Tô Tần chờ trong phủ ba ngày liền, vẫn không thấy Dịch Vương triệu kiến. Tới ngày thứ tư, đúng hôm đại triều, Tô Tần lên triều với danh phận ngoại tướng, khiến bá quan rất mực chú tâm. Tô Tần nhìn khắp lượt, thấy triều đường toàn là người lạ, hai ban văn võ đa phần là thân tín của Dịch Vương, lão thái sư xưa kia vốn dĩ vô công rồi nghề ngồi nhà cũng xuất hiện trong hàng ngũ, chiếm chỗ đầu tiên trong dãy văn thần.
Dịch Vương tới chậm ba khắc, đã thế sau khi lên triều, chỉ xử lý một việc duy nhất: nghênh thân công chúa nước Tần. Qua tấu báo của triều thần, Tô Tần biết được, đoàn xe đưa dâu của nước Tần đã qua Triệu vào Yên, ba ngày nữa sẽ tới Kế Thành, đặc sứ đưa dâu vẫn là thượng đại phu Sư Lý Tật.
Nhìn thấy ván đã đóng thuyền, Tô Tần biết rằng có khuyên can cũng vô ích. Hơn nữa, đại chiến Hàm Cốc đã cận kề, Tô Tần thứ nhất không còn tâm trí đâu mà đấu khẩu với tình địch cũ Sư Lý Tật ở Kế Thành, thứ hai đã có hẹn với Cơ Tuyết ở Vũ Dương, do vậy không muốn nán lại Kế Thành thêm nữa, bèn lấy cớ bận việc hợp tung, cáo từ Dịch Vương. Dịch Vương nói vài câu đãi bôi níu giữ Tô Tần, rồi cũng thuận nước đẩy thuyền mà ân chuẩn.
Tô Tần cùng Trâu Phi Đao mau chóng tới ly cung. Xuân Mai đón hai người, đưa vào một khu nhà ẩn khuất. Trong nhà không một bóng người, Xuân Mai ngăn Trâu Phi Đao lại, dẫn Tô Tần vào trong phòng khách, rồi quay trở ra, tiện tay khép cổng, cùng Trâu Phi Đao đứng canh phía ngoài.
Trong phòng khách vắng vẻ, Cơ Tuyết mình mặc hiếu phục, ngồi ngay ngắn trên chiếu chủ, lặng phắc như pho tượng. Tô Tần đứng trong cửa, trơ trơ như một gốc cây, song trái tim lại nhảy loạn trong lồng ngực.
Cơ Tuyết cũng vậy.
Trong phòng khách rộng lớn tại chốn thâm cung tĩnh mịch, một nam một nữ, một ngồi một đứng, không biết đã trôi qua bao lâu, chẳng ai mảy may xê dịch, thậm chí có thể cảm nhận được hơi thở và nhịp tim mỗi lúc càng thêm dồn dập của đối phương.
Người phá vỡ bầu tĩnh lặng, chính là Cơ Tuyết. Giọng nàng hơi run rẩy: “Tô Tử muốn đứng mãi thế ư?”
Tô Tần lúc này mới định thần lại, bèn bước lên trước hai bước, quỳ xuống dập đầu nói: “Vi thần Tô Tần khấu kiến thái hậu!”
“Miễn lễ!” Cơ Tuyết đáp khẽ một tiếng, chỉ vào chỗ ngồi đối diện. “Tô Tử mời ngồi, mời dùng trà!”
“Tạ ơn thái hậu!” Tô Tần lại bái lạy, rồi ngồi xuống.
Trên bàn trước mặt đã bày sẵn chiếc bát ngọc, Tô Tần bưng bát lên tay, mắt nhìn Cơ Tuyết không chớp. Mới có hai năm không gặp, Cơ Tuyết đã vóc dáng hao gầy, hình dung cũng tiều tụy thấy rõ.
“Là trà hoa nhài!” Cơ Tuyết cúi đầu tránh ánh nhìn của Tô Tần, cất giọng dịu dàng.
“Vậy ư?” Tô Tần vốn không để tâm tới trà, song vẫn nhấp một ngụm.
Cơ Tuyết cười buồn, nâng chén trà lên, nhấp khẽ, gượng tâm tư bình tĩnh trở lại.
Tô Tần biết, Cơ Tuyết khẩn cấp cho gọi mình tới, dứt khoát không phải để mời trà. Tô Tần lại nhấp vài ngụm, rồi đặt bát ngọc xuống, đi thẳng vào chuyện: “Thái hậu, mọi việc đều đã qua rồi, song vi thần thấy thái hậu âu lo chưa hết, là vì chuyện gì?”
Cơ Tuyết thuật lại một lượt từ đầu tới cuối sự biến trong cung Kế Thành, chỉ lược bỏ chuyện Dịch Vương uy hiếp, muốn làm điều bất chính với mình, cuối cùng khóc sụt sùi mà nói: “Thiếp bạc mệnh, gặp sự biến bất ngờ mà bị gả tới Yên thất. Yên thất cách xa Trung Nguyên, thiếp ngày ngày cô đơn trơ trọi, vốn dĩ muốn được sống yên ổn ở đất Yên cho đến hết đoạn đời tàn, không ngờ việc này nối tiếp việc kia, muôn việc bức bách, bảo thiếp…” Rồi nghẹn ngào không nói tiếp được nữa, nâng ống tay áo lên lau nước mắt.
Thấy Cơ Tuyết tự xưng là “thiếp”, Tô Tần trong lòng đau đớn, che ống tay áo khóc mà nói: “Là Tần vô dụng, đã để công chúa phải chịu khổ!”
Cơ Tuyết khẽ lắc đầu: “Là thiếp mệnh khổ, đâu liên quan gì tới Tô Tử?” Rồi lau nước mắt, ngẩng nhìn Tô Tần.
“Tô Tử, thiếp chỉ là việc nhỏ, nước Yên mới là việc lớn. Nay thiếp gọi gấp Tô Tử tới đây, là muốn cậy nhờ việc lớn.”
“Xin kính cẩn lắng nghe lời căn dặn của công chúa!”
“Cơ Tô đã mất đi nhân tính, huỷ diệt nhân luân, trước ép anh ruột, sau giết cha đẻ, sao có thể kế thừa đại nghiệp? Thiếp cho rằng, có thể dựa vào sức của Tử Chi, Chử Mẫn, triệu tập cựu thần của tiên quân, thiếp sẽ đứng ra, chiếu cáo di nguyện của tiên quân, truyền hịch thiên hạ, phế bỏ Cơ Tô, lập công tử Khoái, chỉnh đốn Yên thất.”
Tô Tần trầm ngâm suy nghĩ. Hồi lâu sau, khẽ lắc đầu.
Cơ Tuyết ngạc nhiên: “Ồ?”
“Dựa vào tình hình trước mắt,” Tô Tần chậm rãi giải thích, “nếu nói rằng điện hạ giết tiên quân, vẫn chưa đủ bằng chứng. Tuỳ tùng của tiên quân mất tích, tới nay vẫn không rõ hành tung, chúng ta có thể nghi ngờ, song không thể kết luận. Điện hạ danh phận đã định, nước Yên không ai không biết. Tiên quân băng hà, điện hạ kế ngôi, cũng là chính thống, khó nói là cướp đoạt ngôi vua. Tuy tiên quân có ý phế bỏ điện hạ, truyền ngôi cách đời, song tiếc là không có di chiếu. Không có di chiếu, chúng ta vô cớ xuất binh, người Yên không hiểu nguyên do, sao có thể tâm phục? Hơn nữa, điện hạ sớm có dã tâm cướp ngôi, từ lâu đã trù bị kỹ càng. Nay vây cánh hùng hậu, trong triều đình đều là thân tín, còn có thêm sự giúp sức từ ngự đệ của tiên quân là lão thái sư. Thân tộc cũ trong Yên thất đa phần răm rắp nghe theo thái sư, điện hạ có được sự trợ giúp của ông ta, nền móng đã vững chắc. Trọng thần của tiên quân, hoặc bị miễn chức, hoặc bị giáng chức, người có thể dùng được, chỉ có hai vị tướng quân Tử Chi và Chử Mẫn. Hai người này, chỉ dựa vào khẩu dụ của công chúa, chưa chắc đã chịu đứng ra. Những điều này tạm khoan nói đến, cái khó nhất vẫn là ở công tử Khoái. Công tử Khoái tấm lòng nhân hậu, kế thừa được phong thái của tiên quân. Nếu là người khác cướp ngôi, công tử có lẽ sẽ nghe lời công chúa. Song kẻ cướp ngôi lại chính là cha ruột của công tử, bảo công tử lựa chọn thế nào đây?”
Lời của Tô Tần khác nào một gáo nước lạnh hắt thẳng xuống đỉnh đầu. Cơ Tuyết ngả người ra sau, mặt nhợt nhạt không còn huyết sắc, nhắm nghiền mắt lại, hai dòng lệ lăn dài trên má. Đúng vậy, mấy ngày qua, trong lòng nàng chỉ canh cánh một chuyện này, chính là làm sao thực hiện được di nguyện của tiên quân, phế bỏ Cơ Tô, lập công tử Khoái, lập nên một vị quân chủ nhân từ cho Yên thất. Niềm thôi thúc quá lớn đã che mờ trí tuệ, khiến nàng chưa từng nghĩ được xa xôi đến vậy, chi tiết đến vậy.
“Công chúa?” Tô Tần không hiểu nguyên do, nhìn thấy thái độ của Cơ Tuyết mà kinh hãi, vội xoay người quỳ xuống. “Công chúa…”
“Tô Tử!” Không biết đã bao lâu sau, Cơ Tuyết mới từ từ mở mắt, nâng khăn lụa thấm đi dòng lệ, sắc mặt đã điềm tĩnh hơn nhiều. “Tô Tử về đi, ta… hơi mệt.”
Tô Tần trong lòng đau đớn đến chực khóc, vốn muốn giải thích vài câu, song ngập ngừng một lúc lại thôi, thay vào đó từ trong miệng chỉ thốt ra vài chữ hàm hồ đến bản thân cũng không nghe rõ: “Vi thần… cáo… lui…”
Tô Tần lại bái lạy rồi đứng dậy, chầm chậm lui ra. Tô Tần lui ra tới sân, từ trong phòng khách lại vọng ra giọng nói của Cơ Tuyết, rất đỗi nhu hoà: “Tô Tử, ngày mai sau lúc hoàng hôn, có rảnh rỗi chăng?”
“Có!” Tô Tần lập tức buột miệng đáp liền.
Giọng nói càng thêm dịu dàng: “Ngày mai là bàng sinh bá, là ngày tốt lành. Thần thiếp muốn mời Tô Tử thưởng nguyệt, được chăng?”
Bàng sinh bá là cách người Chu gọi ngày trăng rằm. Vào đêm rằm, trăng tròn vành vạnh, rất thích hợp cho thưởng nguyệt.
Tô Tần nghe thấy trong giọng nói của Cơ Tuyết không có mảy may trách cứ, thì biết rằng nàng không những không hiểu lầm, mà ngược lại rất thấu hiểu hắn, trong lòng vô cùng cảm động, run giọng đáp lời: “Xin vâng lời công chúa!”
Sau khi rời khỏi ly cung, Tô Tần lại tới phủ Chử Mẫn. Hai người ngồi bàn bạc một vài việc nước như tu sửa lăng mộ tiên quân, bảo vệ ly cung. Rồi Tô Tần cáo từ, quay về trạm dịch.
Trên đường đi, Tô Tần thấy Trâu Phi Đao chốc chốc lại lấy ra một vật từ trong tay áo, đưa lên trước mũi hít hà, bèn cười hỏi: “Trâu huynh có bảo bối gì vậy, tại hạ có thể thưởng lãm chăng?”
Trâu Phi Đao đưa lại một vật. Một làn hương lạ xộc vào mũi Tô Tần, thoang thoảng vấn vương, trong trẻo thanh khiết.
“Túi thơm thật đẹp!” Tô Tần khen ngợi. “Tô huynh có được thứ này ở đâu vậy?”
“Là Mai cô nương vừa mới tặng.” Trâu Phi Đao thực thà đáp. “Ồ, mà chúa công, ngài nói thử xem, vì sao Mai cô nương lại tặng tại hạ vật này?”
Tô Tần không trả lời, mà hỏi ngược lại: “Trâu huynh cảm thấy Mai cô nương thế nào?”
“Là người tốt!”
“Thích nàng ấy không?”
“Thích!”
Tô Tần cười vang mà nói: “Thích thì tốt!” Rồi đưa trả túi thơm. “Vật này quý giá, Trâu huynh hãy giữ gìn cẩn thận, chớ phụ lòng tốt của Mai cô nương.”
“Chỉ là,” Trâu Phi Đao lộ vẻ bối rối, “tại hạ chưa từng làm được chuyện gì cho Mai cô nương, cớ sao nàng ấy lại tặng tại hạ hậu lễ nhường này?”
“Nếu Trâu huynh cảm thấy áy náy, cớ sao không tặng lại một vật?” Tô Tần bèn gợi ý cho hắn.
“Không giấu chúa công, tại hạ cũng đã nghĩ tới chuyện này. Nhưng nhìn đi nhìn lại, chẳng thấy bên mình có vật gì quý giá, không biết tặng lại thứ gì?”
“Dám hỏi Trâu huynh, vật gì khiến huynh cảm thấy khó từ bỏ nhất?”
Trâu Phi Đao khẽ lắc đầu: “Tại hạ chẳng có thứ gì không thể từ bỏ.”
“Vậy thì…” Tô Tần lại gợi ý, “trong thời khắc sinh tử, nếu Trâu huynh vẫn còn một ý niệm, thì đó là gì?”
“Chúa công!”
“Tại hạ xin nghe, hãy nói đi!”
“Đã nói rồi đấy thôi, chính là chúa công. Chỉ cần chúa công được bình yên, tại hạ có chết cũng cam lòng!”
Nhìn vị nghĩa sĩ trung dũng vốn không quen biết song lại không màng sống chết bảo vệ mình suốt mấy năm qua, trong lòng Tô Tần chợt trào dâng một nỗi xúc động khôn tả.
“Trâu huynh!” Tô Tần khẽ gọi một tiếng từ sâu trong tâm khảm, rồi chầm chậm khép đôi mắt lại.
Ngày hôm sau, vào đêm trăng rằm.
Hoàng hôn vừa qua, một vầng thỏ ngọc dần nhô lên phía đằng đông, nhẹ lướt qua những đám mây trắng mỏng manh như lụa. Trên đài lộ thiên trong hậu hoa viên ly cung, gió bắc thổi mang theo hơi giá, nhuốm lạnh mặt nước hồ trong veo phía trước đài, khiến vầng trăng dưới đáy nước bị kéo dài thành muôn vệt sáng, tản mạn theo sóng.
Trên đài lộ thiên rộng lớn, ngoài chủ tớ Cơ Tuyết và Tô Tần, không còn ai khác. Cơ Tuyết trái ngược hẳn với hôm qua, tuy vẫn phục sức giản dị, son phấn nhẹ nhàng như trước, song trên mình đã thay áo lụa, không còn vận hiếu phục sô gai, tinh khí thần đều đã khác hẳn. Kiểu tóc cũng thay đổi, không còn chải búi cao theo lối phu nhân nước Yên, mà để búi tóc theo kiểu công chúa trong vương cung Lạc Dương ngày trước, có hơi xoã rối, toát lên vẻ phóng khoáng ngây thơ. Tô Tần nhận thấy những ưu sầu trong nàng đã hoàn toàn tan biến. Dưới ánh trăng vằng vặc, Tô Tần thậm chí còn nhận ra niềm hân hoan thấp thoáng trên nét mặt, và nét cười ẩn hiện nơi khoé môi nàng.
Tô Tần biết, đêm trăng tròn này thuộc về hắn, tất cả những chuẩn bị này, đều là vì hắn. Trong lòng Tô Tần xúc động dâng trào, cổ họng như có vật gì tắc nghẽn, nuốt không xuống, nhả không ra, cứ nghẹn ứ tại chỗ, cứ thế lan toả xuống dưới, luồn sâu vào tận trong tim.
“Tô Tử!” Cơ Tuyết nở một nụ cười ngọt ngào. “Thiếp lâu lắm rồi không động tới đàn cầm, hôm nay gió trong trăng sáng, thiếp chợt khởi hứng, muốn gảy tặng Tô Tử một khúc, cho thoả tai nghe.”
Tô Tần cổ họng vẫn nghẹn đắng, không thốt nổi thành lời, chỉ biết vòng tay vái lia lịa.
“Mai Nhi, bày đàn!”
Xuân Mai mang lại chiếc bàn dài, đặt xuống trước mặt Cơ Tuyết, lại nâng cây đàn bên cạnh lên, bày lên bàn.
“Mai Nhi, hôm nay gió lạnh trăng cao, chị gảy đàn một mình cũng không tận hứng. Sao không mang đàn sắt của em lại đây, chị em ta cùng hoà tấu một khúc tặng Tô Tử, chẳng phải càng tuyệt diệu hơn ư?”
Xuân Mai vốn không thông âm luật, từ sau khi cùng Cơ Tuyết tới cung Yên, mới theo công chúa học nghệ. Cơ Tuyết yêu đàn cầm, cho Xuân Mai học đàn sắt. Có công mài sắt có ngày nên kim, hơn mười năm qua, cầm nghệ của Xuân Mai cũng đã thành xuất sắc. Chủ tớ hai người thường hoà tấu cầm sắt, để tiêu khiển cho qua những tháng năm dằng dặc. Tuy nhiên, trong một buổi tối thế này, ở trước mặt hai người đàn ông kia, công chúa không chỉ công khai xưng chị em với Xuân Mai, mà còn gọi cùng hoà tấu cầm sắt, quả thực Xuân Mai nằm mơ cũng không nghĩ tới.
Xuân Mai vừa kinh ngạc vừa hoang mang, lắp bắp: “Công chúa, nô… nô… nô tỳ thân phận hèn hạ, nào… nào dám…”
“Mai Nhi!” Cơ Tuyết cảm khái mà nói. “Hãy nhớ rằng, trong lòng chị, từ lâu em đã không còn là nô tỳ, mà là em gái. Khi ở Lạc Dương, em vốn theo Vũ Nhi, là Vũ Nhi không nỡ ly biệt, mới để em theo chị. Em thay Vũ Nhi theo chị, thì cũng chính là em gái của chị. Mai Nhi, đi nào, mang đàn sắt lại đây, hôm nay dưới ánh trăng trong, chị em ta hãy hoà tấu một khúc tặng Tô Tử. Tô Tử tinh thông âm luật, xứng là tri âm, khúc nhạc của chúng ta, có thể nhờ Tô Tử chỉ giáo.”
Lời Cơ Tuyết xuất phát tự đáy lòng, rất mực chân thành, khiến Xuân Mai cảm động đến nước mắt giàn giụa, bèn quỳ xuống sụt sùi mà nói: “Công chúa…”
Tô Tần cũng cảm động, vòng tay nói: “Tại hạ được nghe nhã tấu của Mai cô nương, thật là diễm phúc!” Chợt nhướng mày một cái, quay sang Trâu Phi Đao. “Trâu huynh, lại đây, huynh đệ chúng ta cùng thưởng thức nhã tấu của hai chị em công chúa, chẳng phải thoả chí lắm ư!”
Trâu Phi Đao ngượng nghịu vặn xoắn hai bàn tay, cười nói: “Tại hạ tai trâu, chỉ e làm hỏng nhã khúc!” Song lời vừa dứt, người đã tiến tới, ngồi xuống bên cạnh Tô Tần.
Xuân Mai liếc nhìn hắn, đôi má đỏ bừng, may mà có ánh trăng che giấu giúp phần nào. Đã tới nước này, Xuân Mai cũng khó lòng từ chối, lại mang tới một chiếc bàn nữa, lấy đàn sắt ra, từ tốn ngồi xuống, bắt đầu chỉnh dây đàn như Cơ Tuyết vẫn thường làm.
Một lát sau, các dây đàn đã được chỉnh xong.
Xuân Mai, Cơ Tuyết nhìn nhau gật đầu, rồi cùng khởi tấu.
Thoạt đầu, hai người tay đưa chậm rãi, cầm sắt hài hoà, âm điệu ngân nga, tựa như gió lạnh thổi qua sườn dốc, nhạn thu lướt ngang bầu không. Đến đoạn thứ hai, cầm sắt mỗi đàn một điệu, cầm xướng sắt hoạ, xen kẽ giao thoa, như tiếng chim đối đáp, trời đất giao hoà. Tiếp đến, tiếng đàn cầm trong trẻo du dương, tiếng đàn sắt nỉ non trầm lắng, hai điệu hai âm, sắt cầm hoà quyện, như bầy chim bay lên từ bãi sậy, như gió mạnh thổi xuyên qua núi rừng. Những đoạn tiếp theo, tiếng đàn sắt bật dây xen lẫn với tiếng đàn cầm trượt phím, tự do khoáng đạt, bát ngát hoang lương, như chim hồng hốt hoảng chao cánh, như mưa rào chợt đổ, thi thoảng âm thanh vút cao chót vót, hoặc như tiếng sấm rền từ chín tầng trời, hoặc như giông bão ào qua khe núi, hoặc như sắt đá va đập, hoặc như sóng dữ xô bờ. Thình lình, cầm sắt lại hài hoà, ngón tay nhấn nhá, dây đàn nhẹ rung, dư âm vương vấn, khác nào nắng lên sau khi tuyết tạnh, gió lạnh phất phơ phả vào trước mặt, khí trong mát thấm vào tận ruột gan.
Tô Tần vốn là người hiểu nhạc. Cầm sắt vừa khởi, Tô Tần đã khép hờ hai mắt, nghiêng tai lắng nghe. Lúc đầu còn dõi theo ngón đàn của hai người, phẩm giá từng điệu. Nhưng không lâu sau, trong tai có âm, trong tâm không ngón. Tiếp nữa, âm và ngón đều biến mất, chỉ thấy thân tâm bay bổng, bồng bênh phiêu dật, như dải lụa cuốn bay theo gió. Sau cùng, thân tâm cũng đều biến mất, như si như mộng, trong cõi mơ màng, chợt nghe vài tiếng vang vọng, cầm sắt đều dừng, mọi âm im bặt.
Tô Tần choàng tỉnh, vỗ tay mà thốt lên kinh ngạc: “Quả nhiên cầm sắt hoà hợp, đúng là khúc đàn tuyệt diệu trong thiên hạ!”
“Đa tạ Tô Tử khen ngợi!” Cơ Tuyết vòng tay cảm tạ.
Xuân Mai dường như vẫn đang chìm đắm trong tiếng nhạc, tay tuy đã dừng, song người vẫn thẫn thờ tại chỗ.
“Dám hỏi công chúa, khúc này tên gọi là gì mà kỳ diệu đến vậy?”
“Không có tên. Là do thiếp trong đêm dài đằng đẵng, nhìn gió trong trăng lạnh mà tự làm ra. Nếu Tô Tử muốn đặt tên, hãy miễn cưỡng gọi nó là ‘Tuyết lạnh trăng hàn’!” Giọng Cơ Tuyết có phần run rẩy.
Tô Tần rầu rầu không nói. Đất Yên lạnh lẽo, đêm dài dằng dặc, ngày qua ngày, năm lại năm, trong đó chất chứa bao nỗi thê lương, bao niềm chua xót, đè trĩu lên cơ thể mảnh mai yếu ớt của công chúa, một khúc “Tuyết lạnh trăng hàn” kia tuyệt không thể nào thấu tận.
Hồi lâu sau, Tô Tần mới thốt được một lời từ sâu trong tâm khảm: “Công chúa, công chúa đã… chịu khổ rồi!”
“Tô Tử…” Có lẽ quá ư xúc động, có lẽ không kham nổi cái giá lạnh trên đài lộ thiên, Cơ Tuyết bỗng nhiên cơ thể mềm rũ, ngã nghiêng trên cây đàn cầm đầu phượng.
“Công chúa!” Tô Tần lao vụt tới bên Cơ Tuyết, đưa tay giữ lấy nàng, bật khóc mà gọi. “Công chúa, nàng làm sao thế này?”
Cơ Tuyết từ từ hé mắt, giọng mong manh yếu ớt: “Tô Tử, trời lạnh trăng hàn, đêm nay… chàng đừng về, được không?”
Đêm đó, Tô Tần đã không về.
Hôm sau, rồi hôm sau nữa, Tô Tần cũng không về. Tô Tần và Cơ Tuyết giống như hai đống củi khô nỏ cuối cùng đã bắt được một đốm lửa trong ngày đông gió lạnh, thoắt đã bùng cháy rừng rực.
Chập tối ngày thứ tư, người kề cận trong phòng ngủ lại không phải Cơ Tuyết, mà là Xuân Mai.
Xuân Mai mình mặc áo ngủ, lặng lẽ đứng ở bên giường, đầu cúi gằm, sắc mặt đỏ ửng, giống như một đứa trẻ đang nhận lỗi.
“Xuân Mai, không còn sớm nữa, hãy về nghỉ đi!” Tô Tần nằm nghiêng trên giường, chăn bông đắp ngang người, cất giọng ôn tồn.
Xuân Mai lí nhí “vâng” một tiếng, rồi thổi tắt đèn dầu, bắt đầu sột soạt tháo đai cởi áo.
“Xuân Mai, cô… cô làm gì thế?” Tô Tần nghe thấy âm thanh bất thường, bất giác giật mình.
“Tô đại nhân…” Xuân Mai dừng tay, từ từ quỳ xuống bên giường, khẽ khàng bẩm báo. “Nô tỳ thân phận hèn mọn, phụng mệnh công chúa hầu hạ đại nhân, mong đại nhân không chê bỏ!”
“Chuyện này… chuyện này sao có thể được?” Tô Tần bàng hoàng kinh sợ, mò mẫm lần tìm đá mồi lửa bên mép giường, vội đánh lửa thắp đèn. “Mau lên, đứng dậy đi, mặc áo ngoài vào!”
Xuân Mai quỳ dưới đất không chịu đứng dậy, bật khóc mà nói: “Đại nhân hẳn là chê bai nô tỳ?”
“Sao… sao… sao cô lại nói như vậy?” Tô Tần dứt khoát đưa tay kéo cô ta dậy, cầm tấm áo ngoài khoác lên người cô ta. “Mau gọi công chúa vào đây, ta có điều muốn hỏi nàng!”
Xuân Mai ngập ngừng một lát, rồi quay người bước ra khỏi cửa.
Không để Xuân Mai phải gọi, Cơ Tuyết đã đẩy cửa phòng, chậm rãi bước vào.
Tô Tần tiến lên vài bước, đưa tay giữ lấy Cơ Tuyết, lập tức trách móc: “Tuyết Nhi, nàng… nàng mụ mị mất rồi ư, sao lại hồ đồ đến vậy?”
“Tô Tử, lẽ nào chàng không ưng Mai Nhi?” Cơ Tuyết dịu dàng đáp lời. “Mai Nhi tuy là nô tỳ, song thần thiếp đã xem cô ấy như em một. Mai Nhi thông minh, lanh lợi, rất mực trung thành, chàng cũng đã thấy rồi, chỉ trong mười năm, ngón đàn sắt của Mai Nhi đã tuyệt diệu nhường nào, không thua kém gì thiếp. Hơn nữa, Mai Nhi còn rất giỏi nữ công…”
“Tuyết Nhi, nàng đừng nói nữa! Trên đời này, ngoài Tuyết Nhi, dù là tiên nữ hạ phàm, Tô Tần cũng không chút động lòng!”
“Tô Tử!” Cơ Tuyết ôm chặt lấy Tô Tần, khẽ sụt sùi. “Như vậy… thật không công bằng.”
“Cớ sao nàng lại nói vậy?”
“Tô Tử, chàng vì thiếp mà giữ mình như ngọc, còn thiếp… lại không thể dành cho chàng một tấm thân nguyên vẹn, trong lòng vô cùng đau khổ. Mai Nhi tuy không phải là thiếp, song lại là xử nữ, với thiếp lại ý hợp tâm đầu, có thể thế thân cho thiếp, mong Tô Tử đừng chê.”
“Tuyết Nhi, nàng…” Tô Tử nhẹ nhàng vuốt ve mái tóc mềm của Cơ Tuyết, “nàng thực sự coi trọng chữ trinh đến vậy ư?”
“Theo như thiếp biết, tất cả nam tử đều coi trọng.”
“Trinh nữ trong thiên hạ đông đến hàng vạn, song Tuyết Nhi lại chỉ có một. Nam tử trong thiên hạ đông đến hàng vạn, song Tô Tần cũng chỉ có một. Tuyết Nhi, nàng hãy nhớ, đối với Tô Tần, là xử nữ hay không chỉ là vô nghĩa, duy chỉ có nàng là có nghĩa với ta, Tuyết Nhi!”
“Tô Tử…” Cơ Tuyết thì thầm, nhìn Tô Tần mà nước mắt giàn giụa.
“Tuyết Nhi, nàng hãy nghe cho kỹ!” Tô Tần từ từ quỳ xuống, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất. “Có thiên địa nhật nguyệt chứng giám, Tô Tần đời này chỉ yêu duy nhất một người, chính là Tuyết Nhi!”
“Tô Tử…” Cơ Tuyết nức nở, lao vào lòng Tô Tần, vùi mặt vào ngực hắn.
Nhìn thấy Xuân Mai mình mặc áo ngủ chậm rãi bước vào phòng ngủ của thái hậu, lòng Trâu Phi Đao khác nào kim châm dao cứa.
Hắn biết người đang đợi trong gian phòng kia là ai, cũng biết Xuân Mai vào trong đó làm gì, bởi khi thái hậu dặn dò Xuân Mai, hắn đã nghe không sót một chữ.
Hắn không phải cố tình nghe lén. Tô Tần và thái hậu đêm đêm gặp gỡ, để đề phòng bất trắc, hắn và Xuân Mai cùng nhau canh gác trong thiên điện ngoài cung cấm. Đêm dài dằng dặc, trong cung hai tình hoà hợp, ngoài cung bốn mắt giao nhau, tình cảm giữa hai người ngày càng nồng đượm. Vào đêm nay, hắn đã hạ quyết tâm, vội vã chạy về trạm dịch, mở tay nải vẫn mang theo bên mình, lấy ra một món báu vật. Chính là một mũi phi đao trông rất đỗi bình thường, được đúc từ sắt tinh, chỉ nạm chút đồng trên chuôi. Vật này tuy không quý giá, song đối với Trâu Phi Đao, lại là vô giá, bởi đó là của sư phụ tặng cho. Hắn giấu kỹ như báu vật, sự tình có nguy cấp tới đâu cũng không nỡ lấy ra dùng. Lúc này, hắn quyết định nghe theo lời của chủ nhân, đem tặng Xuân Mai, người con gái duy nhất trên đời này trong lòng có hắn, thực sự yêu thương hắn.
Trâu Phi Đao cất phi đao vào ống tay áo, tâm tư kích động chạy tới ly cung, song không ngờ lại nghe thấy những lời thái hậu dặn dò Xuân Mai. Tiếp đến, hắn nhìn thấy Xuân Mai mình mặc áo ngủ, nhích từng bước chậm chạp vào trong tẩm cung. Khi những ngọn đèn trong phòng ngủ của thái hậu lần lượt tắt phụt, Trâu Phi Đao đang đứng trong bóng tối cách đó không xa.
Trâu Phi Đao hai chân cứng đờ, máu huyết ngưng tụ, tim như ngừng đập.
Dường như cũng chỉ trong khoảnh khắc, Trâu Phi Đao đã định thần trở lại, quay đầu vội vã bỏ đi.
Trâu Phi Đao chạy như bay ra khỏi ly cung, lao vào một cánh rừng nằm sâu thẳm trong đồng hoang. Vài chùm ánh trăng chênh chếch xuyên qua tán lá lưa thưa, rọi xuống mặt hắn. Hắn chậm chạp ngồi xuống một vạt cỏ, lặng lẽ lôi chiếc túi thơm của Xuân Mai ra, lại lần tìm trong tay áo mũi phi đao mà hắn định tặng cho nàng, đặt hai vật song song trên đất, một mình đau khổ.
Đúng vào lúc này, từ trong cánh rừng vọng lại những âm thanh khác lạ.
Có người bám theo hắn!
Trâu Phi Đao cả kinh, rút phắt mũi phi đao giắt trên mình, lạnh lùng quát lớn: “Ai? Ra mau!”
Người kia lại không xuất hiện, chỉ nghe vài tiếng lào xào từ bụi cây bên trái trước mặt.
Trâu Phi Đao sẵn đang bực bội trong lòng, “vụt” một tiếng phóng luôn mũi phi đao về phía phát ra tiếng động. Đây là mũi phi đao đoạt mạng, đao phi máu chảy. Song trong lùm cây lại không thấy phát ra tiếng ngã đổ hay tiếng kêu rú thảm thiết như dự đoán, trong khi tiếng lào xào vẫn y như cũ. Trâu Phi Đao kinh hãi, lại phi liền mấy mũi nữa về phía lùm cây, đao đao trí mạng. Người kia đã không hề ngã xuống, ngược lại còn cười lên khanh khách, chậm rãi bước ra, rồi ung dung tiến thẳng lại gần, hai tay dang ngang.
Dưới ánh trăng mờ ảo, Trâu Phi Đao nhìn thấy những mũi phi đao nhỏ bé vừa phóng đi đều bị kẹp gọn giữa các kẽ ngón tay của người kia.
Trâu Phi Đao trợn mắt há miệng, đứng ngây tại chỗ.
Người kia đầu đội nón lá, mình mặc áo nâu cánh ngắn, cứ thế tiến sát lại gần, mới vung tay một cái, quăng toàn bộ số phi đao trong tay xuống trước mặt Trâu Phi Đao, cười vang mà nói: “Phi đao tuyệt diệu, suýt nữa đã lấy mất mạng già này!”
Trâu Phi Đao giờ mới nhận ra là ai, vội quỳ sụp xuống đất, vui buồn lẫn lộn, bật khóc mà gọi: “Sư phụ…”
Người tới, chính là Khuất Tương Tử.
Sau khi an táng Tuỳ Sào Tử xong xuôi, Khuất Tương Tử lập tức rời khỏi Nghiêu Sơn, trước hết tới Lạc Dương, sau tới Kế Thành, rồi lần theo tung tích tới đây.
“Sư phụ, sao… sao người lại tới đây? Đệ tử có nằm mơ cũng nhớ đến sư phụ, cứ ngỡ rằng đời này… không còn được gặp lại… sư phụ nữa!”
“Ha ha, chẳng phải đã tới rồi ư?” Khuất Tương Tử mỉm cười, khoanh chân ngồi xuống trước mặt hắn, ánh mắt dừng lại trên chiếc túi thơm và mũi phi đao dưới đất, ngắm nghía một lát, rồi cầm túi thơm lên hít hà vài cái. “Thơm quá, là cô nương nào tặng cho con vậy?”
“Mai cô nương.”
“Là thị nữ thân tín của thái hậu nước Yên?”
“Đúng vậy!”
Rõ ràng, Khuất Tương Tử sớm đã hiểu rõ sự tình. Ông đặt túi thơm xuống, nhìn chăm chú vào hai vật đặt song song trên đất, hồi lâu sau mới nghiêng đầu nhìn Trâu Phi Đao: “Con sắp đặt như vậy, có thể nhìn ra dụng tâm của con. Xem ra, con vẫn chưa được thoả nguyện. Gặp phải chuyện không như ý rồi ư?”
“Không… không có!”
“Ha ha, trước mặt sư phụ, còn không chịu thừa nhận? Con tận mắt nhìn thấy Mai cô nương bước vào tẩm cung hầu hạ Tô Tử, trong lòng hẳn là thất vọng, phải không?”
“Sư… sư phụ…”
“Con theo Tô Tử mấy năm rồi?”
“Hơn ba năm!”
“Con mụ mẫm vì tình mất rồi. Hơn ba năm, tức là hơn nghìn ngày, con ngày ngày đều theo Tô Tử, Tô Tử là người thế nào, con còn không hiểu ư?”
Đúng là một lời thức tỉnh người trong mộng.
Trâu Phi Đao đang đau đớn cõi lòng, lúc này tựa như bị dội xuống một thùng nước lạnh.
“Ta lại hỏi con, có yêu Mai cô nương không?”
“Yêu!”
“Yêu gì ở cô ấy?”
Trâu Phi Đao cúi thấp đầu.
“Con có biết thế nào là yêu không?”
“Đệ… đệ tử không biết!”
“Yêu có hai loại, một là đại ái, hai là tiểu ái. Chút ít tình yêu như con, gọi là tiểu ái. Tiểu ái lại phân thành bốn loại, yêu do hoạn nạn, yêu do tưởng tượng, yêu do quen biết, yêu do dung mạo. Con thử nghĩ xem, tình yêu của con dành cho Mai cô nương thuộc loại nào?”
Trâu Phi Đao nghe mà ngẩn tò te, cúi đầu suy nghĩ một hồi, đột nhiên ngẩng đầu lên hỏi: “Sư phụ, đệ tử dám hỏi thế nào là đại ái?”
Khuất Tương Tử không trả lời, mà nhìn xa xăm lên bầu trời đêm, ngắm vầng trăng tròn lơ lửng ngọn cây hồi lâu, rồi hỏi ngược lại hắn: “Con có biết thế nào là dũng không?”
“Dũng tức là không sợ chết!”
Khuất Tương Tử vẫn nhìn miên man lên bầu trời, nửa như tự nhủ, nửa như trả lời: “Phải, dũng tức là không sợ chết. Hai mươi năm trước, sư phụ cũng đã trả lời như vậy.”
“Sư phụ?”
“Khi đó, sư phụ tuổi cũng bằng con bây giờ, tuổi trẻ khí thịnh, võ nghệ siêu quần, dũng vũ hàng đầu thiên hạ. Một ngày nọ, sư phụ nghe nói có một vị Mặc giả tuyên truyền ‘Phi công’(1) trên phố, rất không phục, bèn đeo kiếm dài đội mũ cao, chạy tới trước mặt ông ta hét lớn: ‘Vãn sinh Khuất Tương hiểu dũng, nghe tiên sinh phản đối tranh đấu, tới xin chỉ giáo.’ Vị Mặc giả kia liếc mắt nhìn sư phụ, rồi từ tốn hỏi: ‘Thiếu hiệp đã hiểu dũng, vậy có biết dũng là gì chăng?’ Sư phụ dõng dạc trả lời: ‘Dũng là không sợ chết.’ Mặc giả kia lắc đầu lia lịa. Sư phụ tức giận, bèn rút kiếm chỉ vào đầu ông ta quát: ‘Nói thì tha, không nói thì chết!”’
Trâu Phi Đao sốt sắng hỏi: “Sư phụ, vị Mặc giả đó có nói không?”
“Đương nhiên là có nói!” Khuất Tương Tử thu lại ánh nhìn, quay sang Trâu Phi Đao, chậm rãi kể tiếp. “Mặc giả kia dõng dạc đáp lời: ‘Theo tại hạ được biết, dũng có năm loại. Xông pha vào rừng rậm, chém tê giác hổ báo, bắt gấu, beo, là dũng của thợ săn. Lao xuống vực sâu, chém thuồng luồng, bắt ba ba, cá sấu, là dũng của người đánh cá. Leo cao vượt hiểm, đứng thẳng nhìn ra tứ phía, sắc mặt không thay đổi, là dũng của thợ gốm. Đánh là đâm, nhìn là giết, là dũng của người hành hình. Còn có một loại dũng nữa, thời xưa từng gặp ở người Lỗ. Tề Hoàn Công khởi binh phạt Lỗ, muốn lấy đất Lỗ làm vùng đất phía nam của mình. Lỗ Công lo lắng, ba ngày liền không thiết ăn uống. Người Lỗ Tào Quế hay tin, bèn tới doanh trại Tề, gặp Hoàn Công liền nói: ‘Thần nghe nói, quân chủ nhục thì bề tôi chết, nay quân chủ của thần chịu nhục, thần chỉ có chết mà thôi. Thần thỉnh cầu lui binh, nếu không lui binh, thần xin tự cắt cổ, dùng máu phun lên người chúa thượng.’ Nói xong, Tào Quế rút kiếm kề ngang cổ, nhìn trừng trừng vào Hoàn Công. Hoàn Công thất kinh, Quản Trọng nhân dịp can gián, cuối cùng Tề Lỗ kết minh ước, trở thành láng giềng hoà thuận, hai bên tự động lui binh. Tào Quế vốn là kẻ thất phu đi bộ, áo vải giày cỏ, một cơn thịnh nộ mà đẩy lui được đội quân vạn cỗ xe, giữ được một nước nghìn cỗ xe. Dũng này hào khí trường tồn, xứng danh là dũng của quân tử. Năm loại dũng này, dám hỏi công tử, thứ nào tốt nhất?”
“Sư phụ, người trả lời thế nào?”
“Sư phụ nào có trả lời được, lập tức tháo kiếm dài, bỏ mũ cao, quỳ sụp xuống vái lạy, xin được nhận làm đệ tử.”
“Người đó có thu nạp không?”
“Ha ha ha!” Khuất Tương Tử cười sảng khoái. “Nếu không đồng ý, thì làm gì có sư phụ ngày nay của con!”
“Vị Mặc giả đó là ai?”
“Ông chính là sư phụ của sư phụ, Hồ Phi Tử, không chỉ là đệ tử yêu của tiên thánh Mặc gia Mặc Tử, mà còn là sư huynh của tiên cự tử Mặc gia Tuỳ Sào Tử, không những học vấn uyên thâm, mà võ công cũng vào hàng tuyệt đỉnh!”
Trâu Phi Đao lại bái lạy mà nói: “Đệ tử đã hiểu thế nào là đại ái. Đệ tử có một thỉnh cầu, mong sư phụ ân chuẩn!”
“Cứ nói!”
“Mặc giả dạy khắp bốn phương, nghĩa đầy thiên hạ, đệ tử sớm đã ngưỡng mộ trong lòng. Đệ tử nguyện theo sư phụ, vì đại ái thiên hạ, có phải lao vào dầu sôi lửa bỏng cũng cam lòng!”
Khuất Tương Tử trịnh trọng nói: “Con đã là đệ tử của sư phụ, đương nhiên cũng đã là Mặc giả. Những năm qua, con hiệp nghĩa can đảm, cứu giúp nguy nan, trợ giúp Tô Tử hợp tung thiên hạ, khiến cho bách tính tránh được binh hoạ can qua, chính là đang thi hành Mặc đạo. Tiên cự tử rất coi trọng con, sư phụ tới đây, là phụng theo di nguyện của tiên cự tử, giao phó cho con một trọng trách.”
Nghe nói là việc do tiên cự tử đích thân giao phó, Trâu Phi Đao tim đập thình thịch, hai mắt nhìn chằm chằm vào sư phụ không chớp.
Khuất Tương Tử cất giọng rành rọt: “Bảo vệ Tô Tử, trợ giúp Tô Tử hoàn thành đại nghiệp hợp tung thiên hạ.”
Một trọng trách quá đỗi nặng nề.
Lúc trước Trâu Phi Đao bảo vệ Tô Tần, chỉ là vì nghĩa khí, vì khâm phục nhân phẩm của Tô Tần. Nhiệm vụ bảo vệ này, chỉ qua một đêm đã tăng tiến thành đại nghiệp Mặc gia, hơn nữa lại là di mệnh của tiên cự tử, đã khiến Trâu Phi Đao có phần do dự, suy ngẫm hồi lâu mới ấp úng mà nói: “Di mệnh của tiên cự tử, đệ tử dù có thịt nát xương tan, cũng không từ chối! Nhưng…”
Khuất Tương Tử khẽ vỗ tay, lập tức từ trên hai gốc cây lớn gân đó có hai người áo nâu lao vụt xuống như cánh dơi, đứng sừng sững phía sau Khuất Tương Tử. Trâu Phi Đao trợn trừng hai mắt, bản lĩnh tới như hắn cũng không biết họ bay lên cây từ lúc nào.
Trâu Phi Đao còn chưa hết bàng hoàng thán phục, Khuất Tương Tử đã cười vang mà nói: “Con không đơn độc một mình!” Rồi chỉ vào hai người. “Đây là Mộc Hoa, còn đây là Mộc Thực, đều là cao thủ trong hàng cao thủ, cũng là sư huynh đệ của con. Từ hôm nay trở đi, họ sẽ theo sát con, nghe con sai bảo. Ngoài ra, sư phụ cũng đi theo, không rời xa con. Lúc nào sự việc cấp bách, tự khắc sẽ liên lạc với con.”
Trâu Phi Đao vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, vội đáp lời: “Đệ tử kính cẩn tuân lệnh sư phụ!”
Sớm hôm sau, vào giờ ăn sáng, Xuân Mai mang lên bữa điểm tâm và trà, rồi đứng hầu bên cạnh.
Tô Tần nhìn Xuân Mai, cười tủm tỉm đầy ẩn ý, hỏi: “Mai cô nương, Trâu huynh đâu rồi?”
Nghe ra ẩn ý của Tô Tần, Xuân Mai sắc mặt đỏ ửng, cúi thấp đầu khẽ đáp: “Nô tỳ không biết.”
“Cô nương mau đi tìm hắn, bảo hắn lại ăn sáng.”
Xuân Mai vâng lời, vội vã đi ra ngoài.
Nhìn theo bóng Xuân Mai một lúc, Tô Tần bèn ngoảnh đầu nói với Cơ Tuyết: “Tuyết Nhi, ta định tác thành một chuyện tốt đẹp, muốn hỏi ý kiến của nàng.”
Cơ Tuyết cười nói: “Việc chàng muốn làm, hãy cứ làm đi!”
“Chuyện này có liên quan tới Tuyết Nhi.”
“Ồ?” Cơ Tuyết thoáng ngạc nhiên.
Tô Tần liền nói thẳng. “Nàng tự nhận là chân thân của Mai cô nương, ta lại muốn làm mai cho nàng ấy. Nếu chân thân không đồng ý, tâm ý này há chẳng công cốc ư?”
Cơ Tuyết cười hỏi: “Ai vậy?”
“Xa tận chân trời, gần ngay trước mắt.”
“Ý chàng là… Trâu Phi Đao?”
Tô Tần khẽ gật đầu.
Cơ Tuyết thoáng ngần ngừ: “Thiếp phải hỏi Mai Nhi có đồng ý không đã.”
“Nàng ơi!” Tô Tần khẽ lắc đầu, cười vang mà nói. “Đã không hiểu Tô Tần của nàng, cũng chẳng hiểu về thế thân của nàng. Sự thực là hai người họ đã hai tình cùng ưa, sớm đã phải lòng nhau rồi, nàng lại không biết, còn ở đó mà chia rẽ uyên ương.”
Cơ Tuyết ngẩn người kinh ngạc.
Tuy nhiên, khi Tô Tần nhắc tới việc này, Trâu Phi Đao lại chần chừ không quyết.
“Trâu huynh!” Tô Tần đợi một lát, rồi cười nói. “Mai cô nương là người tốt, là một kỳ nữ hiếm có, với huynh lại rất mực tình thâm, huynh chớ nên phụ lòng người ta.”
Trâu Phi Đao nghiến chặt hàm răng, rồi lấy túi thơm ra, hai tay đưa cho Tô Tần: “Làm phiền chúa công chuyển lời tới Mai cô nương, tại hạ có lỗi với nàng ấy. Cũng nhờ chúa công trả lại bảo bối này cho nàng.”
Tô Tần sửng sốt: “Trâu huynh?”
“Chúa công!” Trâu Phi Đao trầm giọng nói. “Tại hạ lang thang phiêu bạt, không cửa không nhà, ngang ngạnh hiếu dũng, ra vào nơi nguy hiểm, tính mạng của bản thân còn lo chưa nổi, sao có thể sánh duyên đôi lứa, ăn đời ở kiếp với nàng?”
“Trâu huynh!” Tô Tần hiểu hắn muốn nói gì, run giọng mà rằng. “Là tại hạ đã làm liên luỵ tới huynh!”
“Chúa công chớ nên nói vậy!” Trâu Phi Đao quỳ xuống, bật khóc mà nói. “Tại hạ vốn là kẻ vô danh nơi đầu đường xó chợ, chúa công đã không chê bai, lại còn cho đi theo thực hiện đại nghiệp thiên hạ, như vậy tại hạ đã thoả nguyện rồi. Không phải tại hạ không yêu Mai cô nương, mà là tại hạ tâm mỏng lực yếu, bảo vệ chúa công còn không đủ, sao có thể để vướng bận thêm, khiến cho Mai cô nương phải nơm nớp sợ hãi?”
Những lời thẳng thắn của Trâu Phi Đao thực nằm ngoài dự liệu của Tô Tần, cũng khiến trong lòng hắn trào dâng một niềm chua xót. Đúng vậy, thiên hạ loạn lạc, tình thế nguy cấp, ải Hàm Cốc sắp máu chảy thành sông, vậy mà hắn lại rời xa cơn lốc xoáy, cứ mãi ở đây đắm đuối với chuyện nam nữ tư tình. Chuyện này khoan nói tới, đúng như Trâu Phi Đao đã nói, hắn đã không thể cho Cơ Tuyết một danh phận, cũng không thể ở lại bên nàng, đã không giúp được gì cho nàng, ngược lại còn khiến nàng phải lo âu sầu muộn. Hỡi ôi, đạo lý này đến kẻ tuỳ tùng bên mình còn thấu hiểu, vậy mà Tô Tần hắn lại…
“Trâu huynh!” Tô Tần chậm rãi ngẩng đầu lên. “Đa tạ huynh. Tại hạ nhất định ghi nhớ những lời huynh nói hôm nay!” Rồi cầm lấy túi thơm. “Bên cạnh công chúa không thể thiếu Mai cô nương, túi thơm này tại hạ sẽ trả lại cho nàng ấy giúp huynh. Huynh hãy mau đi chuẩn bị, chuyện ở Hàm Cốc không thể chậm trễ nữa rồi, chúng ta phải mau chóng lên đường mới được!”
“Xin nghe lời chúa công!”
Buổi tối hôm đó, khi Tô Tần trả lại túi thơm, Xuân Mai như sét đánh ngang tai, sắc mặt trắng bệch, hồi lâu mới định thần trở lại, hai tay run run đỡ lấy túi thơm, miễn cưỡng nặn ra một nụ cười nhạt nhẽo: “Đại nhân, công chúa, giờ không còn sớm nữa, nô tỳ cáo lui!” Nói xong, chậm chạp lui ra.
Nghe tiếng sụt sùi khe khẽ vọng lại từ ngoài cửa, Tô Tần, Cơ Tuyết đều thở dài sườn sượt.
***
Quân hợp tung sáu nước nghe theo quân lệnh của chủ soái Bàng Quyên, chia đường thẳng tiến tới Hào Quan.
Ải Hào Quan nằm ở phía tây Lạc Dương, bờ nam Hà Thuỷ, bắt đầu từ Thằng Trì phía đông, kết thúc ở Khúc Ốc phía tây, dài khoảng trăm dặm, núi cao khe sâu, đường đi khúc khuỷu, hiểm trở chẳng kém gì đường Hàm Cốc. Chỉ khác ở chỗ, Hào Quan rộng hơn, chỗ hẹp nhất cũng phải hơn mười trượng, có lợi cho hành quân vận lương. Còn đường Hàm Cốc hẹp hơn nhiều, đa phần chỉ rộng tầm một trượng, dễ thủ khó công.
Bàng Quyên đã bố trí xong xuôi. Chủ lực ba quân Ngụy, Hàn, Triệu đóng quân ở Thiểm và Khúc Ốc phía tây Hào Quan, đối diện với ải Hàm Cốc, đây là tuyến thứ nhất. Chủ lực quân Yên, Tề, Sở đóng quân ở vùng Thằng Trì phía đông Hào Quan, coi là tuyến thứ hai, hô ứng từ xa với tuyến thứ nhất. Tuy nhiên chỉ là đóng quân tạm thời, khi tiến công, mọi bố trí sẽ bị xáo trộn, lúc đó điều động thế nào, đều phải tuân theo mệnh lệnh của chủ soái.
Thiểm và Khúc Ốc là hai trọng ấp, nằm giữa Hào Quan và Hàm Cốc, phía bắc giáp Hà Thuỷ, ba mặt đều có núi non bao bọc, là vùng đất lòng chảo giữa vùng núi non, dễ phòng khó đánh, chu vi vài chục dặm, vào thời Xuân Thu thuộc về nước Bắc Quắc, đất Thiểm được gọi là Tiêu Thành, Khúc Ốc được gọi là Tang Điền. Do nơi này nối thông với hai cửa ải quan trọng, nên xưa nay vẫn là vùng đất tranh giành của binh gia, hiện tại vẫn thuộc lãnh thổ nước Ngụy.
Khu vực này rộng lớn bằng phẳng, chỉ có một ít gò đồi, là một sa trường vô cùng lý tưởng, đặc biệt có lợi cho chiến xa xung trận. Bàng Quyên bố trí quân tiên phong ở Khúc Ốc, bố trí ba đường phòng tuyến ở bên ngoài ải Hàm Cốc, trại tướng soái trung quân được đặt trên một vạt đồi đất bên ngoài Thiểm Thành, thành ấp biến thành trọng địa lương thảo và là nơi cứu thương, điều trọng binh trấn giữ.
Gió Bắc ào ào cuốn theo giá rét tái tê, thổi cờ xí đủ màu của quân hợp tung bay phần phật.
Trái ngược với cái giá lạnh thấu xương, sĩ khí của quân đội hợp tung hừng hực lên cao, đặc biệt là trong doanh trại quân Ngụy kéo dài bất tận, càng là sát khí đằng đằng. Tiếng hô xung phong tập trận trong các doanh trại hô ứng với tiếng giáo mác va chạm loảng xoảng từng hồi không ngớt bên tai.
Bên ngoài trại chủ soái trung quân, không khí rất mực trang nghiêm, binh lính giáp trụ uy phong, cầm kích đứng thành hai hàng. Trong trại, hai tham tướng và vài quân uý nghiêm trang chờ lệnh, mắt nhìn thẳng về phía trước. Chủ soái Bàng Quyên ngồi ngay ngắn phía sau bàn lớn, hai mắt mơ màng, hai tai dựng đứng, thần tình chăm chú, hiển nhiên đang tập trung lắng nghe gì đó, chốc chốc lại gập ngón tay gõ xuống mặt bàn.
Từ xa bỗng có tiếng xe ngựa lọc cọc vọng lại. Tiếng vó ngựa dừng bặt, phó tướng quân Ngụy Trương Mãnh nhảy xuống chiến xa, cấp tập bước vào trong trại, đang định bẩm báo, chợt thấy vẻ chăm chú của Bàng Quyên thì vội dừng lại, khẽ khàng bước lên trước, đứng nghiêm trang cách bàn chủ soái vài bước.
Bàng Quyên dường như không hề hay biết, vẫn chuyên tâm lắng nghe.
Trương Mãnh cũng nghiêng tai nghe, song xung quanh đủ loại âm thanh hỗn tạp, có tiếng khẩu lệnh, có tiếng ngựa hí, có tiếng chân bước rầm rập, có tiếng binh khí va chạm, có tiếng chim kêu rít, còn có cả tiếng cờ bay phần phật trong gió, hắn thực sự không thể nhận ra được chủ soái đang nghe gì, mà lại nghe đến xuất thần thế kia.
Lại đợi thêm một hồi, thấy Bàng Quyên vẫn chìm đắm trong nghe ngóng, Trương Mãnh khẽ đặng hắng một tiếng, rồi hạ giọng bẩm báo: “Chủ soái…”
“Suỵt!” Bàng Quyên phẩy tay ra hiệu. “Nghe này!” Rồi gập ngón tay lại gõ nhịp lên mặt bàn.
Cùng với nhịp gõ của hắn, Trương Mãnh dần dần nghe thấy một âm thanh rất mơ hồ. Âm thanh xuất phát từ một doanh trại rất xa, dù có vẻ hào hùng, song không thể át đi những tạp âm hỗn loạn xung quanh, nếu không chú ý lắng nghe, chắc chắn đã chìm nghỉm.
Là tiếng trống chiêng tấu nhạc và tiếng hát của binh sĩ. Rõ ràng có hai đội đang luân phiên hát cùng một bài, hệt như đang thi đấu. Lời ca rằng: “Vượt cầu, vượt cầu sông Hà, khởi binh thảo phạt tận nhà Tần Vương…”
Trương Mãnh cười hỏi: “Chủ soái đang nghe hát ư?”
Bàng Quyên quay sang, cười cười đáp lời: “Đây chính là bài hát mà bệ hạ và ba vị vương Sở, Tề, Hàn cùng hát ở Hổ Lao quan. Giờ được nghe thấy, thật là thú vị!”
Trương Mãnh ngần ngừ một thoáng: “Chủ soái hẳn là muốn các doanh các trại đều hát bài này, để khích lệ sĩ khí?”
“Ha ha ha, Trương tướng quân đã đoán đúng!” Bàng Quyên cười vang vài tiếng, rồi quay sang nói với tham tướng đứng hầu bên cạnh. “Truyền soái lệnh, từ hôm nay trở đi, các doanh trại của quân hợp tung đều hát bài này, nửa tháng sau sẽ mở hội thi, doanh trại nào hát hay, hát vang thì bản soái sẽ phong doanh trại đó làm tiên phong diệt địch!”
Tham tướng tuân lệnh đi ngay.
Trương Mãnh lại lấy làm kinh ngạc: “Chủ soái, chuyện này…”
Trương Mãnh định nói rằng, lấy việc hát vang, hát hay để chọn làm tiên phong diệt địch, liệu có phải là quá hoang đường, song cuối cùng lại im bặt.
“Không nói chuyện này nữa!” Bàng Quyên đổi giọng, chỉ vào chỗ ngồi phía trước. “Trương tướng quân, mời ngồi. Nhìn sắc mặt của tướng quân, hẳn có việc gấp, mau nói đi!”
Thấy Bàng Quyên đã hỏi, Trương Mãnh đành vòng tay bẩm báo: “Mạt tướng tới cầu chiến, tướng sĩ không thể chờ thêm nữa.”
“Hẳn là Trương tướng quân không thể chờ thêm nữa?” Bàng Quyên hỏi ngược lại.
Trương Mãnh bị hắn nhìn thấu tâm can, thì ấp úng: “Chủ soái, thời gian không đợi ta! Vài chục vạn quân hợp tung chờ lệnh đã hơn một tháng trời, nếu vẫn chưa quyết chiến, khoan nói tới chuyện ảnh hưởng tới sĩ khí, e là…”
“E là sao?”
“Việc khác chưa tính đến, chỉ riêng chuyện lương thảo đã vô cùng đáng ngại. Đại quân chen chúc trong Hào Quan, giờ đang là mùa đông, Hào Quan lại chỉ có một con đường, chúng ta vừa dùng để hành quân, lại vừa dùng để vận chuyển lương thảo, càng gấp càng không thể đáp ứng kịp. Hơn nữa, thời tiết thế này…”
“Được lắm, được lắm!” Bàng Quyên vô cùng hào hứng, khoa tay mà nói. “Tướng quân hãy nói về thời tiết đi!”
“Tiết Đại tuyết đã qua, Đông chí sắp tới, chẳng mấy mà nhập cửu(2). Thời tiết mỗi ngày một lạnh lẽo, vạn nhất đất trời băng giá, tuyết phủ kín đường, đừng nói là tấn công ải Hàm Cốc…” Trương Mãnh không dám nói tiếp nữa.
Song Bàng Quyên lại phấn khởi ra mặt, bất giác bật lên một tràng cười thật dài.
Trương Mãnh thấy Bàng Quyên cười thì sững lại, ngơ ngác nhìn hắn.
Bàng Quyên thôi cười, cất giọng sang sảng mà hỏi: “Trương tướng quân thông thạo đất này, tại hạ rất muốn biết, đất này lúc nào mới ‘đất trời băng giá, tuyết phủ kín đường’ như lời tướng quân vừa nói?”
“Cũng khó nói lắm! Sau khi nhập cửu, chỉ cần gió Tây Bắc thổi liền hai ngày, toàn bộ sông núi sẽ đóng băng hết.”
Bàng Quyên cười vang, gật đầu lia lịa: “Nói đúng lắm, trời có mưa gió khó lường!” Rồi quay ra ngoài trại gọi. “Người đâu!”
Một quân uý nghe tiếng bước vào.
“Chuẩn bị hai thùng gỗ, đổ đầy nước, đặt ở bên ngoài trại cho nước đóng băng, ngày quan sát hai lần sáng tối, ghi lại độ dày của lớp băng, tiên tục báo cáo cho ta!”
Quân uý “vâng” một tiếng, quay người bước đi.
Trương Mãnh nghi hoặc nhìn Bàng Quyên.
“Trương tướng quân!” Bàng Quyên cười hỏi. “Tướng quân còn có việc gì nữa không?”
“Mạt tướng… mạt tướng muốn…”
“Tướng quân muốn biết rốt cục là ngày nào phạt Tần ư? Được, hãy theo ta!” Bàng Quyên kéo Trương Mãnh ra ngoài trại, thấy quân uý đang đổ nước vào hai thùng gỗ, thì chỉ vào chúng mà nói. “Chính là ngày hai thùng nước kia đóng băng hoàn toàn.”
***
Trong đại doanh quân Yên, tướng Yên Tử Chi ngồi ngay ngắn, mắt chăm chú nhìn vào hổ phù điều binh trên bàn. Bên cạnh hổ phù đặt chiếu thư của tân quân cung Yên, nói rằng người Tề muốn tập kích Yên, yêu cầu Tử Chi lập tức rút quân, quay về phòng ngự Hà Gián.
Văn Công băng hà, điện hạ đăng cơ, quay mặt về nam xưng vương, nghênh thân công chúa nước Tần, Tề Yên hiềm khích, chiếu mệnh quay về phòng ngự… Sau khi hội thề sáu nước kết thúc, trước sau chưa đầy hai tháng, cung Yên liên tiếp xảy ra biến cố kinh tâm, dù Tử Chi có túc trí đa mưu đến đâu cũng khó lòng trù tính. Hợp tung là nền chính trị tương lai mà Văn Công cực lực chủ trương, tân quân lại không quan tâm tới thề ước hợp tung, hành sự kiểu này, càng khiến Tử Chi tiến thoái lưỡng nan. Không lui quân, vương mệnh khó trái. Mà lui quân, biết giải thích thế nào với các nước hợp tung? Nước Yên sau này sao có thể khiến thiên hạ tin tưởng?
Tử Chi đang không biết phải làm sao, bỗng thấy công tử Khoái chạy vào, khóc lóc kể lại đầu đuôi một lượt các biến cố trong cung, gồm cả chuyện mẫu thân cầu cứu nước Tề và bị phụ vương ban chết, chuyện thái hậu xin tuẫn táng, nhưng riêng chuyện phụ vương hạ độc giết tiên quân thì giấu nhẹm.
Tử Chi ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi trâm giọng hỏi: “Công tử, mạt tướng và công tử đã kết giao nhiều năm, cũng coi là tri kỷ. Mạt tướng có điều muốn hỏi công tử, xin công tử nói thực lòng.”
“Tướng quân cứ nói!”
“Mạt tướng nói ra lời đại nghịch, là đúng hay sai, xin công tử cứ tạm nghe thử. Mạt tướng quan sát điện hạ nhiều năm, biết điện hạ bụng dạ hẹp hòi, đã không thể mưu xa, phán xét cũng thiếu sáng suốt, phẩm hạnh uy đức không thể bằng phần vạn của tiên quân. Nếu không nằm ngoài dự đoán của mạt tướng, cung Yên để điện hạ nắm quyền, ắt sinh tai hoạ, đại nạn rồi sẽ giáng xuống nước Yên.”
“Tướng quân có kế hay chăng?”
“Phẩm hạnh của công tử, có thể theo kịp tiên quân. Người cứu được nước Yên, không ai khác ngoài công tử!”
Công tử Khoái trợn trừng hai mắt.
“Nếu công tử có lòng cứu Yên, mạt tướng dù gan óc lầy đất, cũng nguyện giúp công tử vãn hồi nguy cục. Điện hạ khăng khăng cưới công chúa nước Tần đã khiến liệt quốc hợp tung phẫn nộ, trong có thái hậu, ngoài có mạt tướng, lại thêm sự trợ giúp của liệt quốc hợp tung, đặc biệt là thế lực của ông ngoại công tử, việc này tất thành, công tử xin đừng lo lắng.”
Công tử Khoái khẽ lắc đầu: “Đại nghĩa của tướng quân, Cơ Khoái ghi nhận trong lòng. Có điều, việc này dứt khoát không thể. Phụ vương đã kế vị, là quân chủ nước Yên. Ta thân là bề tôi, không thể sinh lòng phản nghịch!”
“Công tử, thời cơ không thể bỏ lỡ!” Tử Chi lại khuyên.
“Ý ta đã quyết, tướng quân bất tất phải nói thêm!” Công tử Khoái lại lắc đầu. “Nước Yên vốn đã nhiều tai nạn, không thể lại loạn thêm nữa. Phụ vương đã tức vị, cũng đã chiếu cáo thiên hạ, chúng ta nên gắng sức phò tá, làm tròn đạo bề tôi. Hơn nữa, tướng quân làm bạn với Khoái, hẳn cũng hiểu Khoái. Khoái không có ý lên ngôi, chỉ cần nước Yên bình an vô sự, thần dân an cư lạc nghiệp, thế là đã thoả nguyện rồi!”
“Than ôi!” Tử Chi thở dài. “Công tử ý đã quyết, mạt tướng cũng không có gì để nói.” Rồi quay ra phía ngoài gọi. “Người đâu, truyền lệnh ba quân, đêm nay chuẩn bị, sáng sớm mai nhổ trại lui quân!”
Vào giờ Thân, Bàng Quyên nhận được quân báo của nước Yên.
Bàng Quyên vội vàng đọc lướt qua một lượt, rồi đưa cho Trương Mãnh.
Trương Mãnh xem xong, hít vào một hơi khí lạnh, vội hỏi quân uý đưa thư: “Tử Chi tướng quân đâu?”
Quân uý đáp lời: “Lính thám mã báo, do quân tình cấp bách, nước Yên nhổ trại ngay trong đêm, Tử Chi tướng quân đã theo đại quân lui về rồi.”
Sắp tới lúc phạt Tần, một trong số những nước đi đầu hợp tung bỗng dưng không đánh mà lui trước, đã thế còn tự ý hành động, không hề thông báo, đến tận khi đại quân đã rút rồi mới mang tới một bức quân báo vô thưởng vô phạt, thực không thể chấp nhận.
Trương Mãnh trả lại quân báo cho Bàng Quyên, làu bàu: “Quân hợp tung sáu nước còn chưa khai chiến, một quân đã tự ý rút lui, ảnh hưởng nặng nề tới sĩ khí. Hơn nữa, thiên hạ đã hợp tung, còn ai có thể đột kích nước Yên vào lúc này?”
Bàng Quyên chau tít đôi mày, suy ngẫm một lúc rồi nói: “Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ, tập kích người Yên hẳn là người Tề.”
“Người Tề?” Trương Mãnh sửng sốt.
“Tiên quân băng hà, tân quân tức vị, là cơ hội tốt nhất cho cường địch tấn công. Phía bắc nước Yên là người Hồ, phía nam là Tề, Triệu và Trung Sơn, Triệu, Yên để xướng hợp tung, Trung Sơn và người Hồ không đủ sức đe doạ nước Yên, đương nhiên không dám vọng động. Nước đủ mạnh để đe doạ Yên, hơn nữa bức ép tân quân nước Yên phải hạ lệnh cho Tử Chi tướng quân rút về, chỉ có thể là người Tề.”
“Sáu nước hợp tung vừa mới thành công, minh ước còn chưa ráo mực, người Tề hẳn không tới mức…”
“Hợp tung cái nỗi gì?” Bàng Quyên hừ mũi một tiếng. “Chỉ là mong ước một phía của gã ngốc Tô Tần mà thôi, lẽ nào lại coi là thật? Thứ khác không tính đến, chỉ riêng chuyện liệt quốc hợp tung đều khởi đại binh phạt Tần, tướng quân nói xem có thực là vì hợp tung hay không? Chẳng qua là vì bản thân mỗi người mà thôi! Tam Tấn và người Sở, có nước nào không phải là kẻ thù của người Tần? Chỉ có người Tề và người Yên không thù hằn gì với Tần, xem kìa, lần này có chuyện rồi phải không? Lão Yên Công vừa nằm xuống, xương còn chưa kịp lạnh, tân Yên Công đã kết thân với người Tần, là vì lẽ gì? Chính là để chế ngự người Tề. Nước Tề phía nam là nước Sở hùng mạnh, phía tây là Tam Tấn, đều là cục xương cứng không dễ gặm, chỉ nước Yên là có thể ức hiếp. Xưa nay có Sở và Tam Tấn cản trở, người Tề còn ít nhiều dè chừng. Giờ đây, thiên hạ đều đổ dồn vào Hàm Cốc, Sở, Tần và Tam Tấn không còn sức đâu mà chú ý đến chỗ khác, Tử Chi tướng quân lại không ở trong triều, thời cơ tốt đẹp đến vậy, lão Tề Vương sao có thể bỏ qua?”
Trương Mãnh lo lắng nói: “Bứt một sợi tóc mà kinh động toàn thân. Nếu Tề, Yên thực sự khai chiến, sẽ không chỉ có người Yên lui về, mà người Tề tất cũng rút quân. Người Tề rút quân, người Triệu có lẽ cũng thấy bất an. Còn lại có người Sở và người Hàn, vậy thì…”
“Tướng quân nói rất phải!” Bàng Quyên khẽ gật đầu.
“Có điều, lần này phạt Tần, tại hạ vốn không định dựa vào Yên, Tề, chỉ cần họ không quay lưng quấy nhiễu là được. Sở và Tam Tấn đều là kẻ thù của Tần, họ mới là chỗ dựa của ta. Người Tần nhiều lần rêu rao phạt Nghi Dương của Hàn, người Hàn đương nhiên không cần phải nói. Người Tần tung nội gián, suýt nữa tập kích chiếm mất Tấn Dương, người Triệu khắc ghi mối thù này, cũng sẽ tận tâm. Hội thề lần này, bốn vương tập hợp ở Hổ Lao quan, bệ hạ lại không mời Triệu Hầu, song Triệu Hầu không để bụng, vẫn phái ba vạn quân tới, do Lý tướng quân làm chủ tướng. Chỉ nhìn vào một điểm này, người Triệu đương nhiên không phải lo âu. Khiến tại hạ lo lắng nhất chính là người Sở, đặc biệt là Chiêu Dương kia, tuy cũng có tài, song chỉ chăm chăm tính toán được mất cá nhân, không thể tin tưởng. Lần này phạt Tần, chủ tướng của quân Sở đáng lý ra phải là Khuất Vũ, giỏi như Sở Vương mà lại phái Chiêu Dương tới, thực khiến người khác không thể hiểu nổi. May mà người này thấy lợi mờ mắt, tại hạ đã tặng hắn một miếng thịt béo, hẳn hắn sẽ không đến nỗi không tận lực.”
“Tướng quân nói rất phải! Lần này phạt Tề, đúng là người Sở thu lợi lớn nhất, chẳng tốn sức mà có được vùng sơn cốc Thương Ư và các ấp Hán Trung đã đành, chúng ta còn tặng không cho hắn các ấp Hình Sơn mà chúng ta phải đổ máu mới có được!”
“Hừm!” Bàng Quyên cười nhạt. “Dù tại hạ tặng không cho hắn, cũng e hắn khó mà nuốt trôi!” Đột nhiên sực nhớ ra một điều. “Nói tới chuyện này, Trương tướng quân, làm phiền tướng quân tới doanh trại Sở một chuyến, xem xe mây đã chế tạo xong chưa. Mang theo mười thùng rượu để uý lạo đám thợ thuyền. Nếu mọi thứ đúng như lời hắn nói, xe mây hẳn rất tuyệt vời, sau này sẽ hữu dụng.”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
***
Đại doanh quân Sở đặt trên một ngọn đồi cách phía tây nam Thằng Trì hơn chục dặm, dựa lưng vào sườn đồi, nhìn ra hồ nước, vị trí tuyệt hảo.
Chiêu Dương hớn hở dẫn Trương Mãnh vòng ra trái núi phía sau, tới một bãi đất rộng rãi. Đây là công xưởng tạm thời của quân Sở. Có tới vài chục thợ thuyền đang gấp rút chế tạo xe mây trong ánh lửa rực trời.
Mọi người bước tới trước một xe mây sắp hoàn thiện. Xe mây này cao đến vài trượng, to cỡ ngôi nhà, xung quanh bọc kín đồng và da tê giác, giáo mác đao tên không thể chọc thủng. Có vài chục lỗ bắn tên, lại có vài chục cây thang ngang và cánh cửa có thể đóng mở tuỳ ý, nếu như kề sát tường thành, có thể bắc ngang cây thang thẳng đến ụ thành của đối phương.
Quan lệnh của công phường bước ra đón, Trương Mãnh hỏi han kỹ lưỡng về tình hình chế tạo, công phường lệnh bẩm báo chi tiết, rồi gọi đám thợ tới diễn tập ngay tại chỗ. Xe mây quả nhiên vô cùng linh hoạt, chỉ vài người đẩy đã có thể di chuyển tự do đủ hướng trước sau phải trái.
Trương Mãnh xem mà mặt mày hớn hở, quay sang Chiêu Dương, giọng đầy thán phục: “Có vật kỳ diệu này, ải Hàm Cốc lo gì không phá nổi?”
Chiêu Dương cười hềnh hệch đáp lời: “Trương tướng quân hài lòng là được rồi! Không giấu tướng quân, tại hạ vất vả mấy năm mới nghiên cứu ra vật này, chuyên dùng để đánh thành phá luỹ. Đừng nói là ải Hàm Cốc chỉ cao ba trượng, dù có cao thêm hai trượng nữa, cũng chỉ có nước phủ phục dưới chân!”
“Tướng quân mưu trí hơn người, tại hạ khâm phục!” Trương Mãnh khen nịnh một câu, rồi chỉ vào cỗ xe mây chưa hoàn thiện. “Dám hỏi tướng quân, những xe mây này bao giờ có thể dùng?”
“Tại hạ đang dốc sức chế tạo gấp rút năm cỗ xe, trong vòng mười ngày có thể hoàn thành. Xin tướng quân bẩm báo lên chủ soái, lúc nào đánh ải Hàm Cốc, người Sở xin đánh trận đầu!”
“Ha ha ha!” Trương Mãnh cười liền vài tiếng, vòng tay đáp lời. “Tướng quân yên tâm! Có vật kỳ diệu này, chẳng ai dám tranh giành công đầu phá Tần của tướng quân đâu!”
“Tạ ơn tướng quân ủng hộ!”
Mấy cỗ xe mây lập tức đem lại thể diện lớn lao cho quân Sở, khiến Chiêu Dương vô cùng đắc ý.
Tiễn Trương Mãnh về rồi, Chiêu Dương vừa đi vừa khẽ hát nghêu ngao, về tới đại doanh, chợt nhìn thấy hai người đang chờ trong trại. Một người là quản gia Hình Tài, đang khom lưng nghênh đón. Người kia là Trần Chẩn, hai tay trói quặt sau lưng, mặt cúi gằm quỳ mọp trên đất. Chiêu Dương không hỏi đã biết, là Trần Chẩn chạy tới Sính Đô bắt Hình Tài phải đưa mình tới đây.
Chiêu Dương lạnh lùng liếc xéo Trần Chẩn, rồi quay sang Hình Tài hỏi: “Sao ngươi lại tới đây?”
“Hồi bẩm chúa công!” Hình Tài đáp lời. “Trần đại nhân năm lần bảy lượt thỉnh cầu, tiểu nhân không thể thoái thác, đành phải đưa đại nhân tới đây.”
“Tại hạ cứ tưởng là ai quỳ ở đây, hoá ra là Trần thượng khanh!” Chiêu Dương lúc này mới cười nhạt một tiếng, quay sang Trần Chẩn, chế giễu. “Tới thì cứ tới, lại phải trói quặt hai tay thế kia là cớ làm sao?”
“Hay tin đại nhân hưng binh phạt Tần, quân phí thiếu thốn, tại hạ tự trói mình tới đây, có lẽ sẽ giúp đại nhân xoay sở được chút tiền bạc, để bổ sung vào nơi thiếu thốn.”
“Ông? Xoay sở quân phí?” Chiêu Dương nghe mà sửng sốt.
Trần Chẩn dõng dạc đáp lời: “Lúc ở Sở, đại nhân rất mực chăm lo cho tại hạ. Ân đức của đại nhân, tại hạ không biết lấy gì báo đáp. Tại hạ cũng không dư dả tiền bạc, nghĩ đi nghĩ lại, thấy duy có cái thân hèn này là đáng giá. Tại hạ tới đây, là muốn lấy thân hèn này quyên tặng cho đại nhân, mong đại nhân vui lòng nhận lấy, để thoả tấm lòng thành của tại hạ.”
“Ha ha ha!” Chiêu Dương chỉ tay vào Trần Chẩn, phá lên cười lớn. “Một đống thịt mỡ trên người ông thì đáng giá bao nhiêu?” Nói xong lại cười ngặt nghẽo.
“Năm trăm lượng!”
“Ồ?” Chiêu Dương thu lại nụ cười. “Trên người ông có chỗ nào quý báu mà đáng giá những năm trăm lượng?”
“Cái này!” Trần Chẩn hai tay bị trói, chỉ biết lắc lư cái đầu. “Chính là thứ đang lúc lắc đây!”
“Hừm!” Chiêu Dương cười nhạt. “Thứ này chặt xuống e chỉ tổ lãng phí lưỡi đao, ở đâu ra mà lại đáng giá năm trăm lượng?”
“Đại nhân nói sai rồi!” Trần Chẩn lắc đầu quầy quậy. “Cái đầu này của tại hạ, ở chỗ đại nhân có lẽ là vô giá trị, song trong mắt người khác, ít nhất cũng đáng giá năm trăm lượng.”
Nghe thấy lời nói ẩn ý sâu xa, Chiêu Dương không nén nổi tò mò, bèn tiến lên một bước: “Ai?”
“Bàng Quyên!”
Chiêu Dương thình lình bừng tỉnh, cười vang mà nói: “Phải, phải! Nếu nói vậy, vật này đúng là đáng giá năm trăm lượng. Nghe nói phía trước linh cữu tiên phụ của Bàng tướng quân tới nay vẫn còn chừa chỗ cho nó!” Rồi bước lại gần, vỗ vỗ lên đầu Trần Chẩn. “Nói đi, Trần thượng khanh, theo bản công biết, con người ông xưa nay tham của tiếc thân, cớ sao lần này lại khảng khái đến vậy?”
“Ai rồi cũng phải chết, Trần Chẩn có thể hiến thân vì đại nhân, chết cũng đáng.”
“Hô hô!” Chiêu Dương bật cười âm hiểm. “Lời này nghe thật giả dối. Tuy nhiên…” bất chợt nghiến răng ken két, “nợ cũ vẫn phải tính, thượng khanh nợ tại hạ một mạng mẹ già, vừa hay đem thân tới trả. Người đâu!”
Từ bên ngoài xông vào hai vệ sĩ, một trái một phải đứng ở hai bên Trần Chẩn.
“Lôi kẻ này ra ngoài, chặt lấy vật trên hai vai kia xuống!” Hai vệ sĩ túm lấy Trần Chẩn, đang định lôi ra, chợt Hình Tài khẽ đặng hắng một tiếng: “Chúa công…”
Chiêu Dương phẩy tay, vệ sĩ lập tức thả Trần Chẩn ra.
Hình Tài bước tới bên Chiêu Dương, thì thầm vào tai: “Thượng khanh tới đây, là có đại sự muốn bẩm báo với chúa công.”
Chiêu Dương ngẫm nghĩ một lát, rồi quay sang vệ sĩ: “Cởi trói!”
Vệ sĩ cởi trói cho Trần Chẩn xong thì lui ra ngoài trại.
Chiêu Dương ngồi xuống chiếu, chỉ vào vị trí khách, nói với Trần Chẩn: “Trần thượng khanh, ngồi đi!”
Trần Chẩn vòng tay cảm tạ, rồi ngồi xuống chiếu. Hình Tài rót trà cho hai người, đứng hầu ở bên.
“Trần thượng khanh, có việc gì bẩm báo?”
“Đại nhân!” Trần Chẩn thong thả nhấp một ngụm trà, rồi đặt chén xuống, vòng tay mà nói. “Tội nhân tới đây, là phụng ý chỉ của Tần Công, dâng tặng đại nhân một phần công lao.”
“Hừm!” Chiêu Dương giận dữ, đập bàn đánh “rầm” một tiếng. “Chưa đầy ba tháng nữa, móng sắt của sáu quân sẽ san bằng Tần Xuyên, chỉ e là Doanh Tứ kia lên trời không có đường, xuống đất không có cửa, cớ sao còn dám ngông cuồng xưng là Tần Công?”
“Ha ha ha!” Trần Chẩn cười khẽ vài tiếng. “Những lời đó chỉ là mong muốn đơn phương của một mình Bàng Quyên, lẽ nào đại nhân cũng tin?”
“Bản công tin tưởng tuyệt đối!”
“Xem ra, đại nhân thực sự không hiểu người Tần!” Trần Chẩn khẽ ôm quyền. “Tạm không nói tới núi sông hiểm trở, dù là giao chiến trực diện, ai chết dưới tay ai e cũng khó lòng dự đoán, huống hồ…”
“Huống hồ gì?”
“Chuyện này… Thôi tội nhân không nói nữa. Tội nhân chỉ xin hỏi đại nhân một câu, đại nhân dựa vào đâu mà đạp bằng Tần Xuyên?”
“Dựa vào đại quân năm mươi vạn của ta!” Chiêu Dương không buồn suy nghĩ, buột miệng nói khống lên hơn mười vạn.
“Đừng nói là năm mươi vạn quân, dù có thêm năm mươi vạn nữa, đại nhân cũng chưa chắc đã được như ý.”
“Thượng khanh!” Chiêu Dương hơi thở đã có phần gấp gáp, dằn mạnh chén trà cầm trên tay xuống mặt bàn, khiến nước trà bắn tung toé. “Hãy thử nói nguyên do!”
“Sáu nước sáu quân!” Trần Chẩn gằn mạnh từng tiếng.
Chiêu Dương trong lòng chấn động, nhìn Trần Chẩn trừng trừng.
Trần Chẩn chậm rãi giải thích: “Có câu chuyện người Tề trị bệnh điên, đại nhân hẳn đã từng nghe nói?”
“Chưa từng nghe!”
“Theo ghi chép trong ‘Tề hài’, Hoàn Công thực thi nền nhân chính rộng rãi, lập trại người điên ở Lâm Truy, tập hợp người điên trong thiên hạ tới đây để chăm sóc. Một ngày nọ, Hoàn Công tới thị sát trại người điên, thấy trong trại toàn là kẻ điên, chỗ này một người, chỗ kia một người, hoặc đi tha thẩn, hoặc nói lảm nhảm, hoặc vẽ vời, hoặc viết chữ, hoặc nhảy nhót, hoặc chạy loăng quăng, hoặc ngâm nga, hoặc la hét, hoặc nhìn đờ đẫn, hoặc cười ngẩn ngơ, rất trật tự quy củ, mà gần như không thấy bóng dáng người trông giữ. Hoàn Công lấy làm ngạc nhiên, hỏi quan trông coi trại rằng, trong trại có bao nhiêu người điên? Viên quan này đáp rằng, có một nghìn hai trăm người điên. Hoàn Công cả kinh, hỏi có bao nhiêu người chăm sóc? Viên quan trả lời, có mười hai người. Hoàn Công lo lắng hỏi, nếu đám người điên này liên thủ với nhau, các người sẽ làm thế nào? Viên quan cười đáp, ‘chúa thượng có điều không biết, nếu họ có thể liên thủ với nhau, hà tất phải sống trong trại này’.”
“Ý thượng khanh là…” Chiêu Dương cũng đã hiểu ra, “quân hợp tung là sáu quân sáu nước, sáu tướng sáu tâm?”
“Đại nhân!” Trần Chẩn ngả người về phía trước, vòng tay nói. “Tại hạ dám hỏi, sáu quân chủ hợp tung liệu có thực sự vứt bỏ hiềm khích trước đây để hợp sức phạt Tần? Các tướng của sáu quân liệu có thực sự từ bỏ tham vọng của mình để nghe theo quân lệnh độc đoán của Bàng Quyên?” Dừng lại một chốc, rồi trả lời thay cho Chiêu Dương. “Nói trắng ra, tại hạ cho rằng, dựa vào thực lực hiện tại của người Tần, dù là người Ngụy hay người Sở, nếu giao chiến riêng rẽ, dù là nhà nào tìm đến, người Tần cũng không nắm chắc phần thắng. Duy có liên minh sáu nước, người Tần chắc chắn sẽ đánh thắng!” Rồi dừng lại không nói thêm nữa, hai mắt nhìn chằm chằm vào Chiêu Dương.
Từng câu từng lời của Trần Chẩn như những nhát búa bổ thẳng vào lòng Chiêu Dương.
Đúng vậy, sáu quân bất hoà đúng là sự thực. Quân hợp tung bề ngoài thế lớn, thực chất lại như một đĩa cát rời. Chiến cục chưa bắt đầu, Tề, Yên đã giao tranh trước, quân Yên rút lui, quân Tề muốn về, sáu thế đã mất đi hai. Dù là Hàn, Triệu, cũng chưa chắc đã đồng lòng với Ngụy. Bàng Quyên ỷ mạnh, điều binh khiển tướng, bố trí phòng ngự đã không giải thích nguyên do, cũng không trưng cầu ý kiến của chủ tướng liệt quốc, đừng nói là Chiêu Dương, dù là chủ tướng Hàn, Triệu cũng không hài lòng, đặc biệt là Lý Nghĩa Phu, xưa nay vẫn không coi Bàng Quyên ra gì, chỉ ngặt vì Triệu là nước khởi xướng hợp tung, mới nín nhịn cầu toàn. Rõ ràng lần này phạt Tần, Chiêu Dương đã quá lạc quan. Đường Hàm Cốc dễ phòng khó đánh, người Tần vốn hiếu chiến, lần này lại bị ép vào đường cùng, ắt dựa vào thế hiểm mà tử thủ. Xe mây tuy lợi hại, song chưa từng dùng trong thực tế, kết quả thế nào, trước mắt chưa thể dự đoán. Nếu chiến cục dằng dai, quân hợp tung đánh mãi không thắng nổi, tất nảy sinh mâu thuẫn. Mà đối với Chiêu Dương, đừng nói là chiến bại, dù hai bên có cầm hoà, quân Sở chẳng tổn thương lấy một binh một tốt, cũng rơi vào cảnh viễn chinh công cốc, thất thểu dẫn quân về triều. Lúc đó, dòng họ Chiêu đường đường của ông ta còn mặt mũi nào nhìn dòng họ Khuất?
Chiêu Dương không dám nghĩ tiếp, ngẩng đầu nhìn Trần Chẩn: “Thượng khanh đã tới, hẳn có kế hay, Chiêu mỗ rất muốn nghe.”
Trần Chẩn ôm quyền mà nói: “Tội nhân thân hèn lời mọn, không dám hiến mưu. Có điều, đại nhân lấy đức báo oán, nhiều lần ban ân cho tội nhân, tội nhân tuy không có sức kết cỏ ngậm vành, song cũng nguyện tặng đại vương bốn chữ để báo đáp.”
“Là bốn chữ gì?”
“Ngồi xem thời biến!”
“Ngồi xem thời biến?” Chiêu Dương lẩm bẩm nhắc lại, nhắm mắt suy nghĩ, càng nghĩ càng tỉnh ra, sắc mặt cũng tươi trở lại, quay sang Trần Chẩn vòng tay vái lia lịa mà nói. “Phải, bốn chữ này tuyệt hay, tại hạ xin lĩnh giáo.” Dừng lại một lát. “Vừa rồi thượng khanh nói rằng Tần Công có ý tặng tại hạ một phần công lao, tại hạ muốn được nghe kỹ.”
“Nếu người Ngụy phá được cửa ải vào Tần, chuyện này coi như nói nhảm. Nếu người Ngụy phá ải không thành, đại nhân lại giữ thế trung lập, Tần Công đã hứa, nhất định sẽ dâng tặng sáu trăm dặm vùng sơn cốc Thương Ư, cùng Đại Sở kết minh ước láng giềng hoà thuận.”
“Lời này là thật ư?”
“Tần Công chính miệng nói ra, Chẩn không dám dối trá nửa lời!”
“Nếu quả là vậy, cũng không phải là không làm được!” Chiêu Dương khẽ gật đầu. “Có điều, việc này hệ trọng, tại hạ cần suy xét. Thượng khanh gần đây có bận gì không?”
“Tạm không bận gì!”
“Tại hạ nhàn rỗi sinh buồn, muốn được rèn giũa kỳ nghệ với thượng khanh, mong được chỉ giáo.”
“Cung kính không bằng tuân lệnh.”
***
Hà Thuỷ bắt đầu phân nhánh tại cửa Túc Tư phía đông nam Triều Ca, một nhánh chảy dọc theo biên giới Vệ vào Tề, đổ ra biển tại biên giới Tề, Yên; một nhánh sau khi chảy vào biên giới, lại tiếp tục phân nhánh đổ ra biển ở Phù Liễu. Vùng đất giữa ba nhánh Hà Thuỷ này được gọi là đất Hà Gián.
Đất Hà Gián lại phân thành hai vùng lớn là trên và dưới, vùng trên chu vi hơn trăm dặm, là đất chung của Tề, Triệu; vùng dưới là nơi chảy về biển, chu vi hơn trăm dặm, là đất riêng của nước Yên. Đất Hà Gián tuy hè thu có lũ lụt, song vô cùng phì nhiêu màu mỡ, đầm lầy ngang dọc, cây cối tốt tươi, chim muông tôm cá, kỳ trân dị bảo nhiều không kể xiết, là thắng địa săn bắn, vựa lớn đặc sản, người Tề sớm đã thèm nhỏ dãi, chỉ còn thiếu lý do thôn tính.
Nay lý do đã có.
Uy Vương sau khi nhận được huyết thư cầu cứu của ái nữ, lập tức mượn cớ thái tử nước Yên mưu phản cướp ngôi, làm nhiều điều bất nghĩa, lạm sát người vô tội, đã phong Điền Kỵ làm tướng, khởi năm vạn binh phạt tội. Điền Kỵ dụng binh bí hiểm, không trực tiếp vượt sông, mà từ thượng lưu Hà Thuỷ mượn đường nước Triệu, như thuỷ triều ào ào đổ vào Hà Gián. Người Yên không kịp đề phòng, chưa đầy bảy ngày, mười ấp Hà Gián thảy đều thất thủ. Điền Kỵ dường như vẫn không muốn dừng, ra lệnh cho quân sĩ tập kết thuyền bè, rõ ràng có ý vượt Hà Thuỷ lên phía bắc, mở rộng chiến quả. Lại có tin báo về, Tề Vương thậm chí còn dự tính rút quân hợp tung phạt Tần về, tăng cường tám vạn đại quân, ngự giá thân chinh, dẫn quân thẳng tới Kế Đô, thể đòi lại công bằng cho con gái.
Quân tình nguy cấp, Dịch Vương đang vui vầy duyên mới đành phải gạt vợ đẹp sang một bên, gấp rút triệu tập các trọng thần thân tín như thái sư, thái phó, Kế Thành lệnh, ngự sử đại phu tới bàn luận sách lược ứng phó ngay trong đêm.
Quần thần tới đông đủ, song lại không ai nói năng gì.
Dịch Vương giận dữ quát lên: “Các ngươi… các ngươi… sao không ai nói gì? Bình thường thì ồn ào điếc óc, bên tai toàn là giọng nói của các ngươi, mà giờ đây câm hết rồi ư? Quốc nạn giáng xuống đầu, quả nhân phải nhờ cậy vào các ngươi, mà các ngươi lại… Lẽ nào thực sự muốn quả nhân cúi đầu xưng thần với Điền Nhân Tề?”
“Đại vương bớt giận!” Lão thái sư bước lên một bước, chậm rãi đáp lời. “Lão thần cho rằng, tình thế nguy cấp trước mắt, không phải không có cách giải quyết.”
“Ái khanh mau nói!”
“Quân tới tướng chặn. Lão thần cho rằng, đại vương có thể bố trí ba tuyến phòng ngự chống lại người Tề. Thứ nhất, chiếu lệnh tướng quân Tử Chi bố trí phòng ngự dọc Hà Thuỷ, là tuyến phòng ngự thứ nhất. Thứ hai, chiếu lệnh Chử Mẫn dẫn binh bảo vệ các ấp Vũ Dương, Phương Thành, đây là tuyến phòng ngự thứ hai. Thứ ba, đại vương đích thân cầm quân, điều động binh lính các ấp xung quanh tới Kế Thành, quyết chiến với người Tề.”
“Được!” Dịch Vương nói. “Quả nhân chuẩn tấu cho ái khanh!”
“Còn nữa!” Lão thái sư dõng dạc tiếp lời. “Tiên quân nghe theo lời Tô Tần, đi đầu khởi xướng hợp tung. Sáu nước kết thân, minh ước còn chưa ráo mực, người Tề đã ngang nhiên làm trái minh ước, khởi binh phạt ta, thế này còn gọi gì là hợp tung? Sáu nước hợp tung, mục đích là phạt Tần, Tô tướng quốc là người khởi xướng hợp tung, lại là tướng quốc của sáu nước, kết quả là người Tần còn chưa bị phạt, mà người phe ta đã tự đánh nhau. Chuyện quái lạ nhường này, sao đại vương không cho gọi Tô Tử đến hỏi cho ra nhẽ, chưa biết chừng lại có kế hay đẩy lui kẻ địch!”
“Thái sư nói rất đúng! Sáu nước hợp tung là do Tô Tử khởi xướng, đại vương hãy cho gọi hắn đến, xem hắn nói gì?” Quần thần đã trấn tĩnh trở lại, đều hùa theo hưởng ứng.
Dịch Vương cũng sực nhớ tới Tô Tần, thì thở phào một tiếng, quay sang Kỷ Cửu Nhi: “Ngươi mau tới Vũ Dương một chuyến, truyền chỉ Chư Mẫn, bảo hắn thống lĩnh binh lính của mười hai ấp Vũ Dương, Phương Thành, cùng chống giặc Tề. Đồng thời cung kính mời Tô tướng quốc hồi cung nghị sự!”
Tô Tần ở lại ly cung tại Vũ Dương thêm hai ngày nữa, vào sáng sớm ngày thứ ba bèn cùng Trâu Phi Đao trở về dịch trạm. Trâu Phi Đao sớm đã chuẩn bị ngựa xe sẵn sàng, đoàn người rời khỏi cổng nam, hướng về Lạc Dương.
Xe qua Dịch Thuỷ, Tô Tần bảo phu xe ra roi tăng tốc.
Đi chưa được năm mươi dặm, Tô Tần đang ở trong xe nhắm mắt suy nghĩ cách ứng phó với chiến sự Hàm Cốc, chợt thấy vài tuấn mã ào tới như lốc xoáy, đuổi sát sau xe, một người giơ tay lớn giọng hô vang: “Tô đại nhân, Tô đại nhân, xin đợi một lát, đại vương có chỉ!”
Trâu Phi Đao đưa mắt dò hỏi, Tô Tần hạ lệnh dừng xe.
Đám người đuổi tới là mấy kẻ áo đen trong cung, người đi đầu trình lệnh bài, dõng dạc tuyên bố: “Tô tướng quốc nghe chỉ, đại vương có khẩu dụ, cung kính mời Tô tướng quốc hồi cung nghị sự!”
Tô Tần bèn hỏi: “Trong cung hẳn có đại sự?”
“Hồi bẩm đại nhân!” Một người áo đen đáp lời. “Công chúa nước Tần hôm kia vu quy, đại vương hoan hỷ, nói là sẽ chọn ngày lành làm đại lễ lập hậu.”
Tô Tần chau mày: “Đại vương triệu kiến tại hạ, là vì chuyện này ư?”
“Không phải vì chuyện này!” Tên áo đen lắc đầu. “Là quân Tề phạt ta, cướp mất mười ấp Nhiêu An của ta!”
Tô Tần nghe mà bên tai ù đặc, trong lòng trống rỗng, hồi lâu sau mới định thần lại được, trầm tư suy ngẫm về cục thế trước mắt. Một bên là đường Hàm Cốc gươm tuốt nỏ giương, một bên là Tề, Yên giao chiến, mà Tô Tần chỉ có một, không thể phân thân.
Bên nào nặng, bên nào nhẹ, theo bên nào, bỏ bên nào, Tô Tần cần phải quyết đoán lập tức.
Nhân vật quyết đoán phạt Tần ở Hàm Cốc không chỉ có Bàng Quyên, còn có Ngụy Vương. Sự thực cho thấy, một khi Ngụy Vương nóng lòng muốn bành trướng, ắt sẽ không còn sáng suốt. Hiện tại, cặp vua tôi này tâm trí đã hoàn toàn mụ mẫm trước ưu thế áp đảo và khả năng thủ thắng có được nhờ hợp tung, bởi vậy càng không thể nhận ra mối nguy tiềm ẩn. Thần dân nước Ngụy, thậm chí cả những binh sĩ bình thường, cũng đa phần bị ngọn lửa phục thù thiêu đốt, đánh bại bạo Tần, giành lại Hà Tây đã trở thành hy vọng nhiệt thành của quân dân. Vào thời khắc này, dù có tới Hàm Cốc, Tô Tần cũng chưa chắc đã thuyết phục nổi họ. Hơn nữa, chiến sự vốn không thể đoán trước. Hai bên còn chưa giao chiến, sao Tô Tần có thể khẳng định chắc chắn quân hợp tung sẽ bại?
Dù khả năng không lớn, song mọi việc đều có vạn nhất. Vạn nhất quân hợp tung thủ thắng, người Tần thất bại, đối với đại nghiệp hợp tung mà nói, tuy không phải là chuyện tốt, song cũng chưa hẳn là chuyện xấu, chí ít có thể tránh được hậu quả thảm khốc là người Tần nhất thống thiên hạ bằng hình pháp hà khắc.
Tuy nhiên, Tề Yên giao chiến lại khác hẳn.
Khiến các nước hợp tung thành một khối chính là bạo Tần, mà trong sáu nước hợp tung, Tam Tấn và Sở đều qua lại với người Tần, liên quan tới lợi hại, duy chỉ có Yên, Tề cách núi ngăn sông với Tần. Nếu coi Tần là kẻ thù, Tam Tấn và Sở có thể tiên phong, còn Yên, Tề làm hậu thuẫn, là đại hậu phương của hợp tung. Phía trước còn chưa giao chiến, phía sau đã chém giết lẫn nhau, dù thế nào cũng là chuyện khiến bên ta đau buồn, kẻ địch hỉ hả, không những tổn thương đến nguyên khí hợp tung, mà còn tạo ra tiền lệ xấu cho việc khuấy động xung đột trong nội bộ hợp tung sau này.
Nghĩ tới đây, Tô Tần chủ ý đã quyết, bèn quay sang Trâu Phi Đao đang đợi lệnh, nói: “Về Kế Thành!”
***
Kế cung tiễn cũ đón mới, tứ bề hỷ khí tưng bừng, dường như chỉ trong một đêm đã che khuất hoàn toàn cảnh tượng tang tóc trước đó. Cung nhân ai nấy ăn bận sặc sỡ, sắc mặt tươi cười.
Chỉ có Dịch Vương cười không nổi.
Sau khi Cơ Tuyết đi rồi, Dịch Vương cho sửa sang lại cung Cam Đường chút ít, thêm vào chút phong cách đất Tần, đổi tên là cung Ngọc Đường, để làm tẩm cung cho chủ nhân mới. Chủ nhân mới tức công chúa Doanh Tường, trưởng nữ của Tần Huệ Văn Công, vẫn chưa đầy mười bốn, còn chưa tới tuổi cập kê, về lý mà nói vẫn đang ở độ tuổi trẻ con nhõng nhẽo, đã bị coi là lợi khí của đất nước mà đem gả cho Yên quốc xa xôi. Sau chặng đường dài gập ghềnh mệt mỏi, thể lực còn chưa kịp hồi phục, đã phải hầu hạ động phòng, công chúa cơ thể yếu đuối không kham nổi, cộng thêm lạ nước lạ cái, thương nhớ quê hương, một bụng đau buồn mà không biết thổ lộ cùng ai, chốc chốc lại nước mắt đầm đìa. Dịch Vương đang sẵn âu lo việc nước, nghe thấy tiếng khóc lóc nỉ non của nàng, lại càng não nề ruột gan. Muốn trách nàng, song lại thấy không nỡ; muốn dỗ dành nàng, song lại trái với lòng mình.
Dịch Vương đang lúc buồn bực, thì Kỷ Cửu Nhi từ Vũ Dương trở về, tấu báo Chử Mẫn đã phụng chỉ điều binh, bố trí hai tuyến phòng ngự, Tử Chi cũng dẫn quân trở về, quân tiên phong qua Vệ tới Triệu, sắp tới Vũ Thành, ước tính trong vòng ba ngày tới có thể đến Hà Gián, đối đầu với Tề.
Dịch Vương cuối cùng đã có thể thở phào, chậm rãi hỏi: “Còn Tô Tần?”
“Ở đó!” Kỷ Cửu Nhi nở một nụ cười xảo quyệt, tiến lại gần thì thào một hồi.
Dù cũng đã đoán ra từ trước, song nghe Kỷ Cửu Nhi chứng thực, Dịch Vương vẫn khó tránh lửa ghen ngùn ngụt, nghiến răng mà rít lên: “Chẳng trách tiện nhân kia không chịu hầu hạ quả nhân, lại muốn dời tới Vũ Dương, bên trong đúng là có uẩn khúc! Đáng tiếc cho tiên công một đời tinh minh, cuối cùng lại bị tiện nhân ám hại!”
“Dám hỏi đại vương, phải xử lý đôi gian phu dâm phụ này thế nào?”
Dịch Vương lừ mắt với Kỷ Cửu Nhi: “Kẻ đó tới chưa?”
“Tới lâu rồi, đang đợi chỉ ngoài cung.”
“Truyền hắn vào!” Lời vừa dứt, Dịch Vương lại phẩy tay một cái, đổi ngay nét mặt, giọng điệu cũng đổi khác. “Xin mời Tô tướng quốc!”
Kỷ Cửu Nhi tâm lĩnh thần hội, không quay ra ngoài dõng dạc truyền lệnh như mọi khi, mà rảo bước ra ngoài cửa cung, cung kính vòng tay với Tô Tần: “Đại vương có chỉ, mời Tô tướng quốc yết kiến!”
Tô Tần theo Kỷ Cửu Nhi vào trong, khấu bái dưới điện.
Dịch Vương bước xuống, đích thân đỡ Tô Tần dậy, dẫn lại chỗ ngồi, phân ngôi quân thần ngồi xuống, than thở mà nói: “Than ôi, ái khanh vừa mới lên đường, đã cho gọi ái khanh quay trở lại, hại ái khanh phải vất vả đi đi về về, quả nhân thực lòng áy náy.”
“Đại vương chớ bận tâm! Vi thần thân thể hèn mọn, được vất vả vì đại vương, chính là diễm phúc!”
“Ái khanh hẳn đã biết vì sao quả nhân gấp rút cho gọi ái khanh về?”
“Xin đại vương nói rõ!”
“Ái khanh hãy xem thứ này!” Dịch Vương lần trong ống tay áo, lấy ra một bức chiến báo, Kỷ Cửu Nhi nhận lấy, đưa cho Tô Tần. Tô Tần xem xong, đặt xuống góc bàn, đưa mắt nhìn Dịch Vương.
“Tiên quân nghe lời ái khanh, là nước tiên phong hợp tung trong liệt quốc. Tuy đã hợp tung, song nước Yên ta có được những gì?” Dịch Vương ra chiều thất vọng. “Minh ước còn chưa ráo mực, hài cốt của tiên quân còn chưa kịp lạnh, mà Điền Nhân Tề đã coi thường đạo nghĩa, nhân lúc nước ta có tang, dẫn binh tập kích, quấy nhiễu dân chúng, cướp đoạt của cải, chiếm lấy thành ấp của ta…”
“Đại vương…” Thấy Dịch Vương chỉ biết trách cứ người khác mà không một lời phản tỉnh bản thân, Tô Tần không nhịn được, bèn lên tiếng cắt ngang.
“Ái khanh cứ nói!”
“Than ôi!” Đứng trước hạng quân chủ này, Tô Tần chẳng muốn nói nhiều, chỉ thở dài một tiếng, đi ngay vào chuyện chính. “Đại vương gấp rút cho gọi thần tới, có phải là vì mười thành kia?”
“Phải, phải, phải!” Dịch Vương gật đầu lia lịa. “Ái khanh tới Yên, là do tiên quân trợ giúp ái khanh sang Triệu thực thi kế sách hợp tung, mới được nổi danh thiên hạ. Nước Yên vì ái khanh mà khởi xướng hợp tung, thiên hạ vì hợp tung mà kết liên minh. Điền Nhân Tề đã kết liên minh hợp tung, đáng lẽ phải giữ lời thề, trở thành láng giềng hoà mục mới phải. Nào ngờ hắn lại ỷ mạnh hiếp yếu, bội tín huỷ ước, nhân lúc nước ta có quốc tang mà làm điều bất nghĩa, khởi binh chiếm thành trì của ta. Quả nhân khinh thường hắn, không thèm cãi lý với hắn. Nước Yên vì ái khanh mà trở thành trò cười cho thiên hạ, ái khanh liệu có thể vì Yên mà đi sứ sang Tề, đòi lại công bằng hay không?”
Tô Tần đứng dậy, vòng tay mà nói: “Vi thần xin phụng chỉ đi sứ sang Tề, đòi lại mười thành cho đại vương!”
Dịch Vương thuận nước đẩy thuyền, vòng tay đáp lễ: “Tình thế cấp bách, quả nhân cũng không giữ ái khanh nữa!”
Dịch Vương tiễn Tô Tần ra khỏi cung, dừng lại ngoài cửa, nắm chặt tay Tô Tần, khoé miệng nở một nụ cười gian hiểm: “Còn một việc nữa, quả nhân muốn giao phó cho ái khanh. Dọc đường qua Vũ Dương, phiền ái khanh ghé vào thăm hỏi, an ủi thái hậu giúp. Thái hậu đã quen với sự náo nhiệt ở Kế Thành, sợ rằng nơi đó một mình vò võ phòng khuê, mà thấy cô đơn khó chịu.”
Nghe thấy lời này, Tô Tần thầm rùng mình kinh hãi, suy ngẫm một chốc mới nghĩ ra lời đối đáp: “Đại vương nói rất phải. Tiếc là vi thần lần này đi sứ sang Tề, không qua Vũ Dương. Làm phiền đại vương phái sứ thần khác tới an ủi.”
“Ha ha ha, như vậy không ổn!” Dịch Vương không chịu buông tha, cố tình nói tới cùng. “Người thái hậu nhớ mong, duy chỉ có ái khanh. Nếu thay bằng người khác, khiến thái hậu bực bội, lại trách quả nhân thì sao?”
Tô Tần trong lòng khó chịu, song lại không thể biện bạch, đành vòng tay từ biệt: “Đại vương dừng bước, vi thần cáo lui!”
“Vất vả cho ái khanh!”
Bước ra khỏi cung Yên, Tô Tần cảm thấy sống lưng lạnh buốt từng hồi. Dịch Vương đã nói lời này, rõ ràng đã biết tỏng mối quan hệ giữa hắn và Cơ Tuyết. Than ôi, chỉ trách bản thân nhất thời bất cẩn, chưa từng nghĩ tới việc Dịch Vương sẽ cài tai mắt tại ly cung.
Về tới phủ, Tô Tần vội vã soạn một bức mật thư, dặn Trâu Phi Đao chuyển cho Cơ Tuyết, để nàng biết cách ứng phó. Trâu Phi Đao giao thư cho Mộc Hoa, còn mình và Mộc Thực cùng bảo vệ Tô Tần lên đường tới kinh đô nước Tề.
Đoàn người đi gấp suốt ngày đêm không nghỉ, chẳng mấy ngày đã tới bờ bắc Hà Thuỷ, từ xa đã thấy cảnh người hô ngựa hí, doanh trại trập trùng. Tô Tần sai người tới hỏi thăm, biết rằng là ba vạn quân Yên vừa rút về từ Hàm Cốc.
Tô Tần hiểu rằng Tử Chi đã quay về, lấy làm mừng rỡ, vội vã đi thẳng tới đại trại trung quân, không ngờ lại gặp cả công tử Khoái đã bặt vô âm tín bấy lâu.
Đêm đó, ba người ngồi quây quần bên bếp lửa trò chuyện, bàn luận thế cục hiện tại cho tới tận khi trời sáng. Buổi sáng hôm sau, đám Tô Tần tới bến đò, bất ngờ phát hiện ra do trời đột ngột chuyển lạnh, khắp mặt sông Hà Thuỷ đều đã đóng băng.
Tử Chi đập vỡ lớp băng, thử thăm dò độ dày, lo lắng nói: “Băng này nếu dày thêm một tấc nữa thì người Tề có thể trượt băng vượt sông. Người Tề thế lớn, mạt tướng e rằng khó lòng chống cự!”
“Tướng quân chớ lo lắng!” Tô Tần đáp lời. “Dù sông này có đóng băng toàn bộ, tại hạ đoán rằng người Tề cũng sẽ không vượt sông.”
Tử Chi sửng sốt hỏi: “Cớ sao lại nói vậy?”
Tô Tần cười mà nói: “Tướng quân cứ chờ khắc biết!” Rồi quay sang công tử Khoái. “Tại hạ lần này tới chỗ ông ngoại của công tử để đòi lại thành trì, muốn đưa công tử cùng đi, không biết công tử có hứng thú không?”
“Tại hạ xin kính cẩn nghe theo!”