Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 17
Huệ Văn Công một đá ném ba chim
Công Tôn Diễn ‘Thập sách’ chấn hưng Ngụy

❊ ❊ ❊

Tiếng mõ báo canh hai.

Trong hậu hoa viên cung Ngụy tại An Ấp, tỳ nhân dẫn công tử Ngang đi theo một con đường nhỏ quanh co rợp bóng hoa, rảo bước vội vàng.

Đi được một lúc, công tử Ngang bước chậm lại, kéo tay áo tỳ nhân, hỏi nhỏ: “Đã giờ này rồi, phụ vương gọi ta đến, hẳn có chuyện lớn?”

Tỳ nhân đáp: “Lão nô không biết, An Quốc Quân, mời!”

Công tử Ngang trong lòng nghi hoặc, tiếp tục đi theo tỳ nhân một lúc nữa thì đến đình hóng mát của Ngụy Huệ Vương. Trong đình, ánh đèn sáng rực. Tỳ nhân dừng lại, khẽ dặn: “Công tử dừng bước, đợi lão nô bẩm báo bệ hạ!” Rồi thoăn thoắt bước lên bậc thang.

Một lát sau, tỳ nhân đứng trên đình, cao giọng hô vọng xuống: “Bệ hạ có dụ, An Quốc Quân yết kiến!”

Công tử Ngang chậm rãi bước lên bậc tam cấp, từ xa đã thấy Ngụy Huệ Vương đang ngồi ngay ngắn trước bàn, mấy cung nhân đứng hầu bên cạnh, còn ngồi đối diện trước bàn chính là tư đồ Chu Uy áo mũ chỉnh tề.

Vừa nhìn thấy Chu Uy, tim công tử Ngang lập tức đập lên thình thịch. Sau trận chiến Hà Tây, công tử Ngang rất sợ Ngụy Huệ Vương nhắc lại chuyện cũ, và đương nhiên, cũng rất không muốn gặp ba người, một là Long Giả, hai là Công Tôn Diễn, ba là Chu Uy. Trong ba người này, Long Giả đã về quê dưỡng lão, Công Tôn Diễn chỉ là một sĩ tử thất chí, người khiến công tử Ngang e ngại nhất chính là Chu Uy. Công tử Ngang đoán chừng Chu Uy đã biết rõ chân tướng về trận chiến Hà Tây, nhưng biết mà không nói, biết nóng biết lạnh, biết tiến biết lui, điều này khiến công tử Ngang ăn không ngon, ngủ không yên. Hễ nhìn thấy Chu Uy, công tử Ngang lại thấy khiếp sợ tận đáy lòng.

Công tử Ngang đang do dự, bỗng liếc thấy trên bàn bày rượu và thức ăn ngon, phía xa còn có mấy nhạc công, lúc này mới thở phào nhẹ nhõm, vội rảo bước tới gần, dập đầu sát đất: “Nhi thần khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương cười vang mà nói: “Ngang Nhi miễn lễ, ngồi đi!”

Công tử Ngang đa tạ, đứng dậy ngồi xuống trước chiếc bàn đã được chuẩn bị sẵn bên cạnh Chu Uy, trên bàn cũng bày rượu và đủ loại mỹ vị.

Thấy công tử Ngang đã ngồi xuống, Ngụy Huệ Vương vui vẻ nói với người hầu rượu: “Rót rượu cho hai vị ái khanh!”

Người hầu lập tức rót rượu, sau đó lui sang một bên. Ngụy Huệ Vương nâng chén, giọng đầy phấn chấn: “Hai vị ái khanh, quả nhân muộn thế này rồi còn mời hai vị đến uống rượu, là muốn tiễn một người!”

Công tử Ngang vội hỏi, không giấu được vẻ hoang mang: “Là ai vậy?”

“Công Tôn Ưởng!”

Chu Uy cũng sững sờ, hỏi khẽ: “Bệ hạ, vi thần nghe nói Công Tôn Ưởng bị vu oan, đã bị tống vào đại lao, lẽ nào…”

“Không sai!” Ngụy Huệ Vương gật đầu. “Ái khanh hãy xem!” Nói đoạn, với lấy một bức thư trên bàn. Tỳ nhân bèn nhận lấy, chuyển qua cho Chu Uy. Ngụy Huệ Vương mỉm cười nhìn Chu Uy. “Chu ái khanh, khanh hãy đọc lên, để mọi người cùng nghe!”

Chu Uy đọc lớn: “Khởi tấu bệ hạ, vở kịch lớn trong cung Tần đã hạ một màn, Công Tôn Ưởng hôm nay bị hành hình, quân chủ mới xử hắn năm xe phân thây bên bờ sông Vị Thuỷ. Vi thần muốn ở lại Hàm Dương thêm mấy ngày, để hoàn tất thêm một màn kịch hay nữa, mong được bệ hạ ân chuẩn! Trần Chẩn khấu đầu.”

Chu Uy đọc xong, Ngụy Huệ Vương cười vang mà nói: “Trần ái khanh quả nhiên tài giỏi, đúng là một bề tôi đắc lực!”

Nghe thấy là tiễn đưa Công Tôn Ưởng, công tử Ngang giận sôi sùng sục, dằn chén rượu đánh “cạch” xuống bàn, khiến rượu trong chén bắn ra tung toé: “Phụ vương, nếu là vì tiễn Công Tôn Ưởng, thì nhi thần không muốn uống!”

Ngụy Huệ Vương cười nói: “Ngang Nhi, cơ sao con không uống?”

“Tên gian tặc này phản phúc lật lọng, chết là còn may, chúng ta tại sao phải tiễn hắn?”

Ngụy Huệ Vương nói với người hầu rượu: “Rót rượu cho An Quốc Quân!”

Người hầu bước lên, lại rót đầy chén cho công tử Ngang.

“An Quốc Quân, xin hãy nâng chén!”

Công tử Ngang liếc sang Chu Uy, thấy ông ta cũng đã nâng chén, nên đành phải miễn cưỡng nâng lên.

Ngụy Huệ Vương chậm rãi nói: “Công Tôn Ưởng một lòng vì Tần, lập được kỳ công cái thế. Người Tần không biết báo đáp, ngược lại còn lấy oán trả ơn, dùng cực hình hại chết trung thần. Mặc dù Công Tôn Ưởng là kẻ địch của Đại Ngụy, nhưng luận về tài trí, đích xác là bậc đại tài. Người Tần không tiếc, nhưng quả nhân thấy tiếc. Hai vị ái khanh, nào, hãy cạn chén này, tiễn oan hồn Công Tôn Ưởng lên đường bình an!”

Ba người cùng cạn chén.

“Than ôi!” Chu Uy thở dài. “Nếu ở dưới cửu tuyền, Công Tôn Ưởng nghe được những lời này của bệ hạ, không biết sẽ nghĩ gì?”

Công tử Ngang hừ mũi một tiếng: “Hừm, hắn còn nghĩ gì được nữa? Chắc chắn là hối hận tại sao năm xưa mình có mắt như mù, bỏ chỗ sáng đến chỗ tối!”

Thấy công tử Ngang nói lời nông cạn, Chu Uy chẳng buồn nói thêm gì, chỉ cười khan một tiếng, rồi quay mặt sang chỗ khác.

Ngụy Huệ Vương đặng hắng một tiếng, chậm rãi nói: “Hai vị ái khanh, thường có câu, địch biến ta biến. Hiếu Công đột ngột băng hà, tân quân đăng cơ, cựu đảng phục hồi thế lực, Công Tôn Ưởng vô cớ bị hại, chỉ trong mấy tháng, cung Tần liên tiếp xảy ra đại biến, các khanh hãy nói xem, quả nhân phải đối phó thế nào?”

Công tử Ngang bẩm tấu: “Phụ vương, những ngày tháng tốt đẹp của người Tần đã kết thúc. Nhi thần tấu xin khởi binh phạt Tần, chiếm lại Hà Tây, báo thù rửa hận!”

Ngụy Huệ Vương quay sang nhìn Chu Uy: “Chu ái khanh thấy thế nào?”

“Vi thần thấy không ổn!”

“Tại sao không ổn? ”

“Hiện giờ người Tần đang chịu quốc tang, nếu ta đánh họ, thì ngược lại, sẽ khiến lòng căm giận của người Tần dâng cao, bất lợi cho ta.”

“Ý ái khanh là, hiện giờ ta nên ngồi yên quan sát, chờ đợi thời cơ?”

“Bệ hạ thánh minh!”

“Ừm!” Ngụy Huệ Vương gật gù. “Lời ái khanh rất hợp với tâm ý quả nhân. Tần Hiếu Công mài kiếm mười tám năm mới chiếm được Hà Tây, quả nhân cũng phải học hỏi ông ta, nhẫn nại ít lâu, xem tên nhãi ranh kia có tài cán gì. Hai vị ái khanh, điều cấp bách hiện tại không phải là phạt Tần, mà là tìm kiếm hiền tài. Năm xưa quả nhân để mất Công Tôn Ưởng, người Tần có hắn nên mới chiếm được Hà Tây. Hôm nay người Tần mưu sát hiền tài, quả nhân phải làm ngược lại, cần trọng dụng hiền tài.”

Chu Uy đứng dậy, khấu đầu nói: “Nếu bệ hạ làm được như vậy, thì lấy lại Hà Tây chỉ còn là thời gian.”

“Ha ha ha!” Ngụy Huệ Vương cười sảng khoái, chìa tay nói. “Chu ái khanh, mời ngồi!”

Chu Uy lại bái tạ, rồi ngồi xuống.

“Hai vị ái khanh!” Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn từng người, rồi chậm rãi nói. “Quả nhân đã suy nghĩ rất nhiều, ngôi vị tướng quốc không thể để trống quá lâu. Hai vị đều là thân tín của quả nhân, quả nhân muốn hai vị tìm giúp hiền tài. Nếu tìm được người thích hợp, quả nhân sẽ giao ngôi tướng quốc cho người đó.”

“Phụ vương!” Công tử Ngang không bỏ lỡ thời cơ, lập tức tiến cử. “Hiện giờ nhi thần có một người rất thích hợp!”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương nhổm người về phía trước. “Là người nào vậy?”

“Chính là người mà phụ vương vừa khen ngợi, thượng đại phu Trần Chẩn!”

“Ừm!” Ngụy Huệ Vương khẽ gật đầu. “Trần ái khanh cũng là một người có thể lựa chọn!”

***

Cung Tần, trong ngự thư phòng, Cảnh Giám dập đầu dưới đất.

Huệ Văn Công đưa tay áo lau nước mắt, rồi chậm rãi hỏi: “Cảnh ái khanh, quốc phụ… đi rồi ư?”

Cảnh Giám bật khóc thất thanh: “Hồi bẩm… bẩm chúa thượng, Thương Quân uống ngự tửu xong… đã đi rồi!”

Huệ Văn Công lại rơi lệ: “Thương Quân… có dặn dò gì không?”

“Thương Quân dặn vi thần chuyển tấu với chúa thượng, lập uy tại quân, lập tín tại dân, muốn thành nghiệp lớn, gốc phải vững bền.”

“Khanh hãy nhắc lại lần nữa!” Giọng Huệ Văn Công run lên.

“Lập uy tại quân, lập tín tại dân, muốn thành nghiệp lớn, gốc phải vững bền.”

Huệ Văn Công nước mắt ròng ròng, nghẹn ngào nói: “Gốc là nông, nông là dân, dân là pháp, pháp là Tần! Nghe những lời của Thương Quân, đâu có giống kẻ mưu phản?” Rồi lại đưa tay áo lau nước mắt, ngẩng đầu nhìn Cảnh Giám, gọi. “Cảnh ái khanh!”

“Có vi thần!”

“Không giấu ái khanh…” Huệ Văn Công run rẩy nói. “Trong lòng quả nhân luôn thấy nghi ngờ, chuyện Thương Quân phản nghịch có điều mờ ám. Vừa nãy nghe khanh thuật lại lời Thương Quân trước lúc lâm chung, quả nhân càng thấy bất an. Theo lý mà nói, Thương Quân nếu muốn mưu phản, lẽ ra phải giết quả nhân mới đúng, tại sao lại giết công thúc? Và còn Chu Đà, vừa nãy quả nhân nghe nói, hắn mới tới chỗ Thương Quân chưa đầy nửa năm, Thương Quân không hề tin tưởng hắn. Việc lớn nhường này, Thương Quân phải giao cho thân tín mới đúng, sao có thể tuỳ tiện giao cho Chu Đà? Cảnh ái khanh, quả nhân hỏi khanh, phải chăng có người muốn hãm hại Thương Quân?”

Cảnh Giám tuy trong lòng hiểu rõ mười mươi, nhưng không dám nói ra, quỳ xuống đáp lời: “Chúa thượng thánh minh! Có người hãm hại hay không, vi thần không dám đoán bừa. Nhưng thần muốn bẩm với chúa thượng, phàm kẻ mưu phản, đều có lòng riêng. Thương Quân là người nước Vệ, tuổi đã ngũ tuần, lại chẳng có người thân thích ở Tần. Thần vốn hiểu rất rõ Thương Quân, từ sau khi tới Tần, mười mấy năm vẫn như một ngày, chỉ một lòng thực thi biến pháp giúp Tần lớn mạnh, đã chưa thành gia, lại không lập thất, càng không có con cái nối dõi. Nếu như mưu phản, thì Thương Quân mưu phản vì ai đây?”

“Lời này rất hữu lý!” Huệ Văn Công liên tiếp gật đầu. “Quả nhân có ý muốn điều tra lại vụ án. Nếu quả thực Thương Quân bị người ta hãm hại, quả nhân tuyệt đối không dung! Cảnh ái khanh, quả nhân muốn giao vụ án này cho ái khanh điều tra, được chăng?”

Nhớ lại lời của Công Tôn Ưởng trước lúc lâm chung, Cảnh Giám bèn nói: “Đa tạ chúa thượng đã coi trọng! Nhưng vụ án này liên quan đến viên lão thế tộc, quyền quý quốc thích, vi thần sợ mình khó lòng gánh vác!”

“Vậy… theo ý ái khanh, ai mới có thể đảm nhiệm?”

“Thái phó!”

Huệ Văn Công suy nghĩ hồi lâu, rồi quay sang nội thần: “Truyền dụ, truyền thái phó, công tử Hoa đến thư phòng yết kiến!”

Nội thần khom lưng đáp: “Thần tuân chỉ!”

Phủ thái sư, không khí tưng bừng.

Trong phòng khách rộng thênh thang, Cam Long ngồi ngay ngắn trước bàn, Trần Chẩn ngồi kề bên cạnh. Các thành viên cựu đảng ngồi thành hai hàng hai bên theo thứ tự chức tước, trên các mặt bàn bày đầy rượu ngon và sơn hào hải vị. Ai nấy mặt mày hớn hở, nâng chén liên hồi.

Rượu được ba tuần, Cam Long đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người, đặng hắng liền mấy tiếng.

Đại sảnh đang huyên náo lập tức lặng phắc như tờ, tất cả các ánh mắt đều đổ dồn vào lão thái sư.

Cam Long rót đầy chén rượu, đưa cho Trần Chẩn, sau đó lại rót đầy chén của mình, tay nâng chén, chậm rãi nói: “Hôm nay chúng ta trừ được gian tặc Công Tôn Ưởng, thượng đại phu đã góp công lớn! Chư vị đại nhân, theo ý lão hủ, trước tiên hãy kính thượng đại phu một chén!”

Mọi người cùng nâng chén, đồng thanh nói: “Người Tần xin kính thượng đại phu một chén!”

Trần Chẩn nâng chén, đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người: “Công Tôn Ưởng hành vi trái nghịch, nên trời cao nổi giận mà trừng phạt, Trần Chẩn không dám nhận công! Theo ý Trần Chẩn, chúng ta hãy kính chén rượu này cho trời cao, ý các vị đại nhân thế nào?”

Mọi người đồng thanh khen hay, rồi đua nhau hắt rượu lên không.

Đỗ Chí hớn hở nói: “Lời này của thượng đại phu đã nói tới tận tâm khảm hạ quan! Nhớ năm xưa, khi Công Tôn Ưởng xử trảm bảy trăm hiền sĩ, máu chảy thành sông bên bờ Vị Thuỷ, e rằng không thể ngờ được bản thân hắn rồi cũng sẽ có ngày hôm nay. Đây gọi là trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, ông trời dù sao cũng rất công bằng.”

“Than ôi!” Công Tôn Giả vuốt râu, khẽ thở dài. “Nhưng đáng tiếc, khi ngũ mã phanh thây, hạ quan lại không được nghe tiếng kêu rú thảm thiết của Công Tôn Ưởng, quả là đáng tiếc! Lão thái sư, hạ quan thật không hiểu, Công Tôn Ưởng đã phạm tội chết, tại sao chúa thượng còn ban cho hắn rượu độc?”

“Các vị đại nhân,” Cam Long đưa tay vuốt chòm râu dài, rồi chậm rãi nói, “ta cho rằng, đây chính là chỗ thánh minh của chúa thượng. Chúa thượng khác với tiên quân. Tiên quân coi dân như kẻ thù, động một chút là sử dụng hình phạt tàn khốc, tru di cửu tộc. Còn chúa thượng lại lấy nhân ái làm gốc trị quốc, hành động này đủ để thể hiện tấm lòng khoan dung của chúa thượng, đây chính là điềm đại phúc của nước Tần!”

“Thái sư nói chí phải,” Đỗ Chí thán phục nói. “Bây giờ nghĩ lại, năm xưa chúa thượng sở dĩ dẫn đầu chống lại biến pháp, cũng là xuất phát từ lòng yêu dân.”

“Ta cho rằng, mầm hoạ của nước Tần không phải ở Công Tôn Ưởng, mà ở biến pháp.”

Lời Cam Long vừa dứt, Trần Chẩn lập tức gật đầu phụ hoạ: “Lời lão thái sư chí lý. Trần Chẩn cũng có một lời, nếu có điều gì chưa thoả, mong thái sư và các vị đại nhân lượng thứ!”

Cam Long khẽ vòng tay: “Thượng đại phu cứ nói đừng ngại!”

“Nếu như Trần Chẩn đoán không sai, xử tử Công Tôn Ưởng, hoàn toàn không phải kế sách sâu xa của chúa thượng!”

Đỗ Chí thoáng ngần ngừ: “Nghe thượng đại phu nói vậy, kế sách sâu xa của chúa thượng, phải chăng là trừ bỏ tân pháp?”

“Đỗ đại nhân một lời đã trúng!” Trần Chẩn quay sang Đỗ Chí, dựng ngón tay cái lên. “Tuy nhiên, lúc này chúa thượng cũng có chỗ khó xử, vì tân pháp chính là quốc sách do tiên quân Hiếu Công định ra, chúa thượng mới kế vị, không dễ tuỳ tiện biến đổi!”

Mọi người đều gật gù.

Tuy nhiên, Trần Chẩn liền đổi giọng, “Tại hạ cho rằng, việc này không khó giải quyết. Nếu các vị đại nhân dám nghĩ điều mà chúa thượng nghĩ, phát động thần dân trong triều ngoài nội cùng dâng tấu xin phế bỏ tân pháp, sẽ trở thành ý dân. Nếu đã trở thành ý dân, thì lúc đó… tình thế sẽ khác hẳn.”

Quả là một đề nghị bạo gan. Mọi người đều quay sang nhìn nhau, rồi lại cùng ngoảnh nhìn thái sư Cam Long.

“Ừm!” Cam Long vuốt râu một hồi, rồi khẽ gật gù. “Lời thượng đại phu không phải không có lý. Chúa thượng thấy ý dân như thế, thì có thể thuận dòng đẩy thuyền, khôi phục cựu chế của Đại Tần!”

“Các vị đại nhân,” Đỗ Chí đứng dậy, ôm quyền quay khắp một vòng, “lão thái sư đã có lời, chúng ta cũng nên nhanh chóng hành động, phát động thần dân, mỗi người trình một tấu thư, cầu xin chúa thượng phế bỏ tân pháp, khôi phục cựu chế!”

Mọi người đều đồng lòng nhất trí.

Trong điện Thái Hoà, trên bàn của Huệ Văn Công lại là một chồng tấu chương chất cao ngồn ngộn, không bản nào không có dòng chữ “phế bỏ tân pháp, khôi phục cựu chế của Mục Công”.

Huệ Văn Công sắc mặt trầm trọng, tiện tay lật qua mấy bản tấu, đôi mày từ từ chau tít lại.

Nội thần đi vào: “Bẩm chúa thượng, có thái phó, quốc uý, thượng đại phu, công tử Hoa cầu kiến.”

“Cho họ vào!”

Doanh Kiền, Xa Anh, Cảnh Giám, công tử Hoa rảo bước vào, quỳ xuống bái lạy: “Vi thần khấu kiến chúa thượng!”

“Các khanh bình thân!” Huệ Văn Công chỉ tay vào dãy bàn ở hai bên. “Mời ngồi!”

Mọi người lục tục ngồi xuống, ai nấy đều cúi gằm mặt, Doanh Kiền vòng tay nói: “Khởi bẩm chúa thượng, vi thần đã điều tra rõ ràng, không có chuyện Công Tôn Ưởng làm phản, mà là do Cam Long, Đỗ Chí dựng chuyện giá hoạ.”

“Ồ?” Huệ Văn Công ra vẻ kinh hãi. “Ái khanh có chứng cứ gì không?”

Doanh Kiền ra hiệu cho công tử Hoa, công tử Hoa bèn lấy ra bản cung khai có điểm chỉ của Chu Đà: “Đây là lá thư sám hối mà quan tư hình tìm thấy trên người Chu Đà, trên đó còn có điểm chỉ của hắn!”

Đây chính là bản cung khai của Chu Đà do Huệ Văn Công đích thân thẩm vấn, công tử Hoa đã bắt hắn điểm chỉ vào. Huệ Văn Công đã sớm biết sự thật, nhưng vẫn giả bộ nhận lấy đọc, rồi đập mạnh tay xuống bàn: “Gian tặc to gan, dám nhân lúc quả nhân mới kế vị, kết bè kết đảng, lừa dối quả nhân, hãm hại trụ cột quốc gia, âm mưu phá hoại tân pháp của tiên quân, đúng là gian tặc nước Tần! Xa quốc uý!”

Xa Anh bước lên một bước: “Có vi thần!”

Huệ Văn Công chỉ vào đống tấu chương chồng chất trên bàn: “Khanh hãy mang những bản tấu này về! Tất cả những cái tên có trên bản tấu đều là đồng đảng của gian tặc, hãy bắt tất cả về quy án, tống giam vào tử lao, đợi quả nhân xử quyết!”

“Vi thần tuân chỉ!”

Bên bờ Vị Thuỷ, người đông nghìn nghịt như kiến. Những tiếng hô “tru di gian tặc”, “biến pháp cường quốc”, “báo thù cho Thương Quân” vang lên dậy đất. Cũng tại chính nơi đã hành hình Công Tôn Ưởng, đám Cam Long, Đỗ Chí, Công Tôn Giả… cùng các viên lão thế tộc và người nhà của họ đông tới vài trăm đều bị giáp sĩ của quốc uý áp giải đến pháp trường.

Trên giám hình đài, hình quan Xa Anh ngồi chính giữa, quan giám hình Doanh Kiền, Cảnh Giám ngồi ở hai bên. Tất cả các quan viên trong cung Tần từ đại phu trở lên đều có mặt, sứ thần liệt quốc vẫn ngồi ở hàng thứ hai. Trần Chẩn cũng có mặt trong số đó, nhưng vẻ mặt sượng sùng, khí sắc không còn phấn chấn như ngày ngũ xa phân thây Công Tôn Ưởng.

Ba hồi trống kết thúc, Xa Anh đang định hạ lệnh hành hình, thì đột nhiên một kỵ sĩ phi ngựa nước đại lao đến, từ xa đã hô lớn: “Chúa thượng giá lâm!”

Đám Xa Anh vội vàng quỳ xuống.

Đám Cam Long đang mặt mày tái mét chờ chết, giờ bỗng như vớ được một tia hy vọng.

Huệ Văn Công rảo bước xuống xe, đi tới giám hình đài.

Từ sau khi đăng cơ, đây là lần đầu tiên Huệ Văn Công trực tiếp lộ diện trước thần dân nước Tần. Trên đài dưới đài, cả vạn chúng dân đều dõi mắt nhìn Huệ Văn Công.

Mọi người đều lặng phắc, chờ đợi.

Huệ Văn Công đứng trên đài cao, vung mạnh cánh tay, giọng vang như sấm: “Hỡi các thần dân Đại Tần! Hôm nay, trời cao nổi giận, tru diệt quốc tặc, dân chúng vui mừng, cả nước hoan hỷ. Quả nhân nhân cơ hội hiếm có này, cũng đến đây giãi bày tấm lòng cùng mọi người!” Dừng lại một lát, lại vung quyền lên. “Mười tám năm trước, Công Tôn Ưởng người Vệ đã rời Ngụy đến Tần, trợ giúp tiên quân, thực thi biến pháp. Trong hơn mười năm Đại Tần biến pháp, dân giàu nước mạnh, thứ nhất chiếm được Hà Tây, thứ hai dễ dàng đoạt lấy Thương Ư, uy phục liệt quốc. Nước Tần có được ngày hôm nay, đều nhờ công của Thương Quân. Tiên quân băng hà, quả nhân đã dùng lễ quốc phụ để đối đãi với Thương Quân. Nhưng gian tặc Cam Long, Đỗ Chí, Công Tôn Giả luôn coi tân pháp là thù địch, coi Thương Quân là cái gai trong mắt, nhân lúc quả nhân mới kế vị, đang chịu quốc tang, lập bè kết đảng, vu oan hãm hại Thương Quân, lại không đếm xỉa tới lợi ích quốc gia, cấu kết với sứ thần nước khác,” rồi đưa mắt quét qua giám hình đài, thoáng dừng tại Trần Chẩn, “kết mưu với Nhung Địch, nội ngoại bức ép, buộc quả nhân phải giết Thương Quân. Từ khi Thương Quân ngộ nạn, gian đảng càng thêm lộng hành, liên tục âm mưu, nhiều lần dâng tấu, muốn tiếp tục bức quả nhân phế bỏ tân pháp, khôi phục cựu chế! Điều này mà nhẫn nhịn được, thì còn gì không nhẫn nhịn được? Hỡi các thần dân Đại Tần, các người có muốn phế bỏ tân pháp, khôi phục cựu chế hay không?”

Mọi người đồng thanh: “Không đồng ý!”

Huệ Văn Công nói lớn: “Tân pháp là cái gốc giúp Tần lớn mạnh, là tâm huyết suốt mười mấy năm của tiên quân, Thương Quân và con dân Đại Tần, làm sao có thể bị phế trong tay quả nhân? Hỡi các thần dân Đại Tần, lẽ nào các người muốn quay về con đường cũ, cam lòng nhìn Đại Tần trở lại là nước yếu dân nghèo, như con dê non mặc cho người ta xẻ thịt?”

Mọi người đồng thanh: “Không muốn!”

“Tốt lắm!” Huệ Văn Công lại giơ tay lên cao. “Quả nhân ở đây, xin thề với anh linh của Thương Quân, xin thề với trời cao, pháp của tiên quân, mãi không thay đổi!”

Muôn lời cùng hưởng ứng, muôn cánh tay đồng loạt giơ lên, tất cả đồng thanh: “Chúa thượng vạn tuế! Tân pháp vạn tuế! Giết chết gian tặc! Báo thù cho Thương Quân!”

Trên đài hành hình, đám Đỗ Chí, Công Tôn Giả sau gáy đều bị cắm các thẻ bài chữ “trảm”, mặt nhợt như sáp, đưa ánh mắt uất ức nhìn sang Cam Long.

“Lão thái sư,” ánh mắt Đỗ Chí đầy uất hận, “ông nghe xem, chúng ta kết mưu với Nhung Địch bao giờ thế?”

“Than ôi!” Cam Long nhắm mắt thở dài. “Là lão hủ đã nhìn nhầm! Ta cứ ngỡ thằng nhóc kia đã là quân cờ trong tay chúng ta, thật không thể ngờ, con trai còn thâm độc hơn cha hắn ba phần!”

“Phải rồi!” Công Tôn Giả đau xót nói. “Đây gọi là rắn sinh rắn, bọ cạp sinh bọ cạp, cha độc con càng độc!”

“Hai vị đại nhân,” Cam Long mở mắt ra, “chắc hai vị vẫn còn nhớ mấy con chim vàng anh hôm nọ? Đến hôm nay ta mới hiểu ra, kẻ này còn hơn cả cha mình, ung dung bất động, mà một hòn đá giết ba chim!”

“Một hòn đá giết ba chim?” Công Tôn Giả kinh ngạc. “Ý thái sư là, ngài cũng là một trong ba con chim đó?”

“Đúng thế!” Cam Long thừa nhận. “Cũng giống như Công Tôn Ưởng, lão hủ đây chính là một con chim trong lồng của tiên quân!”

Công Tôn Giả sững sờ mất một lúc mới mở miệng hỏi: “Xin hỏi thái sư, con chim còn lại thì sao? Lẽ nào lại là… là hạ quan ư?”

Cam Long cười nhạt: “Công Tôn đại nhân, ngài đánh giá mình quá cao rồi!”

“Vậy…” Công Tôn Giả đưa mắt nhìn lên giám hình đài, “người đó là ai?”

Cam Long không trả lời, mà quay sang hất cằm lên giám hình đài: “Nhìn xem, có người còn nhớ đến ta, muốn đến tiễn ta đấy!”

Công Tôn Giả ngẩng lên nhìn, quả nhiên thấy Doanh Kiền đang nói gì đó với Huệ Văn Công, rồi Huệ Văn Công gật đầu. Một lát sau, Doanh Kiền tay cầm chén, một người khác ôm theo vò rượu, hai người bước từng bước chậm rãi xuống khỏi giám hình đài, đi lên hành hình đài.

Doanh Kiền đi thẳng tới chỗ Cam Long đang bị trói chặt hai tay, quỳ xuống đất, rót đầy chén rượu, hai tay đưa lên đến miệng Cam Long: “Lão thái sư, Doanh Kiền xin được tiễn ông!”

Cam Long chậm rãi nói: “Đa tạ thái phó!” Rồi há miệng, một hơi uống cạn.

“Lão thái sư!” Doanh Kiền do dự một lát. “Ông còn chuyện gì dang dở, xin hãy giao phó cho Doanh Kiền!”

Cam Long đưa mắt khắp pháp trường, nhìn đám con trai, con dâu, con gái, con rể, mười mấy người cháu và thê thiếp cùng phải chịu chung số phận với mình, đau đớn nói: “Cả nhà lão hủ đều ở cả đây, còn có gì để giao phó nữa? Nhưng ta có một câu muốn nói với thái phó!”

“Thái sư cứ nói!”

“Còn nhớ ba con chim vàng anh trước linh cữu tiên quân chăng?”

Doanh Kiền gật đầu.

“Hai con chim đã chết, cũng đến lượt con thứ ba rồi!”

“Thái sư lo xa quá rồi!” Doanh Kiền lại quay sang Công Tôn Giả, Đỗ Chí, rót cho mỗi người đầy một chén rượu, lần lượt mời họ uống cạn, sau đó quay người, cất từng bước nặng nề trở lên giám hình đài.

Nhìn theo bóng ông ta, Công Tôn Giả kinh ngạc hỏi: “Thái sư, ý ông là, con chim thứ ba sẽ là thái phó?”

Cam Long không trả lời, từ từ khép mắt lại.

“Điều này không thể!” Công Tôn Giả lập tức phản bác. “Chúa thượng có tàn độc đến mấy, cũng không thể giết hại chú ruột của mình…”

“Than ôi!” Cam Long thở dài. “Có thể hay không, chúng ta cũng chẳng nhìn thấy được nữa!”

Lời Cam Long vừa dứt, tiếng trống bỗng vang lên dồn dập, Xa Anh thẳng tay ném lệnh tiễn xuống đất: “Thời gian đã đến, hành hình!”

Một hàng đao phủ rảo bước lên hành hình đài, áp tới sau lưng đám Cam Long, vung đại đao chém thẳng xuống trong nhịp trống thùng thùng.

Tối hôm đó, Doanh Kiền trở về phủ, tâm tư hồi lâu vẫn chưa thể trấn tĩnh. Câu nói của Cam Long trước khi chết cứ văng vẳng bên tai: “Hai con chim đã chết, cũng đến lượt con thứ ba rồi.”

Kỳ thực, từ sau khi Doanh Tứ hạ chỉ cho Doanh Kiền điều tra lại vụ án Thương Quân, Doanh Kiền đã từ từ hiểu ra, một triều thiên tử một triều thần. Thương Quân, thái sư, và cả ông ta, tất cả đều là lão thần của triều trước, tất cả đều có thế lực lớn. Có họ trong triều, chúa thượng ắt phải có chỗ dè chừng, và cũng không thể an tâm. Lúc trước Doanh Kiền luôn nghĩ rằng Doanh Tứ không quan tâm đến quốc sự, bây giờ xem ra, ông đã nhìn lầm.

Doanh Kiền ngồi trầm tư trong phòng hồi lâu, đột nhiên, một tia sáng loé lên trong đầu, liền đánh xe đi thẳng tới phủ Cảnh Giám.

Doanh Kiền ngoài miệng tán đồng biến pháp, nhưng trong tâm vẫn nhớ về cựu đảng, vì vậy luôn đối đầu với Công Tôn Ưởng, không hay qua lại với những người thuộc tân đảng như Cảnh Giám. Lúc này đến phủ, lại giữa đêm khuya, không khỏi khiến Cảnh Giám giật mình, do dự một lát rồi mới thay quan phục, ra cổng đón tiếp, vòng tay vái mà nói: “Hạ quan không biết thái phó đại nhân quang lâm, thất lễ, thất lễ!”

Doanh Kiền thân mặc thường phục, đáp lễ mà nói: “Thượng đại phu bất tất phải khách khí. Doanh Kiền không hẹn mà tới, coi như là khách không mời!”

“Thái phó đại nhân là khách quý, hạ quan còn không dám mong mời được ngài tới thăm. Đại nhân, mời!”

Hai người đi vào trong phòng, chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Người hầu dâng trà lên, hai người cùng uống một ngụm, Cảnh Giám mở miệng liền hỏi thẳng: “Thái phó đại nhân bận trăm công ngàn việc, lần này tới hàn xá của hạ quan, hẳn là có việc lớn cần chỉ giáo?”

“Doanh Kiền muốn cho thượng đại phu biết, chuyện của Thương Quân, Doanh Kiền thực lòng hối hận!”

“Chuyện của Thương Quân không liên quan tới thái phó, thái phó không phải tự trách mình.”

“Than ôi!” Doanh Kiền thở dài. “Doanh Kiền là người thô lỗ, chưa hỏi rõ phải trái trắng đen đã vội tin lời Cam Long. May sao chúa thượng thánh minh, cuối cùng cũng làm rõ chân tướng. Doanh Kiền hôm nay nghĩ lại, thấy hối hận vô cùng!”

“Nếu không có thái phó đại nhân, đâu có thể giải oan báo thù cho Thương Quân?”

“Thượng đại phu nói vậy, khiến Doanh Kiền càng thêm hổ thẹn. Hôm nay Doanh Kiền đến đây, là muốn hỏi một chuyện.”

“Thái phó cứ hỏi, hạ quan nếu biết sẽ không dám giấu!”

“Nghe nói, chúa thượng muốn Doanh Kiền điều tra lại vụ án, là theo ý của thượng đại phu, có chuyện này chăng?”

“Không phải ý của hạ quan, mà là ý của Thương Quân!”

“Ý của Thương Quân?” Doanh Kiền thất kinh. “Thương Quân nói thế nào?”

“Trước lúc lâm chung, hạ quan có đến tiễn chân, Thương Quân nói với hạ quan, nếu chúa thượng muốn điều tra lại vụ án, hãy giao cho thái phó!”

“Ồ?” Doanh Kiền kinh ngạc đến trợn mắt há miệng, một lúc sau mới thốt nên lời. “Thương Quân còn nói gì nữa không?”

“Thương Quân còn nói, tại hạ công thành danh toại, nhưng không biết tiến thoái, cũng đáng đời lắm! Cảnh huynh, huynh hãy nói lại với Xa tướng quân, hai người nhất định phải lấy Ưởng làm gương, tự biết trân trọng!”

Doanh Kiền trầm tư một lát, liên tiếp gật đầu, rồi ngẩng lên hỏi: “Xin hỏi thượng đại phu, sau này có tính toán gì chưa?”

Cảnh Giám thở dài: “Than ôi, còn tính toán gì nữa! Hạ quan tuổi quá ngũ tuần, cũng đã già rồi. Hạ quan và Xa tướng quân đều đã suy nghĩ kỹ, ngay ngày mai, sẽ tâu xin chúa thượng cho cáo lão hồi hương, tìm một nơi an dưỡng tuổi già, trồng hoa nuôi chim, vui với ruộng vườn, coi như sống nốt tuổi tàn!”

Doanh Kiền vội vòng tay: “Nuôi chim trồng hoa cũng là thú vui của Doanh Kiền. Nếu hai vị không tính toán chuyện trước đây, có thể cho Doanh Kiền cùng chung hưởng được chăng?”

Cảnh Giám vòng tay đáp lễ! “Có thể cùng chung vui với thái phó đại nhân, đó là phúc phận của hạ quan.”

“Tốt lắm! Tốt lắm!” Doanh Kiền khen liền mấy tiếng. “Xin thượng đại phu hãy nói lại với Xa tướng quân, rằng chúng ta quyết định như vậy!”

***

Trên con đường dịch đạo(1) ở ngoại ô phía đông Hàm Dương, Tư Mã Thác dẫn theo một đoàn tuỳ tùng ra roi phóng gấp, từ xa nhìn thấy phía trước cũng xuất hiện một đoàn người ngựa, nhìn cờ hiệu đoán là Sư Lý Tật đã chạy thông đêm từ Thương Quận trở về, liền quất ngựa chạy tới.

Tư Mã Thác vòng tay vái mà nói: “Sư Lý huynh, thật không ngờ lại gặp được huynh ở đất này!”

“Tại hạ cũng vậy!” Sư Lý Tật vòng tay đáp lễ. “Tư Mã tướng quân, tướng quân đang ở Hà Tây, sao lại tới đây?”

“Chúa thượng triệu mạt tướng gấp rút hồi cung, không biết có chuyện gì? Còn Sư Lý huynh?”

“Tại hạ cũng vậy!”

“Nghe nói chúa thượng đã chém đầu đám gian tặc Cam Long, tổng cộng hơn mười hai gia tộc, mấy trăm mạng người, thật khiến người ta sảng khoái! Nếu lúc đó mạt tướng có mặt, chắc chắn sẽ tự tay chặt mấy cái đầu chó đó xuống!”

Sư Lý Tật thở dài: “Chúa thượng thánh minh, vong hồn Thương Quân trên trời coi như cũng được an ủi!”

Hai người hội quân, cùng tiến về cổng thành, vào thẳng trong cung.

Hôm nay là tiểu triều, nên chỉ có chừng mười triều thần thượng triều, đều là có việc cần bẩm báo. Huệ Văn Công lần lượt trả lời từng bản tấu chương, thấy không còn ai tấu báo gì nữa, đang định bãi triều thì Cảnh Giám đưa mắt nhìn Xa Anh, rồi bước lên nói lớn: “Vi thần có tấu!”

“Ái khanh cứ nói!”

“Chúa thượng!” Cảnh Giám hai tay trình lên bản tấu. “Vi thần tuổi đã cao, sức yếu nhiều bệnh, vốn dĩ cũng muốn cúc cung tận tụy vì chúa thượng, nhưng tâm có thừa mà sức không đủ, chỉ e làm lỡ đại sự triều đình. Vi thần xin được cáo lão hồi hương, an dưỡng tuổi già, mong chúa thượng ân chuẩn!”

Quần thần đưa mắt nhìn nhau, còn chưa kịp định thần thì Xa Anh cũng bước lên, dâng tấu mà nói: “Vi thần cũng xin được cáo lão hồi hương, an dưỡng tuổi già, mong chúa thượng ân chuẩn!”

Huệ Văn Công trầm tư một lát, rồi gật đầu đồng ý: “Chuẩn tấu cho hai vị ái khanh!” Quay sang nội thần. “Hạ chỉ, hai vị ái khanh trung quân yêu dân, bảo vệ tân pháp, vất vả lập công, thưởng cho mỗi vị năm trăm lượng vàng, năm mươi tấm lụa, phong tặng trăm hộ, một toà phủ trạch.”

Xa Anh, Cảnh Giám cùng quỳ xuống khấu tạ: “Vi thân tạ ân chúa thượng!”

Hai người tạ ân xong, Doanh Kiền cũng bước lên: “Chúa thượng, vi thần có tấu!”

“Công thúc, xin cứ nói!”

Doanh Kiền lấy ra một bản tấu từ trong tay áo, hai tay dâng lên: “Những điều vi thần muốn tâu bày, đều đã viết trong bản tấu này, mong chúa thượng ngự lãm!”

Nội thần nhận lấy bản tấu, trình lên Huệ Văn Công.

Huệ Văn Công xem qua bản tấu, rồi nói với chúng thần: “Chư vị ái khanh, nếu không ai còn tấu, bãi triều!”

Chúng thần lần lượt tản đi.

Doanh Kiền trong lòng lo lắng, đang định rời đi thì Huệ Văn Công gọi: “Công thúc, xin dừng bước!”

Doanh Kiền liền dừng lại.

“Mời công thúc đến thư phòng nói chuyện!” Huệ Văn Công nói đoạn, liền đi trước dẫn đường.

Doanh Kiền đi theo Huệ Văn Công đến ngự thư phòng, chia ngôi quân thần ngồi xuống.

“Công thúc,” Huệ Văn Công vòng tay. “Công thúc cũng muốn cáo lão hồi hương ư?”

“Khởi bẩm chúa thượng, công thúc chỉ nhỏ hơn quân huynh ba tuổi. Khi quân huynh còn, công thúc vẫn chưa có cảm nhận gì. Quân huynh vừa ra đi, công thúc mới đột ngột nhận ra mình đã thành già yếu. Công thúc quả thực đã già rồi, suốt mấy ngày nay, cứ mãi nhớ nhung quân huynh…” Doanh Kiền nói đến đây, hai mắt rưng rưng.

Huệ Văn Công thấy sống mũi cay sè, bèn quỳ xuống trước mặt Doanh Kiền: “Tâm sự của công thúc, Tứ Nhi hiểu rõ. Công thúc không phải đã già, mà công thúc thấy Tứ Nhi còn non nớt, cần được rèn giũa, muốn giao lại gánh nặng nghìn cân cho một mình Tứ Nhi gánh vác, để khiến Tứ Nhi sớm tối tôi rèn mà thành lão luyện!”

“Chúa thượng,” Doanh Kiền cũng quỳ xuống, “trước đây công thúc đã nhìn lầm chúa thượng. Nước Tần có được chúa thượng, chắc chắn sẽ thành đại nghiệp!”

“Đa tạ công thúc quá khen!” Huệ Văn Công nhìn thẳng vào Doanh Kiền. “Công thúc cai quản lương thảo, đó là việc lớn của đất nước. Công thúc muốn từ chức, vậy xin hỏi công thúc, người nào có thể đảm đương trọng trách này?”

“Cam Mậu!”

“Cam Mậu?” Huệ Văn Công hít vào một hơi dài. “Tứ Nhi còn nhớ hình như người này đã từng phản đối công thúc ngay trước mặt quần thần, khiến công thúc mất mặt.”

“Chúa thượng chỉ hỏi là người nào có thể đảm đương trọng trách, chứ không hỏi người nào đã từng xung đột với lão thần!”

“Đúng vậy!” Huệ Văn Công gật đầu. “Xin hỏi công thúc, khi Thương Quân lâm chung đã tiến cử Sư Lý Tật và Tư Mã Thác với Tứ Nhi, theo ý công thúc, hai người này thế nào?”

“Người mà Thương Quân tiến cử, chúa thượng cứ yên tâm dùng!”

Lời vừa dứt, nội thần liền bước vào: “Khởi bẩm chúa thượng, quận thú Hà Tây Tư Mã Thác, quận thú Thương Ư Sư Lý Tật đang đợi ở bên ngoài!”

“Thật là vừa khéo!” Huệ Văn Công đứng dậy, vui vẻ nói. “Quả nhân vừa nhắc đến họ, họ đã đến nơi.” Rồi quay sang nội thần. “Truyền hai người vào yết kiến!”

Trong buổi đại triều ba ngày sau, Huệ Văn Công liên tiếp ban mấy đạo chiếu thư, đồng ý cho thái phó Doanh Kiền, thượng đại phu Cảnh Giám, quốc uý Xa Anh từ quan quy ẩn, cáo lão hồi hương, đồng thời bổ nhiệm Sư Lý Tật làm thượng đại phu, tiếp quản chính vụ của Cảnh Giám; Tư Mã Thác làm quốc uý, tiếp quản quân vụ của Xa Anh; quận thú Lũng Tây Cam Mậu làm hữu canh, tiếp quản tài vụ của Doanh Kiền.

Mấy ngày sau đó, Huệ Văn Công tiến hành điều động quy mô lớn với các quan viên từ quận thú, đại phu, thiên phu trưởng trở lên ở tất cả các vùng, hoặc thăng hoặc giáng, hoặc điều chuyển hoặc di dời, chỉnh đốn toàn diện, hầu như không bỏ sót một ai.

Mọi công việc được Huệ Văn Công tiến hành liền mạch chóng vánh, vừa không dây dưa kéo dài, cũng không qua loa cẩu thả, bất kể nhìn từ điểm nào cũng có thể nhận ra, Huệ Văn Công đã sớm có tính toán từ trước. Hành động lần này đã cho tất cả các quan viên được biết, toàn bộ sống chết vinh nhục của họ đều nằm trong tay quân chủ mới.

Và như vậy, sau khi Tần Hiếu Công băng hà chưa đầy ba tháng, Huệ Văn Công tả hữu giương cung, quyết sách liên hoàn, hành sự chặt chẽ, trừ Thương Quân, diệt cựu đảng, thay đổi triều thần, khiến cho liệt quốc nhìn mà hoa mắt chóng mặt.

Nhờ một loạt quyết sách khiến người khác phải kinh tâm táng đởm, Huệ Văn Công đã chỉnh đốn lại toàn bộ triều cục rối ren sau khi Tần Hiếu Công băng hà, hoàn toàn khống chế triều chính nội ngoại của nước Tần.

Tuy nhiên, Huệ Văn Công vẫn chưa thể kê gối ngủ ngon, mà vẫn ngồi lặng lẽ trước án, cảm nhận một nỗi sợ hãi xuất phát từ sâu thẳm trong tim.

Huệ Văn Công biết mình đang sợ hãi điều gì. Ông hiểu rất rõ, mặc dù đã hành sự vẹn toàn, nhưng vẫn còn thiếu một thứ quan trọng.

Đó chính là Thương Quân!

Tiên quân có Thương Quân, vì vậy biết rõ nước Tần nên đi theo hướng nào, không nên đi hướng nào, nhưng trong tay ông lại chưa có gì cả. Sư Lý Tật, Tư Mã Thác, Cam Mậu, mặc dù trung dũng đáng tin, có chút tài cán, nhưng đều chỉ biết làm những việc cụ thể, không ai có khả năng nhìn xa trông rộng, đảm đương quốc chính như Thương Quân, chứ chưa nói đến khả năng xoay chuyển nguy cục.

Nếu so với Thương Quân, họ hoàn toàn không xứng đáng. Có lẽ chỉ có một người có thể ngang hàng với Thương Quân, đó chính là Công Tôn Diễn.

Tuy nhiên, hiện giờ Huệ Văn Công không có thời gian để mắt đến người này, vì còn có một sự việc cấp bách hơn nhiều.

Sự việc đó chính là, nước Tần nên đi theo đường nào? Nước Tần giống như con thuyền lớn đang lênh đênh trên biển cả, thuyền trưởng đột nhiên ngã xuống, cùng ngã theo thuyền trưởng là một loạt thuỷ thủ lão luyện, trong số họ, có người rành thiên văn, có người thạo hải đồ, có người cầm lái, có người giương buồm, có người quăng neo. Trên mặt biển lúc này, sóng lớn cuộn trào, đá ngầm rình rập, vị thuyền trưởng tân nhiệm đã dốc tận tài năng tâm sức, cuối cùng đã giữ cho con thuyền được thăng bằng. Hiện giờ, toàn bộ thuyền viên trên dưới một lòng, muôn sự đổi mới, nhưng là thuyền trưởng và người cầm lái, Huệ Văn Công hiểu rõ, trên thuyền giờ đây không thiếu tay chèo, không thiếu người giương buồm, mà là thiếu người quan sát thiên văn và đọc hải đồ. Không tìm được sao Bắc Đẩu, không biết đọc hải đồ, không xác định được đông nam tây bắc, con thuyền lớn sẽ không biết phải đi đâu, càng không biết nơi nào có sóng cả, nơi nào có đá ngầm.

Huệ Văn Công đột nhiên nhớ lại lời Công Tôn Ưởng lúc ở trong ngục, trầm tư một hồi, rồi gọi Tư Mã Thác và Sư Lý Tật tới, quân thần ba người cùng tìm đến núi Chung Nam.

Doanh trại trước đây của Tư Mã Thác đóng gần Hàn Tuyền, cộng thêm mấy lần trước có qua lại với Công Tôn Ưởng, vì vậy rất rành đường thuộc lối. Nhờ Tư Mã Thác dẫn đường, quân thần ba người đi ra khỏi doanh trại, chưa tới hai canh giờ đã đến thung lũng dẫn đến Hàn Tuyền. Đi thêm một lúc, Huệ Văn Công, Sư Lý Tật, Tư Mã Thác chợt thấy một người đứng bên đường.

Thấy ba người đi tới, người này chưa hỏi han gì đã vòng tay vái thật sâu: “Tại hạ Giả Xá Nhân phụng mệnh tiên sinh, đứng đợi ba vị đại nhân ở đây!”

Huệ Văn Công giật mình, đưa mắt nhìn Sư Lý Tật, lại quay sang nhìn Tư Mã Thác, hai người đều cả kinh. Ba người lần này đến không báo trước, nhưng Hàn Tuyền Tử lại đoán biết được, nếu không phải người đắc đạo, sao có được công lực này?

Tư Mã Thác trước đây đã từng gặp Giả Xá Nhân, vội vòng tay nói: “Đã khiến Giả tiên sinh phải vất vả!”

Giả Xá Nhân chìa tay: “Ba vị đại nhân, mời!”

Tư Mã Thác đáp lại: “Giả tiên sinh, mời!”

Giả Xá Nhân đi trước dẫn đường, bốn người đi theo đường núi đến trước một căn nhà cỏ, Hàn Tuyền Tử đã đứng đợi sẵn bên ngoài, thấy Huệ Văn Công, bèn vòng tay vái mà nói: “Chúa thượng giá lâm hàn xá, Hàn Tuyền Tử không nghênh đón từ xa, đắc tội, đắc tội!”

Huệ Văn Công lại giật mình kinh ngạc, rồi cũng vòng tay đáp lễ: “Làm sao tiên sinh biết Doanh Tứ là quân chủ?”

“Lão hủ thấy khí tía từ phương bắc tới, lại có mây lành bao phủ, nên đoán biết được.”

“Tiên sinh quả là thần nhân!”

Hàn Tuyền Tử dẫn họ vào nhà cỏ, chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Hai đạo đồng rót trà xong, lui sang hai bên.

Hàn Tuyền Tử chỉ vào chén trà: “Chúa thượng, hai vị đại nhân, mời dùng trà!”

Huệ Văn Công nhấp một ngụm: “Quả là trà ngon!”

Hàn Tuyền Tử cười nói: “Trà này hái ở bên bờ Hàn Tuyền tại núi Chung Nam, hiện giờ có tám gốc trà, đều do tiên sư Quan Doãn Tử tự tay trồng lấy, uống vào thơm tho thanh nhuận, khác hẳn trà thường.”

“Chẳng trách nơi này thanh tịnh tốt lành, thì ra là thánh địa. Thánh trà nơi thánh địa, Doanh Tứ có thể lấy về một ít để ngày ngày thưởng thức hay chăng?”

“Chúa thượng là quân chủ một nước, có thể ngày ngày thưởng thức. Có điều… trà này không giống trà thường, nếu không phải nước suối Hàn Tuyền thì không thể hãm. Nếu chúa thượng có nhã hứng, có thể sai bách tính nối nhau chuyển về.”

“Nếu vậy thì đành thôi! Chỉ vì thoả mãn ý thích của miệng lưỡi trong chốc lát mà bắt người dân nhọc nhằn lấy nước, trà pha được cho dù có thơm tho thanh nhuận đến mấy, Doanh Tứ cũng không thể nuốt trôi.”

“Chúa thượng có lòng yêu dân, đúng là phúc của nước Tần!”

“Lời khen của tiên sinh, Doanh Tứ không dám nhận.” Không dám giấu tiên sinh, lần này Doanh Tứ đến là có chuyện muốn nhờ cậy.

Dường như Hàn Tuyền Tử đã đoán được Huệ Văn Công định nói gì, lập tức đáp lời: “Chúa thượng cùng Hàn Tuyền Tử sang phòng khác nói chuyện, được chăng?”

Huệ Văn Công gật đầu.

Hàn Tuyền Tử đứng dậy dẫn đường. Hai người đi đến một thư phòng, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Tiểu đồng đi vào, tiếp tục rót trà, sau đó lui ra.

Hàn Tuyền Tử ôm quyền nói: “Chúa thượng có việc gì, xin cứ nói!”

Huệ Văn Công ôm quyền đáp lễ: “Tiên quân sớm băng hà, Doanh Tứ phải gánh trọng trách trên vai. Nước Tần nhỏ hẹp, dân chúng thô tục, nước không có tích luỹ, bách tính cơ cực, lại gặp phải lúc thiên hạ đang loạn, liệt quốc phân tranh, gian nan chồng chất. Doanh Tứ non yếu kém cỏi, chưa đủ lông cánh, mỗi khi nghĩ đến điều này, suốt đêm không thể chợp mắt. Hôm nay đến thánh địa, mong được đại sư chỉ giáo!”

“Chúa thượng bất tất quá ư khiêm tốn!” Hàn Tuyền Tử vòng tay đáp lễ. “Theo quan sát của lão hủ, chúa thượng hành sự quyết đoán, sắp đặt kín kẽ, chỉ trong mấy tháng đã khiến Tần đại hợp đại khai, muôn sự đổi mới. Tài trí nhường này, những quân vương tầm thường tuyệt đối không thể có được. Lão hủ xin chúc mừng chúa thượng!”

“Mọi việc khó lòng qua được tuệ nhãn của tiên sinh, Doanh Tứ thán phục!”

“Chúa thượng giá lâm Hàn Tuyền, phải chăng có liên quan tới đại lương tạo?”

“Đúng thế! Khi Thương Quân còn tại thế, Doanh Tứ có hỏi về đường đi của nước Tần, Thương Quân nói, nếu Doanh Tứ có điều chưa rõ, có thể đến hỏi Hàn Tuyền tiên sinh. Doanh Tứ không mời mà đến, đã quấy nhiễu sự thanh tịnh của tiên sinh, quả thực đường đột.”

“Dám hỏi chúa thượng muốn biết việc gì?”

Huệ Văn Công không hề nghĩ ngợi, lập tức hỏi ngay: “Đại thế của thiên hạ!”

“Đại thế của thiên hạ, phân lâu tất hợp. Ngày nay thiên hạ giả hợp thực phân, về sau sẽ đi đến chỗ giả phân thực hợp. Còn về việc sẽ hợp về tay ai, đó là thiên cơ, lão hủ không thể tiết lộ. Nhưng tình thế trước mắt, tất cả đều như chúa thượng đã thấy, liệt quốc tuy đông, nhưng thành đại thế thì chỉ có bảy. Yên yếu mà ở xa; Triệu mạnh nhưng thiếu giáo hoá; Ngụy, Hàn kẹt giữa nước lớn, khó lòng tự bảo vệ mình. Có thể thành đại nghiệp, chỉ có ba nước Tề, Sở, Tần.

Huệ Văn Công hai mắt mở to: “Xin tiên sinh giải thích rõ hơn!”

“Nước Sở người đông, đất đai màu mỡ, sản vật phong phú, lãnh thổ rộng rãi, có thể thành đại nghiệp. Tề có mối lợi cá muối, giàu có nhờ dâu đay, giáo hoá mà trị, chắc hẳn sẽ là kẻ địch lớn của Tần.”

Huệ Văn Công trầm ngâm một hồi, rồi nói khẽ: “Trăm năm trở lại đây, người Tần luôn coi Ngụy là kẻ địch đáng gờm. Nếu nói như vậy, e rằng đã xem thường Ngụy.”

“Lời của chúa thượng đã là quá khứ!” Hàn Tuyền Tử chậm rãi nói. “Nước Ngụy ngày nay, đông tây chia cắt làm hai, giữa không nối liền, đây là điều đại kỵ của phong quốc. Tạm chưa nói tới điều này, nước Ngụy lại nằm giữa Trung Nguyên, bốn phía đều có địch, ba cường quốc nhòm ngó, chắc chắn sẽ trở thành cá nằm trên thớt, sao có thể thành đại sự?”

“Tiên sinh dạy chí phải. Xin hỏi tiên sinh, Doanh Tứ phải dùng kế sách gì để đối phó với Tề, Sở?”

“Ba nước đối địch, thế lực cân bằng, chỉ được dùng trí, không được dùng sức. Đây gọi là kẻ dùng sức thì mất, kẻ dùng mưu thì còn. Chúa thượng nên coi trọng bang giao, chiến tranh chỉ là thứ yếu.”

“Đây cũng chính là điều mà Doanh Tứ lo lắng. Người Tần trước nay luôn dựa vào trí, nay lại thiếu nhân tài. Khi tiên quân còn sống, có Công Tôn Ưởng phò tá, trí lực vẹn toàn. Nhưng nay Thương Quân tuẫn quốc, Doanh Tứ chỉ có người sức lực, mà khổ vì không có anh tài!”

“Anh tài do thời thế tạo ra. Đại thế của thiên hạ đã đi tới bước này, tự nhiên sẽ có anh tài xuất hiện. Theo lão hủ thấy, không phải chúa thượng thiếu anh tài, mà là thiếu tuệ nhãn để nhận biết anh tài.”

“Lời của tiên sinh như vén lên tấm màn trước mắt. Doanh Tứ có một thỉnh cầu quá đáng, không biết có nên nói ra hay không?”

“Chúa thượng xin cứ nói đừng ngại!”

“Tiên sinh tuệ nhãn ngàn dặm, Doanh Tứ muôn phần kính phục. Doanh Tứ bất tài, muốn bái tiên sinh làm quốc sư, sớm tối nghe tiên sinh dạy bảo, không biết tiên sinh có chịu hạ mình hay chăng?”

“Lão hủ đa tạ chúa thượng đã coi trọng. Có điều lão hủ đã ở ẩn nhiều năm, không quen bôn tẩu, mong chúa thượng lượng thứ!”

Huệ Văn Công sững người: “Ồ…”

Hàn Tuyền Tử mỉm cười nói: “Chúa thượng chớ lo lắng! Lão hủ có một tiểu đồ tên Trúc Viễn, tự Tu Trường, đã theo lão hủ nhiều năm, dù không có tài kinh thiên vĩ địa, nhưng cũng có khả năng nhận biết người tài. Lão hủ sẽ phái Tu Trường xuống núi, ngõ hầu có thể giúp chúa thượng một tay.”

Huệ Văn Công vái mà nói: “Doanh Tứ đa tạ tiên sinh tương trợ!”

Hàn Tuyền Tử cũng vái đáp lễ: “Lão hủ chẳng qua chỉ thuận theo ý trời, chúa thượng bất tất phải đa tạ!” Rồi quay ra ngoài gọi. “Tu Trường!”

Một người trung niên đáp lời rồi đi vào, khấu bái: “Tu Trường khấu kiến tiên sinh!”

“Con và Xá Nhân hãy theo chúa thượng xuống núi, mọi việc nhất nhất nghe theo lời chúa thượng!”

Trúc Viễn lại bái lạy: “Đệ tử xin nghe lời tiên sinh!” Rồi quay sang Tần Công bái lạy. “Thảo dân Trúc Viễn khấu kiến chúa thượng.”

Huệ Văn Công đáp lễ, nói: “Trúc tiên sinh, hãy đứng lên! Thế tục bận rộn, Doanh Tứ đã khiến Trúc tiên sinh phải vất vả rồi!”

“Thảo dân nguyện nghe chúa thượng sai bảo!”

Huệ Văn Công bèn đứng dậy, hành lễ với Hàn Tuyền Tử: “Đa tạ tiên sinh! Doanh Tứ cáo từ!”

Hàn Tuyền Tử đứng dậy đáp lễ: “Lão hủ cung tiễn chúa thượng!”

Chuyến đi Hàn Tuyền đã khiến Huệ Văn Công được đại khai nhãn giới. Lời của Hàn Tuyền Tử rất trùng khớp với giấc mơ của tiên quân. Ngay hôm trở về tới thành Hàm Dương, Huệ Văn Công bèn một mình tới điện Di Tình, lấy hộp đá cất trong mật thất ra, chăm chú nhìn vào dòng minh văn khắc trên đó: “Số Chu tám trăm, đỏ tận đen xuất; làm đế thiên hạ, bốn biển đều phục.”

Kỳ thực, từ trong thâm tâm, chưa lúc nào Huệ Văn Công thôi nghi ngờ về sự thật giả của hộp đá, cho rằng là do tiên quân chôn sẵn từ trước. Hôm nay nhìn lại, sự nghi ngờ này không những nực cười, mà còn là bất kính với trời cao.

Huệ Văn Công cung kính bày hộp, đốt hương thắp nến, rồi khấu đầu mấy cái trước hộp đá. Sau đó ngồi đối diện trước hộp, trầm ngâm suy nghĩ. Bên tai Huệ Văn Công lại văng vẳng giọng nói của tiên quân Hiếu Công: “Liệt quốc trong thiên hạ, chỉ có duy nhất nước Tần ta có thể thay thế nhà Chu. Đây không phải ý ta, mà là ý trời!”.

Giọng Hiếu Công vừa lắng xuống, giọng Hàn Tuyền Tử lại vang lên: “Nước Sở người đông, đất đai màu mỡ, sản vật phong phú, lãnh thổ rộng rãi, có thể thành đại nghiệp. Tề có mối lợi cá muối, giàu có nhờ dâu đay, giáo hoá mà trị, chắc hẳn là kẻ địch lớn của Tần… Ba nước đối địch, thế lực cân bằng, chỉ được dùng trí, không được dùng sức. Đây gọi là kẻ dùng sức thì mất, kẻ dùng mưu thì còn. Chúa thượng nên coi trọng bang giao, chiến tranh là thứ yếu.”

Huệ Văn Công trầm tư hồi lâu, rồi chậm rãi thu chiếc hộp lại, mang cất vào trong mật thất, rồi quay trở về ngự thư phòng, đứng trước bản đồ liệt quốc, ngưng thần chuyên chú quan sát các ký hiệu tình thế được khắc trên ván gỗ.

Quan sát một lúc, Huệ Văn Công khẽ chau mày: “Đúng vậy, kẻ dùng sức thì mất, kẻ dùng mưu thì còn… Nên coi trọng bang giao, chiến tranh là thứ yếu… Bang giao?”

Huệ Văn Công đang mải suy nghĩ, nội thần chợt bước vào: “Chúa thượng, thượng đại phu cầu kiến!”

“Truyền”

Một lát sau, Sư Lý Tật bước vào, bái lạy mà nói: “Khởi bẩm chúa thượng, Tây Nhung cống nạp hai mươi con ngựa quý, Nghĩa Cừ cống nạp ba mươi con ngựa quý, tất cả đều đã ở bãi ngựa.”

Huệ Văn Công vốn rất yêu ngựa, nghe có ngựa quý, không giấu nổi hào hứng, vội nói: “Đi, dẫn quả nhân đi xem!”

Hai người phấn khởi đi ra cửa cung. Huệ Văn Công dừng bước, quay sang nói với nội thần: “Ngươi hãy đến dịch quán, mời Trúc tiên sinh, Giả tiên sinh cùng đến bãi ngựa.”

“Thần lĩnh chỉ!”

Khi Huệ Văn Công đến bãi ngựa, nội thần cùng Trúc Viễn, Giả Xá Nhân đã đứng đợi sẵn. Đại tư mã dẫn đường, mọi người chậm rãi đi qua các tàu ngựa. Thấy có người đến, bầy chiến mã đều giậm chân thở phì phì, trông rất sung sức.

Huệ Văn Công rất hài lòng, đưa tay chỉ vào chiến mã, cười nói với Trúc Viễn: “Trúc tiên sinh, tiên sinh thấy chúng thế nào?”

Trúc Viễn vòng tay nói: “Khởi bẩm chúa thượng, tất cả đều là ngựa tốt!”

Huệ Văn Công có vẻ ngạc nhiên: “Chẳng lẽ không có con nào là ngựa quý ư?”

“Vậy phải xem chúa thượng nhìn nhận chữ “quý” như thế nào.”

“Xin tiên sinh nói rõ!”

“Nếu chúa thượng coi kéo xe, ngao du, săn bắn là quý, thì tất cả chúng đều có thể coi là ngựa quý. Nếu chúa thượng coi ngày chạy nghìn dặm, tung hoành thiên hạ là quý, thì chúng chỉ có thể coi là ngựa tốt.”

Huệ Văn Công trầm ngâm một lúc, rồi vái Trúc Viễn: “Trúc tiên sinh nói rất hay! Không giấu tiên sinh, quả nhân mời tiên sinh đến đây xem ngựa, chính là để đợi những lời này. Quả nhân mới kế vị, chí hướng lớn lao, đáng tiếc sức ngựa không đủ, khó lòng đi xa. Quả nhân đang muốn có ngựa ngày chạy ngàn dặm, đêm không cần ngủ. Lần này lên núi mời được hai vị tiên sinh, đúng là hồng phúc của quả nhân. Thường có câu, thiên lý mã thường có, nhưng Bá Nhạc không thường gặp. Hôm nay có hai vị Bá Nhạc ở bên, quả nhân chẳng còn lo phiền gì nữa!”

Trúc Viễn vòng tay đáp lễ: “Chúa thượng coi trọng nhường này, thảo dân thực không dám nhận!”

“Tiên sinh bất tất phải khách sáo. Quả nhân có lòng tìm ngựa, hôm nay mời tiên sinh đến là muốn thỉnh giáo, quả nhân phải làm thế nào mới có được thiên lý mã?”

“Có hai cách tìm ngựa. Một là huy động nhân lực, tìm kiếm khắp nơi trong thiên hạ. Hai là nuôi dưỡng ngựa, tạo bãi cỏ rộng lớn, khiến ngựa không có bị gò bó mà được tung hoành, dần dần sẽ thành thiên lý mã.”

“Lời của Trúc tiên sinh rất chí lý! Tiên sinh xem thế này có được không, bây giờ quả nhân sẽ bố cáo thiên hạ, sĩ tử trong liệt quốc, phàm có tài năng, đều có thể đến Tần thực hiện hoài bão. Các sĩ tử đến Tần, quả nhân sẽ tuỳ tài mà dùng. Quả nhân sẽ dành ra một phần trong dịch quán liệt quốc, mở ra một con đường cho sĩ tử, xây dựng nhiều dịch quán, chuyên để tiếp đãi chúng sĩ tử trong thiên hạ.”

“Chúa thượng có thành ý này, ngựa quý trong thiên hạ ắt sẽ tự tìm đến!”

“Thứ mà quả nhân cầu, không phải là ngựa tốt, mà là thiên lý mã. Còn về việc có cầu được hay không, phải trông cậy vào tuệ nhãn của hai vị.”

“Chúa thượng cầu hiền như khát nước, Tu Trường đâu dám không tận lực?”

Đúng vào lúc đó, thấy một con ngựa lao tới như bay, công tử Hoa nhảy xuống ngựa, dập đầu sát đất: “Vi thần khấu kiến chúa thượng!”

“Ái khanh bình thân!”

“Tạ ơn chúa thượng!” Công tử Hoa đứng dậy, ngập ngừng như muốn nói nhưng lại thôi.

“Nói đi, ở đây không có người ngoài!”

“Khởi bẩm chúa thượng, sứ thần nước Ngụy Trần Chẩn đã quay về nước!”

“Trần Chẩn? Kẻ này đáng lẽ phải về lâu rồi mới phải!”

“Chúa thượng nói rất đúng! Có điều lần này Trần Chẩn quay về rất vội vàng, dường như có việc gấp gáp.”

“Ồ?” Huệ Văn Công ngẩn người. “Có biết việc gì không?”

Công tử Hoa lắc đầu: “Tối qua vào giờ Nhân định, có người đến giao cho Trần Chẩn một bức mật thư. Trần Chẩn đọc qua, vội vàng gọi người đóng xe rồi khởi hành ngay trong đêm. Vi thần nghĩ, chắc hẳn là nước Ngụy đã xảy ra chuyện lớn, nếu không, Trần Chẩn đã chẳng phải vội vã đến vậy.

Huệ Văn Công suy nghĩ một lát, rồi quay sang nói với Sư Lý Tật: “Sư Lý ái khanh, lần này tiên quân băng hà, quả nhân mới kế vị, Ngụy Vương không tính toán chuyện cũ, đã phái thượng đại phu Trần Chẩn đến thăm hỏi, quả nhân rất mực cảm kích. Có đi thì phải có lại, ái khanh hãy thay quả nhân đi sứ nước Ngụy, một là đa tạ hậu tình của Ngụy Vương, hai là thay quả nhân chuyển lời tới Ngụy Vương, nói rằng quả nhân nguyện cùng Ngụy Vương xoá bỏ hiềm khích trước đây, kết thành liên minh, mở thông các ải để giao thương, làm lợi cho hai nước.”

“Vi thần tuân chỉ!”

“Sư Lý ái khanh, lần này còn có một sứ mệnh, khanh có biết chăng?”

“Khuyên Công Tôn Diễn sang Tần!”

Huệ Văn Công lắc đầu: “Chỉ khuyên thôi chưa đủ, phải mời! Nhớ kỹ, mời trực diện không được, thì phải mời ngấm ngầm; mời nhu hoà không được, thì phải mời cứng rắn. Tóm lại, khanh chỉ được phép có một kết quả: không được để hắn phò tá nước Ngụy!”

“Vi thần tuân chỉ!”

“Còn nữa, Trần Chẩn kia cũng là một nhân vật lớn, nếu có cơ hội, hãy giúp ông ta làm tướng quốc nước Ngụy.”

Sư Lý Tật ngỡ mình nghe nhầm: “Chúa thượng muốn giúp Trần Chẩn làm tướng quốc Ngụy?”

“Đúng thế!” Huệ Văn Công gật đầu, rồi quay sang công tử Hoa. “Tiểu Hoa, khanh cũng đi cùng, theo thượng đại phu để mở mang tầm mắt.”

Công tử Hoa vòng tay đáp: “Vi thần tuân chỉ!”

***

Trên đường cái quan ở ngoài thành An Ấp, đoàn người ngựa của Trần Chẩn lao đi băng băng. Đang đi gấp, đoàn xe đột nhiên khựng lại, phía trước ồn ào hỗn loạn.

Trần Chẩn từ trong xe thò đầu ra, lớn tiếng quát nạt: “Có chuyện gì thế?”

Quân uý quay ngựa lại đáp: “Khởi bẩm đại nhân, có mấy cỗ xe bò chặn ngang, không chịu nhường đường.”

Trần Chẩn giận dữ nhảy xuống xe, cùng quân uý rảo bước đi lên phía trước, quả nhiên thấy mấy cỗ xe bò đang chặn ngang đường. Mấy tên lính đã nhảy lên cỗ xe bò đầu tiên, đang lôi kéo bò kéo xe. Một tên lính khác đang cãi vã với người đánh xe. Trần Chẩn đưa mắt nhìn, thấy người đánh xe là một nam tử trung niên, tuổi quá tứ tuần, vóc dáng cao gầy, thư sinh nho nhã, trong tay cầm một cuộn thẻ tre, không thèm đếm xỉa tới tên lính đang sinh sự.

Mấy cỗ xe bò cũ nát không ngừng kêu cọt kẹt. Mỗi cỗ xe thắng vào một con bò, dẫn đầu là một con bò mộng, trên cổ đeo chuông, hễ lúc lắc đầu là chuông lại kêu lên leng keng. Ngoài nam tử trung niên đang ngồi trên cỗ xe đầu tiên, những cỗ xe khác không thấy một ai.

Quân uý bước lên trước, quát lớn: “Ngươi là ai, sao dám chặn đường?”

Nam tử trung niên liếc xéo hắn một cái, rồi chậm rãi nói: “Ngươi thật vô lý! Đường của ngươi ngươi đi, đường của ta ta đi, sao nói là chặn đường?”

“Ái chà!” Quân uý bắt đầu điên tiết. “Người vô lý chính là ngươi đấy! Xe bò của ngươi đi phía trước, chắn ngay giữa đường lớn, không phải chặn đường thì là gì?”

“Phi lý thay! Phi lý thay!” Nam tử trung niên lắc lư cái đầu. “Người vô lý chính là ngươi đấy! Xe của ta phía trước, xe của ngươi phía sau. Xe bò của ta đi phía trước, xe ngựa của ngươi đi phía sau. Xe bò của ta di chuyển về phía trước, xe ngựa của ngươi cũng di chuyển về phía trước, tại sao có thể nói xe bò của ta chặn đường?”

Quân uý nghe ông ta thao thao một tràng mà chóng cả mặt, ngây ra một lát mới định thần lại được, học theo điệu nói năng rề rà của nam tử trung niên, lắc lư cái đầu mà nói: “Ngươi… thế này nhé, xe ngựa của ta chạy nhanh, xe bò của ngươi chạy chậm; xe bò chạy chậm chắn phía trước xe ngựa chạy nhanh, xe ngựa chạy nhanh không thể vượt qua xe bò chạy chậm, như thế gọi là chặn đường, đã hiểu chưa?”

“Phi lý thay! Phi lý thay!” Nam tử trung niên lại lắc đầu, nói lớn. “Chim bay không động, tên bắn chẳng bay, huống hồ là xe bò xe ngựa?”

“Cái gì mà chim bay không động?” Quân uý nổi khùng. “Hôm nay ông đây phải dạy cho ngươi một bài học! Người đâu, lật xe bò của hắn sang vệ đường!”

Mấy tên lính lập tức lao lên, nhăm nhăm muốn lật cỗ xe sang bên đường, nam tử trung niên liền hét lớn: “Cái gì mà đất nước lễ nghi? Người Ngụy đúng là rặt một lũ cường bạo!”

Thấy đám thủ hạ sắp sửa ra tay, Trần Chẩn đặng hắng mấy tiếng, đi tới trước mặt nam tử kia, xua tay với đám lính.

Quân lính lập tức dừng tay.

Trần Chẩn quan sát người này một hồi, rồi chậm rãi hỏi: “Tiên sinh phải chăng là Huệ Tử người nước Tống?”

“Không dám!” Người này cũng liếc Trần Chẩn một cái. “Tại hạ là Huệ Thi người nước Tống!”

Trần Chẩn vòng tay hành lễ: “Trần Chẩn người Ngụy đã mạo phạm!”

Huệ Thi vẫn ngồi trên xe bò, ôm quyền đáp lễ: “Huệ Thi xin chào thượng đại phu!”

Trần Chẩn tạ lỗi: “Tại hạ có việc gấp phải về An Ấp, thuộc hạ đang lúc nôn nóng, đã mạo phạm tới tiên sinh, mong tiên sinh lượng thứ!”

“Ha ha ha!” Huệ Thi cười lớn rồi nói. “Nghe khẩu khí của thượng đại phu, hẳn là muốn đi trước Huệ Thi?”

Trần Chẩn lại vòng tay hành lễ: “Làm phiền Huệ Tử nhường cho!”

“Muốn nhường không khó!” Huệ Thi lại lắc lư cái đầu. “Chỉ cần thượng đại phu cùng tại hạ bàn luận vài đề.”

“Từ lâu đã nghe danh Huệ Tử học vấn chứa đầy ba xe, tại hạ vẫn mong được chỉ giáo, nhưng hôm nay thực sự có việc gấp, hay là tiên sinh…”

“Ha ha ha!” Huệ Thi lại lắc đầu, cười lên mấy tiếng. “Tại hại chỉ nghe có tâm gấp, chứ không nghe thấy có việc gấp. Thượng đại phu đại nhân, việc tốt không gặp trong vội vàng!”

Trần Chẩn sững lại một thoáng, rồi đành phải chấp nhận: “Huệ Tử có đề gì, tại hạ xin được thỉnh giáo!”

Huệ Thi lại lắc lư cái đầu: “Huệ Thi cho rằng, trời thấp như đất, núi ngang với đầm.”

“Điều này…” Trần Chẩn ngẫm nghĩ một hồi, “về lý thì không hợp!”

“Huệ Thi cho rằng, vật vừa sống vừa chết, ngựa đẻ trứng, gà có ba chân.”

Trần Chẩn gãi đầu, lẩm bẩm: “Vật vừa sống vừa chết, ngựa đẻ trứng, gà có ba chân?”

“Huệ Thi cho rằng…”

Huệ Thi chưa kịp nói hết câu, Trần Chẩn đã hoả bốc ba trượng, sắc mặt sầm xuống, lớn giọng quát nạt: “Thật là tầm bậy, đúng là một kẻ điên khùng!” Rồi quay sang quân uý. “Người đâu, hất xe của hắn sang một bên!”

Lời vừa dứt, Trần Chẩn nộ khí đùng đùng, quay về xe kiệu của mình, chui tọt vào trong xe.

Đám binh lính lập tức ra tay, xúm vào kéo đẩy, dẹp mấy cỗ xe bò của Huệ Thi sang vệ đường, mở ra lối đi, rồi đoàn xe ngựa vội vã băng qua.

Huệ Thi đứng bên đường, nhìn theo bụi cuốn mù mịt, nhếch mép khinh thường, lắc đầu nói: “Trần Chẩn, chỉ e ngươi muốn nhanh cũng chẳng được!” Rồi cúi người nhặt mấy bó sách rơi vãi dưới đất lên, lại tiếp tục lắc đầu. “Với chút tài mọn của ngươi, lại thêm thói hấp tấp nhường này, sao có thể làm nên việc lớn?”

Trần Chẩn bỏ lại Huệ Thi, nhanh chóng trở về An Ấp, vội vàng tiến vào phủ.

Nghe thấy tiếng xe ngựa, Thích Quang liền chạy ra đón, bái lạy: “Chúa công, cuối cùng người cũng đã trở về!”

Trần Chẩn vội hỏi: “Có chuyện gì?”

Thích Quang đứng dậy, ghé tai Trần Chẩn thì thào một hồi.

“Thật ư?” Trần Chẩn vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ.

“Hoàn toàn chính xác!” Thích Quang hớn hở. “Chính miệng An Quốc Quân nói! An Quốc Quân nói rằng, bệ hạ đang tìm người thích hợp cho chức tướng quốc, An Quốc Quân đã nhân cơ hội tiến cử chúa công, bệ hạ nói, ‘Trần ái khanh cũng là một người có thể lựa chọn!’ Tiểu nhân đoán, lần này chúa công đã nắm chắc đến chín phần rồi!”

“Mau chuẩn bị hậu lễ, tới phủ An Quốc Quân!”

Trần Chẩn không quản đường xa mệt mỏi, lập tức cùng Thích Quang đến phủ An Quốc Quân.

Nghe báo thượng đại phu đến, quản gia của công tử Ngang vội vàng ra đón, thấy Thích Quang đang sai bảo thủ hạ khiêng lễ vật vào, thì cười tít mắt, tay vái Trần Chẩn, mắt liếc nhìn rương: “Thượng đại phu, đây là vật gì vậy?”

Trần Chẩn đáp lễ, cười nói: “Đây là chút đặc sản tại hạ đưa từ nước Tần về, mang đến tặng cho An Quốc Quân!”

Quản gia lại hành lễ: “Thượng đại phu lúc nào cũng nhớ tới chúa công chúng tôi, thật hiếm có!” Rồi chìa tay. “Thượng đại phu, mời!”

Hai người đi vào phòng khách, quản gia đợi Trần Chẩn ngồi xuống, liền mang trà ra, đích thân pha trà, bày lên bàn.

Trần Chẩn ngước mắt hỏi: “An Quốc Quân có trong phủ không?”

“Bẩm đại nhân, chúa công đi câu cá cùng bệ hạ rồi!”

“Câu cá? Đi lúc nào?”

“Phải đến hai canh giờ rồi. Thượng đại phu nếu có việc gấp, có thể đến Thuý Sơn tìm!”

“Không gấp, không gấp!” Trần Chẩn suy nghĩ một lát, rồi cười mà nói. “Tại hạ sẽ ở đây đợi. Nghe nói ông là bực cao cờ, tại hạ có thể thỉnh giáo chăng?”

Quản gia cũng cười mà đáp: “Thượng đại phu đã có nhã hứng, tại hạ đâu dám không tuân mệnh?” Rồi lấy bàn cờ từ dưới bàn lên, đưa cho Trần Chẩn hộp cờ màu đen. “Thượng đại phu, mời!”

Núi Thuý Sơn nằm ở phía bắc An Ấp, gọi là núi nhưng thực ra chỉ là một dải đồi gò nhấp nhô, nơi cao nhất không quá mấy chục trượng. Một con suối nhỏ không rõ tên băng qua nơi này, chảy sang phía đông thành An Ấp, sau đó đổ ra sông Đại Thanh, nhập vào Hà Thuỷ ở gần Mạnh Tân. Nơi đây cây cối rậm rạp, có nhiều chim thú, ngay từ thời Văn Hầu đã được dùng làm nơi săn bắn của triều đình.

Trong Thuý Sơn có một đầm đá nhỏ, rộng chừng mười mấy trượng, sâu không thấy đáy, nước đầm trong veo, một màu xanh biếc. Trong đầm tôm cá nhiều vô kể, là nơi ngự điếu. Xung quanh đầm có nhiều đình hóng mát, chuyên dùng làm nơi câu cá cho quân chủ và các công tử, quan lại quyền quý.

Buổi trưa hôm nay, Ngụy Huệ Vương, công tử Ngang, Chu Uy mỗi người mang một cần câu, chuyên tâm câu cá. Phao của Chu Uy không động đậy, nhưng phao của Ngụy Huệ Vương và công tử Ngang lại máy liên tục.

Công tử Ngang mừng thầm, vội giật cần, nhưng chỉ câu được một con cá nhỏ. Ngụy Huệ Vương dù thấy phao động, nhưng không vội vàng kéo lên.

Công tử Ngang vội giục: “Phụ vương, cá đã cắn câu rồi, mau kéo lên!”

Ngụy Huệ Vương liếc xéo một cái, vẫn ngồi bất động. Công tử Ngang quay sang nhìn phao của Chu Uy, thấy cũng đang máy, lại giục: “Chu tư đồ, cá cắn câu rồi!”

Chu Uy đáp: “Công tử, chẳng qua chỉ là một con cá nhép mà thôi.”

Công tử Ngang nghe thấy mà nóng tai, sắc mặt sa sầm, vung mạnh lưỡi câu đã mắc sẵn mồi xuống nước.

Đột nhiên, chiếc phao của Ngụy Huệ Vương bị kéo bật đi, Ngụy Huệ Vương bèn giật mạnh cần, quả nhiên được một con chép lớn.

Công tử Ngang bỏ cần câu xuống, vòng tay nói: “Nhi thần chúc mừng phụ vương đã câu được cá lớn!”

Ngụy Huệ Vương cười ha hả, gỡ con cá chép, cẩn thận thả vào trong thùng, rồi móc mồi câu mới, lại quăng xuống nước, quay sang công tử Ngang, nói: “Ngang Nhi, đã hiểu chưa, đây mới là câu cá!”

“Nhi thần xin ghi nhớ kỹ!”

Huệ Vương vừa buông câu, phao lại động. Ngụy Huệ Vương tiếp tục giật lên, lại là một con cá chép. Huệ Vương tiếp tục thả câu, rồi phao lại động, Huệ Vương lại giật lên, lại được thêm một con cá chép.

Huệ Vương liên tiếp câu được ba con chép lớn, vui không kể xiết, đắc ý liếc sang chiếc phao của Chu Uy, thấy phao cũng động mạnh như phao của mình, nhưng Chu Uy lại như đang ngủ gật, mắt nửa mở nửa khép, ngồi im lìm như đá.

Huệ Vương sốt ruột, giục: “Chu ái khanh, có cá lớn cắn câu kìa!”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Chu Uy duỗi cánh tay còn lại ra, làm động tác khấu đầu. “Chẳng qua chỉ là một con cá chép mà thôi!”

Huệ Vương nghe vậy, bèn quay sang nhìn vào ba con cá chép trong thùng của mình, trầm tư không nói.

“Ái chà!” Công tử Ngang giọng đầy mỉa mai. “Lẽ nào Chu tư đồ muốn câu được cá côn ở Bắc Minh?”

“Hồi bẩm An Quốc Quân!” Chu Uy hạ giọng trả lời. “Chu Uy chỉ dám câu cá thường, không dám câu cá côn.”

“Xin hỏi tư đồ đại nhân, người nào có thể câu cá côn?”

“Cá côn ở Bắc Minh, phải do thánh nhân câu. Cá côn ở đầm này, phải do bệ hạ câu.”

Huệ Vương trong lòng chấn động, nhìn chằm chằm vào chiếc phao của mình, trầm tư một hồi, quay sang Chu Uy: “Chu ái khanh, quả nhân muốn câu cá côn, phải thả câu thế nào?”

“Hồi bẩm bệ hạ!” Lời Chu Uy đầy ẩn ý. “Cá côn ẩn tàng dưới sâu, còn cá thường nổi trên mặt nước. Nếu bệ hạ muốn câu được cá côn, hãy thử thả câu xuống sâu hơn!”

“Ái khanh nói chí phải!” Huệ Vương gật gù, thu lưỡi câu về, dịch chuyển phao lên cao hơn mấy tấc, thay một mồi câu to hơn, sau đó vung tay quăng mạnh xuống đầm sâu.

Đúng vào lúc này, tỳ nhân đi tới.

Huệ Vương liếc nhìn, hỏi: “Người đâu?”

“Hồi bẩm bệ hạ,” tỳ nhân hạ giọng bẩm báo, “lão nô đến chậm mất một bước, điện hạ đã thay đổi y phục, xuất cung rồi.”

“Xuất cung?” Huệ Vương khẽ chau mày. “Điện hạ xuất cung làm gì?”

“Lão nô không biết!”

Huệ Vương trầm ngâm một lát: “Đi, truyền điện hạ cấp tốc trở về!”

“Lão nô tuân chỉ!”

Phía đông thành An Ấp, cỗ xe bò của Huệ Thi vẫn chậm chạp lăn bánh, rồi dừng lại ở một nơi náo nhiệt.

Huệ Thi chậm rãi bước xuống, lần lượt chằng mấy cỗ xe lại, tháo mấy con bò ra, buộc vào càng xe, lại đặt trước mỗi con bò một sọt cỏ khô. Sau đó, Huệ Thi lấy một mảnh ván gỗ từ trên xe xuống, lấy đinh và búa ra, đóng mảnh ván lên trên tường gạch.

Trên tấm gỗ, là bài “Quan vật thập sự” do chính tay ông viết:

  1. Cái cực lớn không có gì ở ngoài, cái cực nhỏ không có gì ở trong.
  2. Sâu ngàn dặm, không dày.
  3. Trời thấp như đất, núi ngang với đầm.
  4. Vật vừa sống vừa chết.
  5. Vạn vật đều giống đều khác.
  6. Vũ trụ không cùng tận mà có cùng tận.
  7. Hôm nay đến Việt mà hôm qua đã về.
  8. Vòng tròn nối liền nhau có thể gỡ.
  9. Trung tâm của mặt đất ở phía bắc nước Yên, phía nam nước Việt.
  10. Trời đất một thể.

Làm xong, Huệ Thi phủi hai tay, hài lòng nhìn tấm ván gỗ, rồi tựa lưng vào chân tường, ngồi luôn xuống đất, hai mắt khép hờ.

Ở khu phố náo nhiệt này, hành vi kỳ quặc của Huệ Thi, đặc biệt là tấm ván gỗ trên tường nhanh chóng thu hút được một đám đông xúm xít lại xem, bàn luận nhao nhao, những tiếng cười cợt rộ lên từng hồi.

Cuối cùng cũng có người không nhịn được, chỉ tay vào ván gỗ, hỏi lớn: “Các vị, các vị, câu ‘hôm nay đến Việt mà hôm qua đã về’ nghĩa là gì?”

Có người trả lời: “Nói cho anh biết, có nghĩa là hôm nay anh vừa mới đến đất Việt, nhưng hôm qua anh đã từ đất Việt trở về rồi.”

Người hỏi kinh ngạc: “Như vậy chẳng phải hoang đường lắm ư?”

Mọi người lại cười ồ lên, tranh nhau bàn tán ầm ĩ: “Các người xem, ‘vòng tròn nối liền có thế gỡ’. Ai có vòng tròn nối liền, thử mang ra gỡ xem sao!”

“Nhìn kìa, ‘vạn vật đều giống đều khác’! Nếu như vạn vật đều giống nhau, như vậy chẳng phải sẽ không còn dài ngắn thô mịn, cao thấp béo gầy hay sao?”

“Theo cách ông ta nói, thì gà chẳng phải gà, mà là chó; ngựa cũng chẳng phải ngựa, mà là trâu. Thật nực cười!”

“Ôi, người này đọc sách nhiều quá đến nỗi phát bệnh mất rồi!”

Huệ Thi vẫn khép mắt, ngồi yên bất động.

Trong đám người, thái tử Thân hoá trang thành một thiếu gia giàu có, hai mắt nhìn chăm chú vào những dòng chữ đen trên ván gỗ, trầm ngâm suy nghĩ. Một lúc sau, thái tử Thân ôm quyền vái mà nói: “Tiên sinh, vãn sinh xin thỉnh giáo!”

Hai mắt Huệ Thi chỉ khép hờ, vì vậy sớm đã nhìn thấy thái tử Thân, thấy người này lên tiếng hỏi, nhưng ông không đáp lễ, vẫn ngồi yên bất động, song giọng nói cất lên sang sảng hùng hồn: “Khách quan cứ nói!”

“Ồ, mọi người mau xem kìa, quái nhân đã mở miệng nói năng rồi đây!” Trong đám đông có người nói lớn.

Đám đông vội xúm xít cả lại.

Thái tử Thân lại vái mà nói: “Quan vật thập sự của tiên sinh, có thể phá giải chăng?”

Huệ Thi trả lời dõng dạc: “Vạn vật trong trời đất, có lập ắt có phá; quan vật thập sự, có quan tất có giải.”

“Xin hỏi tiên sinh, thế nào là cái cực lớn không có gì ở ngoài, cái cực nhỏ không có gì ở trong?”

Huệ Thi đáp: “Vạn vật giống nhau, sao phải phân lớn nhỏ?”

Thái tử Thân ngẫm nghĩ một lúc, lại hỏi: “Sâu ngàn dặm, không dày, giải thích thế nào?”

“Vạn vật giống nhau, làm gì có dày mỏng?”

Thái tử Thân lại ngẫm nghĩ một lúc: “Thế còn trời thấp như đất, núi đầm bằng nhau?”

“Vạn vật giống nhau, hà tất luận cao thấp?”

Huệ Thi chỉ dùng một lý do để trả lời các vấn đề, khiến thái tử Thân nghe mà mơ hồ như chìm trong sương mù, mặt đỏ bừng lên: “Vậy… xin hỏi tiên sinh, vật vừa sống vừa chết, phải giải thích thế nào?”

Huệ Thi vẫn trả lời: “Vạn vật giống nhau, nói chi sống chết?”

Thái tử Thân suy nghĩ một hồi lâu, rồi lại vòng tay hỏi: “Tiên sinh xin hãy giải thích, tại sao vạn vật giống nhau?”

“Cái cực lớn không có gì ở ngoài, ngàn dặm không dày, trời thấp như đất, sống chết đồng thời, thì vạn vật có gì khác nhau?”

Thái tử Thân càng thêm mông lung: “Tiên sinh cứ nói ngược nói xuôi, hỏi đáp đảo lộn như vậy, vãn sinh ngu muội, càng nghe càng cảm thấy mơ hồ.”

Huệ Thi từ từ mở mắt ra: “Này sĩ tử, cái đạo biến hoá vốn là như vậy, không phải do Huệ Thi quanh co xuôi ngược.”

“Huệ Thi?” Thái tử Thân kinh ngạc, lại vòng tay hành lễ. “Tiên sinh phải chăng là Huệ Thi người nước Tống?”

Huệ Thi lúc này cũng vòng tay đáp lễ: “Chính tại hạ!”

Thái tử Thân đang định nói tiếp, bỗng một người chen lên, ghé sát tai thì thầm mấy câu.

Thái tử Thân hơi sững lại, rồi quay sang vái Huệ Thi: “Tiên sinh, vãn sinh có việc, xin đi trước một bước, hôm khác sẽ lại đến nhờ tiên sinh chỉ giáo!”

Lời vừa dứt, thái tử Thân đã vội vàng theo người vừa đến ra khỏi đám đông, tiến tới cỗ xe kiệu cách đó không xa.

Huệ Thi thu lại ánh nhìn, tiếp tục nhắm mắt.

Bên bờ đầm đá, Ngụy Huệ Vương hai mắt mở to, dán vào chiếc phao trên mặt nước. Chiếc phao vẫn nằm yên, chỉ khẽ nhấp nhô theo từng làn sóng.

Có vẻ Ngụy Huệ Vương đã bắt đầu sốt ruột, quay sang hỏi Chu Uy: “Chu ái khanh, nơi này hẳn không có cá côn!”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Chu Uy trầm giọng trả lời. “Câu cá côn không giống câu cá thường. Cá thường thấy mồi sẽ đớp, cá côn quan sát tình hình rồi mới đớp. Bệ hạ muốn câu cá côn, cá côn cũng đang quan sát bệ hạ.”

Lúc này Ngụy Huệ Vương đã hiểu ra thâm ý của Chu Uy: “Theo ái khanh, cá côn đang quan sát điều gì ở quả nhân?”

“Quan sát cái tình của bệ hạ. Nếu bệ hạ thực tình muốn tìm cá côn, thành tâm dùng cá côn, cá côn ắt sẽ đến. Nếu bệ hạ chỉ tìm cá nhỏ tôm nhép, hoặc chỉ là nhất thời hứng thú muốn câu, cá côn sẽ bơi đi nơi khác.”

Ngụy Huệ Vương trầm ngâm một hồi, rồi trịnh trọng nói: “Nếu quả thực có cá côn, quả nhân sẽ giao cho chức tướng quốc, ái khanh thấy thế nào?”

“Nếu bệ hạ làm được như vậy, cá côn chắc chắn sẽ đến!”

Nghe thấy hai chữ “tướng quốc”, công tử Ngang cuối cùng cũng đã hiểu ra, sắc mặt sầm xuống: “Xin hỏi tư đồ, cá côn kia rốt cục là người nào, xin cứ nói thẳng ra, đừng nên phải vòng vo qua lại, nghe cứ như đánh đố!”

“Đúng vậy!” Ngụy Huệ Vương nhìn thẳng vào Chu Uy. “Chu ái khanh, nơi đây không có người ngoài, cứ nói đừng ngại!”

Chu Uy đặt cần câu xuống, dập đầu sát đất: “Bệ hạ thành ý cầu tìm, vi thần xin bạo gan nói thẳng. Vi thần cho rằng, cá côn chính là Công Tôn Diễn!”

“Ha ha ha ha!” Công tử Ngang cười phá lên một tràng dài. “Tư đồ đại nhân úp mở nãy giờ, ta cứ ngỡ là vị hiền tài nào kia, hoá ra là kẻ này!”

Chu Uy lại dập đầu sát đất: “Bệ hạ…”

“Chu ái khanh!” Huệ Vương đặt cần câu xuống, rồi chậm rãi đứng dậy. “Nếu là cá côn này, hãy để lại, ngày khác sẽ câu!”

Rồi quay người đi luôn. Mới đi được mấy bước, thì thấy tỳ nhân dẫn thái tử Thân rảo bước đến trước mặt.

Thấy Huệ Vương sắc mặt không vui, thái tử Thân vội vàng bái lạy: “Nhi thần khấu kiến phụ vương!”

Huệ Vương mặt nặng như chì, hỏi: “Nghe nói con vừa xuất cung?”

Thái tử Thân thắc thỏm đáp: “Bẩm phụ vương, nhi thần đã đi tới chợ Đông!”

“Chợ Đông?” Huệ Vương liếc xéo. “Vì việc gì?”

“Vi thần không có việc gì, chỉ muốn dạo chơi mà thôi!”

“Dạo chơi?” Ngụy Huệ Vương giận dữ, sắc mặt hầm hầm, lớn tiếng trách mắng. “Từ sau khi để mất Hà Tây, quả nhân ngày đêm lo lắng quốc sự, chỉ hận không thể khôi phục hùng phong của Đại Ngụy trong một ngày, đoạt lại đất đai đã mất. Còn ngươi? Hãy nhìn ngươi xem, thân là thái tử, nhưng lại không biết lo toan, suốt ngày chỉ chơi bời lêu lổng!”

“Nhi thần biết tội!”

Huệ Vương nhìn trừng trừng vào thái tử Thân, hừ mũi một tiếng, rồi phẩy tay áo bước đi.

Thái tử Thân vô duyên vô cớ bị trách cứ, nhất thời đứng ngây ra tại chỗ, không biết làm sao.

Trên đài câu, thấy Huệ Vương đã đi xa, công tử Ngang cũng đứng dậy, liếc Chu Uy một cái rồi ném toẹt cần câu xuống đất, xoạc bước mà đi.

Công tử Ngang mau chóng đánh xe trở về, được lão quản gia đưa vào trong phủ, từ xa đã nhìn thấy một người quỳ trong sân.

Công tử Ngang liếc nhìn quản gia: “Người quỳ là ai?”

“Hồi bẩm chúa công, là Trần đại nhân, ông ta đã quỳ ở đây lâu rồi!”

Công tử Ngang vội vã rảo bước lại gần, vừa đi vừa gọi: “Thượng đại phu, sao lại làm thế?”

Trần Chẩn lại hành đại lễ, nói lớn: “Đại ân đề bạt của An Quốc Quân, hạ quan có chết cũng không đủ báo đáp!”

Công tử Ngang đỡ Trần Chẩn dậy: “Thượng đại phu mau đứng dậy!” Rồi dắt tay vào phòng khách. “Thượng đại phu từ nước Tần trở về khi nào?”

“Hạ quan vừa về, mới tới phủ, còn chưa kịp ngồi ấm chỗ, đã vội đến phủ tướng quân ngay.”

Hai người chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Công tử Ngang nhìn Trần Chẩn, thở dài: “Ông đến thật đúng lúc, bản công tử đang định tìm ông!”

Trần Chẩn cảm thấy bất an: “Thế nào, có biến cố ư?”

“Có chút bất lợi!”

“Xin tướng quân nói rõ.”

“Lúc nãy cùng phụ vương câu cá bên đầm, nếu không phải bản công tử cũng có mặt, chức tướng quốc e rằng đã rơi vào tay Công Tôn Diễn!”

Trần Chẩn sững người.

Trong nhà Công Tôn Diễn, Công Tôn Diễn đang ngồi bên bàn viết lia lịa, trên bàn dưới bàn chất cao từng chồng thẻ tre.

Chu Uy bước vào, thần sắc buồn bã, ngồi xuống phía đối diện. Ngồi lặng một hồi, Chu Uy tiện tay với lấy một cuộn thẻ tre: “Công Tôn huynh, tất cả sách này đều do huynh viết ư?”

“Đúng thế!” Công Tôn Diễn chỉ tay vào chồng sách. “’Hưng Ngụy thập sách’, chỉ còn thiếu một cuốn này thôi.”

“Hưng Ngụy thập sách!” Chu Uy vừa nghe, vội vã giở ra xem.

“Huynh đã thấy cả rồi đấy!” Cứ nhắc đến thiên hạ, Công Tôn Diễn lại vô cùng sôi nổi. “Hiện tại, tình hình thiên hạ biến đổi vạn mối, liệt quốc giở đủ kỳ chiêu, sáng xuống lệnh chiều thay đổi, chỉ riêng nước Ngụy thủ cựu, vẫn theo quy tắc của Văn Hầu mấy chục năm về trước, từ lâu đã không hợp thời, thiếu sót quá nhiều. Trong những ngày qua, tại hạ bỗng nhiên nổi hứng, ngày đêm nghiên cứu pháp độ của liệt quốc, lại căn cứ vào tình thế hiện tại của nước Ngụy để viết nên bộ ‘Hưng Ngụy thập sách’ này, mong được Chu huynh chỉ giáo!”

“Chỉ giáo cái gì?” Chu Uy đứng bật dậy. “Mau, mau buộc toàn bộ số sách này lại, đưa tất cả cho ta.”

“Cho huynh?” Công Tôn Diễn ngây người. “Huynh cần chúng để làm gì?”

“Mang đi gặp bệ hạ. Tại hạ muốn bệ hạ tận mắt nhìn thấy, Trần Chẩn đang bận làm những gì? Công Tôn huynh đang bận làm những gì?”

“Chu huynh,” Công Tôn Diễn ngạc nhiên, “nghe khẩu khí của huynh, chắc lại muốn tiến cử tại hạ với bệ hạ?”

Chu Uy gật đầu.

Công Tôn Diễn ngẩn ngơ một lát, rồi chậm rãi vươn tay ra, lấy lại bó thẻ tre trong tay Chu Uy, thở dài mà nói: “Than ôi, số sách này, tốt nhất hãy cứ để lại đây!”

“Công Tôn huynh,” Chu Uy sốt sắng, “hiện giờ chính là thời khắc hệ trọng, tuyệt đối không được nhụt chí!”

“Chu huynh ơi,” Công Tôn Diễn lắc đầu, “không phải là chuyện nhụt chí hay không nhụt chí. Tại hạ đã nói rồi, bệ hạ nếu vẫn chưa đi đến sơn cùng thuỷ tận, sẽ chẳng tỉnh ngộ được đâu!”

“Nếu chỗ bệ hạ không thông, tại hạ sẽ đi tìm điện hạ!”

“Chu huynh!” Công Tôn Diễn cười nhạt, mắt nhìn thẳng vào Chu Uy. “Tại hạ khuyên huynh đừng phí sức nữa. Trong thành An Ấp ai mà không biết điện hạ? Nếu luận về phong hoa tuyết nguyệt, cầm kỳ thi hoạ, thiên nam địa bắc, điện hạ có thể thao thao bất tuyệt cả ngày. Nhưng luận về quốc sự, e rằng chẳng nói nổi ba câu.”

“Công Tôn huynh!” Chu Uy phản bác. “Điện hạ có tệ đến mấy cũng vẫn là điện hạ. Bệ hạ tuổi đã quá ngũ tuần, mặc dù sức vóc tráng kiện, nhưng dù sao cũng mỗi năm một yếu. Hiếu Công đột ngột băng hà, bệ hạ hẳn cũng có điều cảm khái. Hôm nay câu cá, khi điện hạ chưa đến, bệ hạ tỏ ra không vui, liền phái nội thần đi tìm. Như vậy có thể thấy, bệ hạ đang có ý dạy bảo điện hạ, để điện hạ theo con đường chính.”

Công Tôn Diễn không thể phản bác, im lặng một lúc, rồi ngẩng lên hỏi: “Nói đi, ý Chu huynh thế nào?”

“Tại hạ muốn tặng cuốn ‘Hưng Ngụy thập sách’ này cho điện hạ, xem điện hạ nói thế nào.”

Công Tôn Diễn trầm ngâm một lát, rồi tiện tay rút lấy một tấm thẻ tre trong cuộn sách đang viết dở: “Hãy đưa cho điện hạ mảnh tre này!”

Chu Uy ngẩn ra: “Chỉ một mảnh này thôi ư?”

Công Tôn Diễn mỉm cười nói: “Nếu như điện hạ đọc hiểu được, chỉ một mảnh này cũng đã đủ rồi; nếu điện hạ không hiểu, cho dù có mang đến cả cuộn, cũng là vô dụng!”

Mặt trời đã lặn về tây, màn đêm buông xuống, người đi trên phố dần thưa thớt.

Ở chợ Đông thành An Ấp, Huệ Thi thu dọn xe bò, đang định tìm chốn nghỉ ngơi, bỗng thấy một cỗ xe ngựa tiến đến, rồi dừng lại trước mặt. Một người từ trên xe bước xuống, vòng tay vái Huệ Thi một vái thật sâu: “Tiên sinh phải chăng là Huệ Thi người nước Tống?”

“Chính tại hạ. Ngài là…”

“Tại hạ là nội tể trong Đông cung!”

Huệ Thi vòng tay đáp lễ: “Huệ Thi xin chào nội tể!”

“Tại hạ phụng ý chỉ của điện hạ, mời tiên sinh vào cung!”

“Điện hạ đã có lời mời, tại hạ cung kính không bằng tuân lệnh.”

Nội tể dặn tuỳ tùng: “Các ngươi hãy đánh xe bò của tiên sinh đến dịch quán, buộc lại cẩn thận!” Rồi quay sang Huệ Thi. “Tiên sinh, mời!”

Đông cung nằm kề sát vương cung, xét về tráng lệ, nơi đây chỉ xếp sau vương cung. Xe ngựa đi đến, từ xa đã thấy thái tử Thân đứng chờ ngoài điện nghênh tiếp. Sau khi hành lễ xong xuôi, thái tử Thân dắt tay Huệ Thi bước vào trong sảnh.

Đêm đó, hai người thắp nến trò chuyện, bắt đầu bàn từ “Quan vật thập sự”, lại nói tới vạn vật giống khác, càng nói càng hợp, đến mức thâu đêm không ngủ.

Trời đã sáng bảnh, nhưng thái tử Thân, Huệ Thi đều không cảm thấy mệt mỏi, lại cất bước tới hậu hoa viên. Lập tức có tỳ nữ mang nước mát đến, hai người rửa mặt, dùng điểm tâm, rồi đến ngồi trong đình hóng mát, đang định nói tiếp câu chuyện thì nội tể tiến lại, bẩm báo: “Khởi bẩm điện hạ, Chu đại nhân ở phủ tư đồ cầu kiến!”

Thái tử Thân khẽ chau mày: “Bản cung đang tiếp khách, bảo ông ta hôm khác hãy đến!”

Nội tể vâng lệnh, ra khỏi hậu hoa viên, đi tới tiền sảnh, tươi cười vòng tay nói với Chu Uy: “Chu đại nhân, điện hạ đang bận tiếp khách, đại nhân có chuyện gì, xin cứ căn dặn tiểu nhân!”

Chu Uy không chịu, vòng tay mà nói: “Việc này vô cùng hệ trọng, tại hạ phải trực tiếp gặp điện hạ, phiền nội tể bẩm báo lại.”

Nôi tể lại đi vào, một lát sau, thái tử Thân nét mặt kém vui rảo bước đi ra.

Chu Uy sụp xuống dập đầu: “Vi thần khấu kiến điện hạ!”

“Chu tư đồ, mời đứng dậy!” Thái tử Thân ngồi xuống, hỏi. “Nghe nói tư đồ có việc cần gặp bản cung?”

Chu Uy đứng lên, ngồi xuống chiếu khách: “Điện hạ còn nhớ chuyện hôm qua chăng?”

“Nhớ!” Thái tử Thân ngạc nhiên. “Cũng vì chuyện này mà bản cung rất đỗi băn khoăn. Tư đồ có biết tại sao phụ vương lại bực bội đến vậy không?”

“Bệ hạ muốn mời điện hạ câu cá!”

“Câu cá?” Thái tử Thân kinh ngạc. “Chỉ là câu cá mà thôi, tại sao phụ vương lại nổi trận lôi đình?”

“Điện hạ có biết bệ hạ muốn câu cá gì không?”

Thái tử Thân lắc đầu.

“Bệ hạ muốn câu cá côn!”

“Chu tư đồ nói gì vậy?” Thái tử Thân khẽ chau mày. “Bản cung càng nghe càng thấy mơ hồ. Cá côn ở đâu ra?”

“Chính là tướng quốc tương lai!” Chu Uy bèn nói thẳng vào đề. “Bệ hạ nói là câu cá, nhưng thực ra là đang bàn chuyện tìm người thích hợp để trao chức tướng quốc.”

Thái tử Thân sốt ruột đứng dậy: “Ai làm tướng quốc là do phụ vương quyết định, sao lại đổ lên đầu bản cung?”

“Nếu bệ hạ có thể tự quyết định, hà tất phải đợi đến tận hôm nay?”

“Vậy… tư đồ có gì chỉ bảo?”

“An Quốc Quân một lòng tiến cử thượng đại phu Trần Chẩn làm tướng quốc, vi thần thấy không thoả đáng. Trần Chẩn là hạng người nào, điện hạ hẳn trong lòng hiểu rõ. Nếu để kẻ này làm tướng quốc, Đại Ngụy chẳng mấy mà suy vong!”

“Theo ý tư đồ, người nào mới xứng làm tướng quốc?”

“Công Tôn Diễn!”

“Nếu là vậy…” thái tử Thân hạ giọng, “tại sao tư đồ không nói rõ với phụ vương, tiến cử Công Tôn Diễn?”

“Than ôi!” Chu Uy thở dài. “Vi thần đã tiến cử nhiều lần, nhưng bệ hạ…”

“Ý của tư đồ là…”

“Vi thần nghĩ đi nghĩ lại, chỉ còn cách nhờ tới điện hạ. Điện hạ, tài của Công Tôn Diễn có thể sánh với Thương Ưởng nước Tần!”

“Tư đồ đã tiến cử mà không được, bản cung cũng lực bất tòng tâm. Nếu tư đồ không còn việc gì khác, bản cung còn có khách đợi trong hậu hoa viên!” Thái tử Thân nói đoạn bèn đứng dậy, vòng tay vái, ra vẻ muốn tiễn khách.

“Điện hạ hãy khoan!” Chu Uy cũng đứng lên, lấy ra tấm thẻ tre từ trong tay áo. “Vi thần khẩn cầu điện hạ hãy đọc vật này, sau đó hãy quyết định!”

Thái tử Thân nhận lấy mảnh thẻ tre, cất vào trong tay áo, rồi quay sang nội tể: “Tiễn khách!”

Nội tể chìa tay nói: “Chu đại nhân, mời!”

Chu Uy vòng tay vái dài: “Vi thần cáo lui!”

Thái tử Thân quay trở lại hoa viên, vòng tay vái Huệ Thi: “Xin tạ lỗi! Toàn bị những việc không đâu làm mất hứng, mong tiên sinh lượng thứ.”

Huệ Thi vòng tay đáp lễ, cười nói: “Dám hỏi thái tử, là việc không đâu nào vậy?”

“Vẫn là việc tướng quốc!”

“Chẳng phải quý quốc chưa có tướng quốc hay sao?”

“Than ôi!” Thái tử Thân cười buồn, than thở. “Chính vì chưa có tướng quốc, nên mới sinh ra nhiều chuyện đến vậy. Không giấu tiên sinh, từ khi Bạch tướng quốc qua đời, trong triều không có tướng quốc, quần thần không có người cầm đầu, phụ vương việc gì cũng đến tay, vô cùng mệt mỏi. Phụ vương từ lâu đã muốn đặt tướng quốc, nhưng vẫn chưa tìm được nhân tài thích hợp, nên mới lần lữa đến hôm nay.”

“Nghe nói bệ hạ muốn bái thượng đại phu Trần Chẩn làm tướng, có chuyện này chăng?”

“Chu tư đồ cũng lo lắng vì việc này.”

“Có người nguyện làm tướng quốc, đúng là việc tốt, Chu tư đồ cớ sao phải lo lắng?”

“Chu tư đồ cho rằng Trần Chẩn là loạn thần hại nước, không thể làm tướng!”

“Theo ý của tư đồ, ai mới thích hợp làm tướng?”

“Công Tôn Diễn!”

“Lẽ nào tư đồ đại nhân muốn nhờ điện hạ tiến cử Công Tôn Diễn?”

“Đúng vậy!”

“Điện hạ đồng ý rồi ư?”

Thái tử Thân lắc đầu.

“Nói như vậy…” Huệ Thi khẽ mỉm cười, “chẳng phải tư đồ đại nhân đã đi một chuyến công cốc hay sao?”

“Ông ta để lại một thẻ tre, nói là do Công Tôn Diễn viết.”

“Thảo dân có thể đọc không?”

Thái tử Thân lấy mảnh thẻ tre từ trong tay áo ra, đưa cho Huệ Thi. Huệ Thi liếc nhìn, rồi trả lại.

“Tiên sinh!” Thái tử Thân thuận miệng hỏi. “Người này viết thế nào?”

“Tốt!” Huệ Thi cười khẽ. “Viết rất tốt!”

“Ý của tiên sinh là…”

“Thảo dân cho rằng…” Huệ Thi lập tức dõi giọng, “nếu người này sẵn lòng làm tướng quốc, điện hạ có thể tiến cử với bệ hạ!”

Trong ngự thư phòng, Ngụy Huệ Vương đang phê duyệt tấu chương, bỗng tỳ nhân bước vào bẩm báo: “Bệ hạ, thượng đại phu đi sứ nước Tần đã về, đang đợi bên ngoài!”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương mừng rỡ. “Trần ái khanh đã trở về rồi ư? Mau, truyền vào yết kiến!”

Trần Chẩn rảo bước đi vào, dập đầu nói: “Vi thần khấu kiến bệ hạ, bệ hạ vạn tuế, vạn vạn tuế!”

“Ái khanh mau bình thân!” Lời chưa dứt, Huệ Vương đã đứng dậy, đi tới đỡ Trần Chẩn đứng lên, dắt tay ngồi xuống chiếu. “Ái khanh lần này đến Tần, lập được đại công, quả nhân phải trọng thưởng mới được!” Rồi quay sang tỳ nhân. “Người đâu!”

“Có lão nô”

“Truyền chỉ, thưởng Trần ái khanh một trăm lượng vàng, một trăm súc lụa, mười nhạc công, bốn ngựa tốt.”

“Vi thần khấu tạ bệ hạ ban thưởng!” Trần Chẩn đứng dậy, lại quỳ xuống khấu đầu. “Bệ hạ hậu ái, vi thần muôn chết cũng không đủ báo đáp. Bệ hạ hậu thưởng, nhưng vi thần xin cả gan từ chối!”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương thoáng ngạc nhiên. “Lẽ nào ái khanh chê quả nhân thưởng ít?”

“Vi thần không dám!” Trần Chẩn lại khấu đầu. “Cho dù bệ hạ có thưởng một sợi lông chim, vi thần cũng không dám coi là nhỏ, huống hồ lại thưởng trọng hậu đến vậy? Vi thần cúi xin bệ hạ cho phép vi thần nói vài câu!”

“Ái khanh mau nói!”

“Hiếu Công, Công Tôn Ưởng đều đã về trời, hiện tại chính là cơ hội để bệ hạ chiếm lại Hà Tây, tất cả tiền bạc của cải nên dùng vào đại nghiệp quang phục. Chút công nhỏ bé của vi thần, thực không dám lĩnh thưởng!”

Nghe những lời này, Ngụy Huệ Vương vô cùng xúc động, ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi lại đứng lên, đích thân đỡ Trần Chẩn dậy, nói: “Trần ái khanh, nói hay lắm! Từ khi Bạch tướng quốc qua đời, những lời trung lương thế này, quả nhân đã lâu lắm không được nghe thấy!”

Thấy Ngụy Huệ Vương so sánh mình với Bạch tướng quốc, Trần Chẩn hai mắt đỏ hoe, nghẹn ngào: “Bệ hạ…”

Ngụy Huệ Vương dìu Trần Chẩn đứng dậy, dắt ông ta ngồi vào chỗ của Bạch tướng quốc trước đây: “Trần ái khanh, hãy kể cho quả nhân nghe chuyện trong cung Tần.”

“Vi thần tuân chỉ.”

Trần Chẩn lần lượt kể lại toàn bộ sự việc trong chuyến đi sứ nước Tần cho Ngụy Huệ Vương nghe, trước tiên kể chuyện mình giúp Cam Long hãm hại Công Tôn Ưởng, sau đó kể chuyện mình khiến các lão thần Cam Long, Công Tôn Giả, Đỗ Chí… phải chịu chết, cuối cùng lại kể chuyện mình khiến đám trọng thần Doanh Kiền, Xa Anh, Cảnh Giám… liên tiếp từ chức, khiến Huệ Văn Công trở thành quân chủ cô độc không còn ai bên cạnh, bất đắc dĩ đành phải sử dụng đám tiểu tử miệng còn hơi sữa. Trần Chẩn khéo dùng chiêu dời hoa gắn cành, uốn lưỡi lò xo, khua môi múa mép, quy tất cả những biến cố trong thời gian ở cung Tần thành công lao của mình, khiến Ngụy Huệ Vương nghe mà há miệng tròn mắt, liên tục vỗ bàn khen hay.

Quân thần đang trò chuyện cao hứng, tỳ nhân lại bước vào: “Khởi bẩm bệ hạ, thượng đại phu nước Tần Sư Lý Tật vào triều!”

“Hừm!” Ngụy Huệ Vương thoáng ngạc nhiên, quay sang nhìn Trần Chẩn. “Đúng là tà môn, nói đến là đến!” Rồi quay sang tỳ nhân. “Sắp xếp cho họ đến dịch quán nghỉ ngơi!”

“Tuân chỉ!” Tỳ nhân đáp rồi vội lui ra.

“Ha ha ha!” Ngụy Huệ Vương cười lớn, quay sang Trần Chẩn. “Nghe ái khanh kể chuyện, thật sảng khoái! Ái khanh vừa mới trở về, người Tần đã lập tức đến nơi, hành động cũng thật nhanh nhẹn. Ái khanh hãy đi gặp người này, quan sát xem họ vào triều có ý đồ gì?”

“Vi thần lĩnh chỉ!”

Nước cờ mà Trần Chẩn đã dày công sắp đặt, thực vô cùng tuyệt diệu, rõ ràng cũng đã có được hiệu quả thần kỳ. Trên đường về phủ, trong mắt Trần Chẩn lại hiện lên cảnh tượng Ngụy Huệ Vương hai lần dìu mình đứng dậy, càng nghĩ càng thấy đắc ý, bất giác buột miệng ngâm nga vài khúc hát quê nhà. Trần Chẩn là người nước Tống, cùng quê với Huệ Tử, khúc hát vừa mang phong vị đất Sở phương nam, vừa có âm điệu Tề Lỗ, nghe cũng vui tai. Thích Quang đánh xe thấy chủ nhân cao hứng, trong lòng cũng sảng khoái, ra roi quất ngựa, đang định cho phi nước đại thì Trần Chẩn đột nhiên quát dừng xe.

Thích Quang vội ghì dây cương, ngoảnh đầu hỏi: “Chúa công?”

“Quay lại!”

Thích Quang kinh ngạc hỏi: “Trở lại cung thành?”

“Không, đến dịch quán!”

Thích Quang tìm một nơi rộng rãi để quay đầu xe, sau đó đánh thẳng tới dịch quán ở gần vương cung.

Tới dịch quán, Trần Chẩn xuống xe, chậm rãi đi đến chỗ sứ Tần Sư Lý Tật. Đã có người báo cho Sư Lý Tật biết trước, Trần Chẩn còn chưa kịp đến cửa, Sư Lý Tật đã đi ra đón, vái chào từ xa: “Sư Lý Tật xin chào Trần huynh!”

Trần Chẩn đáp lễ: “Trần Chẩn xin chào Sư Lý huynh!”

“Tại hạ vừa sắp xếp xong, đang định đến quý phủ bái kiến, không ngờ Trần huynh đã nhanh hơn một bước, quả thực khiến tại hạ hổ thẹn.”

“Ha ha ha!” Trần Chẩn cười lớn mà nói. “Tại hạ đến Hàm Dương, Sư Lý huynh là chủ, tại hạ là khách. Sư Lý huynh đến An Ấp, tại hạ là chủ, Sư Lý huynh là khách. Quý khách đến, tại hạ phải đích thân đến bái kiến, mới làm tròn lễ mọn của chủ nhân!”

“Trần huynh khách sáo rồi!” Sư Lý Tật đưa tay nắm lấy tay Trần Chẩn. “Trần huynh, mời!”

Hai người dắt tay nhau vào trong phòng khách, chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Công tử Hoa đi vào, rót trà.

Trần Chẩn thấy người này lạ mặt, bèn quay sang nhìn Sư Lý Tật: “Vị này là…”

“Ồ!” Sư Lý Tật chìa tay giới thiệu. “Tại hạ cũng đang định giới thiệu, vị này là công tử Hoa, phó sứ của tại hạ.”

Công tử Hoa rất ít khi lộ diện, vì vậy dù Trần Chẩn ở nước Tần nhiều ngày, cũng nhiều lần nghe bọn Đỗ Chí nhắc đến, biết rằng người này là tay chân thân tín của Huệ Văn Công, nhưng vẫn chưa có cơ duyên gặp gỡ, không ngờ hôm nay lại không hẹn mà gặp.

“Đại danh của công tử, tại hạ đã ngưỡng mộ từ lâu!” Trần Chẩn không dám chậm trễ, lập tức đứng lên vòng tay thi lễ.

“Doanh Hoa xin chào thượng đại phu!” Công tử Hoa đáp lễ, rồi tiến lên trước một bước, cười hì hì mà nói. “Thượng đại phu, nghe nói An Ấp là nơi náo nhiệt, có thể giới thiệu vài chốn thú vị chăng?”

Trần Chẩn trước đó qua đám Đỗ Chí đã thăm dò được công tử Hoa là tay phong lưu có tiếng, liền cười nói: “Công tử muốn chơi, thì đến An Ấp là đúng chỗ rồi. Không biết công tử muốn chơi trò gì?”

“Có những trò gì hay ho?”

“An Ấp có vô số chốn ăn chơi,” Trần Chẩn nói, “nhưng phải xem công tử có nhã hứng gì mới được. Nếu thích đi săn, công tử có thể đến Thúy Sơn; nếu thích đánh bạc, công tử có thể đến lầu Nguyên Hanh; nếu thích mỹ nữ, công tử có thể đến lầu Miên Hương.”

“Ha ha!” Công tử Hoa lập tức huỵch toẹt. “Nếu là vậy, tại hạ muốn mời thượng đại phu đến lầu Miên Hương!”

“Hay! Hay! Hay!” Trần Chẩn giơ ngón tay cái lên. “Công tử quả là người phong lưu! Trong lầu Miên Hương, có đủ mỹ nữ của liệt quốc, trẻ thì mười ba mười bốn, già thì ba bốn chục; gầy béo đen trắng đều có cả, tuỳ ý công tử chọn lựa!”

“Có quốc sắc thiên hương không?”

“Có chứ, có chứ!” Trần Chẩn cười vang. “Nếu không có hương, còn gọi gì là lầu Miên Hương nữa? Không giấu công tử, trong đó quả thực có một cô nương tên gọi Thiên Hương, là bậc quốc sắc thiên hương, không những kiều diễm vô song, lại cầm kỳ thi hoạ món gì cũng thạo. Chà, nếu như được cùng cô nương ấy vui vầy đêm xuân, quả là không uổng một đời!”

“Nghe thượng đại phu nói vậy, lẽ nào cô nương ấy…”

“Không giấu gì công tử,” Trần Chẩn cười bí hiểm, “cô nương ấy trước nay không tiếp khách, e rằng công tử…” Rồi cố ý dừng lại nửa chừng.

“Ồ!” Công tử Hoa ngạc nhiên. “Thực quái lạ, bản công tử đi khắp thiên hạ, chưa từng thấy kỹ nữ nào không tiếp khách. Thượng đại phu có thể nói rõ, tại sao Thiên Hương cô nương không tiếp khách chăng?”

“Ờ…” Trần Chẩn cố tình ngập ngừng, “tại hạ không tiện nói nhiều!”

Công tử Hoa cười lớn mấy tiếng, vòng tay với Trần Chẩn: “Doanh Hoa đa tạ thượng đại phu đã giới thiệu! Hai vị cứ ở đây trò chuyện, tại hạ phải đi xem thử mới được!”

“Công tử đi cẩn thận!” Trần Chẩn đứng dậy, thấy công tử Hoa đã ra khỏi cửa, đành vòng tay vái tiễn, đưa mắt nhìn theo, sau đó quay sang cười với Sư Lý Tật. “Không ngờ công tử lại sốt sắng đến vậy, quả là một người nhiệt tình! Nghe nói công tử rất thân thiết với Tần Công, Sư Lý huynh có được công tử là phó sứ, thể diện cũng không nhỏ!”

“Thể diện cái gì?” Sư Lý Tật phì cười. “Chúa thượng phái tại hạ đến bái kiến bệ hạ, công tử nghe nói An Ấp có nhiều trò vui nên nhất quyết đòi đi theo. Tại hạ biết công tử quá ham chơi, sợ làm lỡ việc nên không dám cho theo. Công tử không chịu, liền đến cầu xin chúa thượng, chúa thượng đành phải đồng ý. Tại hạ cũng chẳng còn cách nào khác, đành phải để công tử cùng đi.”

Nghe thấy Tần Công trông nom chính sự kiểu này, Trần Chẩn mừng thầm, liền thay đổi chủ đề, vòng tay chúc mừng Sư Lý Tật: “Sư Lý huynh thật may mắn, từ quận thú địa phương thăng liền ba cấp, tại hạ vốn định đến chúc mừng từ lâu, nhưng vẫn chưa có dịp. Hôm nay gặp mặt, tại hạ xin được chúc mừng!”

“Khiến Trần huynh cười chê rồi!” Sư Lý Tật đáp lễ. “Không giấu Trần huynh, hiện giờ nước Tần trên núi không có hổ, đành phải để một con khỉ như tại hạ đây tạm thời nhảy nhót vài hôm.”

“Than ôi!” Trần Chẩn thở dài, ra vẻ đáng tiếc.

“Xin hỏi Trần huynh, sao lại thở dài như vậy?”

Trần Chẩn tỏ vẻ rầu rĩ: “Dù sao đi nữa, Sư Lý huynh cũng đã có đất dụng võ, không giống tại hạ. Chức thượng đại phu này, tại hạ đã ngồi một mạch bảy tám năm rồi, mà mãi vẫn chưa có gì biến chuyển.”

Sư Lý Tật bật cười: “Chắc hẳn thượng đại phu đang nói đùa rồi! Tại hạ nghe nói chức tướng quốc, bệ hạ đã dành cho đại nhân rồi kia mà!”

“Than ôi!” Trần Chẩn lại thở dài sườn sượt. “Để dành gì đâu, Bạch Khuê qua đời đã hai năm rồi!”

“Ồ?” Sư Lý Tật thu nụ cười lại. “Nghe Trần huynh nói vậy, lẽ nào còn có ẩn tình gì khác?”

“Sư Lý huynh đã hỏi, tại hạ cũng không giấu nữa!” Trần Chẩn chớp lấy thời cơ, bèn nói thẳng. “Mấy hôm nay, có người tấu lên bệ hạ, tiến cử Công Tôn Diễn làm tướng quốc.”

“Ha ha ha!” Sư Lý Tật cười toáng lên. “Cứ tưởng người nào gây khó dễ cho Trần huynh, té ra là Công Tôn Diễn. Tại hạ nghe nói, kẻ này chẳng qua chỉ là một gia nô trong phủ Bạch tướng quốc, sao có thể làm tướng quốc được?”

“Không giấu gì Sư Lý huynh,” Trần Chẩn hạ thấp giọng, “kẻ này đúng là không đáng ngại, nhưng quan trọng là Chu Uy, bệ hạ rất nghe lời ông ta.”

“Việc này thì dễ thôi!” Sư Lý Tật cười nói. “Nếu Trần huynh có ý này, tại hạ có thể giúp Trần huynh một tay, loại bỏ chướng ngại.”

“Ý Sư Lý huynh là…” Trần Chẩn hai mắt mở to, “Chu Uy?”

“Không, không!” Sư Lý Tật vội vã xua tay. “Chu đại nhân là vương thần, tại hạ đâu dám! Tại hạ đang nói tới Công Tôn Diễn.”

“Sư Lý huynh nói thật chứ?” Trần Chẩn vội hỏi.

“Ồ, lẽ nào Trần huynh không tin tại hạ?”

“Đâu có, đâu có!” Trần Chẩn vòng tay nói. “Tại hạ đa tạ Sư Lý huynh. Xin hỏi Sư Lý huynh, nếu việc này thành công, tại hạ phải báo đáp thế nào?”

“Đây là chuyện nhỏ, tại hạ đâu dám cầu báo đáp!”

“Có đi thì phải có lại, Sư Lý huynh bất tất phải khách khí. Nếu huynh có việc gì cần, cứ nói cho tại hạ nghe.”

“Thượng đại phu đã có ý, vậy tại hạ xin nói thẳng!” Sư Lý Tật ôm quyền nói. “Không giấu Trần huynh, chúa thượng mới lên ngôi, muốn kết tình hữu hảo cùng bệ hạ, để trở thành láng giềng hoà mục. Tại hạ phụng chỉ đi sứ, cũng là vì việc này. Nếu Trần huynh có thể nói vài lời tốt đẹp trước mặt bệ hạ, giúp tại hạ hoàn thành sứ mệnh, tại hạ đã mãn nguyện lắm rồi!”

“Nếu là việc này…” Trần Chẩn thở phào một hơi, vòng tay nói, “tại hạ nhất định sẽ tận lực!”

“Đa tạ Trần huynh!”

Nghe Trần Chẩn thuật lại nội tình trong cung Tần, Ngụy Huệ Vương vô cùng hưng phấn, đến nửa đêm vẫn chưa ngủ được, vắt óc suy nghĩ cách tận dụng cơ hội hiếm có để chiếm lại Hà Tây. Ngụy Huệ Vương biết, mặc dù hiện giờ thời cơ tốt đẹp, nhưng là quân vương, không được phép nóng vội. Thứ nhất, cần phải quan sát Huệ Văn Công, xem có đúng như Trần Chẩn đã nói hay không: bất tài, không biết dùng người, bị cô lập. Thứ hai, cần phải chuẩn bị cẩn thận trước khi khai chiến.

Chuẩn bị không phải về sức của, không phải về sức người, mà là nhân tài. Tần Hiếu Công có thể chiếm được Hà Tây, vì ông ta có Công Tôn Ưởng. Nhưng hiện giờ trong tay Huệ Vương, ngoài Trần Chẩn ra, thật chẳng còn hiền tài nào khác. Công tử Ngang thì không cần nhắc tới, sự trung thành của Chu Uy cũng không phải nghi ngờ, hai người này đều có tài năng, nhưng nếu nói về mưu lược trong màn trướng, quyết thắng ngoài ngàn dặm, thì còn kém xa Công Tôn Ưởng.

Cho dù là Trần Chẩn cũng khiến Huệ Vương phải đau đầu. Kỳ thực, Huệ Vương đã quan sát Trần Chẩn suốt mấy năm nay. Người này dùng thì thuận tay, hơn nữa, dường như luôn hiểu thấu tâm tư Huệ Vương, luôn biết gãi đúng chỗ ngứa, nhưng khi gặp việc lớn thì lại hồ đồ, không thể tin cậy. Trước đây mấy lần nghe theo Trần Chẩn, có lần nào không khiến Huệ Vương phải đau tim. Đầu tiên là xưng vương, sau đó là phạt Tần, sau nữa là liên kết với Tần phạt Vệ, tiếp theo lại là…

Ngụy Huệ Vương quả thật không dám nghĩ tiếp.

Một người khiến ông đau đầu hơn nữa là thái tử Thân. Nếu luận về tuổi tác, thái tử Thân tuổi đã ba mươi, chính thức lập làm thái tử đã mười mấy năm rồi. Nhưng mười mấy năm nay, dường như thái tử Thân chẳng hề trưởng thành thêm chút nào, không quan tâm tới quốc sự, không chịu rèn giũa bản thân, thật chẳng khác nào Doanh Tứ, tân quân của nước Tần. Nếu tương lai nước Tần sẽ bị huỷ trong tay Doanh Tứ, vậy thì nước Ngụy cũng có thể bị huỷ hoại trong tay thái tử Thân, mà đây là điều Huệ Vương rất không mong muốn. Mặc dù hiện nay, cơ thể vẫn tráng kiện, nhưng sự đời thình lình không thể đoán lường. Tần Hiếu Công đột ngột băng hà, khiến Huệ Vương càng thấm thía điều này.

Ngụy Huệ Vương càng nghĩ càng trằn trọc. Sáng hôm sau, Ngụy Huệ Vương dậy từ rất sớm, lập tức lệnh cho tỳ nhân gọi thái tử đến, nói rằng muốn cùng ăn sáng.

Đây là việc chưa từng có. Thái tử Thân thấp thỏm bất an đi vào ngự thiện sảnh, từ xa đã nhìn thấy Ngụy Huệ Vương ngồi đợi sẵn, liền lại gần khấu bái: “Nhi thần khấu kiến phụ vương!”

Ngụy Huệ Vương thái độ khác hẳn thường ngày, đưa ánh mắt hiền từ nhìn thái tử, mỉm cười, chỉ vào vị trí trước mặt: “Thân Nhi, ngồi đi!”

Vì chuyện câu cá trước đây, thái tử Thân chắc mẩm sẽ bị phụ vương quở mắng, nhưng thật không ngờ phụ vương lại ôn hoà khác thường, thành ra quý quá hoá sợ, chần chừ một lát mới ngồi xuống, nhưng không dám cầm đũa.

Ngụy Huệ Vương thấy thái tử e dè không dám gắp thức ăn, liền tự tay gắp một miếng trứng cuộn, đặt vào bát thái tử: “Thân Nhi, nếm thử xem!”

Thái tử Thân vội cầm đũa, gắp miếng trứng đưa vào trong miệng, không dám nhai đã nuốt chửng luôn. Cũng vì nuốt vội nên miếng trứng bị kẹt ngay cổ họng, khiến thái tử Thân mắc nghẹn, cần cổ cứ trồi lên thụt xuống. Tỳ nhân thấy vậy, vội bưng nước đến, thái tử Thân uống một ngụm to mới tống được miếng trứng xuống bụng.

Thấy bộ dạng bê bối của thái tử, Huệ Vương phì cười: “Thân Nhi, thường ngày con cũng ăn uống như thế ư?”

Thái tử Thân thở lấy thở để, rồi trả lời: “Hồi bẩm phụ vương, Thân Nhi ăn vội quá!”

“Thân Nhi, bắt đầu từ hôm nay, ngày ngày con sẽ ăn cơm cùng quả nhân!”

Thái tử Thân sững sờ, kinh ngạc nhìn Huệ Vương.

“Ồ, con không vui sao?”

Thái tử Thân vội vòng tay khấu tạ: “Nhi thần đa tạ phụ vương hậu ái!”

Huệ Vương lại gắp thêm thức ăn bỏ vào bát của thái tử, đưa ánh mắt ôn tồn nhìn sang: “Thân Nhi, ăn đi!”

Thấy phụ vương không hề có ý trách mắng, lúc này thái tử Thân mới dám thở phào, cười ngượng nghịu, bạo gan gắp một quả trứng bồ câu, nhẹ nhàng đặt vào bát của Huệ Vương: “Phụ vương, người cũng dùng đi!”

Huệ Vương nhận lấy trứng, cười ha hả mà nói: “Thân Nhi, quả trứng này của con, phụ vương sẽ ăn!” Lời vừa dứt, liền bỏ tọt quả trứng vào miệng, không nhai đã nuốt chửng.

Thái tử Thân bỗng thấy tim mình thắt lại, hai mắt ứa lệ.

“Thân Nhi,” Huệ Vương đưa qua một chiếc khăn lụa, “lau đi, ăn cơm là quan trọng nhất!”

Thái tử Thân cúi đầu, nhận lấy khăn tay, lau khô nước mắt, rồi cắm cúi ăn cơm.

Cha con hai người vui vẻ dùng xong bữa sáng, sau đó lại đi dạo dọc theo con đường mòn trong hậu hoa viên. Tỳ nhân lẳng lặng theo sau.

Đi được một lúc, Huệ Vương hỏi: “Thân Nhi, mấy ngày nay con bận gì thế?”

“Hồi bẩm phụ vương, nhi thần gặp được một kỳ nhân, trò chuyện rất tâm đầu ý hợp.”

Huệ Vương cười: “Là kỳ nhân nào, có thể nói cho phụ vương nghe chăng?”

Thái tử Thân cười nói: “Nhi thần nói, chỉ sợ phụ vương sẽ cười chê. Người này nói ra toàn những điều kinh thế hãi tục, kiểu như ‘tên bay không động’, ‘vạn vật giống nhau’, ‘vòng liền gỡ được’… Lúc đầu nhi thần không hiểu, đã tranh biện với người này, nhưng bắt bẻ kiểu gì, người này vẫn biện luận vẹn toàn, hơn nữa còn rất hợp lý, khiến nhi thần không thể không phục!”

“Ha ha ha!” Huệ Vương phấn chấn. “Người con vừa nhắc đến phải chăng là Huệ Tử người Tống?”

Thái tử Thân kinh ngạc: “Phụ vương cũng biết người này ư?”

“Mới chỉ nghe nói!” Huệ Vương gật gù. “Năm ngoái người này đã tới học cung nước Tề biện luận về danh thực với một người tên gọi Công Tôn Long, khiến đối phương phải cứng họng. Công Tôn Long cũng được coi là miệng lưỡi nổi danh liệt quốc, nên sự việc này đã nhanh chóng truyền khắp thiên hạ.”

Thái tử Thân nhìn Huệ Vương với vẻ khó tin: “Phụ vương ngày bận trăm công ngàn việc, nhưng vẫn rành rẽ học vấn bách gia, thật khiến nhi thân bội phục!”

“Than ôi, Thân Nhi!” Huệ Vương thở dài một tiếng. “Cái nhà này thực không dễ cai quản! Ngồi vào ghế ấy, quả nhân không những phải thông thạo củi gạo dầu muối, lại càng phải hiểu biết học vấn bách gia!” Lại đi thêm mấy bước, đột nhiên như sực nhớ ra điều gì. “Nhắc đến chuyện này, tự nhiên lại gợi ý cho quả nhân một điều. Qua sự việc đó, Huệ Tử cũng đã trở thành danh sĩ trong thiên hạ, lần này đến nước ta, quả nhân không thể không gặp mặt. Thân Nhi, khi nào gặp Huệ Tử, con hãy đánh tiếng, nói rằng mấy ngày nữa quả nhân sẽ tìm thời gian đến luận bàn về danh thực với ông ta.”

“Nhi thần nhất định sẽ nói lại với Huệ Tử!”

“Còn một chuyện nữa,” Huệ Vương dừng bước, nhìn thái tử Thân, “quả nhân cũng muốn nghe kiến giải của con.”

“Nhi thần xin nghe.”

“Bạch tướng quốc qua đời đã gần hai năm, chức tướng quốc vẫn để trống, trăm quan không ai cai quản, các việc nội chính, ngoại giao chồng chéo, quả nhân bận rộn tối ngày, cảm thấy lực bất tòng tâm. Thường có câu, ‘trong nước không thể một ngày không có tướng’, xem ra lời này quả thực không sai.”

“Phụ vương muốn đặt tướng quốc, vậy cứ lựa chọn lấy một người thích hợp!”

“Với một đất nước, chọn tướng quốc không phải chuyện tầm thường, tuyệt đối không thể đại khái!”

“Chắc hẳn phụ vương đã chọn được người hợp ý?”

Huệ Vương khẽ lắc đầu: “Khi Bạch tướng quốc còn, quả nhân không có cảm giác gì đặc biệt. Nhưng Bạch tướng quốc đi rồi, quả nhân thực sự không thể tìm được người nào đủ sức thay thế. Ngang Nhi nhiều lần tiến cử thượng đại phu Trần Chẩn, nhưng Chu ái khanh lại liên tiếp phản đối. Chu ái khanh nhiều lần tiến cử Công Tôn Diễn, Ngang Nhi cũng không phục. Chu ái khanh và Ngang Nhi đều là người quả nhân coi trọng, ý hai người như vậy, thực khiến quả nhân khó lòng định đoạt. Giờ đây, quả nhân muốn nghe ý kiến của con.”

“Nhi thần cũng từng nghe người ta nói về Công Tôn Diễn, nghe nói lúc Bạch tướng quốc còn sống, cũng đã tiến cử người này, thiết nghĩ người này hẳn có thực tài.”

“Hắn theo Bạch tướng quốc nhiều năm, Bạch tướng quốc tiến cử hắn cũng là dễ hiểu. Con còn nghe thấy người nào khác tiến cử hắn nữa không?”

“Một số triều thần.”

“Những triều thần nào?”

Thái tử Thân thoáng do dự. “Nhi thần không nhớ rõ. Nhưng nhi thần cho rằng, trăm nghe không bằng một thấy, Công Tôn Diễn có thực tài hay không, tại sao phụ vương không trực tiếp gọi đến gặp mặt?”

Huệ Vương trầm ngâm một lúc, rồi quay sang vẫy tay gọi tỳ nhân. Tỳ nhân vội đi tới: “Bệ hạ có gì căn dặn?”

“Ngươi hãy tìm thời gian đến thăm dò Công Tôn Diễn, thử tài người này xem sao!”

“Lão nô tuân chỉ!”

Tỳ nhân đi được mấy bước, thái tử Thân liền gọi lại, lấy ra một mảnh tre từ trong tay áo, đưa cho tỳ nhân: “Bản cung nhặt được mảnh tre này, nghe nói là do Công Tôn Diễn viết. Nếu gặp người này, hãy trả lại cho ông ta.”

Tỳ nhân nhận lấy, vừa liếc nhìn đã kinh hãi, vội gật đầu rồi cất vào trong tay áo.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử