Phía đông nam kinh đô Hàm Đan nước Triệu có một đầm nước chu vi chừng vạn mẫu, mặt nước mênh mông bát ngát, có tên là Hồng Trạch, cách cung thành chừng ba dặm. Bên đầm có một ngọn núi đất, tiên quân của Triệu thất đã cho xây dựng một biệt cung ở đây, đặt tên là đài Hồng Ba.
Tháng hai mùa xuân, chính là thời điểm vạn vật hồi sinh, thời tiết lúc nóng lúc lạnh. Triệu Túc Hầu vui mừng phấn khởi, cùng hoạn giả lệnh(1) Củng Trạch lên đài Hồng Ba ngắm cảnh xuân, xem sóng nước. Không ngờ vừa tới nơi, chưa kịp thưởng lãm, đã có người hối hả chạy lên đài, trình lên Củng Trạch một bức mật báo. Củng Trạch thấy mật báo được gửi tới từ biên giới Triệu Yên, lập tức bẩm báo lên Túc Hầu. Túc Hầu mở ra xem, lập tức mặt mày biến sắc, trả lại cho Củng Trạch.
Củng Trạch đọc kỹ một lượt, trầm ngâm một lát, hỏi nhỏ: “Chúa thượng, vi thần thực sự không hiểu, Triệu, Yên xưa nay luôn là láng giềng hòa mục, Trung Sơn gần đây cũng không có động tĩnh gì khác lạ, tướng quốc đại nhân cớ sao lại gấp rút tấu xin điều động đại binh, đóng quân ở đất Đại? Sáu vạn đại quân, không phải là một con số nhỏ!”
Túc Hầu chau tít đôi mày, sắc mặt lạnh tanh, một lát sau mới chậm rãi nói: “Không chỉ có vậy, gần đây hắn còn thường xuyên thư từ qua lại với công tử nước Yên Vũ Thành Quân, giao tình rất mực thân thiết. Xem ra, Triệu Thành đã không nhịn nổi nữa rồi!”
“Chúa thượng?”
Túc Hầu nhắm mắt, lại suy nghĩ một hồi lâu, rồi cười nhạt một tiếng, từ từ mở mắt: “Triệu kiến thái y!”
“Thần lĩnh chỉ!”
Trên đài Hồng Ba, thành lũy sâm nghiêm vững chãi.
Một đội giáp sĩ hộ vệ một đoàn tám cỗ xe rầm rập từ phía tây chạy tới, dừng lại trước đài. Em trai thứ ba của Triệu Túc Hầu, tướng quốc Phụng Dương Quân Triệu Thành nhảy xuống xe, đưa tay ra hiệu cho đoàn người dừng bước, rồi một mình hối hả leo lên bậc cấp dẫn tới đài Hồng Ba. Em trai thứ tám của Túc Hầu là công tử Phạm bước xuống bậc nghênh đón, dẫn Phụng Dương Quân tới tẩm cung của Triệu Túc Hầu.
Túc Hầu nằm trên long sàng, mặt đỏ phừng phừng, hai mắt nhắm nghiền, cánh tay khẽ co giật. Vài vị thái y sắc mặt căng thẳng quỳ ở trước giường, một thái y trung tuổi đang chườm túi vải đựng băng lên trán Túc Hầu, một lão thái y râu tóc bạc phơ đang toàn thần chuyên chú bắt mạch. Em trai thứ tư của Túc Hầu là An Dương Quân công tử Khắc quỳ ở trước giường, lo lắng nhìn lão thái y.
Một lát sau, lão thái y buông cổ tay Túc Hầu xuống, bước ra phòng ngoài. An Dương Quân vội theo ra, đang định hỏi thì thấy công tử Phạm dẫn Phụng Dương Quân hối hả bước vào, bèn vòng tay nghênh đón.
Phụng Dương Quân không đáp lễ, chỉ hỏi: “Tứ đệ, quân huynh sao rồi?”
An Dương Quân lắc đầu nói: “Nghe nói quân huynh đổ bệnh, tiểu đệ cũng vừa tới!”
Phụng Dương Quân thoáng ngạc nhiên: “Quân huynh hôm kia vẫn khoẻ mạnh là thế, sao nói đổ bệnh là đổ bệnh ngay được?” Rồi di chuyển ánh mắt sang lão thái y. “Nói đi, chúa thượng bệnh gì?”
“Khởi bẩm tướng quốc,” lão thái y vòng tay vái mà nói, “chúa thượng mạch tượng hư phù, lục kinh không điều hòa, hàn nhiệt sinh ra, lúc tỉnh lúc mê, theo lão thần thấy, đây là chứng quyết âm.”
“Chứng quyết âm?” Phụng Dương Quân khẽ chau mày. “Thế nào là chứng quyết âm?”
An Dương Quân bèn giải thích: “Chứng quyết âm chính là thương hàn!”
Phụng Dương Quân lừ mắt nhìn lão thái y: “Thương hàn thì nói là thương hàn, quyết âm quyết dương cái gì?”
“Lão thần biết tội!”
Phụng Dương Quân vội hỏi: “Bệnh này… không nghiêm trọng chứ?”
“Nếu trong vòng bảy ngày không còn sốt cao thì không nghiêm trọng.”
“Hừm!” Phụng Dương Quân sắc mặt âm trầm, khẽ gật đầu. “Biết rồi, mau kê đơn thuốc!”
Lão thái y vâng lệnh, đứng dậy, tiến lại bên bàn viết đơn thuốc. Đúng lúc này, Củng Trạch từ phòng trong bước ra, vòng tay vái chào Phụng Dương Quân, An Dương Quân: “Hai vị đại quân, chúa thượng có lời mời!”
Công tử Phạm thấy Túc Hầu không cho gọi mình, sắc mặt sầm xuống, sượng sùng bước ra cửa điện, nghênh ngang bỏ đi. Phụng Dương Quân, An Dương Quân theo Củng Trạch vào phòng trong, khấu đầu trước giường Túc Hầu: “Thần đệ khấu kiến quân huynh, chúc quân huynh long thể an khang!”
Triệu Túc Hầu nhìn hai người, cười gượng gạo, tay run run chỉ vào chỗ ngồi bên cạnh: “Hai vị hiền đệ, mời ngồi!”
Hai người lại không nhúc nhích, đưa mắt nhìn nhau, vẫn dập đầu dưới đất.
Triệu Túc Hầu quay sang Củng Trạch: “Truyền Ung Nhi vào!”
Một lát sau, Củng Trạch dẫn thái tử Ung mới mười tuổi vội vã bước vào. Thái tử Ung chạy tới bên giường, quỳ xuống khóc gọi: “Quân phụ!”
Triệu Túc Hầu đưa tay xoa đầu thái tử Ung, chậm rãi nói: “Ung Nhi, nào, hãy tới quỳ trước hai vị công thúc!”
Triệu Ung đứng dậy, đến trước mặt Phụng Dương Quân, An Dương Quân quỳ xuống, khấu đầu chào: “Ung Nhi khấu kiến hai vị công thúc!”
An Dương Quân đưa tay đỡ Triệu Ung dậy: “Ung Nhi miễn lễ!”
“Hai vị hiền đệ,” Triệu Túc Hầu nhìn hai em trai, lại nở một nụ cười méo xệch, chậm rãi nói. “Quả nhân vốn cứ ngỡ cơ thể này cứng như sắt thép, nào ngờ… nói ốm là ốm liền. Than ôi! Trời có gió mưa khó đoán, người có phúc họa khó lường, chính là ý này đây!”
Phụng Dương Quân dập đầu nói: “Quân huynh chẳng qua chỉ là nhất thời khó ở, tuyệt đối không nên nghĩ vậy!”
“Chao ôi!” Túc Hầu lại than thở. “Tạ ơn hiền đệ đã nói lời hay. Hai vị hiền đệ, sức khoẻ của quả nhân thế nào, quả nhân tự biết. Nay gọi hai hiền đệ tới, là có việc muốn ủy thác.”
Phụng Dương Quân, An Dương Quân sụp xuống khấu bái: “Thần đệ nghe chỉ!”
Triệu Túc Hầu ho khẽ một tiếng: “Xem ra, bệnh của quả nhân không thể khỏi được trong ngày một ngày hai. Quả nhân tính rồi, qua vài ngày nữa, hãy tạm để Ung Nhi lâm triều, làm phiền hai hiền đệ phò tá!” Rồi không để hai người kịp nói gì, đưa mắt nhìn thẳng vào Phụng Dương Quân. “Tam đệ!”
Phụng Dương Quân dập đầu đáp: “Có thần đệ!”
“Mọi việc trong triều, nhờ tam đệ quán xuyến giúp cho!”
“Thần đệ lĩnh chỉ!”
Triệu Túc Hầu quay sang An Dương Quân: “Mọi việc trong cung, cũng cậy nhờ tứ đệ!”
An Dương Quân khóc mà bái lạy: “Thần đệ lĩnh chỉ!”
“Hai hiền đệ hãy lui ra, quả nhân mệt rồi!”
Hai người dập đầu cáo từ, đi xuống khỏi đài Hồng Ba.
Phụng Dương Quân từ biệt An Dương Quân, mau chóng ra roi thúc ngựa trở về phủ, vừa cởi bỏ triều phục vừa nói với quản gia Thân Tôn vẫn bám sát theo sau từ lúc rời khỏi đài Hồng Ba: “Gấp rút triệu tập chư vị công tử Phạm, ngự sử, tư đồ, ngũ đại phu, tư khấu tới phủ bàn việc!”
“Tiểu nhân tuân lệnh!” Thân Tôn tuy miệng nói vậy, song chân vẫn đứng im. “Khởi bẩm chúa công, có quý khách tới cầu kiến!”
“Là ai?”
Thân Tôn bước lên một bước, ghé sát tai Phụng Dương Quân thì thầm vài câu, Phụng Dương Quân vội nói: “Ô, là Quý Tử, mau mời vào!”
Thân Tôn đi ra, một lát sau, từ bên ngoài bước vào một người, quỳ xuống dập đầu nói: “Quý Thanh người Yên khấu kiến tướng quốc!”
Phụng Dương Quân vòng tay vái chào: “Quý Tử miễn lễ, ngồi đi!”
Quý Thanh lại bái lạy tạ ơn rồi mới đứng dậy, ngồi vào chỗ, lấy từ trong ngực áo ra một bức mật thư, hai tay kính cẩn dâng lên: “Thư này do đích thân chúa công viết, mời tướng quốc xem!”
Phụng Dương Quân nhận thư, mở ra, đọc kỹ một lượt.
Quý Thanh đoán chừng Phụng Dương Quân đã đọc xong, bèn nói tiếp: “Trước lúc tại hạ lên đường, chúa công còn căn dặn năm lần bảy lượt, bảo tại hạ khẩn cầu tướng quốc huy động thêm binh mã tới đất Đại, càng nhiều càng tốt!”
Phụng Dương Quân suy nghĩ hồi lâu, rồi gật đầu nói: “Bản phủ biết rồi. Quý Tử hãy chuyển lời tới công tử, bản phủ chấp thuận lời ủy thác trong thư của công tử. Cũng mong công tử khi việc lớn đã thành, chớ quên lời hứa!” Quý Thanh đứng dậy bái lạy: “Tại hạ nhất định sẽ chuyển lời vàng ý ngọc của tướng quốc tới chúa công!”
***
Tin Triệu Túc Hầu lâm trọng bệnh, ủy thác quốc sự cho con thơ đã sớm tới tai Hắc Điêu nước Tần, rồi mau chóng được bẩm báo về cung Tần. Huệ Văn Công gấp rút triệu tập Công Tôn Diễn, Sư Lý Tật, Tư Mã Thác, Cam Mậu vào cung, đồng thời cũng cho vời công thúc Doanh Kiền, vốn thường xuyên qua lại với người Triệu nhiều năm qua, tới bàn bạc về sự biến bất ngờ trong cung Triệu.
“Chư vị ái khanh,” Huệ Văn Công đi ngay vào việc chính, “mấy ngày trước, Triệu Ngữ đột nhiên phát bệnh nặng, thái tử Ung lâm triều chủ chính, quốc sự giao phó hết cho Phụng Dương Quân và An Dương Quân…” Dừng lại, đưa mắt nhìn một lượt quần thần, rồi dừng lại ở Doanh Kiền, khẽ mỉm cười. “Người hiểu nước Triệu, không ai hơn công thúc, hãy để công thúc nói thì hơn!”
“Chúa thượng vừa nói gì kia? Công thúc nghe không rõ, xin chúa thượng nói to hơn!” Từ sau thoái lui khỏi triều chính, mới chỉ vài năm, Doanh Kiên đã già đi trông thấy, tai cũng nghễnh ngãng, nên cúi hẳn người về phía trước, lớn tiếng hỏi.
Thấy công thúc râu tóc bạc phơ, Huệ Văn Công trong lòng đau xót, ngả người về phía trước, ghé sát tai ông nói lớn: “Triệu Ngữ đổ bệnh, thái tử chấp chính, quốc sự giao phó hết cho Phụng Dương Quân, Tứ Nhi muốn nghe ý kiến của công thúc!”
“Ồ?” Doanh Kiền hai mắt vụt sáng. “Chúa thượng nói Triệu Ngữ… đổ bệnh rồi ư?” Trầm ngâm một lát, gật gù. “Được, hay lắm, hay lắm, người này đổ bệnh, Tấn Dương có thể đoạt về!”
“Xin hỏi công thúc, đoạt về thế nào?”
“Hơn chục năm trước, Kính Hầu băng hà, Triệu Ngữ kế vị, công tử Tiết không phục, cấu kết với Triệu Thành mưu phản. Triệu Thành thấy công tử Tiết khó lòng thành công, nên tráo trở lật mặt, trước khi khởi sự, đã tiết lộ mưu đồ của Triệu Tiết với Triệu Ngữ. Triệu Tiết biết sự việc bại lộ, vội vã bỏ chạy sang Trịnh, không lâu sau bị người truy sát. Qua sự việc này, Triệu Thành không những vô tội, lại còn có công, được Triệu Ngữ phong làm Phụng Dương Quân, bái làm tướng quốc, quyền thế khuynh đảo triều đình. Triệu Thành một tay che cả bầu trời nước Triệu, sớm đã có dã tâm cướp ngôi, nay trời ban thời cơ hội tốt, ắt không chịu ngồi yên. Nếu đúng như công thúc dự đoán, cung Triệu sắp sinh nội loạn. Ta có thể tận dụng cơ hội này!”
“Phải!” Công Tôn Diễn hưởng ứng. “Vi thần tán thành ý kiến của thái phó. Nếu có được Tấn Dương, chúng ta có thể đặt nên móng vững chắc ở Hà Đông, phía bắc ép Triệu, Yên, phía tây ép Nghĩa Cừ, phía nam ép Hà Đông của Ngụy.”
“Than ôi!” Doanh Kiền nhìn Huệ Văn Công thở dài một tiếng. “Chúa thượng, nói tới Tấn Dương, tiên quân các triều từ Mục Công tới Hiếu Công đều đã từng chinh phạt. Chưa nói tới chuyện xa xôi, chỉ tính từ thời tiên quân Hiến Công trở lại, Tần, Triệu đã trải qua ba trận huyết chiến tại đây, ta tuy thắng hai trận, song vẫn chưa thể chiếm thành.”
Huệ Văn Công ngẩng đầu lên, ánh mắt kiên định, giọng điệu tuy chậm, song ngữ khí quyết liệt: “Quả nhân muốn có được thành này, chư vị ái khanh có diệu kế gì chăng?”
Mọi người đều trầm ngâm suy nghĩ.
Lát sau, Công Tôn Diễn ngẩng lên nói: “Thần có một kế, có thể chiếm được thành này dễ như trở bàn tay.”
“Ồ?” Huệ Văn Công đưa mắt nhìn Công Tôn Diễn. “Ái khanh hãy nói!”
“Theo vi thần được biết, con trai trưởng của Yên Công là công tử Ngư đóng quân ở hạ đô Vũ Dương, âm mưu soán ngôi. Mấy năm gần đây, Phụng Dương Quân ngấm ngầm cấu kết với công tử Ngư, lấy lý do vây ép Trung Sơn, điều động sáu vạn đại quân, chia thành hai tuyến, một tuyến đóng quân ở Vũ Toại, một tuyến tiến vào đất Đại, ra khỏi núi Thái Hý, bức bách tới Vũ Dương, nhằm trợ giúp công tử Ngư đoạt ngôi thái tử. Người Triệu dàn đại binh ở biên giới, khiến người Yên cảnh giác cao độ, Yên Công đích thân phái đại tướng Tử Chi dẫn sáu vạn binh, chia quân canh gác, đề phòng bất trắc.”
Tư Mã Thác vẻ khó hiểu: “Dám hỏi đại lương tạo, Phụng Dương Quân cớ sao lại muốn trợ giúp công tử Ngư đoạt vị?”
“Công tử Ngư một khi đã nắm quyền triều chính, chắc chắn sẽ nghe theo lời Phụng Dương Quân. Phụng Dương Quân nếu có được sự trợ giúp của người Yên, sẽ tiến tới bức quân chủ thoái vị.”
“Nói vậy là sai rồi!” Tư Mã Thác phản bác. “Phụng Dương Quân đã nắm quyền khuynh đảo triều chính, quan viên thăng chức miễn chức đều do hắn quyết định. Người này nếu muốn bức quân chủ thoái vị, có thể trực tiếp điều binh tấn công Hàm Đan, cớ gì còn cần tới sự trợ giúp của người Yên?”
Công Tôn Diễn không thèm trả lời Tư Mã Thác, chỉ nhìn vào Huệ Văn Công, chậm rãi nói: “Chúa thượng, nếu long thể Triệu Hầu đã như vậy…” Rồi dừng lại nửa chừng.
Huệ Văn Công mắt bỗng vụt sáng, trầm ngâm suy nghĩ một hồi, rồi nói với Công Tôn Diễn: “Phải, Công Tôn ái khanh nói rất đúng, Tần, Triệu là láng giềng thân thiết, vui buồn có nhau. Triệu Hầu long thể bất an, quả nhân nên thăm hỏi mới phải!” Quay sang Sư Lý Tật. “Sư Lý ái khanh, chuẩn bị quà biếu, tới Hàm Đan, thay quả nhân thỉnh an Triệu Hầu!”
Sư Lý Tật dường như cũng đã hiểu ra: “Vi thần lĩnh chỉ!”
***
Được thái y trong cung “tận tình cứu chữa”, Túc Hầu đã gắng gượng cầm cự được bảy ngày, tuy không nguy hại tới tính mệnh, song sức khoẻ vẫn chưa hồi phục, chốc chốc lại “đổ mồ hôi trộm, tức ngực, ho ra đờm”, long thể ngày càng gầy yếu. Thái y sau vài lần khám bệnh, chẩn đoán là chứng lao, kiêng gió, chỉ được ở trong phòng dưỡng bệnh. Thái tử Triệu Ung và mẫu hậu Điền phu nhân, vốn là em ruột Tề Vương Điền Nhân Tề, ngày đêm túc trực trong đài Hồng Ba, không rời Túc Hầu nửa bước.
Lại hơn mười ngày nữa trôi qua, Túc Hầu thấy bệnh tình đã “thuyên giảm ít nhiều”, bèn dặn đình úy Phì Nghĩa, hoạn giả lệnh Củng Trạch sắp xếp cho Triệu Ung lâm triều xử lý chính sự.
Buổi sáng hôm sau, tiếng chuông thượng triều vang vọng, thái tử Ung vẻ lo âu sợ sệt bước lên ngai vàng dưới sự dẫn dắt của Củng Trạch. Triệu Ung từ trên ngai vàng nhìn xuống, thấy trong Tín cung rộng mênh mông chỉ lác đác hơn chục triều thần như An Dương Quân công tử Khắc, đình úy Phì Nghĩa, trung đại phu Lâu Hoãn, ngự sử đang quỳ dưới đất.
Hôm nay là đại triều, về lý mà nói, đáng lẽ triều thần từ cấp trung đại phu trở lên đều phải lên triều, ít nhất cũng tới ba bốn mươi người. Triệu Ung trong lòng nặng trĩu, đang không biết phải nói gì, chợt thấy Củng Trạch đứng phía sau đặng hắng khẽ một tiếng. Do đã được diễn tập từ trước, Triệu Ung bắt chước giọng Túc Hầu, chậm rãi nói: “Chư vị ái khanh, bình thân!”
Quần thần tạ ơn, đứng dậy, trở về vị trí, khoanh chân ngồi xuống.
Triệu Ung đưa mắt nhìn khắp lượt, thấy trống đến hơn hai mươi chỗ, thì bực bội ra mặt, quay sang Củng Trạch lớn tiếng hỏi: “Buổi đại triều hôm nay, đã truyền dụ tới tất cả triều thần chưa?”
Củng Trạch cúi gập người tấu: “Khởi bẩm điện hạ, hôm qua hạ quan đã truyền dụ tới chư thần từ cấp trung đại phu trở lên!”
Triệu Ung sầm mặt xuống, nhìn sang An Dương Quân, làm bộ không hiểu, chỉ vào vị trí trống của Phụng Dương Quân hỏi: “Tứ thúc, hôm nay bản cung lần đầu lâm triều, tam thúc vì sao không tới?”
An Dương Quân vòng tay tấu: “Khởi bẩm điện hạ, vi thần không biết!”
Triệu Ung chuyển ánh mắt sang đình úy Phì Nghĩa, lại tiếp tục nhìn sang trung đại phu Lâu Hoãn, hai người cũng đều im lặng.
Đang lúc không khí căng thẳng, thì ngự sử đứng dậy khấu đầu nói: “Khởi tấu điện hạ, hôm qua tướng quốc đột nhiên trúng phong hàn, nằm bẹp trên giường, không thể lên triều, nhờ vi thần tấu báo điện hạ!”
“Còn các vị khác thì sao?” Ngón tay bé nhỏ của Triệu Ung chỉ về phía các chỗ trống khác. “Họ cũng đều trúng phong hàn cả ư?”
Ngự sử im lặng không nói.
Triệu Ung đang định hỏi tiếp thì Lâu Hoãn vòng tay tấu: “Khởi bẩm điện hạ, tướng quốc đại nhân đổ bệnh, các vị khác hẳn đã tới thăm.”
Triệu Ung mặt đỏ phừng phừng, đang định trách cứ thì thấy Củng Trạch đứng ở phía sau khẽ huých đầu gối vào lưng mình. Triệu Ung hiểu ý, bèn nén cơn tức giận, nín thở một lát, đổi giọng cười nói: “Tam thúc đã đổ bệnh, các khanh cũng nên đi thăm mới phải. Đình úy!”
Phì Nghĩa bước lên một bước: “Có vi thần!”
“Sau khi bãi triều, bản cung cũng muốn đi thăm tam thúc, đình úy hãy sắp xếp!”
“Vi thần tuân lệnh!”
Triệu Ung ngẩng đầu nhìn quần thần: “Long thể của quân phụ chưa bình phục, bản cung thay quân phụ lâm triều, chư vị ái khanh có gì tấu không?”
Lâu Hoãn vòng tay khởi tấu: “Khởi tấu điện hạ, sứ thần nước Tần Sư Lý Tật tới triều, đang đợi bên ngoài điện.”
Triệu Ung khẽ gật đầu: “Truyền sứ Tần lên triều.”
Sư Lý Tật bước vào triều đường, khấu đầu hô: “Đặc sứ của Tần Công Sư Lý Tật khấu kiến điện hạ!”
Triệu Ung phẩy tay: “Sứ Tần miễn lễ!”
“Tạ ơn long ân của điện hạ!” Sư Lý Tật lại bái lạy. “Tần Công nghe nói long thể Triệu Hầu bất an, có chút quà mọn, sai vi thần tới thăm hỏi, cung chúc Triệu Hầu sớm ngày bình phục, vạn thọ vô cương!” Rồi hai tay trình lên danh sách lễ vật.
Củng Trạch nhận lấy, đưa lên Triệu Ung.
Triệu Ung xem lướt qua một lượt, đặt danh sách lên bàn, ngẩng đầu nhìn Sư Lý Tật: “Triệu Ung thay mặt quân phụ đa tạ ý tốt của Tần Công, tiện đây xin chúc Tần Công vạn an.”
“Vi thần nhất định sẽ chuyển tới chúa thượng lời chúc tốt lành của điện hạ. Tần Công còn có một thỉnh cầu, mong điện hạ lắng nghe!”
“Đặc sứ cứ nói!”
“Hai nước Tần, Triệu núi liền núi, sông liền sông, thân thiết như môi với răng, hòa thuận thì đều hưng, tranh chấp thì đều tổn hại. Nay nước Ngụy thất đạo, Bàng Quyên ngang tàng, khiến các bang đều xem là loài lang sói. Tần Công muốn cùng Triệu thất kết minh láng giềng, cùng phạt Ngụy vô đạo, khẩn cầu điện hạ ân chuẩn!”
Triệu Ung ngẫm nghĩ một lát, nhìn sang An Dương Quân. An Dương Quân hất hàm về chỗ trống của Phụng Dương Quân. Triệu Ung hiểu ý, quay sang Sư Lý Tật nói: “Tần, Triệu kết minh láng giềng, là chuyện may mắn của nước Triệu, bản cung có thể quyết định. Tuy nhiên kết minh phạt Ngụy, lại là chuyện liên quan tới sự an nguy của nước Triệu, bản cung tuổi nhỏ, chưa thể tự quyết. Xin sứ Tần tạm về dịch quán nghỉ ngơi, đợi sau khi bản cung bàn bạc với triều thần, bẩm qua tướng quốc, tấu lên quân phụ, mới có thể trả lời!”
Thấy Triệu Ung còn nhỏ tuổi, lần đầu lâm triều đã đối đáp trôi chảy đến vậy, Sư Lý Tật không khỏi kinh ngạc, bất giác đưa mắt nhìn kỹ Triệu Ung, rồi phủ phục xuống bái lạy mà nói: “Vi thần cung kính chờ tin tốt lành!”
Tại phòng khách rộng lớn của phủ Phụng Dương Quân, văn võ bá quan trong triều cùng đám người hầu khiêng theo lễ vật ra vào tấp nập, Thân Tôn tươi cười niềm nở, đứng trước cửa đại sảnh cúi gập người đón tiễn khách.
Gần tới giờ Ngọ, khách vào phủ đã giảm bớt. Thân Tôn uể oải vươn vai, đang định tìm chỗ ngồi nghỉ, thì thấy quan lệnh Hà Gián là Thân Bảo sai người khiêng một hòm lễ vật lớn tiến vào trong sân. Thân Tôn lại cúi gập người đón khách, đang định vòng tay hành lễ, thì thấy Thân Bảo quỳ phịch xuống đất, hướng vào mình vái liền vài vái. Thân Tôn lấy làm kinh ngạc, vội bước tới đỡ Thân Bảo dậy, nói ngay: “Thân đại nhân… chúa công không có ở đây, tại hạ nào dám nhận đại lễ của Thân đại nhân!”
Thân Bảo đứng dậy, lại cúi khom lưng trước Thân Tôn, sắc mặt nghiêm trang mà nói: “Gia lão khách khí rồi! Thân môn trong thiên hạ chỉ có một. Hạ quan nghe nói từ đường của lão quản gia vốn ở đất Sở, thì biết lão quản gia hẳn là từ đất Thân mà tới. Tổ tiên của hạ quan cũng ở đất Thân, hôm nay to gan nhận người thân ở đây, cũng coi là đồng môn đồng tông với lão quản gia. Theo sự phân chia vai vế trong họ Thân, hạ quan là hàng cháu. Cháu gặp ông, đừng nói là dập đầu, dù có ba lạy chín dập đầu, cũng là phải đạo.”
Thân Tôn cười vang mà nói: “Không giấu đại nhân, từ sau khi nước Thân diệt vong, dòng họ Thân phiêu bạt tứ xứ, đâu đâu cũng có. Bất luận thế nào, hễ mang họ Thân, gặp nhau chính là người thân. Cách đây không lâu, tướng Hàn Thân Bất Hại qua đời, tại hạ còn cử người tới chia buồn đấy!”
Thân Bảo vòng tay vái: “Lão quản gia đã nhận hạ quan, quả là phúc phận của hạ quan!” Rồi lấy từ trong tay áo ra bản danh sách lễ vật, hai tay trình lên. “Nghe nói tướng quốc quý thể bất an, hạ quan vô cùng lo lắng, suốt đêm qua mất ngủ, rạng sáng hôm nay đã đôn đáo khắp nơi chuẩn bị chút lễ mọn này, của ít lòng thành, chỉ mong tướng quốc đại nhân mau chóng bình phục!”
Thân Tôn cầm bản danh sách, liếc qua một lượt, chợt sững người, đưa mắt về phía hòm lễ vật. Thân Bảo vội đứng dậy, bước tới trước hòm, mở nắp ra, bên trong bày sáu dãy vàng thỏi, mỗi dãy sáu dật, tổng cộng ba mươi sáu dật.
Thân Tôn thu lại nụ cười, sắc mặt hơi sầm xuống, quay sang Thân Bảo, ôn tồn nói: “Nói đi, cùng là người nhà, lại mang tới lễ vật hậu hĩnh đến thế, hẳn là có điều mong cầu!”
Thân Bảo cười nịnh mà nói: “Gia lão đã hỏi, hạ quan không dám giấu. Từ đường và song thân của hạ quan đều ở Tấn Dương, nay phụ mẫu tuổi đã cao, hạ quan rất mong được điều về Tấn Dương, một là có thể tận lực vì đất nước, hai là muốn tận hiếu với phụ mẫu. Hạ quan bất tài, chút nguyện vọng riêng tư này, mong gia lão nể mặt tổ tiên mà ra mặt giúp đỡ cho.”
“Này Thân đại nhân!” Thân Tôn sắc mặt hơi giãn ra, nụ cười hiện trở lại, dang rộng hai tay mà nói. “Tấn Dương là nền móng của nước Triệu, là bồi đô của chúa thượng, làm gì có chuyện ai muốn đến cũng đến được? Hơn nữa, dựa vào tài năng của đại nhân, chức Hà Gián lệnh đã đủ lắm rồi. Đại nhân lần này tới đây, vừa mở miệng đã đòi làm Tấn Dương lệnh, chẳng phải đã làm khó cho chúa công ư?”
Thân Bảo lại móc từ trong ống tay áo ra một hộp gấm, hai tay trình lên.
Thân Tôn nhận lấy, mở nắp hộp, thấy bên trong là một chiếc bát ngọc tinh xảo, thì nhìn Thân Bảo cười nói: “Ồ, đây quả là báu vật! ở đâu ra vậy?”
Thân Bảo hạ giọng nói: “Đây là vật tổ truyền của nhà hạ quan, xin kính tặng quản gia đại nhân!”
“Ha ha!” Thân Tôn cười nhạt, đậy nắp hộp gấm lại, đưa trả về. “Đã là vật quý trấn trạch của nhà Thân đại nhân, tại hạ không dám nhận.”
Thân Bảo sốt ruột thấy rõ, hai chân khuỵu xuống, lại quỳ sụp dưới đất khấu đầu mà nói: “Gia lão nếu không chịu nhận, hạ quan coi như hết đường tiến thân!”
“Than ôi!” Thân Tôn thu hộp ngọc về, than thở. “Thân đại nhân ép tới nước này, tại hạ không nỡ từ chối, có điều…” Đoạn nhét hộp ngọc vào trong ống tay áo, cúi người xuống đỡ Thân Bảo đứng dậy. “Việc đại nhân nhờ vả, tại hạ sẽ cố gắng hết sức, tuy nhiên thành công hay không, còn phải trông vào may mắn của đại nhân.”
Thân Bảo vòng tay vái lia lịa: “Vâng vâng vâng, đương nhiên rồi! Hạ quan tạ ơn sự cất nhắc của đại nhân!”
Thân Bảo về rồi, Thân Tôn đứng thêm một lát nữa, nhìn thấy không còn khách nào, bèn sai người hầu kiểm kê quà tặng và lễ vật, xếp vào trong kho, đích thân viết một bản kê, nhét vào ống tay áo, cất bước đi về phía hậu hoa viên.
Góc đông bắc hậu hoa viên có một vườn trúc rộng, ẩn trong vườn trúc là một khu nhà bí mật, bên cạnh khu nhà là một ao sen. Song hiện tại chưa tới mùa, nên lá sen vẫn chưa nhú, mặt nước trống trơn lạnh lẽo, đưa mắt nhìn đi, cảm thấy ít nhiều hiu quạnh. Trên khung cửa là ba chữ “Thính Vũ các” do đích thân Phụng Dương Quân viết.
Ở đây yên tĩnh, rộng rãi, vừa là thư phòng của Phụng Dương Quân, cũng là nơi ông ta tiếp đón bạn bè riêng tư.
Chính giữa phòng, Phụng Dương Quân đang ngồi ngay ngắn, hai mắt khép lại, bảy tám trọng thần trong triều như công tử Phạm, tả sư, tư đồ, nội sử cung Triệu ngồi hầu ở bên cạnh, đang chăm chú lắng nghe ngự sử thuật lại mọi việc trong triều.
Ngự sử kể chuyện sinh động như thật, mọi người hớn hở ra mặt. Đợi ngự sử dừng lời, công tử Phạm không kìm nổi, cười vang mà nói với Phụng Dương Quân: “Ha ha, quả đúng như dự đoán của tiểu đệ, chỉ cần quân huynh không lên triều, coi như trên triều đường không còn người nữa!”
Đám triều thần đều cười hi hả. Tư đồ phụ họa: “Công tử nói chí phải. Bá quan trong triều, không ai không nghe lời chúa công!”
Thấy đám triều thần cười đã rồi, Phụng Dương Quân khẽ đặng hắng một tiếng, đưa mắt nhìn khắp lượt, rồi dừng lại ở ngự sử: “An Dương Quân không nói gì ư?”
“Khởi bẩm chúa công!” Ngự sử vòng tay nói. “Điện hạ hỏi chúa công cớ sao không lên triều, An Dương Quân nói rằng…” dừng lại một lát, đặng hắng khẽ một tiếng, bắt chước giọng An Dương Quân, “khởi bẩm điện hạ, vi thần không biết.”
Do ngự sử bắt chước quá giống, đám triều thần lại cười ồ lên. Phụng Dương Quân phẩy tay ra hiệu im lặng, nhoài người lên hỏi: “Sau đó thì sao?”
Ngự sử lắc đầu: “Sau đó không nói gì thêm nữa. Vi thần thấy triều đường im ắng, mới bẩm báo rằng chúa công trúng phong hàn, quý thể bất an. Điện hạ lập tức sai Phì Nghĩa đi sắp xếp, nói là muốn đích thân tới thăm chúa công.”
“Ồ?” Phụng Dương Quân bần thần một lát, lại nhoài người lên hỏi. “Lúc nào điện hạ tới thăm?”
“Vi thần không biết, có lẽ là buổi chiều!”
Phụng Dương Quân ngẫm nghĩ một lúc, mỉm cười nói: “Được, điện hạ tới thăm càng tốt!” Quay sang công tử Phạm. “Bát đệ, ta uy hiếp Trung Sơn, khiến người Yên bất mãn, Yên Công đã phái đại tướng Tử Chi dẫn tam quân sáu vạn ngăn cản, ta muốn điều động thêm hai vạn quân trấn giữ Tấn Dương tới đóng ở quận Đại, trấn áp người Yên. Đợi lát nữa điện hạ tới, ta sẽ yêu cầu điện hạ ban hổ phù, bát đệ đích thân đi Tấn Dương một chuyến. Không biết ý đệ thế nào?”
“Đệ xin nghe lời tam huynh!”
“Còn nữa,” Phụng Dương Quân lôi từ trong ống tay áo ra một chỉ dụ, đưa cho công tử Phạm, “sau khi tới quận Đại, bát đệ hãy truyền khẩu dụ của ta, tạm thay quyền chủ tướng, chỉ huy ba quân. Tới lúc đại sự thành công, chức đại tướng quân nước Triệu sẽ do bát đệ đảm nhiệm!”
Nghe thấy Phụng Dương Quân giao cho mình chức vụ quan trọng như vậy, công tử Phạm xúc động tới lạc cả giọng, quỳ xuống dập đầu hô: “Vi thần lĩnh chỉ!”
Phụng Dương Quân đích thân đỡ công tử Phạm dậy: “Bát đệ mau đứng dậy!” Rồi quay sang một thị tùng đang đứng cạnh. “Chúa thượng gần đây thế nào?”
Người này rõ ràng là vừa từ đài Hồng Ba tới, thấy Phụng Dương Quân hỏi đến, vội vòng tay đáp: “Khởi bẩm chúa công, chúa thượng sốt cao chưa giảm, giờ lại mắc bệnh lao, nghe thái y nói, ít nhất cũng phải tĩnh dưỡng ba tháng. Người mắc bệnh lao thể chất yếu ớt, theo hạ quan thấy, xem ra, chúa thượng khó mà xuống nổi đài Hồng Ba!”
“Ba tháng?” Phụng Dương Quân vuốt râu, gật gù nói. “Tốt, chút thời gian này, cũng đủ dùng rồi!” Quay sang triều thần, nói tiếp. “Chư vị ái khanh, hãy mau hồi phủ, từ ngày hôm nay, làm việc gì cũng phải thận trọng, chưa có ý chỉ của bản công, không được nghị luận lung tung. Đợi khi đại sự thành công, bản công tất báo đáp hậu hĩnh.”
Đám triều thần khấu đầu hô: “Vi thần lĩnh chỉ!”
Sau khi triều thần đã lui ra hết, Phụng Dương Quân lại ngồi thêm một lát, rồi đứng dậy, chậm rãi đi ra khỏi phòng, nhìn đăm đăm vào dăm vệt cành khô lá rữa lơ thơ dưới ao sen, một lúc sau, bắt đầu luyện quyền cước.
Thân Tôn từ phía xa bước lại.
Phụng Dương Quân nhìn thấy ông ta, bèn dừng tay hỏi: “Khách tới đủ chứ?”
Thân Tôn gật đầu, lấy ra một danh sách từ trong ống tay áo, trình lên: “Khởi bẩm chúa công, chưa tính hạ đại phu, mới chỉ tính từ trung đại phu trở lên đã là hai mươi tư người. Đây là bản danh sách lễ vật.”
Phụng Dương Quân nhận lấy bản danh sách, vừa đọc vừa nói: “Ngươi mau thảo một bản điều trần, phàm người có tên trong danh sách, dựa theo chức vị hiện tại, thăng lên một cấp, người nào chưa có chức thực thì bổ sung.”
“Lão nô đã thảo xong rồi!” Thân Tôn lại lôi ra một mảnh lụa từ trong ống tay áo, hai tay trình lên.
Phụng Dương Quân cầm lấy, chẳng buồn xem, nhét ngay vào trong ống tay áo, vẫn tiếp tục lật giở danh sách.
Lật tới trang cuối cùng, ánh mắt Phụng Dương Quân chợt sững lại, rồi quay sang Thân Tôn hỏi: “Ba mươi sáu dật vàng? Tay Thân Bảo này là ai? Vì sao lại đem biếu nhiều vàng đến thế?”
“Khởi bẩm chúa công, người này vốn là tham tướng thuộc hạ của Phì Nghĩa, thấy chúa công thế mạnh, năm ngoái đã cậy nhờ tư đồ mà được làm việc dưới trướng chúa công. Nay thấy chúa công đổ bệnh, mới nhân cơ hội thể hiện lòng trung thành mà thôi.”
“Ồ!” Phụng Dương Quân gật đầu. “Ta nhớ ra rồi. Hình như đã thăng cho hắn chức lệnh gì đó.”
“Hà Gián lệnh!”
“Phải, phải rồi, là Hà Gián lệnh. Hắn làm việc thế nào?”
“Lão nô đã điều tra biết được, Hà Gián vốn là nơi trộm cướp hoành hành, vậy mà chỉ trong một năm, đã tới mức của rơi không ai nhặt, đêm không phải đóng cửa.”
“Ồ!” Phụng Dương Quân không giấu vẻ kinh ngạc. “Nếu đúng vậy, người này quả là kỳ tài, có thể dùng được!”
“Chúa công anh minh!” Thân Tôn vội nói. “Người này không những là nhân tài, mà còn rất trung thành với chúa công. Theo nô tài thấy, liệu có thể để hắn trấn giữ Tấn Dương?”
“Tấn Dương?” Phụng Dương Quân khẽ chau mày. “Hà Gián chẳng qua chỉ là một huyện ấp, còn Tấn Dương lại là quận lớn vùng biên cương, tổng cộng có bốn huyện tám ấp. Nếu dùng người này, dù thế nào cũng phải có lý do. Hơn nữa, ngộ nhỡ để xảy ra sai sót, há chẳng làm hỏng việc lớn của bản công ư?”
Thần Tôn đảo con ngươi một vòng: “Chính vì Tấn Dương là quận lớn, chúa công càng cần dùng người đáng tin cậy!” Tiến sát thêm một bước, hạ thấp giọng. “Thú thừa Tấn Dương Triệu Báo xưa nay không phục chúa công, nếu Thân Bảo hắn…”
“Được rồi!” Phụng Dương Quân trầm ngâm một lát, gật đầu đồng ý. “Trước hết hãy điều hắn tới Tấn Dương làm đô úy một năm, nếu có công lao, tất được cất nhắc. Ngươi hãy nói với hắn, bảo gì nghe đấy, không được tranh giành với Triệu Báo, chỉ cần âm thầm làm đúng như dự tính là được.”
“Lão nô tuân lệnh!”
Thân Tôn vừa dứt lời, chủ sự tiền đường bỗng vùn vụt chạy lại, quỳ xuống bẩm báo: “Báo, điện… điện hạ tới!”
Phụng Dương Quân ngẩn ra một thoáng, rồi vội nói với Thân Tôn: “Mau, ra nghênh đón điện hạ, một khắc nữa, đưa điện hạ tới tẩm cung!”
Thân Tôn tuân lệnh đi ra.
Một lát sau, dưới sự dẫn dắt của Thân Tôn, đình úy Phì Nghĩa đưa thái tử Ung tới tẩm cung của Phụng Dương Quân, vừa tới cửa đã nhìn thấy Phụng Dương Quân nằm nghiêng trên giường, đầu quấn khăn trắng, trước giường đặt một bát thuốc còn phân nửa.
Thân Tôn dõng dạc: “Điện hạ giá lâm!”
Thái tử Ung, Phì Nghĩa bước vào, đám người hầu trong phòng vội vã quỳ xuống nghênh đón. Phụng Dương Quân gắng sức chống một cánh tay lên giường, làm bộ muốn xuống giường hành lễ.
Thái tử Ung vội bước lại, đỡ Phụng Dương Quân nằm xuống. Phụng Dương Quân bèn khom người, vòng tay, cười buồn bã mà nói: “Ung Nhi, tam thúc thật là…”
Thái tử Ung ngồi xuống bên mép giường, nhìn Phụng Dương Quân nói: “Nghe nói tam thúc quý thể bất an, Ung Nhi vô cùng lo lắng, bãi triều vội tới thăm ngay. Tam thúc đã đỡ hơn chút nào chưa?”
Phụng Dương Quân lại gượng cười: “Tạ ơn điện hạ quan tâm. Chỉ là chút phong hàn, không có gì nghiêm trọng.”
Thái tử Ung ứa nước mắt mà nói: “Quân phụ ốm liệt giường, Ung Nhi trẻ người non dạ, việc lớn trong triều chỉ biết trong cậy vào tam thúc, tứ thúc. Nào ngờ, tam thúc cũng…”
Phụng Dương Quân hơi nghiêm mặt lại, vờ như không biết: “Nghe giọng của điện hạ, trong triều hẳn đã xảy ra chuyện gì ư?”
Thái tử Ung đưa ống tay áo lau nước mắt, gật đầu nói: “Sứ Tần Sư Lý Tật vào triều, muốn kết minh với ta để phạt Ngụy. Đây là việc lớn, Ung Nhi không biết ứng phó thế nào, mong tam thúc định đoạt.”
“Ồ?” Phụng Dương Quân ra vẻ kinh ngạc. “Người Tần lại muốn kết minh phạt Ngụy ư? An Dương Quân có kế sách ứng phó chăng?”
Thái tử Ung lắc đầu nói: “Ung Nhi có hỏi tứ thúc, tứ thúc nói, những việc như điển chương lễ nghi, việc trong cung, hay củi dầu gạo muối có thể hỏi tứ thúc. Còn chuyện bang giao phạt quốc, bổ nhiệm miễn nhiệm quan viên các ấp bên ngoài, hãy hỏi tam thúc.”
Phụng Dương Quân chợt giật thột trong lòng, bởi lời lẽ của thái tử Ung, rõ ràng là muốn vạch rõ quyền hạn của ông ta. Tuy ông ta là tướng quốc, song chỉ được quản những chuyện bên ngoài cung Triệu. Còn nội chính của cung Triệu, đặc biệt là chuyện của ba tư phủ, tức phủ tư đồ, tư không và tư mã, đều do An Dương Quân trực tiếp quản lý, Triệu Túc Hầu không cho ông ta xen vào. Gần đây, tuy tư đồ đã chạy về dưới trướng ông ta, song nếu không được An Dương Quân đóng ấn, thì đến một xe gạo, tư đồ cũng không dám động đến, nếu không sẽ phạm tội mưu phản.
Phụng Dương Quân mau chóng định thần, khẽ thở dài: “Than ôi, quân huynh giao phó ta và tứ đệ phò tá điện hạ, nào ngờ vừa gặp chuyện khó khăn, tứ đệ đã đùn đẩy trách nhiệm sạch trơn, chỉ muốn hưởng nhàn một mình.”
Thái tử Ung vái dài sát đất: “Đại sự của đất nước, phải làm phiền đến tam thúc!”
“Hỡi ôi!” Phụng Dương Quân lại thở dài. “Như vậy xem ra cũng đành phải để tam thúc đây gắng gượng sức tàn mà thôi!” Nói đoạn, đưa tay lần về phía bát thuốc. Thái tử Ung bèn thuận tay bưng lên, đặt vào trong tay Phụng Dương Quân.
Phụng Dương Quân uống vài ngụm, rồi đưa ống tay áo chấm khẽ quanh miệng: “Điện hạ, nếu để tam thúc nói, thì tam thúc cho rằng người Tần là không đáng tin cậy nhất. Kẻ địch trước mắt không phải là người Ngụy, mà là Trung Sơn. Mấy năm gần đây, Trung Sơn chiêu binh mãi mã, tích thảo đồn lương, ngấm ngầm cấu kết với Ngụy, Tề, quấy nhiễu dân chúng biên cương của ta. Nếu để mặc Trung Sơn bành trướng, ta khác nào mắc xương trong họng, ăn ngủ không ngon!”
Thái tử Ung tỏ ra lo lắng: “Vậy ý của tam thúc ra sao?”
“Ngụy, Tề trợ giúp Trung Sơn, muốn dựa vào sức mạnh của Trung Sơn để đối đầu với Triệu, Yên. Tam thúc cho rằng, điện hạ hãy đồng ý kết tình láng giềng hòa mục với Tần, tạm thời giải quyết mối lo phía tây bắc, sau đó điều quân trấn thủ Tấn Dương tới quận Đại, uy phục Trung Sơn!”
Phì Nghĩa vừa đặng hắng, vừa kín đáo giẫm vào mũi chân thái tử Ung. Thái tử Ung làm như không biết, lập tức đồng ý: “Cứ làm theo ý của tam thúc!”
“Tuy nhiên,” Phụng Dương Quân do dự một lát, “điều quần trấn thủ biên giới phải có hổ phù, hổ phù lại ở trong tay chúa thượng. Hiện tại việc quân cấp bách, mà chúa thượng lại…”
Thái tử Ung gật đầu nói: “Tam thúc chớ lo, việc quân cấp bách, Ung Nhi sẽ lập tức trở về tấu xin quân phụ cấp hổ phù, giao cho tam thúc.”
“Vậy thì tốt quá!” Phụng Dương Quân thở phào một tiếng, lần dưới gối lôi ra một bản danh sách dài. “Còn nữa, đây là một số chức quan cần được điều chỉnh, cũng xin điện hạ phê chuẩn!”
Thái tử Ung cầm bản danh sách, cẩn thận đọc một lượt, mỉm cười rồi đặt trở xuống: “Việc này nằm trong thẩm quyền của tam thúc, không cần tấu thỉnh, tam thúc hãy tự quyết. Nếu cần Ung Nhi đóng ấn, tam thúc cứ cho người mang tới Tín cung.”
Phụng Dương Quân không ngờ thái tử Ung lại vui vẻ đồng ý với tất cả thỉnh cầu của mình nhanh chóng đến vậy, thần người ra một lúc, mới gập người cảm tạ: “Lão thần kính cẩn nghe lời điện hạ!”
Thái tử Ung cũng đứng dậy nói: “Tam thúc còn yếu, Ung Nhi không quấy rầy nữa!”
Phụng Dương Quân lại cúi gập người: “Điện hạ ra về cẩn thận!”
Trên đường về cung, Phì Nghĩa hai chân thúc ngựa, phóng nhanh lên trước vài bước, đi song song cùng xe thái tử, lớn tiếng hỏi: “Điện hạ, quân trấn thủ Tấn Dương sao có thể tự ý điều động được?”
Triệu Ung đưa mắt nhìn Phì Nghĩa: “Cớ sao không thể điều động?”
“Điện hạ!” Phì Nghĩa vội nói. “Tấn Dương là trọng trấn của Hà Đông, là nền tảng của nước Triệu, dứt khoát không được để mất!”
“Làm gì có cái lý đấy!” Triệu Ung trừng mắt nhìn Phì Nghĩa. “Tam thúc trị nước lâu năm, lẽ nào đến đạo lý cỏn con này cũng không biết?”
“Hừm, trị nước lâu năm cái gì!” Phì Nghĩa không phục, lớn tiếng phản bác. “Hành động này của tướng quốc, dứt khoát là có ý đồ đen tối! Điện hạ có nhận thấy không, Phụng Dương Quân… chẳng qua chỉ là giả bệnh!”
Triệu Ung dường như không nghe thấy, hỏi lại Phì Nghĩa: “Đình úy có biết một người tên là Thân Bảo không?”
“Có biết!” Phì Nghĩa trả lời. “Ba năm trước, kẻ này chính là tham quân dưới trướng mạt tướng!”
“Ồ?” Triệu Ung có vẻ rất tò mò về Thân Bảo. “Hãy nói về kẻ này!”
“Một tên tiểu nhân không hơn không kém!” Phì Nghĩa hừ mũi khinh thường. “Chỉ cần ném tiền cho hắn, hắn sẵn sàng bán luôn cả cha mẹ! Có điều, kẻ này vô cùng tinh quái, thấy đi theo vi thần không có tiền đồ, nên đã ngấm ngầm quay sang nịnh hót quản gia Thân Tôn của phủ Phụng Dương Quân, nên đã được thăng quan, đảm đương chức Hà Gián lệnh. Sao, điện hạ hỏi hắn có việc gì?”
Triệu Ung tim nảy lên một nhịp, song mặt không hề biến sắc, điềm tĩnh nói: “Kẻ này lại thăng quan rồi, đô úy Tấn Dương!”
Phì Nghĩa ngây người, trợn trừng hai mắt nhìn Triệu Ung, đang muốn hỏi tiếp thì Triệu Ung đã cười nhạt, nói: “Đình úy đại nhân, nếu đình úy không yên tâm về kẻ này, có thể cắt cử vài người, bố trí theo dõi hắn, xem hắn làm những trò gì!”
Về đến phủ, trời đã tối. Phì Nghĩa cho gọi quân úy thuộc hạ lại, căn dặn dẫn theo vài tên lính, cải trang kỹ lưỡng, ngấm ngầm theo dõi Thân Bảo.
Thân Bảo sống tại một trạch viện ở Hàm Đan. Đám quân úy cải trang dân thường, ngồi lê la quanh trạch viện. Chưa được bao lâu, cổng viện mở ra, một cỗ xe sang trọng lao khỏi cổng viện, chạy vụt đi. Do ở trong thành, xe ngựa không thể đi nhanh, quân úy cử một người ở lại theo dõi trạch viện, rồi cùng hai người khác gấp rút bám theo.
Cỗ xe sau một hồi vòng vèo lắt léo, dừng lại trước một quán trọ. Ba người tiến lại gần, thấy trên cổng treo biển hiệu đề dòng chữ “Quán trọ Dạ Lai Hương”, bên trong đèn nến sáng trưng, vô cùng náo nhiệt. Quân úy lại cử một người ở ngoài trông chừng, rồi cùng một người bước vào bên trong, song không thấy Thân Bảo đâu.
Tiểu nhị bước ra đón, tươi cười niềm nở: “Khách quan muốn thuê phòng ư?”
Quân úy lấy từ trong ống tay áo ra một đồng tiền đao(2), dúi vào tay tiểu nhị, khẽ hỏi: “Người mới vào đâu rồi?”
Tiểu nhị cầm đồng tiền đao, nhìn quân úy dò xét, hỏi nhỏ: “Người khách quan muốn hỏi phải chăng là Thân gia?”
Quân úy gật đầu.
“Mời đi theo tiểu nhân!”
Tiểu nhị dẫn quân úy tới hậu viện, rẽ qua một khúc ngoặt, chỉ vào một dãy nhà, nói khẽ: “Khách quan muốn tìm Thân gia, cứ vào trong nhà kia. Tiểu nhân cáo từ!”
Quân úy gật gật đầu, thấy tiểu nhị đi khuất, bèn chỉ vào góc tường nói với tên lính đi theo: “Ngươi canh chừng ở đây, có người tới thì ho lên một tiếng!” Nói xong, rón rén tiến về phía khu nhà, dừng lại trước cổng.
Cửa phòng đóng chặt. Quân úy đưa mắt nhìn quanh, thấy bên cạnh có một bức tường thấp, bèn tung người nhảy lên, thận trọng leo lên nóc nhà, di chuyển theo sống nóc vào trong, nhìn thấy trong phòng khách đèn thắp sáng trưng, Thân Bảo đang ngồi đối diện với một người, hai người đều nâng chén rượu. Bên cạnh còn có một kẻ nữa đang đứng, hẳn là nô bộc của người kia.
Người kia nâng chén chúc mừng: “Tại hạ chúc mừng Thân đại nhân đã thăng chức đô úy Tấn Dương!”
Thân Bảo cũng nâng chén, nói: “Nếu không nhờ đặc sứ đại nhân đây giúp đỡ quà biếu, tại hạ làm gì có được ngày hôm nay?”
Nghe thấy hai chữ “đặc sứ”, quân úy lập tức nhận ra ngay người kia chính là đặc sứ nước Tần Sư Lý Tật, thì giật mình kinh ngạc, nín thở, nằm dán mình trên mái ngói, nghiêng tai lắng nghe.
Sư Lý Tật cười nói: “Thân đại nhân khách khí rồi! Dựa vào tài năng của Thân đại nhân, chức vị đô úy Tấn Dương e rằng vẫn chưa xứng! Đợi đại sự thành công, tại hạ nhất định sẽ tấu xin Tần Công, phong đại nhân làm quận thú Hà Đông, thống lĩnh việc phòng ngự Hà Đông.”
Thân Bảo trợn tròn mắt, đặt chén rượu xuống, đứng dậy bái lạy mà nói: “Chỉ sợ tại hạ tài hèn học kém, khó mà đảm đương trọng trách!”
Sư Lý Tật đứng lên, đỡ hắn dậy nói: “Thân đại nhân bất tất phải khách khí! Tài của đại nhân, đừng nói là tại hạ, đến Tần Công cũng đã sớm nghe danh. Tại hạ lần này tìm đến, cũng là vi ngưỡng mộ tài năng của Thân đại nhân!”
Thân Bảo lại lạy mấy lạy: “Tạ ơn Tần Công yêu mến! Tạ ơn đại phu nâng đỡ!”
***
Trên con đường mòn dẫn tới Hàm Đan, Tô Tần dáng vẻ bơ phờ, vừa đi vừa gặm lương khô. Cắn được vài miếng, bèn gỡ bầu nước bên hông xuống, mở nắp, uống ừng ực.
Tô Tần chợt dừng bước, ngồi phịch xuống, cởi đôi giày vải cuối cùng mà Tiểu Hỷ khâu cho, cầm trên tay ngắm nghía một hồi, thấy đế giày đã mòn vẹt hết cả, bèn nở một nụ cười buồn bã, lắc lắc đầu, vung tay vứt đánh vèo vào bụi cỏ ven đường, sau đó lấy từ trong tay nải trên lưng ra một đôi giày cỏ, thử đi vài bước, rồi lại tiếp tục hành trình.
Đi được vài giờ, Tô Tần rẽ vào một con đường lớn, người qua kẻ lại dần tấp nập hơn. Tô Tần ngẩng đầu nhìn về phía trước, thấy xa xa thấp thoáng một bức tường thành và cổng thành hùng vĩ, đoán là đã tới Hàm Đan, bất giác mỉm cười.
Tô Tần sải bước nhanh hơn, chưa đầy nửa canh giờ sau, đã tới cổng nam Hàm Đan. Cổng thành mở rộng, người đợi vào thành xếp hàng dài dằng dặc chờ lính canh tra xét. Do năm ngoái đã từng qua đây nên Tô Tần thông thuộc đường đi lối lại, không gặp phiền hà gì, nhanh chóng qua được tra xét, tự tin sải bước trên phố lớn Hàm Đan.
Tô Tần đi theo con phố, thẳng tới cung Triệu. Khi sắp tới cung thành, Tô Tần buông chậm bước chân, hai mắt chăm chú nhìn vào các quán trọ ven đường, mong tìm được một nơi giá rẻ.
Đúng vào lúc này, một người quẩy gánh bánh nướng tiến lại, vừa đi vừa rao: “Bánh nướng đây, bánh nướng Trịnh Ký chính hiệu, thơm nức cay giòn, một đồng hai chiếc, không ngon không lấy tiền!”
Mùi bánh nướng thơm phức mời gọi Tô Tần. Tô Tần liền tiến lại, tìm trong ống tay áo lấy ra một xu tiền đồng: “Bán cho hai chiếc!”
Người bán bánh nướng cầm tiền, lấy ra hai chiếc bánh. Tô Tần đang đói ngấu, quay người liền đưa lên miệng ăn ngay. Không ngờ vừa đi được vài bước, người bán bánh nướng đã gọi với theo: “Quan gia, xin dừng bước!”
Tô Tần thấy anh ta gọi mình, bèn dừng lại, ngoảnh đầu nhìn. Người bán bánh nướng chạy vội tới, trả lại đồng xu cho Tô Tần: “Quan gia, nhầm tiền rồi! Tiền của quan gia là tiền Chu, tiểu nhân chỉ nhận tiền Triệu thôi!”
Nghe người này nhắc nhở, Tô Tần mới sực nhớ ra rằng từ lúc vào nước Triệu, quên chưa đổi tiền. Tiền Chu và tiền Triệu đều là tiền đồng, song trọng lượng khác nhau, bề ngoài chỉ hơi khác biệt, nếu không nhìn kỹ, khó mà nhận ra.
Tô Tần cười nói: “Anh bạn, tại hạ là người Chu, vừa tới đây, trên người chỉ có tiền Chu, không có tiền Triệu!”
Người bán bánh cuống lên: “Ông chủ đã dặn, bán bánh chỉ nhận tiền Triệu, không nhận bất cứ thứ tiền nào khác. Khách quan chỉ có tiền Chu, không có tiền Triệu, thì tiểu nhân không bán bánh nữa!”
Tô Tần lúng túng nhìn vào chiếc bánh nướng đã bị cắn mất một miếng. Người bán bánh liếc thấy, lập tức la rầm lên: “Chết rồi, làm thế nào đây? Tiểu nhân bán bánh có số lượng, giờ về chắc sẽ bị ông chủ mắng chết. Khách quan mau đền bánh cho tiểu nhân!”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, trả chiếc bánh còn nguyên vẹn cho anh ta, lại móc từ trong túi ra một đồng tiền Chu, cười biết lỗi mà nói: “Anh bạn, chiếc bánh này tại hạ đã cắn một miếng, không thể trả lại được. Ta đền cho anh hai đồng tiền Chu, anh cứ cầm tiền về đi, đảm bảo ông chủ sẽ khen anh đấy!”
Người bán bánh lại khóc rống lên, túm chặt Tô Tần không buông: “Tiểu nhân không cần tiền Chu của khách quan, chỉ cần tiền Triệu thôi!”
Rõ ràng anh chàng này mới theo nghề bán bánh. Tô Tần chỉ biết cười nhăn nhó, thấy người trên phố quây lại mỗi lúc một đông, lại càng thêm lúng túng, đang vắt óc nghĩ kế thoát thân, thì có người chìa ra một đồng tiền Triệu về phía người bán bánh: “Anh bạn, tiền của tôi là tiền Triệu, trả giúp cho vị khách quan đây!”
Người bán bánh cầm lấy đồng xu, xem kỹ rồi vòng tay vái lia lịa: “Tiểu nhân cảm tạ quan gia, cảm tạ quan gia!”
Tô Tần ngẩng đầu nhìn, té ra là Giả Xá Nhân, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ: “Giả huynh!”
Giả Xá Nhân vòng tay: “Xá Nhân xin chào Tô Tử!”
Tô Tần vội đáp lễ, phấn chấn nói: “Thật không ngờ lại gặp được Giả huynh ở đây.”
“Tại hạ đợi Tô Tử đã lâu rồi!” Giả Xá Nhân cười vang mà nói. “Không giấu Tô Tử, khi Tô Tử vừa bước chân vào cổng nam, tại hạ đã cảm thấy ngờ ngợ, chỉ là nhìn Tô Tử ăn mặc thế này, tại hạ không dám nhận, nhưng cũng sợ mình sai, nên mới bám theo sau. Nếu không xảy ra chuyện này, tại hạ có lẽ vẫn chưa dám chắc.”
Tô Tần nhìn vào trang phục rách nát của mình, cười nói: “Giả huynh cũng nhìn người qua mũ áo ư?”
Giả Xá Nhân cười lớn, nói: “Đã là người, làm sao không có mũ áo được!”
“Ồ!” Tô Tần bỗng sực nhớ ra, bèn thu lại nụ cười, hỏi. “Giả huynh vừa nói, Giả huynh đã đợi ở đây lâu rồi. Tại hạ ngu muội, dám hỏi câu này có nghĩa gì?”
Giả Xá Nhân tảng lờ không trả lời, cười hỏi: “Tô Tử đã có chỗ nghỉ chưa?”
“Tại hạ vừa tới Hàm Đan, vẫn chưa tìm được quán trọ ưng ý.”
Giả Xá Nhân chỉ tay về phía trước: “Tại hạ hiện đang ở quán trọ Phong Vân đằng kia, phòng ở cũng khá rộng rãi. Nếu Tô Tử không chê, hãy tạm tới ở chung với tại hạ, ý Tô Tử thế nào?”
Đúng lúc Tô Tần cũng đang vì hầu bao rỗng tuếch mà lo lắng về chuyện ăn ở, nghe vậy liền vòng tay vái tạ liên hồi: “Được Giả huynh chiếu cố, tại hạ cung kính không bằng tuân mệnh!”
Giả Xá Nhân đáp lễ, nói: “Tô Tử, mời!”
Hai người về đến quán trọ Phong Vân. Giả Xá Nhân dẫn Tô Tần vào khu nhà đang thuê trọ, bố trí chỗ ngủ xong xuôi, bèn gọi tiểu nhị mang tới thức ăn và rượu ngon, rót rượu ra hai chén, nâng chén mà nói: “Tô Tử đi đường vất vả, tại hạ tạm dùng chén rượu nhạt, xin được tẩy trần cho Tô Tử!”
Tô Tần cầm chén trên tay, song không nâng lên, mà hỏi Xá Nhân: “Câu hỏi của tại hạ, Giả huynh vẫn chưa trả lời!”
“Không giấu Tô Tử,” Giả Xá Nhân đặt chén rượu xuống, chậm rãi nói, “từ lúc Tô Tử bỏ đi, Tần Công vô cùng hối hận, đã sai tại hạ cấp tốc tới Lạc Dương tìm Tô Tử. Cách đây mười ngày, tại hạ tìm tới Hiên Lý, gặp được lệnh đệ Tô Đại, nói rằng Tô Tử vừa đi một ngày trước. Tại hạ hỏi Tô Tử đi đâu, đáp rằng Tô Tử tới Hàm Đan. Tại hạ vội đuổi theo, nhưng không đuổi kịp. Tại hạ suy tính, Tô Tử đi bộ, tất đi đường mòn; tại hạ đi xe ngựa, phải đi đường lớn, nên không có duyên gặp nhau. Tại hạ đành phải ra roi thúc ngựa, mau chóng tới Hàm Đan trước, tìm quán trọ, ngày ngày ra cổng nam đứng đợi, quả nhiên đã gặp được Tô Tử.”
Tô Tần nâng chén rượu lên: “Vất vả cho Giả huynh rồi!”
Giả Xá Nhân cũng nâng chén, nói: “Tô Tử, mời!”
Hai người cùng uống cạn. Tô Tần đặt chén xuống, nhìn Giả Xá Nhân hỏi: “Xem ra, Giả huynh muốn tại hạ quay trở về Hàm Dương?”
Giả Xá Nhân nghiêm túc gật đầu: “Là ý của Tần Công! Tần Công muốn tại hạ tìm bằng được Tô Tử, mời Tô Tử quay trở lại Hàm Dương. Tần Công còn nói đi nói lại rằng, sẽ giao phó đất nước cho Tô Tử, để thành tựu tráng chí của Tô Tử.”
Tô Tần mỉm cười: “Nếu nói như vậy, e rằng Giả huynh lần này đã uổng công rồi!”
Giả Xá Nhân hơi sững lại: “Sao kia? Tô Tử không muốn quay lại Hàm Dương?”
Tô Tần gật đầu.
Giả Xá Nhân uống một chén rượu, than thở: “Hỡi ôi, để mất Tô Tử, là điều đáng tiếc cả đời của Tần Công!”
Tô Tần lại cười: “Nếu Tần Công dùng Tô Tần, cũng là điều đáng tiếc cả đời của Tô Tần!”
Giả Xá Nhân sửng sốt hỏi: “Cớ sao Tô Tử lại nói vậy?”
Tô Tần bưng vò rượu lên, rót đầy hai chén, nâng chén mà nói: “Tại hạ và Tần Công, chí không giống, đạo không hợp, sao có thể mưu sự cùng nhau?”
Giả Xá Nhân ngẩn ra: “Chí của Tô Tử là nhất thống thiên hạ, chí của Tần Công cũng là nhất thống thiên hạ, cớ sao lại nói chí không giống, đạo không hợp?”
“Giả huynh có điều không biết,” Tô Tần chậm rãi nói, “chí của Tần Công chỉ là nhất thống; còn chí của Tô Tần, nhất thống chẳng qua chỉ là khởi đầu!”
“Câu này nên hiểu thế nào?”
“Không giấu Giả huynh,” Tô Tần nhấp môi chút rượu, ánh mắt chuyển từ Giả Xá Nhân ra ngoài khung cửa, “sau khi du thuyết Tần bất lợi, tại hạ khổ sở suy nghĩ suốt mấy tháng trời, cuối cùng đã ngộ ra một chính đạo trị loạn.”
Giả Xá Nhân trợn tròn hai mắt: “Xin hỏi Tô Tử, là chính đạo gì vậy?”
Tô Tần thu ánh mắt lại, quay sang nhìn Giả Xá Nhân: “Giả huynh có thể trả lời vài câu hỏi của tại hạ trước được chăng?”
“Tô Tử cứ hỏi!”
“Học vấn bách gia, đều là nhằm trị loạn. Dám hỏi Giả huynh, chư tử đều muốn trị loạn, mục đích là gì?”
Giả Xá Nhân ngẫm nghĩ một lát: “Khiến thiên hạ hòa thuận, trở về với thánh đạo thái bình.”
Tô Tần gật đầu: “Xin hỏi tiếp Giả huynh, làm thế nào để khiến thiên hạ hòa thuận?”
Giả Xá Nhân ngẩn người một lát: “Khi ở Hàm Dương, chẳng phải Tô Tử đã từng bàn về điều này rồi ư? Cái đạo thiên hạ hòa thuận, chỉ có hai cách, thứ nhất là chư hầu hòa thuận, thứ hai là thiên hạ nhất thống.”
“Đúng vậy!” Tô Tần lại gật đầu. “Tại hạ còn nói, chư hầu ai ai cũng ấp ủ dã tâm riêng, khó lòng chung sống hòa thuận. Nếu muốn trị loạn, thiên hạ chỉ còn con đường nhất thống.”
“Luận bàn của Tô Tử, Xá Nhân thấy rất đúng!”
“Tạ ơn Giả huynh ủng hộ. Xin hỏi tiếp Giả huynh, thất cường trong thiên hạ, kết cục sẽ quy về nhà nào?”
“Theo luận bàn của Tô Tử lúc ở Hàm Dương, thiên hạ có lẽ sẽ quy về Tần!”
“Đúng vậy!” Tô Tần dõng dạc nói. “Tại hạ quả thực đã từng nói, thiên hạ trong tương lai, nhất định sẽ hình thành thế chân vạc giữa ba nước Tề, Sở, Tần, tranh giành Trung Nguyên, mà người chiến thắng cuối cùng là Tần. Giả sử tại hạ không may đoán trúng, liệt quốc quy Tần, bốn biển nhất thống, vậy xin hỏi Giả huynh, thiên hạ lúc đó có thực sự hòa thuận hay không? Thánh đạo thái bình có thực sự được thi hành trong nhân gian không?”
Giả Xá Nhân không biết trả lời ra sao, cúi đầu im lặng. Rõ ràng, mới vài tháng không gặp, suy nghĩ của Tô Tần đã tiến xa thêm một bậc.
“Than ôi!” Tô Tần nhìn Xá Nhân, thở dài một tiếng. “Giờ nghĩ lại mới thấy, luận bàn của tại hạ lúc ở Hàm Dương quá đỗi ngây ngô. Đế sách dù có thành công, cũng chỉ là trị ngọn mà không trị gốc. Chỉ trị ngọn mà không trị gốc, thiên hạ dù nhất thống, cũng có ích gì?”
“Dám hỏi Tô Tử, phải chăng đã ngộ ra đạo trị gốc?” Giả Xá Nhân ngẩng lên hỏi.
Tô Tần nhìn sững vào chiếc bàn trước mặt, giọng nói trầm mà kiên định: “Thiên hạ bất trị, do lòng người bất trị. Lòng người bất trị, do ham muốn quá nhiều. Muốn trị thiên hạ, trước hết phải trị lòng người; muốn trị lòng người, trước hết phải trị loạn tượng. Trị loạn chẳng qua là một biện pháp, trị lòng người mới là chính đạo gốc rễ. Nếu chúng ta chỉ trị loạn vì loạn, chỉ dùng bạo lực để nhất thống thiên hạ, thì dù có thành công, thiên hạ không những không thể trị, ngược lại sẽ càng thêm loạn.”
“Tô Tử nói rất đúng!” Giả Xá Nhân ngẫm nghĩ một lát, gật đầu nói. “Nếu thiên hạ chỉ luận theo mạnh yếu, thế gian này thực sự sẽ không bao giờ có được ngày bình yên.”
“Đúng vậy!” Tô Tần đồng tình. “Hiện tại chư hầu đều cậy sức tranh giành, không ai nhường ai, thiên hạ nếu muốn nhất thống, ắt phải dựa vào sức mạnh. Tại hạ quan sát đại thế thiên hạ, thấy rằng có được sức mạnh nhất thống thiên hạ, không ai khác ngoài Tần Công. Nếu tại hạ trợ giúp Tần Công, có lẽ sẽ thành công. Tuy nhiên, người Tần vốn sùng thượng vũ lực, nay lại thực thi pháp của Thương Quân, ở Hàm Dương vài tháng, tại hạ đã tìm hiểu về pháp của Thương Quân, cảm thấy thực đáng sợ. Pháp của Thương Quân, không hành giáo hóa, không chút xót thương, chỉ dùng bạo lực để chế phục người. Giả sử Tần Công thực sự có nhờ vào đó mà nhất thống thiên hạ, tất cũng sẽ dựa vào đấy để trị lý thiên hạ. Nước cậy vào sức mạnh, người không chút tình thương, liệu có thể thi hành thiên đạo được chăng? Thiên đạo không hành, liệu có khiến lòng người quy phục được chăng? Thiên hạ nhất thống mà lòng người không phục, thì nhất thống nào có ích gì?”
Giả Xá Nhân cúi đầu, lại trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, mới ngẩng lên nhìn Tô Tần: “Xem ra, Tô Tử muốn vứt bỏ đế sách nhất thống, đi theo con đường chư hầu hòa thuận?”
Tô Tần gật đầu.
“Có điều…” Giả Xá Nhân do dự một thoáng mới nói tiếp, “theo Tô Tử nói, chư hầu ai ai cũng ấp ủ dã tâm riêng, khó lòng được hòa thuận, vậy Tô Tử làm thế nào để trừ khử được dã tâm của họ, để họ hòa thuận với nhau, mà chung sống hòa mục?”
“Hợp tung!”
“Hợp tung?” Giả Xá Nhân ngơ ngác. “Thế nào là hợp tung?”
“Giả huynh hãy nhìn này!” Tô Tần đưa mắt nhìn quanh, thu gom toàn bộ bát đĩa trên bàn lại, rồi đặt hai cái bát tô ở hai góc của một đầu bàn, vừa đặt vừa nói. “Đây là nước Tề, ở phía đông, sau lưng là biển; đây là nước Tần, ở phía tây, sau lưng là tộc Nhung, Địch!” Di chuyển hũ rượu tới đầu bàn bên kia. “Khu vực rộng lớn này là nước Sở, ở phía nam, rộng lớn nhường này, đã chiếm hơn nửa giang sơn!” Rồi cầm bốn chiếc đĩa nhỏ lên, lần lượt đặt ở phía bắc của hũ rượu, kẹp giữa hai chiếc bát tô, lại đặt vào các khe hở giữa chúng một vài quả táo ngâm, rồi chỉ vào chúng. “Từ đây tới đây, lần lượt là Tam Tấn Hàn, Ngụy, Triệu, chiếc đĩa này là Yên, nước Việt vốn ở đây, hiện tại đã ở cả trong hũ rượu này. Tộc Hồ phía bắc, tộc Nhung phía tây, tộc Di phía nam, các nước chư hầu tại lưu vực sông Tứ, Trung Sơn, Nghĩa Cừ đều là nước nhỏ yếu, khó mà thành công.” Rồi hai mắt nhìn chăm chú vào thế trận trên bàn, hồi lâu sau mới ngẩng lên. “Giả huynh có nhìn ra điều gì không?”
Giả Xá Nhân mở to hai mắt, đổ người về phía trước quan sát một chập, lại ngả người ra sau nhìn một hồi nữa, vẫn không nhận ra huyền cơ, bèn lắc đầu nói: “Đây là bản đồ hình thế thiên hạ, Xá Nhân ngu dốt, nhìn không ra chỗ huyền diệu. Thế nào là hợp tung, xin Tô Tử chỉ giáo!”
“Giả huynh đã khiêm tốn như vậy, tại hạ đành phải múa rìu qua mắt thợ!” Tô Tần nhìn xuống bàn, rồi dõng dạc nói. “Thiên hạ hiện nay, thành bại chỉ luận theo mạnh yếu. Mạnh thì thịnh, thịnh tất ức hiếp người khác; yếu thì hèn, hèn tất bị người khác ức hiếp. Từ thời Xuân Thu tới nay, thiên hạ giao tranh công phạt tính ra có tới nghìn trận, song chưa từng có chuyện yếu ức hiếp mạnh, nhỏ xâm phạm lớn.” Tô Tần chỉ tay xuống bàn. “Giả huynh hãy nhìn đại thế thiên hạ, ba nước Tề, Tần, Sở, giống như ba con mãnh hổ, mỗi nước chiếm một địa bàn, nằm phục ở ba hướng đông, tây, nam. Giữa ba mãnh hổ này là Tam Tấn Hàn, Triệu, Ngụy, Tam Tấn giống như ba con sói đói, nhe nanh múa vuốt, cắn xé lẫn nhau. Duy có nước Yên là an phận ở một góc đông bắc.”
Giả Xá Nhân lại quan sát một hồi, song vẫn nhìn Tô Tần bằng vẻ mặt khó hiểu.
Tô Tần lại cười, từ tốn nói: “Thiên hạ nếu muốn trị an lâu dài, trước hết phải trị lòng người; muốn trị lòng người, trước hết phải trị loạn. Đạo trị loạn chỉ có hai cách, thứ nhất là nhất thống, thứ hai là chư hầu hòa thuận. Nhất thống có thể xem là lấy bạo trị bạo, lấy loạn trị loạn, tuy dễ thành công, song chỉ trị được trước mắt, không thể trị được lâu dài. Chư hầu hòa thuận tuy khó thực hiện, song là trị tận gốc, một khi đã thành công, có thể trị an mãi mãi.”
Giả Xá Nhân rõ ràng đang nóng lòng muốn biết câu trả lời: “Điều này thì có liên quan gì tới hợp tung?”
“Nếu Giả huynh xem kỹ bản đồ này,” Tô Tần nhìn bản đồ hình thế, chỉ vào Tam Tấn, “thì sẽ không khó để nhận ra mấu chốt của thiên hạ. Mấu chốt của thiên hạ ở đâu? Chính là ở Tam Tấn. Giả huynh nghĩ kỹ mà xem, gần trăm năm qua, thiên hạ liên tục tranh giành, đa phần đều ở Trung Nguyên, đó chính là nguồn gốc của câu nói ‘đuổi hươu Trung Nguyên’. Trung Nguyên là đâu? Trung Nguyên chính là Tam Tấn, cũng chính là ba cái đĩa nhỏ này, hay ba con sói đói này. Tam Tấn hoặc tranh với Tần, hoặc tranh với Tề, hoặc tranh với Sở, hoặc tranh chấp trong ổ, tự xâu xé lẫn nhau…”
“Ý Tô Tử là…” Giả Xá Nhân chợt bừng tỉnh, nôn nóng hỏi ngay, “hợp tung chính là Tam Tấn hợp nhất?”
“Đúng vậy!” Tô Tần nghiêm trang gật đầu. “Thiên hạ giống như bàn cờ, dọc ngang đều là đường đi. Theo quy tắc xưa nay, đông tây là ngang, nam bắc là dọc. Tam Tấn Hàn, Ngụy, Triệu dàn thẳng từ nam tới bắc, phân cách đông tây, chính là mấu chốt của thiên hạ. Tam Tấn chia ba, giống như ba con sói đơn độc, mặc cho ba con hổ xung quanh ức hiếp. Nếu Tam Tấn kết thân, ba sói thành bầy, dù là mãnh hổ, cũng không làm gì nổi.”
“Tuyệt diệu!” Giả Xá Nhân lập tức bừng tỏ, vui mừng khôn xiết mà nói. “Một khi Tam Tấn kết thân, Tần không dám xâm phạm phía đông, Tề không dám tiến đánh phía tây, Sở không dám tấn công phía bắc, Tần, Tề cách bởi Tam Tấn, muốn tranh giành cũng không được. Sở tuy rộng lớn, song phía bắc là Tam Tấn, đông bắc là Tề, tây bắc là Tần, cũng không dám động đao binh. Nước lớn dừng đao binh, sẽ không còn phân tranh nữa!”
“Hợp tung còn gồm cả nước Yên!” Tô Tần bổ sung thêm. “Tam Tấn hợp nhất, lại thêm nước Yên, cái thế này thiên hạ khó ai địch nổi, Tần, Sở, Tề tất không dám manh động. Nước lớn không manh động, nước nhỏ không tranh giành, loạn trong thiên hạ có thể hóa giải, tuy phân song thực chất lại là hợp. Thiên hạ hợp, sẽ không tranh; thiên hạ không tranh, lòng người sẽ được trị.”
“Lòng người trị thế nào, Tô Tử hẳn đã có cách?”
“Đúng vậy!” Tô Tần chậm rãi nói. “Trên đường từ Chu tới Triệu, tại hạ đã suy nghĩ mãi về câu hỏi này. Tại hạ nghĩ rằng, lòng người ngày nay không còn thuần phác, tư dục tung hoành. Nếu muốn người trong thiên hạ đều có thể đoạn tuyệt tư dục, vứt bỏ trí khôn giống như tiên thánh Lão Đam đã nói, trở về thời đại chất phác như tam thánh viễn cổ, là điều không thể. Theo ý tại hạ, các thuyết lễ chế nhân nghĩa của Trọng Ni, thiên hạ kiêm ái của Mặc Địch, người người vì mình của Dương Chu đều là đạo trị tâm, tuy cách thức có khác nhau, song đều quy về một chỗ, có thể chọn dùng. Lòng người hướng thiện không hướng ác, từ cổ chí kim, bách tính thiên hạ không thích chém giết, người trí tuệ không thích sát phạt, dù là chư hầu, cũng không có mấy ai thực lòng muốn sát phạt. Thích sát phạt chỉ là loài cầm thú, chúng sát phạt lẫn nhau là để giao phối, để giành thức ăn. Loài người không phải là cầm thú, vì loài người có lương tri, lương năng, lương tâm. Loài người biết hổ thẹn, loài người phải mặc quần áo, loài người không thể giao cấu công khai. Loài người biết sợ hãi, sợ trời, sợ cô độc. Sợ trời, nên sẽ tuân theo thiên đạo; sợ cô độc, nên sẽ đối xử tốt với nhau. Người người đối xử tốt đẹp với nhau, trên đời sẽ không còn chinh phạt, tức không còn chém giết, không còn chiến tranh. Lâu dần, tư tâm sẽ dần bị tiêu trừ!” Nói tới đây, bèn ngừng lại, một lát sau, lại cười buồn một tiếng. “Những lời nói bừa của tại hạ, Giả huynh có thấy nực cười chăng? Có thấy suy nghĩ của tại hạ hão huyền viển vông chăng?”
Giả Xá Nhân trầm ngâm hồi lâu, rồi đổi ngồi thành quỳ, hướng về Tô Tần hành đại lễ ba lạy: “Tô Tử ở trên, xin nhận của Xá Nhân ba lạy!”
Tô Tần cả kinh: “Giả huynh… sao lại làm như vậy?”
Giả Xá Nhân lạy xong ba lạy, mới nói: “Không phải Xá Nhân bái lạy Tô Tử, mà là Xá Nhân thay mặt bách tính thiên hạ thành tâm bái lạy Tô Tử. Bất luận Tô Tử có hoàn thành đại nghiệp này hay không, song tấm lòng cao cả của Tô Tử đã đủ cảm động đất trời, khiến quỷ thần rơi lệ.”
Tô Tần đứng dậy, đi vòng qua bàn, hướng về Giả Xá Nhân lạy lại ba lạy, xúc động mà nói: “Được Giả huynh tận lực ủng hộ, Tô Tần nhất định sẽ kiên gan tiến bước, có chết cũng không quay đầu!”
Giả Xá Nhân đứng dậy, ngồi xuống, cung kính vòng tay vái Tô Tần: “Không phải nhờ Xá Nhân ủng hộ. Thiện ý của Tô Tử, phàm là người có lương tâm trong thiên hạ, đều sẽ dốc lòng ủng hộ!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Tô Tử đã tới Hàm Đan, Xá Nhân dám hỏi, đại nghiệp hợp tung, hẳn là bắt đầu từ Triệu?”
“Đúng vậy!” Tô Tần đáp lễ mà nói. “Nước Ngụy từ thời Văn Hầu tới nay, vẫn luôn ỷ vào sức mạnh, nay có các hiền tài Bàng Quyên, Huệ Thi, thế nước hưng thịnh trở lại, không phải là chỗ khởi xướng. Hàn ở giữa bốn nước mạnh Sở, Tần, Ngụy, Tề, hình thế bất lợi, không có lực khởi xướng. Trong Tam Tấn, duy có Triệu là thích hợp, nên tại hạ quyết định tới Hàm Đan trước tiên.”
“Phải!” Giả Xá Nhân gật đầu nói. “Tô Tử nắm vững đại thế, nhìn từ chỗ cao, bắt tay từ chỗ nhỏ, hợp tung có lẽ sẽ thành công. Dám hỏi Tô Tử, Xá Nhân bất tài, có thể giúp được gì chăng?”
“Đa tạ Giả huynh!” Tô Tần vòng tay vái tạ. “Tại hạ đang lo một tay khó vỗ đây! Tại hạ mới tới, trên đường nghe nói Triệu Hầu đổ bệnh, có chuyện này không?”
Giả Xá Nhân kể lại toàn bộ sự việc xảy ra trong cung Triệu mà mình đã nghe ngóng được gần đây. Tô Tần trầm ngâm một lát, rồi ngẩng đầu cười nói: “Đúng là vừa mới nói xong, tại hạ đã phải làm phiền Giả huynh ngay rồi!”
“Tô Tử xin cứ nói, chớ ngại.”
“Theo tình thế trước mắt, Giả huynh có biết người nào có thể tiếp cận Triệu Hầu?”
Giả Xá Nhân lập tức nói ngay không chút đắn đo: “An Dương Quân!”
Tô Tần vòng tay nói: “Làm phiền Giả huynh tìm cách loan tin để An Dương Quân biết tại hạ đã tới Hàm Đan!”
***
Trên đài Hồng Ba, thái tử Ung bước vào cửa cung, xua hết người hầu lui ra, tiến lại trước giường bệnh của Túc Hầu, dập đầu hô: “Nhi thần khấu kiến quân phụ!”
Triệu Túc Hầu vụt cái đã ngồi bật dậy, nhìn thái tử Ung, mỉm cười nói: “Ung Nhi, lại đây ngồi đi!”
Thái tử Ung tạ ơn, đứng dậy, ngồi xuống mép giường.
“Ung Nhi,” Túc Hầu âu yếm xoa đầu thái tử Ung, “đã gặp tam thúc chưa?”
Thái tử Ung ngẩng nhìn Túc Hầu, khẽ vâng một tiếng.
“Bệnh tình của tam thúc thế nào?”
“Quả đúng như quân phụ nói, tam thúc giả bệnh. Thần nhi hỏi ý tam thúc về việc triều chính, nói Tần Công phái sứ thần kết minh phạt Ngụy, nhi thần không dám tự quyết, xin tam thúc định đoạt.”
“Tam thúc nói sao?”
“Tam thúc nói, người Tần không đáng tin, hiện tại cấp bách không phải ở Ngụy, mà là ở Trung Sơn, nên xin điều động hai vạn quân trấn giữ Tấn Dương tới đóng ở quận Đại, lại còn thỉnh cầu hổ phù. Nhi thần đã nghe theo lời dặn của quân phụ, đồng ý cả rồi!”
“Tam thúc còn nói gì nữa không?”
“Tam thúc đưa ra một tờ danh sách, liệt kê những triều thần cần được điều động, muốn nhi thần xem xét và phê chuẩn. Nhi thần liếc sơ qua, thấy những người tới phủ tam thúc thăm bệnh đều được thăng chức. Ngoài tứ thúc và ngự sử, tất cả những người có thể giáng chức, đều bị giáng chức nhất loạt. Những người không lên triều, tuy không tới hỏi thăm tam thúc, vẫn giữ nguyên chức. Nhi thần không nói thêm gì, cũng làm theo lời dặn của quân phụ, đồng ý cả với tam thúc!”
Triệu Túc Hầu khẽ gật đầu.
“Có điều,” thái tử Ung ngẫm nghĩ một lát, khẽ nói, “người cuối cùng trong bản danh sách là Hà Gián lệnh Thân Bảo, tam thúc đột ngột thăng cấp cho hắn làm đô úy Tấn Dương, nhi thần lấy làm ngạc nhiên, dò hỏi Phì Nghĩa, được biết Thân Bảo vốn là tham quân thuộc hạ của Phì Nghĩa, năm ngoái được thăng Hà Gián lệnh, lần này lại được thăng làm đô úy Tấn Dương, nhảy liên vài cấp, quả là một bước lên thẳng mây xanh!”
Triệu Túc Hầu nhắm mắt lại, chau tít đôi mày. Một lát sau, mở mắt nhìn thái tử Ung, cười nói: “Con xử lý việc này thế nào?”
“Nhi thần trong lòng ngờ vực, cảm thấy có điều mờ ám bên trong, nên đã sắp xếp tướng quân Phì Nghĩa âm thầm điều tra.”
“Ồ, tướng quân có điều tra được gì không?”
Thái tử Ung lôi từ trong ống tay áo ra một mật báo, trình lên Túc Hầu.
Túc Hầu đọc xong, xoa đầu thái tử Ung, khen ngợi: “Ung Nhi giỏi lắm, chỉ vài ngày không gặp, con đã lớn bổng lên rồi. Có cái đầu của con, quả nhân có thể yên tâm ngủ được một lúc.”
“Tạ ơn quân phụ quá khen!”
“Quả nhân nghe nói, Lạc Dương có một sĩ tử tên gọi Tô Tần đã tới nước ta, hiện đang ở Hàm Đan. Ung Nhi có biết người này chăng?”
Thấy phụ vương đến chuyện cỏn con như vậy cũng biết rõ, thái tử Ung lấy làm kinh ngạc, không giấu được niềm khâm phục tự đáy lòng, khẽ gật đầu nói: “Bẩm có, nhi thần đã từng nghe Phì Nghĩa nhắc tới người này, nói hắn là cuồng sinh, năm ngoái tới Tần, hiến đế sách cho Tần Công, mong muốn bình định liệt quốc, nhất thống thiên hạ, may mà chưa được Tần Công trọng dụng!”
“Ung Nhi hãy tìm cách gặp hắn, xem thử hắn có cuồng pháp gì?”
“Nhi thần lĩnh chỉ!”
Trong quán trọ Phong Vân, Tô Tần đang cùng Giả Xá Nhân trò chuyện về tình hình trong cung Triệu, chợt chủ quán bước vào, vòng tay vái chào: “Làm phiền hai vị một lát. Xin hỏi, vị nào là Tô tiên sinh?”
Tô Tần đứng dậy vòng tay đáp lễ, nói: “Là tại hạ!”
“Có một vị khách quan tới tìm tiên sinh!”
Tô Tần chẳng quen ai ở Hàm Đan, lúc này bỗng dưng có người tới tìm, chẳng cần hỏi cũng biết là chuyện gì. Tô Tần liếc nhìn Giả Xá Nhân, Xá Nhân cười nói: “Tô huynh mau đi đi, tin tốt lành đã tới tận cửa rồi!”
Tô Tần vòng tay nói: “Giả huynh xin đợi cho một lát, tại hạ đi một lúc sẽ về!”
Giả Xá Nhân cũng vòng tay nói: “Xá Nhân cung kính ngồi chờ tin tốt lành.”
Tô Tần theo chủ quán ra ngoài cửa, Phì Nghĩa trong trang phục quý tộc tiến lại hỏi: “Tiên sinh phải chăng là Tô Tử người Lạc Dương?”
Tô Tần đáp lời: “Chính tại hạ!”
Phì Nghĩa nheo nheo mắt, nhìn kỹ Tô Tần một lượt từ đầu tới chân, rồi gật đầu nói: “Ồ, quả là có khí phách!” Rồi khẽ ôm quyền. “Tại hạ Phì Nghĩa xin chào Tô Tử!”
Tô Tần sớm đã biết rõ nội tình cung Triệu, đương nhiên đoán được ngay Phì Nghĩa là ai, song cũng chưa vội nói thẳng ra, mà ôm quyền đáp lễ: “Tô Tần Lạc Dương xin chào Phì Tử!”
Phì Nghĩa đứng né sang một bên, nghiêng người chỉ vào cỗ xe ngựa trên phố: “Chúa công nhà tại hạ nghe danh Tô Tử đã lâu, muốn mời Tô Tử tới thưởng trà, rất mong Tô Tử nể mặt.”
Tô Tần lại vòng tay nói: “Cung kính không bằng tuân lệnh!”
Tô Tần bước lên xe, Phì Nghĩa vung roi, ngựa phi băng băng, chẳng mấy chốc, đã dừng lại trước một cánh cổng màu đỏ. Tô Tần nhìn tấm biển treo trên cổng, thấy bên trên để ba chữ “Phong Nhã viên”. Nghe thấy tiếng xe ngựa, có người vội bước ra đón, dắt ngựa và xe đi. Phì Nghĩa dẫn Tô Tần vào trong cổng chính, bước vào dãy nhà thứ nhất, khẽ đẩy cánh cửa màu đỏ, quay người lại nói với Tô Tần: “Tô Tử xin đợi một lát!” Nói xong bước vào trong, một lúc sau, quay trở ra. “Tô Tử, chúa công có lời mời!”
Tô Tần bước vào, thấy giữa phòng có một cậu thiếu niên ngồi ngay ngắn, nhìn vào cách ăn mặc, biết ngay là thái tử, vội quỳ xuống đất, dập đầu mà nói: “Sĩ tử Lạc Dương Tô Tần khấu kiến điện hạ!”
Thái tử Ung cũng giống như Phì Nghĩa, mở to mắt quan sát Tô Tần một lượt từ đầu tới chân, rồi khẽ hất hàm, chỉ vào chỗ ngồi bên cạnh: “Tô Tử miễn lễ, mời ngồi!”
“Tạ ơn điện hạ ban chỗ!” Tô Tần cảm tạ xong, đứng dậy, ngồi xuống chỗ, đưa mắt nhìn thái tử, thấy thái tử tuy còn nhỏ tuổi, song tư thái phi phàm, hoàn toàn khác hẳn với những đứa trẻ bình thường.
Thái tử Ung ôm quyền nói: “Triệu Ung nghe danh Tô Tử đã lâu, được biết Tô Tử tới Hàm Đan, bèn sai tướng quân Phì Nghĩa mạo muội đi mời, đã làm phiền tới Tô Tử, mong Tô Tử lượng thứ!”
Tô Tần ôm quyền đáp lễ: “Điện hạ vì thảo dân mà mệt nhọc tới quý thể, thảo dân vô cùng e sợ!”
“Triệu Ung bất tài, muốn hỏi Tô Tử về chuyện thiên hạ.”
“Điện hạ cứ hỏi, thảo dân biết sẽ không giấu.”
“Dám hỏi Tô Tử, liệt quốc trong thiên hạ, nước nào mạnh nhất?”
“Nước Triệu!” Tô Tần không chút đắn đo, lập tức trả lời.
“Hay lắm!” Phì Nghĩa vỗ mạnh vào đùi, lớn tiếng tiếp lời. “Phì Nghĩa thích nghe câu này!”
Thái tử Ưng lại khẽ chau mày, do dự một lát, ngẩng lên hỏi: “Xin hỏi tiếp Tô Tử, liệt quốc trong thiên hạ, nước nào yếu nhất?”
“Nước Triệu!” Tô Tần vẫn trả lời dứt khoát không chút đắn đo.
Phì Nghĩa sững người, biến ngay sắc mặt: “Xin hỏi Tô Tử, nước Triệu đã mạnh nhất, vì sao lại thành yếu nhất?”
“Hồi bẩm tướng quân,” Tô Tần hơi ôm quyền hướng về phía Phì Nghĩa, “mạnh có đạo lý của mạnh, yếu có đạo lý của yếu!”
Thái tử Ung lại tỏ ra rất hào hứng, nhổm người về phía trước nói: “Triệu Ung muốn nghe rõ hơn!”
“Khởi bẩm điện hạ,” Tô Tần vòng tay, dõng dạc nói, “nước Triệu rộng hai nghìn dặm, dân đông bốn trăm vạn, chúa thượng giơ tay hô một tiếng, chỉ trong sớm tối, có thể điều động vài chục vạn giáp sĩ, lại thêm ngựa tốt, nỏ cứng, dũng sĩ thiện chiến vô số. Thế nước mạnh như vậy, giả sử người Triệu có cùng kẻ thù, tướng sĩ sẵn sàng xả thân, liệt quốc ai có thể chống lại? Tô Tần dựa vào điểm này mà nói là mạnh nhất, hẳn không có gì quá đáng!”
Phì Nghĩa gật gù: “Phải, đây là sự thực!”
“Tuy nhiên,” Tô Tần lại đổi giọng, “đất Triệu cằn cỗi, đã không có được cái lợi cá muối như Tề, Sở, lại không có mỏ đồng sắt như Yên, Hàn, càng không có nhiều ruộng đồng màu mỡ như Quan Trung nước Tần, người dân còn sống khổ cực, nói gì đến tích trữ quốc khố? Nước không có tích trữ, sao có thể chiến đấu lâu dài? Chuyện này khoan chưa tính đến, lại thêm nước Triệu bốn phía không có cửa ải hiểm trở để phòng thủ, láng giềng bốn bên không có bạn, chỉ có thù địch, trong bụng lại có khối nhọt lớn là Trung Sơn, muốn tồn tại e còn chưa đủ lực, nói gì tới mở rộng bờ cõi? Tại hạ dựa vào điểm này mà nói là yếu nhất, hẳn không có gì…”
Không đợi Tô Tần nói hết câu, Phì Nghĩa đã giận dữ cắt ngang: “Theo ý Tô Tử, nước Triệu há chẳng phải ngay đến nước Yên già yếu cũng không bằng, đúng là phóng miệng nói bừa…” Thấy thái tử Ung trừng mắt nhìn sang, đành gắng gượng kìm nén cơn phẫn nộ, ngoảnh mặt sang một bên, không nhìn Tô Tần nữa.
Thái tử Ung quay sang Tô Tần: “Tô Tử, nói tiếp đi!”
“Vừa rồi tại hạ mới chỉ đề cập tới ngoại thương, song ung nhọt của Triệu, phần lớn là ở nội thương!”
Thái tử Ung hai mắt vụt sáng: “Xin hỏi Tô Tử, nội thương của Triệu ở đâu?”
“Trong tam quân, kẻ xung phong lâm trận thì nhiều, song tướng trí dũng lại hiếm hoi. Trên triều đường, kẻ hưởng lộc thực ấp thì nhiều, bậc đại hiền tài lại khó tìm. Trong cung thất, quanh năm bận rộn quay cuồng, song kế sách trị quốc lâu dài lại không thấy…” Nói đến đây, Tô Tần ngừng lời, đưa mắt nhìn thái tử Ung và Phì Nghĩa.
Lời của Tô Tần, câu nào cũng xác thực, đánh trúng vào điểm yếu của nước Triệu, dù là Phì Nghĩa cũng nghe đến ngẩn người, đứng đực tại chỗ, không còn lời nào phản bác, hai mắt mở to nhìn Tô Tần chằm chằm.
“Điện hạ!” Tô Tần thấy cơ hội đã tới, bèn nói thẳng suy nghĩ trong lòng. “Thiên hạ hiện nay, thành bại tồn vong chỉ dựa vào mạnh yếu. Nước Triệu yếu ớt như vậy, tình thế nguy ngập như vậy, nếu quần thần vẫn không tự biết, thậm chí còn như tình hình trước mắt, thần trọng quân khinh , trên dưới không đồng lòng, cùng thuyền mà không cùng chí, thì tiền đồ của Triệu, Tô Tần thực không dám hy vọng.”
Thái tử Ung như choàng tỉnh từ trong cơn kinh sợ, nghiêng người về phía trước hỏi: “Tô Tử đã chẩn đoán ra được vết thương lớn của Triệu, liệu có phương thuốc chữa trị chăng?”
Tô Tần trong lòng tràn đầy tự tin, gật đầu nói: “Khởi bẩm điện hạ, có vết thương tự khắc có cách trị!”
“Tô Tử xin hãy nói!”
“Hợp tung!”
“Hợp tung?” Thái tử Ung ngẩn người, trầm ngâm một lát, lại nhổm người về phía trước hỏi. “Triệu Ung trẻ người non dạ, xin Tô Tử nói kỹ hơn!”
Vào buổi trưa hôm đó, một cơn bão cát đột ngột tấn công vào trọng trấn Tấn Dương, bồi đô nước Triệu, nằm ở phía tây bắc bên bờ sông Phần Thủy. Phóng mắt nhìn ra, chỉ thấy gió cuốn cát bay mù mịt, không thấy mặt trời.
Công tử Phạm dẫn đầu một đoàn xe ngựa hơn chục cỗ từ từ tiến vào cổng đông Tấn Dương trong cát bụi kín trời. Quận thú Thái Nguyên kiêm thú thừa Tấn Dương Triệu Báo hay tin, ra tận cổng phủ nghênh đón đám công tử Phạm, hành lễ xong xuôi thì dẫn khách vào trong phủ.
Công tử Phạm lấy từ trong ống tay áo ra tấm hổ phù, bày trên mặt bàn. Triệu Báo cũng lấy hổ phù ra, khớp lại cùng. Hai tấm hổ phù khớp thành một thể nguyên vẹn. Triệu Báo xác nhận không có sai lệch gì, bèn quỳ xuống bái lạy hổ phù, rồi đứng dậy vái mà nói: “Mạt tướng xin nghe lời công tử!”
Công tử Phạm lấy từ trong ống tay áo ra bức chiếu thư, dõng dạc tuyên đọc: “Triệu Báo nghe chỉ! Điện hạ có dụ, thăng chức cho Hà Gián lệnh Thân Bảo làm đô úy Tấn Dương, hỗ trợ phòng thủ Tấn Dương, điều động hai vạn bộ binh và kỵ binh Tấn Dương gấp rút lên đường tới quận Đại ngay trong đêm nay!”
Triệu Báo lại bái lạy mà nói: “Mạt tướng tuân chỉ!” Công tử Phạm cho gọi Thân Bảo tới bái kiến Triệu Báo, Triệu Báo cũng sai người gọi tướng quân Hàn Cử tới, căn dặn: “Hàn tướng quân, lập tức điểm hai vạn binh, theo công tử viễn chinh tới quận Đại!”
Hai canh giờ sau, Hàn Cử dẫn theo hai vạn bộ binh và kỵ binh tinh nhuệ của Tấn Dương, rời khỏi cổng đông vào lúc hoàng hôn, thâu đêm hành quân gấp rút.
Tới sáng hôm sau, cổng thành đông vừa mở, lại có vài kỵ mã phi nước đại vào thành, lao thẳng tới phủ quận úy cầu kiến Triệu Báo. Người dẫn đầu lấy từ trong ống tay áo ra một bức mật thư, trình lên Triệu Báo. Triệu Báo xem xong, mặt hơi biến sắc, một lát sau, cười nhạt một tiếng, sắp xếp chỗ nghỉ cho đám người này, sau đó sai người gọi Thân Bảo tới, dẫn hắn đi thị sát việc phòng ngự thành.
Triệu Báo dẫn Thân Bảo tuần tra một vòng dọc tường thành Tấn Dương, tới cổng tây, chỉ vào thành cao, hào sâu, cùng các công sự phòng ngự khác, giọng đầy cảm khái nói vói Thân Bảo: “Thân tướng quân, ba mươi năm qua, người Tần đã ba lần đánh Tấn Dương rồi!”
Thân Bảo nịnh nọt: “Tướng quân thần dũng, người Tần nhìn vào đã sợ, nào dám tới nữa?”
“Than ôi!” Triệu Báo khẽ lắc đầu. “Không giấu Thân tướng quân, bốn huyện tám ấp thuộc Tấn Dương, dọc ngang vài trăm dặm, chỉ có năm vạn bộ binh và kỵ binh, điện hạ lại vừa điều động đi hai vạn, bản tướng cảm thấy lo lắng không yên!”
“Sao kia?” Thân Bảo ngạc nhiên hỏi. “Triệu tướng quân có gì lo lắng?”
“Than ôi!” Triệu Báo lại thở dài sườn sượt, nhìn Thân Bảo đầy ẩn ý. “Thân tướng quân có điều không biết, tại hạ trấn thủ Tấn Dương đã nhiều năm, biết chắc người Tần không lúc nào thôi dòm ngó thành này. Tấn Dương là thành kiên cố nhất Hà Đông, thành cao hào sâu, là nền móng của Triệu, ngộ có gì sơ suất, Triệu Báo còn mặt mũi nào mà nhìn người Triệu nữa?”
“Tướng quân yên tâm!” Thân Bảo cười nói. “Trước khi tại hạ lên đường, tướng quốc đại nhân đã đích thân căn dặn, người Tần đã kết minh với ta cùng phạt Ngụy, tuyệt đối sẽ không tấn công Tấn Dương!”
“Ồ?” Triệu Báo cố tình ra vẻ kinh ngạc, rồi gật đầu nói. “Tướng quốc đã nói vậy, bản tướng cũng yên tâm phần nào. Có điều, dù người Tần có kết minh hay không, việc bảo vệ thành vẫn phải tăng cường. Thân tướng quân, tướng quân xem thế này được không, tướng quân vừa mới tới nơi, chưa thông thạo hình thế, tạm thời tiếp quản việc phòng ngự thành ở cổng tây. Còn các cổng thành khác, vẫn do bản tướng giám sát.”
Thân Bảo tỏ vẻ không vui, đang định lên tiếng, chợt nhớ lời Thân Tôn căn dặn mình không được gây chuyện, đành im lặng không nói gì thêm, chỉ gật đầu đồng ý: “Mạt tướng tuân lệnh!”
Trở về phủ đô úy, Thân Bảo ngẫm nghĩ một hồi, rồi ngồi vào bàn viết một bức mật thư, gọi tay chân thân tín lại dặn dò: “Ngươi mau trở về Hàm Đan, đưa bức mật thư này cho Sư Lý đại nhân!”
Người này cầm lấy mật thư, dõng dạc đáp lời: “Tiểu nhân tuân lệnh!”
***
Trong đài Hồng Ba, thái tử Ung chậm rãi bẩm tấu: “Ung Nhi đã phụng chỉ gặp mặt Tô Tử!”
“Ồ!” Triệu Túc Hầu đang nằm trên giường khẽ nhổm dậy, cười hỏi. “Người này phải chăng là kẻ ngông cuồng?”
“Đúng vậy!” Thái tử Ung gật đầu. “Ung Nhi đã gặp không ít người cuồng, song chưa thấy ai cuồng như hắn!”
“Hắn cuồng như thế nào?” Triệu Túc Hầu từ từ thu lại nụ cười.
“Ung Nhi cho rằng, dù Ngô Khởi, Thương Ưởng còn sống, cũng không bằng hắn!”
“Ung Nhi dựa vào đâu mà nói vậy?”
“Tài của Ngô Khởi, Thương Ưởng, chẳng qua chỉ là làm mạnh cho một nước. Còn tài của Tô Tử, lại có thể dẹp yên phân tranh trong thiên hạ.”
“Thật ư?” Triệu Túc Hầu chấn động, ngả người về phía trước. “Hắn có thể dẹp yên phân tranh trong thiên hạ, cũng là cuồng lắm rồi. Ung Nhi có hỏi hắn, loạn trong thiên hạ phải làm thế nào mới có thể dẹp yên?”
“Có! Là hợp tung!”
“Thế nào là hợp tung?”
“Theo Tô Tử, chính là hợp tung chế hoành. Nói cách khác, là nước yếu liên minh, chống lại nước lớn. Cụ thể là, Tam Tấn kết minh hợp nhất, phía đông chống Tề, phía tây kháng Tần, phía nam chế Sở, khiến ba nước này đều sợ, không dám tuỳ tiện khởi binh. Ba nước không dám khởi binh, mạnh không dám ức hiếp yếu, loạn trong thiên hạ đương nhiên được dẹp trừ.”
Triệu Túc Hầu trầm ngâm suy nghĩ, một lát sau, khẽ chau mày, gật đầu nói: “Phải! Ngộ được đạo này, hẳn là đại tài, có thể trọng dụng. Truyền chỉ An Dương Quân, cho An Dương Quân giới thiệu Tô Tử lên Phụng Dương Quân, nói là quả nhân tiến cử, bảo Phụng Dương Quân cân nhắc mà dùng!”
Thái tử Ung ngần ngừ một lát, rồi gật đầu nói: “Nhi thần lĩnh chỉ!”
Trong phủ Phụng Dương Quân, Thân. Tôn dẫn tư đồ hối hả đi men theo con đường nhỏ dẫn vào Thính Vũ các. Triều thần đã tới ngồi chật kín trong Thính Vũ các, có tư không, ngự sử, nội sử, tả sư và phủ doãn các quận huyện lân cận, Phụng Dương Quân ngồi ngay ngắn ở vị trí chủ chính giữa phòng.
Thân Tôn bước vào bẩm báo, tiếp đó tư đồ tiến vào bái lạy: “Hạ quan khấu kiến tướng quốc!”
Phụng Dương Quân chỉ vào chỗ trống bên cạnh: “Ngồi đi!” Thấy tư đồ đã ngồi xuống, bèn mỉm cười trách móc. “Đinh đại nhân, sao hôm nay tới muộn thế?”
Tư đồ vòng tay nói: “Tướng quốc cho gọi, hạ quan nào dám tới chậm nửa bước. Chỉ vì khi hạ quan ra khỏi cửa, vừa hay gặp quân úy từ quận Đại trở về, đã nán lại một lát nghe hắn bẩm báo việc quân, nên tới chậm.”
“Ồ?” Phụng Dương Quân vội hỏi. “Là việc gì vậy?”
“Khởi bẩm tướng quốc, giờ Thìn hôm kia, hai vạn binh mã Tấn Dương đã tới quận Đại. Hiện tại binh mã đã tập kết đông đủ ở quận Đại, lương thảo đang thiếu thốn, công tử Phạm sai hắn trở về giục cấp lương thảo.”
“Ồ, tư đồ hãy trực tiếp báo lên An Dương Quân, bảo An Dương Quân mau chóng cấp một vạn năm nghìn thạch lương thực!”
“Hạ quan tuân lệnh!”
“Chỗ người Yên có tin gì không?”
“Công tử Ngư đang chiêu binh mãi mã ở Vũ Dương, chờ thời cơ hành sự.”
“Tốt!” Phụng Dương Quân gật gù. “Tốt lắm! Nếu công tử Ngư thành công, ta sẽ có được Yên. Được Yên, đại sự coi như đã định!”
Nghe nói vậy, ngự sử không khỏi lo lắng, ngờ vực nhìn Phụng Dương Quân: “Hạ quan có chuyện không hiểu. Chúa thượng đổ bệnh nằm liệt giường đã lâu, điện hạ trẻ người non dạ, tướng quốc trong triều lại nhất ngôn cửu đỉnh, bá quan kính phục, chính là cơ hội tốt để hành sự. Theo ngu kiến của hạ quan, chỉ cần tướng quốc hô lên một tiếng, bá quan nhất nhất hưởng ứng, tướng quốc kế vị dễ dàng như lấy vật trong túi, cớ sao lại phải bỏ gần cầu xa, đi đường vòng như vậy?”
“Đúng thế!” Tư đồ cũng nói. “Tướng quốc, cơ hội không thể bỏ lỡ, thời cơ không chờ đợi ta!”
“Than ôi!” Phụng Dương Quân nhìn ngự sử, thở dài một tiếng. “Chuyện này nếu dễ dàng như lời ngự sử nói, thì năm năm trước bản công đã khởi sự rồi, đâu phải đợi tới hôm nay?” Ho khẽ một tiếng. “Việc khác khoan tính đến, chỉ riêng một mình chúa thượng, chư vị đã không hiểu hết được đâu!”
“Chúa thượng cái gì?” Ngự sử hùng hổ. “Năm xưa nếu không có tướng quốc giúp đỡ, chúa thượng sao có thể ngồi lên được ngai vàng? Mấy năm qua, nếu không có tướng quốc phò tá, nam chinh bắc chiến, ngai vàng kia liệu có giữ nổi không? Còn nữa, cứ nhìn chúa thượng mà xem, mỗi lần lên triều, vâng vâng dạ dạ, chuyện lớn chuyện nhỏ đều không có chủ kiến, lúc nào cũng chờ quyết định của tướng quốc, nào có còn tôn nghiêm quân chủ uy?”
Ngự sử vừa nói ra, triều thần đều nhao nhao hưởng ứng.
Phụng Dương Quân nghiêm mặt, đặng hắng một tiếng, ra hiệu cho mọi người im lặng, rồi lắc đầu than rằng: “Hỡi ôi, chư vị chỉ nhìn thấy bề ngoài, mà không rõ bên trong! Đừng thấy Triệu Ngữ chỉ biết vâng vâng dạ dạ, hắn hành sự chẳng khác gì giấu kim trong bông. Mọi việc trong triều, chư vị đều đã thấy cả, chuyện khác khoan nói đến, chỉ tính riêng vài năm qua, những việc Triệu Ngữ chịu nghe bản công, là những việc gì? Toàn là việc vụn vặn không đáng kể. Còn những việc hệ trọng, như phòng ngự Hàm Đan, canh giữ cung thành, vận chuyển lương thảo, sưu thuế địa tô, có lúc nào hắn chịu nghe bản công không? Hắn chỉ giao việc lặt vặt cho bản công, song lại giao việc hệ trọng cho An Dương Quân, hoặc đích thân xử lý. Những điều này, chư vị có biết hay không?”
Nghe Phụng Dương Quân nói vậy, triều thần thảy đều cúi đầu.
Phụng Dương Quân đưa mắt lướt qua một lượt triều thần, dừng lại ở ngự sử: “Chỗ An Dương Quân có động tĩnh gì không?”
“Khởi bẩm tướng quốc!” Ngự sử bẩm tấu. “Hạ quan hôm kia tới thăm trung đại phu Lâu Hoãn, nghe khẩu khí của trung đại phu, có vẻ như An Dương Quân cũng nghiêng về phía tướng quốc.”
“Ồ?” Phụng Dương Quân mở to mắt. “Lâu Hoãn nói thế nào?”
“Lâu Hoãn nói với hạ quan rằng, có một hôm, ông ta cùng An Dương Quân luận bàn về thời cục, An Dương Quân khép mắt một lát, chỉ nói bốn chữ ‘ngựa già quen lối’.”
“Ngựa già quen lối?” Phụng Dương Quân ngẫm nghĩ một lát, gật đầu nói. “Phải, rất có ý nghĩa!”
Tư đồ mơ hồ không hiểu, ngơ ngác hỏi: “Dám hỏi tướng quốc, ‘ngựa già quen lối’ có thâm ý gì?”
Phụng Dương Quân mỉm cười nói: “Chư vị hẳn là không biết, năm xưa khi tiên quân băng hà, Triệu Ngữ là thái tử, đúng lúc đang đi tuần ở Tấn Dương, huynh trưởng của hắn là Triệu Tiết ngấm ngấm cấu kết với vài vị chư thần, giả mạo chỉ dụ cướp ngôi, trong đó có Triệu Phạm, Triệu Báo, An Dương Quân và bản công. Triệu Tiết vốn là thái tử, song do bụng dạ độc ác, hành vi khinh bạc, đã bị tiên quân phế truất, thay bằng Triệu Ngữ. Bản công hiểu rõ con người hắn, cũng biết hắn không thể làm nên nghiệp lớn, nên đã quyết định không theo. Bản công tuy nghĩ như vậy, song trong lòng lại không chắc chắn, mới đi tìm An Dương Quân bàn mưu. An Dương Quân lập tức đáp rằng, ‘ngựa già quen lối’!”
Tư đồ vẫn không hiểu, vò đầu bứt tai: “Hạ quan ngu muội, xin tướng quốc giải thích rõ hơn!”
“Tư đồ đại nhân đúng là ngốc thật!” Phụng Dương Quân nhìn ông ta, cười vang mà nói. ‘“Ngựa già quen lối’ chính là biết nhận thời thức thế. Năm xưa, An Dương Quân đã biết công tử Tiết khó thành đại sự, lại thấy bản công không phục tùng, đương nhiên cũng đi theo bản công. An Dương Quân trong bụng nghĩ vậy, song lại không nói thẳng ra. Bản công nghe lời, trong lòng hiểu rõ. Quả đúng như vậy, sau khi bản công tìm cách ngăn chặn công tử Tiết, âm thầm đưa Triệu Ngữ về cung, An Dương Quân là người đầu tiên đứng ra trợ giúp thái tử, sau đó mới đến Triệu Báo. Công tử Tiết thấy mọi người không ủng hộ mình nữa, biết là đại thế đã mất, cuống cuồng bỏ chạy khỏi Hàm Đan, trốn tại đất Trịnh.”
Nghe Phụng Dương Quân kể ra chuyện này, triều thần thảy đều sửng sốt.
Ngự sử đại phu tiếp lời: “Tướng quốc giải thích như vậy rất đúng. Lâu Hoãn vốn là môn khách của An Dương Quân, trước đây vẫn thường lạnh nhạt với hạ quan, gần đây lại tỏ ra thân thiết. Hạ quan ngờ rằng, nhất định là có toan tính trong lòng!”
“Phải!” Phụng Dương Quân khẽ gật đầu. “An Dương Quân nếu đã nói vậy, chắc chắn là có ý đồ!” Quay sang Thân Tôn. “Ngươi mau chuẩn bị xe ngựa, bản công muốn tới thăm hắn!”
Phụng Dương Quân đánh xe thẳng tới phủ An Dương Quân. An Dương Quân ra tận cổng phủ, cúi gập người nghênh đón, chào hỏi xong xuôi, hai người nắm tay nhau bước vào hậu đường, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Phụng Dương Quân ngẩng đầu nhìn mớ tóc bạc bên trán An Dương Quân, tỏ vẻ kinh ngạc kêu lên: “Mấy ngày không gặp, tóc mai tứ đệ đã bạc cả rồi!”
An Dương Quân cười nói: “Tóc mai đã bạc từ năm trước, tam huynh bận rộn tối ngày, không có lúc nào để ý đấy thôi!”
“Phải, phải!” Phụng Dương Quân cũng cười mà nói. “Việc nước việc nhà chồng chất, bận rộn đến tối tăm mặt mũi. Gần đây định bụng nghỉ ngơi chốc lát, nào ngờ quân huynh lại đổ bệnh, tứ đệ nói xem… chuyện này… hỡi ôi, thực khiến người ta lo lắng!”
“Phải đấy!” An Dương Quân thuận miệng trả lời. “Việc nước việc nhà lúc nào cũng đè nặng lên vai tam huynh, thật vất vả cho tam huynh quá!”
“Than ôi, nói ra những lời này làm gì!” Phụng Dương Quân gượng cười, ngẩng đầu nói. “Nhắc tới quân huynh, mấy ngày qua sức khoẻ của ta cũng yếu, chưa có lúc nào vào cung thăm quân huynh được. Nghe nói tứ đệ hôm kia có tới đài Hồng Ba, long thể của quân huynh thế nào rồi?”
“Không giấu tam huynh,” An Dương Quân khẽ lắc đầu, “long thể quân huynh lúc tốt lúc xấu. Nghe ngự y nói, thương hàn tuy có đỡ hơn, song chứng lao lại nặng thêm. Trong bách bệnh, duy có chứng lao là khó chữa trị nhất.” Dừng lại một lát, thở dài một tiếng. “Than ôi, quân huynh vốn tráng kiện như sắt thép, nào ngờ… chưa nổi vài ngày, đã suy sụp đến vậy. Quân huynh vừa trông thấy tiểu đệ, đã rơi lệ đau thương, dặn đi dặn lại tiểu đệ phải chú ý giữ gìn sức khoẻ!” Lại than một tiếng đầy ẩn ý. “Than ôi, đúng là đời người!”
“Này tứ đệ!” Phụng Dương Quân sắc mặt nghiêm nghị. “Giữ gìn sức khoẻ đương nhiên quan trọng, song bảo vệ giang sơn xã tắc còn quan trọng hơn. Ngu huynh tới đây, chính là muốn bàn với tứ đệ chuyện này.”
“Tam huynh cứ nói!”
“Nghe tứ đệ nói vậy, e là bệnh tình quân huynh không cầm cự được lâu nữa. Ngu huynh đang nghĩ, ngộ nhỡ quân huynh… ý ngu huynh là, ngộ nhỡ quân huynh băng hà, tứ đệ có suy nghĩ gì không?”
An Dương Quân trầm ngâm hồi lâu, rồi hỏi ngược lại: “Vậy ý tam huynh thế nào?”
“Than ôi!” Phụng Dương Quân khẽ thở dài. “Ung Nhi ít tuổi chưa tính đến, tính khí lại yếu đuối, nhu nhược, thiếu quyết đoán, không thể ứng phó với loạn thế hiện nay. Tứ đệ đức cao vọng trọng, được lòng thần dân,” hai mắt nhìn thẳng vào An Dương Quân, “ngu huynh đang có ý thế này, vạn nhất quân huynh băng hà, vì xã tắc Triệu thất, ngu huynh quyết định phò tá tứ đệ kế thừa ngôi đại thống.”
“Tam huynh,” An Dương Quân vội vàng vòng tay từ chối, “chuyện này dứt khoát không thể!”
“Tứ đệ bất tất phải khiêm nhường!” Phụng Dương Quân sắc mặt càng thêm nghiêm nghị. “Anh em ta đều là cốt nhục của tiên quân, quân huynh có thể kế tục ngôi vị, tứ đệ tài đức song toàn, hà cớ lại không thể? Hơn nữa, em kế ngôi anh, không hề trái đạo, cũng là lệ thường xưa nay!”
“Được tam huynh cất nhắc, ngu đệ vô cùng cảm kích!” An Dương Quân vẫn từ chối. “Chỉ là tam huynh có điều không biết, ngu đệ tuy bất tài, song cũng biết mình biết ta. Nếu luận về tài trí, khoan tính đến quân huynh, trong số các huynh đệ còn lại, dù là ai cũng vượt xa ngu đệ!”
Phụng Dương Quân nhổm người về phía trước: “Ý tam đệ là…”
“Vạn nhất quân huynh băng hà, tứ đệ chỉ nhất nhất nghe theo tam huynh!”
“Tạ ơn tứ đệ yêu mến!” Phụng Dương Quân mừng rỡ ra mặt, vái tạ liên hồi. “Lời của tứ đệ, ngu huynh xin ghi nhớ trong lòng. Tứ đệ có việc bận, ngu huynh xin cáo từ!” Rồi đứng dậy vòng tay từ biệt.
An Dương Quân tiễn ra ngoài phủ, rồi quay trở về hậu đường, vừa định ngồi xuống thì Lâu Hoãn hấp tấp bước vào, ghé tai thì thầm một hồi.
An Dương Quân khẽ chau mày, ngẫm nghĩ một lát, rồi gật đầu nói: “Đã là ý của chúa thượng, hãy mau đi sắp xếp!”
“Đại nhân!” Lâu Hoãn băn khoăn. “Chúa thượng làm vậy, chẳng phải chắp cánh cho hổ ư?”
An Dương Quân mỉm cười: “Muốn chắp cánh cho hổ, trước tiên phải có hổ đã!”
“Ý đại nhân là…” Lâu Hoãn dường như vẫn chưa hiểu ra, nhìn sững vào An Dương Quân, “tướng quốc còn chưa phải là hổ ư?”
“Nếu là hổ, ông ta còn có thể sống tới hôm nay?”
Lâu Hoãn trợn tròn hai mắt, sửng sốt hồi lâu, rồi gật đầu nói: “Tướng quốc đã không phải là hổ, cớ sao chúa thượng lại mặc cho ông ta làm càn tác loạn?”
“Chúa thượng đang đợi thời cơ!”
“Thời cơ?”
“Đúng vậy!” An Dương Quân gật đầu. “Chúa thượng đang đợi tướng quốc biến thành một con hổ!”
Lâu Hoãn như đã hiểu ra: “Nghe đại nhân nói vậy, chúa thượng tiến cử Tô Tần với Phụng Dương Quân, là có thâm ý khác?”
An Dương Quân mỉm cười, hỏi: “Trung đại phu nói thử xem, chúa thượng có thâm ý gì?”
“Khiến tâm chí thêm kiêu căng!” Lâu Hoãn đáp. “Chúa thượng muốn nói với tướng quốc rằng, bên cạnh chúa thượng đã không còn ai, cũng không dám trọng dụng ai!”
An Dương Quân lại cười một tiếng, lặng im không nói.
“Đại nhân,” Lâu Hoãn lại hỏi, “Phụng Dương Quân… sẽ dùng Tô Tử chứ?”
“Nếu dùng, thì ông ta đã thực sự là một con hổ!” An Dương Quân nói xong, bèn quay người bỏ đi, chậm rãi bước về phía thư phòng ở sau nhà.
Phụng Dương Quân đang múa kiếm trên bãi cỏ bên ngoài Thính Vũ các thì Thân Tôn tất tả bước lại, thấy chủ nhân đang lúc cao hứng, thì khom lưng đứng đợi bên cạnh. Phụng Dương Quân múa thêm một lát thì dừng lại, quay sang Thân Tôn hỏi: “Có việc gì?”
“Có sĩ tử Lạc Dương Tô Tần cầu kiến!” Thân Tôn hai tay trình lên bái thiếp của Tô Tần.
“Sĩ tử Lạc Dương? Tô Tần?” Phụng Dương Quân chau mày hỏi. “Người này tới vì việc gì?”
Thân Tôn bước lên một bước, ghé sát tai Phụng Dương Quân thầm thì vài câu. Phụng Dương Quân sững người, hỏi vội: “Nói như vậy, người này là do chúa thượng tiến cử?”
“Đúng vậy!” Thân Tôn gật đầu. “Theo Lâu Hoãn nói, điện hạ đã cùng Phì Nghĩa ngấm ngầm gặp gỡ Tô Tần, mục đích là tiến cử đại hiền lên chúa thượng. Chúa thượng chưa hỏi rõ đầu đuôi đã lập tức truyền chỉ An Dương Quân tiến cử lên chúa công, để chúa công xem tài mà dùng.”
“Xem tài mà dùng?” Phụng Dương Quân trầm ngâm suy nghĩ. “Theo ý ngươi, kẻ này có tài không?”
“Theo tiểu nhân được biết, Tô Tần là môn đệ của Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng, học thuật du thuyết, năm ngoái tới Tần, lấy đế sách để du thuyết Tần Công, muốn phò tá Tần Công nhất thống thiên hạ, song Tần Công lại bỏ không dùng.”
“Nhất thống thiên hạ?” Phụng Dương Quân cười hềnh hệch. “Thảo nào Triệu Ngữ không dùng! Những lời lẽ ngông cuồng kiểu ấy chỉ có thế lừa được đứa trẻ vắt mũi chưa sạch như Triệu Ung mà thôi!”
“Chúa công!” Thân Tôn như đã nhìn thấu suy nghĩ của Phụng Dương Quân. “Kẻ đó đã đợi rất lâu ở tiền sảnh, nếu chúa công không muốn gặp, tiểu nhân bảo hắn về là xong!”
Phụng Dương Quân suy nghĩ một lát, phẩy tay ngăn lại: “Đã là chúa thượng tiến cử, không gặp cũng phải có lý do thoái thác. Thế này đi, ngươi ra nói với hắn, mấy ngày nay, bản công việc nước phiền hà, không còn thiết đến chuyện người. Dù là ai, hễ tới đây nói chuyện người, nhất loạt không gặp, xem hắn nói sao.”
Thân Tôn “vâng” một tiếng, quay người bước đi. Một lát sau, tới tiền sảnh, vừa bước vào cửa đã vòng tay cung kính: “Để Tô Tử chờ lâu, thực có lỗi!”
Tô Tần vội đứng dậy đáp lễ: “Đã làm phiền gia lão!”
Thân Tôn đưa trả bái thiếp cho Tô Tần, ra vẻ áy náy mà nói: “Tại hạ đã bẩm báo việc Tô Tử cầu kiến với chúa công. Chúa công nói, nếu Tô Tử tới đây nói chuyện người, thì mời hôm khác hãy tới.”
Tô Tần ngạc nhiên: “Thế nghĩa là sao?”
Thân Tôn hạ giọng giải thích: “Gần đây long thể chúa thượng bất an, mọi việc lớn nhỏ trong triều đều do một mình chúa công gánh vác, chúa công từ sáng tới tối chỉ lo lắng việc nước, còn việc người không có tâm trí để bàn luận!”
Tô Tần trầm ngâm một lát, rồi ngẩng đầu nói: “Làm phiền gia lão lại vào bẩm báo với tướng quốc lần nữa, rằng tại hạ tới đây không phải nói chuyện người, được chăng?”
Thân Tôn ngạc nhiên: “Không nói chuyện người, vậy nói chuyện gì?”
“Chuyện ma!”
Thân Tôn do dự một lúc, rồi nói: “Tô Tử hãy chờ một lát!” Rồi cất bước đi ngay, một lát sau, quay trở lại, vòng tay vái mà nói. “Tô Tử, chúa công có lời mời.”
Tô Tần cũng vòng tay đáp lễ: “Gia lão, mời đi trước!”
Hai người kẻ trước người sau ra khỏi tiền sảnh, đi theo con đường nhỏ rợp bóng cây xuyên qua hậu hoa viên, tiến vào trong Thính Vũ các.
Tô Tần dập đầu nói: “Sĩ tử Lạc Dương Tô Tần khấu kiến tướng quốc!”
Phụng Dương Quân hơi nhổm người dậy, chìa tay trịnh trọng nói: “Tô Tử miễn lễ, mời ngồi!”
Tô Tần tạ ơn, đứng dậy, ngồi xuống vị trí khách. Thân Tôn ra hiệu, một nô tỳ bưng trà lại, rồi lui ra.
Phụng Dương Quân quan sát Tô Tần một lượt từ đầu đến chân, vẻ rất mực hiếu kỳ: “Nghe nói Tô Tử tới đây muốn nói về chuyện ma, Triệu Thành rất muốn nghe!”
“Là thế này!” Tô Tần dõng dạc nói. “Mười ngày trước, thảo dân từ Chu tới Triệu, khi đến gần Hàm Đan, trời nhá nhem tối, phóng mắt nhìn khắp tứ phía, thấy xung quanh không có lấy một nếp nhà. Thảo dân đang lúc lo sợ, chợt thấy có một ngôi miếu bên vệ đường, bèn lại đó nghỉ chân. Thảo dân ngủ tới nửa đêm, đột nhiên nghe thấy tiếng người, bèn giật mình tỉnh giấc.”
Phụng Dương Quân lấy làm kinh ngạc, hỏi: “Giữa chốn hoang vu, lấy đâu ra tiếng người?”
“Đúng vậy!” Tô Tần nói tiếp. “Thảo dân cũng thấy quái lạ, bèn nghiêng tai lắng nghe, hóa ra tiếng nói phát ra từ hai pho tượng trong miếu, một pho là tượng gỗ, một pho là tượng đất!”
Phụng Dương Quân thở phào một tiếng, gật đầu nói: “Ồ, thì ra là vậy, dù gì cũng rất thú vị. Tô Tử nói thử xem, hai pho tượng đã nói những chuyện gì?”
“Hai pho tượng có vẻ đang tranh cãi chuyện gì đó, thảo dân nghe lời nói, vẻ như đã tranh luận lâu rồi. Tới lượt tượng gỗ nói, tượng gỗ cười một tràng, cất giọng châm biếm: ‘Này anh đất, anh nhìn tôi mà xem, muốn uy phong có uy phong, muốn thần thánh có thần thánh, nào có giống như anh, nhìn ngang nhìn dọc chẳng qua cũng chỉ là một cục đất. Chỉ cần một cơn nước lớn ào qua, lập tức biến thành đống bùn nhão nhoét!’”
“Phải!” Phụng Dương Quân lại gật đầu. “Nói cũng có lý. Vậy tượng đất trả lời thế nào?”
“Tượng đất cũng cười một tiếng, trầm giọng mà nói rằng: ‘Này anh gỗ, anh nói sai rồi! Dù nước lớn phá hỏng thân xác tôi, song tôi vẫn là một đống đất vàng ở nguyên chỗ cũ. Còn anh gỗ đây là cây không gốc, nước lớn vừa tới, chẳng còn cách khác, chỉ có thể trôi nổi theo dòng, hoang mang không biết về đâu. Hơn nữa thế sự vô thường, nếu không phải là nước lớn, mà là một cơn hoả hoạn, thì tình cảnh của anh gỗ đây, thực không dám tưởng tượng!”’
Nghe tới đây, Phụng Dương Quân rùng mình kinh hãi, đột nhiên tỉnh ngộ, đưa mắt nhìn Thân Tôn. Thân Tôn khẽ mấp máy môi, song không nói ra lời nào.
Tô Tần thấy vậy, vòng tay hỏi: “Thảo dân to gan muốn hỏi tướng quốc đại nhân, lý lẽ của tượng gỗ và tượng đất, ai hay ai dở?”
Phụng Dương Quân trầm ngâm một lát: “Theo Tô Tử thì thế nào?”
“Tô Tần cho rằng, lý lẽ của tượng đất hợp tình hợp lý hơn. Cây không gốc, không thể lâu dài!”
Phụng Dương Quân lại trầm ngâm hồi lâu, rồi vòng tay nói: “Tô Tử nói chuyện ma, thật thú vị, Triệu Thành đã được mở rộng tầm mắt! Triệu Thành hôm nay dậy sớm, nên trong người mệt mỏi. Nếu Tô Tử rỗi rãi, ngày mai hãy lại tới đây, Triệu Thành mong được lắng nghe cao luận!”
Tô Tần đứng dậy vái chào: “Thảo dân cáo lui!”
Thân Tôn tiễn Tô Tần ra khỏi cửa, rồi vội vã quay trở lại, thấy Phụng Dương Quân vẫn ngồi nguyên tại chỗ, dáng vẻ đăm chiêu, bèn khom lưng cúi đầu, đứng hầu bên cạnh.
Phụng Dương Quân cũng không buồn ngẩng đầu lên, lẩm bẩm như tự nhủ một mình: “Cây không gốc, không thể lâu dài, Tô Tần nói vậy, là ám chỉ bản công không có địa vị tôn quý, mà chuyên quyền tự phụ, vận mệnh tương lai rồi sẽ giống như tượng gỗ mà thôi!”
Thân Tôn vội nói: “Cuồng sinh vọng ngôn, chúa công không nên cả tin!”
Phụng Dương Quân lừ mắt nhìn Thân Tôn: “Ngươi nói thử xem, Tô Tử vọng ngôn thế nào?”
“Chúa công vốn là cốt nhục của tiên quân, tài đức song toàn, lại được lòng người, tuyệt đối không thể là cây không gốc. Tô Tần đến đây nói chuyện viển vông, chẳng qua muốn nhân dịp này mong được chúa công trọng dụng, để mưu cầu bổng lộc danh vọng mà thôi!”
Phụng Dương Quân lại ngẫm nghĩ một hồi, rồi gật đầu: “Phải, nói vậy cũng có lý. Có điều, Tô Tần trong nháy mắt đã nghĩ ra được chuyện mà để cầu kiến, còn có thể ngấm ngầm lôi chuyện tượng gỗ, tượng đất ra ví von với bản công, cũng đáng là bậc kỳ tài!”
Thân Tôn đảo con ngươi một vòng: “Theo tiểu nhân thấy, Tô Tử miệng lưỡi sắc sảo, nếu chúa công dùng người này, không chừng sẽ bị hắn xúi giục mà lung lay ý chí, uổng phí công lao đã tạo dựng trước đây.”
Phụng Dương Quân thoáng do dự: “Có điều, bản công đã đồng ý để hắn ngày mai lại tới, vốn là muốn dùng hắn. Nếu không dùng hắn, sẽ không bảo hắn tới. Hiện tại trăm việc bộn bề, bản công còn tâm trí đâu mà nghe chuyện ma qủy nhăng cuội của hắn?”
“Nếu chúa công không muốn nghe lời lẽ nhăng cuội của hắn, đợi ngày mai hắn tới, tiểu nhân sẽ đuổi hắn về!”
Phụng Dương Quân trầm ngâm hồi lâu, rồi lắc đầu nói: “Không được! Bản công đã đồng ý gặp hắn, hắn lại đúng hẹn mà tới, nếu bản công không gặp, chính là nuốt lời. Việc này nếu đồn ra ngoài, mọi người sẽ nhìn bản công ra sao?”
Thân Tôn lại đảo con ngươi một vòng: “Tiểu nhân có một kế, vừa có thể khiến chúa không nuốt lời, lại có thể khiến chúa công không phải nghe lời lung lạc của hắn.”
“Ngươi nói xem!”
Thân Tôn bước lên một bước, ghé sát tai Phụng Dương Quân thì thầm. Trên mặt Phụng Dương Quân từ từ hiện một nụ cười, rồi gật gù nói: “Được, trò này thú vị đây! Ngày mai, cứ làm như ngươi nói!”
Chiều hôm sau, Tô Tần đúng hẹn mà tới. Thân Tôn đã đợi sẵn ở đó, dẫn Tô Tần vào Thính Vũ các ở hậu hoa viên. Phụng Dương Quân vẫn ngồi ở vị trí chủ như hôm qua, Tô Tần hành lễ xong, ngồi vào vị trí khách, Thân Tôn ngồi ở vị trí đối diện, thị nữ vẫn bưng trà thơm lại như cũ.
Tô Tần nhấp một ngụm trà, đặt chén trà xuống, rồi ôm quyền, nói thẳng vào đề: “Tướng quốc đại nhân, hôm qua chỉ nói chuyện ma, hôm nay thảo dân to gan nói chuyện người, được chăng?”
Phụng Dương Quân khép hờ hai mắt, mỉm cười, gật đầu: “Xin cứ nói!”
Tô Tần đặng hắng một tiếng, dõng dạc mà rằng: “Tướng quốc ở Triệu, vị trí dưới một người, trên vạn người, việc lớn trong triều đều do tướng quốc định đoạt, có thể nói là nhất hô bách ứng, gió xuân đắc ý. Có điều…” bất chợt đổi giọng, nhìn Phụng Dương Quân, im bặt.
Phụng Dương Quân vẫn giữ nguyên nụ cười trên mặt: “Xin cứ nói!”
Tô Tần lại đặng hắng khẽ một tiếng: “Tô Tần cho rằng, trăng tròn lại khuyết, vật cực tất phản, đây là đạo lý của vạn vật. Tướng quốc đại nhân tuy địa vị tối cao trong số triều thần, song đại họa lại ở ngay bên cạnh!” Lại ngừng lời, mắt nhìn thẳng vào Phụng Dương Quân.
Phụng Dương Quân hai mắt khép hờ, nụ cười vẫn giữ nguyên như cũ: “Xin hãy nói tiếp!”
Tô Tần thoáng ngạc nhiên, quay sang nhìn Thân Tôn.
Thân Tôn mỉm cười, chậm rãi nói: “Có đại họa gì, xin Tô Tử nói rõ!”
Tô Tần thu ánh mắt về, lại nhìn sang Phụng Dương Quân: “Đại họa hiện tại của Triệu không phải ở Trung Sơn, không phải ở nước Ngụy hùng mạnh, càng không phải ở tộc Nhung Địch, mà chính là ở nước Tần lang sói. Tần chiếm được Hà Tây, tất mưu Hà Đông. Tần mưu Hà Đông, tất mưu Tấn Dương. Nếu Tấn Dương thất thủ, đại nhân ắt gặp nguy khốn!” Rồi dừng lại, quan sát Phụng Dương Quân.
Phụng Dương Quân không hề có bất kỳ phản ứng nào, trên mặt vẫn giữ nguyên nét cười, khép hờ hai mắt.
Tô Tần kinh ngạc không hiểu, quay sang nhìn Thân Tôn. Thân Tôn vẫn giữ vẻ mặt tươi cười, hỏi ngược lại Tô Tần: “Xin hỏi Tô Tử, giả sử Tấn Dương thất thủ, cớ sao lại nguy hại tới chúa công?”
Tô Tần cười nhạo: “Với kiến thức của gia lão, không thể đến điều này cũng không nhìn ra!”
Thân Tôn lộ vẻ bối rối, cười gượng một tiếng, rồi vòng tay nói: “Tại hạ ngu dốt, mong Tô Tử nói rõ!”
“Hiện tại chúa thượng không màng triều chính, đại sự nước Triệu đều do tướng quốc đại nhân quyết định. Tướng quốc nhìn không ra dã tâm của người Tần, đã đóng quân ở quận Đại, còn điều động hai vạn quân tinh nhuệ rời khỏi Tấn Dương. Lần điều quân này của tướng quốc, đương nhiên người Tần biết rõ. Nếu người Tần thừa cơ đột kích, Tấn Dương có lẽ sẽ không giữ nổi. Thần dân nước Triệu coi Tấn Dương là nền tảng của quốc gia, nếu để mất Tấn Dương, dân chúng ắt sẽ trách tội tướng quốc đại nhân. Cả nước trách tội đại nhân, nếu lại không được chúa thượng che chở, đại nhân liệu có thể kê cao gối ngủ hay chăng?”
Từng lời Tô Tần nói ra, Thân Tôn nghe mà toát mồ hôi lạnh, vội ngẩng đầu nhìn sang Phụng Dương Quân, thấy ông ta vẫn giữ nguyên thái độ như cũ, thì thở hắt ra một tiếng, khẽ hỏi: “Dám hỏi Tô Tử, có sách lược ứng phó hay chăng?”
Tô Tử không đáp lời Thân Tôn, vẫn nhìn Phụng Dương Quân: “Dựa vào quốc lực hiện tại của Triệu, phía tây không thể kháng Tần, phía đông không thể chống Tề. Do vậy, Tô Tần cho rằng, thượng sách của Triệu không phải ở mưu chiếm Trung Sơn, mà ở hợp tung. Trước hết hợp Yên, sau hợp Hàn, Ngụy. Tam Tấn nếu hợp, phía tây có thể mưu Tần, phía đông có thể chống Tề, phía nam có thể kháng Sở. Có đại thế này, Triệu đã có thể kê cao gối ngủ. Nếu tướng quốc đại nhân lập được đại công này, đưa chúa thượng ngồi vào ngôi vị minh chủ hợp tung, trên có thể bảo vệ cơ nghiệp muôn đời của Triệu thất, dưới có thể khiến lê dân an cư lạc nghiệp, giữa có thể hóa giải khúc mắc giữa quân thần, gần có thể bản thân yên ổn, xa có thể lưu thơm trăm đời…”
Tô Tần lời lẽ rành mạch, xúc động động lòng người, song Phụng Dương Quân vẫn trơ trơ như khúc gỗ, không mảy may biểu cảm, hai mắt vẫn khép hờ, nụ cười vẫn bất động, sắc mặt đờ đẫn nhìn Tô Tần.
Tuy lấy làm quái lạ, song Tô Tần vẫn nói tiếp: “Nếu tướng quốc đại nhân có mong muốn này, Tô Tắn bất tài, cũng xin trợ giúp đại nhân thành tựu đại nghiệp!” Nói tới đây, ánh mắt nhìn thẳng vào Phụng Dương Quân chờ đợi.
Đợi một hồi lâu, trái với dự đoán của Tô Tần, Phụng Dương Quân vẫn chỉ thủng thẳng thốt ra ba chữ: “Xin cứ nói!”
Tô Tần chau tít đôi mày, rất đỗi hoài nghi, rồi vòng tay nói: “Tướng quốc bảo trọng, Tô Tần cáo từ!” Nói đoạn, đứng ngay dậy.
Phụng Dương Quân vẫn lặng thinh, ngồi ngay ngắn trên đất, giữ nguyên tư thế ban đầu.
Thân Tôn cuống lên, đưa tay chạm khẽ vào ống tay áo Phụng Dương Quân. Phụng Dương Quân giật nảy mình, mở choàng mắt, thấy Tô Tần sắp sửa ra về, vội vòng tay nói: “Lời Tô Tử như sét đánh ngang tai, Triệu Thành xin thụ giáo!”
Tô Tần đáp lễ: “Đa tạ trà thơm của tướng quốc!”
Phụng Dương Quân lại nói một đằng trả lời một nẻo: “Xin cứ nói!”
Tô Tần ngẩn người, chuyển ánh mắt sang Thân Tôn.
Thân Tôn làm động tác tiễn khách, vòng tay cười nói: “Tô Tử thực lòng muốn đi, chúa công nhà tôi cũng không giữ khách nữa!”
Tô Tần lùi lại, rồi quay người đi thẳng. Thân Tôn đứng ngây ra một lát, vội vã đuổi theo, tiễn tới tận cổng.
Tô Tần cúi đầu bước ra khỏi cổng phủ, bỗng dừng chân lại, quay người vòng tay nói: “Tại hạ có một việc không hiểu, xin gia lão giải thích giúp cho!”
Thân Tôn trong lòng đã rõ, hỏi ngay: “Tô Tử muốn hỏi chuyện vừa rồi chăng?”
“Đúng vậy!” Tô Tần buồn bã mà rằng. “Hôm qua tại hạ nói chuyện ma, tướng quốc còn thấy thú vị. Hôm nay, tại hạ bàn về an nguy đất nước, tướng quốc lại không mảy may xúc động, gia lão hẳn biết rõ nguyên do?”
“Tô Tử có điều không biết,” Thân Tôn vòng tay, tỏ vẻ áy náy, “chúa công trong người có bệnh, không được phép xúc động. Hôm qua nghe lời lẽ của Tô Tử, tại hạ cho rằng quá sắc bén, e là nếu hôm nay để chúa công nghe thấy, thứ nhất sẽ làm tổn thương tới quý thể chúa công, thứ hai sợ rằng gây bất lợi cho Tô Tử, do vậy đã khổ sở khuyên chúa công lấy bông bịt tai lại. Kế này thực sự là do tại hạ nghĩ ra, không liên quan tới chúa công. Có gì bất kính, mong Tô Tử bỏ qua.”
Tô Tần nghe xong, nhất thời như sét đánh ngang tai, đứng chết trân tại chỗ, hồi lâu sau mới định thần lại được, ngửa cổ lên trời, cười một tràng dài, rồi khẽ vòng tay với Thân Tôn, sau đó ung dung ngẩng cao đầu bước đi.
***
Trời nhập nhoạng tối, một người mặc áo đen lẩn nhanh vào dịch quán liệt quốc, ghé sát tai sứ Tần Sư Lý Tật thầm thì một hồi.
Sư Lý Tật cả kinh, ngẩng đầu hỏi ngay: “Hắn tới lúc nào?”
“Hồi bẩm đại nhân,” người áo đen bẩm báo, “từ nửa tháng trước!”
“Nửa tháng?” Sư Lý Tật sầm mặt xuống, quắc mắt giận dữ mắng. “Nuôi lũ các ngươi thật vô tích sự, người này đã tới đây nửa tháng, sao bây giờ mới báo?”
“Tiểu nhân biết tội!” Người áo đen quỳ xuống dập đầu. “Mấy ngày nay, đám huynh đệ chỉ tập trung chú ý tới cung Triệu, phủ Phụng Dương Quân và phủ An Dương Quân, mà không để ý tới người này. Hôm qua đột nhiên thấy hắn tới phủ Phụng Dương Quân, hôm nay lại tới, tiểu nhân vội vã điều tra, mới biết hắn là Tô Tần, nên lập tức tới đây bẩm báo.”
Sắc mặt Sư Lý Tật hơi dịu lại: “Đứng lên! Nói như vậy, cũng không thể trách ngươi. Tô Tần hiện đang ở đâu?”
“Quán trọ Phong Vân, hắn còn ở cùng một người nữa!”
“Ai vậy?”
“Nghe tiểu nhị nói, người kia họ Giả, cũng từ nơi khác tới, đến sớm hơn Tô Tần vài ngày.”
“Hẳn là Giả tiên sinh?” Sư Lý Tật ngẫm nghĩ một lát, gật đầu nói với người mặc áo đen. “Phải, nhất định là ông ta. Chuẩn bị xe, tới quán trọ Phong Vân!”
Xe đã chuẩn bị xong, Sư Lý Tật sắp bước ra đến cửa thì một người Triệu hớt hải chạy lại, nằng nặc đòi gặp đặc sứ đại nhân. Thị vệ tới bẩm báo, Sư Lý Tật bèn cho vào.
Người này mặc y phục thường dân, sải bước vào phòng khách, nhìn thấy Sư Lý Tật, bèn cúi gập người hỏi: “Đại nhân hẳn là đặc sứ nước Tần Sư Lý đại nhân?”
Sư Lý Tật nói: “Chính tại hạ. Tráng sĩ là…”
Người này liền quỳ xuống, dập đầu nói: “Tiểu nhân là môn khách của Thân tướng quân, phụng mệnh tướng quân cầu kiến đại nhân, có mật thư trình báo!” Rồi lấy từ trong ống tay áo một bức thư, kính cẩn dâng lên.
Sư Lý Tật vội cầm lấy đọc, đọc xong bèn nói với người này: “Do sự việc cơ mật, bản tướng không thể trả lời bằng thư. Ngươi hãy về nói lại với Thân tướng quân, mọi việc cứ làm đúng như lời tướng quân nói. Vào canh năm ngày mồng hai tháng sau, đốt lửa làm ám hiệu ở cổng tây Tấn Dương, bất kể mưa gió.”
“Tiểu nhân nhận lệnh!”
Sư Lý Tật bước sang bên cạnh, lấy ra mười lượng vàng, đưa cho người này: “Đi đường vất vả, chút tiền này coi như tiền rượu. Lúc nào sự việc thành công, sẽ thưởng thêm!”
Người này khấu tạ xong, cầm lấy mười lượng vàng, vội vã ra về.
Sư Lý Tật nhìn theo bóng hắn xa hẳn, rồi vội vã bước lại bên bàn, ngồi xuống viết một bức mật thư, phong kín lại, đưa cho người áo đen: “Đại sự đã thành, ngươi hãy mau trở về Hàm Dương, giao mật thư này cho chúa thượng!”
Người áo đen cầm thư, khẽ gật đầu, đi ra khỏi cửa.
Sư Lý Tật cũng rời khỏi dịch quán, lên xe ngựa, đánh thẳng tới quán trọ Phong Vân.
Song Sư Lý Tật không thể ngờ được rằng, người Triệu không phải là người Ngụy, trong dịch quán liệt quốc sớm đã có tai mắt của Túc Hầu. Sư Lý Tật vừa ra khỏi cổng, đã có người phi ngựa như bay tới đài Hồng Ba, tấu báo mọi điều mắt thấy tai nghe với Củng Trạch. Củng Trạch soạn một bức mật tấu, trình lên Túc Hầu. Túc Hầu xem xong, ngẫm nghĩ một lát, bảo Củng Trạch chuyển mật tấu tới An Dương Quân.
An Dương Quân đọc xong mật tấu, lập tức cho gọi Lâu Hoãn tới, kể sơ qua tình hình, rồi dặn dò Lâu Hoãn: “Trung đại phu mau sai người báo tin cho Triệu Báo, dặn Triệu Báo để mắt tới Thân Bảo, cứ theo kế mà làm!”
Lâu Hoãn nhận lệnh, cũng lấy từ trong ống tay áo một bức tấu báo, hai tay trình lên: “Phủ tư đồ tấu báo, binh mã quận Đại đột ngột tăng vọt, công tử Phạm xin cấp một vạn năm nghìn thạch lương thảo!”
An Dương Quân chẳng buồn xem, phẩy tay nói: “Lần lữa hai tháng, ngươi tự xử trí!”
An Dương Quân quay người toan đi luôn, Lâu Hoãn bèn ngẩng lên cười nói: “Bẩm chúa công, còn có một chuyện rất thú vị.”
An Dương Quân ngoảnh đầu lại hỏi: “Chuyện gì thú vị?”
“Chuyện của Tô Tần!”
“Ồ?” An Dương Quân lấy làm hào hứng. “Tô Tần thế nào?”
“Buổi chiều hôm kia, Tô Tần trình bái thiếp cầu kiến, Phụng Dương Quân vốn không muốn gặp, nhưng lại sợ gây tiếng xấu, nên sai người chuyển lời rằng, nếu tới nói chuyện người thì không gặp. Tô Tần bèn nói chuyện ma để được vào gặp. Hắn đem chuyện tượng gỗ, tượng đất ra so sánh với tình thế nguy khốn hiện tại của Phụng Dương Quân, Phụng Dương Quân hiểu ra, lấy cớ mệt mỏi, hẹn Tô Tần hôm sau lại gặp. Buổi chiều nay, Tô Tần lại tới, Phụng Dương Quân vẫn đón tiếp nhiệt tình, trò chuyện nửa canh giờ. Tô Tần bàn về sách lược hợp tung với Phụng Dương Quân, cho rằng đây là thượng thượng sách có thể làm thay đổi tình cảnh hiện tại của Phụng Dương Quân.”
“Phụng Dương Quân có chịu nghe không?”
Lâu Hoãn lắc đầu: “Phụng Dương Quân hoàn toàn không nghe thấy.”
“Ồ?” An Dương Quân sửng sốt. “Tô Tần trò chuyện tới nửa canh giờ, sao hắn có thể không nghe?”
“Bởi lẽ hai tai của Phụng Dương Quân đã bịt kín bông!”
An Dương Quân ngẩn ra một hồi mới hiểu ra, lắc đầu mà rằng: “Than ôi, bịt tai để nghe đại hiền, kế sách rác rưởi này mà hắn cũng nghĩ ra được!”
“Hạ quan điều tra biết được, đây là mưu kế của quản gia Thân Tôn nhà ông ta.”
“Than ôi!” An Dương Quân lại than thở. “Xung quanh toàn là tiểu nhân, mà tâm chí lại cao hơn trời, Triệu Thành đúng là u mê mất rồi!”
“Chúa công, Phụng Dương Quân không dùng Tô Tần, Tô Tần ắt nản mà bỏ đi. Theo hạ quan thấy, người này đúng là đại tài, có ích cho Triệu. Tam Tấn hợp tung, với Triệu có lợi mà vô hại, chúng ta nên tìm cách giữ người này lại mới phải.”
An Dương Quân ngẫm nghĩ hồi lâu, lắc đầu nói: “Không nên làm kinh động tới hắn. Nhìn vào tình thế hiện tại, Tô Tử nếu muốn hợp tung Tam Tấn, tuyệt đối không thể rời khỏi nước Triệu. Có điều, cũng không được bất cẩn. Trung đại phu hãy thông báo với chủ quán trọ, nếu Tô Tử có hành động khác thường, lập tức bẩm báo ngay!”
“Hạ quan tuân lệnh!”
Sư Lý Tật đánh xe tới quán trọ Phong Vân, song tiểu nhị nói rằng Tô Tần vẫn chưa trở về.
Giả Xá Nhân hay tin vội ra đón, thấy Sư Lý Tật, bèn vòng tay hành lễ. Sư Lý Tật đáp lễ, hai người bước vào trong phòng, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.
Sư Lý Tật vòng tay vái chào: “Tại hạ tới Hàm Đan đã nhiều ngày, thế mà vừa rồi mới hay tin Giả tiên sinh ở đây, đã tới thăm muộn, mong Giả tiên sinh lượng thứ.”
Giả Xá Nhân cũng vòng tay nói: “Thượng đại phu khách khí rồi. Tại hạ vừa tới Hàm Đan đã biết thượng đại phu ở đây. Tại hạ thấy thượng đại phu việc nước bận rộn, vả lại cũng chẳng có tin gì quan trọng để bẩm báo, nên không dám tới làm phiền. Tại hạ thất lễ trước, người nói lời xin lỗi, phải là tại hạ mới đúng!”
Sư Lý Tật cười nói: “Giả tiên sinh khách sáo quá. Tại hạ nghe nói Giả tiên sinh đã tìm được Tô Tử, hơn nữa Tô Tử hiện đang trọ ở đây, lần này tới cũng là muốn gặp mặt Tô Tử!”
“Hai canh giờ trước, Tô Tử có hẹn tới phủ tướng quốc, hiện vẫn chưa thấy trở về. Thượng đại phu muốn gặp Tô Tử, có lẽ phải chờ một lát!” Giả Xá Nhân nói đoạn bày đồ trà ra pha trà, đặt một chung lên bàn Sư Lý Tật.
Sư Lý Tật cảm tạ, bưng chung trà lên, mở nắp nhấp một ngụm, khen ngợi: “Trà của Giả tiên sinh đúng là khác hẳn bình thường. Tuy ở Hàm Đan, mà uống vào vẫn thấy có vị của vùng núi Chung Nam.”
Giả Xá Nhân mỉm cười nói: “Cảm tạ thượng đại phu quá khen!”
Sư Lý Tật lại nhấp một ngụm, rồi nói thẳng vào chuyện chính: “Giả tiên sinh đã tìm được Tô Tử, vậy bao giờ sẽ đưa Tô Tử về? Chúa thượng hẳn đang sốt ruột chờ mong!”
Giả Xá Nhân khẽ thở dài: “Than ôi, e là Tô Tử không về nữa rồi!
“Sao kia?” Sư Lý Tật kinh ngạc hỏi. “Chuyện là thế nào?”
Giả Xá Nhân thuật lại sơ qua một lượt kế sách Tam Tấn hợp tung của Tô Tần.
Sư Lý Tật nghe xong, mặt mày biến sắc, vội nói: “Nếu Tam Tấn hợp tung, chẳng phải là đại nạn giáng xuống Tần ư? Giả tiên sinh, bằng mọi giá, chúng ta phải khiến Tô Tử thay đổi chủ ý, trở về Hàm Dương!”
Giả Xá Nhân lắc đầu nói: “E rằng Tô Tử không chịu nghe đâu!”
Sư Lý Tật tràn đầy tự tin: “Chưa chắc! Công Tôn Diễn ban đầu chẳng phải quyết một lòng tận trung với Ngụy thất, vậy mà sau này vẫn tới nước Tần đó ư?”
“Đó là Công Tôn Diễn, không phải Tô Tần!” Giả Xá Nhân nói chắc như đinh đóng cột.
Sư Lý Tật ngẫm nghĩ một lát, nói với Giả Xá Nhân: “Giả tiên sinh, Tô Tử muốn quay về Hàm Dương hay không là một chuyện, chúng ta nỗ lực khuyên hắn quay về lại là chuyện khác. Tiên sinh thấy thế này có được không, đợi Tô Tử trở về, chúng ta cùng khuyên hắn, thuyết phục hắn quay lại Hàm Dương. Nếu Tô Tử không chịu, chúng ta sẽ nghĩ cách khác.”
Giả Xá Nhân còn chưa kịp trả lời, từ bên ngoài đã vọng lại tiếng trò chuyện của Tô Tần và tiểu nhị. Lát sau, tiếng bước chân dừng lại trước cửa, Tô Tần đẩy cửa bước vào.
Sư Lý Tật đứng dậy, vòng tay vái chào: “Tại hạ Sư Lý Tật bái kiến Tô Tử!”
Tô Tần ngẩn người, song lập tức nhớ ra đã từng gặp mặt người này ở Hàm Dương, vội vòng tay đáp lễ: “Tại hạ Tô Tần bái kiến Mộc tiên sinh!” Dừng lại một lát, lại nói thêm. “Cũng là bái kiến thượng đại phu đại nhân!”
Sư Lý Tật cười nói: “Hay tin Tô Tử ở đây, tại hạ không mời mà tới, đã mạo muội quấy quả!”
Tô Tần cũng cười nói: “Thượng đại phu là khách quý, tại hạ muốn mời còn chẳng được! Thượng đại phu đại nhân, mời ngồi!”
Hai người vừa ngồi xuống chiếu, Sư Lý Tật đã đi thẳng vào chuyện: “Tô Tử lần trước tới Tần, Tần Công đang định trọng dụng, nào ngờ Tô Tử đã lẳng lặng bỏ đi. Tần Công hay tin Tô Tử đi rồi, vội sai công tử Hoa đuổi theo tới tận ải Hàm Cốc, do tuyết lớn mịt mù, nên không tìm thấy Tô Tử đâu. Tần Công lại sai tại hạ tiếp tục tìm kiếm, tại hạ tìm tới thôn Tiểu Tần, thì được biết Tô Tử đã rời khỏi Hàm Cốc!”
Tô Tần bèn hỏi: “Thượng đại phu đã tới nhà nhân huynh cụt tay ư?”
“Đúng vậy!” Sư Lý Tật cười nói. “Tại hạ còn được gặp mặt Thu Quả cô nương. Theo lời vị nhân huynh cụt tay kia kể lại, thì Thu Quả cô nương rất có duyên với Tô Tử, Tô Tử chính miệng hứa rằng ba năm nữa sẽ quay lại hỏi cưới, không biết có chuyện này chăng?”
“Đúng là có chuyện này!” Tô Tần thoáng đỏ mặt, gật đầu nói. “Có điều, tại hạ hứa rằng ba năm nữa sẽ quay lại đón Thu Quả, chứ không phải là hỏi cưới. Tại hạ tới Tần, hai lần gặp nạn, nếu không nhờ Thu Quả cô nương cứu giúp, e là không sống nổi tới ngày nay. Đại ân cứu mạng của Thu Quả cô nương, tại hạ đang chờ dịp báo đáp. Tại hạ có lòng nhận Thu Quả làm nghĩa nữ, chỉ là hiện tại đang lúc ngặt nghèo, bản thân còn chưa lo nổi, nói gì tới lo cho người khác? Tại hạ hứa ba năm nữa sẽ quay lại đón, song e rằng chỉ là hứa suông, gắn như viện lẽ thoái thác vậy!”
“Hóa ra là vậy!” Sư Lý Tật thần người, thu lại nụ cười, khẽ gật đầu. “Con người của Tô Tử thật khiến tại hạ khâm phục. Có điều, người Tần thực thà chất phác, Tô Tử đã hứa như vậy, họ ắt sẽ cung kính chờ đợi Tô Tử quay về. Nói tới đây, tại hạ lại có một suy nghĩ!” Rồi dừng lại, nhìn Tô Tần.
“Thượng đại phu có gì xin cứ nói!”
Sư Lý Tật dõng dạc: “Nhìn khắp thiên hạ, thấy nơi đại bàng dừng chân, chính là Tần; có hoài bão thiên hạ, chính là Tần Công. Tô Tử không quản đường sá xa xôi tới đất Triệu, hẳn là muốn hoàn thành đại nghiệp của đời người. Tần Công đã có thành ý trọng dụng Tô Tử, cớ sao Tô Tử không thuận thế cùng tại hạ quay trở lại Hàm Dương, thành tựu sự nghiệp huy hoàng?”
Tô Tần cười gượng một tiếng, vòng tay cảm tạ mà nói: “Tô Tần có duyên với Thu Quả cô nương, song lại vô duyên với Tần Công. Làm phiền thượng đại phu quay về tấu với Tần Công, nói là Tô Tần cảm tạ Tần Công coi trọng!”
“Không giấu Tô Tử,” Sư Lý Tật bắt đầu tỏ vẻ sốt ruột, “tại hạ lần này đi sứ sang Triệu chỉ là danh nghĩa, còn thực chất là tìm Tô Tử. Trước khi đi, Tần Công có dặn đi dặn lại, bằng mọi giá phải tìm cho kỳ được Tô Tử. Tần Công hứa rằng, chỉ cần Tô Tử nguyện tới Hàm Dương, Tần Công ắt sẽ ủy thác quốc sự cho Tô Tử.”
Tô Tần khẽ mỉm cười: “E rằng lần này thượng đại phu tới Triệu tìm Tô Tần chỉ là danh nghĩa, mưu cầu Tấn Dương mới là sự thực!”
Sư Lý Tật kinh ngạc đến toát mồ hôi: “Tô Tử… Tô Tử dựa vào đâu mà nói như vậy?”
Tô Tần lại cười, vòng tay nói: “Thượng đại phu chớ nên kinh hãi, tại hạ chỉ là thuận miệng nói đùa mà thôi!”
Sư Lý Tật liếc nhìn Giả Xá Nhân, sắc mặt nghiêm trang mà nói: “Tại hạ thỉnh cầu Tô Tử, đã là nói đùa thì đừng nên lan truyền ra ngoài. Nếu để người Triệu nghe thấy câu này của Tô Tử, ắt sinh ác cảm với Tần, từ đó mà dẫn tới họa binh đao, như vậy sẽ không còn là lời nói đùa nữa!”
“Than ôi!” Tô Tần thở dài một tiếng. “Dù tại hạ có ý nói với người Triệu, người Triệu cũng chẳng có tai, nghe thế nào được?”
Sư Lý Tật ngạc nhiên hỏi: “Người Triệu không có tai, nghĩa là sao?”
Tô Tần lắc đầu, cười buồn mà rằng: “Vừa rồi tại hạ tới gặp tướng quốc đại nhân như đã hẹn, khua ba tấc lưỡi nói một thôi một hồi, vậy mà tướng quốc đại nhân cứ trơ trơ như khúc gỗ, sắc mặt không chút biểu cảm. Tô Tần lấy làm kinh ngạc, hỏi ra mới biết, tướng quốc đại nhân đã lấy bông bịt kín hai tai từ trước!”
Sư Lý Tật nghe vậy thì sững sờ, đến khi trấn tĩnh trở lại, bèn quay sang nhìn Giả Xá Nhân, phá lên cười mà nói: “Ha ha ha, Tô Tử thật đúng là kỳ nhân có kỳ ngộ! Từ xưa tới nay, du sĩ bôn tẩu bốn phương, bày kế hiến sách, những chuyện cười ra nước mắt không biết bao nhiêu mà kể, song chuyện bịt tai nghe hiền tài, lại chỉ có Tô Tử gặp phải!”
“Đúng vậy!” Tô Tần lại cười gượng. “Thiên cổ kỳ sự lại khiến tại hạ gặp phải, thật đúng là tạo hóa trêu ngươi!”
Nghe tới đây, Sư Lý Tật không để lỡ thời cơ, nói luôn: “Tại hạ có điều này, mong Tô Tử lắng nghe. Vừa rồi thấy Giả tiên sinh nói, Tô Tử có chí hợp tung Tam Tấn. Trong Tam Tấn, người Triệu không có tai, người Ngụy cũng chưa chắc đã biết nghe. Công Tôn Ưởng chẳng làm được gì ở Ngụy, song lại lập nên kỳ công cái thế ở Tần; Công Tôn Diễn một lòng tận trung với Ngụy, song Ngụy Vương lại xem là phản tặc, ban chiếu thư truy nã khắp nơi. Còn như nước Hàn, dù là việc trong nước hay ngoại giao, đều không phải là nơi kiến công lập nghiệp. Lại nhìn nước Tần, đông có Hàm Cốc, Hà Tây, nam có vùng sơn cốc Thương Ư, bốn bề cửa ải hiểm trở, tiến có thể đánh, lùi có thể phòng, là nơi anh hùng dụng võ. Tần Công trẻ tuổi kế vị, bên trong chỉnh đốn quan lại, bên ngoài mưu cầu bang giao, người trong thiên hạ đều công nhận là minh chủ. Dựa vào trí tuệ của Tô Tử, không khó để nhận ra điều này. Tô Tử là đương kim đại tài, đại tài duy có gặp minh chủ mới có thể thi triển tài năng, do vậy, tại hạ thiết nghĩ…” Dừng lại, không nói nữa, đưa mắt nhìn sang Giả Xá Nhân.
“Lời thượng đại phu rất hữu lý!” Giả Xá Nhân tiếp lời. “Tần Công thực lòng trọng dụng Tô Tử, Tô Tử cũng nên suy nghĩ đến việc trở lại Tần, thực hiện hoài bão bình sinh.”
Tô Tần ôm quyền hướng về phía hai người, cất giọng quyết đoán: “Tại hạ bất tài, song tính khí lại ương bướng, một khi đã nhận ra đại đạo, dù có bước tới chỗ sơn cùng thủy tận, cũng quyết không quay đầu. Tấm thịnh tình của hai vị nhân huynh đây, tại hạ ngoài lòng cảm kích, thực không biết nói gì hơn.”
Sư Lý Tật ngơ ngẩn hồi lâu, mới thở dài một tiếng: “Hỡi ôi, mỗi người một chí, Tô Tử đã khăng khăng như vậy, tại hạ chỉ có thể lấy làm nuối tiếc mà thôi!” Rồi đứng dậy, vòng tay chào. “Thời gian không còn sớm nữa, tại hạ có việc phải làm, xin cáo từ!”
Tô Tần, Giả Xá Nhân đứng dậy, tiễn Sư Lý Tật ra tới ngoài cửa, vái chào từ biệt, rồi quay trở lại phòng.
Hai người ngồi ủ ê một hồi, rồi Giả Xá Nhân lên tiếng trước: “Nhìn vào tình thế trước mắt, Tô Tử nếu muốn khởi xướng hợp tung ở Triệu, e rằng phải đợi thêm vài ngày nữa!”
Tô Tần gật đầu nói: “Giả huynh nói rất phải. Có điều, theo tại hạ thấy, ngày này không còn xa nữa!”
“Tô Tử vì sao lại biết?”
“Phụng Dương Quân chức cao quyền trọng, lần này lại nhân lúc Triệu Hầu bệnh nặng, mưu cướp ngôi vị. Mưu sự nên ngấm ngắm không lộ liễu, thế mà nay người Triệu đều biết Phụng Dương Quân có lòng cướp ngôi, đại họa sắp giáng xuống đầu ông ta rồi! Đại họa rình rập, mà lão ngốc này không nhận ra, tại hạ có ý khuyên can, vậy mà còn lấy bông bịt tai, thực đúng là… chao ôi!” Tô Tần lại than thở.
Giả Xá Nhân do dự một lát, rồi chậm rãi nói: “Triệu Hầu bệnh nặng, thái tử nhỏ tuổi, Phụng Dương Quân lại thâu tóm quyền hành trong triều, mưu đồ cướp đoạt ngôi vị không phải không có. Tuy nhiên theo tại hạ thấy, Triệu Hầu dù biết ông ta có dã tâm cướp ngôi, e rằng cũng không làm gì được!”
“Không phải không làm gì được, chỉ là thời cơ chưa tới!” nghe giọng của Tô Tần, rõ ràng đã chắc chắn mười mươi.
“Dám hỏi Tô Tử, lúc nào thời cơ sẽ tới?”
“Giả huynh có biết chuyện Trịnh Trang Công và Công Thúc Đoạn không?” Tô Tần nhìn Giả Xá Nhân. “Trang Công kế ngôi, em ruột Công Thúc Đoạn không phục, muốn cướp đoạt ngôi vị. Mấy lần đòi phong chế, Trang Công đều đồng ý. Đoạn ngỡ là Trang Công nhu nhược dễ lấn át, bắt đầu ngang nhiên chiêu binh mãi mã, công khai mưu phản. Trang Công thấy người trong nước đều biết rõ dã tâm mưu phản của Đoạn, cho rằng thời cơ đã chín muồi, bèn khởi binh thảo phạt, đúng là cốt nhục tương tàn!”
“Ý Tô Tử là, Triệu Hầu cũng đang đợi thời cơ?”
“Thời cơ này, chính là Tấn Dương!”
“Tấn Dương?”
“Đúng vậy, người Tần sớm đã nhòm ngó Tấn Dương. Nếu đúng như tại hạ đoán, Sư Lý Tật đi sứ sang Triệu, hẳn vì chuyện này. Phụng Dương Quân không nhận ra huyền cơ, trong thời khắc then chốt này, lại điều động hai vạn đại quân tới quận Đại. Tấn Dương là nền móng của Triệu, ngộ nhỡ có gì sơ sảy, Triệu Hầu vừa hay tìm được lý do, dù Phụng Dương Quân có trăm cái miệng cũng khó phân trần.”
Giả Xá Nhân ngờ vực: “Triệu Hầu nếu muốn trừ Phụng Dương Quân, chỉ cần gọi vào cung rồi cho người ám sát, muốn giết lúc nào thì giết, hà tất phải phiền phức đến vậy?”
Tô Tần lắc đầu nói: “Sự việc không đơn giản như vậy. Năm xưa Triệu Hầu lên ngôi, Phụng Dương Quân không phải không có công. Từ sau khi nhậm chức tướng quốc, Phụng Dương Quân lo toan trong ngoài, đông chinh tây chiến, hết lòng vì nước, điều này không người Triệu nào không biết. Chuyện này tạm không nói tới, Triệu Thành là em ruột của Triệu Hầu, nếu không có lý do chính đáng mà huynh đệ tương tàn, bảo sử quan ghi chép thế nào đây?”
“Đã là vậy, Triệu Hầu cũng không nên đem Tấn Dương ra đánh cược mới phải!”
“Chuyện này rất khó nói!” Tô Tần đáp lời. “Theo lẽ thường, Triệu Hầu đã biết tỏng mưu này, đương nhiên sẽ có chuẩn bị từ trước.” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Có điều, tại hạ vẫn còn một điểm chưa rõ, chính là Phụng Dương Quân cớ sao lại muốn điều động quân trấn thủ Tấn Dương tới quận Đại? Tuy nói Trung Sơn lớn mạnh, là cái nhọt lớn trong bụng nước Triệu, song đại sự trước mắt của Phụng Dương Quân, đâu có phải là Trung Sơn?”
“Tô Tử hỏi câu này, Xá Nhân có biết chút ít.”
“Giả huynh xin hãy nói!”
“Tại hạ mới gặp hai sĩ tử trong quán trọ, tán gẫu với họ, được biết cung Yên xảy ra nội đấu, công tử Ngư vì tranh đoạt ngôi thái tử, đang chiêu binh mãi mã ở Vũ Dương, rắp tâm khởi sự. Phụng Dương Quân điều đại binh tới quận Đại, có lẽ liên quan tới chuyện này.”
Tô Tần kinh ngạc, trầm ngâm một lát, rồi ngẩng lên hỏi: “Hai người đó hiện đang ở đâu?”
“Họ nghe nói công tử Ngư không tiếc tiền bạc chiêu mộ nhân tài, nên nói là muốn tới đầu quân cho hắn, giờ này có lẽ đã đi rồi!”
Tô Tần trầm ngâm một lát, rồi đứng dậy vòng tay nói: “Giả huynh, tại hạ xin từ biệt vài hôm, tới Yên một chuyến!”
Giả Xá Nhân sửng sốt: “Tới Yên làm gì?”
“Giúp một người!” Lời nói vừa dứt, chân đã bước vào phòng, bắt đầu thu dọn hành lý. Chưa đầy một khắc sau, Tô Tần đã gói ghém xong tay nải, khoác lên vai, đi ra cửa, định tìm Giả Xá Nhân từ biệt, thì thấy Giả Xá Nhân đã chuẩn bị xe ngựa sẵn sàng đợi ở bên ngoài.
Tô Tần kinh ngạc: “Giả huynh…”
Giả Xá Nhân cười nói: “Từ đây tới Kế Thành không dưới nghìn dặm, Tô Tử chỉ đi bằng đôi chân, sẽ phải mất bao nhiêu ngày đây? Ngựa của tại hạ đang tuổi sung sức, có thể thay thế cho đôi chân!”
Tô Tần lắc đầu quầy quậy: “Không có xe ngựa, Giả huynh đi lại thế nào?”
Giả Xá Nhân cười nói: “Tại hạ không đi đâu cả, chỉ đợi Tô Tử quay về. Cỗ xe này coi như tạm cho Tô Tử mượn!”
Tô Tần vòng tay cảm tạ: “Nếu được như vậy, tại hạ xin cảm tạ Giả huynh!” Rồi tiếp lấy dây cương từ trong tay Giả Xá Nhân, nhảy lên xe, lại vái chào lần nữa từ biệt.
Giả Xá Nhân đáp lễ, nhân tiện hỏi luôn: “Tô Tử đi lần này, có cần Xá Nhân giúp đỡ gì chăng?”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Chỉ nhờ Giả huynh để ý giúp sự tình trong cung Triệu, đặc biệt là cục diện Tấn Dương. Nếu có động tĩnh gì, hãy tìm cách báo cho tại hạ!”
Giả Xá Nhân gật đầu.