Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 50
Bàng Quyên hợp sáu quân về Hàm Cốc
Sào Tử trao trọng trách tại Nghiêu Sơn

❊ ❊ ❊

Đúng vào lúc Tô Tần áo gấm về làng, vở kịch lớn phạt Tần của các nước hợp tung đã khai màn trong chiêng trống rùm beng.

Vai chính của “vở kịch” chính này là Bàng Quyên. Sau khi tính toán kỹ lưỡng, Bàng Quyên quyết định sẽ đánh thẳng vào đại bản doanh của Tần, tức là đại doanh trung quân ở Thằng Trì. Thằng Trì ở Hào Quan, sẽ là trận địa tiền tiêu phạt Tần.

Sau trận Hình Sơn, nước Ngụy không có thêm một cuộc chiến quy mô lớn nào nữa, có được vài năm nghỉ ngơi dưỡng sức, nhờ thế mà Bàng Quyên cũng dư dả thời gian để trù bị kế sách phạt Tần. Tuy nhiên, đúng như Tô Tần nói, Tần có bốn cửa ải kiên cố, dưới sự trị vì của Huệ Văn Công, thế như mặt trời giữa trưa, Bàng Quyên không thể nắm chắc toàn thắng. Nào ngờ đúng lúc này, Tô Tần hợp tung thành công, mang lại cho Bàng Quyên nhiều trợ lực bất ngờ, khiến hắn thứ nhất không phải lo lắng sau lưng, thứ hai có được sức mạnh của sáu nước, tự cho rằng đã nắm chắc phần thắng trước Tần.

Dù là vậy, Bàng Quyên cũng không phải kẻ lỗ mãng. Hắn hiểu rõ hơn ai hết, trên chiến trường không có tướng quân trăm trận trăm thắng, một chút sơ sảy cũng đủ lãnh hậu quả trí mạng. Hắn không sợ chết, hắn chỉ sợ thất bại. Từ sau khi rời khỏi Quỷ Cốc, hắn đã giao chiến với nhiều nước lớn xung quanh như Tề, Triệu, Sở, đánh đâu thắng đấy, song đối với Hàn và Tần, lại vẫn còn lạ lẫm.

Hàn tuy cùng Triệu và Ngụy đều thuộc Tam Tấn, song không mạnh bằng Triệu, càng kém xa Tề và Sở, do vậy Bàng Quyên không hề sợ. Song người Tần thì khác.

Bàng Quyên đóng cửa không tiếp khách, lôi ra toàn bộ sách của người Tần mà mình đã thu thập được trong mấy năm gần đây, gần như bày kín cả đại doanh trung quân. Bàng Quyên lật xem từng cuốn, thi thoảng lại chìm đắm trong suy tư, bày đi bày lại ván cờ phạt Tần hùng tráng mà mình đã nghiền ngẫm dễ tới nghìn vạn lần, cân nhắc tỉ mỉ đến từng nước đi.

Cứ như vậy suốt ba ngày trời, cuối cùng Bàng Quyên cũng cuộn sách lại, ăn một bữa ngon miệng, ngủ một giấc say sưa, tắm táp sảng khoái, rồi mở cửa đại doanh, đặt xuống quân cờ đầu tiên: phát liền năm bức thư, mời đến chủ tướng quân hợp tung của năm nước là Chiêu Dương, Điền Anh, Phì Nghĩa, Công Trọng, Tử Chi, lại cho gọi thêm trợ thủ của mình là phó tướng tam quân Đại Ngụy Trương Mãnh, cùng tới đại doanh trung quân uống rượu.

Trong năm viên chủ tướng trên, duy có chủ tướng Triệu Phì Nghĩa là không tới. Đi thay Phì Nghĩa là phó tướng Lý Nghĩa Phu. Lý Nghĩa Phu vai rộng lưng dày, mày rậm bao mắt, râu quai nón kín mặt, ngoại hình tuy thô lỗ, song suy nghĩ lại hết sức tinh tế kín kẽ, khéo mưu thiện chiến, nhiều năm đảm đương chức quận thú quận Thượng Đảng, từng ba lần giao chiến với Hàn, hai lần giao chiến với Ngụy, ba thắng, một hoà, một thua, cũng được coi là một viên mãnh tướng của Triệu. Thực lòng mà nói, Bàng Quyên thấy ưa hắn hơn là Phì Nghĩa.

Tuy nhiên, người cần đến lại không đến, nhớ tới chuyện Triệu Túc Hầu bỏ về không một lời từ biệt, Bàng Quyên trong lòng vẫn thấy bực bội. Hành lễ xong xuôi, Bàng Quyên đưa ánh mắt sắc bén như lưỡi kiếm nhìn thẳng vào Lý Nghĩa Phu, cười mà như không cười, hỏi: “Dám hỏi Lý tướng quân, Phì Nghĩa tướng quân không phải là đổ bệnh đấy chứ?”

Lý Nghĩa Phu hơi ngẩn người: “Ồ, mạt tướng còn chưa bẩm báo, sao tướng quân đã biết?”

Nhìn vẻ ngỡ ngàng của Lý Nghĩa Phu, Bàng Quyên trong lòng cũng thấy hả hê đôi chút, ánh mắt dịu lại ít nhiều: “Nếu không ngoài dự đoán của tại hạ, bệnh của Phì tướng quân hẳn không phải bệnh bình thường.”

“Thần kỳ!” Lý Nghĩa Phu càng thêm kinh ngạc.

Chủ tướng nước Tề Điền Anh cười nói: “Lý tướng quân, nói thực cho tướng quân biết, Bàng tướng quân đây là thần nhân của Quỷ Cốc, có thể dự đoán trước sau tám trăm năm đấy!”

Mọi người cùng phá lên cười.

Chiêu Dương cười phì phì vài tiếng qua lỗ mũi, vừa như giải thích, vừa như cạnh khoé: “Phải đấy, phải đấy, Phì tướng quân cơ thể như sắt như đồng, bệnh bình thường sao có thể xâm phạm tới tướng quân? Lý tướng quân, nói thử xem, Phì tướng quân mắc bệnh gì?”

“Chiêu tướng quân nói phải lắm! Phì tướng quân ngã từ trên mình ngựa xuống, bị thương đến xương cốt.”

“Ồ?” Đám người đều đều ngạc nhiên. “Đúng là nuôi ong lại để ong đốt! Lý tướng quân mau nói xem, Phì tướng quân ngã ngựa thế nào?”

“Người Hồ đất bắc mang tặng một con ngựa quý, lông đỏ như máu, nghe nói có thể ngày đi nghìn dặm. Phì tướng quân rất thích, lập tức cưỡi thử, nào ngờ con ngựa tính khí cực hung dữ, đi chưa được vài bước, đã hất văng Phì tướng quân xuống đất, còn đạp mạnh một cú, khiến tướng quân gãy cả cẳng chân. Hiện tướng quân đang phải nẹp chân dưỡng thương.”

Các tướng ai chẳng yêu ngựa, bèn nhao nhao hỏi thăm. Lý Nghĩa Phu đành phải kể tường tận một lượt từ đầu tới cuối, mô tả về con ngựa quý kia sống động như thể đang hiện hữu bằng xương bằng thịt trước mắt, khiến chư tướng nghe mà xuýt xoa không ngớt, đua nhau bàn tán rôm rả về ngựa Hồ.

Thấy các tướng càng nói càng xa, Bàng Quyên liền đặng hắng một tiếng, chỉ vào bàn rượu bên cạnh, cười nói: “Chư vị tướng quân còn không nhập tiệc, món ngon nguội ngắt cả rồi!

Chỗ ngồi đã được sắp xếp từ trước, mọi người lần lượt ngồi vào chỗ của mình.

Bàng Quyên không hề khách sáo, ngồi vào vị trí chủ, nâng chén mà nói: “Chư vị tướng quân đã không quản đường sá xa xôi tới doanh trại Ngụy, tại hạ vô cùng cảm kích, tạm chuẩn bị bữa rượu nhạt, kính mời chư vị. Chư vị cứ tự nhiên, tại hạ xin kính trước một chén.”

Bàng Quyên một hơi uống cạn, chư tướng cũng đều cạn chén.

Rượu được vài tuần, Bàng Quyên đi thẳng vào chuyện chính: “Chư vị tướng quân, người Tần ngang ngược, gây hoạ cho liệt quốc đã nhiều năm. Nay liệt quốc hợp tung, chư vị quân chủ cùng quần tụ ở Mạnh Tân, vui vẻ bỏ qua ân oán ngày trước, kết minh phạt Tần, cùng suy tôn tung ước trưởng để điều động liệt quốc. Còn phạt Tần thế nào, tung ước trưởng hạ lệnh cho chúng ta bày mưu tính kế. Được chư vị quân chủ yêu mến, tại hạ tạm thời ngồi vào vị trí chủ tướng, tiếc rằng tài trí thiển cận, kiến thức nông cạn, nên kính mời chư vị tướng quân tới đây cùng nghị sự, mong chư vị chớ tiếc lời chỉ giáo, cùng hiến diệu kế, để cùng thành tựu công này.”

Chư tướng đưa mắt nhìn nhau, Điền Anh cười nói: “Bàng tướng quân là chủ tướng, hẳn đã có sẵn diệu kế phạt Tần, chúng tôi xin kính cẩn nghe theo!”

Chư tướng thảy đều đồng tình.

“Được, được!” Bàng Quyên vòng tay cười nói. “Nếu chư vị đã không chịu mở miệng vàng, tại hạ sẽ xin nói trước vài lời, coi như ném ngói dụ ngọc!” Rồi chậm rãi đứng dậy. “Chư vị tướng quân, xin đi theo tại hạ!”

Chư tướng đứng dậy, đi theo Bàng Quyên tới bên trái đại doanh, vây quanh một giá gỗ lớn phải đến vài trượng vuông, trên giá phủ một bức màn gấm màu xanh lục. Chư tướng còn đang đoán già đoán non thì Bàng Quyên đã ra hiệu, một tham tướng đứng hầu bên cạnh lập tức bấm nút gạt cần, sau vài tiếng lạch cạch, bức màn gấm từ từ được kéo sang hai bên, để lộ ra trước mặt mọi người một sa bàn quân sự thiết kế tinh xảo, tỉ lệ thích hợp, sống động như thật, phía đông tới Lạc Dương, phía tây tới Quan Trung, phía bắc tới Thiếu Lương, phía nam tới vùng sơn cốc Thương Ư, bao gồm cả Hà Đông, Hà Tây. Địa hình, sông núi, thành ấp, làng mạc, thành luỹ, biên ải, tất cả đều được thâu tóm trên sa bàn. Dòng Hà Thuỷ quanh co gấp khúc, vạch qua trùng trùng núi non, hình thành những vực sông sâu hút hiểm trở. Con đường cổ Hàm Cốc phía nam Hà Thủy càng giống như một con giun, len lỏi giữa các đỉnh núi chót vót.

Nhìn vào công trình tinh xảo khéo đoạt hoá công nhường này, chư tướng liệt quốc không ai không kinh hãi. Bởi lẽ bản đồ hình thể mà họ sử dụng đa phần là vẽ tay sơ sài, chưa nói tới tỉ lệ lệch lạc, mà hình thế cũng thiếu chuẩn xác. Còn sa bàn này lại rõ ràng sinh động, vừa nhìn đã hiểu. Chỉ nhìn vào điểm này, họ đã thua Bàng Quyên một nước.

Thấy chư tướng ngây người kinh ngạc, Bàng Quyên cũng thầm đắc ý trong lòng. Đây chính là kiệt tác mà hắn đã phải huy động rất nhiều thợ khéo trong quân ngũ miệt mài chế tác suốt mấy năm trời, vốn chỉ định dùng vào việc huấn luyện chư tướng ba quân, nào ngờ nay lại có cơ hội trưng ra để uy phục liệt quốc.

“Chư vị tướng quân, Tần là nước bốn bề hiểm ải, là những ải nào? Mời chư vị nhìn xem!” Bàng Quyên cầm lấy thanh gỗ sơn đen mà tham tướng đưa lại, chỉ vào sa bàn. “Ải thứ nhất là Hà Thuỷ. Đây là Hà Thuỷ, từ bắc tới nam, từ Hồ Khẩu, Sơn Nam tới Thiếu Lương, lại chảy về nam tới Lâm Tấn quan, lại chảy về nam tới Âm Tấn, từ đây ngoặt sang đông, cuồn cuộn suốt bảy trăm dặm. Phía tây Hà Thuỷ đều là đất của người Tần, phía bắc là Nghĩa Cừ, núi non trùng điệp, thế lực của ta không thể với đến, xứng là một ải. Từ phía đông Âm Tấn tới Hàm Cốc quan, có đường Hàm Cốc dài chừng hai trăm dặm, hai bên đường vách núi dựng đứng, xung quanh không còn con đường nào khác, lại thêm cửa ải Hàm Cốc do người Tần chiếm giữ, xứng là một ải. Từ Hoa Sơn về nam, núi cao trập trùng bất tuyệt, kéo dài đến sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư, có thể thông tới nước Tần, nay cũng thuộc về người Tần, xứng là một ải. Từ vùng sơn cốc Thương Ư về nam, có vài trăm dặm sơn cốc Bao Hán, có thể theo núi Chung Nam vào Tần, song đến một nửa các ấp ở Bao Hán đã bị người Tần chiếm cứ, lại thêm núi Chung Nam hiểm trở dị thường, xứng là một ải. Tần dựa vào bốn cửa ải này, có thể chống lại trăm vạn hùng binh!”

Đây là kiến thức thông thường, thân là tướng lĩnh nam chinh bắc chiến, mọi người đương nhiên đều hiểu rõ. Tuy nhiên, bốn cửa ải của Tần đa phần mới chỉ gặp trong văn từ, hoặc đánh dấu trên bản đồ, hoặc hình dung trong tưởng tượng, nay được Bàng Quyên làm thành sa bàn, bày ra trước mắt sống động như thật, khiến chư tướng không khỏi động phách kinh tâm. Điền Anh ở nước Tề phía đông xa xôi, hiếm khi tiếp xúc với người Tần, lại càng là mồ hôi vã ra đẫm lòng bàn tay.

“Đây là địa lợi!” Bàng Quyên chuyển sang chuyện khác. “Từ sau khi Thương Ưởng biến pháp, nước Tần thế ngày một mạnh, nhân khẩu Quan Trung hưng thịnh, số hộ dân Hà Tây cũng tăng đáng kể. Theo tại hạ được biết, tổng số dân nước Tần có lẽ không ít hơn bốn trăm năm mươi vạn, tráng đinh có thể trưng binh không dưới trăm vạn, đây là nhân hoà.”

Chư tướng đưa mắt nhìn nhau.

Sáu nước hợp sức phạt Tần, tương quan lực lượng chênh lệch cực lớn, song Bàng Quyên lúc này lại đủ kiểu khoa trương mặt mạnh của người Tần, khiến chư tướng chẳng ai hiểu hắn có ý đồ gì.

“Chư vị tướng quân!” Bàng Quyên đột ngột cao giọng, lời lời sang sảng. “Người Tần chỉ thiếu duy nhất một điều, chính là thiên thời. Là trời muốn diệt Tần! Trời muốn diệt Tần, Tần không thể không vong! Nay sáu nước hợp tung, lục quân nghìn nghịt như mây, quân hùng đông đảo như kiến, lại có chư vị tướng quân kinh qua trăm trận, người Tần dù có chiếm được sông trời hiểm trở, sở hữu bốn cửa ải khoá kín, cũng sẽ bị giã nát như bột, nghiền nát như tương dưới vó sắt của chúng ta.”

“Bàng chủ tướng!” Chiêu Dương nhếch mép cười khẩy một tiếng. “Đúng là cũng khoái trá đấy, nói thử xem tướng quân sẽ nghiền nát người Tần như tương bằng cách nào?”

“Chiêu tướng quân chớ vội, muốn chế địch trước hết cần hiểu địch. Tuy Tần có địa lợi, lại kiêm nhân hoà, song cũng có mặt yếu, có thể tổng kết thành năm điều bất lợi.” Thấy mọi ánh mắt đều đổ dồn vào mình, Bàng Quyên lại hơi lớn giọng. “Bất lợi thứ nhất, Tần trước có trận chiến Hà Tây, sau có trận chiến Thương Ư, tuy đều chiến thắng, song quốc lực tổn thương, khiến cho sau đó, phạt Tấn Dương nước Triệu bất lợi, phạt Nghi Dương nước Hàn không thành, không còn dám động binh đao. Bất lợi thứ hai, Tần thất đổi chủ, cung đình nội chiến, Thương Ưởng bị giết, Tần pháp tổn thương, đặc biệt là vùng Hà Tây, Thương Ư vẫn chưa được lòng người, dân chúng đua nhau quay về Hà Đông. Bất lợi thứ ba, Quan Trung hạn hán liền ba năm, sản lượng ngũ cốc giảm một nửa, một vài thành ấp còn xảy ra nạn đói, khiến cung Tần phải mở kho cứu tế. Bất lợi thứ tư, các tộc Tây Nhung bất ổn, Nghĩa Cừ lúc lại quấy nhiễu, tuy Tần có vỗ yên, song khó mà khuất phục được hoàn toàn. Bất lợi thứ năm, Tần mất Thương Ưởng, nước không có đại tài, tuy có Công Tôn Diễn, song cũng không đáng sợ. Còn như Tư Mã Thác, chẳng qua chỉ là kẻ thất phu, hữu dũng vô mưu.”

“Bàng tướng quân nói rất phải!” Điền Anh vòng tay tán đồng.

“Lại nhìn vào chiến lực của nước Tần!” Bàng Quyên tiếp tục chỉ vào sa bàn. “Tuy Tần có vài chục vạn tráng đinh có thể trưng binh, song đa phần là dân binh, không đủ sức xông pha trận mạc, lính thiện chiến không quá ba mươi vạn. Ngoài lính canh giữ các thành ấp và lính trấn thủ vùng biên ải Nghĩa Cừ, Tây Nhung, số quân Tần có thể dùng để đối kháng đội quân vó sắt của ta không tới hai mươi vạn. Ta có hơn bốn mươi vạn quân hợp tung, vài nghìn cỗ chiến xa, toàn bộ là lính thiết giáp từng trải trăm trận chiến. Do vậy, tại hạ cho rằng, lần phạt Tần này, chỉ cần mưu lược thoả đáng, kỳ binh bất ngờ, tại hạ có thể nắm chắc phần thắng.”

“Bàng tướng quân, đừng dài dòng nữa, hãy mau nói ra kế sách lớn của tướng quân!” Chiêu Dương sốt ruột giục giã.

“Tại hạ cho rằng, ta có thể chia quân làm ba lộ. Tả lộ là Sở, xuất quân từ Tương, Uyển, đánh thẳng tới Thương Ư, phá Vũ Quan vào Tần. Hữu lộ là Triệu, Yên, đi qua vùng sơn cốc Phần Thuỷ, từ đất của Nghĩa Cừ tiến về phía tây, vượt qua Hà Thủy, tiến từ bắc xuống nam công phá Hà Tây, tại hạ đã thuyết phục Nghĩa Cừ cho mượn đường. Trung lộ là liên quân ba nước Hàn, Tề, Ngụy, chia quân làm hai đường, một đường đánh thẳng vào ải Hàm Cốc, một đường đánh thẳng tới ải Bồ Bản. Ba lộ đại quân đồng loạt xuất kích, Tần ắt sẽ kéo vạt lộ khuỷu, đầu đuôi không thể tiếp ứng cho nhau.”

Công bằng mà nói, mưu lược chia lộ tấn công của Bàng Quyên vừa hợp lý, lại có thể né tránh được rất nhiều điểm yếu của đại quân sáu nước như binh chủng không thống nhất, sức mạnh chênh lệnh, tướng soái khó phối hợp, có thể xem là thượng sách khả thi.

Chư tướng đang ngẫm nghĩ, Chiêu Dương bỗng cất giọng lạnh tanh: “Mưu này tuy hay, song vô ích với Tần!”

“Ồ?” Bàng Quyên chầm chậm chuyển ánh mắt sang Chiêu Dương. “Chiêu tướng quân hẳn có mưu hay?”

“Xin hỏi chủ tướng, khi giao đấu, bàn tay mạnh hơn hay nắm đấm mạnh hơn?” Chiêu Dương lấy câu hỏi làm đáp án, giơ luôn hai tay ra, một bàn tay xoè rộng, một bàn tay nắm quyền.

“Tướng quân xin cứ nói thẳng!”

“Chúng ta sáu nước hợp tung, là để hình thành hợp lực, dùng thế mạnh trấn áp kẻ thù. Thế nên hợp, không nên phân. Như tướng quân vừa nói, Tần có bốn cửa ải kiên cố, nếu ta phân tán binh lực, e là một ải cũng không thể phá. Nếu ta hợp quân một chỗ, dù có là thành đồng vách sắt, cũng có thể nghiền thành cám vụn.”

Chiêu Dương nói ra lời này, là xuất phát từ tư lợi. Nếu theo mưu kế của Bàng Quyên, quân Sở sẽ phải đơn độc đánh vào vùng sơn cốc Thương Ư, chính là cùng chung phương hướng với mưu kế của Khuất Vũ. Quan trọng hơn cả, đó là Chiêu Dương hầu như mù tịt về vùng sơn cốc Thương Ư. Nếu như để một mình quân Sở đánh vào Thương Ư, đồng nghĩa với việc ông ta buộc phải hai tay dâng quyền chủ trì phạt Tần cho dòng họ Khuất, từ đó lỡ mất cơ hội một mình lập công diệt Tần. Còn nếu như quân hợp tung chọc thủng Hàm Cốc, chiếm được Hàm Dương, Thương Ư tự khắc không đánh mà tự phá, với tay là lấy được. Lúc đó, nếu tính công lao, sẽ không có chỗ cho họ Khuất.

Bàng Quyên chau tít đôi mày, đưa mắt về phía Điền Anh và Công Trọng.

Điền Anh hùa theo Chiêu Dương: “Phải, lời Chiêu tướng quân rất chí lý, tại hạ tán thành!”

Công Trọng khi còn là tướng dưới cờ Thân Bất Hại đã từng giao chiến với Chiêu Dương, vốn chẳng kiêng nể gì ông ta, lần này lại phụng ý chỉ của Chiêu Hầu, dốc lòng trợ giúp Bàng Quyên, nên càng không coi Chiêu Dương ra gì, liếc xéo ông ta một cái, rồi vòng tay về phía Bàng Quyên, dõng dạc nói: “Tại hạ tán thành sách lược chia quân tấn công của Bàng tướng quân!”

Bàng Quyên nhìn hắn gật đầu, rồi quay sang Tử Chi và Lý Nghĩa Phu: “Chiêu tướng quân chủ trương hợp binh một chỗ, tấn công Hàm Cốc, ý kiến của hai vị tướng quân thế nào?”

Hai người cùng vòng tay đồng thanh: “Xin nghe theo mệnh lệnh của chủ tướng!”

Bàng Quyên đáp lễ, rồi quay sang Chiêu Dương khẽ vòng tay, cất giọng ôn tồn: “Chiêu tướng quân, tại hạ cho rằng, đường Hàm Cốc hiểm trở chật hẹp, phía trước cửa ải, người Tần lại xây dựng rất nhiều thành hai bên đường, dễ phòng khó đánh, vừa bất lợi cho quân ta triển khai binh lực, lại vừa khó phát huy ưu thế số lượng. Tại hạ nói thẳng, xin Chiêu tướng quân nghĩ kỹ.”

Chiêu Dương cũng vòng tay, mỉm cười nói: “Tướng quân giỏi giao chiến nơi đồng rộng, song chưa hẳn đã giỏi công thành phá luỹ. Không giấu tướng quân, trong doanh trại của tại hạ có một tay thợ giỏi, khéo chế tạo xe mây. Loại xe này cao khoảng vài trượng, xung quanh bọc giáp, phía dưới lắp nhiều bánh, có thể di chuyến dễ dàng. Mỗi xe chở được mười người, trên có lỗ bắn tên. Một khi đã nâng lên, dù thành lũy cao lớn đến đâu cũng giống như đất bằng. Chỉ cần đột phá được cửa ải này, tuy phía sau ải còn hai trăm dặm đường khe núi, song ta và địch lại cùng phải đi chung, phía ta quân khoẻ lương nhiều, gặp ải đánh ải, gặp lũy phá lũy, có gì phải sợ?”

Thấy ông ta cố chấp như vậy, Bàng Quyên từ từ chau tít đôi mày, ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi gật đầu đáp: “Cũng được! Nếu Chiêu tướng quân đã có vũ khí đánh thành hiệu quả, tại hạ đồng ý hợp quân một chỗ, quyết chiến với Tần trước ải Hàm Cốc!” Quay sang chư tướng. “Chư vị còn có ý kiến khác chăng?”

Công Trọng khẽ mấp máy môi, song thấy những người khác không nói năng gì, lại ngậm miệng như cũ.

“Được, đã không có ý kiến khác, chư vị tướng quân nghe lệnh!” Bàng Quyên thu thần tụ khí, lớn giọng thực thi uy quyền chủ tướng.

“Xin lắng nghe mệnh lệnh của đại tướng quân!” Chư tướng đồng thanh đáp.

“Một tháng sau, cùng dẫn binh mã bản bộ tiến về Hào Quan, hội quân phạt Tần!”

Chư tướng nhận lệnh lui ra.

Bàng Quyên giữ lại Chiêu Dương, Điền Anh, lần lượt tạ lỗi về chuyện Hình Sơn, Hoàng Trì, đồng thời hứa rằng, Ngụy Vương đã có chỉ, chỉ cần phạt Tần thành công, Ngụy sẽ trả lại Hình Sơn cho Sở, không nhúng tay vào chuyện nước Tống của Tề.

Nước Tống là chỗ ngứa của Tề, Hình Sơn là nỗi đau của Sở, hai người nghe Bàng Quyên hứa hẹn như vậy, lấy làm phấn chấn. Đặc biệt là Chiêu Dương, vốn dĩ có ít nhiều thành kiến với Bàng Quyên, giờ đây oán hận cũ bỗng tiêu tan hết sạch, tay bắt mặt mừng, vô cùng hỉ hả! Trước khi từ biệt, Bàng Quyên năm lần bảy lượt dặn ông ta mau chóng chế tạo xe mây. Chiêu Dương luôn miệng đồng ý, hoan hỷ lên xe cáo từ.

Hai người vừa rời khỏi doanh trại, Trương Mãnh liền cấp tốc bước vào, lớn giọng bẩm báo: “Bàng tướng quân! Mưu kế này của Chiêu Dương là hạ hạ sách, tướng quân không những không phản đối, lại còn chấp nhận, thực sự khiến mạt tướng không hiểu!”

Bàng Quyên cười lớn mà nói: “Tướng quân thực sự nghĩ như vậy ư?”

“Nghĩ như vậy không chỉ có mình mạt tướng!”

“Ồ? Còn có ai nữa?”

“Công Trọng tướng quân. Công Trọng tướng quân trước lúc ra về, có dặn đi dặn lại mạt tướng chuyển lời giúp. Công Trọng tướng quân nói, quân của liệt quốc nên phân không nên hợp. Nếu ta xuất kích từ bốn phía, thứ nhất có thể phát huy ưu thế người đông thế lớn, thứ hai có thể phân tán sức phòng ngự của người Tần. Quân đội đông đảo đến vậy hợp lại một chỗ, sáu quân khác nào một quân, hợp tung như thế, thà chẳng hợp còn hơn!”

“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài một tiếng. “Người cùng suy nghĩ với ta, chỉ có Công Trọng tướng quân!”

“Nhưng tướng quân lại…”

“Trương tướng quân, mưu này đã không thể, cũng chưa hẳn đã không thể.”

“Ồ…”

Bàng Quyên dẫn Trương Mãnh tới trước sa bàn, chỉ vào sa bàn mà nói: “Tướng quân hãy nhìn xem, từ Thằng Trì tới Thiểm Tây, lại tới Khúc Ốc, dài hơn trăm dặm, trừ đi vài chục dặm Hào Quan, còn lại đều là vách dốc thoai thoải, thung lũng rộng rãi, thuận lợi cho quân liệt quốc đóng quân hạ trại. Ngược lại, hãy nhìn phía người Tần, từ ải Hàm Cốc tới Âm Tấn, đường nhỏ khe hẹp, bất lợi cho đại binh hành quân, không thuận lợi cho chi viện phía sau. Sáu cánh quân của ta tề tựu ở đây, lại có xe mây đánh thành của Sở, Tần tất kinh hãi, buộc phải tử thủ Hàm Cốc. Sơn cốc chật hẹp mà người đông đảo, phòng bị phía sau không thể chu toàn. Lúc này, tướng quân dẫn một cánh kỳ binh, từ chỗ này…” chỉ vào dòng Hà Thuỷ phía bắc Âm Tấn, “chính là Phong Lăng, bí mật vượt Hà Thuỷ, đột kích chiếm lấy Âm Tấn.”

Trương Mãnh ngẫm nghĩ một lát, gật đầu khen ngợi: “Đúng là kỳ mưu! Nếu ta vượt Hà Thuỷ thành công, đừng nói là đột kích chiếm Âm Tấn, cho dù chỉ chặn đứng nơi này, dựng luỹ hai bên, đã có thể cắt đứt tuyến đường thông tới đường Hàm Cốc, khiến quân giữ Hàm Cốc phía trước có đại quân, phía sau không lối thoát, hãm vào tuyệt lộ.”

“Không! Không phải!” Bàng Quyên quả quyết cắt lời. “Nhất định phải đột kích chiếm lấy Âm Tấn! Chỉ có chiếm được Âm Tấn, mới coi như khống chế được đường Hàm Cốc trong tay. Khống chế được đường Hàm Cốc trong tay, thì nghìn dặm Tần Xuyên sẽ không còn nơi nào hiểm yếu để trấn giữ. Dựa vào sức của người Tần, làm sao chống chọi nổi liên quân sáu nước của ta?”

“Tướng quân nói rất phải! Có điều, mạt tướng vẫn còn một mối lo ngại.”

“Xin cứ nói!”

“Công Tôn Diễn túc trí đa mưu, đặc biệt thông thạo Hà Tây. Mạt tướng năm xưa từng qua lại với hắn, hiểu rõ con người này. Mưu của tướng quân, Công Tôn Diễn ắt đã có đề phòng. Hơn nữa, Hà Thuỷ khó vượt, kế này quan trọng ở xuất thần, ở bí mật, chỉ cần người Tần có chút ít đề phòng, thì quân vượt sông của ta sẽ rơi vào nguy khốn.”

“Kẻ này đúng là cũng có chút bản lĩnh!” Bàng Quyên nhìn sa bàn một lát, cười khẩy mà nói. “Tuy có bản lĩnh, song phương lược lại cũ kỹ sáo mòn. Tại hạ nhiều lần suy ngẫm về cuộc đại chiến năm xưa, thấy kế của Công Tôn Diễn chẳng qua chỉ là vài trò thủ thắng kém cỏi. Song lúc đó Ngụy mạnh Tần yếu, dù chỉ là vài trò kém cỏi, cũng đủ để giữ vững Hà Tây. Đáng tiếc là bệ hạ đầu óc mụ mị, đến điều này cũng không chịu nghe, nên mới tặng không Hà Tây cho địch.”

Trương Mãnh thán phục mà nói: “Tướng quân nói rất phải! Nhớ lại trận đại chiến năm đó, mạt tướng vẫn thấy uất hận trong lòng.”

“Có điều, người này cũng không thể không đề phòng. Để đảm bảo chắc chắn, ta có thể bày thêm một chỗ nghi binh tại đây, chính là tuyến Phần Âm, đóng trại kết bè men theo Hà Thuỷ, giương cờ gióng trống, ắt có thể lừa gạt người Tần.”

“Như vậy tuyệt hay!”

“Công Tôn Diễn tuy không đáng sợ, song có một người khác lại khiến tại hạ lo lắng.”

“Ai vậy?”

“Tôn Tẫn!”

“Người này… chẳng phải bị điên rồi ư? Nghe nói đã nhảy sông chết rồi kia mà!”

“Người này không hề nhảy sông, mà bị người Tần cướp mất!”

“Ý tướng quân là, Tôn Tẫn đang ở Tần?” Trương Mãnh vô cùng kinh ngạc.

“Đúng vậy!” Bàng Quyên trịnh trọng gật đầu. “Công tử Hoa đóng giả thương nhân Nhung Địch, sống ẩn dật ở Đại Lương suốt một thời gian dài, nhân lúc ta không đề phòng, đã cướp mất người này. Tại hạ hay tin đuổi theo tới tận biên ải, không ngờ công tử Hoa lại giở kế trộm xà đổi cột mà đạt được âm mưu.”

“Mạt tướng cũng có ít nhiều tai mắt ở Tần, song chưa từng nghe nói tới chuyện Tôn Tẫn tới Tần.”

“Đúng vậy! Tại hạ cũng từng sai người đi dò la, đến nay vẫn chưa điều tra được gì. Chung sống vài năm trong Quỷ Cốc, tại hạ hiểu rõ kẻ này quỷ kế đa đoan, trong ngoài bất nhất. Lần này tới Tần, chưa tới thời khắc then chốt thì hắn dứt khoát không xuất đầu lộ diện.”

“Tướng quân hẳn đã có kế ứng phó?”

“Hừm!” Bàng Quyên nhún vai, cười nhạt một tiếng. “Một kẻ điên như hắn thì làm gì nổi ta? Hơn nữa, dù hắn không điên, tại hạ và hắn đơn binh độc chiến, tại hạ cũng chưa hẳn đã sợ hắn. Huống hồ hiện tại sáu phạt một, dù hắn có bản lĩnh bằng trời, chẳng qua cũng chỉ là châu chấu đá xe mà thôi!”

“Tướng quân nói rất phải!” Trương Mãnh cũng cười lớn.

***

Cách Lỗ Quan ở phía bắc Phương Thành nước Sở không xa, có một dãy núi dài trập trùng bất tận, tên gọi Nghiêu Sơn. Tương truyền núi này là quê cũ của thánh vương Đế Nghiêu tộc Hoa Hạ thời viễn cổ, đỉnh núi chót vót chọc trời, đá tảng lởm chởm, cây cối rậm rạp, thác đổ suối tuôn, suối nước nóng dày đặc, chim lạ thú hiếm nhiều không kể xiết, quả là thắng địa vùng Hoa Hạ.

Sâu thẳm trong núi Nghiêu Sơn có một chốn non nước thần tiên, là nơi chào đời và mai táng của nhất đại tông sư Mặc Địch. Tại nơi chôn cất cự tử Mặc Địch, đệ tử Mặc gia đã dựng lên vài chục nếp nhà đơn sơ dựa bên núi đá, gọi là đại doanh Mặc gia. Một năm bốn mùa, đệ tử Mặc gia cũ có, mới có đều quần tụ về đây để tưởng nhớ tới tiên sư, tu luyện Mặc đạo, củng cố ý chí.

Đại doanh Mặc gia được xây dựng bởi một tay cự tử đời thứ tư của Mặc gia là Tuỳ Sào Tử. Chính giữa là một gian thảo đường rộng lớn, tuy thô sơ song kiên cố, kết cấu gỗ tre, mái lợp cỏ tranh, sáng sủa thông thoáng, chứa được đến trăm người.

Từ ngày Quỷ Cốc Tử đồng ý thu nhận đệ tử, Tuỳ Sào Tử như trút được gánh nặng trong lòng. Có lẽ đã có điều đốn ngộ, hoặc có lẽ cảm thấy sức khoẻ không còn được như trước, không chừng sắp đến lúc gần đất xa trời, nên sau khi giải quyết xong một số việc gấp, Tuỳ Sào Tử thay đổi phong cách hành sự đích thân gánh vác của Mặc gia, lặng lẽ trở về Nghiêu Sơn, kết cỏ dựng nhà trước mộ tiên sư, chuyên tâm trước thuật, hiếm khi ra ngoài. Mặc giả các nơi hay tin cự tử ở đây, đua nhau kéo đến, dần dần dựng nên cả một khu nhà. Tuỳ Sào Tử cũng thuận thế đẩy thuyền, một mặt ở đây tu thân dưỡng tính, chỉnh lý những điều tâm đắc, mặt khác chỉ dạy cho các Mặc giả hậu sinh, gián tiếp quản lý những sự vụ của Mặc gia trong thiên hạ.

Nhiều năm bôn ba đã vắt kiệt cơ thể của Tuỳ Sào Tử. Đặc biệt là sau lúc vào thu, sinh mệnh của ông chẳng khác gì ngọn đèn tàn chập chờn trong gió núi, có thể tắt phụt bất cứ lúc nào.

Chập tối hôm nay, những Mặc giả thân cận của Tuỳ Sào Tử đều hiểu rõ, thời khắc vĩnh biệt đã tới gần. Mọi người lặng lẽ hầu bên cạnh Tuỳ Sào Tử, và còn nhiều người hơn nữa vẫn đang ngày đêm vượt đường, từ bốn phương tám hướng gấp rút trở về.

Không khí trong thảo đường rất đỗi trang nghiêm. Tuỳ Sào Tử nằm nghiêng trên giường gỗ kê sát bức tường chính của thảo đường, sắc mặt võ vàng như sáp. Trước giường đặt một bát thuốc, còn phân nửa nước thuốc đen quánh, đã nguội ngắt.

Trước mặt ông, Hồ Phi Tử, Cáo Tử ngồi trên tấm chiếu cỏ đã hơi sờn rách, sắc mặt trầm trọng. Phía sau hai người là Tống Kiển, Khuất Tương Tử và hơn trăm người khác, đa phần là Mặc giả đời thứ hai, đời thứ ba, thậm chí đời thứ tư, thứ năm, tất cả đều ngồi theo đúng thứ tự vai vế.

Trước cửa thảo đường, liên tục có thêm Mặc giả đi vào. Giống như những người đến trước, sau khi vào thảo đường, họ lặng lẽ ngồi vào vị trí đúng với cấp bậc của mình.

Trong giây phút hấp hối, Tuỳ Sào Tử gắng gượng ngồi dậy. Nhìn chư Mặc giả cũ mới từ khắp nẻo kéo về, trên mặt ông hiện một nét cười, đưa ánh mắt nhân từ nhìn khắp lượt trong phòng, dừng lại trên mặt từng người một, tựa như muốn khắc sâu hình bóng họ vào tâm khảm.

“Chư vị không ngại vất vả, từ bốn phương tám hướng trở về đây thăm lão hủ…” Tuỳ Sào Tử khó nhọc vòng hai tay, “lão hủ…” ho khẽ hai tiếng, “lão hủ vô cùng cảm tạ!”

Mọi người liền chuyển từ ngồi sang quỳ, khấu đầu, đồng thanh nói: “Đệ tử Mặc gia tham kiến cự tử, chúc cự tử quý thể sớm ngày bình phục!”

Tuỳ Sào Tử khẽ xua tay, cười gượng một tiếng: “Cái thân hèn của lão hủ đây đã sắp nhập quan tài, còn có gì đáng quý nữa? Chư vị huynh đệ, chư vị tỷ muội, mọi người đều là người của Mặc gia, chớ nên nói những lời nghi thức sáo rỗng như vậy. Ngồi đi!”

“Xin tuân lệnh!” Đám Mặc giả lại chuyển từ quỳ sang ngồi, vòng tay lần nữa.

“Lão hủ cho triệu chư vị tới,” Tuỳ Sào Tử lại xua tay, “chủ yếu là có ba việc. Thứ nhất là việc riêng của lão hủ, thứ hai là việc nhà của Mặc đạo, thứ ba là việc công của thiên hạ.”

Chư Mặc giả hiểu rằng cự tử sắp giao phó đại sự, ai nấy thần thái nghiêm trang, tất cả mọi ánh mắt đều tập trung vào Tuỳ Sào Tử.

Thảo đường lặng im phăng phắc.

“Việc thứ nhất,” Tuỳ Sào Tử mỉm cười, nhìn khắp lượt đệ tử, “lão hủ rất đỗi tưởng nhớ chư vị, trước khi ra đi vẫn tham tiếc muốn nhìn thấy chư vị, muốn gặp mặt chư vị lần cuối. Chư vị đã tới, nguyện vọng này của lão hủ đã được như ý. Tiếp theo là việc thứ hai.”

Đám đông đồng loạt vòng tay, lệ trào trong mắt.

Tuỳ Sào Tử chậm rãi nói tiếp: “Từ lúc tiên sư khai sáng Mặc đạo, Mặc gia tới nay đã lập thế trăm năm. Người theo Mặc đạo ban đầu chỉ lác đác mấy người, tới nay đã lên tới vài nghìn, phân bố khắp liệt quốc, có thể nói người sau tiếp bước người trước, đời nào cũng có hào kiệt. Cho tới hiện nay, Mặc đạo lưu hành trong thiên hạ, đến phụ nữ trẻ em đều biết, có thể sánh ngang với cái học Khổng Nho, song hành cùng cái học Hoàng Lão, sự nghiệp đang lên phơi phới. Lão hủ bất tài, may được tiên cự tử Mạnh Thắng yêu mến, được chư vị Mặc giả ủng hộ, đã giữ vị trí cự tử hơn ba mươi năm, trong khoảng thời gian này, tuy không lập nên thành tựu gì, song cũng thận trọng tận tuy, không dám một ngày biếng nhác. Gần đây lão hủ thấy trí cạn lực kiệt, không thể bôn ba được nữa, không nên tiếp tục ngồi lì ở vị trí này, vốn đã sớm có ý chọn người hiền để tiếp tục giương cờ Mặc đạo, tiếc thay trời không chiều lòng người, nên mới lề mề cho tới tận ngày nay. Hôm nay trời yên gió lặng, thời tiết tốt lành, Mặc giả từ muôn nẻo đường tề tựu về đây, lão hủ không dám lại bỏ lỡ thời cơ, quyết định lập tức tiến cử cự tử mới, để cự tử mới lãnh đạo chư hiền, tiếp tục đại nghiệp Mặc đạo. Sau khi bàn bạc cùng chư lão, lão hủ tiến cử cự tử mới là…” ánh mắt sắc sảo như lưỡi kiếm chiếu thẳng vào Cáo Tử, “Cáo Bất Hại!”

Không ai kinh ngạc.

Cáo Tử tên là Bất Hại, người Tức Mặc nước Tề, từ nhỏ đã đi theo tiên cự tử, về lý mà nói là cùng vai vế với Tuỳ Sào Tử, Hồ Phi Tử, song do ít tuổi hơn rất nhiều, nên khiêm tốn tự lùi một bậc, coi mình là đệ tử của Tuỳ Sào Tử, Hồ Phi Tử. Thế hệ đệ tử đầu tiên của Mặc gia đa phần đã qua đời, trong số những bậc lão bối còn sống có Tương Lý Tử, Tương Phu Tử, Đặng Lăng Tử đều đã tuổi xế bóng chiều giống như Tuỳ Sào Tử, do đường sá xa xôi còn chưa tới kịp. Hồ Phi Tử tuy đã có mặt, song tuổi cao sức yếu, bệnh tật đầy mình, không kham nổi trọng trách. Duy có Cáo Tử vẫn còn khoẻ mạnh, học vấn uyên thâm, lại có được căn cơ của Mặc đạo. Để Cáo Tử đảm nhiệm chức cự tử, vừa không nằm ngoài dự đoán, cũng là mong muốn của mọi người.

Song Cáo Tử lại lo lắng hoang mang, quỳ xuống khóc mà nói: “Cự tử, đệ tử…”

Tuỳ Sào Tử đưa tay chỉ vào vị trí chủ trước giường, nói: “Bất Hại, lại đây, hãy ngồi vào đây!”

Cáo Tử nhích lên vài bước, ngồi vào vị trí chủ trước giường.

Mọi người, gồm cả Hồ Phi Tử, thấy Cáo Tử đã ngồi yên vị, nhất loạt đổi từ ngồi sang quỳ, đồng thanh khấu đầu hô: “Tham kiến tự cử!”

Mặc gia không giống Nho gia, không có nghi lễ rườm rà, tất cả quỳ bái coi như đã thừa nhận cự tử mới.

Hồ Phi Tử sắc mặt nghiêm trang, cũng vòng tay nói: “Mặc giả Hồ Phi tham kiến cự tử, xin lắng nghe lời sai bảo của cự tử!”

Cáo Tử mắt lệ rưng rưng, đỡ Hồ Phi Tử ngồi xuống, lại vái ông một vái, sau đó quay trở về ngồi xuống trước giường Tuỳ Sào Tử, quỳ xuống hướng vào Tuỳ Sào Tử.

Tuỳ Sào Tử đưa tay nắm chặt lấy tay Cáo Tử, bàn tay già nua hơi run rẩy: “Bất Hại, kể từ hôm nay, lão hủ sẽ giao phó lại cho con cục diện thiên hạ rối loạn này.”

“Cự tử!” Cáo Tử nắm chặt tay Tuỳ Sào Tử, giọng nói nghẹn ngào, nước mắt tuôn rơi. “Đệ tử đức mỏng lực yếu, sợ rằng sẽ phụ lời uỷ thác của cự tử!”

Tuỳ Sào Tử khó nhọc xua tay: “Không nói tới chuyện này nữa!” Đoạn phẩy tay về phía đám đông. “Chư vị Mặc giả, tiếp theo, lão hủ xin được nói tới việc thứ ba, là việc công của thiên hạ!” Ho húng hắng vài tiếng, lại quay sang Cáo Tử. “Con là cự tử mới, việc này sẽ do con chủ trì.”

“Xin tuân mệnh!” Cáo Tử không từ chối nữa, liền gạt nước mắt, lùi lại hai bước, lạy Tuỳ Sào Tử liền ba lạy, rồi đổi sang ngồi, cất giọng rành rọt. “Bẩm cự tử, cục thế trước mắt, đại sự thiên hạ đang ở Hàm Cốc. Quân hợp tung sáu nước gần bốn mươi vạn tập trung bên ngoài cửa ải, thế muốn phạt Tần. Tần không chịu nhịn, dốc hết sức mạnh toàn quốc ứng chiến. Cuộc đại chiến đã sắp bùng nổ, không thể vãn hồi!”

Cục thế ngoài núi giống như mưa bão sầm sập tới gần, điều này ai ai cũng rõ. Tuy vậy, khi nghe thấy những lời chậm rãi của Cáo Tử, không khí trong thảo đường vẫn trở nên trầm trọng, tựa như có tảng đá nặng nghìn cân đè trĩu trong tâm khảm mọi người.

Song Cáo Tử vẫn thấy chưa đủ, dừng lại một lát, lại khắc khoải thêm vào một câu: “Nếu quân hợp tung khai chiến, binh lực bảy nước có lẽ hơn bảy mươi vạn, quy mô chưa từng có xưa nay, thiên hạ ắt phải chịu cảnh sinh linh đồ thán, máu chảy trôi chày!” Rồi ngẩng đầu nhìn Tuỳ Sào Tử. “Ứng phó thế nào, đệ tử cầu xin cự tử chỉ giáo.”

Tuỳ Sào Tử khó nhọc nở một nụ cười với Cáo Tử, rồi từ từ khép hai mắt lại, thều thào gọi: “Tống Kiển, lại đây…”

Tống Kiển tiến lại, gọi khẽ: “Cự tử!”

“Đỡ… đỡ ta… nằm xuống. “

Tống Kiển đỡ Tuỳ Sào Tử nằm xuống, kê gối gỗ dưới đầu ông, rồi phủ phục bên giường.

Thấy Tuỳ Sào Tử đã nhắm nghiền hai mắt, Cáo Tử hiểu rằng, toàn bộ gánh nặng đã đặt trọn lên vai mình, không thể nhờ vào ai khác, bất giác trong lòng run rẩy, quay đầu nhìn sang Hồ Phi Tử.

Hồ Phi Tử chau tít đôi mày, lặng yên bất động, hệt như một pho tượng đất.

Cáo Tử nhắm mắt ngưng thần, sau một hồi trấn tĩnh, lại mở mắt ra, quay về phía chư Mặc giả, vái sâu một vái, cất giọng thề rằng: “Chư vị Mặc giả! Được cự tử yêu lầm, được chư vị thiên vị, Bất Hại xin tạm thời giữ ngôi cự tử. Từ thời khắc này, Bất Hại thề chung một đường với chư vị hiền đạt, dốc kiệt sức lực, sẵn sàng lao vào dầu sôi lửa bỏng vì Mặc đạo lưu hành, thiên hạ đại đồng, trăm họ an cư, có chết cũng không lùi bước!”

Đám đông Mặc giả đều đứng dậy cùng thề: “Chúng tôi nguyện theo cự tử, sẵn sàng lao vào dâu sôi lửa bỏng vì Mặc đạo lưu hành, thiên hạ đại đồng, trăm họ an cư, có chết cũng không lùi bước!”

Cáo Tử lại vòng tay nói: “Chư vị hiền đạt, thiên hạ khói lửa lại khởi lên, đại chiến sắp bùng phát, Bất Hại tài kém, mong chư vị chỉ giáo diệu kế ứng phó.”

Chư Mặc giả liền nhao nhao tỏ ý, thảo luận ồn ào, nhưng bàn bạc hết một tuần hương, Cáo Tử thấy vẫn chưa ai đưa ra được kế sách thiết thực khả thi, lại sợ làm phiền tới việc nghỉ ngơi của Tuỳ Sào Tử, nên đề nghị ngày mai bàn tiếp.

Chư Mặc gia lũ lượt kéo nhau về, trong phòng chỉ còn lại Hồ Phi Tử, Khuất Tương Tử, Tống Kiển và Cáo Tử. Khuất Tương Tử là đệ tử đầu tiên của Hồ Phi Tử, còn Tống Kiển đã nhiều năm theo Tuỳ Sào Tử, hai người đều là nhân vật chủ chốt trong lớp đệ tử thứ hai của Mặc gia.

Trải qua sự gắng gỏi vừa rồi, Tuỳ Sào Tử dường như đã sức cùng lực kiệt, mặt vàng như nghệ, trên trán lấm tấm những giọt mồ hôi to bằng hạt đậu, đưa tay nắm chặt lấy tay Tống Kiển, rõ ràng đang cố gắng chịu đựng điều gì đó.

Hồ Phi Tử vội bước lên trước, đưa tay bắt mạch Tuỳ Sào Tử, khẽ gọi: “Tuỳ Sào huynh!”

Tuỳ Sào Tử khẽ mở mắt, nắm lấy bàn tay nhăn nheo của Hồ Phi Tử, gượng cười một tiếng: “Hồ Phi huynh…”

Ba người Cáo Tử, Khuất Tương Tử và Tống Kiển đều quỳ xuống, khóc mà gọi: “Cự tử…”

Tuỳ Sào Tử khẽ thở dài một tiếng, không nói thêm lời nào. Im lặng hồi lâu, đợi thần sắc hồi phục đôi chút, mới nhìn vào khuôn mặt râu ria lởm chởm của Khuất Tương Tử, tiếp tục cất lời: “Khuất Tương, đệ tử Phi Đao của con có tin tức gì không?”

Khuất Tương Tử vòng tay đáp lời: “Bẩm cự tử, hắn vẫn luôn theo sát Tô Tử, chưa hề rời xa nửa bước.”

“Công phu của hắn hẳn đã tiến bộ?”

“Rất tiến bộ, đặc biệt là tài nghệ phi đao đã đạt tới độ xuất thần nhập hoá!”

“Tốt lắm!” Tuỳ Sào Tử nở một nụ cười. “Người này trung dũng, lòng dạ thực thà thuần hậu, rất có triển vọng. Võ công của hắn đã là thượng thừa trong số Mặc giả, giờ lại tiến bộ hơn nữa, thực đáng mừng. Con hãy chuyển lời tới hắn, sự an nguy của Tô Tử, lão hủ giao cả cho hắn!” Quay sang Cáo Tử. “Tôn Tẫn có tin tức gì không?”

“Hồi bẩm cự tử!” Cáo Tử đáp lời. “Tôn Tử đã được cứu thoát. Tô Tử sắp xếp Thuần Vu Tử cứu Tôn Tử tới Tề, ẩn mình trong phủ thượng tướng quân Điền Kỵ.”

Tuỳ Sào Tử thở phào một tiếng: “Đến Tề thì tốt rồi! Người này một ngày chưa rời khỏi Đại Lương, lão hủ một ngày không thể yên tâm.”

Tống Kiển nói xen vào: “Đệ tử có một thắc mắc.”

“Nói đi!” Tuỳ Sào Tử mỉm cười.

“Quỷ Cốc tiên sinh đã có lòng cứu vớt thiên hạ, thu nhận Tô Tần, Tôn Tẫn là được rồi, vì cớ gì còn thu nạp cả Bàng Quyên và Trương Nghi? Có hai kẻ đó, đặc biệt là Bàng Quyên kia, thiên hạ không loạn mới lạ!”

“Nước cờ của Quỷ Cốc Tử rất sâu xa, nhãn lực của các con sao có thể nhìn thấu?”

“Đệ tử dám hỏi, sâu xa ở chỗ nào?” Tống Kiển vẫn không chịu thôi.

Nhớ lại năm xưa Quỷ Cốc Tử từng nói đến đạo lý dao sắc cắt độc, Tuỳ Sào Tử thở dài một tiếng: “Than ôi, sâu xa tới mức thầy đây cũng không nhìn được rõ!” Quay sang Cáo Tử. “Lão hủ bận rộn cả đời, song chiến loạn trong thiên hạ không những không thể dẹp yên một mảy, mà ngược lại ngày càng kịch liệt. Mấy năm gần đây, lão hủ sức khoẻ suy sụp, ở trong sơn cốc thâm u này tạm giữ chút hơi tàn, mới có thời gian suy nghĩ lại những chuyện đã qua. Mặc đạo sở dĩ chưa thể thịnh hành trong thiên hạ, không phải là lỗi của Mặc đạo. Lão Tử của Đạo gia từng nói, ‘đại đạo mất mới có nhân nghĩa, trí tuệ sinh mới có gian trá lớn, lục thân bất hoà mới có người hiền thảo, đất nước hỗn loạn mới có trung thần’.(1) Ngày nay thiên hạ thất đạo, càng ngày càng loạn, càng loạn càng cần Mặc đạo chúng ta. Còn việc chúng ta khổ cầu mà chưa có kết quả, không phải vì Mặc đạo không thông, mà là thuốc không đúng bệnh. Sau chuyến đi tới Quỷ Cốc, lão hủ có đôi điều cảm ngộ. Quỷ Cốc Tử không ngại gian lao, chỉ trong vài năm ngắn ngủi đã dạy dỗ nên đại tài thiên hạ là Tô Tần, Tôn Tẫn, uy phục liệt quốc, thực khiến lão hủ lấy làm hổ thẹn. Đệ trị loạn tượng hiện nay, Tô Tử đã đưa ra sách lược hợp tung liệt quốc, quả là diệu kế! Các con phải dốc hết sức lực, trợ giúp Tô Tần, thúc đẩy thiên hạ hợp tung.”

“Đệ tử kính cẩn ghi nhớ!”

“Chiến sự trước mắt, ngoại trừ, Tô Tử không ai có thể hoá giải. Lão hủ quan sát liệt quốc, thấy tuy đã hợp tung, song mỗi nước lại có chí riêng, không cùng một đường với Tô Tử. Mục đích của hợp tung là trừ bỏ Tần, người Tần đương nhiên cũng không cam chịu, có lẽ sẽ hãm hại Tô Tử. Tô Tử gánh nặng đường xa, không thể không phòng bị.” Nói tới đây, Tuỳ Sào Tử quay sang Khuất Tương Tử. “Khuất Tương, trong chư Mặc giả, nói về võ công và nghĩa hiệp, không ai sánh bằng con. Hai thấy trò con, trò ở chỗ sáng, thầy ẩn chỗ tối, phò tá Tô Tử, trợ giúp hắn hoàn thành nghiệp lớn của thiên hạ!”

Khuất Tương Tử vòng tay đáp lời: “Đệ tử tuân lệnh!”

“Chư vị hiền đạt!” Tuỳ Sào Tử nhìn lần lượt từng người, rồi dừng lại ở Cáo Tử. “Bất luận Tô Tử có thành công hay không, Mặc đạo cũng phải phát dương quang đại, Mặc đạo cũng nhất thiết phải phát dương quang đại. Mà muốn phát dương Mặc đạo, cần phải có đại tài trong thiên hạ. Tắc Hạ nước Tề hội tụ sĩ tử học vấn uyên thâm trong liệt quốc, có lẽ sẽ tìm được đại tài ở đấy. Cáo Tử, con hãy phái người tới Tắc Hạ, chọn lựa đại tài để làm rạng danh Mặc đạo ta.”

“Đệ tử tuân mệnh!”

Sau khi đã bàn giao nhiệm vụ cho cự tử mới, Tuỳ Sào Tử vẫn gượng trụ thêm được ba ngày nữa, tới ngày thứ tư, vào lúc chính Ngọ đã trút hơi thở cuối cùng trên giường gỗ tại thảo đường trong sự tiễn đưa lặng lẽ của gần trăm vị Mặc giả.

***

Ngay sau ngày tiên cự tử tạ thế, Cầm miếu ở bờ đông Y Thuỷ thôn Hiên Lý, Lạc Dương cũng được khánh thành. So với từ đường, mộ địa, phủ viện của Tô gia mà công tử Ngang đã hưng công rầm rộ xây dựng trước đó, Cầm miếu tường đất, mái cỏ, không có tường bao, từ xa nhìn vào giống như túp lều ẩn dật trong núi, thấp lè tè, đơn độc sơ sài. Không phải công tử Ngang tiếc tiền bạc gì, mà là Tô Tần khăng khăng muốn làm như vậy, nói rằng cầm sư không cần nhà cao cửa rộng, chỉ cần một gian nhà cỏ để chắn gió che mưa.

Vào lễ khánh thành, Chu Hiển Vương đích thân tế lễ, tự tay treo bức chân dung của vương hậu tại chính đường, đối diện với tượng cầm sư. Cầm sư ngồi dưới đất nhập tâm quên mình, vương hậu ngự trên tường mê mẩn như say, quả là cảnh tượng tri âm gặp gỡ, người đàn hoà hợp.

Chu Hiển Vương bày đồ cúng, ngồi bên cạnh nhìn ngắm một lát thì bật khóc nức nở. Tô Tần cũng khóc theo. Những người có mặt thảy đều nhỏ lệ.

Tuy nhiên, người khóc thương tâm nhất, tiếng khóc vang vọng nhất trong đám lại không phải là Tô Tần, mà là công tử Ngang. Có lẽ cảm động trước cuộc đời bi thảm của cầm sư, có lẽ liên tưởng tới Tô Tần, Bàng Quyên trẻ tuổi như vậy mà đã lập nên kỳ công hiển hách, trong khi mình đã sắp bốn mươi mà vẫn chẳng nên cơm cháo gì, có lẽ nhớ tới tám trăm dặm Hà Tây và tám vạn tướng sĩ đã thiệt mạng vì sự bất tài của bản thân, nên công tử Ngang càng khóc càng thống thiết, nước mắt đầm đìa như suối chảy.

Tiếng khóc của hắn khiến Hiển Vương nghe mà điếc tai. Khi tiếng khóc lắng xuống, Hiển Vương chầm chậm đứng dậy, ngưng thần ngẫm ngợi, đoạn múa bút viết ra năm chữ “Thiên hạ đệ nhất cầm” lên một tấm da dê, rồi khởi giá hồi cung.

Công tử Ngang cắt đặt thợ mộc chiểu theo đó chế tác một bức hoành phi bằng gỗ đoạn, nền đen chữ vàng, treo lên mi cửa Cầm miếu. Hai bên khung cửa treo đôi câu đối do Tô Tần tặng, vế trên là “Hai dây văn vũ hoà tấu Cao sơn Lưu thuỷ”, vế dưới là “Năm âm thiên địa cùng ngâm gió mát trăng thanh”, rất đỗi hài hoà với bức hoành phi “Thiên hạ đệ nhất cầm” của Hiển Vương.

Đợi thợ mộc đóng xong đôi câu đối khắc trên gỗ lên khung cửa, công tử Ngang lùi lại vài bước, nheo mắt ngắm nghía một hồi, tấm tắc khen ngợi: “Hai dây văn vũ, là nói tới hai vua Văn, Vũ vào đầu thời Chu, phù hợp với văn trị vũ công của nhân gian. Năm âm thiên địa, là cung, thương, giốc, chuỷ, vũ, là năm dây sơ thuỷ của cổ cầm, phối hợp với ngũ hành kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ của trời đất. Cao sơn, Lưu thủy là nhã khúc của trần thế, gió mát trăng thanh là thanh vận của trời cao. Bảy dây cùng ngân nga, mọi thứ trên trời dưới thế không gì không gồm đủ, hợp thành ‘Thiên hạ đệ nhất cầm’. Quả là một đôi câu đối tuyệt vời!”

Tô Tần nhìn sững vào đôi câu đối, khoé miệng lộ một nụ cười gượng gạo: “Thật không ngờ nói tới âm luật, công tử lại tinh tế đến thế!”

“Tô Tử quá khen!” Công tử Ngang biết là bị chế giễu, song vẫn cười ha hả, thuận đà nói tiếp. “Theo truyền thuyết, thời thượng cổ họ Phục Hy chế ra đàn cầm để mô phỏng âm thanh của trời đất. Tại hạ cho rằng, âm thanh của trời đất quá ư cao viễn, quá ư xa vời, sao có thể thực tế, nhu hoà bằng âm luật của nhân gian. Ha ha ha, ‘Thi’ có câu: ‘Cô gái hiền thục, ước duyên sắt cầm’.”(2) Đoạn đưa mắt liếc xéo Tô Tần. “Ồ, nói tới đây, tại hạ lại sực nhớ ra một chuyện, muốn hỏi Tô Tử.”

“Công tử cứ hỏi!”

“‘Thi’ có câu ‘Vợ con hòa hợp, như gảy sắt cầm’(3), Tô Tử xa nhà nhiều năm, khó khăn lắm mới trở về, đáng lẽ phải cùng tẩu phu nhân cầm sắt hài hoà mới phải. Nhưng tại hạ lại thấy Tô Tử ngày ngày ở lì trong doanh trại, để tẩu phu nhân một mình vò võ phòng không.”

Tô Tần cúi đầu không nói.

Công tử Ngang chợt hiểu ra, bật cười mà nói: “Tại hạ hiểu rồi! Tẩu phu nhân quả thực quá quê mùa, không xứng đôi với Tô Tử!” Lại cười vài tiếng. “Có điều, nói gì thì nói, người vợ đầu tiên vẫn cứ là tốt nhất. Như tại hạ đây, đời này cũng coi là phong lưu, đàn bà qua tay vô số, song người thực sự biết yêu thương đồng cảm, vẫn chỉ có chính thất phu nhân. Tẩu phu nhân tuy quê mùa, song theo tại hạ thấy, lại hiền thục ôn nhu cung kính, mọi nết toàn vẹn. Tô Tử lạnh nhạt với tẩu phu nhân như vậy, thật là không phải!”

Tô Tần không biết nói gì cho phải, khẽ thở dài một tiếng, bước vào trong miếu, quỳ xuống trước tượng cầm sư, từ từ nhắm mắt lại.

Hoàng hôn đã buông mà thôn Hiên Lý vẫn ồn ào huyên náo. Vô số binh sĩ và thợ thuyền đang luôn tay bận rộn trong bóng tối nhá nhem để dựng cho xong phủ họ Tô. Phủ mới được chọn xây ở phía bắc thôn, chiếm đến nửa thửa đất, phía đông kéo dài tới vườn dâu nhà họ Tô, phía tây sát bờ Y Thuỷ, trước sau tổng cộng sáu dãy nhà, phần còn lại là vườn tược. Trong nước Chu, ngoài vương cung và cung thất của hai vị Chu Công Đông, Tây ra, đây là toà phủ có quy mô lớn nhất.

Tiểu Hỷ rõ ràng chưa quen với đại phú đại quý ập đến thình lình, vẫn cắm cúi bận rộn trong bếp. Bận bịu từ sáng sớm đến tối mịt, Tiểu Hỷ đã thấm mệt. Cho con Mực ăn xong, đóng hết cổng cửa, đang định vào phòng ngủ, bỗng nghe có tiếng gõ cửa.

Thấy là vợ Tô Lệ, Tiểu Hỷ miễn cưỡng nặn ra một nụ cười: “Chị dâu…”

“Em dâu!” Vợ Tô Lệ quặt tay khép luôn cửa lại, kéo Tiểu Hỷ vào trong phòng, cất giọng gấp gáp. “Em không nghe lời khuyên của chị à? Chị đã hiến kế cho em đầy một sọt, mà em lại cứ án binh bất động, thật tức chết đi được!”

Tiểu Hỷ cắn chặt môi, cúi đầu im lặng.

“Em dâu!” Vợ Tô Lệ hạ thấp giọng. “Vừa rồi nghe bố lũ trẻ nói, chú hai, à không, tướng gia, tướng gia vẫn đơn độc một mình, bên cạnh không có lấy một người đàn bà, đến một tỳ nữ cũng không, rặt là mày râu cả! Đàn ông con trai lớn bằng đấy, mà bên mình lại không có đàn bà, thì chỉ có một cách giải thích, là chú ấy không có thói trăng hoa. Con người tướng gia đúng là quái lạ, song có quái lạ đến đâu, bên mình không có đàn bà thì cũng không được. Chỗ trống này vốn là của em dâu, em dâu không đứng vào, sớm muộn cũng sẽ có kẻ tới chiếm mất!”

Tiểu Hỷ càng cắn môi chặt hơn nữa.

“Em dâu, nói gì thì nói, em hãy cứ thử lấy một lần xem sao. Nếu tướng gia khăng khăng không chịu, chúng ta cũng đành chấp nhận. Nhưng theo như chị đoán, tướng gia lần này trở về, không giống với lần trước.”

Tiểu Hỷ hơi ngẩng đầu lên, đưa mắt nhìn chị ta.

“Trước kia chú ấy trở về, do chưa đắc chí, không còn mặt mũi nào nhìn mọi người, trong lòng ấm ức, đương nhiên cũng sẽ cáu bẳn với em dâu. Lần này thì khác, chú ấy đã là tướng gia của sáu nước, làm rạng danh tổ tông, uy phong lẫm liệt, đúng là gió xuân đắc ý, lúc nào cũng thẳng lưng ưỡn ngực, ở trong làng gặp ai cũng chào hỏi. Trong nhà lại càng khác xưa, chưa nói đến cách đối xử với mẹ, với anh cả hay Tô Đại, dù là với chị dâu đây cũng là lễ phép chu toàn. Trước đây chị dâu có mắt như mù, đối xử tệ bạc với chú ấy như vậy, mà chú ấy còn không hề để bụng, huống chi là đối với em dâu? Theo chị dâu thấy, em dâu không làm gì có lỗi với chú ấy, mà là chú ấy có lỗi với em dâu. Chú ấy còn làm vành làm vẻ không tới tìm em, chắc chắn là vì đại trượng phu ưa sĩ diện, không chịu hạ mình. Em dâu ơi, nghe lời chị đi, chú ấy muốn sĩ diện thì ta phải chủ động, tìm lấy cơ hội nhào vào lòng chú ấy, xem chú ấy có cứng rắn tới mức đẩy em dâu ra không?”

“Chuyện này…” Tiểu Hỷ há hốc miệng, lắp bắp, “liệu có được không?”

“Có được hay không, không thử sao biết? Hơn nữa, tướng gia quan cao chức trọng, lại càng coi trọng thể diện. Em dâu nói gì thì nói cũng là chính cung nương nương của chú ấy, nếu thực sự hết cách thì cứ làm ầm lên, xem chú ấy dàn xếp hậu quả thế nào?”

Tiểu Hỷ lại cắn chặt môi lần nữa, một hồi lâu mới ngẩng đầu nhìn vợ Tô Lệ: “Bên cạnh tướng gia có rất nhiều người, e là… không gặp nổi!”

“Ôi trời, đúng là em dâu, đến con Mực cũng chẳng thật thà được như em! Em muốn tìm lý do, kiểu gì chả kiếm được cả sọt. Lại đây, em dâu, chị sẽ chỉ cho em một kế!” Vợ Tô Lệ ghé sát lại, thì thầm vào tai Tiểu Hỷ.

Tiểu Hỷ do dự hồi lâu, cuối cùng cũng khẽ thốt ra một tiếng: “Vâng!”

Vào giờ Nhân định, thợ thuyền lần lượt về nghỉ, thôn xóm dần chìm vào yên tĩnh.

Tô Tần sải dài bước chân, hối hả rảo bước theo con đường đất trong thôn trở về nhà, Trâu Phi Đao vẫn bám sát theo sau. Còn cách cổng nhà khoảng vài chục bước, con Mực đánh hơi thấy Tô Tần, phóng vọt ra khỏi cổng, lao bổ về phía Tô Tần vẫy đuôi mừng tíu tít.

Tô Tần không để ý tới nó, hấp tấp lao vào trong sân, chạy xộc vào nhà chính, vừa chạy vừa gọi: “Mẹ ơi, mẹ ơi…”

Trong gian nhà chính vẫn sáng ánh đèn, giữa nhà bày linh vị của Tô Hổ. Tô Diêu thị ngồi ngay ngắn trên chiếu cỏ, sắc mặt điềm tĩnh.

Tô Tần tiến vào trong nhà, quỳ xuống trước mặt Tô Diêu thị, đưa tay sờ trán bà, thấy không hề sốt, cũng chẳng thấy có người thân nào ở bên cạnh, thì thoáng ngạc nhiên, khẽ hỏi: “Mẹ, nghe nói mẹ bị bệnh, là bệnh gì?”

“Mẹ thấy tức ngực!” Tô Diêu thị chi tay vào lồng ngực.

“Mẹ bắt đầu tức ngực từ bao giờ?” Tô Tần lo lắng.

“Đã nhiều năm rồi” Tô Diêu thị chậm rãi trả lời.

“Sao chưa bao giờ nghe mẹ nhắc tới?” Tô Tần lấy làm ngạc nhiên, quay ra ngoài gọi. “Trâu huynh!”

Trâu Phi Đao lập tức tiến lại, đứng ngoài cửa đáp lời: “Chúa công có gì sai bảo?”

“Mau mời thầy lang!”

Trâu Phi Đao “vâng” một tiếng, vừa quay người định đi thì Tô Diêu thị đã ngăn lại: “Khoan đã!”

Trâu Phi Đao dừng bước, nhìn Tô Tần.

“Mẹ, tức ngực là bệnh nặng, không khám không được!” Tô Tần khuyên nhủ.

Tô Diêu thị mỉm cười với Trâu Phi Đao, khẽ lắc đầu mà nói: “Chàng trai, chứng bệnh của bà lão này không đáng ngại, chưa cần làm phiền tới thầy lang. Ta chỉ muốn trò chuyện dăm ba câu với Tần Nhi mà thôi!”

Nhìn Tô Diêu thị sắc mặt điềm tĩnh, giọng nói bình hoà, quả nhiên không giống như người có bệnh, Trâu Phi Đao thấy hơi khó hiểu, quay sang nhìn Tô Tần, thấy hắn cũng sắc mặt ngỡ ngàng, bèn hiểu ý mà quay người lui ra, đứng canh ngoài cổng.

“Tần Nhi, lại đây!” Tô Diêu thị chỉ vào vạt chiếu bên cạnh mình. “Ngồi bên cạnh mẹ!”

Tô Tần ngồi xuống trước mặt Tô Diêu thị, mắt nhìn bà không chớp: “Mẹ, chứng tức ngực…”

“Mẹ u uất trong lòng, không phải là bệnh.”

“Tại sao?”

“Than ôi!” Tô Diêu thị thở dài buồn bã. “Tần Nhi, mẹ dò la biết được, con vẫn không có người đàn bà nào bên cạnh. Con nay ngoài ba mươi tuổi, sớm đã qua tuổi tự lập, bên cạnh lại không có lấy một người đàn bà, liệu có được không? Hơn nữa, Tiểu Hỷ được gả cho nhà chúng ta, chớp mắt đã chục năm rồi, ngày lại ngày một mình vò võ phòng không, mẹ mắt nhìn tình cảnh đó mà đau đớn trong lòng. Đàn ông cả ngày bên ngoài, công việc bộn bề, có cái để mà bận rộn. Đàn bà quanh quẩn trong nhà, nếu không có gì để nhớ, mỗi một khắc trôi qua có khác nào giày vò. Lần này con trở về, hẳn cũng không ở lại lâu. Mắt thấy từng ngày từng ngày trôi qua, trong lòng mẹ vô cùng sốt ruột, nên hôm nay muốn hỏi con. Này Tần Nhi, rốt cuộc con đang nghĩ gì thế?”

“Mẹ…” Tô Tần đổi từ ngồi sang quỳ, cúi gục đầu xuống.

“Tần Nhi!” Tô Diêu thị khẽ xoa lên đầu con trai. “Con hãy nói thực lòng, là Tiểu Hỷ không xứng với con, hay là trong lòng con đã có người khác?”

Tô Tần vẫn cúi đầu không nói, nước mắt đầm đìa.

“Tần Nhi, con không nói thì trong lòng mẹ cũng đã rõ. Song con nghĩ đi cũng phải nghĩ lại, Tiểu Hỷ mặt nào cũng tốt, là đứa con dâu hiếu thảo, đừng nói là trong nhà mình, mà ngay cả hàng xóm láng giềng cũng không ai phàn nàn về nó điều gì. Khiếm khuyết duy nhất của nó là bị thọt, song đó không phải là lỗi của Tiểu Hỷ. Nói gì đi nữa, nó cũng là người của nhà ta, là con dâu cưới hỏi đàng hoàng của nhà ta. Trước đây con chưa thành tựu, có ngang bướng ra sao, mọi người cũng không nói đến. Nay con đã làm quan, nếu vẫn giống như ngày trước, bảo người khác nhìn con như thế nào đây?”

Tô Tần càng cúi đầu thấp hơn, không thốt lấy một lời.

“Than ôi!” Tô Diêu thị lại thở dài. “Tần Nhi, con không muốn nói thì thôi vậy! Cha con đã mất rồi, việc này hãy nghe lời mẹ, về tình về lý, con đều nên hoà hợp với Hỷ Nhi. Hỷ Nhi!”

Trong gian buồng phía đông chợt vang lên tiếng loạt soạt. Tấm rèm vải được vén lên, Tiểu Hỷ hai tay bưng mặt, tập tễnh bước ra khỏi cửa bên, quỳ xuống bên cạnh Tô Tần, nghẹn ngào: “Mẹ…”

Tiểu Hỷ thình lình bước ra khiến Tô Tần giật mình kinh ngạc, ngẩn ra một hồi mới dịch người tránh ra, lên giọng trách móc: “Sao nàng… lại ở đây?”

Tiểu Hỷ vùi mặt vào khuỷu tay, sụt sùi mà nói: “Tiện… tiện thiếp…”

Cả gian nhà bỗng nhiên lặng phắc.

Tô Tần đã kịp định thần, ngồi thẳng người lên, nghiêm sắc mặt mà nói với Tiểu Hỷ: “Chu Tiểu Hỷ, đúng như lời mẹ vừa nói, nàng hiền thục, chăm chỉ, có hiếu, là nàng dâu ngoan hiền của Tô gia. Ta sẽ nhận nàng!”

“Tướng… tướng công…” Tiểu Hỷ sung sướng đến trào nước mắt, cất giọng run rẩy.

“Mọi thứ trong nhà, thứ gì thuộc về ta thì cũng thuộc về nàng. Ta quanh năm vắng nhà, mẹ lại tuổi cao sức yếu, nàng hãy thay ta báo hiếu cho mẹ. Còn có con chó này…” Tô Tần đưa tay vỗ lên mình con Mực đang nằm bên chân, “vẫn để cho nàng chăm sóc như xưa. Nó chính là ta, ta chính là nó.”

Tiểu Hỷ sững sờ, ánh mắt dừng lại trên mình con Mực, nước mắt lăn dài.

“Còn nữa!” Giọng Tô Tần lạnh lẽo như băng. “Nàng có thể làm phu nhân của ta, song ta sẽ không bao giờ chung phòng với nàng, nàng cũng từ bỏ ý nghĩ này đi! Nàng đã tình nguyện gả vào Tô môn thì hãy làm con dâu của Tô gia. Không phải ta có lỗi với nàng, mà chính là nàng đã lựa chọn như vậy!” Nói đoạn quay sang Tô Diêu thị. “Mẹ, đã muộn rồi, mẹ hãy nghỉ ngơi cho sớm. Nếu không còn việc gì nữa, con đi đây!” Lời còn chưa dứt, người đã đứng dậy, sải bước ra thẳng ngoài sân.

Tai nghe tiếng bước chân ngoài cổng mỗi lúc một xa, cho đến khi tứ bề lại lặng phắc như cũ, Tiểu Hỷ mới như choàng tỉnh khỏi cơn ác mộng, chúi người vùi đầu vào lòng Tô Diêu thị, gào lên một tiếng dài thê thiết: “Mẹ…”

Từ trong nhà đi ra, Tô Tần cứ thế đi thẳng về doanh trại, chợt thấy anh cả Tô Lệ, em ba Tô Đại một người bên trái một người bên phải, đang ngồi chồm hỗm trước cổng chờ đợi. Thấy Tô Tần tiến lại, hai người bèn đứng dậy, chẳng nói chẳng rằng đi theo Tô Tần vào trong. Tô Tần ngồi xuống trước bàn, vừa định lên tiếng, bỗng nghe từ phía xa vọng lại tiếng bước chân, rồi công tử Ngang và một thầy lang hối hả tiến lại. Công tử Ngang bảo thầy lang đợi bên ngoài, còn mình sải bước vào trong, vừa đi vừa gọi ông ổng: “Tô Tử, lão phu nhân ngọc thể sao rồi?”

Tô Tần nhìn hắn sắc mặt lo lắng, song hai mắt sáng rực, biết rằng hắn chỉ mong ở đây có chuyện, bất giác cười nhạt, chỉ vào vị trí đối diện, nói: “Công tử đấy ư, mời ngồi!”

Công tử Ngang nhìn chằm chằm vào Tô Tần một hồi, rồi chậm rãi ngồi xuống chiếu: “Nhìn sắc mặt của Tô Tử, hẳn lão phu nhân… không sao?”

“Mẹ… mẹ làm sao?” Tô Lệ, Tô Đại mặt đều biến sắc, đồng thanh hỏi.

Tô Tần xua xua tay, gượng cười một tiếng: “Không sao, chẳng qua là muốn trò chuyện với em mà thôi!”

Tô Lệ, Tô Đại đều thở phào nhẹ nhõm.

“Tốt quá!” Công tử Ngang ngẩn ra một thoáng, bèn cười cười tiếp lời. “Không sao thì tốt quá! Tại hạ vốn đã đi nghỉ, nghe nói lão phu nhân khó ở, lập tức cho gọi thầy lang tới ngay!” Rồi quay ra ngoài cửa. “Không sao cả, ông về đi!”

Thầy lang “vâng” một tiếng, quay người bước đi.

Tô Tần ôm quyền hướng vào công tử Ngang, nói: “Chuyện của gia mẫu, đã khiến công tử phải nhọc lòng!”

“Tô Tử nói gì vậy?” Công tử Ngang đáp lễ, tiện thể vòng tay hành lễ với Tô Lệ, Tô Đại. “Hai vị huynh đệ, hãy nói thử xem, lão phu nhân cả đời vất vả, cuối cùng cũng đợi được đến ngày nở mày nở mặt, có thể hưởng mấy bữa phúc nhàn, làm sao lại để xảy ra chuyện bất trắc cho được?”

“Không nói chuyện này nữa!” Tô Tần cắt lời. “Công tử cũng đến thật đúng lúc, tại hạ vừa hay có chuyện quan trọng muốn bàn cùng công tử!”

“Tô Tử cứ nói!”

“Hợp tung mới bắt đầu, trăm việc còn đang bề bộn, tại hạ lại vì bận bịu việc nhà, để lỡ đại sự, trong lòng thực không yên tâm. Nay gia phụ đã mai táng xong xuôi, ở đây không còn việc gì quan trọng nữa, tại hạ muốn…”

Công tử Ngang xua tay cắt lời Tô Tần: “Hiện tại mộ phần còn chưa xây xong, phủ mới vẫn chưa hoàn thành, Tô Tử sao có thể đi được? Hơn nữa, bốn mươi chín ngày là lễ cúng quan trọng cho lệnh tôn, hôm qua tại hạ đã hiểu dụ liệt quốc, tổ chức lễ cúng long trọng cho lão tiên sinh. Lúc đó, liệt quốc đều tới viếng tang, Tô Tử lại vắng mặt, sao có thể được?”

Tô Tần thở dài sườn sượt: “Than ôi…”

Công tử Ngang liền đổi mặt tươi cười: “Này Tô Tử! Tô Tử từ sáng tới tối mặt ủ mày chau, có thấy mệt không? Tại hạ kể cho Tô Tử nghe một chuyện vui để giải sầu nhé! Chiều nay, Tây Chu Công sai người tới, mang tặng chín cây gỗ tử đàn. Có biết vì sao lão lại tặng gỗ tử đàn không? Chúng ta xây nhà dựng phủ ở đây, rầm rộ ồn ào, khiến Chu thất trên dưới không ai không kinh động, có tiền góp tiền, có sức góp sức, duy có Tây Chu Công không chịu bỏ ra một xu. Tại hạ rất đỗi bực mình, dò la biết được lão ta có giấu chín cây gỗ tử đàn trong cung, đều to tày một vòng ôm, dài chừng hai trượng, thì nảy ra một ý, sai tham tướng tới tận nhà hỏi mua. Lão già này lại không biết điều, nhất quyết không bán, nói rằng mấy cây gỗ tử đàn đó mua về từ nước Sở, chuẩn bị để năm tới tu sửa cung thất. Tại hạ giận điên người, bèn báo với lão ta một tin, nói rằng hơn một vạn binh mã hợp tung suốt một tháng qua vẫn đóng quân ở Đông Chu, dường như có vẻ thiên vị, sắp tới sẽ tới Tây Chu đồn trú vài ngày, bảo lão ta liệu mà lo thu xếp. Lão già hoảng quá, liên sai người tới báo tin, nói là muốn dâng tặng mấy cây gỗ, không lấy một đồng, coi như lễ vật chúc mừng. Ha ha ha… Xây dựng cung điện, tử đàn là loại gỗ thượng hạng, mỗi cây chí ít cũng đáng giá mười lượng vàng, chỉ riêng món này, chúng ta cũng đã tiết kiệm được cả trăm lượng!”

Tô Tần kinh ngạc: “Chuyện này sao có thể được?” Rồi lập tức quay sang Tô Đại. “Em ba, sáng sớm mai, em hãy tới ấp Hà Nam một chuyến, vào cung Tây Chu yết kiến Tây Chu Công, nói rằng nhà ta cảm tạ ý tốt của ông ta. Nhà ta chỉ xây nhà dân, không dùng đến gỗ tử đàn, dặn ông ta không cần mang tới. Nhớ rằng phải nói năng lễ phép, cảm tạ đàng hoàng, không được gây thêm phiền phức!”

Tô Đại gật đầu vâng lời, miệng ấp úng: “Anh hai…”

Tô Tần chợt nhớ lại bộ dạng của hai người họ khi nãy, đoán rằng hẳn là có chuyện, bèn hỏi: “Có việc gì vậy?”

“Em… em…” Tô Đại ấp úng, rồi cúi gằm mặt xuống.

Tô Tần ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Em ba, nếu không có việc gì gấp, để ngày mai hãy nói.”

“Anh hai, em… em không muốn làm… làm ruộng nữa!”

“Không làm ruộng, em muốn làm gì?”

“Nghe nói anh hai học được bản lĩnh từ Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng, em… em cũng muốn đi, xin anh hai hãy cầu xin giúp trước Quỷ Cốc tiên sinh.”

Tô Tần phì cười mà nói: “Chuyện này không được! Tiên sinh từ lâu đã không nhận đệ tử nữa!”

“Vậy…” Tô Đại sốt sắng, “em sẽ theo học anh hai!”

Tô Tần không đáp lời hắn, mà chuyển ánh nhìn sang Tô Lệ: “Anh cả, anh có việc gì?”

Tô Lệ cười hiền lành: “Chị dâu em mấy hôm trước giấu anh lén mua hai mươi thửa ruộng ở đất Đông Chu, mua xong mới biết là dại.”

“Dại thế nào?”

“Đất đó toàn là ruộng nước thượng đẳng, nhiều mương lạch, thích hợp trồng lúa nước. Lúa nước đắt lúa mạch rẻ, chị dâu em thích nó cũng là vì thế. Nhưng chị dâu em lại không lường trước được rằng, thế đất là phía tây cao, phía đông thấp, nước ở Đông Chu đa phần chảy lại từ đập chắn nước trên thượng lưu Lạc Thuỷ. Mấy năm nay, hai vị Chu Công bất hoà, Tây Chu Công sai người canh giữ đập nước, vào mùa hạn hán nhất quyết không tháo cho một giọt, vào mùa mưa lại xả ầm ầm, khiến ruộng lúa tốt đành phải bỏ không. Nếu không phải do vậy, làm gì có chuyện người ta bán rẻ ruộng tốt? Chị dâu em không hiểu, vừa thấy rẻ đã vội vàng mua ngay. Mua xong, nghe anh giải thích mới hiểu ra, hối hận khóc lóc suốt cả ngày trời, bảo anh tới cầu xin em, nói rằng em có uy thế, liệu có thể nói vài lời trước Tây Chu Công, để ông ta xả nước đúng thời vụ, anh chị đồng ý trả thêm tiền nước. Nếu không, ruộng tốt thế này lại đổi thành ruộng cạn thì thật đáng tiếc!”

Tô Tần ngẫm nghĩ một lát rồi quay sang Tô Đại: “Em ba, vừa rồi em nói muốn theo học anh hai, hiện giờ còn muốn học nữa không?”

Tô Đại hấp tấp đáp lời: “Muốn, muốn, muốn, trong mơ cũng muốn!”

“Anh theo tiên sinh tu học tài miệng lưỡi, chỉ dựa vào miệng lưỡi để kiếm cơm. Nếu em muốn học, chỉ có thể học cái này.”

“Anh hai bảo em học gì thì em học nấy!”

“Được thôi! Có điều, nếu em muốn học, anh cũng phải xem em có tố chất hay không. Ngày mai đi bái kiến Tây Chu Công, nếu em có thể nhân tiện giải quyết êm xuôi chuyện của anh cả thì anh sẽ nhận em.”

Tô Đại sững sờ kinh ngạc: “Tây Chu Công chỉ hận không bóp chết được Đông Chu Công, làm gì có chuyện nghe lời em?”

“Còn phải xem em nói năng thế nào!”

“Anh hai!” Tô Đại vò đầu bứt tai. “Em biết nói gì đây?”

“Sau khi gặp mặt, trước hết em hãy hết lời ca ngợi Tây Chu Công, nói rằng ông ta là người đại đức.” Tô Tần khép mắt lại, giống như đang giảng bài cho trẻ nhỏ. “Ông ta sẽ hỏi em dựa vào đâu mà nói vậy, em hãy trả lời rằng, nghe nói Đông Chu và Tây Chu bất hoà, Đông Chu Công bạc tình bạc nghĩa, song chúa thượng lại lấy đức báo oán, nhiều lần ban ân cho Đông Chu, nên có đại đức. Tây Chu Công đương nhiên sẽ băn khoăn, và nói rằng ông ta chưa từng nghĩ tới chuyện ban ân cho Đông Chu. Lúc này em hãy nói, ông ta không tháo nước cho Đông Chu chính là đã ban ân rồi. Tây Chu Công nghe vậy, ắt sẽ ngạc nhiên, lúc này em hãy nói rằng, không tháo nước vào Đông Chu, chính là làm giàu cho dân Đông Chu. Vài trăm năm qua, dân Đông Chu chỉ biết trồng lúa nước, không biết trồng các loại ngũ cốc khác. Tây Chu Công không tháo nước, dân Đông Chu không thể trồng lúa nước, đành phải chuyển sang trồng lúa mạch, lúa tẻ, dâu đay, học đủ các nghề mưu sinh, không phải cầu xin Tây Chu nữa. Tây Chu Công ắt sẽ nhờ em hiến kế. Ông ta sẽ nói rằng ông ta và Đông Chu Công ở thế đối đầu, phải làm sao mới gây bất lợi cho Đông Chu? Em hãy trả lời rằng, cứ vào mùa trồng lúa nước thì tháo nước vào Đông Chu, dân Đông Chu hễ thấy nước, ắt sẽ trồng lại lúa nước. Lúc này chúa thượng phao tin thu nước, dân Đông Chu còn ai dám không dựa dẫm vào chúa thượng?”

Nghe được những lời này, đám người đều tấm tắc khen “diệu kế”. Mọi người trò chuyện cười nói một hồi, Tô Lệ, Tô Đại mặt mày hớn hở ra về. Công tử Ngang thấy trời đã muộn, cũng đứng dậy cáo từ. Tô Tần tiễn ra ngoài trại, đang định quay trở vào, bỗng từ xa nhìn thấy có vài người cầm đèn lồng tiến lại gần.

Người đi đầu chính là Lâu Hoãn.

Mấy ngày nay, công tử Ngang lúc nào cũng kè kè bên cạnh, không những nghĩ ra đủ chuyện vặt vãnh để trói chân Tô Tần, lại còn thay mới toàn bộ thuộc hạ của Tô Tần, chỉ giữ lại Trâu Phi Đao đi theo bảo vệ. Tô Tần đã mất hết tai mắt, chẳng hay biết gì về tin tức bên ngoài. Nhìn thấy Lâu Hoãn tìm đến, Tô Tần mừng không kể xiết, bèn nắm tay Lâu Hoãn dắt vào trong trại, vội vã hỏi ngay: “Lâu Tử, nói đi, tình hình bên ngoài thế nào rồi?”

“Than ôi!” Lâu Hoãn khẽ thở dài một tiếng. “Quân hợp tung sắp sửa tấn công Hàm Cốc. Trong số các nước hợp tung, chỉ có quân Triệu chưa tới. Bàng Quyên lấy danh nghĩa chủ tướng quân hợp tung nhiều lần giục giã, chúa thượng lấy làm khó xử. Phát binh, thì trái với mong muốn; không phát binh, lại e ảnh hưởng tới đại cục hợp tung. Chúa thượng không biết làm thế nào cho phải, nên mới phái tại hạ tới hỏi ý kiến Tô Tử, đi hay không, sẽ do Tô Tử quyết định.”

Tô Tần chau tít đôi mày.

“Sự việc đã rất nguy cấp. Bàng Quyên đã di chuyển doanh trại tới Thiểm Thành, đang điều binh khiển tướng. Quân Tề, Sở, Hàn đều đã nhổ trại, Bàng Quyên ra lệnh trong vòng mười ngày phải tới Hổ Lao, men theo Hà Thủy tiến về phía tây, hội quân với Ngụy, Yên đã lên đường trước đó tại Thằng Trì, tiến đánh Hàm Cốc.”

“Ty hợp tung còn có ai không?”

“Không còn ai!”

“Phía Điền đại nhân thế nào?”

“Chủ tướng quân Tề là Điền Anh Điền đại nhân đã quay về. Công tử Chương bị Hàn Hầu triệu về, công tử Như theo Sở Vương về Sính. Công tôn Khoái cũng gấp rút về Yên mấy hôm trước, dường như có chuyện gì đó rất gấp. Than ôi, mới trước đó còn đông đảo là thế, Tô Tử vừa bước chân đi, người ở lại đã tan đàn xẻ nghé!”

Tô Tần nhấp một ngụm trà, khẽ thở dài một tiếng, lắc đầu cười khổ.

“Tô Tử!” Ánh mắt Lâu Hoãn đầy vẻ hoài nghi. “Tại hạ xin hỏi một chuyện, người Tần thực sự không thể đánh ư?”

“Ý Lâu Tử thế nào?”

“Tại hạ cho rằng, từ ngày Tần Hiếu Công trọng dụng Thương Ưởng tới nay, người Tần đồ cường, Tam Tấn đều phải chịu khổ, người Sở bị hại cũng nhiều. Liệt quốc đều oán Tần, Tần đã thất đạo trong thiên hạ. Tô Tử khởi xướng hợp tung, mục đích là chế Tần, nên thiên hạ mới hưởng ứng. Nay thiên hạ đã hợp, quân chủ liệt quốc đều nói phạt Tần, quân đội hợp tung khí thế hừng hực, có lẽ chính là thời cơ tốt để phạt Tần. Tô Tử không tiến lại lui, không vui lại buồn, tại hạ thực sự không hiểu. Dám hỏi Tô Tử lo lắng điều gì?”

“Phạt Tần thất bại!”

“Ý Tô Tử là, lần phạt Tần này không thể thủ thắng?”

“Tình thế trên chiến trường biến đổi khôn lường, dù là Tôn Vũ Tử cũng không dám khẳng định chuyện thắng bại khi chưa giao chiến.”

“Đã không thể chắc chắn, Tô Tử nên vui buồn ngang nhau mới phải. Nhưng nhìn vẻ âu lo của Tô Tử, rõ ràng dữ nhiều lành ít.”

“Dù lành hay dữ, tại hạ đều khó lòng vui được, bởi vậy nên mới lo buồn.”

“Tại hạ càng không hiểu. Nếu phạt Tần thắng lợi, Tô Tử còn buồn gì đây?”

“Nếu giành thắng lợi, sáu nước có lẽ sẽ tiêu diệt nước Tần. Khác với nước Việt, nước Tần của cải dồi dào, thế đất hiểm trở, dân giàu nước mạnh, sáu nước tất sẽ sinh ra tranh chấp vì chia chác không đều. Lúc này, không những hợp tung đổ vỡ, mà thiên hạ sẽ lại rơi vào hỗn chiến, từ đó mất đi tông chỉ của hợp tung. Còn nếu như thất bại, kết cục thế nào, tại hạ không cần nói nữa. Lâu Tử biết đấy, thiên hạ mới hợp, các nước hợp tung đã không thể thắng, lại càng không thể bại!”

Lâu Hoãn lúc này đã hiểu ra sự tình nghiêm trọng, mồ hôi lạnh rịn đầy lưng áo: “Theo ý Tô Tử, nên làm thế nào mới phải?”

“Than ôi!” Tô Tần thở dài một tiếng. “Ngụy Vương nóng lòng báo thù, Bàng Quyên nóng lòng lập công, nhất quyết kéo đại nghiệp hợp tung xuống hầm lửa. Tại hạ đơn thương độc mã, lại bị công tử Ngang kè kè giữ chặt, muốn đi cũng không xong. Lâu Tử tới thật đúng lúc, có thể tiếp ứng cho tại hạ.”

“Tô Tử muốn đi đâu?”

“Cầu kiến Bàng Quyên!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử