Quân; Còn Doanh Đãng trước mặt kia, liệu có phế bỏ trường sách liên hoành?
Tuy nhiên, cuộc cờ đã tới nước này, Trương Nghi dứt khoát phải thử.
“Các khanh,” Vũ Vương đưa mắt nhìn khắp quần thần, lên tiếng, “tiên vương khuất núi, cả nước ai điếu. Trong lúc đại tang, thiên hạ đã xảy ra hai đại sự, đều liên quan tới Đại Tần ta. Một là Tô Tần hẹn năm nước Sở, Tề, Triệu, Yên, Nguỵ hội thề tại Đại Lương, kết minh chế ta; hai là nước Triệu thực thi Hồ phục kỵ xạ, trước thôn tính Lâu Phiền, Lâm Hồ, giờ lại động binh Trung Sơn, mà thiên hạ không ai can thiệp. Quả nhân mới tức vị, kiến văn thiển cận, ứng phó thế nào, các khanh hẳn có kế hay!” Vũ Vương vừa mở lời đã nói thẳng vào trọng tâm, tất thảy triều thần đều ngồi im tư lự.
“Trương tướng quốc,” Vũ Vương nhìn sang Trương Nghi, vòng tay nói, “Đại Lương cũng thế, Trung Sơn cũng vậy, đều là việc ngoài, cũng đều là sở trường của tướng quốc. Có diệu kế nào, quả nhân xin rửa tai lắng nghe!”
“Hồi bẩm đại vương,” Trương Nghi vòng tay đáp, “lúc tiên vương còn tại thế, Tô Tần hợp sức sáu nước chế ta, người Nguỵ Bàng Quyên hợp quân sáu nước vây khốn ải Hàm Cốc ta, xâm phạm Hà Tây ta. Tiên vương quật cường, dân Tần dũng mãnh, trước đẩy lùi liên quân sáu nước, sau đánh bại Nguỵ ở Hà Tây. Tiếp theo, tiên vương cùng thần nghị sự, mới định ra trường sách liên hoành để đối kháng hợp tung, trước kết Yên chế Tề, sau kết Nguỵ chế Hàn, Triệu, rồi lại kết Hàn, Nguỵ, Tề chế Sở, ích lợi đã rõ ràng. Bởi vậy, thần mới nghĩ rằng, nếu đại vương tiếp tục kế liên hoành của tiên vương, không khó để phá vỡ tung minh năm nước. Còn như Trung Sơn, vốn đã là hạt gạo trong túi Triệu Vương, Triệu Vương muốn nuốt lúc nào, là chuyện của Triệu, Đại Tần ta roi dài khó với. Điều thần lo lắng, chính là nước Triệu đổi sang Hồ phục, dùng kỵ xạ thay thế chiến xa, lại được thêm sức của người Hồ, hoặc giả sẽ thành cường địch của Đại Tần ta!”
“Hắn hành Hồ phục, quả nhân cớ sao không thể?” Vũ Vương quay sang Cam Mậu, “việc Hồ phục kỵ xạ, khanh hãy tìm hiểu cho kỹ, soạn thành tấu chương.”
“Thần lĩnh chỉ!” Cam Mậu vòng tay đáp. “Đại vương thánh minh!” Trương Nghi cũng vòng tay nói.
“Cái gì mà thánh minh, quả nhân vốn người thô lỗ ngu độn!” Vũ Vương xua tay gạt đi, “ban nãy nghe tướng quốc kể lại những công nghiệp kỳ vĩ trước đây, quả nhân thực may mắn thay, người Tần thực may mắn thay. Tuy nhiên, đó đều là việc đã qua, quả nhân muốn thỉnh giáo là việc hiện tại, làm thế nào để phá vỡ tung minh năm nước?”
“Vẫn như trước đây.” Trương Nghi dõng dạc đáp, “thần cho rằng, năm nước tung thân Tô Tần đang thực thi hiện tại, đã kém xa sáu nước tung thân năm xưa. Lúc đó, Sở có Uy Vương, Nguỵ có Huệ Vương, Tề có Uy Vương, Triệu có Túc Hầu, Yên có Văn Công, Hàn có Chiêu Vương, sáu quân chủ này, đều là minh quân đương thế. Còn về tôi hiền tướng giỏi, Nguỵ có Huệ Thi, Bàng Quyên, Tề có Trâu Kỵ, Điền Kỵ, Sở có Chiêu Dương, Hàn có Thân Bất Hại, Triệu có Triệu Thành, Triệu Báo, Yên có Tử Chi, đều là anh hùng thiên hạ. Lại nhìn vào năm nước tung thân hiện tại, Sở Vương chí lớn tài hèn, kém xa tiên Uy Vương; Nguỵ Vương kém xa tiên Huệ Vương; nhìn vào nhân tài Tắc Hạ tứ tán, Tề Vương cũng kém xa tiên Uy Vương cùng tiên Tuyên Vương. Năm nước hiện tại, chỉ có Triệu Vương cùng Yên Vương là đáng kể. Triệu Vương là kình địch của đại vương, còn Yên Vương là cháu ngoại của đại vương, Yên thái hậu là em gái của đại vương, máu mủ tình thân, chỉ cần đại vương liên hoành, không có lý nào lại không theo.”
“Tướng quốc nói qua nói lại, quả nhân nghe đến đầu óc quay cuồng, mà vẫn chưa nghe thấy kế sách phá địch, lẽ nào tướng quốc…” Vũ Vương nhướng mày nhìn lại.
“Kế sách của thần,” Trương Nghi chau tít đôi mày, khép mắt chốc lát, rồi vòng tay đáp, “đại vương có thể đi hai nước cờ. Nước thứ nhất, hạ ở Yên, lôi kéo tình thân, dùng Yên chế Tề. Người Tề cướp bóc Yên đô Kế Thành, phá huỷ thái miếu, xã tắc Yên thất, đã gây nợ máu với Yên. Với tính khí quật cường của Yên Vương, ắt sẽ lấy máu trả máu. Nếu không ngoài dự liệu của thần, tiên vương băng hà, sứ thần của Yên Vương hẳn đang trên đường tới viếng. Đại vương có thể đối đãi chu toàn.”
“Còn nước cờ thứ hai?” Vũ Vương đổ người lại hỏi.
“Giúp Hàn.”
“Giúp thế nào?”
“Tô Tần tung thân năm nước, bỏ lại một mình nước Hàn, Hàn Vương trơ trọi, ắt sẽ sinh lòng lo sợ. Hàn mà lo sợ, ắt sẽ cậy nhờ đại vương, nếu đại vương đối đãi tử tế với Hàn, Hàn ắt một dạ trung thành, cùng đại vương kết hoành thân vững chãi. Có được Hàn rồi, đại vương tiến có thể thẳng tới Trung Nguyên, kiềm chế Triệu, Nguỵ; lui có thể làm nơi hoà hoãn, làm bình phong cho lãnh thổ ta. Còn như năm nước kia, tuy đã kết thành tung minh, song tâm bất nhất. Đại vương có thể theo dõi động tĩnh, chờ đợi thời cơ, để rồi thừa cơ mà động, một đòn thủ thắng. Trương Nghi rành rọt đáp.
“Còn nữa không?” Vũ Vương ngồi thẳng lại.
“Thần đã nói hết.”
Vũ Vương hời hợt vỗ tay vài cái, giọng đầy chế nhạo: “Quả là trường sách!” Đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, “triều nghị hôm nay, chấm dứt ở đây, các khanh có thể ra ở về.” Rồi đưa tay chỉ vào công tử Hoa, công tử Tật, Tư Mã Thác, Cam Mậu, “các vị đây dừng bước!”
Quần thần đưa mắt nhìn nhau.
Triều thần không phải lui về, đương nhiên còn có Nhậm Bỉ và Ô Hoạch.
Trương Nghi chậm rãi đứng dậy, vòng tay nói: “Thần cáo lui!”
Đợi Trương Nghi ra khỏi cửa điện, bước chân nặng trĩu xuống khỏi bậc thềm rồi, Vũ Vương mới đưa mắt nhìn những người còn lại, cất giọng sang sảng: “Những lời tướng quốc vừa nói, các khanh thấy sao?”
Trước tình thế này, dù là ai cũng không dám lên tiếng. “Cam Mậu, khanh thấy sao?” Vũ Vương gọi đích danh. “Thần cho rằng,” Cam Mậu ngần ngừ một lát, vòng tay đáp, “đại vương và Yên Vương là cậu cháu, cùng chung huyết mạch, kết thân với Yên là việc gấp trước mắt.”
“Việc này đã quyết.” Vũ Vương nhìn sang nội thần, “truyền chỉ cho Tử Tắc, sang Yên làm con tin, kết tình giao hảo!”
Tử Tắc là con của Mị Nguyệt, lúc này vẫn chưa thành niên. Vũ Vương không buồn suy nghĩ, lập tức quyết đoán cho Tử Tắc sang Yên làm tin, rõ ràng đã có mưu đồ từ trước. Mị Nguyệt là gái Sở, Mị Nguyệt gả cho tiên vương là do Trương Nghi mai mối, Vũ Vương ghét Trương Nghi, đương nhiên cũng không ưa gì mẹ con Mị Nguyệt.
Vũ Vương lại quay sang chúng thần: “Việc của nước Yên đã xong, còn việc của nước Hàn, chư vị hãy bàn xem thế nào.” Nhìn vào Doanh Tật, “chú thấy sao?”
“Thần tán thành tướng quốc,” Doanh Tật không chút đắn đo, lập tức lên tiếng tán đồng kế của Trương Nghi, “bảy nước lớn trong thiên hạ, Tô Tần hợp năm, đại vương không thể bỏ Hàn.”
Vũ Vương sầm ngay sắc mặt, ngoảnh nhìn chỗ khác, chốc sau quay sang công tử Hoa: “Chú hãy nói xem.”
“Thần nghe đại vương!” Công tử Hoa đã nhìn rõ thái độ, bèn vòng tay đáp.
“Hàn có Nghi Dương, giờ lại được Nam Dương, kinh đô ô kim trong thiên hạ, Hàn Vương độc chiếm cả hai, phải chăng là quá nhiều?” Vũ Vương thình lình buông một câu.
Chúng thần đều bàng hoàng chấn động.
Nam Dương tuy bị người Hàn chiếm cứ, song sau khi Trương Nghi sang Hàn du thuyết, lúc này đã trả về cho Sở, Vũ Vương đương nhiên biết rõ chuyện này.
“Cam Mậu, khanh thấy sao?” Vũ Vương lại quay sang Cam Mậu.
“Thần nghe đại vương!” Cam Mậu vòng tay đáp.
“Quả nhân hỏi chư vị,” Vũ Vương quay sang chúng thần, ánh mắt lẫm liệt, “mãnh hổ đi săn, nếu gặp đàn bò, sẽ bắt con nào?”
Quần thần đều hít ngược một hơi lạnh toát.
“Theo quả nhân biết, nó sẽ chọn con đứng lẻ.”
Năm xưa sáu nước hợp tung, nay Tô Tần lại hợp tung năm nước, con bò lẻ đàn kia, hiển nhiên là chỉ nước Hàn.
“Ồ…” Tư Mã Thác mấp máy môi rồi im bặt, nhìn sang Doanh Tật.
“Cam Mậu,” Vũ Vương liếc Tư Mã Thác một cái, quay sang Cam Mậu, “nghe nói nhiều năm trước, tiên vương lệnh cho khanh chinh phạt Nghi Dương, nhưng việc chưa thành, hẳn có chuyện này?”
“Phải!” Cam Mậu đáp, “vì mệnh lệnh đó, thần đã chuẩn bị hơn một năm, nào ngờ sau đó tiên vương lại đổi sang phạt Thục!”
Vũ Vương phá lên cười lớn: “Các khanh có thể về. Cam Mậu ở lại!”
Sau khi những người khác đã về cả, Vũ Vương đi trước, dẫn Cam Mậu qua cổng bên, tới vườn hoa nhỏ ngoài điện, leo lên một gò đất ở giữa vườn hoa.
Trên đỉnh gò có đình hóng mát. Cam Mậu ngước mắt nhìn lên, thấy trên đình treo một tấm biển, để hai chữ “Tức Nhưỡng”12, nhìn nét chữ, chính là thủ bút của tiên Huệ Vương.
Vũ Vương thích độc lại độc vãng, nội thần chờ chỉ biết ý, nên đứng hầu bên dưới bậc thềm dẫn lên đình.
Trong đình trải sẵn hai tấm chiếu, Vũ Vương ngồi xuống, chỉ vào chiếu đối diện. Cam Mậu vòng tay cảm tạ, rồi cũng sửa áo ngồi xuống.
“Cam Mậu,” Vũ Vương nhìn thẳng vào Cam Mậu, “ở đây không có người ngoài, quả nhân có một tâm nguyện, khanh có muốn nghe?”
“Thần lấy làm vinh hạnh!” Cam Mậu vòng tay đáp.
“Tiên tổ Hiếu Công biến pháp cường quốc, quyết chiến với Nguỵ, thu phục Hà Tây, đoạt được mười lăm ấp đất Ư. Tiên phụ Huệ Vương giữ pháp mở cõi, đánh lui tung quân sáu nước, phía đông đoạt ải Hàm Cốc, phía nam chiếm lấy Ba, Thục, ba lần đánh thắng Đại Sở, mở rộng bờ cõi hơn hai nghìn dặm. Giờ tới quả nhân, không thể không một thành tựu. Tâm nguyện của quả nhân là đời này có thể đánh tới Tam Xuyên, thay ngôi Chu thất, hoàn thành vĩ nghiệp cái thế mà tiên tổ chưa hoàn thành. Nếu được vậy, quả nhân chết cũng thoả lòng!” Vũ Vương lời nói thiết tha, sục sôi tráng chí.
Tam Xuyên tức ba thung lũng sông Lạc Thuỷ, Y Thuỷ và Nhữ Thuỷ, là tấm bình phong bao quanh phía nam Lạc Dương. Tần muốn tiến về đông, dứt khoát phải đi qua Lạc Dương của Chu thất. Từ ải Hàm Cốc tới Lạc Dương, có hai đường, một là qua ải Hàm Cốc tới ải Hào, qua Thằng Trì rồi tới Lạc Dương, tục gọi là đường Hàm Cốc; hai là qua ải Hàm Cốc tới ải Hiệp Thạch, theo đường Hiệp Thạch đi xuống phía nam tới Lạc Thuỷ, men theo Lạc Thuỷ xuôi xuống, qua Nghi Dương rồi tới Lạc Dương.
Đối với Vũ Vương, ải Hàm Cốc đã ở trong tay, chỉ còn một bước là có thể tiến tới Lạc Dương, giành lấy ngôi báu từ Chu thất.
Lạc Dương là lãnh địa của vương thất Đại Chu, tới nay vẫn được coi là trung tâm thiên hạ. Chỉ cần có được Lạc Dương, sẽ khống chế được Chu thất, không chỉ có thể hiệu lệnh thiên hạ, mà còn mở thông được đường tiến về phía đông. Hiện tại muốn tới Lạc Dương, người Tần chỉ có hai con đường, một là đánh Nguỵ để mở thông đường qua ải Hào, hai là đánh Hàn để đoạt ải Hiệp Thạch, chiếm Nghi Dương, đánh lấy Tam Xuyên, qua Lạc Thuỷ tới thẳng Chu thất. Con đường thứ nhất, Vũ Vương không thể chọn, bởi lẽ Tô Tần vừa hợp tung năm nước, trọng tâm tung thân lại đặt ở Nguỵ đô Đại Lương. Hơn nữa, dù người Tần mở thông được đường qua ải Hào, kiểm soát được Lạc Dương, nếu muốn tiếp tục về động, còn phải khai chiến với Hàn để mở thông ải Hổ Lao. Đối với Vũ Vương, khai chiến với Nguỵ cũng tức là đồng thời khai chiến với năm nước, trong khi nước Hàn hiện tại đang đơn độc, chinh phạt sẽ dễ hơn nhiều.
Phạt Hàn, trước tiên phải đánh Nghi Dương. Tần nếu được Nghi Dương, không chỉ có ô kim, mà còn có thể kiểm soát Lạc Xuyên, đánh tới Y Xuyên và Nhữ Xuyên, từ đó qua Nhữ Thuỷ về đông, là thẳng tới giữa lòng Trung nguyên.
Tâm nguyện của Vũ Vương, không phải Nghi Dương, mà là đạp bằng Tam Xuyên, thay ngôi Chu thất.
Vùng đất Tam Xuyên hiện đang nằm trọn trong tay Hàn thất. Vũ Vương nói ra lời này, ý tứ đã không thể rõ ràng hơn: khai chiến với Hàn, chinh phạt Nghi Dương!
Cam Mậu gắng kìm nén cơn kích động trong lòng.
Chinh phạt Nghi Dương chính là ý nguyện ban sơ của Cam Mậu, thứ nhất vì Cam Mậu là người tiếp quản việc quân nhu của tiền thái phó Doanh Kiền, bao năm qua vẫn luôn trăn trở chuyện ô kim; thứ hai, hoài bão bình sinh của Cam Mậu vốn không phải quân nhu lương thảo, mà là tung hoành chiến địa, kiến công lập nghiệp, chấn hưng Cam môn. Tuy nhiên, do tiên phụ Cam Long là nghịch thần, cũng bởi Cam Mậu cáo giác nên Cam Long mới phải chịu cực hình, từ đó mang tiếng bất hiếu, không dám ngẩng đầu trong triều đình, tiên Huệ Vương tuy dùng Cam Mậu, song vẫn thường để phòng. Bất luận Cam Mậu gắng gỏi ra sao, ngoại trừ lần trước cho đánh Nghi Dương hư trương thanh thế, Huệ Vương hiếm khi nhiệm Cam Mậu làm chủ tướng một phương.
“Cam Mậu?” Thấy Cam Mậu chỉ ngồi ngây ra không nói năng gì, Vũ Vương cao giọng.
“Hồi bẩm đại vương,” Cam Mậu định thần trở lại, điềm đạm đáp, “nếu như chiếm được Nghi Dương, tâm nguyện của đại vương không khó hoàn thành!”
“Đánh Nghi Dương, khanh có chắc thắng?”
“Thần dám chắc, tuy nhiên…” Cam Mậu ngập ngừng.
“Tuy nhiên làm sao?”
“Thần có hai mối lo, không thể không nói.”
“Nói đi.”
“Mối lo thứ nhất là Trương tướng quốc.” Cam Mậu phân trần, “đại vương nếu phạt Nghi Dương, chính là khai chiến với Hàn, trong khi tướng quốc đã đổ bao tâm huyết để liên hoành Hàn Vương, bởi vậy thần…”
“Hừm, đây chính là điều quả nhân muốn!” Vũ Vương cười nhạt một tiếng, “liên hoành chế tung cái gì? Khanh hãy đếm thử xem, trong những năm qua, hắn đã liên hoành cái gì? Chế tung cái gì? Hắn liên hoành với Yên, gả chị ta sang đó, kết quả thì sao? Yên bị Tề diệt, chị ta cùng cháu ngoại suýt nữa bỏ mạng trong chiến loạn. Hắn liên hoành với Nguỵ, sang làm tướng quốc Nguỵ bao nhiêu năm, kết quả thì sao? Ta giúp Nguỵ phạt Triệu, thất bại. Ta giúp Nguỵ phạt Hàn, cũng bại, cuối cùng không những không thể liên hoành với Nguỵ, mà bản thân hắn cũng phải thất thểu chạy về. Sau đó thì sao? Phạt Tề! Hắn xúi giục tiên phụ vương cho Tư Mã Thác phạt Tề, song lại trói chặt tay chân Tư Mã Thác, không cho đánh thật, kết quả thì sao? Tư Mã tướng quân chiến bại Tang Khâu, khiến người Tần ta nhục nhã trước thiên hạ! Sau nữa thì sao? Phạt Sở! Hắn vận đủ mưu ma chước quỷ, dối trá lọc lừa, không từ thủ đoạn, tiên vương dốc hết gia tài vào kế sách xuẩn ngốc của hắn, ba lần giao tranh với Sở, kết quả thì sao? Hai đất Hán Trung, Kiềm Đông phải đánh đổi bằng máu xương của hai mươi vạn tướng sĩ mới có được, không những phải trả lại một nửa cho Sở, mà còn bù thêm mười lăm ấp Ư Thành! Giờ đây, hắn lại đòi liên hoành Yên, liên hoành Hàn! Không nói nước Yên, chỉ tính nước Hàn, bao nhiêu tướng sĩ ta vong mạng uổng công, không hề nhận được chút gì báo đáp, mà hắn còn ra vẻ người tốt trước mặt người Hàn, để Hàn Vương kia không cần bỏ chút hơi sức mà thu về Phương Thành, Uyển Thành, thiên hạ có năm mỏ sắt, người Hàn độc chiếm mất hai, trong khi tướng sĩ tuẫn quốc của ta không dưới hai chục vạn, đổi lại được gì? Đem mười lăm ấp Ư Thành làm lá chắn cho bang quốc để đánh đổi lấy một nửa Kiềm Đông, một nửa Hán Trung hoang vu cằn cỗi!” Vỗ mạnh xuống án, “theo quả nhân biết, tự cổ chí kim, đất đai lãnh thổ đều là đánh mà có được, chứ không phải nhờ ai múa lưỡi cuốn về.”
Trong cơn giận dữ, Vũ Vương tuôn ra bằng hết những nỗi hậm hực dồn nén trong lòng bấy lâu, Cam Mậu nghe xong, thở phào một tiếng, tiếp lời, “nghe đại vương nói vậy, thần đã an tâm rồi.”
“Hãy nói tiếp về mối lo thứ hai!”
“Mối lo thứ hai của thần,” Cam Mậu nhìn thẳng vào Vũ Vương, vòng tay, “chính là đại vương bệ hạ!”
“Ồ?” Vũ Vương ngạc nhiên nhìn lại.
“Hồi bẩm đại vương,” Cam Mậu tiếp lời, “Nghi Dương là huyện lớn của nước Hàn, phía bắc liên với Thượng Đảng, Nam Dương, phía đông thâu tóm Tam Xuyên, xứng là trọng địa phía tây nước Hàn, tuy gọi là huyện, song thực chất là quận lớn. Ba quân ta tiến về đông, qua ải Hàm Cốc, rẽ xuống phía nam qua Hào Sơn, vượt nghìn dặm chinh phạt, thực khó lắm thay!”
“Chuyện này quả nhân biết chứ,” Vũ Vương đáp, “là quả nhân muốn chinh phạt Nghi Dương, cớ sao khanh lại lo lắng vì quả nhân?”
“Theo như thần thấy,” Cam Mậu giải thích, “Trương tướng quốc phía tây thôn tính Ba, Thục, phía bắc đoạt lại Tây Hà, phía nam chiếm được Kiềm Đông, Hán Trung, công lao hiển hách, song người thiên hạ lại ít khen ngợi Trương Nghi mà chỉ ca tụng tiên vương. Năm xưa, Nguỵ Văn Hầu lệnh cho Nhạc Dương dẫn ba quân viễn chinh Trung Sơn, khổ chiến ba năm, diệt được Trung Sơn, Nhạc Dương khải hoàn đắc chí, tự khoe công cao, Văn Hầu bèn cho xem một sọt đầy mật tấu, đều là đàn hặc Nhạc Dương. Nhạc Dương lúc này mới tỉnh ngộ, bái lạy dập đầu, khóc mà rằng, diệt Trung Sơn không phải công của thần, mà là sức của quân chủ. Thần vốn là hậu duệ của tội thần, được tiên vương ban ơn hậu, dung thứ tội lỗi, để thần có thể dốc sức vì Tần, lấy công chuộc tội. Đại vương hẳn cũng biết, trong số triều thần, không ít người khinh miệt không muốn qua lại với thần. Nay nếu thần phạt Hàn, ắt phải đánh lâu. Đánh lâu ắt phải hao tổn vô khối kim ngân, lương thảo, binh tốt, hẳn sẽ khuấy động vô số thị phi. Nếu quần thần có lời dị nghị, đại vương hoặc giả sẽ nghe theo!”
“Quả nhân biết rồi!” Vũ Vương phẩy tay, “khanh chớ lo, bất luận là ai huỷ báng Cam khanh, quả nhân dứt khoát không tin.”
"năm “Thần tạ ơn đại vương!” Cam Mậu lại vòng tay, xưa Tăng Tử sống ở đất Phí, có người trùng tên với Tăng Tử giết người ngoài phố, người ta chạy tới nhà Tăng Tử, nói với mẹ ông, “Tăng Sâm giết người. Tăng mẫu đang ngồi dệt vải, bình thản đáp, ‘con ta không giết người, rồi lại đưa thoi như cũ. Lát sau, lại có người chạy đến nói, Tăng Sâm giết người, Tăng mẫu vẫn thản nhiên dệt vải. Lại một lát nữa, người thứ ba chạy đến nói, “Tăng Sâm giết người. Tăng mẫu kinh hãi, quăng thoi trèo tường mà chạy. Tăng Sâm là đại hiền, Tăng mẫu cũng rất tin con mình là người hiền, tuy nhiên, khi ba người đều nói con trai bà giết người, tuy là từ mẫu, cũng phải lung lay. Nay tài đức của thần còn xa mới bằng Tăng Tử, lòng tin của đại vương với thần còn xa mới bằng Tăng mẫu, người ngờ thần đầu chỉ có ba, nên thần lấy làm lo sợ đại vương rồi cũng quăng thoi mà đi.”
“Quả nhân đã hiểu!” Vũ Vương đưa tay chỉ trời, “quả nhân sẽ thể cùng Cam khanh, thế nào?”
“Tạ ơn đại vương!” Cam Mậu vòng tay cảm tạ, rồi cùng Vũ Vương đứng trong đình Tức Nhưỡng, chỉ trời mà thề.
“Cam khanh,” thê xong, Vũ Vương nhìn thẳng vào Cam Mậu, “ý quả nhân đã quyết, sẽ xuất quân sáu vạn, chinh phạt Nghi Dương, đạp bằng Tam Xuyên. Cam Mậu, khanh có muốn thỉnh mệnh, lập kỳ công này?”
Cam Mậu quỳ xuống, dập đầu hô: “Thần thỉnh mệnh!”
Xem đi xem lại, thế cờ đã đến đường cùng.
Hay tin Vũ Vương quyết ý công phạt Nghi Dương, Trương Nghi giam mình trong thư phòng, ngồi ủ ê suốt một ngày trời, mới gọi Tiểu Thuận tới.
“Tiểu Thuận, đất Hàm Dương này, ngươi ở đã chán chưa?” Trương Nghi hỏi.
“Chúa công, người muốn làm gì?” Tiểu Thuận cười hì hì hỏi lại.
“Mau chuẩn bị đi, vài hôm nữa, hãy dẫn theo Tiểu Thuý ra khỏi Hàm Cốc. Lũ trẻ trong nhà, mang theo được đứa nào thì mang, không mang theo được, cứ tạm để lại.”
“Vâng,” Tiểu Thuận hạ giọng hỏi nhỏ, “phải chăng cần tới đất Hàn chăm sóc Hương phu nhân?”
“Ồ, thằng ranh cũng lanh lợi đấy!”
“Tốt quá!” Tiểu Thuận búng ngón tay đánh tách, “từ khi Tiểu Thuận đưa Hương phu nhân tới đó, Thuý Nhi vẫn luôn mong đợi ngày này!” Rồi chau mày, “Thuý Nhi thực sự không muốn sống trong phủ này nữa!”
“Ta biết. Hãy nhớ, hành sự cho thật kín đáo, khi qua ải Hàm Cốc, cứ nói quê nhà Tiểu Thuý có việc… Nhà Trương bá chẳng phải ở Thạch Ấp đó sao?”
“Chúa công yên tâm, Tiểu Thuận có thể nghĩ ra cả trăm lý do!” Tiểu Thuận cười tít mắt đáp, rồi nhìn Trương Nghi hỏi, “còn chúa công, bao giờ tới đó?”
“Đợi ít lâu nữa.”
“Vâng, Tiểu Thuận và Tiểu Thuý sẽ chăm sóc chúa mẫu, chờ người ở đất Hàn.”
“Phải rồi, còn một việc nữa!”
“Tiểu Thuận xin nghe.”
“Báo cho Lãnh đại nhân, rằng Tần Vương đã nhiệm Cam Mậu làm tướng, khởi sáu vạn đại quân chinh phạt Nghi Dương!”
Tiểu Thuận hít ngược vào một hơi, hồi lâu mới thì thào hỏi: “Chúa công, giờ… ta là người Tần, có nói được chăng?”
Trương Nghi lừ mắt nhìn Tiểu Thuận: “Rời khỏi đất Tần, ngươi còn là người Tần sao?”
“Vâng!” Tiểu Thuận vội vã quay ra.
Lúc trời nhập nhoạng, Nguỵ Nhiễm, Mị Nhung kéo nhau cùng tới. Họ biết rõ tân vương và Trương Nghi bất hoà, muốn tránh hiềm nghi nên chọn lúc nhá nhem, và lại cũng không ngồi xe ngựa, lặng lẽ theo cửa bên đi vào trong phủ.
Hai người đến thăm, là được Mị Nguyệt uỷ thác. Tiên vương đột ngột băng hà, Mị Nguyệt vốn đã lo lắng bất an, giờ đây Vũ Vương lại bất đồ xuống chiếu cho công tử Tắc sang Yên làm con tin, khiến nàng ta ruột gan như lửa đốt.
“Với công tử Tắc, đây có lẽ là lối thoát tốt nhất!” Trương Nghi khẽ cười mà đáp.
“Tốt ở chỗ nào?” Mị Nhung vội hỏi.
“Công tử vương thất, có thể chia thành hai loại, một loại chơi bời hưởng lạc, giá áo túi cơm, một loại xông pha hiểm cảnh, mang hoài bão lớn. Hai vị muốn công tử Tắc trở thành loại chơi bời hưởng lạc vô tích sự ư?” Trương Nghi nhìn xoáy vào hai người hỏi.
Hai người cùng lắc đầu.
“Thái hậu nước Yên là trưởng nữ của tiên vương, chị cả của Tần Vương, với công tử Tắc là chị em cùng cha. Đương kim Yên Vương là cháu ngoại của công tử Tắc, công tử Tắc làm con tin ở Yên, ắt sẽ được đối đãi tử tế, không phải chịu khổ, đó là thứ nhất. Đất Yên xa xôi hẻo lánh, không ai muốn đến, giờ công tử Tắc tới đó, là gian khổ nhất nhưng cũng lập công lớn nhất trong các công tử nhà Tần. Vạn nhất trong triều có biến…” Trương Nghi lấp lửng.
Hai người đều hít vào một hơi dài.
“Ý tướng quốc muốn nói, trong triều sắp có biển?” Nguỵ Nhiễm hạ giọng thì thào hỏi.
Trương Nghi khẽ cười vài tiếng: “Chẳng phải cậu làu thông Dịch lắm sao? Thế nào là dịch?”
Nguỵ Nhiễm lại hít sâu vào một hơi.
“Phải rồi,” Trương Nghi nhìn sang Mị Nhung, “có thể nhờ Mị bát tử cầu Tần Vương, cho cậu hộ tống công tử Tắc tới Yên.” Lại nhìn sang Nguỵ Nhiễm hỏi, “hiện tại tước phong đã tới cấp bậc nào rồi?
“Tả thứ trưởng.”
“Cũng cao đấy.” Trương Nghi khép mắt ngẫm nghĩ chốc lát, “hãy tìm cách chen chân vào quân cấm vệ kinh đô Hàm Dương, để bảo vệ cho chị gái cậu. Quân cấm vệ Hàm Dương do Xa Vệ Tần cai quản, hãy tới khẩn cầu Xa Vệ Tần giúp đỡ, ta không tiện ra mặt.”
“Tại hạ đã hiểu.”
“Nguỵ tướng quân vẫn ở Hàm Dương?”
Nguỵ Nhiễm gật đầu.
“Đang bận gì?”
“Uống rượu.”
“Nếu muốn uống rượu, hãy cởi giáp về quê, tìm cho hắn một nơi yên tĩnh hẻo lánh, để thảnh thơi mà uống rượu.”
“Nhiễm thay gia phụ tạ ơn Trương thúc phụ chỉ giáo!” Nguỵ Nhiễm vòng tay cảm tạ.
Khi Lãnh Hướng bẩm báo Hàn Tương Vương về tin nguy cấp vừa nhận được, Hàn Vương chết lặng vì kinh hãi, một miệng thịt hươu nghẹn lại trong cổ, khiến Hàn Vương gần như tắc thở. Sau một tràng ho dữ dội, mới tống được ra ngoài.
Tương Vương ôm ngực, vừa thở hổn hển vừa nhìn sang Lãnh Hướng: “Trương Nghi thì sao? Hắn nói sao?”
“Than ôi,” Lãnh Hướng thở dài một tiếng, ngẩng nhìn trời mà đáp, “chỉ mong trời cao phù hộ cho hắn bình yên vô sự!”
“Ý khanh là, Tần Vương sẽ giết hắn?” Tương Vương hỏi dồn.
“Chuyện Thương Quân năm xưa, đại vương hẳn là cũng biết.”
“Mau, cỏ lời mời công thúc!” Tương Vương lệnh cho nội thần.
Chỉ một lát sau, Công Trọng Xỉ đã có mặt.
Đối với nước Hàn, Nghi Dương nhất quyết không thể mất, không chỉ vì ô kim. Đất Hàn bị Hà Thuỷ chia thành hai phần nam bắc, phía bắc Hà Thuỷ là vùng Thượng Đảng, là đất phát tích của nước Hàn, phía nam Hà Thuỷ thâu tóm Tam Xuyên, bao bọc Lạc Dương, đây mới là lãnh thổ nước Hàn đúng nghĩa. Nghi Dương là tấm bình phong phía tây nước Hàn, Nghi Dương mà thất thủ, cả vùng Tam Xuyên trù phú, nhất là kinh đô ô kim Nghi Dương ở Lạc Xuyên và cố đô Dương Địch ở Nhữ Xuyên sẽ phơi bày ngay trước vó ngựa người Tần, không còn gì che chắn.
Tuy nhiên, trước bạo Tần lang sói, phải ngăn cản thế nào đây?
Nguy cấp nhất là, giống như Tần Vũ Vương đã nói, Hàn không nằm trong năm nước tung thân, đã thành con bò lẻ đàn!
Vua tôi ba người căng thẳng bàn bạc suốt hai canh giờ, vẫn chưa thể tìm ra kế sách nào khả dĩ.
“Binh tới tướng cản!” Công Trọng Xỉ nổi giận, “trước mắt không còn kế khác, chỉ còn cách liều một phen!”
“Liều thế nào?” Tương Vương nhìn sang hỏi.
“Bất luận thế nào, Nghi Dương cũng không thể mất!” Công Trọng Xỉ nói tiếp, “Nghi Dương hiện có ba vạn quân trấn thủ, cộng thêm hai vạn quân giữ ải, tổng cộng năm vạn. Theo ý thần, đại vương có thể điều ba vạn quân từ Thượng Đảng, điều ba vạn quân từ Trịnh Thành, cộng với quân ở Nghi Dương, gộp lại là mười một vạn, có thể quyết chiến với Tần! Vả lại, ta là chủ, được địa lợi! Trong thành Nghi Dương, dân chúng không dưới hai chục vạn, gia binh, trai tráng không dưới năm vạn, người Tần muốn một miếng nuốt trọn, đâu có dễ dàng!”
“Công thúc,” Tương Vương giọng cấp thiết, “việc chống Tần, xin giao phó cho chú!” Quay sang Lãnh Hướng, “ngoài dùng binh, Lãnh khanh hẳn có kế hay?”
“Thần thỉnh cầu đi sứ sang Nguỵ!” Lãnh Hướng vòng tay đáp.
“Đi sứ sang Nguỵ?” Tương Vương sửng sốt.
“Đại vương,” Lãnh Hướng tiếp lời, “người từng ở Hàm Dương nhiều năm, hẳn đã hiểu người Tần. Tần Vương hiếu võ, một khi khai chiến, sẽ đánh đến cùng, chỉ dựa vào sức của một mình nước Hàn, không thể địch nổi người Tần. Vậy nên hiện tại, đại vương nhất thiết phải tìm viện binh.”
“Thế nhưng Nguỵ Vương.”
“Thần đi sứ sang Nguỵ, không phải là thỉnh cầu Nguỵ Vương, mà là thỉnh cầu một người khác.”
“Hẳn là Tê Thủ?” Công Trọng Xỉ vội hỏi.
Lãnh Hướng lắc đầu.
“Vậy thì là ai?” Tương Vương ngạc nhiên.
“Tô Tần.” Lãnh Hướng cười buồn đáp lời, “năm nước kết minh ước tung thân ở Đại Lương, theo như tình thế trước mắt, đại vương duy có thỉnh cầu Tô Tần cho nhập tung thân, cùng chống cường Tần, mới là thượng sách!”
“Thế nhưng…” Tương Vương thở dài não nề, “than ôi, đều trách quả nhân, tự mình đi vào đường cụt!”
“Thần nguyện thử!” Lãnh Hướng vòng tay thỉnh cầu. “Quả nhân chuẩn tấu!” Tương Vương đứng dậy, khom lưng hành đại lễ với Lãnh Hướng, “Lãnh ái khanh, quả nhân và toàn bộ nước Hàn đều trông cậy vào khanh.”
Lãnh Hướng cũng đứng dậy, dập đầu mà nói: “Thần… xin tận lực!”
Tô Tần tới Đại Lương, chờ đón Trần Chẩn đi sứ Tần trở về.
Trần Chẩn tuổi tác đã cao, không kham nổi đường xa xóc nảy, đường về cũng không có gì vội vã, vừa đi vừa nghỉ, qua ải Hàm Cốc rồi vượt Hà Thuỷ lên phía bắc, tới An Ấp đi quanh một vòng ôn lại chuyện xưa, đứng trước lầu Nguyên Hanh hoang tàn đổ nát mà bùi ngùi xúc động một hồi, rồi mới quay lại đường Hàm Cốc, băng qua Lạc Dương tới Đại Lương, nơi đã hẹn gặp Tô Tần trước đó.
Khi Trần Chẩn tới, Tô Tần đã cung kính chờ sẵn. Trần Chẩn biết Tô Tần nôn nóng muốn biết chuyện Trương Nghi, nên chưa vội hồi báo sứ mệnh, mà kể ngay chuyện tới thăm Trương Nghi và viếng mộ Thương Quân cho Tô Tần nghe trước. Tô Tần khẽ thở dài một tiếng, rồi dẫn Trần Chẩn tới phủ tướng quốc gặp Công Tôn Diễn. Ba người đang bàn chuyện nước Tần thì môn nhân vào, trình lên bái thiếp, nói rằng đặc sứ của Hàn Vương Lãnh Hướng tới thăm.
Cả ba người đều lấy làm sửng sốt, đưa mắt nhìn nhau. Công Tôn Diễn ra đón, lát sau, dẫn Lãnh Hướng vào trong sảnh.
Lãnh Hướng hiển nhiên không ngờ trong sảnh lại có cả Tô Tần và Trần Chẩn, khựng lại một thoáng, rồi mới mỉm cười, vòng tay hướng vào Tô Tần: “Người Hàn Lãnh Hướng bái kiến Tổ đại nhân!”
Tô Tần đáp lễ: “Tô Tần bái kiến Lãnh huynh!”
Lãnh Hướng nhìn sang Trần Chẩn. Năm xưa khi Trần Chẩn đi sứ sang Tần, từng đến phủ Thương Quân, hai người cũng coi như biết mặt nhau.
“Người Hàn Lãnh Hướng bái kiến Trần đại nhân!” Lãnh Hướng vòng tay với Trần Chẩn.
“Trần Chẩn có lễ!” Trần Chẩn đáp lễ, “gặp nhau mới đó, chớp mắt đã gần ba mươi năm rồi!”
“Phải, hồi đó chúng ta còn trẻ!” Lãnh Hướng than thở.
Là chủ nhân, Công Tôn Diễn ngồi vào chiếu chủ, mời ba người ngồi xuống chiếu khách, sai quản gia chuẩn bị tiệc rượu.
“Lãnh huynh tới đây, thực quá bất ngờ!” Tô Tần mim cười, chỉ vào Công Tôn Diễn và Trần Chẩn, “không giấu Lãnh huynh, vừa hay chúng tại hạ đang bàn chuyện nước Hàn, tại hạ còn nói muốn sang Hàn một chuyến!”
“Tạ ơn chư vị nhớ tới nước Hàn!” Lãnh Hướng lại vòng tay.
“Nhìn Lãnh huynh ấn đường chau tít, hẳn là có chuyện?” Tô Tần nhìn Lãnh Hướng chăm chú.
“Tần Vương muốn phạt Hàn!” Lãnh Hướng chậm rãi đáp.
“A!” Cả ba người không hẹn mà đồng thanh kêu lên.
“Bái Cam Mậu làm tướng, khởi mười vạn quân, nói rằng công phạt Nghi Dương!”
Tô Tần nhìn sang Trần Chẩn.
“Ối chao!” Trân Chẩn lấy làm khó hiểu, “không giấu Lãnh huynh, tại hạ vừa từ Hàm Dương trở về, trước khi lên đường, còn… còn tới phủ Trương Nghi hỏi thăm, nào có thấy nhắc tới chuyện phạt Hàn!”
“Sau khi Trần đại nhân rời khỏi Hàm Dương, việc này mới định.” Lãnh Hướng thở dài rầu rĩ, kể lại đầu đuôi sự việc đã biết được qua lời Tiểu Thuận.
Tô Tần đương nhiên biết rõ Tiểu Thuận. Thấy Trương Nghi đã sắp đặt cho mẹ con Hương Nữ cùng cả nhà Tiểu Thuận sang Hàn, Tô Tần hiểu sự việc nghiêm trọng nhường nào, bất giác nhìn sang Trần Chẩn.
Trần Chẩn thở dài: “Tại hạ đã hết lời khuyên Trương Nghi rời Tần, mà hắn… than ôi!”
“Trương Nghi không phải không chịu đi, mà không đi được!” Lãnh Hướng giải thích, “giờ đây, nếu không có chỉ của Tần Vương, e rằng đến cổng thành Hàm Dương hắn cũng không ra nổi!”
“Chẩn đã biết trước kết cục này.” Trần Chẩn tiếp lời, “Chẩn đi khắp liệt quốc, nếm đủ mùi thế thái nhân tình, nếu nói về vô tình, không đâu bằng Tần thất. Thương Quân vì Tần lập công cái thế, mà rốt cục tiên Tần Vương còn không cho được chết toàn thây. Đó là Thương Quân chưa hề tạo phản, mà dù có tạo phản thực, mang công thể tội, cớ sao không thể giữ cho một mạng ? Giờ đây lại tới Trương Nghi. Than ôi, đáng tiếc thay, trước mộ Thương Quân, tại hạ đã nói hết nhẽ rồi, vậy mà…”
Tô Tần khép mắt, ngồi lặng hồi lâu, mới ngẩng đầu nhìn sang Lãnh Hướng, thình lình hỏi: “Lãnh huynh, việc đã tới nước này, xin hãy nói thực, huynh tìm tới đây, rốt cuộc là vì Tần hay vì Hàn?”
Tô Tần nói ra lời này, rõ ràng muốn nhắc tới việc Lãnh Hướng tới Uyển Thành du thuyết Cảnh Thuý làm hỏng chuyện của Sở. Lãnh Hướng trong lòng hiểu rõ, bèn vòng tay đáp: “Lần trước tới Uyển, là phụng mệnh Trương Nghi, vì Tần. Lần này tới Trịnh, cũng là phụng mệnh Trương Nghi, vì Hàn.”
Một câu trả lời không thể thẳng thắn hơn.
Tô Tần thất kinh, nhìn sang Công Tôn Diễn. Công Tôn Diễn cũng ngây người sửng sốt.
“Lãnh huynh,” Tô Tần hỏi tiếp, “khi tại hạ tới thăm huynh, mời huynh xuống núi, song huynh từ chối, nói rằng đã không màng thế sự, cớ sao lúc này lại can dự sự đời, lại còn nghe lệnh Trương Nghi?”
“Hướng không dám trái lệnh thầy.”
“Lệnh thầy?” Tô Tần vội hỏi, “dám hỏi Lãnh huynh, nhận ai làm thầy?”
“Thi Giảo.” Nhắc tới cái tên này, Lãnh Hướng ngửa lên trời mà vái.
Ba người lại một phen chấn động.
“Thi Giảo?” Công Tôn Diễn lẩm bẩm, “năm xưa từng nghe Bạch tướng quốc nhắc tới, rằng nhà ở Khúc Ốc đất Nguỵ, cùng với Vệ Ưởng đều là môn nhân của Công Thúc Toạ, sau khi Vệ Ưởng rời Tần, Thi Giảo không biết đi đâu, nào ngờ lại là sư phụ của Lãnh huynh!”
“Cũng là sư phụ của Thương Quân!” Lãnh hướng tiếp lời.
Ba người lại sững sờ kinh ngạc. Thương Ưởng tuổi tác tương đương Thi Giảo, mà lại là học trò của Thị Giảo, cũng tức là sư huynh đệ với Lãnh Hướng ít tuổi hơn nhiều.
Song chuyện đáng kinh ngạc vẫn không dừng ở đó.
“Pháp của Thương Ưởng,” Lãnh Hướng giọng vẫn bình thản, như thể đang kể lại một câu chuyện vặt chẳng can hệ tới mình, “kỳ thực đều xuất phát từ lời sư phụ, do tại hạ ghi chép thành văn, rồi Thương Quân chỉnh lý, dâng lên vua Tần để thực thi. Sau trận Hà Tây, Thương Ương trở thành Thương Quân, không nghe lời sư phụ nữa. Sư phụ dự cảm được điều gì, nên lẳng lặng bỏ Thương Quân mà đi, đến tại hạ cũng không một lời từ biệt, lãnh tới đất Ba, mới thoát kiếp nạn.”
Cả ba người kinh ngạc đến gần như chết lặng.
, “Nói như vậy,” Tô Tần vội hỏi, “Trương Nghi đã gặp Thi Giảo ư?”
“Phải,” Lãnh Hướng chậm rãi đáp, “khi Trương Nghi chinh phạt Ba Thục, sư phụ đã tới gặp Trương Nghi. Sư phụ tán thưởng Trương Nghi, giúp hắn diệt Ba, vậy nên Nghi truyền mệnh thầy, tại hạ không dám không nghe.”
Lãnh Hướng đã dốc hết lời gan ruột.
Ba người đều trầm ngâm suy nghĩ.
“Lãnh huynh,” Tô Tần lại hỏi, “Trương huynh muốn huynh tới đây, là vì việc gì?”
“Cứu Hàn!”
Tô Tần nhìn sang Công Tôn Diễn.
“Cứu Hàn không khó,” Công Tôn Diễn tiếp lời, “nhưng Hàn Vương phải nhập tung minh!”
“Hàn Vương cầu còn không được, mong Tô đại nhân cùng liệt quốc tung minh bỏ qua hiềm khích cũ, cho Hàn được nhập tung!”
Công Tôn Diễn nhìn sang Tô Tần.
“Tê Thủ, chỗ này đang réo gọi rồi,” Tô Tần nhìn ánh nắng chiếu chênh chếch vào trong cửa, vỗ bụng mà nói, “mải nghe Lãnh huynh nói chuyện, quá ngọ lúc nào không hay. Chuyện Hàn nhập minh, chúng ta ăn đã rồi tính.” Mọi người đều bật cười.
Phạt nước lớn, chuẩn bị ba năm.
Song Vũ Vương là người nóng nảy, chớ nói là ba năm, dù ba tháng cũng không đợi được. Cam Mậu tuy nói đã có trù bị, song sự trù bị ấy đã là từ nhiều năm trước, lúc này chỉ còn biết gấp rút huy động. May sao Tần pháp nghiêm ngặt, chỉ lệnh truyền xuống, không ai dám có nửa lời vào ra. Sau khi Cam Mậu thụ mệnh chưa đầy một tháng, bảy vạn quân Tần đã chia thành hai lộ, tiến tới lũng sông Lạc Thuỷ. Lộ thứ nhất là trợ công, chừng hai vạn bộ tốt, khởi binh từ Thương Thành, đi qua những thôn ấp mà người Tần đã chiếm cứ, men theo thung lũng sông Lạc Thuỷ tập kích Nghi Dương. Vùng thượng du Lạc Thuỷ rặt là núi cao vực sâu, có nơi không thể đi qua, phải dựng sạn đạo, vậy nên lộ quân này tiến khá chậm. Đi được nửa đường, lòng sông đủ sâu, quân Tần đóng bè mà đi, nhàn nhã lại nhanh chóng hơn nhiều, cũng tránh phải điều binh từ đất Thương vòng qua Lạc Xuyên cho xa xôi vất vả. Lộ thứ hai gồm năm vạn nhuệ binh do Cam Mậu làm chủ tướng, Doanh Hoa làm phó tướng, xuất phát từ Hàm Cốc, thẳng tới ải Hiệp Thạch.
Phía đông ải Hàm Cốc là một dải thung lũng phì nhiều, dân cư đông đúc, với hơn chục thành ấp lớn nhỏ như Tiêu, Thiểm, Khúc Ốc, Thạch Ấp, còn có hai bến đò là bến Mao Tân và bến Thái Dương, nối liền hai bờ nam bắc Hà Thuỷ, xứng là đầu mối giao thông quan trọng trên đường Hàm Cốc, thời Xuân Thu là lãnh thổ nước Quắc, về sau nước Quắc bị người Tấn mượn đường đánh Ngu rồi diệt luôn, sau đó lại quy về Nguỵ, vẫn nằm trong tay người Nguỵ tới tận bây giờ. Sau thời Thương Quân, Tô Tần hợp tung sáu nước, Bàng Quyên dẫn liên quân sáu nước phạt Tần thất bại, một phần thành ấp nơi đây bị người Tần chiếm mất. Sau đó Trương Nghi liên hoành với Nguỵ, Nguỵ Tần giao hảo, người Tần trả lại bến đò cùng với vài thành ấp đã chiếm như Tiêu, Thiểm cho Nguỵ, chỉ giữ lại một thành ấp là Khúc Ốc, và Khúc Ốc chính là con đường nối thông giữa ải Hàm Cốc tới ải Hiệp Thạch.
Kể từ ải Hiệp Thạch, đã là địa bàn của người Hàn, ải Hiệp Thạch cũng do người Hàn dựng nên.
Kế sách của Cam Mậu vẫn là dùng kỳ binh đột kích, bởi vậy, từ lúc thụ mệnh, Cam Mậu đã nghiêm cấm hé lộ chuyện phạt Hàn ra ngoài. Điều động tam quân cũng cực kỳ bí mật, đa phần hành quân trong đêm.
Thời điểm tập kích là qua canh tư, chưa đến canh năm, theo thường lệ, đây là lúc quân lính giữ ải mỏi mệt và rời rạc nhất.
Song khác hoàn toàn với dự liệu của Cam Mậu, người Hàn không những đã có phòng bị, mà người Tần vừa áp lại gần, lửa hiệu đã bùng lên lập tức, ngay sau đó đèn đuốc sáng rực tứ bề, cung nỏ rào rào bắn tới. Người Tần đang trên đà tập kích lại bị tập kích thình lình, toàn quân hỗn loạn, chết như ngả rạ.
Tướng tiên phong quân Tần thẹn quá hoá giận, thúc quân tấn công dữ dội. Trận chiến phá ải kéo dài từ mờ sáng tới tận đầu chiều, người Tần kéo tới mỗi lúc một đông, đổi tấn công trực diện sang đánh vu hồi, len lỏi theo đường mòn trên núi vòng qua cửa ải, đánh vào hậu phương, rồi lại từ hậu phương đánh vào sau ải. Vài nghìn quân Hàn giữ ải bị giáp công cả trước mặt sau lưng, đa phần tử chiến, ải Hiệp Thạch thất thủ.
Quân Tần ồ ạt qua ải, như nước thuỷ triều, tràn vào thung lũng Lạc Thuỷ.
Người Hàn ngoan cường kháng cự, vừa đánh vừa lui, dần dần lui tới vòng thành bên ngoài Nghi Dương.
Thành Nghi Dương là thành ấp phòng ngự trọng yếu ở phía tây nước Hàn, tường thành cao lớn vững chãi, hào thành sâu rộng, gần đây lại được gấp rút gia cố, càng thêm kiên cố, lương thảo quân nhu tích luỹ đầy đủ, nguồn nước dồi dào, khí giới sắc bén, tướng sĩ kiên cường, lại do tướng quốc Công Trọng Xỉ đích thân thống lĩnh, quả là sĩ khí ngất trời, vững như bàn thạch.
Nhìn từ địa thế, thành Nghi Dương nằm ở bờ nam Lạc Thuỷ, sau lưng dựa núi, trước mặt Lạc Thuỷ bao quanh, che chở cho thành. Người Hàn lại cho xây một vòng tường thành men theo bờ nam Lạc Thuỷ, tường thành tuy không cao, trên tường không thể đi lại, song nấp phía sau, vừa có thể tránh được mưa tên của đối phương, vừa có thể thừa cơ giết địch, làm chậm bước tiến của kẻ thù, giúp thành chính có thêm thời gian phòng thủ.
Tường thành này từ Lạc Thuỷ chạy dài lên tận triển núi sau thành Nghi Dương, hình thành một vòng tròn lớn dài hơn ba chục dặm, chính là phòng tuyến vòng ngoài của Nghi Dương. Canh giữ ở phòng tuyến này đa phần là cung thủ, nỏ thủ và lính trường thương, tên sắc cung cứng là binh khí chủ đạo. Sau lưng họ chừng hai dặm chính là thành Nghi Dương. Nếu người Tần đột phá được vòng ngoài, người Hàn sẽ rút vào trong thành cố thủ.
Trong thành Nghi Dương, tường thành cao rộng kiên cố, hào thành sâu rộng thênh thang, cổng thành vững chãi, ngoài lớp gỗ cứng còn gia cố thêm một tầng ô kim rất dày, khi đã đóng lại, không sợ lửa đốt, cũng không sợ công phá.
Có lương thảo quân nhu, có thành trì vững chãi, có binh khí lợi hại, người Hàn ở Nghi Dương không còn phải bận tâm gì khác.
Tuy nhiên, người Tần vẫn rất đáng sợ, huống hồ đương kim Vũ Vương còn gắn với truyền kỳ ba đại lực sĩ phá tan trận Sở trong cuộc chiến Đan Dương, giống như một đám mây đen úp chụp xuống đầu người Nghi Dương, khiến họ không khỏi bồn chồn căng thẳng.
Quả là vậy, sự dũng mãnh của người Tần đã vượt xa mường tượng của người Hàn. Chưa đầy ba ngày, vòng thành ngoài của Nghi Dương đã bị quân Tần ồ ạt vượt Lạc Thuỷ sang công phá, nhiều đoạn tường bị xô đổ, người Hàn còn chưa kịp rút lui toàn bộ, quân Tần đã tràn vào tựa thuỷ triều, xông thẳng tới cổng thành. Người Hàn khiếp sợ, vội kéo cầu treo, đóng kín cổng thành. Số ít quân Hàn chưa kịp rút vào trong, tháo chạy nháo nhào giữa hai vòng tường thành, chẳng mấy đã ra ma dưới mũi thương của người Tần. Vẫn còn không ít quân Hàn trấn giữ vòng thành ngoài tiếp tục dựa tường chống trả quyết liệt.
Quân Tần ập tới mỗi lúc một đông, phải tới hàng vạn, chiếm cứ địa thế có lợi bên trong vòng thành ngoài, tạo thành trận thế hai hướng, một hướng tấn công cổng thành, một hướng bao vây tiêu diệt lính Hàn sót lại bên ngoài. Còn đến vài nghìn lính Hàn đang bám trụ quanh vòng thành ngoài, quân Tần xông vào qua những chỗ tường đổ đã đông hơn hẳn, dựng thẳng khiên cứng, từng bước áp sát. Quân Hàn bắn tên sắc, song khiên của người Tần cứng rắn khác thường. Tình thế của quân Hàn vô cùng nguy cấp.
Quân Tần đã ép sát tới trước mặt, chuẩn bị một phen đồ sát thẳng tay, đúng vào lúc đó, cổng thành chính Nghi Dương thình lình mở rộng, cầu treo hạ xuống. Quân Tần công thành đang định thừa cơ cướp lấy cổng thành, thì từ bên trong bỗng lao vụt ra một hàng hơn chục cỗ xe chiến, nhanh như lốc cuốn, ầm ầm xông thẳng vào phía quân Tần đang dàn thành trận vuông chuẩn bị tấn công.
Quân Tần trở tay không kịp, hốt hoảng chạy tránh, song đã muộn rồi. Cỗ xe chiến đi đầu tựa mãnh thú điên cuồng, lao tới như chớp, trận hình máu thịt của người Tần đâu thể cản nổi, bị húc ngã hàng loạt, để những cỗ xe phía sau nghiến nát.
Do bị vòng tường ngoài và dòng Lạc Thuỷ chặn lại, nên quân Tần lọt được vào trong toàn là bộ tốt, trong khi chiến xa lại là khắc tinh của bộ binh.
Không chỉ có thế, chiến xa của người Hàn đều là loại đặc chế chuyên dùng để tấn công trận vuông của bộ binh, quân Tần chưa thấy bao giờ. Trước tiên là ngựa kéo xe, từ móng trở lên bọc giáp kín mít, chỉ lộ hai mắt, tên nhọn thương sắc đều không đâm thủng được. Tiếp đến là xe, thân xe rất nặng, bằng gỗ bọc sắt, trục xe đều bằng thép tinh, hai đầu trục nhô ra ngoài đến ba thước, cũng rèn bằng thép tỉnh, nhọn hoắt sắc bén, nối liền một thể với trục xe.
Loại xe này chuyên dùng để đâm húc. Trên xe chỉ có hai người, một là phu xe, hai là lính cầm thương kiêm phụ xe dự phòng.
Đoàn chiến xa nước Hàn nối đuôi nhau rầm rập xông vào trận quân Tần. Người đứng trên xe đi đầu, một thân áo giáp trắng loá, tay múa ngân thương, đâm lia lịa vào quân Tần đang chen chúc nháo nhào. Hơn chục chiến xa bám sát theo sau, tản ra như cánh quạt, nhanh như vũ bão. Nơi xe chiến băng qua, dù bộ tốt đã chạy dạt được sang bên cạnh cũng khó lòng tránh nổi hai mũi nhọn dài ba thước xoay tít hai bên trục xe, phàm ai vướng phải, không chết cũng trọng thương. Thế trận nan quạt của chiến xa Sở tả xung hữu đột trong trận một hồi, hầu như không một lính Tần nào ở gần chiến xa có thể sống sót.
Trước khí thế hung hãn của đoàn chiến xa quân Hàn, trường thương và khiên cứng của quân Tần đều không làm gì nổi, thế trận quân Tần nháy mắt đã tan vỡ, lính Tần bỏ chạy tán loạn, trở thành mồi truy kích của chiến xa Hàn.
Thấy phía quân Tần tháo chạy tan tác, trận khiên cũng hỗn loạn, quân Hàn đang bị bao vây lập tức phấn chấn đánh trả quyết liệt. Quân Tần không còn lòng dạ nào mà đánh, chen nhau chạy ra khỏi vòng tường ngoài.
Tuy nhiên, quân Tần chạy nhanh đến mấy cũng không thể nhanh bằng chiến xa tứ mã.
Trước đó, người Hàn đã cho san phẳng vùng đất trống giữa vòng tường ngoài và tường thành chính để thuận lợi cho chiến xa qua lại. Hơn chục cỗ chiến xa đầu tiên xông pha chưa được bao lâu, từ trong cổng thành lại âm âm lao ra một đoàn chiến xa còn đồng hơn nữa, nhập vào thế trận tàn sát bộ tốt nước Tần giữa hai vòng thành.
Quân Tần lần đầu tiên nếm mùi lợi hại của xe cứng nước Hàn, sau khi bỏ lại vài nghìn sinh mệnh, táo tác tháo chạy khỏi vòng tường ngoài. Quân Hàn trong thành thừa thắng xông ra truy sát, đuổi người Tần sang bên kia Lạc Thuỷ, rồi nhanh chóng tu bổ lại những đoạn tường thành đã bị phá huỷ.
Trận chiến này, người Hàn trước thua sau thắng, sau khi kiểm quân, giết được cả thảy hơn năm nghìn địch, phía quân Hàn tử thương hơn ba nghìn, chiến xa hỏng mất bảy cỗ.
Đêm xuống, trong phủ quận thú Nghi Dương, chủ tướng Công Trọng Xỉ ngồi nghiêm trang trên chiếu chủ, hơn chục viên tướng dàn hàng hai bên, ngồi ở đầu hàng chính là thiếu niên mặc áo giáp trắng dẫn đầu đoàn xe tiên phong xung trận lúc ban ngày.
Ngồi bên cạnh Công Trọng Xỉ là hai người, một là thương nhân cự phách trong thành Nghi Dương Bạch Hổ, một là công tử Hàn Lỗi, thú thừa huyện Nghi Dương.
Sau khi rời Nguỵ tới Hàn, Bạch Hổ kế thừa nghiệp cha, chuyên tâm vào việc kinh thương. Nhờ sự trợ giúp của chú Hoàng, trải hơn chục năm gian khổ, Bạch Hổ đã gây dựng lại cơ nghiệp của Bạch gia, gần nửa số lò luyện trong thành Nghi Dương dần dần trở thành gia sản của nhà họ Bạch, phần nhiều cửa hiệu trong thành Dương Địch đều có phần vốn của Bạch gia. Sau khi Công Tôn Diễn sang Hàn làm tướng quốc, đã cất nhắc Bạch Hổ làm tư đô. Tới khi Hàn Tương Vương tức vị, Công Tôn Diễn bỏ Hàn, Bạch Hổ cũng cáo quan từ chức, quay về tiếp tục nghiệp kinh thương tại Dương Địch, Nghi Dương.
Thiếu niên giáp trắng ngồi ở đầu hàng tướng quân, chính là Bạch Khởi.
Cậu bé Bạch Khởi năm xưa giờ cao lớn khôi ngô, sớm đã thành gia lập thất.
Thuở thiếu thời lớn lên bên cạnh Bàng Quyên, Tôn Tẫn, lại có được sáu chương Binh pháp Ngô Khởi Bàng Quyên tặng cho, vậy nên hoài bão của Bạch Khởi lại không phải là kinh thương hay làm quan giống như Bạch Khuê, Bạch Hổ, mà là xông pha trận mạc, làm một mãnh tướng giống như Ngô Khởi, Bàng Quyên, Tôn Tẫn. Nhưng vì là con trai độc nhất, Bạch Khởi không được tòng quân, vậy nên ước nguyện bình sinh chưa được mãn nguyện. Lần này người Tần xâm phạm Nghi Dương, trong thời khắc nguy cấp, Bạch Khởi đã lên cỗ chiến xa do chính mình thiết kế, dẫn đầu đội chiến xa Bạch gia, xông pha trận địch, phá giặc như chẻ tre, khiến Công Trọng Xỉ phải nhìn bằng con mắt khác. Đêm đó, Công Trọng Xỉ đã mời Bạch Khởi đến cùng bàn về việc phòng ngự, hơn nữa còn xếp chỗ ngồi ở vị trí đầu tiên trong hàng võ tướng.
“Bạch Công, chư vị tướng quân,” Công Trọng Xỉ vòng tay khắp lượt, “đại thắng hôm nay, ta đã làm suy yếu phần nhiều nhuệ khí của quân Tần, người lập công đầu, chính là Bạch thiếu gia đây. Tuy nhiên, quân Tần thế rất hung hãn, thành Nghi Dương tuy kiên cố, song ta cũng không được phép lơ là khinh địch. Nay bản tướng triệu chư vị tới đây, việc luận công khen thưởng hãy tạm để lại, trước mắt xin chư vị hãy hiến kế bày mưu, khắc phục những chỗ yếu ớt, không để người Tần thừa cơ lợi dụng.” Nhìn sang Bạch Hổ, “Bạch Công, xin hãy nói trước.”
“Chúng ta cùng là bảo vệ nước nhà, đều nên tận lực. Chiến tranh quan trọng ở lương thảo quân nhu, tại hạ chỉ có một lời, Bạch gia nguyện dốc hết vật lực, trợ giúp chư vị giữ thành. Còn như giữ thành như thế nào, xin cậy nhờ vào chư vị.” Bạch Hổ vòng tay đáp.
Công Trọng Xỉ vỗ tay, hân hoan đáp: “Bạch Công đã có lời hào sảng, chúng ta có thể yên tâm giữ thành! Còn giữ thành thế nào, chư vị hẳn có diệu kế?”
Chư tướng đưa mắt nhìn nhau.
“Khởi có lời muốn nói!” Bạch Khởi vòng tay lên tiếng.
“Bạch thiếu gia cứ nói!”
“Nhìn vào tình thế trước mắt, Khởi cho rằng, người Tần sẽ không dễ dàng lui binh, trận chiến Nghi Dương còn phải kéo dài. Phòng ngự lâu dài, quan trọng ở ba việc, thứ nhất là lương thảo, thứ hai là nước, thứ ba là khí giới. Trong thành ta, lương thảo đủ để cầm cự ba năm, không đáng lo; khí giới đầy đủ, cũng không đáng lo. Thứ đáng lo, là nước. Vòng thành ngoài không thể giữ lâu, nếu người Tần chiếm được vòng ngoài, khống chế nguồn nước của ta, thành trong sẽ không còn nước để dùng. Bởi vậy, Bạch Khởi có lời thỉnh cầu chủ tướng, hãy cho dân chúng đào nhiều giếng sâu, đề phòng vạn nhất.”
“Bạch thiếu gia nói rất phải!” Công Tôn Xi gật đầu khen ngợi, quay sang Hàn Lỗi, “việc đào giếng sẽ giao cho quận thú, lập tức tiến hành!”
“Còn nữa,” không đợi Hàn Lỗi kịp lên tiếng, Bạch Khởi nói tiếp, “thủ thành không ở thủ, công thành không ở công. Bởi vậy, Bạch Khởi xin có lời với chủ tướng, cùng với việc phòng thủ thành trì, có thể cho đào một đường hầm bí mật, thông tới Tây Sơn. Có đường hầm này, thứ nhất ta có thể qua lại với bên ngoài bất cứ lúc nào; thứ hai, có thể thừa cơ điều động nhuệ binh, xuất quỷ nhập thần, quấy nhiễu quân địch, khiến chúng ăn không ngon ngủ không yên.”
Rõ ràng, đây là một kế sách cực kỳ táo bạo.
Công Trọng Xỉ nhìn Bạch Khởi chăm chú hồi lâu, quay sang vòng tay với Bạch Hổ, rồi mới nói với Bạch Khởi: “Bản tướng quyết định sẽ tấu thỉnh đại vương, nhiệm Bạch thiếu gia đây làm quân uỷ Nghi Dương, ngay ngày mai bắt đầu chức trách, thống lĩnh chư tướng, bảo vệ Nghi Dương, chờ vương mệnh tới nơi sẽ chính thức nhiệm mệnh!”
Công Trọng Xỉ bổ nhiệm tức thời một vị thiếu gia phú hộ chưa từng đầu quân làm thủ lĩnh chư tướng, khiến hết thảy tướng quân có mặt đều sững sờ kinh ngạc. Nhưng chỉ chốc lát sau, tiếng vỗ tay đã vang dội như sấm. Thứ nhất, Bạch gia là cự phú, có Bạch Khởi làm quân uý ở đây, chư tướng sẽ có chỗ dựa vững chãi. Thứ hai, trận chiến ban ngày, chư tướng đều đã tận mắt chứng kiến, nếu không nhờ Bạch Khởi dũng mãnh mở cổng thành ứng cứu, phía Hàn sẽ không thể thắng trận, vài nghìn lính Hàn ở vòng thành ngoài cũng không còn cơ may sống sót.
Bạch Khởi khuỵu một gối quỳ xuống, hành đại lễ: “Bạch Khởi thụ mệnh. Tướng quốc hậu đãi nhường này, Khởi dù thịt nát xương tan cũng nguyện báo đáp!”
“Chư vị tướng quân,” Công Trọng Xỉ nói tiếp, “người Tần thất tín bội nghĩa, muốn chiếm Nghi Dương, đoạt Tam Xuyên của ta. Nay ta phòng thủ Nghi Dương, là việc liên quan tới vận nước, tới xã tắc, vậy nên cực kỳ hệ trọng. Bản tướng ngay sáng sớm mai sẽ quay về Trịnh Đô, tập hợp binh mã từ Thượng Đảng, Hổ Lao, Trịnh Thành, gấp rút tới Nghi Dương, quyết chiến với Tần! Còn nữa, người Tần bội tín, phá vỡ minh ước, nên đại vương ta đã nhập tung trở lại, liệt quốc tung thân không thể không xuất binh tương trợ, chư vị cứ an tâm giao chiến, cho Tần kia thấy được chí khí của người Hàn ta!”
Chúng tướng cùng thề, sau đó trở về, ai vào việc nấy. Sáng sớm hôm sau, Công Trọng Xỉ được chúng vệ sĩ bảo vệ, đi theo đường núi sau thành hiện vẫn trong tay người Hàn, đánh xe cấp tốc về đông.
Cùng lúc này, trong ánh bình minh rực rỡ, từ một cây to trong thành Nghi Dương bay vút lên một con chim lớn, sau khi chao liệng vài vòng trên không, liền sải cánh bay về phía tây.
Nước Hàn thỉnh cầu nhập tung trở lại là điều Tô Tần sớm đã dự liệu. Tô Tần chỉ không ngờ, người Hàn lại quyết đoán chóng vánh đến vậy, và người đề xuất, lại là Trương Nghi.
Xem ra, mối bất hoà giữa Trương Nghi và tân Tần Vương quả thực không nhỏ. Về chuyện này, Tô Tần cũng đã lường trước, vậy nên mới nhờ Trần Chẩn đi sứ sang Tần. Tuy nhiên, phải làm thế nào mới cứu được Trương Nghi ra khỏi nước Tần đây?
Chỉ có một cách duy nhất, chính là hợp sức tung thân, đánh bại nước Tần.
Chỉ có đánh bại nước Tần, Tần Vũ Vương mới hiểu, chỉ cậy vũ lực là vô ích, mà quay sang đối xử tử tế với Trương Nghi. Giờ đây xem ra, dù không chính thức thừa nhận, song Trương Nghi đã hiểu rõ đại cục tung hoành mà Quỷ Cốc tiên sinh đã dạy, cũng đã hiểu rõ nỗi khổ tâm của Tô Tần, bằng không, Trương Nghi đã chẳng sai Tiểu Thuận bí mật truyền tin cho Hàn. Đợi qua kiếp nạn trước mắt, huynh đệ hai người đồng tâm hiệp lực hoàn thành thế cờ thiên hạ của Quỷ Cốc tiên sinh, chuyện này lại không phải không thể.
Lần này tung thân năm nước, Tô Tần đã có được giáo huấn từ lần trước, không còn mơ mộng xa xôi, mà thực tế hơn nhiều, chi tiết hơn nhiều. Hợp tung là để chế Tần, vậy nên Tô Tần mới chọn nước Nguỵ làm cứ điểm kháng Tần, đặt ti tung thân của liệt quốc tại kinh đô Đại Lương nước Nguỵ, Nguỵ Tương Vương cấp cho Tô Tần hẳn sáu toà đại trạch dành cho cấp thượng khanh nằm kề nhau, mỗi toà là một đại viện năm dãy, vốn do vương thất xây dựng, mỗi toà chiếm năm mẫu đất, sau đó cho sửa sang lại, hợp thành một toà trạch phủ đồ sộ rộng ba chục mẫu, xây lại cổng chính, từ xa nhìn lại, chỉ thấy toà ngang dãy dọc nguy nga, khí thế hùng vĩ, có giáp sĩ cung Nguỵ canh gác ngày đêm. Trên cổng treo tấm biển lớn, chữ đề trên biển là thủ bút của đại nho thiên hạ Mạnh Kha, “Nha phủ Ti tung thân liệt quốc thiên hạ”. Tô Tần lại sai người chiêu mộ hơn trăm người trẻ tuổi có chí với đại nghiệp tung hoành từ trong học cung Tắc Hạ, không giới hạn học phái, dựa theo sở trường mà giao cho các việc khác nhau. Trong sáu toà đại trạch, đã cho năm nước tung thân mỗi nước một toà lập thành tỉ phủ, cử đặc sứ nước mình tới cai quản. Một toà còn lại là để dành cho nước Hàn, lúc này đặc sứ nước Hàn Lãnh Hướng đang ở đó.
Mọi việc của tung minh đều do ti tung thân tiếp quản, nên việc của liệt quốc được xử lý chóng vánh hơn nhiều.
Tuy nhiên, xuất binh cứu Hàn lại không phải chuyện đơn giản. Nước Triệu đang vướng chuyện Trung Sơn, chưa thể rảnh tay. Nước Yên còn chưa phục hồi nguyên khí. Nước Nguỵ giáp ranh nước Tần, vẫn phải lo lắng phòng xa. Có thể điều động lúc này, chỉ có thể là Tề và Sở.
Thế nhưng, Sở, Tần vừa mới giảng hoà trở lại, người Sở lại đã trải qua ba trường đại chiến với Tần, nguyên khí tổn thương nghiêm trọng, dù có xuất binh, cũng chỉ là chiếu lệ. Nước có thể chặn đứng khí thế của Tần, duy chỉ có Tề. Khuông Chương dễ thuyết phục, cốt yếu là cần du thuyết Mẫn Vương.
Muốn du thuyết được Tề Vương xuất binh cứu Hàn, chỉ có thể do Tô Tần đích thân xung trận.
Trước khi sang Tề, Tô Tần đã cho Lãnh Hướng quay về thuyết phục Hàn Vương trả lại toàn bộ đất đai của Sở mà Hàn đã chiếm trong trận phạt Sở lần trước, gồm cả Diệp Thành. Hàn Vương đã chấp thuận, song yêu cầu Sở Vương xuất binh trước, nước Hàn sẽ trả đất sau. Sở Hoài Vương vẫn chưa nguôi ngoai mối hận với Tần, lập tức chiếu mệnh cho tướng giữ Uyển Thành là Cảnh Thuý dẫn năm vạn quân đất Uyển tới Lỗ Quan, phô trương thanh thế cứu viện cho Hàn.
Sắp xếp xong xuôi mọi chuyện, Tô Tần giao ti Tung thân cho Công Tôn Diễn cai quản, sai Trâu Phi Đao đánh xe, lên đường tới Lâm Truy.
Tin xấu truyền về Hàm Dương mỗi ngày một nhiều. Trước tiên là công thành Nghi Dương bất lợi, khổ chiến hơn một tháng trời, thương vong suýt soát hai vạn, mà mới chỉ đột phá được vài chỗ thành ngoài, vòng thành ngoài vẫn chưa thể kiểm soát hoàn toàn, do quân Tần thường xuyên bị các cánh quân Hàn tập kích sau lưng, chống đỡ không xuể. Cam Mậu buộc phải soạn tấu, nhờ công tử Hoa quay về Hàm Dương xin thêm viện binh. Tiếp đến, Đại Lương gửi hịch văn tới khắp liệt quốc, chiêu thị thiên hạ, rằng nước Hàn đã nhập tung thân cùng liệt quốc, kết minh tại Đại Lương, liệt quốc tung thân đã quyết cứu Hàn chế Tần.
Cho đến lúc này, Vũ Vương dường như cũng đã nhận thấy bản thân hành sự lỗ mãng, nên lại triệu tập trọng thần, bàn kế ứng phó.
Trọng thần trong buổi triều nghị lần này, không có Trương Nghi và Nguỵ Chương. Nguỵ Chương một tháng trước đã cởi giáp từ quan, xuống phía nam tới Ba Sơn ở ẩn. Hồi chinh phạt Ba Thục, Nguỵ Chương thích cảnh non xanh nước biếc đất Ba, cũng kết giao không ít bằng hữu người Ba, giờ tới đất Ba an hưởng tuổi già, cũng là thoả nguyện. Trương Nghi cáo bệnh, nhờ Tử Vân chuyển lời.
Không có Trương Nghị và Cam Mậu, bầu không khí thành ra dễ thở hơn nhiều. Vũ Vương nhất quyết phạt Hàn, quần thần không bàn đến việc đánh Hàn nữa, mà quay sang bàn luận phải ứng phó thế nào với tung minh của Tô Tần.
Ứng phó với Tô Tần, không thể thiếu Trương Nghi. Vậy nên quần thần bàn đi bàn lại, vẫn không thể không nhắc đến Trương Nghi.
Vũ Vương sắc mặt tối sầm.
Vũ Vương giải tán triều nghị, chỉ giữ lại Doanh Hoa. “Thưa chú,” Vũ Vương nhìn thẳng vào Doanh Hoa hỏi, “chú hãy nói thực, muốn chống Tô Tần hợp tung, phải chăng nhất định phải dùng đến Trương Nghi?”
“Hồi bẩm đại vương,” Doanh Hoa ngẫm nghĩ chốc lát, rồi trầm giọng đáp, “dưới gầm trời này, người hiểu Tô Tần, không ai hơn được Trương Nghi. Tô Tần hợp tung, Trương Nghi dùng kế liên hoành đối phó, hiện tại xem ra, không có đối sách nào hay hơn được.”
“Nếu Trương Nghi chết đi thì sao?” Vũ Vương cất giọng lạnh lẽo, “lẽ nào nước Tần sẽ phải bó tay chờ chết?”
“Bẩm đại vương,” Doanh Hoa rùng mình ớn lạnh, lặng đi một lát mới đáp, “dù Trương Nghi có chết, đối sách của hợp tung, vẫn là kế liên hoành. Giá trị của Trương Nghi là ở sách lược, mà giá trị của sách lược là ở thực thi.”
“Hợp tung thì sao?” Vũ Vương nhân đà hỏi tiếp, “nếu như Tô Tần chết đi?”
“Cũng tương tự. Thương Quân lập ra Tần pháp, Thương Quân chết đi, Tần pháp vẫn còn.”
“Quả nhân lại thấy khác đấy!” Vũ Vương nhìn chằm chằm vào Doanh Hoa, “Thương Quân chết đi, để lại một bộ Tần pháp, Tần pháp là thứ nhìn thấy được, nên có thể thực thi. Còn kế liên hoành của Trương Nghi thì sao? Có gì để lại? Chỉ rặt những lời nói suông! Tô Tần cũng vậy.”
Hiển nhiên, Vũ Vương đã chỉ ra được điều cốt lõi.
Vũ Vương tiếp lời: “Thiên hạ tung hoành bao năm, chú đã nhìn rõ cả rồi. Vậy chú hãy nói xem, tung sách của Tô Tần là gì? Là hợp tung sáu nước. Hợp tung sáu nước để làm gì? Để hợp thành đại lực, chống lại Đại Tần ta, chế ngự Đại Tần ta. Cớ sao lại phải hợp sức chế Đại Tần tạ Bởi Đại Tần ta là nước lang sói. Song mấu chốt là làm thế nào để hợp tung được sáu nước? Tô Tần không nói, cũng không để lại một chữ nào giảng giải về việc ấy. Sở dĩ sáu nước có thể hợp tung, là nhờ một mình Tô Tần bốn ba qua lại, là nhờ vào tài khua môi múa mép của hắn. Không có Tô Tần, sáu nước không thể thành tung. Vậy làm thế nào để phá giải tung thân sáu nước? Đối sách của Trương Nghi là liên hoành. Thế nào là liên hoành? Liên hoành chính là lần lượt phá vỡ quan hệ tung thân, khiến các nước không thể kết thành sức lớn. Song mấu chốt là Tần phải làm gì để khiến các nước tung thân tan rã? Trương Nghi không nói, cũng không để lại một chữ nào. Sở dĩ Yên, Tề, Nguỵ, Hàn có thể thành hoành, là nhờ một mình Trương Nghi bôn ba qua lại. Không có Trương Nghi, bốn nước không thể thành hoành.”
“Phải, đại vương nói đúng lắm.”
“Nếu đã là vậy, trừ khử Tô Tần chẳng phải xong chuyện rồi ư?” Vũ Vương gần mạnh từng tiếng.
Công tử Hoa hít ngược vào một hơi, rồi nhắm mắt lại.
“Thiên hạ không có Tô Tần, sẽ không có hợp tung thiên hạ không có hợp tung, Trương Nghi kia sẽ thành vô dụng. Hắn vô dụng ở Tần, thì sẽ an tâm ở lại bên cô của ta, sống bình yên cho đến cuối đời, phải chứ?”
Công tử Hoa vẫn nhắm mắt, không đáp lời.
“Chủ Hoa?” Vũ Vương nhìn xoáy vào Doanh Hoa, gọi giật.
“Nếu vậy, thắng không uy vũ!” Công tử Hoa gần như nặn ra một câu.
“Này chú,” Vũ Vương lớn giọng, “thế nào là vũ? Vũ chính là sức mạnh đao thương, là giao tranh trực diện! Tô Tần kia có uy vũ không? Cớ sao lại không dám giao tranh trực diện? Hắn hợp sức thiên hạ chế ngự Đại Tần ta, như thế mà gọi là vũ ư? Như thế gọi là cậy nhiều đánh ít! Mặc gia đã nói thế nào? Đông không được khinh ít! Hắn bôn tẩu đông tây, xúi bẩy bốn bề, khua môi múa mép, như thế mà gọi là vũ ư? Tô Tần nếu có bản lĩnh, hãy lại đây khiêu chiến với ta! Quân chủ sáu nước nếu có bản lĩnh, hãy lại đây khiêu chiến với ta. Có thể kéo nhau cùng tới, dùng vũ đối vũ, lẽ nào quả nhân phải sợ.”
“Đại vương,” công tử Hoa mở mắt, vòng tay mà nói, “theo như thần biết, Tô Tần có không ít Mặc giả đi theo hộ vệ, còn có khá nhiều thị vệ túc trực ngày đêm, muốn trừ người này, không phải chuyện dễ. Nên thần thỉnh cầu đại vương hãy tính kế lâu dài!”
“Những lời này, sao nghe không giống như lời của chú?” Vũ Vương sắc mặt âm trầm, “trong mắt quả nhân, chú xưa nay dám nghĩ dám làm, chưa từng nhắc tới khó dễ. Nếu là chuyện dễ, quả nhân còn hỏi riêng chú làm gì? Ta bỏ ra vô khối tiền tài để lập đài nuôi điêu để làm gì?” Chợt đổi giọng chậm rãi, “việc của Tô Tần, không phải bàn nữa, quả nhân giữ chú lại, chính là vì chuyện này. Doanh Hoa nghe chỉ!”
Công tử Hoa vòng tay: “Thần nghe chỉ!”
“Trong vòng ba tháng, quả nhân mong nhận được tiệp báo của Hắc Điểu đài.”
Công tử Hoa hít ngược một hơi lạnh toát, hồi lâu sau, mới vòng tay đáp: “Thần thụ mệnh!”
“Còn nữa,” Vũ Vương trầm giọng, “nếu Tô Tần không chết, quả nhân sẽ dỡ bỏ Điều đài, toàn bộ hắc điêu trong nhiệm vụ này sẽ bị xử trí theo Tần pháp!” Dừng lại một thoáng, bồi thêm một câu, “đương nhiên, chú là ngoại lệ!”
Công tử Hoa quay về phủ, trong lòng muốn mối tơ vò, ngồi rầu rĩ suốt một đêm dài, hôm sau trời vừa hửng sáng bèn đánh xe tới núi Chung Nam, vào thẳng Hắc Điêu đài.
Thiên Hương đã từ đất Sở quay về. Người có thể gánh vác trọng trách này, cũng chỉ có Thiên Hương.
Công tử Hoa truyền xong chỉ dụ, Thiên Hương sững sờ kinh hãi, như không dám tin chuyện này là thật.
“Than ôi,” công tử Hoa thở dài, “tiên vương di cốt còn chưa lạnh, đại vương đã nôn nóng công phạt Nghi Dương, giờ đây lại…” Cúi đầu rầu rĩ.
“Kim điêu,” Thiên Hương trầm ngâm hồi lâu, mới nhìn thẳng vào Doanh Hoa mà hỏi, “đại vương nói gì Thiên Hương cũng mặc, Thiên Hương chỉ nghe lời kim điêu, người lệnh giết ai, Thiên Hương sẽ giết người đó!”
“Than ôi,” Doanh Hoa lại thở dài, “tiên vương mấy lần muốn giết Tô Tần, nhưng đều không nỡ. Vì sao không nỡ. Vì tiếc tài. Tiên vương hiểu Tô Tần, cứ hối hận mãi vì đã bỏ không dùng. May sao trời không phụ Tần, lại đưa Trương Nghi tới. Một người hợp tung, một người liên hoành, chia loạn tượng thiên hạ làm hai. Chỉ vỏn vẹn có mười mấy năm, liệt quốc đã kinh qua bao sự biến long trời lở đất. Có Tô Tần, liệt quốc vẫn trật tự trong hỗn loạn; có Trương Nghi, nước Tần không hề kém thế. Giờ thì, than ôi, tiên vương dứt áo ra đi, đại vương một mực cậy mạnh, trọng dụng Nhậm Bi, Ô Hoạch, đã không hiểu Trương Nghi, cũng không hiểu Tô Tần, càng không hiểu trí của thiên hạ. Cứ thế về sau, nước Tần nguy mất. Tâm huyết bao năm của tiên tổ, tiên vương, sẽ bị huỷ hoại trong một sớm. Ta, ngươi, cùng vô số tử sĩ tuẫn quốc, cũng sẽ uổng hoài huyết hãn mà thôi.”
“Đây là số mệnh!” Thiên Hương đáp lời, “số mệnh đã định, sức người không thể thay đổi. Như Thiên Hương đây, sinh ra vốn là công chúa, chưa kịp thành niên đã nước mất nhà tan, cha mẹ anh em đều vong mạng, lưu lạc làm thân nô tỳ. Thiên Hương không cam chịu nhục, liều chết trốn vào trong núi, gặp được cao nhân Tây Vực, truyền cho tuyệt kỹ. Hay tin em gái bị bán sang Tần, bôn ba tới cứu, nào ngờ hỏng việc, sa vào tử lao. Ngờ đâu mạng này chưa đến lúc tuyệt, được chúa công cứu sống, mới có ngày nay. Còn như ngày mai ra sao, Thiên Hương chưa từng nghĩ tới. Tất cả đều là định mệnh, có nghĩ nhiều cũng là vô ích. Nếu đã vô ích, kim điêu hà tất phải lao tâm?”
“Là ta thấy tiếc cho Tô Tần, cho Trương Nghi. Trời sinh anh tài, cũng đố kỵ anh tài!”
“Người đại vương muốn giết là Tô Tần, chứ đâu nói muốn giết Trương Nghi!” Thiên Hương kinh ngạc hỏi.
“Than ôi, Thiên Hương, ngươi không hiểu hai người họ. Tô Tần không còn, cũng không còn Trương Nghi nữa.
“Chúa công nói phải. Có điều, đây cũng là số mệnh. Ví như Thương Quân, gặp được tiên Hiếu Công, là số mệnh của Thương Quân. Gặp phải tiên vương, cũng là số mệnh của Thương Quân. Tô Tần Trương Nghi, cũng như vậy cả.” Thiên Hương chậm rãi đứng dậy, “Thiên Hương tuân mệnh, lập tức thực thi chỉ lệnh của đại vương.”
Lúc Thiên Hương sắp bước ra khỏi cửa, bỗng nghe công tử Hoa gọi giật sau lưng: “Thiên Hương!”
Thiên Hương dừng bước. Doanh Hoa không ngửng đầu, cũng không nói gì. Thời gian như ngưng đọng.
Không biết đã qua bao lâu, Doanh Hoa vẫn ngồi yên bất động, chỉ bật ra một tiếng: “Đi đi!”
Thiên Hương rảo bước đi ngay, xa lắm rồi còn nghe phía sau vẳng lại một tiếng thở dài nặng trĩu.
Trời đã chớm đông, mây đen từ biển Bắc trôi về kéo theo gió bắc lạnh buốt, băng qua mặt biển, từ mé đông bắc ào vào Lâm Truy.
Tề Mẫn Vương di giá Tuyết cung, đóng kín cửa điện, đốt sẵn than lửa ấm sực, chờ đợt mưa tuyết đầu tiên của năm nay đổ xuống.
Tuyết còn chưa rơi, đã thấy Điên Văn dẫn Tô Tần, Lãnh Hướng tìm tới tận cửa.
Tô Tần và Lãnh Hướng sang Tề cầu viện, ở Lâm Truy đã hơn hai chục ngày rồi, song Mẫn Vương vẫn im lặng, chưa nói một lời, không khước từ, cũng không đồng ý xuất quân cứu Hàn. Tô Tần hiểu rõ khúc mắc ở đâu, đang lúc nước sôi lửa bỏng, bèn dứt khoát kéo theo Điền Văn, cùng Lãnh Hướng tới tận cửa cầu kiến.
Người lên tiếng cầu viện, đương nhiên phải là Lãnh Hướng.
“Sứ Hàn,” Lãnh Hướng còn chưa nói hết, Tề Mẫn Vương đã xua tay cắt lời, “việc của nước Hàn, quả nhân đã hiểu, song hưng binh động chúng đâu phải chuyện chơi, nói đi là đi ngay được. Sứ Hàn hãy tạm quay về trạm dịch, để quả nhân cân nhắc một hai rồi sẽ định đoạt, được chăng?”
Thấy Tề Vương đã nói vậy, Lãnh Hướng chỉ còn biết cảm tạ, chầm chậm cáo lui.
“Tô Tử,” thấy sứ Hàn đã đi xa, Tề Mẫn Vương nhìn sang Tô Tần, “vừa hay quả nhân cũng đang định tìm khanh để hỏi chuyện này. Lần trước bốn nước phạt Sở, Hàn được Phương Thành, Uyển Thành, Nguỵ cũng được lợi không ít. Quả nhân cùng phạt Sở, không phải vì lợi, mà là rửa hận cho tiên vương. Sau đó Sở Vương cầu hoà, quả nhân tin lời Tô Tử, mới cùng Sở, Yên giảng hoà, cộng thêm Triệu, Nguỵ, kết thành tung minh. Thiên hạ năm nước đã tung thân, duy chỉ Hàn Vương khăng khăng hoành Tần. Nay Tần đánh Hàn, Hàn Vương không cầu cứu Tần mà lại tìm tới tận cửa cầu cứu quả nhân, chuyện này có hợp lý chăng? Theo ý Tô Tử, giờ quả nhân nên cứu hay không nên cứu?”
“Thần cho rằng, đại vương nên cứu!”
“Vì sao quả nhân nên cứu?” Tề Mẫn Vương nhún vai hỏi.
“Vì nếu đại vương không cứu, không còn ai cứu?”
“Cớ sao phải cứu?”
“Là bởi ba điều. Thứ nhất, tiên Tề Vương đã từng cứu người Hàn, vả lại khi cứu người Hàn, lương thảo quân nhu bị thiêu huỷ toàn bộ, tổn thất rất nhiều binh lính. Nay nếu đại vương không cứu, thì tiên vương coi như đã cứu uổng công. Thứ hai, người Tần trước đánh bại Nguỵ, sau đó đến Triệu, tiếp nữa đến Sở, người Hàn càng không phải nói, trong liệt quốc tung thân, người Tần duy chỉ kiêng nể người Tề. Nay nếu đại vương không cứu, e rằng không còn ai cứu được. Thứ ba, Hàn Vương tin theo người Tần, liên hoành với Tần, nào ngờ lại bị đồng minh tấn công, đau lòng khôn xiết, giờ đã hồi tâm chuyển ý, cùng ta nhập tung minh. Nước Hàn đã nhập tung minh, chính là nước tung thân bằng hữu, nên chiếu theo minh ước, đại vương nên xuất binh tương trợ.”
“Nếu đã chiếu theo minh ước, phải là liệt quốc tung thân cùng xuất binh, Tô Tử kiên trì đợi ở Lâm Truy… chẳng phải quá ư phi lý?”
“Hồi bẩm đại vương,” Tô Tần đáp lời, “Sở Vương đã hứa xuất binh, Nguỵ Vương cũng đã nhận lời, Triệu Vương tuy đang vướng bận Trung Sơn, cũng nguyện xuất binh trợ Hàn. Còn về tình hình nước Yên, đại vương hẳn đã hiểu rõ. Nếu đại vương nhất quyết muốn Yên cũng phải xuất binh, thần sẽ thỉnh cầu Yên Vương, tin rằng nước Yên sẽ tuân theo minh ước!”
“Nếu là như vậy,” Tề Mẫn Vương chép miệng vài cái, quả nhân sẽ xem lại chuyện này.” Dừng lại một thoáng, khẽ ngả người lại hỏi, “phải rồi, vừa nãy Tô Tử có nói, Triệu Vương vướng bận việc Trung Sơn, quả nhân cũng đang có việc phải bận rộn! Triệu Vương vì Trung Sơn mà xuất binh hai chục vạn, cộng thêm năm vạn quân Yên. Nước Tống không nhỏ hơn nước Trung Sơn, người Tống cũng không ít hơn người Trung Sơn, quả nhân ít cũng cần đến ba chục vạn quân, nên số quân có thể điều động thực sự không được bao nhiêu. Có điều, Triệu Vương đã đồng ý xuất binh, quả nhân cũng sẽ đồng ý. Triệu Vương điều bao nhiêu quân, quả nhân cũng sẽ điều động bấy nhiêu binh, được chứ?”
“Thần dám hỏi đại vương,” Tô Tần nhìn thẳng vào Mẫn Vương, “trong tung thân, đại vương thực sự muốn ngang hàng với Triệu Vương ư? Nếu quả là vậy, thần đã hiểu rồi. Thần xin cáo lui.” Nói đoạn đứng dậy toan đi.
“Ồ, Tô Tử,” Triệu Vương vội vã ngăn lại, “hãy nói thử xem, không ngang hàng sẽ là thế nào?”
“Thiên hạ hiện tại, thứ để so bì là thế lực mạnh yếu. Tần dựa vào bốn ải, chiếm trọn Ba Thục, thực thi Tần pháp hà khắc, tính khí tàn nhẫn, chính là nước sài lang. So với bạo Tần, sáu nước đều yếu, vậy nên thần mới đề xướng hợp tung, để chế Tần mạnh. Sáu nước tung thân, ngoài mặt không phân chủ thứ, bên trong thì sao? Nước có lớn nhỏ, thế có mạnh yếu, người có đông ít, kiểu gì cũng phải có kẻ dẫn đầu. Khi mới tung thân, thế Nguỵ mạnh nhất, dẫn đầu đương nhiên là Nguỵ Vương. Sau đó thế Nguỵ suy yếu, thế Sở mạnh lên, dẫn đầu là Sở Vương. Giờ đây, người Sở kinh qua ba trường đại chiến, đại bại cả ba, cho nên vị trí dẫn đầu này…” Tô Tần dừng lại một thoáng, chậm rãi thở ra một hơi dài, “đại vương quả thực muốn nhường cho Triệu Vương ư?”
Tề Mẫn Vương chìm trong suy nghĩ.
“Triệu Vương chí ở Trung Sơn, được một góc đã mãn nguyện rồi. Chí của đại vương, lẽ nào cũng ở một góc? Nước Tống đã là vật trong túi đại vương, Triệu, Yên, Nguỵ, Sở, Hàn đều không can dự, đại vương muốn đưa tay lấy lúc nào tuỳ thích. Còn như dẫn đầu sáu nước, hiệu lệnh thiên hạ, lẽ nào đại vương chưa từng nghĩ tới?”
“Hiệu lệnh thiên hạ?” Tề Mẫn Vương nhắm mắt hồi lâu, khoé miệng từ từ nhếch lên thành một nụ cười, “Tô Tử nói thì hay đấy. Tự cổ chí kim, giao chiến đều vì lợi ích. Năm xưa Tô Tử hợp tung, tiên vương nghe theo, không tiếc nhân lực vật lực, trước là cứu Triệu, sau lại cứu Hàn, cùng Nguỵ đại chiến hai lần, đều thắng trận, song quân ta tử thương vài vạn, lương thảo quân nhu hao hụt vô số, lại còn khiêu khích quân Tần vượt đường nghìn dặm tới công phạt ta. Đại Tề ta tổn thất nghiêm trọng, đã có được lợi ích gì? Không gì hết! Kẻ được lợi là Triệu, là Hàn, là Sở. Triệu giữ được Hàm Đan, Hàn giữ được xã tắc, Sở chiếm được Tương Lăng! Tô Tử nay lại hợp tung, minh ước còn chưa ráo mực, đã dẫn sứ Hàn tới cầu cứu quả nhân, muốn quả nhân lại xuất binh, lại giao chiến với Tần, Tô Tử nói xem, quả nhân nên nghe theo Tô Tử ư, hay là…” Ngả người ra phía sau, cất giọng thăm dò.
“Than ôi,” Tô Tần thở dài mà đáp, “đại vương đã được lợi lớn, mà giờ đây lại không nhắc lấy một chữ, khiến Tần thật đau lòng!”
“Quả nhân được lợi gì kia?” Tề Mẫn Vương ngỡ ngàng.
“Thiên hạ sợ Tề!” Tô Tần nhìn thẳng vào Mẫn Vương, “võ binh Đại Nguỵ vốn mạnh nhất thiên hạ, giao chiến với Tề, hai trận đều bại. Tần là nước sài lang, thiên hạ đều khiếp sợ, cũng bại trước Tề. Bốn nước phạt Sở, cục diện giằng co bế tắc, quân Tề chỉ cần một trận, Sở liền chiến bại liên hoàn. Đại vương, thiên hạ hiện tại, không ai không nể sợ Tề, quân Tề tới đâu, không ai cản nổi, đây là cái lợi to lớn nhường nào, mà đại vương lại chưa từng nghĩ tới? Thần dám khẳng định, đại vương không cần phải quyết chiến với Tần, chỉ cần xuất binh trợ Hàn, quân Tần tự khắc không đánh mà lui!”
“Tô Tử,” Mẫn Vương cười gượng mà đáp, “tài biện luận của khanh, quả nhân không bì kịp. Có điều việc này…” Vẫn hết sức ngập ngừng.
“Thần tạ ơn đại vương quá khen!” Tô Tần vòng tay đáp, “có điều, đại vương hẳn là không biết, thứ thần dựa vào, không phải biện tài, mà là lý lẽ. Đại vương có thể không nghe thần, có thể không cứu Hàn, có thể mặc kệ người Tần đánh đoạt Nghi Dương, đạp bằng Tam Xuyên, thôn tính Chu thất, dời cửu đỉnh về Hàm Dương, định Càn Khôn nơi…”
“Gì kia,” Tề Mẫn Vương bật ngồi thẳng dậy, “khanh nói người Tần muốn dời cửu đỉnh về Hàm Dương?”
“Là Tần Vương nói vậy.”
“Doanh Đãng nói với Tô Tử chuyện này ư?”
Tô Tần lắc đầu.
“Không phải hắn nói, cớ sao Tô Tử biết được?”
“Thần ở trong núi, theo Quỷ Cốc tiên sinh học nghệ, luyện được dị thuật, mắt có thể nhìn xa nghìn dặm, tại có thể nghe thấu vạn dặm, tâm có thể thông với tâm của Tần Vương. Thần không chỉ biết Tần Vương muốn dời cửu định về Hàm Dương, mà còn biết người Tần muốn diệt sáu nước, khiến cả thiên hạ đều mặc áo Tần, múa nhạc Tần, đi xe Tần, ăn thóc Tần, và quan trọng nhất là đều theo pháp Tần!” Dừng lại một chốc, Tô Tần hạ giọng nói tiếp, “xin nói một câu bất kính, người thiên hạ đó, đương nhiên gồm cả đại vương, nếu khi ấy đại vương may mắn còn sống sót.”
“Thật hão huyền!” Tề Mẫn Vương vỗ mạnh xuống án. “Không hề hão huyền, mà Tần Vương trước giờ vẫn đang thực thi!” Tô Tần rút trong ống tay áo ra một cuốn Thương Quân thư, “đây là cuốn sách Thương Quân viết cho tiên Tần Vương trước khi bị năm xe phân thây, đại vương đọc rồi, hoặc giả sẽ biết thần không nói xằng!” Rồi hai tay dâng lên.
Tô Tề Mẫn Vương nhận lấy Thương Quân thư, mở ra liếc qua, rồi ném toẹt xuống án, chau mày quay sang Tần: “Quả nhân gần đây có một tật xấu, rất ghét đọc sách, có điều sách này là do Tô Tử mang tới, quả nhân nhất định sẽ đọc!” Rồi vòng tay, “việc của nước Hàn, tạm dừng ở đây, chờ quả nhân cân nhắc đôi chút, sẽ lại bàn cùng Tô Tử.”
“Tạ ơn đại vương!”
Tô Tần vẫn sống ở trạch viện trong Tắc Hạ. Vừa bước vào cửa, Trâu Phi Đạo thình lình trông thấy Thu Quả đang ngồi đó, bên cạnh có Mộc Hoa bồi tiếp.
Kỳ thực không phải bồi tiếp, mà là canh chừng.
Thu Quả phục sức theo kiểu thư đồng người Sở, thanh thoát gọn gàng, không thể nhận ra nàng đã ngoài ba mươi tuổi.
Thấy Tô Tần vào cửa, Thu Quả liền quỳ xuống dập dầu sát đất: “Nghĩa nữ Thu Quả khấu khiến nghĩa phụ!”
“Thu Quả đấy ư? Thực không ngờ lại là con!” Tô Tần mừng rỡ ra mặt, “hãy mau đứng dậy!”
Thu Quả bèn đứng lên.
Thấy Mộc Hoa cũng có mặt, Trâu Phi Đao bèn quay ra ngoài, tuần tra một lượt xung quanh, thấy không có người nào khác mới quay trở vào, đứng canh trong cửa.
“Thu Quả, mau kể cho cha nghe, những năm qua con đã đi đâu? Nghĩa phụ vẫn luôn mong nhớ con!” Tô Tần ngồi xuống chiếu chủ, mời Thu Quả ngồi vào chiếu khách.
Thu Quả ngồi xuống, không nói năng gì, chỉ nhìn Tô Tần đăm đăm.
Rất lâu, rất lâu sau, ánh mắt Thu Quả vẫn không mảy may dịch chuyển, vẫn dán chặt vào khuôn mặt Tô Tần.
“Mộc Hoa,” Tô Tần rất vui vẻ, quay sang dặn Mộc Hoa, “hãy đi chuẩn bị chút đồ ăn, ta muốn trò chuyện với Thu Quả một lát!”
Mộc Hoa vẫn ngồi im.
“Đi đi, Mộc Hoa, bảo đầu bếp làm thêm vài món!”
Mộc Hoa do dự một lát, mới từ từ đứng dậy, đi ra.
“Ở đây không còn ai khác, hãy nói đi, Thu Quả.” Tô Tần mỉm cười, nhìn vào phục sức của nàng, “sao lại ăn bận thế này?”
“Bẩm nghĩa phụ,” Thu Quả lúc này mới lên tiếng, “Thu Quả đang làm thư đồng cho người ta!”
Tô Tần bật cười: “Ai mà có phúc lớn nhường vậy?”
“Thái tử nước Sở Mị Hoành.”
Nụ cười trên môi Tô Tần vụt tắt. Tô Tần nhìn sững vào nàng, hít ngược một hơi, hồi lâu sau mới khẽ gật đầu, hỏi: “Thái tử… đối đãi với con tốt chứ.”
“Tốt!”
“Con tới tìm nghĩa phụ, thái tử biết không?”
Thu Quả lắc đầu.
“Con đi bao lâu rồi?” Tô Tần hỏi.
“Đã ba canh giờ!”
“Con không về, liệu thái tử có.”
“Con không về nữa!”
“Ồ?” Tô Tần nhìn sững vào Thu Quả, “chẳng phải… con đang là thư đồng của thái tử ư?”
“Con đã nhận được một sứ mệnh mới.”
“Nói cho nghĩa phụ được chăng?”
“Con tới đây chính là để nói cho nghĩa phụ!”
“Ồ?” Tô Tần kinh ngạc, nhìn nàng chăm chú, thấy trong mắt nàng từ từ ứa lệ, bất chợt rùng mình ớn lạnh, “Thu Quả?”
“Nghĩa phụ…” Thu Quả quỳ xuống, bật khóc.
“Là giết nghĩa phụ chăng?” Tô Tần khẽ hỏi.
“Điêu đài muốn giết nghĩa phụ, theo chỉ lệnh của đại vương!”
Tô Tần khép mắt lại.
“Nghĩa phụ…” Thu Quả ghìm giọng, khẽ tới mức gần như không nghe thấy, “người không thể thoát khỏi tay họ được đâu!”
“Bao giờ ra tay?” Tô Tần bình thản hỏi lại. “Nghĩa phụ…” Thu Quả nức nở.
“Có thể cho nghĩa phụ thêm vài ngày?” Tô Tần mở mắt, nhìn nàng chăm chú, “nghĩa phụ còn một việc lớn cần làm nốt.”
“Thu Quả biết, nhưng họ… sẽ không để cho người thực hiện!”
“Con tới để làm việc này ư?”
“Nghĩa phụ,” Thu Quả nghẹn ngào, “người là nghĩa phụ của con, vậy nên Thu Quả… Thu Quả. …”
“Thu Quả, hãy đợi nghĩa phụ viết xong một cuốn sách thôi, được chứ?” Tô Tần như thể khẩn cầu.
“Không phải, nghĩa phụ,” Thu Quả vội vã phân trần, “Thu Quả… Thu Quả không muốn người chết, Thu Quả tới đây… vì muốn nói cho nghĩa phụ biết, để phía chú Trâu… cảnh giác đề phòng. Còn nữa, người phải có hộ vệ, càng đông càng tốt… Bọn họ… không từ thủ đoạn…”
“Thu Quả, nghĩa phụ… tạ ơn con!” Tô Tần đã hiểu ra, xúc động ứa lệ, đưa hai tay nâng Thu Quả dậy.
“Nghĩa phụ…” Thu Quả oà lên khóc, nép vào lòng Tô Tần, hệt như một đứa trẻ đang hờn tủi.
Nghe thấy tiếng khóc, Mộc Hoa vội bước vào, trông thấy cảnh này, lại lui ra.
Cơm đã dọn lên, Thu Quả lại không ăn, chỉ ghé tai nghĩa phụ dặn dò thêm vài câu nữa rồi cúi đầu đi thẳng.
Thấy Thu Quả đã đi xa, Tô Tần mới kể lại toàn bộ sự tình với Trâu Phi Đao.
Trâu Phi Đao lập tức bảo Mộc Hoa truyền tín hiệu, báo tin cho các cao thủ Mặc môn quanh đó nhanh chóng tập hợp về Tắc Hạ, âm thầm bảo vệ tầng tầng lớp lớp xung quanh phủ trạch của Tô Tần. Cùng lúc đó, Tô Tần cũng báo tin cho Khuông Chương, Khuông Chương lập tức phái tới mười cao thủ võ thuật cùng sáu cung thủ thiện xạ trong quân, đổi sang thường phục, bí mật bảo vệ trong ngoài trạch phủ Tô Tần. Vì muốn tránh hiềm nghi cho Thu Quả, nhìn từ bề ngoài, phủ Tô Tần vẫn không có gì khác thường, bên cạnh Tô Tần vẫn chỉ là mấy cận vệ quen thuộc như Trâu Phi Đao, Mộc Hoa, Mộc Thực.
Dưới sự bảo vệ nghiêm mật và tận tuỵ của chúng Mặc gia, Tô Tần giam mình trong thư phòng, lúc thì trầm ngầm mặc tưởng, lúc lại múa bút như bay. Với Tô Tần, thời gian dường chưa bao giờ quý báu như bây giờ.
Thu Quả lang thang thơ thẩn bên ngoài tới tận tối mịt, mới bước vào một khách điếm bên ngoài cổng chính Tắc Hạ.
Khách điếm rất lớn, song bên ngoài lại treo một tấm bảng, “hết phòng trọ”.
Thu Quả đi thẳng vào trong, được dẫn vào một gian phòng kín đáo.
Ngồi đợi trong phòng, là Thiên Hương.
“Gặp rồi chứ?” Thiên Hương liếc nhìn Thu Quả, giọng lạnh tanh.
“Vâng.” Thu Quả thẫn thờ đáp.
“Thế nào?”
“Gầy đi.”
Thiên Hương nhìn xoáy vào nàng, hồi lâu sau, mới khẽ thở dài mà nói: “Thu Quả, chị hiểu lòng em, nhưng em cũng biết, hắn phải chết!”
“Vâng!”
“Bên hắn có bao nhiêu người?”
“Không nhiều.”
“Bao nhiêu?”
“Bảy, tám người.”
“Là những ai?”
“Vẫn là đám chú Trâu, cùng một vài người không quen mặt.”
"Hôm nay hắn tới Tuyết cung!” Thiên Hương kể cho nàng nghe, “đi cùng còn có sứ Hàn Lãnh Hướng, tướng Tề Điền Văn, hẳn là muốn thỉnh cầu Tề Vương xuất binh cứu Hàn!”
“Vâng!”
“Chị nghĩ kỹ rồi, vẫn sẽ là em!” Thiên Hương cất giọng dứt khoát, “hai ngày nữa, em lại tới đó, nói rằng không biết đi đâu, xin nương tựa chỗ hắn, rồi chờ cơ hội ra tay.”
“Em…” Thu Quả ứa lệ.
“Thu Quả!” Thiên Hương khẽ khàng nắm lấy tay nàng, “chị hiểu, nhưng thân là hắc điêu, chúng ta không còn lựa chọn. Chúng ta phải giữ lời thề!”
“Vâng!”
“Không chỉ là thể,” Thiên Hương nói tiếp, “người nhà chúng ta đều ở Hàm Dương, nên thân chúng ta đâu thuộc về mình?”
“Vâng!”
“Em có sợ chết?” Thiên Hương rút ra tấm điêu bài, chợt hỏi.
“Vâng!”
“Chị cũng sợ.” Thiên Hương lại nói, “nhưng con người ai rồi chẳng chết, chúng ta cũng phải vậy thôi!”
“Vâng!”
“Đợi việc đã thành,” Thiên Hương điềm đạm nói tiếp, “hãy dùng nó để lên đường. Mở nó ra, chạm lưỡi một cái, là xong, hoàn toàn không đau đớn.”
“Vâng!”
“Tối nay và tối mai, em hãy ngủ lại chỗ chị, để chị chăm sóc cho em!”
“Vâng!”
Thu Quả ngủ hai đêm trong phòng Thiên Hương, tới ngày thứ ba lại tới phủ trạch của Tô Tần, ở đó vài ngày, rồi lại quay về khách điểm.
Thấy nàng quay về, Thiên Hương biết rằng việc chưa thành, không hỏi gì thêm, chỉ bảo nàng ngồi xuống, nắm tay vỗ về.
“Thưa chị,” Thu Quả điềm đạm giải thích, “chú Trâu đề phòng em, không cho em lại gần nghĩa phụ, nên em.”
“Chị cũng nghĩ vậy.” Thiên Hương mỉm cười, “mấy hôm nay hẳn là em ngủ không ngon giấc, giờ thì hãy nghỉ ngơi đi.”
Thu Quả đúng là rất mệt, vừa nằm xuống giường đã ngủ thiếp đi.
Thấy nàng ngủ đến mê mệt, Thiên Hương khẽ thở dài một tiếng, đứng dậy đi ra khỏi phòng.
Phủ trạch của Tô Tần, bề ngoài có vẻ êm ả vô sự, song trong chỗ khuất, nơi nơi gươm tuốt cung giương. Từ khi Mẫn Vương lên ngôi, học cung Tắc Hạ đìu hiu hơn hẳn, nhưng mấy hôm nay bỗng chộn rộn khác thường, chỗ nào cũng thấy những khuôn mặt lạ lẫm. Vừa bước chân vào Tắc Hạ, một bầu không khí hết sức kỳ dị lập tức ập vào trước mặt, đến cả lũ chó chạy rông trên đường cũng cụp đuôi lấm lét, ánh mắt nhớn nhác đầy vẻ bất an.
Tề Vương vẫn ở trong Tuyết cung.
Tuyết cung là biệt cung được dựng vào thời Tề Uy Vương, nằm ngoài cổng đông thành Lâm Truy, bên bờ đông Truy Thuỷ. Vào mùa đông, gió tuyết từ đông bắc thổi lại, cổng thành đông thường sẽ đón tuyết trước tiên, vì thế còn gọi là Tuyết môn, biệt cung ngoài cổng đông do đó cũng lấy tên là Tuyết cung.
Cũng vì chữ tuyết đó mà Tuyết cung được xây dựng làm nơi thưởng tuyết và tránh rét, vách tường dày dặn, cửa sổ kín bưng, lò than rất lớn. Do ở ngoài thành, nên tuy gọi là cung, thực chất lại giống như thành, xung quanh có tường cao hào sâu che chở. Mỗi khi Tề Vương giá đáo, binh lính sẽ tăng gấp đôi, canh gác cực kỳ nghiêm mật.
Lúc này tuyết chưa rơi, tiết trời ấm áp trở lại, lò than trong cung vẫn cháy bừng bừng, khiến khắp trong cung ấm sực.
Giờ Thân đã qua, sắc trời dần tối, Tề Mẫn Vương bỏ áo cừu, chỉ khoác áo mỏng mùa thu, nhìn cuộn thẻ tre bày trên án, hai mắt ánh lên những tia hưng phấn. Trên thẻ tre rành rành ba chữ Thương Quân thư.
“Tướng quốc,” Mẫn Vương nheo nheo mắt, nhìn sang Điền Văn ngồi hầu bên cạnh, “cuốn sách này, khanh đã từng đọc?”
Điền Văn lắc đầu.
Kỳ thực Điền Văn đã đọc ngay từ hội thề Nghiệt Tang, song lúc này không tiện khoe khoang.
Tề Mẫn Vương bật cười vài tiếng, thu lại ánh nhìn, vui vẻ mà nói: “Sách này đáng để khanh đọc, khanh hãy đọc đi, đọc cho thật kỹ.” Rồi ngoảnh nhìn ra ngoài sân, “Thương Quân kia bị xử hình năm xe phân thây, cũng đáng lắm. Nếu ở chỗ quả nhân, xử như vậy vẫn còn quá nhẹ. Hãy xem kẻ đó viết gì? Đại khái là trị dân có năm cách, một là khiến dân đồng nhất, hai là khiến dân yếu, ba là khiến dân mệt, bốn là khiến dân nhục, năm là khiến dân nghèo. Thế có khác nào coi dân như súc vật mà nuôi Trị dân như vậy, đâu hợp với giáo huấn của thánh nhân Chỉ riêng chuyện làm trái giáo huấn của thánh nhân, đã đáng trị tội. Còn nữa, hãy nghe kẻ đó nói gì? Nước lấy dân lành trị dân gian, ắt loạn, rất yếu. Nước lấy dân gian trị dân lành, ắt trị, rất mạnh’, đó là cái lý gì? Trị nước không dùng dân lành mà dùng dân gian, đúng là loạn thần tặc tử, đáng xử lăng trì! Cứ theo như đó, thì Thương Ưởng kia trước tiên đã coi chính mình là dân gian rồi đó. Và còn thuyết ‘sát lực nữa, mới gian tà làm sao! Khanh hãy nói xem, một kẻ quái đản nhường này, cớ sao lại được tiên Tần Công trọng dụng?”
“Thần ngu độn, xin đại vương chỉ giáo!” Điền Văn biết rõ Mẫn Vương đã có chủ kiến, nên vòng tay cất giọng khiêm nhường.
“Quả nhân thoạt tiên cũng không hiểu, sau mấy ngày nghiền ngẫm, mới bừng tỉnh ra. Kế nhất dân của Thương Quân, kỳ thực chính là sách lược ngu dân, nhược dân, bất lợi cho dân Tần, bất lợi cho cả thiên hạ, cũng bất lợi cho chính Thương Quân, duy chỉ có lợi cho một kẻ, chính là Tần Công.”
“Ồ…” Điền Văn tỏ vẻ băn khoăn, “pháp này cũng bất lợi cho chính Thương Quân, cớ sao ông ta vẫn chế định pháp này?”
“Bởi vậy kẻ này mới đáng giết!” Mẫn Vương phá lên cười sảng khoái, “có điều, pháp của Thương Quân cũng không phải tất cả đều phi lý, khanh cứ mang về đọc cho kỹ, xem có chỗ nào hợp với người Tề, hợp với đạo thánh nhân, đạo cai trị xưa nay, đều là lấy trường bù đoản!”
“Thần tuân mệnh!”
“Chế độ nước Tề, chỗ nào cần sửa thì vẫn nên sửa. Bất luận thế nào, nếu chỉ có lợi cho thần dân mà bất lợi cho quân chủ, cũng không hợp lý. Ví như câu này, “tăng nặng hình phạt, ban thưởng cẩn trọng, thì quân chủ yêu dân, dân sẵn sàng chết vì quân chủ; khen thưởng hậu hĩnh, giảm nhẹ hình phạt, thì quân chủ không yêu dân, dân cũng không muốn chết vì quân chủ, câu này của Thương Quân rất hay. Khanh về rà soát lại xem, pháp chế của ta, phải chăng đang thưởng hậu mà phạt nhẹ? Nếu quả là vậy, cần sửa lại ngay.
“Thần tuân mệnh.”
“Còn nhiều chỗ đáng xem nữa, quả nhân không phải rườm lời, khanh hãy tự mình cân nhắc. Hôm nay quả nhân triệu khanh tới đây, là vì chuyện của nước Hàn. Mấy ngày qua, quả nhân mỗi lần đọc sách này, đều có điều cảm ngộ. Cảm ngộ lớn nhất, đó là Tần thực thi pháp này, dân ắt yếu ớt, nước ắt cường thịnh. Nước mạnh, sẽ phải sát lực, tức sát phạt ra ngoài. Lực sẽ phát tới đâu? Tới liệt quốc thiên hạ. Liệt quốc là Nguỵ, là Hàn, là Sở, là Triệu, người Tần đều đã lần lượt sát phạt, lần trước chẳng phải còn đánh tới trước cửa Đại Tề ta. Tần mỗi lần sát phạt, sức mạnh lại tăng lên một bực. Ta với Tần tuy cách núi ngăn sông, song môi hở răng lạnh, đến khi người Tần đánh diệt xong các nước lân bang của ta, sẽ lớn mạnh vô địch, than ôi, quả nhân lúc đó…” Mẫn Vương sắc mặt đầy lo lắng.
“Đại vương nhìn xa trông rộng, quả là bậc thánh minh!” Điền Văn vòng tay nói.
“Có điều, việc của nước Hàn, cũng không đơn giản chỉ là xuất binh!” Mẫn Vương tiếp lời, “quả nhân muốn nghe ý của khanh?”
“Hồi bẩm đại vương,” Điền Văn lại vòng tay đáp, “việc trị quốc an dân, đại vương có thể hỏi thần. Còn việc tung hoành liệt quốc, đại vương nên hỏi Tô Tần!”
“Phải lắm.” Mẫn Vương quay sang nội thần, “có lời mời Tô Tần, bày dạ yến, ca vũ.”
“Thần tuân chỉ!”
Xe của Tuyết cung từ cổng đông băng ngang qua thành Lâm Truy đi sang phía tây, khi đến Tắc Hạ đã là chập tối.
Cung lại truyền chỉ dụ, giục Tô Tần nhanh chóng lên xe, nói rằng Tề Vương đã cho bày dạ yến, đang chờ Tô Tần tại Tuyết cung. Tô Tần hiểu, lần này tới đó, dứt khoát vì chuyện của nước Hàn, lại còn bày tiệc thết đãi, Mẫn Vương hẳn là đang vui.
Tô Tần cất những thẻ tre đã viết vào trong rương, khoá lại, trên rương đề năm chữ “Khuông tướng quân thân khải”13, rồi ung dung đi ra, đang định bước lên xe thì Trâu Phi Đao ngăn lại.
Trâu Phi Đạo bảo một Mặc giả ngồi lên xe của Tuyết cung, lại cho vài Mặc giả khác theo sau xe tháp tùng, để xe đi trước. Chờ đến khi sắc trời tối hẳn, Trâu Phi Đao mới cùng đám cao thủ Mộc Hoa, Mộc Thực hộ vệ Tô Tần đi qua cổng sau, tới một con ngõ khuất nẻo.
Một cỗ xe tứ mã đã chờ sẵn tại đó.
Trâu Phi Đạo cùng Tô Tần ngồi vào trong xe, phu xe đánh ngựa, chầm chậm ra phố. Họ không đi đường lớn, mà theo ngõ nhỏ tới Tuyết cung. Đám Mặc giả Mộc Hoa, Mộc Thực cùng hơn chục cao thủ do Khuông Chương phái tới âm thầm theo sau một đoạn.
Bên ngoài Tuyết môn chừng hơn ba trăm bước là sông Truy Thuỷ, có nhịp cầu đá bắc ngang, cầu không rộng, đủ cho vương xa đi qua, cũng miễn cưỡng vừa đủ chỗ cho hai cỗ xe lớn tránh nhau. Qua cầu đá, rẽ qua hai khúc ngoặt nữa là tới Tuyết cung.
Tuyết cung vốn cao lớn nguy nga, lại được dựng trên nền đất đầm cao hơn hai trượng, nhìn về phía đó, chỉ thấy một khối đen nhô cao sừng sững phía trời đông.
Sắc trời đã tối mịt, mây đen bảng lảng, che khuất một vầng trăng khuyết và một trời sao đáng lẽ phải mọc rồi.
Xe tứ mã sắp sửa lên cầu, Trâu Phi Đao chợt hô dừng, cẩn trọng quan sát xung quanh, thấy không có gì khác lạ, trên cầu vắng tanh không một bóng người, phía bên kia cầu yên ắng, dưới cầu nước lặng như gương, hai bên lan can đá cũng không có gì khả nghi.
Thấy trời đã muộn, lại nghĩ Tề Vương đang chờ trong cung, Tô Tần khẽ giọng thúc giục: “Trâu huynh, dọc đường vô sự, phía trước đã là Tuyết cung, hẳn không có chuyện gì được. Vả lại, chẳng phải xe kia đã về tới nơi rồi?”
“Chúa công,” Trâu Phi Đao khẽ nói, “theo ý thuộc hạ, ta hãy xuống xe, cho xe không đi qua. Nếu không có chuyện gì, ta sẽ mau chóng qua cầu.”
Tô Tần gật đầu, rút bảo kiếm khỏi vỏ, nhảy xuống xe. Trâu Phi Đao cũng xuống xe, căn dặn phu xe vài câu, phu xe liền ra roi lao về phía cầu đá.
Cầu đá khá dài, chừng hơn ba trăm bước, song cỗ xe lao đi rất nhanh, nháy mắt đã qua cầu bình yên vô sự. Trâu Phi Đao thấy vậy, mới cùng đám Mộc Hoa, Mộc Thực bảo vệ Tô Tần cùng rảo bước lên cầu.
Cỗ xe tử mã phía trước vừa xuống khỏi đầu cầu bên kia, thình lình từ phía cung Tuyết có một cỗ cung xa lao lại, chắn giữa đường đi. Xe tử mã chưa kịp dừng lại, đã nghe tiếng phu xe rú lên thảm thiết. Ngay sau đó, vài bóng đen bay vụt vào trong xe tứ mã, chỉ nháy mắt đã từ trong xe lộn ngược trở ra, nhảy vụt lên cầu đá, chặn ở đầu cầu, nhưng không xông lên cầu.
Trâu Phi Đao hiểu, hắc điêu đã tới.
Bốn người đã đi đến giữa cầu, toan chạy ngược lại, thì phía đầu cầu sau lưng vụt ra nhiều bóng đen hơn nữa, có tiếng tên sắc rít gió bay tới. Mộc Hoa chưa kịp trở tay, hi lên một tiếng, trúng tên ngã nhào. Trâu Phi Đao vội ấn Tô Tần ngã xuống, cùng Mộc Thực bò rạp sát đất, nhanh chóng di chuyển về phía lan can.
Năm bóng đen lao tới như bay.
Chỉ nghe “vút vút” mấy tiếng, cả năm bóng đen theo nhau ngã xuống mặt cầu.
Là Trâu Phi Đạo cùng Mộc Thực đã kịp phóng phi đao hạ sát.
Mộc Thực vội lay Mộc Hoa.
“Mọi người đi mau, bên này đông, bên kia ít, Mộc Hoa sẽ chặn ở đây!” Mộc Hoa giọng rất yếu ớt, rõ ràng đã bị trọng thương.
Trâu Phi Đao khế giọng: “Mộc Thực, bảo vệ chúa công, ta qua cầu trước mở đường, ngươi bảo vệ chúa công theo sau!”
Lời vừa dứt, từ phía đầu cầu lại thấy bảy tám bóng đen vụt lại. Trâu Phi Đao lập tức phóng phi đạo liên tiếp.
Bóng đen đi đầu ngã gục, những bóng đen theo sau vọt tới trước mặt nhanh như ánh chớp. Mộc Thực nhảy bật dậy, vung kiếm đón đánh, đâm trúng một tên. Tên thứ hai trúng phi đao của Trâu Phi Đao, rú lên ngã nhào. Còn lại một kẻ bị Tô Tần lăn tròn dưới đất chém ngang một kiếm, đứt lìa một chân. Kẻ đó ngã xuống, song vẫn trở kiếm đâm Tô Tần, nào ngờ trúng ngay một kiếm của Mộc Hoa từ sau lưng đầm tới.
Ngay lúc đó, từ phía Tuyết môn có tiếng đao kiếm sát phạt vọng lại, là đám Mặc giả tuỳ tùng cùng cung uý cũng đang ứng chiến hắc điêu.
Hắc điêu tràn tới mỗi lúc một đông, chỉ chốc lát, trong phạm vi vài trăm bước từ cổng thành đến đầu cầu đã biến thành một sa trường hỗn chiến.
Trâu Phi Đao vụt đứng dậy, cao giọng hét lớn: “Có thích khách! Có thích khách…” Vừa hô hoán, vừa phi thân về đầu cầu phía đông.
Đầu cầu phía đó cũng nhô ra vài bóng đen. Đang đà lao tới, Trâu Phi Đao bất đồ thụp xuống, lăn đi lông lốc, mấy tiếng vun vút vang lên, vài mũi phi đao xé gió phóng đi liên tiếp, cả mấy bóng đen theo nhau đổ gục. Thế nhưng cũng có một mũi phi tiêu bắn lại, trúng người Trâu Phi Đao.
Trâu Phi Đạo chỉ còn lại một mũi phi đao cuối cùng. Song Trâu Phi Đao không kịp phóng phi đao nữa.
Hai bóng đen đã lao tới trước mặt. Trâu Phi Đao tung người bật dậy, mũi kiếm đâm trúng một tên, song lưỡi kiếm trên tay tên còn lại cũng chém trúng Trâu Phi Đao. Cùng lúc đó, tay trái Trâu Phi Đao vung lên, mũi phi đạo cuối cùng lập tức cắm phập ngay họng đối thủ.
Tất cả diễn ra chỉ trong nháy mắt, ba thân người đồng thời ngã gục.
Vẫn còn ba bóng đen nữa lao lên cầu đá, xông thẳng tới chỗ Tô Tần và Mộc Thực.
Mộc Thực phóng liền hai mũi phi đao, hạ được hai kẻ, nhưng lại đồng thời trúng hai phi tiêu từ phía hắc điêu phóng lại.
Mộc Thực ngã gục xuống đất, dồn hết chút hơi sức cuối cùng nói với Tô Tần: “Chúa công… nhảy… xuống…”
Song Tô Tần không nhảy xuống khỏi cầu mà gầm lên một tiếng, vung kiếm lao thẳng vào bóng đen cuối cùng trên cầu.
Kẻ kia đợi Tô Tần xông tới trước mặt, mới vụt cái né sang bên cạnh, Tô Tần chỉ thấy bàn tay tê bại, thanh kiếm rời tay rơi xuống loảng xoảng.
Tô Tần chưa kịp định thần, đối phương đã giữ chặt hắn lại, nói khẽ: “Nghĩa phụ, theo con!” Rồi lôi Tô Tần chạy thẳng về phía đầu cầu.
Là Thu Quả.
Phía đầu cầu không còn bóng đen nào nữa.
Thu Quả kéo Tô Tần chạy xuống cầu đá, vòng qua cỗ xe tứ mã đổ nghiêng dưới đất, chạy về phía Tuyết cung.
Từ đầu cầu phía tây, có một bóng đen lao ra, băng qua cầu đá nhanh như chớp xẹt.
Tô Tần lực bất tòng tâm, chạy kiểu gì cũng không thể nhanh bằng, bóng đen sau lưng đang dần dần ép tới.
Chưa đầy trăm bước nữa là tới trước cổng Tuyết cung.
Có lẽ bởi nghe thấy tiếng hô hoán của Trâu Phi Đao cùng tiếng ồn ào sát phạt đằng xa, trước cổng cung đã nghe huyên náo, đèn đuốc sáng trưng, rồi tiếng bước chân rậm rịch chạy lại gần.
“Tránh ra!” Có tiếng quát nghiêm khắc từ sau lưng vọng lại, là giọng Thiên Hương.
Lời vừa dứt, một mũi phi tiêu rạch gió phóng tới, nhắm thẳng hậu tâm Tô Tần.
Thu Quả đang chạy phía trước kéo Tô Tần theo, vừa nghe tiếng gọi, không cả kịp nhìn, cánh tay đang kéo Tô Tần giật mạnh, lôi Tô Tần lên trước, còn mình xoay ngược lại sau, dùng thân mình hứng trọn mũi phi tiêu bay tới.
Phi tiêu cắm ngập vào giữa ngực.
Thu Quả từ từ ngã xuống.
Lực đạo từ cú giật của Thu Quả rất mạnh, khiến Tô Tần loạng choạng, chúi về phía trước vài bước, suýt thì ngã sấp.
“Thu Quả…” Phía sau lưng, Thiên Hương buột miệng rú lên thê thảm.
Tô Tần không bỏ chạy.
Vừa đứng vững, Tô Tần chạy vòng ngay lại, ôm lấy Thu Quả, quỳ sụp xuống đất, khóc gọi thất thanh: “Con… con gái…”
Thiên Hương một bước nhảy tới, đứng lại sau lưng Tô Tần.
Tô Tần vẫn ngồi im dưới đất, gượng nuốt lại tiếng khóc, khẽ cất tiếng hỏi: “Người sau lưng, là Thiên Hương?”
“Tô đại nhân!” Thiên Hương cũng quỳ xuống bên cạnh Tô Tần, khoé mắt ứa ra dòng lệ.
“Ra tay đi!” Tô Tần ôm Thu Quả vào lòng, giọng nói bình thản chưa từng.
Song Thiên Hương không nhúc nhích.
Tiếng bước chân của cung vệ đã dồn dập lại gần.
Thiên Hương vẫn chưa ra tay.
Đến tận khoảnh khắc tốp cung vệ đã chạy tới trước mặt, khựng lại một thoáng nhìn ba người hoặc ngã hoặc quỳ dưới đất, giọng Thiên Hương mới vỡ ra như khóc: “Tô đại nhân, đắc tội!”
Rồi nhanh như chớp giật, chụp về phía ống quần Thu Quả, rút từ bên trong ra một lưỡi dao nhọn hoắt, đâm thẳng vào giữa lưng Tô Tần.
Tô Tần vẫn quỳ bất động, hai tay vẫn ôm Thu Quả, không kêu lấy một tiếng.
Sự biến chỉ diễn ra trong nháy mắt, cung vệ gần như không kịp chứng kiến.
Đến khi đám cung vệ ập tới, toan vây lấy ba người, Thiên Hương thình lình bật mình nhảy vọt lên cao, lách qua khe hở vòng vây còn chưa kịp khép, thoắt cái đã biến mất vào trong bóng đêm.