Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 67
Khước từ vay sắt, Hàn chuốc họa lớn
Đồng ý tặng lương, Tần giấu mưu sâu

❊ ❊ ❊

Trong nháy mắt, quân sư, đại tướng người chết, kẻ trốn, Tề Uy Vương bàng hoàng kinh hãi, chỉ trong một đêm như đã già sọm hẳn đi. Chưa đầy hai tháng, tóc đã bạc trắng, răng cũng rụng liền mấy cái, ánh mắt vô thần, động tác đờ đẫn, lưng còng xuống, bước đi loạng choạng như trẻ mới tập đi, ngón tay thường xuyên run rẩy, có khi ngồi đờ đẫn cả buổi, có khi cứ lẩm bẩm một mình, chẳng khác gì cái xác biết đi, biết ăn biết uống, song chẳng nhớ nổi chuyện, chẳng nhận ra ai, đừng nói là đám vương hậu, thái tử, Trâu Kỵ lui tới thăm hỏi, dù là mỹ nữ ngày đêm hầu hạ trong tẩm cung cũng chẳng nhận ra nổi một người.

Thái tử Tích Cương bí mật cho gọi thái y tới, hỏi về bệnh tình của Uy Vương, thái y nói: “Bệnh này là do thận tinh khô kiệt. Theo ghi chép trong ‘Nội kinh’, ‘thận sinh tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ vượng não’. Một khi thận tinh khô kiệt, tuỷ sẽ không thể vượng não. Não là nơi cư trú của nguyên thần, nơi cư trú không vượng, nguyên thần bỏ đi, đại vương vì thế mới mắc bệnh này.”

“Hẳn có cách chữa trị?” Tích Cương lo lắng hỏi.

“Than ôi!” Thái y lắc đầu, hồi lâu sau mới than thở. “Không giấu điện hạ, thần nhiều lần khuyên can đại vương bỏ sắc dưỡng sinh, đại vương không những không nghe, lại còn chỉ lệnh cho thần chế ra thuốc cang dương. Thần không dám trái lệnh, chỉ còn cách cho thêm vào thuốc này những vị dưỡng âm, khiến đại vương vừa có thể hành phòng, lại có thể dưỡng sinh. Tuy nhiên, hiệu lực của những vị thuốc này có hạn, lại thêm đại vương…” Ngập ngừng một lát, không dám nói ra hai chữ “quá dâm”, lại thở dài một tiếng. “Đại vương ngày càng hư nhược, giờ thì thận tinh khô kiệt, thần… đã hết cách cứu vãn!”

“Nếu đã như vậy, không thể trách khanh, hãy chú ý cho phụ vương điều dưỡng! Ngoài ra, bệnh tình của phụ vương, không được truyền ra ngoài!” Tích Cương dặn dò vài câu, bảo thái y lui ra, sai nội tể của Uy Vương soạn chiếu thụ mệnh, đóng ấn tỷ của Uy Vương, uỷ thác lại mọi chuyện triều chính lớn nhỏ cho thái tử.

Tới lúc này, nước Tề bề ngoài vẫn là Điền Nhân Tề làm vua, song thực chất, tất cả quyền hành đều đã chuyển sang tay thái tử Điền Tích Cương.

***

Cả nhà Tôn Tẫn bốn người được Tô Tần âm thầm sắp xếp tới Định Đào nước Tống, địa điểm do Tôn Tẫn lựa chọn. Khi vây Ngụy, Tôn Tẫn đóng trại ở Định Đào, đã chú ý thấy trong một ngõ hẻm hẻo lánh có một cội mai già trăm tuổi, nghĩ tới Thuỵ Mai, nên quyết định tới đây ẩn thân. May mắn làm sao chủ hộ có cây mai già kia lại di cư tới Tuy Dương, để lại ngôi nhà trống, Trâu Phi Đao liền đứng ra thuê.

Tô Tần bố trí Mộc Thực và vài vị Mặc giả bảo vệ, còn mình cùng Trâu Phi Đao trở về Hàm Đan. Về tới phủ, đã thấy Mộc Hoa cung kính chờ sẵn, thông báo một tin vui nằm trong dự liệu: Cơ Tuyết đã sinh hạ một bé gái, mời Tô Tần tới đặt tên cho đứa trẻ.

Tô Tần không kịp nghĩ ngợi gì thêm, lập tức chuẩn bị xe ngựa, cùng Trâu Phi Đao, Mộc Hoa gấp rút lên đường tới Vũ Dương.

Để đề phòng bất trắc, Tô Tần cải trang thành thương nhân đồ da từ Hàm Đan tới nước Yên buôn bán, Trâu Phi Đao và Mộc Hoa cải trang thành người hầu, tìm một quán trọ hẻo lánh kín đáo trong thành Vũ Dương nghỉ lại, vào giờ Nhân định, nhân lúc đêm tối, mau chóng tìm tới chỗ ở của Mặc gia nằm sát vách ly cung, Khuất Tương Tử trong trang phục thợ mộc đã chờ sẵn ở đó.

“Khuất tiền bối!” Tô Tần quỳ sụp xuống, nói. “Vãn bối đã làm liên luỵ tới tiền bối!”

“Tô đại nhân, người thân phận quý báu, lão hủ không dám nhận.” Khuất Tương Tử cười lớn, không để Tô Tần kịp dập đầu, đã kéo Tô Tần dậy, đỡ ngồi xuống chiếu.

“Tiền bối, nghe tiền bối nói vậy, Tô Tần càng thêm kinh hãi!” Tô Tần vòng tay vái lia lịa.

“Đại nhân bất tất phải kinh hãi” Khuất Tương Tử lại cười. “Cự tử Tuỳ Sào Tử trước khi thăng thiên, đã đặc biệt căn dặn lão hủ rằng, sự an nguy của Tô Tử có liên quan tới phúc lợi của thiên hạ, lệnh cho lão hủ bằng mọi giá phải bảo vệ Tô Tử. Thân là Mặc giả, không dám trái mệnh cự tử, lão hủ còn sống ngày nào thì còn theo đại nhân ngày đó!”

“Tuỳ Sào Tử tiền bối linh thiêng trên trời, xin nhận của Tô Tử một lạy!” Tô Tử lại đứng dậy, nhìn lên trời cao mà bái lạy.

Lần này, Khuất Tương Tử không ngăn cản.

“Khuất Tương Tử tiền bối!” Tô Tần lạy xong, trở về chỗ ngồi, vòng tay hướng vào Khuất Tương Tử. “Chuyện của vãn bối và Tuyết Nhi, thực sự không nên, chỉ có điều, sự việc đã tới nước này, nên làm thế nào, kính mong tiền bối chỉ dạy.”

Khuất Tương Tử lại cười vài tiếng: “Chuyện của đại nhân và công chúa, trước sau thế nào, công chúa đều đã kể hết cho lão hủ, không có gì là nên hay không nên. Duyên do trời định, hai người nếu đã có duyên, cũng nên thuận trời thuận mệnh.” Rồi chỉ về phía đường hầm bí mật. “Tô Tử, lão hủ đã bẩm báo với công chúa rồi, tiểu công chúa lúc này hẳn đang nóng lòng muốn gặp mặt cha!”

Tô Tần tạ ơn, đứng dậy đi vào đường hầm, chỉ một lúc sau, đã tới tẩm cung quen thuộc dưới lòng đất.

“Tô Tử…” Cơ Tuyết đang mỏi mắt mong chờ, vội chạy ra đón, lao vào lòng Tô Tần.

Hai người ôm ghì lấy nhau.

“Tô Tử!” Giọng Cơ Tuyết có phần nghẹn ngào. “Tuyết Nhi… Tuyết Nhi muốn sinh cho Tô Tử một đứa con trai, thế nhưng…”

“Tuyết Nhi!” Tô Tần càng ôm chặt lấy nàng. “Con trai thì có gì tốt đẹp, Tô Tần ghét con trai, Tô Tần tạ ơn ông trời đã ban cho ta và nàng một cô con gái!”

Tô Tần buông Cơ Tuyết ra, hấp tấp bước lại trước giường, dưới ánh sáng lờ mờ, nhìn đăm đăm vào bé gái sơ sinh đang nằm trong tã.

Bé gái đang ngủ say sưa.

Tô Tần cúi xuống, hôn nhẹ lên khuôn mặt bé nhỏ phúng phình của đứa bé, rồi quay sang Cơ Tuyết: “Tuyết Nhi, rất giống nàng!”

“Giống chàng!” Cơ Tuyết cười rạng rỡ. “Từ nhỏ đã nghe mẫu hậu nói, con gái giống cha, con trai giống mẹ, nay nhìn Phi Nhi, đúng là rất giống chàng, khuôn mặt kia, chiếc mũi kia, cả cái miệng nữa, chẳng có chỗ nào giống thiếp!”

“Phi Nhi?”

“Vâng!” Cơ Tuyết đáp lời. “Vào ngày sinh nở, vừa đúng tiết Thanh minh, mưa bụi mịt mờ, nên thiếp liền đặt tên cho con là Phi Nhi. Đây là tên mụ, còn tên chính thức phải để cha nó đặt. Tô Tử, chàng hãy chọn cho con một cái tên!”

“Xưa ta đi xa, dương liễu phất phơ. Nay ta trở lại, mưa tuyết mịt mờ.”(1) Tô Tần bất giác ngâm nga, ứa hai dòng lệ.

Cơ Tuyết tức cảnh sinh tình, đặt tên cho con gái theo tâm tư của “chinh nhân” là Tô Tần, thực khiến hắn cảm động khôn xiết.

“Phải!” Cơ Tuyết cũng nhỏ nước mắt. “Rau vi nhú mầm, mau tay hái lấy. Hỏi rằng ngày về, hết năm chẳng thấy.” Tuyết Nhi hiểu, Tô Tử không phải không trở về, mà là: “Chiến xa đã đóng, bốn ngựa oai phong. Nào dám nhàn nhã, tháng mấy chiến công.”

Cơ Tuyết lại mượn thơ này, trước sự ra đi biền biệt không về của “chinh nhân”, đã không oán hận nửa lời, mà trái lại còn có ý khen ngợi Tô Tần thân mang vương mệnh, vất vả bôn ba, lại thu được thành tựu huy hoàng “tháng mấy chiến công”, và hơn thế nữa, nàng hiểu rõ “chinh nhân” chẳng lúc nào không khắc khoải ngóng trông, chẳng lúc nào không nhớ thương nàng, thế là đã đủ.

“Tuyết Nhi!” Tô Tần nắm chặt tay Cơ Tuyết, đôi mắt nhoà lệ nhìn thẳng vào nàng. “Gặp phải chinh nhân này… nàng có hối hận không?”

Cơ Tuyết lắc đầu, một lát sau, khẽ nói: “Phu quân, hãy đặt tên cho Phi Nhi.”

“Đây chính là tên!” Tô Tần nhìn đứa bé, chỉ vào Cơ Tuyết, lại chỉ vào mình. “Cơ Tô Phi Phi!”

“Là Tô Phi Phi.” Cơ Tuyết thì thầm. “Bỏ chữ Cơ đi.”

“Tuyết Nhi!” Tô Tần nhìn vẻ phía xa xăm. “Ta lấy nghĩa của câu thơ ‘bên bờ Cơ Thuỷ, hoa tô bạt ngàn’, cái tên này có nàng, có ta, để cho Phi Phi của chúng ta không còn liên quan gì tới chinh nhân nữa!”

Cơ Thuỷ là đất phát hưng của tổ tiên Chu thất, cũng là đất tổ của họ Cơ, hoa tô là hoa tía tô, loài cây dại mọc khắp ven đường ngoài nội, nở hoa màu tím.

“Vì sao kia?” Cơ Tuyết nép vào Tô Tần, giọng nói càng thêm êm dịu. “Vì chinh nhân đã mệt mỏi quá rồi chăng?”

Tô Tần thở dài, ôm chặt Cơ Tuyết vào lòng.

“Chinh nhân ơi!” Cơ Tuyết nhổm dậy. “Hẳn đã mệt rồi, vậy chúng ta hãy đi nghỉ thôi!”

“Tuyết Nhi!” Tô Tần lại ôm lấy nàng. “Trước khi đi nghỉ, nàng hãy đồng ý với ta một việc!”

“Chàng cứ nói!”

“Cơ Tô Phi Phi, ngày mai ta sẽ mang nó đi!”

“Mang… mang đi?” Cơ Tuyết sững sờ.

“Phải! Tuyết Nhi, còn nhớ lần trước khi ta đến đây, nàng đã từng nói gì không? Chuyện liên quan tới Phi Phi!”

“Thiếp…” Cơ Tuyết nhắm nghiền mắt lại, cái đêm năm ngoái lại hiện về, bên tai nàng văng vẳng giọng nói của chính mình. “Tuyết Nhi đã suy nghĩ kỹ rồi, khi nào Tuyết Nhi mang thai, sẽ đóng cửa ở trong phòng, loan tin ra ngoài rằng tiên quân về báo mộng cho thiếp, muốn thiếp bế quan một năm để giao tiếp với linh hồn của tiên quân. Đợi đến thời khắc tốt lành, Tuyết Nhi sẽ sinh nở ngay trong mật thất này, sau đó, sẽ giao đứa bé cho Mộc Hoa, nhờ tìm một gia đình họ Tô để gửi nuôi. Sau đó, Tuyết Nhi sẽ tìm cơ hội, nhận đứa trẻ về làm con nuôi, để nó đường đường chính chính gọi Tuyết Nhi là mẹ.”

Cơ Tuyết bật khóc.

“Tuyết Nhi, nàng nói rất phải. Phi Phi đã tới thế giới này, chúng ta phải có trách nhiệm với nó. Nó không thể ở lại nơi này, nó buộc phải đi!”

“Chàng… chàng định đem nó đi đâu? Giao cho ai kia?”

“Giao cho Khuất tiền bối, giao cho chư tử Mặc gia!”

Cơ Tuyết khẽ gật đầu.

“Tuyết Nhi, từ ngày mai, Phi Phi của chúng ta sẽ trở thành Mặc giả!”

Cơ Tuyết lại gật đầu.

Đêm đó, Cơ Tuyết không ngủ, Tô Tần cũng không ngủ. Hai người im lặng ngồi bên nhau, bốn con mắt đăm đăm dán chặt vào đứa bé đang nằm trong tã, như thể muốn ghi tạc hình bóng đứa con vào trong đáy mắt, khắc sâu vào trong tâm khảm.

Phi Phi rất ngoan, cho tới tận khi trời sáng, không khóc, không quấy, cũng không đòi ăn, cứ thế nằm ngủ im lìm.

***

Bên hồ sen trong hậu hoa viên cung Yên ở Kế Thành, Dịch Vương đang tay nắm tay dạy Tử Vi học chữ. Tử Vi là đứa con đầu tiên mà vương hậu Tần Cơ, cũng chính là trưởng nữ của Tần Huệ Vương, Doanh Tường, sinh cho Dịch Vương ngay sau khi kết hôn. Tử Vi kháu khỉnh bụ bẫm, mắt giống Doanh Tường, song dáng dấp, thậm chí cả dáng đi, lại giống Dịch Vương như lột, nên được Dịch Vương vô cùng yêu thương. Mẫu hậu Doanh Tường đứng tựa lan can đình hóng mát ở phía xa, lơ đãng nhìn về phía hai cha con họ.

Hai cha con đang vui vẻ thân mật, thì Kỷ Cửu Nhi sải bước tiến lại, ghé sát tai Dịch Vương thì thầm một câu. Dịch Vương sững sờ kinh ngạc, dặn Tử Vi chạy lại chỗ vương hậu, còn mình hối hả theo Kỷ Cửu Nhi tới tiền điện.

Quỳ trong điện là một hoạn quan, chính là tai mắt của Kỷ Cửu Nhi được cài ở chỗ Cơ Tuyết.

“Có chuyện gì, hãy bẩm báo tường tận lên đại vương!” Kỷ Cửu Nhi ra lệnh.

“Đại vương vạn an!” Hoạn quan kia khấu lạy xong, bèn tấu báo. “Nô tài chịu mệnh đại vương hầu hạ thái hậu, mọi việc đều lo liệu chu toàn, chỉ có điều gần một năm qua, thái hậu thay tính đổi nết, không rời khỏi ly cung lấy một bước. Không những thế, mà tối ngày còn khoá chặt cửa hậu viện, đuổi hết hơn chục nô bộc ra ngoài, chỉ giữ lại ba người bọn Xuân Mai.”

“Chuyện này bản vương biết rồi!” Dịch Vương đáp. “Lần trước nghe ngươi bẩm báo, thái hậu mơ thấy tiên quân, muốn mời bà mo tới cầu khấn cho tiên quân, không biết đã tìm thấy bà mo chưa?”

“Tìm thấy rồi!” Tên hoạn quan trả lời. “Lạ lùng chính là ở chỗ bà mo đó, sau khi đi vào, tuyệt nhiên không thấy đi ra nữa, cánh cổng dẫn tới hậu viện ngày đêm cài then chặt kín, chỉ tới khi dùng bữa mới hé ra để lấy đồ ăn. Nô tài nhìn qua khe cửa, thấy trong sân hiếm khi có bóng người, sai người trèo lên nóc nhà quan sát, cũng không thấy có gì bất thường.”

“Đã không có gì bất thường, ngươi còn đến đây bẩm báo cái gì?” Dịch Vương bực mình, đứng dậy định đi.

“Đại vương hãy khoan!” Hoạn quan nói tiếp. “Cách đây một tháng, cũng là vô tình, nô tài đau bụng, nửa đêm đi ngoài, bỗng nghe loáng thoáng có tiếng trẻ sơ sinh khóc.”

“Tiếng trẻ sơ sinh khóc?” Dịch Vương chau tít đôi mày, nhìn sững vào tên hoạn quan.

“Vâng!” Hoạn quan tiếp lời. “Tiếng khóc mơ hồ, cứ như cách xa vài dặm, người thường tuyệt đối không nghe thấy, nhưng nô tài bẩm sinh đã tai thính khác thường, đừng nói là tiếng chim muông côn trùng, dù rắn trườn qua cỏ cách xa chục trượng, nô tài cũng có thể nghe ra, huống hồ đang giữa đêm khuya.”

“Đứa trẻ ở đâu?”

“Nô tài nhìn về hướng phát ra tiếng khóc, song đó lại là lăng tẩm của tiên quân. Lăng tẩm của tiên quân khoảng mười dặm vuông, ngoài người canh lăng, không còn ai khác. Vài ngày sau đó, thần đã sai người dò la, biết được trong đám người canh lăng không nhà nào có trẻ sơ sinh cả.”

“Vậy… còn tiếng khóc?”

“Tiếng khóc, nô tài đã dốc hết sức lắng nghe, ban ngày ồn ào, chỉ đến đêm khuya thanh vắng mới thi thoảng nghe thấy.”

“Đêm nào cũng nghe thấy ư?”

“Gần như là vậy, có lúc cách một, hai đêm.”

“Không phải là…” Dịch Vương nghe mà dựng ngược tóc gáy, “ma quỷ đấy chứ?”

“Có ma hay không, nô tài không biết, tuy nhiên chục ngày gần đây, nô tài suốt mấy đêm liền không còn nghe thấy nữa.”

“Không còn nghe thấy là được rồi!” Dịch Vương thở phào một tiếng.

“Đại vương không thấy quái lạ ư?” Kỷ Cửu Nhi phẩy tay cho hoạn quan lui ra, rồi khẽ hỏi.

“Ồ?”

“Thái hậu đuổi hết người hầu, hơn một năm không ra khỏi cửa, bà mo chỉ vào không ra, nửa đêm có tiếng trẻ khóc…”

“Ý ngươi là…” Dịch Vương hít vào một hơi, nhìn Kỷ Cửu Nhi với ánh mắt không thể tin nổi.

“Đại vương!” Kỷ Cửu Nhi nói. “Nô tài cho rằng, chỗ thái hậu, chưa biết chừng lại có ma thật đấy!”

“Ngươi mau đi điều tra kỹ lưỡng!” Dịch Vương đưa mắt nhìn Kỷ Cửu Nhi, dừng lại một lát, lại dặn dò. “Bất luận xảy ra chuyện gì, đều không được làm kinh động tới thái hậu, giờ vẫn chưa phải lúc động chạm đến bà ta.”

“Thần lĩnh chỉ.”

***

Bỗng dưng có được cả bộ “Binh pháp Ngô Khởi”, Bàng Quyên coi như báu vật, nghiền ngẫm suốt mấy ngày liền, tâm đắc vô số, rồi nhìn lại toàn bộ những chuyện trước sau trận chiến Quế Lăng, không thể không thực lòng thán phục chiến lược bao quát và chiến thuật chi tiết của Tôn Tẫn. Nhìn vào mặt chiến lược, Bàng Quyên đã hiểu được rằng, Tôn Tẫn chiến thắng ở ngựa, đổi xe chiến thành ngựa cưỡi, Tôn Tẫn đã mở rộng phạm vi cơ động của quân Tề rất nhiều, không những khiến quân Tề giảm bớt được nhược điểm tự thân trước võ binh Đại Ngụy, mà còn khiến đất Ngụy khắp nơi chiến hoả bao trùm, thực hiện thành công kế nghi binh, ép Huệ Vương phải liên tiếp ban chiếu lệnh rút quân. Còn nhìn vào mặt chiến thuật chi tiết, Tôn Tẫn cũng vô cùng tuyệt diệu, đặc biệt là lần dùng mưu trí phá vỡ thế trận rùa rụt đầu của hắn, điều này tuyệt đối không phải là nhờ may mắn.

Thế nhưng, phải phá giải thế nào đây?

Bàng Quyên vắt óc suy nghĩ, suốt mấy đêm liền không ngủ. Muốn phá khinh kỵ của Tề, trước hết phải biết cưỡi ngựa. Bàng Quyên hồi nhỏ từng cưỡi la, sau cưỡi ngựa, song theo như hắn biết, lưng ngựa trơn tuột, tuy có học theo cách của người Hồ, kỵ binh trải một lớp đệm mềm bằng da thú trên lưng ngựa, nhưng cưỡi lâu vẫn thấy ê mông, huống hồ chiến mã phi nước đại, xóc nảy dữ dội, dù không bị hất văng đi cũng phải xây xẩm mặt mày. Nguy hiểm hơn là, hai chân kỵ binh lơ lửng hai bên sườn ngựa, dù là người Hồ từ nhỏ đã sống trên lưng ngựa, cũng có lúc ngã nhào xuống đất. Chẳng nói cũng biết, người Tề huấn luyện kỵ mã, tuyệt đối không phải là chuyện một sớm một chiều. Nghĩ tới người Tề vì cuộc chiến này mà mấy năm liền tổ chức hội đua ngựa, cả nước phát cuồng vì ngựa, kỹ thuật nuôi ngựa lại càng tiến bộ vùn vụt, thậm chí chẳng kém gì người Hồ đất bắc, trong khi nước Ngụy vẫn chỉ phát triển lính bộ, chiến mã đa phần chỉ dùng để kéo xe, kỹ thuật cưỡi ngựa chỉ dành cho lính thám mã trinh sát địch tình, trong thời gian ngắn sẽ không thể nào đuổi kịp người Tề, Bàng Quyên bắt đầu lo lắng.

“Người Tề có thể dùng ngựa, vì sao ta lại không thể?” Bàng Quyên lòng đã quyết. “Bất luận thế nào, ta cũng phải xây dựng kỵ binh, lấy kỵ đối kỵ, lấy cơ động đối cơ động.”

Bàng Quyên mưu đã định, bèn cho gọi thiên tướng Sái Anh phụ trách thám mã tới, bàn bạc chi tiết về sách lược xây dựng kỵ binh, cấp phát cho hắn năm nghìn quân mã, trao quyền cho hắn thiết lập một cánh kỵ binh cơ động và thần tốc.

Giải quyết xong việc này, Bàng Quyên bắt đầu dốc sức khôi phục võ binh. Hơn hai vạn võ binh và vài nghìn quân hổ bôn thuộc hạ của Thanh Ngưu, hoặc tuẫn thân ở Quế Lăng, hoặc tử chiến ở đất Triệu, đang cấp thiết chờ bổ sung, thậm chí là xây dựng lại từ đầu. Bàng Quyên và Thanh Ngưu bàn bạc mấy ngày trời, cảm thấy trước mắt nhân lực không thiếu, chỉ thiếu trang bị, đặc biệt là binh khí và giáp trụ, bởi vì trong trận Quế Lăng, giáp trụ và binh khí của tướng sĩ đã bị quân Tề thu hết làm chiến lợi phẩm. Áo giáp và binh khí của võ binh đều do thợ khéo nước Ngụy hoặc đất Hàn chế tác, mỗi một món đều vô cùng tinh xảo, chỉ tính riêng chuyện này, nước Ngụy đã tổn thất nặng nề, khiến Bàng Quyên đau xót suốt mấy tháng trời.

Việc chế tác áo giáp, binh khí lại đều do công xưởng đảm nhiệm, mà công xưởng thuộc quyền quản lý của phủ tư đồ. Bàng Quyên bày sẵn rượu thịt, mời Bạch Hổ tới. Thế nhưng, Bạch Hổ không những không cảm kích, mà trái lại, Bàng Quyên còn chưa kịp mở miệng, đã thao thao kể khổ.

“Ân huynh!” Bạch Hổ đẩy chén rượu mà Bàng Quyên tự tay rót sang một bên, sắc mặt nặng trĩu lo âu. “Vụ thu vừa rồi gặp thiên tai, thu hoạch chẳng đáng bao nhiêu, hiện tại chưa vào vụ mới, dân được bữa nay lo bữa mai, các huyện ấp đều nạn đói lan tràn, nghìn vạn dân chúng bỏ nhà bỏ quê đi ăn xin, chen chúc trên đường, cứ nghĩ tới chuyện này, tại hạ lại lòng đau như dao cắt. Nghe nói tam quân khi rút khỏi Hàm Đan đã mang về không ít tiền của, ngu đệ khẩn cầu ân huynh cấp phát cho chút ít, chẩn tế nạn đói mùa xuân, cứu bách tính trong cơn nước lửa!”

“Tiền của Hàm Đan?” Bàng Quyên khẽ chau mày, thở dài một tiếng. “Than ôi, hiền đệ, những lời đồn thổi này mà đệ cũng tin ư? Khi tam quân rút lui, đệ đã thấy rồi đấy, bách tính cả nước đã thấy rồi đấy, người Triệu dọc đường cũng đã thấy rồi đấy, trên xe chỉ chở toàn thi thể tướng sĩ trận vong, đào đâu ra tiền của? Từ đầu tới cuối, hiền đệ chưa lần nào tới Hàm Đan, còn đại ca lúc nào cũng túc trực ở đó. Trong thành Hàm Đan rất nhiều của cải, song người Triệu làm gì có chuyện cam tâm tình nguyện giao cho chúng ta? Ngay từ lúc vây thành, họ đã lường trước tình huống xấu nhất, trước khi bỏ thành đã xử lý xong xuôi, kim ngân tài vật, hoặc giấu dưới đất, hoặc mang theo bên mình khi phá vòng vây, thứ để lại chỉ là ít thóc gạo trong kho chưa kịp cất giấu, song lại quẳng cho chúng ta dễ đến mười vạn dân chúng đói lả, đại ca nỡ lòng nào nhìn người dân Triệu chết đói ngay trước mắt mình? Còn như vải lụa, châu báu trong cung Triệu, đám tướng sĩ đúng là có chở về được chút ít, song đều kiểm kê rõ ràng, lập danh sách đầy đủ sung vào quốc khố, do đại vương phân phối ban thưởng. Ba quân tướng sĩ chỉ biết xông pha nơi sa trường, không dám giấu giếm riêng tư!”

“Than ôi!” Bạch Hổ thấy Bàng Quyên chặn họng, cũng thở dài một tiếng. “Dân chúng đang cơn hoạn nạn, trong kho lại không còn lương thực, thân là tư đồ, tiểu đệ…” ngoảnh mặt nhìn sang một bên, hồi lâu sau, bật ra vài chữ, “lòng như dao cắt!”

“Được rồi, được rồi!” Bàng Quyên hết kiên nhẫn cắt ngang lời Bạch Hổ, nâng chén rượu lên. “Ở đây không phải triều đường, không bàn đến chuyện dân chúng đói kém, huynh mời hiền đệ tới đây, là vì hai việc. Thứ nhất là việc riêng, đã lâu không gặp hiền đệ, muốn uống vài chén với hiền đệ, ôn lại chuyện xưa. Thứ hai là việc công, muốn cầu hiền đệ giúp một tay, hoàn thành một việc lớn.”

“Cầu thì không dám, ân huynh xin hãy nói việc công!”

“Trận chiến Quế Lăng, võ binh tổn thất lớn nhất.” Bàng Quyên dõng dạc nói. “Trước mắt đại ca có hai việc gấp, thứ nhất là học lấy sở trường của người Tề, xây dựng kỵ binh. Thứ hai, tái lập võ binh, chấn hưng uy phong của võ binh. Việc xây dựng kỵ binh, sẽ do đại ca lo liệu, còn việc chiêu mộ võ binh, đại ca đã giao cho Thanh Ngưu, chỉ cầu mong hiền đệ giúp cho một việc, chính là trong vòng sáu tháng, hiền đệ hãy giúp đại ca chế tạo hai vạn bộ giáp trụ!” Rồi đưa tay kia nâng chén rượu trên bàn lên, đưa cho Bạch Hổ. “Nào, hiền đệ, vì hai vạn bộ giáp trụ, cạn chén!”

“Ân huynh!” Bạch Hổ nhận lấy, lại từ từ đặt xuống. “Chén rượu này, thứ lỗi cho đệ không thể cạn!”

“Vì sao?”

“Bởi vì hai vạn bộ giáp trụ, đừng nói là trong vòng nửa năm, dù có ba năm, ngu đệ cũng không thể làm nổi!” Nói đoạn, Bạch Hổ khẽ vòng tay, dứt khoát đứng dậy bỏ đi.

Bàng Quyên không thể ngờ Bạch Hổ lại thẳng thừng đến vậy, một bầu hy vọng bỗng chốc tan thành mây khói, mặt đỏ phừng phừng ngồi chết lặng, tai nghe tiếng chân Bạch Hổ xa dần cho tới khi mất hẳn bên ngoài cổng phủ, mới ngửa cổ lên, một hơi dốc cạn chén rượu, rồi thuận tay ném đánh vèo ra phía ngoài sảnh, mặt mày biến dạng vì giận dữ.

Sau khi ra khỏi Bàng phủ, Bạch Hổ chần chừ một lát, rồi đánh xe thẳng tới phủ Chu Uy, kể sơ qua một lượt chuyện vừa rồi. Chu Uy cảm thấy sự tình nghiêm trọng, bèn kéo Bạch Hổ tới chỗ thái tử Thân.

“Những chuyện này, Thân biết cả rồi!” Nghe Bạch Hổ kể xong, thái tử Thân lấy ra một tập tấu báo, nói. “Đây là tấu thỉnh hôm kia của Vũ An Quân, đại vương chuyển tới chỗ Thân, Thân cũng đang định triệu hai vị tới bàn bạc.”

Chu Uy, Bạch Hổ đưa mắt nhìn nhau.

“Một bên là dân chúng lầm than, đang khắc khoải chờ cứu tế, một bên là hưng binh chế giáp, chấn chỉnh võ công. Đại vương uỷ thác toàn bộ chính sự cho Thân, Thân lại không biết phải làm thế nào, dám hỏi hai vị có cao kiến gì chăng?”

“Tất cả đều là mưu của Trương Nghi!” Chu Uy giận dữ nói. “Thần lần nữa thỉnh cầu điện hạ đuổi Trương Nghi đi, mời Công Tôn Diễn chủ trì chính sự!”

“Than ôi!” Thái tử Thân khẽ thở dài một tiếng. “Không phải Thân dùng Nghi, nên đương nhiên Thân cũng không thể đuổi Nghi. Phụ vương còn ở trong cung ngày nào, thì đuổi Nghi là điều không thể! Có điều, hai vị có thể mỗi người tự viết một bản tấu, bộc bạch mọi nỗi khổ tâm, xem phụ vương nói thế nào!”

Bạn cũ nay thành kình địch, Bàng Quyên bực bội trong lòng, vô thức tìm tới phủ tướng quốc, kể hết mọi chuyện với Trương Nghi.

“Thật khổ cho Bàng huynh!” Trương Nghi khẽ cười một tiếng, nửa như châm chọc, nửa như tự trách mình. “Nay thời thế loạn lạc, võ bị một ngày không thể bỏ. Phủ tư đồ chịu sự cai quản của phủ tướng quốc, tư đồ chưa báo cáo lên tại hạ, đã tự ý cự tuyệt võ bị, đó là tại hạ chưa làm tròn chức trách.”

Lời này, rõ ràng có ý trách cứ Bàng Quyên đã vượt phận bao đồng, Bàng Quyên nghe ra ẩn ý, vội vòng tay vái lia lịa mà rằng: “Không trách Trương huynh, là do tại hạ lỗ mãng. Tại hạ cứ ngỡ rằng bản thân có giao tình tốt đẹp với Bạch Hổ, nên mời hắn tới uống rượu, thứ nhất là nể mặt hắn, thứ hai là thăm dò ý tứ hắn, nào ngờ kẻ này… than ôi, lại chẳng hề nể nang gì tại hạ.”

“Than ôi!” Trương Nghi cũng thở dài một tiếng. “Bàng huynh có điều không biết, dù là Bàng huynh tìm tới tại hạ, tại hạ cũng cảm thấy khó xử. Tuy được Bàng huynh tiến cử, được đại vương yêu mến mà tại hạ mới có được địa vị này, song suy cho cùng, tại hạ chân ướt chân ráo mới tới, chưa lập được chút công lao. Tại hạ và Bàng huynh hợp sức phạt Triệu, vốn là vì đại nghiệp nước Ngụy, nào ngờ người Tề lại nhúng tay vào, khiến chúng ta sắp thành lại bại. Nay phạt Triệu bất lợi, bá quan nghi ngờ, lại thêm Chu Uy, Bạch Hổ ở Ngụy vốn cội gốc sâu dày, uy tín lớn lao, còn được thái tử Thân che chở, hai người chúng ta có nóng vội cũng vô ích.”

“Phải!” Bàng Quyên hùa theo một câu, vỗ đùi đánh đét. “Phải rồi, bọn họ dựa vào thái tử, chúng ta cũng sẵn có người trợ giúp, cớ sao lại không tìm tới?”

“Ý Bàng huynh là… là công tử Tự?”

“Đúng vậy!” Bàng Quyên hấp tấp đáp lời. “Phạt Triệu lần này, công tử Tự thân là phó tướng, chiến đấu dũng cảm, tiến thoái hợp lý, hành động thoả đáng, theo tại hạ thấy, công tử tiền đồ xán lạn vô cùng. Nghe Liên Nhi nói, từ sau khi công tử Ngang tuẫn quốc, trong số các công tử, đại vương ưng ý nhất chỉ có công tử Tự.”

“Công tử Tự dâm đãng vô độ, gàn bướng thiếu quyết đoán, không đủ tư cách để mưu sự!” Trương Nghi một lời phủ nhận.

“Ồ…” Bàng Quyên thoáng sửng sốt. “Trương huynh dựa vào đâu mà nói vậy?”

“Phạt Triệu lần này, Tử Tự được làm phó tướng, là nhờ vào xuất thân, chứ không phải nhờ vào chiến công. Trước sau khi phạt Triệu, Tử Tự chưa từng nghĩ ra một mưu, chưa từng bày được một kế. Người Triệu rút khỏi Hàm Đan, Bàng huynh xuất chinh chiến Tôn Tẫn, để Tử Tự ở Triệu, mọi việc lớn nhỏ, Tử Tự đều không có chủ trương, nhất nhất nghe theo tại hạ sắp xếp. Ở Hàm Đan vài tháng, Tử Tự chỉ quyết đoán duy nhất một việc, đó là ở lì trong cung Triệu, mặc sức trêu ghẹo đám tần phi trong cung thất, tai tiếng dâm đãng truyền khắp Hàm Đan, gái Triệu tránh hắn như tránh tà.”

“Than ôi…” Bàng Quyên cười gượng một tiếng. “Tại hạ nhìn lầm người mất rồi. Tại hạ cứ ngỡ Tử Tự vũ dũng, là một tướng tài.” Rồi nhìn sang Trương Nghi. “Tử Tự không thể trông cậy, vậy làm thế nào?”

“Nghe nói đại vương mắc chứng phong thấp, chúng ta nên vào cung thỉnh an mới phải!”

“Đúng đấy!” Bàng Quyên bừng tỉnh, cười nói. “Quân quốc đại sự, nên bẩm báo lên đại vương định đoạt, tại hạ đi nhầm đường vòng mất rồi!”

“Hiền đệ hãy cầm theo cái này!” Trương Nghi lấy ra một túi gấm, đưa cho Bàng Quyên. “Trong túi này có vài tễ thuốc cao, là phương thuốc bí truyền của người Sở, chuyên trị phong thấp, hiệu nghiệm vô cùng!”

“Trương huynh thực chu đáo, đến cả thứ này cũng chuẩn bị sẵn sàng!” Bàng Quyên thán phục.

“Không phải là chuẩn bị cho đại vương đâu,” Trương Nghi thực thà đáp lời, “Hương Nữ sau khi đỡ cho tại hạ một đòn đâm của gái Ba, bị thương ở bả vai, hễ trời ẩm lạnh là lại đau nhức thấu xương, tại hạ thương xót trong lòng, đi khắp nơi tìm thuốc, cách đây không lâu mới có được phương thuốc bí mật này, chế thành thuốc cao, tìm người thử nghiệm, thấy rất hiệu quả. Vừa hay đại vương cũng mắc bệnh này, Bàng huynh dâng lên, chẳng phải là tuyệt diệu?”

Bàng Quyên cảm tạ, cất thuốc vào trong ống tay áo, cùng Trương Nghi vào cung yết kiến.

Trong ngự thư phòng, Huệ Vương nằm nghiêng trên giường, hai mắt khép hờ, mặc cho đám cung nhân xoa bóp chân đùi. Tỳ nhân đứng ở bên cạnh, cất giọng lên bổng xuống trầm ngâm nga từng bản tấu sớ.

Có tiếng bước chân tới gần, rồi nội tể túc trực bước vào, bẩm báo: “Vũ An Quân, Trương tướng quốc vào cung thỉnh an, đang đợi yết kiến bên ngoài!”

Huệ Vương ngồi thẳng dậy, phẩy tay xua đám cung nhân ra, hất hàm với tỳ nhân.

Tỳ nhân đặt tấu sớ xuống, hô lớn: “Đại vương có chỉ, mời Vũ An Quân, Trương tướng quốc yết kiến!”

Trương Nghi, Bàng Quyên bước vào, khấu đầu yết kiến. Bàng Quyên dập đầu nói: “Nhi thần nghe nói phụ vương long thể bất an, vô cùng lo lắng, nên đặc biệt tới thỉnh an!”

“Ha ha ha, chỉ là bệnh cũ mà thôi!” Huệ Vương chỉ vào chân trái. “Là cái chân này, năm xưa giao chiến với Hàn, Triệu ở Trọc Trạch, quả nhân bị trúng tên của người Triệu, xuyên tới tận xương, mỗi khi thấp khí xông lên, bệnh tình lại tái phát, mấy hôm trước đau ghê gớm, nay đỡ nhiều rồi!”

“Phụ vương!” Bàng Quyên hai tay dâng lên tễ thuốc cao. “Thuốc này là phương thuốc bí truyền của người Sở, chuyên trị phong thấp, nhi thần thỉnh cầu phụ vương dùng thử!”

“Được được được!” Huệ Vương đáp liền mấy câu, nhìn sang tỳ nhân.

Tỳ nhân nhận lấy thuốc cao, cất đi.

“Hai khanh tới thật đúng lúc!” Huệ Vương ban chỗ, thấy hai người đã ngồi xuống, bèn chỉ vào chồng tấu chương bên cạnh. “Những tấu chương này, quả nhân nghe mà phiền lòng, đang định cho gọi hai khanh tới.”

“Hẳn là về chuyện thiên tai?” Trương Nghi nhìn sang chồng tấu chương.

“Than ôi!” Huệ Vương thở dài một tiếng. “Nơi nơi mất mùa, nạn đói hoành hành, các quận các ấp đều ngửa tay xin quả nhân cứu tế, quả nhân…”

“Đại vương chớ nên lo lắng!” Trương Nghi tấu. “Tình hình đói kém các nơi, thần đã hiểu rõ, cũng đã tấu báo với người Tần. Tần Vương hay tin ta gặp nạn đói, đã hạ chỉ cho đất Thục vận chuyển tới ba vạn thạch lương, lúc này hẳn đang trên đường, không lâu nữa sẽ tới Hà Đông, hoặc giả có thể giải quyết cơn nguy cấp.”

“Cha chả!” Huệ Vương hai mắt sáng rực, cười không khép nổi miệng. “Ái khanh ơi, tin tức tốt lành nhường này, đáng lẽ khanh nên bẩm báo sớm hơn mới phải!”

“Thần cũng chỉ mới vừa hay tin, không dám chậm trễ một khắc!”

“Than ôi!” Huệ Vương thở dài một tiếng, nói với Bàng Quyên. “Gặp chuyện thình lình, thực sự giúp ta, vẫn là người Tần. Tuy nhiên, Tần Vương khảng khái đến vậy, quả thực nằm ngoài dự đoán của quả nhân!”

“Không phải Tần Vương khảng khái,” Trương Nghi tấu bày, “mà là Tần Vương niệm tới sách lược láng giềng hoà mục giữa Tần, Ngụy, nên không so đo chuyện khác. Không giấu đại vương, theo thần được biết, năm ngoái Hà Đông đại hạn, Hà Tây cách Hà Đông một con sông, cho đến tận Quan Trung, cũng cạn khô không còn một giọt nước. Quan Trung cũng đang thiếu lương!”

“A!” Ngụy Huệ Vương sửng sốt. “Người Tần cũng đang thiếu lương, lại trợ giúp ta ba vạn thạch, bảo quả nhân… nên làm thế nào đây?”

“Đại vương bất tất phải lo cho người Tần.” Trương Nghi dõng dạc nói. “Người Tần đã có kho lương là đất Thục, sợ gì thiếu đói? Không giấu đại vương, đất Thục do thần một tay khai phá, dõi mắt mà trông, đúng là ngàn dặm đất đai màu mỡ! Hơn thế nữa, người Thục giỏi trị thuỷ, không sợ hạn lụt, nên lương thực làm ra ăn không hết, toàn đem nuôi lợn nuôi gà.”

“Cha chả!” Huệ Vương tấm tắc khen ngợi. “Tần Vương được Thục, khác nào được đại bảo bối!”

“Không giấu đại vương,” Trương Nghi đáp lời, “Tần Vương năm xưa lại không nghĩ như vậy. Lúc đó, Tần Vương vì tức giận đại vương hợp tung sáu nước tấn công Tần, mới lập ra quốc sách, thề phải đánh Ngụy. Thần cho rằng không sáng suốt, mới ra sức khuyên can Tần Vương tránh mạnh tìm yếu, kết tình láng giềng hoà mục với Ngụy, chiếm Thục phía tây. Tần Vương thoạt đầu không nghe, sau mới làm theo lời can gián của thần, dùng kế của thần mà bình Ba chiếm Thục, nên mới có được ngày hôm nay.”

“Than ôi!” Ngụy Vương lại thở dài một tiếng. “Là Tần Vương mệnh tốt vận may, được làm láng giềng với Ba, Thục, còn quả nhân thì…”

“Trong mắt thần, mệnh của đại vương còn tốt hơn cả Tần Vương, vận của đại vương cũng không hề thua kém Tần Vương.”

“Ồ?”

“Đại vương hãy xem,” Trương Nghi chỉ về phía đông, “phía đông Đại Lương, hạ lưu sông Tứ đất đai màu mỡ ngàn dặm, đều là nước yếu. Phía bắc Đại Lương, từ phía đông Thái Hàng cho tới Kế Thành nước Yên, đồng rộng mênh mông, vượt xa hạ lưu sông Tứ. Còn như về sự giàu có của năm đô nước Tề, thần…”

“Chuyện này thì…” Huệ Vương cười gượng một tiếng, nét mặt lộ vẻ bất lực.

“Đại vương!” Trương Nghi cất giọng sang sảng. “Tần Vương có được Ba, Thục, không phải do Tần Vương mệnh tốt vận may, mà là Tần Vương coi trọng võ bị, coi võ bị là nhiệm vụ hàng đầu. Từ khi Thương Quân biến pháp tới nay, Tần cả nước trọng binh, tất cả nam giới từ nhỏ đã tôi rèn võ nghệ, ai ai cũng coi chuyện xả thân sa trường là vinh dự. Nhìn vào ba quân của Tần, thế trận chỉnh tề, kỷ luật nghiêm khắc, vũ khí tinh xảo, lương thực dồi dào, thiên hạ không ai sánh kịp. Có thể địch nổi quân Tần, duy có võ binh Đại Ngụy dưới cờ Bàng tướng quân. Hai hổ đấu nhau, ắt đều bị thương, đây cũng là nguyên nhân khiến thần cực lực can gián Tần Vương bỏ Ngụy tranh Thục. Tần được Ba, Thục, có thể mưu Sở. Đất Sở vốn là đất Nam Man, người Tần giành lấy, không động chạm tới một cọng tóc Trung Nguyên. Trung Nguyên ruộng đồng màu mỡ, không dưới nghìn dặm, thần khuyên Tần Vương nên để lại cho võ binh Đại Ngụy, để lại cho Bàng huynh, để lại cho đại vương. Thần một mực khổ tâm, dám mong đại vương thương xót.”

Huệ Vương hít sâu vào một hơi, từ từ khép mắt lại.

“Phụ vương?” Mãi không thấy Huệ Vương mở mắt ra, Bàng Quyên khẽ gọi.

“Than ôi!” Cuối cùng, Huệ Vương thở dài một tiếng, nặng nề lắc đầu. “Già rồi, già rồi, quả nhân già thật rồi!”

“Đại vương sai rồi!” Trương Nghi đáp lời. “Từ cổ chí kim, chẳng ai sống tới vạn tuổi, ai rồi cùng già, ai rồi cũng chết. Thế nhưng, có ai vì mình mà sống, lại vì mình mà chết hay chăng? Ngụy thất to lớn nhường này, lập quốc thực sự mới chưa quá bốn đời, lẽ nào đại vương đành lòng giương mắt nhìn xã tắc Đại Ngụy sau khi đại vương trăm năm lại sụp đổ trong một sớm?”

Trương Nghi lời lời tựa mũi dùi, xuyên thấu tâm can.

Huệ Vương rùng mình ớn lạnh, ngẩng đầu nhìn Bàng Quyên: “Hiền tế, nghe nói con muốn tái lập võ binh, có chuyện này chăng?”

“Nhi thần đang có ý này!” Bàng Quyên dõng dạc đáp lời. “Nhi thần đã tuyển dụng được hai vạn võ sĩ, mọi việc đều đã xong xuôi, chỉ thiếu giáp trụ mà thôi.”

“Chỉ thiếu giáp trụ, cũng là chuyện nhỏ!” Huệ Vương quay sang tỳ nhân. “Truyền chỉ Bạch Hổ, nhanh chóng chế tạo hai vạn bộ giáp trụ.”

“Đại vương!” Tỳ nhân khẽ giọng bẩm báo. “Tư đồ đại nhân có tấu sớ ở đây, lão thần mới vừa đọc xong!”

Huệ Vương lúc này mới sực nhớ tới tấu chương mà tỳ nhân vừa đọc, liền bừng tỉnh, đôi mày từ từ chau tít, quay sang Trương Nghi: “Theo tấu báo của tư đồ, áo giáp đa phần được chế tạo từ sắt ròng, chỉ riêng một bộ giáp trụ đã tiêu tốn hơn hai mươi dật sắt, hai vạn bộ cần tới năm mươi vạn dật. Gần đây giá sắt tăng vọt, gần bằng giá đồng thau, năm mươi vạn dật sắt cần đến hơn một vạn dật vàng, mà trong quốc khố chỉ còn không đầy ba nghìn dật. Riêng tiền phủ tuất cho tướng sĩ thương vong cũng cần tới tám nghìn dật, còn thiếu năm nghìn dật nữa.”

“Những điều này, nhi thần đều biết.” Bàng Quyên đáp lời. “Sắt đa phần có nguồn gốc từ nước Hàn, ta có thể tạm thời khất nợ một thời gian, đợi quốc khố dồi dào, tính lãi mà trả cũng được!”

“Phải, cũng hay!” Huệ Vương khẽ gật đầu, nói với tỳ nhân. “Triệu tư đồ!”

Bạch Hổ tới, Huệ Vương đưa tấu chương của Bạch Hổ ra, nói: “Bạch ái khanh, theo lời khanh tấu, hai vạn bộ giáp trụ khó ở sắt, sắt khó ở tiền vàng. Vừa rồi Vũ An Quân đưa ra một ý, chính là khất nợ người Hàn, đợi khi quốc khố dồi dào, ta có thể tính lãi mà trả họ. Quả nhân thấy ý này rất hay, nên triệu khanh tới, xem nên bàn bạc chuyện này với người Hàn thế nào.”

“Hồi bẩm đại vương!” Bạch Hổ cười gượng một tiếng. “Thần sớm đã bàn chuyện này với người Hàn, song người Hàn không chịu cho nợ!”

Bàng Quyên liền lớn tiếng hỏi: “Vay rồi sẽ trả, chuyện buôn bán xưa nay vẫn thế, người Hàn nếu đã làm ăn với ta, cớ sao không chịu cho nợ?”

“Hồi bẩm Vũ An Quân!” Bạch Hổ vẫn thong thả đáp. “Mấy năm trước, chúng ta chế tạo giáp trụ, cung nỏ, áo da, xe ngựa, vẫn còn nhiều nợ cũ, ước tính không dưới ba nghìn dật, tới nay vẫn chưa trả, người Hàn không chịu cho vay nữa.”

“Làm gì có cái lý ấy!” Bàng Quyên nổi trận lôi đình. “Nợ cũ là nợ cũ, nợ mới là nợ mới, đường đường là Đại Ngụy, lẽ nào lại quỵt nợ của họ ư?”

“Vũ An Quân đại nhân!” Bạch Hổ cũng đã bực mình. “Đạo làm ăn buôn bán, coi trọng công bằng, nợ tiền phải trả, mua bán tự do, là phép tắc hiển nhiên. Nay ta thiếu nợ không trả, người Hàn không chịu, cũng là lẽ thường tình.”

“Đủ rồi!” Bàng Quyên gần như gầm lên.

“Đại nhân…” Bạch Hổ cũng giận, mặt đỏ phừng phừng, hừ mũi một tiếng, quên bẵng là mình đang ở trong cung, đứng phắt dậy, quay người, sải bước đi luôn.

“Than ôi!” Nhìn theo bóng dáng giận dữ của Bạch Hổ xa dần, Trương Nghi cố tình thở dài một tiếng. “Tư đồ đại nhân dựa vào thế lực nào mà dám coi ngự thư phòng của đại vương như hậu hoa viện nhà mình thế kia!”

“Soạn chỉ!” Huệ Vương nghe Trương Nghi nói vậy thì giận run người, quay sang tỳ nhân. “Tạm bãi chức tư đồ của Bạch Hổ, để hắn đóng cửa sám hối một tháng.”

Đêm đã về khuya, trong từ đường Bạch gia, một ngọn đèn leo lét, vài nén hương cháy dở.

Bạch Hổ quỳ trước linh vị Bạch Khuê, không khóc lóc, không kể lể, chỉ quỳ lặng phắc như một pho tượng.

Lão quản gia đã đứng phía sau Bạch Hổ rất lâu, khẽ gọi: “Chúa công?”

Bạch Hổ vẫn im lìm bất động, như thể không nghe thấy.

“Chúa công!” Lão quản gia đưa tay lau nước mắt, càng hạ thấp giọng hơn nữa. “Giờ đã qua canh ba, phòng phu nhân… vẫn sáng đèn, hẳn là đang chờ chúa công.”

Bạch Hổ đứng dậy, rồi lại quỳ xuống, cứ thế vài lần, hành đại lễ ba lạy chín dập đầu, lễ xong, bèn lấy bài vị của Bạch Khuê xuống, cẩn thận để vào trong một chiếc rương đã chuẩn bị từ trước.

“Chúa công định… định làm gì vậy?” Lão quản gia ngỡ ngàng.

“Gia lão!” Bạch Hổ mắt ngấn lệ nhìn sang. “‘Thi’ có câu, ‘chẳng đoái đến ta, ta tìm cõi tốt’.(2) Nơi này chúng ta ở quá lâu rồi, đã đến lúc phải chuyển đi nơi khác. Sáng sớm mai, gia lão hãy sắp xếp nhân lực, thu dọn hành trang, chuẩn bị xe ngựa. Ngày kia, vào lúc gà gáy, chúng ta sẽ rời thành.” Rồi lấy ra một bọc vải đỏ, đưa lại. “Còn ấn tỷ này, hãy sai người mang tới phủ thượng khanh, nhờ thượng khanh chuyển lên đại vương giúp.”

Lão quản gia hai tay đỡ lấy ấn thụ, nước mắt tuôn rơi. Bạch Hổ lê bước nặng nề, chậm chạp tiến về phía cửa phòng.

Phu nhân Khởi Y đang đứng trước cửa.

“Phu quân!” Khởi Y hỏi. “Chúng ta sẽ đi đâu?”

“Dương Địch nước Hàn.”

“Chúa công!” Lão quản gia sửng sốt, vội vã bước lại gần. “Dương Địch không thể đến, nhất thiết không thể đến được đâu! Nếu chúa công muốn đi, hãy tới Định Đào nước Tống!”

“Tại sao?” Bạch Hổ hỏi.

“Chúa công!” Lão quản gia sắc mặt lo âu. “Sở dĩ thương nhân lớn nhỏ ở Dương Địch cho Ngụy mua chịu, chỉ có thể vì hai nguyên nhân, thứ nhất là nể mặt nhà họ Bạch, thứ hai là nhờ thân phận tư đồ của chúa công. Nay chúa công không làm tư đồ nữa, nhà họ Bạch cũng từ lâu không còn buôn bán kinh thương, thì khoản nợ vài nghìn dật của nước Ngụy, chúa công tới đó, chẳng phải là…”

“Lời gia lão rất phải!” Bạch Hổ khẽ cười, đáp lời. “Sở dĩ thương khách lớn nhỏ ở Dương Địch chịu bán nợ cho ta, là nhìn vào thân phận tư đồ của Bạch Hổ. Bạch Hổ giờ đây không làm tư đồ nữa, về tình về lý, cũng nên tìm các thương khách kia nói cho rõ ràng, còn muốn đánh muốn phạt thế nào, cứ để họ quyết định.” Rồi nhìn sang Khởi Y. “Phu nhân, có phải không?”

“Phu quân!” Khởi Y gật đầu, nắm chặt tay Bạch Hổ. “Khởi Y nghe theo phu quân. Bất luận phu quân tới đâu, dù có lên rừng đao hay xuống biển lửa, Khởi Y cũng nguyện đi theo.”

Buổi sáng hôm sau, Chu Uy hay tin Bạch Hổ bỏ đi, vội vã chạy tới, khuyên can năm lần bảy lượt, Bạch Hổ vẫn khăng khăng không nghe. Chu Uy đành gạt nước mắt từ biệt, quay trở về phủ, càng nghĩ càng buồn bã, cộng thêm lao lực tích tụ trước đây, sức khoẻ lại càng suy sụp, bèn quyết định cáo bệnh không lên triều.

“Con sẽ theo phụ thân tới Dương Địch?” Bàng Quyên ngỡ ngàng nhìn Bạch Khởi, giờ đã cao ngang mắt mình.

“Vâng!” Bạch Khởi trịnh trọng gật đầu.

“Lúc nào lên đường?”

“Gà gáy sáng mai, khi cổng thành mở.”

Bàng Quyên đi tới đi lui trong phòng, rồi đột nhiên dừng lại, đặt tay lên vai Bạch Khởi: “Khởi Nhi, con đừng đi Dương Địch, được không?”

“Tại sao?”

“Nghĩa phụ không muốn để con đi!”

“Vì sao nghĩa phụ lại không muốn Khởi Nhi đi?” Bạch Khởi nghiêng đầu nhìn hắn.

“Bởi vì… bởi vì…” Bàng Quyên ngắc ngứ một hồi, mới tiếp. “Nghĩa phụ không nỡ xa con! Nghĩa phụ muốn giữ con lại bên mình, muốn con trở thành một tướng quân thực thụ, bách chiến bách thắng.”

“Giống như nghĩa phụ ư?” Bạch Khởi mở to mắt hỏi. “Không giống!” Bàn tay Bàng Quyên càng ấn mạnh hơn xuống vai Bạch Khởi. “Nghĩa phụ tin chắc con dứt khoát sẽ hơn cả nghĩa phụ!”

“Nghĩa phụ dựa vào đâu mà tin chắc như vậy?”

“Vì khởi điểm của con là ở trên vai nghĩa phụ!”

“Nghĩa phụ, cho phép Khởi Nhi suy nghĩ, được chăng?” Bạch Khởi ngẩng đầu khẩn cầu.

“Không được, con phải lập tức trả lời nghĩa phụ, con có muốn trở thành một vị tướng quân vô địch vượt qua cả nghĩa phụ, tung hoành liệt quốc hay không?”

“Khởi Nhi muốn, trong mơ Khởi Nhi cũng muốn!” Bạch Khởi dừng lại một lát, rồi lại đổi giọng. “Nhưng… Khởi Nhi không thể nhận lời nghĩa phụ!”

“Ồ?” Bàng Quyên ngồi thụp xuống, hai mắt nhìn chăm chăm vào Bạch Khởi. “Nói cho nghĩa phụ biết, tại sao?”

“Vì nếu con ở lại, sẽ không thể tận hiếu với cha con!”

“Vậy… con không muốn tận hiếu với nghĩa phụ ư?”

“Nghĩa phụ chỉ là nghĩa phụ, cha con mới là phụ thân. Thân là nhân, nhân lớn hơn nghĩa, phải không?”

Bàng Quyên vốn không có con cái, nghe vậy khác nào bị ai bóp nghẹt lấy tim, hồi lâu sau mới cười gượng một tiếng: “Được, nhân lớn hơn nghĩa. Nghĩa phụ không nói chuyện này nữa. Nghĩa phụ không muốn con đi, còn vì một nguyên nhân khác, con có muốn nghe không?”

“Nghĩa phụ cứ nói!”

“Cha con tới Dương Địch, là tự tìm đường chết, hẳn con đã biết? Nghĩa phụ không cho con đi, là không muốn con đi vào chỗ chết!”

“Tại sao?”

“Là vì cha con nợ thương nhân Dương Địch rất nhiều vàng, giờ tới Dương Địch lại không một xu dính túi, chắc chắn sẽ rất nguy hiểm!”

“A?” Bạch Khởi kinh hãi, hồi lâu sau mới thốt nổi nên lời. “Cha con vì sao lại nợ người ta nhiều vàng đến vậy?”

“Vì đất nước. Võ binh cần có giáp trụ, cung nỏ, sắt, những thứ này phần lớn đều mua của thương nhân Dương Địch. Nhưng chúng ta không có nhiều tiền đến thế, cha con bèn lấy thân phận tư đồ ra bảo đảm!”

Bạch Khởi trầm ngâm suy nghĩ.

Hồi lâu, Bạch Khởi ngẩng đầu, trịnh trọng nhìn Bàng Quyên: “Hồi bẩm nghĩa phụ, nếu như vậy, Khởi Nhi càng phải đi!”

“Ồ?”

“Cha nợ con trả, là thiên kinh địa nghĩa. Cha con thiếu nợ, bỏ mình trả nợ, là nghĩa. Thân là trưởng nam, thân là thần dân nước Ngụy, nếu Khởi Nhi trốn tránh, với cha mẹ là bất hiếu, với đất nước là bất trung, với chủ nợ là bất nghĩa. Nghĩa phụ lẽ nào muốn Khởi Nhi trở thành một kẻ bất hiếu, bất trung, bất nghĩa?”

Thấy Bạch Khởi tuổi còn nhỏ mà đã nói ra được những lời như vậy, Bàng Quyên vô cùng chấn động, khẽ xoa đầu Bạch Khởi, nói: “Bạch Khởi giỏi lắm!” Rồi quay người vào trong phòng, lấy ra sáu chương “Binh pháp Ngô Khởi” mà năm xưa mình đã lén lút chép trộm từng chữ một, đưa cho Bạch Khởi. “Bộ ‘Binh pháp Ngô Khởi’ này là do Quỷ Cốc tiên sinh truyền thụ cho nghĩa phụ khi còn ở trong Quỷ Cốc, nay nghĩa phụ tặng lại cho con! Đợi tám năm nữa, khi con trưởng thành khôn lớn, hãy quay lại tìm nghĩa phụ bất cứ lúc nào, nghĩa phụ sẽ đem toàn bộ học vấn bình sinh truyền thụ cho con!”

“Tạ ơn nghĩa phụ ban sách!” Bạch Khởi hai tay nhận lấy, quỳ xuống dập đầu cảm tạ, sau đó lấy từ trong ngực áo ra một bông hoa sen bằng ngọc, hai tay dâng lên, nói. “Mồng ba tháng sau là sinh nhật của nghĩa mẫu, bông hoa này Khởi Nhi đặt người làm cho nghĩa mẫu từ ba tháng trước, nay sự việc cấp bách, đành kính tặng lên trước, nhờ nghĩa phụ thay con dâng tặng nghĩa mẫu!”

“Vật quý trọng thế này, hẳn tiêu tốn không ít tiền vàng, con… lấy đâu ra tiền?”

“Là tiền mừng tuổi của Khởi Nhi. Mỗi khi Tết đến, nghĩa phụ, nghĩa mẫu, phụ thân, mẫu thân, còn có lão quản gia, Chu đại nhân, đều mừng tuổi Khởi Nhi kha khá, Khởi Nhi tích cóp lại, dùng toàn bộ để đặt làm bông hoa sen này.”

“Khởi Nhi!” Bàng Quyên mắt nhoè lệ, hít sâu một hơi, khẽ ôm Bạch Khởi vào lòng, nói. “Con đã có lòng như vậy, vì sao không vào trong phòng, tận tay tặng cho nghĩa mẫu?”

“Khởi Nhi không dám gặp người!”

“Vì sao?”

“Sợ nghĩa mẫu đau lòng!”

Bạch Khởi tuột ra khỏi vòng tay Bàng Quyên, phủ phục xuống đất, lại lạy vài cái nữa, sau đó quay bước rời đi, không ngoảnh đầu lại.

***

Từ sau khi Bạch Hổ bỏ đi, Bàng Quyên không còn kiêng dè gì nữa, lấy danh nghĩa Huệ Vương soạn ra một bức quốc thư, gửi tới Hàn Vương, lời lẽ cũng coi là thành khẩn, trước hết thuật lại tình hữu hảo lâu đời giữa hai nước Ngụy, Hàn, cảm tạ Hàn Vương đã trợ giúp Ngụy thất, tiếp đến thỉnh cầu Hàn Vương tiếp tục hợp tác như xưa, rồi gửi kèm theo một bản danh sách liệt kê những thứ cần Hàn thất cung ứng, đều là vật tư cần thiết cho quân đội, bên trên áp ngọc tỷ của Ngụy Vương, lại thêm tỷ ấn của Vũ An Quân.

Vào năm Trương Nghi chinh phục Ba, Thục, nước Hàn gặp đại hạn, dân chúng khốn quẫn, Chiêu Vương Hàn Vũ cả đời tằn tiện, lúc này lại không thương xót dân đói khổ, điên rồ hạ chỉ cho bề tôi tiêu tốn vô khối tiền bạc, hưng công rầm rộ, xây dựng một toà lầu xa hoa ở cổng tây cung thành, sử gọi là Cao Môn. Động thổ không hợp thời, trời ắt gieo quả báo. Nước Sở có cao nhân dự đoán Chiêu Vương không thể qua được Cao Môn, quả đúng như vậy, Chiêu Vương đã băng hà đúng vào ngày Cao Môn khánh thành.

Kế tục ngôi vị là trưởng nam của Chiêu Vương, Tuyên Huệ Vương, bái Công Trọng Xỉ làm tướng quốc, Hàn Cử làm tả tư mã, cai quản tam quân, bổ nhiệm hậu duệ của Thân Bất Hại là Thân Sai làm tư đồ, kiêm cai quản công xưởng các nơi.

Nhận được quốc thư của Đại Ngụy, Tuyên Vương đọc đi đọc lại, do dự khó quyết, nhìn vào tỷ ấn của Vũ An Quân Bàng Quyên đóng trên quốc thư, càng khiến Tuyên Vương cảm thấy như có luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Suy ngẫm hồi lâu, Tuyên Vương cho gọi ba triều thần Công Trọng Xỉ, Hàn Cử và Thân Sai lại bàn kế ứng phó.

Ba vị trọng thần đọc xong thư, đều lấy làm tức giận, đặc biệt là Thân Sai phụ trách công xưởng.

“Bàng Quyên ức hiếp ta quá đáng!” Thân Sai phẫn nộ khó kham, giận dữ nói. “Người Ngụy còn nợ ta vài nghìn dật, nhiều nhà xưởng ở Dương Địch do không còn tiền mua vật liệu, hoặc là sắp lụn bại, hoặc là đã đóng cửa, thương nhân lớn nhỏ hễ nghe nhắc đến Ngụy là mặt mày biến sắc, chẳng ai còn muốn kinh doanh với người Ngụy nữa! Các chủ mỏ sắt ở Nghi Dương do thương nhân Dương Địch khất nợ mà đã ngừng cung cấp hàng, có kẻ còn đóng cả mỏ khoáng.”

“Tư đồ nói rất phải!” Công Trọng Xỉ hùa theo. “Tiền bạc của thần dân, vương thất tiêu tốn gần nửa, đa phần dựa vào tiền thuế của thương nhân Dương Địch. Nay người Ngụy nợ tiền không trả, thương nhân Dương Địch oán thán khắp nơi, người Ngụy không thấu hiểu nỗi khổ của ta, đã lần lữa thì chớ, giờ lại đòi hỏi ngang ngược, chuyện này mà nhịn được thì còn chuyện gì không nhịn được đây!”

“Tạm gác chuyện nợ nần sang một bên,” Hàn Cử hai mắt dừng lại trên quốc thư, “thần cho rằng, bán binh khí cho người Ngụy rất không thoả đáng. Ngụy, Hàn tuy như môi với răng, song Ngụy cậy mình thế mạnh, chưa từng xem ta là đồng minh. Thứ Ngụy dựa vào, chính là võ binh và hổ bôn. Thứ ta sợ hãi, cũng chính là võ binh và hổ bôn. Trải qua hai trận Hàm Đan, Quế Lăng, võ binh và hổ bôn tổn thất nặng nề, sở dĩ Bàng Quyên muốn ta gấp rút cung ứng vật tư, là vì muốn chấn hưng võ binh và hổ bôn. Nếu ta cung cấp, chính là lắp cánh cho hổ, càng khiến thế Ngụy mạnh thêm.”

“Than ôi, những điều này làm sao quả nhân lại không biết?” Tuyên Vương thở dài một tiếng, chỉ vào quốc thư nói. “Hiện tại ta yếu Ngụy mạnh, giả sử không đồng ý với Ngụy, lỡ Bàng Quyên khởi binh đánh ta, biết làm thế nào đây?”

“Ta sợ gì kia!” Hàn Cử đấm thẳng xuống mặt bàn. “Trận Quế Lăng, võ binh mười phần chết sáu, hổ bôn mười phần chết tám, Bàng Quyên đã không còn gì để cậy vào nữa, ta đường đường là Đại Hàn, việc gì phải sợ?”

Tuyên Vương ngoảnh đầu nhìn sang Công Trọng Xỉ.

“Đúng như Hàn tướng quân nói,” Công Trọng Xỉ gật đầu đáp, “thế Ngụy đã suy, Bàng Quyên không còn phong quang nữa, đại vương chớ nên lo lắng.”

“Vậy cứ theo ý các khanh!” Tuyên Vương vốn sẵn bực bội trong lòng, nghiến răng mà nói. “Thỉnh cầu chư vị hãy chiêu binh mãi mã, tích thảo đồn lương, đào hào dựng luỹ, quả nhân sẽ cự tuyệt Ngụy Anh, cùng lắm là đánh một trận mà thôi!”

Hay tin Bạch Hổ tới Dương Địch, thương nhân lớn nhỏ lũ lượt kéo đến, vòng trong vòng ngoài bao vây kín mít quán trọ nơi Bạch gia đang ở.

“Chư vị phụ lão, chư vị huynh đệ, chư vị đại nhân!” Bạch Hổ nhảy lên trên một chiếc bàn đá trong sân, ôm quyền chào hết một vòng, nói. “Tại hạ Bạch Hổ, con trai của Bạch Khuê người Ngụy, tư đồ nước Ngụy, cách đây chục ngày, do nhiều nguyên do, đã treo ấn tư đồ, dắt díu gia quyến từ Đại Lương tới đây…”

Lời còn chưa dứt, đã bị đám đông ầm ĩ chặn ngang: “Bạch Hổ, đừng phí lời nữa, mau trả tiền cho ta!”

“Tư đồ hay không thì có liên quan gì đến ta? Đã tới đây rồi, mau mang tiền ra trả!”

“Bạch tư đồ, cả nhà ta từ lớn đến bé chỉ trông chờ vào chút nghề buôn bán này, giờ nợ nần chồng chất, làm sao mà sống nổi đây?”

“Chúng ta đều vì nể mặt nhà họ Bạch nên mới chịu làm ăn, đây là phép tắc kinh doanh của nhà họ Bạch các người ư?”

“Bạch tư đồ, cầu xin tư đồ, hãy cứu lấy cả nhà tôi…”

Không biết ai là người quỳ xuống đầu tiên, đám người cứ thế lũ lượt quỳ theo, chốc lát, trong sân ngoài cổng, người tới đòi nợ đã quỳ chật kín.

Bạch Hổ cũng “phịch” một tiếng quỳ xuống theo, nước mắt giàn giụa.

Một đám thanh niên xông thẳng vào sân, cầm theo gậy gộc đao kiếm, rẽ đám người ra, lao tới phía trước bàn đá, tên cầm đầu chụp lấy Bạch Hổ, dí kiếm vào cổ, lớn tiếng gầm lên: “Họ Bạch kia, nói mau, ngươi nợ tiền mồ hôi nước mắt của chúng ta, có chịu trả hay không?”

Người cầm đầu không phải ai khác, chính là Sái Vi, con trai của Sái Đà, người giàu có nhất Dương Địch. Trong khoản tiền khổng lồ mà nước Ngụy đang nợ, phần lớn là của họ Sái, được coi là chủ nợ lớn nhất của Bạch Hổ ở Dương Địch.

“Trả!” Bạch Hổ đã nhận ra hắn, nói khẽ. “Tại hạ nhất định sẽ trả!”

“Trả thì tốt rồi, Bạch đại tư đồ, tiền đâu?”

“Tại hạ… không có tiền.”

“A? Không có tiền, ngươi lấy gì để trả? Định tới giễu cợt người Dương Địch bọn ta hẳn?” Sái Vi ghì đầu Bạch Hổ xuống.

“Không phải thế!” Bạch Hổ gắng sức rướn thẳng cần cổ lên, ngẩng cao đầu. “Tại hạ muốn dùng cái mạng này để gán nợ, được chăng?”

“Ha ha ha!” Sái Vi bật cười vài tiếng, nhìn về phía đám đông, nói. “Phụ lão hương thân, các vị đều nghe rõ cả chứ, đại tư đồ nước Ngụy Bạch Hổ, con trai thiên hạ đệ nhất thương gia Bạch Khuê, nợ tiền quỵt không trả thì chớ, lại còn dám vác mặt tới Dương Địch, nói là lấy mạng để gán nợ, còn hỏi chúng ta có được không? Phụ lão hương thân, các vị nói xem, có được không?”

“Không được!” Đám người đồng thanh trả lời.

“Nghe rõ chưa?” Sái Vi thẳng tay giật ngược tóc Bạch Hổ lên, khiến Bạch Hổ đau đến nghiến răng nghiến lợi. “Họ Bạch kia, ta vào nam ra bắc, cũng đã gặp không ít kẻ quỵt nợ, song chưa từng gặp ai lấy mạng ra gán nợ như ngươi! Ta hỏi ngươi, ngươi không quan không chức, trong người không có lấy một đồng, cái mạng đã bèo bọt đến vậy, thì đáng bao nhiêu vàng đây? Một trăm dật? Một nghìn dật? Họ Bạch kia, ngươi nợ Dương Địch tổng cộng ba nghìn dật đấy!”

Ba nghìn dật vàng chẳng khác nào một lời nguyền khủng khiếp, úp chụp xuống đầu mỗi chủ nợ.

Khắp sân lặng phắc.

Không biết do quá kích động, hay do quá đau đớn, Sái Vi thả lỏng bàn tay đang túm tóc Bạch Hổ.

Bạch Hổ nước mắt đầm đìa, cúi gằm mặt xuống.

Chính vào thời khắc lặng phắc này, bỗng “rầm” một tiếng phía xa xa. Mọi người quay đầu nhìn, thấy một thằng bé tung người nhảy vọt ra từ một ô cửa sổ vừa bị đẩy tung, đứng vững chãi dưới đất. Tiếp đến, một thiếu phụ cũng chui ra qua ô cửa sổ, được đứa trẻ kia đỡ lấy, bước xuống đất.

Không nói cũng biết, đó là Khởi Y và Bạch Khởi vừa bị Bạch Hổ khoá trái trong phòng.

Hai mẹ con dìu nhau, chậm rãi tiến lại.

Hai mẹ con bước tới trước bàn đá, Bạch Khởi đẩy Sái Vi ra, đỡ mẹ giẫm lên bàn đá, quỳ xuống bên cạnh Bạch Hổ, sau đó cũng nhảy lên trên, đứng ở bên kia Bạch Hổ.

“Chư vị phụ lão hương thân!” Bạch Khởi vòng tay về phía đám đông giống như một người lớn thực thụ. “Tại hạ Bạch Khởi, Bạch Hổ là thân phụ của tại hạ. Người bên cạnh là thân mẫu của tại hạ. Nợ tiền phải trả, đó là thiên kinh địa nghĩa. Tuy nhiên, oan có đầu, nợ có chủ, nợ các vị số tiền lớn ba nghìn dật kia, không phải là nhà họ Bạch chúng tôi, mà là Ngụy Vương; làm ăn với các vị, cũng không phải là nhà họ Bạch chúng tôi, mà là tư đồ nước Ngụy do Ngụy Vương bổ nhiệm. Thân phụ Bạch Hổ của tại hạ, mười ngày trước là tư đồ của nước Ngụy, hiện giờ đã bị Ngụy Vương cách chức, không còn là tư đồ nữa. Bạch Hổ đã không còn là tư đồ, chư vị cứ bám riết lấy nhà họ Bạch chúng tôi, là vì lẽ gì? Có gan thì tới thẳng Đại Lương mà đòi nợ.”

Lời của Bạch Khởi hợp tình hợp lý, khiến đám người đứng ngẩn tò te, đưa mắt nhìn nhau.

“Ồ?” Sái Vi bị đẩy sang một bên giờ mới bừng tỉnh, trợn trừng mắt, chỉ vào Bạch Khởi quát lớn. “Thằng nhãi con, mới tí tuổi đầu mà mồm mép liến thoắng gớm nhỉ!” Rồi rút đánh soạt từ trong ống tay áo ra một bản khế ước. “Thằng nhãi, mở to mắt ra mà đọc bản khế ước này đi, là ai ký tên bảo đảm? Chính là thân phụ Bạch Hổ của ngươi đó! Thằng nhãi, có hiểu thế nào là bảo đảm không? Có hiểu thế nào là ký tên không? Có hiểu cóc khô gì đâu mà ở đó nói năng hùng hổ, thoạt nghe ra, đúng là quỵt nợ mà vẫn già mồm thật đấy!”

“Được rồi, là tại hạ không hiểu.” Bạch Khởi ngẩng cao đầu, hai mắt nhìn thẳng vào hắn, chỉ vào đầu mình. “Thử nói xem, cái đầu này của tại hạ, đáng giá bao nhiêu vàng?”

“Ngươi…” Sái Vi lùi lại một bước.

“Tráng sĩ không ra giá, thì tại hạ tự ra giá vậy!” Bạch Khởi nhìn vào đám người, dõng dạc nói. “Tại hạ Bạch Khởi, đã sống trên thế gian này qua mười hai cái xuân thu, giờ có một cái đầu này, xin ra giá ba nghìn dật vàng, nay bán cho chư vị có mặt ở đây, để bồi thường món nợ của nước Ngụy, các vị tự lấy hay là tại hạ dâng lên, xin tuỳ ý các vị!”

Đám người lại một phen chấn động.

“Thằng ranh!” Sái Vi cáu tiết. “Cái mạng hèn của ngươi, đào đâu ra cái giá ba nghìn dật?”

“Xin hỏi tráng sĩ,” Bạch Khởi cười khẩy một tiếng, “mạng của tại hạ không đáng ba nghìn dật, vậy đáng bao nhiêu?”

“Cùng lắm một dật!”

“Tại hạ trả ba dật, mua mạng của tráng sĩ, thế nào?”

“Ngươi…” Sái Vi giận điên người.

“Nhìn vào tuổi tráng sĩ, chắc cũng tầm ba chục, nay nói ra lời này, đúng là sống uổng ba mươi năm!” Bạch Khởi cười nhạt một tiếng, quay về phía đám đông. “Sinh mạng người ta là do tinh huyết cha mẹ dưỡng dục, do thiên địa nhật nguyệt tôi rèn, mỗi người chỉ có một mạng. Khổng Khâu nước Lỗ có nói, ngoài cái chết ra, chẳng có gì là chuyện lớn. Có nghĩa là, con người ta sống ở trên đời, không gì hệ trọng bằng cái chết. Chết đàng hoàng cũng chẳng bằng sống tạm qua ngày, đói một ống cơm, khát một gáo nước, thế là đủ. Dù có nghìn dật, vạn dật, nếu phải chết đi, cũng có ích gì?” Chỉ vào Sái Vi. “Tại hạ ra giá cho sinh mạng quý báu của mình chỉ ba nghìn dật, người này lại chê đắt, thương nhân như vậy, thực là xấu hổ cho người Dương Địch!”

Sái Vi thẹn quá hoá giận, lùi lại hai bước, rút phăng bội kiếm, đang định ra tay, thì từ ngoài cổng bỗng vọng vào tiếng quát: “Vi Nhi, không được vô lễ!”

Đám đông quay cả lại nhìn, thảy đều sửng sốt.

Một ông lão đang lẩy bẩy đứng bên cổng, cạnh ông ta là lão quản gia của nhà họ Bạch.

Không cần hỏi cũng biết, ông lão kia chính là Sái Đà. Đám đông rẽ ra một lối đi, Sái Đà và lão quản gia chầm chậm tiến vào.

Sái Vi tra kiếm vào bao, tiến lên trước vài bước, thận trọng đỡ lấy ông lão.

“Cha, sao cha lại tới đây?”

Sái Đà chậm rãi bước tới phía trước Bạch Hổ, quay người lại, hơi vòng tay hướng về phía đám đông: “Các vị chủ nợ, Sái Đà tới đây, có lời muốn nói!” Rồi chỉ vào lão quản gia. “Nghe lão đệ nói, Bạch gia vì Ngụy thất mà đứng ra vay nợ rất nhiều tiền bạc, tính sơ sơ cũng tới ba nghìn dật, theo lão phu tính toán, trong đó của lão phu là một nghìn năm trăm dật, các hộ khác một nghìn năm trăm dật. Khoản nợ của lão phu, lão phu sẽ tự tính toán, còn khoản nợ của các vị, lão phu có một mỏ sắt ở Nghi Dương, ước tính trị giá hơn hai nghìn dật, tạm lấy đó để bảo lãnh cho Bạch gia!”

“Cha!” Sái Vi tức giận đến méo cả giọng. “Cha… cha hồ đồ mất rồi ư? Khoản nợ là của Bạch gia bọn họ, có làm sao lại phải đem cả mỏ khoáng của nhà ta ra bảo lãnh!”

“Cha không hồ đồ!” Sái Đà chỉ vào cả nhà Bạch Hổ. “Bởi lẽ mỏ khoáng mà con vừa nói, vốn là của Bạch gia!” Rồi quay sang Bạch Hổ, quỳ sụp xuống, dập đầu mà nói. “Chúa công ở trên, xin nhận của lão bộc Sái Đà một lạy!”

Sự việc thình lình khiến hết thảy những người Dương Địch có mặt đều kinh ngạc đến ngây thộn, đừng nói là Sái Vi, mà cả nhà Bạch Hổ, kể cả lão quản gia đã theo Bạch gia bao nhiêu năm cũng phải sững sờ.

“Cha!” Sái Vi hoàn hồn lại đầu tiên. “Cha nói mỏ khoáng đó là của Bạch gia, hẳn có bằng chứng?”

“Không có bằng chứng!” Sái Đà chậm rãi đáp lời.

“Vậy… không có bằng chứng, dựa vào đâu mà nói mỏ đó là của Bạch gia?”

“Dựa vào cái này!” Ông lão đưa tay chỉ vào một vết sẹo nơi góc trán. “Tiên tổ của ta là công tộc nước Sái, cách đây hơn trăm năm, Sái bị người Sở tiêu diệt, người trong tộc mấy đời đều phải làm nô bộc của công tộc họ Chiêu nước Sở, ta vừa sinh ra, đã bị thích một chữ ‘Chiêu’ ở chỗ này. Tiên chúa công Bạch Khuê đại nhân chu du tới Sở, buôn bán với Chiêu môn, thấy ta nói năng hoạt bát, tâm địa thực thà, đã bỏ ra một khoản tiền lớn chuộc ta về, sai người xoá chữ ‘Chiêu’ này đi, dạy cho ta đạo kinh thương, giao tất cả việc kinh doanh ở Dương Địch cho ta, song lại không hề cho người ngoài biết. Mười hai năm trước, tiên chúa công lại âm thầm sai ta tới Nghi Dương, mua lấy mỏ khoáng này, và dặn ta, bất luận Bạch gia xảy ra chuyện gì, cũng không được để lộ chuyện này, trừ khi hậu duệ Bạch gia chạy nạn tới Dương Địch! Nay tiểu chúa công chạy nạn tới đây, tính mệnh ngàn cân treo sợi tóc, đã ứng với lời tiên đoán của tiên chúa công rồi!” Lại giơ tay vẫy Sái Vi. “Vi Nhi, lại đây, hãy bái lạy cả nhà chúa công!”

Sái Vi thoắt cái đã từ chủ thành tớ, cứ thế đứng chết trân, lúc này nghe thấy tiếng gọi, mới thẫn thờ bước lại, chật vật quỳ xuống bên cạnh cha, người cứng đờ như khúc gỗ mà dập đầu sát đất.

Đám đông không ai không xuýt xoa cảm động, thảy đều vái lạy cả nhà họ Bạch và lão nghĩa bộc Sái Đà.

***

Nhận được thư cự tuyệt của nước Hàn, dù Hàn Tuyên Vương lời lẽ rất uyển chuyển, song vẫn khiến Bàng Quyên nổi giận đùng đùng, tức tốc tới phủ tướng quốc, vứt toẹt quốc thư của Hàn Vương xuống trước mặt Trương Nghi, nói: “Trương huynh, hãy đọc đi!” Rồi nện thẳng nắm đấm vào cột trụ. “Mới làm vua có mấy ngày, nói năng đã không biết trời cao đất dày, thực khinh người quá đáng!”

Quốc thư này được gửi tới phủ tướng quốc trước tiên, rồi do phủ tướng quốc trình lên Ngụy Vương, sau đó mới đến tay Bàng Quyên, nên Trương Nghi đương nhiên đã đọc.

Trương Nghi chính là đang chờ đợi chuyện này.

“Theo ý Bàng huynh,” Trương Nghi liếc xéo quốc thư, “hẳn là muốn phạt Hàn?”

“Từ lâu đã muốn phạt rồi, chỉ là…” Bàng Quyên lại đấm vào cột trụ.

“Chỉ là sao?” Trương Nghi khẽ cười một tiếng. “Nước Tần gửi tới tin vui, ba vạn thạch lương từ đất Thục đã vận chuyển tới kho lương Hà Tây, tại hạ đang định bẩm báo lên đại vương, để tới chở về.”

“Tốt quá!” Bàng Quyên hai mắt sáng rực, song lại lập tức tối sầm xuống, thở dài một tiếng. “Than ôi, Trương huynh, thứ tại hạ cần, không chỉ là lương thực, còn cần thứ khác quan trọng hơn kia!”

“Bàng huynh cứ nói!”

“Hai vạn bộ giáp trụ võ binh!” Bàng Quyên gằn mạnh từng tiếng.

“Bàng huynh bao giờ thì cần?”

“Đương nhiên càng nhanh càng tốt!”

“Trong vòng ba tháng, tại hạ sẽ chuẩn bị đủ cho Bàng huynh, được chăng?”

“Gì kia?” Bàng Quyên trợn trừng hai mắt. “Trong vòng ba tháng? Hai vạn bộ giáp trụ?” Rồi cười nhăn nhó. “Trương huynh đang đùa đấy phải không?”

“Tại hạ đã bao giờ đùa Bàng huynh chưa?” Trương Nghi vẫn tươi cười.

“Được rồi!” Bàng Quyên thôi cười, hai mắt nhìn chòng chọc vào Trương Nghi. “Dám hỏi Trương huynh, xin hỏi Trương huynh, huynh không phải thần tiên, làm sao có thể trong vòng ba tháng chế tạo ra hai vạn bộ giáp trụ?”

“Tại hạ không thể, song người Tần có thể!” Trương Nghi thu lại nụ cười, giọng chắc nịch.

“Người Tần?” Bàng Quyên vỗ đầu. “Đúng là tại hạ lại không nghĩ đến. Tuy nhiên, chế tạo giáp trụ không phải chuyện nhỏ, ngộ nhỡ người Tần không chịu thì sao?”

“Dựa vào miệng lưỡi của tại hạ, dựa vào thể diện của Bàng huynh, và cả thành ý của Ngụy Vương, Tần Vương làm gì có chuyện không chịu?”

“Vậy tại hạ tin Trương huynh!” Bàng Quyên đảo con ngươi một vòng. “Còn phải cậy nhờ Trương huynh xin thêm cho vài thứ, để tránh đơn điệu!”

“Bàng huynh còn muốn gì?”

Bàng Quyên cầm bút, chóng vánh kê ra một bản danh sách, đưa cho Trương Nghi.

“Được lắm!” Trương Nghi đọc bản kê, chau tít đôi mày. “Năm nghìn cung nỏ, năm vạn mũi tên, một vạn cây thương! Bàng huynh được lắm, huynh coi người Tần là binh công xưởng của nhà mình thật đấy ư?”

“Ha ha ha!” Bàng Quyên cười vang mấy tiếng, vòng tay nói. “Trương huynh đã mở miệng vàng, thì cũng nên xin nhiều nhiều một chút, kẻo không người Tần lại dị nghị, cười chê miệng lưỡi của Trương huynh không dẻo, thể diện của tại hạ không lớn, thành ý của đại vương không đủ.”

“Bàng huynh thực đúng là được chân lân đến cổ!”

“Tại hạ không lân đến đầu là đã nể mặt người Tần lắm rồi!” Bàng Quyên lại cười. “Thử nghĩ mà xem, lần trước đại vương muốn tại hạ phạt Tần, tại hạ lại nghe theo lời Trương huynh, quay sang phạt Triệu, đã tiết kiệm cho người Tần bao nhiêu thứ. Nay tại hạ phạt Hàn, người Tần chỉ phải bỏ ra có chút xíu này, đã là…”

“Được rồi được rồi!” Trương Nghi vội vòng tay. “Tại hạ bái phục Bàng huynh!” Rồi bước sang bên cạnh thay trang phục. “Tại hạ không tán hươu tán vượn với Bàng huynh nữa, giờ lập tức vào cung xin đại vương ban cho sứ tiết!”

***

Hay tin sứ Ngụy Trương Nghi tới Hàm Dương, Tần Huệ Vương dẫn đám bề tôi thân tín Tư Mã Thác, Sư Lý Tật, công tử Hoa, Cam Mậu ra tận ngoài thành nghênh đón. Quân thần gặp nhau, bốn mắt giao nhau, nghìn vạn điều muốn nói đều trong chỗ không lời.

Vua tôi cùng lên vương xa, trở về cung, vào trong chính điện, chiếu theo cấp bậc mà ngồi vào chỗ.

“Chúa thượng!” Trương Nghi ngồi xuống, nhìn quanh triều đường quen thuộc, cười nói. “Thần đã khá lâu không được ngồi ở chốn này.”

“Phải!” Huệ Vương mỉm cười, chỉ vào chỗ ngồi của Trương Nghi. “Sau khi ái khanh đi rồi, vị trí này vẫn luôn để trống!”

“Tạ ơn đại vương yêu mến!” Trương Nghi cảm tạ, nín thở ngưng thần, rồi kể hết một lượt mọi chuyện trong cung Ngụy cho Huệ Vương nghe, đặc biệt là tình cảnh khó khăn trước mắt, cuối cùng nói. “Lần này thần đi sứ tới đây, là muốn xin một số tín vật.”

“Ái khanh cứ nói!”

“Ba vạn thạch lương, hai vạn bộ giáp trụ, năm nghìn cung nỏ, năm vạn mũi tên, một vạn cây thương sắt! Các vật khác, cũng xin đại vương xem xét tình hình mà cung cấp.”

“Trương huynh!” Tư Mã Thác giật mình sửng sốt. “Huynh xin nhiều thứ như vậy để làm gì?”

“Không phải tại hạ xin, mà là Bàng Quyên thỉnh cầu!” Trương Nghi đáp.

“Bàng Quyên?” Tư Mã Thác kinh ngạc. “Hắn cần những thứ đó để làm gì?”

“Phạt Hàn!”

Quân thần đều hít vào một hơi, đưa mắt nhìn nhau.

Hồi lâu sau, Huệ Vương trịnh trọng gật đầu: “Bàng tướng quân đã có thỉnh cầu, quả nhân ân chuẩn.”

“Thần còn có một lời thỉnh cầu.” Trương Nghi nhìn thẳng vào Huệ Vương.

“Cứ nói!”

“Khi Bàng Quyên phạt Hàn, thần thỉnh cầu đại vương hãy giao ước tấn công Nghi Dương nước Hàn, nhằm chiếm lấy kinh đô sắt thép, khiến người Hàn đầu đuôi khó lòng tiếp ứng.”

“Hàn, Ngụy xung đột,” Huệ Vương trầm ngâm một lát, nói, “là chuyện riêng của Tam Tấn họ, nếu ta trực tiếp nhúng tay vào Nghi Dương là không thoả đáng. Có điều, ta cũng có thể dàn quân ở Hào Hàm, áp sát Nghi Dương, khiến quân ở Nghi Dương không còn rảnh rang mà lo cho phía đông. Khanh hãy bàn bạc với Bàng Quyên, bảo hắn tốt nhất hãy nhường lại ba ấp Thiểm, Tiêu, Khúc Ốc, để ta tiện bề triển khai quân đội!”

“Thần tuân mệnh!” Trương Nghi đáp. “Có điều, thế Ngụy đã suy yếu, lại thêm ba nước Triệu, Tề, Sở như hổ đói rình rập, thần e Bàng Quyên một mình khó lòng chống đỡ, chẳng còn dũng khí phạt Hàn. Bởi vậy, thần cho rằng, ta chỉ dàn quân uy hiếp Nghi Dương là chưa đủ, còn phải thỉnh cầu đại vương uy hiếp Thượng Đảng mới được. Ta có đại quân ở bên, giả sử người Hàn thực sự dám điều quân Thượng Đảng, Nghi Dương tới Trịnh Thành hộ giá, tướng sĩ ta sẽ lập tức thừa cơ đánh vào, bất luận chiếm được Nghi Dương hay Thượng Đảng, đối với đại vương đều là thu hoạch bất ngờ.”

“Chuẩn tấu thỉnh cầu của ái khanh.” Huệ Vương phẩy tay ân chuẩn, rồi nhìn Trương Nghi. “Ái khanh trở về thật đúng lúc, quả nhân đang có vài chuyện muốn bàn với khanh, phần lớn đều liên quan tới nước Sở, mà bất lợi cho ta.”

“Thần cung kính lắng nghe.”

“Thứ nhất, Huệ Thi tới Sở, được Sở Vương phong làm khách khanh, trong triều ngoài nội hô hào liên minh Tề đánh Tần, dần thành thế lực. Thứ hai, tướng Tề Điền Kỵ bỏ trốn sang Sở, nương náu vào nhà họ Cảnh, trấn giữ Uyển Thành. Thứ ba, Sở Vương Hùng Thương ốm liệt giường, nếu đúng như suy đoán, hẳn không qua khỏi tháng này, thái tử Hùng Hoè đương nhiên sẽ kế vị.”

“Sự việc cuối cùng, có lẽ chính là phúc của đại vương!” Trương Nghi tiếp lời.

“Ồ?”

“Thần hiểu Hùng Hoè còn hơn cả hiểu đại vương!”

Huệ Vương thoạt tiên ngỡ ngàng, tiếp đó cười vang: “Được lắm, được lắm, ái khanh đã nói như vậy, quả nhân không có gì phải lo lắng nữa.”

“Hồi bẩm đại vương!” Trương Nghi vòng tay, trầm giọng đáp lời. “Ngụy vì hai trận chiến Hàm Đan, Quế Lăng mà hao tổn nặng nề, lần này lại phạt Hàn, thế lực kiệt quệ, đại vương sẽ không còn phải lo lắng nữa. Triệu, Tề đều tổn thương, trong vòng dăm ba năm, nguyên khí khó lòng hồi phục. Trong vài năm tới, đối thủ thực sự của ta chính là người Sở. Bởi vậy, thần cho rằng, không thể để Huệ Thi ở Sở. Ngoài ra, Bàng Quyên phạt Hàn, Triệu không đủ sức cứu, Sở nếu có đại tang, có lẽ sẽ không xuất binh, cứu Hàn chỉ có thể là Tề. Tôn Tẫn đã chết, lính năm đô chỉ Điền Kỵ mới có thể chỉ huy, bất luận thế nào, ta cũng không thể để Điền Kỵ quay trở về Tề. Nếu không, Hàn, Tề giáp công, Bàng Quyên khó mà thủ thắng. Nếu Bàng Quyên lại thất bại lần nữa, hắn có lẽ sẽ bị đuổi khỏi Ngụy, đại kế liên hoành coi như sắp thành lại hỏng.”

“Theo quả nhân biết, giỏi cách đuổi người, thứ nhất là ái khanh, thứ hai là Trần Chẩn. Nay Trần Chẩn ở Sở, Huệ Thi và Điền Kỵ cũng ở Sở, quả nhân có thể khiến Trần Chẩn lập hai công này.”

“Thần lại không hy vọng.” Trương Nghi khẽ nhếch mép. “Trần Chẩn là kẻ hai lòng, nay ở đất Sở, hẳn đã phản bội Tần!”

“Đúng như lời ái khanh nói,” Huệ Vương khẽ gật đầu, “Trần Chẩn tới Sở, rồi cũng theo Sở. Chỉ có điều trước mắt, Trần Chẩn vẫn nợ quả nhân một món nợ ân tình, quả nhân không có yêu cầu gì khác, chỉ nhờ hắn đuổi hai kẻ cản đường kia đi, hẳn hắn cũng không đến nỗi không nể mặt quả nhân!”

“Như vậy thì tốt quá, thần cung kính chờ tin vui!”

Màn đêm dần buông, Huệ Vương nghĩ cho Tử Vân, nên không giữ Trương Nghi ở lại yến ẩm.

Trương Nghi về phủ, Tử Vân quả nhiên đang ngóng đợi, hai người nhìn nhau, Tử Vân vui mừng quá đỗi mà rơi lệ. Sau một đêm mặn nồng, vừa sáng hôm sau, Tử Vân dậy trước, tất bật chuẩn bị hành trang.

“Phu nhân, nàng bận rộn gì thế?” Trương Nghi ngạc nhiên nhìn Tử Vân hỏi.

“Chẳng phải phu quân muốn về Ngụy rồi ư? Tử Vân sẽ đi cùng!”

“Không được!” Trương Nghi kinh hãi kêu lên.

“Tại sao?” Tử Vân dừng tay hỏi.

“Bởi vì,” Trương Nghi chớp mắt vài cái, “phu nhân ở Tần, nhà của Nghi cũng ở Tần, Nghi sẽ không suy nghĩ vẩn vơ, đương nhiên sẽ dốc hết sức lực vì Tần. Nếu phu nhân theo Nghi tới Ngụy, thì nhà của Nghi sẽ ở Ngụy chứ không phải ở Tần nữa.”

“Ồ…” Tử Vân ngẩn ngơ.

“Nghi đã nói rõ rồi, phu nhân có tới Ngụy hay không, hãy tự mình quyết định!”

Tử Vân cúi đầu ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi lòng đã định, ngẩng đầu nhìn Trương Nghi: “Phu quân đã nói như vậy, Tử Vân sẽ không theo tới Đại Lương nữa, chỉ ở nhà chờ đợi phu quân, ngày ngày cầu phúc cho phu quân!”

“Như vậy mới phải!”

Trương Nghi cười vang mấy tiếng, ở trong phủ đúng ba ngày, tới ngày thứ tư, bèn nói với Tử Vân: “Phu nhân, Nghi đã tạm biệt vương huynh, quyết định hôm nay lên đường, trở về Đại Lương. Trên đường đi, Nghi muốn vào trong núi một chuyến, ghé thăm Hương Nữ, nên nói trước với nàng một tiếng.”

“Tử Vân cũng có ý này!” Tử Vân thực lòng đáp. “Nếu như không chê, Tử Vân xin được theo cùng.”

“Nghi thay mặt Hương Nữ cảm tạ phu nhân nhớ đến!” Trương Nghi vòng tay nói. “Chỉ có điều, nếu phu nhân đi, tuy nghìn vạn cái tốt, song lại có một cái dở, đó là Hương Nữ e rằng khó tu thành đạo.”

Tử Vân cúi đầu, không nói gì thêm. Đúng vậy, suy bụng ta ra bụng người, nếu nàng là Hương Nữ, cũng không muốn gặp người đàn bà đã ngang nhiên cướp mất chồng mình.

Trương Nghi để đám tuỳ tùng trong sứ đoàn Ngụy lưu lại Hàm Dương, cùng người Tần bàn bạc cụ thể chuyện giao lương thực, giáp trụ, còn mình tới núi Chung Nam, đợi trong nhà cỏ của Hàn Tuyền Tử suốt ba ngày trời, song Hương Nữ vẫn nhất quyết không chịu gặp.

Trương Nghi thở ngắn than dài, đành để lại thuốc cao trị phong thấp mà mình đã đổ bao công sức tìm kiếm lại chỗ Hàn Tuyền Tử, rồi rầu rĩ xuống núi, xuất ải Hàm Cốc.

Trở về Đại Lương, Trương Nghi kể lại cho Bàng Quyên nghe quá trình đi sứ sang Tần và thành quả thu được, khiến Bàng Quyên sung sướng đến cười không khép nổi miệng.

“Có điều,” Trương Nghi đổi giọng, “Tần Vương cũng muốn có đi có lại!”

“Đương nhiên, đương nhiên!” Bàng Quyên cười nói. “Người Tần xưa nay vẫn vậy, không chịu thiệt bao giờ. Trương huynh cứ nói đi, Tần Vương muốn báo đáp gì, đừng quá đáng là được!”

“Muốn ta rút quân khỏi ải Lâm Tấn, lùi về Hà Đông, cùng Tần lấy Hà Thuỷ làm giới tuyến, đồng thời trả lại cho Tần ba ấp Thiểm, Tiêu, Khúc Ốc bên ngoài ải Hàm Cốc.”

“Chuyện này…” Bàng Quyên hít ngược vào một hơi.

“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng. “Tại hạ đã nói hết lời, nhưng Tần Vương không chịu nhượng bộ. Có điều, Tần Vương cũng có lời hứa hẹn!”

“Hứa hẹn gì?”

“Cho đại quân đóng ở ba ấp Thiểm, Tiêu, Khúc Ốc, dựa lưng vào Hàm Cốc, chĩa mũi nhọn vào Nghi Dương, khiến quân Hàn ở Nghi Dương không dám xao nhãng phòng thủ, giảm bớt áp lực cho Bàng huynh. Ngoài ra, nếu đại vương đồng ý cho mượn đường, Tần Vương nguyện xuất một vạn tinh binh tới Hà Đông, đe doạ Thượng Đảng, khiến quân trấn giữ Thượng Đảng không dám vọng động!”

Bàng Quyên nhắm mắt, suy nghĩ hồi lâu, rồi ngẩng lên nói: “Ải Lâm Tấn có thể nhường, còn ba ấp Thiểm, Tiêu, Khúc Ốc, ta chỉ có thể nhường một, là Khúc Ốc, giữ lại hai ấp Thiểm, Tiêu để bảo vệ bến đò. Còn quân Hàn ở Thượng Đảng, đã có quân đóng ở An Ấp lo liệu, không phải phiền tới người Tần.”

“Bên ngoài ải Hàm Cốc, chỉ nhường cho người Tần một ấp, tại hạ e khó lòng ăn nói. Bàng huynh xem thế này được không, nhường thêm một ấp nữa, là Tiêu Ấp, ta chỉ giữ lại Thiểm Ấp, nơi này vừa hay ở chính giữa hai bến đò, trái phải đều được bảo vệ.”

“Ồ!” Bàng Quyên trợn tròn mắt. “Này Trương huynh, huynh là tướng quốc nước Ngụy mà lại đi cò kè mặc cả với tại hạ giống như người Tần là sao?”

“Than ôi, Bàng huynh!” Trương Nghi cười nhăn nhó. “Bây giờ là chúng ta đi cậy nhờ người Tần, chứ không phải người Tần tới cậy nhờ chúng ta. Nếu người Tần bằng lòng, tại hạ còn mong họ nhường luôn cả Hàm Dương cho ta kia.” Rồi hạ thấp giọng. “Hơn nữa, Bàng huynh mà mượn được người Tần giáp trụ, lương thảo, binh khí, nếu không có điều bất trắc, ta có thể một đòn đánh tan nước Hàn, chiếm lấy kinh đô và Dương Địch của họ, cái khác không nói tới, chỉ riêng Dương Địch…” Nói rồi, khẽ nhịp ngón tay xuống mặt bàn.

“Được rồi!” Bàng Quyên đáp lời. “Cứ theo ý Trương huynh, chỉ có điều, sự việc hệ trọng, chúng ta cần bẩm báo lên đại vương, do đại vương quyết định!”

Hai người vào cung, tấu báo lên Ngụy Huệ Vương.

“Trương ái khanh!” Huệ Vương lời lẽ cũng giống hệt Bàng Quyên. “Khanh có thể đi sứ sang Tần thêm chuyến nữa, thương lượng lại với Tần Vương xem có thể giữ lại ải Lâm Tấn hay không. Nơi đó… vùi chôn vài vạn thi thể tướng sĩ ta, Thanh minh hàng năm, cũng phải có chỗ cho mọi người tới cúng tế!”

Trương Nghi hiểu rõ lòng dạ của Huệ Vương, không phải vì cúng tế, mà là vì vẫn còn nặng lòng với Hà Tây, bèn cười gượng một tiếng, nói: “Đại vương, thần đã nói hết lời với Tần Vương rồi, quân ta rút lui khỏi ải Lâm Tấn, nhường lại toàn bộ Hà Tây là yêu cầu bất di bất dịch của người Tần. Tần Vương ngay từ đầu đã nhắc tới yêu cầu này. Hơn nữa, thần cho rằng, Tần, Ngụy chia sông mà trị, cũng không phải không thể. Chừng nào ải Lâm Tấn còn trong tay ta, Tần Vương sẽ không thể ngủ ngon, cứ suy từ ta mà ra…”

“Được rồi, được rồi!” Huệ Vương bực bội ngắt lời. “Muốn quả nhân nhường ải Lâm Tấn cũng không phải không thể, song người Tần cần xuất thêm ba vạn thạch lương nữa. Nếu quả nhân nhớ không nhầm, ba vạn thạch lương mà người Tần cung cấp lần này đều dùng để cứu đói, khanh và Bàng tướng quân ngày ngày tấu báo phạt Hàn, quả nhân kiểu gì cũng không thể để ba quân tướng sĩ bụng rỗng mà xuất chinh được!”

Bàng Quyên lấy làm thán phục trước yêu cầu mà Huệ Vương vừa đưa thêm, ánh mắt khẩn thiết nhìn sang Trương Nghi.

“Thần lĩnh chỉ, sẽ lập tức dâng tấu lên Tần Vương!” Trương Nghi vòng tay đáp.

Sau khi Trương Nghi gửi thư đi, Ngụy Vương và Bàng Quyên đã phải bất ngờ vì Tần Vương không những đồng ý cấp phát thêm ba vạn thạch lương, mà còn tặng thêm năm nghìn ngựa chiến Tây Nhung và một trăm người dạy cưỡi ngựa, khiến Bàng Quyên vô cùng phấn khởi.

Có tiền có lương, Bàng Quyên đã yên tâm chuẩn bị chiến sự. Ngụy Vương cũng liên tục hạ chỉ, khen thưởng quân công, phàm những hộ có người nhập ngũ, ngoài việc được hưởng ưu đãi đặc biệt về sưu thuế như đã ban bố trước đây, còn lập tức thưởng ngay một thạch lương. Lúc này nạn đói đang khốc liệt, người đói đầy đường, nên thanh niên đua nhau nhập ngũ, vừa có thể giảm bớt miệng ăn cho gia đình, lại có thể kiếm thêm chút lương thực. Trước sau chưa đầy một tháng, Bàng Quyên đã chiêu mộ được hơn năm vạn thanh niên cường tráng, lại từ trong tam quân và số người vừa nhập ngũ tuyển lựa được hai vạn tráng sĩ, bổ sung vào võ binh, giao do Thanh Ngưu huấn luyện.

Phạt nước lớn, về lý mà nói, cần chuẩn bị ba năm. Vậy mà, Bàng Quyên như thể một năm cũng không chờ nổi, vừa mới hết vụ thu, đã dâng tấu phạt Hàn.

Sau khi Huệ Thi, Bạch Hổ bỏ đi, Chu Uy cáo bệnh, trong triều đình đa phần là vây cánh của Trương Nghi, Bàng Quyên, đều là phe chủ chiến, không nghe thấy một lời phản đối. Nhìn quần thần sục sôi khí thế, Ngụy Huệ Vương cũng thoả chí mãn nguyện, hạ chỉ phạt Hàn, lại chọn ngày đẹp tế lễ Thái miếu, phong Bàng Quyên làm chủ tướng, công tử Tự làm phó tướng, thái tử Thân làm giám quân, Thanh Ngưu làm tiên phong, Trương Nghi phụ trách lương thảo, phát tam quân tám vạn, tế cờ xuất chinh.

Sách lược của Bàng Quyên là chia quân Ngụy thành hai lộ, một lộ theo lối Hình Sơn, dọc theo thung lũng sông Dĩnh Thuỷ chọc thẳng tới Dương Địch, chiếm lấy trọng trấn binh xưởng và kinh thương của Hàn; một lộ từ Đại Lương tiến thẳng tới Tân Trịnh, bức ép Hàn Vương ký kết minh ước dưới thành.

Đúng như kế hoạch, Bàng Quyên chia ba quân tám vạn thành hai lộ, Bàng Quyên và thái tử Thân chỉ huy năm vạn trung quân và hữu quân, tấn công Trịnh Thành. Công tử Tự dẫn ba vạn tả quân tới Hình Sơn, cùng với quân trấn thủ Hình Sơn hợp sức tấn công Dương Địch.

Tam quân sắp sửa khởi hành, thái tử Thân vốn dĩ chẳng hề mong muốn xuất chinh, lại càng không muốn phạt Hàn, vậy mà lại bị Huệ Vương một lần nữa bổ nhiệm làm giám quân, sẵn trong lòng buồn bực, lại thêm đúng vào sáng sớm hôm làm lễ tế cờ lại mơ một giấc mộng chẳng lành, nên vào lúc chỉ còn cách thời khắc xuất chinh một canh giờ, tức tốc đánh xe tới phủ Chu Uy từ biệt.

Chu Uy đúng là đổ bệnh thật, đã chục hôm rồi vẫn chưa thể xuống giường, nghe nói thái tử giá đáo, thì gắng gượng ngồi dậy, định xuống giường hành lễ, song thái tử Thân ngăn lại.

“Điện hạ xuất chinh, lão thần đáng lẽ phải tới tiễn chân, nào ngờ…” Chu Uy cười ảo não.

“Bệnh của ái khanh là lo lắng cho giang sơn xã tắc, việc cần trước mắt là nghỉ ngơi dưỡng sức, còn những chuyện khác, chỉ là phù phiếm mà thôi!” Thái tử Thân ngồi xuống bên giường, trên mặt lộ vẻ buồn bã và bất lực.

“Nhìn khí sắc của điện hạ, dường như có tâm sự.”

“Mọi việc đều tốt, chỉ là sáng sớm nay, trong lúc nửa tỉnh nửa mê, Thân đột nhiên mơ thấy một chuyện lạ, nên trong lòng thấp thỏm không yên.”

“Dám hỏi là chuyện lạ thế nào?”

“Thân dẫn quân phạt Hàn, đi qua một vùng đất lạ,” thái tử Thân hồi tưởng lại giấc mơ, “Thân đứng trên xe chiến, đang tiến về phía trước, bỗng xuất hiện một ông lão râu dài chắn ngang đường, hỏi: ‘Người trên xe phải chăng là thái tử nước Ngụy?’ Thân vội dừng xe, vòng tay thi lễ, nói: ‘Chính là Ngụy Thân. Tiên sinh hạ cố gặp Thân, có gì căn dặn?’ Ông lão quê mùa kia bèn nói: ‘Thái tử dẫn binh, hẳn là phạt Hàn?’ Thân đáp: ‘Đúng vậy. Thân phụng vương mệnh, dẫn quân phạt Hàn.’ Ông lão nói: ‘Tại hạ là Từ Sinh người Ngoại Hoàng, có thuật bách chiến bách thắng, thái tử có muốn nghe chăng?’ Thân đáp: ‘Quả nhân muốn nghe!’ Từ Sinh bèn nói: ‘Thái tử nói xem, vật quý trong thiên hạ, có thứ gì hơn được vương vị không?’ Thân đáp: ‘Quả nhân chưa từng nghe nói.’ Từ Sinh bèn nói: ‘Thái tử đã quý là thái tử, nay lại dẫn quân phạt Hàn, là không sáng suốt. Nếu may mắn chiến thắng, chẳng qua chỉ là xưng vương mà thôi, ngộ nhỡ không thắng thì sao?’ Thân nói: ‘Xin tiên sinh chỉ giáo!’ Từ Sinh bèn nói: ‘Thu quân quay về Lương, thái tử sẽ tránh được tai hại do thất bại, ngồi mà hưởng vương vị, thuật bách chiến bách thắng của lão hủ chính là như vậy.’ Thân vòng tay nói: ‘Tuyệt diệu! Quả nhân xin nghe theo lời chỉ giáo của tiên sinh, lập tức lui quân.’ Từ Sinh không nói gì nữa, một tay vuốt râu, một tay chỉ vào đầu Thân, cười vang mấy tiếng, rồi cưỡi gió lướt đi. Thân bừng tỉnh, mới biết là mơ, nhớ lại ông lão kia mà kinh hãi. Đúng là thần tiên.”

Chu Uy khép mắt trầm ngâm.

“Khi tế cờ, Thân đột nhiên thấy tức ngực, tim đập thình thình, nhớ lại giấc mơ ban sáng, cảm thấy rất đỗi hoang mang. Phạt Hàn sẽ phải tới đất Hàn, người chặn đường Thân lại xưng là Từ Sinh ở Ngoại Hoàng, hẳn vùng đất xa lạ kia chính là Ngoại Hoàng không sai. Ngoại Hoàng ở phía đông nam Đại Lương, không ở trên đường phạt Hàn. Hơn nữa, những lời Từ Sinh kia nói, cũng rất chính xác. Thân không tham gì ngôi cửu ngũ, chỉ là phạt Hàn thực sự trái với tâm nguyện của Thân. Phụ vương nghe theo Bàng Quyên, Trương Nghi, gây chiến với bên ngoài, không thương xót dân chúng lầm than, cứ thế lâu dần, đất nước sẽ nguy. Nay phụ vương lệnh cho Thân làm giám quân, Thân không phục tùng, là bất hiếu với cha, bất trung với nước, mà nếu Thân phục tùng, lại trái với tâm nguyện. Thân tiến thoái lưỡng nan, thực sự rối bời.

“Điện hạ có tấm lòng thương xót, thực là may mắn cho người Ngụy.” Chu Uy lại ngồi dậy, chật vật xuống giường. “Đại vương đang lúc u mê, xin điện hạ hãy giúp lão thần một tay, dìu lão thần vào cung can gián đại vương thu hồi chỉ lệnh!”

“Than ôi!” Thái tử Thân thở dài một tiếng, khẽ lắc đầu, lại ấn Chu Uy ngồi xuống. “Chu ái khanh, khanh vẫn nên dưỡng bệnh là hơn. Đạo theo tự nhiên, mệnh do trời định. Cái gì tới, hãy cứ để nó tới, Thân đành thuận theo mệnh trời vậy thôi!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử